Feed aggregator
Draft decree on 2 per cent rate subsidy for green projects to be submitted this week
Kinh tế 11 tháng năm 2025: Phục hồi kiên cường trong thử thách
Kinh tế 11 tháng năm 2025 diễn ra trong bối cảnh toàn cầu có nhiều biến động với chuỗi cung ứng quốc tế chưa hoàn toàn ổn định, giá năng lượng và nguyên vật liệu dao động khó lường, lạm phát tại nhiều nền kinh tế phát triển vẫn cao hơn mức mục tiêu, trong khi áp lực địa chính trị vẫn âm ỉ. Trong bối cảnh bất định ấy, Việt Nam đã kiên định chính sách ổn định kinh tế vĩ mô, tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp và giữ niềm tin thị trường.
Trong 11 tháng năm 2025, nền kinh tế thể hiện khả năng phục hồi, lạm phát bình quân được kiểm soát ở mức 3,29%; tỷ giá và lãi suất tương đối ổn định, tạo đà cho sản xuất, xuất khẩu và đầu tư phát triển. Đây chính là “tấm khiên vững chắc” để nền kinh tế đứng vững trước những cơn sóng biến động từ bên ngoài. Ổn định vĩ mô chính là điểm tựa, bảo vệ nền kinh tế, giúp Việt Nam đứng vững trước những cơn sóng lớn của cú sốc thiên tai và biến động toàn cầu.
NHỮNG ĐIỂM SÁNG CỦA NỀN KINH TẾDù phải chống chọi với thiên tai lịch sử miền Trung, sức mua suy yếu và tác động của các cú sốc đầu năm, kinh tế Việt Nam vẫn xuất hiện những điểm sáng đáng chú ý.
Mặt bằng tăng trưởng mới đang dần hình thành với chất lượng được cải thiện trong môi trường đầy biến động. Sáu tín hiệu tích cực của nền kinh tế 11 tháng qua, từ xuất khẩu phục hồi, sản xuất công nghiệp cải thiện, đầu tư công có trọng tâm, tín dụng mở rộng, đến việc hé mở các động lực của tam giác tăng trưởng mới: kinh tế xanh - kinh tế số - kinh tế tri thức cho thấy nền kinh tế đang cố gắng giữ nhịp trong bối cảnh “nhiều lực cản”. Những điểm sáng này cần được nhìn nhận không chỉ như thành tựu, mà còn như phép thử cho khả năng chống chịu, cho độ chính xác của chính sách và năng lực điều hành kinh tế vĩ mô trong bối cảnh mới.
Một là, xuất khẩu bật dậy, công nghiệp trong nước chưa theo kịp. Kim ngạch xuất khẩu 11 tháng năm 2025 tiếp tục tăng mạnh, đạt 430,1 tỷ USD tăng 16,1% so với cùng kỳ năm trước, trở thành động lực quan trọng kéo nền kinh tế vượt khó. Trong đó, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 327,7 tỷ USD, tăng 23,1%, chiếm 76,2% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực kinh tế trong nước đạt 102,4 tỷ USD, giảm 1,7%, chiếm 23,8%.
Khu vực công nghiệp trong nước vẫn chưa bắt kịp nhịp phát triển, khiến giá trị gia tăng và liên kết chuỗi cung ứng còn hạn chế. So với cùng kỳ năm trước, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu đạt 839,75 tỷ USD, tăng 17,35%, một số mặt hàng có kim ngạch và tốc độ tăng cao như: điện tử, máy tính và linh kiện đạt 96,917 tỷ USD, tăng 48,5%; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác đạt 53,358 tỷ USD, tăng 11,6%.
Cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 20,53 tỷ USD, chỉ bằng 84,2% mức xuất siêu của 11 tháng năm 2024. Trong đó, khu vực FDI xuất siêu 46,5 tỷ USD; khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 26,0 tỷ USD. Cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu phản ánh khả năng chống chịu đáng kể của nền kinh tế trước các cú sốc toàn cầu và sức mạnh của nền kinh tế mở, Mỹ áp dụng thuế quan đối ứng.
Điểm sáng không chỉ nằm ở số lượng mà còn ở chất lượng khi các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, điện tử và linh kiện đang chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu. Tuy vậy, hoạt động xuất, nhập khẩu vẫn phụ thuộc khá lớn vào một số ít thị trường quốc tế và dòng vốn FDI, cảnh báo rủi ro nếu chuỗi cung ứng toàn cầu biến động mạnh.
Các doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp làm hàng xuất khẩu vẫn duy trì đà tăng nhờ đơn hàng mới tăng tháng thứ ba liên tiếp, với chỉ số PMI tháng 11/2025 đạt 53,8 điểm, thị trường xuất khẩu ghi nhận những tín hiệu khả quan khi tốc độ tăng đơn hàng xuất khẩu mới đạt mức cao nhất trong 15 tháng qua. Tuy vậy, các doanh nghiệp trong nước chưa tận dụng triệt để lợi thế này, khi nguồn lực cho công nghiệp hỗ trợ, RD và logistics còn yếu. Nếu không sớm nâng cấp năng lực khu vực kinh tế trong nước, nền kinh tế sẽ khó tránh khỏi “bẫy gia công” và phụ thuộc quá mức vào nguồn cầu bên ngoài.
Hai là, khu vực công nghiệp và xây dựng lấy lại vai trò là động lực tăng trưởng. Mười một tháng năm 2025, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tăng 9,3% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn 1 điểm phần trăm của 11 tháng năm 2024. Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 10,6%, cùng kỳ năm 2024 tăng 9,6%.
Đặc biệt, một số sản phẩm công nghiệp chủ lực trong 11 tháng năm 2025 đều tăng hai con số, trên 10%. Cụ thể: sản phẩm ô tô tăng 37,4%; tivi tăng 19,0%; thép cán tăng 18,5%; quần áo mặc thường tăng 14,2%; xi măng tăng 14,1%; giày, dép da tăng 12,8%.
Ba là, đầu tư công bứt phá, hiệu quả đầu tư chưa tương xứng. Đầu tư công tiếp tục bứt phá, với nhiều dự án hạ tầng chiến lược được đẩy nhanh tiến độ, tạo hiệu ứng lan tỏa đến các ngành vật liệu xây dựng, logistics, năng lượng và dịch vụ.
Tuy nhiên, tốc độ giải ngân không đi cùng với hiệu quả. Nhiều dự án còn dàn trải, chưa tập trung vào các trụ cột chiến lược, cơ chế phối hợp với khu vực tư nhân vẫn chưa thực sự hấp dẫn.
Trong bối cảnh thiên tai, biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng, đầu tư công cần ưu tiên chất lượng, tính bền vững và khả năng lan tỏa, cần tập trung vào các lĩnh vực trọng điểm như hạ tầng thích ứng biến đổi khí hậu, năng lượng xanh và hạ tầng số - những yếu tố sẽ quyết định sức sống bền vững dài hạn của nền kinh tế trong thập niên tới.
Bốn là, tín dụng tăng cao, chưa tạo bứt phá cho tăng trưởng kinh tế. Tín dụng toàn nền kinh tế đến cuối tháng 11 vượt mục tiêu tăng 16% so với cuối năm 2024; trong đó 69,83% tổng tín dụng chảy vào khu vực dịch vụ, 24% vào khu vực công nghiệp và xây dựng, 6,17% vào khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản.
Cơ cấu tín dụng tạo ra sự lệch pha giữa các ngành và động lực tăng trưởng; khu vực sản xuất vật chất - nền tảng nâng cao năng lực sản xuất và xuất khẩu chưa được tiếp sức đúng mức. Điều này cảnh báo dòng vốn chưa thực sự chảy vào các lĩnh vực hiệu quả như công nghệ, đổi mới sáng tạo hay nâng cao năng suất. Nếu không điều chỉnh cơ chế phân bổ, tín dụng tăng cao có thể tạo ra bong bóng tài sản hoặc lãng phí nguồn lực, thay vì thúc đẩy tăng trưởng bền vững. Mức tín dụng tăng cao vượt quá khả năng hấp thụ thực tế của nền kinh tế đưa đến nguy cơ lệch pha giữa tốc độ tăng vốn và hiệu quả tăng trưởng.
Năm là, đột phá trong cải cách thể chế. Trong bức tranh kinh tế 11 tháng năm 2025, lĩnh vực thể chế nổi lên như một trụ cột cải cách mang tính định hướng dài hạn. Ngày 4/7/2025, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg quy định rõ các tiêu chí môi trường và quá trình xác nhận các dự án đầu tư thuộc danh mục xanh. Với Quyết định này, lần đầu tiên Việt Nam có một khung pháp lý đầu tư xanh tương đối đồng bộ, đánh dấu bước chuyển quan trọng về tư duy từ phát triển bằng mọi giá sang tăng trưởng có trách nhiệm, tăng trưởng xanh, tạo hành lang minh bạch cho thị trường vốn và tín dụng xanh.
Việc ban hành khung pháp lý cho đầu tư xanh và chuẩn bị thành công lộ trình nâng hạng thị trường chứng khoán không chỉ tạo động lực mới cho dòng vốn đầu tư, mà còn khẳng định bản lĩnh thể chế Việt Nam trong quá trình hiện đại hóa nền kinh tế.
Mặc dù môi trường kinh doanh tiếp tục cải thiện nhưng chưa đủ mạnh để tạo niềm tin vững chắc cho doanh nghiệp. Thủ tục hành chính vẫn phức tạp, chi phí tuân thủ chưa giảm nhiều, cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp chưa đồng bộ.
Doanh nghiệp đang mong chờ một cuộc cải cách thể chế thực chất hơn, không chỉ là cải thiện thủ tục mà là nâng cấp toàn bộ hệ thống quản trị, minh bạch hóa thông tin, bảo đảm cạnh tranh công bằng và giảm rủi ro chính sách. Môi trường kinh doanh thuận lợi sẽ giúp doanh nghiệp trong nước tận dụng tốt hơn các cơ hội từ xuất khẩu, chuyển đổi số, thu hút dòng vốn FDI, đồng thời thúc đẩy phát triển công nghiệp hỗ trợ.
Sáu là, tam giác chiến lược phát triển Xanh - Số - Tri thức, động lực mới của nền kinh tế. Kinh tế xanh, kinh tế số và kinh tế tri thức đang hình thành ba trụ cột quan trọng cho tăng trưởng bền vững. Đây không chỉ là xu hướng, mà là quỹ đạo bắt buộc để nâng cao năng suất, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh quốc gia trong thập niên tới.
Kinh tế xanh giúp Việt Nam giảm rủi ro thương mại quốc tế, đáp ứng yêu cầu về phát thải và tăng trưởng bền vững. Kinh tế số là động lực mới nâng cao năng suất lao động, tạo ra chuỗi giá trị mới và cải thiện hiệu quả quản trị. Kinh tế tri thức giúp nâng cao trình độ công nghệ, đổi mới sáng tạo và giá trị gia tăng sản phẩm. Ba trụ cột này khi được kết hợp đồng bộ với cải cách thể chế, đầu tư công chất lượng cao và thị trường trong nước vững mạnh, sẽ là bệ phóng cho nền kinh tế bứt phá trong giai đoạn 2026-2030.
NHỮNG VẤN ĐỀ PHẢI ĐỐI MẶTBên cạnh những điểm sáng, nền kinh tế vẫn đang đối mặt với sức mua giảm tốc, sức khỏe của thị trường còn mong manh. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 11 tháng chỉ tăng 6,8%, giảm 0,2 điểm phần trăm so với 10 tháng năm 2025, cho thấy sức mua của thị trường trong nước còn yếu. Đây là dấu hiệu cảnh báo về “độ mỏng” của thị trường tiêu dùng trong nước - trụ cột quan trọng từng giúp nền kinh tế chống chọi với các cú sốc trước đây, chưa đủ vững để duy trì tăng trưởng.
Sự giảm tốc của tiêu dùng trong nước phản ánh thu nhập của hộ gia đình chưa phục hồi hoàn toàn, khiến người dân ưu tiên chi tiêu các mặt hàng thiết yếu, làm chậm đà tăng tiêu dùng dịch vụ, du lịch và hàng hóa cao cấp. Cùng với đó, thiên tai còn gây gián đoạn chuỗi cung ứng, làm tăng chi phí sinh hoạt, khiến sức mua tăng chậm hơn mức bình thường. Tổng thiệt hại có thể kéo GDP cả nước giảm 0,6-0,8 điểm phần trăm.
Thiên tai liên tục đặt ra câu hỏi về khả năng chống chịu của nền kinh tế và hiệu quả đầu tư công, quản trị rủi ro, phòng chống thiên tai. Các chính sách hỗ trợ và đầu tư hạ tầng thích ứng biến đổi khí hậu, năng lượng xanh và cơ chế ứng phó khẩn cấp chưa đồng bộ, làm gia tăng rủi ro về tăng trưởng.
Nhìn lại bức tranh kinh tế 11 tháng qua, điều cần nhấn mạnh hơn là nền kinh tế Việt Nam đang buộc phải thiết lập một mặt bằng tăng trưởng mới, bởi bối cảnh đã thay đổi, mầm mống rủi ro đang gia tăng, dư địa chính sách không còn rộng như trước.
Thiên tai lịch sử quét qua miền Trung và nhiều vùng trong cả nước, sức mua suy yếu, đầu tư tư nhân chững lại, trong khi độ mở lớn khiến nền kinh tế nhạy cảm hơn với biến động địa chính trị và chính sách kinh tế thế giới, đây là những thực tế phơi bày mức độ mong manh của nền kinh tế, điều mà chúng ta cần nhận thức đúng mức.
CỦNG CỐ NIỀM TIN, KIẾN TẠO QUỸ ĐẠO TĂNG TRƯỞNG MỚIMười một tháng năm 2025 khép lại với bức tranh kinh tế có những điểm sáng đủ mạnh để giữ nhịp tăng trưởng, nhưng cũng có những khoảng tối cho thấy nền tảng của nền kinh tế vẫn còn mong manh trước các cú sốc. Trong sự đan xen đó, yêu cầu thiết lập một mặt bằng tăng trưởng mới trở thành đòi hỏi cấp bách. Mặt bằng tăng trưởng mới không chỉ là mức tăng GDP cao hơn, mà là một cấu trúc tăng trưởng dựa vào năng suất, chất lượng, công nghệ, kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế tri thức và sức chống chịu của toàn hệ thống. Đây là quá trình tái thiết nền tảng.
Kết quả đạt được trong 11 tháng năm 2025 cho thấy nội lực của nền kinh tế vẫn bền bỉ, khả năng thích ứng vẫn mạnh mẽ và dư địa cải cách vẫn rất lớn. Nếu biết chuyển hóa khó khăn thành động lực, biến thách thức thành cơ hội để hoàn thiện thể chế, tăng năng lực cạnh tranh và đầu tư có mục tiêu, Việt Nam hoàn toàn có thể bước vào chu kỳ tăng trưởng mới vững chắc hơn.
Kinh tế Việt Nam đang đứng trước thời điểm bản lề, hoặc tiếp tục đi theo quán tính cũ, hoặc mạnh dạn tạo dựng một quỹ đạo tăng trưởng chất lượng cao. Những tín hiệu tích cực của 11 tháng qua dù chưa đủ để yên tâm nhưng là nền tảng để củng cố niềm tin vào triển vọng năm 2026 và giai đoạn tới.
Với quyết tâm cải cách, sự linh hoạt chính sách và tinh thần phục hồi mạnh mẽ của cộng đồng doanh nghiệp, chúng ta hoàn toàn có cơ sở để tin tưởng Việt Nam có thể bước sang một thập niên tăng trưởng mới, vững vàng hơn, bền bỉ hơn và có sức cạnh tranh cao hơn.
(*) Nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, (nay là Cục Thống kê, Bộ Tài chính)
Nội dung đầy đủ của bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 50-2025 phát hành ngày 13/12/2025. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-50-2025.html
-TS. Nguyễn Bích Lâm (*)
Đột phá TFP và cải cách đầu tư công: “Chìa khóa” cho mục tiêu tăng trưởng GDP hai chữ số
Theo PGS.TS. Lê Xuân Bá, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM), Việt Nam đang đứng trước một ngã rẽ lịch sử, đòi hỏi phải có sự thay đổi căn bản trong tư duy phát triển bởi tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của Việt Nam trong giai đoạn 1986 - 2025 là khoảng 6,51%/năm. Mức này còn cách biệt khá xa so với các nền kinh tế đã có giai đoạn tăng trưởng bứt phá như Hàn Quốc đạt 9,58%/năm (1960-1990), Trung Quốc đạt 10,02%/năm (1978-2018) và Nhật Bản đạt 8,49%/năm (1947-1977).
