Feed aggregator

VinaCapital: Việt Nam có thể đạt mức xếp hạng tín nhiệm Đầu tư trước mục tiêu năm 2030

Thời báo kinh tế Việt Nam - Wed, 02/04/2026 - 15:44
Chính phủ đã đặt mục tiêu đạt mức xếp hạng Đầu tư vào năm 2030, tuy nhiên, những diễn biến gần đây và các trao đổi của VinaCapital với một số tổ chức xếp hạng tín nhiệm lớn củng cố quan điểm rằng việc nâng xếp hạng có thể đạt được trong thời gian sớm hơn.

Việt Nam đang đứng trước ngưỡng được nâng xếp hạng tín nhiệm lên mức Đầu tư (investment grade) khi hiện chỉ còn cách mức này một bậc.

Việc đạt được xếp hạng Đầu tư sẽ mang lại nhiều lợi ích quan trọng, bao gồm: (1) giảm chi phí huy động vốn; (2) tạo điều kiện thuận lợi triển khai các dự án cơ sở hạ tầng quy mô lớn; và (3) hỗ trợ thị trường chứng khoán thông qua việc mở rộng khả năng tiếp cận của các nhà đầu tư tổ chức quốc tế.

Chính phủ đã đặt mục tiêu đạt mức xếp hạng Đầu tư vào năm 2030, tuy nhiên, những diễn biến gần đây và các trao đổi của VinaCapital với một số tổ chức xếp hạng tín nhiệm lớn củng cố quan điểm rằng việc nâng xếp hạng có thể đạt được trong thời gian sớm hơn.

Tuần trước, Fitch Ratings đã nâng xếp hạng tín nhiệm đối với công cụ nợ dài hạn có bảo đảm của Việt Nam lên mức BBB-', đánh dấu lần đầu tiên một công cụ nợ liên quan đến quốc gia (sovereign-linked) của Việt Nam được xếp hạng mức đầu tư. Vừa qua, Chính phủ cũng đã công bố các định hướng và giải pháp cụ thể nhằm hướng tới mục tiêu đạt xếp hạng tín nhiệm mức đầu tư (trình bày chi tiết ở phần dưới).

Việt Nam hiện đã đáp ứng phần lớn các tiêu chí định lượng cần thiết cho việc nâng hạng (ví dụ như tỷ lệ nợ trên GDP) và các tiêu chí cần cải thiện chủ yếu nằm ở mức độ định tính (ví dụ khả năng dự đoán của chính sách). VinaCapital cho rằng các vấn đề này sẽ ngày càng được chú trọng hơn khi nhận thức về tầm quan trọng của việc đạt xếp hạng tín nhiệm mức đầu tư tiếp tục gia tăng.

Hiện nay, Việt Nam đang được xếp hạng thấp hơn một bậc so với mức đầu tư bởi SP và Fitch, và thấp hơn hai bậc theo đánh giá của Moody's.

Việc được nâng hạng tín nhiệm lên mức đầu tư có thể mang lại kết quả còn lớn hơn với thị trường chứng khoán Việt Nam so với sự kiện gần đây khi FTSE Russell xem xét Việt Nam được nâng hạng vào nhóm thị trường mới nổi.

Trong lịch sử, những quốc gia lần đầu tiên được nâng lên mức xếp hạng tín nhiệm mức Đầu tư thường ghi nhận mức tăng rất mạnh của thị trường chứng khoán trong giai đoạn xoay quanh thời điểm nâng hạng.

Cụ thể, chỉ số chứng khoán của Ấn Độ tăng khoảng 308% và của Thái Lan tăng khoảng 150% khi tính từ hai năm trước đến hai năm sau thời điểm được nâng hạng. Bên cạnh đà tăng của thị trường cổ phiếu, các đợt nâng hạng này còn kích hoạt làn sóng dòng vốn ngoại chảy mạnh vào các nền kinh tế nói trên, không chỉ thông qua cổ phiếu mà còn qua trái phiếu và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).

Nhờ đó, dự trữ ngoại hối của Ấn Độ đã tăng khoảng 150% và của Thái Lan tăng khoảng 250% chỉ trong vòng hai năm kể từ khi được nâng hạng (xem bảng trên).

Trên cơ sở những tác động tích cực nêu trên, các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam đang tập trung tháo gỡ những nút thắt còn tồn đọng nhằm tiến tới đạt xếp hạng tín nhiệm mức Đầu tư từ ba tổ chức xếp hạng tín nhiệm lớn gồm SP Global, Moody's và Fitch. Các tổ chức xếp hạng này xem xét một phạm vi rộng các yếu tố định lượng và định tính để đánh giá liệu một quốc gia có nền tài chính ổn định, hệ thống ngân hàng vững mạnh, thể chế đáng tin cậy và môi trường chính sách có tính dự báo cao hay không - những điều kiện then chốt nhằm bảo đảm khả năng trả nợ đúng hạn cho các nhà đầu tư nước ngoài.

Trong số các chỉ tiêu quan trọng nhất mà các tổ chức xếp hạng tín nhiệm chú trọng có ba chỉ số chính: (1) tỷ lệ nợ công trên GDP; (2) tỷ lệ nợ nước ngoài trên GDP (chủ yếu là nợ bằng USD); và (3) quy mô dự trữ ngoại hối, nhằm bảo đảm quốc gia có đủ năng lực thanh toán các nghĩa vụ nợ đối với các chủ nợ nước ngoài.

Ba trụ cột cốt lõi trong kế hoạch của Chính phủ nhằm nâng xếp hạng tín nhiệm của Việt Nam lên mức đầu tư bao gồm: (1) quản lý nợ công thận trọng; (2) triển khai các chính sách thúc đẩy tăng trưởng nhưng vẫn bảo đảm ổn định các cân đối vĩ mô; và (3) tăng cường trao đổi, làm việc với các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế.

Những tín hiệu gần đây cho thấy Chính phủ đang chủ động xử lý các rào cản còn tồn đọng đối với việc đạt xếp hạng mức Đầu tư, đồng thời dành mức độ ưu tiên cao hơn cho việc tháo gỡ các vấn đề then chốt đang cản trở tiến trình nâng hạng.

Việc đạt được xếp hạng tín nhiệm quốc gia mức Đầu tư là một trong những động lực quan trọng nhất thúc đẩy sự phát triển của thị trường vốn Việt Nam. Điều này sẽ giúp mở rộng tệp nhà đầu tư đủ tiêu chuẩn và có khả năng tài trợ cho các dự án hạ tầng quy mô lớn (như các quỹ hưu trí, công ty bảo hiểm và quỹ đầu tư quốc gia).

Hơn nữa, nhiều nhà đầu tư trong số này có thể cung cấp nguồn vốn với chi phí thấp hơn; hiện tại, Việt Nam đang có mức chi phí nợ và chi phí vốn cổ phần thuộc hàng cao nhất trong khu vực, như được minh họa dưới đây. Các chuyên gia phân tích ước tính rằng việc nâng hạng có thể giúp giảm chi phí vay vốn tới 150 điểm cơ bản (basis points), nhờ vào việc lợi suất trái phiếu chính phủ giảm và chênh lệch tín dụng (credit spreads) được thu hẹp, từ đó kéo giảm đáng kể chi phí vốn trên toàn bộ nền kinh tế.

-Thu Minh

Categories: The Latest News

VN-Index chính thức đóng cửa dưới 1800 điểm, cổ phiếu vẫn phân hóa tốt

Thời báo kinh tế Việt Nam - Wed, 02/04/2026 - 15:41
VIC bị ép xuống tận giá sàn trong đợt đóng cửa khiến “cửa” lội ngược dòng của VN-Index đóng sập lại. Chỉ số bốc hơi 1,21% nhưng bất ngờ là độ rộng lại nhỉnh hơn ở phía xanh và tỷ trọng thanh khoản nhóm này vượt trội.

Hiếm có phiên nào VN-Index bốc hơi gần 22 điểm (-1,21%) mà độ rộng vẫn có 167 mã tăng/155 mã giảm. Thậm chí nhóm xanh vẫn có gần trăm mã tăng vượt 1%. Điều này cho thấy sự vận động của dòng tiền phản ánh diễn biến giao dịch khác với những gì chỉ số đại diện.

Thực vậy, VIC giảm sàn, VHM giảm 6,17%, thêm VCB giảm 1,39%, BID giảm 2,03% là 4 cổ phiếu vốn hóa lớn nhất đã lấy đi tới 22,5 điểm, tức là còn nhiều hơn cả tổng điểm số mất đi của VN-Index.

Rổ VN30 hôm nay cũng không mạnh nhưng cũng không quá kém: Chỉ số giảm nhẹ 0,48% với 10 mã tăng/16 mã giảm. Trong Top 10 vốn hóa, ngoài 4 cổ phiếu nói trên thì chỉ thêm GAS giảm 1,03%. Một số blue-chips tầm trung khác cũng khá đuối: GVR giảm 2,57%, FPT giảm 1,92%, VJC giảm 1,79%, VPL giảm 1,38%, MSN giảm 1,31%. Chỉ số này được nâng đỡ và giảm nhẹ nhờ vốn hóa lớn của HPG tăng 5,79%. Cổ phiếu này kéo VN30-Index tới hơn 10,8 điểm trong khi chỉ giúp VN-Index chưa tới 3 điểm.

Dù giảm nhiều hơn tăng nhưng dấu hiệu bắt đáy ở rổ VN30 cũng khá rõ. Trừ VIC đóng cửa giá thấp nhất, toàn bộ số còn lại đều nhích giá lên ở mức độ khác nhau. Trong đó 16 cổ phiếu “thoát đáy” từ 1% trở lên. Ngay cả các cổ phiếu còn “đỏ đậm” như VPL cũng đã hồi lại khoảng 5,95% so với đáy; GAS hồi 1,31%; GVR hồi 2,96%...

Phần còn lại của thị trường tích cực rõ rệt hơn nhiều. Độ rộng sàn HoSE cuối ngày ghi nhận 167 mã tăng/155 mã giảm, tức là trạng thái giá cổ phiếu có phần tích cực chứ không kém như sự thể hiện của VN-Index. Về mặt phân bổ thanh khoản, 51,5% giá trị khớp lệnh sàn này tập trung ở nhóm tăng giá và 39,4% tập trung ở nhóm giảm giá.

Nhóm cổ phiếu vốn hóa lớn là nguyên nhân khiến VN-Index thủng 1800 điểm.

Trong 155 mã đỏ, có 68 mã giảm quá 1%. VIC, VHM dẫn đầu thanh khoản nhóm này và thực sự có lực xả rất mạnh. Trong khoảng 5 phút cuối đợt khớp lệnh liên tục cả hai mã này đều đã hồi lại một chút, nhưng cuối cùng đến ATC vẫn bị đè xuống. VIC khớp 1.432,7 tỷ đồng và VHM là 1.253,3 tỷ đồng đều là mức thanh khoản rất cao. VIC đã có chuỗi 8 phiên giảm liên tục và điều chỉnh 32% kể từ đỉnh tính theo giá đóng cửa. VHM đang trong phiên thứ 21 của xu hướng giảm, bốc hơi gần 39% giá trị.

Ngoài ra cũng có chục cổ phiếu khác chịu lực bán nổi bật, xuất hiện thanh khoản vượt trăm tỷ đồng. Hầu hết số này thuộc rổ VN30, trừ KBC giảm 1,98%, BCM giảm 2,84%, VCK giảm 1,2%. Số còn lại thuộc Midcap nhưng chỉ chừng 10 mã có thanh khoản từ 10 tỷ đồng trở lên. Như vậy nhóm giảm sâu nhất chủ yếu dồn thanh khoản vào các blue-chips, còn lại đều có giao dịch ít.

Ở phía tăng mạnh vượt 1% tình hình tốt hơn nhiều. HPG dĩ nhiên là cổ phiếu nổi bật của VN30 với gần 4.065 tỷ đồng thanh khoản. Kế tiếp chỉ có SSI, STB là thuộc rổ VN30. Hơn 20 cổ phiếu khác tăng giá tốt với thanh khoản trên trăm tỷ đồng tiếp tục xác nhận dòng tiền đang “đánh” trọng điểm ở các cổ phiếu midcap. VCI tăng 1,24%, POW tăng 1,05%, DBC tăng 3,2%, PVD tăng 1,52%, PC1 tăng 1,75%, PVT tăng 2,97%, DCM tăng 1,86%, SZC tăng 5,14% đều là các cổ phiếu giao dịch rất sôi động vơi sthanh khoản từ 200 tỷ đồng trở lên.

Thanh khoản sàn HoSE chiều nay chỉ tăng nhẹ 3,5% so với phiên sáng nhưng độ rộng lại tốt hơn (chốt phiên sáng có 144 mã tăng/166 mã giảm). Thống kê tới 55,4% số cổ phiếu có giao dịch của VN-Index phục hồi từ 1% trở lên so với giá thấp nhất, phản ánh khả năng bắt đáy kéo giá lên rõ rệt. Nhìn chung diễn biến hôm nay không khác nhiều lắm phiên ngày 2/2 vừa qua qua, dù VN-Index rơi vào trạng thái tiêu cực rõ nét.

-Kim Phong

Categories: The Latest News

Hệ số điều chỉnh tiền lương, thu nhập tháng đã đóng bảo hiểm xã hội năm 2026

Thời báo kinh tế Việt Nam - Wed, 02/04/2026 - 15:40
Hệ số điều chỉnh tiền lương, thu nhập tháng đã đóng bảo hiểm xã hội để làm căn cứ giải quyết và điều chỉnh mức hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội đối với người lao động…

Bảo hiểm xã hội Việt Nam vừa ban hành hướng dẫn gửi Bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố; Bảo hiểm xã hội Quân đội; Bảo hiểm xã hội Công an nhân dân về hệ số điều chỉnh tiền lương, thu nhập tháng đã đóng bảo hiểm xã hội.

Theo quy định, Tiền lương/thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội sau điều chỉnh của từng năm = Tổng tiền lương/thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội của từng năm x Mức điều chỉnh tiền lương/thu nhập tháng đã đóng bảo hiểm xã hội của năm tương ứng.

Việc xác định hệ số điều chỉnh tiền lương, thu nhập tháng đã đóng bảo hiểm xã hội được thực hiện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 16 Nghị định số 158/2025/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc, và khoản 2 Điều 10 Nghị định số 159/2025/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội tự nguyện.

Theo đó, hệ số điều chỉnh được xác định trên cơ sở chỉ số giá tiêu dùng, mức tăng trưởng kinh tế và các yếu tố liên quan nhằm bảo đảm quyền lợi của người tham gia bảo hiểm xã hội khi tính toán các chế độ hưởng. 

Bảo hiểm xã hội Việt Nam thông báo hệ số điều chỉnh tiền lương tháng đã đóng bảo hiểm xã hội và hệ số điều chỉnh thu nhập tháng đã đóng bảo hiểm xã hội tương ứng với từng năm đóng, áp dụng đối với các trường hợp giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội từ năm 2026.

Hệ số điều chỉnh được phân theo các mốc thời gian đóng bảo hiểm xã hội, bao gồm thời gian đóng trước năm 1995 và các năm tiếp theo cho đến các năm gần đây, bảo đảm phản ánh đúng giá trị tiền lương, thu nhập tại thời điểm tính hưởng.

Bảng hệ số điều chỉnh tiền lương, thu nhập tháng đã đóng bảo hiểm xã hội để thực hiện giải quyết và điều chỉnh mức hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội.

