The Latest News
Công ty Kiều hối Vietcombank và hành trình thúc đẩy kiều hối Việt trong kỷ nguyên số
Vừa qua, Tạp chí tài chính quốc tế International Finance Magazine (IFM) có trụ sở tại Vương Quốc Anh vừa chính thức vinh danh Công ty Kiều hối Vietcombank là “Most Innovative Digital Remittance Company Vietnam 2025” – “Công ty Kiều hối chuyển đổi số sáng tạo nhất Việt Nam”.
Công ty kiều hối Vietcombank nhận giải "Công ty Kiều hối Chuyển đổi số sáng tạo nhất Việt Nam năm 2025 – Most Innovative Digital Company Vietnam 2025" của tạp chí The International Finance Magazine (IFM).Kiều hối, với Công ty Kiều hối Vietcombank, chưa bao giờ chỉ là câu chuyện của những con số vô cảm. Đằng sau mỗi giao dịch là mồ hôi, là nỗi nhớ nhà, là khát vọng vun đắp tương lai của hàng triệu người Việt xa xứ, nhất là mỗi dịp Tết đến Xuân về. Thấu hiểu sâu sắc điều đó, công ty lựa chọn con đường phát triển bền vững trên nền tảng triết lý “Khách hàng là trung tâm”, xem sự hài lòng và niềm hạnh phúc của mỗi gia đình Việt là kim chỉ nam xuyên suốt mọi hoạt động, tập trung vào việc lắng nghe và thấu hiểu khách hàng thay vì chỉ đơn thuần kiến tạo sản phẩm và dịch vụ.
Giữa những biến động nhanh và khó lường của thị trường tài chính toàn cầu, Công ty Kiều hối Vietcombank không chạy theo những giá trị ngắn hạn. Công ty kiên định đầu tư vào chất lượng dịch vụ, trải nghiệm của khách hàng và những gì tạo nên niềm tin dài lâu. Hệ thống chăm sóc khách hàng hoạt động 24/7 được xây dựng với đội ngũ chuyên nghiệp, tận tâm, sẵn sàng đồng hành cùng khách hàng ở mọi múi giờ, mọi hoàn cảnh.
Công ty Kiều hối Vietcombank cũng khẳng định vai trò tiên phong khi liên tục phối hợp cùng các cơ quan chức năng để xây dựng chính sách thu hút nguồn lực kiều hối hiệu quả. Đặc biệt, Công ty đã có những đóng góp chiến lược cho Đề án “Phát huy hiệu quả nguồn lực kiều hối” của UBND TP.HCM với tầm nhìn đến năm 2030, hướng tới mục tiêu tối ưu hóa việc sử dụng nguồn vốn kiều hồi góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững cho Thành phố.
Tinh thần ấy còn được thể hiện rõ nét qua các hoạt động hướng về cộng đồng. Thấu hiểu tâm lý của người lao động Việt Nam ở nước ngoài luôn đau đáu hướng về quê hương mỗi khi đất nước gặp thiên tai trong những năm gần đây, trong thời gian tới Công ty Kiều hối Vietcombank sẽ phối hợp cùng các đối tác triển khai chương trình ưu đãi phí chuyển tiền đối với các giao dịch gửi về những địa bàn bị ảnh hưởng bởi đợt lũ lụt, đặc biệt là các tỉnh miền Trung.
Bên cạnh đó, trong năm nay, Công ty đã hỗ trợ xây dựng 2 ngôi nhà tình thương ở Vĩnh Long hưởng ứng Chương trình xóa nhà dột nhà nát của Chính phủ; cũng như hỗ trợ cơ sở vật chất cho các em học sinh tại điểm trường Mã Pì Lèng, Tuyên Quang trong hành trình “Gieo mầm hy vọng”.
Ông Trịnh Hoài Nam – Thành viên HĐTV, Giám đốc Công ty kiều hối Vietcombank và Ông Ngô Nhật Linh – Phó giám đốc, Chủ tịch công đoàn cơ sở cùng đại diện chính quyền trong buổi lễ bàn giao nhà tại Vĩnh Long.Với Công ty Kiều hối Vietcombank, thành công chỉ thực sự trọn vẹn khi được lan tỏa thành những thay đổi tích cực cho cộng đồng và xã hội.
ĐỘT PHÁ CÔNG NGHỆ, KIẾN TẠO HỆ SINH THÁI KIỀU HỐI SỐ HIỆN ĐẠITư duy sáng tạo và tinh thần tiên phong của Công ty Kiều hối Vietcombank được thể hiện rõ nét qua bước đi chiến lược trong chuyển đổi số. Tháng 4/2025, công ty chính thức hợp tác cùng FPT để phát triển hệ thống phần mềm lõi kiều hối, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong hiện đại hóa hoạt động kiều hối.
Thực tế cho thấy, lượng kiều hối chuyển về Việt Nam tiếp tục được duy trì ở mức cao. Năm 2024, lượng kiều hối đạt khoảng 16 tỷ USD, đưa Việt Nam trở lại vào nhóm 10 quốc gia nhận kiều hối nhiều nhất thế giới. Riêng hệ thống Vietcombank ghi nhận hơn 4 tỷ USD, chiếm trên 25% tổng lượng kiều hối. Năm 2025, con số này dự báo sẽ tương đương. Trước áp lực tăng trưởng và yêu cầu ngày càng cao về tốc độ, bảo mật và tuân thủ, đổi mới vì thế không còn là lựa chọn mà là yêu cầu tất yếu.
Hệ thống phần mềm lõi được thiết kế chuyên biệt cho hoạt động kiều hối, tích hợp toàn bộ chuỗi nghiệp vụ từ quản lý đối tác, khách hàng đến xử lý chi trả đa kênh như chuyển khoản ngân hàng, ví điện tử, chi tại quầy và chi trả tận nhà. Được phát triển trên nền tảng công nghệ hiện đại, hệ thống cho phép xử lý giao dịch gần như theo thời gian thực, tự động hóa nhiều khâu vận hành và giảm thiểu rủi ro thủ công.
Đại diện Công ty Kiều hối Vietcombank và FPT IS tại lễ kí kết hợp tác.Ngoài ra, Công ty Kiều hối Vietcombank đã chủ động xây dựng hệ thống AML, tăng cường kiểm soát rủi ro, tuân thủ chặt chẽ các quy định về phòng, chống rửa tiền và bảo mật dữ liệu khách hàng theo các chuẩn mực quốc tế như FINCEN của Mỹ, FINTRAC của Canada, AUSTRAC của Úc và AMLD6 của châu Âu.
Trong dự án này, Công ty Kiều hối Vietcombank đóng vai trò trung tâm với kinh nghiệm nghiệp vụ thực tiễn, còn FPT mang đến năng lực phát triển công nghệ tiên tiến. Sự kết hợp này không chỉ tạo ra một hệ thống phần mềm mới, mà còn đặt nền móng cho một hệ sinh thái kiều hối số linh hoạt, sẵn sàng mở rộng theo nhu cầu của thị trường trong tương lai.
Giải thưởng từ International Finance Magazine là sự ghi nhận xứng đáng cho những nỗ lực không ngừng nghỉ của Công ty Kiều hối Vietcombank trên hành trình đổi mới. Với hơn 8 năm hoạt động cùng đội ngũ nhân sự giàu kinh nghiệm với tinh thần tận tâm, Công ty Kiều hối Vietcombank kiên định theo đuổi mục tiêu mang đến dịch vụ kiều hối nhanh chóng, an toàn và hiệu quả.
Trên hành trình đó, Công ty Kiều hối Vietcombank đang từng bước khẳng định mình không chỉ là một công ty kiều hối, mà là một thương hiệu uy tín của tất cả đối tác trên toàn cầu, một điểm tựa vững vàng cho hàng triệu gia đình Việt Nam hôm nay và trong tương lai.
-Khánh Huyền
Đà Nẵng đề xuất tăng giá thuê nhà ở xã hội thuộc tài sản công gấp gần 7,5 lần
Theo Sở Xây dựng, hiện nay, trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng có 43 chung cư đang cho thuê. Qua rà soát, Sở nhận thấy có một số chung cư đã xuống cấp nghiêm trọng, nằm trong diện có kế hoạch di dời của thành phố hoặc đang thực hiện Kiểm toán Nhà nước, thì đề xuất không tính toán lại và giữ nguyên theo mức giá thuê đã duyệt. Cụ thể gồm: khu chung cư Hòa Minh, Lâm đặc sản Hòa Cường, Thuận Phước; nhà ở công nhân Khu công nghiệp Hòa Cầm; chung cư xã hội cho người có công với cách mạng tại đường Vũ Mộng Nguyên.
Đối với các khu chung cư còn lại, giá thuê sau điều chỉnh dự kiến tăng từ 1,94 lần đến 7,46 lần so với giá cho thuê hiện hành. Nguyên nhân là giá thuê hiện hành quá thấp và chưa được điều chỉnh trong thời gian dài. So với khung giá thuê nhà ở xã hội và nhà lưu trú công nhân trong khu công nghiệp trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng ban hành theo Quyết định 50/2024/QĐ-UBND ngày 15/10/2024 của UBND thành phố (khung giá thuê nhà ở xã hội do doanh nghiệp đầu tư), giá thuê chung cư nhà ở xã hội thuộc tài sản công sau điều chỉnh bằng khoảng (45% - 75%) mức giá thuê nhà ở xã hội tối thiểu.
Sở Xây dựng cho biết theo quy định tại khoản 1 Điều 170 Luật Nhà ở năm 2023: “Bên cho thuê và bên thuê nhà ở được thỏa thuận về thời hạn thuê, giá thuê và hình thức trả tiền thuê nhà ở theo định kỳ hoặc trả một lần; trường hợp Nhà nước có quy định về giá thuê nhà ở thì các bên phải thực hiện theo quy định đó”.
Tuy nhiên, qua rà soát, pháp luật hiện hành không có quy định về lộ trình điều chỉnh giá thuê nhà ở xã hội thuộc tài sản công. Song thực tiễn giá thuê chung cư nhà ở xã hội thuộc tài sản công trên địa bàn Thành phố còn thấp so với giá thuê nhà tại khu vực lân cận, chưa được điều chỉnh trong thời gian dài. Do đó, việc điều chỉnh, áp dụng ngay giá thuê sẽ gây ảnh hưởng lớn đến đời sống của người thuê nhà. Vì vậy, cần thiết phải xây dựng lộ trình điều chỉnh giá thuê nêu trên.
Theo đó, Sở đề xuất lộ trình điều chỉnh giá thuê trong vòng 5 năm, bắt đầu từ năm 2026 đến năm 2030.
Cụ thể, kỳ tăng năm thứ nhất (sau 3 tháng kể từ ngày ban hành quyết định phê duyệt điều chỉnh giá thuê, dự kiến vào năm 2026): Giá thuê nhà = Giá thuê nhà hiện hành cộng thêm 20% mức chênh lệch giữa giá thuê điều chỉnh và giá thuê hiện hành.
Kỳ tăng năm thứ hai (kể từ ngày 1/1/2027): Giá thuê nhà = Giá thuê nhà hiện hành cộng thêm 40% mức chênh lệch giữa giá thuê điều chỉnh và giá thuê hiện hành.
Kỳ tăng năm thứ ba (kể từ ngày 1/1/2028): Giá thuê nhà = Giá thuê nhà hiện hành cộng thêm 60% mức chênh lệch giữa giá thuê điều chỉnh và giá thuê hiện hành.
Kỳ tăng năm thứ tư (kể từ ngày 1/1/2029): Giá thuê nhà = Giá thuê nhà hiện hành cộng thêm 80% mức chênh lệch giữa giá thuê điều chỉnh và giá thuê hiện hành.
Kỳ tăng năm thứ năm (kể từ ngày 1/1/2030): Giá thuê nhà tính bằng giá thuê điều chỉnh.
-Hoàng Bách
Chứng khoán Trung Quốc sắp hoàn tất năm tăng mạnh nhất từ 2017
Thị trường chứng khoán Trung Quốc đang hướng tới năm tăng mạnh nhất kể từ 2017, khi đà đi lên do nhóm cổ phiếu công nghệ dẫn dắt lan rộng sang nhiều ngành khác như khai thác vàng và dược phẩm.
Tính từ đầu năm đến nay, chỉ số MSCI China tăng khoảng 28% và gần như chắc chắn ghi nhận năm tăng thứ 2 liên tiếp. Chỉ số này cũng trên đà vượt trội so với SP 500 của chứng khoán Mỹ, với mức chênh lệch lớn nhất kể từ 2017.
Xu hướng tăng lan tỏa phản ánh các lĩnh vực nhận được sự quan tâm toàn cầu như trí tuệ nhân tạo (AI) và nhóm hàng hóa tăng nóng, đồng thời có thêm lực đỡ từ các động lực trong nước như đổi mới và ngành trò chơi điện tử.
Ở chiều ngược lại, các nhóm cổ phiếu giảm mạnh như tiện ích và bất động sản vẫn cho thấy những khó khăn dai dẳng của thị trường nhà ở Trung Quốc, cùng áp lực giảm phát chưa hạ nhiệt.
“Dù câu chuyện AI có thể tiếp tục nâng đỡ thị trường cổ phiếu cổ phiếu trong năm 2026, chất xúc tác hiệu quả hơn cho một đợt tăng giá mạnh trên diện rộng là một gói kích thích kinh tế mới của Bắc Kinh. Một kế hoạch rõ ràng để xử lý bài toán bất động sản hoặc thúc đẩy tiêu dùng nhiều sẽ mang lại tác động tích cực nhất”, ông Oliver Blackbourn, giám đốc quản lý danh mục tại công ty quản lý tài sản Janus Henderson, nhận xét với hãng tin Bloomberg.
Nhóm cổ phiếu khai khoáng - từ vàng, bạc đến đồng - đã đưa ngành nguyên vật liệu vươn lên dẫn đầu trong các chỉ số ngành thành phần của MSCI China. Điều này tương đồng với xu hướng toàn cầu khi giá hàng hóa liên tục lập kỷ lục.
Tính từ đầu năm nay, chỉ số ngành vật liệu trong tăng khoảng 108% và hướng tới năm tăng mạnh nhất kể từ 2003, với động lực chính đến từ các mã như China Gold International Resources, CMOC Group và MMG.
Nhu cầu tìm kênh trú ẩn trong bối cảnh đồng USD suy yếu và rủi ro địa chính trị gia tăng đã đẩy giá vàng và bạc lên đỉnh lịch sử. Trong khi đó, kim loại đồng và nhôm hưởng lợi từ nguồn cung thắt chặt, cùng nhu cầu tăng lên gắn với việc mở rộng hạ tầng phục vụ AI. Chiến dịch của Bắc Kinh nhằm cắt giảm dư thừa công suất công nghiệp cũng góp phần nâng đỡ mặt bằng giá trong nước.
“Nguyên vật liệu là một trong những nhóm tăng mạnh nhất và câu chuyện không chỉ nằm ở biến động giá ngắn hạn. Tình trạng thiếu điện là một biến số then chốt”, ông John Lin, giám đốc đầu tư phụ trách cổ phiếu thị trường mới nổi và cổ phiếu Trung Quốc tại công ty quản lý tài sản AllianceBernstein, nhận xét.
Ngành chăm sóc sức khỏe của Trung Quốc cũng thoát khỏi giai đoạn suy giảm kéo dài 4 năm, khi các hãng dược trong nước ký nhiều thỏa thuận cấp phép giá trị lớn với các tập đoàn dược toàn cầu. Một thương vụ đáng chú ý là tập đoàn dược Pfizer ký thỏa thuận phát triển một thuốc ung thư thử nghiệm của công ty dược 3SBio, doanh nghiệp có trụ sở tại Thẩm Dương.
“Ngành này đang trải qua bước ngoặt sau nhiều năm tăng trưởng kém, nhờ vai trò ngày càng lớn của Trung Quốc như một ‘siêu thị’ cung cấp tài sản đổi mới cho các hãng dược toàn cầu. Chỉ riêng 10 tháng đầu năm nay, các công ty công nghệ sinh học Trung Quốc chiếm 48% tổng giá trị các thương vụ cấp phép cho đối tác quốc tế trên toàn cầu”, bà Cui Cui, trưởng bộ phận nghiên cứu ngành chăm sóc sức khỏe châu Á tại công ty chứng khoán Jefferies, nhận định.
Chỉ số ngành chăm sóc sức khỏe trong MSCI China đã khoảng 50% từ đầu năm và trên đà có năm tăng mạnh nhất kể từ năm 2020. Đáng chú ý, giá cổ phiếu hãng dược 3SBio và doanh nghiệp cùng ngành Remegen tăng lần lượt hơn 300% và 400%.
Thị trường lao động ảm đạm và đà tăng thu nhập yếu khiến nhiều người Trung Quốc thắt chặt chi tiêu cho du lịch, đồng thời ưu tiên các hình thức giải trí tại nhà có chi phí thấp hơn. Nhờ đó, tập đoàn internet Tencent cùng các doanh nghiệp như công ty phát triển trò chơi trực tuyến Giant Network Group và nền tảng hình ảnh ứng dụng AI Meitu được hưởng lợi lớn.
Chỉ số nhóm ngành dịch vụ truyền thông trong MSCI China đã tăng hơn 40% từ đầu năm và chuẩn bị có năm tăng mạnh nhất kể từ 2007. Trong đó, giá cổ phiếu Giant Network Group tăng hơn 250%, còn Meitu tăng hơn 130%.
“Nhiều dấu hiệu cho thấy khi tiêu dùng hộ gia đình điều chỉnh dưới áp lực kinh tế, chi tiêu cho giải trí số vẫn tương đối ổn định. Chúng tôi ghi nhận tăng trưởng lợi nhuận tốt ở các doanh nghiệp trò chơi trên máy tính và thiết bị di động”, ông John Lin, giám đốc đầu tư phụ trách cổ phiếu thị trường mới nổi và cổ phiếu Trung Quốc tại công ty quản lý tài sản AllianceBernstein, nhận xét.
Ở chiều ngược lại, tiện ích và bất động sản là hai nhóm hụt hơi rõ rệt năm nay. Chỉ số ngành tiện ích của MSCI China gần như đi ngang từ đầu năm, trong khi chỉ số ngành bất động sản chỉ tăng 1,4%.
Nhóm cổ phiếu các doanh nghiệp điện và khí đốt của Trung Quốc - chịu sức ép từ giá năng lượng giảm - cũng phần nào phản ánh môi trường giảm phát kéo dài, vốn là một lực cản lớn đối với tăng trưởng.
Trong khi đó, cổ phiếu các doanh nghiệp phát triển bất động sản tiếp tục tụt xa so với thị trường chung, do cuộc khủng hoảng địa ốc dai dẳng. Giá cổ phiếu công ty China Vanke đã giảm 36% năm nay, trở thành một trong những mã giảm mạnh nhất trong MSCI China.
-Ngọc Trang
Soi danh mục "siêu cổ phiếu" được khuyến nghị với tiềm năng tăng giá 50% trong năm 2026
Chứng khoán VPBankS vừa đưa ra mục tiêu VN-Index cuối năm 2026 đạt 2.087 điểm, dựa trên mức P/E forward mục tiêu 16.5x và giả định tăng trưởng EPS đạt 14.4% so với cùng kỳ.
VPBankS kỳ vọng thị trường chứng khoán sẽ tiếp tục diễn biến tích cực trong năm 2026, qua đó hỗ trợ tăng trưởng bền vững về thu nhập của toàn ngành chứng khoán.
Công ty chứng khoán đánh giá đáy gần nhất của chu kỳ thị trường chứng khoán rơi vào tháng 11/2022. Nếu chỉ tiêu nợ xấu tại thời điểm cuối năm ghi nhận ở mức bằng hoặc thấp hơn mức 9 tháng 2025 là 4,3% điều này sẽ tiếp tục củng cố quan điểm rằng thị trường chứng khoán hiện vẫn đang ở giai đoạn giữa chu kỳ. Trước đó, công ty chứng khoán nhận định rằng đỉnh nợ xấu là đáy của chứng khoán.
Theo dự báo nhóm Chiến lược thị trường của VPBankS, giá trị giao dịch bình quân ngày trong năm 2026 ước đạt khoảng 33.3 nghìn tỷ đồng/phiên tăng 15% so với cùng kỳ theo kịch bản cơ sở; và dao động trong khoảng 37-43 nghìn tỷ đồng/phiên theo các kịch bản tích cực hơn.
Tổng dư nợ cho vay ký quỹ toàn thị trường có thể đạt khoảng 450 nghìn tỷ đồng vào cuối năm 2026 tăng 16% so với cùng kỳ, được hỗ trợ bởi đà gia tăng vốn hóa thị trường cũng như đóng góp từ các thương vụ IPO và niêm yết mới trên HOSE (như TCX, VPL, VPX, VCK và MCH).
Một điểm nhấn quan trọng khác trong triển vọng năm 2026 là đà tăng trưởng mạnh mẽ của thị trường trái phiếu doanh nghiệp, đặc biệt là phân khúc doanh nghiệp phi ngân hàng.
Dự báo giá trị phát hành sơ cấp trái phiếu doanh nghiệp phi ngân hàng có thể tăng trên 44% so với cùng kỳ, qua đó thúc đẩy tăng trưởng tích cực doanh thu dịch vụ ngân hàng đầu tư và thu nhập từ bảo lãnh phát hành của ngành chứng khoán trong năm 2026. TCX và VPX sở hữu lợi thế cạnh tranh rõ rệt trong phân khúc này và mang lại dư địa tăng trưởng lớn hơn cho mảng kinh doanh nói trên.
VPBankS cũng đưa ra danh mục cổ phiếu khuyến nghị cho năm 2026 với tiềm năng tăng giá lên đến 50%.
Theo đó, nhóm ngân hàng ba cổ phiếu khuyến nghị gồm VPB, TCB, MBB trong đó riêng VPB tiềm năng tăng giá lên tới 50,4%. Mỗi cổ phiếu được lựa chọn đều sở hữu ít nhất một trong hai yếu tố: (i) bộ đệm vốn chủ sở hữu ở mức cao hoặc (ii) được hưởng cơ chế ưu đãi nhờ tham gia quá trình chuyển giao bắt buộc ngân hàng 0 đồng. Danh mục lựa chọn trên phản ánh quan điểm rằng các Ngân hàng Thương mại Nhà nước sẽ tiếp tục kém hiệu quả trong năm 2026 do gánh nặng duy trì mặt bằng lãi suất thấp.
Danh sách cổ phiếu khuyến nghị của VPBankS trong năm 2026.Bất động sản có VHM và KDH được đánh giá tiềm năng nhờ ưu tiên các chủ đầu tư có nền tảng tài chính vững mạnh, lịch sử triển khai tốt và uy tín thương hiệu cao. KDH được hỗ trợ bởi quỹ đất tại khu vực nội thành TP.HCM và mô hình bán hàng sau xây dựng; trong khi VHM nổi bật nhờ chiến lược tích lũy quỹ đất sớm, năng lực pháp lý mạnh, các dự án chủ lực và dòng tiền bền vững.
Định giá hấp dẫn và xuất hiện đủ các tín hiệu phục hồi thuyết phục là cơ sở để cổ phiếu bất động sản khu công nghiệp được khuyến nghị gồm: ICD, SIP, KBC.
Đầu tư công với HPG được khuyến nghị: Đây sẽ là một trong số ít các động lực tăng trưởng chắc chắn trong năm 2026, và HPG được kỳ vọng sẽ hưởng lợi và có kết quả tích cực trong bối cảnh này.
Với nhóm chứng khoán, sự thất vọng về diễn biến giá cổ phiếu sau IPO sẽ được thay thế trong năm 2026 bằng nền tảng cơ bản cải thiện rõ nét, đặc biệt đến từ hoạt động cho vay ký quỹ và phát hành sơ cấp trái phiếu doanh nghiệp ngoài ngành ngân hàng. Hai cổ phiếu tiềm năng gồm: SSI, TCX.
Cuối cùng là nhóm bán lẻ với MWG, DGW: Doanh số bán lẻ danh nghĩa dự báo tăng 11% trong năm 2026, cao hơn 1,5 điểm phần trăm so với năm 2025. Khuyến nghị MWG nhờ vị thế dẫn đầu trong mảng ICT và sự bứt phá về lợi nhuận của Bách Hóa Xanh, đồng thời lựa chọn DGW nhờ danh mục kinh doanh đa dạng với tốc độ tăng trưởng cao.
-Thu Minh
WHO: Bệnh phổi đe dọa tăng trưởng kinh tế Đông Nam Á
Theo báo cáo gần đây của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), châu Á - nơi tập trung một số quốc gia ô nhiễm nhất thế giới - đang đối mặt gánh nặng gia tăng khi số người mắc các bệnh hô hấp mạn tính có xu hướng đi lên.
Đáng chú ý, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) đã từ nguyên nhân gây tử vong đứng thứ 7 ở Đông Nam Á năm 2000 lên đứng thứ 4 hiện nay.
WHO ước tính căn bệnh phổi mạn tính có xu hướng tiến triển nặng này đang bào mòn nguồn lực của hệ thống y tế các quốc gia Đông Nam Á và có thể khiến khu vực này thiệt hại 584 tỷ USD trong thời gian từ nay đến hết năm 2050.
"Châu Á cần coi đây là ưu tiên cấp bách. Đây là các bệnh không lây nhiễm và không phải một cuộc khủng hoảng tức thời, nhưng vẫn gây ra gánh nặng bệnh tật lớn và tổn thất cho các nền kinh tế”, ông Jose Luis Castro, đặc phái viên của Tổng giám đốc WHO về bệnh hô hấp mạn tính, phát biểu trong chuyến thăm Malaysia gần đây.
Nhóm bệnh hô hấp mạn tính - gồm COPD, hen suyễn và ung thư phổi - gắn với các yếu tố nguy cơ như hút thuốc, ô nhiễm không khí và phơi nhiễm hóa chất. WHO cho biết các bệnh này có thể làm giảm tuổi thọ tới 3 năm đối với những người sống ở các khu vực ô nhiễm nhất tại Đông Nam Á.
"Châu Á có nhiều siêu đô thị, nơi chất lượng không khí là vấn đề lớn, nhưng đồng thời tỷ lệ hút thuốc cũng cao, góp phần làm số ca bệnh COPD tăng lên”, ông Castro chỉ ra.
Theo xếp hạng chất lượng không khí theo thời gian thực của IQAir, trong một số thời điểm của năm nay, 9/10 thành phố có mức ô nhiễm không khí cao nhất nằm ở châu Á, gồm Dhaka, Karachi, Kathmandu, Hà Nội và Bangkok. Trong khi đó, dữ liệu từ WHO cho thấy Myanmar và Indonesia nằm trong nhóm quốc gia có số người hút thuốc nhiều nhất thế giới.
