Feed aggregator
Thị trường bất động sản năm 2026 sẽ sôi động trong sự thận trọng
Tại Họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 2/2026 chiều 4/3, ông Hà Quang Hưng, Phó Cục trưởng Cục Quản lý nhà và thị trường bất động sản (Bộ Xây dựng) cho biết sau một năm tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, pháp lý và nguồn vốn, thị trường bất động sản được kỳ vọng sẽ bước sang giai đoạn phục hồi rõ nét hơn trong năm 2026.
Theo ông Hưng, năm 2025 đã ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực khi hệ thống pháp luật về đất đai, quy hoạch, xây dựng, nhà ở, đầu tư và tài chính – ngân hàng được rà soát, sửa đổi, bổ sung đồng bộ.
Nhiều dự án vướng mắc kéo dài đã được phân loại, xử lý theo thẩm quyền; thủ tục hành chính tiếp tục được cắt giảm theo hướng công khai, minh bạch, rút ngắn thời gian chuẩn bị đầu tư. Đây là nền tảng quan trọng để cải thiện môi trường đầu tư và khơi thông nguồn lực cho thị trường.
Trên cơ sở đó, Bộ Xây dựng nhận định năm 2026 thị trường sẽ cải thiện cả ở phía cung và phía cầu. Nhiều dự án đình trệ, chậm triển khai thời gian qua dự kiến được tái khởi động; số dự án hoàn thiện pháp lý, đủ điều kiện triển khai sẽ tăng so với năm 2025, qua đó giúp nguồn cung dồi dào hơn.
Việc khơi thông nguồn vốn và nguồn cung được kỳ vọng sẽ góp phần điều tiết mặt bằng giá, giảm áp lực tăng nóng, tạo thêm cơ hội tiếp cận nhà ở phù hợp cho người dân có nhu cầu thực.
Đáng chú ý, thanh khoản thị trường được dự báo phục hồi theo hướng thực chất, gắn với nhu cầu ở thực và đầu tư dài hạn, thay vì phụ thuộc vào các chu kỳ tăng nóng ngắn hạn.
Các phân khúc đáp ứng nhu cầu thiết yếu như nhà ở xã hội, nhà ở công nhân tại khu công nghiệp, nhà ở thương mại giá rẻ tiếp tục được ưu tiên phát triển và giữ vai trò dẫn dắt.
Tuy vậy, đại diện Bộ Xây dựng lưu ý thị trường vẫn chịu tác động từ bối cảnh kinh tế vĩ mô trong và ngoài nước, biến động tỷ giá, lãi suất, chi phí vốn, cùng các yêu cầu ngày càng cao về quy hoạch, tiêu chuẩn kỹ thuật, bảo vệ môi trường và phát triển đô thị bền vững.
Công tác điều hành vì vậy cần bảo đảm hài hòa giữa thúc đẩy tăng trưởng và kiểm soát rủi ro, không để tái diễn tình trạng đầu cơ, sốt ảo cục bộ.
Thị trường được dự báo “sôi động trong sự thận trọng”, với sự phân hóa ngày càng rõ nét khi người mua và nhà đầu tư ưu tiên các dự án có pháp lý minh bạch, hạ tầng đồng bộ, giá trị sử dụng thực và uy tín chủ đầu tư, qua đó tạo nền tảng cho thị trường phát triển lành mạnh và bền vững hơn trong giai đoạn tới.
-Hà Lê
9 kết quả quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội
Chiều 4/3, tại Hà Nội, Chính phủ tổ chức họp báo thường kỳ tháng 2/2026, thông tin về tình hình kinh tế – xã hội (KTXH) tháng 2 và hai tháng đầu năm. Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Trần Văn Sơn, Người phát ngôn của Chính phủ, chủ trì họp báo.
Theo Người phát ngôn, sáng cùng ngày, dưới sự chủ trì của Phạm Minh Chính, Chính phủ đã tổ chức Phiên họp thường kỳ tháng 2/2026, trực tuyến với các địa phương, nhằm đánh giá tình hình KTXH tháng 2 và hai tháng đầu năm; đồng thời xác định các trọng tâm chỉ đạo trong thời gian tới.
Phiên họp diễn ra trong bối cảnh tình hình thế giới tiếp tục biến động nhanh, phức tạp; xung đột tại Trung Đông ảnh hưởng đến vận tải, nguồn cung và giá nhiên liệu; một số chính sách thuế quan mới của Hoa Kỳ tác động đến thương mại toàn cầu. Ở trong nước, các cấp, các ngành, địa phương triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và các nghị quyết chuyên đề của Bộ Chính trị; ngay sau Tết Nguyên đán, cả nước tập trung thực hiện các nhiệm vụ phát triển KTXH.
Chính phủ thống nhất đánh giá, nhờ sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp, tình hình KTXH hai tháng đầu năm tiếp tục xu hướng tích cực, đạt 9 kết quả quan trọng trên các lĩnh vực.
Thứ nhất, kinh tế vĩ mô tiếp tục ổn định, lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn được bảo đảm. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân hai tháng ước tăng khoảng 3%; thị trường tiền tệ, tỷ giá cơ bản ổn định.
Thứ hai, cả ba khu vực kinh tế đều phát triển tích cực. Chỉ số sản xuất công nghiệp hai tháng ước tăng khoảng 10%; sản xuất nông nghiệp ổn định. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tăng 8,0%. Du lịch phục hồi mạnh với khoảng 4,7 triệu lượt khách quốc tế, tăng 18%; chỉ số PMI tháng 2 đạt 54,3 điểm, phản ánh xu hướng mở rộng sản xuất – kinh doanh tháng thứ tám liên tiếp.
Thứ ba, thu ngân sách nhà nước đạt kết quả khả quan. Hai tháng đầu năm, thu NSNN ước đạt 601 nghìn tỷ đồng, bằng 23,8% dự toán, tăng 13,1%, trong bối cảnh đã thực hiện giảm, gia hạn khoảng 30,2 nghìn tỷ đồng tiền thuế, phí, lệ phí để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân.
Thứ tư, hoạt động xuất nhập khẩu tăng trưởng cao. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hai tháng ước đạt 156 tỷ USD, tăng 22,2% so với cùng kỳ.
Thứ năm, đầu tư phát triển tiếp tục đạt kết quả tích cực. Giải ngân vốn đầu tư công hai tháng ước đạt 5,6% kế hoạch; giá trị giải ngân tăng khoảng 10,9 nghìn tỷ đồng so với cùng kỳ. Vốn FDI đăng ký mới tăng 61,5%; vốn FDI thực hiện tăng 8,8%.
Thứ sáu, số doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường tăng cao. Trong hai tháng, có khoảng 64.500 doanh nghiệp gia nhập và quay trở lại hoạt động, tăng 29,4%, phản ánh niềm tin và triển vọng phục hồi của khu vực sản xuất – kinh doanh.
Thứ bảy, các lĩnh vực văn hóa, xã hội được chú trọng; an sinh xã hội được bảo đảm. Dịp Tết Nguyên đán, cả nước đã tặng quà cho khoảng 6,2 triệu đối tượng với tổng kinh phí 3,7 nghìn tỷ đồng; xuất cấp gần 15.300 tấn gạo hỗ trợ người dân. Tai nạn giao thông giảm cả ba tiêu chí.
Thứ tám, chính trị – xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được củng cố. Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực tiếp tục được đẩy mạnh, góp phần củng cố niềm tin trong Nhân dân.
Thứ chín, đối ngoại và hội nhập quốc tế được đẩy mạnh thực chất. Nhiều hoạt động đối ngoại cấp cao diễn ra ngay từ đầu năm, góp phần nâng cao uy tín và vị thế của đất nước trên trường quốc tế.
Bên cạnh những kết quả đạt được, Chính phủ cũng thẳng thắn nhìn nhận một số khó khăn, thách thức như sức ép điều hành vĩ mô; biến động lạm phát, tỷ giá, lãi suất; nhu cầu vốn lớn cho mục tiêu tăng trưởng cao; khó khăn của một số lĩnh vực sản xuất – kinh doanh; tình trạng buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ; đời sống của một bộ phận người dân còn khó khăn.
Kết luận phiên họp, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương quán triệt, thực hiện nghiêm Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và các nghị quyết chuyên đề của Bộ Chính trị; kiên định mục tiêu giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế và thúc đẩy tăng trưởng từ 10% trở lên; đồng thời tập trung triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong thời gian tới.
-Lý Hà
9 kết quả quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội
Chiều 4/3, tại Hà Nội, Chính phủ tổ chức họp báo thường kỳ tháng 2/2026, thông tin về tình hình kinh tế – xã hội (KTXH) tháng 2 và hai tháng đầu năm. Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Trần Văn Sơn, Người phát ngôn của Chính phủ, chủ trì họp báo.
Theo Người phát ngôn, sáng cùng ngày, dưới sự chủ trì của Phạm Minh Chính, Chính phủ đã tổ chức Phiên họp thường kỳ tháng 2/2026, trực tuyến với các địa phương, nhằm đánh giá tình hình KTXH tháng 2 và hai tháng đầu năm; đồng thời xác định các trọng tâm chỉ đạo trong thời gian tới.
Phiên họp diễn ra trong bối cảnh tình hình thế giới tiếp tục biến động nhanh, phức tạp; xung đột tại Trung Đông ảnh hưởng đến vận tải, nguồn cung và giá nhiên liệu; một số chính sách thuế quan mới của Hoa Kỳ tác động đến thương mại toàn cầu. Ở trong nước, các cấp, các ngành, địa phương triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và các nghị quyết chuyên đề của Bộ Chính trị; ngay sau Tết Nguyên đán, cả nước tập trung thực hiện các nhiệm vụ phát triển KTXH.
Chính phủ thống nhất đánh giá, nhờ sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp, tình hình KTXH hai tháng đầu năm tiếp tục xu hướng tích cực, đạt 9 kết quả quan trọng trên các lĩnh vực.
Thứ nhất, kinh tế vĩ mô tiếp tục ổn định, lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn được bảo đảm. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân hai tháng ước tăng khoảng 3%; thị trường tiền tệ, tỷ giá cơ bản ổn định.
Thứ hai, cả ba khu vực kinh tế đều phát triển tích cực. Chỉ số sản xuất công nghiệp hai tháng ước tăng khoảng 10%; sản xuất nông nghiệp ổn định. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tăng 8,0%. Du lịch phục hồi mạnh với khoảng 4,7 triệu lượt khách quốc tế, tăng 18%; chỉ số PMI tháng 2 đạt 54,3 điểm, phản ánh xu hướng mở rộng sản xuất – kinh doanh tháng thứ tám liên tiếp.
Thứ ba, thu ngân sách nhà nước đạt kết quả khả quan. Hai tháng đầu năm, thu NSNN ước đạt 601 nghìn tỷ đồng, bằng 23,8% dự toán, tăng 13,1%, trong bối cảnh đã thực hiện giảm, gia hạn khoảng 30,2 nghìn tỷ đồng tiền thuế, phí, lệ phí để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân.
Thứ tư, hoạt động xuất nhập khẩu tăng trưởng cao. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hai tháng ước đạt 156 tỷ USD, tăng 22,2% so với cùng kỳ.
Thứ năm, đầu tư phát triển tiếp tục đạt kết quả tích cực. Giải ngân vốn đầu tư công hai tháng ước đạt 5,6% kế hoạch; giá trị giải ngân tăng khoảng 10,9 nghìn tỷ đồng so với cùng kỳ. Vốn FDI đăng ký mới tăng 61,5%; vốn FDI thực hiện tăng 8,8%.
Thứ sáu, số doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường tăng cao. Trong hai tháng, có khoảng 64.500 doanh nghiệp gia nhập và quay trở lại hoạt động, tăng 29,4%, phản ánh niềm tin và triển vọng phục hồi của khu vực sản xuất – kinh doanh.