Hệ số điều chỉnh tiền lương tháng đã đóng bảo hiểm xã hội được áp dụng đối với người lao động thuộc khu vực hưởng tiền lương do Nhà nước quy định.

Trong khi đó, hệ số điều chỉnh thu nhập tháng đã đóng bảo hiểm xã hội được áp dụng đối với người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, hoặc các đối tượng đóng trên cơ sở thu nhập do người tham gia lựa chọn theo quy định của pháp luật.

Bảo hiểm xã hội Việt Nam đề nghị Bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Bảo hiểm xã hội Quân đội; Bảo hiểm xã hội Công an nhân dân căn cứ hệ số điều chỉnh được ban hành, để tổ chức thực hiện thống nhất trong quá trình giải quyết chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội cho người tham gia, bảo đảm đúng quy định, kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người lao động.

-Thu Hằng

Categories: The Latest News

Gần 2.000 cơ hội việc làm cho chiến sĩ nghĩa vụ công an Hà Nội

Thời báo kinh tế Việt Nam - Wed, 02/04/2026 - 15:31
Chiến sĩ nghĩa vụ công an được đánh giá là nguồn nhân lực chất lượng tốt, có nhiều tiềm năng khi tham gia vào thị trường lao động để góp phần phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời đóng góp tích cực vào công tác bảo đảm an ninh trật tự tại địa phương...

Ngày 4/2, Sở Nội vụ Hà Nội phối hợp với Công an TP. Hà Nội đã tổ chức Chương trình “Đồng hành tư vấn, hướng nghiệp cho chiến sĩ nghĩa vụ Công an Thủ đô” năm 2026, kết hợp tổ chức phiên giao dịch việc làm chuyên đề dành cho chiến sĩ nghĩa vụ công an.

Thông qua phiên giao dịch việc làm nhằm cung cấp cho chiến sĩ nghĩa vụ Công an Thủ đô sắp hoàn thành thời gian phục vụ tại ngũ trong các đơn vị thuộc Công an TP. Hà Nội; công an xuất ngũ, người lao động về thông tin thị trường lao động, định hướng nghề nghiệp, kết nối việc làm trực tiếp...

Theo Phó Giám đốc Sở Nội vụ Hà Nội Nguyễn Tây Nam, công tác giải quyết việc làm nói chung và công tác tư vấn, hướng nghiệp học nghề và giải quyết việc làm cho chiến sĩ nghĩa vụ công an nói riêng luôn được Đảng, Nhà nước, TP. Hà Nội, các cấp, các ngành và toàn xã hội quan tâm.

Đây không đơn thuần là công tác giải quyết việc làm, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội mà còn có ý nghĩa nhân văn sâu sắc, thể hiện trách nhiệm của xã hội đối với những người đã hoàn thành tốt nhiệm vụ, có đóng góp tích cực vào việc đảm bảo an ninh trật tự cho Thủ đô và đất nước.

Mỗi năm, Công an TP. Hà Nội có hàng trăm chiến sĩ phục vụ có thời hạn trong lực lượng công an nhân dân trở về địa phương. Các chiến sĩ với hồ sơ lý lịch cơ bản, có phẩm chất chính trị, ý thức tổ chức kỷ luật, sức khoẻ tốt, đã được rèn luyện, học tập trong môi trường Công an Thủ đô; là những người có ý chí, nhận thức rõ được vai trò, trách nhiệm đối với việc bảo vệ xây dựng Tổ quốc, có trách nhiệm trong nhiệm vụ được giao.

“Đây chính là nguồn nhân lực chất lượng tốt, có nhiều tiềm năng khi tham gia vào thị trường lao động để góp phần phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời đóng góp tích cực vào công tác bảo đảm an ninh trật tự tại địa phương”, ông Nguyễn Tây Nam cho hay.

Tuy nhiên, còn có nhiều người gặp khó khăn trong việc tìm kiếm được địa chỉ học nghề, việc làm phù hợp để phát huy khả năng và kiến thức của mình sau khi trở về địa phương. Lực lượng này rất cần được tư vấn, hướng nghiệp, dạy nghề, lựa chọn việc làm phù hợp để cung ứng nguồn nhân lực chất lượng của Thủ đô.

Chương trình “Đồng hành tư vấn, hướng nghiệp cho chiến sĩ nghĩa vụ Công an Thủ đô” năm 2026.

Chính vì vậy, việc tổ chức Chương trình “Đồng hành tư vấn, hướng nghiệp cho chiến sĩ nghĩa vụ Công an Thủ đô” nhằm hỗ trợ tạo việc làm, ổn định cuộc sống, giảm tỷ lệ thất nghiệp, đáp ứng nhu cầu thiếu hụt lao động trẻ, góp phần vào tăng trưởng kinh tế. Đồng thời, động viên những thanh niên yên tâm về tương lai của mình trước khi lên đường thực hiện nhiệm vụ.

Đồng hành cùng chương trình có sự tham gia của 41 đơn vị, doanh nghiệp, cơ sở dạy nghề hoạt động trong lĩnh vực thương mại - dịch vụ, sản xuất, giáo dục - đào tạo, xuất khẩu lao động..., với tổng nhu cầu tuyển dụng, tuyển sinh và xuất khẩu lao động là 1.958 chỉ tiêu.

Nhu cầu tuyển dụng với đa dạng vị trí, ngành nghề như quản lý – giám sát, kinh doanh – marketing, kế toán tổng hợp, nhân viên kỹ thuật, lái xe, du học – xuất khẩu lao động, nhân viên an ninh…

Các chỉ tiêu có chất lượng cùng quyền lợi và mức thu nhập thỏa đáng. Cụ thể, gần 13% chỉ tiêu có mức thu nhập cao từ 15 triệu đồng trở lên mỗi tháng. Đây là mức thu nhập của các chỉ tiêu tuyển dụng chất lượng cao, người lao động có kinh nghiệm và chuyên môn tốt, có khả năng chịu áp lực công việc cao. 26,4% chỉ tiêu có mức thu nhập từ 10 - 15 triệu đồng/tháng.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng chi trả các mức thu nhập từ 7 - 10 triệu đồng; 5 – 7 triệu đồng tùy vị trí, phù hợp với khả năng và yêu cầu của các nhóm đối tượng.

Lãnh đạo Sở Nội vụ Hà Nội đánh giá đây là cơ hội tốt để các chiến sĩ nghĩa vụ Công an xuất ngũ và sắp hoàn thành thời gian phục vụ tại ngũ tham gia vào thị trường lao động, tìm được việc làm ổn định, góp phần vào phát triển kinh tế cho gia đình và xã hội.

Hoạt động tư vấn, kết nối tuyển dụng trong phiên giao dịch việc làm. 

Bên cạnh đó, để đáp ứng nhu cầu tuyển dụng và tìm kiếm việc làm bán thời gian dịp cận Tết Nguyên Đán Bính Ngọ 2026, tại phiên giao dịch việc làm có gần 200 chỉ tiêu việc làm bán thời gian dành cho người lao động, học sinh, sinh viên, tập trung vào một số các vị trí: nhân viên giao hàng, nhân viên đóng gói giỏ quà Tết, nhân viên bán hàng, nhân viên thu ngân, phụ bếp, nhân viên phục vụ…

Ngoài hoạt động giao dịch về việc làm, phỏng vấn việc làm trực tiếp giữa doanh nghiệp và người lao động, Ban Tổ chức còn triển khai các hoạt động tư vấn hướng nghiệp; tư vấn, cung cấp thông tin về thị trường lao động, xuất khẩu lao động, học nghề, kỹ năng tìm việc làm, kỹ năng tham gia thị trường lao động, chia sẻ các thông tin liên quan đến chính sách pháp luật lao động...

-Thu Hằng

Categories: The Latest News

Châu Phi làm gì để tranh thủ cơn sốt vàng toàn cầu?

Thời báo kinh tế Việt Nam - Wed, 02/04/2026 - 15:30
Giá vàng tăng mạnh giữa bất ổn toàn cầu đang mở ra cơ hội lớn cho châu Phi - khu vực chiếm hơn 1/4 sản lượng vàng thế giới. Tuy nhiên, câu hỏi then chốt là liệu lợi thế tài nguyên này có được chuyển hóa thành tăng trưởng bền vững.

Năm 2025 đánh dấu một bước ngoặt lớn của thị trường vàng toàn cầu khi giá kim loại quý này tăng tới 65%. Đà tăng duy trì khi bước sang năm 2026, khi trong tháng 1 vừa qua, có thời điểm giá vàng vượt ngưỡng 5.580 USD/oz - mức cao kỷ lục trong lịch sử.

Trong bối cảnh đó, các quốc gia châu Phi - vốn là những nhà sản xuất vàng hàng đầu thế giới - đang đứng trước một cơ hội hiếm hoi để gia tăng nguồn thu ngân sách, cải thiện cán cân ngoại tệ và củng cố nền tảng kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên, đi kèm với cơ hội là những rủi ro không nhỏ: thất thoát tài nguyên qua các dòng chảy bất hợp pháp, phụ thuộc quá mức vào xuất khẩu thô, xung đột xã hội và nguy cơ “lời nguyền tài nguyên” tái diễn dưới một hình thức mới.

GIÁ VÀNG LẬP ĐỈNH: CÚ HÍCH LỚN CHO CÁC NỀN KINH TẾ CHÂU PHI

Theo các chuyên gia tài chính quốc tế, đà tăng mạnh của giá vàng trong thời gian qua chủ yếu đến từ sự gia tăng bất định trên các thị trường toàn cầu. Chính sách kinh tế thiếu nhất quán của Mỹ, rủi ro tài khóa gia tăng cùng với căng thẳng địa chính trị tại nhiều khu vực đã khiến vàng một lần nữa trở thành tài sản trú ẩn an toàn được giới đầu tư ưu tiên.

Đối với châu Phi, nơi sản xuất hơn 25% sản lượng vàng toàn cầu, giá vàng cao đồng nghĩa với tiềm năng gia tăng mạnh nguồn thu từ xuất khẩu. Burkina Faso là một ví dụ điển hình khi sản lượng vàng năm 2025 đạt mức kỷ lục 94 tấn, tăng hơn 30 tấn so với năm trước. Ghana, Nam Phi, Mali hay Tanzania cũng ghi nhận sự mở rộng nhanh chóng của cả khai thác công nghiệp lẫn khai thác thủ công - tờ báo DW cho biết.

Theo các nhà nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu An ninh (ISS), nếu được quản lý hiệu quả, “cơn sốt vàng” có thể giúp các quốc gia châu Phi gia tăng thu ngân sách, cải thiện dự trữ ngoại hối và tạo dư địa tài khóa cho đầu tư phát triển. Trong bối cảnh nhiều nền kinh tế đang chịu áp lực nợ công và thiếu hụt nguồn lực, vàng trở thành “phao cứu sinh” quan trọng trong ngắn hạn.

Tuy nhiên, lợi ích này không tự động chuyển hóa thành tăng trưởng bền vững. Thực tế cho thấy phần lớn các quốc gia châu Phi mới chỉ tận dụng được lợi ích trước mắt từ việc tăng sản lượng và xuất khẩu, trong khi các vấn đề mang tính cấu trúc của ngành khai khoáng vẫn chưa được giải quyết triệt để.

Năm 2025, hơn hai chục thợ mỏ trái phép được cứu sống và ít nhất 15 thi thể được tìm thấy tại một mỏ vàng bỏ hoang ở Nam Phi. Ảnh: Christian Velcich/AFP SIẾT LUẬT KHAI KHOÁNG, GIỮ LẠI GIÁ TRỊ: CUỘC ĐUA CHÍNH SÁCH TẠI CÁC NƯỚC SẢN XUẤT VÀNG

Trước đà tăng của giá vàng, nhiều chính phủ châu Phi đã bắt đầu điều chỉnh chính sách nhằm giành lại tỷ trọng lớn hơn trong chuỗi giá trị. Ghana - quốc gia sản xuất vàng lớn nhất châu lục - đang thúc đẩy cải cách luật khai khoáng, với mục tiêu tăng nguồn thu cho nhà nước thông qua thuế và tiền thuê mỏ.

Giới chức Ghana cho rằng các “thỏa thuận ổn định” kéo dài từ 5 đến 15 năm với các tập đoàn khai khoáng nước ngoài, dù giúp thu hút đầu tư, nhưng lại khiến nhà nước bị hạn chế quyền điều chỉnh chính sách khi bối cảnh thị trường thay đổi. Việc gia hạn các thỏa thuận này trong tương lai sẽ không còn mang tính tự động, mà gắn với các điều kiện cụ thể như kéo dài tuổi thọ mỏ, gia tăng sản lượng và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính - xã hội tại địa phương.

Xu hướng siết chặt quản lý không chỉ diễn ra tại Ghana. Mali, Cộng hòa Dân chủ Congo và Tanzania cũng đã sửa đổi luật khai khoáng nhằm tăng cường quyền kiểm soát của nhà nước đối với các khoáng sản chiến lược. Bên cạnh các doanh nghiệp phương Tây, Trung Quốc và Nga ngày càng gia tăng hiện diện trong lĩnh vực khai thác vàng tại châu Phi, đặc biệt tại các quốc gia vùng Sahel.

Dù vậy, các chuyên gia cảnh báo rằng việc tăng quyền kiểm soát nhà nước nếu không đi kèm cải thiện năng lực quản trị và minh bạch hóa, có thể khiến môi trường đầu tư trở nên kém hấp dẫn, từ đó làm giảm dòng vốn dài hạn. Bài toán đặt ra cho các chính phủ châu Phi là tìm được điểm cân bằng giữa thu hút đầu tư và bảo vệ lợi ích quốc gia.

NGHỊCH LÝ VÀNG CHÂU PHI: XUẤT KHẨU NHIỀU NHƯNG DỰ TRỮ ÍT, LỢI ÍCH RƠI VÀO TAY AI?

Một trong những nghịch lý lớn nhất của châu Phi là dù sản xuất nhiều vàng hơn bất kỳ châu lục nào, khu vực này chỉ nắm giữ khoảng 2% dự trữ vàng toàn cầu. Phần lớn vàng được xuất khẩu dưới dạng thô, sau đó được tinh luyện và tích trữ tại các nền kinh tế phát triển.

So với Mỹ - quốc gia đang sở hữu hơn 8.100 tấn vàng dự trữ - hay các nước châu Âu như Đức, Pháp và Italy, dự trữ vàng của các nước châu Phi là rất khiêm tốn. Ngay cả Nam Phi, nơi có hơn một thế kỷ lịch sử khai thác vàng, cũng chỉ nắm giữ khoảng 125 tấn.

Theo các nhà phân tích, việc xuất khẩu vàng thô không chỉ khiến châu Phi mất đi giá trị gia tăng, mà còn làm suy yếu khả năng tự chủ tiền tệ trong dài hạn. Vàng không đơn thuần là một mặt hàng xuất khẩu, mà còn là một tài sản chiến lược gắn liền với ổn định tài chính quốc gia.

Bên cạnh đó, giá vàng cao cũng kéo theo hệ lụy nghiêm trọng về xã hội và an ninh. Khai thác trái phép bùng phát mạnh tại nhiều quốc gia, gây thất thoát lớn nguồn thu và làm gia tăng xung đột tại các cộng đồng địa phương. Tại Nam Phi, các nhóm khai thác trái phép - được gọi là “Zama Zamas” - thường xuyên xảy ra bạo lực. Ở các quốc gia bất ổn như Sudan, vàng thậm chí trở thành nguồn tài chính nuôi dưỡng xung đột vũ trang.