“Để lọt vào nhóm các nền kinh tế tăng trưởng cao với GDP tăng trên 10%, Việt Nam không thể tiếp tục dựa vào mô hình tăng trưởng theo chiều rộng, khai thác chủ yếu vốn và tài nguyên”, PGS.TS. Lê Xuân Bá nhấn mạnh.
Yếu tố quyết định sự chuyển đổi mô hình tăng trưởng, theo PGS.TS. Lê Xuân Bá, chính là TFP. Đây là thước đo hiệu quả tổng thể của các yếu tố đầu vào (vốn và lao động), phản ánh sự tiến bộ về công nghệ, quản lý và đặc biệt là thể chế.
NÂNG TỶ LỆ ĐÓNG GÓP CỦA TFP LÊN TRÊN 50%Phân tích dữ liệu cho thấy, mặc dù đóng góp của TFP vào tăng trưởng GDP có xu hướng tăng (dự kiến đạt 46,4% vào năm 2024), nhưng để tạo ra sự khác biệt và duy trì mức tăng trưởng hai chữ số, tỷ lệ đóng góp này cần phải được đẩy lên mức trên 50%.
“Kinh nghiệm quốc tế cho thấy các nước muốn tăng trưởng cao đều phải nâng cao đóng góp của TFP lên trên 50%. Việc đột phá TFP đòi hỏi một loạt các giải pháp đồng bộ, mà cốt lõi là hoàn thiện thể chế kinh tế để thể chế không còn là điểm nghẽn của điểm nghẽn”, PGS.TS. Lê Xuân Bá nhấn mạnh.
Thực tế 5 năm thực hiện Nghị quyết số 31/2021/QH15 về cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2021-2025 cho thấy quá trình này đối mặt với rất nhiều thách thức. Báo cáo của Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính (Bộ Tài chính) cho biết trong số 27 chỉ tiêu đề ra, đến nay mới có 23/27 chỉ tiêu có thông tin đánh giá; trong đó: số chỉ tiêu có khả năng hoàn thành: 10/23, số chỉ tiêu khó có khả năng hoàn thành: 9/23 và số chỉ tiêu dự kiến không hoàn thành: 4/23.
Đáng chú ý, trong số 4/23 chỉ tiêu không có khả năng hoàn thành, có hai chỉ tiêu chất lượng quan trọng lại khó đạt được, bao gồm tăng năng suất lao động và tỷ trọng chi cho khoa học và công nghệ. Trong đó, nguyên nhân sâu xa nằm ở tiến độ xây dựng thể chế, chính sách chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu phát triển và thủ tục hành chính vẫn còn rườm rà.
Ở một góc nhìn khác, TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia kinh tế trưởng BIDV, Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, nhận định rằng để đạt mức tăng trưởng 10% giai đoạn tới, bên cạnh việc cải thiện TFP, Việt Nam cần tiếp tục tăng đầu tư vốn.
“Theo ước tính của chúng tôi, trong giai đoạn tới, yếu tố vốn tiếp tục đóng góp khoảng 45-47% cho tăng trưởng kinh tế; yếu tố lao động khoảng 5-6%, thấp hơn so với mức 8% hiện nay; trong khi TFP sẽ tăng lên trên 50%, so với mức 47% hiện nay”, ông Lực phân tích.
CẢI THIỆN ICOR, ĐƯA ĐẦU TƯ CÔNG HIỆU QUẢTheo tính toán của BIDV, trong giai đoạn 2021-2025, đầu tư công chiếm 17,2% tổng vốn đầu tư toàn xã hội và cứ một đồng vốn đầu tư công tăng thêm sẽ kéo theo 1,61 đồng vốn đầu tư tư nhân. Điều này cho thấy đầu tư công là một trong những động lực then chốt, giữ vai trò “dẫn dắt”, là “vốn mồi” của nền kinh tế.
Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng vốn đang là vấn đề đáng báo động, tạo ra áp lực lớn cho mục tiêu tăng trưởng cao và chất lượng.
Hệ số ICOR, thước đo hiệu quả sử dụng vốn của nền kinh tế, đặc biệt trong khu vực Nhà nước đang ở mức cao đáng lo ngại. Nếu như ICOR của cả nền kinh tế giai đoạn 2016-2021 là 9,1 lần thì ICOR của khu vực nhà nước tăng từ 13,03 (2010-2015) lên 17,8 lần (2016-2021).
Mức ICOR này cao hơn gấp 4-5 lần so với các nền kinh tế phát triển nhanh khác trong giai đoạn bứt phá (Hàn Quốc, Nhật Bản chỉ khoảng 3,2). Theo TS. Cấn Văn Lực, để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP 10% trong giai đoạn tới (với vốn đầu tư toàn xã hội khoảng 40% GDP), ICOR phải được kiểm soát ở mức 4 lần; bởi chỉ có như vậy, Việt Nam mới giải quyết được bài toán cơ cấu vốn chưa hợp lý, tình trạng lãng phí và tồn đọng nhiều dự án như thời gian qua.
Thống kê cho thấy hiện có khoảng 80% tổng vốn đầu tư đang đổ vào cơ sở hạ tầng, trong khi chỉ còn 20% dành cho các lĩnh vực tạo ra đột phá TFP như: khoa học, công nghệ (0,45%), giáo dục (10,3%) và y tế (4,2%). Đây là một sự phân bổ không cân xứng, kìm hãm khả năng tăng trưởng theo chiều sâu.
Ngoài ra, tình trạng giải ngân vốn đầu tư công chậm tiến độ vẫn kéo dài, không đạt chỉ tiêu (chỉ đạt 84,47% kế hoạch năm 2024). Đáng chú ý, có tới gần 3.000 dự án tồn đọng vướng mắc chưa thể triển khai, gây lãng phí nguồn lực và thời gian.
NHỮNG KIẾN NGHỊ ĐỘT PHÁĐể hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai chữ số, các chuyên gia kiến nghị tập trung vào việc tái cơ cấu đầu tư công và tạo động lực từ việc cải thiện TFP, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Theo TS. Cấn Văn Lực, giải pháp cốt lõi là thay đổi cơ cấu chi tiêu công theo hướng phục vụ mục tiêu tăng trưởng chiều sâu. Vị chuyên gia kiến nghị điều chỉnh cơ cấu vốn đầu tư công theo hướng giảm tỷ trọng đầu tư cho hạ tầng giao thông, năng lượng từ mức 80% hiện nay xuống còn khoảng 50-55% tổng vốn đầu tư công; tăng mạnh chi cho các lĩnh vực tạo TFP như chi cho giáo dục và đào tạo khoảng 20% tổng vốn (tiệm cận với mức quốc tế), tăng đầu tư cho y tế lên mức 10-12% và cho khoa học, công nghệ lên 3-5%; đầu tư mạnh hơn nữa cho chuyển đổi xanh, chống biến đổi khí hậu để đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế.
Đồng thời, cần hoàn thiện Bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả dự án đầu tư công một cách khoa học, cập nhật (với sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế như Quỹ tiền tệ quốc tế-IMF và Ngân hàng Thế giới-WB) để ICOR có thể giảm xuống mức mục tiêu 4-5 lần.
Về quản lý, TS. Cấn Văn Lực cho rằng cần kiểm soát số lượng dự án hợp lý và rà soát, điều chỉnh kế hoạch vốn từ những dự án chậm giải ngân sang các dự án giải ngân tốt.
Cùng với việc cải cách đầu tư công, PGS.TS. Lê Xuân Bá khuyến nghị Chính phủ cần đẩy mạnh hơn nữa việc hoàn thiện thể chế và phát triển nguồn nhân lực để tạo ra sự cộng hưởng sức mạnh. Trong đó, giải pháp quan trọng là xây dựng một Nhà nước kiến tạo, liêm chính (công tâm, khách quan, có trách nhiệm giải trình) và thiết lập thể chế cho phát triển. Việc cải cách phải tạo hành lang pháp lý thông thoáng, thúc đẩy mạnh mẽ các mô hình kinh tế mới, đặc biệt là khu vực kinh tế tư nhân, nhằm phát huy tối đa vai trò là động lực tăng trưởng.
“Điều này cũng cần được cụ thể hóa thông qua việc tháo gỡ vướng mắc trong các luật khung quan trọng, đang được Chính phủ khẩn trương tiếp thu, giải trình để đảm bảo tính thống nhất, phân cấp và loại bỏ quy hoạch chậm, chồng chéo”, PGS.TS. Lê Xuân Bá nêu quan điểm.
Về huy động vốn tư nhân và nguồn lực trong dân, PGS.TS. Lê Xuân Bá chỉ ra rằng cần có chính sách hữu hiệu thu hút kiều hối và tạo môi trường kinh doanh thuận lợi nhằm huy động nguồn lực nhàn rỗi trong dân, ước tính khoảng 60 tỷ USD. Đầu tư công phải đóng vai trò xúc tác để dẫn dắt, chứ không phải thay thế vốn tư nhân.
Đặc biệt, với đột phá phát triển nguồn nhân lực, theo TS. Cấn Văn Lực, cần chuyển mạnh giáo dục và đào tạo từ học thụ động sang học chủ động, gắn lý luận với thực tiễn, đẩy mạnh việc giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các cơ sở đào tạo công lập để nâng cao chất lượng lao động, từ đó gia tăng tỷ lệ đóng góp của yếu tố lao động vào tăng trưởng kinh tế.
“Việc xác lập mô hình tăng trưởng mới dựa trên chất lượng, hiệu quả và tính tự chủ cao hơn, được hỗ trợ bởi một hệ thống thể chế linh hoạt, hiệu quả và nguồn vốn đầu tư công được tái cơ cấu triệt để, chính là chìa khóa để Việt Nam có thể hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng bứt phá (10% trở lên) trong giai đoạn 2026-2030, tiến tới trở thành nước phát triển, thu nhập cao”, TS. Cấn Văn Lực nhấn mạnh.
Nội dung đầy đủ của bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 50-2025 phát hành ngày 13/12/2025. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-50-2025.html
-Anh Nhi
Đột phá TFP và cải cách đầu tư công: “Chìa khóa” cho mục tiêu tăng trưởng GDP hai chữ số
Theo PGS.TS. Lê Xuân Bá, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM), Việt Nam đang đứng trước một ngã rẽ lịch sử, đòi hỏi phải có sự thay đổi căn bản trong tư duy phát triển bởi tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của Việt Nam trong giai đoạn 1986 - 2025 là khoảng 6,51%/năm. Mức này còn cách biệt khá xa so với các nền kinh tế đã có giai đoạn tăng trưởng bứt phá như Hàn Quốc đạt 9,58%/năm (1960-1990), Trung Quốc đạt 10,02%/năm (1978-2018) và Nhật Bản đạt 8,49%/năm (1947-1977).
“Để lọt vào nhóm các nền kinh tế tăng trưởng cao với GDP tăng trên 10%, Việt Nam không thể tiếp tục dựa vào mô hình tăng trưởng theo chiều rộng, khai thác chủ yếu vốn và tài nguyên”, PGS.TS. Lê Xuân Bá nhấn mạnh.
Yếu tố quyết định sự chuyển đổi mô hình tăng trưởng, theo PGS.TS. Lê Xuân Bá, chính là TFP. Đây là thước đo hiệu quả tổng thể của các yếu tố đầu vào (vốn và lao động), phản ánh sự tiến bộ về công nghệ, quản lý và đặc biệt là thể chế.
NÂNG TỶ LỆ ĐÓNG GÓP CỦA TFP LÊN TRÊN 50%Phân tích dữ liệu cho thấy, mặc dù đóng góp của TFP vào tăng trưởng GDP có xu hướng tăng (dự kiến đạt 46,4% vào năm 2024), nhưng để tạo ra sự khác biệt và duy trì mức tăng trưởng hai chữ số, tỷ lệ đóng góp này cần phải được đẩy lên mức trên 50%.
“Kinh nghiệm quốc tế cho thấy các nước muốn tăng trưởng cao đều phải nâng cao đóng góp của TFP lên trên 50%. Việc đột phá TFP đòi hỏi một loạt các giải pháp đồng bộ, mà cốt lõi là hoàn thiện thể chế kinh tế để thể chế không còn là điểm nghẽn của điểm nghẽn”, PGS.TS. Lê Xuân Bá nhấn mạnh.
Thực tế 5 năm thực hiện Nghị quyết số 31/2021/QH15 về cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2021-2025 cho thấy quá trình này đối mặt với rất nhiều thách thức. Báo cáo của Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính (Bộ Tài chính) cho biết trong số 27 chỉ tiêu đề ra, đến nay mới có 23/27 chỉ tiêu có thông tin đánh giá; trong đó: số chỉ tiêu có khả năng hoàn thành: 10/23, số chỉ tiêu khó có khả năng hoàn thành: 9/23 và số chỉ tiêu dự kiến không hoàn thành: 4/23.
Đáng chú ý, trong số 4/23 chỉ tiêu không có khả năng hoàn thành, có hai chỉ tiêu chất lượng quan trọng lại khó đạt được, bao gồm tăng năng suất lao động và tỷ trọng chi cho khoa học và công nghệ. Trong đó, nguyên nhân sâu xa nằm ở tiến độ xây dựng thể chế, chính sách chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu phát triển và thủ tục hành chính vẫn còn rườm rà.
Ở một góc nhìn khác, TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia kinh tế trưởng BIDV, Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, nhận định rằng để đạt mức tăng trưởng 10% giai đoạn tới, bên cạnh việc cải thiện TFP, Việt Nam cần tiếp tục tăng đầu tư vốn.
“Theo ước tính của chúng tôi, trong giai đoạn tới, yếu tố vốn tiếp tục đóng góp khoảng 45-47% cho tăng trưởng kinh tế; yếu tố lao động khoảng 5-6%, thấp hơn so với mức 8% hiện nay; trong khi TFP sẽ tăng lên trên 50%, so với mức 47% hiện nay”, ông Lực phân tích.
CẢI THIỆN ICOR, ĐƯA ĐẦU TƯ CÔNG HIỆU QUẢTheo tính toán của BIDV, trong giai đoạn 2021-2025, đầu tư công chiếm 17,2% tổng vốn đầu tư toàn xã hội và cứ một đồng vốn đầu tư công tăng thêm sẽ kéo theo 1,61 đồng vốn đầu tư tư nhân. Điều này cho thấy đầu tư công là một trong những động lực then chốt, giữ vai trò “dẫn dắt”, là “vốn mồi” của nền kinh tế.
Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng vốn đang là vấn đề đáng báo động, tạo ra áp lực lớn cho mục tiêu tăng trưởng cao và chất lượng.
Hệ số ICOR, thước đo hiệu quả sử dụng vốn của nền kinh tế, đặc biệt trong khu vực Nhà nước đang ở mức cao đáng lo ngại. Nếu như ICOR của cả nền kinh tế giai đoạn 2016-2021 là 9,1 lần thì ICOR của khu vực nhà nước tăng từ 13,03 (2010-2015) lên 17,8 lần (2016-2021).
Mức ICOR này cao hơn gấp 4-5 lần so với các nền kinh tế phát triển nhanh khác trong giai đoạn bứt phá (Hàn Quốc, Nhật Bản chỉ khoảng 3,2). Theo TS. Cấn Văn Lực, để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP 10% trong giai đoạn tới (với vốn đầu tư toàn xã hội khoảng 40% GDP), ICOR phải được kiểm soát ở mức 4 lần; bởi chỉ có như vậy, Việt Nam mới giải quyết được bài toán cơ cấu vốn chưa hợp lý, tình trạng lãng phí và tồn đọng nhiều dự án như thời gian qua.
Thống kê cho thấy hiện có khoảng 80% tổng vốn đầu tư đang đổ vào cơ sở hạ tầng, trong khi chỉ còn 20% dành cho các lĩnh vực tạo ra đột phá TFP như: khoa học, công nghệ (0,45%), giáo dục (10,3%) và y tế (4,2%). Đây là một sự phân bổ không cân xứng, kìm hãm khả năng tăng trưởng theo chiều sâu.
Ngoài ra, tình trạng giải ngân vốn đầu tư công chậm tiến độ vẫn kéo dài, không đạt chỉ tiêu (chỉ đạt 84,47% kế hoạch năm 2024). Đáng chú ý, có tới gần 3.000 dự án tồn đọng vướng mắc chưa thể triển khai, gây lãng phí nguồn lực và thời gian.
