The Latest News
Thủ tướng yêu cầu lập báo cáo tác động của AI tới các ngành, nghề
Văn phòng Chính phủ có Thông báo số 4/TB-VPCP kết luận của Thủ tướng Phạm Minh Chính tại Diễn đàn quốc gia về phát triển kinh tế số và xã hội số lần thứ 3.
PHỦ SÓNG 5G GẦN 59% DÂN SỐ, INTERNET VÀO TOP 20 THẾ GIỚITheo thông báo, chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và xã hội số thời gian qua có sự chuyển biến rõ nét về cả nhận thức, tư duy và hành động. Hạ tầng số đã có bước "đột phá" về năng lực, công nghệ và chất lượng. Phủ sóng 5G gần 59% dân số. Internet vào top 20 thế giới.
100% cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế đã dùng căn cước công dân gắn chip; thực hiện chi trả trợ cấp qua tài khoản ngân hàng cho khoảng 3 triệu người thuộc đối tượng bảo trợ xã hội và người có công với cách mạng với trên 40 nghìn tỷ đồng.
Dù vậy, phát triển kinh tế số, xã hội số vẫn còn tồn tại một số hạn chế, vướng mắc về thể chế, chính sách; dữ liệu số chưa đầy đủ; phát triển hạ tầng số chưa đồng bộ; nguồn nhân lực số còn yếu và thiếu; năng lực đổi mới sáng tạo và nghiên cứu - phát triển (RD) còn khiêm tốn; vấn đề an toàn an ninh mạng nhiều nơi còn chưa được quan tâm đúng mức; lừa đảo trực tuyến, lộ lọt thông tin cá nhân vẫn còn diễn biến rất phức tạp…
SẼ CÓ KẾ HOẠCH ĐÀO TẠO LẠI, NÂNG CẤP KỸ NĂNG CHO NGƯỜI LAO ĐỘNGĐể khắc phục những tồn tại, hạn chế nêu trên nhằm thúc đẩy phát triển mạnh mẽ kinh tế số, xã hội số trong thời gian tới, Thủ tướng đưa ra các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, đột phá như sau.
Về công nghiệp, đẩy mạnh số hóa và tái cấu trúc các ngành công nghiệp; sớm hình thành các "Tổ hợp công nghiệp kỹ thuật số", "Siêu trung tâm dữ liệu" có quy mô lớn, có giá trị gia tăng và sức lan tỏa lớn.
Về nông nghiệp, phát triển "Nông nghiệp công nghệ cao - Nông dân số - Nông thôn thông minh".
Về dịch vụ, thương mại, tập trung xây dựng các hệ sinh thái dịch vụ số thông minh, hiện đại; kích cầu tiêu dùng trên môi trường số, phát triển mạnh mẽ thương mại điện tử; thanh toán không dùng tiền mặt. Phát động, triển khai hiệu quả chương trình "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam trên không gian số".
Về môi trường, thúc đẩy mạnh mẽ "chuyển đổi kép" - kết hợp chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số để chuyển từ "bị động, chống đỡ" sang "chủ động thích ứng" với biến đổi khí hậu, thông qua tăng cường giám sát tự động...
Về xã hội số, đẩy mạnh chuyển đổi số để "tối ưu hóa" các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế (Sổ sức khỏe điện tử, bệnh án điện tử…), giáo dục (học bạ số, quản lý học sinh, sinh viên…), lao động (tuyển dụng, đào tạo, phúc lợi xã hội...). Xây dựng mạng lưới an sinh xã hội số minh bạch, hiệu quả trên tinh thần "không ai bị bỏ lại phía sau"...
Thủ tướng giao Bộ Khoa học và Công nghệ và các bộ, ngành khẩn trương xây dựng các văn bản hướng dẫn các Luật liên quan đến khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã được Quốc hội thông qua. Sớm nghiên cứu hoàn thiện khung pháp lý hợp tác công - tư cho lĩnh vực công nghệ, áp dụng cơ chế thử nghiệm cho mô hình kinh doanh mới.
Bộ Khoa học và Công nghệ tiếp thu đầy đủ ý kiến tham luận của các đại biểu tại Diễn đàn, hoàn thiện trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình phát triển kinh tế số, xã hội giai đoạn 2026-2030.
Bộ Công an chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan xây dựng và trình ban hành Khung Kinh tế dữ liệu quốc gia và lộ trình triển khai, trong đó xây dựng cơ chế chia sẻ dữ liệu công - tư và khung pháp lý về định giá, thương mại hóa, khai thác và quản trị dữ liệu, hoàn thành trong tháng 01/2026.
