Thời báo kinh tế Việt Nam

Subscribe to Thời báo kinh tế Việt Nam feed Thời báo kinh tế Việt Nam
VnEconomy - Góc nhìn toàn cảnh về nền kinh tế Việt Nam
Updated: 2 hours 5 min ago

Cần giải pháp đột phá để phát triển thị trường ứng dụng UAV nội địa

Wed, 11/26/2025 - 07:13
Việt Nam đặt mục tiêu sáng tạo và từng bước tự chủ công nghệ, sớm hình thành ngành công nghiệp UAV phục vụ kinh tế, xã hội và quốc phòng, từ đó, nâng cao năng lực cạnh tranh để trở thành trung tâm sáng tạo, sản xuất UAV hàng đầu khu vực, góp phần phát triển kinh tế...

Ngày 25/11, Phó Thủ tướng Nguyễn Chí Dũng chủ trì cuộc họp về việc phát triển và ứng dụng đối với ngành công nghiệp phương tiện bay không người lái (UAV).

Báo cáo tại cuộc họp, Thứ trưởng Thường trực Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân chia sẻ một số quan điểm, bao gồm: Nghiên cứu, phát triển và ứng dụng UAV là nhu cầu cấp thiết nhằm làm chủ các công nghệ lõi, hình thành ngành công nghiệp UAV phục vụ dân sinh, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội; UAV là một ngành công nghiệp công nghệ cao tổng hợp; 

Phát triển thị trường ứng dụng trong nước làm động lực trung tâm cho ngành UAV; tập trung đầu tư vào các phát minh, sáng chế trong các nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo về UAV; UAV không chỉ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội trong thời bình, mà còn đóng vai trò bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Mục tiêu tổng quát là phát triển năng lực quốc gia trong tiếp thu, làm chủ, sáng tạo và từng bước tự chủ công nghệ, sớm hình thành ngành công nghiệp UAV phục vụ kinh tế, xã hội và quốc phòng. Từ đó, nâng cao năng lực cạnh tranh và đưa Việt Nam trở thành trung tâm sáng tạo, sản xuất UAV hàng đầu khu vực, góp phần phát triển kinh tế.

"Trong quá trình xây dựng mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phát triển và ứng dụng UAV, Bộ Khoa học và Công nghệ đã tham khảo kinh nghiệm quốc tế và rà soát, tìm hiểu, nắm được nội lực doanh nghiệp trong nước đối với lĩnh vực này", Thứ trưởng Vũ Hải Quân cho biết.

Sau khi lắng nghe ý kiến đóng góp của các bộ, cơ quan, Phó Thủ tướng Nguyễn Chí Dũng đánh giá cao nỗ lực của Bộ Khoa học và Công nghệ cho rằng các nội dung cơ bản bám sát Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị và Chiến lược khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

"Tuy nhiên, cần xem xét kỹ, hoàn thiện để thể hiện đúng tầm chiến lược quốc gia", Phó Thủ tướng lưu ý và đề nghị Bộ Khoa học và Công nghệ rà soát, chuẩn hóa lại một số mục tiêu cụ thể, bảo đảm thực tiễn và khả thi khi triển khai thực hiện.

Bên cạnh đó, cần chú trọng xây dựng các giải pháp cụ thể, nội dung rõ ràng, có trọng tâm, trọng điểm, đột phá và có tính ứng dụng cao trong nhiều lĩnh vực.

UAV đang mở ra một ngành công nghiệp mới trên toàn cầu, đã chuyển từ giai đoạn thử nghiệm sang sản xuất quy mô công nghiệp, thương mại toàn cầu. Đây là ngành công nghiệp mang tính chiến lược, có khả năng tạo ra giá trị gia tăng lớn và đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng GDP, nâng cao năng suất lao động, góp phần bảo vệ an ninh, chủ quyền quốc gia. 

Việt Nam đang nắm giữ nhiều lợi thế để phát triển UAV và sớm tham gia vào ngành công nghiệp chiến lược này.

-Hạ Chi

Categories: The Latest News

Phó Thủ tướng yêu cầu hoàn thành thông xe kỹ thuật Vành đai 3 TP.HCM đoạn qua Đồng Nai vào ngày 19/12

Wed, 11/26/2025 - 07:13
Ngày 25/11, Phó Thủ tướng Mai Văn Chính dẫn đầu Đoàn công tác của Chính phủ đi kiểm tra thực địa dự án đường Vành đai 3 TP.HCM đoạn qua tỉnh Đồng Nai...

Phát biểu tại buổi làm việc, Phó Thủ tướng Mai Văn Chính đánh giá cao nỗ lực của các đơn vị thi công trong thời gian qua và nhấn mạnh đây là dự án hạ tầng quan trọng của khu vực phía Nam, trực tiếp kết nối TP.HCM với Đồng Nai và Tây Ninh, tạo động lực phát triển mới cho vùng.

Khẳng định dự án sẽ thông xe kỹ thuật vào ngày 19/12, thời gian còn lại rất ngắn, vì vậy Phó Thủ tướng yêu cầu các bên liên quan phải tập trung tối đa nhân lực và máy móc, đẩy nhanh tiến độ, thi công liên tục cả ngày lẫn đêm. Đồng thời, bảo đảm chất lượng công trình, đáp ứng khả năng khai thác lâu dài và an toàn.

Theo ông Nguyễn Linh, Phó Giám đốc Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng tỉnh Đồng Nai, đoạn Vành đai 3 qua Đồng Nai dài hơn 11 km, tổng vốn đầu tư hơn 2.580 tỷ đồng, dự kiến đưa vào khai thác đồng bộ trong năm 2026. Đến nay, sản lượng thi công đạt hơn 60% giá trị hợp đồng, nhiều hạng mục vượt tiến độ.

Trên tuyến, các hạng mục đường đã cơ bản hoàn thành đắp nền và đang triển khai cấp phối đá dăm, thảm bê tông nhựa. Các cầu đã hoàn thiện phần xây dựng chính, hiện tiếp tục triển khai lan can, tường chắn và đường dẫn hai đầu cầu.

Ban Quản lý dự án cho biết từ tháng 8 đến tháng 10/2025, trung bình mỗi tháng có khoảng 15 ngày mưa, gây ảnh hưởng lớn đến thi công. Dù vậy, các nhà thầu vẫn duy trì nhịp độ làm việc cao, huy động tối đa nguồn lực để bám sát mục tiêu thông xe kỹ thuật vào ngày 19/12.

Phó Thủ tướng yêu cầu địa phương và các đơn vị tiếp tục phối hợp chặt chẽ, xử lý ngay các vướng mắc phát sinh, đẩy nhanh hoàn thiện phần mặt đường và các hạng mục phụ trợ, bảo đảm dự án về đích đúng thời hạn và đạt chất lượng theo yêu cầu.

-Minh Kiệt

Categories: The Latest News

Phát triển công nghiệp công nghệ số: Động lực mới cho tăng trưởng kinh tế Đà Nẵng

Wed, 11/26/2025 - 07:13
Tại Hội thảo “Phát triển công nghiệp công nghệ số: Thực thi chính sách và tạo động lực tăng trưởng mới” diễn ra ngày 25/11 tại Đà Nẵng, các chuyên gia, nhà khoa học và doanh nghiệp đã nhấn mạnh tầm quan trọng của ngành công nghiệp này trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đổi mới mô hình quản trị thành phố.

Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu, Đà Nẵng nổi lên như một trung tâm công nghệ số đầy tiềm năng của Việt Nam. Với sự hỗ trợ từ chính phủ và các chính sách ưu đãi, thành phố này đang từng bước khẳng định vị thế của mình trong lĩnh vực công nghiệp công nghệ số.

CÔNG NGHỆ SỐ - NGÀNH CÔNG NGHIỆP NỀN TẢNG, MŨI NHỌN

Theo ông Trần Anh Tú, Phó cục trưởng Cục Công nghiệp công nghệ thông tin (Bộ KHCN), công nghiệp công nghệ số được xem là một trong những ngành công nghiệp nền tảng, mũi nhọn của Việt Nam. Những năm qua, ngành này đã có bước phát triển nhanh và vững chắc. Đến hết năm 2024, tổng doanh thu toàn ngành ước đạt khoảng 158 tỷ USD, kim ngạch xuất khẩu khoảng 132,3 tỷ USD, và ngành sử dụng khoảng 1,8 triệu lao động với hơn 74 nghìn doanh nghiệp đang hoạt động.

Ông Tú cho biết Việt Nam đã trở thành một trong năm quốc gia trên thế giới sản xuất và cung cấp thiết bị thương mại 5G; đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu điện thoại di động và điện thoại thông minh, và thứ năm thế giới về xuất khẩu linh kiện máy tính. Trong lĩnh vực phần mềm và dịch vụ, nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã vươn ra thị trường toàn cầu, cung cấp sản phẩm, dịch vụ tại Hoa Kỳ, Nhật Bản, châu Âu. Những kết quả này khẳng định tiềm năng, lợi thế của Việt Nam để trở thành một trong các trung tâm sản xuất, dịch vụ công nghệ số của khu vực.

Tuy nhiên, theo ông Tú, để đạt được điều này, cần sớm hoàn thiện khung khổ pháp lý, cơ chế, chính sách phù hợp cho giai đoạn phát triển mới. Chính vì vậy, ngày 14/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Công nghiệp công nghệ số, có hiệu lực từ ngày 01/01/2026. Luật này đã thể chế hóa quan điểm của Đảng về phát triển công nghiệp công nghệ số, góp phần thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Toàn cảnh Hội thảo. Ảnh Ngô Anh Văn

Hơn thế nữa, Luật Công nghiệp công nghệ số hình thành hành lang pháp lý chuyên ngành, bảo đảm có các ưu đãi đủ mạnh, vượt trội để phát triển lĩnh vực công nghiệp công nghệ số – một ngành công nghiệp nền tảng, mang tính chiến lược. Đồng thời, Việt Nam là quốc gia đầu tiên trên thế giới ban hành luật riêng về công nghiệp công nghệ số. Đây là dấu mốc quan trọng khi lần đầu tiên các khái niệm như công nghệ số, công nghiệp công nghệ số, công nghiệp bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, tài sản số… được định danh đầy đủ, chính thức trong một văn bản luật.

CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH TOÀN DIỆN THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ SỐ

Ông Tú cho hay, Luật Công nghiệp công nghệ số cũng xác lập hệ thống cơ chế, chính sách toàn diện nhằm thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp công nghệ số trong thời gian tới với 7 nhóm giải pháp lớn bao gồm: Một là, thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động nghiên cứu – phát triển và đổi mới sáng tạo thông qua ưu đãi cao nhất theo pháp luật khoa học – công nghệ; ưu tiên sử dụng hạ tầng phòng thí nghiệm trọng điểm, cơ sở ươm tạo, trung tâm RD và đầu tư phát triển các cơ sở nghiên cứu công nghệ số trong các ngành, lĩnh vực.

Hai là, thu hút và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nhân tài công nghệ số thông qua ưu đãi về nhập cư, thuế TNCN, chế độ lương – thưởng cạnh tranh quốc tế và cơ chế tiếp nhận nhân lực làm việc có thời hạn tại cơ quan nhà nước; đồng thời bảo đảm điều kiện sống, làm việc, nghiên cứu thuận lợi.

Ba là, tập trung nguồn lực đầu tư phát triển hạ tầng công nghiệp công nghệ số thiết yếu như cơ sở nghiên cứu, thiết kế, sản xuất thử nghiệm, trung tâm dữ liệu, khu công nghệ số tập trung; đồng thời tăng cường phân cấp cho địa phương để triển khai chủ động, hiệu quả.

Bốn là, áp dụng các ưu đãi và hỗ trợ đầu tư mạnh mẽ đối với sản xuất sản phẩm, dịch vụ công nghệ số; đặc biệt là sản phẩm trọng điểm, AI, phần mềm, bán dẫn và trung tâm dữ liệu AI; hỗ trợ dự án lớn, dự án khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; khuyến khích Make in Viet Nam qua ưu đãi đấu thầu và cơ chế đặt hàng.

Năm là, ban hành chính sách đặc thù phát triển công nghiệp bán dẫn, ưu đãi toàn bộ chuỗi RD – thiết kế – sản xuất – đóng gói – kiểm thử; khuyến khích sản xuất vật liệu, thiết bị bán dẫn và hỗ trợ doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu; giao Thủ tướng ban hành Chiến lược phát triển công nghiệp bán dẫn quốc gia.

Sáu là, cho phép triển khai cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) đối với sản phẩm, dịch vụ công nghệ số, bảo đảm an toàn cho người dùng và tạo không gian pháp lý cho đổi mới sáng tạo.

Bảy là, Luật hình thành khung pháp lý đầu tiên về tài sản số, quy định rõ việc định nghĩa, phân loại, tạo lập, phát hành, lưu trữ, chuyển giao, xác lập quyền sở hữu; quy định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể; cũng như các yêu cầu về an toàn, an ninh mạng, phòng chống rửa tiền, tài trợ khủng bố… Đồng thời giao Chính phủ quy định chi tiết để bảo đảm phù hợp với thực tiễn và yêu cầu quản lý trong từng giai đoạn.

Các đại biểu tại Hội thảo. Ảnh Ngô Anh Văn

Sau khi Luật được ban hành, Bộ Khoa học và Công nghệ đã trình Chính phủ 02 Nghị định và ban hành 06 Thông tư hướng dẫn thi hành, đồng thời đang tiếp tục xây dựng nhiều chương trình, đề án quan trọng để thúc đẩy phát triển công nghiệp công nghệ số, bao gồm: Đề án hình thành doanh nghiệp công nghệ số quy mô lớn; Chương trình phát triển công nghiệp chiến lược; Đề án đưa doanh nghiệp công nghệ số vươn ra toàn cầu; Chương trình phát triển công nghiệp công nghệ số; Thành lập Trung tâm quốc gia về sản xuất thử nghiệm tape-out chip bán dẫn.

Tuy nhiên, theo ông Tú, những chủ trương, chính sách nếu muốn thực sự đi vào cuộc sống cần được xây dựng trên nền tảng thực tiễn phong phú từ địa phương và cộng đồng doanh nghiệp. Với vị thế là trung tâm công nghệ số, đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp mạnh của miền Trung – Tây Nguyên, Đà Nẵng hội tụ nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển công nghiệp công nghệ số, đặc biệt ở các lĩnh vực bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, đô thị thông minh, chính quyền số, du lịch số và nguồn nhân lực công nghệ số chất lượng cao.

“Hội thảo hôm nay là diễn đàn quan trọng để trao đổi, thảo luận và xin ý kiến của các chuyên gia, nhà khoa học và doanh nghiệp về các chính sách trọng tâm triển khai Luật Công nghiệp công nghệ số; cũng như những thuận lợi, khó khăn trong thực tiễn; những kiến nghị cần sửa đổi, bổ sung; cùng các mô hình hay, kinh nghiệm tốt có thể nhân rộng trên phạm vi quốc gia. Các ý kiến tại Hội thảo sẽ là nguồn thông tin đầu vào quan trọng để Bộ Khoa học và Công nghệ tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách, chương trình, đề án trong thời gian tới, bảo đảm thể chế hóa kịp thời và đưa các chủ trương tại các Nghị quyết của Đảng, các quy định của Luật Công nghiệp công nghệ số vào thực tiễn cuộc sống.”, ông Trần Anh Tú nhận mạnh.

ĐÀ NẴNG TIÊN PHONG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ SỐ

Thông tin tại Hội thảo, ông Trần Ngọc Thạch, Phó Giám đốc Sở KHCN Đà Nẵng cho rằng với vị thế là trung tâm công nghệ số, đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp mạnh của miền Trung – Tây Nguyên, thành phố hội tụ nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển công nghiệp công nghệ số, đặc biệt ở các lĩnh vực bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, đô thị thông minh, chính quyền số, du lịch số và nguồn nhân lực công nghệ số chất lượng cao. Thành phố đã xác định KHCN và ĐMST trong các chiến lược, tầm nhìn, quy hoạch phát triển thành phố, với mục tiêu đến năm 2030 xây dựng Đà Nẵng là trung tâm về khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, du lịch, thương mại, tài chính, logistics, công nghiệp công nghệ cao, công nghệ thông tin, công nghiệp hỗ trợ.

Ông Trần Ngọc Thạch, Phó Giám đốc Sở KHCN Đà Nẵng, tham luận tại Hội thảo. Ảnh Ngô Anh Văn

Ông Thạch cho biết: Để triển khai KHCN và ĐMST là đột phát trong “chiến lược”, quy hoạch phát triển thành phố, Đà Nẵng đã ban hành và triển khai nhiều cơ chế, chính sách đặc thù, tiêu biểu là chính sách hỗ trợ phát triển và miễn thuế hoạt động hỗ trợ khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo; chính sách hỗ trợ không hoàn lại từ ngân sách nhà nước để phát triển dự án khởi nghiệp, sáng tạo; cấp phép thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) cho giải pháp, công nghệ mới; hỗ trợ kinh phí sử dụng tài sản kết cấu hạ tầng khoa học và công nghệ.