Giới chuyên gia cho rằng để thực sự “hái ra tiền” từ cơn sốt vàng, châu Phi cần chuyển trọng tâm từ khai thác sang quản trị tài nguyên. Việc đầu tư xây dựng các nhà máy tinh luyện vàng trong nước, kiểm soát dòng chảy tài chính bất hợp pháp và gắn khai khoáng với chiến lược phát triển công nghiệp - tài chính dài hạn được xem là chìa khóa để phá vỡ “lời nguyền tài nguyên” đã kéo dài nhiều thập kỷ.

DW-Trọng Hoàng

Categories: The Latest News

Bảo hiểm xã hội Việt Nam không yêu cầu kéo dài thời gian chẩn đoán hình ảnh

Thời báo kinh tế Việt Nam - Wed, 02/04/2026 - 15:26
Thời gian thực hiện một quy trình kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh được tính từ khi người bệnh bắt đầu được thực hiện kỹ thuật đến khi có kết quả chẩn đoán, bao gồm các bước: thời gian chuẩn bị người bệnh, thời gian chụp, đọc phim, kết luận chẩn đoán. Ví dụ, thời gian tham chiếu đối với: Chụp X-quang xương khớp hoặc chụp phổi, bụng thường quy khoảng 6 - 12 phút...

Bảo hiểm xã hội Việt Nam vừa cung cấp một số thông tin nhằm làm rõ căn cứ pháp lý và nguyên tắc thực hiện công tác giám định, thanh toán trong khám chữa bệnh bảo hiểm y tế theo quy định hiện hành.

Về căn cứ pháp lý trong giám định, thanh toán dịch vụ kỹ thuật y tế, Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho biết việc giám định và thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế được cơ quan Bảo hiểm xã hội thực hiện trên cơ sở tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh và pháp luật về bảo hiểm y tế.

Luật Khám bệnh, chữa bệnh quy định nguyên tắc trong hoạt động khám bệnh, chữa bệnh là thực hiện kịp thời và tuân thủ quy định về chuyên môn kỹ thuật, đồng thời xác định rõ trách nhiệm của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong việc thực hiện đúng các quy định chuyên môn kỹ thuật và các quy định pháp luật có liên quan.

Khoản 2 Điều 35 Nghị định số 188/2025/NĐ-CP của Chính phủ quy định, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm tuân thủ các hướng dẫn chuyên môn của Bộ Y tế và các quy định pháp luật liên quan về mua sắm, đấu thầu, nhằm bảo đảm cung ứng thuốc, dịch vụ kỹ thuật y tế có chất lượng, hiệu quả và sử dụng Quỹ Bảo hiểm y tế tiết kiệm, đúng quy định.

Thông tư số 35/2016/TT-BYT của Bộ Y tế quy định rõ, dịch vụ kỹ thuật y tế được Quỹ Bảo hiểm y tế thanh toán khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện.

Cụ thể như sau: Được cấp có thẩm quyền phê duyệt thực hiện tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; được thực hiện theo quy trình chuyên môn kỹ thuật do cấp có thẩm quyền ban hành; được cấp có thẩm quyền phê duyệt giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế.

Về thời gian thực hiện quy trình kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh, Quyết định số 2775/QĐ-BYT và Quyết định số 2776/QĐ-BYT của Bộ Y tế ban hành hướng dẫn quy trình kỹ thuật trong lĩnh vực chẩn đoán hình ảnh và điện quang can thiệp, trong đó quy định thời gian thực hiện kỹ thuật được xây dựng trên cơ sở tính phổ biến, thường quy tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

Theo các hướng dẫn này, thời gian thực hiện một quy trình kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh được tính từ khi người bệnh bắt đầu được thực hiện kỹ thuật đến khi có kết quả chẩn đoán, bao gồm các bước: thời gian chuẩn bị người bệnh, thời gian chụp, đọc phim, kết luận chẩn đoán.

Ví dụ, thời gian tham chiếu đối với: Chụp X-quang xương khớp hoặc chụp phổi, bụng thường quy khoảng 6 - 12 phút; chụp X-quang dạ dày, đại tràng khoảng 20 - 30 phút; siêu âm ổ bụng, tuyến giáp khoảng 6 – 15 phút.

Các mốc thời gian nêu trong hướng dẫn có ý nghĩa tham chiếu chuyên môn, phục vụ tổ chức thực hiện và xây dựng định mức kinh tế – kỹ thuật. Trong thực tế triển khai, căn cứ diễn biến lâm sàng, tình trạng người bệnh và điều kiện thực tế của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, thời gian thực hiện kỹ thuật có thể được điều chỉnh tăng hoặc giảm theo hướng dẫn của Bộ Y tế.

Cơ quan Bảo hiểm xã hội thực hiện giám định và thanh toán chi phí các dịch vụ kỹ thuật y tế trên cơ sở hồ sơ, quy trình chuyên môn và thực tế triển khai tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, bảo đảm đúng quy định của pháp luật.

Bảo hiểm xã hội Việt Nam khẳng định không ban hành thêm quy định ngoài các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, đồng thời không yêu cầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh kéo dài thời gian thực hiện kỹ thuật một cách hình thức.

Việc hiểu hoặc áp dụng quy định theo hướng yêu cầu bác sĩ, kỹ thuật viên “chờ đủ thời gian” mới tiếp tục thực hiện ca kỹ thuật tiếp theo là chưa phù hợp với bản chất của hướng dẫn chuyên môn, có thể ảnh hưởng đến thời gian chờ đợi và quyền lợi của người bệnh bảo hiểm y tế.

Để bảo đảm thống nhất trong nhận thức và tổ chức thực hiện, Bảo hiểm xã hội Việt Nam kiến nghị Bộ Y tế tiếp tục rà soát, hoàn thiện các hướng dẫn chuyên môn kỹ thuật, bảo đảm phù hợp với thực tiễn triển khai và sự phát triển của khoa học công nghệ y tế. Đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong quá trình thực hiện, qua đó bảo đảm đầy đủ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm y tế.

-Nhật Dương

Categories: The Latest News

Dữ liệu số giúp du lịch Việt Nam bứt phá từ thị trường Nga

Thời báo kinh tế Việt Nam - Wed, 02/04/2026 - 15:26
Năm 2025 khách quốc tế đến Việt Nam đạt hơn 21,2 triệu lượt, vượt xa mức trước dịch. Đà tăng trưởng, đặc biệt từ thị trường Nga, cùng việc ứng dụng AdTech và dữ liệu số tạo ra bước chuyển mình quan trọng, từ mở rộng quy mô sang nâng cao giá trị và trải nghiệm cá nhân hóa…

Kết thúc năm 2025, du lịch Việt Nam chính thức xác lập kỷ lục mới với 21,2 triệu lượt khách quốc tế, vượt đỉnh của năm 2019 gần 18%. Theo dữ liệu từ Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam (VNAT), đà tăng trưởng này mang tính tổng thể với sự đóng góp mạnh mẽ từ nhiều thị trường trọng điểm như Ấn Độ (tăng 48,9%), Campuchia (tăng 44,8%), Trung Quốc (tăng 41,3%) và Nhật Bản (tăng 14,4%).

Đặc biệt, thị trường Nga đã tạo nên một hiện tượng kinh ngạc với tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trong năm qua. Với 689.714 lượt khách, thị trường này ghi nhận mức tăng trưởng lên đến 196,9% so với năm 2024, chính thức xô đổ kỷ lục 646.500 lượt khách của thời điểm trước dịch (năm 2019).

Báo cáo từ Hiệp hội Công nghiệp Du lịch Nga (RTI) chỉ ra rằng Việt Nam đã trở thành điểm đến ưu tiên hàng đầu cho các chuyến du lịch trọn gói trong năm 2025.

Bà Thư Nguyễn, Quản lý Phát triển Kinh doanh của Yango Ads tại Việt Nam, cho biết sự bùng nổ này được cộng hưởng từ ba yếu tố then chốt: Chính sách thị thực thuận lợi; mạng lưới đường bay charter được tái khởi động nhanh chóng từ Moscow và các thành phố lớn đến Cam Ranh, Phú Quốc và cuối cùng là định vị sản phẩm cạnh tranh.

Trong bối cảnh các điểm đến truyền thống tại Châu Âu dần trở nên khó tiếp cận, Việt Nam với khí hậu nắng ấm, chi phí hợp lý và dịch vụ phù hợp gia đình đã trở thành “giải pháp thay thế” hoàn hảo cho du khách Nga trong mùa đông.

Bên cạnh đó, bà Thư cho rằng sự bứt phá của năm 2025 không chỉ là kết quả của sự hồi phục thị trường mà còn cho thấy hiệu quả của việc ứng dụng công nghệ quảng cáo (AdTech) vào việc chuyển đổi chất lượng nguồn khách. AdTech đã trở thành một trong những công cụ thực thi hiệu quả cho việc chuyển dịch từ mô hình số lượng lớn sang tăng cường giá trị trên mỗi lượt khách.

Đồng thời, công nghệ này cho phép đa dạng hóa thị trường mà không cần nhân đôi ngân sách tiếp thị, nhờ khả năng tối ưu hóa việc quảng bá dựa trên ý định của du khách thay vì chỉ dựa vào hộ chiếu. Sự tiến hóa của AdTech cũng đồng thời song hành cùng nỗ lực số hóa của Chính phủ, tiêu biểu là việc vận hành nền tảng dữ liệu du lịch quốc gia “Visit Vietnam”.

“Trong khi nền tảng quốc gia cung cấp hạ tầng dữ liệu thống nhất để hỗ trợ ra quyết định, thì các giải pháp AdTech đóng vai trò là ‘cánh tay nối dài’ thực thi, biến các mục tiêu chiến lược thành kết quả đo lường được trên quy mô lớn theo thời gian thực”, vị chuyên gia này phân tích thêm.

Đồng thời, AdTech đã đóng vai trò như một bộ lọc chuẩn xác, bằng cách nhận diện những người dùng đang chủ động tìm kiếm các điểm đến ấm áp vào mùa đông, các gia đình đang so sánh gói nghỉ dưỡng dài ngày, hay nhóm khách đặc thù quan tâm đến du lịch chăm sóc sức khỏe (wellness), công nghệ đã giúp hình ảnh du lịch Việt Nam xuất hiện đúng lúc, đúng đối tượng.

Cũng theo bà Thư, câu chuyện của năm 2025 thay vì quảng bá đại trà theo mùa hoặc theo quốc gia một cách dàn trải, hạ tầng AdTech hiện đại đã cho phép ngành du lịch tập trung vào các “tín hiệu hành vi và ngữ cảnh” của người dùng trên không gian số.

Phân tích sâu hơn, bà Thư cho biết phương thức này nhắm mục tiêu theo hành vi này giúp tiếp cận phân khúc khách hàng “tiềm năng cao” như các gia đình hay nhóm khách tìm kiếm kỳ nghỉ wellness kéo dài từ 10 đến 28 ngày từ rất lâu trước khi họ thực hiện thao tác đặt phòng.

Việc tiếp cận phù hợp với nhu cầu của những du khách Nga hay các quốc gia khác, giúp đảm bảo nguồn khách đến Việt Nam là những nhóm đã được “thẩm định” trước về nhu cầu và khả năng chi trả.

Theo bà Thư Nguyễn, những du khách này có xu hướng đi theo nhóm lớn hơn, đặt các hạng phòng cao cấp và chi tiêu vượt xa mức tham quan cơ bản. Đây chính là động lực chính giúp doanh thu dịch vụ lữ hành đạt mức kỷ lục 93,9 nghìn tỷ đồng trong năm 2025.

Về triển vọng thị trường, bà Thư Nguyễn nhận định rằng thu hút được nhóm khách tiềm năng mới chỉ là một nửa chặng đường. Khi hệ sinh thái du lịch dần trưởng thành, trọng tâm cần được mở rộng sang “dặm cuối” của hành trình trải nghiệm khách hàng.

Trước đó, theo dự báo của nền tảng Booking.com, năm 2026 sẽ chứng kiến sự dịch chuyển rõ nét trong hành vi du lịch, khi du khách không còn mặn mà với các hành trình đại trà mà ưu tiên những trải nghiệm gắn với sở thích và cá tính cá nhân.

Từ các chuyến đi nhằm “kiểm chứng” sự đồng điệu với bạn đồng hành, hành trình thiên về trải nghiệm tinh thần, đến lựa chọn lưu trú thông minh với tiện nghi công nghệ cao, du lịch ngày càng trở thành cách khẳng định dấu ấn riêng.

Báo cáo cũng nhấn mạnh vai trò ngày càng lớn của công nghệ trong việc đáp ứng nhu cầu cá nhân hóa trải nghiệm, giúp mỗi chuyến đi được “đo ni đóng giày” theo thói quen, gu thẩm mỹ và mong muốn riêng của từng du khách.

-Minh Huy

Categories: The Latest News

Cần đưa khu vực công trở thành "khách hàng" lớn nhất của công nghệ Việt Nam

Thời báo kinh tế Việt Nam - Wed, 02/04/2026 - 15:11
Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng nhấn mạnh gợi mở mang tính chiến lược: cần xây dựng các chương trình đột phá nhằm biến khu vực công của Việt Nam trở thành "khách hàng công nghệ" lớn nhất...

Ngày 3/2, Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức cuộc họp Đề án trình Bộ Chính trị liên quan đến mục tiêu tăng trưởng kinh tế "hai con số" gắn với xác lập mô hình tăng trưởng mới. 

Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Mạnh Hùng nhấn mạnh, để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế "hai con số", Việt Nam cần cách tiếp cận hoàn toàn mới, vượt ra ngoài tư duy tăng trưởng truyền thống vốn chủ yếu dựa vào vốn, lao động và công nghệ như những yếu tố rời rạc.

 Nhà nước cần tạo ra động lực làm giàu chính đáng bằng công nghệ, xây dựng niềm tin xã hội để người dân không e ngại làm giàu thông qua khởi nghiệp công nghệ và đổi mới sáng tạo. Khi niềm tin đó được củng cố, tinh thần sáng tạo của toàn xã hội sẽ được giải phóng. Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Mạnh Hùng

Một gợi mở mang tính chiến lược được Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng nhấn mạnh là cần xây dựng các chương trình đột phá nhằm biến khu vực công của Việt Nam trở thành "khách hàng công nghệ" lớn nhất. 

Theo Bộ trưởng, nhiều vấn đề từng được coi là gánh nặng quốc gia như ô nhiễm môi trường, đô thị siêu nén, quá tải hạ tầng hay chất lượng quản trị thấp, nếu tiếp cận theo cách truyền thống sẽ chỉ là chi phí. 

Tuy nhiên, nếu tiếp cận bằng tư duy công nghệ và đổi mới sáng tạo, những vấn đề đó hoàn toàn có thể trở thành thị trường công nghệ và động lực cho các chương trình khởi nghiệp sáng tạo quy mô quốc gia.

Bộ trưởng cho rằng, Việt Nam cần xây dựng các nền tảng số quốc gia dùng chung để doanh nghiệp và người dân cùng tham gia giải quyết các bài toán lớn của đất nước. 

Khi Nhà nước đóng vai trò kiến tạo nền tảng và chính sách, doanh nghiệp và cộng đồng khởi nghiệp có thể tham gia hình thành sản phẩm mới, doanh nghiệp mới và ngành kinh tế mới, qua đó tạo ra động lực tăng trưởng bền vững dựa trên tri thức và công nghệ.

Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng: Nhà nước cần tạo ra động lực làm giàu chính đáng bằng công nghệ, xây dựng niềm tin xã hội để người dân không e ngại làm giàu thông qua khởi nghiệp công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Nhấn mạnh vai trò của quản trị, Bộ trưởng cho rằng hiện đại hóa quản trị quốc gia và quản trị doanh nghiệp là yêu cầu tất yếu của mô hình tăng trưởng mới. Chuyển đổi số vì thế không nên được nhìn nhận đơn thuần là quá trình số hóa hay hiện đại hóa bộ máy, mà phải được đặt đúng vị trí là một chính sách tăng trưởng kinh tế, có khả năng tạo ra năng suất mới và nâng cao hiệu quả vận hành của toàn bộ hệ thống.

Theo Bộ trưởng, một yếu tố quan trọng nhưng thường bị bỏ quên trong các chiến lược tăng trưởng là tâm lý xã hội. Nhà nước cần tạo ra động lực làm giàu chính đáng bằng công nghệ, xây dựng niềm tin xã hội để người dân không e ngại làm giàu thông qua khởi nghiệp công nghệ và đổi mới sáng tạo. Khi niềm tin đó được củng cố, tinh thần sáng tạo của toàn xã hội sẽ được giải phóng.

Bộ trưởng nhấn mạnh tăng trưởng cao chỉ bền vững khi nền kinh tế liên tục sinh ra các thị trường mới và ngành kinh tế mới. Nhiệm vụ của Việt Nam trong giai đoạn tới là chủ động tạo ra "biển xanh", hình thành các ngành mới phù hợp với điều kiện và quy mô thị trường trong nước, từ đó thúc đẩy tăng trưởng dựa chủ yếu vào các ngành kinh tế mới.

Liên quan đến tổ chức thực hiện, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng cũng gợi ý, mỗi lĩnh vực quản lý của Bộ cần có một "tổng công trình sư", với tinh thần mỗi lĩnh vực phải có người chịu trách nhiệm dẫn dắt về chuyên môn và tư duy chiến lược. Tổng công trình sư không phải là vị trí mang tính hình thức, mà được hình thành từ thực tiễn, từ quá trình làm việc, tích lũy kinh nghiệm và năng lực triển khai.

Tăng trưởng cao chỉ bền vững khi nền kinh tế liên tục sinh ra các thị trường mới và ngành kinh tế mới. Nhiệm vụ của Việt Nam trong giai đoạn tới là chủ động tạo ra "biển xanh", hình thành các ngành mới phù hợp với điều kiện và quy mô thị trường trong nước, từ đó thúc đẩy tăng trưởng dựa chủ yếu vào các ngành kinh tế mới. Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Mạnh Hùng 

Bộ trưởng nhấn mạnh, tăng trưởng cao chỉ bền vững khi nền kinh tế liên tục sinh ra các thị trường mới và ngành kinh tế mới. Nhiệm vụ của Việt Nam trong giai đoạn tới là chủ động tạo ra "biển xanh", hình thành các ngành mới phù hợp với điều kiện và quy mô thị trường trong nước, từ đó thúc đẩy tăng trưởng dựa chủ yếu vào các ngành kinh tế mới.

Bộ trưởng cũng lưu ý yêu cầu gắn nghiên cứu khoa học với hiệu quả kinh tế, biến nghiên cứu thành doanh thu, đánh giá hiệu quả tổng thể thay vì chỉ nhìn vào từng đề tài, dự án đơn lẻ. Theo đó, một đồng vốn Nhà nước đầu tư cho khoa học và công nghệ cần có khả năng dẫn dắt, huy động thêm từ ba đến bốn đồng vốn từ doanh nghiệp và xã hội. Các quỹ khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo cần được vận hành theo cơ chế khoán chi, trao quyền nhiều hơn cho người quản lý quỹ, đồng thời có chính sách mạnh mẽ để nâng cao tỷ lệ nội địa hóa.

Gợi mở về cách tiếp cận trong xây dựng Nghị quyết, Bộ trưởng nhấn mạnh mạch tư duy xuyên suốt phải là: Từ công nghệ tạo ra sản phẩm - đó là đổi mới sáng tạo; từ sản phẩm đến với người dân và xã hội - đó là chuyển đổi số. Cùng với đó, hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn cần được coi là công cụ quan trọng để định vị mức độ phát triển quốc gia, xây dựng thương hiệu quốc gia và thúc đẩy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Bùi Hoàng Phương 

Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Bùi Hoàng Phương nhấn mạnh so với Nghị quyết số 05-NQ/TW, dự thảo Đề án và Dự thảo Nghị quyết của Bộ Chính trị về các giải pháp chiến lược thúc đẩy tăng trưởng kinh tế "hai con số" gắn với xác lập mô hình tăng trưởng mới trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam thể hiện sự chuyển dịch căn bản về tư duy phát triển.

Nếu trước đây trọng tâm là cải thiện, nâng cấp mô hình tăng trưởng hiện hữu, thì nay, mục tiêu là xây dựng một mô hình tăng trưởng mới, trong đó khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia và năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) trở thành các trụ cột chiến lược, quyết định khả năng tăng trưởng nhanh và bền vững trong kỷ nguyên số.

Việc hình thành và phát triển các thị trường mới, như thị trường khoa học và công nghệ, thị trường dữ liệu, thị trường tài sản trí tuệ cũng cần được coi là nội dung trọng tâm của mô hình tăng trưởng mới, qua đó mở rộng không gian phát triển cho doanh nghiệp và tạo động lực tăng trưởng dài hạn cho nền kinh tế.

-Ngô Huyền

Categories: The Latest News

Khai thác tiềm năng hấp thụ carbon từ hơn 4 triệu ha rừng trồng

Thời báo kinh tế Việt Nam - Wed, 02/04/2026 - 15:09
Trong lĩnh vực lâm nghiệp, bên cạnh các chương trình carbon rừng đã triển khai với rừng tự nhiên, thì rừng trồng ở Việt Nam với quy mô khoảng 4–5 triệu ha được xác định là đối tượng có tiềm năng rất lớn nhưng hiện nay chưa được khai thác đầy đủ...

Thực tế này các chuyên gia chỉ ra tại cuộc họp trao đổi về “tiềm năng carbon từ cải thiện quản lý rừng trồng thông qua kéo dài chu kỳ kinh doanh” do Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm phối hợp cùng Mạng lưới carbon rừng tổ chức ngày 3/2/2026 với sự tham gia của đại diện cho các Sở Nông nghiệp và Môi trường, Chi cục Kiểm lâm, Quỹ bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh; các ban quản lý rừng, doanh nghiệp lâm nghiệp, chủ rừng, tổ chức, chuyên gia.

Cuộc họp nhằm làm rõ mức độ đóng góp thực tế của rừng trồng đối với việc gia tăng trữ lượng carbon và các sáng kiến carbon rừng theo các cách tiếp cận IFM tại Việt Nam, dựa trên các bằng chứng và nghiên cứu hiện có.

Các chuyên gia cũng thảo luận các vấn đề thực tiễn trong triển khai các sáng kiến carbon từ rừng trồng, bao gồm những thay đổi trong quản lý rừng và các yếu tố liên quan đến sự tham gia của các chủ rừng trong quá trình thực hiện.

TIỀM NĂNG HẤP THỤ CARBON THÔNG QUA QUẢN LÝ RỪNG TRỒNG, KÉO DÀI CHU KỲ KINH DOANH

Việt Nam đang khẩn trương hoàn thiện khung chính sách, sẵn sàng tham gia trao đổi, vận hành thị trường carbon trong nước. Mới đây, ngày 19/1/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 29/2026/NĐ-CP về sàn giao dịch carbon trong nước, góp phần tạo khung pháp lý đầy đủ cho việc tổ chức, vận hành thị trường carbon tại Việt Nam... Đây là một công cụ quan trọng để thực hiện Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) và hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng hoàn thiện Chương trình Thỏa thuận chi trả giảm phát thải vùng Bắc Trung Bộ (ERPA). Trong khuôn khổ chương trình, Việt Nam đã tạo ra 16,2 triệu tCO₂tđ giảm phát thải giai đoạn 2018–2019, trong đó, 11,3 triệu tCO₂tđ đã được giao dịch, chuyển nhượng, huy động 56,5 triệu USD.

Tuy nhiên, trao đổi tại cuộc họp, bà Nghiêm Phương Thúy, đại diện Cục Kiểm Lâm và Kiểm lâm, chỉ ra hiện nay, các chương trình này đang tập trung vào đối tượng rừng tự nhiên.

Việc kéo dài chu kỳ từ 5–6 năm lên khoảng 10–11 năm có thể tạo ra lượng hấp thụ carbon bổ sung. Ảnh minh họa

Trong lĩnh vực lâm nghiệp, bên cạnh các chương trình carbon rừng đã triển khai với rừng tự nhiên, thì rừng trồng với quy mô khoảng 4–5 triệu ha được xác định là đối tượng có tiềm năng lớn nhưng chưa được khai thác đầy đủ.

“Với tổng diện tích rừng trồng hơn 4 triệu ha trên cả nước, đây là một tiềm năng rất lớn. Vì vậy, kỳ vọng, của các cơ quan quản lý cũng như các chủ rừng trồng mong muốn được tham gia vào thị trường carbon. Đây cũng là đối tượng đang được nhiều nhà đầu tư quan tâm”, đại diện Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm cho hay.

Các chuyên gia cũng đặt vấn đề: rừng trồng thuần túy hiện nay có tạo ra lợi ích carbon, tạo ra tín chỉ carbon rừng không hay phải tuân thủ các yêu cầu điều kiện trong cải thiện phương thức quản lý, hoạt động canh tác…?

Điều này đã được các chuyên gia phân tích, làm rõ thông qua dự án thí điểm cải thiện quản lý rừng thông qua kéo dài chu kỳ kinh doanh để tại ra tiềm năng hấp thụ carbon.

Bên cạnh đó, trong tiêu chuẩn carbon rừng ở Việt Nam đang được xây dựng đã đưa hoạt động cải thiện quản lý rừng thông qua kéo dài chu kỳ kinh doanh. Những chia sẻ của chuyên gia đã giúp các tổ chức đơn vị quan tâm vấn đề này nắm rõ các phương thức, yêu cầu, điều kiện cần với rừng trồng để tạo ra tín chỉ carbon tham gia thị trường.

Đại diện GIZ Việt Nam đã thông tin kết quả nghiên cứu trong khuôn khổ Dự án “Nhân rộng quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng tại Việt Nam (SFM)” về gia tăng hấp thụ carbon thông qua quản lý rừng trồng keo theo chu kỳ dài, dựa trên đo đạc thực địa tại Công ty Lâm nghiệp Sông Côn, Công ty Lâm nghiệp Quy Nhơn và Ban Quản lý Rừng Phòng hộ Đặc dụng Đồng Xuân.

Theo bà Lê Thị Lộc, GIZ Việt Nam, carbon rừng là một trong những hoạt động chính của Dự án SFM và là một trong những đóng góp quan trọng cho chương trình tài chính bền vững của dự án. Hợp phần này nhằm tăng cường cả cơ sở bằng chứng khoa học và năng lực thực tiễn cho việc tích hợp tài chính carbon rừng vào quản lý rừng tại Việt Nam.

Nghiên cứu sử dụng phương pháp luận quốc tế (VCS VM003), kết hợp dữ liệu ô tiêu chuẩn và mô phỏng tăng trưởng, cho thấy việc kéo dài chu kỳ từ 5–6 năm lên khoảng 10–11 năm có thể tạo ra lượng hấp thụ carbon bổ sung, sau khi đã tính đến các yếu tố khấu trừ bắt buộc như độ không chắc chắn, rò rỉ và rủi ro không lâu dài.

“Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng việc chuyển đổi từ sản xuất sinh khối sang sản xuất gỗ lớn với phương pháp quản lý thích ứng và kéo dài chu kỳ rừng trồng keo lên 10-11 năm có thể dẫn đến việc hấp thụ thêm 4,2 tCO2/ha/năm”, đại diện GIZ cho biết.

XÂY DỰNG TIÊU CHUẨN QUỐC GIA VỀ TÍN CHỈ CARBON RỪNG VIỆT NAM

Trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục hoàn thiện khung chính sách và thể chế cho các công cụ thị trường carbon, các giải pháp tăng cường hấp thụ carbon từ rừng ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm, đặc biệt đối với rừng trồng.

Rừng trồng- bao gồm rừng trồng sản xuất và rừng trồng phòng hộ- được đánh giá là có tiềm năng đáng kể trong việc gia tăng trữ lượng carbon và đóng góp cho việc thực hiện Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC).

Tuy nhiên, để chuyển hóa các tiềm năng này thành kết quả giảm phát thải có thể ghi nhận – như nguồn tài chính dựa trên kết quả hoặc tín chỉ carbon có thể giao dịch – đòi hỏi các kết quả carbon phải được lượng hóa, xác minh và đáp ứng các yêu cầu về bảo đảm tính toàn vẹn theo các tiêu chuẩn tạo tín chỉ carbon.

Dự thảo Tiêu chuẩn quốc gia về tín chỉ carbon rừng, trong đó cải thiện quản lý rừng trồng (IFM) được xác định là một trong các loại hình dự án đủ điều kiện.

Dự thảo Tiêu chuẩn quốc gia về tín chỉ carbon rừng của Việt Nam hiện đang xem xét cả hai phương thức: trồng rừng mới, tái trồng rừng (ARR) và cải thiện phương thức quản lý rừng (IFM) như các loại hình có thể tạo tín chỉ carbon rừng. Trong đó, một số báo cáo và nghiên cứu kỹ thuật gần đây đã nhấn mạnh IFM áp dụng cho rừng trồng hiện có, đặc biệt là phương án kéo dài chu kỳ kinh doanh như một hướng tiếp cận có tính khả thi trong ngắn hạn.

Trên thực tế, thách thức của IFM không chỉ nằm ở mức độ tham vọng về kỹ thuật, mà còn ở yêu cầu triển khai trên quy mô đủ lớn, đồng thời bảo đảm tính toàn vẹn môi trường, hiệu quả kinh tế và sự phù hợp với các điều kiện quản lý hiện hành.

Bên cạnh đó, tại nhiều địa phương, rừng trồng có tính manh mún cao; các quyết định vận hành như thời điểm khai thác, tái trồng hay việc tuân thủ chu kỳ kinh doanh dài hơn không chỉ phụ thuộc vào các đơn vị quản lý quy mô lớn như chủ rừng nhà nước, mà còn gắn chặt với động lực và sự tham gia của các hộ trồng rừng quy mô nhỏ.

Trong khi các nghiên cứu kỹ thuật chủ yếu tập trung vào tiềm năng carbon và các khía cạnh đo đạc – báo cáo – xác minh (MRV) của IFM, thì các vấn đề về sự tham gia của các chủ rừng và cơ chế liên kết để hình thành quy mô diện tích đủ lớn trong bối cảnh rừng trồng manh mún vẫn là những thách thức thực tiễn cần tiếp tục được trao đổi và làm rõ.

Dự thảo Tiêu chuẩn quốc gia về tín chỉ carbon rừng, trong đó cải thiện quản lý rừng trồng (IFM) được xác định là một trong các loại hình dự án đủ điều kiện. Các chuyên gia cũng làm rõ các yêu cầu cốt lõi của dự án carbon rừng, bao gồm: tính bổ sung, xác định mức tham chiếu, đo đạc- báo cáo- thẩm định (MRV), quản lý rủi ro, đảm bảo an toàn môi trường- xã hội, cũng như quy trình đăng ký và công nhận tín chỉ theo các nghị định liên quan.