Ông Castro cho rằng các bệnh hô hấp mạn tính thường bị bỏ quên và xem nhẹ dù tác động của chúng lan sang kinh tế và nhiều mặt của đời sống xã hội.
"Nhiều người mắc bệnh vẫn ở độ tuổi lao động sung sức nhất, nên khi bệnh nặng lên hoặc tái phát, họ không thể đi làm", ông Castro, từng là giám đốc điều hành tổ chức y tế công cộng toàn cầu Vital Strategies, cho biết.
Theo ông Witsanu Attavanich, nhà kinh tế môi trường tại Đại học Kasetsart của Thái Lan, người thân trong gia đình thường phải kiêm nhiệm vai trò chăm sóc, vì vậy họ cũng không thể đi làm hoặc tham gia các hoạt động mang lại thu nhập khác.
Tờ báo Nikkei dẫn một số ước tính của các nhà nghiên cứu cho thấy trong giai đoạn 2020-2025, ô nhiễm không khí có thể khiến GDP của Thái Lan giảm 6% so với tiềm năng, còn bệnh hen suyễn gây thiệt hại cho Việt Nam 422 tỷ đồng, tương đương khoảng 16 triệu USD. Cùng theo các ước tính này, COPD được dự báo khiến Indonesia phải chịu chi phí 1.499 nghìn tỷ rupiah, tương đương khoảng 90 triệu USD.
“Các chính phủ cần ưu tiên xử lý gánh nặng sức khỏe này nếu tăng trưởng kinh tế cũng là mục tiêu trọng tâm. Tuy nhiên, chính áp lực theo đuổi tăng trưởng lại khiến nhiều chính phủ chần chừ trong việc triển khai chính sách cải thiện chất lượng không khí và giảm tỷ lệ hút thuốc”, ông Attavanich chỉ ra.
Ông Attavanich, hiện tham gia nhóm vận động thúc đẩy ban hành Luật Không khí sạch ở Thái Lan, cho biết các quy định buộc doanh nghiệp cắt giảm phát thải công nghiệp có thể ảnh hưởng tiêu cực tới lợi nhuận của các tập đoàn.
"Tôi mong các quốc gia quan tâm nhiều hơn - không chỉ đến tăng trưởng kinh tế mà còn cân bằng các khía cạnh xã hội và môi trường - để nền kinh tế có thể tăng trưởng theo hướng bền vững”, ông nói.
-Trang Linh
Trung Quốc là quốc gia đầu tiên cho phép CBDC "sinh lãi"
Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBOC) đang chuẩn bị một bước đi mang tính bản lề trong lộ trình phát triển đồng nhân dân tệ kỹ thuật số (e-CNY). Theo đó, bắt đầu từ ngày 1/1/2026, các ngân hàng thương mại nước này sẽ được phép trả lãi cho khách hàng gửi tiết kiệm e-CNY.
Theo Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc (CCTV), quy định này sẽ giúp e-CNY trở thành đồng tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương đầu tiên trên thế giới có khả năng sinh lãi. Qua đó, e-CNY được xem là chính thức bước sang giai đoạn “tiền gửi kỹ thuật số”, thay vì chỉ dừng lại ở vai trò “tiền kỹ thuật số” như định hướng ban đầu.
CCTV nhận định việc trả lãi cho khách hàng gửi tiết kiệm e-CNY sẽ góp phần nâng cao mức độ sẵn sàng chấp nhận của người dùng, mở rộng các kịch bản sử dụng trong nền kinh tế, đồng thời củng cố vị thế tiên phong của Trung Quốc trong quá trình thử nghiệm và triển khai tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương nước này.
Theo các quy định mới, e-CNY có thể được các ngân hàng thương mại đưa vào quản lý trong bảng cân đối tài sản – nợ phải trả. Định hướng này đã được ông Lu Lei, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc, nêu rõ trong một bài viết đăng trên Thời báo Tài chính Trung Quốc.
Dù thúc đẩy mạnh mẽ lộ trình phát triển CBDC, Trung Quốc vẫn duy trì lập trường cứng rắn đối với tiền điện tử và stablecoin, với các lệnh cấm nghiêm ngặt. Cách tiếp cận của Bắc Kinh là tận dụng hiệu quả và ưu thế công nghệ của hạ tầng blockchain, nhưng đặt toàn bộ trong khuôn khổ một đồng tiền kỹ thuật số do nhà nước phát hành và kiểm soát chặt chẽ.
Chiến lược này tạo nên sự đối lập rõ nét với chính sách của Mỹ. Tổng thống Donald Trump đã ký một sắc lệnh hành pháp cấm việc thành lập CBDC, với lập luận rằng đồng tiền kỹ thuật số do ngân hàng trung ương phát hành có thể đe dọa sự ổn định của hệ thống tài chính, xâm phạm quyền riêng tư cá nhân và làm suy yếu chủ quyền quốc gia.
Sắc lệnh hành pháp được ký ngày 23/1 nêu rõ việc cấm thành lập, phát hành, lưu hành hoặc sử dụng CBDC trên lãnh thổ Hoa Kỳ.
Trong khi nói “không” với CBDC, Mỹ lại thúc đẩy nhanh việc hoàn thiện hành lang pháp lý cho stablecoin. Tháng 7 vừa qua, ông Donald Trump đã ký ban hành Đạo luật Hướng dẫn và Thiết lập Đổi mới Quốc gia cho Stablecoin Hoa Kỳ (GENIUS).
Đây được coi là khuôn khổ pháp lý toàn diện đầu tiên của Mỹ dành cho stablecoin, với các quy định chặt chẽ về tài sản bảo chứng và yêu cầu các tổ chức phát hành tuân thủ nghiêm ngặt các chuẩn mực chống rửa tiền.
Ở chiều ngược lại, Trung Quốc tiếp tục đẩy mạnh phổ cập đồng nhân dân tệ kỹ thuật số thông qua chương trình mang tên “Kế hoạch hành động tăng cường hơn nữa hệ thống dịch vụ quản lý nhân dân tệ kỹ thuật số và xây dựng cơ sở hạ tầng tài chính liên quan”.
Mục tiêu của kế hoạch là mở rộng phạm vi sử dụng e-CNY trên toàn quốc, đồng thời phát triển đồng bộ hạ tầng tài chính phục vụ cho đồng tiền kỹ thuật số này.
Tháng 9 vừa qua, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc đã thành lập Trung tâm Điều hành Quốc tế Nhân dân tệ (RMB) tại Thượng Hải. Trung tâm này được xây dựng như một nền tảng dịch vụ dựa trên công nghệ blockchain, hướng tới phát triển các công cụ thanh toán on-chain cũng như khả năng chuyển tiền cross-chain, qua đó thúc đẩy việc sử dụng e-CNY trong các giao dịch thanh toán xuyên biên giới.
Theo Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc , đồng nhân dân tệ kỹ thuật số không chỉ phục vụ mục tiêu hiện đại hóa hệ thống tiền tệ, mà còn có thể góp phần mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính cho nhiều đối tượng.
Tuy nhiên, ở thời điểm hiện tại, việc sử dụng e-CNY vẫn còn khá hạn chế. Đồng tiền kỹ thuật số này chủ yếu được triển khai trong một số cơ quan chính phủ và doanh nghiệp nhà nước, trong khi phần lớn các giao dịch thanh toán số tại Trung Quốc vẫn được thực hiện thông qua các nền tảng phổ biến như Alipay và WeChat Pay, vốn không trực tiếp sử dụng e-CNY.
-Hạ Chi
Vai trò đồng tiền cấp vốn của nhân dân tệ đang tăng mạnh
Hãng tin Reuters dẫn dữ liệu từ Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (POBC) cho biết hoạt động cho vay ra nước ngoài bằng nhân dân tệ của các ngân hàng thương mại nước này đã tăng gấp 3 lần trong 4 năm qua, đạt 2,52 nghìn tỷ nhân dân tệ. Đồng thời, việc phát hành trái phiếu bằng nhân dân tệ cả trong và ngoài nước cũng đạt mức kỷ lục trong 2 năm liên tiếp.
NHỮNG LỢI THẾ CỦA NHÂN DÂN TỆ
Điều này cho thấy một xu hướng rõ ràng: nhân dân tệ đang dần chiếm lĩnh thị trường tài chính quốc tế, một phần nhờ vào lãi suất hấp dẫn và sự ổn định của đồng tiền này so với các đồng tiền khác như USD và euro.
Ngoài ra, thị trường trái phiếu và cho vay bằng nhân dân tệ cũng đang tạo ra một xung lực tự thân, bên cạnh nhu cầu nắm giữ và chi tiêu bằng nhân dân tệ cùng mở rộng. Tất cả đều phản ánh rằng nỗ lực của Trung Quốc nhằm quốc tế hóa nhân dân tệ đang có những tiến bộ đáng kể dù nước này chưa cho phép tự do hóa tài khoản vốn.
Như đã đề cập ở trên, một trong những yếu tố thúc đẩy sự gia tăng mạnh mẽ trong hoạt động phát hành trái phiếu và cho vay bằng nhân dân tệ là chi phí tài chính. Lãi suất cho vay bằng nhân dân tệ thấp hơn so với USD, đặc biệt là trong bối cảnh lãi suất tại Mỹ tăng cao để kiểm soát lạm phát, trong khi Trung Quốc lại giảm lãi suất để ngăn chặn giảm phát.
Chênh lệch lợi suất giữa trái phiếu chính phủ Trung Quốc kỳ hạn 10 năm và trái phiếu kho bạc Mỹ cùng kỳ hạn đã đạt mức cao gần 3,15 điểm phần trăm vào đầu năm nay. Chênh lệch này tạo ra một lợi thế lớn cho các nhà phát hành trái phiếu và người vay vốn bằng nhân dân tệ, khi họ có thể tiết kiệm chi phí tài chính đáng kể.
Trái phiếu “panda” - trái phiếu nhân dân tệ do nhà phát hành nước ngoài phát hành tại Trung Quốc đại lục - kỳ hạn 3 năm có lợi suất dao động trong khoảng 1,7-2,7% trong năm nay, thấp hơn nhiều so với mức lợi suất 3,5% của trái phiếu kho bạc Mỹ cùng kỳ hạn - theo dữ liệu của SP Global.
Ngoài ra, sự ổn định tương đối của nhân dân tệ so với USD và euro cũng làm tăng sức hấp dẫn của đồng tiền này. Sự ổn định đó giúp giảm thiểu rủi ro tỷ giá cho các nhà phát hành trái phiếu nước ngoài, đồng thời giảm nhu cầu phải sử dụng các công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá đắt đỏ. Các nhà đầu tư quốc tế ngày càng quan tâm đến việc phân bổ tài sản vào nhân dân tệ, không chỉ vì mục đích lợi nhuận mà còn vì sự đa dạng hóa danh mục đầu tư.
Một số quốc gia và tổ chức đã bắt đầu chuyển sang sử dụng nhân dân tệ trong các giao dịch tài chính. Indonesia và Ngân hàng Phát triển Kazakhstan đã phát hành trái phiếu "dim sum" - trái phiếu nhân dân tệ được phát hành ngoài Trung Quốc đại lục - trong năm nay, trong đó Indonesia huy động được 6 tỷ nhân dân tệ vào tháng 10 và Kazakhstan 2 tỷ vào tháng 9.
Kenya đã chuyển đổi các khoản vay xây dựng đường sắt từ USD sang nhân dân tệ vào tháng 10, trong khi Ethiopia cũng đang đàm phán để thực hiện điều tương tự. Ngân hàng Phát triển Trung Quốc và Ngân hàng Phát triển Nam Phi đã ký kết thỏa thuận hợp tác tài chính bằng nhân dân tệ trong năm nay, đánh dấu lần đầu tiên có sự hợp tác tài chính giữa hai nước bằng đồng tiền này.
NHỮNG CON SỐ BIẾT NÓI
Việc sử dụng nhân dân tệ gia tăng không chỉ có ý nghĩa quan trọng về mặt kinh tế mà còn mang ý nghĩa chính trị. Bên cạnh việc tìm cách mở rộng ảnh hưởng kinh tế, Trung Quốc còn muốn giảm sự phụ thuộc vào hệ thống tài chính do USD chi phối.
Điều này không có nghĩa là Trung Quốc muốn lật đổ sự thống trị của đồng USD, mà họ muốn đảm bảo rằng Mỹ sẽ không thể sử dụng hệ thống tài chính toàn cầu để chống lại họ. Đây là một bước đi phòng thủ trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị ngày càng gia tăng.
Tỷ trọng của nhân dân tệ trong giao dịch ngoại hối toàn cầu đang tăng nhanh từ mức thấp. Theo dữ liệu từ Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS), tỷ lệ của nhân dân tệ trong các giao dịch này đạt khoảng 8,5% vào tháng 4 năm nay, so với mức 89% của đồng USD.
Trong 11 tháng đầu năm nay, các nhà phát hành trái phiếu ngoài Trung Quốc đã huy động được 169,7 tỷ nhân dân tệ (24,1 tỷ USD) từ việc phát hành trái phiếu nhân dân tệ tại thị trường Trung Quốc đại lục. Tại thị trường ngoài đại lục, các nhà phát hành ngoài Trung Quốc đã huy động được con số kỷ lục 801,9 tỷ nhân dân tệ từ phát hành trái phiếu nhân dân tệ.
Đây vẫn là những con số rất nhỏ bé trong tổng số 9,57 nghìn tỷ USD được huy động trên thị trường trái phiếu toàn cầu trong năm nay, một con số kỷ lục - theo dữ liệu của Dealogic. Trong đó, có 4,5 nghìn tỷ USD vốn USD và 2,2 nghìn tỷ USD vốn euro.
Dù vậy, trong vòng 3 năm qua, giá trị huy động vốn trái phiếu nhân dân tệ của các nhà phát hành nước ngoài, tại cả trong và ngoài thị trường đại lục, đã tăng hơn gấp đôi - theo dữ liệu của PBOC.
Trên thị trường cho vay, dữ liệu của PBOC cho thấy lượng vốn cho vay bằng ngoại tệ ra nước ngoài của các ngân hàng Trung Quốc, chủ yếu bằng USD, giảm còn 375 tỷ USD vào thời điểm cuối tháng 11 vừa qua, từ mức đỉnh 587 tỷ USD vào năm 2022. Trong khi đó, cho vay bằng nhân dân tệ tăng gấp 3 lần lên mức 357 tỷ USD.
Tuy nhiên, việc mở rộng vai trò của nhân dân tệ trên trường quốc tế không phải là không có thách thức. Việc đồng nhân dân tệ tăng giá, với mức tăng khoảng 3,6% so với USD trong năm nay, có thể là một yếu tố tiêu cực đối với người vay.
Dù vậy, Trung Quốc đã rất cẩn trọng trong việc kiểm soát sự tăng giá của nhân dân tệ, bằng cách chỉ đạo các ngân hàng quốc doanh mua vào USD để ổn định và giảm bớt biến động tỷ giá của đồng tiền này.
-An Huy
Phó Thủ tướng yêu cầu giao thẩm quyền quản lý đất đai phải triệt để
Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà vừa chủ trì cuộc họp với các bộ, ngành, hiệp hội doanh nghiệp bất động sản để nghe báo cáo cho ý kiến hoàn thiện dự thảo các nghị định hướng dẫn triển khai thực hiện Nghị quyết số 254/2025/QH15 của Quốc hội quy định một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai; tính tiền sử dụng đất, tiền thuê đất…
TIẾP THU NHIỀU NỘI DUNG VỀ GIÁ ĐẤT, THU HỒI ĐẤT
Tại cuộc họp, Bộ Nông nghiệp và Môi trường trình bày một số nội dung của Dự thảo Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Nghị quyết 254 đã được tiếp thu, giải trình theo ý kiến của Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà, lãnh đạo các bộ, ngành sau cuộc họp chiều 25/12.
Theo đó, phạm vi điều chỉnh bao gồm: Thu hồi đất đối với các dự án đã thỏa thuận được trên 75% diện tích đất và trên 75% số người sử dụng đất và quy định chuyển tiếp; các trường hợp không được bồi thường về đất; căn cứ thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất đối với quỹ đất thanh toán dự án Xây dựng – chuyển giao (BT) và quy định chuyển tiếp; quy định về bảng giá đất, hệ số điều chỉnh giá đất; các trường hợp sử dụng đất kết hợp đa mục đích khác.
Đáng chú ý, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề xuất phương án giao thẩm quyền về cấp tỉnh, để địa phương chủ động phân cấp phù hợp thực tiễn.
Thông tin về từng nội dung cụ thể, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết liên quan đến giá đất, Bộ đã tiếp thu ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng và ý kiến chuyên gia, đồng thời, tiếp tục lấy ý kiến các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp thẩm định giá. Dự thảo Nghị định vẫn áp dụng phương pháp định giá đất theo quy định. Trong đó, đề xuất sử dụng bảng giá đất và hệ số điều chỉnh giá đất. Riêng trường hợp không áp dụng được bảng giá đất và hệ số điều chỉnh, Bộ báo cáo phương án xác định giá đất cụ thể, phù hợp với tinh thần Nghị quyết 254.
Ngoài ra, đối với quy định giao đất thực hiện hợp đồng dự án BT, Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhận định Nghị định số 257/2025/NĐ-CP quy định rất chi tiết việc thực hiện dự án áp dụng loại hợp đồng BT về thời điểm, phương thức thanh toán quỹ đất. Vì vậy, không cần bổ sung thêm căn cứ mới. Việc thực hiện sẽ theo đúng hợp đồng BT và quy định hiện hành. Nghị quyết 254 chỉ áp dụng đối với các dự án hợp đồng BT ký từ ngày 1/7/2025 trở về sau.
Mặt khác, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã rà soát, tiếp thu ý kiến đóng góp cho quy định thu hồi phần diện tích đất thoả thuận còn lại đối với dự án mà chủ đầu tư đã thỏa thuận đạt 75% diện tích, 75% số người sử dụng đất. Theo đó, tỉ lệ 75% chỉ tính đối với phần diện tích có người sử dụng đất đã thỏa thuận, không tính phần đất Nhà nước. Đồng thời, cách tính số người sử dụng đất được quy định chặt chẽ như sau: Hộ gia đình tính là một chủ thể nhưng phải có sự đồng thuận của cả vợ và chồng. Trường hợp nhiều người cùng sử dụng một thửa đất thì tất cả người sử dụng đất phải đồng thuận mới được tính.
Về chi phí đầu tư hạ tầng trong xác định nghĩa vụ tài chính đất đai, Bộ Nông nghiệp và Môi trường và Bộ Xây dựng thống nhất thực hiện theo quy định của pháp luật xây dựng. Việc xác định giá đất cụ thể tiếp tục thực hiện theo quy định hiện hành, không thay đổi. Đối với đấu giá, đấu thầu dự án có sử dụng đất được miễn tiền thuê đất trong thời gian xây dựng cơ bản, Bộ phối hợp với Bộ Tài chính rà soát và thống nhất quy định hiện hành đã cho phép, không làm phát sinh cách hiểu khác.
Trên cơ sở các nội dung Bộ Nông nghiệp và Môi trường trình bày, các địa phương và hiệp hội cũng nêu quan điểm, kiến nghị từ thực tiễn triển khai.
Cụ thể, lãnh đạo Thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh thống nhất đề nghị giao thẩm quyền cho cấp tỉnh, sau đó, tùy điều kiện và năng lực từng xã, phường để tiếp tục phân cấp, ủy quyền, bảo đảm phân cấp triệt để những nội dung cấp cơ sở làm được. Riêng Hà Nội còn đề nghị giữ các phương pháp xác định giá đất theo Luật Đất đai. Trong khi đại diện Hiệp hội Bất động sản Việt Nam kiến nghị cần làm rõ tiêu chí “không phù hợp” đối với các trường hợp không áp dụng bảng giá đất.
KHÔNG SỬ DỤNG TIÊU CHÍ ĐỊNH TÍNH
Kết luận cuộc họp, Phó Thủ tướng yêu cầu quán triệt tinh thần chỉ đạo: Phân cấp phải gắn với điều kiện thực thi ở cơ sở và có sự đồng thuận, thống nhất. Theo ý kiến các địa phương, Nghị định sẽ phân cấp cho cấp tỉnh đối với một số thẩm quyền như giao đất, định giá đất, đăng ký và các nội dung liên quan, đồng thời, tiếp tục rà soát, xác định rõ thẩm quyền thuộc HĐND, UBND, bảo đảm đúng Luật Tổ chức chính quyền địa phương và quy định pháp luật, phân biệt rành mạch giữa thẩm quyền chung và thẩm quyền riêng.
“Phân cấp nội dung nào thì phải phân cấp triệt để, cơ quan được giao thẩm quyền phải chịu trách nhiệm từ đầu đến cuối, không làm nửa vời”, Phó Thủ tướng nói.
Về quy định áp dụng bảng giá đất, Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà yêu cầu phải định lượng rõ ràng, không sử dụng tiêu chí định tính, bởi nếu chỉ dừng ở mức định tính thì khi triển khai tại địa phương sẽ không thực hiện được. Ngoài ra, trong xác định giá đất, chỉ đưa vào Nghị định những nội dung có cơ sở khoa học, cơ sở pháp lý, phương pháp rõ ràng và dữ liệu đầy đủ. Theo đó, nơi có đủ dữ liệu thì áp dụng bảng giá đất và hệ số điều chỉnh; nơi không có dữ liệu, không áp dụng được hệ số thì phải xác định giá đất cụ thể theo các phương pháp đã được Luật Đất đai 2024 quy định, không tự ý đưa ra hệ số hay phương pháp mới khi chưa có căn cứ, chưa có quy chuẩn và dữ liệu đầy đủ.
Đối với đấu thầu, đấu giá đất, Phó Thủ tướng yêu cầu làm rõ quy định về giá khởi điểm, tránh để địa phương và doanh nghiệp mất nhiều thời gian tính toán. Mặt khác, nghiên cứu bổ sung trường hợp áp dụng bảng giá đất nếu có ý kiến từ thực tiễn.
Riêng quy định thu hồi phần diện tích đất thỏa thuận còn lại đối với các dự án mà chủ đầu tư đã thỏa thuận đạt 75% diện tích và 75% số người sử dụng đất, Phó Thủ tướng thống nhất cách tính, quyền sử dụng đất chung phải có sự đồng thuận của tất cả những người có quyền, đối với hộ gia đình phải có sự đồng ý của cả vợ và chồng, nhằm hạn chế tranh chấp, khiếu kiện. Trường hợp nhà đầu tư tự thỏa thuận nhưng không đạt 100%, Nhà nước sẽ thu hồi phần diện tích còn lại, đồng thời yêu cầu tính toán hài hòa giữa cơ chế doanh nghiệp chi trả và cơ chế Nhà nước chi trả, bảo đảm người dân không bị thiệt và chi phí được tính đúng vào tổng mức đầu tư.
Tuy nhiên, nhà đầu tư muốn được Nhà nước thu hồi đất phải đáp ứng đầy đủ điều kiện theo pháp luật về đầu tư, kinh doanh bất động sản, tài chính và đất đai, không thu hồi đất cho chủ thể không có năng lực, không có dự án cụ thể.
Liên quan đến trình tự, thủ tục xác định chi phí hạ tầng, Phó Thủ tướng thống nhất phương án một đầu mối, giao Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổng hợp thông tin từ các cơ quan liên quan và chuyển một lần sang cơ quan thuế, bảo đảm không chồng chéo, không kéo dài thời gian xử lý. Phó Thủ tướng nhấn mạnh: cơ quan nào thực hiện nội dung nào thì chịu trách nhiệm về nội dung đó theo quy định pháp luật.
Về quy định thực hiện dự án hợp đồng BT, Phó Thủ tướng yêu cầu làm rõ nguyên tắc không hồi tố, không áp dụng ngược đối với các hợp đồng ký trước thời điểm 1/7/2025. Các quy định phải thống nhất với Luật Đất đai 2024 và Nghị định 257; ghi rõ không áp dụng hồi tố đối với các hợp đồng ký trước thời điểm luật và nghị quyết có hiệu lực, tránh phát sinh rủi ro pháp lý.
-Thanh Xuân
Phó Thủ tướng yêu cầu giao thẩm quyền quản lý đất đai phải triệt để
Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà vừa chủ trì cuộc họp với các bộ, ngành, hiệp hội doanh nghiệp bất động sản để nghe báo cáo cho ý kiến hoàn thiện dự thảo các nghị định hướng dẫn triển khai thực hiện Nghị quyết số 254/2025/QH15 của Quốc hội quy định một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai; tính tiền sử dụng đất, tiền thuê đất…
TIẾP THU NHIỀU NỘI DUNG VỀ GIÁ ĐẤT, THU HỒI ĐẤT
Tại cuộc họp, Bộ Nông nghiệp và Môi trường trình bày một số nội dung của Dự thảo Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Nghị quyết 254 đã được tiếp thu, giải trình theo ý kiến của Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà, lãnh đạo các bộ, ngành sau cuộc họp chiều 25/12.
Theo đó, phạm vi điều chỉnh bao gồm: Thu hồi đất đối với các dự án đã thỏa thuận được trên 75% diện tích đất và trên 75% số người sử dụng đất và quy định chuyển tiếp; các trường hợp không được bồi thường về đất; căn cứ thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất đối với quỹ đất thanh toán dự án Xây dựng – chuyển giao (BT) và quy định chuyển tiếp; quy định về bảng giá đất, hệ số điều chỉnh giá đất; các trường hợp sử dụng đất kết hợp đa mục đích khác.
Đáng chú ý, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề xuất phương án giao thẩm quyền về cấp tỉnh, để địa phương chủ động phân cấp phù hợp thực tiễn.
Thông tin về từng nội dung cụ thể, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết liên quan đến giá đất, Bộ đã tiếp thu ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng và ý kiến chuyên gia, đồng thời, tiếp tục lấy ý kiến các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp thẩm định giá. Dự thảo Nghị định vẫn áp dụng phương pháp định giá đất theo quy định. Trong đó, đề xuất sử dụng bảng giá đất và hệ số điều chỉnh giá đất. Riêng trường hợp không áp dụng được bảng giá đất và hệ số điều chỉnh, Bộ báo cáo phương án xác định giá đất cụ thể, phù hợp với tinh thần Nghị quyết 254.
Ngoài ra, đối với quy định giao đất thực hiện hợp đồng dự án BT, Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhận định Nghị định số 257/2025/NĐ-CP quy định rất chi tiết việc thực hiện dự án áp dụng loại hợp đồng BT về thời điểm, phương thức thanh toán quỹ đất. Vì vậy, không cần bổ sung thêm căn cứ mới. Việc thực hiện sẽ theo đúng hợp đồng BT và quy định hiện hành. Nghị quyết 254 chỉ áp dụng đối với các dự án hợp đồng BT ký từ ngày 1/7/2025 trở về sau.
