Feed aggregator
Blog chứng khoán: Sát thương lớn
Thông tin kết quả kinh doanh quý 4/2025 đã không tạo được sức bật rõ ràng ở cổ phiếu, thậm chí không ít mã còn giảm ngược. VNI húc vào vùng 1900 điểm và gặp khó khăn trong 2 tuần qua nhưng chỉ số không đồng nhất với đa số cổ phiếu. Thế nhưng khi chỉ số quay đầu kỹ thuật, phản ứng ở cổ phiếu lại rất tệ.
Thống kê thì chỉ có gần 20% số cổ phiếu trong 2 phiên gần nhất giảm quá 5% - ngưỡng thường được xác định để cắt lỗ sớm – nhưng tới 60% thanh khoản thị trường tập trung ở đây. Điều này nghĩa là một lượng lớn tiền trên thị trường đang chịu ảnh hưởng nặng nề và áp lực bán kỹ thuật có thể còn gia tăng.
Với tâm lý khá yếu thì dù VNI chỉ lùi lại kiểm định ngưỡng hỗ trợ cứng gần nhất quanh 1800 điểm thì dư địa điều chỉnh ở cổ phiếu có thể còn lớn hơn. Thị trường đang rơi vào bối cảnh khó khăn: Cổ phiếu dù tốt, kết quả kinh doanh tích cực giá vẫn có thể giảm theo ảnh hưởng chung trong khi trước đó giá chưa tăng nhiều. Cắt lỗ sớm hay chịu đựng là bài toán khó, nhất là nếu sử dụng đòn bẩy.
Hiện tượng rã đám ở nhóm trụ khiến VNI gặp khó trong vùng 1900 điểm không mới. Điều quan trọng là nếu trụ kéo chỉ số giảm liệu thị trường có kháng cự lại được tác động chung hay không. Dòng tiền không lan tỏa và tạo sự phân hóa trong phiên cuối tuần trước cho thấy ngưỡng cản của chỉ số vẫn đóng vai trò quan trọng trong quyết định mua bán.
Nhìn vào diễn biến hôm nay, buổi sáng mức điều chỉnh điểm số khá nhẹ, cổ phiếu cũng duy trì biên độ dao động thông thường. Đến chiều khi các trụ khiến VNI mất điểm nhiều hơn, phản ứng khác hẳn: Nhà đầu tư xả hàng chủ động và hạ giá liên tục. Thống kê khoảng 40% số cổ phiếu giá đỏ phải đóng cửa ở mức Low hoặc chỉ cao hơn Low một bước giá nhờ lệnh mua lên kỹ thuật. Đó là chưa kể đến thanh khoản buổi chiều còn tăng vọt 70% so với buổi sáng. Các yếu tố này phù hợp với hành động bán tháo tạo sức ép liên tục.
Dòng tiền bắt đáy hôm nay cũng đã hoạt động, đỡ được giá ở nhiều mã hồi lên nhưng rõ ràng là mới chọn vùng giá rất thấp. Khoảng 36,5% số cổ phiếu được kéo ngược lên vượt 1% kể từ giá Low. Những cổ phiếu này có triển vọng sẽ tiếp tục được dòng tiền bắt đáy chọn lọc, chỉ là sẽ không thể nâng giá nhiều hơn vì nhu cầu bán vẫn chưa biết đã nhẹ đi hay chưa. Do đó trong phiên tới nếu có phục hồi thì khả năng cao là thanh khoản sẽ thấp.
Trong bối cảnh này, việc nên làm là thu gọn danh mục để dự phòng nguồn lực, tuyệt đối không sử dụng đòn bẩy. Một đợt hạ margin có thể tạo quán tính thêm vài phiên nữa vì tốc độ giảm giá này rất nhanh sẽ chạm đến ngưỡng cắt lỗ chủ động. Thị trường hiện không phải có tin gì xấu, chỉ là cung cầu thay đổi nên áp lực sẽ sớm qua.
Thị trường phái sinh là cứu cánh trong tình huống như hôm nay, basis đảo dương là một lợi thế. VCB và BID là ẩn số duy nhất nhưng hai mã này trong VN30 cũng bị hạn chế vốn hóa, trong khi số lớn cổ phiếu ngân hàng khác, đặc biệt CTG, TCB, VPB, MBB ảnh hưởng rất lớn. VN30 trượt dài từ 2800.xx xuống tận 2028.xx, tức là đi hết toàn bộ biên độ dự kiến. Đây là diễn biến hiếm thấy. Tuy nhiên phiên tới thị trường khả năng cao sẽ không có được biên độ như vậy nữa, thậm chí có thể phục hồi lại.
VN30 đóng cửa hôm nay tại 2032.28. Cản gần nhất ngày mai là 2040; 2047; 2058; 2070; 2087; 2097; 2103. Hỗ trợ 2027; 2017; 2012; 1997; 1987; 1980; 1967.
“Blog chứng khoán” mang tính chất cá nhân và không đại diện cho ý kiến của VnEconomy. Những quan điểm, đánh giá là của cá nhân nhà đầu tư và VnEconomy tôn trọng quan điểm cũng như văn phong của tác giả. VnEconomy và tác giả không chịu trách nhiệm về những vấn đề phát sinh liên quan đến các đánh giá và quan điểm đầu tư được đăng tải.
-iTrader
Khai mở không gian trải nghiệm đa giác quan 6Senses Gallery tại The Sensia
Với chủ đề “Sen Tỏa”, lễ khai trương 6Senses Gallery của Trí Dương Group tổ chức đã tái hiện trọn vẹn tinh thần của dự án The Sensia. Đây là lời khẳng định về chất lượng và chuẩn mực khác biệt của Chủ đầu tư trên thị trường ngay từ giai đoạn đầu.
Không gian sảnh đón 6Senses Gallery được thiết kế như điểm nhấn mở đầu sự kiện, tạo dựng sắc thái và cảm xúc xuyên suốt hành trình trải nghiệm. Ánh sáng, âm nhạc kết hợp cách sắp đặt không gian lấy cảm hứng từ hoa sen đã tái hiện tinh thần “Sen Tỏa” - biểu trưng vẻ đẹp thuần khiết, sự chắt lọc tinh hoa và chuẩn mực sống khác biệt mà The Sensia hướng tới.
Chị Lê Thu Hà (32 tuổi, nhân viên ngân hàng tại thành phố Vinh) cho biết, trải nghiệm tại 6Senses Gallery đã để lại ấn tượng tích cực. “Tôi đến sự kiện với tâm lý tìm hiểu, nhưng không gian trưng bày và cách dự án kể câu chuyện về chất lượng sống khiến tôi cảm thấy tin tưởng. Sau khi được tư vấn cụ thể về sản phẩm, pháp lý và các chính sách hỗ trợ, gia đình tôi quyết định đăng ký lựa chọn một sản phẩm tại đây”, chị Hà nói.
Khách hàng tham quan, trực tiếp trải nghiệm không gian 6Senses Gallery, lắng nghe những chia sẻ về vật liệu hoàn thiện của dự án. Nguồn ảnh: The Sensia.Không chỉ thể hiện qua ngôn ngữ không gian và nghệ thuật, “Sen Tỏa” còn được Trí Dương Group khẳng định định hướng phát triển và chiến lược vận hành trong giai đoạn tiếp theo.
“The Sensia được phát triển theo tinh thần hài hòa giữa con người và thiên nhiên, giữa nhịp sống đô thị hiện đại và không gian xanh của một bán đảo thuận tự nhiên. Và 6Senses Gallery giúp Quý vị cảm nhận triết lý đó theo cách gần gũi nhất: không chỉ nhìn mô hình, xem phối cảnh, mà là trải nghiệm bằng chính cảm xúc của mình để việc chọn một nơi an cư trở nên rõ ràng, yên tâm và có “chất” hơn”, ông Dương Hoàng Minh - Phó Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển Trí Dương chia sẻ.
Anh Nguyễn Văn Thành, chuyên viên tư vấn dự án The Sensia cho biết, không gian 6Senses Gallery giúp đội ngũ kinh doanh có thêm công cụ hiệu quả trong việc tiếp cận và thuyết phục khách hàng. “Thay vì chỉ giới thiệu bằng bản vẽ hay thông tin kỹ thuật, chúng tôi có thể dẫn dắt khách hàng trải nghiệm trực tiếp không gian, vật liệu và triết lý sống mà dự án hướng tới. Điều này giúp câu chuyện về The Sensia trở nên trực quan và dễ cảm nhận hơn”, anh Thành chia sẻ.
“TỎA” - BẢN GIAO HƯỞNG 6 GIÁC QUAN GIỮA LÒNG BÁN ĐẢONếu hình ảnh “Sen” đại diện cho tâm huyết và triết lý phát triển, thì “Tỏa” chính là khoảnh khắc những giá trị ấy được lan tỏa, chạm đến cảm xúc của khách hàng. Tại 6Senses Gallery, hình ảnh đóa sen mở dần theo từng lớp trở thành cấu trúc dẫn dắt hành trình “chạm” đa giác quan.
Hành trình mở đầu với tác phẩm nghệ thuật “Hồn Thiêng Xứ Nghệ” - điểm nhấn giàu tính biểu tượng, tái hiện chiều sâu lịch sử và bản sắc văn hóa Nghệ An qua ngôn ngữ tạo hình đương đại. Những hình ảnh quen thuộc như núi Dũng Quyết, dòng Lam Giang, Thành cổ Vinh, Bưu điện Nghệ An, Làng Sen, đồi chè Thanh Chương được sắp đặt trong một dòng chảy liền mạch, vừa gợi nhắc ký ức vùng đất, vừa thể hiện khát vọng phát triển bền vững trong tương lai.
Tiếp nối mạch cảm xúc, khu vực sa bàn mang đến cái nhìn tổng thể về không gian đô thị The Sensia. Trên nền âm thanh thư thái, không gian sống, các trục đô thị kết nối, những khoảng xanh và mặt nước được hiện lên rõ nét, cho thấy định hướng phát triển một khu đô thị hài hòa, đề cao sự cân bằng giữa kiến trúc, cảnh quan và nhịp sống cư dân.
Trải nghiệm được tiếp tục được dẫn dắt tại khu trưng bày vật liệu hoàn thiện, nơi Trí Dương Group giới thiệu các vật liệu, chất liệu tuyển chọn kỹ lưỡng, sẽ hiện diện trong từng tổ ấm. Thông qua từng chi tiết, chủ đầu tư thể hiện cam kết về chất lượng trong quá trình kiến tạo không gian sống, đồng thời củng cố niềm tin của khách hàng và nhà đầu tư.
Sa bàn The Sensia tái hiện sống động bức tranh khu đô thị The Sensia. Nguồn ảnh: The Sensia.Bức tường Danh Vọng là không gian vinh danh đội ngũ Nghệ Atelier - những con người thầm lặng đã đặt tâm huyết và tài năng vào từng chi tiết, tạo nên dấu ấn riêng của The Sensia. Đây là sự trân trọng mà Trí Dương Group dành cho những đóng góp bền bỉ, làm nên bản sắc độc bản và tinh thần Sống Nghệ Tinh Anh của dự án.
Hành trình trải nghiệm được hoàn thiện thông qua hoạt động “chạm vị” với bộ sưu tập thức uống ký danh The Sensia, lấy cảm hứng từ triết lý Ngũ Hành Tam Hợp. Những hương vị được thiết kế riêng góp phần mang lại cảm giác thư thái, giúp khách tham quan cảm nhận trọn vẹn tinh thần “Sen Tỏa”.
Khép lại hành trình, không gian chiêm nghiệm Nguyệt Lãng Liên Hoa mang đến một điểm dừng tĩnh tại, các yếu tố thiên nhiên được sắp đặt hài hòa, gợi mở sự giao hòa giữa Thiên – Địa – Nhân. Đây cũng là thông điệp về sự thịnh vượng, an yên và bền vững mà The Sensia hướng tới trong hành trình kiến tạo một chuẩn mực sống khác biệt.
6Senses Gallery tại The Sensia. Nguồn ảnh: The Sensia.Qua ngôn ngữ kiến trúc, 6Senses Gallery thể hiện sự nhất quán trong tư duy thiết kế với cảm hứng từ hoa sen được chuyển hóa tinh tế vào từng đường nét. Từ hệ mái uyển chuyển gợi hình lá sen bung nở, hệ cửa kính khổ lớn mở rộng tầm nhìn về công viên xanh, đến các chi tiết kiến trúc gắn kết hài hòa với cảnh quan, tất cả tạo nên một tổng thể cân bằng giữa truyền thống và đương đại. Dưới bàn tay tư vấn của đơn vị thiết kế Dplus, The Sensia định hình một không gian sống giàu thẩm mỹ, giao hòa với thiên nhiên, giá trị bền vững và là chuẩn mực an cư mới tại trung tâm thành phố.