Một điểm được nhấn mạnh là không phải mọi cải tiến lâm sinh đều tự động tạo ra tín chỉ carbon; dự án chỉ được công nhận khi chứng minh được lượng hấp thụ bổ sung so với kịch bản kinh doanh thông thường.

-Tùng Dương

Categories: The Latest News

Những chủ nợ lớn nhất của Chính phủ Mỹ năm 2025, Nhật Bản và Anh dẫn đầu

Thời báo kinh tế Việt Nam - Wed, 02/04/2026 - 15:07
Tính đến cuối tháng 11/2025, lượng trái phiếu kho bạc Mỹ trong tay nhà đầu tư ngoại đạt mức cao kỷ lục 9,4 nghìn tỷ USD...

Hàng năm, Mỹ phải tăng phát hành trái phiếu kho bạc để bù đắp thâm hụt ngân sách ngày càng lớn. Trái phiếu này thu hút cả nhà đầu tư trong nước lẫn quốc tế.

Theo dữ liệu của Bộ Tài chính Mỹ tính đến cuối tháng 11/2025, lượng trái phiếu kho bạc Mỹ trong tay nhà đầu tư ngoại đạt mức cao kỷ lục 9,4 nghìn tỷ USD. Châu Âu chiếm gần 40% con số này.

Dù nhu cầu đối với trái phiếu kho bạc Mỹ phụ thuộc vào nhiều yếu tố, năm 2025 cho thấy sự phân hóa rõ rệt. Trong khi các đồng minh truyền thống của Mỹ tiếp tục tăng nắm giữ, một số nước khác tăng tốc đa dạng hóa khỏi tài sản này, có thể do cân nhắc yếu tố địa chính trị.

Đồ họa thông tin dưới đây gồm các nền kinh tế nắm giữ nhiều trái phiếu kho bạc Mỹ nhất tính tới cuối tháng 11/2025. Dữ liệu cũng gồm so sánh mức nắm giữ so với cùng thời điểm năm 2024.

Năm 2019, Nhật Bản vượt Trung Quốc trở thành chủ nợ nước ngoài lớn nhất của Chính phủ Mỹ. Đây là một bước ngoặt lớn so với khoảng 10 năm trước, khi Trung Quốc nắm gần 1,3 nghìn tỷ USD trái phiếu kho bạc Mỹ. Từ đó đến nay, lượng nắm giữ của Trung Quốc giảm gần một nửa, trong khi Nhật Bản tăng thêm 61 tỷ USD.

Anh là chủ nợ lớn thứ hai với 888,5 tỷ USD. Trong vòng 12 tháng, giá trị trái phiếu kho bạc Mỹ do Anh nắm giữ tăng 16%. Xu hướng này cũng được ghi nhận tại một số nước châu Âu như Bỉ, Pháp và Na Uy.

Ở chiều ngược lại, nhóm nền kinh tế mới nổi lớn BRICS - gồm Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi - giảm đáng kể nắm giữ nợ chính phủ Mỹ. Giá trị trái phiếu kho bạc Mỹ trong tay Brazil giảm 27%, trong khi mức giảm của Ấn Độ và Trung Quốc lần lượt là 20% và 11%.

Vào tháng 11/2025, tỷ trọng vàng trong dự trữ của các ngân hàng trung ương toàn cầu lần đầu tiên vượt qua giá trị trái phiếu kho bạc Mỹ kể từ năm 1996.

-Đức Anh

Categories: The Latest News

Chênh lệch giá mua, bán vàng nhẫn cao ngất ngưởng tới 4,5 triệu đồng/lượng

Thời báo kinh tế Việt Nam - Wed, 02/04/2026 - 14:57
Trong phiên sáng, chênh lệch giá mua-bán vàng nhẫn và vàng miếng SJC chủ yếu ở mức 3 triệu đồng/lượng. Riêng một đơn vị, chênh lệch giá mua-bán vàng nhẫn nới rộng lên mức 4,5 triệu đồng/lượng cho thấy rủi ro nghiêng hẳn về phía người mua…

Mở cửa phiên, giá mua, bán vàng miếng tại Công ty SJC duy trì ổn định suốt phiên sáng ở mức 177,2 triệu – 180,2 triệu đồng/lượng. So với giá chốt phiên 3/2, giá giao dịch vàng miếng SJC tại doanh nghiệp này tăng 3,7 triệu đồng/lượng mỗi chiều.

Trong phiên sáng nay, giá giao dịch vàng miếng SJC tại các hệ thống lớn tiếp tục tăng mạnh. Dù trong xu hướng tăng, nhưng biên độ điều chỉnh chỉ bằng khoảng 30% so với mức tăng trong phiên hôm qua (3/2).

Đây cũng là mức giá niêm yết chốt phiên sáng tại DOJI, PNJ, Bảo Tín Minh Châu, Bảo Tín Mạnh Hải, Phú Quý và Ngọc Thẩm. So với giá chốt phiên 3/2, giá mua, bán vàng miếng tại các doanh nghiệp trên cũng tăng 3,7 triệu đồng/lượng đối với cả hai chiều mua và bán.

Tại TP.Hồ Chí Minh, giá mua vàng miếng tại Mi Hồng niêm yết ở 174,7 triệu đồng/lượng và giá bán là 176,5 triệu đồng/lượng khi mở cửa phiên sáng, tăng 200 nghìn đồng/lượng với chiều mua và giữ nguyên chiều bán so với giá chốt phiên 3/2.

Tuy nhiên, sau hơn 2 tiếng mở cửa, thương hiệu này tăng thêm 3,5 triệu đồng/lượng đối với chiều mua và 3,7 triệu đồng/lượng với chiều bán. Mi Hồng đặt giá giao dịch vàng miếng ở mức 178,2 triệu – 180,2 triệu đồng/lượng. Mức giá giao dịch trên được giữ nguyên đến hết phiên sáng.

Giá giao dịch vàng miếng tại các thương hiệu trong phiên sáng 4/2/2026. Nguồn: VnEconomy tổng hợp từ bảng giá các doanh nghiệp

Cùng chung xu hướng đi lên, thị trường vàng nhẫn “4 số 9” cũng chứng kiến nhịp điều chỉnh tăng mạnh. Tuỳ từng thương hiệu, biên độ tăng giá vàng nhẫn “4 số 9” còn cao hơn so với vàng miếng SJC, dao động từ 3,7 triệu – 5,2 triệu đồng/lượng.

Tại khu vực phía Nam, Ngọc Thẩm là thương hiệu duy nhất có giá bán ra tăng gấp đôi giá mua vào. Trong phiên sáng, giá mua, bán vàng nhẫn “4 số 9” tại doanh nghiệp này ghi nhận tới 3 nhịp điều chỉnh tăng, giảm đan xen.

Chốt phiên sáng, Ngọc Thẩm đặt giá mua, bán vàng nhẫn ở mức 173 triệu – 177,5 triệu đồng/lượng. So với giá chốt phiên 3/2, giá vàng nhẫn tại Ngọc Thẩm tăng lần lượt 1,5 triệu đồng/lượng đối với chiều mua và 3 triệu đồng/lượng với chiều bán.

Dù là doanh nghiệp có mức điều chỉnh khiêm tốn nhất trên thị trường nhưng chênh lệch giá mua, bán giãn rộng nhất, lên tới 4,5 triệu đồng/lượng.

Trong phiên sáng, chênh lệch giá mua-bán vàng nhẫn và vàng miếng SJC đều ở ngưỡng phổ biến là 3 triệu đồng/lượng. Duy chỉ có Ngọc Thẩm, chênh lệch giá mua-bán vàng nhẫn tại thương hiệu này nới rộng lên mức 4,5 triệu đồng/lượng, cao nhất thị trường

Giá mua, bán vàng nhẫn SJC loại 1 chỉ, 2 chỉ và 5 chỉ tại Công ty SJC vẫn duy trì ở mức 171,5 triệu – 174,5 triệu đồng/lượng (mua – bán) ngay khi mở cửa phiên sáng.

Chỉ trong vòng hơn 1 tiếng đồng hồ, giá mua, bán vàng nhẫn “4 số 9” tại doanh nghiệp này tăng 5,2 triệu đồng/lượng, neo ở mức 176,7 triệu – 179,7 triệu đồng/lượng. Mức giá giao dịch trên được duy trì ổn định đến hết phiên sáng.

Trong phiên sáng, giá giao dịch vàng nhẫn Tròn 9999 Hưng Thịnh Vượng tại DOJI và vàng nhẫn trơn 9999 PNJ đồng loạt tăng 4,7 triệu đồng/lượng mỗi chiều. Cả hai doanh nghiệp này đều niêm yết giá giao dịch vàng nhẫn chốt phiên ở mức 176,7 triệu – 179,7 triệu đồng/lượng

Trong khi dòng sản phẩm vàng trang sức tại các hệ thống lớn đều ghi nhận mức điều chỉnh tăng tương đương so với vàng nhẫn “4 số 9” thì sản phẩm này tại PNJ vẫn tăng mạnh hơn.

Cụ thể, dòng vàng trang sức 9999 tăng tới 5,2 triệu đồng/lượng mỗi chiều, niêm yết ở mức 175,2 triệu – 179,2 triệu đồng/lượng. Đồng thời mức chênh lệch giá mua, bán cũng cao hơn, ở mức 4 triệu đồng, tiềm ẩn nhiều rủi ro đối với người mua.

Chênh lệch giá mua, bán vàng miếng và vàng nhẫn tại các doanh nghiệp trong phiên 4/2. Nguồn: VnEconomy tổng hợp và tính toán

Bảo Tín Minh Châu, Bảo Tín Mạnh Hải và Phú Quý là ba doanh nghiệp niêm yết giá bán vàng nhẫn “4 số 9” vượt ngưỡng 180 triệu đồng/lượng trong phiên sáng nay. Mức giá trên tương đương với giá bán vàng miếng SJC tại các đơn vị này.

Sau khi giữ nguyên giá giao dịch vàng nhẫn tròn trơn Bảo Tín Minh Châu và nhẫn tròn ép vỉ Kim Gia Bảo 999.9 của Bảo Tín Mạnh Hải ở mức 173,5 triệu – 176,5 triệu đồng/lượng ngay khi mở cửa phiên sáng, cả hai đơn vị này đều tăng thêm 3,7 triệu đồng/lượng mỗi chiều.

Bảo Tín Minh Châu và Bảo Tín Mạnh Hải cùng đặt giá mua, bán vàng nhẫn tròn trơn và nhẫn tròn ép vỉ Kim Gia Bảo 999.9 ở mức 177,2 triệu – 180,2 triệu đồng/lượng. Mức giá giao dịch trên không đổi đến khi chốt phiên sáng.

Tương tự, mở cửa phiên sáng giá giao dịch vàng nhẫn “4 số 9” tại Phú Quý vẫn duy trì ở mức 173 triệu – 176 triệu đồng/lượng (mua – bán), không đối so với giá chốt phiên 3/2.

Sau hơn 1 tiếng mở cửa, thương hiệu này tăng thêm 4,2 triệu đồng/lượng, đặt giá mua vàng nhẫn “4 số 9” ở mức 177,2 triệu  và giá bán là 180,2 triệu đồng/lượng. Phú Quý giữ nguyên mức giá giao dịch trên đến hết phiên sáng.

Trong khi đó, giá mua vàng nhẫn trang sức tại thương hiệu này tăng 5,2 triệu đồng/lượng nhưng giá bán tăng 4,2 triệu đồng/lượng. Tuỳ hàm lượng vàng, giá hiện giao dịch ở mức 175,7 triệu – 179,7 triệu đồng/lượng (vàng 999.9) và mức mức 175,6 triệu – 179,6 triệu đồng/lượng (vàng 999), thu hẹp chênh lệch giá mua, bán xuống 4 triệu đồng/lượng.

Trên thị trường NewYork, cập nhật lúc 11 giờ 30 phút ngày 4/2, hợp đồng giá vàng giao ngay tiếp tục tăng hơn 2,6%, tiến lên mốc 5.077,2 USD/oz.

Theo tỷ giá Vietcombank (đã bao gồm thuế và phí...), chênh lệch giữa giá vàng miếng và giá vàng thế giới phổ biến ở mức 18,31 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, đối với giá vàng nhẫn “4 số 9”, khoảng cách này dao động từ 15,61 – 18,31 triệu đồng/lượng, tùy từng thương hiệu.

-Mai Nhi

Categories: The Latest News

Những mặt hàng Ấn Độ cam kết mua thêm từ Mỹ để đạt thỏa thuận thương mại

Thời báo kinh tế Việt Nam - Wed, 02/04/2026 - 14:56
Sau nhiều tháng căng thẳng, Mỹ và Ấn Độ vừa đạt thỏa thuận thương mại, theo đó New Delhi cam kết mua thêm nhiều hàng hóa Mỹ...

Theo một quan chức Chính phủ Ấn Độ, trong khuôn khổ thỏa thuận này, New Delhi đã đồng ý nhập khẩu thêm dầu mỏ, thiết bị quốc phòng và máy bay của Mỹ, đồng thời mở cửa một phần lĩnh vực nông nghiệp vốn được bảo hộ chặt chẽ cho hàng Mỹ.

Hôm thứ Hai (2/2), Tổng thống Mỹ Donald Trump thông báo Mỹ và Ấn Độ đạt thỏa thuận, theo đó Washington sẽ hạ thuế quan với hàng hóa Ấn Độ xuống 18% từ mức 50%. Đổi lại, New Delhi dừng nhập khẩu dầu từ Nga và giảm các rào cản thương mại với hàng hóa Mỹ.

Trao đổi với hãng tin Reuters, một quan chức Ấn Độ giấu tên cho biết New Delhi cũng nhất trí mua thêm một số mặt hàng của Mỹ như sản phẩm viễn thông và dược phẩm, đồng thời mở cửa thị trường đối với một số nông sản theo các cam kết trong thỏa thuận.

Động thái này diễn ra trong bối cảnh gần đây Ấn Độ cũng đồng ý mở cửa một phần thị trường nông sản cho Liên minh châu Âu (EU) trong khuôn khổ thỏa thuận thương mại tự do với khối này.

Riêng với Mỹ, vị quan chức cho biết Ấn Độ còn hạ thuế quan đối với ô tô nhập khẩu từ Mỹ nhằm đáp ứng các yêu cầu trước mắt của Washington, theo đó hoàn tất đợt đầu tiên của thỏa thuận.

Theo dữ liệu của Chính phủ Ấn Độ, xuất khẩu sang Mỹ của nước này trong 11 tháng đầu năm 2025 tăng 15,88% so với cùng kỳ năm trước lên 85,5 tỷ USD, trong khi đó nhập khẩu đạt 46,08 tỷ USD.

“Ấn Độ cam kết mua thêm hàng hóa Mỹ ở nhiều lĩnh vực, gồm dược phẩm, viễn thông, quốc phòng, dầu mỏ và máy bay. Việc này sẽ được triển khai theo lộ trình trong nhiều năm”, quan chức trên nói thêm và cho biết hai bên sẽ tiếp tục đàm phán một thỏa thuận toàn diện hơn trong những tháng tới.

