Feed aggregator
"Vũ khí" thương mại mạnh nhất của EU
Trong bối cảnh căng thẳng với Mỹ liên quan tới vấn đề Greenland, Liên minh châu Âu (EU) đang chuẩn bị các biện pháp đối phó.
EU vốn là một khối thương mại, nên các biện pháp đáp trả chủ yếu xoay quanh công cụ kinh tế - từ tăng thuế quan với hàng hóa Mỹ đến Công cụ Chống cưỡng ép (ACI).
ACI là cơ chế cho phép EU hạn chế thương mại và đầu tư để đáp trả hành vi gây sức ép từ bên ngoài. Dù vậy, phần lớn trong số 27 quốc gia thành viên của khối vẫn thận trọng trước khả năng kích hoạt công cụ mạnh tay này.
Trong khuôn khổ ACI, EU áp dụng hàng loạt biện pháp nhằm chặn hoặc hạn chế thương mại và đầu tư từ những quốc gia bị xác định đang gây sức ép quá mức lên các nước thành viên hoặc doanh nghiệp EU.
Các biện pháp này có thể bao gồm hạn chế xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ; loại quốc gia hoặc doanh nghiệp mục tiêu khỏi các gói thầu công của EU; hoặc siết đầu tư trực tiếp nước ngoài. Ở kịch bản tiêu cực nhất, ACI có thể gần như đóng cửa thị trường 450 triệu người tiêu dùng của EU đối với bên bị nhắm tới.
Nếu được kích hoạt, công cụ này có thể khiến các doanh nghiệp Mỹ và nền kinh tế Mỹ chịu thiệt hại hàng tỷ USD.
ACI được Ủy ban châu Âu (EC) đưa ra vào năm 2021, sau khi Trung Quốc hạn chế thương mại với Lithuania vì nước này tăng cường quan hệ với vùng lãnh thổ Đài Loan.
Trong một thông cáo được ban hành trước khi nảy sinh căng thẳng với Mỹ liên quan tới Greenland, EC cho biết ACI chủ yếu nhằm mục tiêu răn đe và “thành công nhất khi không cần phải kích hoạt”.
Theo dữ liệu từ cơ quan thống kê Eurostat, thương mại hàng hóa và dịch vụ giữa EU và Mỹ đạt 1,7 nghìn tỷ euro trong năm 2024, tương đương bình quân 4,6 tỷ euro mỗi ngày.
Châu Âu xuất khẩu sang Mỹ nhiều nhất các mặt hàng như dược phẩm, ô tô, máy bay, hóa chất, thiết bị y tế và rượu vang - rượu mạnh. Ở chiều ngược lại, Mỹ xuất khẩu sang EU các dịch vụ chuyên môn và khoa học như hệ thống thanh toán và hạ tầng điện toán đám mây, cùng với dầu khí, dược phẩm, thiết bị y tế, sản phẩm hàng không vũ trụ và ô tô.
Cuối tuần trước, ông Trump tuyên bố sẽ áp thuế quan 10% lên hàng hóa từ 8 nước châu Âu gồm Đan Mạch, Na Uy, Thụy Điển, Pháp, Đức, Anh, Hà Lan và Phần Lan, cho tới khi các nước này ủng hộ kế hoạch sáp nhập Greenland - hòn đảo bán tự trị thuộc Đan Mạch - vào Mỹ. Theo ông Trump, mức thuế quan 10% có hiệu lực từ 1/2 và sẽ tăng lên 25% từ 1/6.
Các nhà lãnh đạo châu Âu phản hồi rằng động thái như vậy là "không thể chấp nhận được", đồng thời lên kế hoạch trả đũa Mỹ. Ngày 21/1, Nghị viện châu Âu đình chỉ quy trình phê chuẩn thỏa thuận thương mại giữa EU và Mỹ để phản đối việc ông Trump thúc đẩy sáp nhập Greenland và đe dọa áp thuế quan lên các nước châu Âu.
Tuy nhiên, cùng ngày tại Davos, Thụy Sỹ, ông Trump tuyên bố hủy bỏ kế hoạch áp thuế quan mới đối với các quốc gia châu Âu sau khi đạt được "khung thỏa thuận tương lai" về Greenland trong một cuộc gặp với Tổng thư ký Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) Mark Rutte.
Động thái mới nhất của ông Trump phần nào làm dịu lo ngại về rạn nứt trong mối quan hệ xuyên Đại Tây Dương và nguy cơ bùng lên một cuộc chiến thương mại mới. Tuy nhiên, theo các nhà phân tích, với tiền lệ nhiều lần ông Trump điều chỉnh lập trường, chưa có gì bảo đảm căng thẳng sẽ thực sự xuống thang.
Nếu bất đồng lại leo thang, giới quan sát đang theo dõi liệu EU có tiến xa tới mức kích hoạt ACI hay sẽ ưu tiên các biện pháp thuế quan trả đũa “truyền thống”
-Ngọc Trang
Thuế, Hải quan và Kho bạc được đề nghị áp dụng 11 khoản chi đặc thù
Theo báo cáo tờ trình của Bộ Tài chính, các cơ chế tài chính và thu nhập đặc thù đang áp dụng đối với Cục Thuế, Hải quan và Kho bạc Nhà nước trong thời gian qua đã phát huy vai trò tích cực trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động, thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao và tạo điều kiện cải thiện đời sống cán bộ, công chức.
Nhờ cơ chế này, các đơn vị có thêm dư địa chủ động đầu tư cơ sở vật chất, hiện đại hóa trang thiết bị và tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu trong tổ chức thực thi nhiệm vụ.
Tuy nhiên, Bộ Tài chính cho biết phần lớn các chính sách nói trên được ban hành từ giai đoạn 2013–2020, do đó không còn phù hợp với Luật Ngân sách nhà nước số 89/2025/QH15 cũng như mô hình tổ chức và yêu cầu quản lý mới của từng ngành.
Trong năm ngân sách 2026, khi định mức mới chưa được ban hành thì các khoản chi đặc thù này chưa có căn cứ pháp lý để triển khai, có thể tạo ra khoảng trống trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Điều này tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến công tác thu ngân sách, phòng chống buôn lậu, bảo đảm an toàn kho quỹ và vận hành các hệ thống công nghệ thông tin dùng chung.
(Tờ trình Bộ Tài chính)
Trong khi đó, theo lộ trình triển khai Luật Ngân sách nhà nước mới (có hiệu lực từ năm 2026) và Chương trình xây dựng pháp luật năm 2026, Chính phủ dự kiến trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành nghị quyết về tiêu chuẩn, tiêu chí và định mức phân bổ chi ngân sách nhà nước năm 2027 để áp dụng thống nhất trong toàn hệ thống. Bộ tiêu chuẩn mới dự kiến được trình vào tháng 3/2026 và thông qua trong tháng 5/2026.
Trong quá trình xây dựng định mức chi mới, Bộ Tài chính sẽ lồng ghép các khoản chi mang tính đặc thù của Cục Thuế, Cục Hải quan và Kho bạc Nhà nước vào hệ thống chung, thay cho các cơ chế riêng rẽ trước đây.
Từ yêu cầu thực tiễn đó, Bộ Tài chính kiến nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành nghị quyết riêng về cơ chế tài chính áp dụng cho Cục Thuế, Cục Hải quan và Kho bạc Nhà nước trong năm 2026.
Theo dự thảo nghị quyết, trong năm 2026, ba cơ quan này sẽ được áp dụng 11 khoản chi phục vụ nhiệm vụ mang tính đặc thù, bao gồm: (1) Chi ủy nhiệm thu thuế; (2) Chi mua vật tư ấn chỉ của Cục Thuế, Cục Hải quan; (3) Chi bồi thường thiệt hại cho tổ chức và cá nhân; (4) Các khoản chi về chống buôn lậu, kiểm tra, kiểm soát, tình báo hải quan; (5) Chi huấn luyện và nuôi chó nghiệp vụ, chi quản lý rủi ro và chi thực hiện một số nghiệp vụ đặc thù khác
Ngoài ra, còn có các khoản chi chuyên môn của ngành hải quan như: ủy nhiệm thu thuế; thuê luật sư bảo vệ quyền lợi của Nhà nước, của cơ quan hải quan trước toà án; trưng cầu giám định về phân tích phân loại hàng hóa; chi chuyển phát nhanh seal định vị điện tử; (7) Kinh phí duy trì hoạt động Cổng thông tin thương mại quốc gia (Cổng VTIP); (8) Chi đảm bảo điều kiện làm việc, ăn, nghỉ cho lực lượng cảnh sát bảo vệ mục tiêu của Kho bạc Nhà nước; (9) Chi tiền lương và chi hoạt động cho viên chức làm việc trong cơ quan hành chính; (10) Chi phát hành, thanh toán trái phiếu Chính phủ và (11) Chi trực bảo vệ các trụ sở Kho bạc Nhà nước có kho tiền và trực quản trị trung tâm dữ liệu công nghệ thông tin.