Mặt khác, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã rà soát, tiếp thu ý kiến đóng góp cho quy định thu hồi phần diện tích đất thoả thuận còn lại đối với dự án mà chủ đầu tư đã thỏa thuận đạt 75% diện tích, 75% số người sử dụng đất. Theo đó, tỉ lệ 75% chỉ tính đối với phần diện tích có người sử dụng đất đã thỏa thuận, không tính phần đất Nhà nước. Đồng thời, cách tính số người sử dụng đất được quy định chặt chẽ như sau: Hộ gia đình tính là một chủ thể nhưng phải có sự đồng thuận của cả vợ và chồng. Trường hợp nhiều người cùng sử dụng một thửa đất thì tất cả người sử dụng đất phải đồng thuận mới được tính.
Về chi phí đầu tư hạ tầng trong xác định nghĩa vụ tài chính đất đai, Bộ Nông nghiệp và Môi trường và Bộ Xây dựng thống nhất thực hiện theo quy định của pháp luật xây dựng. Việc xác định giá đất cụ thể tiếp tục thực hiện theo quy định hiện hành, không thay đổi. Đối với đấu giá, đấu thầu dự án có sử dụng đất được miễn tiền thuê đất trong thời gian xây dựng cơ bản, Bộ phối hợp với Bộ Tài chính rà soát và thống nhất quy định hiện hành đã cho phép, không làm phát sinh cách hiểu khác.
Trên cơ sở các nội dung Bộ Nông nghiệp và Môi trường trình bày, các địa phương và hiệp hội cũng nêu quan điểm, kiến nghị từ thực tiễn triển khai.
Cụ thể, lãnh đạo Thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh thống nhất đề nghị giao thẩm quyền cho cấp tỉnh, sau đó, tùy điều kiện và năng lực từng xã, phường để tiếp tục phân cấp, ủy quyền, bảo đảm phân cấp triệt để những nội dung cấp cơ sở làm được. Riêng Hà Nội còn đề nghị giữ các phương pháp xác định giá đất theo Luật Đất đai. Trong khi đại diện Hiệp hội Bất động sản Việt Nam kiến nghị cần làm rõ tiêu chí “không phù hợp” đối với các trường hợp không áp dụng bảng giá đất.
KHÔNG SỬ DỤNG TIÊU CHÍ ĐỊNH TÍNH
Kết luận cuộc họp, Phó Thủ tướng yêu cầu quán triệt tinh thần chỉ đạo: Phân cấp phải gắn với điều kiện thực thi ở cơ sở và có sự đồng thuận, thống nhất. Theo ý kiến các địa phương, Nghị định sẽ phân cấp cho cấp tỉnh đối với một số thẩm quyền như giao đất, định giá đất, đăng ký và các nội dung liên quan, đồng thời, tiếp tục rà soát, xác định rõ thẩm quyền thuộc HĐND, UBND, bảo đảm đúng Luật Tổ chức chính quyền địa phương và quy định pháp luật, phân biệt rành mạch giữa thẩm quyền chung và thẩm quyền riêng.
“Phân cấp nội dung nào thì phải phân cấp triệt để, cơ quan được giao thẩm quyền phải chịu trách nhiệm từ đầu đến cuối, không làm nửa vời”, Phó Thủ tướng nói.
Về quy định áp dụng bảng giá đất, Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà yêu cầu phải định lượng rõ ràng, không sử dụng tiêu chí định tính, bởi nếu chỉ dừng ở mức định tính thì khi triển khai tại địa phương sẽ không thực hiện được. Ngoài ra, trong xác định giá đất, chỉ đưa vào Nghị định những nội dung có cơ sở khoa học, cơ sở pháp lý, phương pháp rõ ràng và dữ liệu đầy đủ. Theo đó, nơi có đủ dữ liệu thì áp dụng bảng giá đất và hệ số điều chỉnh; nơi không có dữ liệu, không áp dụng được hệ số thì phải xác định giá đất cụ thể theo các phương pháp đã được Luật Đất đai 2024 quy định, không tự ý đưa ra hệ số hay phương pháp mới khi chưa có căn cứ, chưa có quy chuẩn và dữ liệu đầy đủ.
Đối với đấu thầu, đấu giá đất, Phó Thủ tướng yêu cầu làm rõ quy định về giá khởi điểm, tránh để địa phương và doanh nghiệp mất nhiều thời gian tính toán. Mặt khác, nghiên cứu bổ sung trường hợp áp dụng bảng giá đất nếu có ý kiến từ thực tiễn.
Riêng quy định thu hồi phần diện tích đất thỏa thuận còn lại đối với các dự án mà chủ đầu tư đã thỏa thuận đạt 75% diện tích và 75% số người sử dụng đất, Phó Thủ tướng thống nhất cách tính, quyền sử dụng đất chung phải có sự đồng thuận của tất cả những người có quyền, đối với hộ gia đình phải có sự đồng ý của cả vợ và chồng, nhằm hạn chế tranh chấp, khiếu kiện. Trường hợp nhà đầu tư tự thỏa thuận nhưng không đạt 100%, Nhà nước sẽ thu hồi phần diện tích còn lại, đồng thời yêu cầu tính toán hài hòa giữa cơ chế doanh nghiệp chi trả và cơ chế Nhà nước chi trả, bảo đảm người dân không bị thiệt và chi phí được tính đúng vào tổng mức đầu tư.
Tuy nhiên, nhà đầu tư muốn được Nhà nước thu hồi đất phải đáp ứng đầy đủ điều kiện theo pháp luật về đầu tư, kinh doanh bất động sản, tài chính và đất đai, không thu hồi đất cho chủ thể không có năng lực, không có dự án cụ thể.
Liên quan đến trình tự, thủ tục xác định chi phí hạ tầng, Phó Thủ tướng thống nhất phương án một đầu mối, giao Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổng hợp thông tin từ các cơ quan liên quan và chuyển một lần sang cơ quan thuế, bảo đảm không chồng chéo, không kéo dài thời gian xử lý. Phó Thủ tướng nhấn mạnh: cơ quan nào thực hiện nội dung nào thì chịu trách nhiệm về nội dung đó theo quy định pháp luật.
Về quy định thực hiện dự án hợp đồng BT, Phó Thủ tướng yêu cầu làm rõ nguyên tắc không hồi tố, không áp dụng ngược đối với các hợp đồng ký trước thời điểm 1/7/2025. Các quy định phải thống nhất với Luật Đất đai 2024 và Nghị định 257; ghi rõ không áp dụng hồi tố đối với các hợp đồng ký trước thời điểm luật và nghị quyết có hiệu lực, tránh phát sinh rủi ro pháp lý.
-Thanh Xuân
Năm nhóm chế tài xử phạt kinh doanh vàng sai quy định
Nghị định số 340/2025/NĐ-CP vừa được Chính phủ ban hành là bước điều chỉnh mạnh tay trong quản lý vi phạm hành chính lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng, trong đó hoạt động kinh doanh vàng là một trọng tâm.
Theo đó, hệ thống chế tài được xây dựng theo hướng phân tầng rõ ràng mức độ vi phạm, từ các hành vi nhỏ lẻ, mang tính cá nhân cho tới những vi phạm nghiêm trọng, lặp lại hoặc có khả năng gây xáo trộn thị trường.
Thứ nhất, ở nhóm vi phạm nhẹ, các hành vi như mua, bán vàng miếng với tổ chức tín dụng hoặc doanh nghiệp không có giấy phép, hay sử dụng vàng làm phương tiện thanh toán, sẽ bị áp dụng hình thức cảnh cáo.
Tuy nhiên, Nghị định 340/2025/NĐ-CP nêu rõ, trong trường hợp các hành vi này tiếp tục tái diễn hoặc xảy ra nhiều lần, chế tài sẽ được nâng lên tương ứng, với mức phạt tiền từ 10 đến 20 triệu đồng.
Bên cạnh đó, việc không tuân thủ quy định thanh toán không dùng tiền mặt khi mua bán vàng, cụ thể là không thực hiện giao dịch qua tài khoản theo quy định của pháp luật, cũng được xếp vào nhóm vi phạm chịu mức xử phạt này.
Thứ hai, đối với những vi phạm liên quan đến tính minh bạch và điều kiện kinh doanh, Nghị định quy định áp dụng khung xử phạt cao hơn, dao động từ 30 đến 50 triệu đồng.
Cụ thể, các hành vi như không niêm yết công khai giá mua, giá bán vàng; không thực hiện đúng trách nhiệm khi thay đổi mạng lưới, địa điểm kinh doanh vàng miếng; hoặc sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ, vàng miếng nhưng không công bố tiêu chuẩn, không ghi nhãn hàng hóa theo quy định đều thuộc diện bị xử phạt trong khung này.
Đáng chú ý, Nghị định dành khung xử phạt tương đối cao, từ 140 đến 180 triệu đồng cho các hành vi có nguy cơ tác động lớn đến trật tự quản lý thị trường vàng bao gồm: (i) kinh doanh vàng miếng thông qua các đại lý ủy nhiệm; (ii) không tuân thủ quy định về trạng thái vàng; (iii) xuất nhập khẩu vàng trang sức, mỹ nghệ hoặc vàng nguyên liệu không đúng ngành nghề đã đăng ký, (iv) hoạt động sản xuất, gia công vàng trang sức, mỹ nghệ khi chưa đáp ứng đầy đủ điều kiện hoặc chưa đăng ký theo quy định pháp luật.
Thứ ba, đối với các hành vi kinh doanh mua bán vàng miếng không đúng quy định pháp luật, cũng như việc mang theo vàng khi xuất cảnh, nhập cảnh trái quy định, trừ các trường hợp đã thuộc phạm vi xử lý của pháp luật hải quan, mức phạt dao động từ 80 đến 100 triệu đồng.
Thứ tư, với các vi phạm nghiêm trọng hơn, mức phạt tiếp tục được đẩy lên từ 200 đến 250 triệu đồng, áp dụng trong trường hợp sử dụng vàng nguyên liệu nhập khẩu không đúng giấy phép hoặc tái phạm hành vi kinh doanh vàng miếng thông qua đại lý ủy nhiệm.
Riêng hoạt động sản xuất vàng miếng trái quy định pháp luật có thể bị phạt tiền từ 250 đến 300 triệu đồng, Nghị định 340/2025/NĐ-CP nêu rõ
Cuối cùng, ở mức cao nhất, Nghị định quy định phạt tiền từ 300 đến 400 triệu đồng đối với các hành vi sản xuất, kinh doanh mua bán vàng miếng khi chưa được cấp phép; xuất khẩu, nhập khẩu vàng nguyên liệu hoặc vàng miếng không có giấy phép của cơ quan có thẩm quyền; hoặc thực hiện các hoạt động kinh doanh vàng khác khi chưa được cấp giấy phép theo quy định.
Bên cạnh các mức phạt tiền, Nghị định 340/2025/NĐ-CP còn bổ sung các hình thức xử phạt bổ sung nhằm tăng tính răn đe.
Theo đó, tang vật vi phạm là vàng có thể bị tịch thu trong các trường hợp sản xuất, kinh doanh vàng miếng không có giấy phép hoặc xuất nhập khẩu vàng nguyên liệu, vàng miếng trái phép cũng như hoạt động kinh doanh vàng khác khi chưa được cấp có thẩm quyền cấp giấy phép theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, hoạt động kinh doanh mua bán vàng miếng có thể bị đình chỉ từ 6 đến 9 tháng nếu thực hiện thông qua các đại lý ủy nhiệm không đúng quy định
Song song, hoạt động nhập khẩu vàng nguyên liệu có thể bị đình chỉ từ 9 đến 12 tháng đối với các hành vi sử dụng vàng nguyên liệu nhập khẩu không đúng theo giấy phép nhập khẩu vàng nguyên liệu.
Tại họp báo do Ngân hàng Nhà nước tổ chức chiều ngày 29/12/2025, ông Đào Xuân Tuấn, Cục trưởng Cục Quản lý ngoại hối cho biết đến nay cơ quan này đã tiếp nhận 9 hồ sơ xin cấp phép sản xuất vàng miếng từ các ngân hàng thương mại và doanh nghiệp có đủ điều kiện.
Theo Cục trưởng Cục Quản lý ngoại hối, phần lớn các đơn vị được cấp phép sản xuất vàng miếng cũng sẽ được xem xét cấp giấy phép nhập khẩu vàng theo quy định hiện hành. Đồng thời, sau khi được cấp phép sản xuất vàng miếng, các doanh nghiệp và ngân hàng thương mại đủ điều kiện sẽ được cấp phép nhập khẩu vàng.
-Mai Nhi
Giá mua, bán vàng nhẫn “4 số 9” giảm 6 triệu đồng/lượng trong 2 phiên
Mở cửa phiên sáng, giá mua, bán vàng miếng tại Công ty SJC giảm 3,8 triệu đồng/lượng mỗi chiều so với giá chốt phiên hôm qua (29/12). Thương hiệu này niêm yết giá mua vào vàng miếng ở mức 152,2 triệu và giá vàng miếng bán ra niêm yết ở mức 154,2 triệu đồng/lượng. Cập nhật lúc 10 giờ 30 phút ngày 30/12, mức giá giao dịch trên vẫn không đổi.
Đây cũng là mức giá niêm yết tại DOJI, PNJ, Bảo Tín Minh Châu và Ngọc Thẩm trong phiên sáng. So với giá chốt phiên 29/12, giá vàng miếng tại các đơn vị trên đồng loạt ghi nhận mức giảm là 3,8 triệu đồng/lượng mỗi chiều.
Cập nhật lúc 10 giờ 30 phút ngày 30/12, tại Bảo Tín Mạnh Hải, thương hiệu này cũng niêm yết giá vàng miếng SJC bán ra ở mức 154,2 triệu đồng/lượng trong khi giá vàng miếng SJC mua vào đặt ở mức 152,3 triệu đồng/lượng. So với giá chốt phiên 29/12, giá vàng miếng mua vào và bán ra tại thương hiệu này đều giảm 3,8 triệu đồng/lượng.
Trong phiên sáng nay (30/12/2025), giá mua, bán vàng miếng SJC tại các hệ thống lớn đồng loạt sụt mạnh với mức giảm phổ biến là 3,8 triệu đồng/lượng. Đây cũng là mức điều chỉnh giảm mạnh nhất kể từ phiên giao dịch cuối tháng 10/2025.
Cùng mức điều chỉnh trên, tính đến 10 giờ 30 phút, Phú Quý là đơn vị ghi nhận giá vàng miếng mua vào thấp nhất thị trường khi niêm yết ở mức 151,2 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng miếng bán ra cũng đặt ở mức 154,2 triệu đồng/lượng.
Tại khu vực phía Nam, Mi Hồng là đơn vị duy nhất 2 nhịp điều chỉnh tăng đối với chiều mua và 3 nhịp điều chỉnh giảm đối với chiều bán.
Giá vàng miếng mua vào tại thương hiệu này giảm 3,5 triệu đồng/lượng và giá vàng miếng bán ra giảm 3 triệu đồng/lượng so với giá chốt 29/12, niêm yết ở mức 153 triệu – 155 triệu đồng/lượng.
Sau 30 phút mở cửa, thương hiệu này điều chỉnh tăng 1,5 triệu đồng/lượng đối chiều mua và 1 triệu đồng/lượng đối với chiều bán; đặt giá mua, bán vàng miếng ở mức 154,5 triệu – 156 triệu đồng/lượng.
Tuy nhiên, chỉ trong vòng 1 tiếng tiếp theo, Mi Hồng lại giảm 1,5 triệu đồng/lượng đối với chiều mua và 1,8 triệu đồng/lượng đối với chiều bán. Giá mua, bán vàng miếng SJC niêm yết ở mức 153 triệu – 154,2 triệu đồng/lượng. Lúc 10 giờ 30 phút, mức giá giao dịch trên vẫn giữ nguyên
Như vậy trong phiên sáng, giá mua vào vàng miếng tại Mi Hồng ghi nhận tổng mức giảm là 3,5 triệu đồng/lượng và giá bán ra giảm tổng cộng 3,8 triệu đồng/lượng.
Giá giao dịch vàng miếng tại các thương hiệu trong phiên sáng 30/12. Nguồn: VnEconomy tổng hợp từ bảng giá các doanh nghiệpCùng chung xu hướng với thị trường vàng miếng, các đơn vị kinh doanh cũng điều chỉnh giảm mạnh giá giao dịch vàng nhẫn với mức giảm dao động từ 2 triệu đến 4 triệu đồng/lượng mỗi chiều.
Giá mua, bán vàng nhẫn “4 số 9” sau khi giảm 3,6 triệu đồng/lượng đối với cả hai chiều mua và bán so với giá chốt phiên hôm qua (29/12) ngay khi mở cửa phiên sáng, Công ty SJC niêm yết giá giao dịch ở mức 147,5 triệu – 150,5 triệu đồng/lượng (mua – bán). Tính đến 10 giờ 30 phút ngày 30/12, giá mua, bán vàng nhẫn tại thương hiệu này vẫn duy trì ổn định.
Tại DOJI, cập nhật lúc 10 giờ 30 phút, giá mua, bán vàng nhẫn “4 số 9” tại thương hiệu này vẫn đặt ở mức 150 triệu – 153 triệu đồng/lượng. So với giá chốt phiên 29/12, giá mua, bán vàng nhẫn tại thương hiệu này giảm 4 triệu đồng/lượng mỗi chiều. Đồng thời, đây cũng là thương hiệu ghi nhận mức điều chỉnh giảm mạnh nhất trên thị trường
PNJ cũng niêm yết giá mua vào vàng nhẫn ở mức 150 triệu và giá vàng miếng bán ra niêm yết ở mức 153 triệu đồng/lượng trong suốt phiên sáng. So với giá chốt phiên 29/12, giá vàng nhẫn tại hai đơn vị này sụt 3 triệu đồng/lượng đối với cả hai chiều mua và bán.
Trong hai phiên liên tiếp (29-30/12), giá mua, bán vàng miếng SJC tại tất cả các hệ thống lớn đều ghi nhận tổng mức giảm là 5,5 triệu đồng/lượng mỗi chiều. Đối với vàng nhẫn “4 số 9”, mức giảm dao động từ 4 triệu – 5,6 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều mua và bán, tuỳ thương hiệu.
Trong phiên sáng, Bảo Tín Minh Châu cũng chỉ ghi nhận duy nhất 1 nhịp điều chỉnh đối với cả hai chiều mua và bán với tổng mức giảm là 3,8 triệu đồng/lượng.
Bảo Tín Minh Châu vẫn giữ nguyên giá mua, bán vàng nhẫn ở mức 155,5 triệu – 158,5 triệu đồng/lượng so với giá chốt phiên 29/12.
Tuy nhiên, chỉ sau hơn 2 tiếng mở cửa, thương hiệu này giảm mạnh 3,8 triệu đồng/lượng mỗi chiều. Giá giao dịch vàng nhẫn tròn trơn đặt ở mức 151,7 triệu – 154,7 triệu đồng/lượng. Tính đến 10 giờ 30 phút ngày 30/12, mức giá giao dịch trên vẫn giữ nguyên.
Tương tự, tại Bảo Tín Mạnh Hải, sau khi giảm 3,8 triệu đồng/lượng mỗi chiều ngay khi mở cửa phiên sáng, cập nhật lúc 10 giờ 30 phút ngày 30/12, thương hiệu này cũng niêm yết giá mua vào vàng nhẫn ép vỉ Kim Gia Bảo ở mức 151,7 triệu và giá vàng nhẫn bán ra ở mức 154,7 triệu đồng/lượng.
Mức điều chỉnh giảm giá vàng nhẫn trong phiên 30/12 so với phiên 29/12. Nguồn: VnEconomy tổng hợp và tính toánTại Phú Quý, giá mua, bán vàng nhẫn “4 số 9” tại thương hiệu này mở cửa phiên sáng vẫn niêm yết ở mức 154,5 triệu – 157,5 triệu đồng/lượng, không đổi so với giá chốt phiên 29/12.
Chỉ sau hơn 1 tiếng mở cửa, Phú Quý giảm mạnh 3,8 triệu đồng/lượng đối với cả hai chiều mua và bán, đặt giá giao dịch vàng nhẫn ở mức 150,7 triệu – 153,7 triệu đồng/lượng (mua – bán). Tính đến 10 giờ 30 phút ngày 30/12, mức giá niêm yết trên vẫn giữ nguyên.
Tại khu vực phía Nam, Ngọc Thẩm cũng giữ nguyên giá mua, bán vàng nhẫn ở mức 147 triệu – 150 triệu đồng/lượng so với giá chốt phiên 29/12. Chỉ sau hơn 30 phút mở cửa, thương hiệu này điều chỉnh 2 triệu đồng/lượng với mỗi chiều. Giá giao dịch vàng nhẫn “4 số 9” đặt ở mức 145 triệu – 148 triệu đồng/lượng. Tính đến 10 giờ 30 phút ngày 30/12, mức giá giao dịch trên vẫn duy trì ổn định.
Trên thị trường NewYork, sau khi giảm hơn 4% khi chốt phiên hôm qua (29/12), cập nhật lúc 10 giờ 30 phút ngày 30/12, hợp đồng giá vàng giao ngay tăng nhẹ 0,7%, tiến lên mốc 4.363,3 USD/oz. Như vậy, diễn biến giá vàng trong nước và giá vàng thế giới ngược chiều nhau.
Theo tỷ giá Vietcombank (đã bao gồm thuế và phí...), chênh lệch giữa giá vàng miếng và giá vàng thế giới phổ biến ở mức 14,01 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, tùy từng thương hiệu, mức chênh lệch này đối với giá vàng nhẫn “4 số 9” dao động từ 7,81 triệu – 14,51 triệu đồng/lượng.
-Mai Nhi
The Parkland: Sức hút từ thế hệ đô thị mới - thành phố trong công viên
Mảnh ghép đầu tiên The Parkland thuộc dự án Imperia Ocean City là lời giải đáp cho nhu cầu sống xanh đúng nghĩa, khi thiên nhiên không chỉ là cảnh quan mà trở thành một phần tự nhiên của nhịp sống mỗi ngày.
HỆ SINH THÁI VÌ THIÊN NHIÊN - CHO CON NGƯỜILà phân khu đầu tiên ra mắt của tổ hợp cao tầng Imperia Ocean City tại Ocean Park 2, The Parkland không dừng lại ở việc đưa không gian xanh vào cảnh quan mà còn tạo nên một hệ sinh thái nơi thiên nhiên và con người cùng tồn tại, tương tác chặt chẽ với nhau. Trên tổng diện tích 33,68ha của phân khu là sự hiện diện của 17ha cây xanh và mặt nước, 5km chiều dài đường daọ bộ và hơn 100 loài cây, thảm thực vật phong phú…
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), mỗi cư dân đô thị nên có khả năng tiếp cận không gian xanh công cộng có diện tích tối thiểu 0,5ha trong bán kính khoảng 300m, tương đương một quãng đi bộ ngắn. Ở The Parkland, thiên nhiên đủ gần để con người có xu hướng vận động nhiều hơn, giảm căng thẳng và duy trì trạng thái tinh thần tích cực. Công viên trung tâm rộng tới 3,6ha đầu tiên tại đại đô thị Ocean City đóng vai trò dẫn dắt nhịp sống của cư dân thế hệ mới tại The Parkland.
The Parkland - thành phố trong công viên.Từ công viên trung tâm, những cụm tiện ích được chủ đích tạo ra giúp cộng đồng cư dân mạnh khỏe về thể chất và thư thái về tinh thần. Cầu đi bộ, sân tập gym, bể bơi ngoài trời, vườn yoga, vườn BBQ, sân chơi trẻ em… là những điểm nhấn trọn vẹn cho hệ sinh thái đô thị kiểu mới mà The Parkland sở hữu.
Được ví như một ốc đảo xanh, The Parkland không vì thế mà xa rời nhịp sống đô thị. Cuộc sống tại The Parkland là sự giao thoa trọn vẹn giữa chuyển động và tĩnh tại, đủ gần để chạm vào mọi tiện ích sôi động của đại đô thị, đủ tách biệt để giữ lại không gian riêng tư cho nhịp sống cá nhân.
Từ The Parkland, cư dân chỉ mất 1 phút để chạm tới hệ tiện ích sôi động của Ocean Park 2 và chỉ 3 đến 5 phút kết nối tới các trường đại học lớn và sân vận động, 30 phút đã có thể hiện diện tại hồ Hoàn Kiếm… Nhưng khi rời khỏi những tuyến kết nối ấy, The Parkland mở ra một thế giới khác với khuôn viên xanh nội khu được quy hoạch khép kín, tạo nên chất sống riêng cho cộng đồng cư dân nơi đây.
Với cách tổ chức không gian lấy hệ thống công viên làm trục trung tâm, The Parkland được hình thành như một vùng xanh liên kết, nơi thiên nhiên hiện diện xuyên suốt và gắn kết cộng đồng cư dân. Các tòa nhà không tồn tại như những khối kiến trúc riêng lẻ mà được kết nối “mềm” thông qua mạng lưới tiện ích và những dải công viên xanh.
KHI KIẾN TRÚC LÀM DỊU ĐI NHỊP SỐNG ĐÔ THỊRa mắt các tòa nhà cao tầng tưởng chừng theo khuôn mẫu, nhưng The Parkland đã làm được nhiều hơn thế với những khoảng không gian mở đưa thiên nhiên đến gần hơn với nhịp sống hàng ngày. Ngôn ngữ kiến trúc của The Parkland lấy cảm hứng từ hình thái sông - đảo - núi gợi nhắc đến địa hình tự nhiên bản địa, tôn vinh giá trị truyền thống giữa những tiện nghi hiện đại. Mặt nước và những khoảng xanh đóng vai trò làm dịu đi nhịp đô thị mang lại sức sống mới cho những tòa nhà cao tầng.
Những tòa nhà cao tầng được thiết kế xen kẽ với những khoảng nghỉ đắt giá.Được thiết kế bởi NBBJ, công ty kiến trúc, quy hoạch và thiết kế toàn cầu của Mỹ, The Parkland vừa mang âm hưởng của một New York sôi động lại vừa nổi bật bởi sắc xanh giữa các tầng không. Khi những khoảng trống đô thị gặp gỡ ánh sáng và thiên nhiên dịu mát, không khí bên trong những căn nhà nhỏ sẽ luôn được đối lưu hài hòa, mang lại chất lượng sống hoàn hảo.
