The Latest News

Quảng Trị tăng tốc chuyển đổi số

Thời báo kinh tế Việt Nam - Thu, 11/27/2025 - 07:26
Quảng Trị đang đẩy mạnh quá trình chuyển đổi số với trọng tâm là vận hành Nền tảng điều hành thông minh IOC, nâng cấp ứng dụng Công dân số QUANGTRI-S và mở rộng hệ thống cảnh báo thiên tai...

Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị cho biết đã phối hợp với Tập đoàn Viettel thử nghiệm Nền tảng IOC, kết nối dữ liệu dùng chung giữa các lĩnh vực kinh tế – xã hội, y tế, giáo dục, dịch vụ công; hệ thống camera giám sát, cảnh báo ngập lụt và cháy rừng. Việc thử nghiệm bước đầu đánh giá khả năng đồng bộ hóa dữ liệu và vận hành các phân hệ này theo hướng thống nhất, tạo tiền đề cho một hệ sinh thái số hoàn chỉnh của tỉnh.

Cùng với đó, Sở đang làm việc với Trung tâm IOC Huế để rà soát mô hình vận hành, từ đó lựa chọn các giải pháp phù hợp nhất để áp dụng cho Quảng Trị. Việc tham khảo kinh nghiệm từ Huế – nơi đã vận hành IOC hiệu quả được xem là bước đi quan trọng nhằm xây dựng mô hình điều hành thông minh ổn định, tiết kiệm và thực tiễn hơn.

Song song với IOC, ứng dụng Công dân số QUANGTRI-S cũng tiếp tục được hoàn thiện. Hiện ứng dụng đã tích hợp 18 dịch vụ tiện ích, tập trung vào các phân hệ phản ánh hiện trường, cảnh báo, giám sát an ninh – giao thông, cảnh báo ngập lụt… Hệ thống phản ánh hiện trường được nâng cấp và chuyển toàn bộ sang xử lý trên nền tảng Viettel, giúp rút ngắn thời gian tiếp nhận, phân loại và trả lời cho người dân.

Tính đến ngày 10/11/2025, hệ thống đã ghi nhận 1.400 phản ánh của người dân; trong đó 1.144 phản ánh đã được tiếp nhận và chuyển xử lý. Việc số hóa quy trình tiếp nhận – phản hồi không chỉ cải thiện hiệu quả quản lý mà còn tạo kênh tương tác trực tiếp giữa chính quyền và người dân, góp phần nâng cao tính minh bạch và sự hài lòng của công dân.

Trong thời gian tới, Sở Khoa học và Công nghệ tiếp tục phối hợp với Viettel nâng cấp ứng dụng QUANGTRI-S, hoàn thiện kết nối dữ liệu liên ngành, dự kiến hoàn thành trong tháng 12/2025. Riêng hệ thống cảnh báo ngập lụt sẽ được mở rộng với việc lắp mới 7 điểm cảnh báo tại các sông chính, đảm bảo hoàn thành trong tháng 12/2025. Đây được xem là giải pháp cấp thiết, góp phần tăng năng lực phòng chống thiên tai và hỗ trợ người dân chủ động trong mùa mưa lũ.

Ứng dụng QUANGTRI-S tích hợp 18 tiện ích, trở thành cầu nối giữa chính quyền và người dân

Bên cạnh nhóm nhiệm vụ về chuyển đổi số, tỉnh cũng đang triển khai Đề án “Giao doanh nghiệp cung ứng dịch vụ bưu chính công ích đảm nhận một số công việc trong quá trình hướng dẫn, tiếp nhận, số hóa hồ sơ, trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính”. Đến nay, Sở Khoa học và Công nghệ đã hoàn thiện và trình UBND tỉnh phê duyệt Đề án; đồng thời xây dựng dự thảo Quyết định của UBND tỉnh về định mức kinh tế – kỹ thuật và dự toán kinh phí thuê doanh nghiệp bưu chính công ích thực hiện các nhiệm vụ: hướng dẫn, tiếp nhận, số hóa hồ sơ và trả kết quả thủ tục hành chính.

Đề án này được kỳ vọng góp phần giảm tải cho bộ phận một cửa các cấp, đẩy nhanh tiến độ xử lý hồ sơ và tạo điều kiện cho người dân tiếp cận dịch vụ hành chính công thuận tiện hơn.

Bí thư Tỉnh ủy làm việc với các sở, ngành liên quan về Trung tâm điều hành thông minh IOC

Mới đây, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Trị Nguyễn Văn Phương đã làm việc với các sở, ngành liên quan về tiến độ triển khai Trung tâm Điều hành thông minh IOC. Tại buổi làm việc, đại diện lãnh đạo các đơn vị đã báo cáo chi tiết về các nhiệm vụ trọng tâm thời gian qua, từ kết nối dữ liệu, đồng bộ hệ thống cho đến thử nghiệm các phân hệ vận hành.

Nhiều khó khăn cũng được nêu rõ như việc chuẩn hóa dữ liệu của từng lĩnh vực, hạ tầng số còn phân tán, một số phân hệ cần thời gian hiệu chỉnh để đáp ứng yêu cầu quản lý. Các đơn vị đề xuất tiếp tục hoàn thiện cơ chế phối hợp, phân cấp rõ nhiệm vụ, bổ sung nguồn lực cho chuyển đổi số và có kế hoạch đầu tư lộ trình dài hạn cho IOC.

Lãnh đạo tỉnh Quảng Trị nhấn mạnh yêu cầu triển khai IOC phải gắn với hiệu quả thực tiễn, tránh dàn trải; đồng thời yêu cầu các sở, ngành tiếp tục rà soát, chủ động tháo gỡ vướng mắc, phát huy tinh thần đổi mới, để Trung tâm IOC sớm trở thành “bộ não” quản trị số của tỉnh. Việc triển khai ứng dụng dữ liệu dùng chung và các nền tảng số không chỉ phục vụ công tác điều hành mà còn mang lại lợi ích trực tiếp cho người dân, doanh nghiệp, góp phần xây dựng chính quyền số hiện đại.

-Nguyễn Thuấn

Categories: The Latest News

Giải quyết các thách thức để xây dựng danh mục các dự án PPP vững mạnh

Thời báo kinh tế Việt Nam - Thu, 11/27/2025 - 07:25
Đầu tư theo phương thức đối tác công-tư (PPP) tại Việt Nam vẫn còn đối mặt nhiều thách thức, đòi hỏi sự vào cuộc từ Chính phủ

Sau giai đoạn nỗ lực hoàn thiện khung pháp lý, Việt Nam đang có các cơ hội thúc đẩy làn sóng đầu tư theo phương thức đối tác công-tư (PPP). 

Tại chương trình Đối thoại cấp cao về PPP năm 2025 do Bộ Tài chính phối hợp với Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tổ chức ngày 25/11, ông Shantanu Chakraborty, Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) tại Việt Nam cho biết đồng hành cùng Việt Nam suốt 15 năm qua trong việc xây dựng nền tảng cho PPP, ADB đánh giá cao những nỗ lực cải cách của Chính phủ.

NHỮNG NỖ LỰC CỦA CHÍNH PHỦ VỀ KHUNG PHÁP LÝ TẠO NỀN TẢNG CHO PPP

Theo ông Chakraborty, những nỗ lực của Chính phủ Việt Nam được thể hiện rõ nét với Nghị định 15 năm 2015 và sau đó là Nghị định 63 năm 2018, nhằm giải quyết nhiều thách thức thực tiễn trong việc chuẩn bị dự án, chia sẻ rủi ro và lựa chọn nhà đầu tư.

Bên cạnh đó, Luật PPP mang tính bước ngoặt năm 2020 đã tập hợp tất cả những điều này vào một khuôn khổ thống nhất, duy nhất. Các sửa đổi gần đây vào năm 2024 và 2025 cũng cho thấy cam kết liên tục của Chính phủ trong việc cải thiện hệ thống và ứng phó với kinh nghiệm triển khai thực tế.

"Những tiến bộ này phản ánh một hành trình dài, đặt nền móng cho Việt Nam mở rộng quy mô PPP theo cách chiến lược và nhất quán," ông Chakraborty nhấn mạnh.

Tuy nhiên, ông Chakraborty cũng đã chỉ ra những "điểm nghẽn" thực tế cần vượt qua.

Thứ nhất, năng lực chuẩn bị dự án vẫn cần được cải thiện đáng kể. Việc phát triển một dự án PPP thực sự khả thi đòi hỏi các nghiên cứu khả thi chặt chẽ, phân tích rủi ro hợp lý và sự phối hợp chặt chẽ.

Thứ hai, phân bổ rủi ro vẫn là mối quan tâm đáng kể đối với các nhà đầu tư và bên cho vay. Sự rõ ràng về mô hình doanh thu, cơ chế hỗ trợ của Chính phủ và việc thực thi hợp đồng sẽ là điều cần thiết để cải thiện niềm tin của nhà đầu tư.

Thứ ba, các lựa chọn tài trợ dài hạn cần thiết cho các tài sản cơ sở hạ tầng có tuổi thọ cao vẫn còn hạn chế. Mặc dù các ngân hàng trong nước của Việt Nam đang ngày càng tích lũy kinh nghiệm với PPP, nhưng các vấn đề về kỳ hạn, khẩu vị rủi ro và các công cụ hiện có vẫn tiếp tục hạn chế các dự án lớn, dài hạn.

Thứ tư, việc lựa chọn nhà đầu tư tư nhân một cách cạnh tranh vẫn còn hạn chế, đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay khi Chính phủ đang ưu tiên đẩy nhanh tiến độ triển khai dự án để đáp ứng các mục tiêu tăng trưởng.

Nhiều dự án tiếp tục dựa vào các đề xuất tự nguyện và hợp đồng trực tiếp, điều này gây khó khăn cho việc đảm bảo giá trị đồng tiền, tính minh bạch và cạnh tranh - những yếu tố thiết yếu để thu hút các nhà đầu tư chất lượng cao.

Thứ năm, các lĩnh vực mới và đang nổi lên - chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, khoa học công nghệ và cơ sở hạ tầng xã hội - đòi hỏi các công cụ chính sách và mô hình hợp tác được cập nhật để phù hợp với nhu cầu riêng của họ.

"Mọi quốc gia đều phải đối mặt với thách thức khi chuyển từ khâu thiết kế chính sách sang triển khai thực tế trên quy mô lớn," ông Chakraborty cho biết. "Với sự hợp tác liên tục, Việt Nam có thể vượt qua những thách thức này và thu hút đầu tư tư nhân lớn hơn đáng kể trong những năm tới."

BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỂ THÚC ĐẨY PPP

Tại chương trình Đối thoại, các chuyên gia tập trung thảo luận về việc tiếp cận các mô hình PPP thế hệ mới, vượt ra khỏi khuôn khổ các dự án cầu đường truyền thống. Trong đó, các chuyên gia từ ADB đã giới thiệu mô hình "Chuyển đổi tài sản thành giá trị tài chính", một giải pháp được xem là chìa khóa để giải bài toán thiếu vốn đầu tư công.

Bà Rosemary Ong, Chuyên gia Trưởng về Phát triển Thị trường của ADB, đã dẫn chững dự án Sân bay Quốc tế Ninoy Aquino (NAIA) tại Philippines. NAIA là cơ hội đặc biệt để chính phủ khai thác tiềm năng chưa được khai thác của NAIA thông qua hình thức PPP, huy động vốn tư nhân và tận dụng chuyên môn của khu vực tư nhân

Thay vì tư duy quản lý cũ, Philippines đã áp dụng mô hình nhượng quyền khai thác (ROET) trong 15-25 năm. Cụ thể, tối ưu hóa và cải thiện hiệu suất -tăng công suất đường băng và đạt lưu lượng hàng không đỉnh điểm mỗi giờ lên 48 chuyến bay; Tối đa hóa công suất của sân bay -tăng công suất lên đến 62 triệu hành khách mỗi năm; Phát triển tiềm năng thương mại và thực hiện phát triển thương mại để nâng cao trải nghiệm của hành khách; Cung cấp các điều khoản tốt hơn cho việc luân chuyển nhân viên và "không ai bị bỏ lại phía sau" (tăng 25% thù lao cho nhân viên chính thức + đào tạo)

Kết quả, Nhà nước không mất quyền sở hữu tài sản mà còn thu về khoản chia sẻ doanh thu lên tới 82,16% từ nhà đầu tư trúng thầu, chưa kể khoản thanh toán trả trước khổng lồ.

"Đây là phương pháp huy động vốn và nâng cao hiệu quả vận hành mà không làm gia tăng nợ công. Nguồn vốn thu được từ việc nhượng quyền này có thể tái đầu tư vào các dự án hạ tầng mới ở các khu vực kém phát triển hơn," bà Rosemary Ong phân tích.

Trong khi đó, ông Eun Lee, Chuyên gia tư vấn phát triển thị trường, Văn phòng Phát triển Thị trường và Đối tác Công tư (OMDP), ADB lại chia sẻ về mô hình Phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD).

Ông dẫn chứng về Tuyến tàu điện Seoul số 9 (PPP + TOD). Dự án này kết hợp tuyến tàu điện mới với việc tái phát triển các khu thương mại cũ xung quanh các nhà ga chính, biến chúng thành các trung tâm sử dụng kết hợp có giá trị cao. Trong đó, các yếu tố TOD bao gồm các khu phát triển hỗn hợp phía trên Gangnam, Sinnonhyeon và các bến xe buýt tốc hành; Nguồn vốn thông qua cho thuê đất công và bán quyền sử dụng không gian; Hành lang Tuyến 9 đóng vai trò là chất xúc tác cho các dự án đầu tư tư nhân mới và tái phát triển mật độ cao hơn.

Kết quả là khoảng 12% tổng chi phí dự án được chi trả từ doanh thu TOD; Giá thuê thương mại dọc theo hành lang Tuyến 9 tăng 20–30% sau khi mở cửa; Doanh thu TOD đã giúp ổn định tình hình tài chính ban đầu của dự án và tăng cường tính khả thi về vốn của đơn vị vận hành tư nhân trong cơ cấu PPP.

Ông cho rằng mô hình này là một động lực tài chính cho phát triển hệ thống Metro tại các đô thị lớn (như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh). Việc khai thác quỹ đất và giá trị gia tăng từ các dự án giao thông sẽ tạo ra dòng tiền bền vững để nuôi chính hệ thống hạ tầng đó.

Hiện nay, thông qua dự án hỗ trợ kỹ thuật của ADB và các chương trình khác, ADB tiếp tục hợp tác chặt chẽ với các bộ, ngành, cơ quan chủ quản và các nhà phát triển dự án tại Việt Nam. Các hỗ trợ của ADB bao gồm từ cải cách chính sách và xây dựng năng lực đến chuẩn bị dự án và tư vấn giao dịch trong lĩnh vực giao thông, dịch vụ số, đổi mới sáng tạo và cơ sở hạ tầng xã hội.

"Trong hành trình phát triển của Việt Nam, PPP sẽ đóng vai trò ngày càng quan trọng trong việc cung cấp cơ sở hạ tầng hiện đại, bền vững và có khả năng phục hồi," ông Chakraborty chia sẻ. "Điều này đòi hỏi sự lãnh đạo, các thể chế vững mạnh, các dự án được chuẩn bị kỹ lưỡng và các mối quan hệ đối tác đáng tin cậy. Mục tiêu của chúng tôi rất đơn giản: giúp Việt Nam xây dựng một danh mục các dự án PPP vững mạnh, đáng tin cậy và sẵn sàng đầu tư, có thể thu hút vốn tư nhân chất lượng cao."

-Ngọc Lan

Categories: The Latest News

Dấu hiệu phục hồi của kinh tế Đức sau nửa thập kỷ trì trệ

Thời báo kinh tế Việt Nam - Thu, 11/27/2025 - 06:03
Đức, nền kinh tế lớn nhất châu Âu, đang cho thấy những dấu hiệu phục hồi sau hơn nửa thập kỷ trì trệ...

Sau khi hứng chịu nhiều cú sốc trong những năm gần đây, bao gồm giá năng lượng tăng mạnh do chiến tranh Nga - Ukraine, hàng rào thuế quan cao hơn ở Mỹ, và sự cạnh tranh khốc liệt từ Trung Quốc trong các ngành công nghiệp chủ chốt như ô tô, Đức đang tìm cách tái định hướng chiến lược kinh tế.

Những thách thức nói trên dường như đã trở thành hồi chuông cảnh tỉnh cho các nhà hoạch định chính sách và doanh nghiệp Đức. Họ đang đặt trọng tâm nhiều hơn vào đầu tư trong nước, vay mượn nhiều hơn để chi tiêu, và thúc đẩy nhu cầu nội địa, thay vì chỉ tập trung vào việc tìm kiếm người mua ở nước ngoài cho các hóa chất và ô tô - những sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Đức.

Từ năm 2019, tổng sản phẩm trong nước (GDP) của Đức hầu như không tăng trưởng, đánh dấu giai đoạn trì trệ kinh tế kéo dài nhất trong lịch sử hậu chiến của nước này. Tuy nhiên, theo dự báo mới được công bố đầu tháng này, Liên minh châu Âu (EU) kỳ vọng kinh tế Đức sẽ đạt tốc độ tăng trưởng hàng năm 1,2% trong cả năm 2026 và 2027.

Một yếu tố then chốt cho sự phục hồi này là gói chi tiêu cho các dự án dân sự và quốc phòng được các nhà lập pháp Đức thông qua vào tháng 3 năm nay, mở đường cho khoản đầu tư lên tới 1 nghìn tỷ euro.

Ông Robin Winkler, nhà kinh tế trưởng của ngân hàng Deutsche Bank, nhận định: "Sự phục hồi đang ở ngay trước mắt. Chúng ta chỉ cần chờ chính sách kích thích tài khóa thực sự phát huy tác dụng”.

Số liệu từ cơ quan thống kê Đức Destatis ngày 25/11 xác nhận GDP của Đức đi ngang trong quý 3, tránh được suy thoái. Lượng đơn đặt hàng và sản lượng công nghiệp đã tăng trong tháng 9, cùng với sự tăng trưởng của khu vực xuất khẩu. Ngân hàng Trung ương Đức (Bundesbank) dự báo nền kinh tế sẽ đạt mức tăng trưởng vừa phải trong quý 4, nhờ vào sự mở rộng của ngành dịch vụ và sự ổn định của hoạt động công nghiệp công nghiệp.

Gói chi tiêu khổng lồ của Chính phủ Đức đánh dấu sự tái định hướng lớn trong chính sách kinh tế của nước này, giảm bớt hai trụ cột lâu đời trong cách tiếp cận tăng trưởng của Berlin là tiết kiệm trong nước và xuất khẩu.

Việc giảm bớt phụ thuộc vào xuất khẩu ở Đức cũng phản ánh sự chuyển dịch trên toàn khu vực đồng sử dụng euro, khi thương mại toàn cầu ngày càng trở nên bấp bênh hơn. Trong một bài phát biểu vào tuần trước, Chủ tịch Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) Christine Lagarde nhấn mạnh vấn đề tự lực tự cường và cho rằng thế giới mà toàn cầu hóa xây dựng đang "biến mất”.

Tại Đức, chi tiêu chính phủ tăng được dự báo sẽ hỗ trợ cho sự chuyển đổi này. Một kế hoạch chi tiêu lớn đã được dành cho quốc phòng, nên lĩnh vực này có thể bù đắp cho sự giảm tốc trong sản xuất công nghiệp.

Tập đoàn quốc phòng Đức Rheinmetall đang tuyển dụng những công nhân bị sa thải từ ngành công nghiệp ô tô đang gặp khó khăn của nước này, nhằm phục vụ cho kế hoạch mở rộng sản xuất. Rheinmetall cũng tìm cách sử dụng các nhà máy ô tô đang ngừng hoạt động như của tập đoàn Volkswagen.

Tuy nhiên, một câu hỏi lớn việc triển khai gói chi tiêu này sẽ đạt hiệu quả như thế nào. Các dự án cơ sở hạ tầng cần thời gian để khởi động, trong khi vấn đề năng lực - đặc biệt là thiếu hụt lao động - có thể gây ra sự chậm trễ hơn nữa. Những yếu tố này có thể đẩy chi phí lên cao hơn.

Ông Dirk Schumacher, nhà kinh tế trưởng tại công ty KfW, cho biết: "Nếu tất cả những cố gắng này dẫn đến hệ quả lạm phát cao, đó sẽ là một thảm họa. Nhưng đó không phải là điều mà chúng tôi dự báo”.

Ông nói thêm rằng trong các ngành như xây dựng, năng lực đủ để triển khai đầu tư đã sẵn sàng.

Ngành xây dựng có thể chứng minh là trung tâm cho hy vọng phục hồi của nền kinh tế Đức. Ngành này đã phải đối mặt với một cuộc suy thoái sâu trong 3 năm qua, chiếm khoảng 50% sản lượng bị mất trong nền kinh tế. Nhưng không giống như lĩnh vực sản xuất, cuộc khủng hoảng này của ngành xây dựng mang tính chu kỳ hơn là cấu trúc và đang chuẩn bị cho một sự phục hồi - theo ông Winkler.

Còn theo các nhà phân tích tại ngân hàng BNP Paribas, Chính phủ Đức đang trên đà thực hiện các kế hoạch đầu tư và chi tiêu quốc phòng cho năm 2025. Tuy nhiên, đầu tư cũng đối mặt với những trở ngại chính trị. Những vết rạn trong liên minh cầm quyền mong manh của Đức có thể tạo ra những trở ngại cho việc thực hiện kế hoạch, trong khi mối đe dọa từ đảng cực hữu AFD có nghĩa rằng việc thực thi kế hoạch sẽ rất quan trọng cho tương lai chính trị của Thủ tướng Friedrich Merz.