Liên quan đến xử lý số dư các quỹ tài chính của Kho bạc Nhà nước đến ngày 31/12/2024, dự thảo cho phép Quỹ phát triển hoạt động ngành được sử dụng tiếp cho các dự án đã phê duyệt nhưng dừng triển khai do sắp xếp tổ chức bộ máy; bổ sung cho các dự án đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026–2030; cải tạo, sửa chữa trụ sở Kho bạc Nhà nước khu vực và phòng giao dịch; vận hành hệ thống thông tin ngân sách và kế toán nhà nước số giai đoạn 2027–2030. Phần còn dư sẽ nộp ngân sách nhà nước.
Đối với Quỹ dự phòng ổn định thu nhập, quỹ này được sử dụng để bổ sung nguồn thực hiện chính sách cải cách tiền lương đến hết năm 2026, phần còn dư nộp ngân sách nhà nước. Cuối cùng, quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi tiếp tục được sử dụng theo chế độ hiện hành đến hết năm 2026, sau đó nộp ngân sách nhà nước phần còn dư.
Về cơ chế tiền lương và thu nhập, Bộ Tài chính đề xuất tiếp tục bảo lưu chênh lệch tiền lương và thu nhập tăng đối với cán bộ, công chức, viên chức đang hưởng chế độ cũ, cho đến khi hoàn tất chuyển đổi sang cơ chế tiền lương thống nhất theo quy định của Nhà nước.
Theo đánh giá của Bộ Tài chính, việc ban hành Nghị quyết về cơ chế tài chính đối với Cục Thuế, Cục Hải quan, Kho bạc Nhà nước áp dụng cho năm 2026 không chỉ nhằm thể chế hóa chủ trương rà soát, điều chỉnh các cơ chế tài chính và thu nhập đặc thù, mà còn giúp duy trì sự ổn định hoạt động của hệ thống Thuế, Hải quan và Kho bạc Nhà nước, tránh gián đoạn nhiệm vụ trong năm chuyển tiếp của chu kỳ ngân sách mới.
-Mai Nhi
Hỗ trợ tiếp cận thông tin để người dân chủ động cải thiện đời sống
Là một tiểu dự án quan trọng của Dự án 6 thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025, giảm nghèo thông tin tập trung vào việc cải thiện khả năng tiếp cận thông tin và kiến thức cho người dân ở vùng nghèo, đặc biệt là các nhóm dễ bị tổn thương, để họ có thể chủ động và tự tin hơn trong việc cải thiện đời sống.
Điều này bao gồm việc cung cấp thông tin về chính sách, pháp luật, kỹ năng nghề nghiệp, thị trường lao động, kiến thức khoa học kỹ thuật, và các dịch vụ xã hội khác để họ có thể nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống.
Việc thực hiện giảm nghèo thông tin được triển khai thông qua một chuỗi giải pháp đồng bộ, bắt đầu từ đầu tư hạ tầng, trang bị máy tính, internet, mạng di động và các phương tiện thông tin, tuyên truyền cho những khu vực khó khăn, nhằm tạo nền tảng tiếp cận tri thức.
Trên cơ sở đó, chương trình tiếp tục đa dạng hóa nội dung, cung cấp thông tin phù hợp với từng nhóm đối tượng, từ kiến thức thị trường đến bình đẳng giới hay sức khỏe sinh sản, giúp người dân dễ dàng áp dụng vào đời sống. Đồng thời, việc đổi mới hình thức tuyên truyền thông qua sinh hoạt cộng đồng, câu lạc bộ, nền tảng số và các công cụ truyền thông hiện đại góp phần nâng cao hiệu quả lan tỏa thông tin.
Ngoài ra, chương trình còn chú trọng xây dựng cơ sở dữ liệu về hộ nghèo và cận nghèo để phục vụ công tác xác định, phân loại và đánh giá chính sách chính xác và minh bạch hơn.
Tại nhiều tỉnh, tiểu dự án giảm nghèo về thông tin thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025 đã và đang được triển khai đem lại kết quả tích cực. Việc đẩy mạnh triển khai giảm nghèo về thông tin giúp người dân nâng cao năng lực tiếp cận và sử dụng tri thức một cách toàn diện. Trên cơ sở đó, hỗ trợ người dân học hỏi các kiến thức mới để áp dụng vào sản xuất, kinh doanh, tạo điều kiện ổn định cuộc sống.
Trong giai đoạn 2026-2030, thiếu hụt thông tin tiếp tục được xác định là một trong sáu chiều thiếu hụt cơ bản của người nghèo, cùng với y tế, giáo dục, việc làm, nhà ở, nước sạch - vệ sinh. Khi được tiếp cận thông tin, người dân có cơ sở để lựa chọn mô hình sản xuất phù hợp, tránh tình trạng sản xuất manh mún, tự phát. Từ đó hình thành chuỗi giá trị khép kín từ sản xuất đến tiêu dùng, giúp gia tăng thu nhập và mở rộng khả năng cạnh tranh.
-Thu Hằng
Hỗ trợ hộ nghèo tiếp cận thông tin để không bỏ lọt chính sách
Theo các chuyên gia, một trong những nguyên nhân khiến nhiều hộ nghèo bị bỏ lỡ chính sách hỗ trợ là thiếu thông tin hoặc tiếp cận thông tin muộn. Dự án 6 “Truyền thông và giảm nghèo thông tin” thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025 được thiết kế nhằm khắc phục những hạn chế đó.
Mục tiêu trọng tâm là hỗ trợ hộ nghèo, cận nghèo, hộ mới thoát nghèo và người dân ở địa bàn đặc biệt khó khăn được tiếp cận thông tin thiết yếu, sử dụng dịch vụ viễn thông và tham gia vào môi trường số. Đồng thời, dự án chú trọng nâng cao năng lực hệ thống thông tin cơ sở, bảo đảm 100% xã đặc biệt khó khăn, xã đảo và huyện đảo có hệ thống loa truyền thanh hoạt động ổn định, đáp ứng yêu cầu tuyên truyền và điều hành tại chỗ.
Điểm đáng chú ý là dự án không chỉ tập trung vào hạ tầng, mà còn chú trọng cung cấp thông tin thiết yếu: chính sách giảm nghèo, kiến thức sản xuất - kinh doanh, kỹ thuật chăn nuôi trồng trọt, kinh nghiệm thị trường…
Việc phổ biến thông tin phù hợp với từng vùng đặc thù, từng nhóm đối tượng, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em gái, giúp rút ngắn khoảng cách bất bình đẳng trong chuyển đổi số, từ đó giúp người dân tiếp cận chính sách thuận lợi hơn, chủ động tìm kiếm được các cơ hội phát triển.
Giảm nghèo thông tin không chỉ là việc truyền tải dữ liệu, mà là giải pháp căn cơ để mở rộng công bằng xã hội, giúp người dân nắm bắt cơ hội từ các nguồn lực phát triển. Thực tiễn ở nhiều địa phương đã cho thấy hiệu quả thiết thực của dự án.
Dự án 6 “Truyền thông và giảm nghèo thông tin” thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025 nhằm mục đích giúp hộ nghèo, cận nghèo và người dân vùng khó khăn tiếp cận dịch vụ viễn thông, thông tin, nâng cao năng lực hệ thống thông tin cơ sở, đảm bảo 100% xã đặc biệt khó khăn có đài truyền thanh hiệu quả, qua đó hỗ trợ họ tự chủ vươn lên thoát nghèo bền vững, tham gia kinh tế - xã hội hiện đại thông qua chuyển đổi số.