Cùng với sự tối ưu hóa từ kiến trúc đến nội thất, The Parkland mang đến hệ sản phẩm đa dạng đáp ứng nhu cầu của nhiều nhóm cư dân. Các căn hộ studio, 1 phòng ngủ+, 2 phòng ngủ, 2 phòng ngủ+, 3 phòng ngủ phù hợp với người trẻ độc thân, gia đình trẻ hoặc các hộ gia đình đa thế hệ. Trong khi đó, Duplex và Penthouse lại mở ra lựa chọn cho những chủ nhân tìm kiếm không gian sống rộng rãi, riêng tư hơn.
Tại The Parkland, sự đắt giá không nằm ở những điều phô trương mà bắt đầu từ khoảnh khắc được trở về nhà sống giữa miền xanh và gạt bỏ mọi áp lực. Đó là cách The Parkland định nghĩa về một nơi đáng sống, về trải nghiệm của thế hệ mới được nuôi dưỡng từ những giá trị giản dị nhưng bền vững mỗi ngày.
Sự kiện giới thiệu dự án The Parkland
Thời gian: 09:00 ngày 4/1/2025
Địa điểm: Grand Ballroom – VinPalace Cổ Loa.
-Tuấn Sơn
Ra mắt Viện PINI Việt Nam: “Bảo chứng” mới cho ngành kim hoàn hội nhập quốc tế
Sự ra đời của PINI Việt Nam được kỳ vọng sẽ góp phần thiết lập các chuẩn mực kiểm định mới theo quy chuẩn quốc tế, qua đó nâng cao tính minh bạch, chất lượng và uy tín của sản phẩm kim hoàn Việt Nam trên thị trường trong nước và quốc tế.
Lễ ra mắt có sự tham dự của đại diện Bộ Khoa học và Công nghệ, lãnh đạo các bộ, ban, ngành Trung ương cùng đông đảo chuyên gia, nhà khoa học và nghệ nhân trong lĩnh vực kim hoàn – đá quý.
Tại buổi lễ, đại diện Bộ Khoa học và Công nghệ đã trao Giấy chứng nhận hoạt động cho Viện PINI Việt Nam, tạo cơ sở pháp lý để Viện triển khai các hoạt động nghiên cứu, giám định và đào tạo chuyên sâu.
Phát biểu tại sự kiện, TS Lê Ngọc Dũng, Chủ tịch Hội Mỹ nghệ Kim hoàn Đá quý Việt Nam, khẳng định: sự ra đời của PINI Việt Nam là “mắt xích cần thiết” để hoàn thiện hệ sinh thái ngành kim hoàn. Với hệ thống trang thiết bị hiện đại và đội ngũ chuyên gia được đào tạo bài bản, Viện được kỳ vọng sẽ góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của ngành.
Viện PINI Việt Nam được dẫn dắt bởi Ban lãnh đạo gồm nhiều chuyên gia uy tín như GS.TS danh dự Nguyễn Đình Thắng - Chủ tịch Hội đồng quản trị; ông Nguyễn Thanh Tú - Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị và TS Ngô Hữu Hải - Viện trưởng.
GS.TS Nguyễn Đình Thắng cho biết mục tiêu của Viện là trở thành một địa chỉ khoa học tin cậy, nơi kết nối giữa giá trị văn hóa dân tộc với trình độ kỹ thuật hiện đại của thế giới.
TS Ngô Hữu Hải, Viện trưởng Viện PINI, nhấn mạnh: PINI được xây dựng dựa trên ba trụ cột: Khoa học, Chuẩn xác và Niềm tin. Viện sẽ áp dụng các tiêu chuẩn giám định nghiêm ngặt nhằm xác lập giá trị thực của đá quý Việt Nam trong bối cảnh thị trường ngày càng đòi hỏi sự minh bạch cao.
Sự xuất hiện của PINI Việt Nam được cộng đồng doanh nghiệp và nhà đầu tư đánh giá là “cú hích” cho thị trường vàng bạc, đá quý. Một đơn vị kiểm định độc lập đạt chuẩn quốc tế sẽ giúp doanh nghiệp nội địa tự tin hơn khi tham gia xuất khẩu và xây dựng thương hiệu trên thị trường toàn cầu.
Bên cạnh giám định, Viện còn chú trọng đào tạo chuyên sâu, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành kim hoàn và đá quý. Với sự bảo trợ của Bộ Khoa học và Công nghệ và Hội Mỹ nghệ Kim hoàn Đá quý Việt Nam, Viện PINI Việt Nam đang từng bước hiện thực hóa mục tiêu đưa ngành đá quý Việt Nam vươn tầm khu vực và thế giới.
-Chu Khôi
Phân bổ nguồn vốn hợp lý cho tăng trưởng dài hạn
“Trong thời gian qua, hệ thống ngân hàng tại Việt Nam đã nỗ lực cung ứng vốn nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, nếu tiếp tục phụ thuộc quá nhiều vào kênh tín dụng ngân hàng có thể làm gia tăng rủi ro thanh khoản, đặc biệt trong các giai đoạn cao điểm như cuối năm. Áp lực này càng trở nên rõ nét khi cơ cấu nguồn vốn của hệ thống ngân hàng vẫn chủ yếu là huy động ngắn hạn, trong khi nhu cầu cho vay trung và dài hạn của nền kinh tế ngày càng gia tăng, dẫn đến nguy cơ mất cân đối về kỳ hạn và gia tăng rủi ro hệ thống.
Ngoài ra, mặt bằng lãi suất trong thời gian tới nhiều khả năng sẽ được điều chỉnh, điều này sẽ tác động trực tiếp đến chi phí đầu tư và kế hoạch sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp. Thêm vào đó, các ngân hàng đang từng bước áp dụng các chuẩn mực an toàn cao hơn như Basel III cũng đặt ra thách thức không nhỏ trong việc cân đối nguồn lực: vừa hỗ trợ tăng trưởng, vừa đáp ứng yêu cầu an toàn theo thông lệ quốc tế. Đây là bài toán cần được xem xét kỹ lưỡng đối với toàn hệ thống ngân hàng, đồng thời đặt ra yêu cầu nghiêm túc trong hoạch định chính sách huy động và phân bổ vốn, nhất là khi tín dụng ngân hàng vẫn đang là nguồn vốn chủ lực của nền kinh tế.
Song song với áp lực từ tín dụng, cơ cấu phân bổ vốn đầu tư hiện nay cũng bộc lộ những vấn đề cần lưu ý. Vốn đầu tư vào khu vực nông nghiệp và nông – lâm – thủy – hải sản hiện chiếm trên 20% tổng vốn đầu tư, trong khi công nghiệp và xây dựng cũng chiếm tỷ trọng tương đương. Phần còn lại, khoảng 50–60%, tập trung vào các lĩnh vực dịch vụ, thương mại và du lịch. Cơ cấu này cho thấy dòng vốn vẫn đang phân bổ khá lớn vào các lĩnh vực phi sản xuất trực tiếp.
Để đạt được tăng trưởng bền vững trong dài hạn, cần có sự chuyển dịch cơ cấu đầu tư theo hướng tập trung hơn vào sản xuất – kinh doanh. Việc ưu tiên dòng vốn và các công cụ chính sách tài khóa vào lĩnh vực sản xuất thay vì các lĩnh vực mang tính đầu cơ sẽ giúp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, giảm rủi ro cho nền kinh tế.
Ngược lại, nếu dòng vốn tiếp tục tập trung vào bất động sản, dịch vụ du lịch hay môi giới, nền kinh tế có thể đạt tăng trưởng trong ngắn hạn nhưng thiếu bền vững và tiềm ẩn rủi ro lớn cho hệ thống tài chính. Trong bối cảnh đó, ngành ngân hàng sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức khi vừa đảm bảo an toàn hệ thống khi tuân thủ chuẩn mực quốc tế, vừa hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, đồng thời góp phần duy trì ổn định kinh tế vĩ mô. Vì vậy, yêu cầu phát triển các kênh huy động vốn trung và dài hạn ngoài hệ thống ngân hàng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết nhằm giảm áp lực cho tín dụng và nâng cao tính bền vững của cấu trúc tài chính quốc gia.
Bên cạnh đó, sự phối hợp đồng bộ giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ cũng cần được tăng cường hơn. Mặc dù thời gian qua hai chính sách này đã được điều hành tương đối chặt chẽ, song mối liên kết giữa vốn ngân sách nhà nước thông qua đầu tư công và tín dụng ngân hàng vẫn chưa thực sự phát huy đầy đủ vai trò hỗ trợ lẫn nhau. Vốn ngân sách cần đóng vai trò “vốn mồi”, đồng hành cùng tín dụng ngân hàng để tạo lực đỡ cho doanh nghiệp sản xuất – kinh doanh, góp phần đạt mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững và hỗ trợ ổn định kinh tế vĩ mô. Khi hai nguồn vốn này phối hợp hiệu quả, cả vốn ngân sách và vốn tín dụng đều được khai thác tối đa, giảm lãng phí và nâng cao hiệu quả đầu tư”.
“Để nâng cao hiệu quả huy động và sử dụng vốn, cần tập trung đánh giá dựa trên cả ba góc độ. Trước hết là hiệu quả của đồng vốn trong sản xuất – kinh doanh. Vốn chỉ thực sự mang lại giá trị khi được triển khai vào các hoạt động thực tế và tạo ra lợi nhuận đủ bù đắp chi phí và đóng góp giá trị gia tăng cho nền kinh tế. Bên cạnh đó là khả năng thu hút nguồn vốn. Ngoài nguồn tiết kiệm trong dân cư, cần khai thác hiệu quả từ các nguồn tài sản và mở rộng tiếp cận nguồn vốn ở các thị trường vốn quốc tế, từ đó đa dạng hóa kênh huy động. Cuối cùng là hiệu quả của thị trường vốn và thị trường tài chính. Các thị trường này cần được phát triển theo hướng giảm thiểu chi phí kết nối giữa người có vốn và người sử dụng vốn. Thị trường càng vận hành hiệu quả, chi phí trung gian càng thấp, thì khả năng huy động và phân bổ vốn cho nền kinh tế càng được cải thiện.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, hiệu quả sử dụng vốn ở Việt Nam vẫn còn thấp. Theo đó, hệ số hiệu quả sử dụng vốn đầu tư (ICOR) của Việt Nam hiện dao động trong khoảng từ 6 đến 7. Trong khi đó, tại các nền kinh tế như Hàn Quốc hay Trung Quốc, chỉ cần khoảng 3 đơn vị vốn để đạt được cùng mức tăng trưởng. Điều này cho thấy vấn đề cốt lõi hiện nay không nằm ở việc thiếu vốn, mà chủ yếu là ở hiệu quả sử dụng vốn chưa cao. Thay vì tiếp tục mở rộng huy động vốn, nếu nâng cao hiệu quả phân bổ và sử dụng vốn đầu tư, Việt Nam hoàn toàn có thể đạt được mức tăng trưởng cao hơn ngay cả với quy mô vốn hiện có. Nói cách khác, khi hiệu quả được cải thiện, cùng một lượng vốn đầu tư có thể tạo ra sản lượng và giá trị gia tăng lớn hơn, từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững mà không nhất thiết phải gia tăng mạnh nguồn vốn mới.
Đồng thời, nếu xét trên góc độ thị trường chứng khoán, tỷ lệ giữa giá thị trường của cổ phiếu và thu nhập trên mỗi cổ phiếu (P/E) tại Việt Nam hiện đang ở mức khoảng 18 lần, được xem là mức định giá hợp lý (fair value). Tuy nhiên, khi đặt trong so sánh khu vực, mức P/E này vẫn cao hơn đáng kể so với các thị trường cùng khu vực như Malaysia (khoảng 15 lần), Indonesia (khoảng 13 lần) và đặc biệt là Trung Quốc (dưới 11 lần).
Từ góc độ quốc tế, mức định giá cao đi kèm với hiệu quả sử dụng vốn chưa tương xứng sẽ làm suy giảm sức hấp dẫn tương đối của thị trường Việt Nam trong mắt các nhà đầu tư. Khi nhà đầu tư phải bỏ ra nhiều vốn hơn để thu về cùng một đơn vị lợi nhuận so với các thị trường khác, họ sẽ có xu hướng phân bổ dòng vốn sang những quốc gia có hiệu quả sinh lời cao hơn. Do đó, việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của toàn bộ nền kinh tế không chỉ có ý nghĩa đối với tăng trưởng nội tại, mà còn chính là yếu tố then chốt để gia tăng sức hấp dẫn của thị trường, qua đó cải thiện khả năng huy động vốn trong nước và quốc tế. Khi hiệu quả đầu tư được cải thiện, lợi nhuận doanh nghiệp gia tăng một cách bền vững, thị trường chứng khoán sẽ trở nên hấp dẫn hơn.
Để đạt được mục tiêu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của toàn nền kinh tế, khu vực công cần đóng vai trò then chốt. Trước hết, trong lĩnh vực đầu tư công, việc chuẩn bị dự án kỹ càng, rút ngắn thời gian từ phê duyệt đến khởi công, hoàn thiện và đưa vào vận hành sớm sẽ giúp dự án nhanh chóng tạo ra giá trị kinh tế – xã hội, qua đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư của Nhà nước. Bên cạnh đầu tư phát triển, các khoản chi thường xuyên như an sinh xã hội, giáo dục nghề nghiệp hay nâng cao kỹ năng lao động cũng cần được phân bổ hiệu quả để nâng cao năng suất chung của nền kinh tế. Song song, trong khu vực tư nhân, cải thiện môi trường đầu tư – kinh doanh là điều kiện giúp cho doanh nghiệp giảm chi phí cũng như thời gian tuân thủ, từ đó tập trung vào triển khai sản xuất – kinh doanh và từng bước mở rộng quy mô.
Thực tế là môi trường kinh doanh hiện nay vẫn chưa đủ hấp dẫn để thúc đẩy sự phát triển theo chiều sâu đối với doanh nghiệp tư nhân, dẫn đến thiếu vắng các doanh nghiệp lớn có khả năng dẫn dắt chuỗi giá trị, trong khi khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm tỷ trọng áp đảo. Do đó, chỉ khi môi trường kinh doanh được cải thiện một cách thực chất mới có thể nâng cao hiệu quả sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân. Đồng thời, chính bản thân khu vực này có thể trở thành nguồn tạo sức hút tự nhiên đối với các dòng vốn đầu tư, cả trong nước lẫn quốc tế”.
“Dưới góc nhìn của nhà đầu tư, trên thực tế, mức độ quan tâm của các nhà đầu tư quốc tế đối với thị trường Việt Nam vẫn ở mức rất lớn. Điều này xuất phát từ những yếu tố nền tảng như dân số đông trên 100 triệu dân, nền kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng ổn định và các định hướng phát triển của Chính phủ được đánh giá là có điểm khác biệt so với nhiều quốc gia trong khu vực. Trên cơ sở đó, Việt Nam vẫn được đánh giá là một thị trường có tiềm năng đầu tư. Tuy nhiên, đối với các nhà đầu tư chiến lược, quyết định rót vốn không đơn thuần là bài toán cung – cầu ngắn hạn. Các khoản đầu tư này thường có quy mô vốn lớn, thời gian đầu tư dài và mức độ cam kết cao, do đó yếu tố an toàn và tính khả thi luôn được đặt lên hàng đầu.
Trên thực tế, khi tiếp cận các tài sản và dự án tại Việt Nam, các nhà đầu tư chiến lược thường phải nói “không” nhiều hơn “có”, bởi không ít dự án dù được trình bày rất hấp dẫn trên hồ sơ nhưng lại bộc lộ nhiều hạn chế khi đánh giá ở khâu triển khai thực tế. Vì vậy, quá trình thẩm định của nhà đầu tư không thể chỉ dừng lại ở tài liệu, báo cáo hay phương án tài chính trên giấy tờ, mà phải được kiểm chứng trực tiếp tại hiện trường. Nhà đầu tư cần đánh giá toàn diện từ nhà xưởng, máy móc, công nghệ, nguồn nhân lực cho đến hệ thống kho bãi, logistics và khả năng vận hành thực tế của dự án.
Trong bối cảnh đó, những dự án hạ tầng được triển khai nhanh, đúng tiến độ và đạt chất lượng cao có tác động rất lớn đến niềm tin của nhà đầu tư. Chẳng hạn, dự án phục vụ APEC tại Phú Quốc được xem là một ví dụ điển hình, tạo ấn tượng tích cực đối với cộng đồng nhà đầu tư quốc tế. Việc một dự án hạ tầng quy mô lớn có thể được triển khai trong thời gian ngắn và đáp ứng yêu cầu cao về chất lượng cho thấy năng lực tổ chức, điều phối và thực thi của Việt Nam. Từ đó, nhà đầu tư có cơ sở để kỳ vọng rằng các dự án hạ tầng khác trong tương lai cũng có thể đạt được tốc độ và hiệu quả tương tự.
Bên cạnh tính khả thi của dự án, năng lực của doanh nghiệp đối tác cũng là yếu tố được xem xét hết sức thận trọng. Nhà đầu tư cần xác định rõ doanh nghiệp có đủ năng lực triển khai dự án hay không, có phù hợp để hợp tác không và hình thức hợp tác nào là tối ưu, có thể là hợp tác về đất đai, chuyển giao công nghệ hay hợp tác thương mại. Việc lựa chọn đúng đối tác và đúng mô hình hợp tác có ý nghĩa quyết định đối với hiệu quả và khả năng sinh lời bền vững của khoản đầu tư.
Yếu tố quan trọng không kém là tính minh bạch sau đầu tư. Nhà đầu tư cần nhìn rõ lộ trình thu hồi vốn, cơ chế vận hành dòng tiền, hệ thống kiểm soát tài chính cũng như vai trò và trách nhiệm của các vị trí chủ chốt, đặc biệt là giám đốc tài chính. Đồng thời, các vấn đề liên quan đến quyền kiểm soát, mức độ tham gia vào quản trị doanh nghiệp đều phải được xác định rõ ràng ngay từ đầu. Đối với các nhà đầu tư tư nhân và nhà đầu tư chiến lược, trách nhiệm đối với dòng vốn bỏ ra là rất lớn, do đó yêu cầu về minh bạch, quản trị hiệu quả và khả năng kiểm soát rủi ro luôn được đặt ở mức cao nhất khi đầu tư vào Việt Nam”.
“Thị trường trái phiếu nói riêng và thị trường vốn nói chung, về bản chất, chỉ là kênh dẫn vốn vào nền kinh tế. Do đó, đây là công cụ và phương tiện hỗ trợ cho phát triển kinh tế, chứ không phải là mục tiêu cuối cùng. Việc các chính sách và công cụ này có phát huy hiệu quả hay không phụ thuộc lớn vào chiến lược phát triển và mục tiêu cụ thể trong từng giai đoạn. Trong hơn một thập kỷ qua, thị trường trái phiếu Việt Nam đã phát triển nhanh chóng. Kể từ năm 2009, cả trái phiếu Chính phủ lẫn doanh nghiệp đều tăng mạnh về quy mô, thanh khoản cải thiện rõ rệt, trong khi chi phí huy động vốn của Chính phủ vẫn ở mức thấp so với khu vực. Tuy nhiên, vấn đề cốt lõi hiện nay không nằm ở việc thiếu vốn, mà là năng lực sử dụng vốn và hiệu quả đầu tư.
Thực tiễn cho thấy nguồn vốn trong nền kinh tế không hề khan hiếm, song số lượng các dự án và doanh nghiệp có hiệu quả cao, có khả năng tạo ra giá trị gia tăng bền vững vẫn còn hạn chế. Do đó, việc xây dựng cơ chế công bố thông tin minh bạch kết hợp với hệ thống giám sát hiệu quả là điều kiện tiên quyết để thị trường vận hành công bằng và rõ ràng. Minh bạch thông tin không chỉ giúp nhà đầu tư đưa ra quyết định chính xác hơn, mà còn tạo nền tảng cho việc hình thành một cơ chế sàng lọc tự nhiên thông qua thị trường. Cơ chế này sẽ góp phần lựa chọn, hỗ trợ và nuôi dưỡng những doanh nghiệp có chất lượng cao, từ các doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp nhỏ và vừa, cho đến các doanh nghiệp quy mô lớn.
Do đó, việc huy động và phân bổ vốn không thể thực hiện theo cách dàn trải mà cần gắn chặt với quá trình sàng lọc dựa trên hiệu quả, tính minh bạch và năng lực cạnh tranh thực chất của doanh nghiệp. Nếu việc sàng lọc được tiến hành công khai và công bằng, nền kinh tế sẽ hình thành được lực lượng doanh nghiệp có chất lượng cao, tạo nền tảng cho tăng trưởng dài hạn.
Nhìn lại cuộc khủng hoảng tài chính giai đoạn 2008–2011 có thể nhận thấy rằng, một thị trường vốn lành mạnh và phát triển bền vững phụ thuộc trước hết vào chất lượng của “con nợ” và chất lượng của tổ chức phát hành. Những doanh nghiệp có năng lực quản trị tốt, hoạt động minh bạch, tuân thủ đầy đủ các quy định pháp luật và sử dụng vốn hiệu quả sẽ có khả năng tồn tại và phát triển lâu dài. Ngược lại, các doanh nghiệp yếu kém, quản trị rủi ro kém và thiếu minh bạch sẽ bị đào thải theo quy luật của thị trường. Quá trình này sẽ giúp nền kinh tế vận hành lành mạnh hơn và tạo điều kiện cho thị trường vốn Việt Nam phát triển hiệu quả trong dài hạn”.
“Đối với khu vực tư nhân, thị trường giữ vai trò quyết định trong việc huy động và sử dụng vốn. Dù tổng nguồn vốn trong nền kinh tế hiện nay được đánh giá là dồi dào, song tình trạng “thiếu vốn” vẫn xuất hiện. Nguyên nhân không nằm ở khan hiếm nguồn vốn mà là do chưa tìm được cơ hội để đầu tư vào các dự án hiệu quả. Do vậy, vấn đề cốt lõi không phải là mở rộng quy mô vốn, mà là nâng cao chất lượng dự án và hiệu quả phân bổ nguồn lực thông qua cơ chế thị trường.
Trong bối cảnh này, thách thức lớn đối với Việt Nam hiện nay chính là bài toán đánh đổi trong phối hợp chính sách giữa tài khóa và tiền tệ, cũng như giữa vai trò của Nhà nước và khu vực tư nhân. Mặc dù vẫn tồn tại quan điểm cho rằng khu vực Nhà nước hoạt động kém hiệu quả hơn khu vực tư nhân, song nhận định này cần được nhìn nhận dưới góc độ dài hạn.
Trong ngắn hạn, khu vực công có thể không tạo ra giá trị vật chất trực tiếp với hiệu quả cao như khu vực tư nhân, nhưng về dài hạn, vai trò của Nhà nước là không thể thay thế, đặc biệt là trong các lĩnh vực nền tảng như hạ tầng.
Trong bối cảnh hiện nay, chính sách tiền tệ không còn nhiều dư địa nên việc cân bằng giữa yêu cầu huy động vốn cho tăng trưởng kinh tế và duy trì ổn định vĩ mô trở thành bài toán “tiến thoái lưỡng nan” không hề đơn giản. Vì vậy, thay vì tiếp tục tập trung quá nhiều vào điều chỉnh các chỉ tiêu tín dụng, chính sách tiền tệ trong thời gian tới cần chuyển trọng tâm sang việc thúc đẩy phát triển các kênh huy động vốn ngoài ngân hàng cho nền kinh tế. Cách tiếp cận này không chỉ giúp giảm áp lực cho hệ thống ngân hàng, mà còn nâng cao tính bền vững và khả năng chống chịu của hệ thống tài chính.
Ở chiều ngược lại, chính sách tài khóa tuy vẫn còn dư địa nhất định, nhưng cũng đang đối mặt với những thách thức không nhỏ. Thực tế cho thấy thu ngân sách nhà nước trong năm nay nhiều khả năng vượt dự toán, song phần lớn khoản vượt thu này lại đến từ khu vực đất đai. Điều đó đồng nghĩa với việc tăng thu ngân sách vẫn đang phụ thuộc đáng kể vào bất động sản. Nếu cơ chế này tiếp tục được duy trì, dòng vốn sẽ có xu hướng tiếp tục chảy vào lĩnh vực bất động sản do được ưu tiên, khuyến khích và có khả năng sinh lợi cao, từ đó làm suy giảm động lực đầu tư vào các ngành sản xuất – kinh doanh cốt lõi của nền kinh tế. Trong khi đó, bất động sản khó có thể trở thành động lực tăng trưởng dài hạn, bởi đóng góp của lĩnh vực này vào năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) là có giới hạn.
Để khắc phục tình trạng này, cần có sự lựa chọn cơ chế huy động ngân sách đa dạng hơn, chẳng hạn thông qua cơ cấu thuế. Tuy nhiên, bất kỳ sắc thuế nào cũng đi kèm với những đánh đổi nhất định: tăng thuế thu nhập doanh nghiệp có thể làm giảm động lực đầu tư; tăng thuế giá trị gia tăng sẽ tác động trực tiếp tới chi tiêu của người dân, ảnh hưởng đến tiêu dùng. Do đó, việc thiết kế chính sách tài khóa cần được cân nhắc một cách thận trọng, nhằm bảo đảm nguồn thu ngân sách bền vững nhưng không gây méo mó phân bổ nguồn lực và vẫn duy trì động lực đầu tư cho khu vực sản xuất.
Từ đó có thể thấy rằng điều cần thiết hiện nay là thay đổi căn cơ cách tiếp cận trong điều hành chính sách vĩ mô. Việc phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ không nên chỉ nhằm giải quyết các mục tiêu ngắn hạn, mà cần được đặt trong một chiến lược dài hạn.
Thực tế cho thấy công tác điều hành trong ngắn hạn thời gian qua đạt được nhiều kết quả tích cực, song nếu thiếu một định hướng dài hạn rõ ràng, các rủi ro tiềm ẩn có thể dần tích tụ. Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng ở mức cao trong giai đoạn tới, việc đổi mới cách sử dụng các công cụ chính sách kinh tế, đa dạng hóa các kênh huy động vốn và nâng cao vai trò của thị trường trong phân bổ nguồn lực là yêu cầu mang tính then chốt”.
“Để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức hai con số trong giai đoạn 2026–2030, tổng vốn đầu tư toàn xã hội ước tính cần đạt bình quân khoảng 36–37% GDP. Với nhu cầu vốn ở mức rất cao như vậy, các nguồn vốn nội tại của nền kinh tế khó có thể đáp ứng đầy đủ, qua đó làm gia tăng vai trò của các nguồn vốn từ bên ngoài, đặc biệt là dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trở thành nguồn bổ sung mang tính chiến lược đối với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam.
Tuy nhiên, thách thức đặt ra hiện nay không chỉ nằm ở quy mô vốn FDI được huy động, mà quan trọng hơn là khả năng tạo ra các tác động lan tỏa tích cực từ khu vực FDI sang khu vực doanh nghiệp trong nước. Để duy trì sức cạnh tranh và thu hút dòng vốn FDI một cách ổn định và bền vững, Việt Nam cần triển khai đồng bộ một số cải cách then chốt.