-Khánh Huyền
72,2 nghìn tỷ đồng trái phiếu doanh nghiệp chậm trả trong năm 2025, chủ yếu nhóm bất động sản
Sau tháng 11 có phần trầm lắng, thị trường trái phiếu doanh nghiệp tháng 12 ghi nhận sự sôi động trở lại với 99 đợt phát hành, tổng giá trị đạt 109,8 nghìn tỷ đồng tăng 181,5% so với tháng 11, tương ứng tăng 60% so với cùng kỳ, ghi nhận mức phát hành theo tháng cao thứ hai trong năm 2025, theo thống kê vừa được thực hiện bởi Công ty chứng khoán MBS.
Nhóm Ngân hàng tiếp tục đóng vai trò dẫn dắt với tổng giá trị phát hành đạt hơn 59 nghìn tỷ đồng tăng 165% so với tháng 11, tương ứng 94% so với cùng kỳ. Nhóm Bất động sản cũng ghi nhận sự phục hồi mạnh mẽ, với quy mô phát hành tăng 118% so với tháng 11, đạt 27,9 nghìn tỷ đồng.
Các doanh nghiệp có tổng giá trị phát hành cao trong tháng bao gồm: Tập đoàn Vingroup (8,2 nghìn tỷ đồng, kỳ hạn 60 tháng, lãi suất 5,5%), Công ty TNHH Đầu tư và Phát triển Bất động sản Phát Đạt (5,4 nghìn tỷ đồng, kỳ hạn 30 tháng, lãi suất 11%), Công ty CP Vinhomes (4,5 nghìn tỷ, kỳ hạn 36 tháng, lãi suất 12%).
Hoạt động phát hành ra công chúng khởi sắc trong tháng 12 với 7 đợt phát hành, tổng giá trị đạt 4,7 nghìn tỷ đồng. Lũy kế cả năm 2025, tổng giá trị trái phiếu phát hành ra công chúng đạt gần 55,4 nghìn tỷ đồng, tăng 66,2% so với năm 2024.
Trên thị trường quốc tế, Tập đoàn Vingroup và Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố Hồ Chí Minh đã phát hành thành công 375 triệu USD trái phiếu quốc tế, qua đó nâng tổng giá trị phát hành trái phiếu quốc tế trong năm 2025 lên 875 triệu USD, tăng 483% so với năm 2024.
Lũy kế từ đầu năm, tổng giá trị trái phiếu doanh nghiệp phát hành đạt 649,3 nghìn tỷ đồng, tăng 42% so với cùng kỳ. Trong đó, phát hành riêng lẻ tiếp tục chiếm tỷ trọng chủ đạo với 91,4%, trong khi phát hành ra công chúng vẫn ở mức khiêm tốn, chiếm 8,6%.
Lãi suất trái phiếu doanh nghiệp bình quân gia quyền trong năm 2025 ước đạt khoảng 7,3%, nhích nhẹ so với mức 7,2% của năm 2024.
Ngân hàng là nhóm ngành có giá trị phát hành cao nhất với gần 426,9 nghìn tỷ đồng tăng 43,5% so với cùng kỳ chiếm tỷ trọng 65,7%. Lãi suất bình quân gia quyền ở mức 6.0%/năm, kỳ hạn bình quân 4,47 năm. Các ngân hàng có giá trị phát hành lớn nhất từ đầu năm đến nay gồm có: TCB (52,8 nghìn tỷ đồng), VPB (38,5 nghìn tỷ đồng), và OCB (37,2 nghìn tỷ đồng).
Nhóm Bất động sản chiếm tỷ trọng 23,3% với tổng giá trị phát hành đạt 151,5 nghìn tỷ đồng, tăng 64,7% so với cùng kỳ, cho thấy sự phục hồi rõ nét. Lãi suất bình quân gia quyền nhóm bất động sản là 10,1%/năm, kỳ hạn bình quân là 3,3 năm. Các doanh nghiệp phát hành giá trị lớn nhất bao gồm: Tập đoàn Vingroup (33,2 nghìn tỷ đồng), Công ty CP Vinhomes (19,5 nghìn tỷ đồng) và Công ty CP Đầu tư xây dựng Thái Sơn (10 nghìn tỷ đồng).
Trong tháng 12, giá trị trái phiếu doanh nghiệp mua lại trước hạn tăng trở lại sau ba tháng giảm liên tiếp, đạt khoảng 43,2 nghìn tỷ đồng. Trong đó, nhóm Ngân hàng chiếm 59% tổng giá trị mua lại, tương ứng 25,5 nghìn tỷ đồng, trong khi nhóm Bất động sản ghi nhận mức mua lại khoảng 13,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 30,7%.
Trong năm 2025, khoảng 322 nghìn tỷ đồng trái phiếu doanh nghiệp đã được mua lại trước hạn tăng 48,8% so với cùng kỳ, phần lớn nhờ giá trị mua lại của nhóm Ngân hàng chiếm 67,3% tổng giá trị mua lại, +34,3% so với cùng kỳ và nhóm Bất động sản chiếm 18,8% tổng giá trị mua lại, tăng 122,4% so với cùng kỳ.
Về tình hình chậm trả, tháng 12 ghi nhận 8 mã trái phiếu chậm thanh toán gốc/lãi với giá trị chậm trả khoảng 532,3 tỷ đồng. Trong đó có 1 mã trái phiếu công bố chậm trả lần đầu với tổng mệnh giá 1,4 nghìn tỷ đồng. Trong năm 2025, tổng giá trị phát hành của các trái phiếu doanh nghiệp chậm các nghĩa vụ thanh toán ước tính khoảng 72,2 nghìn tỷ đồng, chiếm khoảng 5,2% dư nợ trái phiếu doanh nghiệp của toàn thị trường, trong đó nhóm Bất động sản chiếm tỷ trọng cao nhất với 67,8%.
-Thu Minh
72,2 nghìn tỷ đồng trái phiếu doanh nghiệp trậm trả trong năm 2025, chủ yếu Bất động sản
Sau tháng 11 có phần trầm lắng, thị trường trái phiếu doanh nghiệp tháng 12 ghi nhận sự sôi động trở lại với 99 đợt phát hành, tổng giá trị đạt 109,8 nghìn tỷ đồng tăng 181,5% so với tháng 11, tương ứng tăng 60% so với cùng kỳ, ghi nhận mức phát hành theo tháng cao thứ hai trong năm 2025, theo thống kê vừa được thực hiện bởi Chứng khoán MBS.
Nhóm Ngân hàng tiếp tục đóng vai trò dẫn dắt với tổng giá trị phát hành đạt hơn 59 nghìn tỷ đồng tăng 165% so với tháng 11, tương ứng 94% so với cùng kỳ. Nhóm Bất động sản cũng ghi nhận sự phục hồi mạnh mẽ, với quy mô phát hành tăng 118% so với tháng 11, đạt 27,9 nghìn tỷ đồng.
Các doanh nghiệp có tổng giá trị phát hành cao trong tháng bao gồm: Tập đoàn Vingroup (8,2 nghìn tỷ đồng, kỳ hạn 60 tháng, lãi suất 5,5%), Công ty TNHH Đầu tư và Phát triển Bất động sản Phát Đạt (5,4 nghìn tỷ đồng, kỳ hạn 30 tháng, lãi suất 11%), Công ty CP Vinhomes (4,5 nghìn tỷ, kỳ hạn 36 tháng, lãi suất 12%).
Hoạt động phát hành ra công chúng khởi sắc trong tháng 12 với 7 đợt phát hành, tổng giá trị đạt 4,7 nghìn tỷ đồng. Lũy kế cả năm 2025, tổng giá trị trái phiếu phát hành ra công chúng đạt gần 55,4 nghìn tỷ đồng, tăng 66,2% so với năm 2024.
Trên thị trường quốc tế, Tập đoàn Vingroup và Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố Hồ Chí Minh đã phát hành thành công 375 triệu USD trái phiếu quốc tế, qua đó nâng tổng giá trị phát hành trái phiếu quốc tế trong năm 2025 lên 875 triệu USD, tăng 483% so với năm 2024.
Lũy kế từ đầu năm, tổng giá trị trái phiếu doanh nghiệp phát hành đạt 649,3 nghìn tỷ đồng, tăng 42% so với cùng kỳ. Trong đó, phát hành riêng lẻ tiếp tục chiếm tỷ trọng chủ đạo với 91,4%, trong khi phát hành ra công chúng vẫn ở mức khiêm tốn, chiếm 8,6%.
Lãi suất trái phiếu doanh nghiệp bình quân gia quyền trong năm 2025 ước đạt khoảng 7,3%, nhích nhẹ so với mức 7,2% của năm 2024.
Ngân hàng là nhóm ngành có giá trị phát hành cao nhất với gần 426,9 nghìn tỷ đồng tăng 43,5% so với cùng kỳ chiếm tỷ trọng 65,7%. Lãi suất bình quân gia quyền ở mức 6.0%/năm, kỳ hạn bình quân 4,47 năm. Các ngân hàng có giá trị phát hành lớn nhất từ đầu năm đến nay gồm có: TCB (52,8 nghìn tỷ đồng), VPB (38,5 nghìn tỷ đồng), và OCB (37,2 nghìn tỷ đồng).
Nhóm Bất động sản chiếm tỷ trọng 23,3% với tổng giá trị phát hành đạt 151,5 nghìn tỷ đồng, tăng 64,7% so với cùng kỳ, cho thấy sự phục hồi rõ nét. Lãi suất bình quân gia quyền nhóm bất động sản là 10,1%/năm, kỳ hạn bình quân là 3,3 năm. Các doanh nghiệp phát hành giá trị lớn nhất bao gồm: Tập đoàn Vingroup (33,2 nghìn tỷ đồng), Công ty CP Vinhomes (19,5 nghìn tỷ đồng) và Công ty CP Đầu tư xây dựng Thái Sơn (10 nghìn tỷ đồng).
Trong tháng 12, giá trị trái phiếu doanh nghiệp mua lại trước hạn tăng trở lại sau ba tháng giảm liên tiếp, đạt khoảng 43,2 nghìn tỷ đồng. Trong đó, nhóm Ngân hàng chiếm 59% tổng giá trị mua lại, tương ứng 25,5 nghìn tỷ đồng, trong khi nhóm Bất động sản ghi nhận mức mua lại khoảng 13,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 30,7%.
Trong năm 2025, khoảng 322 nghìn tỷ đồng trái phiếu doanh nghiệp đã được mua lại trước hạn tăng 48,8% so với cùng kỳ, phần lớn nhờ giá trị mua lại của nhóm Ngân hàng chiếm 67,3% tổng giá trị mua lại, +34,3% so với cùng kỳ và nhóm Bất động sản chiếm 18,8% tổng giá trị mua lại, tăng 122,4% so với cùng kỳ.
Về tình hình chậm trả, tháng 12 ghi nhận 8 mã trái phiếu chậm thanh toán gốc/lãi với giá trị chậm trả khoảng 532,3 tỷ đồng. Trong đó có 1 mã trái phiếu công bố chậm trả lần đầu với tổng mệnh giá 1,4 nghìn tỷ đồng. Trong năm 2025, tổng giá trị phát hành của các trái phiếu doanh nghiệp chậm các nghĩa vụ thanh toán ước tính khoảng 72,2 nghìn tỷ đồng, chiếm khoảng 5,2% dư nợ trái phiếu doanh nghiệp của toàn thị trường, trong đó nhóm Bất động sản chiếm tỷ trọng cao nhất với 67,8%.
-Thu Minh
Ào ào bán tháo cổ phiếu, VN-Index giảm mạnh nhất 7 phiên
Chỉ số đóng cửa bốc hơi 27,07 điểm tương đương -1,45%, tệ hơn rất nhiều so với phiên sáng (giảm 7,67 điểm hay -0,41%). Độ rộng cuối ngày ghi nhận 73 mã tăng/264 mã giảm, cũng xấu hơn nhiều phiên sáng (97 mã tăng/199 mã giảm).
Đặc biệt, chốt phiên sáng VN-Index mới có 49 cổ phiếu giảm quá 2% thì đóng cửa lên tới 136 mã. Chỉ riêng số này đã chiếm 60,2% tổng giá trị khớp lệnh cả sàn. Nếu tính từ biên độ giảm quá 1% thì có tới 210 mã (phiên sáng (108 mã) và chiếm 71% thanh khoản.
Như vậy đại đa số cổ phiếu chiều nay phải giao dịch ở vùng giá đỏ, phần lớn là các mức giá rất sâu. Lực bán tăng vọt cũng chủ đạo ở vùng giá này, kết hợp với diễn biến ép giá dần xuống, xác nhận có lực bán chủ động khống chế hoàn toàn.
Thị trường đột nhiên chuyển sang trạng thái bán tháo dù không có thông tin bất lợi mới nào cho thấy đây là dạng phản ứng kỹ thuật. Có thể nhà đầu tư ngày càng tin nhiều hơn vào một nhịp điều chỉnh sau khi hai tuần liền VN-Index không thể vượt qua được ngưỡng 1900 điểm. Nếu chỉ số lùi lại kiểm tra ngưỡng 1800 điểm vừa đột phá thành công hồi đầu năm thì dư địa để cổ phiếu điều chỉnh cũng khá rộng. Nhà đầu tư có thể bán trước mua lại sau để tối ưu.