Đồng thời phát triển nguồn nhân lực lĩnh vực vi mạch bán dẫn và trí tuệ nhân tạo; hỗ trợ sử dụng tài sản kết cấu hạ tầng thông tin để phát triển lĩnh vực vi mạch bán dẫn và trí tuệ nhân tạo; xác nhận doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực vi mạch bán dẫn, trí tuệ nhân tạo để giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, thu nhập cá nhân; và hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ qua chuyển giao công nghệ và xây dựng, đánh giá chứng nhận hệ thống, sản phẩm, hàng hóa phù hợp tiêu chuẩn, quy chuẩn.

Nhờ những chính sách và nỗ lực này, Đà Nẵng đã đạt được nhiều kết quả ấn tượng. Thành phố nằm trong Top 1.000 thành phố tiêu biểu toàn cầu về hệ sinh thái khởi nghiệp và đã có sự bứt phá, tăng 130 bậc vươn lên vị trí thứ 766 trên toàn cầu. Hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo của Đà Nẵng đã hình thành với nhiều trung tâm hỗ trợ, vườn ươm, không gian sáng chế, không gian làm việc chung và quỹ đầu tư khởi nghiệp. Công viên phần mềm số 2 đã thu hút được hơn 70 doanh nghiệp vi mạch bán dẫn, trí tuệ nhân tạo đến và vào làm việc.

Thành phố Đà Nẵng cũng đang triển khai nhiều dự án lớn như Dự án Đầu tư hạ tầng tính toán phục vụ nghiên cứu phát triển thiết kế chip vi mạch bán dẫn và trí tuệ nhân tạo, Phòng thí nghiệm kết hợp sản xuất quy mô nhỏ công nghệ đóng gói tiên tiến vi mạch bán dẫn, và Trung tâm dữ liệu AI xử lý cho các bài toán AI/Big Data.

Đặc biệt, Đà Nẵng đang triển khai Trung tâm tài chính quốc tế theo hướng Fintech, ưu tiên triển khai tiền kỹ thuật số, tiền mã hóa và Khu thương mại tự do theo hướng thông minh. Trung tâm tài chính Fintech kết hợp với Đổi mới sáng tạo, Sandbox sẽ là bệ phóng phát triển kinh tế số Đà Nẵng. Trong thời gian tới, Đà Nẵng có nhiều nguồn lực và dự địa phát triển hơn, kế thừa kết quả nền tảng KHCN, ĐMST và CĐS đến nay.

Tại Hội thảo-Ngô Anh Văn

Categories: The Latest News

Kinh tế Huế “lên hạng”: Tăng trưởng vượt kỳ vọng, lần đầu vào top 10

Wed, 11/26/2025 - 07:13
Kinh tế Huế đang trải qua một giai đoạn phát triển mạnh mẽ, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng khi lần đầu tiên lọt vào top 10 cả nước về tăng trưởng GRDP. Đây là một thành tựu đáng chú ý, phản ánh sự chuyển mình tích cực của thành phố trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đang đối mặt với nhiều thách thức...

Chiều 24/11, Chủ tịch UBND thành phố Huế Nguyễn Khắc Toàn chủ trì cuộc họp đánh giá nguồn lực tăng trưởng giai đoạn 2025 – 2030 và triển khai Nghị quyết của Chính phủ về cơ chế đặc thù.

TĂNG TRƯỞNG CAO KỶ LỤC, CỦNG CỐ NỀN TẢNG KINH TẾ MỚI

Tại cuộc họp, Giám đốc Sở Tài chính La Phúc Thành báo cáo GRDP 9 tháng đầu năm 2025 ước tăng 9,06%, cao hơn nhiều so với mức 7,34% cùng kỳ. Tăng trưởng các quý đều duy trì ổn định: Quý I tăng 9,58%, Quý II tăng 9,23%, Quý III tăng 8,4%; vượt mức bình quân chung cả nước 7,84%. Thành phố Huế lần đầu tiên lọt tốp 10 tỉnh, thành có tăng trưởng cao nhất toàn quốc và đứng đầu 05 tỉnh, thành Vùng Bắc Trung bộ.

Trong cơ cấu kinh tế, khu vực công nghiệp – xây dựng tăng mạnh 13,46%, tiếp tục là động lực nổi bật; khu vực dịch vụ tăng 8,43%; nông, lâm, thủy sản tăng 1,31%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 7,07%. Dự kiến cả năm 2025, GRDP thành phố tăng từ 10% trở lên, trong đó công nghiệp – xây dựng dự kiến tăng 14–14,5%, đóng góp khoảng 4,7 điểm %, dịch vụ tăng 9–9,5%, đóng góp khoảng 4,5 điểm %.

Giám đốc Sở Tài chính La Phúc Thành báo cáo tại cuộc họp

Đánh giá cả giai đoạn 2021 – 2025, GRDP thành phố tăng trung bình 7,54%, đạt mục tiêu Nghị quyết Đại hội đề ra. Các lĩnh vực đều duy trì đà tăng: dịch vụ tăng 7,8–8,3%, công nghiệp – xây dựng tăng 8–8,5%, nông lâm thủy sản tăng 2,5–3%, thuế sản phẩm tăng 7%.

Theo Sở Tài chính, sau 4 năm triển khai cơ chế đặc thù, thành phố Huế đã tăng cường được nguồn thu ngân sách, từng bước cân đối thu – chi, giảm gánh nặng hỗ trợ từ Trung ương, đồng thời đẩy mạnh đầu tư hạ tầng giao thông, hạ tầng đô thị và các dự án trùng tu di sản. Các cơ chế này đã góp phần hình thành và phát huy vai trò của 4 trung tâm mũi nhọn: văn hóa – du lịch đặc sắc, khoa học – công nghệ, y tế chuyên sâu và giáo dục – đào tạo chất lượng cao.

KỲ VỌNG BỨT PHÁ GIAI ĐOẠN 2026–2030 VỚI CÁC ĐỘNG LỰC MỚI

Nhìn về giai đoạn 2026–2030, thành phố Huế định hướng tập trung hoàn thiện thể chế, sử dụng hiệu quả nguồn lực đầu tư công và thúc đẩy các dự án trọng điểm như Khu công nghệ cao, Khu công nghệ thông tin tập trung, Khu thương mại tự do Chân Mây – Lăng Cô. Thành phố xác định kinh tế di sản, công nghiệp văn hóa và kinh tế số là ba động lực tăng trưởng chủ đạo. Mục tiêu đến năm 2030, kinh tế số chiếm 30% quy mô GRDP.

Trong thảo luận, lãnh đạo các sở, ngành đề nghị tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp công nghiệp mở rộng đơn hàng, tháo gỡ vướng mắc thủ tục đất đai, đầu tư và giải phóng mặt bằng đối với lĩnh vực xây dựng. Đối với dịch vụ và du lịch, các ý kiến thống nhất rằng cần nâng cấp mạnh mẽ môi trường du lịch, gia tăng sức hút các sản phẩm dịch vụ để củng cố đà tăng trưởng.

Chủ tịch UBND thành phố Huế Nguyễn Khắc Toàn phát biểu tại cuộc họp

Chủ tịch UBND thành phố Huế Nguyễn Khắc Toàn thống nhất với kịch bản tăng trưởng và yêu cầu các đơn vị bám sát thực tiễn, đồng hành cùng người dân và doanh nghiệp để tháo gỡ khó khăn. Ông giao Sở Tài chính chủ trì xây dựng kế hoạch triển khai hằng tuần, hằng tháng để đôn đốc tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, phấn đấu đạt 100% kế hoạch năm 2025. Đồng thời, 4 Tổ công tác giám sát dự án tiếp tục được phát huy nhằm đẩy nhanh tiến độ các dự án ngoài ngân sách và các dự án tái định cư, nghĩa trang phục vụ thi công đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam.

Đối với mục tiêu tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026–2030, Chủ tịch UBND thành phố Huế yêu cầu các sở, ngành, địa phương xây dựng kế hoạch cụ thể cho từng dự án, nhiệm vụ theo nguyên tắc “rõ người, rõ việc, rõ thời gian và rõ kết quả”. Đây sẽ là căn cứ đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của từng đơn vị trong toàn nhiệm kỳ.

Liên quan cơ chế đặc thù, thành phố đang phối hợp với Trung ương xây dựng báo cáo sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết 54-NQ/TW. Một số cơ chế hiện hành chưa khai thác tối đa nguồn lực, do đó thành phố đề xuất hoàn thiện chính sách đột phá hơn, tập trung vào 4 trung tâm kinh tế – xã hội trọng điểm và các lĩnh vực đặc thù của đô thị di sản. Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố yêu cầu các sở, ngành tiếp tục đóng góp ý kiến, hoàn thiện hồ sơ báo cáo đúng tiến độ, đồng thời nghiên cứu đề xuất mới nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa và khai thác hiệu quả tiềm năng của Khu kinh tế Chân Mây – Lăng Cô.

-Nguyễn Thuấn

Categories: The Latest News

Điều chỉnh quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến sử dụng một số mỏ vonfram, đồng và boxit

Wed, 11/26/2025 - 07:00
Chính phủ phê duyệt điều chỉnh quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến sử dụng khoáng sản một số mỏ vonfram, đồng và boxit tại các tỉnh Thái Nguyên, Lào Cai, Đồng Nai...

Ngày 24/11/2025, Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà ký Quyết định số 2581/QĐ-TTg phê duyệt điều chỉnh quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến sử dụng khoáng sản tại các khu vực: vonfram Núi Pháo, tỉnh Thái Nguyên; mỏ đồng Tả Phời, tỉnh Lào Cai và mỏ bôxit Thọ Sơn và Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai trong Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng các loại khoáng sản thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Cụ thể, theo Quyết định điều chỉnh danh mục các Dự án thăm dò, khai thác và Tọa độ khép góc Dự án thăm dò, khai thác quặng vonfram trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên (khu vực Núi Pháo và liền kề) tại mục 3 Phụ lục II.8, mục 3 Phụ lục III.8 và mục 2 Phụ lục VI.8 kèm theo Quyết định số 866/QĐ-TTg ngày 18/7/2023.

Điều chỉnh danh mục Dự án khai thác và Tọa độ khép góc Dự án thăm dò, khai thác quặng đồng trên địa bàn tỉnh Lào Cai (mỏ đồng Tả Phời) tại mục 1 Phụ lục III.10 và mục 1 Phụ lục VI.10 kèm theo Quyết định số 866/QĐ-TTg ngày 18/7/2023.

Điều chỉnh danh mục Dự án khai thác và Dự án chế biến quặng bôxit trên địa bàn tỉnh Bình Phước (nay là tỉnh Đồng Nai) tại mục 3 Phụ lục III.1 và mục 3 Phụ lục IV.1 kèm theo Quyết định số 866/QĐ-TTg ngày 18/7/2023.

Quyết định nêu rõ yêu cầu Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Công Thương và Ủy ban nhân dân các tỉnh: Lào Cai, Đồng Nai và Thái Nguyên chịu trách nhiệm toàn diện trước Thủ tướng Chính phủ về tính chính xác của thông tin, số liệu báo cáo.

Chính phủ cũng yêu cầu Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với các bộ, ngành liên quan thực hiện cấp phép hoạt động khoáng sản đối với khu vực khoáng sản quy định tại Quyết định này và theo quy định của pháp luật.

-Hằng Anh

Categories: The Latest News

Phát triển kinh tế tầm thấp và UAV “Phải là câu chuyện của quốc gia”

Wed, 11/26/2025 - 06:00
Hiện nay, một cuộc đua toàn cầu về “kinh tế tầm thấp” (Low-Altitude Economy) đang diễn ra với tốc độ nhanh chóng. Mới đây, Trung Quốc đã thử nghiệm máy bay không người lái (UAV) có khả năng chở nhiều hơn 2 người và chở được tải trọng hàng hóa đến 2 tấn, trong khi Thái Lan vừa cấp chứng chỉ đủ điều kiện bay cho UAV chở khách trong tháng 10/2025...

Thưa bà, khái niệm “kinh tế tầm thấp” hay “kinh tế hàng không/không gian tầm thấp” có lẽ còn khá mới tại Việt Nam. Bà có thể giải thích rõ hơn ngành kinh tế mà chúng ta đang nhắm tới?

Khi nhắc đến hàng không, chúng ta thường nghĩ đó là hàng không dân dụng với những chuyến bay thương mại vận chuyển hành khách hoặc hàng hóa từ nơi này đến nơi khác, từ quốc gia này đến quốc gia khác. Để vận hành mạng lưới này, việc đàm phán các “thương quyền” (quyền bay qua vùng trời, hạ cánh, khai thác thương mại…) giữa các quốc gia luôn là một bài toán vô cùng khó khăn.

Tuy nhiên, kinh tế tầm thấp lại khác. Khái niệm này đề cập đến một tầng “không phận” mới ở dưới 1.000 mét, hoặc tùy theo quan điểm và quốc gia, có thể mở rộng lên tới 3.000 mét hay 5.000 mét. Đây là không gian mà các thiết bị bay, máy bay hạng nhẹ có người lái hoặc không người lái (UAV), có thể hoạt động để phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau.

Vì vậy, hệ sinh thái công nghệ đi kèm bao gồm từ công nghệ chế tạo, vận hành đến chuỗi cung ứng sản xuất, bảo trì, bảo hành, sửa chữa các phương tiện bay này cũng có những khác biệt nhất định, tùy thuộc vào đặc điểm kỹ thuật, tính năng của chúng.

Gần đây, thế giới nhắc nhiều tới sự phát triển kinh tế tầm thấp. Cuộc đua này đang “nóng” đến mức nào, thưa bà?

Tốc độ phát triển công nghệ hàng không tầm thấp trên thế giới phải nói là đáng kinh ngạc. Điển hình, tại Trung Quốc, công nghệ của họ phát triển rất nhanh chóng với việc áp dụng cơ chế “sandbox” (thử nghiệm trong môi trường có kiểm soát) và hiện đã mở rộng quy mô ứng dụng. Các mẫu UAV chở hàng cánh bằng của Trung Quốc đã đạt khả năng vận chuyển lên đến 2.000 kg với phạm vi điều khiển ấn tượng tới 500 km.

Phân khúc vận tải hành khách cũng chứng kiến những bước tiến vượt bậc. Mới đây, Thái Lan đã cấp “chứng chỉ khả phi” (chứng chỉ đủ điều kiện bay) cho mẫu UAV có khả năng chở 2 người. Thậm chí, các thử nghiệm ở Trung Quốc còn tiến xa hơn, không chỉ giới hạn ở tải trọng 2 người.

Điều này cho thấy, ngoài các mẫu drone nhỏ hay UAV nhỏ phục vụ các mục đích dân sự thông thường, việc UAV tham gia vào vận tải chuyên biệt, cả hàng hóa và hành khách, sẽ diễn ra trong tương lai rất gần. Dù chúng ta muốn hay không, sự thay đổi này là một xu hướng công nghệ và kinh tế tất yếu.

Vậy, tại Việt Nam thì sao, thưa bà?

Mặc dù Đảng và Chính phủ đã có chủ trương rõ ràng trong việc phát triển và đưa kinh tế tầm thấp trở thành một động lực mới cho nền kinh tế, nhưng đến nay, khuôn khổ pháp lý và các quy định về quản lý vẫn chưa thực sự “thông suốt”, gây ra những vướng mắc nhất định trong quá trình triển khai.

Sự thận trọng này là cần thiết bởi an ninh và quốc phòng luôn là yếu tố ưu tiên hàng đầu. Đây cũng là nguyên tắc không chỉ của riêng Việt Nam mà còn là yêu cầu bắt buộc đối với tất cả các quốc gia khác trên thế giới khi khai thác không phận mới.

Vì vậy, câu hỏi đặt ra là làm thế nào vừa đảm bảo kiểm soát chặt chẽ, vừa kiến tạo được không gian phát triển cho cho kinh tế thầm thấp? Làm thế nào khai thác triệt để và hiệu quả tầng không phận đang gần như bị bỏ ngỏ để phục vụ phát triển kinh tế đất nước?

Đây là nỗi trăn trở không chỉ của giới nghiên cứu mà còn là thách thức chung cần sự đồng long của các bộ, ngành và cộng đồng doanh nghiệp đang tham gia vào lĩnh vực đầy tiềm năng này.

Bà có nói đến việc các nước khác cũng lo ngại về an ninh nhưng vẫn tìm cách phát triển, ví dụ như mô hình sandbox. Phải chăng chúng ta đang quá cẩn trọng mà bỏ lỡ cơ hội?