Thứ bảy, các lĩnh vực văn hóa, xã hội được chú trọng; an sinh xã hội được bảo đảm. Dịp Tết Nguyên đán, cả nước đã tặng quà cho khoảng 6,2 triệu đối tượng với tổng kinh phí 3,7 nghìn tỷ đồng; xuất cấp gần 15.300 tấn gạo hỗ trợ người dân. Tai nạn giao thông giảm cả ba tiêu chí.
Thứ tám, chính trị – xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được củng cố. Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực tiếp tục được đẩy mạnh, góp phần củng cố niềm tin trong Nhân dân.
Thứ chín, đối ngoại và hội nhập quốc tế được đẩy mạnh thực chất. Nhiều hoạt động đối ngoại cấp cao diễn ra ngay từ đầu năm, góp phần nâng cao uy tín và vị thế của đất nước trên trường quốc tế.
Bên cạnh những kết quả đạt được, Chính phủ cũng thẳng thắn nhìn nhận một số khó khăn, thách thức như sức ép điều hành vĩ mô; biến động lạm phát, tỷ giá, lãi suất; nhu cầu vốn lớn cho mục tiêu tăng trưởng cao; khó khăn của một số lĩnh vực sản xuất – kinh doanh; tình trạng buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ; đời sống của một bộ phận người dân còn khó khăn.
Kết luận phiên họp, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương quán triệt, thực hiện nghiêm Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và các nghị quyết chuyên đề của Bộ Chính trị; kiên định mục tiêu giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế và thúc đẩy tăng trưởng từ 10% trở lên; đồng thời tập trung triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong thời gian tới.
-Lý Hà
Giữ nhịp từ đầu năm: Chính phủ tự tin kịch bản tăng trưởng quý I và cả năm 2026
Chiều 4/3 tại cuộc họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 2/2026, trả lời câu hỏi của Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy về: Đánh giá khả năng đạt mục tiêu tăng trưởng quý I/2026 trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều biến động, đặc biệt về chính sách thuế quan; sẽ ưu tiên điều hành chính sách, phân bổ nguồn lực ra sao đối với các lĩnh vực then chốt để giữ ổn định vĩ mô và hoàn thành mục tiêu tăng trưởng năm 2026, Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Chi cho biết ngay từ đầu năm, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 08/01/2026, xác định rõ mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2026 phấn đấu từ 10% trở lên, đồng thời xây dựng kịch bản tăng trưởng theo từng quý và chỉ tiêu cụ thể cho từng ngành, lĩnh vực.
Trên cơ sở đó, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp ngay từ đầu năm, với yêu cầu “giữ đà, giữ nhịp”, tổ chức thực hiện quyết liệt các nghị quyết, kết luận của Đảng, Quốc hội và các chỉ đạo điều hành trọng tâm, phấn đấu hoàn thành kịch bản tăng trưởng của cả nước, từng ngành, từng địa phương ngay trong quý I/2026.
Theo Thứ trưởng Nguyễn Đức Chi, bối cảnh quốc tế năm 2026 tiếp tục tiềm ẩn nhiều rủi ro, nhất là căng thẳng địa chính trị, xung đột quân sự, cạnh tranh chiến lược và điều chỉnh chính sách thương mại, thuế quan của các nền kinh tế lớn.
Kinh tế toàn cầu được dự báo tăng trưởng chậm, trong khi trong nước, khối lượng công việc cần xử lý ngay sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán rất lớn, đòi hỏi tinh thần chủ động, linh hoạt và quyết liệt hơn trong chỉ đạo, điều hành.
Để bảo đảm hoàn thành mục tiêu tăng trưởng năm 2026, Chính phủ xác định tập trung triển khai một số nhóm giải pháp trọng tâm. Trước hết là tiếp tục hoàn thiện đồng bộ thể chế, pháp luật, nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật; đẩy mạnh cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân.
Song song với đó, Chính phủ ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, trong đó có nợ công và bội chi ngân sách nhà nước trong giới hạn cho phép.
Việc ứng phó kịp thời với các biến động kinh tế, thương mại toàn cầu được đặt song hành với nhiệm vụ thúc đẩy và làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống như đầu tư, tiêu dùng, xuất khẩu, đồng thời khai thác mạnh mẽ các động lực tăng trưởng mới.
Một trọng tâm khác là chuyển đổi căn bản mô hình tăng trưởng theo hướng dựa vào năng suất và đổi mới sáng tạo. Theo đó, nâng cao năng suất, chất lượng nguồn nhân lực, phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được đặt vào trung tâm của chiến lược phát triển, gắn với cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng xanh, số, tuần hoàn, nâng cao tính tự chủ và sức chống chịu của nền kinh tế.
Về phân bổ và ưu tiên nguồn lực, Chính phủ xác định tập trung đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng chiến lược hiện đại, đồng bộ, nhất là các dự án giao thông trọng điểm, hạ tầng trục quốc gia, đường sắt, sân bay, cảng biển và năng lượng.
Các dự án có tính liên vùng, hạ tầng đô thị lớn, hạ tầng chuyển đổi số cũng được thúc đẩy, cùng với việc điều chỉnh quy hoạch phù hợp với bối cảnh phát triển mới.
Trong từng lĩnh vực cụ thể, Chính phủ đã có chỉ đạo sát sao. Đối với nhà ở xã hội, Bộ Xây dựng đang tích cực tháo gỡ khó khăn cho các dự án trọng điểm. Về an ninh năng lượng, Bộ Công Thương chủ động phương án bảo đảm cân đối nguồn điện, năng lượng cho sản xuất, kinh doanh. Đối với đầu tư công, năm 2026 tập trung triển khai sớm các dự án chuyển tiếp có tính lan tỏa cao; Bộ Tài chính đang hoàn thiện, trình Quốc hội Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026–2030, tập trung vào các dự án quan trọng quốc gia theo định hướng Đại hội XIV.
Đánh giá về kết quả thực hiện trong hai tháng đầu năm, Thứ trưởng Nguyễn Đức Chi cho biết các chỉ số kinh tế đều ghi nhận tín hiệu tích cực. Thu ngân sách nhà nước đạt 601,3 nghìn tỷ đồng, tương đương 23,8% dự toán; tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng mạnh, trong đó xuất khẩu tăng 22,3%, nhập khẩu tăng 18,5%; chỉ số sản xuất công nghiệp hai tháng tăng khoảng 10% so với cùng kỳ. Đặc biệt, chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI) tháng 2 đạt 54,3 điểm, đánh dấu tháng thứ 8 liên tiếp duy trì trên ngưỡng 50 điểm.
Với nền tảng kết quả này, Chính phủ khẳng định có đủ cơ sở để tin tưởng các mục tiêu tăng trưởng kinh tế của quý I và cả năm 2026 sẽ đạt được theo kịch bản đề ra, qua đó tạo tiền đề cho giai đoạn phát triển 2026–2030.
-Lý Hà
Giữ nhịp từ đầu năm: Chính phủ tự tin kịch bản tăng trưởng quý I và cả năm 2026
Chiều 4/3 tại cuộc họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 2/2026, trả lời câu hỏi của Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy về: Đánh giá khả năng đạt mục tiêu tăng trưởng quý I/2026 trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều biến động, đặc biệt về chính sách thuế quan; sẽ ưu tiên điều hành chính sách, phân bổ nguồn lực ra sao đối với các lĩnh vực then chốt để giữ ổn định vĩ mô và hoàn thành mục tiêu tăng trưởng năm 2026, Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Chi cho biết ngay từ đầu năm, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 08/01/2026, xác định rõ mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2026 phấn đấu từ 10% trở lên, đồng thời xây dựng kịch bản tăng trưởng theo từng quý và chỉ tiêu cụ thể cho từng ngành, lĩnh vực.
Trên cơ sở đó, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp ngay từ đầu năm, với yêu cầu “giữ đà, giữ nhịp”, tổ chức thực hiện quyết liệt các nghị quyết, kết luận của Đảng, Quốc hội và các chỉ đạo điều hành trọng tâm, phấn đấu hoàn thành kịch bản tăng trưởng của cả nước, từng ngành, từng địa phương ngay trong quý I/2026.
Theo Thứ trưởng Nguyễn Đức Chi, bối cảnh quốc tế năm 2026 tiếp tục tiềm ẩn nhiều rủi ro, nhất là căng thẳng địa chính trị, xung đột quân sự, cạnh tranh chiến lược và điều chỉnh chính sách thương mại, thuế quan của các nền kinh tế lớn.
Kinh tế toàn cầu được dự báo tăng trưởng chậm, trong khi trong nước, khối lượng công việc cần xử lý ngay sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán rất lớn, đòi hỏi tinh thần chủ động, linh hoạt và quyết liệt hơn trong chỉ đạo, điều hành.
Để bảo đảm hoàn thành mục tiêu tăng trưởng năm 2026, Chính phủ xác định tập trung triển khai một số nhóm giải pháp trọng tâm. Trước hết là tiếp tục hoàn thiện đồng bộ thể chế, pháp luật, nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật; đẩy mạnh cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân.
Song song với đó, Chính phủ ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, trong đó có nợ công và bội chi ngân sách nhà nước trong giới hạn cho phép.
Việc ứng phó kịp thời với các biến động kinh tế, thương mại toàn cầu được đặt song hành với nhiệm vụ thúc đẩy và làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống như đầu tư, tiêu dùng, xuất khẩu, đồng thời khai thác mạnh mẽ các động lực tăng trưởng mới.
Một trọng tâm khác là chuyển đổi căn bản mô hình tăng trưởng theo hướng dựa vào năng suất và đổi mới sáng tạo. Theo đó, nâng cao năng suất, chất lượng nguồn nhân lực, phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được đặt vào trung tâm của chiến lược phát triển, gắn với cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng xanh, số, tuần hoàn, nâng cao tính tự chủ và sức chống chịu của nền kinh tế.
Về phân bổ và ưu tiên nguồn lực, Chính phủ xác định tập trung đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng chiến lược hiện đại, đồng bộ, nhất là các dự án giao thông trọng điểm, hạ tầng trục quốc gia, đường sắt, sân bay, cảng biển và năng lượng.
Các dự án có tính liên vùng, hạ tầng đô thị lớn, hạ tầng chuyển đổi số cũng được thúc đẩy, cùng với việc điều chỉnh quy hoạch phù hợp với bối cảnh phát triển mới.
Trong từng lĩnh vực cụ thể, Chính phủ đã có chỉ đạo sát sao. Đối với nhà ở xã hội, Bộ Xây dựng đang tích cực tháo gỡ khó khăn cho các dự án trọng điểm. Về an ninh năng lượng, Bộ Công Thương chủ động phương án bảo đảm cân đối nguồn điện, năng lượng cho sản xuất, kinh doanh. Đối với đầu tư công, năm 2026 tập trung triển khai sớm các dự án chuyển tiếp có tính lan tỏa cao; Bộ Tài chính đang hoàn thiện, trình Quốc hội Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026–2030, tập trung vào các dự án quan trọng quốc gia theo định hướng Đại hội XIV.
Đánh giá về kết quả thực hiện trong hai tháng đầu năm, Thứ trưởng Nguyễn Đức Chi cho biết các chỉ số kinh tế đều ghi nhận tín hiệu tích cực. Thu ngân sách nhà nước đạt 601,3 nghìn tỷ đồng, tương đương 23,8% dự toán; tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng mạnh, trong đó xuất khẩu tăng 22,3%, nhập khẩu tăng 18,5%; chỉ số sản xuất công nghiệp hai tháng tăng khoảng 10% so với cùng kỳ. Đặc biệt, chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI) tháng 2 đạt 54,3 điểm, đánh dấu tháng thứ 8 liên tiếp duy trì trên ngưỡng 50 điểm.
Với nền tảng kết quả này, Chính phủ khẳng định có đủ cơ sở để tin tưởng các mục tiêu tăng trưởng kinh tế của quý I và cả năm 2026 sẽ đạt được theo kịch bản đề ra, qua đó tạo tiền đề cho giai đoạn phát triển 2026–2030.