Một báo cáo gần đây của Hội đồng Chuyên gia Kinh tế Đức gợi ý rằng cần có "những cải thiện đáng kể" trong chiến lược đầu tư của Chính phủ để đảm bảo các cơ hội tăng trưởng không bị bỏ lỡ, bao gồm các cải cách cấu trúc toàn diện. Tuy nhiên, nếu thực hiện đúng, việc cải cách đó có thể mang tới thêm những lợi ích cho nền kinh tế Đức - theo các nhà phân tích tại ngân hàng Morgan Stanley.

-An Huy

Categories: The Latest News

Thủ tướng Phạm Minh Chính đối thoại với Giám đốc điều hành WEF

Thời Báo Kinh Tế - Wed, 11/26/2025 - 22:31
Chiều 26/11 tại Diễn đàn kinh tế mùa thu 2025 đã diễn ra phiên đối thoại chính sách cấp cao giữa Thủ tướng Phạm Minh Chính đối thoại với ông Stephan Mergenthaler, Giám đốc điều hành của Diễn đàn Kinh tế thế giới với chủ đề “Khoa học, công nghệ định hình Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình”.

 Phiên đối thoại hướng đến ba mục tiêu chính:

Thứ nhất, trao đổi định hướng chiến lược phát triển của Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình, với trọng tâm là chuyển đổi xanh và chuyển đổi số;

Thứ hai, khẳng định cam kết và vai trò của Việt Nam đối với cộng đồng quốc tế trong thúc đẩy tăng trưởng xanh, phát triển bền vững và mục tiêu Net Zero 2050.

Thứ ba, thúc đẩy hợp tác toàn cầu về công nghệ, tài chính, đổi mới sáng tạo và nhân lực, góp phần định hình vị thế Việt Nam trong trật tự kinh tế mới.

Theo ông, đâu là những quyết định đúng đắn giúp Việt Nam tiến tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao đến năm 2045?

Năm nay, chúng tôi kỷ niệm 80 năm thống nhất đất nước và 50 năm giải phóng miền Nam. Trong 80 năm đó, gần 40 năm đất nước chìm trong chiến tranh. Đến hôm nay, hậu quả vẫn còn hiện hữu. Sau chiến tranh, Việt Nam tiếp tục trải qua 30 năm bị bao vây, cấm vận, bắt đầu từ năm 1964 đối với miền Bắc và sau khi thống nhất thì áp dụng cho toàn quốc, kéo dài đến năm 1994. Có thể hình dung mức độ khó khăn, thách thức lớn đến thế nào. Tuy nhiên, chúng tôi không sống mãi với quá khứ mà xác định hai định hướng lớn để tiến tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao:

Thứ nhất, Việt Nam kiên trì chủ trương “gác lại quá khứ, hướng tới tương lai”, tôn trọng sự khác biệt và chủ động mở rộng quan hệ đối ngoại. Nhiều quốc gia từng là đối thủ trong quá khứ nay đã trở thành bạn bè, đối tác, thậm chí là đối tác chiến lược toàn diện. Đây là một trong những quyết định quan trọng, mang tính nền tảng cho phát triển đất nước.

Thứ hai, khoa học và công nghệ là con đường để Việt Nam hướng tới mục tiêu trở thành nước thu nhập cao vào năm 2045. Nhìn lại quá trình phát triển, Việt Nam đi lên từ một nền kinh tế nông nghiệp và là một quốc gia nghèo với nền văn minh lúa nước. Chính nỗ lực chuyển đổi từ nông nghiệp sang công nghiệp, trong đó phát triển khoa học – công nghệ sẽ là yếu tố then chốt giúp đất nước bắt kịp xu thế mới và hướng tới mục tiêu đạt thu nhập cao vào năm 2045.

Vậy yếu tố nào giúp Việt Nam tăng cường khả năng chống chịu trong bối cảnh thế giới nhiều biến động?

Để trả lời câu hỏi này, tôi muốn nhắc đến bài học từ châu Phi – nơi vừa tổ chức thành công Hội nghị G20. Dù còn nhiều hạn chế về điều kiện tổ chức, châu Phi đã quy tụ được khoảng 60 đoàn tham dự, thể hiện tinh thần đoàn kết, tự tin và khát vọng phát triển rất mạnh mẽ. Điều đó cho thấy châu Phi vẫn là một không gian phát triển lớn, cần được cộng đồng quốc tế đồng hành để khai thác tiềm năng và thoát nghèo.

Từ câu chuyện đó, có thể thấy chủ đề của G20 lần này – đoàn kết, bình đẳng và bền vững – phản ánh đúng nhu cầu của thế giới. Thế giới cần đoàn kết để tạo sức mạnh, cần bình đẳng giữa các quốc gia, và cần phát triển bền vững, bảo đảm tiến bộ, an sinh xã hội và hài hòa giữa con người và thiên nhiên.

Hội nghị cũng chỉ ra các thách thức toàn cầu: chính trị phân cực, kinh tế phân mảnh, thể chế phân tách, phát triển không đồng đều; tăng trưởng chậm sau đại dịch; xu hướng bảo hộ thương mại khiến chuỗi cung ứng đứt gãy; dịch chuyển dòng hàng hóa gây áp lực lên sản xuất – kinh doanh và sinh kế của người dân.

Bên cạnh đó là những thách thức từ nội tại: thảm họa thiên nhiên ngày càng khốc liệt – như tại Việt Nam, năm 2025 ghi nhận lượng mưa kỷ lục tới 1.740 mm chỉ trong một ngày; già hóa dân số; an ninh mạng; và sự phát triển nhanh của trí tuệ nhân tạo (AI) đang đe dọa nhiều loại hình việc làm. Dù vậy, chúng ta không bi quan bởi trong khó khăn luôn xuất hiện cơ hội, ôi cho rằng thế giới vẫn có ba điểm sáng:

Thứ nhất, xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là dòng chảy chủ đạo.

Thứ hai, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh tiếp tục là động lực mạnh mẽ giúp giảm các tác động tiêu cực.

Thứ ba, liên kết kinh tế đang được thúc đẩy, bù đắp cho những thiếu hụt và tăng cường khả năng phục hồi.

Đối với Việt Nam, nhiều chỉ số cho thấy chúng ta đang đi ngược chiều xu thế suy giảm. Tăng trưởng duy trì tích cực; nợ công giảm mạnh từ 56% GDP xuống khoảng 36% trong 5 năm; kinh tế vĩ mô ổn định; chính trị – xã hội được bảo đảm; uy tín quốc tế ngày càng tăng. Có năm yếu tố giúp Việt Nam vượt qua khó khăn đến từ ngoại cảnh và nội tại:

Thứ nhất là sự lãnh đạo thống nhất của một Đảng. Việt Nam đặt trọng tâm cao nhất vào sự tự do, hạnh phúc của nhân dân;

Thứ hai là sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc. Càng khó khăn càng được phát huy – đúng như tinh thần Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; thành công, thành công, đại thành công”;

Thứ ba, sức mạnh của cộng đồng doanh nghiệp, lực lượng trực tiếp tạo ra của cải và việc làm;

Thứ tư, kết hợp hài hòa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; kiên định đường lối độc lập, tự chủ;

Thứ năm, phát triển nền kinh tế tự lực, tự cường, kiên trì mục tiêu đi lên chủ nghĩa xã hội.

Trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam đã xác định chiến lược kép gồm chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Ông có thể phân tích rõ hơn vì sao chiến lược kép này lại được xem là chìa khóa cho tăng trưởng dài hạn của đất nước? Và ở góc độ quốc gia, các cam kết của Việt Nam trong lĩnh vực này gắn kết như thế nào với những cam kết quốc tế về phát triển bền vững?

Tôi cho rằng đây là câu hỏi trọng tâm, bởi chiến lược kép không chỉ là định hướng phát triển của Việt Nam, mà còn là cách chúng tôi hòa nhịp với trào lưu phát triển xanh – bền vững đang diễn ra trên toàn cầu. Việt Nam chọn chiến lược kép chuyển đổi xanh – chuyển đổi số làm định hướng trung tâm trong giai đoạn phát triển tiếp theo, chúng tôi khẳng định đây không chỉ là ưu tiên mà là yêu cầu tất yếu của một nền kinh tế mong muốn tăng trưởng nhanh và bền vững.

Chuyển đổi xanh và chuyển đổi số là hai mặt của cùng một quá trình, hỗ trợ và thúc đẩy lẫn nhau.Phát triển xanh đòi hỏi công nghệ số để tối ưu hóa năng lượng, giảm phát thải và quản lý hiệu quả. Ngược lại, phát triển số cũng chính là công cụ để đẩy nhanh quá trình xanh hóa. Do vậy, chiến lược kép không phải hai con đường tách rời mà là một vòng tuần hoàn kết nối chặt chẽ, cùng hướng đến mô hình tăng trưởng mới.

Điều kiện đầu tiên của quá trình chuyển đổi là nâng cao nhận thức. Xã hội phải hiểu đúng vai trò sống còn của chuyển đổi xanh – số, từ đó chuyển hóa thành hành động cụ thể, chính sách cụ thể và kết quả cụ thể. “Nhận thức đúng mới dẫn đến hành động đúng.”

Điểm then chốt tiếp theo là thể chế. Muốn chuyển đổi thành công phải có hệ thống pháp luật minh bạch, thống nhất, tạo điều kiện cho đổi mới sáng tạo. “Thể chế phải đi trước, dẫn đường.” Việt Nam đang đổi mới thể chế để biến các điểm nghẽn thành lợi thế cạnh tranh quốc gia.

Tuy nhiều thủ tục hiện vẫn gây vướng mắc, nhiệm vụ của Chính phủ là cải cách mạnh mẽ để tạo môi trường thuận lợi, đặc biệt cho các ngành kinh tế số, kinh tế xanh, năng lượng tái tạo.

Để phát triển xanh, Việt Nam cần hạ tầng xanh: nguồn điện xanh, lưới truyền tải xanh, phân phối – tiêu dùng điện chuẩn xanh, cùng cơ chế giá cho năng lượng xanh.

Tương tự, để phát triển số, phải có hạ tầng số hiện đại: cơ sở dữ liệu quốc gia liên thông, khả năng kết nối rộng khắp, nền tảng viễn thông – số đủ mạnh để doanh nghiệp và người dân khai thác. Không có hạ tầng, mọi chiến lược chỉ nằm trên giấy.

Tuy nhiên phát triển kinh tế luôn gắn liền với trình độ phát triển nguồn nhân lực. Ở mỗi nấc thang – từ nước kém phát triển, đang phát triển đến nước phát triển – yêu cầu về nhân lực khác nhau. Do đó, đào tạo và hợp tác phát triển nhân lực là điều kiện tiên quyết, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa doanh nghiệp, cơ sở sản xuất và hệ thống giáo dục. Chúng tôi đang triển khai ba đột phá chiến lược để thực hiện mục tiêu kép:

Thứ nhất là đột phá về thể chế để bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh, minh bạch, giảm chi phí đầu vào.

Thứ hai là đột phá về hạ tầng chiến lược, giao thông, hạ tầng số, hạ tầng xanh; giảm chi phí logistics, tăng khả năng cạnh tranh và thu hút đầu tư.

Thứ ba là đột phá về nguồn nhân lực chất lượng cao. Chúng tôi xem đây là yếu tố quyết định của mọi quyết định.”

Trong bối cảnh hơn 95–97% doanh nghiệp tại Việt Nam là doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME), lực lượng này được xác định là trụ cột của nền kinh tế, đóng góp GDP, tạo việc làm và giải quyết các vấn đề xã hội. Các chính sách hỗ trợ SME được xây dựng dựa trên ba nhu cầu: thể chế thông thoáng, hạ tầng giảm chi phí, và nhân lực – năng lực quản trị phù hợp từng cấp độ doanh nghiệp. Việt Nam hiện có hơn một triệu doanh nghiệp và 5 triệu hộ kinh doanh, một nguồn lực lớn đang được thúc đẩy chuyển hóa vào khu vực kinh tế chính thức.

Song song với đó, Việt Nam khuyến khích tinh thần khởi nghiệp từ sớm, hỗ trợ học sinh – sinh viên về pháp lý, tài chính, kỹ năng quản trị và đổi mới sáng tạo. Người Việt Nam – đặc biệt thanh niên – có khát vọng lớn, sẵn sàng dấn thân khi được trao cơ hội.

Hiện chúng tôi đang triển khai đào tạo 100.000 nhân lực trong các lĩnh vực thiết kế, sản xuất chip và trí tuệ nhân tạo, xem đây là lực lượng nòng cốt cho giai đoạn phát triển mới.

Hội nghị Davos tại Thụy Sĩ sắp tới với chủ đề trọng tâm là “đối thoại”. Theo ông, trong bối cảnh thế giới ngày càng đa cực và phức tạp, Việt Nam duy trì đối thoại như thế nào và vai trò của Việt Nam trong thúc đẩy đối thoại quốc tế ra sao?

Chúng tôi cho rằng, để đối thoại thực sự hiệu quả, cần phải kích hoạt những giá trị chung, bởi chỉ khi có điểm chung thì các bên mới sẵn sàng lắng nghe và tìm kiếm sự đồng thuận. Giá trị chung tạo nền tảng vững chắc cho đối thoại, giúp vượt qua khác biệt và mở ra các cơ hội hợp tác.

Việt Nam luôn sẵn sàng trở thành cầu nối trung gian cho các cuộc đối thoại quốc tế, góp phần tạo dựng sự hiểu biết và hòa giải. Việt Nam tự hào là điểm đến cho các cuộc đối thoại lớn, điển hình như cuộc gặp gỡ lịch sử năm 2019 giữa Tổng thống Donald Trump và Nhà lãnh đạo Kim Jong Un, khi Việt Nam đã tạo ra không gian an toàn, thuận lợi để các bên gặp gỡ và trao đổi.

Chủ đề “đối thoại” trong bối cảnh hiện nay rất “đúng và trúng”. Giữa nhiều bất đồng, xung đột và chia rẽ trên thế giới, đối thoại không chỉ là giải pháp hiệu quả mà còn là con đường duy nhất để xây dựng hòa bình, củng cố niềm tin và cùng tiến tới phát triển bền vững.

Theo ông, ASEAN có tầm nhìn dài hạn như thế nào và vị trí của khu vực này trên thế giới?

Tuyên ngôn của ASEAN là đoàn kết, thống nhất trong đa dạng, phát huy tối đa giá trị cốt lõi, nền văn hoá đậm đà bản sắc. Tầm nhìn Asean cũng mang tầm nhìn của thời đại: phát triển nhanh nhưng phải bền vững.

Tầm nhìn xây dựng ASEAN đến năm 2045 là trở thành một khu vực phát triển bền vững, trong đó sự đoàn kết khối được đặt lên hàng đầu bởi “một khối không đoàn kết sẽ không thể làm nên điều gì.” Theo quan điểm này, nơi nào còn xảy ra xung đột thì nơi đó vẫn tồn tại đói nghèo, và để xóa nghèo phải chấm dứt mọi cuộc chiến tranh, duy trì ổn định chính trị – xã hội. Do đó, hợp tác giữa các quốc gia trong khối là yếu tố then chốt để khai thác tiềm năng khác biệt, tận dụng cơ hội nổi trội và lợi thế cạnh tranh riêng của từng nước, từ đó biến những tiềm năng riêng lẻ thành lợi thế chung cho toàn khu vực.

Bên cạnh đó, ASEAN cần tiến cùng thời đại bằng cách thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, trong đó chuyển đổi xanh và chuyển đổi số là không thể thiếu. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu chung nhằm tạo dựng “trí tuệ chung” cho khu vực sẽ là nền tảng quan trọng để phát triển các công nghệ mới và thúc đẩy sáng tạo liên tục trong tương lai.

Công nghệ ngày càng tác động sâu rộng đến nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực logistics, nơi phụ thuộc nhiều vào lực lượng lao động. Làm thế nào để chuẩn bị lực lượng trẻ sẵn sàng ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong công cuộc chuyển đổi này?

Sự phát triển của đất nước gắn liền mật thiết với sự tiến bộ của từng cá nhân, trong đó con người, đặc biệt là thế hệ trẻ, luôn được đặt làm trung tâm. Chính phủ Việt Nam cam kết nâng cao nhận thức cho thế hệ trẻ, đồng thời xây dựng cơ chế chính sách tạo điều kiện thuận lợi để họ có không gian sáng tạo, tiếp cận tri thức và phát triển kỹ năng.

Những chính sách hỗ trợ cụ thể bao gồm ưu đãi về thuế, phí, lãi suất ngân hàng cho các dự án khởi nghiệp của người trẻ, cùng với các chương trình hỗ trợ nguồn nhân lực chất lượng cao. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng chú trọng tạo dựng không gian kết nối, giao lưu với thế hệ trẻ toàn cầu, nhằm thúc đẩy sự hợp tác và học hỏi kinh nghiệm trong việc ứng dụng AI và công nghệ hiện đại vào ngành logistics và các lĩnh vực khác của nền kinh tế.

-Như Quỳnh

Categories: The Latest News

Thủ tướng Phạm Minh Chính đối thoại với Giám đốc điều hành WEF

Thời báo kinh tế Việt Nam - Wed, 11/26/2025 - 22:31
Chiều 26/11 tại Diễn đàn kinh tế mùa thu 2025 đã diễn ra phiên đối thoại chính sách cấp cao giữa Thủ tướng Phạm Minh Chính đối thoại với ông Stephan Mergenthaler, Giám đốc điều hành của Diễn đàn Kinh tế thế giới với chủ đề “Khoa học, công nghệ định hình Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình”.

 Phiên đối thoại hướng đến ba mục tiêu chính:

Thứ nhất, trao đổi định hướng chiến lược phát triển của Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình, với trọng tâm là chuyển đổi xanh và chuyển đổi số;

Thứ hai, khẳng định cam kết và vai trò của Việt Nam đối với cộng đồng quốc tế trong thúc đẩy tăng trưởng xanh, phát triển bền vững và mục tiêu Net Zero 2050.

Thứ ba, thúc đẩy hợp tác toàn cầu về công nghệ, tài chính, đổi mới sáng tạo và nhân lực, góp phần định hình vị thế Việt Nam trong trật tự kinh tế mới.

Theo ông, đâu là những quyết định đúng đắn giúp Việt Nam tiến tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao đến năm 2045?

Năm nay, chúng tôi kỷ niệm 80 năm thống nhất đất nước và 50 năm giải phóng miền Nam. Trong 80 năm đó, gần 40 năm đất nước chìm trong chiến tranh. Đến hôm nay, hậu quả vẫn còn hiện hữu. Sau chiến tranh, Việt Nam tiếp tục trải qua 30 năm bị bao vây, cấm vận, bắt đầu từ năm 1964 đối với miền Bắc và sau khi thống nhất thì áp dụng cho toàn quốc, kéo dài đến năm 1994. Có thể hình dung mức độ khó khăn, thách thức lớn đến thế nào. Tuy nhiên, chúng tôi không sống mãi với quá khứ mà xác định hai định hướng lớn để tiến tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao:

Thứ nhất, Việt Nam kiên trì chủ trương “gác lại quá khứ, hướng tới tương lai”, tôn trọng sự khác biệt và chủ động mở rộng quan hệ đối ngoại. Nhiều quốc gia từng là đối thủ trong quá khứ nay đã trở thành bạn bè, đối tác, thậm chí là đối tác chiến lược toàn diện. Đây là một trong những quyết định quan trọng, mang tính nền tảng cho phát triển đất nước.

Thứ hai, khoa học và công nghệ là con đường để Việt Nam hướng tới mục tiêu trở thành nước thu nhập cao vào năm 2045. Nhìn lại quá trình phát triển, Việt Nam đi lên từ một nền kinh tế nông nghiệp và là một quốc gia nghèo với nền văn minh lúa nước. Chính nỗ lực chuyển đổi từ nông nghiệp sang công nghiệp, trong đó phát triển khoa học – công nghệ sẽ là yếu tố then chốt giúp đất nước bắt kịp xu thế mới và hướng tới mục tiêu đạt thu nhập cao vào năm 2045.

Vậy yếu tố nào giúp Việt Nam tăng cường khả năng chống chịu trong bối cảnh thế giới nhiều biến động?

Để trả lời câu hỏi này, tôi muốn nhắc đến bài học từ châu Phi – nơi vừa tổ chức thành công Hội nghị G20. Dù còn nhiều hạn chế về điều kiện tổ chức, châu Phi đã quy tụ được khoảng 60 đoàn tham dự, thể hiện tinh thần đoàn kết, tự tin và khát vọng phát triển rất mạnh mẽ. Điều đó cho thấy châu Phi vẫn là một không gian phát triển lớn, cần được cộng đồng quốc tế đồng hành để khai thác tiềm năng và thoát nghèo.

Từ câu chuyện đó, có thể thấy chủ đề của G20 lần này – đoàn kết, bình đẳng và bền vững – phản ánh đúng nhu cầu của thế giới. Thế giới cần đoàn kết để tạo sức mạnh, cần bình đẳng giữa các quốc gia, và cần phát triển bền vững, bảo đảm tiến bộ, an sinh xã hội và hài hòa giữa con người và thiên nhiên.

Hội nghị cũng chỉ ra các thách thức toàn cầu: chính trị phân cực, kinh tế phân mảnh, thể chế phân tách, phát triển không đồng đều; tăng trưởng chậm sau đại dịch; xu hướng bảo hộ thương mại khiến chuỗi cung ứng đứt gãy; dịch chuyển dòng hàng hóa gây áp lực lên sản xuất – kinh doanh và sinh kế của người dân.

Bên cạnh đó là những thách thức từ nội tại: thảm họa thiên nhiên ngày càng khốc liệt – như tại Việt Nam, năm 2025 ghi nhận lượng mưa kỷ lục tới 1.740 mm chỉ trong một ngày; già hóa dân số; an ninh mạng; và sự phát triển nhanh của trí tuệ nhân tạo (AI) đang đe dọa nhiều loại hình việc làm. Dù vậy, chúng ta không bi quan bởi trong khó khăn luôn xuất hiện cơ hội, ôi cho rằng thế giới vẫn có ba điểm sáng:

Thứ nhất, xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là dòng chảy chủ đạo.