Trong khi nhiều quốc gia đang đi nhanh và đi xa hơn trong việc ứng dụng công nghệ bay tầm thấp thì chúng ta vẫn “loay hoay” giải quyết các vấn đề về quản lý và kiểm soát. Như đã đề cập, chỉ vài tuần trước, Thái Lan đã cấp “chứng chỉ khả phi” cho máy bay không người lái chở người (một sản phẩm không phải của Thái Lan mà của Trung Quốc). Tương tự, các Tiểu vương quốc Ả Rập (UAE), cũng đã cấp những giấy phép tương tự và đang tích cực chuẩn bị để đưa UAV vào khai thác dịch vụ taxi bay thương mại…

Tại Việt Nam, các văn bản pháp lý hiện hành như Luật Quốc phòng nhân dân 2024 và Nghị định 288/2025/NĐ-CP được ban hành vào ngày 5/11/2025 vẫn chỉ xem UAV/drones là “đối tượng” cần được quản lý một cách chặt chẽ. Các phương tiện này chưa được coi là một phương thức vận tải dân dụng công nghệ cao, có khả năng hình thành một lĩnh vực kinh tế như hàng hải, đường bộ…

Điều đáng trăn trở hơn là dự thảo Luật Hàng không mới đây đã đề cập đến khái niệm “kinh tế không gian tầm thấp” nhưng lại bỏ ngỏ câu chuyện quản lý UAV.

Vấn đề then chốt là nếu không có sự tham gia của UAV thì “nền kinh tế tầm thấp” là gì? Cơ quan nào sẽ đóng vai trò đầu mối ở tại Việt Nam chịu trách nhiệm xây dựng hệ thống văn bản pháp luật chuyên ngành liên quan đến các phương tiện bay công nghệ mới này. Chúng ta đã phải mất vài chục năm để hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật hàng không dân dụng, giúp Việt Nam hội nhập mạnh mẽ với hàng không thế giới. Liệu lĩnh vực mới này có cần một cơ chế tương tự? 

Đây là vấn đề cấp bách cần được nhận diện rõ ràng và cần có tiếng nói chung để tạo ra những chủ trương, chính sách kịp thời, mở đường cho lĩnh vực kinh tế tầm thấp phát triển.

Đó là rào cản về chính sách. Vậy theo bà, về năng lực nội tại, các doanh nghiệp Việt Nam liệu có “đủ sức” tham gia cuộc chơi này không?

Hiện nay, Việt Nam sở hữu một lực lượng các doanh nghiệp làm công nghệ rất năng động và tâm huyết tham gia vào lĩnh vực kinh tế tầm thấp, tạo nên một vốn quý đáng kể cho quốc gia.

Về năng lực trong nước, hiện chỉ có Viettel là đơn vị được phép sản xuất UAV. Dù chủ yếu mục đích quân sự, nhưng Viettel cũng đang xây dựng kế hoạch mở rộng sáng sản xuất dân sự. Bên cạnh đó, có rất nhiều doanh nghiệp nhỏ khác đang tích cực nghiên cứu và sản xuất các thiết bị bay công nghệ cao này. Nhiều công ty đã chứng minh được năng lực cạnh tranh quốc tế.

Các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu drones như HTI, RtRs hay các công ty đã có phát minh, sáng chế và tự lực đi ra thị trường quốc tế như Gremsy, XBlink, Mismart đã giành được các hợp đồng khá lớn về sản xuất linh kiện, thiết bị liên quan đến UAV. Đáng tiếc, các doanh nghiệp này vẫn đang hoạt động chủ yếu ở quy mô nhỏ lẻ.

Vì vậy, đối với câu hỏi “Liệu chúng ta có khả năng làm được trong lĩnh vực này hay không?” thì tôi tin rằng với năng lực hiện nay, các công ty công nghệ Việt Nam hoàn toàn có khả năng; nhưng việc làm được tới đâu và mở rộng quy mô ra sao lại là một câu hỏi chiến lược khác cần được giải quyết. 

Nếu vậy, chúng ta cần một cú hích như thế nào để biến “tiềm năng” thành hiện thực, thưa bà?

Chúng ta cần một sự huy động “tổng lực” đúng nghĩa. Dù không thể ngay lập tức đạt được bước nhảy vọt, nhưng chúng ta hoàn toàn có thể tiến đến mục tiêu nếu ý chí lãnh đạo của Đảng và Chính phủ được thể hiện một cách nhất quán thông qua các chính sách cụ thể.

Các chính sách này cần phải đạt được hai yêu cầu: vừa chặt chẽ (để đảm bảo an toàn, an ninh quốc gia) nhưng cũng phải linh động (để tạo không gian cho doanh nghiệp sáng tạo và phát triển).

Khi có được khuôn khổ pháp lý linh hoạt và định hướng rõ ràng, các doanh nghiệp sẽ có cơ sở để xác định chiến lược, cùng với sự tham gia một cách thực tế của các trường đại học và viện nghiên cứu, sẽ tạo thành một tổng lực mạnh mẽ, đặt nền móng vững chắc cho kinh tế tầm thấp của Việt Nam trong tương lai.

Bà vừa nhắc đến vai trò của các viện nghiên cứu và trường đại học. Cụ thể, Học viện Hàng không Việt Nam tham gia vào “tổng lực” này như thế nào?

Với chức trách là trường đại học chuyên biệt lớn nhất cả nước trong lĩnh vực hàng không, chúng tôi đã thể chiện sự tiên phong thông qua việc mở hai ngành đào tạo mới trong năm tuyển sinh vừa qua: Kỹ sư máy bay không người lái và Kỹ sư Robotics.

Để hình thành một nền kinh tế vững mạnh, cần phải có một chuỗi cung ứng toàn diện mà ở đó doanh nghiệp sẽ cung cấp các component (linh kiện), công nghệ khác nhau từ camera, AI (trí tuệ nhân tạo) đến vật liệu và cấu trúc...

Vai trò của các trường đại học và viện nghiên cứu là vô cùng thiết yếu. Bên cạnh nhiệm vụ đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, chúng tôi sẽ đồng hành cùng doanh nghiệp để tìm ra giải pháp cho những bài toán công nghệ phức tạp mà các doanh nghiệp đơn lẻ rất khó tự thực hiện.

Thực tế cho thấy các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay có năng lực tốt về điều khiển điện tử nhưng họ lại đang thiết hụt về việc tối ưu kết cấu và khí động học. Đây là lĩnh vực mà các đơn vị nghiên cứu như chúng tôi, với lợi thế chuyên môn về hàng không dân dụng, có thể hỗ trợ. Chúng tôi tiến hành tính toán, nghiên cứu theo “đặt hàng” của doanh nghiệp để giải quyết các nút thắt này.

Đây chỉ là một đóng góp khởi đầu nhưng đối với những ngành công nghệ mới như UAV hay vũ trụ sau này, vai trò nghiên cứu và phát triển (RD) và việc đi trước đón đầu của các viện, trường đại học là rất lớn, miễn là có chính sách và chiến lược đầu tư phù hợp.

Vậy, nhìn vào thực trạng hiện nay, bà có lạc quan về tương lai của ngành này tại Việt Nam không?

Qua quan sát, tôi nhận thấy các doanh nghiệp công nghệ tại Việt Nam đang đối mặt với nhiều khó khăn, bởi đây là lĩnh vực đòi hỏi sự đầu tư rất lớn. Các đơn vị này có tâm huyết và năng lực nhất định, nhưng nguồn lực này cần được nhân lên gấp bội thông qua cơ chế hợp tác phù hợp và khi được tạo điều kiện thuận lợi.

Do đó, nguồn lực cần phải được xem xét ở cấp độ nguồn lực quốc gia. Tôi xin nhấn mạnh rằng việc phát triển lĩnh vực này phải là câu chuyện của quốc gia, chứ không thể là nhiệm vụ của một tổ chức đơn lẻ nào. Chỉ khi đó, chúng ta mới hy vọng đạt được những lợi ích to lớn cho đất nước.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 47-2025 phát hành ngày 24/11/2025. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:

Link: https://vneconomy.vn/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-47-2025.htm

-

Categories: The Latest News

Đà Nẵng đẩy mạnh chuyển đổi số báo chí

Wed, 11/26/2025 - 00:14
Sáng ngày 25/11/2025, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VH-TTDL) thành phố Đà Nẵng đã tổ chức hội nghị tập huấn chuyên đề “Sử dụng trí tuệ nhân tạo phục vụ công tác chuyển đổi số báo chí”, dành cho phóng viên, biên tập viên từ các cơ quan báo chí địa phương, cơ quan Trung ương có văn phòng tại Đà Nẵng và phóng viên thường trú.

Đây là hoạt động cụ thể hóa Chiến lược chuyển đổi số báo chí quốc gia theo Quyết định 348/QĐ-TTg và Kế hoạch 212/KH-UBND của UBND thành phố Đà Nẵng, nhằm trang bị kiến thức và kỹ năng cần thiết cho đội ngũ làm nghề trong bối cảnh thông tin số bùng nổ.

Buổi tập huấn có sự tham gia của Tiến sĩ Trịnh Công Duy, giảng viên Khoa Công nghệ thông tin (Trường Đại học Bách Khoa – Đại học Đà Nẵng), đồng thời là giảng viên cao cấp về AI của Tập đoàn Microsoft.

Tiến sĩ Trịnh Công Duy - Giảng viên cao cấp về AI của Tập đoàn Microsoft. (Ảnh: Quang Hiếu)

Tiến sĩ Trịnh Công Duy đã mang đến những chia sẻ vô cùng cập nhật về xu hướng ứng dụng AI trong sản xuất nội dung báo chí. Đặc biệt, ông tập trung phân tích cách thức AI đang thay đổi toàn bộ quy trình làm báo, từ thu thập và xử lý dữ liệu; hỗ trợ sản xuất nội dung cho đến phân tích nội dung số.

Nội dung tập huấn đi sâu vào các ví dụ thực hành thiết thực: khai thác AI trong phân tích dữ liệu lớn, sàng lọc thông tin nhanh, và tự động hóa một phần quy trình sản xuất tin. Điều này cho thấy tiềm năng to lớn của AI trong việc tăng năng suất và đảm bảo độ chính xác – hai yếu tố sống còn của báo chí hiện đại.

Bà Nguyễn Thu Phương, Phó Giám đốc Sở VH-TTDL, nhấn mạnh, chuyển đổi số không chỉ là mục tiêu riêng của ngành báo chí mà là yêu cầu tất yếu để ngành truyền thông thành phố có thể giữ vững vai trò định hướng dư luận trong thời đại truyền thông đa nền tảng.

Bà Nguyễn Thu Phương - Phó Giám đốc Sở VH-TTDL TP. Đà Nẵng. (Ảnh: Quang Hiếu)

Việc trang bị kiến thức AI cho phóng viên không chỉ giúp nâng cao năng lực tác nghiệp cá nhân mà còn tạo điều kiện để các tòa soạn Đà Nẵng bắt nhịp với xu hướng phát triển báo chí toàn cầu.

Điều quan trọng nhất mà hội nghị mang lại là thay đổi nhận thức của người làm báo về AI đó là: "Công nghệ này không phải là mối đe dọa thay thế, mà là một công cụ tăng sức mạnh sáng tạo, hỗ trợ kiểm chứng thông tin và tối ưu quy trình làm báo". Nhiều phóng viên tham dự đã đánh giá chương trình là thiết thực, cung cấp các kỹ năng có thể ứng dụng ngay lập tức vào công việc hàng ngày.

Hội nghị tập huấn lần này được kỳ vọng là bước khởi đầu quan trọng, thúc đẩy mạnh mẽ quá trình ứng dụng AI trong báo chí Đà Nẵng, góp phần thực hiện hiệu quả các mục tiêu chuyển đổi số của thành phố đến năm 2030.

- Đào Ngọc Anh

Categories: The Latest News

Việt Nam – Singapore hợp tác đưa hàng hóa Việt vươn xa trên bản đồ thương mại điện tử toàn cầu

Wed, 11/26/2025 - 00:07
Việt Nam và Singapore vừa chính thức ký kết Bản ghi nhớ hợp tác chiến lược, đặt nền móng cho việc tăng tốc xuất khẩu số xuyên biên giới. Sự hợp tác này không chỉ mở ra cánh cửa lớn cho doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa Việt Nam tiếp cận thị trường quốc tế, mà còn khẳng định vị thế dẫn đầu khu vực của Việt Nam trong kỷ nguyên số...

Ngày 25/11/2025, tại trụ sở Shopee, Singapore, Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số, Bộ Công Thương và Công ty TNHH Shopee đã thực hiện ký kết Bản ghi nhớ hợp tác thúc đẩy thương mại điện tử xuyên biên giới nhằm góp phần hiện đại hóa hệ sinh thái thương mại quốc gia trên cơ sở gắn kết chính sách Nhà nước, năng lực doanh nghiệp và hạ tầng công nghệ.

VIỆT NAM - "NGÔI SAO SÁNG" CỦA ĐÔNG NAM Á

Những năm gần đây, Đông Nam Á đã trở thành khu vực phát triển thương mại điện tử năng động nhất thế giới, và Việt Nam nổi lên như một "ngôi sao sáng" với tốc độ tăng trưởng ấn tượng.

Theo báo cáo e-Conomy SEA 2024, doanh thu thương mại điện tử toàn ASEAN đạt 159 tỷ USD, tăng 14%. Đáng chú ý, Việt Nam đóng góp 22 tỷ USD, tăng 18% và vững vàng trong nhóm dẫn đầu khu vực.

Bà Lại Việt Anh, Phó Cục trưởng Cục thương mại điện tử và Kinh tế số, Bộ Công Thương, nhấn mạnh rằng thương mại điện tử không chỉ là động lực tăng trưởng kinh tế số mà còn là công cụ đắc lực thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện các mặt đời sống xã hội.

Quang cảnh buổi ký kết Bản ghi nhớ hợp tác.

Nhờ thương mại điện tử, người tiêu dùng Việt Nam có thể tiếp cận nguồn sản phẩm đa dạng từ trong nước và quốc tế. Quan trọng hơn, các doanh nghiệp nhỏ và vừa đã tận dụng nền tảng số để tối ưu hóa chi phí, mở rộng kênh phân phối, và bắt đầu chinh phục thị trường toàn cầu.

Những thành tựu này là kết quả của các chính sách phát triển thương mại điện tử nhất quán và lâu dài của Chính phủ Việt Nam, thể hiện qua các Kế hoạch tổng thể từng giai đoạn (gần nhất là 2026 – 2030) và Chỉ thị 29/CT-TTg về thúc đẩy xuất khẩu.

Các văn bản này đã xác định thương mại điện tử xuyên biên giới là một trụ cột chiến lược, nhằm xây dựng một hệ sinh thái xuất khẩu số bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế cho hàng hóa và thương hiệu Việt.

Để hiện thực hóa mục tiêu này, Bộ Công Thương đã và đang triển khai các chương trình hành động cụ thể, bao gồm: Nâng cao năng lực cho doanh nghiệp nhỏ và vừa qua các khóa đào tạo về kỹ năng ứng dụng thương mại điện tử, marketing, logistics và quản lý chuỗi cung ứng. Hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp tham gia các nền tảng thương mại điện tử quốc tế lớn để tiếp cận toàn cầu.

MỞ RỘNG TẦM NHÌN QUỐC TẾ CHO DOANH NGHIỆP VIỆT

Vị thế dẫn đầu của Việt Nam không thể không kể đến vai trò của các nền tảng thương mại điện tử hàng đầu. Trong đó, Shopee được xem là một ví dụ điển hình khi liên tục phát triển, trở thành bệ phóng công nghệ, đồng hành cùng các doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số, tận dụng lợi thế công nghệ của nền tảng để phát triển trong nước và quốc tế.

Sự kiện Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số và Công ty TNHH Shopee ký kết Bản ghi nhớ được Đại sứ Việt Nam tại Singapore, ông Trần Phước Anh, khẳng định là minh chứng cho cam kết mạnh mẽ của Việt Nam đối với thương mại số và với cộng đồng doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa.

Bản ghi nhớ hợp tác này sẽ tập trung vào thúc đẩy xuất khẩu trực tuyến B2C của các doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa Việt Nam tới thị trường ASEAN và quốc tế. Phát triển "Gian hàng Quốc gia Việt Nam" trên Shopee Quốc tế, chuyên trưng bày sản phẩm chính hãng, chất lượng từ các doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa. Tổ chức đào tạo và nâng cao năng lực chuyên sâu cho doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa về xuất khẩu trực tuyến B2C. Triển khai các chiến dịch xúc tiến số tại khu vực ASEAN.

Ông G. Jayakrishnan, Giám đốc Điều hành Khu vực Đông Nam Á của Enterprise Singapore, nhận định: "Sự hợp tác này diễn ra đúng thời điểm khi ASEAN đang tăng tốc chuyển đổi số. Sự phối hợp này không chỉ cung cấp giải pháp thiết thực, định hướng ứng dụng công nghệ cho doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa mà còn là cầu nối giao lưu, kết nối các đối tác tiềm năng, tạo ra khung hợp tác rộng lớn, nhấn mạnh tính gắn kết Việt Nam – Singapore trong kỷ nguyên số".

Với tinh thần hợp tác cùng có lợi và minh bạch, việc ký kết MOU giữa Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số và Shopee là dấu mốc quan trọng, hiện thực hóa các chủ trương phát triển thương mại điện tử xuyên biên giới, giúp hàng hóa và thương hiệu Việt Nam "vươn xa trên bản đồ thương mại toàn cầu".