-Nhật Dương
Sẽ áp dụng chuyển đổi số và công nghệ cao trong giảm nghèo
Ông Phạm Hồng Đào, Phó Chánh Văn phòng Quốc gia về giảm nghèo, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cho biết giảm nghèo là một nội dung trong trụ cột an sinh xã hội của Việt Nam. Do vậy, thực hiện tốt công tác giảm nghèo là góp phần đảm bảo quyền con người.
Chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021 - 2025 với các tiêu chí xác định hộ nghèo về thu nhập và thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản được nâng lên so với giai đoạn 2016 – 2020, nhằm mục tiêu không chỉ đảm bảo thu nhập tối thiểu mà còn hỗ trợ để cải thiện mức độ tiếp cận của người nghèo đối với các dịch vụ xã hội cơ bản về việc làm, y tế, giáo dục, nhà ở, nước sinh hoạt và vệ sinh, thông tin.
Chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021-2025 đảm bảo quyền an sinh xã hội của người nghèo được toàn diện hơn thông qua các chiều thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản.
Tiêu chí thu nhập đã tiếp cận mức sống tối thiểu của người dân tại thời điểm năm 2021, với thu nhập bình quân đầu người một tháng tại khu vực nông thôn là 1.500.000 đồng, khu vực thành thị là 2.000.000 đồng. Trên cơ sở chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021-2025, số lượng người nghèo được hưởng thụ chính sách tăng 2,3 lần tại thời điểm năm 2022.
Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025 cũng tập trung đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội vùng lõi nghèo, nâng cao thu nhập, chất lượng cuộc sống của người nghèo, đào tạo kỹ năng nghề, tạo việc làm tốt, hỗ trợ đối tượng yếu thế không rơi vào tình trạng nghèo đói.
Theo ông Phạm Hồng Đào, trong thời gian tới, Chính phủ sẽ báo cáo Quốc hội xem xét, phê duyệt chủ trương chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững giai đoạn 2026 - 2035, trên cơ sở tiếp tục phát huy những kết quả đã đạt được, khắc phục những tồn tại mà chương trình giai đoạn 2021-2025 chưa giải quyết triệt để.
Một số nội dung định hướng mới như: Tích hợp giảm nghèo vào phát triển nông thôn toàn diện và bền vững; áp dụng chuyển đổi số và công nghệ cao trong giảm nghèo; tập trung vào giảm nghèo đa chiều và nâng cao chất lượng sống, phát triển sinh kế và việc làm bền vững, mở rộng ra đô thị…
-Nhật Dương
Quy định mới về các loại phương tiện, thiết bị sử dụng năng lượng phải loại bỏ
Chính phủ ban hành Nghị định số 30/2026/NĐ-CP ngày 21/01/2026 quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, trong đó, có các quy định liên quan đến việc quản lý phương tiện, thiết bị sử dụng năng lượng và vật liệu xây dựng.
Chứng chỉ quản lý năng lượng được cấp trước ngày Nghị định này có hiệu lực (21/1/2026) có giá trị đến hết ngày 31/12/2030.
Nghị định quy định nhãn năng lượng gồm 3 loại gồm: nhãn so sánh, nhãn xác nhận. Cụ thể, nhãn so sánh là nhãn cung cấp thông tin về mức tiêu thụ năng lượng, loại năng lượng sử dụng, hiệu suất năng lượng và các thông tin khác giúp người tiêu dùng so sánh với các sản phẩm, vật liệu xây dựng, phương tiện, thiết bị cùng loại trên thị trường để nhận biết và lựa chọn sản phẩm, vật liệu xây dựng, phương tiện, thiết bị tiết kiệm năng lượng.
Nhãn xác nhận là một loại nhãn dán trên các sản phẩm, phương tiện, thiết bị, vật liệu xây dựng có đặc tính nhiệt, mức tiêu thụ năng lượng hoặc chỉ số hiệu suất năng lượng đã đạt hoặc cao hơn theo tiêu chuẩn quy định.
Với nhãn năng lượng của phương tiện là nhãn cung cấp các thông tin liên quan đến loại năng lượng sử dụng, mức tiêu thụ năng lượng và kiểu loại phương tiện.
Nhãn năng lượng cho các thiết bị. Ảnh minh họaChỉ số hiệu suất năng lượng của phương tiện, thiết bị; mức tiêu thụ năng lượng của phương tiện và đặc tính nhiệt của vật liệu xây dựng được quy định trong các tiêu chuẩn quốc gia do cơ quan có thẩm quyền ban hành.
Bộ Công Thương và Bộ Xây dựng trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao, căn cứ chỉ số hiệu suất năng lượng, mức tiêu thụ năng lượng và đặc tính nhiệt, quy định mức hiệu suất năng lượng, mức tiêu thụ năng lượng và đặc tính nhiệt trong các nhãn so sánh và nhãn xác nhận nêu trên.
Theo quy định các trường hợp dán nhãn năng lượng giả; dán nhãn năng lượng khi chưa thực hiện công bố dán nhãn năng lượng theo quy định; nhãn năng lượng không đúng nội dung, quy cách hoặc ghi sai thông số hiệu suất năng lượng (đối với thiết bị), mức tiêu thụ năng lượng (đối với phương tiện) hoặc đặc tính nhiệt (đối với vật liệu xây dựng) sẽ bị đình chỉ dán nhãn nhăn lượng.
Nghị định cũng quy định đình chỉ, thu hồi dán nhãn năng lượng cho phương tiện, thiết bị, vật liệu xây dựng trong các trường hợp có gian dối trong hồ sơ công bố dán nhãn năng lượng; Kết quả thử nghiệm về hiệu suất năng lượng, mức tiêu thụ năng lượng hoặc đặc tính nhiệt không đúng với thông tin đã công bố; Bị xử phạt từ 02 lần do vi phạm quy định.
Theo Nghị định này, các cơ sở sản xuất, nhập khẩu phương tiện, thiết bị và vật liệu xây dựng sử dụng năng lượng thuộc danh mục phương tiện, thiết bị và vật liệu xây dựng phải dán nhãn năng lượng có trách nhiệm gửi báo cáo hàng năm về UBND cấp tỉnh nơi đặt cơ sở sản xuất, đăng ký kinh doanh.
Cùng với đó, hàng năm, các cơ sở sản xuất, doanh nghiệp nhập khẩu đã công bố dán nhãn năng lượng cho phương tiện, thiết bị và vật liệu xây dựng có trách nhiệm thống kê về số lượng, chủng loại phương tiện, thiết bị, vật liệu được dán nhãn năng lượng đã đưa ra thị trường trong năm; gửi báo cáo về bộ quản lý chuyên ngành trước ngày 01/3 năm tiếp theo.
Nghị định quy định các phương tiện, thiết bị thuộc danh mục phương tiện, thiết bị phải loại bỏ. Đó là các phương tiện, thiết bị không đạt các quy chuẩn an toàn; có hiệu suất sử dụng năng lượng của phương tiện, thiết bị thấp hơn mức hiệu suất năng lượng tối thiểu; đồng thời không phù hợp tình hình phát triển và yêu cầu quản lý nhà nước trong từng thời kỳ.
Mức hiệu suất năng lượng tối thiểu được Bộ Khoa học và Công nghệ công bố trong tiêu chuẩn hiệu suất năng lượng của phương tiện, thiết bị. Chính phủ giao Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành danh mục phương tiện, thiết bị phải loại bỏ theo quy định trên.
-Nhĩ Anh
Coi việc tiếp cận thông tin là nhu cầu tất yếu
Khi hạ tầng và kỹ năng số đến được từng thôn, bản, chuyển đổi số không chỉ nâng cao chất lượng truyền thông cơ sở, mà còn trở thành động lực trực tiếp hỗ trợ người dân vươn lên thoát nghèo.
Từ Dự án 6 “Truyền thông và giảm nghèo thông tin” thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025, người dân, nhất là vùng sâu vùng xa, hải đảo, từng bước tiếp cận thông tin, biết giao dịch điện tử hay quảng bá sản phẩm online.