Trong mức giảm hơn 27 điểm của VN-Index hôm nay có sức nặng đáng kể từ các cổ phiếu trụ. VIC giảm 3,33%, VHM giảm 2,94%, CTG giảm 2,05%, TCB giảm 2,33%, VPB giảm 2,63%, MBB giảm 3,15%, HPG giảm 1,68%, FPT giảm 2,48%... đều là các cổ phiếu thuộc Top 10 vốn hóa của VN-Index. Chỉ riêng 8 cổ phiếu này đã lấy đi hơn 19 điểm.
Rất may nhóm trụ vẫn còn VCB tăng 1,46%, BID tăng 3,35%, GAS tăng 6,94%. Tuy nhiên lực đỡ từ các mã này không thể bù lại được loạt cổ phiếu lớn giảm sâu nói trên. Đó là chưa kể tới số lượng hoàn toàn áp đảo ở phía đỏ trong nhóm blue-chips: Rổ VN30 kết phiên chỉ còn 6 mã tăng/24 mã giảm, trong đó 14 cổ phiếu giảm quá 2% và 8 mã khác giảm từ 1% tới 2%. Chỉ số đại diện rổ này còn giảm tới 2,19%, mức giảm mạnh nhất 20 phiên.
Nhìn từ góc độ thanh khoản, các cổ phiếu giao dịch lớn nhất phần lớn là giảm giá sâu.Dù vậy thị trường cũng chưa đến nổi giảm sàn hàng loạt. 11 cổ phiếu giảm hết biên độ thì chỉ có DGC thuộc nhóm blue-chips, còn lại là HAG, PET, KBC, VSC, VCG đều khớp cả trăm tỷ đồng mỗi mã. Đây là những cổ phiếu thực sự xuất hiện bán tháo dữ dội nhất. Ngoài ra BVH giảm 6,61%, GMD giảm 6,57%, VIX giảm 6,38%, GEX giảm 6,38%, DPM giảm 6,31%, VJC giảm 5,99%, NVL giảm 5,2%, TCH giảm 4,89%, VND giảm 4,46%... đều có thanh khoản từ 100 tỷ đồng tới cả ngàn tỷ (VIX).
Đây là mức thiệt hại cực kỳ lớn đối với danh mục chỉ trong một phiên giao dịch và những cổ phiếu nói trên có quy mô thanh khoản rất cao, cho thấy có nhiều nhà đầu tư tham gia. Vì vậy tâm lý tiêu cực chắc chắn sẽ tác động rất lớn.
Ở phía ngược dòng, 73 cổ phiếu xanh thực sự không có nhiều cổ phiếu đáng chú ý và cũng không mang tính đại diện. Dầu khí có tính nhóm ngành cao nhất thì cũng có vài mã: GAS tăng 6,94%, PLX tăng 4,4%, PVT tăng 2,77%, PVS tăng 1,81%, PVC tăng 1,48%, BSR tăng 0,97% là đáng kể nhất. Ngoài ra các cổ phiếu khác mạnh lẻ tẻ: VCI tăng 2,51%, VCB tăng 1,46%, BID tăng 3,35%, VNM tăng 2,53%, PNJ tăng 3,91%, GVR tăng 4,74% là những mã có thanh khoản cao trên trăm tỷ đồng.
Hai sàn niêm yết chiều nay chứng kiến thanh khoản tăng vọt 70% so với phiên sáng, trong đó HoSE tăng 72,3%. Tiếc rằng mức thanh khoản cao lên này là do bên bán chủ động hạ giá xuống, tạo hiệu ứng trượt giá rõ ràng. Rổ VN30 có tới 25 mã tụt giá so với mức chốt buổi sáng, chỉ 2 mã có cải thiện. Mở rộng ra toàn sàn HoSE, ngay con số giảm giá vượt 2% hoặc giảm quá 1% cũng đã xác nhận điều này.
Nhà đầu tư nước ngoài là điểm sáng “le lói” trong phiên chiều khi mua ròng trở lại 202 tỷ đồng, so với mức bán ròng 79 tỷ đồng buổi sáng. Khối này mua đỡ giá khá mạnh ở BID +219,4 tỷ, VNM+185,8 tỷ, VCI +148,3 tỷ, PLX +144 tỷ, GAS +120,3 tỷ, GVR +74,5 tỷ, PNJ +75,5 tỷ. Ngoài ra bắt đáy có STB +102,7 tỷ, POW +79,9 tỷ. Phía bán ròng có VCB -197,4 tỷ, DGC -107 tỷ, MWG -95,7 tỷ, VJC -78,8 tỷ, HDB -64,8 tỷ, VIC -53,8 tỷ, GEX -53,6 tỷ, VHM -50,1 tỷ.
-Kim Phong
Lãi suất liên ngân hàng tăng đồng loạt, cao nhất lên tới 6,8%/năm
Cụ thể, lãi suất qua đêm (ON) tăng 0,8 điểm phần trăm (đpt), lên mức 4,8%/năm so với 4%/năm vào ngày 18/1. Lãi suất kỳ hạn một tuần tăng 0,6 đpt lên 5,2%/năm; kỳ hạn hai tuần tăng 0,15 đpt lên 5,65%/năm; còn kỳ hạn một tháng tăng thêm 0,25 đpt lên mức 6,8%/năm.
Ngược lại, lãi suất USD trên thị trường liên ngân hàng có xu hướng giảm nhẹ. Lãi suất qua đêm ở mức 3,61%/năm, giảm 0,04 đpt so với tuần trước. Các kỳ hạn 1 tuần, 2 tuần và 1 tháng lần lượt đạt 3,68%/năm (giảm 0,02 đpt), 3,73%/năm (giảm 0,01 đpt) và 3,77%/năm (giảm 0,07 đpt).
Trên thị trường mở, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục bơm thanh khoản qua kênh cầm cố với tổng khối lượng chào thầu là 19.000 tỷ đồng, kỳ hạn 7 và 56 ngày, lãi suất duy trì ở mức 4,5%/năm. Có 17.590,79 tỷ đồng được bơm ra thông qua kênh này trong tuần, trong khi lượng đáo hạn đạt 58.116,34 tỷ đồng. Không có hoạt động phát hành tín phiếu trong tuần, do đó Ngân hàng Nhà nước đã hút ròng 40.525,55 tỷ đồng khỏi hệ thống. Chốt phiên 23/1, tổng lượng lưu hành trên kênh cầm cố là 274.522,94 tỷ đồng.
Ngân hàng Nhà nước chủ yếu hút ròng trong 3 tuần đầu năm 2026 (Nguồn: SBV, WiGroup)Trên thị trường trái phiếu Chính phủ, phiên đấu thầu ngày 21/1 ghi nhận lượng phát hành thành công đạt 14.621 tỷ đồng trên tổng 21.500 tỷ đồng gọi thầu, đạt tỷ lệ trúng thầu 68%.
Lãi suất trúng thầu có xu hướng nhích tăng, với kỳ hạn 5 năm đạt 3,30%/năm, tăng 0,1 điểm phần trăm; kỳ hạn 10 năm ở mức 4,02%/năm, tăng 0,02 đpt; và kỳ hạn 15 năm ở mức 4,12%/năm, cũng tăng 0,02 đpt so với phiên trước. Các kỳ hạn dài hơn không ghi nhận giao dịch thành công.
Hoạt động trên thị trường thứ cấp sôi động hơn, với giá trị giao dịch bình quân tăng lên 17.982 tỷ đồng/phiên, so với 15.127 tỷ đồng/phiên của tuần trước đó.
Lợi suất trái phiếu Chính phủ trên thị trường thứ cấp biến động phân hóa.
Tính đến cuối phiên 23/1, lợi suất kỳ hạn 1 năm đạt 2,98%/năm (giảm 0,02 đpt), kỳ hạn 2 năm là 3,11%/năm (tăng 0,01 đpt), 3 năm đạt 3,16%/năm (tăng 0,01 đpt), 5 năm đạt 3,61%/năm (tăng 0,01 đpt), 7 năm đạt 3,71%/năm (tăng 0,03 đpt), 10 năm giảm xuống 4,06%/năm (giảm 0,08 đpt), 15 năm còn 4,18%/năm (giảm 0,06 đpt) và 30 năm ổn định ở mức 4,34%/năm (giảm nhẹ 0,01 đpt).
-Kỳ Phong
Ấn Độ có thể sắp công bố thỏa thuận thương mại với EU, giảm mạnh thuế quan ô tô
Theo tiết lộ của nguồn tin thân cận với hãng tin Reuters, Ấn Độ dự kiến giảm mạnh thuế quan đối với ô tô nhập khẩu từ Liên minh châu Âu (EU) từ mức cao nhất 110% xuống 40%.
Động thái này được xem là bước mở cửa lớn nhất của thị trường ô tô Ấn Độ từ trước đến nay và là một phần trong thỏa thuận thương mại có thể sắp được công bố.
Nguồn tin cho biết Chính phủ Ấn Độ đã chấp thuận giảm thuế quan đối với một số mẫu ô tô nhập khẩu với số lượng giới hạn từ EU, áp dụng cho các xe có giá nhập khẩu trên 15.000 euro, tương đương 17.739 USD. Mức thuế quan này sẽ tiếp tục được hạ dần xuống 10%, qua đó nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường Ấn Độ cho các hãng xe châu Âu như hãng xe Volkswagen, Mercedes-Benz và BMW.
Ấn Độ và EU dự kiến sẽ thông báo việc đạt được thỏa thuận thương mại vào ngày thứ Ba (27/1), nguồn tin cho hay. Sau bước này, hai bên sẽ tiếp tục rà soát, chốt các điều khoản kỹ thuật trước khi tiến hành phê chuẩn thỏa thuận hiện được mô tả là "lớn nhất trong các thỏa thuận".
Thỏa thuận thương mại tự do giữa Ấn Độ và EU có thể mở rộng thương mại song phương, trong đó thúc đẩy xuất khẩu các mặt hàng như dệt may và trang sức của Ấn Độ vào thị trường châu Âu. Kể từ cuối tháng 8/2025, các nhóm hàng này của Ấn Độ chịu thuế quan 50% khi xuất khẩu vào Mỹ.
Ấn Độ hiện là thị trường ô tô lớn thứ ba thế giới về doanh số, sau Mỹ và Trung Quốc, nhưng ngành ô tô nước này được bảo hộ chặt chẽ. New Delhi đang áp thuế quan ở các mức 70% và 110% với ô tô nhập khẩu. Các mức thuế quan này thường bị các lãnh đạo doanh nghiệp - trong đó có ông Elon Musk, CEO hãng xe điện Tesla - chỉ trích.
Theo một nguồn tin, New Delhi đề xuất giảm ngay thuế quan xuống 40% đối với khoảng 200.000 xe dùng động cơ đốt trong mỗi năm.
Trong 5 năm đầu, Ấn Độ sẽ không giảm thuế quan đối với xe điện chạy pin, nhằm bảo vệ thị trường cho các doanh nghiệp ô tô nội địa như Mahindra Mahindra và Tata Motors, trong bối cảnh thị trường xe điện vốn nước này vẫn đang ở giai đoạn đầu phát triển. Sau 5 năm, xe điện dự kiến cũng sẽ được áp dụng lộ trình cắt giảm thuế quan tương tự.
Việc hạ thuế nhập khẩu được kỳ vọng sẽ tạo lực đẩy lớn cho các hãng xe châu Âu như Volkswagen, Renault và Stellantis, cùng các hãng xe sang như Mercedes-Benz và BMW. Dù đã có nhà máy tại Ấn Độ, các doanh nghiệp này vẫn gặp khó khi muốn tăng quy mô kinh doanh, một phần do thuế quan ở mức cao trong thời gian dài.
Việc Ấn Độ hạ thuế quan có thể giúp xe nhập khẩu có giá cạnh tranh hơn tại thị trường này, đồng thời tạo điều kiện để các hãng thử nhu cầu của người tiêu dùng trước khi quyết định mở rộng sản xuất tại đây.
Hiện các hãng xe châu Âu chỉ nắm thị phần chưa tới 4% tại thị trường ô tô Ấn Độ, nơi tiêu thụ khoảng 4,4 triệu xe mỗi năm. Thị trường này chủ yếu do hãng xe Suzuki Motor của Nhật Bản chi phối, trong khi hai thương hiệu nội địa Mahindra và Tata cộng lại nắm thị phần khoảng 2/3.
Trong bối cảnh doanh số thị trường ô tô Ấn Độ được dự báo đạt 6 triệu xe/năm vào năm 2030, một số doanh nghiệp đã bắt đầu chuẩn bị kế hoạch đầu tư mới. Hãng xe Renault đang trở lại Ấn Độ với chiến lược mới để tìm dư địa tăng trưởng ngoài châu Âu - nơi các nhà sản xuất ô tô Trung Quốc đang nhanh chóng tăng hiện diện. Trong khi đó, tập đoàn Volkswagen cũng đang chuẩn bị giai đoạn đầu tư tiếp theo tại Ấn Độ với thương hiệu Skoda.