Thứ nhất, cần chuyển trọng tâm từ cạnh tranh bằng ưu đãi thuế sang cạnh tranh dựa trên chất lượng thể chế, môi trường đầu tư và khả năng hình thành hệ sinh thái sản xuất – đổi mới sáng tạo. Yêu cầu này càng trở nên cấp thiết trong bối cảnh việc triển khai thuế tối thiểu toàn cầu đang làm suy giảm hiệu quả của các công cụ ưu đãi thuế truyền thống trong thu hút đầu tư.
Thực tế cho thấy, trong giai đoạn đến năm 2025, Việt Nam đã thực hiện miễn, giảm và gia hạn thuế với tổng giá trị lên tới hơn 1 triệu tỷ đồng. Đây là một con số rất lớn, song nếu các ưu đãi này không được gắn với các điều kiện cụ thể về hiệu quả sử dụng vốn, hoạt động nghiên cứu và phát triển (RD), chuyển giao công nghệ hay đào tạo và nâng cao kỹ năng cho người lao động, thì nguồn lực ngân sách bỏ ra khó có thể phát huy tối đa tác động lan tỏa đối với nền kinh tế.
Do đó, chính sách thu hút FDI trong giai đoạn tới cần chuyển sang hướng hỗ trợ đầu tư có điều kiện, được thiết kế theo từng nhóm mục tiêu cụ thể. Chẳng hạn, Nhà nước có thể sử dụng thuế tối thiểu toàn cầu để khuyến khích các doanh nghiệp FDI công nghệ cao, thông qua việc hỗ trợ chi phí RD, đào tạo nhân lực chất lượng cao, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, cũng như khuyến khích quá trình xanh hóa sản xuất và phát triển bền vững. Cách tiếp cận này không chỉ giúp Việt Nam có thể đáp ứng được các cam kết quốc tế trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, mà còn củng cố sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài.
Thứ hai, vấn đề liên kết giữa FDI và khu vực doanh nghiệp trong nước cũng cần được tháo gỡ để nâng cao giá trị nội địa. Đầu tư FDI nếu chỉ tập trung vào các nhà máy lớn, xuất khẩu thô hay dự án riêng lẻ sẽ khó tạo ra chuỗi giá trị bền vững. Do đó, trọng tâm chính sách cần chuyển từ thu hút dự án riêng lẻ sang thu hút đầu tư theo chuỗi giá trị, qua đó sàng lọc và ưu tiên các nhà đầu tư FDI có cam kết rõ ràng về nội địa hóa, chuyển giao công nghệ, cũng như sử dụng các nhà cung ứng trong nước.
Song song với đó, Nhà nước cần thiết kế và triển khai các cơ chế hỗ trợ mang tính đặc thù nhằm phát triển công nghiệp hỗ trợ và các lĩnh vực liên quan. Các chính sách này có thể bao gồm hỗ trợ tín dụng ưu đãi, ưu đãi đầu tư có điều kiện, cũng như các chương trình đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Mục tiêu là giúp doanh nghiệp nội địa từng bước đáp ứng các tiêu chuẩn về chất lượng, công nghệ và quản trị để có thể tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn FDI, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh tổng thể của khu vực doanh nghiệp trong nước.
Thứ ba, đầu tư công cần được sử dụng như một đòn bẩy để giảm chi phí logistics của nền kinh tế, hiện đang chiếm khoảng 16–18% GDP, cao hơn nhiều so với mức trung bình 10–11% của toàn thế giới. Để giải quyết vấn đề này, thay vì phân tán nguồn lực, đầu tư công cần được tập trung vào các dự án hạ tầng giao thông liên vùng, logistics đa phương thức và năng lượng xanh. Đồng thời, để khắc phục tình trạng mất cân đối giữa các phương thức vận tải, cần từng bước chuyển dịch sang các phương thức có chi phí thấp và hiệu quả hơn như đường sắt và đường thủy, qua đó giảm áp lực cho vận tải đường bộ và cắt giảm chi phí logistics.
Cùng với việc mở rộng đầu tư công, cần hoàn thiện khung pháp lý cho mô hình đối tác công – tư (PPP), cơ chế chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước và khu vực tư nhân cần được thiết kế rõ ràng, tạo điều kiện huy động vốn tư nhân vào phát triển cơ sở hạ tầng.
Một yếu tố quan trọng không kém là phát triển thị trường vốn minh bạch, an toàn và có chiều sâu. Trong bối cảnh phần lớn nguồn vốn trung và dài hạn của nền kinh tế vẫn phụ thuộc vào hệ thống ngân hàng, rủi ro mất cân đối và rủi ro hệ thống có xu hướng gia tăng. Do đó, việc phát triển các định chế trung gian tài chính, mở rộng vai trò của các quỹ đầu tư, đồng thời hoàn thiện khung pháp lý cho các công cụ tài chính mới, đặc biệt là trái phiếu xanh không chỉ là giải pháp nhằm đa dạng hóa các kênh huy động vốn trung và dài hạn, mà còn là điều kiện cần thiết để nền kinh tế bắt nhịp với xu thế chuyển đổi xanh và phát triển bền vững.
Để thu hút dòng vốn FDI một cách bền vững, Việt Nam cần chuyển đổi căn bản tư duy từ chú trọng số lượng sang đề cao chất lượng dòng vốn. Thay vì cạnh tranh chủ yếu bằng ưu đãi thuế, chính sách thu hút đầu tư cần hướng tới việc xây dựng một hệ sinh thái đầu tư toàn diện, dựa trên nền tảng thể chế minh bạch và đáng tin cậy, chi phí logistics cạnh tranh cũng như khả năng liên kết chặt chẽ giữa khu vực FDI và doanh nghiệp trong nước trong các chuỗi giá trị”.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 51-52-2025 phát hành ngày 22-29/12/2025. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://vneconomy.vn/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-5152-2025.htm
-
Đột phá vốn và năng suất để bứt phá tăng trưởng hai con số
Năm 2025, sự lãnh đạo sâu sát của Đảng cùng sự điều hành quyết liệt, chủ động từ Chính phủ, kinh tế Việt Nam đã vượt qua những “cơn gió ngược” trước bối cảnh kinh tế thế giới phục hồi chậm, phân mảnh thương mại gia tăng, xung đột địa chính trị kéo dài, rủi ro tài chính – tiền tệ toàn cầu hiện hữu và trước những ảnh hưởng nghiêm trọng từ thiên tai, bão lũ.
Nhiều quyết sách quan trọng đã được đưa ra. Bộ Chính trị đã ban hành 7 nghị quyết lớn, quan trọng, Quốc hội đã thông qua 47 luật, 8 nghị quyết ngay tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV, Chính phủ đã ban hành và trình ban hành một loạt các dự án luật và các văn bản quy phạm pháp luật, đánh dấu một bước đột phá về thế chế, chính sách và khung khổ pháp luật.
Một dấu mốc quan trọng nữa là công cuộc “sắp xếp lại giang sơn” và nỗ lực đổi mới mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, nỗ lực thúc đẩy phát triển mạnh mẽ cơ sở hạ tầng với hàng loạt các dự án chiến lược quy mô lớn, quan trọng, có tính lan tỏa và định hình cho tương lai được triển khai.
Nhờ đó, tăng trưởng GDP năm 2025 ước đạt khoảng 8,01% (theo tính toán của Nhóm nghiên cứu Ban Chính sách, chiến lược Trung ương với các số liệu đến thời điểm hiện tại), thuộc nhóm cao trong khu vực và trên thế giới.
Công nghiệp tiếp tục giữ vai trò động lực, dẫn dắt tăng trưởng kinh tế với mức tăng đạt khoảng 9,1%, đóng góp 2,72 điểm phần trăm vào tăng trưởng GDP. Đặc biệt, công nghiệp chế biến, chế tạo phục hồi mạnh, tăng trưởng khoảng 9,74%, đóng góp khoảng 2,3 điểm phần trăm vào tăng trưởng GDP, nhờ sự phục hồi của các ngành xuất khẩu chủ lực và sự gia tăng dòng vốn FDI chất lượng cao.
Khu vực dịch vụ tăng tốc rõ nét với tăng trưởng đạt khoảng 8,05%, đóng góp 3,56 điểm phần trăm vào tăng trưởng GDP, nhiều ngành đạt mức tăng trưởng hai con số, phản ánh sự phục hồi của cầu nội địa, du lịch, thương mại và các dịch vụ giá trị gia tăng cao.
Lĩnh vực xây dựng tăng trưởng cao, đạt khoảng 11%, đóng góp 0,73 điểm phần trăm, nhờ đầu tư công và các dự án hạ tầng chiến lược quy mô lớn được đẩy mạnh. Nông nghiệp tiếp tục là trụ đỡ ổn định, tăng trưởng tích cực, đạt khoảng 3,92%, trong bối cảnh chịu tác động của nhiều đợt thiên tai, bão lũ.
Một điểm rất tích cực của năm 2025 là sự phục hồi đồng bộ của các yếu tố tăng trưởng phía cầu. Theo tính toán của Nhóm nghiên cứu, tiêu dùng, xuất nhập khẩu, tích lũy tài sản cố định đều đạt được mức tăng trưởng rất ấn tượng so với các giai đoạn trước. Trong đó, tiêu dùng cuối cùng dự kiến đạt tốc độ tăng trưởng khoảng 8,07%, đóng góp 5,13 điểm phần trăm vào tăng trưởng GDP. Thu nhập cải thiện, lạm phát được kiểm soát tạo nền tảng cho sức mua trong nước.
Xuất nhập khẩu đạt tốc độ tăng trưởng cao dù chịu nhiều áp lực từ các chính sách thuế quan thương mại, quy mô thương mại đạt mức kỷ lục gần 900 tỷ USD, đưa Việt Nam tiếp tục nằm trong nhóm 20 nền kinh tế thương mại hàng đầu thế giới. Tích lũy tài sản tăng mạnh cùng với dòng vốn đầu đầu tư lớn. Tốc độ tăng trưởng tích lũy tài sản 2025 đạt khoảng 8,5%, đóng góp 3,06 điểm phần trăm trong tăng trưởng GDP.
Tổng vốn đầu tư phát triển tăng mạnh, ước khoảng 13,5%. Trong đó, đầu tư công giữ vai trò dẫn dắt, quy mô vốn đầu tư công thực hiện dự kiến đạt mức rất cao, khoảng gần 900 nghìn tỷ đồng, tăng 28,6% so với năm 2024, tập trung vào các dự án hạ tầng chiến lược như cao tốc Bắc – Nam, sân bay Long Thành, các cảng biển và hạ tầng năng lượng. Tính toán của Nhóm nghiên cứu Ban Chính sách, chiến lược Trung ương cho thấy với mức đầu tư công tăng cao năm 2025 giúp tăng trưởng kinh tế gia tăng thêm khoảng 0,587 điểm phần trăm so với kịch bản cơ sở.
Đầu tư tư nhân phục hồi mạnh, tăng khoảng 9,2% so với năm 2024 (mức cao nhất trong 5 năm qua), phản ánh tiềm lực và niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp đang cải thiện. FDI liên tục tạo các kỷ lục, giải ngân đạt mức cao, chất lượng dòng vốn tốt hơn với khoảng 70% số vốn đăng ký mới tập trung vào lĩnh vực công nghệ cao, chip, bán dẫn, công nghệ mới và năng lượng tái tạo.
Năng suất lao động cải thiện mạnh, đóng góp khoảng 6,9 điểm phần trăm vào tăng trưởng GDP. Đặc biệt, năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) tăng cao, đạt tốc độ tăng khoảng 3,76%, đóng góp gần 47% vào tăng trưởng năm 2025 – mức cao so với giai đoạn trước, phản ánh sự chuyển dịch tích cực của mô hình tăng trưởng, với năng suất, hiệu quả gia tăng rõ nét.
Ổn định kinh tế vĩ mô tiếp tục được giữ vững. Lạm phát bình quân năm 2025 được kiểm soát ở mức 3,2–3,5%, nhờ sự điều hành linh hoạt, phù hợp, cùng với sự hỗ trợ của xu hướng giảm giá dầu và giảm các áp lực lạm phát toàn cầu. Nợ công giảm về khoảng 35–36% GDP, thấp hơn đáng kể so với trần cho phép, củng cố an ninh tài chính quốc gia. Tuy nhiên, tỷ giá USD/VND chịu áp lực khá lớn trong bối cảnh chênh lệch lãi suất quốc tế. Dư nợ tín dụng ở mức cao, dự kiến tiệm cận mức 145-148% GDP.
Trên cơ sở các đánh giá, dự báo của các tổ chức kinh tế toàn cầu, Nhóm nghiên cứu Ban Chính sách, chiến lược Trung ương xây dựng ba kịch bản dự báo tăng trưởng kinh tế, thương mại và đầu tư toàn cầu, gồm: kịch bản kém thuận lợi, kịch bản thuận lợi và kịch bản rất thuận lợi. Ở cả ba kịch bản, dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới có thể tăng nhẹ, đạt mức 2,9-3,3%/năm, song chưa vững chắc, đà phục hồi diễn ra chậm chạp.
Cường độ của các rủi ro địa chính trị, xu hướng bảo hộ thương mại và quá trình tái định hình chuỗi cung ứng toàn cầu sẽ tiếp tục gây sức ép lên triển vọng thương mại và đầu tư toàn cầu. Áp lực nợ công và lạm phát toàn cầu ngày càng rõ nét. Bên cạnh đó, một số xu hướng mới đang hình thành và tác động đến kinh tế toàn cầu, như xu hướng hình thành các FTA và các cơ chế hợp tác khu vực mới và xu hướng tăng mạnh đầu tư phát triển và kiểm soát, chống thất thoát công nghệ chiến lược ở một số quốc gia.
Kinh tế Việt Nam, theo đó, đứng trước nhiều cơ hội và thách thức đan xen. Trong đó, Việt Nam có cơ hội lớn để đón nhận làn sóng dịch chuyển đầu tư chất lượng cao, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ, năng lượng xanh, kinh tế số và công nghiệp hỗ trợ. Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ tạo cơ hội cho Việt Nam “bắt nhịp” bứt phá phát triển.
Cạnh tranh chiến lược thúc đẩy các quốc gia tìm kiếm đối tác mới, tạo điều kiện cho Việt Nam tham gia sâu hơn vào các chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu, không chỉ lắp ráp mà còn ở các khâu có giá trị cao hơn như RD, thiết kế, marketing. Vấn đề then chốt là khả năng tận dụng các cơ hội đó, thông qua cải cách thể chế, nâng cao năng lực cạnh tranh và chất lượng nguồn nhân lực.
Tuy nhiên, Nhóm nghiên cứu cũng nhận diện và chỉ ra một số thách thức rất lớn đối với Việt Nam. Đó là, mô hình tăng trưởng của chúng ta mặc dù đã có nhiều đổi mới nhưng nhìn chung vẫn chưa giải quyết được sự thay đổi căn bản. Mô hình tăng trưởng thương mại theo chiều rộng khiến Việt Nam chịu nhiều áp lực rủi ro cao từ rào cản thuế quan của các nước. Việt Nam cũng là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nghiêm trọng từ biến đổi khí hậu.
Bên cạnh đó, nguy cơ “bị bỏ lại phía sau” nếu quá trình “bắt nhịp”, “đón bắt” các công nghệ không thành công. Để thực hiện mục tiêu tăng trưởng cao, nhu cầu huy động nguồn lực tài chính là rất lớn. Trong khi Việt Nam vẫn tiếp tục đối mặt với một số vấn đề mang tính cấu trúc, nội tại của nền kinh tế.
Trên cơ sở phân tích, đánh giá đầy đủ các yếu tố tác động, các điều kiện nền tảng cho tăng trưởng và phát triến kinh tế, Nhóm Nghiên cứu Ban Chính sách, chiến lược Trung ương đưa ra ba kịch bản tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2026- 2030, gồm:
(1) Kịch bản cơ sở, giả định duy trì xu hướng phát triển hiện tại, chưa tạo được đột phá mạnh mẽ về thể chế, năng suất và các điều kiện về nguồn lực phát triển. Dự báo tăng trưởng GDP đạt khoảng 7,5%/năm, lạm phát ở mức dưới 4%; quy mô GDP đến năm 2030 đạt khoảng 21,9 triệu tỷ đồng, GDP bình quân đầu người dự báo đạt mức 7.500 USD.
(2) Kịch bản chuyển tiếp, giả định có sự cải thiện rõ nét hơn các điều kiện phát triển, huy động nguồn lực cho đầu tư tăng trưởng tăng cao, công nghiệp chế biến, chế tạo, dịch vụ chất lượng cao và chuyển đổi số tăng mạnh. Theo đó, tốc độ tăng trưởng GDP có thể đạt khoảng 8,5%/năm, lạm phát duy trì khoảng 4%; quy mô GDP đến năm 2030 ước đạt khoảng 23,1 triệu tỷ đồng; GDP bình quân đầu người ước đạt 7.800 USD.
(3) Kịch bản mục tiêu, yêu cầu tăng trưởng hai con số, khoảng 10%/năm; lạm phát dự kiến ở mức 4-4,5%; quy mô GDP đến năm 2030 ước đạt 24,6 triệu tỷ đồng; GDP bình quân đầu người dự báo đạt mức 8.500 USD. Điều kiện tiên quyết ở kịch bản này là sự bứt phá về mọi mặt: cải cách thể chế, vốn đầu tư, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và năng suất.
Để đạt được mục tiêu tăng trưởng hai con số, đòi hỏi sự cải thiện mạnh mẽ ở cả ba khu vực. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản cần duy trì mức tăng trưởng khá cao, 3,5%/năm so với mức tăng trưởng cơ sở khoảng 3%/năm. Đây là áp lực rất là lớn trong thời gian tới đối với lĩnh vực nông nghiệp. Khu vực công nghiệp – xây dựng cần tăng trưởng mạnh, khoảng 12,4%/năm, trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo bứt phá, tăng trưởng khoảng 12,9%/năm và lĩnh vực xây dựng tăng trưởng đột phá ở mức 12,5%/năm nhờ đẩy mạnh đầu tư công - so với mức tăng trưởng cơ sở lần lượt là 8,7%/năm; 9,3%/năm và 8,5%/năm. Khu vực dịch vụ được thúc đẩy mạnh mẽ bởi các dịch vụ chất lượng cao và các dịch vụ giá trị gia tăng cao, với tốc độ tăng trưởng đạt 9,5%/năm so với mức cơ sở khoảng 7,5%/năm.
Sử dụng các công cụ định lượng và phân tích dữ liệu Bảng I/O, Nhóm Nghiên cứu xác định 17 ngành, lĩnh vực động lực/ưu tiên (chiếm trên 70% GDP toàn nền kinh tế), dựa trên hai nhóm tiêu chí: (1) Ngành có mức độ lan tỏa đến giá trị gia tăng toàn nền kinh tế cao; (2) Ngành có quy mô lớn, ảnh hưởng mạnh đến tăng trưởng kinh tế (theo xu hướng hiện nay). Trên cơ sở đó, chia thành bốn nhóm ngành, tương ứng với bốn nhóm định hướng phát triển, gồm:
Nhóm ngành dẫn dắt: gồm các ngành, lĩnh vực có độ lan tỏa cao, quy mô lớn, như tài chính - ngân hàng; năng lượng; bán buôn, bán lẻ; vận tải, kho bãi và logistics; nông, lâm, thủy sản.
Nhóm ngành cần thúc đẩy: gồm các ngành có độ lan tỏa mạnh, nhưng quy mô nhỏ, có triển vọng tăng trưởng mạnh, đó là RD và hoạt động khoa học, công nghệ; du lịch và lưu trú; dịch vụ ăn uống; bất động sản.
Nhóm ngành cần nâng cấp chất lượng và vị thế trong chuỗi giá trị: trong đó đặc biệt bao gồm nhóm ngành công nghệ số như điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học, viễn thông; xây dựng; sản xuất kim loại và sản phẩm kim loại. Những ngành này hiện nay có đóng góp lớn trong GDP. Một số ngành xuất khẩu cao nhưng nhập khẩu rất lớn, giá trị gia tăng đóng góp trong nước còn thấp, đòi hỏi phải nâng cao chất lượng, gia tăng vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Nhóm ngành nền tảng, tạo việc làm: gồm nhóm ngành sản xuất, chế biến thực phẩm; dệt may; da giày và sản phẩm liên quan; sản xuất hóa chất, sản phẩm hóa chất. Mặc dù độ lan tỏa tới giá trị gia tăng toàn nền kinh tế còn hạn chế, song đây là nhóm ngành có khả năng giải quyết vấn đề căn cốt về việc làm trong tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026 – 2030.
Tính toán chi tiết của Nhóm nghiên cứu cho thấy các ngành động lực nêu trên phải có các điều chỉnh rất lớn, tăng trưởng rất thực chất mới có thể đóng góp, thúc đẩy mức tăng trưởng chung 10%/năm của cả nước. Trong đó, lĩnh vực bán buôn, bán lẻ phải điều chỉnh tăng trưởng tới 3,2 điểm phần trăm so với kịch bản cơ sở, từ mức 7,6%/năm (kịch bản cơ sở) lên 10,8% (kịch bản mục tiêu), tương ứng mức điều chỉnh 3,4 điểm phần trăm so với tăng trưởng bình quân giai đoạn 2021-2025 (7,4%/năm); đạt mức đóng góp 1,03 điểm phần trăm trong tăng trưởng GDP toàn nền kinh tế.
Lĩnh vực năng lượng với mức điều chỉnh 3,7 điểm phần trăm so với kịch bản cơ sở. Lĩnh vực vận tải, kho bãi và logistics với mức điều chỉnh 2 điểm phần trăm so với kịch bản cơ sở. Lĩnh vực điện tử, máy tính, sản phẩm quang học điều chỉnh mạnh với mức tăng thêm 4 điểm phần trăm so với kịch bản cơ sở và 4,4 điểm phần trăm so với mức tăng trưởng khá cao hiện nay (10,6%/năm),…
Kinh nghiệm thực tiễn từ các quốc gia trong giai đoạn tăng trưởng cao chỉ ra rằng nhu cầu về vốn để duy trì đà phát triển là vô cùng lớn.
Để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức 10%/năm, đồng thời giảm mạnh hệ số ICOR từ 6,5 xuống 4,7 – tương ứng với sự gia tăng đột phá hiệu quả sử dụng vốn, kết quả tính toán cho thấy, tổng nhu cầu vốn đầu tư phát triển trong 5 năm tới khoảng 1.463 tỷ USD (tương đương 38,6 triệu tỷ đồng – gấp khoảng 2,1 lần giai đoạn 2021-2025), chiếm khoảng 40,01% GDP, trung bình mỗi năm cần khoảng 292,6 tỷ USD.
Cơ cấu nguồn vốn được định hướng phân bổ dựa trên các trụ cột chính: Đầu tư từ khu vực nhà nước chiếm khoảng 29%, trong đó, đầu tư công là 22,2% (khoảng 8,58 triệu tỷ đồng); đầu tư từ khu vực FDI khoảng 218 tỷ USD, chiếm khoảng 15,0% - là một yêu cầu khá thách thức trong bối cảnh hiện nay; đầu tư từ khu vực tư nhân phải đảm đương tới 56,0% tổng nhu cầu vốn đầu tư phát triển.
Xem xét các kênh cung ứng vốn cho nền kinh tế cho thấy vốn tín dụng ngân hàng hiện vẫn là kênh dẫn vốn lớn nhất, chiếm tỷ trọng từ 48-50%; tiếp sau là đầu tư công (16-18%); FDI (15-16%); trái phiếu doanh nghiệp và IPO (12-13%) và cuối cùng là vốn tự có của doanh nghiệp tư nhân và nguồn khác (khoảng 4-5%). Có thể thấy mô hình dẫn vốn dựa vào hệ thống ngân hàng (bank-based) khá rõ. Kênh dẫn vốn qua thị trường vốn còn quá khiêm tốn, chưa thực hiện tốt vai trò kênh dẫn vốn dài hạn của nền kinh tế.
Tính toán của Nhóm nghiên cứu cho thấy hệ số tương quan giữa dư nợ tín dụng và tổng vốn đầu tư phát triển khá lớn, lên tới 4,5-5. Giả định, tương quan này vẫn tiếp diễn trong 2026-2030, với mục tiêu tăng trưởng 10%/năm, nhu cầu vốn đầu tư tương đương 40% GDP, khi đó nhu cầu vốn tín dụng tăng mạnh, dẫn tới dư nợ tín dụng có thể lên đến 180-200%GDP – ẩn chứa nhiều rủi ro, gây áp lực mạnh lên hệ thống ngân hàng và ổn định kinh tế vĩ mô.
Theo đó, yêu cầu đặt ra là cần có sự kiểm soát chặt chẽ dòng vốn tín dụng nhằm gia tăng tỷ lệ vốn sử dụng vào sản xuất hay gia tăng tỷ lệ tạo lập tài sản cố định; đồng thời, định hướng các chính sách, giải pháp chiến lược để kích thích khu vực doanh nghiệp, nhà đầu tư huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán và các quỹ nhằm giảm áp lực với tín dụng ngân hàng.
Một vấn đề cốt lõi cần được xem xét kỹ lưỡng đó là khả năng hấp thụ vốn thực tế của nền kinh tế. Mặc dù dự thảo Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết về tăng trưởng hai con số đặt mục tiêu tổng vốn đầu tư toàn xã hội ở mức 40% GDP, nhưng các tính toán định lượng cho thấy hiệu quả chuyển đổi vốn còn hạn chế. Tính toán ban đầu của Nhóm nghiên cứu cho thấy để đạt được mục tiêu tăng trưởng như kỳ vọng, tổng vốn đầu tư toàn xã hội cần huy động phải ở mức cao hơn, cần khoảng 47% GDP thay vì 40% như dự kiến hiện nay. Điều này đặt ra yêu cầu cấp bách về việc phải tính toán chính xác tỷ lệ vốn thực sự hấp thụ vào sản xuất để tạo ra tăng trưởng thực chất.
Bên cạnh nguồn lực tài chính, mục tiêu tăng trưởng 10%/năm còn phụ thuộc chặt chẽ vào việc nâng cao năng suất nội tại. Trong bối cảnh tốc độ tăng trưởng lao động đang có xu hướng chậm lại, áp lực đóng góp từ các nhân tố tổng hợp (TFP) là rất lớn. Kết quả tính toán của Nhóm nghiên cứu chỉ ra rằng để đủ sức hiện thực hóa mục tiêu 10%/năm, đóng góp của TFP phải đạt trên 57% và năng suất lao động xã hội phải tăng trưởng mạnh mẽ trên mức 8,7% mỗi năm.