Thứ hai, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh tiếp tục là động lực mạnh mẽ giúp giảm các tác động tiêu cực.

Thứ ba, liên kết kinh tế đang được thúc đẩy, bù đắp cho những thiếu hụt và tăng cường khả năng phục hồi.

Đối với Việt Nam, nhiều chỉ số cho thấy chúng ta đang đi ngược chiều xu thế suy giảm. Tăng trưởng duy trì tích cực; nợ công giảm mạnh từ 56% GDP xuống khoảng 36% trong 5 năm; kinh tế vĩ mô ổn định; chính trị – xã hội được bảo đảm; uy tín quốc tế ngày càng tăng. Có năm yếu tố giúp Việt Nam vượt qua khó khăn đến từ ngoại cảnh và nội tại:

Thứ nhất là sự lãnh đạo thống nhất của một Đảng. Việt Nam đặt trọng tâm cao nhất vào sự tự do, hạnh phúc của nhân dân;

Thứ hai là sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc. Càng khó khăn càng được phát huy – đúng như tinh thần Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; thành công, thành công, đại thành công”;

Thứ ba, sức mạnh của cộng đồng doanh nghiệp, lực lượng trực tiếp tạo ra của cải và việc làm;

Thứ tư, kết hợp hài hòa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; kiên định đường lối độc lập, tự chủ;

Thứ năm, phát triển nền kinh tế tự lực, tự cường, kiên trì mục tiêu đi lên chủ nghĩa xã hội.

Trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam đã xác định chiến lược kép gồm chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Ông có thể phân tích rõ hơn vì sao chiến lược kép này lại được xem là chìa khóa cho tăng trưởng dài hạn của đất nước? Và ở góc độ quốc gia, các cam kết của Việt Nam trong lĩnh vực này gắn kết như thế nào với những cam kết quốc tế về phát triển bền vững?

Tôi cho rằng đây là câu hỏi trọng tâm, bởi chiến lược kép không chỉ là định hướng phát triển của Việt Nam, mà còn là cách chúng tôi hòa nhịp với trào lưu phát triển xanh – bền vững đang diễn ra trên toàn cầu. Việt Nam chọn chiến lược kép chuyển đổi xanh – chuyển đổi số làm định hướng trung tâm trong giai đoạn phát triển tiếp theo, chúng tôi khẳng định đây không chỉ là ưu tiên mà là yêu cầu tất yếu của một nền kinh tế mong muốn tăng trưởng nhanh và bền vững.

Chuyển đổi xanh và chuyển đổi số là hai mặt của cùng một quá trình, hỗ trợ và thúc đẩy lẫn nhau.Phát triển xanh đòi hỏi công nghệ số để tối ưu hóa năng lượng, giảm phát thải và quản lý hiệu quả. Ngược lại, phát triển số cũng chính là công cụ để đẩy nhanh quá trình xanh hóa. Do vậy, chiến lược kép không phải hai con đường tách rời mà là một vòng tuần hoàn kết nối chặt chẽ, cùng hướng đến mô hình tăng trưởng mới.

Điều kiện đầu tiên của quá trình chuyển đổi là nâng cao nhận thức. Xã hội phải hiểu đúng vai trò sống còn của chuyển đổi xanh – số, từ đó chuyển hóa thành hành động cụ thể, chính sách cụ thể và kết quả cụ thể. “Nhận thức đúng mới dẫn đến hành động đúng.”

Điểm then chốt tiếp theo là thể chế. Muốn chuyển đổi thành công phải có hệ thống pháp luật minh bạch, thống nhất, tạo điều kiện cho đổi mới sáng tạo. “Thể chế phải đi trước, dẫn đường.” Việt Nam đang đổi mới thể chế để biến các điểm nghẽn thành lợi thế cạnh tranh quốc gia.

Tuy nhiều thủ tục hiện vẫn gây vướng mắc, nhiệm vụ của Chính phủ là cải cách mạnh mẽ để tạo môi trường thuận lợi, đặc biệt cho các ngành kinh tế số, kinh tế xanh, năng lượng tái tạo.

Để phát triển xanh, Việt Nam cần hạ tầng xanh: nguồn điện xanh, lưới truyền tải xanh, phân phối – tiêu dùng điện chuẩn xanh, cùng cơ chế giá cho năng lượng xanh.

Tương tự, để phát triển số, phải có hạ tầng số hiện đại: cơ sở dữ liệu quốc gia liên thông, khả năng kết nối rộng khắp, nền tảng viễn thông – số đủ mạnh để doanh nghiệp và người dân khai thác. Không có hạ tầng, mọi chiến lược chỉ nằm trên giấy.

Tuy nhiên phát triển kinh tế luôn gắn liền với trình độ phát triển nguồn nhân lực. Ở mỗi nấc thang – từ nước kém phát triển, đang phát triển đến nước phát triển – yêu cầu về nhân lực khác nhau. Do đó, đào tạo và hợp tác phát triển nhân lực là điều kiện tiên quyết, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa doanh nghiệp, cơ sở sản xuất và hệ thống giáo dục. Chúng tôi đang triển khai ba đột phá chiến lược để thực hiện mục tiêu kép:

Thứ nhất là đột phá về thể chế để bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh, minh bạch, giảm chi phí đầu vào.

Thứ hai là đột phá về hạ tầng chiến lược, giao thông, hạ tầng số, hạ tầng xanh; giảm chi phí logistics, tăng khả năng cạnh tranh và thu hút đầu tư.

Thứ ba là đột phá về nguồn nhân lực chất lượng cao. Chúng tôi xem đây là yếu tố quyết định của mọi quyết định.”

Trong bối cảnh hơn 95–97% doanh nghiệp tại Việt Nam là doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME), lực lượng này được xác định là trụ cột của nền kinh tế, đóng góp GDP, tạo việc làm và giải quyết các vấn đề xã hội. Các chính sách hỗ trợ SME được xây dựng dựa trên ba nhu cầu: thể chế thông thoáng, hạ tầng giảm chi phí, và nhân lực – năng lực quản trị phù hợp từng cấp độ doanh nghiệp. Việt Nam hiện có hơn một triệu doanh nghiệp và 5 triệu hộ kinh doanh, một nguồn lực lớn đang được thúc đẩy chuyển hóa vào khu vực kinh tế chính thức.

Song song với đó, Việt Nam khuyến khích tinh thần khởi nghiệp từ sớm, hỗ trợ học sinh – sinh viên về pháp lý, tài chính, kỹ năng quản trị và đổi mới sáng tạo. Người Việt Nam – đặc biệt thanh niên – có khát vọng lớn, sẵn sàng dấn thân khi được trao cơ hội.

Hiện chúng tôi đang triển khai đào tạo 100.000 nhân lực trong các lĩnh vực thiết kế, sản xuất chip và trí tuệ nhân tạo, xem đây là lực lượng nòng cốt cho giai đoạn phát triển mới.

Hội nghị Davos tại Thụy Sĩ sắp tới với chủ đề trọng tâm là “đối thoại”. Theo ông, trong bối cảnh thế giới ngày càng đa cực và phức tạp, Việt Nam duy trì đối thoại như thế nào và vai trò của Việt Nam trong thúc đẩy đối thoại quốc tế ra sao?

Chúng tôi cho rằng, để đối thoại thực sự hiệu quả, cần phải kích hoạt những giá trị chung, bởi chỉ khi có điểm chung thì các bên mới sẵn sàng lắng nghe và tìm kiếm sự đồng thuận. Giá trị chung tạo nền tảng vững chắc cho đối thoại, giúp vượt qua khác biệt và mở ra các cơ hội hợp tác.

Việt Nam luôn sẵn sàng trở thành cầu nối trung gian cho các cuộc đối thoại quốc tế, góp phần tạo dựng sự hiểu biết và hòa giải. Việt Nam tự hào là điểm đến cho các cuộc đối thoại lớn, điển hình như cuộc gặp gỡ lịch sử năm 2019 giữa Tổng thống Donald Trump và Nhà lãnh đạo Kim Jong Un, khi Việt Nam đã tạo ra không gian an toàn, thuận lợi để các bên gặp gỡ và trao đổi.

Chủ đề “đối thoại” trong bối cảnh hiện nay rất “đúng và trúng”. Giữa nhiều bất đồng, xung đột và chia rẽ trên thế giới, đối thoại không chỉ là giải pháp hiệu quả mà còn là con đường duy nhất để xây dựng hòa bình, củng cố niềm tin và cùng tiến tới phát triển bền vững.

Theo ông, ASEAN có tầm nhìn dài hạn như thế nào và vị trí của khu vực này trên thế giới?

Tuyên ngôn của ASEAN là đoàn kết, thống nhất trong đa dạng, phát huy tối đa giá trị cốt lõi, nền văn hoá đậm đà bản sắc. Tầm nhìn Asean cũng mang tầm nhìn của thời đại: phát triển nhanh nhưng phải bền vững.

Tầm nhìn xây dựng ASEAN đến năm 2045 là trở thành một khu vực phát triển bền vững, trong đó sự đoàn kết khối được đặt lên hàng đầu bởi “một khối không đoàn kết sẽ không thể làm nên điều gì.” Theo quan điểm này, nơi nào còn xảy ra xung đột thì nơi đó vẫn tồn tại đói nghèo, và để xóa nghèo phải chấm dứt mọi cuộc chiến tranh, duy trì ổn định chính trị – xã hội. Do đó, hợp tác giữa các quốc gia trong khối là yếu tố then chốt để khai thác tiềm năng khác biệt, tận dụng cơ hội nổi trội và lợi thế cạnh tranh riêng của từng nước, từ đó biến những tiềm năng riêng lẻ thành lợi thế chung cho toàn khu vực.

Bên cạnh đó, ASEAN cần tiến cùng thời đại bằng cách thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, trong đó chuyển đổi xanh và chuyển đổi số là không thể thiếu. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu chung nhằm tạo dựng “trí tuệ chung” cho khu vực sẽ là nền tảng quan trọng để phát triển các công nghệ mới và thúc đẩy sáng tạo liên tục trong tương lai.

Công nghệ ngày càng tác động sâu rộng đến nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực logistics, nơi phụ thuộc nhiều vào lực lượng lao động. Làm thế nào để chuẩn bị lực lượng trẻ sẵn sàng ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong công cuộc chuyển đổi này?

Sự phát triển của đất nước gắn liền mật thiết với sự tiến bộ của từng cá nhân, trong đó con người, đặc biệt là thế hệ trẻ, luôn được đặt làm trung tâm. Chính phủ Việt Nam cam kết nâng cao nhận thức cho thế hệ trẻ, đồng thời xây dựng cơ chế chính sách tạo điều kiện thuận lợi để họ có không gian sáng tạo, tiếp cận tri thức và phát triển kỹ năng.

Những chính sách hỗ trợ cụ thể bao gồm ưu đãi về thuế, phí, lãi suất ngân hàng cho các dự án khởi nghiệp của người trẻ, cùng với các chương trình hỗ trợ nguồn nhân lực chất lượng cao. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng chú trọng tạo dựng không gian kết nối, giao lưu với thế hệ trẻ toàn cầu, nhằm thúc đẩy sự hợp tác và học hỏi kinh nghiệm trong việc ứng dụng AI và công nghệ hiện đại vào ngành logistics và các lĩnh vực khác của nền kinh tế.

-Như Quỳnh

Categories: The Latest News

Thủ tướng Phạm Minh Chính đối thoại 60 phút với Giám đốc điều hành WEF

Thời Báo Kinh Tế - Wed, 11/26/2025 - 22:31
Chiều 26/11 tại Diễn đàn kinh tế mùa thu 2025 đã diễn ra phiên đối thoại chính sách cấp cao giữa Thủ tướng Phạm Minh Chính đối thoại với ông Stephan Mergenthaler, Giám đốc điều hành của Diễn đàn Kinh tế thế giới với chủ đề “Khoa học, công nghệ định hình Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình”.

 Phiên đối thoại hướng đến ba mục tiêu chính:

Thứ nhất, trao đổi định hướng chiến lược phát triển của Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình, với trọng tâm là chuyển đổi xanh và chuyển đổi số;

Thứ hai, khẳng định cam kết và vai trò của Việt Nam đối với cộng đồng quốc tế trong thúc đẩy tăng trưởng xanh, phát triển bền vững và mục tiêu Net Zero 2050.

Thứ ba, thúc đẩy hợp tác toàn cầu về công nghệ, tài chính, đổi mới sáng tạo và nhân lực, góp phần định hình vị thế Việt Nam trong trật tự kinh tế mới.

Theo ông, đâu là những quyết định đúng đắn giúp Việt Nam tiến tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao đến năm 2045?

Năm nay, chúng tôi kỷ niệm 80 năm thống nhất đất nước và 50 năm giải phóng miền Nam. Trong 80 năm đó, gần 40 năm đất nước chìm trong chiến tranh. Đến hôm nay, hậu quả vẫn còn hiện hữu. Sau chiến tranh, Việt Nam tiếp tục trải qua 30 năm bị bao vây, cấm vận, bắt đầu từ năm 1964 đối với miền Bắc và sau khi thống nhất thì áp dụng cho toàn quốc, kéo dài đến năm 1994. Có thể hình dung mức độ khó khăn, thách thức lớn đến thế nào. Tuy nhiên, chúng tôi không sống mãi với quá khứ mà xác định hai định hướng lớn để tiến tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao:

Thứ nhất, Việt Nam kiên trì chủ trương “gác lại quá khứ, hướng tới tương lai”, tôn trọng sự khác biệt và chủ động mở rộng quan hệ đối ngoại. Nhiều quốc gia từng là đối thủ trong quá khứ nay đã trở thành bạn bè, đối tác, thậm chí là đối tác chiến lược toàn diện. Đây là một trong những quyết định quan trọng, mang tính nền tảng cho phát triển đất nước.

Thứ hai, khoa học và công nghệ là con đường để Việt Nam hướng tới mục tiêu trở thành nước thu nhập cao vào năm 2045. Nhìn lại quá trình phát triển, Việt Nam đi lên từ một nền kinh tế nông nghiệp và là một quốc gia nghèo với nền văn minh lúa nước. Chính nỗ lực chuyển đổi từ nông nghiệp sang công nghiệp, trong đó phát triển khoa học – công nghệ sẽ là yếu tố then chốt giúp đất nước bắt kịp xu thế mới và hướng tới mục tiêu đạt thu nhập cao vào năm 2045.

Vậy yếu tố nào giúp Việt Nam tăng cường khả năng chống chịu trong bối cảnh thế giới nhiều biến động?

Để trả lời câu hỏi này, tôi muốn nhắc đến bài học từ châu Phi – nơi vừa tổ chức thành công Hội nghị G20. Dù còn nhiều hạn chế về điều kiện tổ chức, châu Phi đã quy tụ được khoảng 60 đoàn tham dự, thể hiện tinh thần đoàn kết, tự tin và khát vọng phát triển rất mạnh mẽ. Điều đó cho thấy châu Phi vẫn là một không gian phát triển lớn, cần được cộng đồng quốc tế đồng hành để khai thác tiềm năng và thoát nghèo.

Từ câu chuyện đó, có thể thấy chủ đề của G20 lần này – đoàn kết, bình đẳng và bền vững – phản ánh đúng nhu cầu của thế giới. Thế giới cần đoàn kết để tạo sức mạnh, cần bình đẳng giữa các quốc gia, và cần phát triển bền vững, bảo đảm tiến bộ, an sinh xã hội và hài hòa giữa con người và thiên nhiên.

Hội nghị cũng chỉ ra các thách thức toàn cầu: chính trị phân cực, kinh tế phân mảnh, thể chế phân tách, phát triển không đồng đều; tăng trưởng chậm sau đại dịch; xu hướng bảo hộ thương mại khiến chuỗi cung ứng đứt gãy; dịch chuyển dòng hàng hóa gây áp lực lên sản xuất – kinh doanh và sinh kế của người dân.

Bên cạnh đó là những thách thức từ nội tại: thảm họa thiên nhiên ngày càng khốc liệt – như tại Việt Nam, năm 2025 ghi nhận lượng mưa kỷ lục tới 1.740 mm chỉ trong một ngày; già hóa dân số; an ninh mạng; và sự phát triển nhanh của trí tuệ nhân tạo (AI) đang đe dọa nhiều loại hình việc làm. Dù vậy, chúng ta không bi quan bởi trong khó khăn luôn xuất hiện cơ hội, ôi cho rằng thế giới vẫn có ba điểm sáng:

Thứ nhất, xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là dòng chảy chủ đạo.

Thứ hai, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh tiếp tục là động lực mạnh mẽ giúp giảm các tác động tiêu cực.

Thứ ba, liên kết kinh tế đang được thúc đẩy, bù đắp cho những thiếu hụt và tăng cường khả năng phục hồi.

Đối với Việt Nam, nhiều chỉ số cho thấy chúng ta đang đi ngược chiều xu thế suy giảm. Tăng trưởng duy trì tích cực; nợ công giảm mạnh từ 56% GDP xuống khoảng 36% trong 5 năm; kinh tế vĩ mô ổn định; chính trị – xã hội được bảo đảm; uy tín quốc tế ngày càng tăng. Có năm yếu tố giúp Việt Nam vượt qua khó khăn đến từ ngoại cảnh và nội tại:

Thứ nhất là sự lãnh đạo thống nhất của một Đảng. Việt Nam đặt trọng tâm cao nhất vào sự tự do, hạnh phúc của nhân dân;

Thứ hai là sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc. Càng khó khăn càng được phát huy – đúng như tinh thần Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; thành công, thành công, đại thành công”;

Thứ ba, sức mạnh của cộng đồng doanh nghiệp, lực lượng trực tiếp tạo ra của cải và việc làm;

Thứ tư, kết hợp hài hòa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; kiên định đường lối độc lập, tự chủ;

Thứ năm, phát triển nền kinh tế tự lực, tự cường, kiên trì mục tiêu đi lên chủ nghĩa xã hội.

Trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam đã xác định chiến lược kép gồm chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Ông có thể phân tích rõ hơn vì sao chiến lược kép này lại được xem là chìa khóa cho tăng trưởng dài hạn của đất nước? Và ở góc độ quốc gia, các cam kết của Việt Nam trong lĩnh vực này gắn kết như thế nào với những cam kết quốc tế về phát triển bền vững?

Tôi cho rằng đây là câu hỏi trọng tâm, bởi chiến lược kép không chỉ là định hướng phát triển của Việt Nam, mà còn là cách chúng tôi hòa nhịp với trào lưu phát triển xanh – bền vững đang diễn ra trên toàn cầu. Việt Nam chọn chiến lược kép chuyển đổi xanh – chuyển đổi số làm định hướng trung tâm trong giai đoạn phát triển tiếp theo, chúng tôi khẳng định đây không chỉ là ưu tiên mà là yêu cầu tất yếu của một nền kinh tế mong muốn tăng trưởng nhanh và bền vững.

Chuyển đổi xanh và chuyển đổi số là hai mặt của cùng một quá trình, hỗ trợ và thúc đẩy lẫn nhau.Phát triển xanh đòi hỏi công nghệ số để tối ưu hóa năng lượng, giảm phát thải và quản lý hiệu quả. Ngược lại, phát triển số cũng chính là công cụ để đẩy nhanh quá trình xanh hóa. Do vậy, chiến lược kép không phải hai con đường tách rời mà là một vòng tuần hoàn kết nối chặt chẽ, cùng hướng đến mô hình tăng trưởng mới.

Điều kiện đầu tiên của quá trình chuyển đổi là nâng cao nhận thức. Xã hội phải hiểu đúng vai trò sống còn của chuyển đổi xanh – số, từ đó chuyển hóa thành hành động cụ thể, chính sách cụ thể và kết quả cụ thể. “Nhận thức đúng mới dẫn đến hành động đúng.”

Điểm then chốt tiếp theo là thể chế. Muốn chuyển đổi thành công phải có hệ thống pháp luật minh bạch, thống nhất, tạo điều kiện cho đổi mới sáng tạo. “Thể chế phải đi trước, dẫn đường.” Việt Nam đang đổi mới thể chế để biến các điểm nghẽn thành lợi thế cạnh tranh quốc gia.

Tuy nhiều thủ tục hiện vẫn gây vướng mắc, nhiệm vụ của Chính phủ là cải cách mạnh mẽ để tạo môi trường thuận lợi, đặc biệt cho các ngành kinh tế số, kinh tế xanh, năng lượng tái tạo.

Để phát triển xanh, Việt Nam cần hạ tầng xanh: nguồn điện xanh, lưới truyền tải xanh, phân phối – tiêu dùng điện chuẩn xanh, cùng cơ chế giá cho năng lượng xanh.

Tương tự, để phát triển số, phải có hạ tầng số hiện đại: cơ sở dữ liệu quốc gia liên thông, khả năng kết nối rộng khắp, nền tảng viễn thông – số đủ mạnh để doanh nghiệp và người dân khai thác. Không có hạ tầng, mọi chiến lược chỉ nằm trên giấy.

Tuy nhiên phát triển kinh tế luôn gắn liền với trình độ phát triển nguồn nhân lực. Ở mỗi nấc thang – từ nước kém phát triển, đang phát triển đến nước phát triển – yêu cầu về nhân lực khác nhau. Do đó, đào tạo và hợp tác phát triển nhân lực là điều kiện tiên quyết, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa doanh nghiệp, cơ sở sản xuất và hệ thống giáo dục. Chúng tôi đang triển khai ba đột phá chiến lược để thực hiện mục tiêu kép:

Thứ nhất là đột phá về thể chế để bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh, minh bạch, giảm chi phí đầu vào.

Thứ hai là đột phá về hạ tầng chiến lược, giao thông, hạ tầng số, hạ tầng xanh; giảm chi phí logistics, tăng khả năng cạnh tranh và thu hút đầu tư.