NHỮNG KIẾN NGHỊ ĐỘT PHÁĐể hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai chữ số, các chuyên gia kiến nghị tập trung vào việc tái cơ cấu đầu tư công và tạo động lực từ việc cải thiện TFP, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Theo TS. Cấn Văn Lực, giải pháp cốt lõi là thay đổi cơ cấu chi tiêu công theo hướng phục vụ mục tiêu tăng trưởng chiều sâu. Vị chuyên gia kiến nghị điều chỉnh cơ cấu vốn đầu tư công theo hướng giảm tỷ trọng đầu tư cho hạ tầng giao thông, năng lượng từ mức 80% hiện nay xuống còn khoảng 50-55% tổng vốn đầu tư công; tăng mạnh chi cho các lĩnh vực tạo TFP như chi cho giáo dục và đào tạo khoảng 20% tổng vốn (tiệm cận với mức quốc tế), tăng đầu tư cho y tế lên mức 10-12% và cho khoa học, công nghệ lên 3-5%; đầu tư mạnh hơn nữa cho chuyển đổi xanh, chống biến đổi khí hậu để đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế.
Đồng thời, cần hoàn thiện Bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả dự án đầu tư công một cách khoa học, cập nhật (với sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế như Quỹ tiền tệ quốc tế-IMF và Ngân hàng Thế giới-WB) để ICOR có thể giảm xuống mức mục tiêu 4-5 lần.
Về quản lý, TS. Cấn Văn Lực cho rằng cần kiểm soát số lượng dự án hợp lý và rà soát, điều chỉnh kế hoạch vốn từ những dự án chậm giải ngân sang các dự án giải ngân tốt.
Cùng với việc cải cách đầu tư công, PGS.TS. Lê Xuân Bá khuyến nghị Chính phủ cần đẩy mạnh hơn nữa việc hoàn thiện thể chế và phát triển nguồn nhân lực để tạo ra sự cộng hưởng sức mạnh. Trong đó, giải pháp quan trọng là xây dựng một Nhà nước kiến tạo, liêm chính (công tâm, khách quan, có trách nhiệm giải trình) và thiết lập thể chế cho phát triển. Việc cải cách phải tạo hành lang pháp lý thông thoáng, thúc đẩy mạnh mẽ các mô hình kinh tế mới, đặc biệt là khu vực kinh tế tư nhân, nhằm phát huy tối đa vai trò là động lực tăng trưởng.
“Điều này cũng cần được cụ thể hóa thông qua việc tháo gỡ vướng mắc trong các luật khung quan trọng, đang được Chính phủ khẩn trương tiếp thu, giải trình để đảm bảo tính thống nhất, phân cấp và loại bỏ quy hoạch chậm, chồng chéo”, PGS.TS. Lê Xuân Bá nêu quan điểm.
Về huy động vốn tư nhân và nguồn lực trong dân, PGS.TS. Lê Xuân Bá chỉ ra rằng cần có chính sách hữu hiệu thu hút kiều hối và tạo môi trường kinh doanh thuận lợi nhằm huy động nguồn lực nhàn rỗi trong dân, ước tính khoảng 60 tỷ USD. Đầu tư công phải đóng vai trò xúc tác để dẫn dắt, chứ không phải thay thế vốn tư nhân.
Đặc biệt, với đột phá phát triển nguồn nhân lực, theo TS. Cấn Văn Lực, cần chuyển mạnh giáo dục và đào tạo từ học thụ động sang học chủ động, gắn lý luận với thực tiễn, đẩy mạnh việc giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các cơ sở đào tạo công lập để nâng cao chất lượng lao động, từ đó gia tăng tỷ lệ đóng góp của yếu tố lao động vào tăng trưởng kinh tế.
“Việc xác lập mô hình tăng trưởng mới dựa trên chất lượng, hiệu quả và tính tự chủ cao hơn, được hỗ trợ bởi một hệ thống thể chế linh hoạt, hiệu quả và nguồn vốn đầu tư công được tái cơ cấu triệt để, chính là chìa khóa để Việt Nam có thể hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng bứt phá (10% trở lên) trong giai đoạn 2026-2030, tiến tới trở thành nước phát triển, thu nhập cao”, TS. Cấn Văn Lực nhấn mạnh.
Nội dung đầy đủ của bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 50-2025 phát hành ngày 13/12/2025. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-50-2025.html
-Anh Nhi
TP.Hồ Chí Minh xây cầu Bình Triệu 3 để giảm tải kẹt xe cửa ngõ phía Đông
Chia sẻ tại kỳ họp thứ 6 HĐND TP.Hồ Chí Minh khóa X, ngày 10/12, Giám đốc Sở Xây dựng TP.Hồ Chí Minh Trần Quang Lâm cho biết gần 6 tháng kể từ khi sáp nhập 3 địa phương (TP.Hồ Chí Minh, Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu) thành TP.Hồ Chí Minh mới, các chỉ tiêu về giao thông, công tác xây dựng, nhà ở xã hội khả quan hơn; trong đó, lĩnh vực vận tải, logistics tăng cao, riêng giao thông vận tải tăng 6%.
Đến thời điểm hiện nay, TP.Hồ Chí Minh đã và đang triển khai 34 dự án đặc biệt về giao thông, chống ngập như các dự án đường Vành đai 3, cao tốc TP.Hồ Chí Minh - Thủ Dầu Một - Chơn Thành, quốc lộ 13 từ cầu Bình Triệu đến ngã tư Bình Phước nối vào quốc lộ 13 ở khu vực tỉnh Bình Dương cũ… Dự kiến, vào dịp cuối năm 2025, TP.Hồ Chí Minh sẽ khởi công tiếp nhiều công trình.
Đối với khu vực Bình Triệu thuộc địa bàn quận Bình Thạnh và thành phố Thủ Đức cũ, vốn là một trong những “điểm đen” về kẹt xe ở cửa ngõ phía đông của Thành phố, nơi có hai cầu Bình Triệu 1 và 2 bắc qua sông Sài Gòn; lãnh đạo Sở Xây dựng cho biết dự kiến sẽ xây dựng thêm cầu Bình Triệu 3.
Về vị trí, dự án cầu Bình Triệu 3 sẽ nằm giữa hai cầu Bình Triệu hiện hữu, và cùng với hai cầu này, công trình sẽ giúp nâng tổng làn xe trên toàn hệ thống ba cầu Bình Triệu lên 10 làn (so với 6 làn hiện tại của 2 cầu Bình Triệu 1 và 2). Để đồng bộ giải quyết bài toán kẹt xe trong khu vực Bình Triệu - Xô Viết Nghệ Tĩnh - Quốc lộ 13 - Đinh Bộ Lĩnh, Thành phố đồng thời có kế hoạch xây dựng một tuyến đường trên cao phía trên đường Đinh Bộ Lĩnh hiện hữu (phía cầu Bình Triệu 2 hướng từ Thủ Đức vào nội thành) nhằm kết nối khu vực đường Điện Biên Phủ với các cầu Bình Triệu 1, 2, 3.
Việc xây dựng đường trên cao là một trong những giải pháp được đánh giá là hiệu quả trong việc giải quyết bài toán về giao thông, nhất là giao thông đô thị tại TP.Hồ Chí Minh. Vì vậy, ngoài dự án đường trên cao ở khu vực Đinh Bộ Lĩnh nói trên, Giám đốc Sở Xây dựng Trần Quang Lâm cũng cho biết Thành phố cũng sẽ triển khai loạt tuyến đường trên cao ở một số khu vực cửa ngõ có mật độ giao thông cao.
Chẳng hạn như đường trên cao từ nhà ga T3 sân bay Tân Sơn Nhất về trung tâm hành chính mới của Thành phố (dự kiến đặt tại đô thị mới Thủ Thiêm); đường trên cao từ sân bay Tân Sơn Nhất vào trung tâm như các tuyến Cộng Hòa, Nguyễn Văn Trỗi, Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Hoàng Văn Thụ…Đặc biệt, dự án cầu đường Bình Tiên đang được triển khai có chiều dài 3,66 km, tổng vốn đầu tư gần 6.300 tỷ đồng được xây dựng hoàn toàn trên cao, rộng 30 - 40 m, đáp ứng 4 - 6 làn xe.
Trước đó, dự án nâng tĩnh không cầu Bình Triệu 1 dài 770 m trên quốc lộ 13 nối hai phường Bình Thạnh (quận Bình Thạnh cũ) và Hiệp Bình (thành phố Thủ Đức cũ) đã được triển khai. Trong đó, phần cầu chính qua sông Sài Gòn được triển khai từ ngày 26/8 đến 30/11/2025; chiều cao nâng (+1,08 m) so với cao độ hiện hữu. Hiện, việc nâng tĩnh không đã hoàn tất và công trình đang tiếp tục hoàn thiện các hạng mục còn lại trước cuối năm nay.
-Thiên Ân
Đồng Nai nâng cấp hạ tầng đường ngang, bảo đảm an toàn đường sắt
Nhằm tích cực triển khai các giải pháp tăng cường đảm bảo an toàn giao thông đường sắt theo trách nhiệm, thẩm quyền đã được quy định rõ tại các văn bản pháp luật như Nghị định 65/20218/NĐ-CP, Nghị định 56/2018/NĐ-CP, Thông tư 25/2018/TT-BGTVT, thời gian qua tỉnh Đồng Nai đã tăng cường siết chặt quản lý hành lang an toàn giao thông đường sắt, góp phần kéo giảm tai nạn đường sắt qua địa bàn.
Theo Sở Xây dựng Đồng Nai, tuyến đường sắt Bắc Nam qua địa phận tỉnh Đồng Nai có chiều dài gần 90 km, bắt đầu từ xã Xuân Hòa (huyện Định Quán cũ) và kết thúc tại phường Biên Hòa (thành phố Biên Hòa cũ). Sau sáp nhập (Bình Phước và Đồng Nai sáp nhập, lập tỉnh Đồng Nai mới), trên toàn tuyến có 66 vị trí giao cắt với đường bộ; trong đó, 32 đường ngang có gác chắn, 24 đường ngang lắp đặt hệ thống cảnh báo tự động và 10 lối đi tự mở tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn giao thông (gồm 8 lối đi đang phải tổ chức cảnh giới 24/24 và 2 lối đi rào thu hẹp).
Sở Xây dựng Đồng Nai cũng cho biết, thời gian qua, nhờ sự vào cuộc của các cơ quan, lực lượng chức năng, địa phương và các đơn vị đường sắt tích cực triển khai các giải pháp tăng cường bảo đảm an toàn giao thông đường sắt, nên tình hình tai nạn giao thông đường sắt trên địa bàn tiếp tục được kéo giảm cả ba tiêu chí về số vụ, số người chết và số người bị thương.
Để triển khai Thông tư số 25/2018/TT-BGTVT ngày 14/5/2028 của Bộ Giao thông vận tải (nay là Bộ Xây dựng) quy định về đường ngang và cấp giấy phép xây dựng công trình thiết yếu trong phạm vi đất dành cho đường sắt, UBND tỉnh Đồng Nai đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo siết chặt quản lý hành lang an toàn đường sắt, xử lý nghiêm tình trạng buôn bán, họp chợ tự phát ven đường ray. Kiểm tra liên ngành thường xuyên phối hợp cùng ngành đường sắt kiểm tra hiện trường, kịp thời bổ sung biển báo, vạch sơn, gờ giảm tốc tại các vị trí giao cắt.
Tính từ đầu năm 2025 đến nay, địa phương đã xử lý sáu trường hợp xây dựng công trình vi phạm hành lang an toàn, trong đó bốn trường hợp đã tháo dỡ xong, hai trường hợp còn lại đang tiếp tục vận động và chuẩn bị áp dụng biện pháp cưỡng chế. Địa phương cũng đã xóa hai lối đi tự mở tại các phường Biên Hòa, Xuân Lộc và Trấn Biên. Mặc dù vậy, vẫn còn 10 lối đi tự mở tồn tại, trong đó nhiều điểm nóng như Km1692+300 (Tam Hiệp), Km1670+660 và Km1676+570 (Trảng Bom, Hưng Thịnh), tiềm ẩn nguy cơ tai nạn do mật độ xe cộ, nhất là xe tải, xe container và học sinh đi lại giờ cao điểm quá lớn.
Mới đây, Bộ Xây dựng đã ban hành Thông tư số 34/2025/TT-BXD ngày 14/11/2025 quy định chi tiết một số điều của Luật Đường sắt 2025 về quản lý, khai thác kết cấu hạ tầng đường sắt; trong đó nhấn mạnh việc bảo đảm an toàn đường ngang, các điểm giao cắt giữa đường sắt và đường ngang theo đúng quy định pháp luật.
Các quy định được nêu rõ như: Đường sắt giao nhau với đường bộ phải xây dựng nút giao khác mức; đường ngang, giao thông tại khu vực đường ngang; cấp, gia hạn giấy phép xây dựng, cải tạo, nâng cấp, bãi bỏ đường ngang; cầu có mặt cầu đường sắt dùng chung với đường bộ; giao thông trên khu vực cầu có mặt cầu đường sắt dùng chung với đường bộ, trong hầm; kết nối tín hiệu đèn giao thông đường bộ với tín hiệu đèn báo hiệu trên đường bộ tại đường ngang, cung cấp thông tin hỗ trợ cảnh giới tại các điểm giao cắt đồng mức giữa đường bộ và đường sắt.
Ngày 18/8/2025, Phó thủ tướng Trần Hồng Hà đã ký Chỉ thị số 22/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường các giải pháp bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường sắt trong tình hình mới. Chỉ thị nêu rõ: Thời gian qua, tình hình trật tự an toàn giao thông đường sắt vẫn diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây tai nạn giao thông. Năm 2024 đã xảy ra 120 vụ tai nạn giao thông đường sắt, làm chết 83 người, bị thương 26 người; xảy ra 98 vụ ném đất, đá lên tàu, làm bị thương 01 người, vỡ 107 cửa kính các loại, ảnh hưởng đến trật tự an toàn giao thông, trật tự an toàn xã hội.
Chỉ thị cũng cho biết Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 358/QĐ-TTg ngày 10/3/2020 phê duyệt Đề án bảo đảm trật tự hành lang an toàn giao thông và xử lý dứt điểm lối đi tự mở qua đường sắt, lộ trình hết năm 2025 xóa bỏ hoàn toàn lối đi tự mở.
-Hoài Niệm
Xuất khẩu toàn ngành cao su năm 2025 ước đạt 11 tỷ USD
Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trong 11 tháng năm 2025, xuất khẩu cao su của Việt Nam đạt khoảng 1,7 triệu tấn, với giá trị 2,89 tỷ USD, giảm 6,8% về khối lượng và giảm 2,4% về giá trị so với cùng kỳ năm 2024.
Tuy nhiên, VRA cho biết con số kim ngạch nêu trên và ước tính khoảng 3,2 tỷ USD cho cả năm 2025 mới chỉ phản ánh xuất khẩu của riêng mủ cao su thiên nhiên. Nếu tính đầy đủ các nhóm sản phẩm trong chuỗi giá trị ngành cao su, bao gồm sản phẩm cao su chế biến sâu (lốp xe, găng tay, linh kiện kỹ thuật…) và gỗ cao su, tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành trong năm 2025 ước đạt khoảng 11 tỷ USD, tăng khoảng 3% so với năm 2024.
Đáng chú ý, trong cơ cấu xuất khẩu toàn ngành, sản phẩm cao su chế biến tiếp tục giữ vai trò động lực tăng trưởng chính, với kim ngạch ước đạt khoảng 5,3 tỷ USD. Gỗ cao su đạt hơn 3,1 tỷ USD, trong khi cao su thiên nhiên duy trì mức trên 3,2 tỷ USD. Cơ cấu này cho thấy xu hướng chuyển dịch tích cực của ngành theo hướng gia tăng giá trị, giảm dần sự phụ thuộc vào xuất khẩu nguyên liệu thô.
Theo đánh giá của VRA, năm 2025, kinh tế toàn cầu phục hồi tốt hơn so với dự báo trước đó, song vẫn phải đối mặt với nhiều yếu tố bất định. Chủ nghĩa bảo hộ thương mại gia tăng tại một số thị trường lớn, căng thẳng địa chính trị kéo dài ở nhiều khu vực, cùng với tác động ngày càng rõ nét của biến đổi khí hậu đã và đang ảnh hưởng trực tiếp đến ngành cao su toàn cầu nói chung và Việt Nam nói riêng.
Thời tiết cực đoan, mưa lũ và hạn hán bất thường đã tác động đến năng suất, sản lượng khai thác mủ tại nhiều vùng trồng cao su. Bên cạnh đó, chính sách thuế quan của Hoa Kỳ, biến động tỷ giá, chi phí logistics và năng lượng tăng cao đã làm gia tăng chi phí sản xuất, vận chuyển, ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Đặc biệt, tâm lý thận trọng từ cả phía nhà sản xuất lẫn nhà nhập khẩu trong bối cảnh thị trường nhiều biến động đã phần nào kìm hãm đà phục hồi của giá cao su. Về dài hạn, xu hướng chuyển sang sử dụng vật liệu thay thế, cao su tổng hợp, cũng như sự phát triển nhanh của các phương tiện giao thông thân thiện môi trường, nhất là xe điện, đang đặt ra những thách thức mới đối với nhu cầu cao su thiên nhiên.