Nhằm tháo gỡ những nút thắt lớn nhất, khơi thông các điểm nghẽn cho quá trịnh hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số, Nhóm nghiên cứu Ban Chính sách, chiến lược Trung ương đề xuất bốn nhóm giải pháp chính.
Thứ nhất, đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô trong mọi tình huống, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn là một yêu cầu quan trọng. Đánh giá các kịch bản lạm phát cho thấy lạm phát và kỳ vọng lạm phát ổn định ở mức thấp là một điều kiện quan trọng để duy trì tăng trưởng nhanh và bền vững trong giai đoạn 2026-2030.
Kịch bản thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế 10%/năm đòi hỏi lạm phát duy trì ổn định khoảng 4%/năm. Nếu lạm phát cao sẽ làm giảm ý nghĩa của tăng trưởng kinh tế và người dân không được hưởng thành quả tương xứng từ tăng trưởng kinh tế. Ổn định lạm phát sẽ tạo điều kiện cho các cải cách thể chế kinh tế và giúp tín hiệu phân bổ nguồn lực trên thị trường ít bị “méo mó”, đồng thời thúc đẩy phát triển dịch vụ tài chính – ngân hàng.
Phối hợp đồng bộ, hiệu quả giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ trên cơ sở “phân vai” cụ thể hơn.
Theo đó, chính sách tài khóa tập trung vào thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thông qua thúc đẩy giải ngân đầu tư công vào các lĩnh vực trọng điểm, có tính lan tỏa cao, các dự án chiến lược, liên kết vùng; tăng chi chuyển giao hỗ trợ tiêu dùng của người dân; giảm thuế hỗ trợ cho các ngành gắn với chuyển đổi số, chuyển đổi xanh; hỗ trợ tiêu dùng của hộ gia đình.
Chính sách tiền tệ linh hoạt, chặt chẽ, tập trung vào ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và phối hợp hiệu quả với chính sách tài khóa. Thực hiện truyền thông chính sách về ổn định lạm phát và ổn định tỷ giá; điều tiết cung tiền hợp lý gắn với mặt bằng lãi suất phù hợp, bảo đảm lãi suất thực dương ít nhất 1%/năm. Duy trì tăng trưởng tín dụng hợp lý (khoảng 15-18%) gắn với phân bổ tín dụng tập trung vào các ngành sản xuất; thử nghiệm có kiểm soát các cơ chế tín dụng cho các lĩnh vực mới (tín dụng xanh, tín dụng dựa trên quyền sở hữu trí tuệ); rà soát và tăng cường tính độc lập tương đối của Ngân hàng Nhà nước,...
Thứ hai, thay đổi mạnh mẽ cách thức huy động nguồn lực tài chính cho nền kinh tế. (1) Thúc đẩy huy động tài chính trên thị trường vốn, thông qua phát hành trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu chính phủ và cổ phiếu, nhằm cân bằng với vai trò huy động vốn dài hạn qua hệ thống ngân hàng (bank-based) hiện nay, với một số yêu cầu cụ thể: nâng hạng tín nhiệm quốc gia (lên mức Investment Grade) - rất quan trọng với huy động vốn quốc gia và thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Đa dạng sản phẩm, đặc biệt là các sản phẩm mới (cố phiếu doanh nghiệp công nghệ số; doanh nghiệp dịch vụ (du lịch, giải trí, truyền thông). Thực hiện mục tiêu nâng hạng thị trường mới nổi MSCI. Có khung khổ quy định, cở mở hơn về tài sản đảm bảo trong phát hành TPDN.
(2) Phát triển ngành quỹ trên cơ sở có sự thay đổi tư duy, nhìn nhận đúng vai trò của ngành quỹ đối với thị trường vốn và nền kinh tế. Bổ sung, xây dựng, điều chỉnh quy định pháp luật liên quan, tạo khung khổ thể chế để phát triển ngành quỹ. Phát triển một số loại hình quỹ phổ biến như: các quỹ mở, quỹ hưu trí tự nguyện, quỹ hạ tầng, quỹ thúc đẩy kinh tế tư nhân/quỹ phát triển doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, các quỹ đầu tư quốc gia, quỹ chuyển đổi xanh...
(3) Thực hiện huy động vốn thông qua một số kênh huy động mới, như: thí điểm thị trường carbon; trung tâm tài chính quốc tế; thị trường tài sản mã hóa. Có tư duy mở hơn đối với các định chế cho vay tổng hợp – cấp tín dụng dưới dạng kênh huy động vốn trung, dài hạn.
Thứ ba, tháo gỡ vướng mắc về chính sách. Trong đó, (1) cần đơn giản hóa các thủ tục, đảm bảo hỗ trợ nhanh, gọn cho doanh nghiệp. Đặc biệt, (2) cần sớm thể chế hóa các chính sách để tháo gỡ khó khăn cho các dự án tồn đọng, chậm triển khai ở các địa phương. Hiện nay Bộ Chính trị đã có Kết luận 182-KL/TW nhưng ở các địa phương vẫn còn rất vướng. (3) Gỡ vướng cho các quỹ khoa học địa phương. Hiện nay các quỹ khoa học địa phương đến tháng 11/2025 mới chỉ giải ngân khoảng 585 tỷ đồng, con số quá thấp so với yêu cầu; quỹ đầu tư cũng chưa phát huy hiệu quả.
Mô hình quỹ khoa học, công nghệ của các địa phương phải có sự thay đổi, cải tiến thì mới đưa được nguồn vốn hiện có vào trong khoa học, công nghệ của các địa phương. Vận hành mô hình quỹ khoa học, công nghệ phải có đổi mới về tư duy và chính sách đột phá, có cơ chế PPP mới trong khoa học, công nghệ.
Thứ tư, làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống, kích thích các động lực tăng trưởng mới. (1) Thay đổi chiến lược và mô hình xuất khẩu. Thực hiện tiến quân vào thị trường bằng các chương trình “Go globle” cụ thể, đồng thời thay đổi phương thức hỗ trợ doanh nghiệp trong xuất khẩu, thông qua hỗ trợ thị trường, logistic, bảo hiểm, tư vấn và hỗ trợ kết nối với các tập đoàn đa quốc gia.
(2) Lựa chọn các dự án lớn, động lực của các địa phương. (3) Có chiến lược phát triển phù hợp với các ngành kinh tế động lực, trong đó, thúc đẩy phát triển các ngành các ngành dẫn dắt, các ngành có khả năng lan tỏa cao, như du lịch, RD, logistics, năng lượng, tài chính - ngân hàng. Nâng cấp chất lượng, giá trị gia tăng các ngành điện tử, công nghiệp công nghệ số; dệt may, da giày; chế biến thực phẩm... Trong giai đoạn đầu tăng trưởng cao, cho phép thúc đẩy các ngành trong lĩnh vực xây dựng, bất động sản.
(4) Thúc đẩy phát triển các mô hình kinh tế mới, các ngành kinh tế mới. Trong đó, hoàn thiện cơ chế thử nghiệm để hỗ trợ phát triển các ngành kinh tế mới như kinh tế không gian vũ trụ, kinh tế tầm thấp,... các mô hình kinh tế mới, kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn. Xây dựng cơ chế, chính sách khai thác không gian vũ trụ, không gian ngầm, không gian biển. Phát triển công nghiệp đường sắt, công nghiệp ứng dụng năng lượng nguyên tử, lượng tử.
Xây dựng các chương trình, đề án nghiên cứu khoa học có tính đột phá đối với 11 nhóm công nghệ chiến lược; xây dựng các cơ sở nghiên cứu và phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao như điện tử, chíp bán dẫn, trí tuệ nhân tạo.
(5) Các giải pháp khác: khai thác tốt không gian tăng trưởng mới; phát triển mạnh thị trường trong nước, kích cầu tiêu dùng thông các hội chợ quy mô lớn về thương mại, công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ; phát huy vai trò các khu thương mại tự do, Trung tâm tài chính quốc tế trong thu hút vốn đầu tư, công nghệ.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 51-52-2025 phát hành ngày 22-29/12/2025. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://vneconomy.vn/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-5152-2025.htm
-
Đột phá vốn và năng suất để bứt phá tăng trưởng hai con số
Năm 2025, sự lãnh đạo sâu sát của Đảng cùng sự điều hành quyết liệt, chủ động từ Chính phủ, kinh tế Việt Nam đã vượt qua những “cơn gió ngược” trước bối cảnh kinh tế thế giới phục hồi chậm, phân mảnh thương mại gia tăng, xung đột địa chính trị kéo dài, rủi ro tài chính – tiền tệ toàn cầu hiện hữu và trước những ảnh hưởng nghiêm trọng từ thiên tai, bão lũ.
Nhiều quyết sách quan trọng đã được đưa ra. Bộ Chính trị đã ban hành 7 nghị quyết lớn, quan trọng, Quốc hội đã thông qua 47 luật, 8 nghị quyết ngay tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV, Chính phủ đã ban hành và trình ban hành một loạt các dự án luật và các văn bản quy phạm pháp luật, đánh dấu một bước đột phá về thế chế, chính sách và khung khổ pháp luật.
Một dấu mốc quan trọng nữa là công cuộc “sắp xếp lại giang sơn” và nỗ lực đổi mới mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, nỗ lực thúc đẩy phát triển mạnh mẽ cơ sở hạ tầng với hàng loạt các dự án chiến lược quy mô lớn, quan trọng, có tính lan tỏa và định hình cho tương lai được triển khai.
Nhờ đó, tăng trưởng GDP năm 2025 ước đạt khoảng 8,01% (theo tính toán của Nhóm nghiên cứu Ban Chính sách, chiến lược Trung ương với các số liệu đến thời điểm hiện tại), thuộc nhóm cao trong khu vực và trên thế giới.
Công nghiệp tiếp tục giữ vai trò động lực, dẫn dắt tăng trưởng kinh tế với mức tăng đạt khoảng 9,1%, đóng góp 2,72 điểm phần trăm vào tăng trưởng GDP. Đặc biệt, công nghiệp chế biến, chế tạo phục hồi mạnh, tăng trưởng khoảng 9,74%, đóng góp khoảng 2,3 điểm phần trăm vào tăng trưởng GDP, nhờ sự phục hồi của các ngành xuất khẩu chủ lực và sự gia tăng dòng vốn FDI chất lượng cao.
Khu vực dịch vụ tăng tốc rõ nét với tăng trưởng đạt khoảng 8,05%, đóng góp 3,56 điểm phần trăm vào tăng trưởng GDP, nhiều ngành đạt mức tăng trưởng hai con số, phản ánh sự phục hồi của cầu nội địa, du lịch, thương mại và các dịch vụ giá trị gia tăng cao.
Lĩnh vực xây dựng tăng trưởng cao, đạt khoảng 11%, đóng góp 0,73 điểm phần trăm, nhờ đầu tư công và các dự án hạ tầng chiến lược quy mô lớn được đẩy mạnh. Nông nghiệp tiếp tục là trụ đỡ ổn định, tăng trưởng tích cực, đạt khoảng 3,92%, trong bối cảnh chịu tác động của nhiều đợt thiên tai, bão lũ.
Một điểm rất tích cực của năm 2025 là sự phục hồi đồng bộ của các yếu tố tăng trưởng phía cầu. Theo tính toán của Nhóm nghiên cứu, tiêu dùng, xuất nhập khẩu, tích lũy tài sản cố định đều đạt được mức tăng trưởng rất ấn tượng so với các giai đoạn trước. Trong đó, tiêu dùng cuối cùng dự kiến đạt tốc độ tăng trưởng khoảng 8,07%, đóng góp 5,13 điểm phần trăm vào tăng trưởng GDP. Thu nhập cải thiện, lạm phát được kiểm soát tạo nền tảng cho sức mua trong nước.
Xuất nhập khẩu đạt tốc độ tăng trưởng cao dù chịu nhiều áp lực từ các chính sách thuế quan thương mại, quy mô thương mại đạt mức kỷ lục gần 900 tỷ USD, đưa Việt Nam tiếp tục nằm trong nhóm 20 nền kinh tế thương mại hàng đầu thế giới. Tích lũy tài sản tăng mạnh cùng với dòng vốn đầu đầu tư lớn. Tốc độ tăng trưởng tích lũy tài sản 2025 đạt khoảng 8,5%, đóng góp 3,06 điểm phần trăm trong tăng trưởng GDP.
Tổng vốn đầu tư phát triển tăng mạnh, ước khoảng 13,5%. Trong đó, đầu tư công giữ vai trò dẫn dắt, quy mô vốn đầu tư công thực hiện dự kiến đạt mức rất cao, khoảng gần 900 nghìn tỷ đồng, tăng 28,6% so với năm 2024, tập trung vào các dự án hạ tầng chiến lược như cao tốc Bắc – Nam, sân bay Long Thành, các cảng biển và hạ tầng năng lượng. Tính toán của Nhóm nghiên cứu Ban Chính sách, chiến lược Trung ương cho thấy với mức đầu tư công tăng cao năm 2025 giúp tăng trưởng kinh tế gia tăng thêm khoảng 0,587 điểm phần trăm so với kịch bản cơ sở.
Đầu tư tư nhân phục hồi mạnh, tăng khoảng 9,2% so với năm 2024 (mức cao nhất trong 5 năm qua), phản ánh tiềm lực và niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp đang cải thiện. FDI liên tục tạo các kỷ lục, giải ngân đạt mức cao, chất lượng dòng vốn tốt hơn với khoảng 70% số vốn đăng ký mới tập trung vào lĩnh vực công nghệ cao, chip, bán dẫn, công nghệ mới và năng lượng tái tạo.
Năng suất lao động cải thiện mạnh, đóng góp khoảng 6,9 điểm phần trăm vào tăng trưởng GDP. Đặc biệt, năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) tăng cao, đạt tốc độ tăng khoảng 3,76%, đóng góp gần 47% vào tăng trưởng năm 2025 – mức cao so với giai đoạn trước, phản ánh sự chuyển dịch tích cực của mô hình tăng trưởng, với năng suất, hiệu quả gia tăng rõ nét.
Ổn định kinh tế vĩ mô tiếp tục được giữ vững. Lạm phát bình quân năm 2025 được kiểm soát ở mức 3,2–3,5%, nhờ sự điều hành linh hoạt, phù hợp, cùng với sự hỗ trợ của xu hướng giảm giá dầu và giảm các áp lực lạm phát toàn cầu. Nợ công giảm về khoảng 35–36% GDP, thấp hơn đáng kể so với trần cho phép, củng cố an ninh tài chính quốc gia. Tuy nhiên, tỷ giá USD/VND chịu áp lực khá lớn trong bối cảnh chênh lệch lãi suất quốc tế. Dư nợ tín dụng ở mức cao, dự kiến tiệm cận mức 145-148% GDP.
Trên cơ sở các đánh giá, dự báo của các tổ chức kinh tế toàn cầu, Nhóm nghiên cứu Ban Chính sách, chiến lược Trung ương xây dựng ba kịch bản dự báo tăng trưởng kinh tế, thương mại và đầu tư toàn cầu, gồm: kịch bản kém thuận lợi, kịch bản thuận lợi và kịch bản rất thuận lợi. Ở cả ba kịch bản, dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới có thể tăng nhẹ, đạt mức 2,9-3,3%/năm, song chưa vững chắc, đà phục hồi diễn ra chậm chạp.
Cường độ của các rủi ro địa chính trị, xu hướng bảo hộ thương mại và quá trình tái định hình chuỗi cung ứng toàn cầu sẽ tiếp tục gây sức ép lên triển vọng thương mại và đầu tư toàn cầu. Áp lực nợ công và lạm phát toàn cầu ngày càng rõ nét. Bên cạnh đó, một số xu hướng mới đang hình thành và tác động đến kinh tế toàn cầu, như xu hướng hình thành các FTA và các cơ chế hợp tác khu vực mới và xu hướng tăng mạnh đầu tư phát triển và kiểm soát, chống thất thoát công nghệ chiến lược ở một số quốc gia.
Kinh tế Việt Nam, theo đó, đứng trước nhiều cơ hội và thách thức đan xen. Trong đó, Việt Nam có cơ hội lớn để đón nhận làn sóng dịch chuyển đầu tư chất lượng cao, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ, năng lượng xanh, kinh tế số và công nghiệp hỗ trợ. Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ tạo cơ hội cho Việt Nam “bắt nhịp” bứt phá phát triển.
Cạnh tranh chiến lược thúc đẩy các quốc gia tìm kiếm đối tác mới, tạo điều kiện cho Việt Nam tham gia sâu hơn vào các chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu, không chỉ lắp ráp mà còn ở các khâu có giá trị cao hơn như RD, thiết kế, marketing. Vấn đề then chốt là khả năng tận dụng các cơ hội đó, thông qua cải cách thể chế, nâng cao năng lực cạnh tranh và chất lượng nguồn nhân lực.
Tuy nhiên, Nhóm nghiên cứu cũng nhận diện và chỉ ra một số thách thức rất lớn đối với Việt Nam. Đó là, mô hình tăng trưởng của chúng ta mặc dù đã có nhiều đổi mới nhưng nhìn chung vẫn chưa giải quyết được sự thay đổi căn bản. Mô hình tăng trưởng thương mại theo chiều rộng khiến Việt Nam chịu nhiều áp lực rủi ro cao từ rào cản thuế quan của các nước. Việt Nam cũng là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nghiêm trọng từ biến đổi khí hậu.
Bên cạnh đó, nguy cơ “bị bỏ lại phía sau” nếu quá trình “bắt nhịp”, “đón bắt” các công nghệ không thành công. Để thực hiện mục tiêu tăng trưởng cao, nhu cầu huy động nguồn lực tài chính là rất lớn. Trong khi Việt Nam vẫn tiếp tục đối mặt với một số vấn đề mang tính cấu trúc, nội tại của nền kinh tế.
Trên cơ sở phân tích, đánh giá đầy đủ các yếu tố tác động, các điều kiện nền tảng cho tăng trưởng và phát triến kinh tế, Nhóm Nghiên cứu Ban Chính sách, chiến lược Trung ương đưa ra ba kịch bản tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2026- 2030, gồm:
(1) Kịch bản cơ sở, giả định duy trì xu hướng phát triển hiện tại, chưa tạo được đột phá mạnh mẽ về thể chế, năng suất và các điều kiện về nguồn lực phát triển. Dự báo tăng trưởng GDP đạt khoảng 7,5%/năm, lạm phát ở mức dưới 4%; quy mô GDP đến năm 2030 đạt khoảng 21,9 triệu tỷ đồng, GDP bình quân đầu người dự báo đạt mức 7.500 USD.
(2) Kịch bản chuyển tiếp, giả định có sự cải thiện rõ nét hơn các điều kiện phát triển, huy động nguồn lực cho đầu tư tăng trưởng tăng cao, công nghiệp chế biến, chế tạo, dịch vụ chất lượng cao và chuyển đổi số tăng mạnh. Theo đó, tốc độ tăng trưởng GDP có thể đạt khoảng 8,5%/năm, lạm phát duy trì khoảng 4%; quy mô GDP đến năm 2030 ước đạt khoảng 23,1 triệu tỷ đồng; GDP bình quân đầu người ước đạt 7.800 USD.
(3) Kịch bản mục tiêu, yêu cầu tăng trưởng hai con số, khoảng 10%/năm; lạm phát dự kiến ở mức 4-4,5%; quy mô GDP đến năm 2030 ước đạt 24,6 triệu tỷ đồng; GDP bình quân đầu người dự báo đạt mức 8.500 USD. Điều kiện tiên quyết ở kịch bản này là sự bứt phá về mọi mặt: cải cách thể chế, vốn đầu tư, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và năng suất.
Để đạt được mục tiêu tăng trưởng hai con số, đòi hỏi sự cải thiện mạnh mẽ ở cả ba khu vực. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản cần duy trì mức tăng trưởng khá cao, 3,5%/năm so với mức tăng trưởng cơ sở khoảng 3%/năm. Đây là áp lực rất là lớn trong thời gian tới đối với lĩnh vực nông nghiệp. Khu vực công nghiệp – xây dựng cần tăng trưởng mạnh, khoảng 12,4%/năm, trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo bứt phá, tăng trưởng khoảng 12,9%/năm và lĩnh vực xây dựng tăng trưởng đột phá ở mức 12,5%/năm nhờ đẩy mạnh đầu tư công - so với mức tăng trưởng cơ sở lần lượt là 8,7%/năm; 9,3%/năm và 8,5%/năm. Khu vực dịch vụ được thúc đẩy mạnh mẽ bởi các dịch vụ chất lượng cao và các dịch vụ giá trị gia tăng cao, với tốc độ tăng trưởng đạt 9,5%/năm so với mức cơ sở khoảng 7,5%/năm.
Sử dụng các công cụ định lượng và phân tích dữ liệu Bảng I/O, Nhóm Nghiên cứu xác định 17 ngành, lĩnh vực động lực/ưu tiên (chiếm trên 70% GDP toàn nền kinh tế), dựa trên hai nhóm tiêu chí: (1) Ngành có mức độ lan tỏa đến giá trị gia tăng toàn nền kinh tế cao; (2) Ngành có quy mô lớn, ảnh hưởng mạnh đến tăng trưởng kinh tế (theo xu hướng hiện nay). Trên cơ sở đó, chia thành bốn nhóm ngành, tương ứng với bốn nhóm định hướng phát triển, gồm:
Nhóm ngành dẫn dắt: gồm các ngành, lĩnh vực có độ lan tỏa cao, quy mô lớn, như tài chính - ngân hàng; năng lượng; bán buôn, bán lẻ; vận tải, kho bãi và logistics; nông, lâm, thủy sản.
Nhóm ngành cần thúc đẩy: gồm các ngành có độ lan tỏa mạnh, nhưng quy mô nhỏ, có triển vọng tăng trưởng mạnh, đó là RD và hoạt động khoa học, công nghệ; du lịch và lưu trú; dịch vụ ăn uống; bất động sản.
Nhóm ngành cần nâng cấp chất lượng và vị thế trong chuỗi giá trị: trong đó đặc biệt bao gồm nhóm ngành công nghệ số như điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học, viễn thông; xây dựng; sản xuất kim loại và sản phẩm kim loại. Những ngành này hiện nay có đóng góp lớn trong GDP. Một số ngành xuất khẩu cao nhưng nhập khẩu rất lớn, giá trị gia tăng đóng góp trong nước còn thấp, đòi hỏi phải nâng cao chất lượng, gia tăng vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Nhóm ngành nền tảng, tạo việc làm: gồm nhóm ngành sản xuất, chế biến thực phẩm; dệt may; da giày và sản phẩm liên quan; sản xuất hóa chất, sản phẩm hóa chất. Mặc dù độ lan tỏa tới giá trị gia tăng toàn nền kinh tế còn hạn chế, song đây là nhóm ngành có khả năng giải quyết vấn đề căn cốt về việc làm trong tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026 – 2030.
Tính toán chi tiết của Nhóm nghiên cứu cho thấy các ngành động lực nêu trên phải có các điều chỉnh rất lớn, tăng trưởng rất thực chất mới có thể đóng góp, thúc đẩy mức tăng trưởng chung 10%/năm của cả nước. Trong đó, lĩnh vực bán buôn, bán lẻ phải điều chỉnh tăng trưởng tới 3,2 điểm phần trăm so với kịch bản cơ sở, từ mức 7,6%/năm (kịch bản cơ sở) lên 10,8% (kịch bản mục tiêu), tương ứng mức điều chỉnh 3,4 điểm phần trăm so với tăng trưởng bình quân giai đoạn 2021-2025 (7,4%/năm); đạt mức đóng góp 1,03 điểm phần trăm trong tăng trưởng GDP toàn nền kinh tế.
Lĩnh vực năng lượng với mức điều chỉnh 3,7 điểm phần trăm so với kịch bản cơ sở. Lĩnh vực vận tải, kho bãi và logistics với mức điều chỉnh 2 điểm phần trăm so với kịch bản cơ sở. Lĩnh vực điện tử, máy tính, sản phẩm quang học điều chỉnh mạnh với mức tăng thêm 4 điểm phần trăm so với kịch bản cơ sở và 4,4 điểm phần trăm so với mức tăng trưởng khá cao hiện nay (10,6%/năm),…
Kinh nghiệm thực tiễn từ các quốc gia trong giai đoạn tăng trưởng cao chỉ ra rằng nhu cầu về vốn để duy trì đà phát triển là vô cùng lớn.
Để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức 10%/năm, đồng thời giảm mạnh hệ số ICOR từ 6,5 xuống 4,7 – tương ứng với sự gia tăng đột phá hiệu quả sử dụng vốn, kết quả tính toán cho thấy, tổng nhu cầu vốn đầu tư phát triển trong 5 năm tới khoảng 1.463 tỷ USD (tương đương 38,6 triệu tỷ đồng – gấp khoảng 2,1 lần giai đoạn 2021-2025), chiếm khoảng 40,01% GDP, trung bình mỗi năm cần khoảng 292,6 tỷ USD.
Cơ cấu nguồn vốn được định hướng phân bổ dựa trên các trụ cột chính: Đầu tư từ khu vực nhà nước chiếm khoảng 29%, trong đó, đầu tư công là 22,2% (khoảng 8,58 triệu tỷ đồng); đầu tư từ khu vực FDI khoảng 218 tỷ USD, chiếm khoảng 15,0% - là một yêu cầu khá thách thức trong bối cảnh hiện nay; đầu tư từ khu vực tư nhân phải đảm đương tới 56,0% tổng nhu cầu vốn đầu tư phát triển.
Xem xét các kênh cung ứng vốn cho nền kinh tế cho thấy vốn tín dụng ngân hàng hiện vẫn là kênh dẫn vốn lớn nhất, chiếm tỷ trọng từ 48-50%; tiếp sau là đầu tư công (16-18%); FDI (15-16%); trái phiếu doanh nghiệp và IPO (12-13%) và cuối cùng là vốn tự có của doanh nghiệp tư nhân và nguồn khác (khoảng 4-5%). Có thể thấy mô hình dẫn vốn dựa vào hệ thống ngân hàng (bank-based) khá rõ. Kênh dẫn vốn qua thị trường vốn còn quá khiêm tốn, chưa thực hiện tốt vai trò kênh dẫn vốn dài hạn của nền kinh tế.
Tính toán của Nhóm nghiên cứu cho thấy hệ số tương quan giữa dư nợ tín dụng và tổng vốn đầu tư phát triển khá lớn, lên tới 4,5-5. Giả định, tương quan này vẫn tiếp diễn trong 2026-2030, với mục tiêu tăng trưởng 10%/năm, nhu cầu vốn đầu tư tương đương 40% GDP, khi đó nhu cầu vốn tín dụng tăng mạnh, dẫn tới dư nợ tín dụng có thể lên đến 180-200%GDP – ẩn chứa nhiều rủi ro, gây áp lực mạnh lên hệ thống ngân hàng và ổn định kinh tế vĩ mô.