-Lý Hà
Blog chứng khoán: Ván mới?
Thanh khoản HSX và HNX hôm nay đạt khoảng 48k tỷ chưa kể thỏa thuận và tổng 3 sàn đạt trên 53k tỷ. Kỷ lục gần nhất là 58,6k tỷ ngày 20/10/2025. Từ đầu tuần đến nay cổ phiếu giảm la liệt, rất mạnh, kéo dài liên tục mang bóng dáng của một đợt “selling climax” điển hình khi đi kèm với các tác nhân thúc đẩy sự sợ hãi. Dù VNI giảm không nhiều nhưng cổ phiếu điều chỉnh rất lớn và lòng tham đang trỗi dậy.
Nhịp phục hồi trong phiên chiều tuy không bùng nổ nhưng biên độ đi lên cũng khá ấn tượng. VNI từ đáy giảm 2,55% đảo ngược thành tăng nhẹ 0,28%. Với cổ phiếu, tuy sắc đỏ còn áp đảo nhưng cũng quá nửa (53%) số cổ phiếu phục hồi vượt 2% kể từ giá Low. Biên độ hồi như vậy là rộng, khi đi kèm với thanh khoản cao thì chắc chắn là hiệu ứng bắt đáy chủ động hơn.
Nhịp hồi được dẫn dắt từ các cổ phiếu blue-chips với khả năng phục hồi 3-5% là phổ biến. Vài mã như SSI hồi tới 7%, VRE hồi 10,45%, MWG gồi 6%... Cổ phiếu chứng khoán thậm chí tăng ngược trên diện rộng. VCI kịch trần, AGR, VCK, MBS, DSE, HCM, SHS, VND, BMS, CTS tăng từ 2% đến hơn 4%. Về mặt thanh khoản, HSX có 31 cổ phiếu giao dịch vượt 500 tỷ đồng thì một nửa là tăng giá. Đây là những cổ phiếu có dòng tiền đáng tin cậy nhất.
Việc VNI hình thành một “nến rút chân” biên độ rộng hôm nay khá tin cậy vì không chỉ là kéo trụ đơn lẻ. Đa số cổ phiếu blue-chips phục hồi giá tích cực (VN30 vẫn còn đỏ). Nhóm này dễ thu hút dòng tiền lớn nhất và như hôm qua, dòng tiền cá nhân tháo chạy ròng gần 2,8k tỷ thì dòng tiền tổ chức mua ròng hơn 3,7k tỷ. Các blue-chips thường ổn định trước trong giai đoạn hoảng loạn như thế này, tạo điều kiện giữ nhịp chỉ số và cải thiện được tâm lý chung.
Mức độ thiệt hại của nhà đầu tư từ đầu tuần đến nay là khá lớn. Khoảng 25% rổ VNAllshare tính đến hôm nay đã sụt giảm quá 5% - ngưỡng cắt lỗ chủ động thường thấy. Sự kết hợp giữa mức thua lỗ kỹ thuật với bầu không khí sợ hãi bao trùm là một điều kiện lý tưởng để “ép hàng”. Vì vậy mức thanh khoản cực lớn đang diễn ra là một đợt trao đổi kỳ vọng dữ dội.
Thị trường phái sinh hôm nay là “bữa tiệc” cho cả Short lẫn Long và basis từ chỗ chấp nhận chiết khấu rất rộng chuyển sang co hẹp và cuối cùng là đảo ngược. Nhịp nảy ít phút đầu tiên đưa VN30 lên đúng 1969.xx với sự từ chối của F1 khi basis là âm hơn 20 điểm tại đỉnh. Thời điểm chỉ số gãy 1951.xx basis chiết khấu 5 điểm là cơ hội Short tốt vì nếu không vượt được trở lại lên trên mức này thì xác suất cao rơi vào vùng mở biên độ giảm rất rộng.
Buổi chiều khi VN30 lùi hẳn xuống 1905.xx lúc 1h30 thì basis đảo dương sớm 15 phút, phản ánh lực Short cover hoặc Long mới xuất hiện. Khi VN30 lùi lại lần nữa xuống dưới 1921.xx basis lại chấp nhận dương hơn 9 điểm. Đó là tín hiệu của sức mạnh từ bên Long khi các trụ được đánh lên ấn tượng.
Hoạt động bắt đáy kéo hồi khá tốt hôm nay không đảm bảo thị trường sẽ tăng ngày mai, nhưng một đợt chuyển giao cổ phiếu lớn như thế này trong cơn hoảng loạn cuối cùng cũng sẽ hấp thụ hết khối lượng lỏng lẻo. Đây là lúc có thể cover lại hàng đã bán.
VN30 đóng cửa tại 1956.53. Cản gần nhất ngày mai là 1964; 1969; 1981; 1995; 2012; 2024; 2029. Hỗ trợ 1952; 1944; 1933; 1921; 1905; 1891; 1879.
“Blog chứng khoán” mang tính chất cá nhân và không đại diện cho ý kiến của VnEconomy. Những quan điểm, đánh giá là của cá nhân nhà đầu tư và VnEconomy tôn trọng quan điểm cũng như văn phong của tác giả. VnEconomy và tác giả không chịu trách nhiệm về những vấn đề phát sinh liên quan đến các đánh giá và quan điểm đầu tư được đăng tải.
-iTrader
Trao quyền thực chất cho phụ nữ: Động lực mới nâng tầm quản trị khu vực công tại Việt Nam
Theo bà, vai trò của phụ nữ trong khu vực công có ý nghĩa như thế nào đối với chất lượng quản trị quốc gia và phát triển bền vững?
Sự tham gia của phụ nữ giữ vai trò then chốt trong nâng cao chất lượng quản trị. Việc tăng cường tiếng nói và năng lực lãnh đạo của họ góp phần xây dựng các thể chế hiệu quả hơn, thúc đẩy đổi mới và hỗ trợ tăng trưởng bền vững. Cả Australia và Việt Nam đều nhận thấy rằng không quốc gia nào có thể phát huy trọn vẹn tiềm năng kinh tế – xã hội nếu không tạo điều kiện để mọi tài năng được phát triển và đóng góp.
Chiến lược Bình đẳng Giới Quốc tế của Australia khẳng định bình đẳng giới mang lại lợi ích chung. Khi phụ nữ tham gia đầy đủ và thực chất, các cơ quan trở nên minh bạch hơn, phản hồi tốt hơn và gắn kết chặt chẽ với cộng đồng. Thực tiễn cho thấy các nhóm lãnh đạo đa dạng đưa ra quyết định toàn diện hơn, từ đó nâng cao chất lượng chính sách, dịch vụ công và niềm tin của người dân.
Việt Nam đã đặt ra những mục tiêu tham vọng trong Chiến lược Quốc gia về Bình đẳng Giới 2021–2030 và các kế hoạch phát triển để đạt thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và thu nhập cao năm 2045. Để đạt được các mục tiêu này, Việt Nam cần những thể chế mạnh và tận dụng tối đa nguồn lực nhân tài.
Trong khuôn khổ Đối tác Chiến lược Toàn diện, Australia đang đồng hành cùng Việt Nam thông qua các sáng kiến như Aus4Skills và Trung tâm Việt – Úc, nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, năng lực lãnh đạo và khả năng của các cơ quan trong việc ứng phó thách thức tương lai.
Dựa trên kinh nghiệm của Australia và hợp tác với Việt Nam, những yếu tố then chốt nào giúp phụ nữ phát huy hiệu quả vai trò lãnh đạo trong khu vực công?
Australia đã nhiều thập kỷ nỗ lực thúc đẩy cân bằng giới ở cấp lãnh đạo. Hiện phụ nữ chiếm 50% số nghị sĩ Quốc hội, 52,2% vị trí Nội các – mức cao nhất trong lịch sử nước này. Trong Dịch vụ Công Australia, phụ nữ nắm 50% vị trí Lãnh đạo Cấp cao. Tại Bộ Ngoại giao và Thương mại, phụ nữ chiếm 51% vai trò cấp cao, 44% Đại sứ và 59% tổng số nhân viên.
Tại Việt Nam, tôi tự hào làm việc cùng một đội ngũ tài năng với nhiều nữ lãnh đạo ở các vị trí như Tổng Lãnh sự, Phó Đại sứ, Tham tán Thương mại – Đầu tư và Tùy viên Quốc phòng, thể hiện cam kết mạnh mẽ của Australia đối với vai trò lãnh đạo của phụ nữ.
Kinh nghiệm của Australia cho thấy các khuôn khổ chính sách và thể chế vững chắc là nền tảng thúc đẩy bình đẳng giới — từ các chỉ tiêu rõ ràng, hệ thống tuyển dụng và đề bạt minh bạch dựa trên năng lực, đến quản trị công có trách nhiệm giới dựa trên dữ liệu đầy đủ và nhất quán. Dữ liệu chất lượng giúp nhận diện rào cản, theo dõi tiến độ và tăng cường trách nhiệm giải trình.
Bên cạnh đó, đầu tư vào phát triển lãnh đạo là yếu tố thiết yếu. Các chương trình đào tạo và cố vấn thông qua Trung tâm Việt – Úc và những sáng kiến khác giúp phụ nữ tự tin đảm nhận vai trò cấp cao. Môi trường làm việc hỗ trợ – như chế độ linh hoạt, làm việc từ xa, chia sẻ công việc và chính sách nghỉ chăm sóc con cái cho cả nam và nữ – tạo điều kiện để mọi người cân bằng gia đình và sự nghiệp.
Cuối cùng, thay đổi văn hóa giữ vai trò quan trọng. Các lãnh đạo cấp cao, bao gồm cả nam giới, cần chủ động thúc đẩy bình đẳng giới, xây dựng môi trường bao trùm và khuyến khích phụ nữ nhận nhiệm vụ thách thức. Những nguyên tắc này đang định hình hợp tác giữa Australia và Việt Nam nhằm phát triển đội ngũ lãnh đạo kế cận và khai thác tối đa nguồn lực nhân tài.
Theo bà, những rào cản phổ biến nhất đang hạn chế sự tham gia và thăng tiến của phụ nữ trong khu vực công là gì, và cần thay đổi tư duy như thế nào để vượt qua chúng?
Các rào cản đối với sự thăng tiến của phụ nữ trong khu vực công vẫn phổ biến ở nhiều quốc gia. Những thách thức lớn nhất gồm cân bằng giữa công việc và trách nhiệm gia đình, định kiến về hình mẫu lãnh đạo truyền thống, cơ hội tiếp cận đào tạo và phát triển nghề nghiệp chưa đồng đều, và yêu cầu xây dựng môi trường làm việc an toàn, tôn trọng và bao trùm.
Bên cạnh chính sách, thay đổi tư duy là yếu tố then chốt. Việc nhìn nhận trách nhiệm chăm sóc gia đình có thể được chia sẻ, coi trọng sự đa dạng trong phong cách lãnh đạo, và đánh giá năng lực lãnh đạo của phụ nữ dựa trên năng lực thay vì giới tính là những bước chuyển cần thiết. Những thay đổi này không chỉ giúp phụ nữ tiến xa hơn trong sự nghiệp mà còn nâng cao hiệu quả hoạt động, tính liêm chính và niềm tin của công chúng đối với các cơ quan nhà nước.
Australia tự hào hỗ trợ xây dựng Bộ Chỉ số Bình đẳng Giới trong Khu vực Công – công cụ đo lường tình hình bình đẳng giới trong tuyển dụng, đào tạo, bổ nhiệm, phát triển lãnh đạo và văn hóa tổ chức. Với dữ liệu minh bạch và khả năng so sánh, Chỉ số giúp các cơ quan nhận diện khoảng trống và xây dựng giải pháp phù hợp. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh cải
cách hành chính và triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp, những công cụ như vậy sẽ góp phần bảo đảm và thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa cam kết về vai trò lãnh đạo của phụ nữ.
Bà kỳ vọng thế hệ nữ lãnh đạo trẻ trong khu vực công của Việt Nam sẽ đóng vai trò gì trong đổi mới và xây dựng nền hành chính hiện đại, bao trùm?