Đây là bước chuyển căn bản giúp giảm nghèo trở nên tự chủ, bền vững và giảm nguy cơ tái nghèo trong bối cảnh thị trường lao động và môi trường kinh tế thay đổi nhanh.
Trong giai đoạn 2026 - 2030, thiếu hụt thông tin tiếp tục được xác định là một trong sáu chiều thiếu hụt cơ bản của người nghèo, cùng với y tế, giáo dục, việc làm, nhà ở, nước sạch - vệ sinh.
Khi được tiếp cận thông tin, người dân có cơ sở để lựa chọn mô hình sản xuất phù hợp, tránh tình trạng sản xuất manh mún, tự phát. Từ đó hình thành chuỗi giá trị khép kín từ sản xuất đến tiêu dùng, giúp gia tăng thu nhập và mở rộng khả năng cạnh tranh.
Các chuyên gia cho rằng để nâng cao hiệu quả trong thời gian tới, trước hết mỗi người dân phải coi việc tiếp cận và học hỏi thông tin là nhu cầu thiết yếu của cuộc sống, giống như ăn, mặc hay học hành. Mỗi nhóm đối tượng như nông dân, công nhân hay người dân tộc thiểu số cần được hướng dẫn theo cách riêng, có thể là truyền thông bằng tiếng dân tộc, video hướng dẫn kỹ thuật, hay qua các buổi tập huấn cộng đồng.
Quan trọng hơn, trong chuỗi giá trị sản xuất, mỗi mắt xích đều cần được trang bị thông tin phù hợp. Mỗi khâu đều có vai trò, và chỉ khi tất cả cùng được giảm nghèo về thông tin, chuỗi sản xuất mới hoàn chỉnh và hiệu quả.
Giảm nghèo về thông tin chính là bước đi căn bản để bảo đảm công bằng, bao trùm và phát triển bền vững cho mọi người dân Việt Nam. Khi người dân được tiếp cận thông tin đầy đủ, họ có trong tay chìa khóa để tự thay đổi cuộc sống, chủ động nắm bắt cơ hội và vươn lên thoát nghèo.
-Phúc Minh
International economic integration, restructuring to be enhanced in industry, trade sector: official
Bất động sản vẫn là kênh tích lũy giá trị bền vững
Chia sẻ tại hội thảo “La bàn đầu tư 2026: Tâm điểm dòng tiền” do Labandautu.vn phối hợp cùng Diaocnet.vn tổ chức mới đây, các chuyên gia cho rằng nếu nhìn một cách đa chiều giữa các kênh đầu tư, bất động sản vẫn là kênh giữ tiền tương đối an toàn và chắc chắn trong dài hạn.
Lý giải rõ hơn, chuyên gia kinh tế Ngô Trí Long cho biết mỗi kênh đầu tư đều phục vụ những mục tiêu khác nhau, với bất động sản - lợi thế cốt lõi nằm ở tính hữu hạn của quỹ đất trong khi nhu cầu của con người ngày càng gia tăng. Để đầu tư hiệu quả, nhà đầu tư cần lựa chọn những bất động sản có chất lượng cao, được ví như “hoa hậu” của thị trường – hội tụ các yếu tố vị trí, pháp lý minh bạch, hạ tầng đồng bộ về y tế, giáo dục và an ninh. Những tài sản này không chỉ có tính thanh khoản tốt mà còn tạo ra dòng tiền ổn định, mang lại hiệu quả bền vững.
Cùng quan điểm, TS. Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia tài chính – ngân hàng, nhận định rằng với một nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam, giá bất động sản rất khó giảm. Trong khi Chính phủ và xã hội đều mong muốn giá nhà đất hạ nhiệt để người dân dễ tiếp cận hơn, nhưng thực tế cho thấy điều này khó xảy ra.
Theo ông Hiếu, hiện nay, mặt bằng giá đã ở mức cao nên cơ hội tìm kiếm lợi nhuận ngắn hạn trở nên hạn chế song về dài hạn, thị trường bất động sản – nhất là phân khúc nhà ở vẫn còn nhiều dư địa tăng trưởng, bởi nguồn cung chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu thực. Điều này tiếp tục củng cố vai trò của bất động sản như một kênh đầu tư thiên về tích lũy giá trị bền vững.
Tuy nhiên, PGS.TS Trần Đình Thiên, thành viên Tổ tư vấn Kinh tế của Thủ tướng Chính phủ, lưu ý hiện nay, một trong những biến số quan trọng nhất cần được đặt lên bàn cân chính là sự dịch chuyển của các “thủ phủ” hành chính và trung tâm quyền lực kinh tế.
Trong bối cảnh quy hoạch lại đơn vị hành chính, đặc biệt là các kịch bản sáp nhập tỉnh, giá trị bất động sản sẽ có sự phân hóa rất mạnh. Những trung tâm hành chính cũ, nếu không còn giữ vai trò đầu mối, hoàn toàn có thể đối mặt với nguy cơ suy giảm giá trị do dòng người, dòng vốn và hoạt động kinh tế - xã hội dịch chuyển sang khu vực mới. Ngược lại, các địa phương được lựa chọn làm trung tâm hành chính mới sẽ trở thành điểm hội tụ của bộ máy quản lý, hoạt động đối ngoại, đầu tư và thương mại, từ đó kích hoạt sự phát triển bùng nổ của dịch vụ, hạ tầng đô thị và bất động sản.
Theo ông Thiên, tọa độ hấp dẫn nhất của thị trường là nằm ở các khu vực thu hút được dòng vốn quy mô lớn, mang tính dẫn dắt. Thực tế ở một số địa phương, khi xuất hiện những dự án có tầm cỡ quốc tế cùng sự quan tâm từ nhiều tập đoàn lớn, bao gồm cả nhà đầu tư mang tầm vóc toàn cầu, đã tạo ra một lực đẩy mạnh cho toàn khu vực. Trong bức tranh đó, các đại đô thị không chỉ đơn thuần là dự án nhà ở, mà còn hiện thực hóa tầm nhìn kết nối vùng.
Ngoài ra, động lực tăng trưởng của bất động sản cũng gắn chặt với cam kết đầu tư hạ tầng giao thông trọng điểm. Chỉ cần các công trình kết nối chiến lược của khu vực được triển khai đồng bộ, thời gian di chuyển được rút ngắn, cục diện thị trường tại đây sẽ thay đổi.
Từ đó, vị chuyên gia nhấn mạnh "trong chu kỳ phát triển mới, bất động sản chỉ thực sự bền vững và sinh lời khi được đặt đúng vào những “tọa độ chiến lược” của sự dịch chuyển địa kinh tế và động lực đô thị".
Ở chiều ngược lại, ông cũng lưu ý rằng dù các điều kiện thị trường hiện nay có thể khiến dòng vốn có xu hướng tìm đến bất động sản, song quá trình này sẽ không diễn ra một chiều mà đi kèm với những điều chỉnh đáng kể. Khi nhu cầu huy động vốn gia tăng, mặt bằng lãi suất tất yếu chịu áp lực đi lên.
-Thanh Xuân
Giảm nghèo đa chiều: Từ trụ cột chính sách đến động lực chuyển đổi số
Ngay từ đầu thập niên 2010, Việt Nam đã lựa chọn chuẩn nghèo đa chiều, thay cho cách tiếp cận đơn thuần dựa vào thu nhập. Cách làm này không chỉ nhằm đo lường chính xác hơn tình trạng nghèo, mà còn phản ánh rõ cam kết của Việt Nam đối với các Mục tiêu Phát triển bền vững (SDG) của Liên hợp quốc, đặc biệt trong khuôn khổ Chương trình Nghị sự 2030 về Phát triển bền vững. Giảm nghèo vì vậy không tách rời các mục tiêu về giáo dục, y tế, nước sạch, vệ sinh, thông tin và khả năng tiếp cận các dịch vụ cơ bản.
Trên thực tế, phong trào giảm nghèo ở Việt Nam không chỉ là nỗ lực của Nhà nước, mà còn là kết quả của sự tham gia rộng rãi của toàn xã hội. Các chương trình, chính sách đã được thiết kế theo hướng huy động tổng lực các nguồn lực, lan tỏa đến từng cộng đồng, từng hộ gia đình. Đáng chú ý, tư duy “hỗ trợ để tự vươn lên” dần thay thế cách tiếp cận dựa nhiều vào trợ cấp, khuyến khích người dân chủ động đổi mới, sáng tạo để thoát nghèo.