Theo đó, yêu cầu đặt ra là cần có sự kiểm soát chặt chẽ dòng vốn tín dụng nhằm gia tăng tỷ lệ vốn sử dụng vào sản xuất hay gia tăng tỷ lệ tạo lập tài sản cố định; đồng thời, định hướng các chính sách, giải pháp chiến lược để kích thích khu vực doanh nghiệp, nhà đầu tư huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán và các quỹ nhằm giảm áp lực với tín dụng ngân hàng.
Một vấn đề cốt lõi cần được xem xét kỹ lưỡng đó là khả năng hấp thụ vốn thực tế của nền kinh tế. Mặc dù dự thảo Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết về tăng trưởng hai con số đặt mục tiêu tổng vốn đầu tư toàn xã hội ở mức 40% GDP, nhưng các tính toán định lượng cho thấy hiệu quả chuyển đổi vốn còn hạn chế. Tính toán ban đầu của Nhóm nghiên cứu cho thấy để đạt được mục tiêu tăng trưởng như kỳ vọng, tổng vốn đầu tư toàn xã hội cần huy động phải ở mức cao hơn, cần khoảng 47% GDP thay vì 40% như dự kiến hiện nay. Điều này đặt ra yêu cầu cấp bách về việc phải tính toán chính xác tỷ lệ vốn thực sự hấp thụ vào sản xuất để tạo ra tăng trưởng thực chất.
Bên cạnh nguồn lực tài chính, mục tiêu tăng trưởng 10%/năm còn phụ thuộc chặt chẽ vào việc nâng cao năng suất nội tại. Trong bối cảnh tốc độ tăng trưởng lao động đang có xu hướng chậm lại, áp lực đóng góp từ các nhân tố tổng hợp (TFP) là rất lớn. Kết quả tính toán của Nhóm nghiên cứu chỉ ra rằng để đủ sức hiện thực hóa mục tiêu 10%/năm, đóng góp của TFP phải đạt trên 57% và năng suất lao động xã hội phải tăng trưởng mạnh mẽ trên mức 8,7% mỗi năm.
Nhằm tháo gỡ những nút thắt lớn nhất, khơi thông các điểm nghẽn cho quá trịnh hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số, Nhóm nghiên cứu Ban Chính sách, chiến lược Trung ương đề xuất bốn nhóm giải pháp chính.
Thứ nhất, đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô trong mọi tình huống, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn là một yêu cầu quan trọng. Đánh giá các kịch bản lạm phát cho thấy lạm phát và kỳ vọng lạm phát ổn định ở mức thấp là một điều kiện quan trọng để duy trì tăng trưởng nhanh và bền vững trong giai đoạn 2026-2030.
Kịch bản thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế 10%/năm đòi hỏi lạm phát duy trì ổn định khoảng 4%/năm. Nếu lạm phát cao sẽ làm giảm ý nghĩa của tăng trưởng kinh tế và người dân không được hưởng thành quả tương xứng từ tăng trưởng kinh tế. Ổn định lạm phát sẽ tạo điều kiện cho các cải cách thể chế kinh tế và giúp tín hiệu phân bổ nguồn lực trên thị trường ít bị “méo mó”, đồng thời thúc đẩy phát triển dịch vụ tài chính – ngân hàng.
Phối hợp đồng bộ, hiệu quả giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ trên cơ sở “phân vai” cụ thể hơn.
Theo đó, chính sách tài khóa tập trung vào thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thông qua thúc đẩy giải ngân đầu tư công vào các lĩnh vực trọng điểm, có tính lan tỏa cao, các dự án chiến lược, liên kết vùng; tăng chi chuyển giao hỗ trợ tiêu dùng của người dân; giảm thuế hỗ trợ cho các ngành gắn với chuyển đổi số, chuyển đổi xanh; hỗ trợ tiêu dùng của hộ gia đình.
Chính sách tiền tệ linh hoạt, chặt chẽ, tập trung vào ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và phối hợp hiệu quả với chính sách tài khóa. Thực hiện truyền thông chính sách về ổn định lạm phát và ổn định tỷ giá; điều tiết cung tiền hợp lý gắn với mặt bằng lãi suất phù hợp, bảo đảm lãi suất thực dương ít nhất 1%/năm. Duy trì tăng trưởng tín dụng hợp lý (khoảng 15-18%) gắn với phân bổ tín dụng tập trung vào các ngành sản xuất; thử nghiệm có kiểm soát các cơ chế tín dụng cho các lĩnh vực mới (tín dụng xanh, tín dụng dựa trên quyền sở hữu trí tuệ); rà soát và tăng cường tính độc lập tương đối của Ngân hàng Nhà nước,...
Thứ hai, thay đổi mạnh mẽ cách thức huy động nguồn lực tài chính cho nền kinh tế. (1) Thúc đẩy huy động tài chính trên thị trường vốn, thông qua phát hành trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu chính phủ và cổ phiếu, nhằm cân bằng với vai trò huy động vốn dài hạn qua hệ thống ngân hàng (bank-based) hiện nay, với một số yêu cầu cụ thể: nâng hạng tín nhiệm quốc gia (lên mức Investment Grade) - rất quan trọng với huy động vốn quốc gia và thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Đa dạng sản phẩm, đặc biệt là các sản phẩm mới (cố phiếu doanh nghiệp công nghệ số; doanh nghiệp dịch vụ (du lịch, giải trí, truyền thông). Thực hiện mục tiêu nâng hạng thị trường mới nổi MSCI. Có khung khổ quy định, cở mở hơn về tài sản đảm bảo trong phát hành TPDN.
(2) Phát triển ngành quỹ trên cơ sở có sự thay đổi tư duy, nhìn nhận đúng vai trò của ngành quỹ đối với thị trường vốn và nền kinh tế. Bổ sung, xây dựng, điều chỉnh quy định pháp luật liên quan, tạo khung khổ thể chế để phát triển ngành quỹ. Phát triển một số loại hình quỹ phổ biến như: các quỹ mở, quỹ hưu trí tự nguyện, quỹ hạ tầng, quỹ thúc đẩy kinh tế tư nhân/quỹ phát triển doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, các quỹ đầu tư quốc gia, quỹ chuyển đổi xanh...
(3) Thực hiện huy động vốn thông qua một số kênh huy động mới, như: thí điểm thị trường carbon; trung tâm tài chính quốc tế; thị trường tài sản mã hóa. Có tư duy mở hơn đối với các định chế cho vay tổng hợp – cấp tín dụng dưới dạng kênh huy động vốn trung, dài hạn.
Thứ ba, tháo gỡ vướng mắc về chính sách. Trong đó, (1) cần đơn giản hóa các thủ tục, đảm bảo hỗ trợ nhanh, gọn cho doanh nghiệp. Đặc biệt, (2) cần sớm thể chế hóa các chính sách để tháo gỡ khó khăn cho các dự án tồn đọng, chậm triển khai ở các địa phương. Hiện nay Bộ Chính trị đã có Kết luận 182-KL/TW nhưng ở các địa phương vẫn còn rất vướng. (3) Gỡ vướng cho các quỹ khoa học địa phương. Hiện nay các quỹ khoa học địa phương đến tháng 11/2025 mới chỉ giải ngân khoảng 585 tỷ đồng, con số quá thấp so với yêu cầu; quỹ đầu tư cũng chưa phát huy hiệu quả.
Mô hình quỹ khoa học, công nghệ của các địa phương phải có sự thay đổi, cải tiến thì mới đưa được nguồn vốn hiện có vào trong khoa học, công nghệ của các địa phương. Vận hành mô hình quỹ khoa học, công nghệ phải có đổi mới về tư duy và chính sách đột phá, có cơ chế PPP mới trong khoa học, công nghệ.
Thứ tư, làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống, kích thích các động lực tăng trưởng mới. (1) Thay đổi chiến lược và mô hình xuất khẩu. Thực hiện tiến quân vào thị trường bằng các chương trình “Go globle” cụ thể, đồng thời thay đổi phương thức hỗ trợ doanh nghiệp trong xuất khẩu, thông qua hỗ trợ thị trường, logistic, bảo hiểm, tư vấn và hỗ trợ kết nối với các tập đoàn đa quốc gia.
(2) Lựa chọn các dự án lớn, động lực của các địa phương. (3) Có chiến lược phát triển phù hợp với các ngành kinh tế động lực, trong đó, thúc đẩy phát triển các ngành các ngành dẫn dắt, các ngành có khả năng lan tỏa cao, như du lịch, RD, logistics, năng lượng, tài chính - ngân hàng. Nâng cấp chất lượng, giá trị gia tăng các ngành điện tử, công nghiệp công nghệ số; dệt may, da giày; chế biến thực phẩm... Trong giai đoạn đầu tăng trưởng cao, cho phép thúc đẩy các ngành trong lĩnh vực xây dựng, bất động sản.
(4) Thúc đẩy phát triển các mô hình kinh tế mới, các ngành kinh tế mới. Trong đó, hoàn thiện cơ chế thử nghiệm để hỗ trợ phát triển các ngành kinh tế mới như kinh tế không gian vũ trụ, kinh tế tầm thấp,... các mô hình kinh tế mới, kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn. Xây dựng cơ chế, chính sách khai thác không gian vũ trụ, không gian ngầm, không gian biển. Phát triển công nghiệp đường sắt, công nghiệp ứng dụng năng lượng nguyên tử, lượng tử.
Xây dựng các chương trình, đề án nghiên cứu khoa học có tính đột phá đối với 11 nhóm công nghệ chiến lược; xây dựng các cơ sở nghiên cứu và phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao như điện tử, chíp bán dẫn, trí tuệ nhân tạo.
(5) Các giải pháp khác: khai thác tốt không gian tăng trưởng mới; phát triển mạnh thị trường trong nước, kích cầu tiêu dùng thông các hội chợ quy mô lớn về thương mại, công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ; phát huy vai trò các khu thương mại tự do, Trung tâm tài chính quốc tế trong thu hút vốn đầu tư, công nghệ.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 51-52-2025 phát hành ngày 22-29/12/2025. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://vneconomy.vn/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-5152-2025.htm
-
Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2025 (VEPF): Định hình mô hình tăng trưởng mới
Năm 2025 khép lại trong bối cảnh bức tranh kinh tế toàn cầu đan xen những khó khăn và thuận lợi, trong đó khó khăn được đánh giá là lớn hơn thuận lợi. Diễn biến phức tạp của tình hình địa chính trị tại nhiều khu vực, cùng xu hướng gia tăng các chính sách bảo hộ thương mại tại một số quốc gia đã ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động thương mại, đầu tư và chuỗi cung ứng toàn cầu, qua đó tác động đến nền kinh tế nước ta.
Với một nền kinh tế có độ mở lớn, Việt Nam tiếp tục đối mặt với nhiều thách thức. Đó là năng lực và khả năng thích ứng của doanh nghiệp trong chuỗi giá trị còn hạn chế, trong khi các tác động của biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và các hiện tượng thời tiết cực đoan ngày càng rõ nét, ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất, kinh doanh, đời sống kinh tế – xã hội và sinh kế của người dân.
Trong bối cảnh đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự ủng hộ của Quốc hội và sự chỉ đạo, điều hành chủ động, quyết liệt, linh hoạt và hiệu quả của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, kinh tế – xã hội Việt Nam tiếp tục đạt được những kết quả nổi bật. Tăng trưởng kinh tế được thúc đẩy mạnh mẽ, dự kiến cả năm 2025 đạt trên 8%, đưa Việt Nam vào nhóm các nền kinh tế tăng trưởng nhanh trên thế giới. Cùng với đó, ổn định kinh tế vĩ mô được giữ vững, lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm.
Các chính sách phát triển kinh tế gắn với an sinh xã hội tiếp tục được triển khai, góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Những kết quả này phản ánh nỗ lực đồng bộ của hệ thống chính trị, sự sáng tạo và thích ứng của cộng đồng doanh nghiệp, cùng với sự đồng thuận, ủng hộ của các tầng lớp nhân dân trong quá trình thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội.
Dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng xác định mục tiêu phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2026–2030 từ 10%/năm trở lên. Trong bối cảnh hiện nay, việc hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng năm 2026 và giai đoạn 2026–2030 đặt ra yêu cầu rất cao, đòi hỏi phải định hình lại tư duy phát triển, xác lập mô hình tăng trưởng mới; đồng thời, tạo lập các động lực tăng trưởng mới gắn với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh.
Trên cơ sở đó, việc tổ chức triển khai các giải pháp cần được thực hiện một cách quyết liệt, hiệu quả, nhằm phát huy tối đa các động lực tăng trưởng truyền thống như đầu tư, xuất khẩu và tiêu dùng; đồng thời, làm mới và nâng cao chất lượng các động lực này trong bối cảnh mới.
Thực hiện chỉ đạo của Bộ Chính trị, với sự quan tâm chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và Lãnh đạo Quốc hội, Đảng ủy Chính phủ và Ban Chính sách, chiến lược Trung ương đã đồng chủ trì tổ chức Diễn đàn cấp cao Kinh tế Việt Nam với chủ đề “Kinh tế Việt Nam phát triển nhanh, bền vững, chuyển đổi xanh trong kỷ nguyên số”. Diễn đàn được tổ chức với quy mô gồm một phiên toàn thể cấp cao và hai phiên chuyên đề, kết hợp hình thức tham dự trực tiếp và trực tuyến tại điểm cầu của 34 tỉnh, thành phố.
Các nội dung thảo luận tại Diễn đàn tập trung vào một số trụ cột chính sách lớn, gắn với yêu cầu phát triển nhanh, bền vững và chuyển đổi mô hình tăng trưởng trong giai đoạn 2026–2030.
Thứ nhất, nhấn mạnh yêu cầu nhận diện các lĩnh vực, quy định cần ưu tiên thể chế hóa trong thời gian tới, nhằm hiện đại hóa quản trị quốc gia gắn với nâng cao hiệu quả thực thi. Trong giai đoạn 2026–2030, thể chế được xác định là nguồn lực chủ đạo, có vai trò mở đường cho việc huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong mô hình tăng trưởng mới. Việc hoàn thiện thể chế không chỉ nhằm tháo gỡ các rào cản, điểm nghẽn hiện hữu, mà còn tạo lập khuôn khổ pháp lý thuận lợi cho các mô hình kinh tế mới phát triển.
Thứ hai, tập trung lắng nghe các kiến nghị cụ thể, thực chất liên quan đến việc nâng cao năng lực tự chủ và khả năng vươn lên của doanh nghiệp tư nhân trong nước. Các nội dung thảo luận hướng tới việc tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ mới nổi và công nghệ chiến lược. Mục tiêu đặt ra là từng bước hình thành các doanh nghiệp, thương hiệu và sản phẩm Việt Nam có vị thế trên bản đồ công nghệ và chuỗi giá trị toàn cầu.
Thứ ba, thảo luận các giải pháp nhằm bảo đảm tăng trưởng nhanh đi đôi với bền vững và ổn định kinh tế vĩ mô. Trong đó, các cơ chế, chính sách đột phá, vượt trội, có tính “thân thiện” với phát triển được xem là điều kiện cần thiết để thúc đẩy các mô hình kinh tế mới và các dự án trọng điểm trong các lĩnh vực như kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế không gian tầm thấp và kinh tế dữ liệu. Việc xây dựng các chính sách phù hợp được kỳ vọng sẽ tạo động lực mới cho tăng trưởng, đồng thời nâng cao chất lượng và sức chống chịu của nền kinh tế.
Thứ tư, nhận diện các hành động chiến lược để các địa phương khai thác hiệu quả không gian phát triển mới. Việc thực hiện phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm giải trình, cùng với việc tận dụng các cơ chế thử nghiệm, cơ chế đặc thù, được xem là yếu tố quan trọng để củng cố vai trò của các cực tăng trưởng và thúc đẩy phát triển vùng thông qua đầu tư hạ tầng kết nối liên vùng và nội vùng.
Thứ năm, trao đổi về việc thúc đẩy các quan hệ đối tác nhiều bên vì sự phát triển và thịnh vượng của Việt Nam. Trong đó, các giải pháp “làm mới” quan hệ đối tác với các đối tác phát triển, thúc đẩy quan hệ đối tác công – tư, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp và các viện nghiên cứu, cũng như hợp tác giữa các khu vực doanh nghiệp được đặt trong phương châm “cùng đồng hành, cùng sáng tạo, cùng phát triển”.
Bên cạnh các nội dung trên, Diễn đàn cũng thảo luận sâu về bối cảnh, các kịch bản phát triển và yêu cầu định hướng giải pháp nhằm thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số trong năm 2026 và giai đoạn 2026–2030. Các nội dung trao đổi cho thấy việc đạt được mục tiêu này là một nhiệm vụ thách thức, song có cơ sở khả thi từ những thời cơ và thuận lợi mới, cùng với quyết tâm chính trị và nỗ lực của toàn hệ thống.
Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững, Việt Nam cần xây dựng chiến lược và kế hoạch hành động tổng thể, huy động và sử dụng hiệu quả tất cả các nguồn lực. Trong đó, việc phát triển thị trường vốn theo hướng cân bằng, toàn diện, hội nhập và hiện đại theo chuẩn mực quốc tế được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, nhằm đáp ứng nhu cầu huy động nguồn lực tài chính với quy mô lớn cho giai đoạn phát triển tới.
Cùng với đó, việc tiếp tục thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Đảng được nhấn mạnh nhằm bảo đảm thể chế thực sự trở thành nguồn lực chủ đạo cho phát triển. Trên cơ sở đó, các nút thắt, điểm nghẽn trong quá trình phát triển được tháo gỡ, tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận và hiện thực hóa các mô hình kinh tế mới, từ kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn đến kinh tế số, kinh tế dữ liệu và các lĩnh vực mới nổi khác.
Diễn đàn cũng đề cập đến yêu cầu tiếp tục làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống, bao gồm đầu tư, xuất khẩu và tiêu dùng, đồng thời kết hợp chặt chẽ với việc tạo lập các động lực tăng trưởng mới dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Việc khai thác cân bằng và hiệu quả các động lực này, trong một môi trường thể chế kiến tạo, được xem là điều kiện quan trọng để bảo đảm tăng trưởng nhanh và bền vững trong dài hạn.
Trong bối cảnh đó, vai trò của các địa phương được đặt ra rõ nét hơn, với yêu cầu xây dựng quy hoạch và các giải pháp triển khai đồng bộ nhằm khai thác hiệu quả các không gian phát triển mới, các cực tăng trưởng. Đồng thời, sự đồng hành và hợp tác hiệu quả của các đối tác quốc tế, đặc biệt trong các lĩnh vực chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển kinh tế tuần hoàn, tiếp tục được xem là yếu tố quan trọng giúp Việt Nam tiệm cận và áp dụng các thông lệ quốc tế tốt hơn.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 51-52-2025 phát hành ngày 22-29/12/2025. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://vneconomy.vn/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-5152-2025.htm
-
Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2025 (VEPF): Định hình mô hình tăng trưởng mới
Năm 2025 khép lại trong bối cảnh bức tranh kinh tế toàn cầu đan xen những khó khăn và thuận lợi, trong đó khó khăn được đánh giá là lớn hơn thuận lợi. Diễn biến phức tạp của tình hình địa chính trị tại nhiều khu vực, cùng xu hướng gia tăng các chính sách bảo hộ thương mại tại một số quốc gia đã ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động thương mại, đầu tư và chuỗi cung ứng toàn cầu, qua đó tác động đến nền kinh tế nước ta.
Với một nền kinh tế có độ mở lớn, Việt Nam tiếp tục đối mặt với nhiều thách thức. Đó là năng lực và khả năng thích ứng của doanh nghiệp trong chuỗi giá trị còn hạn chế, trong khi các tác động của biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và các hiện tượng thời tiết cực đoan ngày càng rõ nét, ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất, kinh doanh, đời sống kinh tế – xã hội và sinh kế của người dân.
Trong bối cảnh đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự ủng hộ của Quốc hội và sự chỉ đạo, điều hành chủ động, quyết liệt, linh hoạt và hiệu quả của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, kinh tế – xã hội Việt Nam tiếp tục đạt được những kết quả nổi bật. Tăng trưởng kinh tế được thúc đẩy mạnh mẽ, dự kiến cả năm 2025 đạt trên 8%, đưa Việt Nam vào nhóm các nền kinh tế tăng trưởng nhanh trên thế giới. Cùng với đó, ổn định kinh tế vĩ mô được giữ vững, lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm.
Các chính sách phát triển kinh tế gắn với an sinh xã hội tiếp tục được triển khai, góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Những kết quả này phản ánh nỗ lực đồng bộ của hệ thống chính trị, sự sáng tạo và thích ứng của cộng đồng doanh nghiệp, cùng với sự đồng thuận, ủng hộ của các tầng lớp nhân dân trong quá trình thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội.
Dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng xác định mục tiêu phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2026–2030 từ 10%/năm trở lên. Trong bối cảnh hiện nay, việc hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng năm 2026 và giai đoạn 2026–2030 đặt ra yêu cầu rất cao, đòi hỏi phải định hình lại tư duy phát triển, xác lập mô hình tăng trưởng mới; đồng thời, tạo lập các động lực tăng trưởng mới gắn với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh.
Trên cơ sở đó, việc tổ chức triển khai các giải pháp cần được thực hiện một cách quyết liệt, hiệu quả, nhằm phát huy tối đa các động lực tăng trưởng truyền thống như đầu tư, xuất khẩu và tiêu dùng; đồng thời, làm mới và nâng cao chất lượng các động lực này trong bối cảnh mới.
Thực hiện chỉ đạo của Bộ Chính trị, với sự quan tâm chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và Lãnh đạo Quốc hội, Đảng ủy Chính phủ và Ban Chính sách, chiến lược Trung ương đã đồng chủ trì tổ chức Diễn đàn cấp cao Kinh tế Việt Nam với chủ đề “Kinh tế Việt Nam phát triển nhanh, bền vững, chuyển đổi xanh trong kỷ nguyên số”. Diễn đàn được tổ chức với quy mô gồm một phiên toàn thể cấp cao và hai phiên chuyên đề, kết hợp hình thức tham dự trực tiếp và trực tuyến tại điểm cầu của 34 tỉnh, thành phố.
Các nội dung thảo luận tại Diễn đàn tập trung vào một số trụ cột chính sách lớn, gắn với yêu cầu phát triển nhanh, bền vững và chuyển đổi mô hình tăng trưởng trong giai đoạn 2026–2030.
Thứ nhất, nhấn mạnh yêu cầu nhận diện các lĩnh vực, quy định cần ưu tiên thể chế hóa trong thời gian tới, nhằm hiện đại hóa quản trị quốc gia gắn với nâng cao hiệu quả thực thi. Trong giai đoạn 2026–2030, thể chế được xác định là nguồn lực chủ đạo, có vai trò mở đường cho việc huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong mô hình tăng trưởng mới. Việc hoàn thiện thể chế không chỉ nhằm tháo gỡ các rào cản, điểm nghẽn hiện hữu, mà còn tạo lập khuôn khổ pháp lý thuận lợi cho các mô hình kinh tế mới phát triển.
Thứ hai, tập trung lắng nghe các kiến nghị cụ thể, thực chất liên quan đến việc nâng cao năng lực tự chủ và khả năng vươn lên của doanh nghiệp tư nhân trong nước. Các nội dung thảo luận hướng tới việc tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ mới nổi và công nghệ chiến lược. Mục tiêu đặt ra là từng bước hình thành các doanh nghiệp, thương hiệu và sản phẩm Việt Nam có vị thế trên bản đồ công nghệ và chuỗi giá trị toàn cầu.
Thứ ba, thảo luận các giải pháp nhằm bảo đảm tăng trưởng nhanh đi đôi với bền vững và ổn định kinh tế vĩ mô. Trong đó, các cơ chế, chính sách đột phá, vượt trội, có tính “thân thiện” với phát triển được xem là điều kiện cần thiết để thúc đẩy các mô hình kinh tế mới và các dự án trọng điểm trong các lĩnh vực như kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế không gian tầm thấp và kinh tế dữ liệu. Việc xây dựng các chính sách phù hợp được kỳ vọng sẽ tạo động lực mới cho tăng trưởng, đồng thời nâng cao chất lượng và sức chống chịu của nền kinh tế.
Thứ tư, nhận diện các hành động chiến lược để các địa phương khai thác hiệu quả không gian phát triển mới. Việc thực hiện phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm giải trình, cùng với việc tận dụng các cơ chế thử nghiệm, cơ chế đặc thù, được xem là yếu tố quan trọng để củng cố vai trò của các cực tăng trưởng và thúc đẩy phát triển vùng thông qua đầu tư hạ tầng kết nối liên vùng và nội vùng.
Thứ năm, trao đổi về việc thúc đẩy các quan hệ đối tác nhiều bên vì sự phát triển và thịnh vượng của Việt Nam. Trong đó, các giải pháp “làm mới” quan hệ đối tác với các đối tác phát triển, thúc đẩy quan hệ đối tác công – tư, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp và các viện nghiên cứu, cũng như hợp tác giữa các khu vực doanh nghiệp được đặt trong phương châm “cùng đồng hành, cùng sáng tạo, cùng phát triển”.
Bên cạnh các nội dung trên, Diễn đàn cũng thảo luận sâu về bối cảnh, các kịch bản phát triển và yêu cầu định hướng giải pháp nhằm thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số trong năm 2026 và giai đoạn 2026–2030. Các nội dung trao đổi cho thấy việc đạt được mục tiêu này là một nhiệm vụ thách thức, song có cơ sở khả thi từ những thời cơ và thuận lợi mới, cùng với quyết tâm chính trị và nỗ lực của toàn hệ thống.
Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững, Việt Nam cần xây dựng chiến lược và kế hoạch hành động tổng thể, huy động và sử dụng hiệu quả tất cả các nguồn lực. Trong đó, việc phát triển thị trường vốn theo hướng cân bằng, toàn diện, hội nhập và hiện đại theo chuẩn mực quốc tế được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, nhằm đáp ứng nhu cầu huy động nguồn lực tài chính với quy mô lớn cho giai đoạn phát triển tới.
Cùng với đó, việc tiếp tục thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Đảng được nhấn mạnh nhằm bảo đảm thể chế thực sự trở thành nguồn lực chủ đạo cho phát triển. Trên cơ sở đó, các nút thắt, điểm nghẽn trong quá trình phát triển được tháo gỡ, tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận và hiện thực hóa các mô hình kinh tế mới, từ kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn đến kinh tế số, kinh tế dữ liệu và các lĩnh vực mới nổi khác.