Bộ Công Thương-Song Hà

Categories: The Latest News

Tăng cường hợp tác địa phương Việt – Nhật, kiến tạo tương lai phát triển bền vững

Wed, 11/26/2025 - 00:05
Với chủ đề “Đồng hành phát triển toàn diện - Kiến tạo tương lai bền vững”, Diễn đàn hợp tác địa phương Việt - Nhật lần thứ nhất tại Quảng Ninh mở ra không gian hợp tác sâu rộng, gắn kết thực chất giữa các địa phương và doanh nghiệp hai nước, hướng tới quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện ngày càng hiệu quả.

Sáng 25/11 tại Quảng Ninh, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dự và phát biểu tại Diễn đàn hợp tác địa phương Việt - Nhật với sự tham dự của lãnh đạo gần 50 địa phương hai nước, các bộ, ngành, tổ chức, hiệp hội và doanh nghiệp Việt Nam – Nhật Bản. Thủ tướng Nhật Bản gửi Thông điệp chúc mừng; Đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam cùng lãnh đạo 18 địa phương Nhật Bản trực tiếp tham dự.

ĐƯA HỢP TÁC VIỆT – NHẬT VÀO CHIỀU SÂU VỚI CƠ CHẾ KẾT NỐI THƯỜNG KỲ

Đây là diễn đàn quy mô lớn nhất về hợp tác địa phương giữa Việt Nam và Nhật Bản từ trước đến nay. Sau hơn 50 năm thiết lập quan hệ, đặc biệt từ khi nâng cấp lên Đối tác Chiến lược toàn diện năm 2023, hợp tác hai nước đạt bước phát triển sâu rộng, hiệu quả. Tới nay, đã có hơn 110 thỏa thuận hợp tác giữa các địa phương hai bên, tạo nền tảng kết nối ngày càng thực chất.

Diễn đàn nhằm cụ thể hóa các nội dung đã được lãnh đạo cấp cao thống nhất; thiết lập cơ chế đối thoại thường kỳ, thúc đẩy chia sẻ kinh nghiệm, kết nối chính sách và tăng cường hợp tác thực chất giữa các địa phương. Trong khuôn khổ sự kiện, hơn 100 hoạt động kết nối, làm việc trực tiếp được tổ chức; Triển lãm địa phương Việt – Nhật trưng bày trên 40 gian hàng với sản phẩm đặc trưng và không gian giao lưu văn hóa hai nước.

Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung phát biểu khai mạc Diễn đàn. Ảnh: Nhật Bắc

Phát biểu khai mạc, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung nhấn mạnh mong muốn các địa phương hai nước chủ động triển khai các cam kết cấp cao, biến thỏa thuận thành dự án cụ thể, mang lại lợi ích thiết thực cho người dân. Bộ Ngoại giao cùng ba cơ quan đại diện Việt Nam tại Nhật Bản cam kết đồng hành, hỗ trợ tối đa để thúc đẩy kết nối, hợp tác toàn diện giữa các địa phương và doanh nghiệp hai nước.

Phát biểu tại sự kiện, Thủ tướng Phạm Minh Chính chuyển lời chúc mừng của Tổng Bí thư Tô Lâm, hoan nghênh sự tham dự đông đảo của các địa phương và doanh nghiệp. Thủ tướng đánh giá Diễn đàn mang ý nghĩa chiến lược, thể hiện tinh thần “đoàn kết để có sức mạnh - hợp tác để có lợi ích - đối thoại để có lòng tin”, góp phần củng cố hợp tác vì hòa bình, ổn định và thịnh vượng của hai quốc gia.

Theo Thủ tướng, với nền tảng giao lưu nhân dân hơn 1.300 năm và hơn nửa thế kỷ thiết lập quan hệ ngoại giao, Việt Nam – Nhật Bản đã xây dựng mối quan hệ tin cậy, toàn diện, thực chất, hiệu quả. Nhật Bản hiện là đối tác kinh tế quan trọng hàng đầu của Việt Nam: đứng thứ nhất về ODA và hợp tác lao động, thứ ba về đầu tư và thứ tư về thương mại, du lịch.

Đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam Ito Naoki đọc Thông điệp của Thủ tướng Nhật Bản chúc mừng Diễn đàn. Ảnh: Nhật Bắc

Sau hai năm nâng cấp quan hệ, hợp tác song phương tăng trưởng mạnh mẽ: thiết lập thêm cơ chế đối thoại mới; mở rộng liên kết trong hạ tầng, giáo dục, y tế, công nghiệp, công nghệ và đào tạo nhân lực; thúc đẩy các lĩnh vực mới như chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế sáng tạo; xác lập khoa học - công nghệ là trụ cột mới của hợp tác.

Kim ngạch thương mại hai chiều tăng 20%; đầu tư Nhật Bản vào Việt Nam tăng hơn 8 tỷ USD; người Việt Nam tại Nhật tăng trên 20%. Hơn 10 cặp địa phương ký kết văn kiện hợp tác mới. Ngày càng có nhiều doanh nghiệp và địa phương Việt Nam mở rộng hoạt động tại Nhật Bản, nhất là trong thương mại, du lịch, y tế và chuyển đổi số.

MỞ RỘNG KHÔNG GIAN HỢP TÁC MỚI, THÚC ĐẨY ĐỔI MỚI SÁNG TẠO VÀ CHUYỂN ĐỔI XANH

Thủ tướng đánh giá cao đóng góp của các địa phương và doanh nghiệp Nhật Bản trong phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Hợp tác địa phương và doanh nghiệp là kênh kết nối đặc sắc, góp phần cụ thể hóa các thỏa thuận cấp cao và tạo hiệu quả thiết thực.

Thông tin về tình hình phát triển của Việt Nam, Thủ tướng cho biết sau 80 năm xây dựng và 40 năm đổi mới, Việt Nam đã vươn lên nhóm 35 nền kinh tế hàng đầu thế giới và nhóm 20 quốc gia có quy mô thương mại lớn nhất; tham gia 17 FTA với 60 đối tác; thiết lập quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia. GDP đầu người tăng gần 50 lần; kinh tế vĩ mô ổn định; quốc phòng, an ninh, an sinh xã hội được bảo đảm.

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính cùng các đại biểu chụp ảnh lưu niệm tại Diễn đàn hợp tác địa phương Việt - Nhật. Ảnh: Nhật Bắc

Bước vào giai đoạn phát triển mới, Việt Nam tập trung tháo gỡ điểm nghẽn về thể chế, nhân lực và hạ tầng; đẩy mạnh chuyển đổi mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số từ năm 2026, phấn đấu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.

Thủ tướng Phạm Minh Chính cho biết Chính phủ đang triển khai nhiều nhóm giải pháp theo tinh thần “3 thông”: thể chế thông thoáng, hạ tầng thông suốt, quản trị thông minh. Trong đó, đột phá thể chế nhằm biến thách thức thành lợi thế cạnh tranh quốc gia; thúc đẩy phát triển hạ tầng đồng bộ, hiện đại; đổi mới quản trị theo hướng vừa quản lý chặt chẽ vừa tạo thuận lợi cho doanh nghiệp.

Các đại biểu tham dự Diễn đàn. Ảnh: Nhật Bắc

Thủ tướng khẳng định dư địa hợp tác Việt – Nhật còn rất lớn. Để khai thác hiệu quả hơn, Thủ tướng đề nghị các địa phương hai nước chủ động, sáng tạo, phát huy các yếu tố bổ trợ theo nguyên tắc “bên này cần – bên kia có”. Việt Nam có nhu cầu về vốn, công nghệ, công nghiệp phụ trợ; trong khi nhiều địa phương Nhật Bản đối mặt với thiếu hụt lao động và thách thức dân số già.

Xác định doanh nghiệp và người dân là trung tâm của hợp tác, Thủ tướng đề nghị các địa phương hai nước lắng nghe doanh nghiệp, xây dựng chính sách ưu đãi, tạo môi trường kết nối thuận lợi; bảo đảm người dân là đối tượng hưởng lợi thông qua việc làm tốt hơn, thu nhập cao hơn, kỹ năng tốt hơn.

Thủ tướng nhấn mạnh giao lưu văn hóa và hiểu biết lẫn nhau là nền tảng hợp tác lâu dài. Hai bên cần thúc đẩy các sáng kiến về văn hóa, du lịch, giao lưu nhân dân, qua đó tăng cường sự gắn kết giữa các địa phương.

Đối với hợp tác đổi mới sáng tạo, Thủ tướng đề nghị nghiên cứu triển khai các mô hình hợp tác về công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, đô thị thông minh, vườn ươm khởi nghiệp và trung tâm RD. Việt Nam mong muốn Nhật Bản chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực quản trị trong các lĩnh vực ưu tiên như AI, hạ tầng số và bán dẫn.

Về chuyển đổi xanh, hai bên cần tăng cường chia sẻ kinh nghiệm, thúc đẩy dự án hợp tác về hạ tầng xanh, chống ngập đô thị, xử lý rác – nước thải, nông nghiệp thông minh thích ứng biến đổi khí hậu và năng lượng tái tạo. Đây là lĩnh vực nhiều tiềm năng và phù hợp với chiến lược phát triển bền vững của cả hai quốc gia.

Thủ tướng nhắc lại tinh thần hành động của Thủ tướng Nhật Bản Takaichi: “Làm việc! Làm việc! Làm việc và Làm việc!” – và khẳng định Chính phủ Việt Nam sẽ tiếp tục làm việc với tinh thần “3 cùng”: cùng lắng nghe, cùng chia sẻ, cùng hành động vì hợp tác phát triển nhanh và bền vững; cùng thắng, cùng hưởng và cùng tự hào.

Kêu gọi các địa phương và doanh nghiệp Nhật Bản tiếp tục tin tưởng và đồng hành với Việt Nam, Thủ tướng bày tỏ tin tưởng Diễn đàn hợp tác địa phương Việt – Nhật lần thứ nhất sẽ trở thành dấu mốc quan trọng, tạo “cú hích” mới trong hợp tác sáng tạo, thực chất giữa hai nước. Qua đó, quan hệ Việt Nam – Nhật Bản tiếp tục phát triển theo tinh thần “chân thành - tình cảm - tin cậy - thực chất - hiệu quả - cùng có lợi”, đáp ứng mong muốn và lợi ích của nhân dân hai nước.

-Lý Hà

Categories: The Latest News

Phát triển kinh tế số: Khi dữ liệu là “tài sản” và cơ chế sandbox là “bệ phóng”

Wed, 11/26/2025 - 00:04
Để đạt mục tiêu kinh tế số chiếm 30% GDP vào năm 2030, các chuyên gia cho rằng cần sự chuyển dịch căn bản về tư duy chiến lược để xây dựng cơ chế sandbox, đưa dữ liệu thành tài sản quốc gia và phát triển hạ tầng hiện đại…

Chia sẻ tại hội thảo “Phát triển kinh tế số trong kỷ nguyên mới” ngày 25/11, ông Lê Xuân Sơn, Phó Tổng Giám đốc VNPT – IT, cho rằng tài nguyên trong kỷ nguyên mới cần được nhìn nhận lại. “Chúng ta phải quay lại một cách nhìn mới. Đó là kinh tế số phải lấy dữ liệu làm tài sản”, ông Sơn nhấn mạnh.

“CƠN KHÁT” DỮ LIỆU VÀ TƯ DUY TÀI SẢN MỚI

Khác với giai đoạn trước đây khi công nghệ thông tin chủ yếu tập trung vào phần cứng hay phần mềm quản lý, kỷ nguyên này, theo đại diện VNPT, được định hình bởi khả năng khai thác, phân tích và xử lý dữ liệu.

Ông Hoàng Văn Ngọc, Giám đốc Chiến lược Tập đoàn Viettel, cũng đồng tình với quan điểm này song ông cho rằng 4 xu hướng chính định hình tương lai sẽ bao gồm: Trí tuệ nhân tạo (AI) hóa; Khai thác hệ sinh thái dữ liệu; Chuyển dịch lên Điện toán đám mây (Cloud) và sự bùng nổ của các nền tảng số.

Cùng quan điểm, bà Bùi Kim Thùy, Phó Chủ tịch President Club, đã đưa ra một so sánh hình tượng về sự chuyển dịch mô hình sản xuất. “Trước đây là 'Labor intensive' (thâm dụng lao động), còn bây giờ là 'Data intensive' (thâm dụng dữ liệu). Sản phẩm dịch vụ phải chứa hàm lượng tri thức, chất xám cao”, bà Thùy nêu quan điểm.

Sự chuyển dịch này đòi hỏi Việt Nam không chỉ dừng lại ở việc xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia (như Đề án 06 về dân cư mà VNPT đã đồng hành) mà còn phải đảm bảo tính liên thông, an toàn và khả năng tạo ra giá trị gia tăng từ dữ liệu đó. Dữ liệu không chỉ là con số vô tri, mà là “mỏ dầu” mới quyết định sức cạnh tranh của quốc gia.

PHÁT TRIỂN “XA LỘ” 5G

Để dòng chảy dữ liệu được khơi thông, hạ tầng viễn thông đóng vai trò như hệ thống mạch máu. Ông Nguyễn Phong Nhã, Phó Cục trưởng Cục Viễn Thông, Bộ Khoa học Công nghệ, khẳng định Việt Nam đã có một hạ tầng viễn thông rất tốt, công nghệ tiên tiến tương đương các nước phát triển. 85% hộ gia đình có cáp quang, vùng phủ 4G đạt 99,8% dân số, và đang trong lộ trình tắt sóng 2G để dồn lực cho 5G.

Bà Rita Mokbel, Chủ tịch Ericsson Việt Nam, cũng cho rằng 5G chính là xương sống của quá trình số hóa nền kinh tế. Theo nghiên cứu của Ericsson, cứ mỗi 10% gia tăng trong tỷ lệ sử dụng băng thông rộng có thể giúp GDP tăng thêm tới 0,8%. “Bài học từ Ấn Độ - quốc gia đạt 90% phủ sóng 5G chỉ trong 21 tháng và tạo ra mức tiêu thụ dữ liệu cao nhất toàn cầu là một minh chứng sống động cho Việt Nam”, bà Rita cho biết.

Tại Việt Nam, các công ty công nghệ hàng đầu cũng đang nỗ lực phát triển “xa lộ” 5G. Viettel cam kết đến hết năm 2025 sẽ phủ 28.000 trạm 5G, đạt vùng phủ 90-95% dân số. Không chỉ dừng lại ở trạm phát sóng, hạ tầng Trung tâm dữ liệu (Data Center) và Cloud cũng đang được đầu tư quy mô lớn để đảm bảo chủ quyền dữ liệu.

Ông Yves Vanderstraeten, Phó Chủ tịch Ban Kỹ thuật số, EuroCham, đánh giá cao nỗ lực này Chính phủ và các công ty Việt Nam trong thời gian qua. Chỉ số phát triển chính phủ điện tử của Việt Nam đã tăng 15 bậc, đứng thứ 71. Và nhà đầu tư châu Âu có lòng tin mạnh mẽ khi chỉ số niềm tin kinh doanh (BCI) hiện rất cao.

ĐIỂM NGHẼN NHÂN LỰC

Bên cạnh hạ tầng và dữ liệu, đại diện VNPT vẫn tỏ ra băn khoăn về điểm nghẽn nhân lực và thực thi chính sách.

Toàn cảnh Hội thảo “Phát triển kinh tế số trong kỷ nguyên mới” do Báo Tài chính - Đầu tư tổ chức.

Ông cho rằng Việt Nam có lợi thế dân số vàng với 100 triệu dân và thị trường lao động công nghệ thông tin chất lượng tốt trong khu vực. Tuy nhiên, để chuyển từ người gia công, tiêu dùng sản phẩm số sang người sáng tạo, sản xuất và xuất khẩu công nghệ (Make in Vietnam), bài toán đào tạo nhân lực chất lượng cao trở nên cấp bách.

Sự hợp tác giữa doanh nghiệp và cơ sở đào tạo đang được đẩy mạnh. Điển hình như Ericsson đang hợp tác với RMIT và Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông (PTIT) để đào tạo sinh viên về 5G, AI và blockchain. Đây là hướng đi đúng đắn để chuẩn bị cho một thế hệ lao động “thâm dụng tri thức”.

Ở khía cạnh quản trị dữ liệu, ông Đồng Mạnh Cường, Trưởng Khoa Kinh doanh, Trường Đại học Anh Quốc Việt Nam, cho rằng tình trạng thiếu nhân lực có chuyên môn về kiến trúc dữ liệu, bảo mật, tuân thủ và phân tích nâng cao khiến nhiều doanh nghiệp vẫn loay hoay giữa việc có rất nhiều dữ liệu nhưng lại không thể biến nó thành lợi thế cạnh tranh.

“Khoảng trống lớn nằm ở những vị trí kết nối – những người có thể dịch ngôn ngữ kỹ thuật của đội IT sang ngôn ngữ chiến lược của đội kinh doanh để giúp doanh nghiệp ra quyết định nhanh hơn và chính xác hơn”, ông Cường cho biết.