-Ngọc Trang
Biến "cơn khát" điện tại Trung tâm dữ liệu AI thành động lực thúc đẩy chuyển dịch năng lượng xanh
Trong bối cảnh đó, Nhật Bản- nền kinh tế lớn thứ 4 thế giới nhận thấy cơ hội khai thác AI để thúc đẩy tăng trưởng, nhưng cũng đối diện sức ép cân bằng giữa chuyển đổi số (DX) và chuyển đổi xanh (GX).
Được Thủ tướng Nhật Bản phê duyệt từ đầu năm 2025, sáng kiến Watt-Bit Collaboration không chỉ đặt mục tiêu điều phối sự phát triển của các trung tâm dữ liệu gắn liền với năng lượng tái tạo, mà còn trở thành cú hích quan trọng thúc đẩy mở rộng các dự án năng lượng xanh và đẩy nhanh tiến độ nâng cấp lưới điện quốc gia.
THÁCH THỨC NĂNG LƯỢNG TOÀN CẦUSự trỗi dậy của các trung tâm dữ liệu AI đang đặt ra một nghịch lý: hạ tầng phục vụ cho công nghệ tiên tiến nhất của nhân loại lại có nguy cơ làm chậm trễ tiến trình khử carbon toàn cầu. Mỗi trung tâm dữ liệu AI vận hành ở quy mô lớn tiêu thụ điện năng tương đương 100.000 hộ gia đình- con số gợi nhắc đến mức độ phi thường của hạ tầng này, nhưng đồng thời báo hiệu sức ép lớn với hệ thống điện quốc gia.
Báo cáo gần đây của Liên Hợp Quốc cảnh báo rằng đến năm 2030, lượng điện tiêu thụ toàn cầu của các trung tâm dữ liệu có thể ngang bằng với mức tiêu thụ điện hiện nay của Nhật Bản.
Thực tế này dẫn đến hệ quả: nếu không đi kèm sự gia tăng tương ứng của năng lượng tái tạo, áp lực điện năng từ trung tâm dữ liệu có thể đẩy chi phí tiêu dùng lên cao, làm suy yếu độ tin cậy của lưới điện và thậm chí gia tăng tuổi thọ vận hành của các nhà máy điện hóa thạch vốn đáng lẽ phải dần loại bỏ.
Mặt khác, nếu được hoạch định và quản lý khôn ngoan, sự gia tăng nhu cầu điện năng này có thể trở thành động lực thúc đẩy các khoản đầu tư lớn vào hạ tầng năng lượng sạch, từ đó rút ngắn khoảng cách giữa mục tiêu công nghệ số và mục tiêu carbon trung tính.
Biểu đồ “Chính sách hỗ trợ của chính phủ tăng trưởng nhu cầu thị trường cho Trung tâm Dữ liệu AI tại Nhật Bản” nhấn mạnh vai trò then chốt của nhà nước trong việc tạo môi trường thuận lợi và kích thích đầu tư, từ đó thúc đẩy tăng trưởng nhu cầu trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng quan trọng cho nền kinh tế số và AI. Nguồn: SohuCâu hỏi đặt ra không phải liệu AI có tạo thêm gánh nặng cho hệ thống năng lượng toàn cầu hay không mà liệu các chính phủ và doanh nghiệp có đủ khả năng biến nhu cầu điện khổng lồ này thành chất xúc tác cho chuyển đổi xanh?.
Trước những thách thức trên, các nền kinh tế lớn bắt đầu thử nghiệm những mô hình quản trị khác nhau nhằm dung hòa giữa bùng nổ công nghệ và an ninh năng lượng.
Tại Mỹ, những thí nghiệm chính sách mang đậm màu sắc “liên bang phân tán” đang diễn ra. Ở Oregon, đạo luật Clean Energy Targets Act buộc toàn bộ hệ thống điện giảm phát thải mạnh đến 2040, và dự luật HB 2816 đang đề xuất yêu cầu trung tâm dữ liệu sử dụng 100% năng lượng không phát thải carbon.
Virginia là nơi tập trung nhiều trung tâm dữ liệu nhất tại Mỹ (khoảng 35% thị phần các trung tâm dữ liệu siêu quy mô- hyperscale). Sự tăng trưởng nhanh của ngành này đang đẩy lưới điện đến giới hạn, buộc các đơn vị như Dominion Energy cân nhắc đầu tư vào nguồn phát mới dù đạo luật Clean Energy Act yêu cầu đạt 100% năng lượng tái tạo vào giữa thế kỷ.
Tại New York, dự luật S6394 tích hợp yêu cầu minh bạch năng lượng, cấm ưu đãi từ nguồn hóa thạch và đặt lộ trình sử dụng năng lượng tái tạo cho trung tâm dữ liệu: ít nhất 1/3 đến 2030, 2/3 đến 2035, và 100% đến 2050. Mẫu số chung trong cách tiếp cận này là buộc ngành công nghệ phải gắn với năng lượng tái tạo, đồng thời xây dựng cơ chế để bảo vệ người tiêu dùng phổ thông khỏi cú sốc giá điện.
Trong khi đó, Liên minh châu Âu (EU) đang xây dựng mô hình quản trị dựa trên tính minh bạch và tiêu chuẩn hóa. Theo quy định hiệu quả năng lượng trong Đạo luật Quản trị Năng lượng (EED), từ năm 2024, các trung tâm dữ liệu trên 500 kW phải báo cáo công khai mức tiêu thụ điện, tỷ lệ năng lượng tái tạo và hiệu quả làm mát.
Ở Đức, luật Energy Efficiency Act 2023 còn đặt ra yêu cầu nghiêm ngặt hơn: từ năm 2027, tất cả trung tâm dữ liệu mới phải vận hành bằng 100% năng lượng tái tạo; các trung tâm dữ liệu hiện hữu phải tăng dần tỷ lệ năng lượng sạch và đáp ứng các chỉ số hiệu quả bắt buộc.
Đây là ví dụ điển hình về việc biến tiêu chuẩn môi trường thành ràng buộc pháp lý, tạo sức ép nhưng đồng thời cũng mở đường cho đổi mới công nghệ và đầu tư vào năng lượng sạch.
HẠ TẦNG AI VÀ SÁNG KIẾN CỦA NHẬT BẢNTrong bối cảnh dân số trong độ tuổi lao động suy giảm nhanh, Nhật Bản coi AI là công cụ chiến lược để duy trì và nâng cao năng lực cạnh tranh toàn cầu. AI không chỉ được kỳ vọng bù đắp sự thiếu hụt nhân lực thông qua tự động hóa, mà còn mở ra cơ hội tái cấu trúc nền kinh tế dựa trên năng suất cao hơn và các ngành dịch vụ giá trị gia tăng.
Đáng chú ý, Nhật Bản đặt mục tiêu xuất khẩu dịch vụ và giải pháp AI như một ngành mũi nhọn, song hành với công nghiệp ô tô và điện tử từng định hình vị thế quốc gia trong thế kỷ XX. Điều này phản ánh nỗ lực tái định vị Nhật Bản từ một “công xưởng phần cứng” sang một trung tâm dịch vụ trí tuệ toàn cầu.
Tính đến năm 2024, Nhật Bản sở hữu 219 trung tâm dữ liệu, đứng thứ 10 thế giới. Tuy nhiên, chính sự trỗi dậy của AI tạo sinh (generative AI) mới là động lực then chốt. Thị trường này dự kiến sẽ tăng gấp 15 lần vào năm 2030, kéo theo nhu cầu hạ tầng AI gấp ba lần.
Sáng kiến Điều phối Watt-Bit (WBC) là một khuôn khổ hợp tác công–tư, được thiết kế như một chiến lược tích hợp giữa điện năng (Watt) và hạ tầng thông tin (Bit), nhằm tạo nền tảng cho phát triển hạ tầng số bền vững. Nguồn: Japan NRGMột báo cáo liên ngành còn ước tính AI có thể giải phóng tới 1,1 nghìn tỷ USD năng lực sản xuất mới, tương đương 25% GDP năm 2022. Nói cách khác, đối với một nền kinh tế đang đối mặt với đình trệ tăng trưởng và già hóa dân số, AI không chỉ là công nghệ, mà còn là một chiến lược sinh tồn quốc gia.
Tuy nhiên, sự bùng nổ của AI và các trung tâm dữ liệu tại Nhật Bản đã làm nổi bật ba sự "lệch pha" giữa nhu cầu và khả năng cung ứng năng lượng tái tạo, theo Energy Tracker.
Thứ nhất là lệch pha địa lý khi khoảng 90% trung tâm dữ liệu tập trung ở Tokyo–Osaka, trong khi phần lớn nguồn năng lượng tái tạo và hạt nhân lại phân bố ở Hokkaido và Kyushu. Khoảng cách này làm gia tăng áp lực truyền tải và hạn chế hiệu quả sử dụng tài nguyên năng lượng.
Thứ hai là lệch pha ổn định khi trung tâm dữ liệu đòi hỏi nguồn điện liên tục và đáng tin cậy, trong khi năng lượng gió và mặt trời vốn mang tính gián đoạn. Sự không tương thích này tạo ra thách thức lớn trong bảo đảm an ninh năng lượng số.
Thứ ba là lệch pha tiến độ khi một trung tâm dữ liệu thường hoàn thành trong vòng 1–2 năm, trong khi các dự án năng lượng tái tạo mất từ 1–15 năm tùy công nghệ (ngắn nhất là điện mặt trời, dài nhất là thủy điện và hạt nhân).
Khoảng trễ này làm suy yếu tính đồng bộ giữa cung và cầu, đẩy Nhật Bản vào thế phải dựa tạm vào các nguồn điện hóa thạch như than và LNG. Điều này, nếu không được điều chỉnh, có nguy cơ triệt tiêu mục tiêu khử carbon vốn được đặt ở vị trí trung tâm trong Chiến lược GX (Green Transformation).
So với Mỹ và EU, Nhật Bản mới ở giai đoạn định hình khung chiến lược nhằm dung hòa giữa bùng nổ hạ tầng AI và mục tiêu khử carbon. Trung tâm của nỗ lực này là sáng kiến Watt-Bit Collaboration dưới thời Thủ tướng Shigeru Ishiba, một khuôn khổ công–tư do Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp (METI) cùng Bộ Nội vụ và Truyền thông (MIC) khởi xướng từ năm 2025, nhằm kết nối hạ tầng năng lượng và hạ tầng dữ liệu trên cơ sở đồng bộ hóa quy hoạch trung tâm dữ liệu với các dự án điện sạch.
Cách tiếp cận của sáng kiến được thiết kế theo ba giai đoạn. Giai đoạn ngắn hạn (2–3 năm): tập trung xây dựng trung tâm dữ liệu quanh hạ tầng điện hiện hữu và lựa chọn các “vùng chào đón” (welcome zones).
Trong trung hạn (đến 2030): đồng phát triển các cụm trung tâm dữ liệu quy mô gigawatt song hành với dự án năng lượng tái tạo quy mô lớn. Giai đoạn sau 2035: phân tán trung tâm dữ liệu khỏi khu vực đô thị, giảm tải cho lưới điện trung tâm, đồng thời phát triển hạ tầng cáp ngầm quốc tế để nâng cao vị thế Nhật Bản trong chuỗi giá trị số toàn cầu.
Tầm nhìn mà Tokyo theo đuổi là phân tán trung tâm dữ liệu khỏi các đô thị lớn như Tokyo–Osaka, đồng thời gắn chúng với các “welcome zones” tại những khu vực giàu tiềm năng tái tạo như Hokkaido và Kyushu. Watt-Bit không chỉ là chính sách năng lượng mà còn là một nỗ lực tích hợp Chuyển đổi số (DX) với Chuyển đổi xanh (GX), qua đó biến AI từ gánh nặng tiêu thụ điện thành động lực thúc đẩy năng lượng tái tạo.
Tuy nhiên, thành công của Watt-Bit Collaboration phụ thuộc vào một vấn đề mang tính nền tảng: định nghĩa thế nào là “năng lượng sạch”. Hiện tại, chính phủ Nhật sử dụng thuật ngữ “điện khử carbon” (decarbonised electricity), vốn được đưa vào các phiên đấu thầu điện dài hạn từ năm 2023.
Cách định nghĩa này bao trùm không chỉ năng lượng tái tạo như gió, mặt trời, thủy điện, mà còn mở rộng sang nhiệt điện LNG hoặc than kết hợp công nghệ thu giữ carbon (CCS), cũng như nhà máy đồng đốt hydro hoặc amoniac với nhiên liệu hóa thạch.
Vấn đề là: nếu tiếp tục duy trì cách hiểu rộng rãi này, Watt-Bit Collaboration có nguy cơ biến thành công cụ hợp pháp hóa cho nhiên liệu hóa thạch “cải tiến” hơn là một cơ chế thúc đẩy chuyển dịch triệt để sang năng lượng tái tạo.