Nữ lãnh đạo trẻ đang trở thành lực lượng năng động góp phần định hình diện mạo mới của nền hành chính công Việt Nam. Thành thạo công nghệ, tư duy toàn cầu và sẵn sàng đổi mới, họ giữ vai trò then chốt trong thúc đẩy chuyển đổi số, tăng cường trách nhiệm giải trình và xây dựng chính sách bao trùm, đáp ứng nhu cầu của cộng đồng ngày càng đa dạng. Đây là nền tảng quan trọng để xây dựng một nền hành chính hiện đại, linh hoạt và phù hợp với tầm nhìn phát triển dài hạn của Việt Nam.
Australia đồng hành cùng các nữ lãnh đạo trẻ thông qua những sáng kiến như Hành trình Lãnh đạo Nữ và các chương trình bồi dưỡng cùng các bộ, ngành. Chương trình Học bổng Chính phủ Australia (Australia Awards) cũng mở ra cơ hội học tập sau đại học tại Australia cho thế hệ lãnh đạo tương lai, với hạn nộp hồ sơ đến ngày 30/4/2026. Tôi khuyến khích các nữ cán bộ trẻ mạnh dạn tham gia.
Australia trân trọng quan hệ đối tác với Việt Nam và chia sẻ niềm tin rằng lãnh đạo thực sự mạnh mẽ phải là lãnh đạo bao trùm – nơi tài năng, chứ không phải giới tính, quyết định ai là người dẫn dắt.
-
Bất cập trong pháp luật đầu tư xuyên biên giới: So sánh với Singapore và Trung Quốc
Trong bối cảnh toàn cầu hóa sâu rộng và sự phát triển nhanh chóng của các cấu trúc đầu tư xuyên biên giới đa tầng, hệ thống pháp luật điều chỉnh đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của nhiều quốc gia đã chuyển từ mô hình quản lý dựa trên pháp nhân riêng lẻ sang mô hình quản lý dựa trên thực chất kinh tế và mạng lưới kiểm soát tập đoàn. Tuy nhiên, khung pháp luật đầu tư của Việt Nam đến năm 2025 vẫn chủ yếu vận hành theo logic sở hữu pháp lý và tách biệt pháp nhân.
Trong gần bốn thập kỷ qua kể từ khi thực hiện chính sách Đổi mới (năm 1986), Việt Nam đã trở thành một trong những điểm đến đầu tư trực tiếp nước ngoài quan trọng tại khu vực Đông Nam Á. Theo Luật Đầu tư năm 2020, hoạt động đầu tư nước ngoài được điều chỉnh theo các nguyên tắc bảo đảm quyền tự do kinh doanh, bảo đảm đối xử bình đẳng và bảo đảm ổn định chính sách đầu tư. Tuy nhiên, cấu trúc đầu tư quốc tế hiện đại đã thay đổi căn bản so với giai đoạn mà hệ thống pháp luật đầu tư của Việt Nam được thiết kế ban đầu.
CÁCH TIẾP CẬN CỦA LUẬT ĐẦU TƯ KHÔNG CÒN PHÙ HỢPTrước đây, mô hình đầu tư phổ biến là nhà đầu tư nước ngoài trực tiếp thành lập doanh nghiệp tại quốc gia tiếp nhận đầu tư. Quyền sở hữu vốn đồng thời phản ánh quyền kiểm soát hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, trong bối cảnh kinh tế toàn cầu hóa, các tập đoàn đa quốc gia đã chuyển sang mô hình tổ chức đầu tư theo mạng lưới pháp nhân đa tầng. Cấu trúc này cho phép phân tách chức năng kinh tế giữa nhiều thực thể, bao gồm: công ty holding khu vực, công ty tài chính nội bộ, công ty nắm giữ tài sản vô hình, công ty cung cấp dịch vụ quản trị và pháp nhân dự án tại quốc gia tiếp nhận đầu tư.
Trong cấu trúc đó, quyền kiểm soát thực tế không còn phụ thuộc hoàn toàn vào tỷ lệ sở hữu vốn. Kiểm soát có thể phát sinh từ hợp đồng quản trị, phụ thuộc công nghệ, tài trợ nội bộ, bảo lãnh tập đoàn hoặc quyền điều phối chiến lược. Do vậy, việc xác định nhà đầu tư dựa trên quốc tịch pháp nhân hoặc tỷ lệ sở hữu vốn – như cách tiếp cận hiện hành của Luật Đầu tư 2020 – không phản ánh đầy đủ bản chất của quan hệ kiểm soát trong cấu trúc đầu tư xuyên biên giới.
Bất cập pháp luật giữa thực tiễn đầu tư và mô hình pháp lý tạo ra những khoảng trống điều chỉnh đáng kể. Các cơ quan quản lý Việt Nam sẽ gặp khó khăn trong việc xác định chủ thể kiểm soát thực, đánh giá rủi ro hệ thống, xác định trách nhiệm tập đoàn hoặc kiểm soát phân bổ lợi nhuận nội bộ. Đồng thời, nhà đầu tư cũng phải đối mặt với mức độ không chắc chắn pháp lý cao hơn khi cấu trúc đầu tư phức tạp không được pháp luật nhận diện đầy đủ.
Trong bối cảnh đó, việc đánh giá các bất cập cấu trúc của pháp luật đầu tư Việt Nam trở thành yêu cầu cấp thiết. Bài viết này tập trung phân tích các hạn chế trọng yếu của khung pháp luật hiện hành về điều chỉnh cấu trúc đầu tư xuyên biên giới, đồng thời so sánh với kinh nghiệm của Singapore và Trung Quốc – hai quốc gia đã có bước điều chỉnh đáng kể trước sự thay đổi của cấu trúc đầu tư quốc tế.
Đặc điểm cơ bản của cấu trúc đầu tư xuyên biên giới hiện đại là sự phân tách chức năng kinh tế giữa nhiều pháp nhân trong cùng một tập đoàn. Ví dụ, công ty mẹ tối cao có thể giữ quyền kiểm soát chiến lược; công ty holding khu vực nắm giữ cổ phần; công ty tài chính nội bộ cung cấp vốn; công ty sở hữu trí tuệ nắm giữ tài sản vô hình; công ty tại quốc gia tiếp nhận đầu tư thực hiện hoạt động sản xuất. Việc phân tách này cho phép tập đoàn tối ưu hóa quản trị rủi ro, cấu trúc thuế và khả năng tiếp cận thị trường vốn quốc tế. Tuy nhiên, nó cũng làm cho mối quan hệ kiểm soát trở nên phức tạp và khó nhận diện nếu chỉ bằng các tiêu chí pháp lý truyền thống.
CẤU TRÚC ĐẦU TƯ XUYÊN BIÊN GIỚI HIỆN ĐẠI CÓ NHIỀU THAY ĐỔITrong đầu tư quốc tế, nguyên tắc luật kinh tế thực (economic reality) được sử dụng để đánh giá bản chất của quan hệ đầu tư. Kiểm soát thực có thể được xác định dựa trên khả năng ra quyết định chiến lược, kiểm soát dòng tiền hoặc hấp thụ rủi ro kinh tế. Nguyên tắc này được phản ánh trong thực tiễn giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế, như tại phán quyết trọng tài vụ Tokios Tokelės v Ukraine (ICSID Case No. ARB/02/18) và phán quyết trọng tài Philip Morris v Australia (UNCITRAL, 2015).
Hai phán quyết trọng tài này có nhận định và quyết định đối xứng trong sự phát triển của luật đầu tư quốc tế hiện đại, nhưng cùng xoay quanh một vấn đề nền tảng: mức độ pháp luật tôn trọng cấu trúc pháp lý của khoản đầu tư hay phải nhìn thấu qua cấu trúc đó để đánh giá thực tại kinh tế và mục đích thực của nhà đầu tư. Do đó, hai phán quyết trọng tài này đại diện cho hai hướng tiếp cận khác nhau trong việc cân bằng giữa tính chắc chắn pháp lý của cấu trúc sở hữu và yêu cầu ngăn ngừa lạm dụng cơ chế bảo hộ đầu tư.
Trong Tokios Tokelės, hội đồng trọng tài của Trung tâm Quốc tế về giải quyết tranh chấp đầu tư (International Centre for Settlement of Investment Disputes – ICSID) được thành lập riêng cho từng vụ tranh chấp đầu tư theo Công ước ICSID, đã lựa chọn cách tiếp cận nhấn mạnh bảo vệ cấu trúc sở hữu pháp lý (ownership protection). Pháp nhân A bị kiểm soát thực tế bởi công dân quốc tịch U, hội đồng trọng tài vẫn công nhận tư cách nhà đầu tư nước ngoài căn cứ địa điểm đăng ký thành lập pháp nhân theo hiệp định bảo hộ đầu tư.
Lập luận này phản ánh nguyên tắc đánh giá pháp lý: khi hiệp định xác định quốc tịch nhà đầu tư theo tiêu chí hình thức, cơ quan tài phán không nên thay thế tiêu chí đó bằng đánh giá thực chất. Hệ quả là cấu trúc pháp nhân, dù mang tính công cụ, nhưng vẫn được pháp luật bảo vệ nếu phù hợp với định nghĩa pháp lý của hiệp định bảo hộ đầu tư.
Ngược lại, trong Philip Morris v. Australia, hội đồng trọng tài lại đặt trọng tâm vào kiểm soát việc lạm dụng cấu trúc pháp lý. Ở đây, việc tái cấu trúc đầu tư nhằm đưa khoản đầu tư vào phạm vi bảo hộ của hiệp định được xem là hành vi lạm dụng quyền, vì được thực hiện sau khi tranh chấp xảy ra mà đã có thể dự đoán trước.
Khác với Tokios Tokelės, cấu trúc pháp nhân không được nhìn nhận như một thực thể trung lập cần được bảo vệ, mà được đánh giá theo mục đích và bối cảnh hình thành. Khi cấu trúc pháp lý chỉ đóng vai trò công cụ chiến lược để đạt lợi ích pháp lý mà không phản ánh hoạt động kinh doanh độc lập, hội đồng trọng tài tại phán quyết trọng tài đã từ chối bảo hộ.
So sánh hai phán quyết trọng tài nêu trên cho thấy luật đầu tư quốc tế không tuyệt đối hóa bất kỳ tiêu chí nào, có tôn trọng hình thức pháp lý và có kiểm soát lạm dụng cấu trúc. Khi cấu trúc pháp nhân được thiết lập trước tranh chấp và phù hợp với định nghĩa hiệp định, xu hướng là tôn trọng quyền lựa chọn cấu trúc của nhà đầu tư (Tokios Tokelės), nhưng khi cấu trúc được thiết lập nhằm thao túng cơ chế bảo hộ sau khi rủi ro pháp lý đã hiện hữu, pháp luật có xu hướng xuyên qua hình thức để bảo vệ tính liêm chính của hệ thống (Philip Morris).
Bài học từ hai án lệ không phải là lựa chọn một trong hai cực, mà là thiết kế cơ chế pháp lý có khả năng phân biệt giữa cấu trúc hợp pháp nhằm tổ chức đầu tư hiệu quả và cấu trúc nhằm né tránh nghĩa vụ hoặc thao túng chế độ pháp lý. Chính sự cân bằng này có thể là nền tảng để đánh giá hạn chế pháp luật đầu tư Việt Nam chỉ dựa vào tiêu chí sở hữu vốn mà chưa phát triển đầy đủ công cụ nhận diện kiểm soát thực và mục đích tái cấu trúc đầu tư.
Hạn chế trọng yếu của Điều 23 Luật Đầu tư 2020 là xác định việc áp dụng điều kiện và thủ tục đầu tư đối với tổ chức kinh tế có vốn nước ngoài theo tỷ lệ sở hữu vốn (trên 50%), hoặc theo chuỗi sở hữu chi phối. Cách tiếp cận này có 3 hạn chế mang tính cấu trúc: (i) đồng nhất sở hữu với kiểm soát, trong khi kiểm soát có thể phát sinh ngoài tỷ lệ vốn; (ii) không điều chỉnh cấu trúc kiểm soát thực dưới ngưỡng sở hữu chi phối; (iii) tạo động cơ cấu trúc hóa tỷ lệ vốn dưới ngưỡng 51% để né tránh hoặc kích hoạt chế độ pháp lý mong muốn.