Thứ ba là đột phá về nguồn nhân lực chất lượng cao. Chúng tôi xem đây là yếu tố quyết định của mọi quyết định.”

Trong bối cảnh hơn 95–97% doanh nghiệp tại Việt Nam là doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME), lực lượng này được xác định là trụ cột của nền kinh tế, đóng góp GDP, tạo việc làm và giải quyết các vấn đề xã hội. Các chính sách hỗ trợ SME được xây dựng dựa trên ba nhu cầu: thể chế thông thoáng, hạ tầng giảm chi phí, và nhân lực – năng lực quản trị phù hợp từng cấp độ doanh nghiệp. Việt Nam hiện có hơn một triệu doanh nghiệp và 5 triệu hộ kinh doanh, một nguồn lực lớn đang được thúc đẩy chuyển hóa vào khu vực kinh tế chính thức.

Song song với đó, Việt Nam khuyến khích tinh thần khởi nghiệp từ sớm, hỗ trợ học sinh – sinh viên về pháp lý, tài chính, kỹ năng quản trị và đổi mới sáng tạo. Người Việt Nam – đặc biệt thanh niên – có khát vọng lớn, sẵn sàng dấn thân khi được trao cơ hội.

Hiện chúng tôi đang triển khai đào tạo 100.000 nhân lực trong các lĩnh vực thiết kế, sản xuất chip và trí tuệ nhân tạo, xem đây là lực lượng nòng cốt cho giai đoạn phát triển mới.

Hội nghị Davos tại Thụy Sĩ sắp tới với chủ đề trọng tâm là “đối thoại”. Theo ông, trong bối cảnh thế giới ngày càng đa cực và phức tạp, Việt Nam duy trì đối thoại như thế nào và vai trò của Việt Nam trong thúc đẩy đối thoại quốc tế ra sao?

Chúng tôi cho rằng, để đối thoại thực sự hiệu quả, cần phải kích hoạt những giá trị chung, bởi chỉ khi có điểm chung thì các bên mới sẵn sàng lắng nghe và tìm kiếm sự đồng thuận. Giá trị chung tạo nền tảng vững chắc cho đối thoại, giúp vượt qua khác biệt và mở ra các cơ hội hợp tác.

Việt Nam luôn sẵn sàng trở thành cầu nối trung gian cho các cuộc đối thoại quốc tế, góp phần tạo dựng sự hiểu biết và hòa giải. Việt Nam tự hào là điểm đến cho các cuộc đối thoại lớn, điển hình như cuộc gặp gỡ lịch sử năm 2019 giữa Tổng thống Donald Trump và Nhà lãnh đạo Kim Jong Un, khi Việt Nam đã tạo ra không gian an toàn, thuận lợi để các bên gặp gỡ và trao đổi.

Chủ đề “đối thoại” trong bối cảnh hiện nay rất “đúng và trúng”. Giữa nhiều bất đồng, xung đột và chia rẽ trên thế giới, đối thoại không chỉ là giải pháp hiệu quả mà còn là con đường duy nhất để xây dựng hòa bình, củng cố niềm tin và cùng tiến tới phát triển bền vững.

Theo ông, ASEAN có tầm nhìn dài hạn như thế nào và vị trí của khu vực này trên thế giới?

Tuyên ngôn của ASEAN là đoàn kết, thống nhất trong đa dạng, phát huy tối đa giá trị cốt lõi, nền văn hoá đậm đà bản sắc. Tầm nhìn Asean cũng mang tầm nhìn của thời đại: phát triển nhanh nhưng phải bền vững.

Tầm nhìn xây dựng ASEAN đến năm 2045 là trở thành một khu vực phát triển bền vững, trong đó sự đoàn kết khối được đặt lên hàng đầu bởi “một khối không đoàn kết sẽ không thể làm nên điều gì.” Theo quan điểm này, nơi nào còn xảy ra xung đột thì nơi đó vẫn tồn tại đói nghèo, và để xóa nghèo phải chấm dứt mọi cuộc chiến tranh, duy trì ổn định chính trị – xã hội. Do đó, hợp tác giữa các quốc gia trong khối là yếu tố then chốt để khai thác tiềm năng khác biệt, tận dụng cơ hội nổi trội và lợi thế cạnh tranh riêng của từng nước, từ đó biến những tiềm năng riêng lẻ thành lợi thế chung cho toàn khu vực.

Bên cạnh đó, ASEAN cần tiến cùng thời đại bằng cách thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, trong đó chuyển đổi xanh và chuyển đổi số là không thể thiếu. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu chung nhằm tạo dựng “trí tuệ chung” cho khu vực sẽ là nền tảng quan trọng để phát triển các công nghệ mới và thúc đẩy sáng tạo liên tục trong tương lai.

Công nghệ ngày càng tác động sâu rộng đến nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực logistics, nơi phụ thuộc nhiều vào lực lượng lao động. Làm thế nào để chuẩn bị lực lượng trẻ sẵn sàng ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong công cuộc chuyển đổi này?

Sự phát triển của đất nước gắn liền mật thiết với sự tiến bộ của từng cá nhân, trong đó con người, đặc biệt là thế hệ trẻ, luôn được đặt làm trung tâm. Chính phủ Việt Nam cam kết nâng cao nhận thức cho thế hệ trẻ, đồng thời xây dựng cơ chế chính sách tạo điều kiện thuận lợi để họ có không gian sáng tạo, tiếp cận tri thức và phát triển kỹ năng.

Những chính sách hỗ trợ cụ thể bao gồm ưu đãi về thuế, phí, lãi suất ngân hàng cho các dự án khởi nghiệp của người trẻ, cùng với các chương trình hỗ trợ nguồn nhân lực chất lượng cao. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng chú trọng tạo dựng không gian kết nối, giao lưu với thế hệ trẻ toàn cầu, nhằm thúc đẩy sự hợp tác và học hỏi kinh nghiệm trong việc ứng dụng AI và công nghệ hiện đại vào ngành logistics và các lĩnh vực khác của nền kinh tế.

-Như Quỳnh

Categories: The Latest News

Thủ tướng Phạm Minh Chính đối thoại 60 phút với Giám đốc điều hành WEF

Thời báo kinh tế Việt Nam - Wed, 11/26/2025 - 22:31
Chiều 26/11 tại Diễn đàn kinh tế mùa thu 2025 đã diễn ra phiên đối thoại chính sách cấp cao giữa Thủ tướng Phạm Minh Chính đối thoại với ông Stephan Mergenthaler, Giám đốc điều hành của Diễn đàn Kinh tế thế giới với chủ đề “Khoa học, công nghệ định hình Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình”.

 Phiên đối thoại hướng đến ba mục tiêu chính:

Thứ nhất, trao đổi định hướng chiến lược phát triển của Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình, với trọng tâm là chuyển đổi xanh và chuyển đổi số;

Thứ hai, khẳng định cam kết và vai trò của Việt Nam đối với cộng đồng quốc tế trong thúc đẩy tăng trưởng xanh, phát triển bền vững và mục tiêu Net Zero 2050.

Thứ ba, thúc đẩy hợp tác toàn cầu về công nghệ, tài chính, đổi mới sáng tạo và nhân lực, góp phần định hình vị thế Việt Nam trong trật tự kinh tế mới.

Theo ông, đâu là những quyết định đúng đắn giúp Việt Nam tiến tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao đến năm 2045?

Năm nay, chúng tôi kỷ niệm 80 năm thống nhất đất nước và 50 năm giải phóng miền Nam. Trong 80 năm đó, gần 40 năm đất nước chìm trong chiến tranh. Đến hôm nay, hậu quả vẫn còn hiện hữu. Sau chiến tranh, Việt Nam tiếp tục trải qua 30 năm bị bao vây, cấm vận, bắt đầu từ năm 1964 đối với miền Bắc và sau khi thống nhất thì áp dụng cho toàn quốc, kéo dài đến năm 1994. Có thể hình dung mức độ khó khăn, thách thức lớn đến thế nào. Tuy nhiên, chúng tôi không sống mãi với quá khứ mà xác định hai định hướng lớn để tiến tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao:

Thứ nhất, Việt Nam kiên trì chủ trương “gác lại quá khứ, hướng tới tương lai”, tôn trọng sự khác biệt và chủ động mở rộng quan hệ đối ngoại. Nhiều quốc gia từng là đối thủ trong quá khứ nay đã trở thành bạn bè, đối tác, thậm chí là đối tác chiến lược toàn diện. Đây là một trong những quyết định quan trọng, mang tính nền tảng cho phát triển đất nước.

Thứ hai, khoa học và công nghệ là con đường để Việt Nam hướng tới mục tiêu trở thành nước thu nhập cao vào năm 2045. Nhìn lại quá trình phát triển, Việt Nam đi lên từ một nền kinh tế nông nghiệp và là một quốc gia nghèo với nền văn minh lúa nước. Chính nỗ lực chuyển đổi từ nông nghiệp sang công nghiệp, trong đó phát triển khoa học – công nghệ sẽ là yếu tố then chốt giúp đất nước bắt kịp xu thế mới và hướng tới mục tiêu đạt thu nhập cao vào năm 2045.

Vậy yếu tố nào giúp Việt Nam tăng cường khả năng chống chịu trong bối cảnh thế giới nhiều biến động?

Để trả lời câu hỏi này, tôi muốn nhắc đến bài học từ châu Phi – nơi vừa tổ chức thành công Hội nghị G20. Dù còn nhiều hạn chế về điều kiện tổ chức, châu Phi đã quy tụ được khoảng 60 đoàn tham dự, thể hiện tinh thần đoàn kết, tự tin và khát vọng phát triển rất mạnh mẽ. Điều đó cho thấy châu Phi vẫn là một không gian phát triển lớn, cần được cộng đồng quốc tế đồng hành để khai thác tiềm năng và thoát nghèo.

Từ câu chuyện đó, có thể thấy chủ đề của G20 lần này – đoàn kết, bình đẳng và bền vững – phản ánh đúng nhu cầu của thế giới. Thế giới cần đoàn kết để tạo sức mạnh, cần bình đẳng giữa các quốc gia, và cần phát triển bền vững, bảo đảm tiến bộ, an sinh xã hội và hài hòa giữa con người và thiên nhiên.

Hội nghị cũng chỉ ra các thách thức toàn cầu: chính trị phân cực, kinh tế phân mảnh, thể chế phân tách, phát triển không đồng đều; tăng trưởng chậm sau đại dịch; xu hướng bảo hộ thương mại khiến chuỗi cung ứng đứt gãy; dịch chuyển dòng hàng hóa gây áp lực lên sản xuất – kinh doanh và sinh kế của người dân.

Bên cạnh đó là những thách thức từ nội tại: thảm họa thiên nhiên ngày càng khốc liệt – như tại Việt Nam, năm 2025 ghi nhận lượng mưa kỷ lục tới 1.740 mm chỉ trong một ngày; già hóa dân số; an ninh mạng; và sự phát triển nhanh của trí tuệ nhân tạo (AI) đang đe dọa nhiều loại hình việc làm. Dù vậy, chúng ta không bi quan bởi trong khó khăn luôn xuất hiện cơ hội, ôi cho rằng thế giới vẫn có ba điểm sáng:

Thứ nhất, xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là dòng chảy chủ đạo.

Thứ hai, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh tiếp tục là động lực mạnh mẽ giúp giảm các tác động tiêu cực.

Thứ ba, liên kết kinh tế đang được thúc đẩy, bù đắp cho những thiếu hụt và tăng cường khả năng phục hồi.

Đối với Việt Nam, nhiều chỉ số cho thấy chúng ta đang đi ngược chiều xu thế suy giảm. Tăng trưởng duy trì tích cực; nợ công giảm mạnh từ 56% GDP xuống khoảng 36% trong 5 năm; kinh tế vĩ mô ổn định; chính trị – xã hội được bảo đảm; uy tín quốc tế ngày càng tăng. Có năm yếu tố giúp Việt Nam vượt qua khó khăn đến từ ngoại cảnh và nội tại:

Thứ nhất là sự lãnh đạo thống nhất của một Đảng. Việt Nam đặt trọng tâm cao nhất vào sự tự do, hạnh phúc của nhân dân;

Thứ hai là sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc. Càng khó khăn càng được phát huy – đúng như tinh thần Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; thành công, thành công, đại thành công”;

Thứ ba, sức mạnh của cộng đồng doanh nghiệp, lực lượng trực tiếp tạo ra của cải và việc làm;

Thứ tư, kết hợp hài hòa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; kiên định đường lối độc lập, tự chủ;

Thứ năm, phát triển nền kinh tế tự lực, tự cường, kiên trì mục tiêu đi lên chủ nghĩa xã hội.

Trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam đã xác định chiến lược kép gồm chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Ông có thể phân tích rõ hơn vì sao chiến lược kép này lại được xem là chìa khóa cho tăng trưởng dài hạn của đất nước? Và ở góc độ quốc gia, các cam kết của Việt Nam trong lĩnh vực này gắn kết như thế nào với những cam kết quốc tế về phát triển bền vững?

Tôi cho rằng đây là câu hỏi trọng tâm, bởi chiến lược kép không chỉ là định hướng phát triển của Việt Nam, mà còn là cách chúng tôi hòa nhịp với trào lưu phát triển xanh – bền vững đang diễn ra trên toàn cầu. Việt Nam chọn chiến lược kép chuyển đổi xanh – chuyển đổi số làm định hướng trung tâm trong giai đoạn phát triển tiếp theo, chúng tôi khẳng định đây không chỉ là ưu tiên mà là yêu cầu tất yếu của một nền kinh tế mong muốn tăng trưởng nhanh và bền vững.

Chuyển đổi xanh và chuyển đổi số là hai mặt của cùng một quá trình, hỗ trợ và thúc đẩy lẫn nhau.Phát triển xanh đòi hỏi công nghệ số để tối ưu hóa năng lượng, giảm phát thải và quản lý hiệu quả. Ngược lại, phát triển số cũng chính là công cụ để đẩy nhanh quá trình xanh hóa. Do vậy, chiến lược kép không phải hai con đường tách rời mà là một vòng tuần hoàn kết nối chặt chẽ, cùng hướng đến mô hình tăng trưởng mới.

Điều kiện đầu tiên của quá trình chuyển đổi là nâng cao nhận thức. Xã hội phải hiểu đúng vai trò sống còn của chuyển đổi xanh – số, từ đó chuyển hóa thành hành động cụ thể, chính sách cụ thể và kết quả cụ thể. “Nhận thức đúng mới dẫn đến hành động đúng.”

Điểm then chốt tiếp theo là thể chế. Muốn chuyển đổi thành công phải có hệ thống pháp luật minh bạch, thống nhất, tạo điều kiện cho đổi mới sáng tạo. “Thể chế phải đi trước, dẫn đường.” Việt Nam đang đổi mới thể chế để biến các điểm nghẽn thành lợi thế cạnh tranh quốc gia.

Tuy nhiều thủ tục hiện vẫn gây vướng mắc, nhiệm vụ của Chính phủ là cải cách mạnh mẽ để tạo môi trường thuận lợi, đặc biệt cho các ngành kinh tế số, kinh tế xanh, năng lượng tái tạo.

Để phát triển xanh, Việt Nam cần hạ tầng xanh: nguồn điện xanh, lưới truyền tải xanh, phân phối – tiêu dùng điện chuẩn xanh, cùng cơ chế giá cho năng lượng xanh.

Tương tự, để phát triển số, phải có hạ tầng số hiện đại: cơ sở dữ liệu quốc gia liên thông, khả năng kết nối rộng khắp, nền tảng viễn thông – số đủ mạnh để doanh nghiệp và người dân khai thác. Không có hạ tầng, mọi chiến lược chỉ nằm trên giấy.

Tuy nhiên phát triển kinh tế luôn gắn liền với trình độ phát triển nguồn nhân lực. Ở mỗi nấc thang – từ nước kém phát triển, đang phát triển đến nước phát triển – yêu cầu về nhân lực khác nhau. Do đó, đào tạo và hợp tác phát triển nhân lực là điều kiện tiên quyết, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa doanh nghiệp, cơ sở sản xuất và hệ thống giáo dục. Chúng tôi đang triển khai ba đột phá chiến lược để thực hiện mục tiêu kép:

Thứ nhất là đột phá về thể chế để bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh, minh bạch, giảm chi phí đầu vào.

Thứ hai là đột phá về hạ tầng chiến lược, giao thông, hạ tầng số, hạ tầng xanh; giảm chi phí logistics, tăng khả năng cạnh tranh và thu hút đầu tư.

Thứ ba là đột phá về nguồn nhân lực chất lượng cao. Chúng tôi xem đây là yếu tố quyết định của mọi quyết định.”

Trong bối cảnh hơn 95–97% doanh nghiệp tại Việt Nam là doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME), lực lượng này được xác định là trụ cột của nền kinh tế, đóng góp GDP, tạo việc làm và giải quyết các vấn đề xã hội. Các chính sách hỗ trợ SME được xây dựng dựa trên ba nhu cầu: thể chế thông thoáng, hạ tầng giảm chi phí, và nhân lực – năng lực quản trị phù hợp từng cấp độ doanh nghiệp. Việt Nam hiện có hơn một triệu doanh nghiệp và 5 triệu hộ kinh doanh, một nguồn lực lớn đang được thúc đẩy chuyển hóa vào khu vực kinh tế chính thức.

Song song với đó, Việt Nam khuyến khích tinh thần khởi nghiệp từ sớm, hỗ trợ học sinh – sinh viên về pháp lý, tài chính, kỹ năng quản trị và đổi mới sáng tạo. Người Việt Nam – đặc biệt thanh niên – có khát vọng lớn, sẵn sàng dấn thân khi được trao cơ hội.

Hiện chúng tôi đang triển khai đào tạo 100.000 nhân lực trong các lĩnh vực thiết kế, sản xuất chip và trí tuệ nhân tạo, xem đây là lực lượng nòng cốt cho giai đoạn phát triển mới.

Hội nghị Davos tại Thụy Sĩ sắp tới với chủ đề trọng tâm là “đối thoại”. Theo ông, trong bối cảnh thế giới ngày càng đa cực và phức tạp, Việt Nam duy trì đối thoại như thế nào và vai trò của Việt Nam trong thúc đẩy đối thoại quốc tế ra sao?

Chúng tôi cho rằng, để đối thoại thực sự hiệu quả, cần phải kích hoạt những giá trị chung, bởi chỉ khi có điểm chung thì các bên mới sẵn sàng lắng nghe và tìm kiếm sự đồng thuận. Giá trị chung tạo nền tảng vững chắc cho đối thoại, giúp vượt qua khác biệt và mở ra các cơ hội hợp tác.

Việt Nam luôn sẵn sàng trở thành cầu nối trung gian cho các cuộc đối thoại quốc tế, góp phần tạo dựng sự hiểu biết và hòa giải. Việt Nam tự hào là điểm đến cho các cuộc đối thoại lớn, điển hình như cuộc gặp gỡ lịch sử năm 2019 giữa Tổng thống Donald Trump và Nhà lãnh đạo Kim Jong Un, khi Việt Nam đã tạo ra không gian an toàn, thuận lợi để các bên gặp gỡ và trao đổi.

Chủ đề “đối thoại” trong bối cảnh hiện nay rất “đúng và trúng”. Giữa nhiều bất đồng, xung đột và chia rẽ trên thế giới, đối thoại không chỉ là giải pháp hiệu quả mà còn là con đường duy nhất để xây dựng hòa bình, củng cố niềm tin và cùng tiến tới phát triển bền vững.

Theo ông, ASEAN có tầm nhìn dài hạn như thế nào và vị trí của khu vực này trên thế giới?

Tuyên ngôn của ASEAN là đoàn kết, thống nhất trong đa dạng, phát huy tối đa giá trị cốt lõi, nền văn hoá đậm đà bản sắc. Tầm nhìn Asean cũng mang tầm nhìn của thời đại: phát triển nhanh nhưng phải bền vững.

Tầm nhìn xây dựng ASEAN đến năm 2045 là trở thành một khu vực phát triển bền vững, trong đó sự đoàn kết khối được đặt lên hàng đầu bởi “một khối không đoàn kết sẽ không thể làm nên điều gì.” Theo quan điểm này, nơi nào còn xảy ra xung đột thì nơi đó vẫn tồn tại đói nghèo, và để xóa nghèo phải chấm dứt mọi cuộc chiến tranh, duy trì ổn định chính trị – xã hội. Do đó, hợp tác giữa các quốc gia trong khối là yếu tố then chốt để khai thác tiềm năng khác biệt, tận dụng cơ hội nổi trội và lợi thế cạnh tranh riêng của từng nước, từ đó biến những tiềm năng riêng lẻ thành lợi thế chung cho toàn khu vực.

Bên cạnh đó, ASEAN cần tiến cùng thời đại bằng cách thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, trong đó chuyển đổi xanh và chuyển đổi số là không thể thiếu. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu chung nhằm tạo dựng “trí tuệ chung” cho khu vực sẽ là nền tảng quan trọng để phát triển các công nghệ mới và thúc đẩy sáng tạo liên tục trong tương lai.

Công nghệ ngày càng tác động sâu rộng đến nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực logistics, nơi phụ thuộc nhiều vào lực lượng lao động. Làm thế nào để chuẩn bị lực lượng trẻ sẵn sàng ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong công cuộc chuyển đổi này?

Sự phát triển của đất nước gắn liền mật thiết với sự tiến bộ của từng cá nhân, trong đó con người, đặc biệt là thế hệ trẻ, luôn được đặt làm trung tâm. Chính phủ Việt Nam cam kết nâng cao nhận thức cho thế hệ trẻ, đồng thời xây dựng cơ chế chính sách tạo điều kiện thuận lợi để họ có không gian sáng tạo, tiếp cận tri thức và phát triển kỹ năng.