Những chuyển biến về tư duy và cách làm đã mang lại kết quả rõ nét. Theo Báo cáo tóm tắt Kết quả thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2025 và 5 năm 2021-2025 của Chính phủ, tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm từ 4,4% năm 2021 xuống 1,3% năm 2025. Cũng theo Báo cáo này, thời gian qua, các chính sách người có công, an sinh xã hội, giảm nghèo được triển khai toàn diện và đạt nhiều kết quả nổi bật với tinh thần “không để ai bị bỏ lại phía sau”.
Trong nhóm đồng bào dân tộc thiểu số, tỷ lệ nghèo cũng giảm mạnh, xuống còn 12,5%, với mức giảm trung bình hằng năm khoảng 4,5%. Đây là những con số phản ánh hiệu quả của chính sách khi được triển khai đồng bộ, nhất quán và gắn với thực tiễn địa phương.
Tuy nhiên, công cuộc giảm nghèo vẫn đối mặt không ít thách thức. Ở một số vùng trung du, miền núi phía Bắc và Tây Nguyên, tỷ lệ nghèo vẫn cao hơn đáng kể so với mức trung bình cả nước, thậm chí có địa phương ghi nhận tỷ lệ trên 50%. Tại những cộng đồng xa xôi, hẻo lánh nhất, con số này có thể vượt quá 70%. Cơ sở hạ tầng còn thiếu thốn, từ y tế, giáo dục đến sản xuất và logistics, tiếp tục là rào cản lớn.
Bên cạnh đó, các yếu tố như biến đổi khí hậu, già hóa dân số, đô thị hóa nhanh và bất ổn kinh tế toàn cầu đang tạo thêm áp lực đối với nhóm dễ bị tổn thương. Một bộ phận người dân vẫn phụ thuộc nhiều vào hỗ trợ của Nhà nước, cho thấy nhu cầu cấp thiết về những mô hình giảm nghèo bền vững hơn, phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội và văn hóa địa phương.
Việt Nam đang xây dựng chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2026 – 2030 với nhiều điều chỉnh quan trọng. Trong đó, chuyển đổi số đang được nhìn nhận như một “lời giải mới” cho bài toán giảm nghèo đa chiều. Công nghệ số đã thâm nhập sâu rộng vào nhiều lĩnh vực của đời sống, mở ra cơ hội cải thiện sinh kế cho người nghèo.
Nông nghiệp thông minh ứng dụng Internet vạn vật (IoT) và trí tuệ nhân tạo (AI) giúp tăng năng suất từ 30 – 40%. Y tế số với hồ sơ sức khỏe điện tử toàn dân và khám chữa bệnh từ xa giúp người dân vùng sâu, vùng xa tiếp cận dịch vụ chất lượng cao. Giáo dục số với các nền tảng học trực tuyến và AI cá nhân hóa nội dung giảng dạy đang thu hẹp khoảng cách tiếp cận tri thức.
Cùng với đó, Chính phủ số được hoàn thiện với tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến đạt 100%, nhiều khâu xử lý hồ sơ được hỗ trợ bởi AI, qua đó nâng cao hiệu quả và khả năng tiếp cận của người dân ở vùng khó khăn.
Theo đánh giá của các tổ chức quốc tế và chuyên gia, chuyển đổi số có thể đóng góp trực tiếp cho giảm nghèo thông qua việc cải thiện khả năng tiếp cận thị trường, dịch vụ tài chính, y tế, giáo dục, đồng thời thúc đẩy tăng năng suất và tạo việc làm mới. Để các sáng kiến này phát huy hiệu quả, yêu cầu đặt ra là bảo đảm hạ tầng số có chi phí hợp lý, các mô hình triển khai gắn với cộng đồng và hướng tới nhóm yếu thế, qua đó tăng cường quyền sở hữu địa phương và tính bền vững.
Theo đánh giá của các chuyên gia giảm nghèo, chuyển đổi số đang mở ra ba cơ hội lớn cho người dân nghèo: xóa bỏ rào cản địa lý trong tiếp cận dịch vụ công và tài chính chính thức; nâng cao năng suất, thu nhập ngay cả trong các ngành truyền thống; và tạo ra những nghề nghiệp mới đòi hỏi kỹ năng số, mang lại nguồn sinh kế bền vững hơn. Trong tiến trình giảm nghèo đa chiều, đây được xem là động lực quan trọng giúp Việt Nam tiến gần hơn tới mục tiêu phát triển bao trùm và bền vững.
-Hà Lê
Ngành thuỷ sản năm 2026: Phát triển xanh, minh bạch và có trách nhiệm
Ông Đỗ Ngọc Tài, Tân Chủ tịch Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), nhận định năm 2025 là một năm nhiều thách thức đối với ngành thủy sản khi thị trường thế giới tuy có dấu hiệu phục hồi nhưng diễn biến không đồng đều. Các rào cản thương mại, thuế quan và kỹ thuật ngày càng gia tăng, trong khi chi phí sản xuất, yêu cầu về tiêu chuẩn môi trường, truy xuất nguồn gốc, dịch bệnh và lao động tiếp tục gây áp lực lớn cho doanh nghiệp. Ở trong nước, thiên tai, bão lũ và thời tiết cực đoan đã tác động mạnh đến hoạt động khai thác, nuôi trồng, chế biến và logistics của toàn ngành.
BẢN LĨNH VƯỢT KHÓ, HƯỚNG TỚI PHÁT TRIỂN BỀN VỮNGTuy vậy, ông Đỗ Ngọc Tài đánh giá ngành thủy sản Việt Nam đã thể hiện rõ bản lĩnh trong gian khó. Đó là bản lĩnh của cộng đồng doanh nghiệp, của người sản xuất nguyên liệu và của toàn bộ những người đang gắn bó với nghề thủy sản. Toàn ngành đã linh hoạt thích ứng, duy trì nhịp sản xuất, mở rộng và giữ vững thị trường xuất khẩu, đồng thời không ngừng nâng cao chất lượng, đa dạng hóa sản phẩm và gia tăng giá trị.
Năm 2025, kết quả nổi bật nhất là kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 11,3 tỷ USD, thiết lập một kỷ lục mới cho ngành. Đây là thành quả của mồ hôi, công sức và sự bền bỉ của hàng nghìn doanh nghiệp, cơ sở nuôi trồng, khai thác, chế biến; của hàng trăm nghìn người lao động trong toàn chuỗi; đồng thời là kết quả của sự quan tâm, định hướng và đồng hành từ các cơ quan quản lý nhà nước, các địa phương và đối tác trong, ngoài nước.
Năm 2025 ghi nhận 5 địa phương có kim ngạch xuất khẩu thủy sản vượt 1 tỷ USD, gồm TP. Cần Thơ, TP. Hồ Chí Minh, Cà Mau, Khánh Hòa và Đồng Tháp. Đây là những địa phương có sự bứt phá mạnh mẽ, đóng vai trò đầu tàu trong tăng trưởng của toàn ngành". Ông Đỗ Ngọc Tài, Tân Chủ tịch Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP).Theo ông Đỗ Ngọc Tài, năm 2026 cũng là năm mở đầu nhiệm kỳ VII của VASEP (2026-2030), trong bối cảnh kinh tế - thương mại toàn cầu biến động nhanh, phức tạp và khó lường. Trước tình hình đó, VASEP xác định phương châm hành động xuyên suốt là “Chủ động thích ứng - Đổi mới sáng tạo - Phát triển bền vững”.
Bên cạnh mục tiêu tăng trưởng, ngành thủy sản Việt Nam ngày càng được đặt trong yêu cầu phát triển có trách nhiệm, bao gồm trách nhiệm với nguồn lợi thủy sản, với môi trường và cộng đồng, với thị trường quốc tế và với tương lai lâu dài của ngành. Trong đó, chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU) được xác định là nhiệm vụ mang tính nền tảng.
"Chống khai thác IUU không chỉ nhằm gỡ “thẻ vàng” của Ủy ban châu Âu, mà quan trọng hơn là để xây dựng một nghề cá hiện đại, minh bạch và bền vững", ông Đỗ Ngọc Tài khẳng định.