CỞI TRÓI THỂ CHẾ VÀ CƠ CHẾ SANDBOX

Yếu tố cuối cùng, nhưng theo các chuyên gia lại có tính quyết định, chính là thể chế. Bối cảnh năm 2025 đặc biệt thuận lợi với sự ra đời của “Bộ tứ Nghị quyết” (57, 59, 66, 68) tạo nên các đột phá chiến lược về khoa học công nghệ, kinh tế tư nhân và hội nhập quốc tế.

Đại diện Viettel nhận định: “Nhà nước trước đây xem doanh nghiệp là đối tượng quản lý, bây giờ xem là đối tác đồng hành. Nghị quyết 66 cởi trói thể chế, cởi mở tư duy là động lực rất lớn”.

Tuy nhiên, thực tế triển khai vẫn còn những khoảng cách. Đại diện EuroCham thẳng thắn chỉ ra: “Thủ tục hành chính vẫn là một gánh nặng. Việc triển khai một số sáng kiến cải cách dịch vụ công có sự chậm trễ so với mục tiêu”.

Đáng chú ý, theo bà Bùi Kim Thùy, vấn đề cấp thiết nhất hiện nay là cơ chế thử nghiệm (Sandbox) cho các doanh nghiệp Nhà nước.

“Các doanh nghiệp tư nhân lỗ chục năm không sao, nhưng doanh nghiệp nhà nước chỉ cần lỗ 1 năm là rất khó khăn. Việc áp dụng sandbox cho các tập đoàn lớn như VNPT, Viettel là vô cùng khó”, bà Thùy nói và kiến nghị một cơ chế đặc thù, cho phép các “sếu đầu đàn” được phép thử nghiệm, được phép sai trong giới hạn để thúc đẩy đổi mới sáng tạo.

-Ngân Hà

Categories: The Latest News

“Bắt bệnh” để cải thiện chất lượng không khí các đô thị

Wed, 11/26/2025 - 00:00
Ô nhiễm không khí tại Hà Nội và một số tỉnh phía Bắc có xu hướng diễn biến phức tạp. Một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm kéo dài được các chuyên gia chỉ ra đến từ công nghiệp, giao thông vận tải, nông nghiệp, xây dựng; cùng điều kiện khí tượng bất lợi của mùa đông miền Bắc với nhiều ngày gió yếu, nghịch nhiệt khiến chất ô nhiễm tích tụ...

Thực tế này được các chuyên gia chỉ ra tại tọa đàm “Cải thiện chất lượng môi trường không khí đô thị” diễn ra ngày 25/11/2025. Đây là một trong những hoạt động thuộc Dự án "Lồng ghép chống chịu biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường để phát triển các đô thị xanh".

KHÔNG KHÍ CHỊU ÁP LỰC LỚN TỪ NHIỀU NGUỒN

Tại tọa đàm, ông Lê Hoài Nam, Phó Cục trưởng Cục Môi trường, cho biết ô nhiễm không khí tại Hà Nội và nhiều tỉnh phía Bắc, đặc biệt khu vực Đồng bằng sông Hồng, có xu hướng diễn biến phức tạp. Riêng năm 2024, Hà Nội trải qua bốn đợt ô nhiễm nghiêm trọng; nồng độ PM2.5 trung bình năm vượt khoảng hai lần quy chuẩn, số ngày chất lượng không khí ở mức xấu cũng tăng cao.

Bước sang năm 2025, dù mức độ ô nhiễm chưa có những diễn biến xấu như năm trước, nhưng quy luật theo mùa vẫn là một thách thức lớn. Đặc điểm khí hậu miền Bắc, nhất là thời gian mùa đông (từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau) với nhiều ngày nghịch nhiệt và gió yếu, khiến các chất ô nhiễm dễ tích tụ và khó khuếch tán, làm mức độ ô nhiễm tăng cao hơn đáng kể so với các khu vực khác.

Theo chuyên gia, nguyên nhân gây ô nhiễm được xác định đa nguồn, từ hoạt động công nghiệp, giao thông vận tải, hoạt động nông nghiệp, cho đến hoạt động xây dựng.

Nguyên nhân gây ô nhiễm không khí đô thị được xác định từ nhiều nguồn khác nhau. Ảnh minh họa

Đáng chú ý, theo đánh giá của các cơ quan quản lý, ngành công nghiệp hiện đang chiếm tỷ lệ phát thải lớn nhất, khoảng 50% tổng nguồn gây ô nhiễm không khí. Các khu, cụm công nghiệp tập trung tại Hà Nội và các tỉnh lân cận, đặc biệt là ngành xi măng, sắt thép và hóa chất, chính là những "thủ phạm" phát thải chính. Bên cạnh đó, áp lực đô thị hóa và hạ tầng cũng tạo ra gánh nặng không kém.

Phân tích về nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, đại diện Phòng Quản lý môi trường, Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội, cho biết các số liệu quan trắc cho thấy có sự chênh lệch rõ rệt theo khu vực tại Hà Nội, khi các quận lõi đô thị thường có chỉ số AQI cao hơn. Lý do là mật độ phương tiện giao thông quá lớn, với khoảng 7,6 triệu phương tiện chưa kể lượng xe ngoại tỉnh, cùng với các dự án chỉnh trang đô thị và thi công xây dựng diễn ra dày đặc.

Theo nghiên cứu, hoạt động giao thông vận tải đóng góp khoảng 12 - 15% ô nhiễm bụi mịn, nhưng bụi đường – hệ quả trực tiếp của giao thông và xây dựng lại chiếm tới 20 - 23% lượng bụi mịn trong không khí.

Bên cạnh đó, tình trạng ùn tắc giao thông kéo dài, lượng xe vận chuyển vật liệu xây dựng lớn, cùng với việc đốt rác, đốt phụ phẩm nông nghiệp và đốt vàng mã tại các đền chùa vào dịp cuối năm khiến phát thải càng tăng mạnh. Công tác giám sát xây dựng vẫn còn hạn chế khi nhiều công trình chưa tuân thủ nghiêm các biện pháp che chắn, vệ sinh, rửa xe, dẫn đến bụi phát tán ra môi trường.

Một số chuyên gia ví von ở miền Bắc hiện nay có thêm một mùa gọi là mùa ô nhiễm không khí, kéo dài từ tháng 10 năm nay đến hết tháng 3 năm sau. Ô nhiễm đến từ nhiều nguồn thải khác nhau, gần Tết thì hoạt động xây dựng gia tăng gây bụi. Ngoài ra các nhà máy sản xuất vật liệu xây dựng, đặc biệt là các nhà máy xi măng đã phát thải một lượng lớn khí CO2. Các nghiên cứu chỉ ra rằng nguồn thải từ xây dựng không phải là nguồn thải lớn nhất nhưng đây là nguồn thải cần phải kiểm soát.

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ, ĐỒNG BỘ CÁC GIẢI PHÁP CẢI THIỆN CHẤT LƯỢNG KHÔNG KHÍ ĐÔ THỊ

Riêng với Hà Nội, TS Hoàng Dương Tùng, Chủ tịch Mạng lưới không khí sạch Việt Nam cho rằng nguyên nhân gây ô nhiễm ở Hà Nội không chỉ xuất phát từ Hà Nội mà còn xuất phát từ các nguồn bên ngoài các địa phương khác như Bắc Ninh, Ninh Bình, Hưng Yên. Do đó, Chủ tịch mạng lưới không khí sạch Việt Nam nhấn mạnh phải có giải pháp đồng bộ.

Theo TS Tùng các làng nghề tái chế là một trong các nguồn gây ra ô nhiễm không khí. Tuy nhiên, đến nay Hà Nội chưa xác định được chi tiết cơ sở sản xuất nào, làng nghề nào phát thải bao nhiêu, gây ô nhiễm thế nào. Do đó chuyên gia này cho rằng cần xây dựng bản đồ ô nhiễm để xác định những làng nghề nào gây ra ô nhiễm, mức độ phát thải ô nhiễm bao nhiêu. Khi có bản đồ này thì mới có giải pháp quản lý nguồn phát thải song song với biện pháp quản lý hành chính.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã trình Thủ tướng Chính phủ dự thảo lộ trình áp dụng quy chuẩn khí thải mới cho ô tô, bao gồm lộ trình chung và quy định áp dụng sớm hơn, nghiêm ngặt hơn cho các thành phố lớn như Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh.

Trao đổi vấn đề này, PGS.TS Lý Bích Thủy, đại học Bách khoa Hà Nội, chỉ ra rằng chúng ta đang có bức tranh tổng thể nhưng còn thiếu bức tranh chi tiết. Dữ liệu nguồn ô nhiễm từ giao thông đứng thứ hai, nhưng cần số hóa để phân tích cụ thể hơn là từ xe máy hay ô tô, từ đó xây dựng quy chuẩn và phát triển công nghệ ứng dụng phù hợp.

Vì vậy, việc ứng dụng công nghệ, AI và số hóa là cần thiết để thu thập dữ liệu đầy đủ, xác định chính xác nguồn phát thải, làm cơ sở xây dựng quy chuẩn và ứng dụng công nghệ phù hợp nhằm giảm ô nhiễm.

Theo TS Hoàng Dương Tùng, ô nhiễm không khí của Hà Nội có liên quan chặt chẽ đến các địa phương lân cận như Bắc Ninh, Ninh Bình, Hưng Yên. Do đó, AI cần được sử dụng để làm sạch và đồng bộ dữ liệu, từ dữ liệu nguồn thải đến dữ liệu quan trắc. Chỉ khi dữ liệu “rõ - sạch - sống” mới có thể xây dựng được kịch bản và chính sách phù hợp, ưu tiên đúng trọng tâm, cảnh báo sớm và dự báo chính xác.

Về các chính sách, đại diện Cục Môi trường, Nông nghiệp và Môi trường nêu rõ Chính phủ đã ban hành Kế hoạch hành động quốc gia về khắc phục ô nhiễm và quản lý chất lượng môi trường không khí giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến 2045. Theo phân công, Bộ có kế hoạch triển khai sớm nhất, trong đó tập trung kiểm soát hai nguồn phát thải chính là công nghiệp và giao thông vận tải.

Bộ cũng đã ban hành quy chuẩn mới cao và chặt chẽ hơn đối với lĩnh vực công nghiệp, có lộ trình thực hiện đến năm 2032. Để đáp ứng được được tiêu chuẩn này đòi hỏi các cơ sở công nghiệp phải có chuyển đổi công nghệ hoặc năng lượng, nhiên liệu, công nghệ xử lý.

Tương tự đối với lĩnh vực giao thông vận tải, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã trình Thủ tướng Chính phủ dự thảo lộ trình áp dụng quy chuẩn khí thải mới cho ô tô, bao gồm lộ trình chung và quy định áp dụng sớm hơn, nghiêm ngặt hơn cho các thành phố lớn như Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh.

Dự thảo đề xuất hệ thống 5 mức quy chuẩn thắt chặt dần, trong khi hiện nay Việt Nam mới áp dụng 2 mức đầu tiên. Việc hoàn thiện và triển khai lộ trình này được kỳ vọng góp phần giảm phát thải từ các phương tiện giao thông là một trong những nguồn gây ô nhiễm không khí lớn tại các đô thị.

Cụ thể, với ô tô sản xuất từ năm 2017 đến 2021 phải đạt chuẩn khí thải Euro 4 kể từ ngày 1/5/2027. Còn ô tô sản xuất từ năm 2022 trở đi phải đạt chuẩn Euro 5 kể từ ngày 1/5/2028. Riêng đối với xe máy, công tác kiểm định khí thải sẽ bắt đầu từ năm 2027. Tất cả xe máy lưu thông tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh phải đạt tối thiểu chuẩn Euro 2 từ ngày 1/5/2028.

Bên cạnh kiểm soát nguồn thải, công tác dự báo chất lượng không khí cũng đang được Bộ Nông nghiệp và Môi trường chú trọng, tăng cường. Bản tin dự báo chất lượng không khí hiện đã được phát trên các chương trình của VTV, đồng thời cập nhật thời gian thực trên cổng thông tin quan trắc với khả năng dự báo trước 48 giờ. Thời gian tới, Bộ đặt mục tiêu nâng thời gian dự báo lên 7 ngày thông qua hoàn thiện hạ tầng công nghệ và tích hợp các mô hình AI tiên tiến...

Kế hoạch hành động quốc gia về khắc phục ô nhiễm và quản lý chất lượng môi trường không khí giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045 vừa được Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà ký phê duyệt đặt mục tiêu 100% các nguồn phát sinh khí thải lớn thuộc các loại hình sản xuất có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường không khí cao: xi măng, nhiệt điện, luyện thép, lò hơi… trên phạm vi toàn quốc được quản lý, kiểm soát chặt chẽ và từng bước có lộ trình giảm phát thải;

Cùng với đó, 100% phương tiện tham gia giao thông đường bộ (bao gồm xe ô tô, xe mô tô, xe gắn máy) được quản lý, kiểm soát về khí thải theo lộ trình áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải của phương tiện tham gia giao thông đường bộ.

Đối với Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh, đến năm 2030, 100% phương tiện giao thông công cộng sử dụng năng lượng sạch, năng lượng xanh, thân thiện môi trường; 

Sau năm 2030, nồng độ bụi mịn PM2.5 tại Hà Nội giảm trung bình 5 µg/m3 theo mỗi kỳ kế hoạch 5 năm, mục tiêu đến năm 2045, nồng độ bụi PM2.5 đạt mức quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng môi trường không khí xung quanh.

-Nhĩ Anh

Categories: The Latest News

Giới chuyên gia lạc quan về tăng trưởng kinh tế Mỹ 2026

Wed, 11/26/2025 - 00:00
Tăng trưởng của tiêu dùng và đầu tư được cho là sẽ bù đắp lại phần thiệt hại tăng trưởng gây ra bởi thuế quan...

Tốc độ tăng trưởng kinh tế Mỹ sẽ tăng nhẹ trong năm tới, nhưng tốc độ tăng trưởng việc làm sẽ tiếp tục chậm, và Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ hành động từ tốn trong việc cắt giảm lãi suất - theo kết quả cuộc khảo sát nhà kinh tế học cuối năm của Hiệp hội Kinh tế học kinh doanh Quốc gia Mỹ (NABE).

Theo hãng tin Reuters, cuộc khảo sát với sự tham gia của 42 nhà dự báo chuyên nghiệp, tiến hành trong thời gian từ ngày 3-11/11, cho thấy dự báo trung vị về tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) của Mỹ trong năm 2026 là 2%, tăng từ mức 1,8% đưa ra trong cuộc khảo sát tháng 10. Mức dự báo tăng trưởng này cũng vượt xa con số khiêm tốn 1,3% đưa ra trong cuộc khảo sát tháng 6.

Tiêu dùng cá nhân và đầu tư của doanh nghiệp tăng được cho là những yếu tố sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Mỹ trong năm tới. Tăng trưởng của tiêu dùng và đầu tư được cho là sẽ bù đắp lại phần thiệt hại tăng trưởng gây ra bởi thuế quan mới mà chính quyền Tổng thống Donald Trump áp lên hàng hóa nhập khẩu. Các nhà kinh tế trong cuộc khảo sát có sự đồng thuận gần như tuyệt đối rằng thuế quan sẽ làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế Mỹ năm tới khoảng 0,25 điểm phần trăm.

“Người trả lời trong cuộc khảo sát đề cập đến ‘tác động của thuế quan’ như là rủi ro suy giảm tăng trưởng lớn nhất đối với triển vọng kinh tế Mỹ, xét ở cả khả năng xảy ra và tác động tiềm ẩn”, theo báo cáo về kết quả khảo sát được Reuters trích dẫn.

Việc tăng cường thực thi các biện pháp kiểm soát người nhập cư cũng được xem là một yếu tố gây trở ngại cho tăng trưởng kinh tế Mỹ. Mặt khác, năng suất lao động tăng được nhận định là động lực quan trọng nhất có thể mang lại mức tăng trưởng tốt hơn kỳ vọng.

Các nhà kinh tế trong cuộc khảo sát dự báo tốc độ lạm phát hàng năm ở Mỹ sẽ kết thúc năm 2025 ở mức 2,9%, thấp hơn một chút so với mức dự báo 3% đưa ra trong cuộc khảo sát tháng 10. Họ cho rằng trong năm tới, lạm phát ở Mỹ chỉ giảm nhẹ về 2,6%, trong đó thuế quan đóng góp từ 0,25 điểm phần trăm đến gần 0,75 điểm phần trăm.

Tăng trưởng việc làm được dự báo sẽ duy trì ở mức khiêm tốn so với tiêu chuẩn lịch sử, chỉ khoảng 64.000 công việc mới được tạo ra mỗi tháng - nhiều hơn so với mức tăng trưởng việc làm của cuối năm nay, nhưng thấp hơn so với tốc độ gần đây. Tỷ lệ thất nghiệp được nhận định sẽ tăng lên mức 4,5% vào đầu năm 2026 và duy trì ở ngưỡng đó cho tới cuối năm.