Những chính sách hỗ trợ cụ thể bao gồm ưu đãi về thuế, phí, lãi suất ngân hàng cho các dự án khởi nghiệp của người trẻ, cùng với các chương trình hỗ trợ nguồn nhân lực chất lượng cao. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng chú trọng tạo dựng không gian kết nối, giao lưu với thế hệ trẻ toàn cầu, nhằm thúc đẩy sự hợp tác và học hỏi kinh nghiệm trong việc ứng dụng AI và công nghệ hiện đại vào ngành logistics và các lĩnh vực khác của nền kinh tế.

-Như Quỳnh

Categories: The Latest News

Giới trẻ Việt Nam đối thoại về AI với đại diện WEF

Thời báo kinh tế Việt Nam - Wed, 11/26/2025 - 22:29
Những thách thức về bao trùm số cùng nỗi lo trí tuệ nhân tạo có thể thay thế con người trong thị trường lao động tương lai đã được các đại diện của Việt Nam trao đổi với đại diện Diễn đàn Kinh tế Thế giới…

Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2025 khởi động vào ngày 25/11 bằng phiên đối thoại “Thế hệ thông minh đương thời” (Intelligent Generation NOW), với sự tham gia hơn 500 trí thức trẻ, nhà lãnh đạo và thanh niên tiêu biểu của Việt Nam.

Điểm nhấn của chương trình là phiên thảo luận “Voice of the NOW”, nơi sáu đại diện tiêu biểu của thế hệ trẻ Việt Nam đối thoại trực tiếp với đại diện Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), Liên Hợp Quốc và UNESCO về những cơ hội và thách thức mà giới trẻ phải đối mặt trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo.

CÁC ĐỐI TƯỢNG YẾU THẾ CŨNG CẦN ĐƯỢC PHỔ CẬP AI

Đại diện cho giới trẻ trong lĩnh vực phát triển bền vững, Lê Nguyễn Bảo Ngọc, Nhà sáng lập dự án Gen Zero kiêm Miss World Vietnam, chia sẻ những kết quả nổi bật của chương trình năm 2025: tiếp cận hơn 3 triệu người trẻ, huy động 13.000 thanh niên tham gia các hoạt động và góp phần nâng mức độ nhận thức về chính sách khí hậu tăng 70%. Gen Zero cũng hỗ trợ các đại biểu trẻ tham gia đoàn đàm phán quốc gia tại COP30 ở Belém (Brazil). Từ trải nghiệm thực tiễn, Bảo Ngọc bày tỏ lo ngại về mức độ bao trùm số đối với nhóm yếu thế và cho rằng mô hình hợp tác giữa Liên Hợp Quốc – chính phủ – doanh nghiệp – cộng đồng trẻ cần được củng cố để bảo đảm mọi người có cơ hội tiếp cận công nghệ và AI một cách công bằng.

Lê Nguyễn Bảo Ngọc, Nhà sáng lập dự án Gen Zero kiêm Miss World Vietnam.

Theo ông Stephan Mergenthaler, Giám đốc điều hành của WEF, nhấn mạnh rằng chuyển đổi số chỉ thành công khi đặt bao trùm số làm ưu tiên cốt lõi – bao gồm hạ tầng kỹ thuật và “hạ tầng mềm” như kỹ năng, năng lực số và khả năng tham gia thị trường lao động. Nếu những nhóm yếu thế chưa được bảo vệ, tiềm năng lan tỏa của AI sẽ bị hạn chế.

Đại diện WEF cũng cho rằng các tổ chức quốc tế và cơ sở giáo dục cần “tìm đến nơi người trẻ đang hiện diện”, tận dụng những nền tảng sáng tạo do thanh niên xây dựng, và xem các mạng lưới như Global Shapers như một cầu nối quan trọng để thúc đẩy đối thoại chính sách từ cộng đồng lên cấp hoạch định chiến lược.

Đại diện Liên Hợp Quốc khẳng định tính bao trùm là trụ cột của UN, UNESCO và WEF, đồng thời cam kết mở rộng các kênh để tiếng nói của thanh niên tham gia sâu hơn vào các diễn đàn toàn cầu.

VAI TRÒ "ĐỒNG KIẾN TẠO" CỦA GIỚI TRẺ

Trong chuỗi câu hỏi của các đại biểu, ông Huỳnh Minh Triết, Điều phối viên của cộng đồng Global Shapers - TP.HCM (một sáng kiến của WEF), đặt vấn đề về những cơ chế thực sự trao quyền cho thế hệ trẻ tham gia quản trị AI cùng chính phủ và doanh nghiệp, và cách các mạng lưới thanh niên góp phần xây dựng niềm tin công chúng đối với công nghệ mới.

Ông Huỳnh Minh Triết, Điều phối viên của cộng đồng Global Shapers - TP.HCM (một sáng kiến của WEF)

Theo ông Stephan, công nghệ “luôn chỉ là công cụ”, và điều quyết định nằm trong cách từng tổ chức đưa ra lựa chọn mỗi ngày. Thay vì chờ đợi một mô hình quản trị từ trên xuống, người trẻ có thể tạo ảnh hưởng ngay từ bên trong tổ chức nếu họ hiểu rõ giới hạn của công nghệ, đánh giá được giá trị của nó và thúc đẩy cách sử dụng có trách nhiệm. “Trách nhiệm không phải điều trừu tượng mà nằm trong những quyết định nhỏ hằng ngày. Và người trẻ hoàn toàn có thể chủ động lựa chọn điều đó”, ông nhấn mạnh.

Một câu hỏi khác từ sinh viên RMIT xoay quanh nguy cơ các công việc đầu vào bị thay thế bởi AI và tự động hóa, ông Stephan thừa nhận tác động rõ rệt của AI lên cấu trúc việc làm. Tuy nhiên các bạn trẻ không nên có cách nhìn “đen – trắng” đối với công nghệ này. Theo ông, đa số doanh nghiệp đang tìm kiếm những nhân sự có khả năng kết hợp kĩ năng cốt lõi với công nghệ, thay vì thay thế hoàn toàn. Đây là cơ hội lớn cho các bạn trẻ nếu tiếp cận thị trường lao động bằng tư duy đúng.

">

Cách tiếp cận đúng đắn bao gồm: bắt đầu từ vấn đề thay vì công nghệ; sử dụng AI như công cụ tăng cường tư duy, không thay thế tư duy; kết hợp phán đoán con người với sức mạnh xử lý của máy móc.

“AI không thay thế sáng tạo mà mở rộng sáng tạo. Điều quyết định vẫn là tư duy của người trẻ”, ông nói, bày tỏ sự lạc quan khi cho rằng thế hệ mới mang tới điều mà tổ chức nào cũng cần: một cách nghĩ mới.

Về vai trò của giáo dục, ông cho rằng chìa khóa nằm ở tư duy liên ngành – khả năng kết nối kiến thức và bối cảnh thay vì học theo lối tuyến tính. Mặc dù khái niệm này được nhắc đến từ nhiều thập niên, nó vẫn chưa được triển khai rộng rãi trong thực tiễn giáo dục đại học.

Theo báo cáo Future of Jobs của WEF, đến năm 2030, 39% kỹ năng của người lao động sẽ thay đổi, nghĩa là nhiều công việc tương lai sẽ yêu cầu những kỹ năng hoàn toàn mới. Công nghệ sẽ không thay thế con người hoàn toàn, nhưng sẽ xác định những kỹ năng đặc thù mà chỉ con người mới thực hiện được. Dự kiến, các công việc do con người thực hiện vẫn chiếm 47% cơ cấu nhiệm vụ doanh nghiệp, trong khi xu hướng tương lai là sự kết hợp giữa công nghệ và khả năng con người.  Như vậy, lực lượng lao động hiện nay và cả tương lai sẽ cần một sự thay đổi trong tư duy, thay đổi cách nhìn nhận về việc hợp tác giữa con người và máy móc và với AI. Ông Stephan Mergenthaler, Giám đốc điều hành Diễn đàn Kinh tế Thế giới.

Ông Stefan cũng cảnh báo xu hướng doanh nghiệp bị cuốn vào làn sóng AI do tâm lý “sợ bị bỏ lỡ” (FOMO), dẫn đến triển khai công nghệ trước rồi mới suy nghĩ xem dùng để làm gì – một trong những nguyên nhân chính của tỷ suất hoàn vốn (ROI) thấp trong các dự án AI toàn cầu.

Ông khuyến nghị thanh niên duy trì sự tò mò công nghệ, giải quyết các vấn đề thật và tạo ảnh hưởng từ dưới lên. Sự xuất hiện của nhiều công ty công nghệ lớn chỉ trong 5–6 năm qua, theo ông, cho thấy cánh cửa cho thế hệ trẻ vẫn rộng mở.

Trước lo ngại của Tiến sĩ Hà Thị Thanh Hương, Trưởng bộ môn kỹ thuật mô và y học tái tạo, Đại học Quốc tế (Đại học quốc gia TP. Hồ Chí Minh), về những biến đổi mà AI đang tạo ra trong các lĩnh vực y tế, khoa học thần kinh và kỹ thuật sinh học, ông Stefan nhận định AI đang mở ra tiềm năng to lớn, từ khám phá dược phẩm đến tối ưu năng lượng. Tuy nhiên, ông cho rằng điều quan trọng không chỉ là những đột phá học thuật, mà là khả năng phổ cập AI vào mọi quy trình kinh tế – xã hội, từ dịch vụ công đến quản trị doanh nghiệp.

Theo ông, thế giới vẫn ở giai đoạn rất sớm của việc tích hợp AI, khi đa số tổ chức mới dừng ở mức thí điểm. Đây lại là lợi thế của Việt Nam – một quốc gia trẻ, linh hoạt và có thể nhanh chóng điều chỉnh mô hình vận hành. “Việt Nam có cơ hội tạo bước nhảy mạnh mẽ nếu thế hệ trẻ trở thành những người định hình lại cách tổ chức vận hành trong thời đại AI”, ông khẳng định.

-Như Quỳnh

Categories: The Latest News

Việt Nam sẵn sàng trở thành "phòng thí nghiệm xanh - số" của khu vực

Thời Báo Kinh Tế - Wed, 11/26/2025 - 22:28
Phát biểu tổng kết Diễn đàn Kinh tế mùa Thu lần thứ nhất, Thủ tướng nhấn mạnh cơ hội lịch sử để bứt phá và nêu rõ Việt Nam sẵn sàng trở thành “phòng thí nghiệm xanh – số” của khu vực…

Chiều 26/11, tại TP. Hồ Chí Minh, sau phiên đối thoại chính sách cấp cao giữa Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính với lãnh đạo Diễn đàn Kinh tế Thế giới, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã có bài phát biểu tổng kết Diễn đàn Kinh tế mùa Thu lần thứ nhất.

Thay mặt Tổng Bí thư Tô Lâm, lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Chính phủ Việt Nam, Thủ tướng Phạm Minh Chính một lần nữa chân thành cảm ơn các đại biểu đã dành thời gian, tâm huyết tới tham dự Diễn đàn và đặc biệt là phiên Đối thoại chính sách cấp cao hết sức sôi nổi, thực chất, hiệu quả.

NĂM ĐIỂM HỘI TỤ NHẬN THỨC QUAN TRỌNG

Về những nội dung tiếp thu được từ các thảo luận rất phong phú tại Diễn đàn, Thủ tướng cho rằng có 5 điểm hội tụ nhận thức rất quan trọng.

Thứ nhất, các đại biểu cùng chia sẻ nhận thức chung về thế giới. Trong một thế giới đầy biến động, với những vấn đề, thách thức mang tính toàn cầu, toàn dân, toàn diện, các đại biểu đều nhất trí cao về việc tăng cường hơn nữa đoàn kết, hợp tác, đối thoại; đoàn kết để có sức mạnh, hợp tác để có nguồn lực, đối thoại để củng cố lòng tin; đề cao chủ nghĩa đa phương, luật pháp quốc tế, củng cố và phát huy cao nhất tinh thần đoàn kết quốc tế để cùng nhau giải quyết những thách thức chung của thời đại.

Thủ tướng nhấn mạnh: “Đứng trước những thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống của nhân loại, không một quốc gia nào có thể tự mình giải quyết toàn bộ các vấn đề trong quá trình phát triển mà không có sự phối hợp, hỗ trợ, ủng hộ của các quốc gia khác”.

Thứ hai, Diễn đàn cùng thống nhất rằng chuyển đổi xanh và chuyển đổi số là hai yếu tố căn bản cấu thành một xu thế tất yếu, không thể đảo ngược; chuyển đổi kép (xanh và số) đã trở thành yêu cầu khách quan, lựa chọn chiến lược và ưu tiên hàng đầu của mỗi quốc gia để phát triển nhanh và bền vững.

“Nếu chuyển đổi số cung cấp “tốc độ” và sự thông minh thì chuyển đổi xanh cung cấp “bền vững” và “tính nhân văn”. Hai quá trình này đan xen, cộng hưởng sẽ là động lực chính của tăng trưởng toàn cầu trong tương lai”, Thủ tướng đánh giá.

Thứ ba, các đại biểu đều chia sẻ “3 đòn bẩy then chốt” để thúc đẩy chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, phát triển bền vững trong thời gian tới: Thể chế, Nguồn lực và Đổi mới sáng tạo.

Thứ tư, các đại biểu đều nhất trí cách tiếp cận đặt con người ở vị trí trung tâm; con người vừa là chủ thể, là mục tiêu, là động lực, là nguồn lực phát triển; phát triển phải mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho người dân. Chuyển đổi xanh, chuyển đổi số phải vì con người; công nghệ và trí tuệ nhân tạo phải phục vụ con người và không thay thế con người.

Thứ năm, các đại biểu đều thể hiện sự đánh giá cao, ủng hộ và sẵn sàng đồng hành, hợp tác cùng Việt Nam trong chặng đường phát triển mới.

Thủ tướng mong các đối tác, tổ chức quốc tế và Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) tiếp tục đồng hành để Việt Nam trở thành "phòng thí nghiệm xanh – số" của khu vực - Ảnh: VGP/Nhật Bắc.

“Chúng tôi cảm nhận được rất sâu sắc sự ủng hộ quý báu này; rất xúc động và chân thành cảm ơn các bạn. Việt Nam sẽ tiếp tục là đối tác tin cậy, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, đóng góp cho hòa bình, ổn định và phát triển chung của nhân loại, tiếp tục là điểm đến an toàn, đầy tiềm năng đối với các nhà đầu tư nước ngoài, trên tinh thần lợi ích hài hòa, rủi ro chia sẻ”, Thủ tướng nêu rõ.

Thủ tướng khái quát kết quả diễn đàn: “Hội tụ trí tuệ, củng cố niềm tin, gia tăng đoàn kết, xanh - số hòa nhịp, hướng tới tương lai, chia sẻ lợi ích”.

KHỞI ĐẦU CHO HÀNH TRÌNH HỢP TÁC SÂU RỘNG

Thủ tướng mong các đối tác, tổ chức quốc tế và Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) tiếp tục đồng hành, hỗ trợ Việt Nam với tinh thần hợp tác “thực chất, chân thành, tin cậy, hiệu quả” để có thêm nhiều diễn đàn trao đổi hiệu quả về các vấn đề phát triển chung; đồng hành để Việt Nam trở thành “phòng thí nghiệm xanh – số” của khu vực và Việt Nam sẵn sàng trở thành “phòng thí nghiệm xanh – số” của khu vực; tiếp tục chia sẻ tri thức, kinh nghiệm quản trị tiên tiến; cung cấp hỗ trợ cụ thể về tài chính ưu đãi, chuyển giao công nghệ cao, và hỗ trợ kỹ thuật cho Việt Nam.

Thủ tướng nhấn mạnh thành công lớn nhất đạt được trong tổ chức Diễn đàn Kinh tế mùa Thu năm 2025 là việc đưa Diễn đàn trở thành điểm khởi đầu cho một hành trình hợp tác dài hạn, bền vững và mang tầm chiến lược, mang lại lợi ích cho tất cả các nước và các đối tác quốc tế, những người quan tâm; cần tiếp tục phối hợp chặt chẽ, xây dựng Diễn đàn Kinh tế mùa Thu  trở thành một nền tảng đối thoại chiến lược thường niên, uy tín tầm cỡ khu vực và quốc tế về đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững.

Theo Thủ tướng, điều này không chỉ phục vụ sự phát triển của Việt Nam, mà còn thể hiện sự đóng góp tích cực, trách nhiệm của Việt Nam giải quyết các vấn đề phát triển của nhân loại.

Đối thoại chính sách cấp cao giữa Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính với lãnh đạo Diễn đàn Kinh tế Thế giới - Ảnh: VGP/Nhật Bắc.

Thủ tướng nhất trí cao với đề nghị của Giám đốc điều hành Diễn đàn Kinh tế thế giới: “Mong muốn Việt Nam, một nền kinh tế đang phát triển nhanh và năng động, đóng góp nhiều hơn nữa cho những thảo luận tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới về các vấn đề kinh tế toàn cầu”.

Đây cũng là chủ trương của Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới, như tinh thần chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm: “Việt Nam ở một tâm thế mới, mong muốn và sẵn sàng tham gia, đóng góp một cách tích cực, trách nhiệm hơn vào nền chính trị toàn cầu, nền kinh tế thế giới và nền văn minh nhân loại”.

Thủ tướng nhấn mạnh Việt Nam đang đứng trước cơ hội lịch sử để phát triển bứt phá. Cuộc cách mạng chuyển đổi kép (xanh và số) là một hành trình dài, nhiều thách thức, nhưng không có con đường nào khác; không cầu toàn, không nóng vội nhưng không bỏ lỡ cơ hội.

Hẹn gặp lại các đại biểu tại Diễn đàn Kinh tế mùa Thu năm 2026, Thủ tướng mong muốn và tin tưởng rằng, với tinh thần đoàn kết, với ý chí tự lực – tự cường, đổi mới sáng tạo và hợp tác quốc tế sâu rộng, cùng với quyết tâm của cả hệ thống chính trị, của cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân, TP. Hồ CHí Minh nói riêng sẽ vượt qua mọi thách thức, vươn lên bứt phá mạnh mẽ trong kỷ nguyên mới, trở thành một “siêu đô thị quốc tế”, góp phần quan trọng vào sự phát triển thịnh vượng của Việt Nam và không ngừng đóng góp tích cực cho hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững của khu vực và thế giới.

-Thanh Thủy

Categories: The Latest News

Việt Nam sẵn sàng trở thành "phòng thí nghiệm xanh - số" của khu vực

Thời báo kinh tế Việt Nam - Wed, 11/26/2025 - 22:28
Phát biểu tổng kết Diễn đàn Kinh tế mùa Thu lần thứ nhất, Thủ tướng nhấn mạnh cơ hội lịch sử để bứt phá và nêu rõ Việt Nam sẵn sàng trở thành “phòng thí nghiệm xanh – số” của khu vực…

Chiều 26/11, tại TP. Hồ Chí Minh, sau phiên đối thoại chính sách cấp cao giữa Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính với lãnh đạo Diễn đàn Kinh tế Thế giới, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã có bài phát biểu tổng kết Diễn đàn Kinh tế mùa Thu lần thứ nhất.

Thay mặt Tổng Bí thư Tô Lâm, lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Chính phủ Việt Nam, Thủ tướng Phạm Minh Chính một lần nữa chân thành cảm ơn các đại biểu đã dành thời gian, tâm huyết tới tham dự Diễn đàn và đặc biệt là phiên Đối thoại chính sách cấp cao hết sức sôi nổi, thực chất, hiệu quả.

NĂM ĐIỂM HỘI TỤ NHẬN THỨC QUAN TRỌNG

Về những nội dung tiếp thu được từ các thảo luận rất phong phú tại Diễn đàn, Thủ tướng cho rằng có 5 điểm hội tụ nhận thức rất quan trọng.

Thứ nhất, các đại biểu cùng chia sẻ nhận thức chung về thế giới. Trong một thế giới đầy biến động, với những vấn đề, thách thức mang tính toàn cầu, toàn dân, toàn diện, các đại biểu đều nhất trí cao về việc tăng cường hơn nữa đoàn kết, hợp tác, đối thoại; đoàn kết để có sức mạnh, hợp tác để có nguồn lực, đối thoại để củng cố lòng tin; đề cao chủ nghĩa đa phương, luật pháp quốc tế, củng cố và phát huy cao nhất tinh thần đoàn kết quốc tế để cùng nhau giải quyết những thách thức chung của thời đại.

Thủ tướng nhấn mạnh: “Đứng trước những thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống của nhân loại, không một quốc gia nào có thể tự mình giải quyết toàn bộ các vấn đề trong quá trình phát triển mà không có sự phối hợp, hỗ trợ, ủng hộ của các quốc gia khác”.

Thứ hai, Diễn đàn cùng thống nhất rằng chuyển đổi xanh và chuyển đổi số là hai yếu tố căn bản cấu thành một xu thế tất yếu, không thể đảo ngược; chuyển đổi kép (xanh và số) đã trở thành yêu cầu khách quan, lựa chọn chiến lược và ưu tiên hàng đầu của mỗi quốc gia để phát triển nhanh và bền vững.

“Nếu chuyển đổi số cung cấp “tốc độ” và sự thông minh thì chuyển đổi xanh cung cấp “bền vững” và “tính nhân văn”. Hai quá trình này đan xen, cộng hưởng sẽ là động lực chính của tăng trưởng toàn cầu trong tương lai”, Thủ tướng đánh giá.

Thứ ba, các đại biểu đều chia sẻ “3 đòn bẩy then chốt” để thúc đẩy chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, phát triển bền vững trong thời gian tới: Thể chế, Nguồn lực và Đổi mới sáng tạo.

Thứ tư, các đại biểu đều nhất trí cách tiếp cận đặt con người ở vị trí trung tâm; con người vừa là chủ thể, là mục tiêu, là động lực, là nguồn lực phát triển; phát triển phải mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho người dân. Chuyển đổi xanh, chuyển đổi số phải vì con người; công nghệ và trí tuệ nhân tạo phải phục vụ con người và không thay thế con người.