Ông Lê Thanh Hưng, Chủ tịch VRA, Tổng Giám đốc Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam, nhận định rằng trong thách thức vẫn luôn tồn tại cơ hội, nếu ngành cao su tận dụng tốt các xu hướng phát triển bền vững đang hình thành trên thị trường toàn cầu.
Theo đó, các định hướng trọng tâm của ngành trong thời gian tới bao gồm: thúc đẩy chuyển đổi xanh và tăng cường truy xuất nguồn gốc; đẩy mạnh đổi mới công nghệ nhằm giảm phát thải, tiết kiệm tài nguyên; tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp với địa phương và nông hộ trồng cao su; đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, đồng thời đẩy mạnh sản xuất các sản phẩm chế biến sâu có giá trị gia tăng cao.
Bên cạnh đó, việc chủ động theo dõi và cập nhật các biến động chính sách thương mại quốc tế để kịp thời điều chỉnh kế hoạch sản xuất - kinh doanh cũng được xem là yếu tố then chốt.
VRA nhận định: giai đoạn 2026–2030 được dự báo sẽ mở ra thêm nhiều cơ hội mới cho ngành. Nhu cầu cao su và sản phẩm cao su tại các thị trường Trung Đông, Ấn Độ và châu Phi được kỳ vọng tiếp tục tăng trưởng. Việc cắt giảm thuế quan theo các FTA mà Việt Nam đã ký kết và đang thực thi cũng tạo thêm dư địa cho doanh nghiệp mở rộng xuất khẩu. Cùng với đó, xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương vẫn tiếp diễn, mang lại cơ hội thu hút đầu tư, mở rộng sản xuất và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu cho ngành cao su Việt Nam.
Hội nghị quốc tế ngành cao su Việt Nam 2025.Mới đây, Hiệp hội Cao su Việt Nam đã tổ chức Hội nghị quốc tế ngành cao su Việt Nam 2025, kết hợp đón đoàn doanh nghiệp nước ngoài vào Việt Nam tìm kiếm cơ hội hợp tác, mua hàng. Sự kiện không chỉ là diễn đàn trao đổi thông tin, kết nối thị trường mà còn góp phần quảng bá hình ảnh ngành cao su Việt Nam theo hướng minh bạch, bền vững và trách nhiệm.
Tại hội nghị, VRA đã tôn vinh 23 hội viên hoàn thành xuất sắc việc sử dụng Nhãn hiệu Cao su Việt Nam năm 2025 và 12 hội viên đạt danh hiệu Doanh nghiệp bền vững năm 2025. Đây được xem là sự ghi nhận xứng đáng cho những doanh nghiệp tiên phong trong việc tuân thủ các tiêu chuẩn chất lượng, môi trường và phát triển bền vững, góp phần nâng cao uy tín của cao su Việt Nam trên thị trường quốc tế.
-Chu Khôi
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp: Chuyển từ “diện rộng” sang “chiều sâu”
Số liệu từ Cục Thống kê (Bộ Tài chính) cho thấy cả nước có gần 275,6 nghìn doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường, tăng 26,1% so với cùng kỳ. Bình quân mỗi tháng, nền kinh tế đón nhận hơn 25 nghìn doanh nghiệp mới và quay trở lại hoạt động.
Điểm sáng lớn nhất không nằm ở số lượng doanh nghiệp thành lập mới mà ở dòng vốn cam kết đổ vào nền kinh tế. Tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong 11 tháng đạt 5,6 triệu tỷ đồng, tăng 2 lần so với cùng kỳ năm 2024. Đáng chú ý, số vốn tăng thêm của các doanh nghiệp đang hoạt động đạt gần 3,9 triệu tỷ đồng, cho thấy niềm tin kinh doanh vững chắc hơn so với trước.
Về cơ cấu ngành, khu vực dịch vụ dẫn đầu đà phục hồi với mức tăng 22,3% về số doanh nghiệp mới. Ngành công nghiệp chế biến chế tạo cũng ghi nhận mức tăng ấn tượng 32,9% về số lượng doanh nghiệp mới tham gia.
Tuy nhiên, tình hình doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường cũng cho thấy nhiều vấn đề đáng quan tâm. Tổng số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường là 205,4 nghìn doanh nghiệp, trong đó doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh là 110,1 nghìn, doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể tăng 11,7%, và doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể là 30,8 nghìn, tăng 60,1%.
Ngành xây dựng là ngành duy nhất có số lượng doanh nghiệp thành lập mới sụt giảm, trong khi số lượng giải thể lại tăng vọt tới 77%. Ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống cũng chứng kiến số lượng giải thể tăng tới 81%, cho thấy sự cạnh tranh khốc liệt và sự thay đổi trong thói quen tiêu dùng. Ngành bán buôn, bán lẻ có số lượng giải thể tăng 44,3%, phản ánh sự dịch chuyển mạnh mẽ sang thương mại điện tử.
Do vậy, để thúc đẩy khu vực tư nhân phát triển bền vững, chính sách hỗ trợ cần chuyển từ “diện rộng” sang “chiều sâu”. Cần tập trung vào những giải pháp chiến lược như cấp cứu cho ngành xây dựng và bất động sản, hỗ trợ sức đề kháng tài chính cho các doanh nghiệp, chấp nhận sự đào thải của các doanh nghiệp yếu kém nhưng cần lưới an sinh để hỗ trợ doanh nghiệp sau giải thể.
Gia tăng nội lực và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua các chính sách hỗ trợ tiếp cận các nguồn lực đầu tư vào nghiên cứu và phát triển, đất đai, mặt bằng sản xuất, nguồn vốn, thị trường, khoa học công nghệ, chuyển đổi số, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, quản trị kinh doanh.
Thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, hiện đại hóa quản trị công, quản trị dựa trên dữ liệu. Phát triển chuỗi liên kết ngành có giá trị cao, đặc biệt trong công nghiệp hỗ trợ, chế biến, chế tạo, công nghệ thông tin, công nghiệp sáng tạo. Điều chỉnh chính sách ưu đãi đầu tư có điều kiện ràng buộc chuyển giao công nghệ, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa về đào tạo, thử nghiệm, chia sẻ công nghệ ngay từ giai đoạn phê duyệt dự án.
Nội dung đầy đủ của bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 50-2025 phát hành ngày 13/12/2025. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-50-2025.html
-Vy Vy
Nhu cầu vốn tăng cao, thị trường trái phiếu vẫn “thiếu lực”
Theo kịch bản tăng trưởng, nhu cầu vốn cho phát triển trong giai đoạn tới sẽ tăng mạnh khi tỷ lệ đầu tư công/GDP giai đoạn 2026 - 2030 nâng lên ít nhất 8% GDP. Điều này đồng nghĩa với việc Việt Nam cần huy động thêm khoảng 50–70 tỷ USD/năm cho đầu tư công.
Song song, mục tiêu nâng tổng vốn đầu tư toàn xã hội từ mức khoảng 32% GDP hiện nay lên 40% GDP mỗi năm đặt ra yêu cầu bổ sung thêm khoảng 250–350 tỷ USD trong vòng 5 năm tới. Trong bối cảnh nhu cầu vốn tăng nhanh, bài toán đặt ra là làm thế nào để huy động đủ nguồn lực nhằm hiện thực hóa tham vọng tăng trưởng và thị trường trái phiếu được xem là một kênh then chốt.
DƯ ĐỊA LỚN CHO HUY ĐỘNG VỐN QUA TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦTheo ông Nguyễn Bá Hùng, Kinh tế trưởng Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam, dư nợ trái phiếu Chính phủ của Việt Nam hiện chỉ tương đương khoảng 20% GDP, mức rất thấp so với nhiều quốc gia trong khu vực. Cùng với đó, cơ cấu nợ công cũng cho thấy nợ trong nước tương đối ổn định, trong khi nợ nước ngoài đã giảm nhanh trong khoảng 5 năm trở lại đây.
Hai yếu tố này cùng phản ánh một thực trạng: một mặt cho thấy nền tài chính công vẫn trong trạng thái an toàn, mặt khác thể hiện Việt Nam vẫn còn dư địa để tăng phát hành trái phiếu Chính phủ nhằm mở rộng đầu tư.
Nguồn: Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam Phạm Thị Thanh Tâm, Phó Vụ trưởng Vụ Các định chế tài chính (Bộ Tài chính)"> Bà Phạm Thị Thanh Tâm, Phó Vụ trưởng Vụ Các định chế tài chính (Bộ Tài chính)"Khối ngoại từng tham gia khá sôi động vào thị trường trái phiếu Chính phủ Việt Nam ở một số giai đoạn nhưng chưa bao giờ giữ vai trò chủ chốt. Sự thu hẹp xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó thiếu các công cụ phòng vệ rủi ro tỷ giá và lãi suất, cũng như lãi suất trái phiếu Chính phủ Việt tương đối thấp so với khu vực làm giảm sức hấp dẫn đối với nhà đầu tư nước ngoài".
Xét về mặt bằng lãi suất, trái phiếu Chính phủ Việt Nam hiện vẫn đang ở nhóm thấp so với các quốc gia trong khu vực.
Ông Nguyễn Bá Hùng cho biết lãi suất trái phiếu Chính phủ Việt Nam dao động quanh mức 3% vào đầu năm 2025 và tăng lên gần 4% trong những tháng gần đây, nhưng vẫn thuộc nhóm thấp trong khu vực. Trong khi đó, lãi suất trái phiếu Chính phủ tại Indonesia và Philippines thường duy trì ở ngưỡng 6–7%
Một hạn chế đáng chú ý trên thị trường trái phiếu Việt Nam hiện nay là sự tham gia rất hạn chế của nhà đầu tư nước ngoài vào trái phiếu Chính phủ.
Theo đó, tỷ lệ nắm giữ của khối ngoại gần như bằng không, trong khi tại nhiều quốc gia trong khu vực, con số này có thể vượt 20%.
“Dù Việt Nam chưa tận dụng được kênh huy động vốn này, song kinh nghiệm quốc tế cho thấy đây là nguồn lực quan trọng, có thể góp phần mở rộng dư địa tài chính cho Chính phủ”, ông Hùng nói.
Theo bà Tâm, bài học từ khủng hoảng tài chính châu Á cho thấy dòng vốn ngoại mang tính ngắn hạn có thể gây ra những cú sốc lớn khi rút khỏi thị trường, điển hình là trường hợp Thái Lan.
Từ góc nhìn chính sách, Phó Vụ trưởng Vụ Các định chế tài chính (Bộ Tài chính) cho rằng trọng tâm không phải thu hút dòng vốn ngắn hạn, vốn tiềm ẩn rủi ro mà là xây dựng cơ chế, chính sách để thu hút nhà đầu tư nước ngoài tham gia dài hạn và bền vững thông qua sự đồng bộ từ chính sách vĩ mô, tiền tệ, ngoại hối đến thị trường vốn.
THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP VẪN THIẾU VỐN DÀI HẠNỞ chiều ngược lại, dù hoạt động phát hành trái phiếu Chính phủ thời gian qua diễn ra khá thận trọng song kênh huy động vốn qua thị trường trái phiếu tại Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào trái phiếu Chính phủ, trong khi vai trò của trái phiếu doanh nghiệp còn khá khiêm tốn.
Nguồn: Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt NamMột chuyên gia tài chính cho rằng, cấu trúc nói trên tương đồng với Philippines và Indonesia, phản ánh để doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn thông qua thị trường trái phiếu vẫn còn rất lớn.
Nguyễn Bá Hùng, Kinh tế trưởng Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), "> Ông Nguyễn Bá Hùng, Kinh tế trưởng Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB),"Hơn một nửa khối lượng phát hành hiện có kỳ hạn từ 1–3 năm, các trái phiếu có kỳ hạn từ 5–10 năm chiếm tỷ trọng khiêm tốn và gần như vắng bóng các trái phiếu kỳ hạn trên 10 năm. Cơ cấu này phản ánh thị trường trái phiếu Việt Nam hiện vẫn chủ yếu cung cấp nguồn vốn ngắn-trung hạn, tương đồng với tín dụng ngân hàng, thay vì đảm nhiệm vai trò cung cấp vốn dài hạn cho doanh nghiệp".
Thực tế cho thấy Việt Nam vẫn phụ thuộc lớn vào hệ thống ngân hàng với quy mô tín dụng hiện tương đương khoảng 130% GDP. Tuy nhiên, nguồn vốn ngân hàng chủ yếu mang tính ngắn và trung hạn, thời hạn cho vay phổ biến không quá 7 năm.
Trong bối cảnh đó, việc tỷ trọng cho vay trung và dài hạn chiếm tới khoảng 40% tổng dư nợ đã và đang tạo ra áp lực lớn về mất cân đối kỳ hạn.
Trong khi kênh tín dụng ngân hàng chưa thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu vốn dài hạn của nền kinh tế, thị trường trái phiếu, vốn được kỳ vọng là kênh bổ trợ quan trọng lại chưa phát huy được vai trò này, ông Hùng nhấn mạnh
Về dài hạn, phát triển thị trường trái phiếu theo hướng kéo dài kỳ hạn, đa dạng hóa nhà đầu tư và cải thiện thanh khoản được xem là giải pháp then chốt nhằm tạo ra nguồn vốn ổn định, bền vững cho doanh nghiệp và giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng.
Trên thị trường thứ cấp, giao dịch chủ yếu tập trung vào trái phiếu Chính phủ, trong khi trái phiếu doanh nghiệp hầu như không được mua bán.
Đây là một trong những hạn chế lớn của thị trường trái phiếu Việt Nam, bởi lẽ tính thanh khoản thấp khiến nhà đầu tư gặp khó khi cần chuyển nhượng trước hạn, thường phải chấp nhận mức giá bất lợi, qua đó làm gia tăng chi phí rủi ro và giảm sức hấp dẫn của công cụ này, chuyên gia từ Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) cho biết.
Nguồn: Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt NamTheo bà Phạm Thị Thùy Linh, Trưởng ban Phát triển thị trường chứng khoán (Ủy ban Chứng khoán Nhà nước), thị trường thứ cấp trái phiếu doanh nghiệp hiện được chia thành hai phân khúc: trái phiếu niêm yết và trái phiếu phát hành riêng lẻ. Trong khi trái phiếu niêm yết vận hành tương tự cổ phiếu, thì trái phiếu riêng lẻ chủ yếu giao dịch thỏa thuận song phương, khó tạo thanh khoản cao.
Dù vậy, Trưởng Ban Phát triển thị trường chứng khoán (Ủy ban Chứng khoán Nhà nước) nhấn mạnh việc huy động vốn thông qua trái phiếu doanh nghiệp phát hành riêng lẻ cần bám sát mục tiêu phát hành, đồng thời bảo đảm sức khỏe tài chính của doanh nghiệp.
Theo định hướng của cơ quan quản lý, đối tượng tham gia thị trường trái phiếu riêng lẻ chủ yếu là các nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp, những người có khả năng gắn bó dài hạn với doanh nghiệp và đồng hành cùng mục tiêu huy động vốn để triển khai các dự án.
Bà Phạm Thị Thanh Tâm cho biết nhu cầu vốn trung và dài hạn cho phát triển kinh tế dự kiến tăng gấp đôi so với giai đoạn trước, tạo áp lực lớn lên thị trường trái phiếu. Trong khi đó, cơ sở nhà đầu tư hiện còn mỏng, thiếu các nhà đầu tư tổ chức có tiềm lực tài chính và nguồn vốn dài hạn.. Trong bối cảnh ngân hàng thương mại tập trung vốn cho tín dụng, khả năng đầu tư vào trái phiếu Chính phủ cũng bị thu hẹp.
“Do đó, mở rộng và củng cố cơ sở nhà đầu tư được xác định là nhiệm vụ then chốt để phát triển thị trường trái phiếu. Đây là bài toán mang tính liên ngành, đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa Bộ Tài chính và các bộ, ngành liên quan nhằm tạo nền tảng vững chắc cho thị trường vốn trong giai đoạn tới”, Phó Vụ trưởng Vụ Các định chế tài chính (Bộ Tài chính) nói.