Điều này không chỉ đi ngược với kỳ vọng của Liên Hợp Quốc về 100% năng lượng tái tạo cho trung tâm dữ liệu vào năm 2030, mà còn có thể đặt Nhật Bản vào thế đối lập với chuẩn mực khắt khe của châu Âu, nơi định nghĩa “năng lượng sạch” gần như đồng nghĩa với “năng lượng tái tạo”.
-Huy Nguyễn
Châu Âu cần Một nghìn tỷ USD để vực dậy ngành công nghiệp quốc phòng
Những phát biểu của Tổng thống Donald Trump về việc sáp nhập Greenland vào Mỹ đang khiến các nước đồng minh của Mỹ trong Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) lo ngại và đặt ra câu hỏi: nếu quan hệ xuyên Đại Tây Dương rạn nứt sâu hơn, liệu châu Âu có đủ năng lực tự sản xuất vũ khí để tác chiến mà không phải dựa vào Mỹ hay không.
CẦN KHOẢNG MỘT NGHÌN TỶ USD
Giới phân tích và các nghị sĩ nhìn chung cho rằng châu Âu có thể tiến tới mục tiêu này, nhưng sẽ cần thời gian. Ngành công nghiệp quốc phòng của khu vực này, vốn bị đánh giá là ì ạch trong nhiều năm, đang đẩy mạnh sản xuất máy bay không người lái, xe tăng, đạn dược và các loại vũ khí khác với tốc độ nhanh nhất trong nhiều thập kỷ. Điều này diễn ra trong bối cảnh châu Âu đối mặt căng thẳng với Nga và bất đồng gia tăng trong quan hệ với Mỹ.
Tuy nhiên, các nhà phân tích cho rằng châu Âu vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết. Theo Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (IISS), chi phí để thay thế trang bị và lực lượng Mỹ đang hiện diện tại châu Âu là khoảng 1 nghìn tỷ USD. Khu vực này cũng chưa tự chủ ở một số năng lực then chốt, gồm máy bay chiến đấu tàng hình, tên lửa tầm xa và năng lực tình báo vệ tinh.
Những năm gần đây, sản xuất quốc phòng ở châu Âu có xu hướng gia tăng nhưng ngành này vẫn phân mảnh nên quy mô và năng lực khó sánh kịp với các doanh nghiệp Mỹ - nhóm được hậu thuẫn bởi ngân sách quân sự lớn nhất thế giới.
Dù vậy, làn sóng tăng chi tiêu quân sự trên khắp châu Âu, cùng việc đẩy mạnh đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, đang kéo châu lục này đến gần mục tiêu tự chủ về năng lực tác chiến. Ở một số mảng, tiến độ diễn ra nhanh hơn dự kiến.
Vào cuối năm 2024, doanh nhân Clemens Kurten lập một công ty cung cấp máy bay không người lái cho quân đội các nước châu Âu khi thậm chí chưa có thiết kế hoàn chỉnh hay đội ngũ nhân sự. Nhưng chỉ sau một năm, công ty Đức có tên Twentyfour Industries này đã bán ra hàng trăm thiết bị.
Sức ép với châu Âu trong việc tìm cách ứng phó với hướng đi của Mỹ đang tăng lên, không chỉ xoay quanh Greenland mà còn liên quan tới tương lai của cấu trúc an ninh rộng hơn đã gắn kết Washington với châu Âu từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai.
“Nếu Mỹ bắt đầu giảm hiện diện trên lục địa châu Âu... dĩ nhiên chúng tôi phải bắt đầu tính toán cách xây dựng một ‘trụ cột châu Âu’ trong NATO”, ông Andrius Kubilius, quan chức Liên minh châu Âu (EU) phụ trách thúc đẩy phục hồi ngành công nghiệp quốc phòng, phát biểu hôm thứ Tư tuần trước tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) ở Davos, Thụy Sỹ.
Theo ông Kubilius, điều đó đồng nghĩa châu Âu phải từng bước tự chủ về hệ thống bảo đảm năng lực tác chiến mà hiện vẫn phụ thuộc vào Mỹ, như hệ thống vệ tinh.
Thời gian qua, Tổng thống Trump nhiều lần thúc giục châu Âu tăng chi tiêu quốc phòng. Trong bối cảnh Mỹ ngày càng dồn trọng tâm sang Mỹ Latin và châu Á, một số nhà phân tích cho rằng Washington có thể điều chuyển một phần khí tài khỏi châu Âu.
Gần đây, các bất đồng giữa Nhà Trắng và châu Âu về vấn đề Ukraine, rồi tới Greenland, càng làm dấy lên lo ngại rằng Mỹ có thể ngừng cung cấp vũ khí do Mỹ sản xuất, thậm chí hạn chế châu Âu sử dụng cả những hệ thống đã mua từ Mỹ.
Cũng tại Davos vào thứ Tư tuần trước, Tổng thống Phần Lan Alexander Stubb cho biết phi đội tiêm kích do Mỹ sản xuất, đang phục vụ trong không quân Phần Lan, khó có thể vận hành lâu dài nếu thiếu phụ tùng thay thế và các bản cập nhật phần cứng từ Mỹ.
Vì vậy, Phần Lan phải đặt niềm tin rằng Washington sẽ tiếp tục hỗ trợ để các máy bay này duy trì hoạt động - và ông Stubb cho rằng điều đó cũng mang lại lợi ích cho Mỹ.
TĂNG TỐC TỰ CHỦ QUỐC PHÒNG
Theo nhiều lãnh đạo doanh nghiệp quốc phòng châu Âu, nỗ lực xây dựng một ngành công nghiệp quốc phòng tự chủ ở châu lục này đang ngày càng tăng tốc.
Ông Kurten, giám đốc điều hành Twentyfour Industries, cho biết công ty có thể nhanh chóng đi vào sản xuất nhờ nhà đầu tư châu Âu sẵn sàng rót vốn cho doanh nghiệp quốc phòng, nguồn nhân lực chấp nhận gia nhập lĩnh vực này và các cơ quan mua sắm công ra quyết định nhanh hơn.
“Cách đây 5 năm, điều này không thể xảy ra”, ông Kurten nói với tờ báo Wall Street Journal. Trước khi cùng một cộng sự thành lập Twentyfour Industries, ông làm tư vấn về máy bay không người lái.
Các lãnh đạo doanh nghiệp cho rằng xu hướng này còn được tiếp sức bởi đợt tăng chi tiêu quân sự mạnh nhất của châu Âu kể từ thời Chiến tranh Lạnh.
Theo ước tính của các nhà phân tích tại công ty chứng khoán Bernstein, năm ngoái châu Âu chi khoảng 560 tỷ USD cho quốc phòng, gấp đôi so với 10 năm trước. Bernstein dự báo vào năm 2035, chi tiêu quốc phòng của khu vực này sẽ đạt mức tương đương 80% của Mỹ, tăng từ mức dưới 30% vào năm 2019.
Nếu châu Âu chuyển sang ưu tiên vũ khí tự sản xuất, ngành quốc phòng Mỹ có thể chịu tác động lớn. Theo nhóm nghiên cứu Agency Partners có trụ sở tại Anh, châu Âu đóng góp tới 10% doanh thu của các nhà sản xuất quốc phòng Mỹ.
Một số doanh nghiệp châu Âu đã tăng tốc nâng cao công suất. Hãng công nghiệp quốc phòng Rheinmetall của Đức đã mở hoặc đang xây dựng tổng cộng 16 nhà máy mới kể từ khi Nga mở chiến dịch quân sự tại Ukraine vào tháng 2/2022. Tập đoàn quốc phòng Leonardo của Italy cũng tăng gần 50% nhân sự lên 64.000 người chỉ trong hơn 2 năm.
Vào mùa xuân năm ngoái, MBDA - nhà sản xuất tên lửa lớn nhất châu Âu - đã nâng công suất lên tên lửa phòng không tầm ngắn Mistral lên 40 quả/tháng, từ 10 quả trước khi xung đột ở Ukraine nổ ra, đồng thời tăng gấp đôi sản lượng tên lửa chống tăng lên 40 quả/tháng.
Các nhà sản xuất máy bay không người lái như Twentyfour Industries đang mọc lên trên khắp châu Âu. Trong mảng robot không người lái trên mặt đất, Estonia - một quốc gia nhỏ ở vùng Baltic 0 hiện là nước dẫn đầu thị trường toàn cầu.
Ở một số hạng mục, năng lực sản xuất của châu Âu thậm chí đã vượt Mỹ. Riêng hãng Rheinmetall dự kiến sớm đạt công suất 1,5 triệu quả đạn pháo cỡ 155 mm mỗi năm, cao hơn tổng công suất của toàn ngành công nghiệp quốc phòng Mỹ.
Châu Âu cũng gần như tự chủ nguồn cung xe bọc thép, trong đó xe tăng Leopard của Đức là dòng phổ biến nhất thế giới. Khu vực này có thể tự sản xuất tàu mặt nước và tàu ngầm với các mẫu tàu này bán chạy trên thị trường quốc tế hơn các sản phẩm tương đương của Mỹ.
Xe tăng Leopard của Lục quân Ba Lan trong cuộc tập trận của các nước NATO tại một căn cứ quân sự ở Latvia năm ngoái - Ảnh: EPA/ShutterstockMột số tín hiệu cho thấy vài quốc gia châu Âu đang nghiêng về vũ khí do khu vực sản xuất thay vì hàng do Mỹ chế tạo. Giai đoạn 2020-2024, 79% nhập khẩu quốc phòng của Đan Mạch đến từ Mỹ. Tuy nhiên năm ngoái, khi ông Trump gia tăng sức ép với Đan Mạch liên quan tới Greenland, hơn một nửa kim ngạch nhập khẩu mua sắm vũ khí của nước này lại đến từ châu Âu. Copenhagen phủ nhận đây là chủ trương có chủ đích.
CÒN NHIỀU VIỆC PHẢI LÀM
Tuy nhiên, ông Pieter Wezeman, nhà nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu Hòa bình Quốc tế Stockholm (SIPRI), cho rằng châu Âu vẫn chưa đạt được bước ngoặt thực sự trong việc phân ly với Mỹ. Một số quan chức quốc phòng châu Âu cũng cho rằng doanh nghiệp quốc phòng trong khu vực chưa phát triển đủ nhanh, đặc biệt ở lĩnh vực hàng không - vũ trụ.
Hãng chế tạo máy bay Dassault của Pháp hiện còn tồn đọng 220 đơn đặt hàng tiêm kích Rafale. Năm ngoái, công ty này bàn giao trung bình 2 chiếc mỗi tháng, trong đó mỗi máy bay mất khoảng 3 năm để hoàn thiện. Dassault cho biết năm nay sản lượng của công ty dự kiến tăng lên 3 chiếc mỗi tháng.
Ông Roberto Cingolani, giám đốc điều hành tập đoàn quốc phòng Leonardo, cho rằng một rào cản lớn khiến châu Âu tái vũ trang chậm là tình trạng phân mảnh của ngành này.
“Quốc gia nào cũng muốn có xe tăng riêng, máy bay riêng, tàu chiến riêng. Nhưng việc đầu tư, nghiên cứu - phát triển và mua sắm bị chia nhỏ như vậy không có lợi cho tiến trình tái thiết ngay quốc phòng của khu vực”, ông Cingolani nói trong một cuộc phỏng vấn với Wall Street Journal
Bên cạnh đó, châu Âu cũng tồn tại khoảng trống năng lực. Theo các nhà phân tích, khu vực này cần ít nhất 10 năm nữa mới có thể tự sản xuất được tiêm kích tàng hình. Châu Âu cũng tụt hậu hơn so với Mỹ về tình báo vệ tinh và hầu hết các nước đang dựa vào doanh nghiệp Mỹ trong mảng điện toán đám mây để vận hành và quản lý dữ liệu chiến trường.
Dù Đức phát minh tên lửa đạn đạo từ hơn 80 năm trước, châu Âu hiện hầu như không còn năng lực sản xuất loại vũ khí quan trọng này, cũng như các dòng tên lửa tầm rất xa khác. Vì vậy, hệ thống phòng thủ tên lửa tầm xa của Mỹ vẫn là lựa chọn hàng đầu của nhiều quốc gia châu Âu.
Một số quốc gia châu Âu đang tìm cách lấp các khoảng trống năng lực. Nhiều dự án được triển khai nhằm phát triển tên lửa có tầm bắn trên 1.000 dặm, tương đương khoảng 1.600 km, sau năm 2030. Anh gần đây cũng thiết lập chòm vệ tinh quân sự riêng, thay vì tiếp tục phụ thuộc vào Mỹ, trong khi một số nước châu Âu khác tăng hiện diện trên quỹ đạo. Tổng thống Pháp Emmanuel Macron gần đây cho biết 2/3 nguồn tình báo vệ tinh của Ukraine hiện đến từ Pháp.
“Châu Âu có thể tự trang bị vũ khí không? Có, nhưng cần thời gian. Quy mô hiện tại chưa đủ lớn và ở một số mảng, chất lượng cũng chưa tốt bằng sản phẩm của Mỹ”, ông Matthew Savill, giám đốc tại viện nghiên cứu Royal United Services Institute (RUSI), nhận xét.