Tân Chủ tịch VASEP cũng biểu dương tinh thần trách nhiệm của các doanh nghiệp hải sản thành viên VASEP trong việc cam kết và thực thi không thu mua, không chế biến, không xuất khẩu hải sản có nguồn gốc IUU sang thị trường EU, qua đó góp phần bảo vệ uy tín ngành hàng, uy tín quốc gia và sinh kế lâu dài của ngư dân.
“Trong hơn ba tháng qua, từ tháng 10/2025 đến nay, Chính phủ, Ban Chỉ đạo quốc gia về IUU và Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã thể hiện quyết tâm rất lớn thông qua các cuộc họp thường xuyên, các chỉ đạo quyết liệt và nhiều quyết sách quan trọng. VASEP, với vai trò đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp hải sản khai thác, đã tham gia trực tiếp và đồng hành cùng quá trình này”, ông Tài khẳng định.
Bước sang năm 2026, VASEP cam kết tiếp tục đồng hành cùng doanh nghiệp theo ba ưu tiên lớn: hỗ trợ mở rộng thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh; thúc đẩy phát triển ngành theo hướng xanh, minh bạch và có trách nhiệm; đồng thời phối hợp chặt chẽ với Chính phủ và các địa phương trong phát triển bền vững, hỗ trợ sinh kế ngư dân và giảm áp lực lên nguồn lợi thủy sản.
KỲ VỌNG BỨT PHÁ TRONG GIAI ĐOẠN 2026-2030Tại Lễ tổng kết xuất khẩu thủy sản năm 2025 do VASEP tổ chức, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đánh giá cáo kết quả mà ngành thủy sản đã đạt được trong năm 2025. Năm 2025, tổng sản lượng thủy sản đạt khoảng 9,95 triệu tấn, mức cao nhất từ trước đến nay. Kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 11,32 tỷ USD, chưa kể khoảng 250 triệu USD từ bột cá, cho thấy năng lực công nghệ, trình độ chế biến và sức cạnh tranh của thủy sản Việt Nam đã được nâng lên rõ rệt.
Một điểm sáng nổi bật trong năm qua là khả năng thích ứng nhanh và linh hoạt của cộng đồng doanh nghiệp. Trước những biến động tại thị trường Hoa Kỳ, các doanh nghiệp thủy sản đã kịp thời “xoay trục” sang các thị trường tiềm năng khác như: Trung Quốc, châu Âu và châu Phi.
Với vai trò cầu nối của VASEP cùng nền tảng từ kỷ lục năm 2025 và ba trụ cột phát triển, gồm: chuyển đổi số - khoa học công nghệ, kinh tế xanh - tuần hoàn và nâng cao giá trị gia tăng, ngành thủy sản Việt Nam được kỳ vọng sẽ hướng tới mục tiêu xuất khẩu 14–16 tỷ USD vào năm 2030”. Ông Phùng Đức Tiến, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường.Theo Thứ trưởng Phùng Đức Tiến, bên cạnh các mặt hàng chủ lực như tôm và cá tra, ngành thủy sản vẫn còn nhiều dư địa để phát triển. Nuôi biển được xác định là một hướng đi chiến lược, với mục tiêu đạt kim ngạch 1,4 tỷ USD vào năm 2030 theo Quyết định 1664/QĐ-TTg của Chính phủ. Cùng với đó, các sản phẩm tiềm năng như cá rô phi mặn lợ, ngành rong, tảo biển, nuôi trồng thủy sản tại hồ chứa và đặc biệt là lĩnh vực chế biến sâu tiếp tục được kỳ vọng sẽ đóng góp lớn vào việc nâng cao giá trị gia tăng cho toàn ngành.
Về vấn đề gỡ “thẻ vàng” IUU, Thứ trưởng Phùng Đức Tiến cho biết: "Chưa bao giờ công tác này nhận được sự vào cuộc quyết liệt, đồng bộ của cả hệ thống chính trị như hiện nay". Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ tướng Chính phủ, ngành thủy sản đang triển khai cao điểm các giải pháp trọng tâm như quản lý chặt chẽ đội tàu thông qua hệ thống giám sát hành trình (VMS), minh bạch và số hóa 100% hồ sơ truy xuất nguồn gốc, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm khai thác ở vùng biển nước ngoài. Mục tiêu là xây dựng một nghề cá minh bạch, có trách nhiệm và phát triển bền vững.
Bước sang năm 2026, năm khởi đầu kế hoạch 5 năm 2026-2030, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ tiếp tục chỉ đạo ngành thủy sản với tinh thần “kỷ cương trách nhiệm, chủ động hiệu quả, đổi mới sáng tạo, tăng tốc bứt phá, tăng trưởng bền vững”.
-Chu Khôi
Giá xăng giảm, dầu tăng do biến động của thị trường thế giới
Chiều 22/1/2026, liên Bộ Công Thương – Tài chính công bố điều chỉnh giá bán các mặt hàng xăng dầu.
Trong kỳ điều hành này, liên Bộ tiếp tục không chi sử dụng Quỹ Bình ổn giá xăng dầu đối với các mặt hàng xăng E5RON92, xăng RON95, dầu điêzen, dầu hỏa, dầu madút.
Sau khi thực hiện việc điều chỉnh, giá bán các mặt hàng xăng dầu tiêu dùng phổ biến trên thị trường như sau:
Xăng E5RON92: không cao hơn 18.283 đồng/lít (giảm 93 đồng/lít so với giá cơ sở hiện hành), thấp hơn xăng RON95-III 348 đồng/lít;
Xăng RON95-III: không cao hơn 18.631 đồng/lít (giảm 81 đồng/lít so với giá cơ sở hiện hành);
Dầu điêzen 0.05S: không cao hơn 17.700 đồng/lít (tăng 413 đồng/lít so với giá cơ sở hiện hành);
Dầu hỏa: không cao hơn 17.950 đồng/lít (tăng 253 đồng/lít so với giá cơ sở hiện hành);
Dầu madút 180CST 3.5S: không cao hơn 13.872 đồng/kg (tăng 471 đồng/kg so với giá cơ sở hiện hành).
Biến động giá bán xăng dầu trong nước từ 31/12/2025 đến 22/01/2026.Về nguyên nhân điều chỉnh giá xăng dầu, liên Bộ cho biết thị trường xăng dầu thế giới kỳ điều hành lần này (từ ngày 15/01/2026 - 21/01/2026) chịu ảnh hưởng của các yếu tố chủ yếu như: nguy cơ gián đoạn nguồn cung dầu từ Iran; tiến độ xuất khẩu dầu của Venezuela diễn ra chậm; hoạt động khai thác dầu của Kazakhstan bị gián đoạn; căng thẳng giữa Mỹ và châu Âu về vấn đề Greenland; xung đột quân sự giữa Nga với Ucraina vẫn tiếp diễn… Các yếu tố nêu trên khiến giá xăng dầu thế giới trong những ngày vừa qua có diễn biến tăng, giảm tùy từng mặt hàng.
Cụ thể, bình quân giá thành phẩm xăng dầu thế giới giữa kỳ điều hành giá ngày 15/01/2026 và kỳ điều hành ngày 22/01/2026 là: 71,056 USD/thùng xăng RON92 dùng để pha chế xăng E5RON92 (giảm 0,516 USD/thùng, tương đương giảm 0,72%); 72,368 USD/thùng xăng RON95 (giảm 0,424 USD/thùng, tương đương giảm 0,58%); 83,388 USD/thùng dầu hỏa (tăng 1,428 USD/thùng, tương đương tăng 1,74%); 82,356 USD/thùng dầu điêzen 0,05S (tăng 2,326 USD/thùng, tương đương tăng 2,91%); 362,514 USD/tấn dầu mazut 180CST 3,5S (tăng 16,408 USD/tấn, tương đương tăng 4,74%).