-Hoàng Sơn
Dự án xanh, tuần hoàn sắp được hỗ trợ lãi suất 2% từ ngân sách
Tại hội thảo “Đa dạng vốn cho phát triển bền vững” do Báo Tài chính – Đầu tư tổ chức ngày 15/12, bà Phạm Thị Thanh Tùng, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (Ngân hàng Nhà nước), cho biết Ngân hàng Nhà nước đã khuyến khích tín dụng xanh từ rất sớm, với dư nợ tín dụng xanh tăng trung bình 21%/năm trong 5 năm qua – cao hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng chung. Nếu như năm 2017 chỉ có 15 tổ chức tín dụng có dư nợ tín dụng xanh thì đến nay đã có 58 tổ chức tín dụng tham gia.
HAI BỘ NGÀNH NHẬP CUỘCĐơn cử như ở Agribank, tính đến quý 3/2025, dư nợ tín dụng xanh đạt 28.355 tỷ đồng, phục vụ gần 40.000 khách hàng. Trong đó, năng lượng sạch 53%; lâm nghiệp bền vững 24%; nông nghiệp xanh 21%.
Theo bà Tùng, trước đây các ngân hàng thương mại sử dụng nguồn lực của chính mình để ưu đãi cho vay xanh. Tuy nhiên, theo Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết 198/2025/QH15 của Quốc hội, ngân sách nhà nước sẽ tham gia hỗ trợ lãi suất 2%/năm cho doanh nghiệp tư nhân, hộ kinh doanh và cá nhân thực hiện dự án xanh, tuần hoàn hoặc áp dụng tiêu chuẩn ESG, thông qua Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa và các ngân hàng thương mại.
Phạm Thị Thanh Tùng, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, Ngân hàng Nhà nước."> Bà Phạm Thị Thanh Tùng, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, Ngân hàng Nhà nước."Chúng tôi đang tích cực hoàn thiện dự thảo Nghị định của Chính phủ quy định về hỗ trợ lãi suất từ ngân sách nhà nước cho các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân, hộ gia đình, cá nhân kinh doanh vay vốn tại các ngân hàng thương mại để thực hiện các dự án xanh, tuần hoàn, áp dụng khung tiêu chuẩn ESG. Hiện dự thảo đã được Bộ Tư pháp thẩm định và trong tuần này sẽ trình Chính phủ, dự kiến sẽ có hiệu lực đầu năm tới."
Đại diện Ngân hàng Nhà nước nhấn mạnh, để dòng vốn xanh tăng tốc, ngoài hai nghị định hỗ trợ lãi suất, cần sự phối hợp chặt chẽ từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường trong việc ban hành quy định xác định dự án xanh, tuần hoàn và ESG. Ba nhóm văn bản nếu được ban hành đồng bộ sẽ giúp khơi thông tín dụng xanh trong thời gian tới.
Theo bà Tùng, Quyết định 21/2025/QĐ-TTg (ban hành ngày 4/7/2025) đã phần nào tháo gỡ khó khăn về tiêu chí môi trường và phân loại dự án xanh cho các ngân hàng thương mại. Với bộ tiêu chí này, các ngân hàng có thể thẩm định, phê duyệt và cấp tín dụng xanh chính xác hơn, tránh rủi ro “tẩy xanh” (greenwashing). Qua đó, giúp doanh nghiệp tiếp cận ưu đãi minh bạch hơn.
Bà Phạm Thị Thanh Tâm, Phó Vụ trưởng Vụ Các định chế tài chính (Bộ Tài chính), cũng xác nhận Bộ Tà chính sẽ trình dự thảo Nghị định hỗ trợ lãi suất thông qua Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trong tháng 12/2025.
NHIỀU RÀO CẢN ĐỐI VỚI NGÂN HÀNG VÀ DOANH NGHIỆPTuy vậy, nhiều doanh nghiệp và ngân hàng cho rằng Quyết định 21 là cần thiết nhưng chưa đủ. Theo ông Vương Văn Quý, Phó trưởng ban Chính sách tín dụng Agribank, việc mở rộng tín dụng xanh và huy động vốn cho phát triển bền vững hiện vẫn đối mặt nhiều rào cản. Trong đó, ngành ngân hàng đang thiếu cơ sở dữ liệu chuẩn, tính minh bạch về dự án xanh, dẫn tới khó khăn trong đánh giá hiệu quả và rủi ro.
Cùng đó, cơ chế ưu đãi cho tín dụng xanh chưa đủ mạnh, lãi suất cho vay chưa tạo khác biệt rõ rệt so với tín dụng thông thường, trong khi các quỹ bảo lãnh hoặc bù đắp rủi ro môi trường chưa phát huy hiệu quả.
Năng lực ESG của nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ, còn hạn chế, gây khó khăn trong tiếp cận vốn xanh và phát hành trái phiếu xanh.
(Ghi nhận ý kiến chung tại Hội thảo)
Cũng theo đại diện một số ngân hàng, năng lực ESG của nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ, còn hạn chế, gây khó khăn trong tiếp cận vốn xanh và phát hành trái phiếu xanh. Thị trường trái phiếu xanh trong nước còn non trẻ, chi phí tuân thủ cao, yêu cầu minh bạch lớn, trong khi việc huy động vốn từ các tổ chức quốc tế gặp trở ngại do sự khác biệt giữa tiêu chuẩn trong nước và thông lệ quốc tế cũng là trở ngại đối với các ngân hàng.
Để tháo gỡ các nút thắt trên, đại diện các ngân hàng đề xuất xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về phát thải, năng lượng và đa dạng sinh học, phục vụ đánh giá dự án và chuẩn hóa việc đo lường phát thải khí nhà kính.
Đồng thời, Chính phủ cần ban hành các chính sách ưu đãi tài chính cụ thể như cấp bù lãi suất, tái cấp vốn ưu đãi, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động vay vốn xanh, cũng như thành lập quỹ bảo lãnh xanh nhằm chia sẻ rủi ro với ngân hàng.
Ngoài ra, các ngân hàng kiến nghị có chính sách tăng cường đào tạo, hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực ESG; sớm hoàn thiện khung pháp lý cho trái phiếu xanh theo chuẩn quốc tế và đẩy mạnh phối hợp liên ngành để đơn giản hóa thủ tục, thu hẹp khoảng cách giữa quy định trong nước và tiêu chuẩn quốc tế, qua đó cải thiện khả năng tiếp cận các nguồn vốn xanh dài hạn.
-Tùng Thư
Cảng Hàng không quốc tế Long Thành chính thức đón tàu bay thương mại đầu tiên
Ngày 15/12, Cảng Hàng không quốc tế Long Thành đón tàu bay thương mại đầu tiên hạ cánh, do Vietnam Airlines khai thác. Đây là chuyến bay hàng không dân dụng đầu tiên tiếp đất tại sân bay Long Thành, có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá tổng thể các điều kiện khai thác, phục vụ công tác chuẩn bị trước khi sân bay chính thức đón chuyến bay thương mại dự kiến vào ngày 19/12.
Theo kế hoạch, chuyến bay mang số hiệu VN5001 được Vietnam Airlines khai thác bằng tàu bay Boeing 787 Dreamliner, với tải trọng tương đương một chuyến bay thương mại thông thường. Tàu bay cất cánh từ Cảng Hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất lúc 15h20 và hạ cánh xuống sân bay Long Thành lúc 16h00 cùng ngày. Ngay sau đó, chuyến bay VN5002 đã thực hiện cất cánh từ sân bay Long Thành, đánh dấu việc hoàn tất quy trình kiểm tra hai chiều trong điều kiện khai thác thực tế.
Trong quá trình tổ chức chuyến bay, Vietnam Airlines phối hợp với Cảng Hàng không quốc tế Long Thành và các đơn vị liên quan tiến hành kiểm tra, đánh giá toàn diện các hạng mục hạ tầng và công tác khai thác, bao gồm đường cất hạ cánh, sân đỗ tàu bay, hệ thống dẫn đường, nhà ga hành khách, dây chuyền phục vụ mặt đất, công tác kỹ thuật cũng như điều hành khai thác. Đây được xem là bước rà soát cuối cùng nhằm xác nhận mức độ sẵn sàng của sân bay trước thời điểm đưa vào khai thác thương mại.
Sau chuyến bay thử nghiệm, đại diện Vietnam Airlines cho biết đã hoàn tất công tác chuẩn bị về nhân lực, trang thiết bị và phương tiện kỹ thuật để phục vụ các chuyến bay thương mại tại Cảng Hàng không quốc tế Long Thành. Các nội dung phục vụ hành khách, hành lý, hàng hóa, kiểm tra kỹ thuật tàu bay, cung ứng suất ăn và tiếp nhiên liệu đều được tổ chức theo đúng quy trình, tiêu chuẩn an toàn của nhà chức trách hàng không.
Ông Đặng Anh Tuấn, Phó Tổng giám đốc Vietnam Airlines, cho biết việc đưa tàu bay thương mại hạ cánh thành công tại sân bay Long Thành là dấu mốc quan trọng trong quá trình chuẩn bị đưa sân bay vào khai thác, đồng thời tạo nền tảng để hình thành một trung tâm kết nối hàng không mới trong khu vực. Vietnam Airlines sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng và các đơn vị liên quan nhằm bảo đảm hoạt động khai thác an toàn, hiệu quả tại sân bay mới.
Cảng Hàng không quốc tế Long Thành là dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia, được định hướng trở thành cửa ngõ hàng không hiện đại, góp phần đáp ứng nhu cầu tăng trưởng của ngành hàng không và giao thương quốc tế trong giai đoạn tới. Việc đón chuyến bay hàng không dân dụng đầu tiên được xem là bước tiến quan trọng trong lộ trình đưa sân bay Long Thành vào khai thác theo kế hoạch.
Được biết, ngày 15/12, Cục Hàng không Việt Nam (Bộ Xây dựng) đã gửi công văn cho 3 hãng hàng không: Bamboo Airways, Vietnam Airlines và Vietjet Air về việc thực hiện các chuyến bay chính thức đầu tiên tại sân bay Long Thành vào ngày 19/12/2025.
Trong đó, Vietnam Airlines sẽ khai thác máy bay thân rộng Boeing 787, khởi hành từ sân bay Nội Bài lúc 6h15, chở đại biểu, lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước đến sân bay Long Thành lúc 8h sáng ngày 19/12/2025.
Bamboo Airways và Vietjet Air sẽ sử dụng máy bay thân hẹp A320/A321, khởi hành từ sân bay Tân Sơn Nhất lúc 8h sáng ngày 19/12/2025, chở tổ bay và nhân viên kỹ thuật đến sân bay Long Thành lúc 8h40 cùng ngày.
-Đan Tiên
Đề nghị truy tố 22 bị can liên quan đến sai phạm tại khu “đất vàng” ở TP.HCM
Ngày 15/12, cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an đã hoàn tất kết luận điều tra vụ án xảy ra tại Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam; Tổng Công ty Cao su Đồng Nai; Công ty Cao su Bà Rịa; UBND TPHCM, Bộ Nông nghiệp và Môi trường; và các đơn vị có liên quan.
Trong đó, bị can Lê Quang Thung (SN 1946, cựu quyền Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Cao su Việt Nam) bị đề nghị truy tố về tội "Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí” và “Nhận hối lộ”.
Cùng bị đề nghị truy tố 2 tội danh trên còn có bị can Đặng Phước Dừa (SN 1969, Chủ tịch HĐTV Công ty Phú Việt Tín, cựu Chủ tịch HĐTV Công ty cổ phần Việt Tín) và bị can Lê Y Linh (SN 1976, cựu giám đốc Công ty TNHH Việt Tín, cựu Chủ tịch HĐQT, đại diện Công ty TNHH Retro Havest Finance tại Việt Nam).
12 bị can bị đề nghị truy tố về tội “Vi phạm quy định quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí” trong đó có bị can Võ Sỹ Lực (SN 1958, cựu Chủ tịch HĐTV Tập đoàn Cao su Việt Nam), Nguyễn Thị Như Loan (SN 1960, Tổng giám đốc, cựu Chủ tịch HĐQT Công ty Quốc Cường Gia Lai)…
Ngoài ra, có 3 bị can bị đề nghị truy tố về tội "Nhận hối lộ". Có 2 bị can bị đề nghị truy tố về tội "Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ".
CHUYỂN NHƯỢNG DỰ ÁN TRÁI QUY ĐỊNH, NHÀ NƯỚC THIỆT HẠI HƠN 542 TỶ ĐỒNGTheo kết luận điều tra, khu đất 39-39B Bến Vân Đồn là tài sản nhà nước, phải thực hiện việc xử lý, sắp xếp theo quyết định số 09/2007/QĐ-TTg. Tuy nhiên, bị can Lê Quang Thung không triển khai theo phương án sắp xếp.
Cuối năm 2009, bị can Thung chủ động thỏa thuận, thống nhất với bị can Linh, Dừa về việc bán khu đất trên với giá 1.200 USD/m2. Hình thức bán là thành lập và chuyển nhượng vốn tại Công ty Phú Việt Tín.
Ngày 30/11/2009, bị can Linh, Dừa ký hợp đồng hợp tác đầu tư dự án 39-39B Bến Vân Đồn để thống nhất cùng mua khu đất trên. Về phía Linh có trách nhiệm lo tài chính còn Dừa có trách nhiệm thực hiện các thủ tục dự án. Linh hưởng lợi nhuận tương ứng là 80%, còn Dừa là 20%.
Theo thỏa thuận, bị can Thung chỉ đạo cấp dưới ký các thủ tục để thành lập Công ty Phú Việt Tín và đề nghị UBND thành phố thu hồi khu đất trên để giao cho Công ty Phú Việt Tín. Toàn bộ con dấu, hồ sơ pháp lý của công ty này được giao cho bị can Linh, Dừa quản lý.
Tiến hành xong các thủ tục, đến ngày 27/1/2010, bị can Thung tiếp tục chỉ đạo cấp dưới ký tờ trình, đề xuất phương án “chuyển nhượng 99% vốn góp tại Công ty Phú Việt Tín cho Công ty Retro Havest Finance của Lê Y Linh” với giá trị hơn 7,1 triệu USD.
Lấy lý do khu đất có đường quy hoạch cắt ngang, bị can Linh và Dừa đề nghị giảm giá đất và được bị can Thung đồng ý với mức giá chuyển nhượng còn 950 USD/m2, giảm diện tích đất chuyển nhượng từ 6.201,9m2 còn 5.725m2.
Trong vụ án này, cơ quan điều tra xác định các bị can đã chuyển nhượng 99% vốn góp tại Công ty Phú Việt Tín, bản chất là chuyển nhượng khu đất trên không thông qua định giá, đấu giá, trái quy định pháp luật.
Theo kết luận, bị can Lê Quang Thung đã gây thiệt hại cho tài sản nhà nước hơn 542 tỷ đồng; nhận hối lộ số tiền 3 triệu USD (tương đương hơn 53 tỷ đồng), hưởng lợi và chịu trách nhiệm cá nhân tương đương hơn 11,4 tỷ đồng.
CỰU CHỦ TỊCH HĐQT CÔNG TY QUỐC CƯỜNG GIA LAI HƯỞNG LỢI HƠN 297 TỶ ĐỒNGKết luận cũng cho thấy khoảng tháng 11/2013, bị can Nguyễn Thị Như Loan biết thông tin bị can Linh, Dừa muốn bán dự án trên nên tìm hiểu dự án. Căn cứ vào hồ sơ dự án, bị can Loan xem thực tế khu đất, kiểm tra quy hoạch và biết rõ Công ty Phú Việt Tín mới được giao đất, chưa nộp tiền sử dụng đất, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tuy nhiên, bị can Loan vẫn đàm phán với bị can Linh, Dừa mua lại dự án và thống nhất để bị can Linh ủy quyền cho Dừa ký “hợp đồng hứa bán” với giá 460,9 tỷ đồng (bao gồm cả tiền sử dụng đất).
Quá trình chuyển nhượng, UBND thành phố có phê duyệt lại giá đất. Do đó, trên cơ sở văn bản đề nghị của bị can Linh, Dừa, Tập đoàn Cao su Việt Nam cho phép tiếp tục thực hiện việc chuyển nhượng khu đất trên nhưng không được giảm giá bán.
Đến ngày 6/8/2014 và ngày 8/8/2014, bị can Linh, Dừa đã ký hợp đồng chuyển nhượng 99% vốn góp tại Công ty Phú Việt Tín cho bị can Loan với giá hơn 271 tỷ đồng (không bao gồm tiền sử dụng đất).
Theo cơ quan điều tra, trừ số tiền hơn 114 tỷ đồng phải trả cho Tập đoàn Cao su Việt Nam, bị can Linh và Dừa hưởng lợi hơn 157 tỷ đồng.
Cơ quan điều tra cũng làm rõ, trước khi sở hữu 100% vốn góp tại Công ty Phú Việt Tín, bị can Loan đã ký thỏa thuận đầu tư, đặt cọc với một đối tác khác, cam kết chuyển nhượng 100% vốn góp tại Công ty Phú Việt Tín và thu về hơn 846 tỷ đồng. Trừ các chi phí, cơ quan điều tra xác định bị can Loan hưởng lợi hơn 297 tỷ đồng.