-Hoài Thu
Những gì xảy ra trong 3 tuần đầu năm 2026 có thể định hình lại thế giới
Theo tờ báo Wall Street Journal, có những thiết lập đã giữ thế giới tương đối ổn định trong suốt một thế hệ qua: Những giá trị chung tạo ra sự gắn kết giữa các nước phương Tây; hoạt động sản xuất toàn cầu mọi sản phẩm từ linh kiện bán dẫn tới dầu lửa khiến cho các mối quan hệ ràng buộc về kinh tế là điều không thể tránh khỏi; và sự độc lập của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) cùng nguồn tiền tiết kiệm bất tận từ châu Á đảm bảo hệ thống tài chính của thế giới không trệch hướng.
Nhưng trong tháng 1/2026 này, tất cả những thiết lập đó đã trở nên lung lay, có thể định hình lại bức tranh địa chính trị và kinh tế toàn cầu trong những năm tới.
MỐI QUAN HỆ MỸ - CHÂU ÂU CĂNG THẲNG
Việc Tổng thống Donald Trump dùng thuế quan gây sức ép lên Liên minh châu Âu (EU) nhằm giành quyền kiểm soát đảo Greenland từ Đan Mạch - một nước đồng minh trong Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) - cho thấy mối quan hệ giữa hai bờ Đại Tây Dương đã trở nên căng thẳng hơn bao giờ hết.
Dù đã rút lại kế hoạch áp thuế quan nói trên, ông Trump vẫn giữ nguyên ý định sáp nhập Greenland và chính quyền của ông cũng không loại trừ khả năng sử dụng tới các biện pháp quân sự để đạt được mục đích. Giới phân tích nhận định rằng nếu Mỹ sáp nhập Greenland, điều đó đồng nghĩa đặt dấu chấm hết cho NATO - liên minh quân sự đã tồn tại gần 8 thập kỷ.
Hiện tại, NATO vẫn đứng vững và mối quan hệ thương mại Mỹ - EU chưa đi trệch hướng, song những biến động trên thị trường tài chính gần đây phản ánh mối lo ngại của nhà đầu tư trước nguy cơ suy yếu của các mối liên kết chính trị và kinh tế giữa Mỹ với phần còn lại của thế giới phương Tây.
MỐI LO VỀ “CƠN KHÁT” TÀI NGUYÊN
Nhu cầu tìm kiếm các nguồn tài nguyên thiên nhiên nhằm đáp ứng phát triển kinh tế trong nước được xem là động lực để Trung Quốc gia tăng ảnh hưởng ở nhiều khu vực trên thế giới, trong đó có Mỹ Latin. Tuy nhiên, việc Tổng thống Trump mở chiến dịch ở Venezuela và bắt Tổng thống Nicolas Maduro có thể khiến Trung Quốc mất đi một đồng minh quan trọng ở khu vực này.
Trước đây, một số tổng thống Mỹ đã từng can thiệp vào Mỹ Latin và ưu tiên thiết lập một chính phủ thân Mỹ. Tuy nhiên, ông Trump ưu tiên việc giành quyền kiểm soát nguồn tài nguyên dầu lửa của Venezuela và về cơ bản giữ nguyên bộ máy lãnh đạo của nước này, ngoại trừ việc lật đổ ông Maduro.
Đối mặt với sự nổi lên mạnh mẽ của Trung Quốc trong những năm qua, đã có những thời điểm, dường như các nền kinh tế phương Tây xích lại gần nhau, với sự dẫn đầu của Mỹ, để đối trọng với Trung Quốc. Sau khi ông Trump khởi xướng cuộc chiến thương mại trong nhiệm kỳ cầm quyền đầu tiên, các nước phương Tây đã có những động thái nhằm giảm bớt phụ thuộc vào Trung Quốc - hay còn gọi là “phân ly” (decoupling) khỏi Trung Quốc. Một trong những động thái như vậy là việc Canada vào năm 2024 tăng thuế quan đối với ô tô điện nhập khẩu từ Trung Quốc lên 100%, bằng với mức thuế mà Mỹ áp dụng.
Nhưng khi trở lại Nhà Trắng ở nhiệm kỳ thứ hai, ông Trump dường như không quan tâm nhiều đến việc tạo ra một mặt trận thống nhất giữa các nước phương Tây trong cuộc đối đầu với Trung Quốc. Ông đã mau chóng áp thuế quan mạnh tay lên Canada và thậm chí đưa ra ý tưởng đưa Canada trở thành một tiểu bang của Mỹ.
Trong bối cảnh đó, Canada cũng có sự dịch chuyển về chính sách. Cách đây hai tuần, Thủ tướng Mark Carney của nước này đạt một thỏa thuận với Trung Quốc trong đó Ottawa giảm thuế quan cho ô tô điện Trung Quốc và Bắc Kinh hạ thuế quan cho hạt cải dầu Canada.
Thỏa thuận này, dù chưa phải là lớn, cho thấy các quốc gia có thể vẫn sẵn sàng thúc đẩy quan hệ với Trung Quốc để phòng rủi ro quan hệ của họ với Mỹ xấu đi. Tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) ở Davos, Thụy Sỹ, ông Carney nói: “Không phải đối tác nào cũng có chung các giá trị với chúng tôi”.
Tuy nhiên, Tổng thống Trump vào hôm 24/1 đã tuyên bố sẽ áp thuế quan 100% lên Canada nếu nước này đạt thỏa thuận thương mại với Trung Quốc. Sau đó, Thủ tướng Carney phản hồi rằng Canada không hề có ý định như vậy.
NHỮNG BƯỚC TIẾN VỀ TỰ CHỦ CÔNG NGHỆ CỦA MỸ
Nhiều người coi con chip là "dầu mỏ mới". Nếu vậy, thỏa thuận của Mỹ với Đài Loan trong tháng này có thể so sánh với việc Mỹ bắt đầu cuộc cách mạng khai thác dầu đá phiến hai thập kỷ trước.
Trong thỏa thuận nói trên, Bộ Thương mại Mỹ cho biết công ty sản xuất chip TSMC của Đài Loan sẽ đầu tư 250 tỷ USD vào hoạt động sản xuất ở Mỹ. Đổi lại, Mỹ sẽ cắt giảm thuế quan đối với Đài Loan và miễn thuế hoàn toàn cho các công ty như TSMC đầu tư vào Mỹ.
Đây không chỉ là những nhà máy thông thường, mà sẽ sản xuất các chip tiên tiến thiết yếu cho trí tuệ nhân tạo (AI), viễn thông và các ứng dụng di động do Nvidia, Qualcomm và Apple thiết kế. Việc sản xuất các chip như vậy từ lâu đã tập trung ở Đài Loan và Hàn Quốc, và việc Mỹ thiếu năng lực sản xuất này là một điểm yếu lớn.
Thỏa thuận nói trên cho thấy hoạt động sản xuất có thể được đưa về Mỹ nếu điều kiện phù hợp. Đài Loan sẽ vẫn là nhà cung cấp chip chủ đạo cho Mỹ trong tương lai gần, nhưng theo thời gian, Mỹ sẽ dần trở nên chủ động hơn về nguồn cung chip, tương tự như cách dầu đá phiến giúp cho Mỹ tự chủ về năng lượng.
CUỘC ĐỐI ĐẦU GIỮA ÔNG TRUMP VÀ FED
Trước kia, đã từng có nhiều tổng thống Mỹ gây sức ép đối với Fed về vấn đề lãi suất, nhưng chưa ai quyết liệt như ông Trump. Sau nhiều tháng chính quyền ông Trump liên tục “tấn công” Fed, Bộ Tư pháp nước này đã có một bước đi ít ai ngờ tới là mở một cuộc điều tra hình sự nhằm vào Chủ tịch Fed Jerome Powell, liên quan tới dự án cải tạo trụ sở Fed. Ông Powell nói rằng cuộc điều tra này chỉ là cái cớ để làm suy yếu sự độc lập của Fed - ngân hàng trung ương lớn nhất thế giới.
Cuộc đối đầu này khiến giới đầu tư lo lắng, bởi từ lâu họ luôn xem sự độc lập của Fed là “hòn đá tảng” đối với nền kinh tế và thị trường tài chính toàn cầu.
Không phải mọi ý muốn của chính quyền ông Trump về Fed đều dễ dàng trở thành hiện thực. Chẳng hạn, Tòa án Tối cao Mỹ gần đây phát tín hiệu không ủng hộ việc chính quyền ông Trump tìm cách sa thải Thống đốc Fed Lisa Cook dựa trên cáo buộc bà gian lận trong hồ sơ vay thế chấp nhà.
Tuy nhiên, giới phân tích nhận định rằng trong thời gian tới, Fed có thể sẽ có nhiều đổi khác. Vị thống đốc tiếp theo của Fed, người sẽ nhậm chức sau khi ông Powell hết nhiệm kỳ vào tháng 5/2026, có thể sẽ chịu áp lực tương tự như ông Powell nếu không thuận theo ý muốn của Tổng thống Trump.
ẢNH HƯỞNG TỪ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NHẬT BẢN
Trong khi tin tức về Greenland chiếm lĩnh các dòng tít báo, các kỳ vọng liên quan tới chính sách tài khóa và tiền tệ của Nhật Bản cũng góp phần tạo ra những lớp sóng ngầm bên dưới thị trường tài chính toàn cầu.
Trong nhiều thập kỷ, Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) đã dùng lãi suất âm và hoạt động mua vào trái phiếu chính phủ để chống lại tình trạng lạm phát èo uột gần 0. Tính đến tháng 12 vừa qua, lạm phát ở nước này duy trì cao hơn mục tiêu 2% của BOJ trong 45 tháng liên tiếp. Do đó, BOJ đã kết thúc lãi suất âm vào đầu năm ngoái và đến nay đã có 4 lần tăng lãi suất, đưa lãi suất ngắn hạn lên mức 0,75% - mức cao nhất trong 30 năm.
Tuần trước, Thủ tướng Sanae Takaichi đã giải tán Hạ viện Nhật Bản để tiến hành bầu cử sớm vào đầu tháng 2, với cam kết sẽ cắt giảm thuế. Lập trường chính sách tài khóa mở rộng của bà Takaichi khiến giới đầu tư lo ngại rằng mức nợ khổng lồ của Chính phủ Nhật Bản sẽ trở nên không bền vững.
Đây là một vấn đề khiến thế giới lo ngại, bởi Nhật Bản là một trong những nước chủ nợ lớn nhất thế giới. Các nhà đầu tư tư nhân và chính phủ của nước này đang nắm lượng trái phiếu chính phủ trị giá 1,2 nghìn tỷ USD. Cùng với đó, Chính phủ Nhật cũng vay nợ nhiều để chi tiêu, nên khi lãi suất tăng, gánh nặng nợ nần đó càng lớn hơn.
Theo ước tính của chuyên gia Marcel Kasumovich từ công ty nghiên cứu Evenflow Macro, trong vòng 1 thập kỷ tới, Chính phủ Nhật Bản sẽ phải đi vay với lãi suất cao hơn so với Chính phủ Mỹ, Đức hay Thụy Sỹ. Những diễn biến về tỷ giá đồng yên và lợi suất trái phiếu chính phủ Nhật gần đây nói lên một điều rằng BOJ sẽ phải tăng lãi suất thêm nhiều - ông Kasumovich nhận định.
Một khi lãi suất của Nhật Bản tăng, các quốc gia đi vay nợ nhiều khác sẽ cảm nhận rõ áp lực phải tăng lãi suất để thuyết phục nhà đầu tư Nhật Bản tiếp tục mua trái phiếu của họ. Mỹ - quốc gia có chính phủ vay nợ nhiều nhất thế giới - sẽ đặc biệt dễ bị ảnh hưởng.
-An Huy
Tiền tổ chức trong nước gom ròng gần 2.500 tỷ trong tuần qua
VN-Index kết thúc tuần 4/2026 tại 1.870,79 điểm, giảm nhẹ -8,34 điểm (-0,44%), cho thấy nhịp điều chỉnh kỹ thuật sau giai đoạn tăng nóng và tích lũy ở vùng đỉnh lịch sử trong các tuần trước đó; thanh khoản giảm sâu (-22,7%) giá trị giao dịch khớp lệnh bình quân trên HOSE đạt 30.109 tỷ đồng/phiên, giảm -22,72% so với tuần 3/2026.
Điều này cho thấy nhịp điều chỉnh trong tuần 4/2026 chủ yếu mang tính kỹ thuật, diễn ra trong bối cảnh áp lực chốt lời ngắn hạn gia tăng, khi VN-Index vẫn duy trì trên vùng nền giá cao nhưng thị trường chưa xuất hiện thêm động lực mới để bứt phá.
Trong tuần 4/2026, tạo lực cản đáng kể lên chỉ số là nhiều cổ phiếu trụ, đáng chú ý là HPG, VNM, VCB, VPB, MSN, và nhóm Chứng khoán (VND, SSI, HCM, VIX).