Thứ năm, các đại biểu đều thể hiện sự đánh giá cao, ủng hộ và sẵn sàng đồng hành, hợp tác cùng Việt Nam trong chặng đường phát triển mới.

Thủ tướng mong các đối tác, tổ chức quốc tế và Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) tiếp tục đồng hành để Việt Nam trở thành "phòng thí nghiệm xanh – số" của khu vực - Ảnh: VGP/Nhật Bắc.

“Chúng tôi cảm nhận được rất sâu sắc sự ủng hộ quý báu này; rất xúc động và chân thành cảm ơn các bạn. Việt Nam sẽ tiếp tục là đối tác tin cậy, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, đóng góp cho hòa bình, ổn định và phát triển chung của nhân loại, tiếp tục là điểm đến an toàn, đầy tiềm năng đối với các nhà đầu tư nước ngoài, trên tinh thần lợi ích hài hòa, rủi ro chia sẻ”, Thủ tướng nêu rõ.

Thủ tướng khái quát kết quả diễn đàn: “Hội tụ trí tuệ, củng cố niềm tin, gia tăng đoàn kết, xanh - số hòa nhịp, hướng tới tương lai, chia sẻ lợi ích”.

KHỞI ĐẦU CHO HÀNH TRÌNH HỢP TÁC SÂU RỘNG

Thủ tướng mong các đối tác, tổ chức quốc tế và Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) tiếp tục đồng hành, hỗ trợ Việt Nam với tinh thần hợp tác “thực chất, chân thành, tin cậy, hiệu quả” để có thêm nhiều diễn đàn trao đổi hiệu quả về các vấn đề phát triển chung; đồng hành để Việt Nam trở thành “phòng thí nghiệm xanh – số” của khu vực và Việt Nam sẵn sàng trở thành “phòng thí nghiệm xanh – số” của khu vực; tiếp tục chia sẻ tri thức, kinh nghiệm quản trị tiên tiến; cung cấp hỗ trợ cụ thể về tài chính ưu đãi, chuyển giao công nghệ cao, và hỗ trợ kỹ thuật cho Việt Nam.

Thủ tướng nhấn mạnh thành công lớn nhất đạt được trong tổ chức Diễn đàn Kinh tế mùa Thu năm 2025 là việc đưa Diễn đàn trở thành điểm khởi đầu cho một hành trình hợp tác dài hạn, bền vững và mang tầm chiến lược, mang lại lợi ích cho tất cả các nước và các đối tác quốc tế, những người quan tâm; cần tiếp tục phối hợp chặt chẽ, xây dựng Diễn đàn Kinh tế mùa Thu  trở thành một nền tảng đối thoại chiến lược thường niên, uy tín tầm cỡ khu vực và quốc tế về đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững.

Theo Thủ tướng, điều này không chỉ phục vụ sự phát triển của Việt Nam, mà còn thể hiện sự đóng góp tích cực, trách nhiệm của Việt Nam giải quyết các vấn đề phát triển của nhân loại.

Đối thoại chính sách cấp cao giữa Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính với lãnh đạo Diễn đàn Kinh tế Thế giới - Ảnh: VGP/Nhật Bắc.

Thủ tướng nhất trí cao với đề nghị của Giám đốc điều hành Diễn đàn Kinh tế thế giới: “Mong muốn Việt Nam, một nền kinh tế đang phát triển nhanh và năng động, đóng góp nhiều hơn nữa cho những thảo luận tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới về các vấn đề kinh tế toàn cầu”.

Đây cũng là chủ trương của Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới, như tinh thần chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm: “Việt Nam ở một tâm thế mới, mong muốn và sẵn sàng tham gia, đóng góp một cách tích cực, trách nhiệm hơn vào nền chính trị toàn cầu, nền kinh tế thế giới và nền văn minh nhân loại”.

Thủ tướng nhấn mạnh Việt Nam đang đứng trước cơ hội lịch sử để phát triển bứt phá. Cuộc cách mạng chuyển đổi kép (xanh và số) là một hành trình dài, nhiều thách thức, nhưng không có con đường nào khác; không cầu toàn, không nóng vội nhưng không bỏ lỡ cơ hội.

Hẹn gặp lại các đại biểu tại Diễn đàn Kinh tế mùa Thu năm 2026, Thủ tướng mong muốn và tin tưởng rằng, với tinh thần đoàn kết, với ý chí tự lực – tự cường, đổi mới sáng tạo và hợp tác quốc tế sâu rộng, cùng với quyết tâm của cả hệ thống chính trị, của cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân, TP. Hồ CHí Minh nói riêng sẽ vượt qua mọi thách thức, vươn lên bứt phá mạnh mẽ trong kỷ nguyên mới, trở thành một “siêu đô thị quốc tế”, góp phần quan trọng vào sự phát triển thịnh vượng của Việt Nam và không ngừng đóng góp tích cực cho hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững của khu vực và thế giới.

-Thanh Thủy

Categories: The Latest News

Chủ động ứng phó bão số 15, bảo đảm an toàn cao nhất cho Nhân dân

Thời Báo Kinh Tế - Wed, 11/26/2025 - 22:27
Thủ tướng Chính phủ ban hành Công điện số 231/CĐ-TTg yêu cầu các bộ, ngành và địa phương triển khai ngay biện pháp phòng, tránh, ứng phó bão số 15 với phương châm chủ động “từ sớm, từ xa”, bảo đảm an toàn tính mạng nhân dân và giảm thiểu thiệt hại.

Ngày 26/11, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã ký ban hành Công điện số 231/CĐ-TTg yêu cầu chủ động phòng, tránh, ứng phó bão số 15.

Công điện nêu: Theo Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia, trong 24 giờ tới bão số 15 có khả năng mạnh thêm, có thể đạt cấp 11, giật cấp 14. Hướng di chuyển và cường độ của bão còn thay đổi trong những ngày tiếp theo. Hoàn lưu bão kết hợp không khí lạnh tạo nguy cơ gây mưa vừa, mưa to tại khu vực từ Đà Nẵng đến Lâm Đồng. Cùng với tác động của các đợt mưa lớn kéo dài trước đó, nguy cơ sạt lở đất, lũ ống, lũ quét và ngập lụt vùng trũng được cảnh báo ở mức rất cao.

Từ các thảm họa thiên tai đã xảy ra, Thủ tướng yêu cầu triển khai ngay biện pháp ứng phó bão số 15 với tinh thần chủ động “từ sớm, từ xa”, đặt mục tiêu bảo đảm an toàn tính mạng nhân dân lên trên hết. Các Bộ trưởng, Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố chịu trách nhiệm toàn diện trước Chính phủ và Thủ tướng về kết quả tổ chức phòng, chống bão, lũ trong phạm vi ngành, lĩnh vực và địa bàn được giao.

Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố từ Đà Nẵng đến Lâm Đồng được yêu cầu theo dõi sát diễn biến bão và mưa lũ; tập trung khắc phục nhanh hậu quả của các đợt thiên tai vừa qua theo tinh thần Nghị quyết 380/NQ-CP ngày 25/11/2025; đồng thời triển khai đồng bộ biện pháp ứng phó bão số 15 với tinh thần “đắt lo ế mừng”.

Địa phương cần kêu gọi, hướng dẫn tàu thuyền còn hoạt động trên biển, đặc biệt tại các vùng dự kiến chịu tác động trực tiếp của bão, nhanh chóng di chuyển đến nơi an toàn. Các phương án ứng phó được rà soát, cập nhật phù hợp với tình hình thực tế, nhất là đối với khu vực đảo, vùng ven biển.

Các tỉnh, thành phố tổ chức kiểm tra việc bảo đảm an toàn hồ đập, đê điều, trụ sở cơ quan, trường học, hệ thống hạ tầng thiết yếu và hoạt động sản xuất kinh doanh, nhất là sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản.

Công tác sơ tán dân phải được chuẩn bị kỹ, thực hiện kịp thời, nhất là tại lồng bè, chòi canh nuôi trồng thủy hải sản, các khu vực có nguy cơ lũ quét, lũ ống, sạt lở đất khi dự báo xuất hiện gió mạnh hoặc mưa lớn.

Lực lượng phòng, chống thiên tai tại chỗ được yêu cầu bố trí sẵn sàng tại các khu vực trọng điểm, cùng với phương tiện, vật tư, lương thực và nhu yếu phẩm nhằm đáp ứng kịp thời mọi tình huống theo phương châm “4 tại chỗ”.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường chỉ đạo công tác dự báo, cập nhật, cung cấp thông tin kịp thời, chính xác về diễn biến bão và mưa lũ; thông báo khu vực nguy hiểm để chính quyền địa phương và người dân chủ động phòng, tránh.

Bộ cũng hướng dẫn bảo đảm an toàn tàu thuyền khai thác thủy sản, bảo vệ đê điều, hồ đập thủy lợi và sản xuất nông nghiệp; đồng thời đôn đốc các bộ, ngành và địa phương triển khai biện pháp ứng phó phù hợp tình hình, kịp thời báo cáo Ban chỉ đạo phòng thủ dân sự quốc gia và Thủ tướng đối với các vấn đề vượt thẩm quyền.

Bộ Quốc phòng và Bộ Công an chỉ đạo các đơn vị đóng quân trên địa bàn có nguy cơ ảnh hưởng của bão và mưa lũ rà soát, chuẩn bị đầy đủ lực lượng và phương tiện, sẵn sàng hỗ trợ chính quyền địa phương sơ tán dân, di dời khẩn cấp và thực hiện cứu hộ, cứu nạn khi có yêu cầu.

Bộ trưởng các Bộ: Quốc phòng, Công an, Nông nghiệp và Môi trường, Xây dựng, Công Thương, Khoa học và Công nghệ, Giáo dục và Đào tạo, Y tế; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố ven biển từ Đà Nẵng đến Lâm Đồng tổ chức theo dõi, cập nhật thường xuyên, liên tục, sát diễn biến tình hình, chủ động chỉ đạo, triển khai các biện pháp ứng phó bão số 15 bảo đảm kịp thời, hiệu quả, với phương châm chủ động phòng ngừa “từ sớm, từ xa” ứng phó ở mức cao nhất, quyết liệt nhất, đặt mục tiêu bảo đảm an toàn tính mạng nhân dân lên trên hết, trước hết.

Các Bộ trưởng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm toàn diện trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về kết quả, hiệu quả công tác phòng, chống bão, lũ đối với ngành, lĩnh vực, địa bàn được phân công quản lý.

Chánh Văn phòng Ban chỉ đạo phòng thủ dân sự quốc gia chủ trì phối hợp với cơ quan chức năng thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường theo dõi sát tình hình, rà soát các kịch bản ứng phó; sẵn sàng điều phối, huy động lực lượng và phương tiện hỗ trợ địa phương.

Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà tiếp tục được giao chỉ đạo việc triển khai công tác ứng phó bão và mưa lũ. Văn phòng Chính phủ theo dõi, đôn đốc các bộ, ngành và địa phương thực hiện nghiêm Công điện; báo cáo hằng ngày theo quy định và kịp thời gửi Thủ tướng, Phó Thủ tướng phụ trách những vấn đề phát sinh.

-Minh Hiếu

Categories: The Latest News

Chủ động ứng phó bão số 15, bảo đảm an toàn cao nhất cho Nhân dân

Thời báo kinh tế Việt Nam - Wed, 11/26/2025 - 22:27
Thủ tướng Chính phủ ban hành Công điện số 231/CĐ-TTg yêu cầu các bộ, ngành và địa phương triển khai ngay biện pháp phòng, tránh, ứng phó bão số 15 với phương châm chủ động “từ sớm, từ xa”, bảo đảm an toàn tính mạng nhân dân và giảm thiểu thiệt hại.

Ngày 26/11, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã ký ban hành Công điện số 231/CĐ-TTg yêu cầu chủ động phòng, tránh, ứng phó bão số 15.

Công điện nêu: Theo Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia, trong 24 giờ tới bão số 15 có khả năng mạnh thêm, có thể đạt cấp 11, giật cấp 14. Hướng di chuyển và cường độ của bão còn thay đổi trong những ngày tiếp theo. Hoàn lưu bão kết hợp không khí lạnh tạo nguy cơ gây mưa vừa, mưa to tại khu vực từ Đà Nẵng đến Lâm Đồng. Cùng với tác động của các đợt mưa lớn kéo dài trước đó, nguy cơ sạt lở đất, lũ ống, lũ quét và ngập lụt vùng trũng được cảnh báo ở mức rất cao.

Từ các thảm họa thiên tai đã xảy ra, Thủ tướng yêu cầu triển khai ngay biện pháp ứng phó bão số 15 với tinh thần chủ động “từ sớm, từ xa”, đặt mục tiêu bảo đảm an toàn tính mạng nhân dân lên trên hết. Các Bộ trưởng, Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố chịu trách nhiệm toàn diện trước Chính phủ và Thủ tướng về kết quả tổ chức phòng, chống bão, lũ trong phạm vi ngành, lĩnh vực và địa bàn được giao.

Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố từ Đà Nẵng đến Lâm Đồng được yêu cầu theo dõi sát diễn biến bão và mưa lũ; tập trung khắc phục nhanh hậu quả của các đợt thiên tai vừa qua theo tinh thần Nghị quyết 380/NQ-CP ngày 25/11/2025; đồng thời triển khai đồng bộ biện pháp ứng phó bão số 15 với tinh thần “đắt lo ế mừng”.

Địa phương cần kêu gọi, hướng dẫn tàu thuyền còn hoạt động trên biển, đặc biệt tại các vùng dự kiến chịu tác động trực tiếp của bão, nhanh chóng di chuyển đến nơi an toàn. Các phương án ứng phó được rà soát, cập nhật phù hợp với tình hình thực tế, nhất là đối với khu vực đảo, vùng ven biển.

Các tỉnh, thành phố tổ chức kiểm tra việc bảo đảm an toàn hồ đập, đê điều, trụ sở cơ quan, trường học, hệ thống hạ tầng thiết yếu và hoạt động sản xuất kinh doanh, nhất là sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản.

Công tác sơ tán dân phải được chuẩn bị kỹ, thực hiện kịp thời, nhất là tại lồng bè, chòi canh nuôi trồng thủy hải sản, các khu vực có nguy cơ lũ quét, lũ ống, sạt lở đất khi dự báo xuất hiện gió mạnh hoặc mưa lớn.

Lực lượng phòng, chống thiên tai tại chỗ được yêu cầu bố trí sẵn sàng tại các khu vực trọng điểm, cùng với phương tiện, vật tư, lương thực và nhu yếu phẩm nhằm đáp ứng kịp thời mọi tình huống theo phương châm “4 tại chỗ”.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường chỉ đạo công tác dự báo, cập nhật, cung cấp thông tin kịp thời, chính xác về diễn biến bão và mưa lũ; thông báo khu vực nguy hiểm để chính quyền địa phương và người dân chủ động phòng, tránh.

Bộ cũng hướng dẫn bảo đảm an toàn tàu thuyền khai thác thủy sản, bảo vệ đê điều, hồ đập thủy lợi và sản xuất nông nghiệp; đồng thời đôn đốc các bộ, ngành và địa phương triển khai biện pháp ứng phó phù hợp tình hình, kịp thời báo cáo Ban chỉ đạo phòng thủ dân sự quốc gia và Thủ tướng đối với các vấn đề vượt thẩm quyền.

Bộ Quốc phòng và Bộ Công an chỉ đạo các đơn vị đóng quân trên địa bàn có nguy cơ ảnh hưởng của bão và mưa lũ rà soát, chuẩn bị đầy đủ lực lượng và phương tiện, sẵn sàng hỗ trợ chính quyền địa phương sơ tán dân, di dời khẩn cấp và thực hiện cứu hộ, cứu nạn khi có yêu cầu.

Bộ trưởng các Bộ: Quốc phòng, Công an, Nông nghiệp và Môi trường, Xây dựng, Công Thương, Khoa học và Công nghệ, Giáo dục và Đào tạo, Y tế; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố ven biển từ Đà Nẵng đến Lâm Đồng tổ chức theo dõi, cập nhật thường xuyên, liên tục, sát diễn biến tình hình, chủ động chỉ đạo, triển khai các biện pháp ứng phó bão số 15 bảo đảm kịp thời, hiệu quả, với phương châm chủ động phòng ngừa “từ sớm, từ xa” ứng phó ở mức cao nhất, quyết liệt nhất, đặt mục tiêu bảo đảm an toàn tính mạng nhân dân lên trên hết, trước hết.

Các Bộ trưởng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm toàn diện trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về kết quả, hiệu quả công tác phòng, chống bão, lũ đối với ngành, lĩnh vực, địa bàn được phân công quản lý.

Chánh Văn phòng Ban chỉ đạo phòng thủ dân sự quốc gia chủ trì phối hợp với cơ quan chức năng thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường theo dõi sát tình hình, rà soát các kịch bản ứng phó; sẵn sàng điều phối, huy động lực lượng và phương tiện hỗ trợ địa phương.

Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà tiếp tục được giao chỉ đạo việc triển khai công tác ứng phó bão và mưa lũ. Văn phòng Chính phủ theo dõi, đôn đốc các bộ, ngành và địa phương thực hiện nghiêm Công điện; báo cáo hằng ngày theo quy định và kịp thời gửi Thủ tướng, Phó Thủ tướng phụ trách những vấn đề phát sinh.

-Minh Hiếu

Categories: The Latest News

Khối ngoại mua ròng hơn 600 tỷ, cá nhân tranh thủ thoát hàng

Thời báo kinh tế Việt Nam - Wed, 11/26/2025 - 20:49
Khối ngoại bất ngờ là điểm sáng khi mua ròng 583 tỷ đồng chủ yếu gom các cổ phiếu gồm SHB, VPB, VIX, MSN và xả ra VCB, VIC. Trong khi đó nhà đầu tư cá nhân vẫn bán ròng khớp lệnh là 844.9 tỷ đồng.

Thị trường đang được hỗ trợ bởi những câu chuyện riêng lẻ với từng nhóm ngành khác nhau, chẳng hạn như nhóm GEX và VPL. Hạ tầng Gelex chính thức được chấp thuận chào bán lần đầu ra công chúng 100 triệu cổ phiếu khiến hàng loạt mã liên quan bật tăng kịch trần như GEX, GEE, VIX. Bộ Tài chính cho phép người Việt vào chơi casino tại Phú Quốc tác động tích cực VPL cũng bật tung hết biên độ.

Tâm lý hào hứng lan tỏa khắp sàn. VN-Index đóng cửa tăng 20 điểm tiến về vùng giá 1.680,36 với 243 mã tăng chỉ còn lại 79 mã giảm điểm. Cổ phiếu chứng khoán được một phiên cởi trói tăng tưng bừng ngoài VIX như VND, VCI, HCM, SHS, MBS, CTS, SSI, FTS.

Ngân hàng kém hơn một chút nhưng cũng là mức tăng tương đối khá trung bình trên 1% gồm CTG, TCB, MBB, LPB, VPB, nhóm nhỏ bật mạnh hơn như EIB hơn 5,46%. Bất động sản buổi sáng VIC còn bị dìm dưới tham chiếu nhưng chốt phiên vẫn xanh nhẹ, VRE tăng 1,35% trong khi VHM giảm 0,49%.

Ngược lại, hầu hết cổ phiếu nhà đất phi mã như DXG, KDH, CEO, PDR, DIG, SNZ. Dòng tiền đầu cơ đang bùng nổ mạnh mẽ sau một thời gian thận trọng. Ở các nhóm ngành còn lại tiền đổ vào kéo giá lên như tiêu dùng, năng lượng dầu khí, nguyên vật liệu. Riêng công nghệ thông tin lại quay xe FPT giảm 0,7%.

Dù vậy, chưa có dấu hiệu tiền Fomo, thanh khoản ba sàn hôm nay vẫn chỉ ở mức hơn 24.000 tỷ đồng. Khối ngoại bất ngờ là điểm sáng khi mua ròng 583 tỷ đồng chủ yếu gom các cổ phiếu gồm SHB, VPB, VIX, MSN và xả ra VCB, VIC. Đây là hai cổ phiếu ngáng chân thị trường hôm nay, nếu được sự đồng thuận của hai ông lớn này, VN-Index có thể đã có một phiên bùng nổ theo đà như giới đầu tư kỳ vọng.

Tính riêng giao dịch khớp lệnh thì họ mua ròng 622.2 tỷ đồng. Mua ròng khớp lệnh chính của nước ngoài là nhóm Ngân hàng, Dịch vụ tài chính. Top mua ròng khớp lệnh của nước ngoài gồm các mã: SHB, VPB, VIX, MSN, E1VFVN30, TCX, VNM, TPB, POW, GEX.

Phía bên bán ròng khớp lệnh của nước ngoài là nhóm Bất động sản. Top bán ròng khớp lệnh của nước ngoài gồm các mã: VCB, VIC, VJC, VND, HPG, VCI, HAG, GEE, HCM.

Nhà đầu tư cá nhân bán ròng 711.7 tỷ đồng, trong đó họ bán ròng khớp lệnh là 844.9 tỷ đồng.

Tính riêng giao dịch khớp lệnh, họ mua ròng 4/18 ngành, chủ yếu là ngành Công nghệ Thông tin. Top mua ròng của nhà đầu tư cá nhân tập trung gồm: VIC, VCB, FPT, MBB, HAG, VND, TCB, BAF, VHM, VCI.

Phía bán ròng khớp lệnh: họ bán ròng 14/18 ngành chủ yếu là nhóm ngành Dịch vụ tài chính, Ngân hàng. Top bán ròng có: VIX, SHB, VJC, VPB, VPI, SSI, MSN, DXG, VSC.