Điều 23 nên sửa đổi dựa trên 4 nguyên tắc. Một, nguyên tắc kiểm soát thực: phân loại nhà đầu tư dựa trên khả năng chi phối hoạt động kinh tế, không chỉ sở hữu vốn. Hai, nguyên tắc chủ sở hữu hưởng lợi: truy vết chủ thể hưởng lợi và kiểm soát cuối cùng. Ba, nguyên tắc chống lạm dụng cấu trúc: không công nhận cấu trúc được thiết lập chủ yếu nhằm né tránh nghĩa vụ pháp lý. Bốn, nguyên tắc an toàn pháp lý: nhà đầu tư được quyền lựa chọn cấu trúc hợp pháp nếu có mục đích kinh doanh thực.
Pháp nhân trung gian, đặc biệt là holding khu vực, đóng vai trò quan trọng trong cấu trúc đầu tư xuyên biên giới. Các thực thể này có thể được thành lập tại các trung tâm tài chính quốc tế nhằm tối ưu hóa thuế hoặc tận dụng hiệp định bảo hộ đầu tư. Tuy nhiên, nhiều thực thể trung gian không có hoạt động kinh doanh đáng kể tại nơi đăng ký.
BẤP CẬP TRONG PHÁP LUẬT ĐẦU TƯ CỦA VIỆT NAMHiện có ba nhóm bất cập mang tính kỹ thuật nhưng có tác động rất lớn đối với cấu trúc đầu tư xuyên biên giới tại Việt Nam, bao gồm: (i) bất cập trong quy định về hình thức đầu tư; (ii) bất cập trong áp dụng thủ tục đầu tư đối với tổ chức kinh tế có vốn nước ngoài từ 51% trở lên; (iii) bất cập trong cơ chế xác định ưu đãi thuế theo tổng vốn đầu tư của dự án. Các bất cập này thể hiện rõ sự lệch pha giữa logic pháp lý hình thức của Luật Đầu tư và thực tiễn cấu trúc đầu tư xuyên biên giới hiện đại.
Khoản 19 Điều 3 Luật Đầu tư 2020 định nghĩa nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài hoặc tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam. Điều 21 Luật Đầu tư 2020 quy định các hình thức đầu tư gồm thành lập tổ chức kinh tế, góp vốn, dự án đầu tư, hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) và hình thức đầu tư khác theo quy định của chính phủ. Trên thực tế, các hình thức này được thiết kế theo logic giao dịch pháp lý trực tiếp giữa nhà đầu tư và tổ chức kinh tế tại Việt Nam.
Tuy nhiên, cấu trúc đầu tư xuyên biên giới hiện đại thường được tổ chức thông qua nhiều tầng pháp nhân trung gian. Quyền kiểm soát dự án có thể được thiết lập thông qua chuỗi sở hữu gián tiếp, thỏa thuận cổ đông nhiều cấp, hoặc hợp đồng điều phối tập đoàn. Khung hình thức đầu tư của Việt Nam vẫn dựa trên giao dịch trực tiếp, trong khi cấu trúc đầu tư xuyên biên giới vận hành theo kiểm soát gián tiếp.
Trong khi đó, Điều 23 Luật Đầu tư 2020 xác định tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài dựa trên tỷ lệ sở hữu vốn. Cách tiếp cận này hoàn toàn trên tỷ lệ sở hữu pháp lý, không phản ánh được các hình thức kiểm soát phi sở hữu. Do đó, chưa có cơ chế nhận diện hình thức đầu tư gián tiếp nhiều tầng thường xuyên xảy ra khi: quyền kiểm soát phát sinh ngoài giao dịch trực tiếp tại Việt Nam; chuyển quyền kiểm soát diễn ra ở cấp holding nước ngoài; thay đổi cơ cấu tập đoàn nhưng không thay đổi pháp nhân tại Việt Nam.
Ví dụ, một công ty tại Việt Nam có thể do công ty mẹ ở nước ngoài điều hành toàn diện thông qua hợp đồng quản lý, dù tỷ lệ sở hữu trực tiếp thấp. Hoặc, trong cấu trúc tập đoàn hiện đại, quyền kiểm soát có thể tồn tại ngay cả khi tỷ lệ sở hữu dưới 50% thông qua: quyền phủ quyết chiến lược; quyền kiểm soát tài chính; phụ thuộc công nghệ; thỏa thuận cổ đông. Trường hợp này, nhà đầu tư nước ngoài nắm trên 50% vốn nhưng không có thực quyền để trực tiếp điều hành hoạt động kinh doanh. Như vậy, tiêu chí 51% không phản ánh chính xác quyền kiểm soát thực. Hệ quả pháp lý có thể xảy ra: tăng thủ tục đầu tư dựa trên sở hữu danh nghĩa; không điều chỉnh trường hợp kiểm soát thực nhưng sở hữu pháp lý thiểu số; tạo động cơ cấu trúc hóa tỷ lệ sở hữu để tránh điều kiện đầu tư.
Trong cấu trúc đầu tư xuyên biên giới: tổng vốn đầu tư có thể bao gồm vốn vay nội bộ; vốn có thể được cấp qua nhiều pháp nhân; tài sản vô hình có thể được định giá nội bộ; vốn đầu tư có thể luân chuyển trong tập đoàn.
So sánh với Singapore, Đạo luật Công ty (Companies Act) và quy định của Cơ quan quản lý doanh nghiệp và kế toán (ACRA) yêu cầu doanh nghiệp phải duy trì sổ đăng ký người kiểm soát (Register of Controllers), bao gồm chủ sở hữu hưởng lợi cuối cùng. Singapore không dựa thuần túy vào quy mô vốn để cấp ưu đãi, mà đánh giá giá trị gia tăng kinh tế, hoạt động thực và đóng góp công nghệ.
So sánh với Trung Quốc, theo Luật Đầu tư nước ngoài 2019, áp dụng cơ chế báo cáo thông tin đầu tư toàn diện, cho phép cơ quan quản lý truy vết cấu trúc kiểm soát. Trung Quốc gắn ưu đãi với ngành nghề chiến lược, năng lực công nghệ và tác động chuỗi giá trị, không chỉ quy mô vốn.
Ba nhóm bất cập nêu trên cho thấy một điểm chung: pháp luật đầu tư Việt Nam vẫn điều chỉnh đầu tư theo hình thức sở hữu pháp lý và cấu trúc vốn, trong khi đầu tư xuyên biên giới hiện đại vận hành theo kiểm soát thực và cấu trúc tập đoàn. Bất cập pháp lý này ảnh hưởng trực tiếp đến: hiệu quả quản lý đầu tư; tính minh bạch cấu trúc tập đoàn; công bằng trong áp dụng ưu đãi và ổn định môi trường pháp lý.
Bên cạnh đó, Luật Đầu tư 2020 và Nghị định 31/2021/NĐ-CP không đưa ra tiêu chí đánh giá thực thể trung gian.
Trong khi đó, tại Singapore, việc áp dụng các hiệp định thuế và đầu tư phụ thuộc vào việc thực thể có hoạt động kinh tế thực. Singapore áp dụng mô hình quản lý dựa trên minh bạch cấu trúc kiểm soát. Doanh nghiệp phải công bố chủ sở hữu hưởng lợi. Cơ quan quản lý có quyền truy vết cấu trúc sở hữu nhiều tầng.
Trung Quốc cũng yêu cầu báo cáo chi tiết cấu trúc đầu tư theo Điều 34 Luật Đầu tư nước ngoài 2019. Luật này cũng thiết lập hệ thống báo cáo thông tin đầu tư và cơ chế rà soát an ninh quốc gia dựa trên kiểm soát thực chất.
Ngoài ra, pháp luật Việt Nam chưa quy định tiêu chí cụ thể về hiện diện kinh tế thực. Trong khi đó, Singapore áp dụng tiêu chuẩn hiện diện kinh tế thực trong luật thuế và chống tránh thuế. Trung Quốc đánh giá thực thể dựa trên chức năng kinh doanh thực và vai trò trong chuỗi giá trị.
Điều 74 Bộ luật Dân sự 2015 và Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020 khẳng định tính độc lập của pháp nhân. Tuy nhiên, trong cấu trúc tập đoàn xuyên quốc gia, sự độc lập này có thể chỉ mang tính hình thức.
Các bất cập của pháp luật Việt Nam phản ánh sự lệch pha giữa mô hình pháp lý truyền thống và cấu trúc đầu tư hiện đại. So với Singapore và Trung Quốc, Việt Nam vẫn duy trì cách tiếp cận hình thức trong nhận diện nhà đầu tư và kiểm soát cấu trúc đầu tư bằng sở hữu vốn pháp lý. Việc hoàn thiện khung pháp luật cần chuyển sang quản lý dựa trên kiểm soát thực, minh bạch chủ sở hữu hưởng lợi và đánh giá hiện diện kinh tế thực.
---
(*) Trưởng Văn phòng Luật sư Mặt trời mới, Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam, Trọng tài viên Viện Trọng tài Quốc tế Hải Nam
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 9-2026 phát hành ngày 02/03/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-9-2026.html
-LS. Bùi Văn Thành
Singapore đẩy nhanh kế hoạch trở thành trung tâm giao dịch vàng vật chất châu Á
Theo các nguồn thạo tin của hãng tin Bloomberg, Singapore đang đẩy nhanh kế hoạch trở thành trung tâm giao dịch vàng của khu vực, với sự tham gia của các ngân hàng trong nước và quốc tế như JPMorgan Chase và UBS, nhằm tăng thanh khoản thị trường và tận dụng nhu cầu ngày càng lớn từ các nhà đầu tư lớn.
Nguồn tin cho biết trong vài tháng gần đây, Cơ quan Tiền tệ Singapore (MAS) đã làm việc với nhiều ngân hàng để đánh giá khả năng phát triển đảo quốc này thành một trung tâm giao dịch vàng vật chất.
Ngoài UBS và JPMorgan, hai định chế tài chính lớn đóng vai trò cung cấp thanh khoản cho thị trường vàng toàn cầu, kế hoạch trên còn có sự tham gia của ngân hàng ICBC Standard Bank - đơn vị thanh toán bù trừ cho thị trường vàng London, cùng ba ngân hàng lớn của Singapore là DBS, United Overseas Bank (UOB) và Oversea-Chinese Banking Corp. (OCBC).
Hơn một năm qua, vàng chứng kiến giai đoạn tăng giá mạnh hiếm thấy khi liên tiếp lập đỉnh, trong bối cảnh nhà đầu tư tìm kiếm kênh thay thế cho tiền pháp định và tăng nắm giữ tài sản trú ẩn an toàn giữa lúc địa chính trị và thương mại toàn cầu nhiều biến động.
Hồng Kông - từ lâu cạnh tranh với Singapore trong việc thu hút thanh khoản và dòng tiền từ các nhà đầu tư có tài sản ròng cao - cũng đang tự định vị là một trung tâm giao dịch vàng vật chất hàng đầu khu vực. Điều này phù hợp với mục tiêu của Bắc Kinh là nâng vai trò của Trung Quốc trong hệ thống tài chính toàn cầu.
Các ngân hàng DBS, UOB và OCBC xác nhận đang phối hợp với Cơ quan Tiền tệ Singapore (MAS) để hỗ trợ phát triển thị trường vàng Singapore. DBS cho biết ngân hàng này tin rằng Singapore có thể đóng vai trò là một trung tâm đáng tin cậy cho hoạt động giao dịch và lưu chuyển vàng trong khu vực.