Với sự dai dẳng của lạm phát và thị trường việc làm tăng trưởng yếu, các nhà kinh tế tham gia cuộc khảo sát dự báo Fed sẽ hạ lãi suất 0,25 điểm phần trăm trong cuộc họp tháng 12/2025, nhưng sau đó chỉ giảm lãi suất thêm 0,5 điểm phần trăm trong cả năm tới. Tốc độ giảm lãi suất như vậy sẽ đủ để đưa lãi suất quỹ liên bang về gần mức trung tính (neutral) - ngưỡng lãi suất không gây cản trở hay kích thích đối với tăng trưởng và lạm phát.

Một cuộc khảo sát các nhà kinh tế do Fed chi nhánh Philadelphia thực hiện và công bố kết quả vào tuần trước cho thấy dự báo tăng trưởng kinh tế Mỹ đạt 1,9% trong năm nay và 1,8% trong năm tới.

-Bình Minh

Categories: The Latest News

Tổ chức trong nước mua ròng gần 800 tỷ qua khớp lệnh

Tue, 11/25/2025 - 21:54
Nhà đầu tư tổ chức trong nước hôm nay bán ròng tổng hợp 97.1 tỷ đồng nhưng tính riêng khớp lệnh thì mua ròng 788.5 tỷ đồng. Nhà đầu tư cá nhân bán ròng khớp lệnh 478.8 tỷ đồng.

Mặc dù trụ VIC vẫn tăng 1,46% hôm nay nhưng thị trường không còn duy trì được trạng thái xanh vỏ đỏ lòng như phiên trước. VN-Index đóng cửa giảm 0,46% trong sắc đỏ phủ kín bảng điện.

Độ rộng chỉ còn 75 mã tăng/248 mã giảm, đặc biệt có tới gần 160 cổ phiếu giảm vượt 1% so với tham chiếu. Điều này cho thấy chỉ số đang tạo cảm giác an toàn giả tạo, khi danh mục của nhà đầu tư có thể tổn thương nặng nề. Thậm chí tới 22% số cổ phiếu trong VN-Index hôm nay giảm quá 2%.

Hiện tượng kéo trụ đã không còn đủ sức chống đỡ cho chỉ số vì VIC quá đơn độc phiên này. VHM đã quay đầu giảm nhẹ trong khi VCB giảm 1,02%, BID giảm 1,73%, CTG giảm 1,33%, TCB giảm 1,47%, VPB giảm 2,76%, MBB giảm 1,3%... Đây đều là các cổ phiếu vốn hóa rất lớn.

Nhóm ngân hàng chìm trong sắc đỏ và rất nhiều mã giảm biên độ lớn đã tác động đáng kể đến tâm lý. Thực tế hiệu ứng đỡ điểm của nhóm Vin chỉ có tác dụng nếu cổ phiếu ngân hàng ổn định vì VIC cũng không lớn hơn VCB quá nhiều. Với số cổ phiếu đỏ nhiều gấp 3,3 lần số mã xanh, không có nhóm cổ phiếu nào có thể đi ngược dòng.

Bất động sản trừ VIC, VPL và số ít mã nhỏ tăng, còn lại giảm rất mạnh, tới 15 mã rơi hơn 1%. Cổ phiếu chứng khoán thậm chí tệ hơn, tới trên hai chục mã giảm quá 1%, một số như SSI, SHS, MBS, VND, VIX còn giảm quá quá 2%.

Mặc dù hôm nay VN-Index chỉ giảm nhẹ nhưng cổ phiếu đã bước sang phiên thứ 5 điều chỉnh và trong cả 5 phiên này số lượng cổ phiếu giảm giá luôn áp đảo. Với cả trăm cổ phiếu giảm hơn 1% hàng ngày, mức độ thiệt hại của nhà đầu tư là rất lớn. Tuy vậy điểm tích cực là giá giảm mạnh đã hấp dẫn dòng tiền bắt đáy vào.

Tổng giá trị giao dịch 3 sàn đạt xấp xỉ 30.000 tỷ đồng, tăng 59% so với hôm qua. Khối ngoại cũng hạ nhiệt chỉ còn bán ròng 406.3 tỷ đồng, tính riêng giao dịch khớp lệnh thì họ bán ròng 339.6 tỷ đồng

Mua ròng khớp lệnh chính của nước ngoài là nhóm Tài nguyên Cơ bản, Công nghệ Thông tin. Top mua ròng khớp lệnh của nước ngoài gồm các mã: HDB, VNM, FPT, HPG, KBC, VJC, E1VFVN30, HAH, DGW, KDH.

Phía bên bán ròng khớp lệnh của nước ngoài là nhóm Dịch vụ tài chính. Top bán rồng khớp lệnh của nước ngoài gồm các mã: SSI, VIC, VHM, VRE, VCI, STB, MSN, VND, EIB.

Nhà đầu tư cá nhân mua ròng 392.0 tỷ đồng, trong đó họ bán ròng khớp lệnh là 478.8 tỷ đồng.

Tính riêng giao dịch khớp lệnh, họ mua ròng 5/18 ngành, chủ yếu là ngành Hàng Dịch vụ Công nghiệp. Top mua ròng của nhà đầu tư cá nhân tập trung gồm: GEX, STB, SSI, ACB, VIC, VCI, MSN, VRE, PAN, TCH.

Phía bán ròng khớp lệnh: họ bán ròng 13/18 ngành chủ yếu là nhóm ngành Ngân hàng, Tài nguyên Cơ bản. Top bán ròng có: SHB, HDB, VPB, VIX, KDH, HPG, VNM, VJC, POW.

Tự doanh mua ròng 67.8 tỷ đồng tính riêng khớp lệnh họ mua ròng 30.0 tỷ đồng. Tính riêng giao dịch khớp lệnh: Tự doanh mua ròng 8/18 ngành. Nhóm mua ròng mạnh nhất là Điện, nước xăng dầu khí đốt, Hàng Dịch vụ Công nghiệp.

Top mua ròng khớp lệnh của tự doanh phiên ngày hôm nay gồm POW, GMD, VJC, MBB, VPB, STB, CTG, VIC, TCB, KDH. Top bán ròng là nhóm Dịch vụ tài chính. Top cổ phiếu được bán ròng gồm HDB, ACB, E1VFVN30, VHM, VNM, MSN, VPL, PAC, FPT, VND.

Nhà đầu tư tổ chức trong nước bán ròng 97.1 tỷ đồng, tính riêng khớp lệnh thì họ mua ròng 788.5 tỷ đồng.

Tính riêng giao dịch khớp lệnh: Tổ chức trong nước bán ròng 7/18 ngành, giá trị lớn nhất là nhóm Hàng Dịch vụ Công nghiệp Top bán ròng có GEX, KBC, CTG, VNM, STB, FPT, VJC, HAH, POW, DGW. Giá trị mua ròng lớn nhất là nhóm Ngân hàng. Top mua ròng có SHB, SSI, VHM, VIC, ACB, VIX, VPB, VRE, VND, KDH.

Giá trị giao dịch thỏa thuận hôm nay đạt 5.481,2 tỷ đồng, tăng +170,7% so với phiên liền trước và đóng góp 18,6% tổng giá trị giao dịch. 

Hôm nay có giao dịch đáng chú ý ở cổ phiếu VIC, với 6 triệu đơn vị cổ phiếu tương đương 1.380 tỷ đồng được sang tay giữa các Tổ chức trong nước.

Tỷ trọng phân bổ dòng tiền tăng ở Chứng khoán, Thép, Nuôi trồng nông hải sản, Thiết bị điện, Kho bãi, Vận tải thủy, trong khi giảm ở Bất động sản, Ngân hàng, Xây dựng, Thực phẩm, Bán lẻ, Phần mềm, Hàng không.

Tính riêng khớp lệnh, tỷ trọng phân bổ dòng tiền tăng ở nhóm vốn hóa vừa VNMID, trong khi giảm ở nhóm vốn hóa lớn VN30 và nhỏ VNSML.

-Thu Minh

Categories: The Latest News

Thủ tướng tiếp lãnh đạo các tập đoàn, doanh nghiệp quốc tế trong lĩnh vực tài chính

Tue, 11/25/2025 - 21:52
Chiều 25/11, trong chương trình dự Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2025 tại TP. Hồ Chí Minh, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã tiếp lãnh đạo các tập đoàn, doanh nghiệp quốc tế trong lĩnh vực tài chính…

Cùng dự có lãnh đạo một số ngân hàng, tổ chức tài chính của Việt Nam. Đây cũng là những chủ thể tham gia hệ sinh thái trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam.

Tại cuộc gặp, các đại biểu đã trao đổi về tiềm năng, cơ hội, chia sẻ tầm nhìn, khẳng định cam kết hợp tác, đề xuất một số chương trình, dự án cụ thể, đồng thời nêu một số kiến nghị, nhằm góp phần xây dựng TP. Hồ Chí Minh trở thành một trung tâm tài chính quốc tế hàng đầu trong khu vực, qua đó góp phần thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững của Việt Nam.

Thời gian qua, thứ hạng của TP. Hồ Chí Minh trong Chỉ số Các trung tâm Tài chính Toàn cầu (GFCI 38) được cải thiện từ vị trí 98 lên 95, với điểm số đạt 664. Tuy nhiên, để tiếp tục nâng cao vị thế, Việt Nam cần tập trung vào bốn trụ cột chính: Chính sách, hạ tầng, nguồn nhân lực và các chương trình liên tục cải thiện thứ hạng của trung tâm tài chính quốc tế trong thời gian tới.

Thủ tướng mong các nhà đầu tư, tập đoàn, doanh nghiệp, đối tác quốc tế tiếp tục cổ vũ, hỗ trợ, đồng hành với Việt Nam.

Phát biểu tại cuộc gặp, Thủ tướng Phạm Minh Chính trân trọng cảm ơn các ý kiến bày tỏ lạc quan về những thành tựu và tiềm năng phát triển của Việt Nam và TP. Hồ Chí Minh, những cam kết đầu tư với tinh thần quan tâm, trách nhiệm, đồng hành, chia sẻ những góp ý rất bổ ích.

Thủ tướng nêu rõ Việt Nam là nước đang phát triển, nền kinh tế đang chuyển đổi, nên rất cần vốn. Muốn có vốn, phải có "4 thông" gồm: Thể chế thông thoáng, hạ tầng thông suốt, quản trị thông minh, cách làm thông dụng. Đồng thời, cùng với các động lực truyền thống (đầu tư, xuất khẩu, tiêu dùng), phải thúc đẩy các động lực phát triển mới, trong đó có kinh tế số, xanh, tuần hoàn, tri thức, phát triển hạ tầng dữ liệu, phát triển AI…

“Việt Nam rất coi trọng trí tuệ của các nhà đầu tư nhưng đồng thời, các bên liên quan cũng phải tiết kiệm thời gian, hành động nhanh hơn, quyết đoán kịp thời hơn, sớm hơn; tinh thần “đã nói là làm, đã cam kết phải thực hiện, đã làm đã thực hiện phải có sản phẩm, hiệu quả cụ thể, cân đong đo đếm được”; Nhà nước kiến tạo, doanh nghiệp tiên phong, công tư đồng hành, đất nước phát triển, doanh nghiệp và người dân được thụ hưởng”, Thủ tướng nêu rõ.

Khẳng định trước mắt còn rất nhiều khó khăn, Thủ tướng mong các nhà đầu tư, tập đoàn, doanh nghiệp, đối tác quốc tế tiếp tục cổ vũ, hỗ trợ, đồng hành với Việt Nam, để “biến không thành có, biến khó thành dễ, biến không thể thành có thể”.

Đại diện các doanh nghiệp tài chính trao đổi tại buổi tiếp. Ảnh: Hoàng Hùng.

Đề cập những vấn đề kiến nghị của nhà đầu tư, Thủ tướng cho biết phía Việt Nam đều đã và đang giải quyết. Trong đó, Thủ tướng khẳng định vấn đề cung ứng điện không đáng lo ngại, năm 2023 có tình trạng thiếu hụt điện cục bộ là do vấn đề điều hành còn tổng nguồn không thiếu. Chính phủ đã có điều chỉnh trong chính sách, chỉ đạo, điều hành để bảo đảm cung ứng đủ điện cho phát triển kinh tế nói chung, cho các nhà đầu tư nói riêng.

Theo Thủ tướng, nhìn rộng hơn, phải bảo đảm 5 khâu trong lĩnh vực điện gồm: Nguồn điện, lưới điện, cung ứng điện, sử dụng điện và giá điện.

Tiếp thu các ý kiến và bày tỏ tin tưởng vào sự hợp tác của các doanh nghiệp, Thủ tướng mong các chủ thể liên quan bắt tay vào công việc, với tinh thần: "Cùng lắng nghe và thấu hiểu giữa doanh nghiệp với Nhà nước và người dân; cùng chia sẻ tầm nhìn và hành động để hợp tác, hỗ trợ nhau cùng phát triển nhanh và bền vững; cùng làm, cùng thắng, cùng hưởng, cùng phát triển; cùng chung niềm vui, hạnh phúc và sự tự hào".

“Chính phủ Việt Nam cam kết tạo thuận lợi nhất cho nhà đầu tư và luôn lắng nghe, thấu hiểu, hành động có kết quả để nhà đầu tư hoạt động hiệu quả, thành công tại Việt Nam với tinh thần lợi ích hài hòa, rủi ro chia sẻ”, Thủ tướng nhấn mạnh.

Thời gian qua, Chính phủ Việt Nam tái khẳng định cam kết phát triển Trung tâm Tài chính Quốc tế (IFC) tại TP. Hồ Chí Minh, hướng tới tầm khu vực vào năm 2035 và toàn cầu vào năm 2045.

Về thể chế, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết 222/2025/QH15, tạo khung pháp lý đặc thù cho IFC, gồm cơ chế ngoại hối tự do, miễn kiểm soát ngoại hối cho doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và ưu đãi thuế lớn như thuế thu nhập doanh nghiệp 10% trong 30 năm cho ngành ưu tiên, miễn thuế thu nhập cá nhân đến năm 2030 cho chuyên gia cao cấp. Bộ Tài chính và các bộ, ngành đang hoàn thiện các nghị định triển khai và tiếp tục xây dựng chính sách cạnh tranh, minh bạch, phù hợp chuẩn quốc tế, thúc đẩy fintech, thị trường vốn và tài chính xanh.

-Thanh Thủy

Categories: The Latest News

Đề xuất áp dụng giám sát điện tử đối với người nghiện ma túy

Tue, 11/25/2025 - 20:47
Các đại biểu Quốc hội cho rằng dự thảo Luật Phòng, chống ma túy (sửa đổi) đã thể hiện nỗ lực lớn của cơ quan chủ trì soạn thảo khi kế thừa thực tiễn, tiếp cận chuẩn mực quốc tế và chuyển trọng tâm từ “trấn áp” sang “phòng ngừa bền vững, cai nghiện hiệu quả, hòa nhập xã hội”.

Chiều 25/11, Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự án Luật Phòng, chống ma túy (sửa đổi). Theo đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (đoàn đại biểu Quốc hội TP Hải Phòng), đây là đạo luật then chốt, có tác động trực tiếp đến bảo đảm an ninh con người, an ninh xã hội và an ninh quốc gia.

Đối với quy định người nghiện từ 12 đến dưới 18 tuổi được cai nghiện bắt buộc tại trường giáo dưỡng, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga đánh giá đây là chính sách thể hiện tính nhân văn sâu sắc, đồng thời phù hợp với Công ước quốc tế về quyền trẻ em. Trường giáo dưỡng là môi trường vừa đảm bảo kỷ luật, vừa có chương trình giáo dục văn hóa, giáo dục nghề nghiệp, giúp các em không bị “đứt gãy” học tập, tránh môi trường tội phạm.

Các đại biểu Quốc hội tham dự phiên thảo luận. Ảnh: Quốc hội.

Theo đại biểu, lứa tuổi 12 - 18 là giai đoạn chưa hoàn thiện về tâm sinh lý. Các em rất dễ bị lôi kéo, dụ dỗ. Vì vậy, phương án này giúp bảo vệ các em khỏi nguy cơ bị lợi dụng. Dự thảo cũng quy định đầy đủ về thủ tục, hồ sơ, quyền đọc hồ sơ, quyền của gia đình, thời hạn chấp hành… Tuy nhiên, việc triển khai cần đầy đủ trang thiết bị, nhân lực, khoa học, đảm bảo hiệu quả cai nghiện.

Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga cho rằng dự thảo quy định sử dụng giám sát điện tử đối với người cai nghiện tự nguyện, người điều trị Methadone và người bị quản lý sau cai là điểm mới tiến bộ, giúp hiện đại hóa công tác quản lý cai nghiện, phù hợp xu hướng quốc tế.

Theo đại biểu, giám sát điện tử không phải để trừng phạt mà là phương tiện bảo vệ người cai nghiện, giảm áp lực quản lý, tăng hiệu quả phòng ngừa. Tuy nhiên, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga đề nghị cần xây dựng quy chuẩn kỹ thuật thống nhất cho thiết bị giám sát điện tử; bảo mật dữ liệu cá nhân và cơ chế xử lý khi thiết bị báo động bất thường.