Tự doanh mua ròng 254.4 tỷ đồng tính riêng khớp lệnh họ mua ròng 225.7 tỷ đồng. Tính riêng giao dịch khớp lệnh: Tự doanh mua ròng 10/18 ngành. Nhóm mua ròng mạnh nhất là Ngân hàng, Bất động sản.

Top mua ròng khớp lệnh của tự doanh phiên ngày hôm nay gồm VHM, HPG, TCB, VIC, VJC, FPT, MSN, VRE, MBB, VNM. Top bán ròng là nhóm Dịch vụ tài chính. Top cổ phiếu được bán ròng gồm E1VFVN30, CII, FRT, KBC, SHB, PVD, VIB, PVT, KDH, VPL.

Nhà đầu tư tổ chức trong nước bán ròng 170.2 tỷ đồng, tính riêng khớp lệnh thì họ bán ròng 3.1 tỷ đồng.

Tính riêng giao dịch khớp lệnh: Tổ chức trong nước bán ròng 8/18 ngành, giá trị lớn nhất là nhóm Thực phẩm và đồ uống Top bán ròng có MBB, FPT, VHM, VPB, VNM, MSN, TCX, HAG, TPB, TCB. Giá trị mua ròng lớn nhất là nhóm Dịch vụ tài chính. Top mua ròng có VIX, VJC, VPI, VCB, MWG, SSI, CII, DXG, SHB, FRT.

Giá trị giao dịch thỏa thuận hôm nay đạt 5.132,6 tỷ đồng, giảm -6,4% so với phiên liền trước và đóng góp 19,2% tổng giá trị giao dịch. 

Hôm nay tiếp tục có giao dịch đáng chú ý giữa các Tổ chức trong nước ở cổ phiếu VIC, với 8 triệu đơn vị cổ phiếu tương đương 1.840 tỷ đồng được sang tay.

Tỷ trọng phân bổ dòng tiền tăng ở Ngân hàng, Xây dựng, Bán lẻ, Thiết bị điện, Công nghệ thông tin, trong khi giảm ở Chứng khoán, Bất động sản, Thép, Hóa chất, Nuôi trồng nông Hải sản, Thực phẩm, Dầu khí, Hàng không, Nhựa, cao su sợi.

Tính riêng khớp lệnh, tỷ trọng phân bổ dòng tiền tăng ở nhóm vốn hóa lớn VN30, trong khi giảm ở nhóm vốn hóa vừa VNMID và nhỏ VNSML.

-Thu Minh

Categories: The Latest News

VietinBank hỗ trợ hộ kinh doanh chuyển đổi thuế khoán sang kê khai

Thời báo kinh tế Việt Nam - Wed, 11/26/2025 - 19:18
Hưởng ứng Chiến dịch 60 ngày cao điểm chuyển đổi từ thuế khoán sang kê khai do ngành Thuế triển khai trên toàn quốc, VietinBank đã phối hợp với Thuế tại nhiều địa phương triển khai chuỗi hoạt động ký kết cùng hàng loạt các chương trình hỗ trợ hộ kinh doanh trong giai đoạn chuyển đổi quan trọng này.

Nhận thấy rõ áp lực lớn mà hộ kinh doanh đang đối mặt khi yêu cầu chuyển đổi số và minh bạch hóa tài chính được đẩy mạnh, từ tháng 6/2025, VietinBank đã triển khai đồng bộ gói giải pháp tài chính “Ngân hàng đồng hành – An tâm kinh doanh” mang đến hệ sinh thái hỗ trợ hộ kinh doanh cả về tài chính, công nghệ và pháp lý – giúp người kinh doanh an tâm phát triển – vững vàng chuyển đổi tuân thủ theo đúng quy định:

Nhân 5 lần lãi suất, lên tới 0,5%/năm cho tài khoản thanh toán;

Vay vốn lưu động nhanh, phù hợp với mọi loại hình kinh doanh trên cả nước với lãi suất ưu đãi;

Ưu đãi miễn phí phần mềm bán hàng, tặng đến 60.000 hóa đơn điện tử từ hệ sinh thái đối tác của VietinBank như FPT, MISA, KiotViet,…;

Chuỗi hoạt động đồng hành hỗ trợ chuyển đổi, tư vấn pháp lý tại chỗ cùng hàng ngàn hộ kinh doanh trên khắp các tỉnh thành.

Bên cạnh đó, trong khuôn khổ chiến dịch, các chi nhánh VietinBank trên toàn quốc đã phối hợp ký kết thỏa thuận hợp tác với cơ quan Thuế địa phương, tiêu biểu gồm:

Chi nhánh Huế ký kết với Thuế thành phố Thừa Thiên Huế ngày 1/11/2025.

Chi nhánh TP. Hồ Chí Minh ký kết với Thuế TP. Hồ Chí Minh ngày 14/11/2025.

Chi nhánh Cần Thơ ký kết với Thuế thành phố Cần Thơ ngày 11/11/2025.

Chi nhánh Sơn La ký kết với Thuế tỉnh Sơn La ngày 18/11/2025.

Các thỏa thuận hướng tới việc phối hợp tuyên truyền chính sách thuế, hướng dẫn hộ kinh doanh thực hiện kê khai, phát hành hóa đơn điện tử theo quy định, đồng thời thiết lập kênh hỗ trợ trực tiếp giữa cơ quan Thuế và chi nhánh VietinBank để giải đáp kịp thời các vướng mắc trong quá trình chuyển đổi. Song song, VietinBank tiếp tục cung cấp bộ sản phẩm - giải pháp toàn diện “Tài khoản sinh lời - Vay vốn linh hoạt - Phần mềm bán hàng” dành riêng cho hộ kinh doanh trong giai đoạn chuyển đổi này.

Đại diện VietinBank chia sẻ: “VietinBank cam kết đồng hành cùng ngành Thuế trong công tác hiện đại hóa quản lý và chuyển đổi số lĩnh vực thuế – tài chính, giúp hộ kinh doanh thực hiện kê khai minh bạch, an toàn, đồng thời tiếp cận hệ sinh thái ngân hàng số hiệu quả, bền vững.”

Thông qua chuỗi hoạt động hợp tác này, VietinBank tiếp tục khẳng định vai trò ngân hàng tiên phong trong chuyển đổi số, đồng hành cùng Chính phủ và các cơ quan quản lý trong việc xây dựng nền kinh tế số minh bạch và chuyển đổi mô hình kinh doanh hiệu quả.

-Thu Hà

Categories: The Latest News

UAV vận chuyển nhu yếu phẩm đến bà con vùng bị lũ lụt miền Trung

Thời báo kinh tế Việt Nam - Wed, 11/26/2025 - 19:17
Trong đêm mưa gió, chiếc xe địa hình có ống thở, đội các UAV vắt vẻo trên đầu, vượt qua các vùng nước ngập sâu trên quốc lộ 1A để tiến vào vùng Nam Trung Bộ, cứu trợ người dân tại các điểm ngập sâu…

Nước dâng quá nhanh trong đêm, nhiều khu vực đã bị cô lập hoàn toàn, nước vượt mái nhà, không điện, không nước, điện thoại hết pin, chỉ còn một cách duy nhất là dùng UAV để tiếp cận.

Ba chiếc UAV bay liên tục xuyên ngày đêm, mang phao, dây, nước uống, mì gói, sữa. Giữ được ổn định trong gió mạnh và mưa, các UAV bay thấp qua từng mái nhà. Chiếc loa công suất lớn gắn trên thân UAV phát liên tục các hướng dẫn cho bà con đang gặp nạn. Trong bối cảnh gần như không còn bất kỳ tín hiệu liên lạc nào, giọng loa ấy thực sự là một bàn tay ấm áp trong giá lạnh tái tê.

Các UAV của CT UAV xác định vị trí người dân cần giúp đỡ và vận chuyển nhu yếu phẩm tại xã Hòa Xuân Đông (Phú Yên cũ). UAV vận chuyển nhu yếu phẩm đến bà con vùng bị lũ lụt tại thôn Quy Hậu, Tuy Hoà (Phú Yên cũ).

Anh Phan Văn Hán – Giám đốc Hỗ trợ kỹ thuật của CT UAV dẫn đầu đoàn, ngậm ngùi nói: “Chúng tôi chỉ tiếc là chưa thể làm được nhiều hơn cho bà con. Giá như chúng tôi có thể phát triển kịp thời loại UAV có thể phát wifi, sạc nhanh di động, thì sẽ hỗ trợ được bà con tại vùng bị mất sóng, để họ có thể liên lạc với gia đình, kêu gọi được cứu trợ vào những lúc nguy cấp. Đội ngũ chúng tôi đang làm ngày đêm, đẩy nhanh việc phát triển UAV thế hệ mới chuyên dùng cho công tác ứng phó thảm họa như các loại UAV kén nổi siêu nặng có thể cứu được nhiều người hoặc nền tảng Quốc gia kết hợp giữa vệ tinh – UAV – truyền thông đa phương tiện để cảnh báo sớm mọi nguy cơ lở đất, lũ lụt, động đất, dịch bệnh, tắc nghẽn… thì thiệt hại của Quốc gia và nhân dân sẽ giảm đi rất nhiều”.

“Một đồng đội khác của tôi là anh Khang không may dẫm phải đinh khi lội trong dòng nước lũ, vết thương rách sâu nhưng anh ấy vẫn cố gắng hoàn thành nốt những điểm tiếp tế trong ngày. Và anh nói rằng bà con còn đang cần mình lắm, chịu đau, cố thêm chút nữa cũng không sao”, anh Hán nói.

Cùng với đó, CT Modulex – một đơn vị trong cùng hệ sinh thái công nghệ của CT Group đang phát triển nhà xếp chống thảm họa. Đây là dạng nhà robot có thể tự xếp gọn và duỗi ra nhanh chóng, tự cấp được điện, nước. Những ngôi nhà này có thể nổi trên mặt nước, dùng làm nhà ở, bệnh viện dã chiến, hoặc thậm chí trở thành điểm lánh nạn giữa rốn lũ.

Đoàn cứu trợ đã đi qua nhiều thôn, xã ngập sâu suốt những ngày qua và dự kiến sẽ trở về TP.HCM vào đêm 26/11 sau khi hoàn tất các điểm cuối cùng. Phần lớn thành viên đều thấm mệt, nhưng không ai nhắc về sự vất vả. Điều lưu lại nhiều nhất trong ký ức họ là những gương mặt bừng sáng khi nhìn thấy UAV hạ xuống, hay một cái gật đầu nhẹ, vẫy tay chào như lời cảm ơn trong dòng nước lạnh.

-Thu Ngân

Categories: The Latest News

Nghệ An: Kinh tế xanh, tăng trưởng xanh là hướng chiến lược phát triển bền vững trong bối cảnh mới

Thời báo kinh tế Việt Nam - Wed, 11/26/2025 - 19:09
Nghệ An đang chuyển đổi mô hình tăng trưởng: từ công nghiệp truyền thống sang công nghiệp sạch, từ nông nghiệp thông thường sang nông nghiệp sinh thái, nhằm hướng tới một nền kinh tế thông minh, bền vững và bao trùm...

Ngày 26/11, UBND tỉnh Nghệ An tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề "Kinh tế xanh ở Nghệ An – Giải pháp phát triển bền vững và an toàn trong bối cảnh mới", nhằm đánh giá thực trạng, cơ hội và thách thức trong quá trình phát triển kinh tế xanh của tỉnh.

LỒNG GHÉP TĂNG TRƯỞNG XANH VÀO CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI

Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn 2050, đã được Thủ tướng Chính phủ ban hành, xác định tăng trưởng xanh là quá trình thay đổi mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế dựa trên công nghệ tiên tiến và hạ tầng hiện đại.

Điều này không chỉ giúp sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, giảm phát thải khí nhà kính mà còn thúc đẩy xóa đói giảm nghèo và tăng trưởng bền vững.

Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Nghệ An Nguyễn Quý Linh phát biểu đề dẫn hội thảo

Tăng trưởng xanh bao gồm 6 nội dung chính: sản xuất và tiêu dùng bền vững, xanh hóa thị trường và hoạt động sản xuất kinh doanh, xây dựng hạ tầng bền vững, cải tổ thuế và ngân sách xanh, đầu tư và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và hệ sinh thái, xây dựng và thực hiện các chỉ số hiệu quả sinh thái.

Kinh tế xanh Việt Nam đã có những bước chuyển dịch tích cực. Chỉ số Tăng trưởng xanh (GGI) của Việt Nam đã tăng từ 39,4 năm 2005 lên 56,46 năm 2022, xếp thứ 73 trên thế giới. Chỉ số Phát triển bền vững năm 2024 đạt 73,32 điểm, xếp thứ 54/166 quốc gia. Năm 2021, nền kinh tế xanh Việt Nam tạo ra hơn 7,2 tỷ USD, chiếm khoảng 2% GDP, đồng thời tạo hơn 500.000 việc làm xanh.

Trên cơ sở định hướng quốc gia, Nghệ An – trung tâm vùng Bắc Trung Bộ – đã sớm xác định tăng trưởng xanh là hướng chiến lược. Ngày 01/11/2023, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 3560/QĐ-UBND về Kế hoạch hành động tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 – 2030, lồng ghép tăng trưởng xanh vào chương trình phát triển kinh tế – xã hội, nhấn mạnh yêu cầu “tăng trưởng xanh gắn với cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng”.

Trong thực tiễn, Nghệ An đã đạt được nhiều kết quả đáng chú ý. Ngành công nghiệp chuyển từ mô hình tăng trưởng theo chiều rộng sang tăng trưởng xanh có chọn lọc, thu hút nhiều dự án công nghệ cao, hình thành mô hình công nghiệp sạch. Về năng lượng, tỉnh Nghệ An nổi lên với tiềm năng phát triển năng lượng tái tạo, đặc biệt trong khu vực Bắc Trung Bộ.

Nông nghiệp triển khai nhiều mô hình hữu cơ, sinh thái và tuần hoàn, bảo vệ đất, nước, đa dạng sinh học. Dịch vụ và du lịch chú trọng phát triển sản phẩm du lịch biển, sinh thái và cộng đồng, gắn với bảo tồn di sản văn hóa và môi trường. Công tác bảo vệ rừng tự nhiên, phục hồi hệ sinh thái, phát triển kinh tế lâm nghiệp bền vững, bao gồm thí điểm tín chỉ carbon rừng, cũng đạt những bước tiến đáng ghi nhận.

 PHÁT TRIỂN KINH TẾ XANH ĐỐI MẶT NHIỀU THÁCH THỨC

Tuy nhiên, theo các chuyên gia, trong quá trình chuyển đổi xanh, tăng trưởng xanh, Nghệ An vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Hệ thống cơ chế, chính sách và phối hợp về tăng trưởng xanh chưa đồng bộ; hạ tầng kỹ thuật phục vụ bảo vệ môi trường còn hạn chế; nguồn vốn cho các dự án xanh chưa đáp ứng nhu cầu đầu tư hạ tầng, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Bên cạnh đó, nhận thức xã hội về tiêu dùng xanh, bảo vệ tài nguyên chưa sâu rộng, trong khi các ngành công nghiệp truyền thống vẫn chủ yếu sử dụng công nghệ cũ, tiêu hao năng lượng và phát thải cao...

Tại hội thảo, các diễn giả, nhà khoa học đã trao đổi, phân tích nhiều vấn đề trọng tâm như cơ sở khoa học về tăng trưởng xanh, chuyển đổi xanh để Nghệ An xây dựng định hướng phát triển kinh tế xanh đến năm 2030, tầm nhìn 2045.

Các chuyên gia cũng đánh giá thực trạng, cơ hội và thách thức trong các lĩnh vực ưu tiên như nông nghiệp xanh, năng lượng tái tạo, công nghiệp sạch, khu công nghiệp xanh, du lịch xanh, đô thị xanh; liên kết, hợp tác; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phục vụ tăng trưởng xanh.

Hội thảo đã đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả quá trình tăng trưởng xanh, nhằm giúp Nghệ An hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, thịnh vượng và an toàn trong bối cảnh mới. Đồng thời, hội thảo cũng gợi mở hướng nghiên cứu, xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển bền vững, giảm nhẹ tác động của biến đổi khí hậu.

-Nguyễn Thuấn

Categories: The Latest News

Kinh tế xanh, tăng trưởng xanh là hướng chiến lược phát triển bền vững của Nghệ An trong bối cảnh mới

Thời báo kinh tế Việt Nam - Wed, 11/26/2025 - 19:09
Nghệ An đang chuyển đổi mô hình tăng trưởng: từ công nghiệp truyền thống sang công nghiệp sạch, từ nông nghiệp thông thường sang nông nghiệp sinh thái, nhằm hướng tới một nền kinh tế thông minh, bền vững và bao trùm...

Ngày 26/11, UBND tỉnh Nghệ An tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề "Kinh tế xanh ở Nghệ An – Giải pháp phát triển bền vững và an toàn trong bối cảnh mới", nhằm đánh giá thực trạng, cơ hội và thách thức trong quá trình phát triển kinh tế xanh của tỉnh.

LỒNG GHÉP TĂNG TRƯỞNG XANH VÀO CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI

Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn 2050, đã được Thủ tướng Chính phủ ban hành, xác định tăng trưởng xanh là quá trình thay đổi mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế dựa trên công nghệ tiên tiến và hạ tầng hiện đại.

Điều này không chỉ giúp sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, giảm phát thải khí nhà kính mà còn thúc đẩy xóa đói giảm nghèo và tăng trưởng bền vững.

Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Nghệ An Nguyễn Quý Linh phát biểu đề dẫn hội thảo

Tăng trưởng xanh bao gồm 6 nội dung chính: sản xuất và tiêu dùng bền vững, xanh hóa thị trường và hoạt động sản xuất kinh doanh, xây dựng hạ tầng bền vững, cải tổ thuế và ngân sách xanh, đầu tư và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và hệ sinh thái, xây dựng và thực hiện các chỉ số hiệu quả sinh thái.

Kinh tế xanh Việt Nam đã có những bước chuyển dịch tích cực. Chỉ số Tăng trưởng xanh (GGI) của Việt Nam đã tăng từ 39,4 năm 2005 lên 56,46 năm 2022, xếp thứ 73 trên thế giới. Chỉ số Phát triển bền vững năm 2024 đạt 73,32 điểm, xếp thứ 54/166 quốc gia. Năm 2021, nền kinh tế xanh Việt Nam tạo ra hơn 7,2 tỷ USD, chiếm khoảng 2% GDP, đồng thời tạo hơn 500.000 việc làm xanh.

Trên cơ sở định hướng quốc gia, Nghệ An – trung tâm vùng Bắc Trung Bộ – đã sớm xác định tăng trưởng xanh là hướng chiến lược. Ngày 01/11/2023, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 3560/QĐ-UBND về Kế hoạch hành động tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 – 2030, lồng ghép tăng trưởng xanh vào chương trình phát triển kinh tế – xã hội, nhấn mạnh yêu cầu “tăng trưởng xanh gắn với cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng”.

Trong thực tiễn, Nghệ An đã đạt được nhiều kết quả đáng chú ý. Ngành công nghiệp chuyển từ mô hình tăng trưởng theo chiều rộng sang tăng trưởng xanh có chọn lọc, thu hút nhiều dự án công nghệ cao, hình thành mô hình công nghiệp sạch. Về năng lượng, tỉnh Nghệ An nổi lên với tiềm năng phát triển năng lượng tái tạo, đặc biệt trong khu vực Bắc Trung Bộ.

Nông nghiệp triển khai nhiều mô hình hữu cơ, sinh thái và tuần hoàn, bảo vệ đất, nước, đa dạng sinh học. Dịch vụ và du lịch chú trọng phát triển sản phẩm du lịch biển, sinh thái và cộng đồng, gắn với bảo tồn di sản văn hóa và môi trường. Công tác bảo vệ rừng tự nhiên, phục hồi hệ sinh thái, phát triển kinh tế lâm nghiệp bền vững, bao gồm thí điểm tín chỉ carbon rừng, cũng đạt những bước tiến đáng ghi nhận.

 PHÁT TRIỂN KINH TẾ XANH ĐỐI MẶT NHIỀU THÁCH THỨC

Tuy nhiên, theo các chuyên gia, trong quá trình chuyển đổi xanh, tăng trưởng xanh, Nghệ An vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Hệ thống cơ chế, chính sách và phối hợp về tăng trưởng xanh chưa đồng bộ; hạ tầng kỹ thuật phục vụ bảo vệ môi trường còn hạn chế; nguồn vốn cho các dự án xanh chưa đáp ứng nhu cầu đầu tư hạ tầng, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Bên cạnh đó, nhận thức xã hội về tiêu dùng xanh, bảo vệ tài nguyên chưa sâu rộng, trong khi các ngành công nghiệp truyền thống vẫn chủ yếu sử dụng công nghệ cũ, tiêu hao năng lượng và phát thải cao...

Tại hội thảo, các diễn giả, nhà khoa học đã trao đổi, phân tích nhiều vấn đề trọng tâm như cơ sở khoa học về tăng trưởng xanh, chuyển đổi xanh để Nghệ An xây dựng định hướng phát triển kinh tế xanh đến năm 2030, tầm nhìn 2045.

Các chuyên gia cũng đánh giá thực trạng, cơ hội và thách thức trong các lĩnh vực ưu tiên như nông nghiệp xanh, năng lượng tái tạo, công nghiệp sạch, khu công nghiệp xanh, du lịch xanh, đô thị xanh; liên kết, hợp tác; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phục vụ tăng trưởng xanh.

Hội thảo đã đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả quá trình tăng trưởng xanh, nhằm giúp Nghệ An hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, thịnh vượng và an toàn trong bối cảnh mới. Đồng thời, hội thảo cũng gợi mở hướng nghiên cứu, xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển bền vững, giảm nhẹ tác động của biến đổi khí hậu.