“Châu Á đang chứng kiến nhu cầu rất lớn và không ngừng gia tăng đối với vàng, khi nhà đầu tư ngày càng xem kim loại này là tài sản trú ẩn an toàn trong bối cảnh bất định địa chính trị. Xu hướng đó càng được củng cố bởi tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ của khu vực Đông Nam Á và dòng vốn đầu tư lớn chảy vào vàng vật chất cùng các sản phẩm khác được bảo chứng bằng vàng”, ông Kelvin Ng, Giám đốc thị trường toàn cầu của UOB, nhận xét với Bloomberg.
Các nguồn tin cho biết tham vọng trở thành một trung tâm giao dịch và lưu trữ vàng của Singapore - với sự hỗ trợ của nhiều cơ quan nhà nước bên cạnh ngân hàng trung ương - hiện tập trung vào nhóm định chế tài chính lớn, gồm các ngân hàng trung ương và công ty quản lý tài sản gia đình.
Tuy nhiên, các nguồn này cho biết mọi kế hoạch hiện vẫn ở giai đoạn đầu và vẫn có thể thay đổi.
“Từ năm ngoái, MAS đã tích cực làm việc với các bên tham gia chủ chốt trên thị trường vàng để tìm cách hỗ trợ phát triển thị trường này tại Singapore. Chúng tôi sẽ công bố thêm thông tin về các sáng kiến chính vào thời điểm thích hợp”, người phát ngôn của MAS nói với Bloomberg.
Theo các nguồn thạo tin, Sở Giao dịch Singapore (SGX) đang xem xét khả năng đưa ra sản phẩm hợp đồng vàng mới, tùy theo mức độ quan tâm của thị trường. Trước đây, vào năm 2018, SGX từng phải dừng giao dịch hợp đồng Kilobar Gold Contract do giao dịch quá trầm lắng, chỉ 4 năm sau khi ra mắt. Singapore cũng đã bãi bỏ thuế hàng hóa và dịch vụ từ năm 2012 đối với các kim loại quý đạt chuẩn đầu tư, gồm cả bạc, nhưng điều này vẫn chưa đủ để giúp thị trường vàng nước này bứt phá rõ rệt.
Trong nhóm ngân hàng nội địa của Singapore, hiện chỉ có ngân hàng UOB cung cấp dịch vụ bán vàng vật chất và lưu ký vàng cho khách hàng cá nhân. Trong khi đó, ngân hàng OCBC gần đây cho biết đang xem xét phát triển dịch vụ lưu ký vàng vật chất dành cho khách hàng tổ chức và nhóm nhà đầu tư cá nhân giàu có.
-Đức Anh
Giải ngân đầu tư công đạt hơn 55 nghìn tỷ trong 2 tháng đầu năm
Theo số liệu từ Bộ Tài chính công bố, thu ngân sách nhà nước trong 2 tháng đầu năm đạt 601,3 nghìn tỷ đồng, bằng 23,8% dự toán, tăng 13,1% so cùng kỳ năm 2025.
Trong đó, thu nội địa đạt 558,1 nghìn tỷ đồng, bằng 25,4% dự toán, tăng 15% so cùng kỳ; thu từ dầu thô đạt khoảng 5,1 nghìn tỷ đồng, bằng 11,9% dự toán, giảm 42,2% so với cùng kỳ; thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 38 nghìn tỷ đồng, bằng 13,7% dự toán, tăng 1,2% so với cùng kỳ.
GIẢI NGÂN VỐN ĐẦU TƯ CÔNG ĐẠT HƠN 55 NGHÌN TỶChi cân đối ngân sách nhà nước trong 2 tháng đầu năm ước đạt 311 nghìn tỷ đồng, bằng 9,8% dự toán, tăng 11% so cùng kỳ năm 2025. Trong đó: chi đầu tư phát triển ước đạt 42,5 nghìn tỷ đồng, bằng 3,8% dự toán Quốc hội quyết định, tỷ lệ giải ngân ước đạt 4,3% kế hoạch vốn đầu tư phát triển Thủ tướng Chính phủ giao; chi trả nợ lãi ước đạt ước đạt 22,3% dự toán; chi thường xuyên ước đạt 13,3% dự toán.
Bộ Tài chính cũng cho biết đã thực hiện xuất cấp 15.527 tấn gạo dự trữ quốc gia theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ để cứu trợ, cứu đói cho nhân dân trong dịp Tết Nguyên đán và giáp hạt đầu năm.
Ngoài ra, việc cân đối ngân sách trung ương và ngân sách các cấp địa phương được đảm bảo. Đến hết tháng 2, đã thực hiện phát hành 60,5 nghìn tỷ đồng trái phiếu Chính phủ, kỳ hạn bình quân 10,03 năm, lãi suất bình quân 4,05%/năm.
Về việc giải ngân vốn đầu tư công, Bộ Tài chính cho biết giải ngân vốn đầu tư công trong 2 tháng đầu năm 2026 đạt 55.739,8 tỷ đồng, đạt 5,6% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao (995.348,05 tỷ đồng).
Trong đó, vốn ngân sách trung ương là 10.178 tỷ đồng, đạt 2,9%; vốn vốn ngân sách địa phương là 45.561,8 tỷ đồng, đạt 7%. So với cùng kỳ năm 2025, kết quả giải ngân tương đương về tỷ lệ và cao về số tuyệt đối là 10.928,6 tỷ đồng.
Kết quả đến hết tháng 2/2026, so với kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, có 6 bộ, cơ quan và 14 địa phương có tỷ lệ giải ngân đạt từ mức bình quân chung cả nước. Còn 29 bộ, cơ quan trung ương và 20 địa phương có tỷ lệ giải ngân đạt dưới bình quân chung cả nước (trong đó có 25 bộ, cơ quan có tỷ lệ giải ngân dưới 1% và chưa giải ngân).
MỘT SỐ KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC CÒN TỒN TẠI TRONG GIẢI NGÂN VỐN ĐẦU TƯ CÔNGTheo Bộ Tài chính, năm 2026 là năm đầu tiên của giai đoạn trung hạn 2026-2030, ghi nhận lượng vốn đầu tư công lớn nhất từ trước đến nay, khiến áp lực giải ngân vốn đầu tư công gia tăng.
Trong đó, một số khó khăn, vướng mắc chủ yếu làm ảnh hưởng đến tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công trong 2 tháng đầu năm 2026 có thể kể đến:
Thứ nhất, khó khăn, vướng mắc liên quan đến phân bổ vốn. Việc chưa phân bổ một lượng vốn tương đối lớn đã ảnh hưởng đến tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công nguồn ngân sách nhà nước những tháng đầu năm 2026 (còn khoảng 32,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 3,3% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao); các bộ, cơ quan trung ương và địa phương đang tập trung chỉ đạo để sớm hoàn thiện các thủ tục đầu tư, đảm bảo điều kiện sớm bố trí kế hoạch vốn cho các nhiệm vụ, dự án
Một số bộ, cơ quan trung ương và địa phương đã phân bổ chi tiết cho các dự án không đủ điều kiện phân bổ và giải ngân như: nhiệm vụ chuẩn bị đầu tư chưa được cấp có thẩm quyền phê duyệt dự toán, bố trí vượt tổng mức đầu tư, vượt thời gian bố trí vốn thực hiện dự án,… Bộ Tài chính đã có các văn bản kiểm tra, nhận xét chi tiết đến từng bộ, cơ quan trung ương và địa phương đề nghị điều chỉnh, hoàn thiện theo đúng quy định.
Thứ hai, khó khăn vướng mắc khác trong tổ chức thực hiện. Trong 2 tháng đầu năm, tiến độ triển khai thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công thường đạt thấp, do các chủ đầu tư chủ yếu tập trung hoàn thiện thủ tục đầu tư, phân khai kế hoạch vốn chi tiết cho từng dự án và tiếp tục triển khai thi công đối với các dự án chuyển tiếp; trong khi thời gian nghỉ Tết năm 2026 rơi diễn ra muộn hơn so với năm 2025, tạm thời làm chậm công tác thi công xây dựng cho dự án của các chủ đầu tư, nhà thầu.
Đối với các dự án ODA, một số dự án chưa hoàn thành quy trình thủ tục đầu tư dẫn tới chưa đủ điều kiện bố trí kế hoạch vốn. Trong 2 tháng đầu năm, các dự án tập trung giải ngân và hoàn chứng từ các khoản giải ngân từ tài khoản đặc biệt theo kế hoạch vốn năm 2025 và một số dự án đang thực hiện các thủ tục cho công tác đấu thầu, chuẩn bị ký kết Hợp đồng và xử lý các vướng mắc trong công tác giải phóng mặt bằng nên giải ngân kế hoạch vốn năm 2026 còn thấp.
-Phương Nhi
Vì sao giá dầu khó vọt lên 100 USD/thùng?
Trước khi Mỹ và Israel tiến hành không kích Iran vào cuối tuần trước, nhiều chuyên gia năng lượng đã cảnh báo về kịch bản xấu nhất với thị trường dầu mỏ. Đó là eo biển Hormuz bị tê liệt, còn Iran mở rộng phạm vi trả đũa sang các cảng biển, nhà máy lọc dầu và cơ sở khí đốt trên khắp vùng Vịnh.
PHẢN ỨNG BAN ĐẦU
Sau 5 ngày giao tranh, phần lớn những rủi ro trong kịch bản đó đã trở thành hiện thực. Dù vậy, giá dầu vẫn chưa bứt mạnh như nhiều dự báo và vẫn ở dưới ngưỡng được xem là “mốc tâm lý” 100 USD/thùng.
Nhiều cơ sở năng lượng trọng yếu trong khu vực đã bị tấn công, khiến nhà máy khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) lớn nhất thế giới tại Qatar và một trong những nhà máy lọc dầu quan trọng nhất của Saudi Arabia phải dừng hoạt động.
Trong khi đó, hoạt động vận tải qua eo biển Hormuz - tuyến hàng hải huyết mạch vốn trung chuyển khoảng 1/5 nguồn cung dầu và khí đốt toàn cầu - gần như tê liệt. Hơn 150 tàu chở dầu hiện phải neo chờ bên ngoài eo biển này, khi các chủ tàu và doanh nghiệp bảo hiểm không muốn đưa tàu đi qua vùng biển đang có giao tranh.
Từ khi xung đột bùng phát, giá dầu đã tăng khoảng 30%. Dầu Brent có lúc lên 85 USD/thùng vào ngày thứ Ba (3/3), cao nhất kể từ tháng 7/2024. Dù vậy, thị trường vẫn chưa rơi vào trạng thái hoảng loạn. Giá dầu hiện còn cách khá xa mức 128 USD/thùng từng ghi nhận sau khi Nga mở chiến dịch quân sự đặc biệt tại Ukraine vào năm 2022.
“Thị trường vẫn phản ứng khá thận trọng vì các nhà đầu tư muốn quan sát thêm trước khi ra quyết định. Lúc này, điều giới giao dịch tập trung theo dõi là xung đột sẽ còn kéo dài bao lâu. Hiện chưa xuất hiện dấu hiệu nào cho thấy căng thẳng hạ nhiệt. Trái lại, Iran đang tiếp tục đẩy căng thẳng leo thang”, ông Carlos Bellorin, nhà phân tích tại công ty dữ liệu năng lượng Welligence, nhận xét với tờ báo Financial Times.
MỨC ĐỘ NGHIÊM TRỌNG CỦA CÚ SỐC LẦN NÀY
Theo các nhà phân tích, trong đợt xung đột lần này, giá dầu phản ứng mạnh hơn rõ rệt so với trong cuộc xung đột kéo dài 12 ngày giữa Israel và Iran vào tháng 6 năm ngoái. Thời điểm đó, dòng chảy năng lượng từ vùng Vịnh gần như không bị gián đoạn, còn các vụ tấn công vào hạ tầng năng lượng tương đối hạn chế.