Tại cơ quan điều tra, bị can Loan thừa nhận khu đất trên có nguồn gốc là đất công sản, việc chuyển nhượng phải thông qua đấu giá. Nhận thức hành vi của mình có sai phạm, bị can Loan đã nộp 100 tỷ đồng; đồng thời giao 4 thửa đất để khắc phục hậu quả vụ án.
-Đỗ Mến
Đà giảm VN-Index đã có phần chững lại để thăm dò cung cầu
Kết phiên 15/12, VN-Index giảm 0,88 điểm, tương đương 0,05% xuống mốc 1.646,01 điểm. Cùng chiều, Hnx-Index giảm 0,72 điểm, tương đương 0,29% xuống 249,37 điểm.
Diễn biến thị trường tuần này có thể xuất hiện các nhịp hồi phục kỹ thuật
(Công ty Cổ phần Chứng khoán Bảo Việt – BVSC)
“Diễn biến thị trường tuần này có thể xuất hiện các nhịp hồi phục kỹ thuật khi kiểm định vùng hỗ trợ 1.605-1.620 điểm hoặc có thể tạo các nhịp “bulltrap” đầu tuần trước khi tiếp tục chuyển động giảm giá. Trong kịch bản tạo “bulltrap”, chúng tôi lưu ý vùng kháng cự 1.665-1.675 điểm có thể tạo ra áp lực giảm giá nhanh trở lại đối với thị trường.
Nhà đầu tư lưu ý quản trị rủi ro cho danh mục, đặc biệt là các vị thế ngắn hạn. Nên đóng các vị thế ngắn hạn đang có nếu giá vi phạm ngưỡng dừng lỗ hoặc ngưỡng trailing stop.
Trong kịch bản thị trường xuất hiện các nhịp tăng điểm ngay đầu tuần, đây là thời điểm tốt để nhà đầu tư thực hiện cơ cấu tỷ trọng danh mục hơn là mở vị thế mua.
Các hoạt động mua trading tuần này chỉ thực nếu thị trường xuất hiện các phiên rung rũ mạnh về sát vùng hỗ trợ 1.600 điểm”.
Những phiên tới, VN-Index có thể sẽ giao dịch trong vùng 1.630 – 1.665 và hình thành đáy ngắn hạn tại đây
(Công ty Cổ phần Chứng khoán Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam - BSC)
"VN-Index giằng co trong vùng 1.635 – 1.665 trước khi đóng cửa tại mốc 1.646,01 điểm, gần như không thay đổi so với phiên trước đó. Độ rộng thị trường nghiêng về phía tiêu cực với 9/18 ngành giảm điểm. Ngành Dầu khí dẫn đầu đà tăng; ở chiều ngược lại, ngành Du lịch giải trí tiếp tục điều chỉnh sau đợt tăng mạnh trước đó. Về giao dịch của khối ngoại, hôm nay khối này mua ròng trên sàn HSX và bán ròng trên hai sàn còn lại. Dù đà giảm đã chững lại phần nào trong ngày hôm nay, tuy nhiên thị trường cần thêm thời gian để ổn định và thu hẹp biên độ dao động. Trong những phiên tới, VN-Index có thể sẽ giao dịch trong vùng 1.630 – 1.665 và hình thành đáy ngắn hạn tại đây”.
Xu hướng ngắn hạn VN-Index đang chuyển sang giai đoạn điều chỉnh dưới vùng kháng cự tâm lý 1.700 điểm
(Công ty Cổ phần Chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội - SHS)
"Sau tuần tạo đỉnh và giảm mạnh, kết thúc giai đoạn phục hồi, tăng điểm ngắn hạn. Thị trường tiếp tục giao dịch với áp lực gia tăng trong phiên hôm nay. VN-Index phục hồi trong phiên sáng lên vùng giá 1.665 điểm, thanh khoản ở mức thấp, lực cầu suy yếu ở nhiều nhóm mã. VN-Index chịu áp lực bán mạnh hơn trong phiên chiều với thanh khoản tăng và phục hồi cuối phiên. Kết phiên VN-Index giảm nhẹ 0,88 điểm (-0,05%) về mức 1.646,01 điểm, dưới mốc tâm lý 1.700 điểm. Trong khi VN30 tăng 2,81 điểm (+0,15%) lên mức 1.869,84 điểm, dưới kháng cự tâm lý 1.900 điểm.
Độ rộng trên HOSE tiêu cực với 188 mã giảm giá. Áp lực bán ở nhóm mã bất động sản, xây dựng, ngân hàng, phân bón... với áp lực gia tăng mạnh trong phiên chiều; 126 mã tăng giá, phục hồi khá tốt ở các mã dầu khí, nông nghiệp, điện, bất động sản khu công nghiệp.. và 60 mã giữ giá tham chiếu. Thanh khoản thị trường giảm, khối lượng giao dịch khớp lệnh trên HOSE giảm -27,9% so với phiên trước. Thể hiện thị trường phân hóa, áp lực bán giảm ở nhiều mã, nhưng mức độ phục hồi cũng kém tích cực, tiếp tục bán mạnh ở các cổ phiếu có tính chất đầu cơ cao. Khối ngoại mua ròng khá tốt với giá trị 694,5 tỷ đồng trong phiên hôm nay trên HOSE, hỗ trợ tích cực diễn biến nhiều cổ phiếu.
Trên thị trường phái sinh, kỳ hạn VN30F1512 kết phiên ở mức 1.868,5 điểm, giảm -0,13% so với phiên trước. Chênh lệch chuyển sang âm -1,34 điểm so với VN30. Các kỳ hạn xa hơn 41I1G1000, 41I1G3000, 41I1G6000 âm từ - 2,84 điểm đến -11,44 điểm. Tổng khối lượng hợp đồng giao dịch giảm -5,1% so với phiên trước. Cho thấy các trader giảm các vị thế đầu cơ trong phiên. Ưu tiên phòng ngừa rủi ro cho thị trường cơ sở. Xu hướng ngắn hạn của VN30F2512 chịu áp lực bán với hỗ trợ gần nhất quanh 1.860 điểm. Khối lượng mở OI kỳ hạn VN30F2512 là 36.745, tăng khá mạnh các vị thế nắm giữ.
Xu hướng ngắn hạn VN-Index đang chuyển sang giai đoạn điều chỉnh dưới vùng kháng cự tâm lý 1.700 điểm, trên hỗ trợ tâm lý 1.600 điểm. Quá trình chiều chỉnh tích lũy có thể kéo dài, với các vị thế đầu tư mới sẽ đánh giá thận trọng hơn dựa trên kỳ vọng kết quả kinh quí IV/2025 và kế hoạch kinh doanh năm 2026 của các doanh nghiệp. Chỉ số VN-Index có thể sẽ tiếp tục chịu áp lực điều chỉnh về vùng giá 1.600 điểm - 1.620 điểm.
Khối lượng giao dịch khớp lệnh của thị trường đang trong xu hướng giảm khi giá phục hồi và tăng khi giá giảm ở nhiều mã, nhóm mã. Thể hiện áp lực bán vẫn duy trì, nhất là khi thị trường đang vào giai đoạn cơ cấu danh mục, cân đối các nguồn vốn cuối năm và rất ít cơ hội sinh lợi vượt trội ngắn hạn. Chúng tôi cho rằng vùng giá hợp lý của VN-Index sẽ quanh 1.550 điểm -1.600 điểm. Nhà đầu tư nên tiếp tục thận trọng đánh giá diễn biến của thị trường, kiểm soát rủi ro ngắn hạn. Đồng thời theo dõi diễn biến cổ phiếu các nhóm ngành khi thời điểm giảm mạnh là những cơ hội tốt để xem xét, đánh giá và tích lũy những cổ phiếu chất lượng.
Nhà đầu tư duy trì tỉ trọng hợp lý. Mục tiêu đầu tư hướng tới các mã có nền tảng cơ bản tốt, đầu ngành trong các ngành chiến lược, tăng trưởng vượt trội của nền kinh tế".
Xu hướng giảm sẽ tiếp diễn trong các phiên tới và đưa VN-Index về quanh vùng hỗ trợ 1.600 - 1.620
(Công ty Cổ phần Chứng khoán Thiên Việt - TVS)
“Chỉ số VN-Index giảm 0.9 điểm (-0.1%), đóng cửa ở mức 1,646 điểm. Chỉ số tăng điểm trong phiên sáng nhờ lực cầu từ một số cổ phiếu đơn lẻ như VRE và TCX. Tuy nhiên, áp lực bán sau đó ở nhóm BĐS đã khiến VN-Index giảm điểm và đóng cửa gần mức tham chiếu trong phiên hôm nay.
Với diễn biến thị trường hôm nay, chúng tôi cho rằng xu hướng giảm sẽ tiếp diễn trong các phiên tới và đưa VN-Index về quanh vùng hỗ trợ 1.600 - 1.620. Lực bán duy trì tại các nhóm vốn hóa lớn như nhóm Vingroup, Ngân hàng hay Bất động sản ảnh hưởng tiêu cực lên chỉ số. Thanh khoản thị trường thu hẹp cũng cho thấy lực cầu bắt đáy vẫn ở mức thấp, phản ánh tâm lý thận trọng của nhà đầu tư.
Về kỹ thuật, VN-Index đã kiểm định lại MA100 ngày và giảm sau đó cho thấy xu hướng của thị trường vẫn nghiêng về hướng giảm điểm. Do đó, chúng tôi khuyến nghị nhà đầu tư chưa nên giải ngân trong thời gian này và cần theo dõi sát diễn biến của VN-Index tại hỗ trợ nêu trên”.
Thị trường có thể sẽ tiếp tục xuất hiện nhịp hồi phục kỹ thuật trong phiên kế tiếp
(Công ty Chứng khoán Yuanta Việt Nam – YSVN)
“Chúng tôi cho rằng thị trường có thể sẽ tiếp tục xuất hiện nhịp hồi phục kỹ thuật trong phiên kế tiếp. Đồng thời, chúng tôi đánh giá nhịp hồi phục kỹ thuật có thể tiếp tục diễn ra và chỉ số VN-Index có thể sẽ thử thách lại đường trung bình 50 phiên (tức là mức 1.680 điểm).
Chiến lược ngắn hạn (dưới 1 tháng): Xu hướng ngắn hạn của thị trường chung vẫn duy trì ở mức giảm. Do đó, chúng tôi khuyến nghị các nhà đầu tư có thể tiếp tục tận dụng nhịp hồi để đưa tỷ trọng cổ phiếu về mức thấp và chưa nên mua mới trong giai đoạn này, đặc biệt các nhà đầu tư không nên bán hết toàn bộ danh mục”.
Đà giảm VN-Index đã có phần chững lại để thăm dò cung cầu
(Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam - VCBS)
“VN-Index kết phiên với nến Doji cho thấy sự giằng co của chỉ số quanh vùng 1650 điểm sau phiên giảm khá mạnh thứ sáu tuần trước.
Trên khung đồ thị ngày, chỉ số chung tiếp tục vận động quanh vùng hỗ trợ 1640-1650 cùng với thanh khoản có phần giảm so với phiên cùng kỳ thể hiện sự giằng co của thị trường. Đồng thời, các chỉ báo kỹ thuật nhìn chung đều chưa cho tín hiệu đảo chiều thoát khỏi xu hướng đi xuống nên vẫn cần chú ý khả năng chỉ số có thể điều chỉnh giảm sâu hơn để kiểm tra lại vùng hỗ trợ "cứng" quanh 1600 - 1620.
Trên khung đồ thị giờ, chỉ báo CMF hướng lên nhẹ trong nửa cuối phiên chiều cho thấy dòng tiền bắt đáy có tín hiệu quay trở lại thị trường sau phiên giảm mạnh liền trước, tuy nhiên vẫn cần quan sát thêm vận động của chỉ số nhằm thiết lập nền giá mới ổn định hơn.
Sau nhịp giảm điểm mạnh của phiên giao dịch trước đó, VN-Index đã có phần chững lại để thăm dò cung cầu, thể hiện qua phiên giao dịch biến động trong biên độ hẹp. Trạng thái này cho thấy sự thận trọng của nhà đầu tư trên thị trường. Đồng thời, dòng tiền tiếp tục luân chuyển và phân hóa, tìm kiếm cơ hội ở các nhóm ngành đã điều chỉnh trước. Chúng tôi khuyến nghị nhà đầu tư tận dụng nhịp hồi phục để cơ cấu danh mục theo hướng loại bỏ những mã tiếp tục cho tín hiệu suy yếu, đồng thời có thể tìm kiếm cơ hội giải ngân thăm dò ở một số nhóm ngành "ngách" đang được dòng tiền chú ý đến và bật tăng từ nền tích lũy như chăn nuôi và dầu khí”.
Chỉ số sẽ bước vào giai đoạn tích lũy trở lại lực cầu
(Công ty Cổ phần Chứng khoán VietCap )
“Chúng tôi cho rằng VN-Index sẽ dao động trong biên độ 1.630-1.670 (+/- 10) điểm trong thời gian tới dựa trên hoạt động bán tháo đang có chiều hướng thuyên giảm. Chỉ số sẽ bước vào giai đoạn tích lũy trở lại lực cầu và xác suất tạo đáy sẽ được gia tăng nếu hoạt động cung vùng giá cao được tiết chế ở mức thấp”
Đà giảm của VN-Index có dấu hiệu chững lại khi VN-Index tiếp cận khu vực hỗ trợ 1.640 – 1.650
(Công ty Cổ phần Chứng khoán SSI – SSI)
“Đà giảm của VN-Index có dấu hiệu chững lại khi VN-Index tiếp cận khu vực hỗ trợ 1.640 – 1.650; tuy nhiên, nỗ lực hồi phục vẫn chịu áp lực cản bởi vùng 1.660. Trong bối cảnh tâm lý thận trọng duy trì, kịch bản vận động giằng co và rung lắc khả năng tiếp tục chi phối diễn biến của chỉ số trong biên độ trên”.
Nhận định thị trường của các công ty chứng khoán được VnEconomy trích dẫn chỉ có giá trị như một nguồn thông tin tham khảo. Các công ty chứng khoán có thể có những xung đột lợi ích đối với các nhà đầu tư khi đưa ra nhận định.
-Hà Anh
Khối ngoại bất ngờ bắt đáy gom ròng gần 700 tỷ, cá nhân tranh thủ cắt lỗ
Sau phiên bán tháo hoảng loạn vào cuối tuần trước, thị trường dần lấy lại sự bình tĩnh và hình thành trạng thái cân bằng. Dù trong phiên vẫn có lúc VN-Index giảm gần 10 điểm, nhưng áp lực chủ yếu tập trung vào một số cổ phiếu trụ cột. Chốt phiên giao dịch, VN-Index gần như đi ngang với 126 mã tăng giá so với 188 mã giảm.
Nhóm cổ phiếu họ Vingroup tiếp tục là lực cản lớn đối với chỉ số khi cả ba mã VIC, VHM và VPL đồng loạt giảm kịch sàn, tạo sức ép đáng kể lên VN-Index. Tuy nhiên, VRE ghi nhận nhịp hồi phục khá ấn tượng, tăng tới 5,28%. Diễn biến này cho thấy sự phân hóa ngày càng rõ nét, không chỉ giữa các nhóm ngành mà còn ngay trong nội bộ từng nhóm cổ phiếu.
Ngân hàng là ví dụ điển hình cho trạng thái phân hóa mạnh. Một số cổ phiếu ghi nhận diễn biến tích cực như CTG và VPB, trong đó VPB tăng tới 3,58%, STB cũng giữ được sắc xanh. Trái lại, MBB, LPB và HDB tiếp tục chịu áp lực điều chỉnh, trong khi các cổ phiếu vốn hóa lớn như BID, VCB và TCB gần như đi ngang quanh mức tham chiếu.
Nhóm chứng khoán cũng có diễn biến tương tự khi dòng tiền chọn lọc rõ ràng hơn: TCX bứt phá mạnh với mức tăng 6,61%, SSI tăng 1,07% và VND tăng 1,14%, trong khi HCM, VCI tăng hơn 1%, còn VIX và SHS lùi về tham chiếu.
Ở nhóm phi tài chính, năng lượng trở thành điểm sáng khi BSR đóng cửa trong trạng thái tăng kịch trần, góp phần cải thiện tâm lý chung. Nhóm tiêu dùng ghi nhận sự trái chiều khi VNM, SAB và PNJ tăng khá tích cực, trong khi MCH và HAG lại chịu áp lực bán mạnh. Xu hướng phân hóa này cũng lặp lại tại các nhóm hàng không – vận tải và nguyên vật liệu.