-Nguyễn Thuấn

Categories: The Latest News

Đại biểu Quốc hội kiến nghị về việc trích lại tiền thuế nhập khẩu để phòng vệ thương mại

Thời Báo Kinh Tế - Wed, 11/26/2025 - 19:08
Theo đại biểu Quốc hội, dự thảo quy định "trích lại một phần tiền thuế nhập khẩu để phục vụ công tác phòng vệ thương mại" là bước tiến phù hợp với thông lệ quốc tế, đáp ứng nhu cầu cấp bách hiện nay.

Chiều 26/11, Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù nhằm nâng cao hiệu quả công tác hội nhập quốc tế và dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điều ước quốc tế.

Các ý kiến đại biểu Quốc hội đánh giá cao về dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù nhằm nâng cao hiệu quả công tác hội nhập quốc tế.

Đặc biệt, điều 14 dự thảo quy định “Ngân sách nhà nước trích một phần tiền thuế nhập khẩu bổ sung từ việc áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại để hỗ trợ hiệp hội ngành nghề tham gia các vụ kiện phòng vệ thương mại ở nước ngoài, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của doanh nghiệp Việt Nam khi bị ảnh hưởng do phía nước ngoài cáo buộc vận hành theo cơ chế kinh tế phi thị trường”.

Đại biểu Trần Thị Vân (đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Ninh) phát biểu. Ảnh: Quốc hội.

Theo đại biểu Trần Thị Vân, đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Ninh, thực tiễn thời gian qua cho thấy các vụ việc điều tra về phòng vệ thương mại đối với hàng hóa xuất khẩu tăng nhanh và diễn biến ngày càng phức tạp.

Tính đến giữa năm 2025, Việt Nam đối mặt với 290 vụ viêc từ 25 thị trường khác nhau. Việc bị áp thuế phòng vệ thương mại khiến giá xuất khẩu tăng mạnh, giảm sức cạnh tranh, “bào mòn” lợi nhuận và nguồn lực doanh nghiệp; nhất là trường hợp vụ việc bị kéo dài nhiều năm.

Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa không đủ chi phí theo đổi vụ việc trên, trong khi đây là các đối tượng chịu tác động nặng nề.

“Nếu không có cơ chế phù hợp thì nguy cơ mất thị trường hoàn toàn có thể xảy ra, cho dù sản phẩm có chất lượng và năng lực cạnh tranh tốt. Vì vậy việc xây dựng cơ chế giúp doanh nghiệp ứng phó với phòng vệ thương mại là cần thiết và cấp bách”, đại biểu Trần Thị Vân nêu rõ.

Do đó, đại biểu cho rằng quy định “trích lại một phần tiền thuế nhập khẩu để phục vụ công tác phòng vệ thương mại” là bước tiến phù hợp với thông lệ quốc tế, đáp ứng nhu cầu cấp bách hiện nay. Tuy nhiên, đại biểu cho rằng nếu quy định mà không có nguyên tắc định lượng thì rất khó dự báo, khó triển khai. Doanh nghiệp cũng khó lập kế hoạch lâu dài.

Quang cảnh phiên họp tại hội trường. Ảnh: Quốc hội.

Vì vậy, đại biểu Trần Thị Vân đề nghị dự thảo quy định rõ nguyên tắc về sử dụng ngân sách nhà nước, đảm bảo phù hợp điều ước quốc tế, giao Chính phủ hướng dẫn cụ thể. Ngoài ra, đại biểu đề nghị cần mở rộng đối tượng hỗ trợ không chỉ là "các hiệp hội ngành nghề" mà cả các doanh nghiệp xuất khẩu.

Đại biểu Trần Hoàng Ngân, đoàn đại biểu Quốc hội TPHCM tán thành cao với dự thảo nghị quyết, trong đó có các quy định về hội nhập quốc tế của doanh nghiệp.

Tuy nhiên, đại biểu đề nghị Ban soạn thảo xem xét có sự rà soát với các luật liên quan như Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp khi trích các khoản phí đóng cho các quỹ nêu trong Chương 3 (như Quỹ phát triển doanh nghiệp hội nhập quốc tế, Quỹ Xúc tiến xuất khẩu ngành hàng - PV) thì được khấu trừ trước khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp.

Bên cạnh đó cần quy định việc hỗ trợ ngân sách nhà nước trong việc thành lập Quỹ xúc tiến xuất khẩu ngành hàng; bởi lẽ hoạt động xuất nhập khẩu thời gian qua mang lại nhiều lợi ích cho quốc gia, nhất là tăng thu ngân sách.

Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung thay mặt cơ quan chủ trì soạn thảo phát biểu tiếp thu, giải trình các ý kiến của đại biểu Quốc hội. Ảnh: Quốc hội.

Còn đại biểu Trịnh Thị Tú Anh (đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Lâm Đồng) đề cập đến quy định tại điều 9 dự thảo Nghị quyết. Theo đó, dự thảo quy định về việc “thí điểm áp dụng trực tiếp tiêu chuẩn quốc tế, quy chuẩn kỹ thuật được công bố”.

Đại biểu cho rằng cơ chế này giúp chuyển đổi tư duy từ “quản lý kiểm soát chi tiết” sang “tin cậy và công nhận tiêu chuẩn toàn cầu”. Nhờ đó sẽ tạo ra hành lang pháp lý linh hoạt, đặc biệt cần thiết trong một số ngành chuyên môn hóa và yêu cầu bảo mật công nghệ cao, điển hình như dược phẩm, vật liệu mới, công nghệ xanh…

Để điều khoản này thực sự phát huy vai trò là “chìa khóa” và mở ra “cánh cửa” công nghệ, đại biểu Trịnh Thị Tú Anh kiến nghị Chính phủ cần sớm ban hành danh mục các lĩnh vực sản phẩm cụ thể được thí điểm. Việc này giúp tập trung nguồn lực, khoanh vùng rủi ro và tạo hiệu ứng lan tỏa nhanh chóng trong các lĩnh vực đang có nhu cầu cấp thiết về công nghệ cao.

Tại phiên họp, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung thay mặt cơ quan chủ trì soạn thảo phát biểu tiếp thu, giải trình các ý kiến của đại biểu Quốc hội.

Điều 13 dự thảo quy định: Nhà nước khuyến khích các hiệp hội ngành hàng có tỷ trọng xuất khẩu cao được thành lập Quỹ Xúc tiến xuất khẩu ngành hàng không vì mục tiêu lợi nhuận.

Nguồn hình thành Quỹ từ một trong các nguồn sau: đóng góp của doanh nghiệp xuất khẩu và được hạch toán vào chi phí doanh nghiệp; nguồn tài trợ của các Hội viên trong Hiệp hội từ thu nhập của doanh nghiệp được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp; hoặc nguồn tài trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước và các nguồn thu hợp pháp khác.

Điều 9 dự thảo quy định: Trong trường hợp chưa có quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với các lĩnh vực mới hoặc pháp luật chưa có quy định, Chính phủ quyết định áp dụng thí điểm tiêu chuẩn quốc tế, quy chuẩn kỹ thuật do các tổ chức quốc tế công bố và được áp dụng rộng rãi, trên cơ sở bảo đảm phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. 

-Đỗ Mến

Categories: The Latest News

Đại biểu Quốc hội kiến nghị về việc trích lại tiền thuế nhập khẩu để phòng vệ thương mại

Thời báo kinh tế Việt Nam - Wed, 11/26/2025 - 19:08
Theo đại biểu Quốc hội, dự thảo quy định "trích lại một phần tiền thuế nhập khẩu để phục vụ công tác phòng vệ thương mại" là bước tiến phù hợp với thông lệ quốc tế, đáp ứng nhu cầu cấp bách hiện nay.

Chiều 26/11, Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù nhằm nâng cao hiệu quả công tác hội nhập quốc tế và dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điều ước quốc tế.

Các ý kiến đại biểu Quốc hội đánh giá cao về dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù nhằm nâng cao hiệu quả công tác hội nhập quốc tế.

Đặc biệt, điều 14 dự thảo quy định “Ngân sách nhà nước trích một phần tiền thuế nhập khẩu bổ sung từ việc áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại để hỗ trợ hiệp hội ngành nghề tham gia các vụ kiện phòng vệ thương mại ở nước ngoài, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của doanh nghiệp Việt Nam khi bị ảnh hưởng do phía nước ngoài cáo buộc vận hành theo cơ chế kinh tế phi thị trường”.

Đại biểu Trần Thị Vân (đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Ninh) phát biểu. Ảnh: Quốc hội.

Theo đại biểu Trần Thị Vân, đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Ninh, thực tiễn thời gian qua cho thấy các vụ việc điều tra về phòng vệ thương mại đối với hàng hóa xuất khẩu tăng nhanh và diễn biến ngày càng phức tạp.

Tính đến giữa năm 2025, Việt Nam đối mặt với 290 vụ viêc từ 25 thị trường khác nhau. Việc bị áp thuế phòng vệ thương mại khiến giá xuất khẩu tăng mạnh, giảm sức cạnh tranh, “bào mòn” lợi nhuận và nguồn lực doanh nghiệp; nhất là trường hợp vụ việc bị kéo dài nhiều năm.

Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa không đủ chi phí theo đổi vụ việc trên, trong khi đây là các đối tượng chịu tác động nặng nề.

“Nếu không có cơ chế phù hợp thì nguy cơ mất thị trường hoàn toàn có thể xảy ra, cho dù sản phẩm có chất lượng và năng lực cạnh tranh tốt. Vì vậy việc xây dựng cơ chế giúp doanh nghiệp ứng phó với phòng vệ thương mại là cần thiết và cấp bách”, đại biểu Trần Thị Vân nêu rõ.

Do đó, đại biểu cho rằng quy định “trích lại một phần tiền thuế nhập khẩu để phục vụ công tác phòng vệ thương mại” là bước tiến phù hợp với thông lệ quốc tế, đáp ứng nhu cầu cấp bách hiện nay. Tuy nhiên, đại biểu cho rằng nếu quy định mà không có nguyên tắc định lượng thì rất khó dự báo, khó triển khai. Doanh nghiệp cũng khó lập kế hoạch lâu dài.

Quang cảnh phiên họp tại hội trường. Ảnh: Quốc hội.

Vì vậy, đại biểu Trần Thị Vân đề nghị dự thảo quy định rõ nguyên tắc về sử dụng ngân sách nhà nước, đảm bảo phù hợp điều ước quốc tế, giao Chính phủ hướng dẫn cụ thể. Ngoài ra, đại biểu đề nghị cần mở rộng đối tượng hỗ trợ không chỉ là "các hiệp hội ngành nghề" mà cả các doanh nghiệp xuất khẩu.

Đại biểu Trần Hoàng Ngân, đoàn đại biểu Quốc hội TPHCM tán thành cao với dự thảo nghị quyết, trong đó có các quy định về hội nhập quốc tế của doanh nghiệp.

Tuy nhiên, đại biểu đề nghị Ban soạn thảo xem xét có sự rà soát với các luật liên quan như Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp khi trích các khoản phí đóng cho các quỹ nêu trong Chương 3 (như Quỹ phát triển doanh nghiệp hội nhập quốc tế, Quỹ Xúc tiến xuất khẩu ngành hàng - PV) thì được khấu trừ trước khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp.

Bên cạnh đó cần quy định việc hỗ trợ ngân sách nhà nước trong việc thành lập Quỹ xúc tiến xuất khẩu ngành hàng; bởi lẽ hoạt động xuất nhập khẩu thời gian qua mang lại nhiều lợi ích cho quốc gia, nhất là tăng thu ngân sách.

Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung thay mặt cơ quan chủ trì soạn thảo phát biểu tiếp thu, giải trình các ý kiến của đại biểu Quốc hội. Ảnh: Quốc hội.

Còn đại biểu Trịnh Thị Tú Anh (đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Lâm Đồng) đề cập đến quy định tại điều 9 dự thảo Nghị quyết. Theo đó, dự thảo quy định về việc “thí điểm áp dụng trực tiếp tiêu chuẩn quốc tế, quy chuẩn kỹ thuật được công bố”.

Đại biểu cho rằng cơ chế này giúp chuyển đổi tư duy từ “quản lý kiểm soát chi tiết” sang “tin cậy và công nhận tiêu chuẩn toàn cầu”. Nhờ đó sẽ tạo ra hành lang pháp lý linh hoạt, đặc biệt cần thiết trong một số ngành chuyên môn hóa và yêu cầu bảo mật công nghệ cao, điển hình như dược phẩm, vật liệu mới, công nghệ xanh…

Để điều khoản này thực sự phát huy vai trò là “chìa khóa” và mở ra “cánh cửa” công nghệ, đại biểu Trịnh Thị Tú Anh kiến nghị Chính phủ cần sớm ban hành danh mục các lĩnh vực sản phẩm cụ thể được thí điểm. Việc này giúp tập trung nguồn lực, khoanh vùng rủi ro và tạo hiệu ứng lan tỏa nhanh chóng trong các lĩnh vực đang có nhu cầu cấp thiết về công nghệ cao.

Tại phiên họp, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung thay mặt cơ quan chủ trì soạn thảo phát biểu tiếp thu, giải trình các ý kiến của đại biểu Quốc hội.

Điều 13 dự thảo quy định: Nhà nước khuyến khích các hiệp hội ngành hàng có tỷ trọng xuất khẩu cao được thành lập Quỹ Xúc tiến xuất khẩu ngành hàng không vì mục tiêu lợi nhuận.

Nguồn hình thành Quỹ từ một trong các nguồn sau: đóng góp của doanh nghiệp xuất khẩu và được hạch toán vào chi phí doanh nghiệp; nguồn tài trợ của các Hội viên trong Hiệp hội từ thu nhập của doanh nghiệp được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp; hoặc nguồn tài trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước và các nguồn thu hợp pháp khác.

Điều 9 dự thảo quy định: Trong trường hợp chưa có quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với các lĩnh vực mới hoặc pháp luật chưa có quy định, Chính phủ quyết định áp dụng thí điểm tiêu chuẩn quốc tế, quy chuẩn kỹ thuật do các tổ chức quốc tế công bố và được áp dụng rộng rãi, trên cơ sở bảo đảm phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. 

-Đỗ Mến

Categories: The Latest News

Phát triển thủy sản bền vững, tiến gần hơn tới các cam kết quốc tế

Thời báo kinh tế Việt Nam - Wed, 11/26/2025 - 19:00
Phát triển thủy sản bền vững, có trách nhiệm và thân thiện môi trường được xác định là xu hướng tất yếu của ngành, phù hợp với yêu cầu hội nhập quốc tế và các cam kết toàn cầu của Việt Nam trong ứng phó biến đổi khí hậu, bảo vệ hệ sinh thái và thúc đẩy tăng trưởng xanh...

Ngày 26/11/2025, Cục Thủy sản và Kiểm ngư (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phối hợp với Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) và Đại sứ quán Canada tại Việt Nam tổ chức hội nghị về bảo vệ môi trường trong các hoạt động thủy sản năm 2025.  

Đây là một hoạt động quan trọng trong khuôn khổ Dự án “Cộng đồng ven biển thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu” (VN-CSCC) do chính phủ Canada tài trợ thông qua UNDP từ năm 2024 đến năm 2030. Hội nghị nhằm sơ kết giai đoạn 2022–2025 thực hiện Kế hoạch triển khai Đề án 911, đồng thời thảo luận định hướng và giải pháp cho giai đoạn tiếp theo 2026–2030.

PHÁT TRIỂN THỦY SẢN BỀN VỮNG LÀ YÊU CẦU TẤT YẾU

Phát biểu tại Hội nghị, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến cho biết sau 3 năm triển khai Đề án 911 về bảo vệ môi trường trong hoạt động thủy sản giai đoạn 2021–2030, Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả quan trọng trong kiểm soát ô nhiễm, đổi mới công nghệ, chuyển đổi số và áp dụng các mô hình sản xuất thân thiện môi trường. Những nỗ lực này tạo ra chuỗi sản phẩm thủy sản chất lượng cao, giá trị tốt, chi phí hợp lý, đồng thời hạn chế tối đa tác động tiêu cực lên hệ sinh thái tự nhiên.

Thứ trưởng Phùng Đức Tiến: "Tạo ra chuỗi sản phẩm thủy sản chất lượng cao, giá trị tốt, chi phí hợp lý, đồng thời hạn chế tối đa tác động tiêu cực lên hệ sinh thái tự nhiên".

"Việc phát triển thủy sản có trách nhiệm và thân thiện với môi trường không chỉ là xu thế toàn cầu mà còn là điều kiện để ngành thủy sản Việt Nam hội nhập sâu rộng, đáp ứng các chuẩn mực quốc tế", Thứ trưởng Tiến nhấn mạnh; đồng thời cho rằng công tác kiểm soát chất thải, ứng dụng công nghệ mới và chuyển đổi số, cùng với sự tham gia của toàn xã hội, đang đặt nền móng quan trọng giúp ngành tạo ra các sản phẩm thủy sản chất lượng cao, giá trị tốt, nhưng vẫn đảm bảo an toàn môi trường và hệ sinh thái tự nhiên.

Ông Jim Nickel, Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Canada tại Việt Nam, cho biết Dự án “Cộng đồng ven biển thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu (VN-CSCC)" hướng tới cải thiện khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu của các cộng đồng ven biển dễ bị tổn thương thông qua tăng cường năng lực lập kế hoạch thông tin khí hậu đáp ứng giới, hỗ trợ các giải pháp thích ứng dựa vào thiên nhiên, phục hồi và bảo tồn rừng ngập mặn, làm giàu đa dạng sinh học biển và ven biển, đồng thời giảm thiểu ô nhiễm rác thải nhựa trong hoạt động thủy sản và thúc đẩy quản trị môi trường dựa vào cộng đồng.

Ông Jim Nickel - Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Canada tại Việt Nam.

"Chăm sóc đại dương chính là chăm sóc tương lai của con người. Một đại dương khỏe mạnh là nền tảng cho sinh kế ổn định và sự phát triển của nền kinh tế biển xanh bền vững. Canada tự hào đồng hành cùng Việt Nam trong các hoạt động bảo vệ đại dương và hỗ trợ cộng đồng ven biển".

Theo ông Jim Nickel, các hoạt động trong khuôn khổ Dự án VN-CSCC và quá trình triển khai Đề án 911 đều đóng góp trực tiếp vào các mục tiêu về bảo vệ môi trường trong ngành thủy sản, giảm thiểu rác thải nhựa đại dương, giám sát môi trường tại các khu bảo tồn biển và phát triển mô hình thích ứng biến đổi khí hậu. Những kết quả này giúp Việt Nam tiến gần hơn tới các cam kết quốc tế về bảo vệ đa dạng sinh học, duy trì hệ sinh thái tự nhiên, phát triển thủy sản bền vững và cải thiện sinh kế cho cộng đồng ven biển.

NHIỀU MÔ HÌNH SÁNG TẠO TRONG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG THỦY SẢN

Bà Ramla Khalidi, Trưởng đại diện thường trú UNDP tại Việt Nam, đánh giá đầu tư vào kinh tế biển bền vững không chỉ đúng đắn về mặt môi trường, mà còn là chiến lược kinh tế thông minh. UNDP cam kết hỗ trợ Việt Nam trong bảo vệ hệ sinh thái biển, tăng cường quản trị và bảo đảm sinh kế bền vững cho những cộng đồng phụ thuộc nhiều vào lĩnh vực này.

Bà Ramla Khalidi: "Đầu tư vào kinh tế biển bền vững không chỉ đúng đắn về mặt môi trường, mà còn là chiến lược kinh tế thông minh".

Ông Trần Đình Luân, Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư, cho biết nuôi trồng thủy sản được xác định là ngành sản xuất chủ lực của nông nghiệp Việt Nam với sản lượng tăng đều qua các năm, góp phần ổn định nguồn cung và hỗ trợ xuất khẩu. Trong 10 tháng năm 2025, nuôi trồng thủy sản đóng góp 56-58% tổng sản lượng toàn ngành; kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 9,5 tỷ USD, tăng 16% so với cùng kỳ năm 2024.

Theo ông Luân, sau 3 năm triển khai Đề án 911, nhiều mô hình địa phương đã cho thấy cách tiếp cận sáng tạo, hiệu quả trong kiểm soát ô nhiễm và bảo vệ môi trường thủy sản. Cục đã phối hợp tổ chức nhiều hội thảo về thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, xử lý chất thải và phụ phẩm thủy sản, tiết kiệm năng lượng và lộ trình giảm phát thải trong sản xuất.

Ông Trần Đình Luân: "Trong 10 tháng năm 2025, nuôi trồng thủy sản đóng góp 56-58% tổng sản lượng toàn ngành". 

Mục tiêu trọng tâm là thúc đẩy hợp tác công - tư, phát triển mô hình kinh tế tuần hoàn trong toàn chuỗi sản xuất thủy sản từ nuôi trồng, khai thác đến chế biến. Đồng thời, các bộ ngành như Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Công an, các Hiệp hội, Viện, Trường, tổ chức phi chính phủ và doanh nghiệp cũng tích cực tham gia công tác giám sát môi trường, tuyên truyền giảm thiểu ô nhiễm, đổi mới công nghệ và hoàn thiện cơ chế quản lý.

"Những kết quả đạt được trong 3 năm qua cho thấy sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý nhà nước với các tổ chức quốc tế, doanh nghiệp và cộng đồng", Cục Thủy sản và Kiểm ngư nhấn mạnh.

Tuy nhiên, bên cạnh các mô hình hiệu quả được chia sẻ tại Hội nghị, vẫn còn nhiều tồn tại, khó khăn trong công tác bảo vệ môi trường thủy sản cần được tiếp tục tháo gỡ. Các đại biểu đã đề xuất nhiều giải pháp cho giai đoạn 2026–2030, trong đó nhấn mạnh tăng cường quản lý rác thải nhựa đại dương - nội dung đang được Việt Nam ưu tiên và có ý nghĩa toàn cầu.

-Chu Khôi

Categories: The Latest News

Pages