Dù vậy, nếu so với các cú sốc dầu mỏ trong lịch sử, nhịp tăng hiện nay vẫn chưa phải quá lớn. Trong giai đoạn 1973-1974, lệnh cấm vận dầu mỏ của các nước Arab từng khiến giá dầu tăng tới 260%. Sau Cách mạng Iran năm 1979, giá dầu tăng thêm khoảng 160%. Đến năm 1990, khi Iraq tấn công Kuwait, giá dầu tiếp tục tăng khoảng 180%. Mỗi biến cố đều tác động lan rộng vượt xa lĩnh vực năng lượng, ảnh hưởng tới nền kinh tế toàn cầu.
Tuy nhiên, bối cảnh hiện tại đã thay đổi đáng kể so với các giai đoạn khủng hoảng trước. Các nền kinh tế phát triển hiện tiêu thụ dầu thấp hơn nhiều so với thập niên 1970, đồng thời cũng giảm phụ thuộc vào nguồn cung từ Trung Đông. Mỹ hiện là nhà sản xuất dầu lớn nhất thế giới, trong khi nguồn cung toàn cầu còn được bổ sung thêm từ Guyana, Brazil và Canada.
Bên cạnh đó, thị trường có thể cũng đang tính đến khả năng Chính phủ Mỹ sẽ sớm có biện pháp ứng phó. Trong bối cảnh bầu cử Quốc hội giữa nhiệm kỳ vào tháng 11 đang đến gần, chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump có động lực lớn để giữ lạm phát không tăng nóng. Nếu giá dầu neo cao quá lâu, Mỹ có thể xả thêm dầu từ Kho Dự trữ Dầu mỏ Chiến lược (SPR) để hạ nhiệt thị trường.
VÌ SAO GIÁ DẦU KHÔNG TĂNG SỐC?
Theo các nhà phân tích, một nguyên nhân khiến giá dầu chưa tăng mạnh hơn là thị trường dầu mỏ hiện đã thích nghi tốt hơn với các cú sốc lớn. Sau đại dịch Covid-19 và chiến dịch quân sự của Nga tại Ukraine năm 2022 - các giai đoạn dòng chảy năng lượng toàn cầu bị đảo lộn - giới giao dịch đã tích lũy thêm kinh nghiệm trong việc điều hướng tàu chở dầu, tìm tuyến vận chuyển thay thế và giảm thiểu gián đoạn nguồn cung.
“Mức độ biến động mà thị trường dầu mỏ trải qua trong 5 năm qua gần tương đương với cả 25 năm trước đó”, một nhà giao dịch cấp cao nhận xét với Financial Times.
Theo ông Saul Kavonic, nhà phân tích tại tập đoàn dịch vụ tài chính MST Financial, chính kinh nghiệm đó khiến thị trường lần này phản ứng bình tĩnh hơn, thậm chí có phần chủ quan, trước cú sốc nguồn cung ngắn hạn.
“Nói cách khác, thị trường đang phản ứng chậm hơn so với mức độ gián đoạn thực tế”, ông Kavonic nhận xét.
Ông Kavonic ước tính nếu eo biển Hormuz bị phong tỏa thêm 2 tuần, hơn 250 triệu thùng dầu có thể bị ùn ứ do không thể vận chuyển ra thị trường. Khi công suất lưu trữ tại một số nước vùng Vịnh đầy lên, họ sẽ buộc phải cắt giảm sản lượng, và lúc đó giá dầu có thể vượt 100 USD/thùng.
Trên thực tế, áp lực lên chuỗi cung ứng dầu đã bắt đầu hiện rõ. Vào ngày 3/3, Iraq phải đóng cửa mỏ Rumaila - mỏ dầu lớn nhất nước này và là một trong những mỏ lớn nhất thế giới - sau khi lượng dầu tồn trong các bồn chứa tăng lên mức “nghiêm trọng” - theo thông báo của Bộ Dầu mỏ Iraq.
Một nguyên nhân khác giúp giá dầu không tăng quá sốc là giới giao dịch không bị bất ngờ trước diễn biến hiện nay vì đã có sự chuẩn bị từ trước.
Theo một nhà giao dịch cấp cao, nguy cơ căng thẳng leo thang lần này đã được cảnh báo rõ ràng hơn nhiều so với cuộc xung đột kéo dài 12 ngày vào năm ngoái. Do đó, nhiều nhà đầu tư đã sớm điều chỉnh vị thế, đặt cược vào khả năng giá dầu tăng ngay trước khi giao tranh nổ ra.
CÁC "NGUỒN CUNG DỰ PHÒNG" CỦA THỊ TRƯỜNG
Trước khi xung đột nổ ra, thị trường dầu mỏ ở trạng thái nguồn cung dồi dào. Điều này tạo điều kiện để nhiều quốc gia lo ngại rủi ro tại Trung Đông tranh thủ gia tăng dự trữ dầu thô. Theo các nhà phân tích của công ty dữ liệu Vortexa, lượng dầu mà Trung Quốc đang tích trữ hiện đủ để nước này đáp ứng nhu cầu trong 124 ngày, ngay cả khi không có nguồn dầu mới.
“Nếu so với mặt bằng lịch sử, tồn kho dầu toàn cầu hiện ở mức thấp, nhưng quy mô vẫn vào khoảng 2 tỷ thùng. Lượng tồn kho trên bờ bên ngoài Trung Quốc và Ấn Độ cũng đang ở vùng thấp của biên độ theo mùa. Dù vậy, đây vẫn là nền tảng hỗ trợ lớn nếu so với lượng dầu từ Trung Đông đang đối mặt nguy cơ gián đoạn, khoảng 16 triệu thùng/ngày”, ông David Wech, nhà kinh tế trưởng của Vortexa, nhận xét.
Theo ông Wech, ngoài lượng dầu lưu trữ trên bờ, thị trường vẫn còn một số nguồn dự phòng khác, gồm lượng dầu đang ở trên biển bên ngoài vùng Vịnh và khoảng 120-150 triệu thùng dầu trên các tàu lách trừng phạt để chở dầu Nga hoặc Iran.
Ông Bellorin của công ty Welligence cho rằng trong kịch bản cực đoan, dầu Nga có thể quay trở lại thị trường theo cách công khai hơn.
Bên cạnh đó, dù lưu thông qua eo biển Hormuz đang bị hạn chế, không phải toàn bộ nguồn cung từ vùng Vịnh đều bị chặn lại. Một phần dầu xuất khẩu vẫn có thể đi theo các tuyến thay thế. Cụ thể, Saudi Arabia và Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất (UAE) hiện vẫn có thể chuyển khoảng 9 triệu thùng/ngày ra thị trường thông qua các đường ống không đi qua eo biển này.
ĐIỀU GÌ CÓ THỂ ĐẨY GIÁ DẦU VƯỢT 100 USD/THÙNG?
Theo nhận định của nhiều nhà phân tích, yếu tố then chốt quyết định giá dầu có vượt 100 USD/thùng hay không là thời gian gián đoạn nguồn cung kéo dài bao lâu và mức độ ảnh hưởng nghiêm trọng tới đâu.
“Ở kịch bản cơ sở, giá dầu Brent sẽ dao động trong vùng 80-90 USD/thùng nếu hoạt động vận tải qua eo biển Hormuz sớm được nối lại. Ngược lại, nếu tình trạng gián đoạn kéo dài, giá dầu hoàn toàn có thể vượt mốc 100 USD/thùng”, ông Wang Zhuwei, chuyên gia nghiên cứu giao dịch dầu mỏ tại SP Global Energy, dự báo.
Trong ngắn hạn, nhiều nhà phân tích cho rằng giao tranh sẽ vẫn tiếp diễn và chưa sớm hạ nhiệt. Ông Bellorin nhận định Iran nhiều khả năng sẽ tiếp tục gia tăng sức ép nhằm củng cố vị thế trước khi xuống thang căng thẳng hoặc đàm phán.
“Nếu nhìn vào xu hướng hiện tại và diễn biến trên thực tế, giá dầu có thể lên vùng trên 90 USD/thùng vào cuối tuần này”, ông Bellorin dự báo.
-Hoài Thu
Đêm nghệ thuật "Thi dĩ ngôn chí" tôn vinh thi ca triều Nguyễn
Chương trình do Ban tổ chức Festival Huế phối hợp với Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế tổ chức, thu hút đông đảo người dân và du khách tham dự.
Được dàn dựng tại không gian Quảng trường Ngọ Môn – trái tim của Đại Nội Huế – chương trình mở ra một câu chuyện nghệ thuật đậm chất sử thi, tái hiện sinh động đời sống xã hội Việt Nam thế kỷ XIX dưới thời Triều Nguyễn. Không chỉ khắc họa bức tranh Kinh đô Huế xưa, đêm diễn còn giới thiệu, tôn vinh di sản thi ca của các Hoàng đế – những tác giả đặc biệt trong dòng chảy văn học dân tộc.
Với kết cấu gồm 10 hồi diễn, tác phẩm dẫn dắt khán giả qua nhiều lớp không gian và cảm xúc. Từ không khí lễ hội mùa xuân rộn ràng, uy nghiêm nơi chốn triều nghi đến nhịp sống dân sinh đời thường và công cuộc kiến thiết đất nước, mỗi hồi diễn như một mảnh ghép tạo nên bức tranh toàn cảnh về một giai đoạn lịch sử.
Không gian sân khấu được dàn dựng công phu giữa lòng Huế cổ kính.Hành trình nghệ thuật ấy đưa người xem đi từ sự trang nghiêm của đại triều đến vẻ bình dị của đời sống thường nhật; từ hồn thiêng sông núi đến những bảo vật ngàn năm lắng đọng trong ký ức cố đô. Những vần thơ của các Hoàng đế không chỉ được xướng đọc mà còn được “kể lại” bằng ngôn ngữ sân khấu đa tầng, giàu tính biểu tượng.
Điểm nhấn của “Thi dĩ ngôn chí” nằm ở cách kể chuyện ước lệ, khi các áng thơ được xâu chuỗi thành mạch truyện xuyên suốt. Âm nhạc, diễn xuất, hiệu ứng ánh sáng, hình ảnh sân khấu cùng các yếu tố hỏa thuật, khói lửa được phối hợp hài hòa, tạo nên một không gian nghệ thuật giàu chiều sâu. Ngôn ngữ biểu đạt đậm chất sử thi giúp chương trình vừa giữ được sự trang trọng của chốn cung đình, vừa mang lại cảm giác gần gũi, dễ tiếp cận với công chúng hôm nay.
Các tiết mục được dàn dựng theo mạch truyện xuyên suốt từ thơ ca cung đình.Không đơn thuần là một đêm biểu diễn, “Thi dĩ ngôn chí” còn là hành trình trở về với tinh hoa thi ca cung đình, góp phần lan tỏa giá trị di sản văn hóa Huế trong dòng chảy đương đại. Trong không gian linh thiêng của Hoàng thành, thơ không còn nằm yên trên trang sử mà sống dậy qua từng lời ca, động tác, ánh nhìn của nghệ sĩ.
Sân khấu ngoài trời bên Ngọ Môn rực rỡ trong đêm Rằm tháng Giêng.Khép lại chương trình, những vần thơ xưa vẫn như ngân vang giữa đêm Rằm tháng Giêng, kết nối quá khứ với hiện tại. Tinh thần nhân văn, trí tuệ và khí phách của tiền nhân được truyền trao một cách tự nhiên, lắng đọng. Để từ đó, mỗi người thêm yêu và tự hào về di sản Cố đô, ý thức hơn trách nhiệm gìn giữ và phát huy những giá trị đặc sắc ấy trong đời sống hôm nay, để thơ tiếp tục hiện hữu, tiếp tục thở cùng nhịp sống giữa lòng Huế.
-Nguyễn Thuấn
Bộ Tài chính than phiền về giải ngân đầu tư công của 25 đơn vị trung ương
Theo báo cáo cập nhật từ Bộ Tài chính, ước tính đến hết tháng 2 năm 2026, tổng vốn giải ngân ước đạt 55.739,8 tỷ đồng, đạt 5,6% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao. Nếu so với cùng kỳ năm 2025, tốc độ giải ngân năm nay cao hơn 10.928,6 tỷ đồng
Xét theo cơ cấu nguồn vốn, vốn ngân sách địa phương ghi nhận tỷ lệ giải ngân 7%, tương đương 45.561,8 tỷ đồng. Trong khi đó, vốn ngân sách trung ương mới đạt 2,9%, tương ứng 10.178 tỷ đồng.