Triển khai đồng bộ các giải pháp để thu hút các nguồn vốn đầu tư cho phát triển kinh tế số, xã hội số theo nguyên tắc "đầu tư công dẫn dắt đầu tư tư, kích hoạt mọi nguồn lực cho xã hội, tư nhân là động lực và FDI là đòn bẩy công nghệ".
Thủ tướng yêu cầu đẩy nhanh phủ sóng 5G trên toàn quốc; phát triển nền tảng điện toán đám mây Việt Nam, bảo đảm năng lực xử lý dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo. Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ cùng với các trường, doanh nghiệp nhanh chóng triển khai có hiệu quả Chương trình "Học từ làm".
Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với Bộ Nội vụ, Bộ Khoa học và Công nghệ và các đơn vị liên quan xây dựng Báo cáo tổng thể về các ngành, nghề bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi trí tuệ nhân tạo để xây dựng kế hoạch đào tạo lại, nâng cấp, chuyển đổi kỹ năng cho người lao động, trình Thủ tướng trong quý 1/2026.
HOÀN THIỆN VÀ TRÌNH ĐỀ ÁN HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG THÁNG 1Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì khẩn trương hoàn thiện Đề án hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số, trình Thủ tướng Chính phủ trong tháng 1/2026; xây dựng Kế hoạch hành động triển khai Đề án sau khi được phê duyệt trong quý 1/2026.
Bộ Công an chủ trì nghiên cứu, xây dựng và tổ chức triển khai hiệu quả các giải pháp giảm thiểu các tác động tiêu cực trên không gian mạng, nhất là cho các nhóm yếu thế (như trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật, đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới hải đảo…).
Bộ Công Thương đẩy nhanh tiến độ, sớm kết thúc đàm phán và hoàn thành thủ tục để Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Hiệp định Đối tác Kinh tế số (DEPA).
Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với doanh nghiệp công nghệ nghiên cứu, xây dựng và tổ chức triển khai hiệu quả các giải pháp giảm thiểu các tác động tiêu cực trên không gian mạng, nhất là cho các nhóm yếu thế.
Đồng thời, đẩy mạnh triển khai phong trào "Bình dân học vụ số" với tinh thần "Đi từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng người", các chương trình phổ cập kỹ năng số, kỹ năng an toàn thông tin cho người dân, doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh.
-Bạch Dương
Sản xuất nông nghiệp năm 2025 tăng trưởng bứt phá, ấn tượng nông lâm thủy sản
Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), năm 2025, tổng sản lượng lương thực có hạt thu hoạch trên cả nước đạt 47,9 triệu tấn, tăng 96,4 nghìn tấn so với năm 2024. Trong đó: ngô đạt 4,4 triệu tấn, tăng 7,8 nghìn tấn; sản lượng lúa thu hoạch đạt 43,5 triệu tấn, tăng 88,6 nghìn tấn so với năm trước.
DIỆN TÍCH LÚA GIẢM, SẢN LƯỢNG THU HOẠCH VẪN TĂNGTổng diện tích trồng lúa các vụ cả năm 2025 ước đạt 7,13 triệu ha, giảm 1,1 nghìn ha so với năm 2024, chủ yếu do chuyển đổi một phần đất lúa sang cây trồng có hiệu quả kinh tế cao hơn và đất phi nông nghiệp.
Tuy nhiên, nhờ áp dụng giống mới và kỹ thuật canh tác cải tiến, năng suất lúa đạt 61,1 tạ/ha, tăng 0,1 tạ/ha; sản lượng đạt 43,5 triệu tấn, tăng 88,6 nghìn tấn.
Trong đó, vụ lúa đông xuân 2025 gieo trồng gần 3,0 triệu ha, tăng 15,7 nghìn ha. Năng suất đạt 68,6 tạ/ha, giảm nhẹ do thời tiết bất lợi và sâu bệnh cục bộ, nhưng sản lượng vẫn đạt 20,4 triệu tấn, tăng 32,1 nghìn tấn.
Vụ lúa hè thu chịu ảnh hưởng lớn của mưa bão và lũ lụt, đặc biệt tại Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Diện tích giảm 10,8 nghìn ha, năng suất giảm 1,0 tạ/ha, khiến sản lượng giảm 269,1 nghìn tấn. Vụ lúa thu đông tại Đồng bằng sông Cửu Long và Tây Ninh gieo trồng 716,6 nghìn ha, năng suất tăng, sản lượng đạt 4,21 triệu tấn.
Vụ lúa mùa, cả nước gieo trồng 1,5 triệu ha, năng suất tăng mạnh lên 52,4 tạ/ha, giúp sản lượng đạt 8,07 triệu tấn, tăng hơn 314 nghìn tấn. Miền Bắc phục hồi rõ rệt sau năm 2024 bị ảnh hưởng nặng bởi bão, đặc biệt vùng Đồng bằng sông Hồng.