Biến động giá thành phẩm xăng dầu trên thị trường thế giới từ 08/01/2026 - 14/01/2026 và từ 15/01/2026 - 21/01/2026.Kỳ điều hành này, trước diễn biến giá xăng dầu thế giới, biến động tỷ giá VND/USD và các quy định hiện hành, liên Bộ Công Thương - Tài chính quyết định phương án điều hành giá xăng dầu nhằm bảo đảm biến động giá xăng dầu trong nước phù hợp với biến động giá xăng dầu thế giới; tiếp tục duy trì mức chênh lệch giá giữa xăng sinh học E5RON92 và xăng khoáng RON95 ở mức hợp lý để khuyến khích sử dụng nhiên liệu sinh học theo chủ trương của Chính phủ; bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các chủ thể tham gia thị trường.
Bộ Công Thương-Huyền Vy
Quảng Ninh đề nghị Bộ Xây dựng hướng dẫn thẩm định dự án đường sắt tốc độ cao Hà Nội – Quảng Ninh
Theo Sở Xây dựng Quảng Ninh, đây là dự án hạ tầng giao thông quy mô lớn, có tính chất liên vùng, yêu cầu kỹ thuật phức tạp, tổng mức đầu tư rất lớn và áp dụng công nghệ cao. Dự án được đánh giá có tác động sâu rộng đến phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh cũng như hệ thống kết cấu hạ tầng quốc gia.
Trên cơ sở đó, Sở Xây dựng Quảng Ninh cho rằng việc tổ chức thẩm định ở cấp Bộ là cần thiết nhằm bảo đảm tính thống nhất, khách quan, tuân thủ đầy đủ các quy chuẩn, tiêu chuẩn quốc gia và thông lệ quốc tế, qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình triển khai dự án bảo đảm hiệu quả và tiến độ.
Vì vậy, Sở Xây dựng Quảng Ninh đề nghị Bộ Xây dựng hướng dẫn cụ thể thành phần hồ sơ, tài liệu để địa phương có cơ sở hướng dẫn nhà đầu tư lập, nộp hồ sơ trình thẩm định tại cơ quan chuyên môn thuộc Bộ Xây dựng theo đúng quy định pháp luật.
Cùng với đó, Sở Xây dựng Quảng Ninh cũng đề nghị Bộ Xây dựng hướng dẫn các nội dung công việc thuộc thẩm quyền, trách nhiệm của các sở, ngành và chính quyền địa phương tại tỉnh Quảng Ninh và các địa phương có liên quan gồm Hà Nội, Bắc Ninh và Hải Phòng nhằm hỗ trợ tối đa cho nhà đầu tư trong quá trình triển khai dự án.
Dự án đường sắt tốc độ cao Hà Nội – Quảng Ninh là dự án nhóm A, thuộc loại công trình giao thông đường sắt cấp đặc biệt, do Công ty cổ phần Vinspeed đề xuất đầu tư và đã được giao lập Báo cáo nghiên cứu khả thi.
Theo phương án nghiên cứu, tuyến đường sắt có điểm đầu tại khu vực Trung tâm Hội chợ Triển lãm Quốc gia Cổ Loa, xã Đông Anh, thành phố Hà Nội và điểm cuối tại khu công viên rừng, phường Tuần Châu, tỉnh Quảng Ninh. Tổng chiều dài tuyến khoảng 120,2 km, đi qua địa bàn 4 tỉnh, thành phố gồm Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Phòng và Quảng Ninh.
Quy mô đầu tư bao gồm xây dựng tuyến đường sắt tốc độ cao với tốc độ thiết kế 350 km/h, riêng đoạn qua khu vực thành phố Hà Nội có tốc độ thiết kế 120 km/h. Trên tuyến bố trí 4 ga hành khách gồm Cổ Loa, Gia Bình, Yên Tử và Hạ Long Xanh, cùng 1 ga tại khu vực Hải Phòng.
Sơ bộ tổng mức đầu tư dự án khoảng 157.640 tỷ đồng, tương đương 6,078 tỷ USD. Dự án được đề xuất đầu tư theo hình thức đầu tư kinh doanh theo Luật Đầu tư, sử dụng nguồn vốn khác, trong đó vốn chủ sở hữu chiếm khoảng 15% và vốn vay chiếm khoảng 85%.
Hiện nay, tỉnh Quảng Ninh đang tổ chức thẩm định, phê duyệt chủ trương đầu tư, đồng thời chấp thuận nhà đầu tư thực hiện dự án tuyến đường sắt tốc độ cao Hà Nội – Quảng Ninh theo quy định của pháp luật về đầu tư.
-Đan Tiên
Bộ Xây dựng phản hồi doanh nghiệp quan tâm dự án đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam
Văn bản được gửi tới 13 doanh nghiệp quan tâm đến lĩnh vực giao thông vận tải nói chung và Dự án đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam nói riêng. Danh sách các doanh nghiệp có văn bản đề xuất tham gia Dự án đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam gồm: Công ty cổ phần Tập đoàn Trường Hải; Liên danh nhà đầu tư Mekolor và Great USA; Công ty cổ phần Xây dựng Thăng Long Quốc gia; Công ty cổ phần Vận tải đường sắt Việt Nam; Công ty cổ phần Tập đoàn Vinaconey; Công ty Trách nhiệm hữu hạn Việt Nam 3000 – Tập đoàn Đầu tư và Phát triển Việt Nam; Công ty cổ phần Quản lý quỹ đầu tư FARM13; Công ty cổ phần Phần mềm – Tự động hóa – Điều khiển; Công ty cổ phần Tập đoàn Công nghiệp Quang Trung; Công ty Trách nhiệm hữu hạn HSC-VN; Công ty Trách nhiệm hữu hạn Tập đoàn Đầu tư Trương Gia; Công ty cổ phần Tập đoàn DISCOVERY; Công ty cổ phần Reign.
Theo Bộ Xây dựng, việc trả lời doanh nghiệp được thực hiện trong bối cảnh Bộ đang triển khai các nhiệm vụ theo Nghị quyết số 172/2024/QH15 ngày 30/11/2025, Nghị quyết số 227/2025/QH15 của Quốc hội và Nghị quyết số 106/NQ-CP ngày 23/4/2025 của Chính phủ, đồng thời thực hiện các chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ.
Bộ Xây dựng cho biết hiện nay đang tổ chức lập Báo cáo nghiên cứu khả thi Dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc – Nam, trong đó có nội dung nghiên cứu, lựa chọn hình thức đầu tư phù hợp. Trường hợp dự án được triển khai theo phương thức đối tác công – tư hoặc theo hình thức đầu tư kinh doanh, Bộ Xây dựng sẽ thông báo để các doanh nghiệp quan tâm biết và thực hiện việc nộp hồ sơ tham gia đầu tư theo đúng quy định của pháp luật.
Bộ Xây dựng khẳng định luôn sẵn sàng cung cấp các thông tin cần thiết liên quan đến việc triển khai dự án khi nhận được yêu cầu từ phía doanh nghiệp, đồng thời mong muốn các doanh nghiệp tiếp tục quan tâm, phối hợp để việc triển khai dự án bảo đảm tính khả thi và hiệu quả.
Liên quan đến công tác chuẩn bị đầu tư, Bộ Xây dựng đã chuyển giao nhiệm vụ lập Báo cáo nghiên cứu khả thi Dự án đầu tư xây dựng đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc – Nam cho Ban Quản lý dự án Thăng Long, thay cho Ban Quản lý dự án Đường sắt được giao trước đây. Theo quyết định, Ban Quản lý dự án Thăng Long có trách nhiệm lập Báo cáo nghiên cứu khả thi và chịu trách nhiệm toàn diện về chất lượng, tiến độ và giá thành của dự án.
Trước đó, Thường trực Chính phủ đã yêu cầu Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan xây dựng tiêu chí, quy trình và tổ chức đánh giá để lựa chọn phương thức đầu tư hiệu quả, tối ưu, bảo đảm lợi ích quốc gia và nhân dân, đồng thời phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực.
Trường hợp cần thiết phải bổ sung các cơ chế, chính sách đặc thù phù hợp với từng phương thức đầu tư như đầu tư công, đối tác công – tư hoặc đầu tư kinh doanh, việc đề xuất phải được thực hiện đúng quy trình, quy định, đánh giá kỹ lưỡng tác động, bảo đảm tính khoa học, công khai, minh bạch, hài hòa lợi ích và chia sẻ rủi ro theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.