Theo báo cáo của Bộ Tài chính, khoảng 32,8 nghìn tỷ đồng, tương đương 3,3% kế hoạch Thủ tướng giao, vẫn chưa được phân bổ chi tiết. Khi vốn chưa được giao cụ thể đến từng dự án, việc giải ngân đương nhiên không thể triển khai.
Chênh lệch này phần nào phản ánh mức độ chủ động của địa phương trong triển khai dự án, đồng thời cho thấy áp lực lớn hơn ở khối trung ương, nơi tập trung nhiều dự án quy mô lớn, thủ tục phức tạp, đặc biệt là các chương trình, dự án ODA.
Bộ Tài chính cho biết tính đến hết tháng 2 năm 2026, cả nước có 6 bộ, cơ quan và 14 địa phương có tỷ lệ giải ngân đạt từ mức bình quân chung cả nước.
Một số đơn vị được nêu tên là Ngân hàng Chính sách xã hội; Tổng công ty đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam; Bộ Tư pháp; Bộ Công Thương; Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Bộ Công an.
Cùng với đó là các địa phương như: Điện Biên; Lai Châu; Hải Phòng; Lạng Sơn; TP.Hồ Chí Minh; Hà Tĩnh; Cà Mau; Gia Lai; Hà Nội; Thái Nguyên; Cần Thơ; Khánh Hòa; Ninh Bình; Đà Nẵng.
Tuy vậy, vẫn có tới 29 bộ, cơ quan trung ương và 20 địa phương (tổng cộng 49 đơn vị - Pv) có tỷ lệ giải ngân đạt dưới bình quân chung cả nước. Đáng chú ý, 25 bộ, cơ quan trung ương gần như chưa phát sinh giải ngân hoặc chỉ đạt dưới 1% kế hoạch, Bộ Tài chính nêu rõ.
Tổng kế hoạch giải ngân giao năm 2026. Nguồn: Bộ Tài chínhTính đến thời điểm báo cáo, tổng kế hoạch giao năm 2026 là 1.008.610,9 tỷ đồng, mức cao nhất từ trước tới nay. Con số này bao gồm kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, kế hoạch vốn cân đối địa phương giao tăng, kế hoạch các năm trước chuyển sang.
(Bộ Tài chính)
Bộ Tài chính cho biết đây cũng là năm mở đầu cho giai đoạn đầu tư công trung hạn 2026–2030. Việc “bơm” một lượng vốn lớn ngay từ năm đầu chu kỳ tạo dư địa kích thích tăng trưởng, nhưng đồng thời đặt ra sức ép lớn về tổ chức thực hiện.
Bên cạnh đó, năm 2026 còn là thời điểm nhiều quy định pháp luật mới bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/1, khiến quá trình triển khai cơ chế, chính sách phải thích ứng trong bối cảnh thể chế đang điều chỉnh.
Trên cơ sở báo cáo định kỳ của các bộ, cơ quan trung ương và địa phương Báo cáo nêu rõ các nhóm khó khăn chính ảnh hưởng đến tiến độ giải ngân vốn đầu tư công năm 2026.
Thứ nhất, khó khăn liên quan đến phân bổ vốn.
Theo báo cáo của Bộ Tài chính, khoảng 32,8 nghìn tỷ đồng, tương đương 3,3% kế hoạch Thủ tướng giao, vẫn chưa được phân bổ chi tiết. Khi vốn chưa được giao cụ thể đến từng dự án, việc giải ngân đương nhiên không thể triển khai.
Ngoài ra, một số trường hợp còn bố trí vốn cho dự án chưa đủ điều kiện như: chưa được phê duyệt dự toán chuẩn bị đầu tư, phân bổ vượt tổng mức đầu tư hoặc vượt thời hạn thực hiện dự án. Do đó, Bộ đã yêu cầu rà soát, điều chỉnh nhằm đảm bảo tuân thủ quy định.
Thứ hai, độ trễ trong khâu tổ chức thực hiện.
Hai tháng đầu năm thường là giai đoạn “chạy đà” do các chủ đầu tư chủ yếu tập trung hoàn thiện thủ tục, phân khai chi tiết kế hoạch vốn. Kỳ nghỉ Tết năm 2026 diễn ra muộn hơn năm trước cũng làm gián đoạn hoạt động thi công, khiến khối lượng nghiệm thu, thanh toán chưa nhiều.
Cùng với đó, lượng hồ sơ thanh toán dồn từ cuối năm 2025 sang đầu năm 2026 tạo áp lực xử lý thủ tục. Ở một số nơi, năng lực điều hành của chủ đầu tư, ban quản lý dự án và nhà thầu còn hạn chế; bộ máy sau sắp xếp chính quyền hai cấp thiếu nhân sự chuyên trách đầu tư công.
Thứ ba, vướng mắc đặc thù với dự án ODA.
Bộ Tài chính cho biết không ít dự án ODA đang trong quá trình điều chỉnh chủ trương đầu tư, gia hạn thời gian thực hiện hoặc chưa hoàn tất thủ tục ký kết hiệp định vay nên chưa đủ điều kiện phân bổ vốn năm 2026.
Trong những tháng đầu năm, các dự án này chủ yếu xử lý thủ tục, hoàn chứng từ rút vốn năm trước, đồng thời thực hiện đấu thầu, ký hợp đồng và giải phóng mặt bằng. Vì vậy, tỷ lệ giải ngân kế hoạch năm mới còn ở mức thấp.
Với tỷ lệ giải ngân mới đạt 5,6% sau hai tháng trong khi quy mô vốn lên tới hơn một triệu tỷ đồng, áp lực cho các quý tiếp theo là rất lớn. Nếu tiến độ phân bổ và tháo gỡ thủ tục không được đẩy nhanh, nguy cơ dồn khối lượng giải ngân vào cuối năm sẽ lặp lại.
-Hoàng Sơn
Xu hướng fitness “riêng tư” ngày càng được ưa chuộng
Thị trường fitness Việt Nam đang bước vào giai đoạn tăng trưởng với tốc độ thuộc nhóm cao trong khu vực. Theo dữ liệu mới công bố của OMR Research, quy mô ngành được dự báo đạt 3,78 tỷ USD vào năm 2030, tương ứng tốc độ tăng trưởng kép hàng năm (CAGR) 19,08% trong giai đoạn 2022 - 2030.
Song song với đà tăng này, năm 2026 được xác định là dấu mốc quan trọng trong chiến lược phát triển “kinh tế thể thao” quốc gia giai đoạn 2025 - 2030, tầm nhìn 2045.
Tuy nhiên, sau giai đoạn bùng nổ mở mới các phòng tập quy mô lớn từ năm 2020 đến 2023, thị trường bắt đầu ghi nhận sự phân hóa rõ nét. Mô hình thẻ hội viên (membership) truyền thống hiện chiếm khoảng 55% thị phần được dự báo sẽ đối diện với những nghi ngại ngày càng lớn về hiệu quả sử dụng thực tế từ phía người tiêu dùng.
Một trong những yếu tố tái định hình thị trường là sự thay đổi trong hành vi chi tiêu của thế hệ Gen Z và Millennials. Nếu trước đây, việc sở hữu thẻ tập dài hạn được xem như cam kết với mục tiêu sức khỏe, thì hiện nay, tính linh hoạt và hiệu quả tài chính trở thành ưu tiên hàng đầu.
Nhóm khách hàng trẻ có xu hướng dè dặt với các hợp đồng ràng buộc dài hạn. Thay vào đó, họ tìm kiếm những giải pháp tập luyện linh hoạt, tối ưu ngân sách và cho phép kiểm soát chi phí dựa trên tần suất sử dụng thực tế. Cùng với đó, nhóm khách hàng bận rộn, làm việc theo ca hoặc người mới bắt đầu tập luyện cũng dần tỏ ra không phù hợp với môi trường đông đúc và áp lực từ các hoạt động bán gói tập tại các phòng gym truyền thống.
Chia sẻ với VnEconomy, anh Gia Quý (26 tuổi), hiện sinh sống và làm việc tại phường Bình Tiên (TP. Hồ Chí Minh), cho biết sau 4 năm tập gym, anh ưu tiên lựa chọn những phòng tập sạch sẽ, không quá đông, bảo đảm tính riêng tư và ít bị làm phiền. Tuy nhiên, yếu tố chi phí hợp lý vẫn là tiêu chí quan trọng trong quyết định của anh.
Anh Quý cũng cho biết từng đăng ký gói tập trọn năm, nhưng do công việc bận rộn và lịch sinh hoạt thay đổi nên có giai đoạn không duy trì đều đặn, dẫn tới lãng phí chi phí đã bỏ ra.
Theo ông Dominic Yee, Đồng sáng lập Solaya Collective - đơn vị phát triển và vận hành các mô hình khởi nghiệp từ Singapore và Việt Nam, xu hướng phát triển các phòng tập siêu nhỏ (micro-gym) tự động hóa, áp dụng cơ chế tính phí theo lượt đang nổi lên như một phương án thay thế đáng chú ý trên thị trường.
Trong bối cảnh đó, Solaya Collective vừa đưa The Gym Pod vào thị trường Việt Nam. Đây là mô hình phòng tập thông minh, cho phép người dùng đặt lịch và thanh toán trực tiếp qua ứng dụng, với mức chi phí được thiết kế ở ngưỡng dễ tiếp cận.
Nhiều người trẻ tại các đô thị lớn ưu tiên không gian tập luyện riêng tư, linh hoạt và tối ưu chi phí.Ông Nguyễn Minh Quang, đồng sáng lập Solaya Collective, cho biết Việt Nam được xem là thị trường đã sẵn sàng cho các mô hình fitness tích hợp công nghệ. Việc đưa các thương hiệu đề cao tính linh hoạt vào thị trường đồng thời cũng phản ánh định hướng đón đầu sự thay đổi trong hành vi tiêu dùng tại các đô thị lớn.
“Việt Nam có nền tảng thuận lợi cho các mô hình mới nhờ dân số trẻ, năng động và tốc độ đô thị hóa cao. Đồng thời, thị trường đang tồn tại khoảng trống giữa phân khúc phòng gym giá rẻ nhưng quá tải và các trung tâm cao cấp với mức phí cao, tạo dư địa cho những mô hình trung gian linh hoạt hơn”, ông Minh Quang nhận định.
Chia sẻ sâu hơn về chiến lược kinh doanh mô hình này tại Việt Nam, ông Damian Chow, nhà sáng lập The Gym Pod, cho biết mô hình trả tiền theo lượt giúp người dùng kiểm soát chi tiêu, chỉ thanh toán cho thời gian thực tế phát sinh. Mô hình self-service kết hợp cơ chế pay-per-use đang hướng tới giải quyết hai rào cản lớn của ngành fitness: chi phí vận hành của doanh nghiệp và chi phí chìm của khách hàng. Toàn bộ quy trình từ đặt lịch theo khung 30 phút, thanh toán đến điều chỉnh thiết bị, ánh sáng, nhiệt độ đều được thực hiện qua ứng dụng di động.
Mặt khác, lợi thế cạnh tranh của mô hình phòng tập nhỏ, riêng tư so với phòng tập truyền thống nằm ở cấu trúc chi phí tinh gọn. Nhờ loại bỏ đội ngũ bán hàng trực tiếp và nhân sự quản lý tại điểm tập thông qua hệ thống IoT, chi phí vận hành có thể giảm khoảng 25 - 30% so với phòng tập tầm trung.
Về giá dịch vụ, một phiên tập 30 phút dao động từ 55.000 - 75.000 đồng. Với thời lượng tập tiêu chuẩn khoảng 60 phút, chi phí trung bình cho một buổi tập vào khoảng 110.000 - 150.000 đồng, tối đa cho ba người sử dụng cùng lúc.
-Mộc Đình