Đặc biệt, dự thảo luật sửa đổi, bổ sung quy định về thời hạn cai nghiện ma túy đối với người cai nghiện ma túy lần đầu là 24 tháng, người cai nghiện ma túy từ lần thứ hai trở lên là 36 tháng, thay vì khung thời gian 06-12 tháng hay 12-24 tháng như Luật Phòng, chống ma túy hiện hành. 

Đại biểu Trần Thị Thu Phước, đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Ngãi, phát biểu. Ảnh: Quốc hội. 

Đại biểu Trần Thị Thu Phước, đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Ngãi, cho rằng từ góc độ thực tiễn cho thấy thời gian cai nghiện ngắn (6-12 tháng) hiệu quả rất thấp, tỷ lệ tái nghiện rất cao do chưa đủ thời gian để phục hồi não bộ, thay đổi hành vi và đào tạo nghề bài bản. Quy định đủ 5 giai đoạn cai nghiện bắt buộc cần thời gian đủ dài. 

“Việc kéo dài thời gian tuy tốn kém trước mắt nhưng sẽ “chặn đứng” nguồn cầu trong thời gian dài, giảm thiểu tội phạm phát sinh từ người nghiện, đảm bảo an ninh, trật tự”, đại biểu Trần Thị Thu Phước nhận định.

Theo đại biểu Phạm Văn Hòa, đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Tháp, tình hình sử dụng, mua bán, vận chuyển, chế tạo chất ma túy ngày càng càng phức tạp, tinh vi. Các đối tượng sau cai nghiện tái nghiện cao. Vì vậy việc sửa đổi, bổ sung các quy định, trong đó quy định tăng thời hạn cai nghiện ma túy lần đầu là 24 tháng, từ lần thứ hai trở lên là 36 tháng (theo Điều 28 dự thảo luật) là cần thiết để phòng ngừa tái nghiện.

Tuy nhiên, đại biểu cho rằng chỉ nên quy định đây là khung tối đa trong thời gian cai nghiện. Bộ Công an cần nghiên cứu quy định linh hoạt, có thể rút ngắn thời gian cai nghiện đối với một số đối tượng, đặc biệt như đối với trẻ em, người từ đủ 12 đến dưới 18 tuổi, người cai nghiện ma túy là người đang nuôi con nhỏ…

Đại tướng Lương Tam Quang, Bộ trưởng Bộ Công an phát biểu. Ảnh: Quốc hội.

Trước khi giải trình trước Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang đã giới thiệu thiết bị điện tử giám sát đối tượng cai nghiện ma túy. Bộ trưởng Lương Tam Quang cho biết thiết bị do ngành Công an nghiên cứu sản xuất, nếu được Quốc hội thông qua thì thời gian tới, ngành sẽ áp dụng hình thức này. Thiết bị này vừa có chức năng giám sát, vừa là theo dõi sức khỏe.

Nếu được Quốc hội thông qua, hình thức giám sát này sẽ áp dụng trong thời gian tới với một số đối tượng. Mục tiêu là làm tốt công tác cai nghiện và quản lý sau cai nghiện, hướng đến một xã hội an toàn.

Theo Bộ trưởng Bộ Công an, xu thế hiện nay, người nghiện ma túy chuyển dần sang sử dụng các loại ma túy tổng hợp. Biểu hiện và trạng thái nghiện rất đa dạng, không điển hình. Nhiều đối tượng sử dụng các loại ma túy pha trộn dẫn đến tình trạng ngáo đá, loạn thần, có thể thực hiện các hành vi phạm tội đặc biệt nghiêm trọng.

Ngoài ra người cai nghiện rất khó khăn trong việc tiếp cận việc làm khi tái hòa nhập cộng đồng. Vì vậy, nhà nước cần xem xét, nghiên cứu để người sau cai nghiện có công ăn, việc làm phù hợp, không tái nghiện.

-Đỗ Như

Categories: The Latest News

Giải pháp tài chính chuyên biệt cho doanh nghiệp lớn từ ngân hàng NCB

Tue, 11/25/2025 - 20:00
Đồng hành cùng các doanh nghiệp lớn phát triển bứt phá, Ngân hàng TMCP Quốc Dân (NCB) xây dựng và cung cấp loạt giải pháp tài chính chuyên biệt, “đo ni đóng giày” theo từng nhóm ngành nghề và mô hình vận hành, đáp ứng nhanh và kịp thời nhu cầu trong bối cảnh mới.

Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam đang bước vào chu kỳ phát triển tăng tốc của "Kỷ nguyên vươn mình", các tập đoàn, doanh nghiệp lớn ngày càng thể hiện vai trò đầu tàu, là động lực quan trọng trong sự tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Nhu cầu về một đối tác tài chính có đủ tiềm năng và sự chuyên sâu, linh hoạt, thấu hiểu đang trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.

Qua đó, những giải pháp tài chính được “đo ni đóng giày” phù hợp với thực tiễn vận hành và chu kỳ dòng tiền của từng ngành nghề, từng mô hình kinh doanh sẽ trở thành công cụ tiếp sức cho doanh nghiệp phát triển nhanh, mạnh, bền vững trước thị trường liên tục biến động và áp lực cạnh tranh ngày càng gia tăng.

Một đối tác tài chính vững mạnh, chuyên sâu và thấu hiểu sẽ giúp doanh nghiệp phát triển nhanh, mạnh và bền vững.

Thấu hiểu nhu cầu đó, Ngân hàng TMCP Quốc Dân (NCB) đã tiên phong phát triển các gói giải pháp tài chính toàn diện, được thiết kế chuyên biệt cho các doanh nghiệp lớn theo từng ngành nghề và mô hình hoạt động, tập trung vào 5 nhóm doanh nghiệp: xây lắp - hạ tầng - bất động sản; chuỗi cung ứng; dịch vụ - du lịch - giải trí; đơn vị thực hiện dự án ngân sách; và các công ty chứng khoán, tài chính. Đây không chỉ là sự nhanh nhạy đáp ứng nhu cầu thị trường mà còn là cam kết đồng hành lâu dài, mọi lúc mọi nơi của NCB nhằm kịp thời cung cấp vốn và tối ưu nguồn lực, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho các doanh nghiệp.

GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH CHUYÊN BIỆT CHO TỪNG NHÓM NGÀNH, MÔ HÌNH KINH DOANH

Với nhóm doanh nghiệp xây lắp, hạ tầng, bất động sản, NCB cung cấp các giải pháp tài chính chuyên biệt, phù hợp với nhu cầu vốn lớn, chu kỳ kinh doanh dài, dòng tiền phân bổ theo tiến độ dự án. Doanh nghiệp có thể lựa chọn phương án tài sản bảo đảm linh hoạt, từ vay không tài sản bảo đảm đến sử dụng các loại tài sản phù hợp như bất động sản, phương tiện vận tải hoặc quyền đòi nợ, tùy theo nhu cầu và đặc thù từng dự án.

Song song với đó, các dịch vụ bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thanh toán với lãi suất cạnh tranh và tỷ lệ ký quỹ từ 0% giúp doanh nghiệp bổ sung vốn kịp thời, duy trì dòng tiền ổn định, đồng thời củng cố uy tín và năng lực đàm phán.

NCB tiếp vốn linh hoạt, đồng hành cùng tổng thầu và chủ đầu tư bất động sản quy mô lớn.

Đối với nhóm các doanh nghiệp hoạt động theo chuỗi hoặc hệ sinh thái doanh nghiệp, NCB vừa tài trợ doanh nghiệp đầu chuỗi, vừa bao thanh toán cho các nhà cung cấp cấp 1, cấp 2 với quy trình thẩm định tinh gọn, thời gian giải ngân nhanh chỉ trong vòng 1 ngày. Các giao dịch bao thanh toán được thực hiện trực tuyến qua nền tảng SCF với thời hạn lên đến 364 ngày, tỷ lệ tài trợ lên đến 100%, hạn mức tới 2.800 tỷ đồng/khách hàng. Nhờ đó, tạo điều kiện cho doanh nghiệp nhanh chóng đưa vốn vào sản xuất kinh doanh, giảm áp lực vốn lưu động và tăng hiệu quả tài chính cho toàn chuỗi.

Ở lĩnh vực dịch vụ, du lịch, giải trí, NCB tập trung phát triển sản phẩm tín dụng gắn với tính chất mùa vụ với thời hạn linh hoạt, phương thức trả nợ phù hợp chu kỳ doanh thu, hỗ trợ các đại lý vé cấp 1, cấp 2 tối ưu chi phí theo thời điểm. Đồng thời, ngân hàng cung cấp hệ thống dịch vụ thanh toán, ngoại hối và bảo hiểm trọn gói, giúp doanh nghiệp vận hành hiệu quả, đặc biệt trong mùa cao điểm và an tâm mở rộng hoạt động kinh doanh.

Với đơn vị tham gia dự án ngân sách nhà nước, NCB đáp ứng đầy đủ các nhu cầu vốn và bảo lãnh từ giai đoạn đấu thầu đến hoàn tất dự án, đảm bảo giải ngân nhanh, thủ tục gọn, minh bạch và đáp ứng tiến độ triển khai. Trong khi đó, các công ty chứng khoán cần đẩy mạnh năng lực tài chính để mở rộng margin, bảo lãnh phát hành, ứng trước tiền bán… được NCB hỗ trợ qua các gói tín dụng tài trợ lên đến 90% nhu cầu vốn (không bao gồm khoản vay từ tổ chức tín dụng khác), thủ tục linh hoạt và tốc độ giải ngân nhanh, từ đó, kịp thời nắm bắt cơ hội và gia tăng lợi thế cạnh tranh trên thị trường.

ĐỒNG HÀNH TOÀN DIỆN, GIA TĂNG LỢI ÍCH

Không chỉ cung cấp nguồn vốn kịp thời, linh hoạt, NCB mang đến cho các doanh nghiệp lớn giải pháp tài chính đồng bộ, giúp tối ưu vận hành và công tác quản trị. Nổi bật là sản phẩm tiền gửi với lãi suất cạnh tranh, kỳ hạn đa dạng và linh hoạt, giúp doanh nghiệp gia tăng lợi ích từ dòng tiền nhàn rỗi, hay gói dịch vụ trả lương (Payroll) giúp doanh nghiệp quản lý quỹ lương và đội ngũ nhân sự hiệu quả; gói giao dịch ngoại hối (FX) linh hoạt, hỗ trợ hạn chế rủi ro biến động tỷ giá và tối ưu lợi nhuận. Bên cạnh đó, doanh nghiệp được miễn toàn bộ phí duy trì và quản lý tài khoản, miễn duy trì số dư tối thiểu, miễn phí đăng ký và duy trì Internet Banking – Mobile Banking, miễn phí chuyển tiền, thanh toán lô/lương và hóa đơn dịch vụ.

Với các giải pháp từ NCB, các doanh nghiệp lớn có thể tối ưu quản trị lương, chuẩn hóa vận hành tài chính.

Với hoạt động ngoại thương, NCB mang đến giải pháp mua miễn truy đòi bộ chứng từ theo L/C, cho phép doanh nghiệp nhận tiền thanh toán ngay trong ngày, với giá trị thanh toán sớm lên đến 100% giá trị bộ chứng từ. Khoản tiền này không ghi nhận vào dư nợ, giúp doanh nghiệp cải thiện đáng kể các chỉ số tài chính và tối ưu lợi nhuận. Ngân hàng đồng thời hỗ trợ miễn phí tư vấn lập và xử lý chứng từ, giúp doanh nghiệp giảm thiểu sai sót, tiết kiệm thời gian và chi phí.

Được biết, NCB hiện là một trong những ngân hàng có tốc độ tăng trưởng và chuyển đổi ấn tượng trong hệ thống ngân hàng. Chỉ trong vòng 4 năm liên tiếp (2022 - 2025), NCB có 3 lần tăng vốn, trong đó đợt tăng vốn thứ 3 dự kiến sẽ hoàn thành trong năm 2025, nâng tổng vốn điều lệ của NCB lên 19.200 tỷ đồng, bổ sung mạnh mẽ nguồn lực cho những đột phá trong chuyển đổi số, đầu tư cơ sở vật chất và hoạt động kinh doanh của ngân hàng, nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng đáp ứng nhu cầu vốn của các doanh nghiệp lớn.

Với các giải pháp “trúng đích”, dịch vụ tận tâm, đồng hành thực chất, NCB đang trở thành lựa chọn chiến lược của ngày càng nhiều doanh nghiệp lớn trên hành trình tăng trưởng bền vững và bứt phá trong kỷ nguyên mới.

* Để biết thêm thông tin chi tiết, khách hàng có thể tham khảo tại website NCB https://www.ncb-bank.vn, liên hệ các phòng giao dịch/chi nhánh của NCB trên toàn quốc hoặc Hotline (028) 38 216 216 - 1800 6166.

-Khánh Huyền

Categories: The Latest News

TP. Hồ Chí Minh thành lập Liên minh kinh tế on-chain toàn cầu

Tue, 11/25/2025 - 19:44
Liên minh kinh tế on-chain toàn cầu được thành lập với tầm nhìn đưa TP. Hồ Chí Minh trở thành trung tâm tài chính, trung tâm tài sản số hàng đầu khu vực và là cửa ngõ kết nối dòng vốn…

Chiều 25/11 trong khuôn khổ phiên đối thoại “CEO 500 – Tea Connect” thuộc Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2025, Liên minh kinh tế on-chain toàn cầu đã chính thức được thành lập dưới sự chứng kiến của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính; Bí thư Thành ủy TP. Hồ Chí Minh ông Trần Lưu Quang; Giám đốc điều hành Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) Stephan Mergenthaler; cùng lãnh đạo các bộ, ngành trung ương và đại diện nhiều tổ chức quốc tế.

Theo đó, Liên minh kinh tế on-chain toàn cầu được triển khai bởi Trung tâm Tài chính Quốc tế TP. Hồ Chí Minh, hướng tới thử nghiệm và phát triển các mô hình tài chính số thế hệ mới, mở rộng hạ tầng kinh tế on-chain và thu hút dòng vốn đầu tư quốc tế.

Theo định hướng, Liên minh sẽ hoạt động như một nền tảng hợp tác đa bên, quy tụ doanh nghiệp công nghệ, quỹ đầu tư, định chế tài chính và tổ chức quốc tế. Mục tiêu là thúc đẩy thương mại số, hỗ trợ đổi mới sáng tạo, đồng thời hình thành mạng lưới tài chính toàn diện cho người dùng và doanh nghiệp tại Việt Nam, bao gồm các thành viên Việt Nam như Viettel Digital cùng nhiều đối tác quốc tế như Dragon Capital...

Đáng chú ý, tại chương trình “CEO 500 – Tea Connect”, hàng loạt biên bản ghi nhớ (MOU) và hợp đã được ký kết, tạo nền tảng hợp tác giữa TP. Hồ Chí Minh và các tập đoàn hàng đầu trong lĩnh vực tài chính, công nghệ, đổi mới sáng tạo và hạ tầng thông minh.

1. MOU giữa Binance và Sở Tài chính TP. Hồ Chí Minh trong hợp tác triển khai tài sản số và ứng dụng blockchain cho Trung tâm Tài chính Quốc tế TP. HCM, hướng đến chuẩn hóa khung phát triển thị trường tài sản số.

2. Quỹ đầu tư Vina Capital và tập đoàn FPT trong hợp tác trong chuyển đổi số, AI và chuyển đổi xanh. Hai bên kỳ vọng kết hợp năng lực công nghệ của FPT với nguồn lực tài chính của VinaCapital để mở khóa các dự án quy mô lớn tại Việt Nam.

3. Ban Quản lý Khu Công nghệ cao TP. Hồ Chí Minh và FPT Semiconductor trong hợp tác đào tạo nhân lực ngành bán dẫn, tăng cường năng lực thiết kế chip và tham gia sâu vào chuỗi cung ứng FDI toàn cầu.

4. Ban Quản lý Khu Công nghệ cao TP. HCM và Liên minh Kinh tế tầm thấp trong hợp tác về phát triển công nghệ UAV, drone, AI, bán dẫn và các công nghệ phụ trợ liên quan, hướng tới hình thành hệ sinh thái nghiên cứu – sản xuất công nghệ cao.

5. Trung tâm Cách mạng Công nghiệp Lần thứ tư TP. HCM (C4IR) và Sở KHCN Đà Nẵng, trong hợp tác về đổi mới sáng tạo, hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp và phát triển nghiên cứu liên quan đến CMCN 4.0 tại Việt Nam.

6. Công ty chuyên phát triển về smart-city RMS Flatform (Hàn Quốc) và Trung tâm Đổi mới sáng tạo mở SoiHub trong phát triển giải pháp công nghiệp và hạ tầng thông minh ứng dụng AI, góp phần thúc đẩy các mô hình thành phố thông minh tại Việt Nam.