-Đan Tiên
Vay mua ô tô: Xu hướng tài chính đang được nhiều người tiêu dùng lựa chọn
Sau giai đoạn chững lại từ tháng 8/2025, thị trường ô tô ghi nhận sự phục hồi với đà tăng trưởng rõ nét. Theo số liệu tổng hợp từ Hiệp hội Các nhà sản xuất Ô tô Việt Nam (VAMA), tổng lượng xe tiêu thụ trên toàn thị trường trong năm 2025 đạt 604.134 chiếc, tăng 22,22% so với năm 2024 (494.300 chiếc). Con số này chưa bao gồm các dòng xe do các doanh nghiệp ngoài VAMA phân phối.
Nhu cầu mua ô tô tăng nhanh từ năm 2025. Nguồn ảnh: Sưu tầm.Bên cạnh đó, theo thống kê của Cục Hải quan Việt Nam, trong năm 2025, Việt Nam nhập khẩu 205.630 ô tô nguyên chiếc, tăng 18,6% so với năm 2024. Đây là lần đầu tiên lượng xe nhập khẩu vượt mốc 200.000 chiếc trong một năm, mức cao nhất từ trước đến nay. Trong đó, nhóm xe chở người từ 9 chỗ ngồi trở xuống đạt 152.854 chiếc, phần còn lại là xe thương mại và xe chuyên dụng.
Diễn biến này cho thấy nhu cầu tiêu dùng đối với phương tiện cá nhân và phương tiện phục vụ sản xuất kinh doanh đang gia tăng, phản ánh tín hiệu phục hồi của thị trường cũng như sự cải thiện dần về thu nhập và khả năng chi tiêu của người dân.
KHI NGƯỜI TIÊU DÙNG TÌM KIẾM SỰ LINH HOẠT TRONG VAY MUA Ô TÔTrong bối cảnh thị trường ô tô tăng trưởng, người tiêu dùng có xu hướng thận trọng hơn trong việc đánh giá tổng chi phí sở hữu phương tiện, bao gồm chi phí khấu hao, bảo trì và vận hành trong suốt vòng đời sử dụng. Yếu tố này khiến các dòng xe có tính thực dụng, tối ưu chi phí và phù hợp với ngân sách cá nhân tiếp tục được ưu tiên lựa chọn.
Người tiêu dùng tìm kiếm sự linh hoạt và phù hợp trong vấn đề vay mua ô tô. Nguồn ảnh: Sưu tầm.Song song đó, nhu cầu tiếp cận các giải pháp tài chính linh hoạt khi mua ô tô ngày càng gia tăng. Người tiêu dùng quan tâm đến nhiều yếu tố trong cấu trúc khoản vay như mức lãi suất, thời hạn vay, quy trình thủ tục, các chương trình ưu đãi đi kèm và phương thức thanh toán phù hợp với dòng tiền cá nhân, bao gồm tỷ lệ trả trước, lịch trả nợ và hình thức trả góp định kỳ.
Xu hướng này được thúc đẩy bởi sự cạnh tranh giữa các ngân hàng, tổ chức tín dụng và các gói hỗ trợ tài chính từ hệ thống đại lý, nhằm giảm áp lực tài chính ban đầu và gia tăng khả năng tiếp cận phương tiện.
CÂN ĐỐI TÀI CHÍNH KHI MUA Ô TÔ: BÀI TOÁN KHÔNG CỦA RIÊNG AIVay vốn mua ô tô ngày càng trở thành giải pháp được nhiều người tiêu dùng lựa chọn nhằm phân bổ nguồn tài chính hợp lý, thay vì sử dụng toàn bộ khoản tiền tích lũy trong ngắn hạn. Cách tiếp cận này giúp duy trì dòng tiền cho các nhu cầu chi tiêu khác, đồng thời sớm đáp ứng nhu cầu di chuyển và hạn chế tác động từ biến động giá xe.
Nguồn: Mirae Asset Việt Nam.Trên thị trường hiện nay, các ngân hàng và công ty tài chính đang cung cấp nhiều gói vay mua ô tô với sự khác biệt về hạn mức, lãi suất và điều kiện giải ngân. Theo ghi nhận, mặt bằng chung tỷ lệ cho vay phổ biến ở mức 75–80% giá trị xe, lãi suất dao động khoảng 9–10%/năm và thường đi kèm yêu cầu mua bảo hiểm khoản vay. Trong đó, một số đơn vị tiêu biểu đã triển khai chính sách linh hoạt hơn nhằm tăng khả năng tiếp cận vốn cho người tiêu dùng.
Đơn cử, Công ty Tài chính TNHH MTV Mirae Asset (Việt Nam) áp dụng hạn mức cho vay lên đến 90% giá trị xe, riêng một số dòng xe phục vụ vận tải công nghệ như Xanh SM, mức cho vay khoảng 85%. Lãi suất được công bố ở mức thấp hơn mặt bằng chung từ 1 - 1,5 điểm phần trăm, đồng thời không yêu cầu mua bảo hiểm khoản vay, qua đó giúp giảm chi phí tài chính ban đầu cho người vay.
Công ty Tài chính TNHH MTV Mirae Asset (Việt Nam) là thành viên của Tập đoàn Mirae Asset (Hàn Quốc), hoạt động từ năm 2010. Hiện doanh nghiệp cung cấp dịch vụ cho hơn 4 triệu khách hàng, thông qua mạng lưới toàn quốc với hơn 25.000 điểm bán (POS).
Trong 15 năm hoạt động, doanh nghiệp theo mục tiêu mang đến cho khách hàng cơ hội tiếp cận nguồn vốn an toàn và hợp pháp thông qua việc không ngừng hoàn thiện các sản phẩm cho vay tiêu dùng.
-Thu Hà
Chuyển đổi số: Động lực mới cho công tác giảm nghèo tại Ninh Bình
Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, là định hướng lớn cho việc thúc đẩy ứng dụng công nghệ trong mọi lĩnh vực, trong đó có công tác giảm nghèo.
Nghị quyết nhấn mạnh vai trò của đổi mới sáng tạo, phát huy nội lực, khơi dậy ý chí tự lực tự cường của người dân trong quá trình vươn lên thoát nghèo, xây dựng cuộc sống ấm no, hướng tới mục tiêu “Vì một Việt Nam không còn đói nghèo”.
Với sự đầu tư đồng bộ về thể chế, nguồn lực và hạ tầng số, chuyển đổi số được kỳ vọng trở thành động lực quan trọng thúc đẩy giảm nghèo đa chiều, tạo sinh kế bền vững và xây dựng cộng đồng hạnh phúc trong giai đoạn 2026 - 2030 và những năm tiếp theo.
Tại tỉnh Ninh Bình, ông Tạ Quang Phương, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ, cho biết để tiếp tục phát huy vai trò của chuyển đổi số trong công tác giảm nghèo bền vững, thời gian tới, đơn vị sẽ tập trung đẩy mạnh chuyển giao công nghệ số nông nghiệp thông qua việc hỗ trợ các hợp tác xã, hộ nghèo ứng dụng quy trình sản xuất thông minh. Đặc biệt hỗ trợ số hóa, gắn mã QR truy xuất nguồn gốc cho 100% sản phẩm OCOP, nâng cao giá trị và tính cạnh tranh trên thị trường số.
Đồng thời, Sở sẽ phối hợp đào tạo trên 1.300 tổ công nghệ số cộng đồng để trực tiếp hướng dẫn người dân sử dụng điện thoại phục vụ kinh doanh, thanh toán không dùng tiền mặt và tra cứu kỹ thuật canh tác; xây dựng và hoàn thiện mô hình “Xã thông minh” tiêu biểu. Từ đó nhân rộng để người dân thấy được hiệu quả thực tế và chủ động ứng dụng công nghệ để làm giàu trên mảnh đất quê hương…
Việc đẩy mạnh chuyển đổi số đã góp phần giúp tỷ lệ hộ nghèo đa chiều tại Ninh Bình giảm xuống còn 0,9%, thấp hơn mức bình quân của cả nước. Kết quả này phản ánh sự nỗ lực đồng bộ trong công tác giảm nghèo, trong đó khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đóng vai trò mở ra hướng đi bền vững cho phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao đời sống của người dân địa phương.
-Dương Thùy