Đáng chú ý, nhóm cổ phiếu đầu tư công tiếp tục hụt hơi dù đây thường là giai đoạn cao điểm ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực vào cuối năm, với hàng loạt mã như HBC, CTD, VCH và HTN đồng loạt giảm sâu.
Thanh khoản toàn thị trường đạt gần 20.000 tỷ đồng trên cả ba sàn. Điểm sáng đáng chú ý đến từ khối ngoại khi nhà đầu tư nước ngoài mua ròng 662.2 tỷ đồng, tính riêng giao dịch khớp lệnh thì họ mua ròng 662.6 tỷ đồng.
Mua ròng khớp lệnh chính của nước ngoài là nhóm Dịch vụ tài chính, Tài nguyên Cơ bản. Top mua ròng khớp lệnh của nước ngoài gồm các mã: TCX, VIX, HPG, VPB, SSI, VHM, VNM, BSR, CII, VRE.
Phía bên bán ròng khớp lệnh của nước ngoài là nhóm Ngân hàng. Top bán ròng khớp lệnh của nước ngoài gồm các mã: VIC, MBB, MWG, MSN, VCB, HDB, DXG, PDR, SHB.
Nhà đầu tư cá nhân bán ròng 443.7 tỷ đồng, trong đó họ bán ròng khớp lệnh là 407.0 tỷ đồng. Tính riêng giao dịch khớp lệnh, họ mua ròng 7/18 ngành, chủ yếu là ngành Bất động sản. Top mua ròng của nhà đầu tư cá nhân tập trung gồm: VIC, VIX, PDR, MSN, SSI, EIB, TCB, GEX, MWG.
Phía bán ròng khớp lệnh: họ bán ròng 11/18 ngành chủ yếu là nhóm ngành Tài nguyên Cơ bản, Ngân hàng. Top bán ròng có: HPG, STB, BSR, VNM, VCI, FPT, HDB, TPB, KBC.
Tự doanh bán ròng 64.9 tỷ đồng tính riêng khớp lệnh họ bán ròng 60.0 tỷ đồng. Tính riêng giao dịch khớp lệnh: Tự doanh mua ròng 5/18 ngành. Nhóm mua ròng mạnh nhất là Dịch vụ tài chính, Hàng Dịch vụ Công nghiệp. Top mua ròng khớp lệnh của tự doanh phiên ngày hôm nay gồm VIX, VRE, CTG, MBB, VSC, VIB, VNM, FPT, CII, GEX. Top bán ròng là nhóm Ngân hàng. Top cổ phiếu được bán ròng gồm HPG, STB, VCB, VIC, FUEVFVND, SHB, VHM, MSN, VJC, TPB.
Nhà đầu tư tổ chức trong nước bán ròng 185.8 tỷ đồng, tính riêng khớp lệnh thì họ bán ròng 195.6 tỷ đồng.
Tính riêng giao dịch khớp lệnh: Tổ chức trong nước bán ròng 9/18 ngành, giá trị lớn nhất là nhóm Dịch vụ tài chính Top bán ròng có VIX, TCX, SSI, VPB, VRE, CII, VHM, HCM, VNM, VJC. Giá trị mua ròng lớn nhất là nhóm Ngân hàng. Top mua ròng có HDB, VCB, SHB, MWG, MBB, VIC, STB, MSN, HPG, TPB.
Giá trị giao dịch thỏa thuận hôm nay đạt 3.262,0 tỷ đồng, giảm -6,4% so với phiên liền trước và đóng góp 15,7% tổng giá trị giao dịch.
Hôm nay có giao dịch đáng chú ý ở cổ phiếu VIC, với 5 triệu đơn vị cổ phiếu tương đương 700 tỷ đồng được sang tay giữa các Tổ chức trong nước.
Tỷ trọng phân bổ dòng tiền tăng ở Bất động sản, Chứng khoán, Nuôi trồng nông Hải sản, Sản xuất và khai thác dầu khí, trong khi giảm ở Ngân hàng, Xây dựng, Thép, Hóa chất, Thực phẩm, Bán lẻ, Thiết bị điện, Kho bãi. Tính riêng khớp lệnh, tỷ trọng phân bổ dòng tiền giảm nhẹ ở cả 3 nhóm vốn hóa VN30, VNMID và VNSML.
-Thu Minh
Kỷ lục giải ngân 23,6 tỷ USD và “bước ngoặt” FDI xanh và hạ tầng số
Việt Nam đang chứng kiến một kỷ lục mới trong việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với con số giải ngân đạt 23,6 tỷ USD trong 11 tháng đầu năm 2025. Đây là mức cao nhất trong vòng 5 năm qua, cho thấy niềm tin mạnh mẽ của các nhà đầu tư nước ngoài vào sự ổn định và triển vọng tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam. Sự gia tăng này không chỉ thể hiện qua số lượng mà còn qua chất lượng và cơ cấu đầu tư, với sự chuyển dịch mạnh mẽ vào các lĩnh vực tạo ra giá trị gia tăng thực tế như công nghiệp chế biến, chế tạo, chiếm tới 82,9% tổng vốn thực hiện.
Một điểm đáng chú ý là sự bùng nổ của phương thức góp vốn, mua cổ phần, với 3.225 lượt giao dịch đạt tổng giá trị 6,11 tỷ USD, tăng 50,7% so với cùng kỳ năm trước. Điều này cho thấy các nhà đầu tư nước ngoài đang tìm cách thâm nhập thị trường Việt Nam nhanh chóng, tận dụng cơ sở vật chất và thị phần sẵn có của doanh nghiệp nội địa.
Bức tranh FDI năm 2025 còn ghi nhận sự xuất hiện ấn tượng của Thụy Điển trong "Top 5" quốc gia đầu tư vào Việt Nam, với 1,0 tỷ USD vốn đăng ký cấp mới. Điều này báo hiệu làn sóng đầu tư từ châu Âu vào các lĩnh vực công nghệ cao, năng lượng xanh và phát triển bền vững đang bắt đầu hiện thực hóa, phù hợp với định hướng thu hút FDI thế hệ mới của Việt Nam.
Tuy nhiên, vẫn còn những thách thức trong việc thu hút FDI khi số lượng dự án mới tăng mạnh nhưng tổng vốn đăng ký cấp mới lại giảm nhẹ. Điều này có thể phản ánh sự thận trọng của các tập đoàn đa quốc gia trong bối cảnh thuế tối thiểu toàn cầu bắt đầu có hiệu lực.
Triển vọng cho năm 2026 là rất tích cực, với dự báo dòng vốn FDI tiếp tục tăng trưởng, tập trung vào các lĩnh vực "xanh" và "số". Việt Nam được kỳ vọng sẽ tiếp tục là điểm đến hấp dẫn cho các nhà đầu tư quốc tế, với số vốn đăng ký có thể tiệm cận hoặc vượt mốc 38-40 tỷ USD. Các khu công nghiệp sinh thái và dự án năng lượng tái tạo sẽ nắm lợi thế trong bối cảnh tiêu chuẩn "xanh" trở thành yêu cầu bắt buộc.
Nội dung đầy đủ của bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 50-2025 phát hành ngày 13/12/2025. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-50-2025.html
-Anh Nhi
Luật An ninh mạng (sửa đổi) đáp ứng nhiều thách thức mới của kỷ nguyên số
Tại buổi Họp báo thông báo tình hình, kết quả công tác công an năm 2025 diễn ra vào chiều ngày 15/12/2025, Đại tá Nguyễn Hồng Quân, Phó Cục trưởng Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao - Bộ Công an, đã thông tin tới báo chí về Luật An ninh mạng (sửa đổi) năm 2025.
Đại tá Nguyễn Hồng Quân cho biết Luật An ninh mạng (sửa đổi) năm 2025 được xây dựng nhằm đáp ứng các thách thức mới của kỷ nguyên số, đặc biệt là sự gia tăng nhanh chóng của tội phạm sử dụng công nghệ cao. Luật dự kiến phát huy hiệu quả trên các phương diện trọng tâm.
Thứ nhất là yêu cầu thiết lập cơ chế giám sát an ninh mạng liên tục, giúp phát hiện sớm tấn công, lừa đảo và chiếm đoạt tài sản ngay từ giai đoạn đầu, tạo nền tảng ngăn chặn nguy cơ trước khi gây hậu quả.
Thứ hai là tăng cường trách nhiệm của doanh nghiệp trong nước và quốc tế; đặc biệt là các nền tảng xuyên biên giới trong việc cung cấp thông tin người dùng khi có yêu cầu hợp pháp, gỡ bỏ nội dung vi phạm và phối hợp xử lý tấn công mạng. Qua đó hạn chế tình trạng tội phạm lợi dụng môi trường mạng quốc tế để ẩn danh.
Thứ ba là hoàn thiện hành lang pháp lý bằng cách bổ sung các hành vi phạm tội mới như sử dụng AI tạo deepfake lừa đảo, giả mạo danh tính số, tấn công mã độc tống tiền hay xâm nhập chuỗi cung ứng số, giúp loại bỏ những khoảng trống pháp lý trước đây.
Thứ tư là luật xác định Bộ Công an là đầu mối chuyên trách, đảm bảo thống nhất chỉ huy, tránh chồng chéo giữa các bộ, ngành và tăng tốc độ xử lý các vụ tấn công mạng quy mô lớn.
Thứ năm là tăng cường bảo vệ hạ tầng trọng yếu quốc gia như tài chính - ngân hàng, viễn thông - dữ liệu, năng lượng, giao thông và y tế; giúp nâng cao sức chống chịu của các hệ thống “sống còn” trước các cuộc tấn công mạng.
Thứ sáu là mở rộng hợp tác quốc tế thông qua yêu cầu các nền tảng nước ngoài đặt đại diện tại Việt Nam, tuân thủ pháp luật Việt Nam và cung cấp dữ liệu phục vụ điều tra, tạo cơ sở xử lý hiệu quả tội phạm mạng xuyên biên giới.
Thứ bảy là nâng cao năng lực điều tra số bằng việc tăng cường cơ sở pháp lý cho thu thập chứng cứ điện tử, giám định dữ liệu, truy vết giao dịch tiền ảo và điều tra tội phạm trên deep web và dark web.
Liên quan đến việc nâng cao chất lượng giám sát, bảo vệ hệ thống thông tin quan trọng của các tỉnh, thành phố, Đại tá Nguyễn Hồng Quân cho biết Bộ Công an đang định hướng xây dựng các Trung tâm An ninh mạng tại địa phương theo mô hình bài bản và bền vững.
Bên cạnh đầu tư về giải pháp công nghệ, Bộ Công an sẽ tăng cường nguồn nhân lực chuyên trách, chuyên gia an ninh mạng nhằm giúp các địa phương chủ động hơn trong giám sát, cảnh báo, ứng phó sự cố và bảo đảm an ninh mạng ở địa phương.
Trong quá trình triển khai Nghị quyết 57, Bộ Công an đang thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ nhằm tăng cường đảm bảo an ninh mạng cho các hệ thống thông tin trọng yếu của quốc gia.
Trong giai đoạn 2025 - 2030, Bộ Công an dự kiến xây dựng hệ thống phòng vệ mạng quốc gia theo mô hình đa lớp, kết hợp giữa năng lực bảo vệ tại chỗ của các bộ, ngành, địa phương và năng lực giám sát tập trung ở cấp quốc gia; hoàn thiện khung tiêu chuẩn chung cho các hệ thống SOC trên toàn quốc.
Mục tiêu là hình thành một mạng lưới giám sát an ninh mạng thống nhất, liên thông, có khả năng cảnh báo sớm và ứng phó nhanh trên phạm vi toàn quốc; góp phần bảo vệ hiệu quả các hệ thống thông tin của Đảng, Nhà nước và các dịch vụ thiết yếu cho người dân...
-Đỗ Như
Luật An ninh mạng (sửa đổi) đáp ứng nhiều thách thức mới của kỷ nguyên số
Tại buổi Họp báo thông báo tình hình, kết quả công tác công an năm 2025 diễn ra vào chiều ngày 15/12/2025, Đại tá Nguyễn Hồng Quân, Phó Cục trưởng Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao - Bộ Công an, đã thông tin tới báo chí về Luật An ninh mạng (sửa đổi) năm 2025.
Đại tá Nguyễn Hồng Quân cho biết Luật An ninh mạng (sửa đổi) năm 2025 được xây dựng nhằm đáp ứng các thách thức mới của kỷ nguyên số, đặc biệt là sự gia tăng nhanh chóng của tội phạm sử dụng công nghệ cao. Luật dự kiến phát huy hiệu quả trên các phương diện trọng tâm.
Thứ nhất là yêu cầu thiết lập cơ chế giám sát an ninh mạng liên tục, giúp phát hiện sớm tấn công, lừa đảo và chiếm đoạt tài sản ngay từ giai đoạn đầu, tạo nền tảng ngăn chặn nguy cơ trước khi gây hậu quả.
Thứ hai là tăng cường trách nhiệm của doanh nghiệp trong nước và quốc tế; đặc biệt là các nền tảng xuyên biên giới trong việc cung cấp thông tin người dùng khi có yêu cầu hợp pháp, gỡ bỏ nội dung vi phạm và phối hợp xử lý tấn công mạng. Qua đó hạn chế tình trạng tội phạm lợi dụng môi trường mạng quốc tế để ẩn danh.
Thứ ba là hoàn thiện hành lang pháp lý bằng cách bổ sung các hành vi phạm tội mới như sử dụng AI tạo deepfake lừa đảo, giả mạo danh tính số, tấn công mã độc tống tiền hay xâm nhập chuỗi cung ứng số, giúp loại bỏ những khoảng trống pháp lý trước đây.
Thứ tư là luật xác định Bộ Công an là đầu mối chuyên trách, đảm bảo thống nhất chỉ huy, tránh chồng chéo giữa các bộ, ngành và tăng tốc độ xử lý các vụ tấn công mạng quy mô lớn.
Thứ năm là tăng cường bảo vệ hạ tầng trọng yếu quốc gia như tài chính - ngân hàng, viễn thông - dữ liệu, năng lượng, giao thông và y tế; giúp nâng cao sức chống chịu của các hệ thống “sống còn” trước các cuộc tấn công mạng.
Thứ sáu là mở rộng hợp tác quốc tế thông qua yêu cầu các nền tảng nước ngoài đặt đại diện tại Việt Nam, tuân thủ pháp luật Việt Nam và cung cấp dữ liệu phục vụ điều tra, tạo cơ sở xử lý hiệu quả tội phạm mạng xuyên biên giới.
Thứ bảy là nâng cao năng lực điều tra số bằng việc tăng cường cơ sở pháp lý cho thu thập chứng cứ điện tử, giám định dữ liệu, truy vết giao dịch tiền ảo và điều tra tội phạm trên deep web và dark web.
Liên quan đến việc nâng cao chất lượng giám sát, bảo vệ hệ thống thông tin quan trọng của các tỉnh, thành phố, Đại tá Nguyễn Hồng Quân cho biết Bộ Công an đang định hướng xây dựng các Trung tâm An ninh mạng tại địa phương theo mô hình bài bản và bền vững.
Bên cạnh đầu tư về giải pháp công nghệ, Bộ Công an sẽ tăng cường nguồn nhân lực chuyên trách, chuyên gia an ninh mạng nhằm giúp các địa phương chủ động hơn trong giám sát, cảnh báo, ứng phó sự cố và bảo đảm an ninh mạng ở địa phương.
Trong quá trình triển khai Nghị quyết 57, Bộ Công an đang thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ nhằm tăng cường đảm bảo an ninh mạng cho các hệ thống thông tin trọng yếu của quốc gia.
Trong giai đoạn 2025 - 2030, Bộ Công an dự kiến xây dựng hệ thống phòng vệ mạng quốc gia theo mô hình đa lớp, kết hợp giữa năng lực bảo vệ tại chỗ của các bộ, ngành, địa phương và năng lực giám sát tập trung ở cấp quốc gia; hoàn thiện khung tiêu chuẩn chung cho các hệ thống SOC trên toàn quốc.
Mục tiêu là hình thành một mạng lưới giám sát an ninh mạng thống nhất, liên thông, có khả năng cảnh báo sớm và ứng phó nhanh trên phạm vi toàn quốc; góp phần bảo vệ hiệu quả các hệ thống thông tin của Đảng, Nhà nước và các dịch vụ thiết yếu cho người dân...
-Đỗ Như
Công an TP Hà Nội khởi tố thêm tội danh Trốn thuế đối với “shark Bình”
Chiều 15/12, tại họp báo của Bộ Công an, Đại tá Nguyễn Đức Long, Phó Giám đốc Công an TP Hà Nội, đã thông tin về vụ án liên quan đến bị can Nguyễn Hòa Bình (thường gọi là Shark Bình, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Tập đoàn NextTech).