Phát biểu tại một sự kiện ở New Delhi hôm thứ Ba (3/2), bà Anuradha Thakur, Thư ký phụ trách Các vấn đề kinh tế thuộc Bộ Tài chính Ấn Độ, nhận định thỏa thuận thương mại giữa Ấn Độ và Mỹ đã giúp giảm đáng kể mức độ bất định kinh tế trên toàn cầu.

Thông tin này cũng nâng đỡ tâm lý nhà đầu tư tại đất nước tỷ dân, khi chỉ số chứng khoán Nifty 50 tăng gần 3% còn đồng rupee tăng hơn 1% trong phiên giao dịch ngày 3/2.

Mức thuế quan 18% mà Mỹ áp với hàng hóa Ấn Độ thấp hơn so với một số nền kinh tế xuất khẩu lớn ở châu Á, và được đưa ra đúng lúc các doanh nghiệp Ấn Độ đang đàm phán hợp đồng cả năm với khách hàng Mỹ.

Với châu Á, Mỹ hiện áp thuế quan 19% với hàng hóa từ Indonesia và 20% với Việt Nam và Bangladesh.

“Thuế quan giảm không chỉ giúp hàng hóa Ấn Độ cạnh tranh hơn về giá, mà còn tạo điều kiện để doanh nghiệp xuất khẩu tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng tại Mỹ”, ông S.C. Ralhan, Chủ tịch Liên đoàn các Tổ chức Xuất khẩu Ấn Độ (FIEO), nhận xét.

Trong báo cáo công bố ngày 3/2, tổ chức xếp hạng tín nhiệm Moody’s Ratings nhận định việc Mỹ hạ thuế quan với hàng hóa Ấn Độ sẽ tiếp thêm động lực cho xuất khẩu của nước này sang Mỹ.

Đồng quan điểm, ông Apurva Sheth, phụ trách mảng thị trường và nghiên cứu tại công ty chứng khoán Samco Securities ở Mumbai, cho rằng thỏa thuận với Mỹ là cú huých lớn trong bối cảnh tâm lý doanh nghiệp đang khá ảm đạm, vì hàng hóa Ấn Độ có thể cạnh tranh tốt hơn trên thị trường Mỹ.

Tuy nhiên, ông lưu ý xuất khẩu sang Mỹ chỉ chiếm một phần nhỏ trong GDP khoảng 4 nghìn tỷ USD của Ấn Độ. Vì vậy, theo ông, thỏa thuận này có thể hỗ trợ kinh tế và thị trường trong ngắn hạn, nhưng khó tạo ra bước ngoặt lớn.

-Đức Anh

Categories: The Latest News

Hàng giá rẻ Trung Quốc tràn ngập thị trường Mỹ Latin

Thời báo kinh tế Việt Nam - Wed, 02/04/2026 - 14:55
Hàng hóa giá rẻ từ Trung Quốc đang tràn ngập thị trường Mỹ Latin, tạo ra những thách thức lớn cho các doanh nghiệp địa phương và buộc các chính phủ phải cân nhắc giữa việc bảo hộ và ảnh hưởng ngày càng tăng của Bắc Kinh...

Theo trang Euronews, Trung Quốc đã đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa giá rẻ, đặc biệt là ô tô và hàng hóa thương mại điện tử, vào các thị trường ở Mỹ Latin, khi các nhà xuất khẩu của nước này điều chỉnh để ứng phó với các biện pháp thuế quan và động thái địa chính trị của Tổng thống Mỹ Donald Trump.

Nền kinh tế lớn thứ hai thế giới đã trở thành đối tác thương mại quan trọng của nhiều quốc gia Mỹ Latin, tìm kiếm quyền tiếp cận với các nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và thị trường đang phát triển của các quốc gia này, đồng thời mở rộng ảnh hưởng trong khu vực mà ông Trump coi là sân sau của Mỹ.

Các doanh nghiệp Trung Quốc đang đối mặt với nhu cầu trì trệ trong nước và cần tìm kiếm thị trường xuất khẩu mới trong bối cảnh công suất dư thừa. Bởi vậy, xuất khẩu của nước này sang Mỹ Latin, một thị trường hơn 600 triệu dân, và các khu vực khác đã tăng mạnh trong năm 2025, trong khi xuất khẩu sang Mỹ giảm 20%.

LÀN SÓNG HÀNG TIÊU DÙNG TRUNG QUỐC

Mỹ Latin có một tầng lớp trung lưu vững chắc, sức mua tương đối cao và nhu cầu thực sự - theo bà Margaret Myers, Giám đốc chương trình châu Á và Mỹ Latin tại tổ chức tư vấn Inter-American Dialogue ở Washington. Những điều kiện đó khiến Mỹ Latin trở thành một trong những địa chỉ dễ dàng nhất để Trung Quốc giải phóng công suất công nghiệp dư thừa của nước này.

Tuy nhiên, sự tràn ngập của ô tô, quần áo, điện tử và đồ gia dụng sản xuất tại Trung Quốc đang đặt ra thách thức đối với các quốc gia Mỹ Latin đang cố gắng xây dựng một nền sản xuất công nghiệp có khả năng cạnh tranh toàn cầu của riêng mình. Một số quốc gia như Mexico, Chile và Brazil đã phản ứng bằng cách tăng thuế quan hoặc thực hiện các biện pháp khác để bảo vệ các nhà sản xuất trong nước.

Hàng hóa thương mại điện tử giá rẻ từ Trung Quốc là tin vui cho nhiều người tiêu dùng Mỹ Latin, nhưng lại là “nỗi đau” đối với các doanh nghiệp địa phương. Các nền tảng thương mại điện tử Trung Quốc, dẫn đầu bởi Temu và Shein, đã thúc đẩy xu hướng này.

Temu trung bình có 114 triệu người dùng hoạt động hàng tháng tại Mỹ Latin trong nửa đầu năm 2025, tăng 165% so với năm 2024 - theo ước tính của công ty thông tin thị trường Sensor Tower. Số người dùng hoạt động hàng tháng của Shein trong khu vực tăng 18%.

Xu hướng này không chỉ giới hạn ở mua sắm trực tuyến. Áo thun, áo khoác, quần, đồ chơi, đồng hồ, đồ nội thất và các sản phẩm khác sản xuất tại Trung Quốc tràn ngập các quầy hàng của người bán hàng rong ở trung tâm thành phố Mexico City. Bà Angel Ramirez, chủ một cửa hàng bán đèn ở thành phố này, đang gặp khó khăn trong việc cạnh tranh. "Hàng Trung Quốc đã xâm chiếm thị trường”, bà nói.

Chỉ trong vài năm trở lại đây, số lượng cửa hàng bán hàng hóa sản xuất tại Trung Quốc ở trung tâm thành phố Mexico City đã tăng hơn gấp ba lần, bà Ramirez cho biết. Vì lý do này, nhiều cửa hàng lâu năm bán hàng sản xuất tại Mexico buộc phải đóng cửa.

Argentina cũng đang chịu nhiều áp lực từ việc nhập khẩu hàng hóa Trung Quốc gia tăng. Nhiều nhà máy địa phương đóng cửa và sa thải công nhân, trong khi lĩnh vực sản xuất sử dụng gần 1/5 lực lượng lao động của nước này.

Khối lượng nhập khẩu hàng hóa thương mại điện tử, chủ yếu từ Trung Quốc, đã tăng 237% trong tháng 10/2025 so với cùng kỳ năm trước, theo số liệu thống kê của Chính phủ Argentina. "Chúng tôi đang hoạt động ở mức công suất thấp nhất trong lịch sử, khi nhập khẩu đạt mức cao kỷ lục. Chúng tôi đang phải đối mặt với một cuộc tấn công không phân biệt”, ông Luciano Galfione, Chủ tịch của tổ chức phi lợi nhuận Pro Tejer Foundation đại diện cho các nhà sản xuất dệt may, cho biết.

Các mặt hàng thời trang siêu nhanh của Trung Quốc đổ bộ vào Argentina đang gây lo ngại sâu sắc - theo ông Claudio Drescher, người đứng đầu phòng công nghiệp và chủ sở hữu thương hiệu thời trang Jazmin Chebar của Buenos Aires, cho biết.

CUỘC TẤN CÔNG CỦA Ô TÔ TRUNG QUỐC

Mexico và Brazil, các trung tâm sản xuất ô tô khu vực của Mỹ Latin, cũng đang đương đầu với sức ép từ việc nhập khẩu ô tô giá rẻ từ Trung Quốc gia tăng. Các nhà sản xuất ô tô Trung Quốc như BYD và GWM nhận thấy cơ hội tăng trưởng lớn ở Mỹ Latin.

Hơn 80% trong số 61.615 xe điện bán ra năm 2024 tại Brazil, thị trường ô tô lớn thứ 6 thế giới, là các thương hiệu Trung Quốc - theo Hiệp hội Xe điện Brazil. Mexico đã vượt Nga trở thành điểm đến lớn nhất cho xuất khẩu ô tô của Trung Quốc, khi nước nhập khẩu 625.187 xe Trung Quốc trong năm ngoái, theo Hiệp hội Xe hơi Trung Quốc (PCA).

Cả Brazil và Mexico đều đã có xây dựng được một ngành công nghiệp ô tô trong nước với quy mô lớn. Mexico, một cơ sở sản xuất hàng đầu của các hãng xe toàn cầu, là quốc gia sản xuất ô tô lớn thứ bảy thế giới, mặc dù khoảng 3,4 triệu trong số gần 4 triệu xe mà nước này sản xuất năm ngoái được xuất khẩu. Brazil sản xuất khoảng 2,6 triệu xe, bao gồm nhiều mẫu xe điện và hybrid.

Những con số này khiêm tốn nếu so với sản lượng 34,5 triệu xe của Trung Quốc, bao gồm hơn 7 triệu xe xuất khẩu ra nước ngoài. Trong một ngành công nghiệp mà quy mô giữ vai trò rất quan trọng như ngành ô tô, "Trung Quốc có lợi thế so sánh về xe điện," với giá cả phải chăng và sự hỗ trợ mạnh mẽ từ chính phủ - ông Jorge Guajardo, một đối tác tại công ty tư vấn DGA Group và là cựu đại sứ Mexico tại Trung Quốc, nhận xét.

Xe ô tô Trung Quốc có giá cả phải chăng đã tạo ra sức hút mạnh mẽ đối với người tiêu dùng và sẽ tiếp tục xâm nhập vào thị trường Mỹ Latin - theo ông Paul Gong, trưởng bộ phận nghiên cứu ô tô Trung Quốc tại ngân hàng Thụy Sĩ UBS.

Các nhà sản xuất ô tô Trung Quốc cũng đang đầu tư vào sản xuất tại các quốc gia trong khu vực. BYD và GWM đang xây dựng các nhà máy ở Brazil để mở rộng công suất tại chỗ, có thể tạo ra hàng trăm hoặc thậm chí hàng nghìn việc làm. Tuy nhiên, vào năm ngoái, nhà chức trách Brazil đã kiện BYD với cáo buộc điều kiện lao động kém cho công nhân - một cáo buộc mà công ty này phủ nhận.

TÀI NGUYÊN MỸ LATIN VÀ VỐN VAY TRUNG QUỐC

Trung Quốc cần các nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú của Mỹ Latin để phục vụ cho các ngành công nghiệp của mình, từ lithium ở Brazil đến đồng ở Chile và bột cá ở Peru. Nhưng thâm hụt thương mại với Trung Quốc đang gia tăng tại hầu hết mọi quốc gia trong khu vực.

Thâm hụt thương mại của Mexico với Trung Quốc, đối tác thương mại lớn thứ hai của nước này sau Mỹ, đã lên tới con số 120 tỷ USD trong năm 2024. Trong đó, xuất khẩu của Mexico sang Trung QUốc - bao gồm nguyên liệu thô như đồng và các sản phẩm điện tử và nông sản - chỉ đạt khoảng 9 tỷ USD.

Thâm hụt thương mại của Argentina với Trung Quốc đã tăng lên gần 8,2 tỷ USD trong năm 2025, do nhập khẩu máy móc điện, thiết bị và hàng hóa chế biến - chế tạo từ Trung Quốc vượt xa xuất khẩu sang Trung Quốc các mặt hàng đậu tương và thịt.

Brazil ghi nhận thặng dư thương mại khoảng 29 tỷ USD với Trung Quốc trong năm ngoái, một phần do xuất khẩu đậu tương của nước này tăng mạnh sau khi Bắc Kinh tạm dừng mua đậu tương Mỹ. Chile cũng có thặng dư nhờ xuất khẩu đồng, lithium, trái cây và rượu vang. Trong hầu hết các trường hợp, Trung Quốc xuất khẩu hàng hóa chế biến - chế tạo và nhập khẩu nguyên liệu thô từ Mỹ Latin.

Trung Quốc đã cung cấp các khoản vay và viện trợ cho khu vực Mỹ Latin và Caribbean trị giá khoảng 153 tỷ USD trong thời gian từ năm 2014 đến 2023, trở thành nguồn tài trợ chính thức lớn nhất cho khu vực. Con số này lớn hơn nhiều nếu so với khoảng 50,7 tỷ USD vốn vay và viện trợ do Mỹ cung cấp cho Mỹ Latin - theo dữ liệu từ AidData. Điều đó có nghĩa là cứ mỗi USD được Washington viện trợ hoặc cho vay đối với Mỹ Latin, Bắc Kinh cung cấp 3 USD cho khu vực này.

Mỹ Latin là trụ cột trong chiến lược "Nam toàn cầu" của Trung Quốc nhằm chống lại ảnh hưởng của phương Tây - theo ông Andy Mok, một nghiên cứu viên cao cấp tại Trung tâm Trung Quốc và Toàn cầu hóa.

Trung Quốc đã cấp vốn cho một hải cảng lớn trị giá 1,3 tỷ USD ở Chancay, Peru, mở cửa vào năm 2024 và có thể được kết nối bằng một dự án đường sắt tới bờ biển Đại Tây Dương của Brazil. Các công ty Trung Quốc được nhà nước hậu thuẫn cũng đã đầu tư lớn vào các đập, mỏ và cơ sở hạ tầng khác trên khắp khu vực.

"Có thể đang có mối lo ngại sâu sắc về vấn đề cạnh tranh, nhưng về mặt chính trị, nhiều quốc gia cảm thấy khó kháng cự lại làn sóng hàng xuất khẩu của Trung Quốc. Mối quan hệ đã trở nên quá quan trọng về mặt kinh tế”, ông Myers nói.

Mexico từ lâu đã tìm cách bảo vệ các ngành công nghiệp trong nước, bằng áp thuế quan lên tới 50% đối với hàng nhập khẩu từ Trung Quốc, bao gồm ô tô, thiết bị gia dụng và quần áo. Brazil là một trong những quốc gia loại bỏ dần chế độ miễn thuế "de minimis" cho các bưu kiện nước ngoài có giá trị dưới 50 USD, một phần để hạn chế nhập khẩu giá rẻ từ Trung Quốc. Nước này cũng đang có kế hoạch tăng thuế nhập khẩu xe điện.

Các quốc gia khác có thể hành động theo, và các nhà phân tích dự báo sẽ có nhiều biện pháp bảo hộ hơn, bao gồm thuế quan và quy định chặt chẽ hơn, trên khắp khu vực. Chile đã tăng thuế quan và áp dụng thuế giá trị gia tăng 19% đối với các bưu kiện có giá trị thấp.