7. Liên minh Cảng Los Angeles – Energy Capital Vietnam (ECV) và SaigonTel, trong hợp tác thúc đẩy đầu tư và phát triển các dự án cảng biển tại TP. Hồ Chí Minh, mở rộng kết nối logistics quốc tế.

8. MOU giữa ba bên SaigonTel, Accelint (công ty quốc tế chuyên về phần mềm, AI và cảm biến cho các ứng dụng quốc phòng và nhiệm vụ chiến lược) và Viện công nghệ vũ trụ HTI (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam - VAST), trong hợp tác nghiên cứu và phát triển thiết bị không gian tầm thấp, nhằm làm chủ các công nghệ không gian thế hệ mới và xây dựng nền tảng ứng dụng cho lĩnh vực viễn thông, quan sát Trái đất và phát triển hạ tầng số quốc gia.

9. MOU giữa Trung tâm Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư TP. Hồ Chí Minh (HCMC C4IR) và Tập đoàn Ant International (AI).

10. Hợp tác giữa HCMC C4IR và SRI International về việc thành lập nền tảng trao đổi và chuyển giao tri thức giữa Việt Nam và Mỹ.

​11. Bản ghi nhớ hợp tác giữa HCMC C4IR, SaigonTel và Naver về phát triển trung tâm dữ liệu.

12. Bản ghi nhớ hợp tác giữa Ban Quản lý Khu Công nghệ cao và SynoSys về đào tạo thiết kế vi mạch.

Việc thành lập Liên minh kinh tế on-chain toàn cầu và ký kết loạt thỏa thuận hợp tác đánh dấu bước tiến quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế số của TP. Hồ Chí Minh.

Thông qua việc thu hút các tập đoàn quốc tế, thúc đẩy mô hình tài sản số, mở rộng hợp tác trong AI, bán dẫn, UAV, đổi mới sáng tạo và logistics, TP. Hồ Chí Minh đang hướng tới mục tiêu trở thành siêu đô thị quốc tế, trung tâm tài chính và công nghệ hàng đầu Đông Nam Á trong thập kỷ mới.

-Như Quỳnh

Categories: The Latest News

Triển khai giải pháp hỗ trợ khách hàng và khoanh nợ sau bão lũ tại miền Trung

Tue, 11/25/2025 - 19:44
Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tại miền Trung triển khai các giải pháp hỗ trợ khách hàng bị ảnh hưởng bởi bão lũ. Các đơn vị được chỉ đạo rà soát thiệt hại vốn vay, thực hiện khoanh nợ theo quy định và kịp thời báo cáo những vướng mắc để Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn xử lý…

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vừa ban hành công văn số 10328/NHNN-TD, căn cứ theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công điện số 214/CĐ-TTg ngày 12/11/2025 về việc khẩn trương thống kê, đánh giá thiệt hại và tập trung khắc phục hậu quả bão, lũ tại khu vực Trung Bộ cũng như Công điện số 215/CĐ-TTg ngày 13/11/2025 về tập trung khôi phục sản xuất kinh doanh, ổn định đời sống nhân dân sau bão lũ tại khu vực miền Trung.

Ngân hàng Nhà nước chỉ đạo các tổ chức tín dụng rà soát thiệt hại vốn vay, thực hiện khoanh nợ theo quy định và kịp thời báo cáo những vướng mắc để cơ quan này hướng dẫn xử lý. (Công văn số 10328/NHNN-TĐ ngày 25/11/2025).

Theo đó, công văn yêu cầu các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tại các khu vực 8, 9, 10 và 11 có địa bàn quản lý tại các tỉnh, thành phố gồm Hà Tĩnh, Quảng Trị, Huế, Quảng Ngãi, Đà Nẵng, Khánh Hòa, Gia Lai, Đắk Lắk và Lâm Đồng, tập trung triển khai 3 nội dung được giao như sau:

Trước hết, các đơn vị tiếp tục thực hiện những biện pháp hỗ trợ nhằm tháo gỡ khó khăn cho khách hàng tại các địa bàn khu vực miền Trung chịu ảnh hưởng của bão số 12, bão số 13 và đợt mưa lũ trong các tháng 10, 11 năm 2025 theo chỉ đạo tại Công văn số 9651/NHNN-TD ngày 04/11/2025 của Ngân hàng Nhà nước.

Đồng thời, mở rộng phạm vi thực hiện sau khi bổ sung thêm các tỉnh, thành phố gồm Khánh Hòa, Gia Lai, Đắk Lắk và Lâm Đồng, Ngân hàng Nhà nước cho biết.

Thứ hai, các tổ chức tín dụng cần chủ động nắm bắt và rà soát mức độ thiệt hại đối với phần vốn vay của khách hàng, từ đó kịp thời báo cáo Ngân hàng Nhà nước chi nhánh khu vực để tham mưu cho Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chỉ đạo các cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan trên địa bàn hoàn thiện hồ sơ, cũng như quy trình, thủ tục xem xét khoanh nợ (nếu phát sinh).

Quy trình thực hiện phải bảo đảm đúng quy định tại Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn và các văn bản sửa đổi, bổ sung gồm Nghị định số 116/2018/NĐ-CP ngày 07/9/2018, Nghị định số 156/2025/NĐ-CP ngày 16/6/2025 và Thông tư số 29/2025/TT-NHNN ngày 30/9/2025 của Ngân hàng Nhà nước.

Thứ ba, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu Chủ tịch Hội đồng Quản trị/Hội đồng Thành viên, Tổng giám đốc các tổ chức tín dụng và Giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tại các khu vực nêu trên nhanh chóng triển khai các nội dung đã được giao.

“Trong quá trình thực hiện, nếu gặp khó khăn hoặc vướng mắc vượt thẩm quyền, các tổ chức tín dụng và chi nhánh Ngân hàng Nhà nước cần kịp thời báo cáo Ngân hàng Nhà nước để được xem xét, hướng dẫn và xử lý phù hợp”, công văn của Ngân hàng Nhà nước nêu rõ.

-Mai Nhi

Categories: The Latest News

Viện Pasteur TP.HCM hỗ trợ Gia Lai, Lâm Đồng phòng chống dịch sau lũ

Tue, 11/25/2025 - 19:43
Trong ngày 25/11, Viện Pasteur TP.HCM đã trao tặng Sở Y tế Gia Lai 4.000 liều vaccine VAT (uốn ván – bạch hầu) và 2.000 liều SAT (huyết thanh kháng độc tố uốn ván), nhằm bảo vệ người dân và lực lượng cứu hộ trước nguy cơ chấn thương, nhiễm bẩn vết thương...

Thực hiện chỉ đạo hỏa tốc của Bộ Y tế về hỗ trợ các địa phương chịu ảnh hưởng nặng nề do mưa lũ, Viện Pasteur TP.HCM đã khẩn trương triển khai nhiều hoạt động chi viện chuyên môn, kỹ thuật cho tỉnh Gia Lai và Lâm Đồng nhằm tăng cường công tác phòng chống dịch bệnh sau thiên tai.

Ngày 23/11, Ban Giám đốc Viện Pasteur TP.HCM đã chỉ đạo các đơn vị trực thuộc khẩn trương chuẩn bị nhân lực, vật tư, phương tiện chuyên môn và thành lập các đoàn công tác đến vùng lũ.

Đoàn công tác do PGS.TS.BS.CKII Nguyễn Vũ Trung, Viện trưởng, dẫn đầu hỗ trợ tỉnh Gia Lai; đoàn thứ hai do PGS.TS Nguyễn Vũ Thượng, Phó Viện trưởng, phụ trách hỗ trợ tỉnh Lâm Đồng, tập trung vào công tác phòng chống dịch bệnh, bảo vệ sức khỏe cộng đồng và kiểm soát nguy cơ dịch sau lũ.

Tại buổi làm việc với Sở Y tế Gia Lai và Lâm Đồng, các đoàn ghi nhận nguy cơ bùng phát các bệnh truyền nhiễm như tiêu chảy, sốt xuất huyết, sởi, tay chân miệng, bệnh da liễu, hô hấp…do điều kiện sau lũ; công tác giám sát vector và đánh giá nguy cơ còn hạn chế.

Một số bệnh viện tại Gia Lai vẫn đang ngập lụt. Còn tại Lâm Đồng, nước rút chậm, vật tư y tế chưa đủ, đặc biệt thiếu Cloramin B 250 mg phục vụ khử khuẩn sau thiên tai.

Sáng 25/11, Viện Pasteur TP.HCM đã trao tặng Sở Y tế Gia Lai 4.000 liều vaccine VAT (uốn ván – bạch hầu) và 2.000 liều SAT (huyết thanh kháng độc tố uốn ván) nhằm bảo vệ người dân và lực lượng cứu hộ trước nguy cơ chấn thương, nhiễm bẩn vết thương – yếu tố có thể dẫn đến uốn ván.

PGS.TS.BS.CKII Nguyễn Vũ Trung cho biết việc hỗ trợ vaccine và huyết thanh giúp các cơ sở y tế chủ động xử trí các trường hợp bị thương. Đồng thời, tăng cường bảo vệ cho người dân và lực lượng cứu hộ tại các khu vực khó tiếp cận dịch vụ y tế, thể hiện tinh thần trách nhiệm của ngành y tế đối với đồng bào vùng lũ.

Viện Pasteur TP.HCM tiếp tục tăng cường lực lượng, hỗ trợ xét nghiệm, giám sát dịch tễ, đánh giá nguy cơ và truyền thông phòng bệnh, phối hợp chặt chẽ với hệ thống y tế địa phương để ngăn chặn nguy cơ hình thành ổ dịch và không để dịch bệnh lan rộng.

Triển khai công văn của Bộ Y tế, các Viện Vệ sinh dịch tễ và Viện Pasteur trong cả nước đang hỗ trợ các địa phương bị ảnh hưởng mưa lũ trong công tác phòng chống dịch bệnh và vệ sinh môi trường.

Nhiều đoàn công tác của Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, Viện Vệ sinh dịch tễ Tây Nguyên, Viện Pasteur Nha Trang và Viện Vắc xin và Sinh phẩm Y tế (IVAC) đang thực hiện các hoạt động chuyên môn như cung cấp hóa chất, kiểm tra công tác phòng dịch, và tiêm miễn phí huyết thanh kháng độc tố uốn ván và vaccine uốn ván tại Khánh Hòa.

Bộ Y tế tiếp tục chỉ đạo các đơn vị trực thuộc và phối hợp với địa phương triển khai các biện pháp phòng chống dịch bệnh sau mưa lũ, bảo đảm không để dịch bệnh lớn xảy ra.

-Nhật Dương

Categories: The Latest News

Thủ tướng chủ trì chương trình đối thoại với 500 lãnh đạo doanh nghiệp trong nước và quốc tế

Tue, 11/25/2025 - 19:43
Chiều 25/11, Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì chương trình đối thoại “CEO 500 – Tea Connect” trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2025 tại TP. Hồ Chí Minh…

Chương trình đối thoại CEO 500 – Tea Connect với chủ đề “TP. Hồ Chí Minh: Hướng đến siêu đô thị quốc tế trong kỷ nguyên số” là sự kiện đặc biệt trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế mùa Thu năm 2025 tại TP. Hồ Chí Minh.

Sự tham dự của các đại biểu là lãnh đạo Trung ương, TP. Hồ Chí Minh, đại diện Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) và hơn 500 CEO trong nước và quốc tế, mở ra không gian đối thoại chiến lược về tầm nhìn đưa Thành phố trở thành siêu đô thị quốc tế trong kỷ nguyên số.

Thủ tướng Phạm Minh Chính và các đại biểu dự chương trình đối thoại “CEO 500 – Tea Connect” vào chiều 25/11 tại TP. Hồ Chí Minh.

Phát biểu tại chương trình, Bí thư Thành ủy TP.  Hồ Chí Minh Trần Lưu Quang nhấn mạnh: “Sau sáp nhập đang bước vào một giai đoạn phát triển với tầm nhìn rộng mở và khát vọng lớn lao, trở thành một đô thị có tầm vóc quốc tế, hiện đại, năng động, đáng sống và có khả năng cạnh tranh toàn cầu”.

Với quy mô dân số hơn 14 triệu người, đóng góp gần 25% GDP của cả nước, Thành phố tiếp tục khẳng định vai trò đầu tàu kinh tế, là trung tâm lớn về thương mại, tài chính, công nghiệp, giáo dục, y tế và giao thương quốc tế, mang theo mình sứ mệnh tiên phong vì cả nước, cùng cả nước.

Tuy nhiên, tầm vóc đô thị tầm quốc tế không chỉ đến từ quy mô dân số hay sự đóng góp về kinh tế, mà còn ở chất lượng tăng trưởng, mức độ kết nối, năng lực quản trị, sức cạnh tranh quốc tế và khả năng tạo ra một môi trường sống, làm việc sáng tạo và đẳng cấp.

Chính vì vậy, Thành phố đang tái cấu trúc không gian phát triển, định hình chiến lược phát triển mới với tư duy đa cực, tích hợp, kết nối. Định hướng hình thành “3 vùng, 3 hành lang, 5 trụ cột, 1 đặc khu”.

Trong đó, 5 trụ cột phát triển chiến lược cụ thể: Công nghiệp công nghệ cao và đổi mới sáng tạo, trong đó công nghệ số, AI, bán dẫn, dữ liệu lớn là động lực xuyên suốt; logistics và thương mại tự do gắn với cảng biển, cảng hàng không, khu mậu dịch tự do; phát triển trung tâm tài chính quốc tế; du lịch và công nghiệp văn hóa, tạo ra giá trị gia tăng từ văn hóa, sáng tạo, nghệ thuật, giải trí và sự kiện quốc tế; giáo dục, y tế, khoa học công nghệ hướng đến chuẩn của khu vực và quốc tế.

Bí thư Thành ủy  TP. Hồ Chí Minh Trần Lưu Quang phát biểu tại sự kiện.

Trong quá trình đó, Bí thư Thành ủy TP. Hồ Chí Minh nhìn nhận Thành phố vẫn phải đối mặt với những thách thức nhiều vấn đề và cần phải giải quyết một cách căn cơ và chiến lược.

Thứ nhất, áp lực quản trị của một đô thị lớn với quy mô dân số lớn, tốc độ tăng trưởng cao.

Thứ hai, sự thiếu hụt về nguồn lực tài chính, công nghệ, hạ tầng và nhân lực chất lượng cao.

Thứ ba, hệ thống logistics và hạ tầng giao thông còn đang trong quá trình hoàn thiện.

Thứ tư, yêu cầu cấp thiết phải nâng cao chất lượng dịch vụ công, cải thiện thủ tục hành chính và tăng cường quản trị số.

Thứ năm, cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các trung tâm kinh tế trong khu vực và trên thế giới.

“Chính vì vậy, bên cạnh việc Thành phố phải đổi mới mạnh mẽ, quyết liệt hơn trong việc phát huy nội lực, việc mở rộng hợp tác, thu hút chuyên gia, tri thức, doanh nghiệp trong và ngoài nước đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Một đô thị tầm quốc tế cần dựa trên mạng lưới đối tác sâu rộng, tri thức toàn cầu và sự kết nối của cộng đồng doanh nghiệp trong kỷ nguyên số”, Bí thư Thành ủy TP. Hồ Chí Minh nhấn mạnh.

Với tinh thần đó, chương trình CEO 500 Tea - Connect được tổ chức nhằm tạo ra không gian đối thoại chiến lược, cởi mở và tin cậy giữa lãnh đạo Thành phố với đội ngũ chuyên gia, học giả, các CEO của các tập đoàn kinh tế trong nước và quốc tế về các lĩnh vực, trong đó tập trung vào 5 trụ cột phát triển chiến lược của Thành phố.

Hơn 500 lãnh đạo các doanh nghiệp, tập đoàn trong nước và quốc tế tham dự chương trình "CEO 500 – Tea Connect" năm 2025.

Năm 2023 đánh dấu sự ra đời của chương trình CEO 100 - Tea Connect, một sự kiện gặp gỡ doanh nghiệp thông qua hình thức dùng trà, lần đầu tiên được tổ chức trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh. Với mục tiêu kết nối khoảng 100 CEO trong nước và quốc tế qua dấu ấn văn hóa trà Việt, CEO 100 đã khẳng định vai trò là mô hình kết nối hiệu quả, tạo nền tảng vững chắc cho hợp tác và phát triển.

Tại Diễn đàn Kinh tế mùa Thu năm 2025, chương trình chính thức được nâng cấp thành CEO 500 – Tea Connect. Không chỉ mở rộng về quy mô (từ 100 lên 500 đại biểu), dưới sự chủ trì của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, sự kiện đồng thời được nâng tầm về vị thế và ảnh hưởng, quy tụ đông đảo chuyên gia, nhà hoạch định chính sách, cộng đồng doanh nghiệp và lãnh đạo các ngành trong và ngoài nước... Đây là bước chuyển chiến lược, khẳng định quyết tâm của Việt Nam trong việc kiến tạo một không gian đối thoại cấp cao giữa Nhà nước và doanh nghiệp vì sự phát triển dài hạn và bền vững của nền kinh tế.

-Thanh Thủy

Categories: The Latest News

Pages