Diễn đàn cũng đề cập đến yêu cầu tiếp tục làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống, bao gồm đầu tư, xuất khẩu và tiêu dùng, đồng thời kết hợp chặt chẽ với việc tạo lập các động lực tăng trưởng mới dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Việc khai thác cân bằng và hiệu quả các động lực này, trong một môi trường thể chế kiến tạo, được xem là điều kiện quan trọng để bảo đảm tăng trưởng nhanh và bền vững trong dài hạn.
Trong bối cảnh đó, vai trò của các địa phương được đặt ra rõ nét hơn, với yêu cầu xây dựng quy hoạch và các giải pháp triển khai đồng bộ nhằm khai thác hiệu quả các không gian phát triển mới, các cực tăng trưởng. Đồng thời, sự đồng hành và hợp tác hiệu quả của các đối tác quốc tế, đặc biệt trong các lĩnh vực chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển kinh tế tuần hoàn, tiếp tục được xem là yếu tố quan trọng giúp Việt Nam tiệm cận và áp dụng các thông lệ quốc tế tốt hơn.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 51-52-2025 phát hành ngày 22-29/12/2025. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://vneconomy.vn/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-5152-2025.htm
-
Kinh tế Việt Nam: Sức chống chịu kiên cường, sẵn sàng cho kỷ nguyên tăng trưởng mới
Trên cơ sở xác định rõ xu thế tất yếu, không thể đảo ngược của chuyển đổi xanh trong kỷ nguyên số, Việt Nam xác định rõ “chuyển đổi kép: xanh hóa và số hóa” là yêu cầu khách quan, là lựa chọn chiến lược, là ưu tiên đầu tư phát triển; vừa là nền tảng, vừa tạo động lực thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững của đất nước nói chung và nền kinh tế nói riêng.
Đảng, Nhà nước, Chính phủ Việt Nam luôn đặc biệt quan tâm và ban hành nhiều chủ trương, cơ chế, chính sách để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững dựa trên cơ sở nền tảng "chuyển đổi kép: xanh hóa và số hóa".
Nghị quyết Đại hội XIII xác định rõ: "Tiếp tục phát triển nhanh và bền vững đất nước"; "đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số trên nền tảng khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo"; "xây dựng nền kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, thân thiện với môi trường".
Bộ Chính trị đã tiếp tục ban hành và cụ thể hóa các quyết sách quan trọng trong các lĩnh vực trụ cột, chiến lược, gồm các Nghị quyết số: 57, 59, 66, 68, 70, 71, 72; đang xây dựng và chuẩn bị ban hành các nghị quyết về kinh tế nhà nước, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và văn hóa.
Song song với việc thông qua các đạo luật, Việt Nam còn ban hành các nghị quyết để kịp thời thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, với phương châm “không cầu toàn, không nóng vội nhưng không bỏ lỡ cơ hội”. Đây là sự đổi mới về tư duy, cách làm.
Đặc biệt, Nghị quyết số 57-NQ/TW nhấn mạnh phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu; thúc đẩy chuyển đổi số, nghiên cứu, chuyển giao công nghệ xanh, công nghệ phát thải thấp; kiến tạo phát triển các mô hình kinh tế mới, kinh tế số, kinh tế xanh; chuyển dịch mạnh mẽ từ năng lượng hóa thạch sang năng lượng tái tạo (gió, mặt trời, hydro xanh); phát triển hệ sinh thái công nghiệp năng lượng sạch,…
Tình hình thế giới, khu vực diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường, trong đó có những vấn đề chưa có tiền lệ, vượt dự báo như cạnh tranh chiến lược, xung đột quân sự, xu hướng đầu tư, thương mại toàn cầu tăng trưởng chậm lại, thiên tai và biến đổi khí hậu ảnh hưởng nặng nề đến các nước. Nhìn chung, khó khăn thách thức nhiều hơn cơ hội.
Đối với Việt Nam, nhờ sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, tình hình kinh tế - xã hội đất nước đạt nhiều kết quả nổi bật, khá toàn diện, cao hơn năm 2024 trên tất cả các lĩnh vực, như Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhận định: "Bức tranh kinh tế - xã hội đất nước năm 2025 với gam màu sáng là chủ đạo".
Nổi bật là kinh tế Việt Nam thể hiện sức chống chịu kiên cường và đạt tốc độ tăng trưởng thuộc nhóm cao hàng đầu khu vực, thế giới. GDP năm 2025 dự kiến tăng trên 8%, đưa quy mô nền kinh tế lên khoảng 510 tỷ USD, xếp thứ 32 thế giới; thu nhập bình quân đầu người khoảng 5.000 USD, đưa Việt Nam bước vào nhóm thu nhập trung bình cao.
Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn được bảo đảm; nợ công, bội chi ngân sách nhà nước được kiểm soát tốt, thấp hơn nhiều giới hạn cho phép. Chính phủ quan niệm đầu tư là có thể phải đi vay, nhưng quan trọng là phải có hiệu quả và có khả năng trả nợ.
Việt Nam kiểm soát tốt lạm phát trong cả giai đoạn 2021-2025, trong bối cảnh lạm phát toàn cầu neo ở mức cao. Thu ngân sách nhà nước ước vượt khoảng 25% so với dự toán, tương đương khoảng hơn 500 nghìn tỷ đồng; quy mô thương mại năm 2025 dự kiến đạt kỷ lục trên 900 tỷ USD…
Ba đột phá chiến lược được triển khai quyết liệt, hiệu quả, theo hướng “thể chế thông thoáng, hạ tầng thông suốt, quản trị và nguồn nhân lực thông minh”. Hiện tại, kết quả từ nỗ lực trên được thể hiện thông qua các công trình như hệ thống đường cao tốc tạo thành hành lang kinh tế quan trọng, bến cảng, sân bay, hạ tầng số được đầu tư. Việt Nam cũng cương quyết không để thiếu điện, đảm bảo niềm tin của nhà đầu tư.
Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia được triển khai quyết liệt, đạt kết quả bước đầu quan trọng. Hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo có bước phát triển mạnh mẽ; Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia và Trung tâm dữ liệu quốc gia đi vào hoạt động hiệu quả. Tỷ trọng kinh tế số năm 2025 đạt khoảng 20% GDP. Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu của Việt Nam năm 2025 xếp hạng 44/139 quốc gia, vùng lãnh thổ.
Triển khai quyết liệt, hiệu quả việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy của Chính phủ và tổ chức chính quyền địa phương hai cấp gắn với đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, phân bổ nguồn lực, nâng cao năng lực thực thi và tăng cường giám sát, kiểm tra.
Các lĩnh vực văn hóa, xã hội phát triển; đời sống vật chất, tinh thần của người dân tiếp tục được nâng lên. Giai đoạn 2021-2025, chi khoảng 1,1 triệu tỷ đồng cho an sinh xã hội, chiếm 17% tổng chi ngân sách nhà nước. Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm từ 4,4% năm 2021 xuống còn 1,3% năm 2025. Cơ bản hoàn thành xóa nhà tạm, nhà dột nát trên cả nước. Triển khai tích cực xây dựng 1 triệu căn hộ cho người thu nhập thấp.
Chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được củng cố, tăng cường; trật tự an toàn xã hội được bảo đảm. Đối ngoại và hội nhập quốc tế là điểm sáng, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển đất nước.
Nhiệm kỳ này đã chứng tỏ kinh tế Việt Nam đủ sức chống chịu với các cú sốc từ bên ngoài như đại dịch Covid-19 và hậu quả; chiến tranh, xung đột, đứt gãy các chuỗi cung ứng; chính sách tiền tệ thắt chặt của các nước; chính sách thuế quan phức tạp; tăng trưởng toàn cầu giảm, lạm phát toàn cầu tăng. Đây là những "cơn gió ngược" mà Việt Nam đã vượt qua để đạt được những thành quả như trên.
Trong năm 2026, khái quát tình hình thế giới: chính trị phân cực, kinh tế phân tách, thể chế phân mảnh, phát triển phân hóa.
Đối với Việt Nam, sau gần 40 năm Đổi mới và hội nhập, cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước được nâng lên, là nền tảng quan trọng để đất nước vươn mình trong kỷ nguyên phát triển mới. Việt Nam xác định rõ thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen, nhưng khó khăn, thách thức nhiều hơn.
Tình hình thế giới tiềm ẩn nhiều rủi ro, trong khi nền kinh tế Việt Nam có độ mở lớn; chất lượng tăng trưởng còn hạn chế, còn dựa vào thâm dụng lao động giá rẻ, tài nguyên và vốn; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo chưa thực sự là động lực của tăng trưởng và cần thời gian để phát huy hiệu quả hơn; thể chế, chính sách vẫn còn vướng mắc, cần tiếp tục hoàn thiện xử lý các "điểm nghẽn"; Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng lớn nhất bởi tác động của các thảm họa thiên tai, biến đổi khí hậu. Riêng các cơn bão lũ liên tiếp vừa qua đã gây thiệt hại khoảng 100 nghìn tỷ đồng.
Nông nghiệp đã giúp Việt Nam thoát đói nghèo sau cuộc chiến tranh tàn khốc; công nghiệp đã giúp Việt Nam có thu nhập trung bình cao. Thời gian tới, Việt Nam xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh sẽ đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững, trở thành nước phát triển có thu nhập cao.
Về mục tiêu chiến lược, Việt Nam kiên định, nhất quán tập trung thực hiện hai mục tiêu chiến lược 100 năm, phấn đấu đến năm 2030, trở thành một nước đang phát triển công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; năm 2045 là nước phát triển, thu nhập cao.
Để đạt được hai mục tiêu chiến lược nêu trên, Việt Nam xác định rõ ổn định là pháo đài bất khả xâm phạm; phát triển nhanh, bền vững là động cơ vĩnh cửu, không có điểm dừng; giàu mạnh, ấm no, hạnh phúc của người dân là mục tiêu cao nhất; không hy sinh tiến bộ, công bằng, an sinh xã hội, môi trường để chạy theo tăng trưởng đơn thuần.
Theo đó, thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững trên nền tảng "chuyển đổi kép: xanh hóa và số hóa", phấn đấu tăng trưởng đạt hai con số gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế; chú trọng nâng cao khả năng chống chịu, sức cạnh tranh của nền kinh tế; nâng cao năng lực phân tích, dự báo, chủ động ứng phó linh hoạt, kịp thời, hiệu quả với các biến động bên ngoài.
Đẩy mạnh thực hiện đột phá chiến lược về thể chế, biến điểm nghẽn của điểm nghẽn trở thành lợi thế cạnh tranh quốc gia, giảm chi phí tuân thủ cho người dân và doanh nghiệp. Đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao; ưu tiên các ngành mũi nhọn về khoa học, công nghệ, quản trị thông minh, khoa học cơ bản và các lĩnh vực ưu tiên, mới nổi. Tập trung xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng chiến lược thông suốt đồng bộ, hiện đại; qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho chuyển đổi số, chuyển đổi xanh.
Làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống và thúc đẩy mạnh mẽ các động lực tăng trưởng mới. Trong đó, tập trung triển khai quyết liệt Nghị quyết số 57-NQ/TW; đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh; chú trọng phát triển các ngành công nghiệp bán dẫn, AI, năng lượng sạch, trung tâm dữ liệu; xây dựng trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do…
Xây dựng các chương trình, đề án nghiên cứu khoa học có tính đột phá đối với 11 nhóm công nghệ chiến lược; xây dựng đồng bộ cơ sở dữ liệu về đất đai, khoáng sản, đưa dữ liệu thành tài nguyên; xây dựng các cơ sở nghiên cứu và phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao như điện tử, chíp bán dẫn, trí tuệ nhân tạo…
Khai thác tốt các không gian phát triển mới thông qua các dự án hạ tầng kết nối liên vùng, phát huy vai trò các mô hình kinh tế mới, khu thương mại tự do, trung tâm tài chính quốc tế trong thu hút vốn đầu tư, công nghệ...
Thúc đẩy, tạo đột phá cho các động lực tăng trưởng mới thông qua hoàn thiện cơ chế thử nghiệm để hỗ trợ phát triển kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn. Xây dựng cơ chế, chính sách phát triển doanh nghiệp công nghệ số; cơ chế khai thác không gian vũ trụ, không gian ngầm, không gian biển; phát triển công nghiệp đường sắt, công nghiệp ứng dụng năng lượng nguyên tử, lượng tử...
Tiếp tục đa dạng hóa các hình thức huy động nguồn lực; thúc đẩy xã hội hóa, thu hút mạnh mẽ nguồn lực đầu tư ngoài nhà nước. Ưu tiên thu hút FDI có chọn lọc, tái cấu trúc xuất khẩu gắn liền với cơ cấu nền kinh tế, sản xuất xanh, tuần hoàn, kết nối với đầu tư trong nước.
Lịch sử dân tộc Việt Nam đã chứng minh, truyền thống của người Việt Nam là càng áp lực lại càng nỗ lực, càng trong gian nan, bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam càng tỏa sáng; để phát triển nhanh, bền vững, phát triển xanh, phát triển số, phải tiếp tục phát huy tinh thần "chỉ bàn làm, không bàn lùi", coi trọng trí tuệ, tiết kiệm thời gian, lựa chọn ưu tiên phù hợp.
Mục tiêu tăng trưởng hai con số của Việt Nam là có nền tảng, có dư địa và khả thi. Với quyết tâm chính trị rất cao, nỗ lực rất lớn, hành động rất quyết liệt, Việt Nam rất mong tiếp tục nhận được sự đồng hành, ủng hộ, hỗ trợ của bạn bè, đối tác quốc tế trong thực hiện khát vọng lớn lao này; qua đó biến khát vọng và niềm tin thành hành động, thành các dự án, sản phẩm cụ thể với hiệu quả đo lường được, cân đong đo đếm được, mang lại hạnh phúc ấm no cho người dân Việt Nam.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 51-52-2025 phát hành ngày 22-29/12/2025. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://vneconomy.vn/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-5152-2025.htm
-
Kinh tế Việt Nam: Sức chống chịu kiên cường, sẵn sàng cho kỷ nguyên tăng trưởng mới
Trên cơ sở xác định rõ xu thế tất yếu, không thể đảo ngược của chuyển đổi xanh trong kỷ nguyên số, Việt Nam xác định rõ “chuyển đổi kép: xanh hóa và số hóa” là yêu cầu khách quan, là lựa chọn chiến lược, là ưu tiên đầu tư phát triển; vừa là nền tảng, vừa tạo động lực thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững của đất nước nói chung và nền kinh tế nói riêng.
Đảng, Nhà nước, Chính phủ Việt Nam luôn đặc biệt quan tâm và ban hành nhiều chủ trương, cơ chế, chính sách để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững dựa trên cơ sở nền tảng "chuyển đổi kép: xanh hóa và số hóa".
Nghị quyết Đại hội XIII xác định rõ: "Tiếp tục phát triển nhanh và bền vững đất nước"; "đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số trên nền tảng khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo"; "xây dựng nền kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, thân thiện với môi trường".
Bộ Chính trị đã tiếp tục ban hành và cụ thể hóa các quyết sách quan trọng trong các lĩnh vực trụ cột, chiến lược, gồm các Nghị quyết số: 57, 59, 66, 68, 70, 71, 72; đang xây dựng và chuẩn bị ban hành các nghị quyết về kinh tế nhà nước, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và văn hóa.
Song song với việc thông qua các đạo luật, Việt Nam còn ban hành các nghị quyết để kịp thời thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, với phương châm “không cầu toàn, không nóng vội nhưng không bỏ lỡ cơ hội”. Đây là sự đổi mới về tư duy, cách làm.
Đặc biệt, Nghị quyết số 57-NQ/TW nhấn mạnh phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu; thúc đẩy chuyển đổi số, nghiên cứu, chuyển giao công nghệ xanh, công nghệ phát thải thấp; kiến tạo phát triển các mô hình kinh tế mới, kinh tế số, kinh tế xanh; chuyển dịch mạnh mẽ từ năng lượng hóa thạch sang năng lượng tái tạo (gió, mặt trời, hydro xanh); phát triển hệ sinh thái công nghiệp năng lượng sạch,…
Tình hình thế giới, khu vực diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường, trong đó có những vấn đề chưa có tiền lệ, vượt dự báo như cạnh tranh chiến lược, xung đột quân sự, xu hướng đầu tư, thương mại toàn cầu tăng trưởng chậm lại, thiên tai và biến đổi khí hậu ảnh hưởng nặng nề đến các nước. Nhìn chung, khó khăn thách thức nhiều hơn cơ hội.
Đối với Việt Nam, nhờ sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, tình hình kinh tế - xã hội đất nước đạt nhiều kết quả nổi bật, khá toàn diện, cao hơn năm 2024 trên tất cả các lĩnh vực, như Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhận định: "Bức tranh kinh tế - xã hội đất nước năm 2025 với gam màu sáng là chủ đạo".
Nổi bật là kinh tế Việt Nam thể hiện sức chống chịu kiên cường và đạt tốc độ tăng trưởng thuộc nhóm cao hàng đầu khu vực, thế giới. GDP năm 2025 dự kiến tăng trên 8%, đưa quy mô nền kinh tế lên khoảng 510 tỷ USD, xếp thứ 32 thế giới; thu nhập bình quân đầu người khoảng 5.000 USD, đưa Việt Nam bước vào nhóm thu nhập trung bình cao.
Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn được bảo đảm; nợ công, bội chi ngân sách nhà nước được kiểm soát tốt, thấp hơn nhiều giới hạn cho phép. Chính phủ quan niệm đầu tư là có thể phải đi vay, nhưng quan trọng là phải có hiệu quả và có khả năng trả nợ.
Việt Nam kiểm soát tốt lạm phát trong cả giai đoạn 2021-2025, trong bối cảnh lạm phát toàn cầu neo ở mức cao. Thu ngân sách nhà nước ước vượt khoảng 25% so với dự toán, tương đương khoảng hơn 500 nghìn tỷ đồng; quy mô thương mại năm 2025 dự kiến đạt kỷ lục trên 900 tỷ USD…
Ba đột phá chiến lược được triển khai quyết liệt, hiệu quả, theo hướng “thể chế thông thoáng, hạ tầng thông suốt, quản trị và nguồn nhân lực thông minh”. Hiện tại, kết quả từ nỗ lực trên được thể hiện thông qua các công trình như hệ thống đường cao tốc tạo thành hành lang kinh tế quan trọng, bến cảng, sân bay, hạ tầng số được đầu tư. Việt Nam cũng cương quyết không để thiếu điện, đảm bảo niềm tin của nhà đầu tư.
Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia được triển khai quyết liệt, đạt kết quả bước đầu quan trọng. Hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo có bước phát triển mạnh mẽ; Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia và Trung tâm dữ liệu quốc gia đi vào hoạt động hiệu quả. Tỷ trọng kinh tế số năm 2025 đạt khoảng 20% GDP. Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu của Việt Nam năm 2025 xếp hạng 44/139 quốc gia, vùng lãnh thổ.
Triển khai quyết liệt, hiệu quả việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy của Chính phủ và tổ chức chính quyền địa phương hai cấp gắn với đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, phân bổ nguồn lực, nâng cao năng lực thực thi và tăng cường giám sát, kiểm tra.
Các lĩnh vực văn hóa, xã hội phát triển; đời sống vật chất, tinh thần của người dân tiếp tục được nâng lên. Giai đoạn 2021-2025, chi khoảng 1,1 triệu tỷ đồng cho an sinh xã hội, chiếm 17% tổng chi ngân sách nhà nước. Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm từ 4,4% năm 2021 xuống còn 1,3% năm 2025. Cơ bản hoàn thành xóa nhà tạm, nhà dột nát trên cả nước. Triển khai tích cực xây dựng 1 triệu căn hộ cho người thu nhập thấp.
Chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được củng cố, tăng cường; trật tự an toàn xã hội được bảo đảm. Đối ngoại và hội nhập quốc tế là điểm sáng, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển đất nước.
Nhiệm kỳ này đã chứng tỏ kinh tế Việt Nam đủ sức chống chịu với các cú sốc từ bên ngoài như đại dịch Covid-19 và hậu quả; chiến tranh, xung đột, đứt gãy các chuỗi cung ứng; chính sách tiền tệ thắt chặt của các nước; chính sách thuế quan phức tạp; tăng trưởng toàn cầu giảm, lạm phát toàn cầu tăng. Đây là những "cơn gió ngược" mà Việt Nam đã vượt qua để đạt được những thành quả như trên.
Trong năm 2026, khái quát tình hình thế giới: chính trị phân cực, kinh tế phân tách, thể chế phân mảnh, phát triển phân hóa.
Đối với Việt Nam, sau gần 40 năm Đổi mới và hội nhập, cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước được nâng lên, là nền tảng quan trọng để đất nước vươn mình trong kỷ nguyên phát triển mới. Việt Nam xác định rõ thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen, nhưng khó khăn, thách thức nhiều hơn.
Tình hình thế giới tiềm ẩn nhiều rủi ro, trong khi nền kinh tế Việt Nam có độ mở lớn; chất lượng tăng trưởng còn hạn chế, còn dựa vào thâm dụng lao động giá rẻ, tài nguyên và vốn; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo chưa thực sự là động lực của tăng trưởng và cần thời gian để phát huy hiệu quả hơn; thể chế, chính sách vẫn còn vướng mắc, cần tiếp tục hoàn thiện xử lý các "điểm nghẽn"; Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng lớn nhất bởi tác động của các thảm họa thiên tai, biến đổi khí hậu. Riêng các cơn bão lũ liên tiếp vừa qua đã gây thiệt hại khoảng 100 nghìn tỷ đồng.
Nông nghiệp đã giúp Việt Nam thoát đói nghèo sau cuộc chiến tranh tàn khốc; công nghiệp đã giúp Việt Nam có thu nhập trung bình cao. Thời gian tới, Việt Nam xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh sẽ đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững, trở thành nước phát triển có thu nhập cao.
Về mục tiêu chiến lược, Việt Nam kiên định, nhất quán tập trung thực hiện hai mục tiêu chiến lược 100 năm, phấn đấu đến năm 2030, trở thành một nước đang phát triển công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; năm 2045 là nước phát triển, thu nhập cao.
Để đạt được hai mục tiêu chiến lược nêu trên, Việt Nam xác định rõ ổn định là pháo đài bất khả xâm phạm; phát triển nhanh, bền vững là động cơ vĩnh cửu, không có điểm dừng; giàu mạnh, ấm no, hạnh phúc của người dân là mục tiêu cao nhất; không hy sinh tiến bộ, công bằng, an sinh xã hội, môi trường để chạy theo tăng trưởng đơn thuần.
Theo đó, thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững trên nền tảng "chuyển đổi kép: xanh hóa và số hóa", phấn đấu tăng trưởng đạt hai con số gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế; chú trọng nâng cao khả năng chống chịu, sức cạnh tranh của nền kinh tế; nâng cao năng lực phân tích, dự báo, chủ động ứng phó linh hoạt, kịp thời, hiệu quả với các biến động bên ngoài.
Đẩy mạnh thực hiện đột phá chiến lược về thể chế, biến điểm nghẽn của điểm nghẽn trở thành lợi thế cạnh tranh quốc gia, giảm chi phí tuân thủ cho người dân và doanh nghiệp. Đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao; ưu tiên các ngành mũi nhọn về khoa học, công nghệ, quản trị thông minh, khoa học cơ bản và các lĩnh vực ưu tiên, mới nổi. Tập trung xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng chiến lược thông suốt đồng bộ, hiện đại; qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho chuyển đổi số, chuyển đổi xanh.
Làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống và thúc đẩy mạnh mẽ các động lực tăng trưởng mới. Trong đó, tập trung triển khai quyết liệt Nghị quyết số 57-NQ/TW; đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh; chú trọng phát triển các ngành công nghiệp bán dẫn, AI, năng lượng sạch, trung tâm dữ liệu; xây dựng trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do…
Xây dựng các chương trình, đề án nghiên cứu khoa học có tính đột phá đối với 11 nhóm công nghệ chiến lược; xây dựng đồng bộ cơ sở dữ liệu về đất đai, khoáng sản, đưa dữ liệu thành tài nguyên; xây dựng các cơ sở nghiên cứu và phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao như điện tử, chíp bán dẫn, trí tuệ nhân tạo…
Khai thác tốt các không gian phát triển mới thông qua các dự án hạ tầng kết nối liên vùng, phát huy vai trò các mô hình kinh tế mới, khu thương mại tự do, trung tâm tài chính quốc tế trong thu hút vốn đầu tư, công nghệ...
Thúc đẩy, tạo đột phá cho các động lực tăng trưởng mới thông qua hoàn thiện cơ chế thử nghiệm để hỗ trợ phát triển kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn. Xây dựng cơ chế, chính sách phát triển doanh nghiệp công nghệ số; cơ chế khai thác không gian vũ trụ, không gian ngầm, không gian biển; phát triển công nghiệp đường sắt, công nghiệp ứng dụng năng lượng nguyên tử, lượng tử...
Tiếp tục đa dạng hóa các hình thức huy động nguồn lực; thúc đẩy xã hội hóa, thu hút mạnh mẽ nguồn lực đầu tư ngoài nhà nước. Ưu tiên thu hút FDI có chọn lọc, tái cấu trúc xuất khẩu gắn liền với cơ cấu nền kinh tế, sản xuất xanh, tuần hoàn, kết nối với đầu tư trong nước.
Lịch sử dân tộc Việt Nam đã chứng minh, truyền thống của người Việt Nam là càng áp lực lại càng nỗ lực, càng trong gian nan, bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam càng tỏa sáng; để phát triển nhanh, bền vững, phát triển xanh, phát triển số, phải tiếp tục phát huy tinh thần "chỉ bàn làm, không bàn lùi", coi trọng trí tuệ, tiết kiệm thời gian, lựa chọn ưu tiên phù hợp.
Mục tiêu tăng trưởng hai con số của Việt Nam là có nền tảng, có dư địa và khả thi. Với quyết tâm chính trị rất cao, nỗ lực rất lớn, hành động rất quyết liệt, Việt Nam rất mong tiếp tục nhận được sự đồng hành, ủng hộ, hỗ trợ của bạn bè, đối tác quốc tế trong thực hiện khát vọng lớn lao này; qua đó biến khát vọng và niềm tin thành hành động, thành các dự án, sản phẩm cụ thể với hiệu quả đo lường được, cân đong đo đếm được, mang lại hạnh phúc ấm no cho người dân Việt Nam.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 51-52-2025 phát hành ngày 22-29/12/2025. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://vneconomy.vn/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-5152-2025.htm
-