Ở chiều tích cực, đà tăng tại một số cổ phiếu vốn hóa lớn như VIC, cùng các mã Ngân hàng (STB, TCB) và Công nghệ Thông tin (FPT) đã đóng vai trò nâng đỡ, giúp hạn chế mức giảm chung của thị trường.
Nhà đầu tư nước ngoài bán ròng 3156.3 tỷ đồng, tính riêng giao dịch khớp lệnh thì họ bán ròng 2013.9 tỷ đồng. Mua ròng khớp lệnh chính của nước ngoài là nhóm Hóa chất, Dầu khí. Top mua ròng khớp lệnh của nước ngoài gồm các mã: STB, KBC, ACB, PLX, GMD, VPB, GVR, TCX, GAS, DGC.
Phía bên bán ròng khớp lệnh của nước ngoài là nhóm Bất động sản. Top bán ròng khớp lệnh của nước ngoài gồm các mã: VCB, VHM, VNM, VIC, HCM, DXG, CTG, E1VFVN30, NLG.
Nhà đầu tư cá nhân mua ròng 265.5 tỷ đồng, trong đó họ mua ròng 435.6 tỷ đồng qua khớp lệnh.
Tính riêng giao dịch khớp lệnh, họ mua ròng 10/18 ngành, chủ yếu là ngành Bất động sản. Top mua ròng của nhà đầu tư cá nhân tập trung gồm: VCB, HPG, VRE, CTG, SHB, HCM, DXG, VHM, VIX, VNM.
Phía bán ròng khớp lệnh: họ bán ròng 8/18 ngành chủ yếu là nhóm ngành Hóa chất, Dầu khí. Top bán ròng có: PLX, KBC, VIC, MBB, STB, GVR, ACB, DGC, MSN.
Tự doanh mua ròng 467.2 tỷ đồng, tính riêng khớp lệnh họ mua ròng 72.5 tỷ đồng. Tính riêng giao dịch khớp lệnh: Tự doanh mua ròng 8/18 ngành. Nhóm mua ròng mạnh nhất là Ngân hàng, Thực phẩm và đồ uống. Top mua ròng khớp lệnh của tự doanh trong tuần này gồm E1VFVN30, MSN, MBB, TCB, VPB, SHB, VIC, TPB, FUEVFVND, VIX.
Top bán ròng là nhóm Tài nguyên Cơ bản. Top cổ phiếu được bán ròng gồm HPG, VCI, STB, DXG, SSI, VCG, GMD, BMP, VRE, REE.
Nhà đầu tư tổ chức trong nước mua ròng 2423.7 tỷ đồng, tính riêng khớp lệnh thì họ mua ròng 1505.8 tỷ đồng. Tính riêng giao dịch khớp lệnh: Tổ chức trong nước bán ròng 9/18 ngành, giá trị lớn nhất là nhóm Ngân hàng. Top bán ròng có VPB, ACB, SHB, TCX, HDB, FPT, GMD, HAG, KBC, E1VFVN30.
Giá trị mua ròng lớn nhất là nhóm Bất động sản. Top mua ròng có VIC, VHM, VNM, VCB, PNJ, DXG, VND, PLX, VCI, PDR.
Tỷ trọng phân bổ dòng tiền tăng vào Thực phẩm, Dầu khí, Công nghệ Thông tin, Hóa chất, Viễn thông trong khi giảm ở Ngân hàng, Chứng khoán, Bán lẻ, Xây dựng. Với Bất động sản, tỷ trọng dòng tiền hồi phục nhẹ từ đáy 10 tuần.
Xu hướng dòng tiền theo ngành trong tuần 4/2026 (kết thúc ngày 23/01/2026) cho thấy sự điều chỉnh rõ nét về cơ cấu phân bổ, phản ánh trạng thái thận trọng hơn của dòng tiền sau nhịp tăng mạnh trước đó, đi kèm phản ứng giá phân hóa:
Ngân hàng vẫn là nhóm có tỷ trọng lớn nhất, tuy nhiên dòng tiền tiếp tục suy yếu khi tỷ trọng giảm về 24,49% (từ 27,62% tuần 3), trong bối cảnh giá chỉ tăng nhẹ (+0,30%), cho thấy áp lực chốt lời gia tăng và lực cầu không còn đủ mạnh để duy trì vai trò dẫn dắt ngắn hạn.
Bất động sản ghi nhận dòng tiền cải thiện nhẹ về tỷ trọng, đạt 14,33% - hồi phục nhẹ từ đáy 10 tuần (13,71%), với giá tăng +3,03% (dẫn dắt bởi VIC, tăng +3,4%). Nhóm có giá và thanh khoản cùng tăng chiếm tỷ lệ thấp, nổi bật là BĐS Khu công nghiệp (KBC, IDC, SIP).
Tỷ trọng dòng tiền ở Chứng khoán giảm nhẹ về 15,0% với giá giảm -1,47%, phản ánh áp lực điều chỉnh ngắn hạn trong bối cảnh dòng tiền mang tính trading nhiều hơn là thiết lập xu hướng mới.
Ở các nhóm ngành nhỏ hơn, tỷ trọng dòng tiền gia tăng, đi kèm phản ứng giá tích cực như Sản xuất Dầu khí (PLX, BSR, OIL), Hóa chất (DGC, PLC), CNTT (FPT, ITD). Tỷ trọng dòng tiền đạt đỉnh 10 tuần ở Sản xuất Dầu khí, CNTT, Kho bãi hậu cần.
Sức mạnh dòng tiền: Trong tuần 4/2026, dòng tiền suy yếu rõ rệt trên diện rộng, phản ánh trạng thái điều chỉnh và thận trọng gia tăng sau giai đoạn bứt phá mạnh trước đó.
Nhóm VN30 vẫn giữ vai trò trụ cột với 56,9% tổng giá trị giao dịch (giảm mạnh từ 63,1% tuần 3), theo sau là VNMID (32,8%) và VNSML (5,2%), cho thấy mức độ tập trung vào nhóm vốn hóa lớn giảm đáng kể, song không đi kèm sự lan tỏa tích cực về thanh khoản.
Về quy mô dòng tiền, giá trị giao dịch bình quân của VN30 giảm mạnh -27,1% (tương ứng -6.384 tỷ đồng), trong khi chỉ số VN30 giảm nhẹ -0,12%. Ở nhóm VNMID, thanh khoản tiếp tục suy yếu -18,0% (-2.175 tỷ đồng), đi kèm chỉ số giảm -1,31%. Nhóm VNSML cũng không tránh khỏi xu hướng này khi giá trị giao dịch giảm -7,4% (-126 tỷ đồng) và chỉ số giảm -0,33%.
Tổng thể, tuần 4/2026 ghi nhận sự suy giảm đồng loạt về sức mạnh dòng tiền ở cả ba nhóm vốn hóa, cho thấy thị trường bước vào pha điều chỉnh kỹ thuật với tâm lý thận trọng chiếm ưu thế, trong bối cảnh chưa xuất hiện động lực mới đủ mạnh để kích hoạt một nhịp lan tỏa dòng tiền trở lại.
-Thu Minh
Thanh khoản giảm là tín hiệu cần thận trọng với thị trường
Chỉ số VN-Index nhiều lần thử thách ngưỡng 1.900 điểm nhưng không thành công, đứt mạch tăng 5 tuần liên tiếp. Chốt tuần giao dịch vừa qua, VN-Index dừng ở 1.870,79 điểm, giảm -8,34 điểm (-0,44%), đánh dấu tuần thứ 2 liên tiếp chỉ số này không vượt qua ngưỡng cao nhất 1.920 điểm dù VIC, STB, GAS, GVR đã nỗ lực để bù đắp áp lực giảm mạnh từ VCB, GEE, BCM. Cả tuần, chỉ số VN30 giảm -0,12% trong khi Midcap và Smallcap cũng giảm lần lượt -1,31% và -0,33%.
Nhận định về xu hướng thị trường, Chứng khoán MBS cho rằng đà tăng 5 tuần liên tiếp của chỉ số VN-Index đang bị chắn ngang ở vùng cản 1.900 điểm, trong 2 tuần vừa qua đã có tới 3 lần chỉ số này cố gắng dứt điểm vùng cận trên 1.920 điểm nhưng không thành công.
Với diễn biến tạo một vùng tái tích lũy trong bối cảnh nền thanh khoản cao (tăng +58% so với 2 tháng cuối năm 2025) và mùa báo cáo thu nhập quý 4 cũng như cả năm 2025 đang được công bố ngày càng nhiều và khối ngoại tiếp tục bán ròng… là tín hiệu không tích cực về mặt kỹ thuật.
Tuy vậy ở thời điểm hiện tại cũng không có nhiều thông tin bất lợi để thị trường giảm sâu, do vậy kịch bản cơ sở là thị trường duy trì xu hướng dao động trong vùng tái tích lũy ở vùng cao, dòng tiền phân hóa theo mùa báo cáo thu nhập, vùng hỗ trợ cho thị trường ở khu vực 1.850 điểm.
Kịch bản thận trọng diễn ra khi thanh khoản giảm, chỉ số VN-Index không giữ được vùng hỗ trợ 1.840 – 1.850 điểm, bên cạnh đó nhóm cổ phiếu dẫn dắt như: Dầu khí, Ngân hàng quốc doanh, Viettel, … tiếp tục bị chốt lời, hoặc một số nhóm cổ phiếu đang ở nền thấp như: Bất động sản dân cư, Chứng khoán, … giảm thêm.
Ngoài ra, lưu ý rủi ro đối với thị trường từ biến số lãi suất thời gian gần đây. Kể từ tháng 10/2025, xu hướng tăng lãi suất ngày càng rõ nét, với nhiều kỳ hạn tiền gửi vượt mốc 7,2%/năm. Lãi suất tiền gửi kỳ hạn 12 tháng bình quân đã tăng đáng kể so với mức 4,8%/năm ghi nhận trong tháng 9/2025.
Về các nhóm ngành và cổ phiếu, thị trường hàng hóa tiếp tục đà tăng, ngoài giá Bạc, Đồng đã tăng mạnh trong năm 2025 thì một số mặt hàng khác cũng đã “đuổi theo”. Theo thống kê, chỉ số giá hàng hóa của Bloomberg đã tăng hơn 9% kể từ đầu năm, vượt trội so với mức tăng của chỉ số chứng khoán của các thị trường mới nổi (+7%), chỉ số chứng khoán toàn cầu (+2,3%)…
Theo đó, nhóm cổ phiếu hàng hóa như: Dầu khí, Hóa chất (trong đó có phân bón), Khoáng sản, Thép, … sẽ được dòng tiền chú ý. Mặc dù chịu áp lực chốt lời trong tuần vừa qua nhưng các cổ phiếu có vốn sở hữu nhà nước cao, tập trung ở các nhóm như: Ngân hàng, Dầu khí, Viettel, Bất động sản Khu công nghiệp, … vẫn là các nhóm cổ phiếu mang tính dẫn dắt thị trường. Một nhịp điều chỉnh để chiết khấu thêm sẽ kích thích dòng tiền quay trở lại.
Như vậy, ngoài nhóm cổ phiếu hàng hóa đang có cơ hội nhờ giá hàng hóa tăng, nhóm cổ phiếu Logistics/cảng biển và các nhóm cổ phiếu dẫn dắt được chiết khấu thêm sẽ là các cơ hội để nhà đầu tư cơ cấu hoặc mở vị thế mua mới.
Nhà đầu tư cũng nên chú ý diễn biến thanh khoản ở các nhóm cổ phiếu đang mức nền thấp như: Chứng khoán, Bất động sản dân cư, cùng với nhóm cổ phiếu Ngân hàng tỷ trọng tập trung vốn đã giảm về mức thấp nhất 4 tuần nên một nhịp rung lắc đến điều chỉnh sẽ lôi kéo dòng tiền quay trở lại. Về tổng thể, MBS kỳ vọng thanh khoản toàn thị trường hồi phục trở lại trong tuần tới theo kịch bản cơ sở. Ngược lại, thanh khoản giảm sẽ là tín hiệu nên thận trọng bất chấp chỉ số hồi phục hay điều chỉnh giảm.
Chứng khoán Mirae Asset cho rằng trong ngắn hạn, giữ nguyên kỳ vọng thị trường có thể kiểm định lại ngưỡng 1900–1920 điểm, đi kèm biến động gia tăng, với dòng tiền phân hóa trong mùa kết quả kinh doanh, trong kịch bản cơ sở. Ngưỡng hỗ trợ quan trọng quanh vùng 1780–1800 điểm.
Định giá P/E của VN-Index: 18,2x, cao hơn mức định giá trung bình dài hạn (P/E dài hạn: 17x) có thể khiến thị trường rung lắc ở vùng đỉnh cao. Tuy nhiên, với triển vọng lợi nhuận quý 4 duy trì tăng trưởng tích cực, định giá được kỳ vọng sẽ chiết khấu về vùng hấp dẫn hơn.