Tuy nhiên, với đòn bẩy ngày càng tăng của Trung Quốc, các quốc gia phải đối mặt với một "hành động cân bằng" trong các chính sách bảo hộ - ông Leland Lazarus, nhà sáng lập công ty tư vấn Lazarus Consulting, nhận xét. "Họ không thể đi quá xa, vì Trung Quốc có thể trả đũa bằng các biện pháp tương tự”, ông nói.

-An Huy

Categories: The Latest News

Thứ trưởng Bộ Tài chính Việt Nam hội đàm với người đồng cấp Trung Quốc

Thời báo kinh tế Việt Nam - Wed, 02/04/2026 - 14:50
Ngày 3/2, tại Thượng Hải (Trung Quốc), Đoàn công tác Bộ Tài chính Việt Nam do Thứ trưởng Trần Quốc Phương làm trưởng đoàn đã có cuộc hội đàm song phương với Thứ trưởng Bộ Tài chính Trung Quốc Liao Min...

Tại cuộc hội đàm, lãnh đạo Bộ Tài chính hai nước đã thảo luận về các chủ đề ưu tiên của Tiến trình Bộ trưởng Tài chính APEC năm 2026 do Trung Quốc làm chủ nhà, đồng thời chia sẻ kinh nghiệm và thông tin về công tác chuẩn bị của Bộ Tài chính Việt Nam trong vai trò nước chủ nhà APEC năm 2027.

Hai Thứ trưởng khẳng định tầm quan trọng của APEC nói chung và Tiến trình Bộ trưởng Tài chính nói riêng, coi đây là diễn đàn đối thoại chính sách kinh tế quan trọng, góp phần ươm mầm các ý tưởng và sáng kiến hợp tác tài chính trong khu vực.

Phía Trung Quốc cho biết Tiến trình Bộ trưởng Tài chính APEC 2026 tập trung vào bốn nhóm ưu tiên gồm: chính sách tài khóa hỗ trợ hộ gia đình; tài chính cho hạ tầng số; mở rộng cơ hội và tiếp cận tài chính toàn diện; đối thoại với lực lượng tài năng trẻ trong lĩnh vực tài chính. Các ưu tiên này gắn với định hướng phát triển kinh tế và chiến lược cải cách của Trung Quốc trong giai đoạn tới.

Trao đổi tại cuộc làm việc, Thứ trưởng Trần Quốc Phương chia sẻ những thách thức tương đồng mà Việt Nam và Trung Quốc đang đối mặt trong xây dựng và điều hành chính sách tài chính – ngân sách, đặc biệt là yêu cầu xác định và thúc đẩy các động lực tăng trưởng mới. Thứ trưởng cũng nêu quan điểm của Bộ Tài chính Việt Nam đối với từng chủ đề ưu tiên do phía Trung Quốc đề xuất.

Trong vai trò nước chủ nhà APEC 2026, ông Liao Min đã đề xuất một số định hướng để Bộ Tài chính Việt Nam tham khảo trong quá trình nghiên cứu, xây dựng các chủ đề ưu tiên cho Tiến trình Bộ trưởng Tài chính APEC 2027. Hai bên khẳng định tầm quan trọng của APEC nói chung và Tiến trình Bộ trưởng Tài chính nói riêng, coi đây là diễn đàn đối thoại chính sách kinh tế – tài chính quan trọng, góp phần hình thành các sáng kiến hợp tác trong khu vực.

Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Quốc Phương phát biểu tại buổi hội đàm.

Thứ trưởng Trần Quốc Phương chúc mừng Bộ Tài chính Trung Quốc về công tác chuẩn bị Tiến trình APEC 2026, đồng thời khẳng định Bộ Tài chính Việt Nam sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ, chia sẻ kinh nghiệm trong quá trình triển khai các hoạt động APEC năm 2026.

Bộ Tài chính Việt Nam cũng cho biết sẽ nghiên cứu, xây dựng các chủ đề ưu tiên của APEC 2027 phù hợp với định hướng chiến lược quốc gia, bảo đảm tính kế thừa và nhất quán với Kế hoạch Incheon về lộ trình hợp tác tài chính APEC giai đoạn 5 năm.

Cùng ngày, Đoàn công tác Bộ Tài chính Việt Nam đã có các buổi làm việc kỹ thuật với Bộ Tài chính Trung Quốc và Ban Thư ký APEC nhằm trao đổi kinh nghiệm về nội dung chuyên môn và công tác tổ chức, hậu cần cho các hoạt động APEC. Đây được xem là bước chuẩn bị sớm cho vai trò chủ nhà APEC 2027 của Việt Nam.

Dự kiến trong hai ngày 4–5/2/2026, Thứ trưởng Trần Quốc Phương và Đoàn công tác Bộ Tài chính Việt Nam sẽ tham dự các phiên làm việc chính thức của Hội nghị Thứ trưởng Tài chính và Phó Thống đốc Ngân hàng Trung ương APEC 2026.

-Minh Kiệt

Categories: The Latest News

Chuyến thăm Lào của Tổng Bí thư Tô Lâm tạo xung lực mới cho hợp tác toàn diện Việt Nam – Lào

Thời Báo Kinh Tế - Wed, 02/04/2026 - 14:50
Theo Đại sứ Lào tại Việt Nam Khamphao Ernthavanh, chuyến thăm cấp Nhà nước tới Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào của Tổng Bí thư Tô Lâm diễn ra ngay sau Đại hội Đảng của hai nước, mang ý nghĩa chính trị – ngoại giao đặc biệt, góp phần củng cố quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt và mở ra cơ hội hợp tác thực chất, bền vững trong giai đoạn mới.

Nhận lời mời của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Chủ tịch nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào Thongloun Sisoulith, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Tô Lâm sẽ dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam thăm cấp Nhà nước tới Lào trong hai ngày 5–6/2/2026.

Đại sứ Lào tại Việt Nam Khamphao Ernthavanh cho biết đây là sự kiện chính trị – ngoại giao quan trọng, diễn ra trong bối cảnh đặc biệt khi cả hai Đảng vừa hoàn thành Đại hội đại biểu toàn quốc của mình, mở ra giai đoạn phát triển mới trong quan hệ hai nước.

DẤU MỐC QUAN TRỌNG TRONG GIAI ĐOẠN MỚI CỦA QUAN HỆ SONG PHƯƠNG

Theo Đại sứ Khamphao Ernthavanh, chuyến thăm của Tổng Bí thư Tô Lâm diễn ra ngay sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào (tháng 1/2026) và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 1/2026). Điều này thể hiện sự coi trọng đặc biệt của hai Đảng, hai Nhà nước đối với việc duy trì và tăng cường quan hệ song phương ở cấp cao nhất.

Đại sứ Lào tại Việt Nam Khamphao Ernthavanh. Ảnh: TTXVN

Đại sứ nhấn mạnh chuyến thăm sẽ tiếp tục vun đắp, củng cố mối quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện và gắn kết chiến lược giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước Việt Nam – Lào. Đồng thời, chuyến thăm tạo động lực mới cho hợp tác toàn diện trong bối cảnh hai nước bước vào giai đoạn phát triển mới sau Đại hội Đảng.

Theo đánh giá của Đại sứ, chuyến thăm không chỉ mang ý nghĩa biểu tượng về chính trị – đối ngoại mà còn mở ra cơ hội thúc đẩy hợp tác thực chất, hiệu quả và bền vững trên nhiều lĩnh vực chiến lược, phản ánh quyết tâm chính trị sâu sắc của lãnh đạo hai nước trong việc đưa quan hệ Việt Nam – Lào tiếp tục đi vào chiều sâu.

Trong khuôn khổ chuyến thăm, theo Đại sứ Khamphao Ernthavanh, Tổng Bí thư Tô Lâm dự kiến sẽ hội đàm với Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Thongloun Sisoulith và hội kiến các nhà lãnh đạo chủ chốt khác của Đảng và Nhà nước Lào.

Lãnh đạo hai bên sẽ trao đổi sâu rộng về định hướng hợp tác song phương trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng, văn hóa và xã hội. Trong đó, hợp tác kinh tế tiếp tục được xác định là một trong những trụ cột quan trọng.

THÚC ĐẨY HỢP TÁC KINH TẾ, HƯỚNG TỚI MỤC TIÊU THƯƠNG MẠI 10 TỶ USD

Đại sứ cho biết hai bên sẽ tập trung thảo luận việc tiếp tục triển khai các thỏa thuận kinh tế chiến lược đã ký kết, đặc biệt là các dự án kết nối cơ sở hạ tầng then chốt như đường cao tốc và kết nối thương mại biên giới. Những dự án này được kỳ vọng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho lưu thông hàng hóa, thúc đẩy thương mại và đầu tư giữa hai nước.

Bên cạnh đó, lãnh đạo hai nước cũng sẽ trao đổi về việc tăng cường liên kết thương mại và đầu tư phù hợp với chiến lược phát triển bền vững của mỗi bên, qua đó thúc đẩy kết nối chuỗi giá trị song phương và khu vực, tạo nền tảng cho hợp tác kinh tế dài hạn.

Đánh giá về triển vọng hợp tác kinh tế, Đại sứ Khamphao Ernthavanh cho biết kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam – Lào đã đạt 2,6 tỷ USD trong năm 2025, phản ánh đà tăng trưởng tích cực trong những năm gần đây.

Tại kỳ họp lần thứ 48 Ủy ban liên Chính phủ Việt Nam – Lào, hai bên đã thống nhất nỗ lực tăng kim ngạch thương mại song phương khoảng 10–15% mỗi năm. Trên cơ sở đó, hai nước đang phấn đấu nâng kim ngạch thương mại lên khoảng 5 tỷ USD trong tương lai gần và hướng tới mục tiêu 10 tỷ USD trong dài hạn.

Để hiện thực hóa các mục tiêu này, theo Đại sứ, hai bên sẽ tiếp tục mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực then chốt như kết nối hạ tầng, phát triển chuỗi cung ứng và tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp, qua đó tạo động lực mới cho thương mại và đầu tư song phương.

Trong bối cảnh khu vực, Đại sứ cho rằng chuyến thăm của Tổng Bí thư Tô Lâm có ý nghĩa chiến lược khi Đông Nam Á đang đối mặt với nhiều thách thức mới về an ninh, phát triển và liên kết kinh tế. Đây là dịp để lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước khẳng định cam kết tiếp tục phối hợp chặt chẽ không chỉ trên bình diện song phương mà cả tại các diễn đàn khu vực và quốc tế.

Theo đó, hai bên sẽ trao đổi về các vấn đề hợp tác khu vực, bao gồm sự phối hợp trong khuôn khổ hợp tác tiểu vùng sông Mekong và các cơ chế đa phương khác, góp phần duy trì hòa bình, ổn định và thúc đẩy phát triển bền vững trong khu vực.

Ngay sau khi kết thúc chuyến thăm cấp Nhà nước tại Lào, Tổng Bí thư Tô Lâm dự kiến tiếp tục thăm Vương quốc Campuchia, qua đó thể hiện chủ trương nhất quán của Việt Nam trong việc tăng cường quan hệ hợp tác chiến lược với các nước láng giềng, đóng góp tích cực cho hòa bình, ổn định và phát triển của Đông Nam Á.

-Hà Lê

Categories: The Latest News

Chuyến thăm Lào của Tổng Bí thư Tô Lâm tạo xung lực mới cho hợp tác toàn diện Việt Nam – Lào

Thời báo kinh tế Việt Nam - Wed, 02/04/2026 - 14:50
Theo Đại sứ Lào tại Việt Nam Khamphao Ernthavanh, chuyến thăm cấp Nhà nước tới Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào của Tổng Bí thư Tô Lâm diễn ra ngay sau Đại hội Đảng của hai nước, mang ý nghĩa chính trị – ngoại giao đặc biệt, góp phần củng cố quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt và mở ra cơ hội hợp tác thực chất, bền vững trong giai đoạn mới.

Nhận lời mời của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Chủ tịch nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào Thongloun Sisoulith, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Tô Lâm sẽ dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam thăm cấp Nhà nước tới Lào trong hai ngày 5–6/2/2026.

Đại sứ Lào tại Việt Nam Khamphao Ernthavanh cho biết đây là sự kiện chính trị – ngoại giao quan trọng, diễn ra trong bối cảnh đặc biệt khi cả hai Đảng vừa hoàn thành Đại hội đại biểu toàn quốc của mình, mở ra giai đoạn phát triển mới trong quan hệ hai nước.

DẤU MỐC QUAN TRỌNG TRONG GIAI ĐOẠN MỚI CỦA QUAN HỆ SONG PHƯƠNG

Theo Đại sứ Khamphao Ernthavanh, chuyến thăm của Tổng Bí thư Tô Lâm diễn ra ngay sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào (tháng 1/2026) và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 1/2026). Điều này thể hiện sự coi trọng đặc biệt của hai Đảng, hai Nhà nước đối với việc duy trì và tăng cường quan hệ song phương ở cấp cao nhất.

Đại sứ Lào tại Việt Nam Khamphao Ernthavanh. Ảnh: TTXVN

Đại sứ nhấn mạnh chuyến thăm sẽ tiếp tục vun đắp, củng cố mối quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện và gắn kết chiến lược giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước Việt Nam – Lào. Đồng thời, chuyến thăm tạo động lực mới cho hợp tác toàn diện trong bối cảnh hai nước bước vào giai đoạn phát triển mới sau Đại hội Đảng.

Theo đánh giá của Đại sứ, chuyến thăm không chỉ mang ý nghĩa biểu tượng về chính trị – đối ngoại mà còn mở ra cơ hội thúc đẩy hợp tác thực chất, hiệu quả và bền vững trên nhiều lĩnh vực chiến lược, phản ánh quyết tâm chính trị sâu sắc của lãnh đạo hai nước trong việc đưa quan hệ Việt Nam – Lào tiếp tục đi vào chiều sâu.

Trong khuôn khổ chuyến thăm, theo Đại sứ Khamphao Ernthavanh, Tổng Bí thư Tô Lâm dự kiến sẽ hội đàm với Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Thongloun Sisoulith và hội kiến các nhà lãnh đạo chủ chốt khác của Đảng và Nhà nước Lào.

Lãnh đạo hai bên sẽ trao đổi sâu rộng về định hướng hợp tác song phương trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng, văn hóa và xã hội. Trong đó, hợp tác kinh tế tiếp tục được xác định là một trong những trụ cột quan trọng.

THÚC ĐẨY HỢP TÁC KINH TẾ, HƯỚNG TỚI MỤC TIÊU THƯƠNG MẠI 10 TỶ USD

Đại sứ cho biết hai bên sẽ tập trung thảo luận việc tiếp tục triển khai các thỏa thuận kinh tế chiến lược đã ký kết, đặc biệt là các dự án kết nối cơ sở hạ tầng then chốt như đường cao tốc và kết nối thương mại biên giới. Những dự án này được kỳ vọng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho lưu thông hàng hóa, thúc đẩy thương mại và đầu tư giữa hai nước.

Bên cạnh đó, lãnh đạo hai nước cũng sẽ trao đổi về việc tăng cường liên kết thương mại và đầu tư phù hợp với chiến lược phát triển bền vững của mỗi bên, qua đó thúc đẩy kết nối chuỗi giá trị song phương và khu vực, tạo nền tảng cho hợp tác kinh tế dài hạn.

Đánh giá về triển vọng hợp tác kinh tế, Đại sứ Khamphao Ernthavanh cho biết kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam – Lào đã đạt 2,6 tỷ USD trong năm 2025, phản ánh đà tăng trưởng tích cực trong những năm gần đây.