Đại tá Nguyễn Đức Long cho biết cơ quan điều tra đã làm rõ về mô hình, quy mô, tính chất lừa đảo chiếm đoạt tài sản và vi phạm pháp luật của bị can Nguyễn Hòa Bình và các đối tượng liên quan.
Hệ sinh thái của Công ty NextTech gồm có 35 doanh nghiệp. Trong đó chỉ có 11 doanh nghiệp đang hoạt động, 22 doanh nghiệp đã ngừng hoạt động và đang trong thời gian giải thể.
Từ tháng 5/2021, bị can Nguyễn Hòa Bình cùng với các đối tượng xây dựng, phát triển dự án đồng tiền ảo AntEx, mục tiêu mời các nhà đầu tư tham gia đầu tư mua đồng tiền ảo AntEx để phục vụ cho việc xây dựng dự án đồng tiền số VNDT và phần mềm ví điện tử VNDT.
Các hoạt động này được thanh toán thông qua Cổng Ngân Lượng. Từ khoảng tháng 3/2022, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam qua theo dõi và nắm tình hình đã phát hiện và cảnh báo trên các phương tiện thông tin đại chúng về các rủi ro liên quan đến đồng tiền số AntEx.
Tuy nhiên, Nguyễn Hòa Bình đã che giấu thông tin và cùng với các cổ đông của Công ty NextTech rút tiền từ ví tổng của đồng tiền số AntEx chuyển vào ví của cá nhân và bán ra đồng tiền Việt Nam để chia nhau.
Ngoài ra, Nguyễn Hòa Bình cùng các đối tượng cũng đã chuyển một số tiền sang các tài khoản của các công ty trong hệ sinh thái NextTech. Các đối tượng đã huy động được 4,5 triệu USDT từ 30.000 ví của các nhà đầu tư và chiếm đoạt số tiền đặc biệt lớn. Cơ quan điều tra Công an TP Hà Nội đã khởi tố các đối tượng về hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Ngoài ra, các đối tượng còn thực hiên hành vi Vi phạm quy định về kế toán xảy ra tại Công ty Cổ phần Bất động sản NextLand. Đây là pháp nhân được Nguyễn Hòa Bình chỉ đạo thành lập vào năm 2022, là một trong những công ty thuộc hệ sinh thái NextTech.
Bị can Bình chỉ đạo nhân viên làm giảm lợi nhuận bằng thủ đoạn hạ giá trị bán trên hợp đồng mua bán với khách hàng và sử dụng 2 hệ thống sổ sách để che giấu doanh thu. Tài liệu ban đầu xác định, hành vi của các bị can gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước số tiền là trên 44 tỷ đồng.
Còn hành vi Trốn thuế xảy ra tại Công ty Cổ phần Công nghệ Vimo, theo đó, năm 2024, Công ty Cổ phần Công nghệ Vimo do Đỗ Công Diễn làm Tổng Giám đốc, các cổ đông gồm Nguyễn Hữu Tuất, Nguyễn Hòa Bình. Công ty hoạt động trên lĩnh vực là trung gian thanh toán, nhận thu hộ, chi hộ thông qua việc sử dụng dịch vụ máy POS và thu phí.
Do doanh thu của Công ty Cổ phần Vimo lớn, Nguyễn Hòa Bình đã chỉ đạo Đỗ Công Diễn và Nguyễn Hữu Tuất để ngoài sổ sách kê khai giảm doanh thu trong tháng 2, tháng 3 và tháng 4 năm 2024. Cơ quan Thuế Hà Nội đã xác định Công ty Cổ phần Vimo đã trốn thuế với số tiền là trên 29 tỷ đồng.
Ngày 14/10/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP Hà Nội đã khởi tố bổ sung vụ án trốn thuế và khởi tố bổ sung bị can đối với Nguyễn Hòa Bình, Nguyễn Hữu Tuất, đồng thời khởi tố bắt tạm giam đối với Đỗ Công Diễn về tội Trốn thuế.
Đến nay, qua điều tra, khám xét, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP Hà Nội đã thu giữ, tạm dừng giao dịch và phong tỏa tiền, vàng và các tài sản khác của các đối tượng, tổng số khoảng 900 tỷ đồng. Về các đối tượng khác, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP Hà Nội tiếp tục khai thác mở rộng và sẽ thu thập tài liệu.
-Đỗ Như
CapitaLand Development ghi dấu 2025 với danh hiệu “Nhà phát triển bất động sản bền vững xuất sắc”
Đây là năm thứ tư CLD Việt Nam góp mặt tại Chung kết APA, nơi tôn vinh những doanh nghiệp và dự án bất động sản xuất sắc nhất khu vực.
Không chỉ đến từ tầm nhìn chiến lược của đội ngũ lãnh đạo và cam kết phát triển bền vững, thành tích này còn được khẳng định qua chất lượng vượt trội của các dự án do Tập đoàn phát triển. Đồng phát triển cùng Tập đoàn United Overseas Australia (UOA), Orchard Mansion - mảnh ghép mới nhất trong Tổng dự án Sycamore tại TP. Hồ Chí Minh - được tôn vinh danh hiệu cao nhất dành cho phân khúc nhà ở trong khu vực với giải thưởng “Dự án nhà ở xuất sắc”.
Bên cạnh đó, những phân khu khác thuộc dự án Sycamore như The Orchard và Orchard Grand, cùng với dự án The Fullton - hợp tác phát triển cùng Far East Organization tại tỉnh Hưng Yên (Hà Nội mở rộng) - cũng được vinh danh ở nhiều hạng mục quan trọng, bao gồm “Dự án nhà ở hoàn thiện xuất sắc”, “Dự án căn hộ cao tầng xuất sắc”, “Dự án nhà ở hạng sang xuất sắc”, và “Thiết kế cảnh quan nhà ở xuất sắc”.
Danh hiệu “Dự án nhà ở hoàn thiện xuất sắc” (châu Á) được trao cho phân khu đầu tiên của Sycamore, The Orchard. Orchard Mansion giành danh hiệu “Dự án nhà ở xuất sắc” (châu Á), khẳng định vị thế tiên phong của CLD trong phân khúc này. The Fullton được vinh danh nhờ chất lượng xuất sắc trong phân khúc nhà ở hạng sang và thiết kế cảnh quan tinh tế.Ông Tan Wee Hsien, Tổng giám đốc CLD Việt Nam và Quốc tế, chia sẻ: “Tại CLD, phát triển bền vững đóng vai trò cốt lõi trong chiến lược kinh doanh và là kim chỉ nam định hướng phát triển thiết kế trong mọi dự án. Được vinh danh ‘Nhà phát triển bất động sản bền vững xuất sắc’, cùng những giải thưởng danh giá tại Chung kết APA 2025 là sự ghi nhận cho nỗ lực không ngừng của đội ngũ công ty trong công cuộc đổi mới, nâng cao chất lượng và kiến tạo những không gian sống thân thiện với môi trường. Với vị thế là nhà phát triển bất động sản được tin chọn, chúng tôi sẽ tiếp tục nâng tầm chuẩn mực, góp phần vào hành trình phát triển bền vững của thị trường bất động sản Việt Nam”.
Cam kết phát triển bền vững của CLD Việt Nam được thể hiện xuyên suốt danh mục dự án, với 14 công trình đạt các chứng nhận xanh uy tín như BCA Green Mark, EDGE, LEED và WELL. Tiêu biểu trong số đó là Tổng dự án Sycamore tại phường Bình Dương, TP. Hồ Chí Minh, được thiết kế theo tiêu chuẩn EDGE với giải pháp tối ưu năng lượng, hệ thống thu gom nước mưa, cùng nhiều mảng xanh hài hòa.
Hướng đến mục tiêu thiết lập chuẩn mực cho cuộc sống đô thị bền vững, Sycamore là dự án tiên phong trong khu vực phường Bình Dương có tích hợp hạ tầng cho xe điện tại mỗi phân khu. Tại miền Bắc, dự án nhà ở thấp tầng hạng sang The Fullton chú trọng kiến tạo không gian sống thân thiện với môi trường với mật độ phát triển thấp, mang đến cho cư dân trải nghiệm sống thư thái, gần gũi với thiên nhiên, và hướng đến cộng đồng.
Với những giải thưởng đạt được trong năm qua, các dự án của CLD tại Việt Nam tiếp tục khẳng định sức hút mạnh mẽ, thiết kế sáng tạo và chất lượng vượt trội, qua đó củng cố vị thế của doanh nghiệp như một trong những nhà phát triển được tin chọn hàng đầu trong khu vực.
CapitaLand Development (CLD) là nhánh phát triển bất động sản của Tập đoàn CapitaLand, với danh mục đầu tư trị giá khoảng 18,5 tỷ đô la Singapore tính đến ngày 30-9-2025. Tập trung vào các thị trường cốt lõi gồm Singapore, Trung Quốc và Việt Nam, CLD sở hữu năng lực phát triển sâu rộng các khối tài sản đa dạng, bao gồm các dự án phức hợp, khu bán lẻ, văn phòng, lưu trú, căn hộ và nhà ở, công nghiệp, hậu cần và trung tâm dữ liệu.
CLD (Việt Nam) quản lý và phát triển hoạt động đầu tư và kinh doanh của CLD tại Việt Nam, một trong những thị trường cốt lõi, nơi Tập đoàn đã xây dựng sự hiện diện vững chắc trong hơn 30 năm qua. Danh mục đầu tư của CLD tại Việt Nam bao gồm 1 dự án mô hình SOHO, 2 dự án phức hợp và hơn 19.000 căn hộ và nhà ở chất lượng tại 19 dự án.
Với thế mạnh vượt trội trong quy hoạch tổng thể, phát triển quỹ đất và triển khai dự án, CLD đã nhận được nhiều giải thưởng danh giá như giải thưởng Bất động sản Châu Á - Thái Bình Dương, giải thưởng Bất động sản Châu Á PropertyGuru, giải thưởng Bất động sản Việt Nam PropertyGuru và dan hiệu Rồng Vàng.
Vượt trên mục tiêu phát triển dự án bất động sản, CLD hướng đến trở thành nhà phát triển bất động sản được tin chọn, góp phần tô điểm cuộc sống và nâng tầm cộng đồng. Doanh nghiệp cam kết tiếp tục kiến tạo nên những không gian sống, làm việc, và giải trí chất lượng, thông qua các giải pháp bền vững và đổi mới sáng tạo.
Là thành viên của Tập đoàn CapitaLand, CLD luôn lấy phát triển bền vững làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động. Với tinh thần trách nhiệm của một doanh nghiệp bất động sản uy tín, CLD không ngừng đóng góp vào việc bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống cộng đồng, đồng thời tạo ra những giá trị kinh tế lâu dài và bền vững cho các đối tác và nhà đầu tư.
-Thu Ngân
Hơn 41.800 tỷ đồng đầu tư nhà máy LNG Quảng Trạch III
Mới đây, UBND tỉnh Quảng Trị đã làm việc với Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) về tình hình triển khai các dự án thuộc Trung tâm Điện lực Quảng Trạch, đồng thời tổ chức lễ trao quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư Dự án Nhà máy Nhiệt điện LNG Quảng Trạch III. Đây là dự án nằm trong Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050, đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh tại Quyết định số 768/QĐ-TTg ngày 15/4/2025.
Theo quyết định của UBND tỉnh Quảng Trị, EVN là nhà đầu tư thực hiện dự án Nhà máy Nhiệt điện LNG Quảng Trạch III. Quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư được ban hành ngày 01/12/2025, đánh dấu bước tiến quan trọng về mặt pháp lý để dự án sớm chuyển sang giai đoạn chuẩn bị đầu tư, giải phóng mặt bằng và triển khai các thủ tục tiếp theo.
TRUNG TÂM ĐIỆN LỰC QUẢNG TRẠCH DẦN HOÀN THIỆN CẤU TRÚCTrung tâm Điện lực Quảng Trạch được quy hoạch với tổng công suất khoảng 4.500 MW, bao gồm Nhà máy Nhiệt điện Quảng Trạch I, Nhà máy Nhiệt điện LNG Quảng Trạch II và Nhà máy Nhiệt điện LNG Quảng Trạch III. Khi đi vào vận hành, mỗi nhà máy dự kiến cung cấp cho hệ thống điện quốc gia sản lượng điện bình quân khoảng 9,1 tỷ kWh mỗi năm, góp phần quan trọng vào việc bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, nâng cao độ an toàn và ổn định của hệ thống điện.
Toàn cảnh buổi làm việcTrong bối cảnh nhu cầu phụ tải điện của cả nước, đặc biệt là khu vực miền Bắc, được dự báo tiếp tục tăng mạnh giai đoạn 2031 – 2035, việc hình thành đầy đủ các dự án thuộc Trung tâm Điện lực Quảng Trạch mang ý nghĩa chiến lược. Không chỉ bổ sung nguồn điện công suất lớn, các nhà máy LNG với công nghệ hiện đại còn giúp hệ thống điện vận hành linh hoạt hơn, hỗ trợ quá trình chuyển dịch năng lượng theo định hướng giảm dần các nguồn phát thải cao.
Dự án Nhà máy Nhiệt điện LNG Quảng Trạch III được xây dựng trên tổng diện tích khoảng 74 ha, trong đó có khoảng 54,77 ha đất và 19,23 ha mặt nước, tại xã Phú Trạch, tỉnh Quảng Trị (trước đây là xã Quảng Đông, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình). Nhà máy sử dụng công nghệ tuabin khí chu trình hỗn hợp, với công suất thiết kế 1.500 MW ± 15%, thuộc nhóm công nghệ phát điện tiên tiến hiện nay.
Tổng mức đầu tư sơ bộ của dự án khoảng 41.826 tỷ đồng. Nguồn vốn thực hiện bao gồm 20% vốn chủ sở hữu của EVN và 80% vốn vay thương mại trong nước, do Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) tài trợ. Hiện EVN và Ban Quản lý dự án điện 2 đang tập trung đẩy nhanh tiến độ lập Báo cáo nghiên cứu khả thi, làm cơ sở để UBND tỉnh Quảng Trị thẩm định và phê duyệt theo quy định.
TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG MỚI CHO QUẢNG TRỊTại buổi làm việc, lãnh đạo EVN đã báo cáo chi tiết tình hình triển khai các dự án năng lượng trên địa bàn tỉnh, đồng thời nêu rõ một số vướng mắc liên quan đến giải phóng mặt bằng, hạ tầng kết nối và thủ tục phối hợp giữa các bên trong quá trình thực hiện. Chính quyền các địa phương nơi dự án đi qua cũng đã trình bày phương án giải phóng mặt bằng, tái định cư, cùng những khó khăn cần được tháo gỡ kịp thời.
Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Quảng Trị Hoàng Nam trao quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư Dự án nhà máy nhiệt điện LNG Quảng Trạch IIIPhó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Quảng Trị Hoàng Nam đã đưa ra các chỉ đạo cụ thể đối với từng địa phương và cơ quan liên quan. Trong đó, nhấn mạnh yêu cầu chủ động lựa chọn địa điểm, xây dựng phương án di dời công trình, bàn giao đầy đủ hồ sơ phục vụ công tác giải phóng mặt bằng, đồng thời sớm triển khai hạng mục đường vào dự án. Lãnh đạo tỉnh yêu cầu các xã trực tiếp liên quan phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, kịp thời báo cáo những khó khăn, vướng mắc để tỉnh xem xét, hỗ trợ, bảo đảm tiến độ chung của dự án.
Theo đánh giá của tỉnh Quảng Trị, việc trao quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư Dự án Nhà máy Nhiệt điện LNG Quảng Trạch III có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, không chỉ đối với riêng dự án mà còn đối với định hướng phát triển kinh tế – xã hội của địa phương trong trung và dài hạn. Đây được xem là một trong những dự án hạ tầng năng lượng then chốt, góp phần hiện thực hóa mục tiêu đưa Quảng Trị trở thành trung tâm năng lượng mới của miền Trung.
Khi hoàn thành và đi vào vận hành, Nhà máy Nhiệt điện LNG Quảng Trạch III được kỳ vọng sẽ đóng góp khoảng 1.200 tỷ đồng mỗi năm vào ngân sách địa phương, tạo nguồn thu ổn định, lâu dài cho tỉnh. Cùng với đó, dự án sẽ tạo ra nhiều việc làm cho lao động địa phương trong giai đoạn xây dựng và vận hành, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của các ngành công nghiệp hỗ trợ, dịch vụ kỹ thuật, logistics và xây dựng.
-Nguyễn Thuấn