Các động lực chính cần theo dõi: Tăng trưởng kinh tế duy trì đà tích cực, với động lực từ đầu tư công và tiêu dùng, với kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, trong khi kinh tế tư nhân là động lực quan trọng; Các giải pháp nâng hạng thị trường Việt Nam lên thị trường mới nổi của MSCI vào năm 2030; và làn sóng IPO sôi động trong năm 2026.
Quan điểm của KBSV nhấn mạnh sau nỗ lực vượt cản bất thành, VN-Index hình thành một cây nến giảm điểm trong tuần qua với bóng trên dài hơn tương đối, phản ánh áp lực bán tại vùng giá cao. Trên khung ngày, chỉ số đang vận động với các nhịp tăng giảm đan xen, thể hiện xu hướng đi ngang ngắn hạn đang chi phối.
Khối lượng giao dịch sụt giảm so với vùng đỉnh trước cùng với hiện tượng phân hóa mạnh mẽ tiếp tục cho thấy tín hiệu lan tỏa có phần hạn chế của dòng tiền và VN-Index đang có rủi ro mở rộng thêm nhịp điều chỉnh. Mặc dù vậy, khi xu hướng tăng trung hạn vẫn đang được duy trì, chỉ số sẽ có cơ hội hồi phục trở lại tại các vùng hỗ trợ.
-Thu Minh
Chính phủ Mỹ đầu tư 1,6 tỷ USD vào công ty đất hiếm
Chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump dự kiến rót 1,6 tỷ USD vào công ty đất hiếm USA Rare Earth. Đây là khoản đầu tư lớn nhất từ trước đến nay vào lĩnh vực này và nằm trong nỗ lực thúc đẩy nguồn cung khoáng sản quan trọng của Washington.
Theo nguồn tin của tờ báo Financial Times, Chính phủ Mỹ sẽ nắm 10% cổ phần tại USA Rare Earth - công ty niêm yết có trụ sở tại bang Oklahoma. Công ty này hiện sở hữu một số mỏ đất hiếm nặng lớn, loại khó tinh chế hơn, tại Mỹ. Khoản đầu tư của Chính phủ Mỹ, cùng một thương vụ huy động vốn tư nhân khác trị giá 1 tỷ USD, dự kiến sẽ được công bố vào đầu tuần này.
Một nguồn tin cho biết Chính phủ Mỹ sẽ nhận 16,1 triệu cổ phiếu USA Rare Earth và kèm theo chứng quyền cho phép mua thêm 17,6 triệu cổ phiếu, đều ở mức giá 17,17 USD/cổ phiếu. Chính phủ đồng ý mua số cổ phần và chứng quyền này với giá khoảng 277 triệu USD. Nếu lấy giá thị trường hiện tại là 24,77 USD/cổ phiếu làm tham chiếu, tổng giá trị của số cổ phiếu và chứng quyền nói trên cao hơn giá mua khoảng 490 triệu USD.
Ngoài giao dịch cổ phiếu trực tiếp trên, USA Rare Earth cũng sẽ nhận khoản vay có bảo đảm 1,3 tỷ USD từ Chính phủ Mỹ, với lãi suất theo mặt bằng thị trường. Đây là khoản vay “ưu tiên” - tức được thế chấp bằng tài sản và đứng trước các khoản nợ khác trong thứ tự thanh toán nếu doanh nghiệp gặp rủi ro vỡ nợ.
Nguồn vốn dành cho khoản vay này lấy từ chương trình cấp vốn được thiết lập cho Bộ Thương mại Mỹ theo Đạo luật CHIPS và Khoa học năm 2022. Một quan chức Bộ Thương mại Mỹ cho biết bộ này đã trực tiếp hoàn tất giao dịch với công ty.
Đàm phán giữa hai bên được đẩy nhanh trong tuần trước, khi nhà đầu tư quay lại chú ý tới nhóm cổ phiếu khoáng sản then chốt sau phát biểu của Tổng thống Trump rằng Washington đã đạt được một thỏa thuận, trong đó có thể bao gồm quyền tiếp cận nguồn khoáng sản then chốt chưa khai thác ở Greenland. Tuy nhiên, theo nguồn tin của Financial Times, thương vụ với USA Rare Earth không liên quan tới Greenland.
Công ty USA Rare Earth và Bộ Thương mại Mỹ hiện chưa cung cấp thông tin về thương vụ. Tuy nhiên, một quan chức thuộc Văn phòng CHIPS - đơn vị thuộc Bộ Thương mại Mỹ phụ trách đàm phán với USA Rare Earth - cho biết cơ quan này đang tập trung đưa hoạt động khai thác và chế biến các khoáng sản chiến lược về Mỹ để phục vụ chuỗi cung ứng bán dẫn và mục tiêu an ninh quốc gia.
Theo các nguồn tin, USA Rare Earth đã thuê công ty chứng khoán Cantor Fitzgerald để huy động hơn 1 tỷ USD vốn cổ phần mới. Cantor Fitzgerald trước đây thuộc sở hữu của Bộ trưởng Thương mại Mỹ Howard Lutnick và hiện do các con trai của ông điều hành. Các nguồn tin cho biết đợt huy động vốn này là thương vụ riêng, không liên quan trực tiếp tới thỏa thuận với chính phủ.
Thương vụ với USA Rare Earth là bước đi mới nhất trong một loạt động thái gần đây của chính quyền ông Trump nhằm thúc đẩy một số lĩnh vực mà Washington coi là then chốt đối với an ninh quốc gia. Trước đó, Washington cũng mua 10% cổ phần tại hãng chế tạo con chip Intel và đàm phán thỏa thuận “cổ phần vàng” tại tập đoàn thép US Steel.
USA Rare Earth, hiện có vốn hóa khoảng 3,7 tỷ USD, đang phát triển một mỏ quy mô lớn tại Sierra Blanca, bang Texas. Công ty cho biết mỏ này chứa 15/17 nguyên tố đất hiếm, nhóm vật liệu đầu vào quan trọng để sản xuất điện thoại di động, tên lửa và máy bay chiến đấu. Doanh nghiệp này cũng đang có kế hoạch mở một cơ sở sản xuất nam châm tại Stillwater, bang Oklahoma.
Năm ngoái, Chính phủ Mỹ đã đầu tư vào ít nhất 6 công ty khoáng sản, trong đó có MP Materials, Trilogy Metals và Lithium Americas. Một số khoản đầu tư làm dấy lên nghi vấn về khả năng xung đột lợi ích với những người có liên quan tới chính phủ.
Bộ Thương mại Mỹ và Bộ Quốc phòng Mỹ thời gian qua phối hợp chặt chẽ để hỗ trợ tài chính, qua đó thúc đẩy sản xuất đất hiếm trong nước.
Một điều kiện gắn với khoản đầu tư của chính phủ vào USA Rare Earth là công ty phải huy động thêm ít nhất 500 triệu USD từ nhà đầu tư. Nhờ nhu cầu lớn từ nhà đầu tư, công ty này đang dự kiến huy động vượt 1 tỷ USD thông qua cơ chế PIPE - tức thương vụ rót vốn của nhà đầu tư vốn cổ phần tư nhân vào một doanh nghiệp đã niêm yết.
Từ đầu năm đến nay, giá cổ phiếu USA Rare Earth đã tăng gấp hơn hai lần, trong đó riêng tuần trước tăng 40%.
-Ngọc Trang
Nhiều trường tại TP. Hồ Chí Minh cho học sinh nghỉ Tết 16 ngày
Với lịch nghỉ Tết theo quyết định nêu trên, cộng thêm hai ngày nghỉ cuối tuần liên trước, các trường tại Thành phố Hồ Chí Minh có thể nâng tổng thời gian nghỉ lễ lên hơn hai tuần nếu đảm bảo nội dung và tiến độ chương trình học.
Hàng loạt trường như Tiểu học Tân Đông Hiệp, Bùi Thị Xuân, Trung học cơ sở Tân Bình (phường Tân Đông Hiệp) và Trung học cơ sở Võ Trường Toản, Trung học cơ sở Dĩ An (phường Dĩ An), Tiểu học Đinh Bộ Lĩnh (phường Tân Mỹ), THPT chuyên Lê Hồng Phong, Phổ thông Năng khiếu - Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh,... áp dụng lịch nghỉ tối đa như trên.
Đại diện một số nhà trường cho biết, việc nới kỳ nghỉ Tết xuất phát từ thực tế nhiều phụ huynh là lao động từ các tỉnh miền Bắc và miền Trung vào sinh sống, làm việc tại TP. Hồ Chí Minh.
Với các gia đình này, Tết Nguyên đán gần như là dịp hiếm hoi trong năm để cả gia đình về quê thăm ông bà, người thân. Những năm trước, mỗi trường có khoảng 300-400 học sinh, chiếm 20-25% sĩ số, xin nghỉ thêm vài ngày trước hoặc sau Tết do quê xa, nhằm giảm áp lực di chuyển và chi phí vé tàu xe.
Lý giải về việc kéo dài kỳ nghỉ Tết, lãnh đạo nhiều cơ sở giáo dục cho biết đây là giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn cho các gia đình xa quê trong bối cảnh áp lực giao thông và tài chính tăng cao.
Theo thống kê từ các trường, mỗi năm có khoảng 300-400 học sinh xin nghỉ phép riêng để về quê thăm gia đình. Việc chủ động điều chỉnh khung thời gian nghỉ lễ giúp nhà trường ổn định sĩ số, đồng thời tạo điều kiện để phụ huynh giảm thiểu chi phí đi lại trong kỳ nghỉ dài duy nhất của năm.
Quyết định linh hoạt trong việc điều chỉnh khung thời gian nghỉ Tết Nguyên Đán được đánh giá là phù hợp, nhân văn. Sự chủ động này vừa giúp học sinh có thêm thời gian nghỉ ngơi, sum họp gia đình, vừa góp phần hạn chế tối đa tình trạng nghỉ học tự phát sau Tết, giúp các trường có thể sớm ổn định nề nếp và đảm bảo tiến độ học tập những ngày đầu năm m
-Bảo Châu
Thông tin tiền lương, tài sản của cán bộ, công chức sẽ được quản lý online
Cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức là cơ sở dữ liệu dùng chung quốc gia, chứa dữ liệu phản ánh các thông tin chung nhất về cán bộ, công chức, viên chức trong công tác quản lý của các cơ quan, tổ chức, đơn vị; được lưu trữ tập trung, chia sẻ, khai thác sử dụng trên phạm vi toàn quốc.
Cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức được kết nối, đồng bộ với các hệ thống thông tin quản lý cán bộ, công chức, viên chức để thu thập, cập nhật và thống nhất dữ liệu.
Nghị định 27 đã nêu rõ dữ liệu về cán bộ, công chức, viên chức trong cơ sở dữ liệu quốc gia, bao gồm: Dữ liệu phản ánh thông tin cơ bản về bản thân, bao gồm các thông tin để xác định danh tính, thành phần xuất thân, định danh cán bộ, công chức, viên chức.
Dữ liệu phản ánh thông tin quan hệ gia đình; dữ liệu phản ánh thông tin lịch sử bản thân; dữ liệu phản ánh thông tin về tuyển dụng, bầu cử, bổ nhiệm, quy hoạch, điều động, luân chuyển, biệt phái, thôi việc, nghỉ hưu.
Dữ liệu phản ánh thông tin về học vấn, trình độ chuyên môn, quá trình đào tạo; quá trình bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, bao gồm lý luận chính trị; quốc phòng, an ninh; quản lý nhà nước, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ.
Dữ liệu phản ánh thông tin về cơ quan, đơn vị làm việc; vị trí việc làm; chức danh, chức vụ; tiền lương cơ bản, phụ cấp lương; đánh giá, xếp loại chất lượng; thi đua, khen thưởng; kỷ luật.
Dữ liệu phản ánh thông tin về việc tham gia tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; dữ liệu phản ánh thông tin về việc đã từng tham gia lực lượng vũ trang; dữ liệu phản ánh thông tin về tài sản, thu nhập; dữ liệu phản ánh thông tin về sức khỏe.
Các dữ liệu nêu trên và dữ liệu chủ, dữ liệu tham chiếu của cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức được quy định cụ thể tại Phụ lục kèm theo Nghị định 27.
Các cơ quan quản lý, sử dụng cán bộ, công chức, viên chức khai thác và sử dụng cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của cơ quan có thẩm quyền; công tác định hướng, hoạch định chính sách, chiến lược phát triển; công tác giải quyết thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng dịch vụ công và công tác quản lý cán bộ, công chức, viên chức thuộc phạm vi quản lý.
Bộ Nội vụ khai thác và sử dụng cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức phục vụ công tác quản lý nhà nước; công tác thống kê, tổng hợp về biên chế, tổ chức bộ máy, cán bộ, công chức, viên chức; công tác giải quyết thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng dịch vụ công; công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của cơ quan có thẩm quyền và công tác hoạch định chính sách, pháp luật, chiến lược phát triển về cán bộ, công chức, viên chức.
Cơ quan, tổ chức liên quan khác được khai thác và sử dụng cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật.
-Phúc Minh