Tại kỳ họp lần thứ 48 Ủy ban liên Chính phủ Việt Nam – Lào, hai bên đã thống nhất nỗ lực tăng kim ngạch thương mại song phương khoảng 10–15% mỗi năm. Trên cơ sở đó, hai nước đang phấn đấu nâng kim ngạch thương mại lên khoảng 5 tỷ USD trong tương lai gần và hướng tới mục tiêu 10 tỷ USD trong dài hạn.

Để hiện thực hóa các mục tiêu này, theo Đại sứ, hai bên sẽ tiếp tục mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực then chốt như kết nối hạ tầng, phát triển chuỗi cung ứng và tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp, qua đó tạo động lực mới cho thương mại và đầu tư song phương.

Trong bối cảnh khu vực, Đại sứ cho rằng chuyến thăm của Tổng Bí thư Tô Lâm có ý nghĩa chiến lược khi Đông Nam Á đang đối mặt với nhiều thách thức mới về an ninh, phát triển và liên kết kinh tế. Đây là dịp để lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước khẳng định cam kết tiếp tục phối hợp chặt chẽ không chỉ trên bình diện song phương mà cả tại các diễn đàn khu vực và quốc tế.

Theo đó, hai bên sẽ trao đổi về các vấn đề hợp tác khu vực, bao gồm sự phối hợp trong khuôn khổ hợp tác tiểu vùng sông Mekong và các cơ chế đa phương khác, góp phần duy trì hòa bình, ổn định và thúc đẩy phát triển bền vững trong khu vực.

Ngay sau khi kết thúc chuyến thăm cấp Nhà nước tại Lào, Tổng Bí thư Tô Lâm dự kiến tiếp tục thăm Vương quốc Campuchia, qua đó thể hiện chủ trương nhất quán của Việt Nam trong việc tăng cường quan hệ hợp tác chiến lược với các nước láng giềng, đóng góp tích cực cho hòa bình, ổn định và phát triển của Đông Nam Á.

-Hà Lê

Categories: The Latest News

Spring Fair 2026 attracts over 32,000 visitors in two days

Buisness News │ VietnamNews - Wed, 02/04/2026 - 14:04
Revenue at booths from localities ranged from VNĐ20 million (US$775) to VNĐ1 billion in the first two days.

Việt Nam, Kazakhstan seek to strengthen financial, monetary cooperation

Buisness News │ VietnamNews - Wed, 02/04/2026 - 14:01
Governor of the National Bank of Kazakhstan (NBK) Timur Suleimenov highlighted the steady development of the traditional friendship between Việt Nam and Kazakhstan across all channels, levels and fields, particularly since the establishment of the bilateral Strategic Partnership.

Chứng khoán Việt Nam đã "vượt chuẩn" điều kiện nâng hạng của FTSE?

Thời báo kinh tế Việt Nam - Wed, 02/04/2026 - 13:54
Mặc dù việc sử dụng công ty chứng khoán toàn cầu làm đối tác duy nhất không phải là điều kiện bắt buộc để được nâng hạng lên thị trường Mới nổi thứ cấp nhưng cơ quan quản lý Việt Nam đã hoàn thành tốt yêu cầu này...

Ngày 03/02/2026, Bộ trưởng Bộ tài chính đã ban hành Thông tư số 08/2026/TT-BTC quy định một số điều trên thị trường chứng khoán. 

Một trong những điểm quan trọng của Thông tư 08 là bổ sung thêm cách thức giao dịch mới: cho phép nhà đầu tư nước ngoài thông qua các tổ chức môi giới toàn cầu để đặt lệnh giao dịch chứng khoán tới các công ty chứng khoán trong nước mà không phải mở tài khoản giao dịch cho nhà đầu tư nước ngoài tại các công ty chứng khoán trong nước.

Với cách thức này, nhà đầu tư nước ngoài vẫn đăng ký mã số giao dịch chứng khoán và mở tài khoản lưu ký chứng khoán tại các thành viên lưu ký. Tiền và chứng khoán sau khi được VSDC, ngân hàng thanh toán thanh toán cho thành viên lưu ký, thành viên lưu ký sẽ phân bổ vào tài khoản lưu ký của nhà đầu tư nước ngoài mở tại thành viên lưu ký.

Đây là một trong những điều kiện dù không phải bắt buộc nhưng quan trọng để FTSE công bố việc nâng hạng lên thị trường mới nổi sẽ có hiệu lực vào tháng 9 tới đây.

Trong kỳ thông báo tháng 10/2025, tổ chức xếp hạng thị trường FTSE Russell công bố thị trường chứng khoán Việt Nam đã đáp ứng toàn bộ các tiêu chí chính thức và được nâng hạng từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi thứ cấp.

FTSE nhấn mạnh: Mặc dù việc sử dụng công ty chứng khoán toàn cầu làm đối tác duy nhất không phải là điều kiện bắt buộc để được nâng hạng lên thị trường Mới nổi thứ cấp, IGB nhận thấy rằng nhà đầu tư chỉ số cần có khả năng “mô phỏng chỉ số” theo nguyên tắc thứ hai trong Tuyên bố Nguyên tắc (Statement of Principles).

Xét tầm quan trọng của vấn đề nêu trên đối với nhà đầu tư chỉ số, IGB xác định rằng việc giải quyết vấn đề về vai trò của các công ty chứng khoán toàn cầu trong hoạt động giao dịch là cần thiết để quá trình nâng hạng được triển khai.

Trước đó, Phó chủ tịch Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước Bùi Hoảng Hải cho hay, một trong những trọng tâm là cơ chế đối tác thanh toán bù trừ trung tâm (CCP) với mục tiêu đưa vào vận hành từ quý 1/2027. Cơ chế này sẽ góp phần củng cố niềm tin niềm tin cho nhà đầu tư nước ngoài và nâng cao sức chống chịu cho toàn bộ hệ thống tài chính. “Khi và chỉ khi vận hành đầy đủ cơ chế CCP, chúng ta mới có thể kiểm soát rủi ro hệ thống và hạn chế nguy cơ lan truyền rủi ro trên thị trường chứng khoán”, ông Hải nhấn mạnh.

Phó chủ tịch Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước cũng khẳng định cam kết của cơ quan quản lý trong việc tiếp tục mở rộng khả năng tiếp cận thị trường cho nhà đầu tư nước ngoài, bao gồm việc cho phép giao dịch trực tiếp thông qua các công ty môi giới toàn cầu và hoàn thiện cơ chế kết nối thông tin giữa các tổ chức hạ tầng thị trường.

Ông Nguyễn Thế Minh, Giám đốc Nghiên cứu và Phân tích Khối khách hàng cá nhân của Chứng khoán Yuanta cho rằng việc ban hành Thông tư 08 có thể giúp thị trường chứng khoán Việt Nam đạt được kết quả tích cực trong tháng 03/2026 và tăng thêm niềm tin về việc nâng hạng của thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ có hiệu lực trong tháng 09/2026.

Bên cạnh cho phép nhà đầu tư nước ngoài mua bán thông qua công ty môi giới toàn cầu, một số nội dung khác đáng chú ý như: Nếu nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức không thanh toán đủ tiền, họ sẽ bị tạm dừng cơ chế "không yêu cầu đủ tiền" trong 07 ngày giao dịch liên tục. Nếu vi phạm 03 lần trong vòng 30 ngày, thời gian đình chỉ sẽ lên tới 180 ngày.

Công ty chứng khoán nơi nhà đầu tư nước ngoài đặt lệnh phải báo cáo ngay cho Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và các sở giao dịch trong ngày phát sinh vi phạm thanh toán. Số cổ phiếu lỗi sẽ được chuyển về tài khoản tự doanh của công ty chứng khoán hoặc công ty chứng khoán khác theo thỏa thuận.

Theo quan sát của Yuanta, dòng vốn từ các quỹ chủ động thường sẽ có động thái vào trước khi các quỹ thụ động giải ngân vào tháng 09/2026. Do đó, kỳ vọng dòng vốn ngoại sẽ có xu hướng tích cực hơn sau động thái này. Tính từ đầu năm đến nay, nhà đầu tư nước ngoài vẫn bán ròng 9.000 tỷ đồng trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

Ở một góc nhìn khác, SGI Capital nhận định Việt Nam được FTSE chấp thuận nâng hạng vào 9/2026 là một tin vui lớn, nhưng không nên kỳ vọng dòng tiền của khối ngoại sẽ ồ ạt đổ vào thị trường.

VN-Index vẫn đang trụ vững kể cả khi nhà đầu tư ngoại bán ròng 80 nghìn tỷ từ đầu tháng 8 và 110 nghìn tỷ tính từ đầu năm. Nếu Việt Nam chính thức được nâng hạng vào 9/2026, các quỹ thụ động theo FTSE EM sẽ phân bổ khoảng 1,5 tỷ USD từ tháng 3/2027.

Lượng vốn phân bổ từ các quỹ chủ động tham chiếu theo FTSE có thể còn lớn hơn, tùy thuộc vào mức độ hấp dẫn của thị trường. Dù đây là điều tích cực nhưng với quy mô vốn hóa và thanh khoản hiện nay của thị trường chứng khoán Việt Nam, việc vài tỷ USD được khối ngoại mua trong 6-12 tháng có lẽ không còn quá quan trọng với xu hướng thị trường chung.

Điều quan trọng nhất với xu hướng tăng của thị trường chứng khoán luôn là sự ổn định của nền tảng vĩ mô tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng kinh doanh và mang lại tăng trưởng lợi nhuận bền vững cho cổ đông. Nâng hạng là điều kiện cần, còn chất lượng và mức độ hấp dẫn của hàng hóa mới là điều kiện đủ giúp chúng ta thu hút vốn ngoại.

-Thu Minh

Categories: The Latest News

DBJ "bắt tay" SSI thành lập quỹ đầu tư Japan Vietnam Capital Fund

Thời báo kinh tế Việt Nam - Wed, 02/04/2026 - 13:51
Ngân hàng Phát triển Nhật Bản (DBJ) và Chứng khoán SSI công bố thành lập Japan Vietnam Capital Fund, do DBJ và Công ty Quản lý Quỹ SSI đồng quản lý, đánh dấu 20 năm hợp tác giữa hai bên và mở rộng dòng vốn Nhật Bản vào thị trường vốn Việt Nam…

Ngày 3/2, Ngân hàng Phát triển Nhật Bản (Development Bank of Japan - DBJ) và Công ty Cổ phần Chứng khoán SSI (HOSE: SSI) đã công bố thành lập quỹ đầu tư Japan Vietnam Capital Fund do DBJ và Công ty Quản lý Quỹ SSI (SSIAM) đồng quản lý, đồng thời đánh dấu 20 năm hợp tác giữa hai bên.

Việc ra mắt quỹ diễn ra trong bối cảnh thị trường chứng khoán Việt Nam ghi nhận một số diễn biến mang tính bước ngoặt khi FTSE Russell gần đây thông báo nâng hạng Việt Nam lên nhóm thị trường mới nổi thứ cấp, cùng với việc hoàn thiện khung pháp lý nhân dịp 30 năm thành lập Ủy ban Chứng khoán Nhà nước.

Đồng thời, việc thành lập quỹ mới cũng diễn ra trong bối cảnh các công ty quản lý quỹ tại Việt Nam đang mở rộng quy mô tài sản và tìm kiếm thêm nguồn vốn từ nhà đầu tư nước ngoài. Theo SSIAM, tổng tài sản quản lý (AUM) của công ty đã đạt mốc 1 tỷ USD, phản ánh xu hướng gia tăng sự quan tâm của nhà đầu tư quốc tế đối với thị trường vốn Việt Nam, dù mức độ phân bổ vẫn còn thận trọng.

Theo thông tin công bố, Japan Vietnam Capital Fund sẽ tập trung đầu tư vào các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam, ưu tiên những công ty có nền tảng tài chính ổn định và chiến lược kinh doanh dài hạn. Mô hình đồng quản lý của quỹ kết hợp kinh nghiệm của một định chế tài chính phát triển Nhật Bản với sự hiểu biết thị trường nội địa của đơn vị quản lý quỹ trong nước.

Ông Nguyễn Đức Thông, Tổng giám đốc SSI, cho biết: “Quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Nhật Bản đã được phát triển chặt chẽ qua nhiều thập kỷ. Đặc biệt, việc hai nước nâng cấp mối quan hệ lên “Đối tác chiến lược toàn diện” vào năm 2023 đã mở ra không gian hợp tác sâu rộng và chất lượng hơn trên nhiều lĩnh vực”.

Trong bức tranh lớn ấy, sự hợp tác giữa SSI và DBJ là một điểm nhấn rất cụ thể: kết nối năng lực tài chính, kinh nghiệm quốc tế và các nguồn lực dồi dào của đôi bên để phục vụ sự phát triển bền vững của doanh nghiệp Việt Nam và Nhật Bản.

Theo ông Thông, trong giai đoạn tiếp theo, việc hợp tác sẽ được tập trung vào phát triển hạ tầng, huy động nguồn lực trung - dài hạn qua thị trường vốn, từ đó thúc đẩy tăng trưởng bền vững, phù hợp với những định hướng lớn của chính phủ Việt Nam đã đưa ra trong kỷ nguyên vươn mình.

Thông tin thêm, bà Nguyễn Ngọc Anh, Tổng giám đốc SSIAM, cho biết việc SSIAM cán mốc 1 tỷ USD AUM không phải là đích đến, mà là kết quả tích lũy của một quá trình theo đuổi kỷ luật đầu tư, chuẩn mực quản trị và định hướng tạo giá trị dài hạn. Trên nền tảng đó, Japan Vietnam Capital Fund được hình thành như một bước tiếp nối mang tính chiến lược, mở rộng không gian hợp tác giữa các định chế tài chính Việt Nam và Nhật Bản trong giai đoạn phát triển mới của thị trường vốn.

Ông Kobayashi, Thành viên Hội đồng Quản trị, Giám đốc Điều hành Ngân Hàng Phát Triển Nhật Bản (DBJ), nhận định: “Khuôn khổ hợp tác đầu tư chung lần này, với sự kết hợp giữa kiến thức chuyên môn và mạng lưới của SSI và Ngân hàng chúng tôi, có tiềm năng lớn để trở thành một nền tảng đầu tư chiến lược, cung cấp nguồn vốn cần thiết cho sự tăng trưởng mới của các doanh nghiệp Nhật Bản và Việt Nam”.

Japan Vietnam Capital Fund là quỹ private equity có quy mô 90 triệu USD, tập trung đầu tư vào các doanh nghiệp Việt Nam có nền tảng cơ bản tốt, tiêu chuẩn quản trị cao và định hướng tăng trưởng bền vững. Quỹ kế thừa kinh nghiệm hợp tác đầu tư trước đó giữa DBJ và SSIAM, tiêu biểu là Quỹ Đầu tư Tăng trưởng Việt Nam (VGIF) được thành lập năm 2020, hiện đã hoàn tất giai đoạn đầu tư.

Về phía Công ty mẹ, SSI bước vào giai đoạn phát triển mới với nền tảng tài chính vững chắc. Tại ngày 31/12/2025, SSI ghi nhận tổng tài sản 92.975 tỷ đồng và vốn chủ sở hữu 31.054 tỷ đồng, tạo dư địa cho việc mở rộng các hoạt động kinh doanh cốt lõi và nâng cao năng lực phục vụ thị trường.

-Minh Huy

Categories: The Latest News

Pages