CÂY LÂU NĂM LÀ ĐIỂM SÁNG CỦA NGÀNH TRỒNG TRỌTNăm 2025, diện tích gieo trồng và sản lượng một số cây hằng năm tiếp tục có sự điều chỉnh theo hướng thu hẹp những cây trồng có hiệu quả kinh tế thấp và mở rộng nhóm cây trồng có giá trị cao hơn. Diện tích ngô đạt 865,6 nghìn ha, giảm 5,9 nghìn ha so với năm trước, nhưng sản lượng vẫn ước đạt 4,4 triệu tấn, tăng 7,8 nghìn tấn.
Diện tích lạc đạt 144,3 nghìn ha, giảm 4,2 nghìn ha, sản lượng ước đạt 388,1 nghìn tấn, giảm 9,1 nghìn tấn. Diện tích đậu tương đạt 26,3 nghìn ha, giảm 2,2 nghìn ha, sản lượng ước đạt 43,3 nghìn tấn, giảm 2,8 nghìn tấn. Diện tích khoai lang đạt 77,0 nghìn ha, giảm 4,0 nghìn ha, sản lượng ước đạt 929,0 nghìn tấn, giảm 43,9 nghìn tấn.
Trong khi đó, sản xuất rau các loại tiếp tục tăng. Diện tích rau năm 2025 ước đạt 1.002,9 nghìn ha, tăng 3,1 nghìn ha so với năm trước; sản lượng thu hoạch đạt 19,6 triệu tấn, tăng 519,5 nghìn tấn.
Sản xuất cây lâu năm tiếp tục khởi sắc nhờ điều kiện thời tiết tương đối phù hợp với quá trình sinh trưởng, đặc biệt trong giai đoạn ra hoa, đậu quả. Việc triển khai các chương trình kết nối tiêu thụ sản phẩm, xây dựng chuỗi giá trị, cấp mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc, ứng dụng thương mại điện tử và mở rộng thị trường xuất khẩu góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất và tạo đầu ra ổn định.
Nhóm cây công nghiệp lâu năm có diện tích ước đạt 2.195,8 nghìn ha, tăng 0,5% so với năm 2024. Trong đó, sản lượng cà phê đạt 2.116,1 nghìn tấn, tăng 5,0%; cao su đạt 1.346,1 nghìn tấn, tăng 1,4%; chè búp đạt 1.161,4 nghìn tấn, tăng 0,6%; hồ tiêu đạt 274,8 nghìn tấn, tăng 4,8%; riêng điều đạt 293,0 nghìn tấn, giảm 4,3%. Sản lượng dừa đạt 2.373,8 nghìn tấn, tăng 4,1%, chủ yếu tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Diện tích cây ăn quả đạt 1.311,3 nghìn ha, tăng 0,4%. Sản lượng chuối đạt 3.192,8 nghìn tấn; sầu riêng 1.820,9 nghìn tấn; mít 1.402,2 nghìn tấn; thanh long 1.203,7 nghìn tấn; xoài 1.188,0 nghìn tấn; nhãn 666,3 nghìn tấn; vải 408,8 nghìn tấn; cam 1.886,8 nghìn tấn.
SẢN LƯỢNG GỖ THU HOẠCH TĂNG GẦN 7%Liên quan đến lĩnh vực Lâm nghiệp, Cục Thống kê cho hay trong quý 4/2025, diện tích rừng trồng mới tập trung đạt 103,5 nghìn ha, giảm 0,7% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 15,7 triệu cây, giảm 5,9%; sản lượng gỗ khai thác đạt 7.752,3 nghìn m3, tăng 4,2%.
Tính chung năm 2025, diện tích rừng trồng mới tập trung đạt 323,3 nghìn ha, tăng 6,4%; số cây trồng phân tán đạt 85,3 triệu cây, giảm 0,3%; sản lượng gỗ khai thác đạt 25.616,0 nghìn m3, tăng 6,9% so với năm 2024.
Một số địa phương có sản lượng gỗ khai thác tăng cao gồm: Quảng Trị tăng 14,1%; Quảng Ngãi tăng 11,3%; Cà Mau tăng 11,1%; Thái Nguyên tăng 9,7%; Thanh Hóa tăng 9,4%.
Diện tích rừng bị thiệt hại trong quý 4/2025 là 129,3 ha, giảm 28,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, diện tích rừng bị chặt, phá 117,7 ha, giảm 34,7%; diện tích rừng bị cháy 11,6 ha, gấp 7,4 lần so với quý 4 của năm 2024. Tính chung năm 2025, diện tích rừng bị thiệt hại là 1.127,6 ha, giảm 30,7%, trong đó diện tích rừng bị chặt, phá là 801,2 ha, giảm 9,5%; diện tích rừng bị cháy là 326,4 ha, giảm 56,0%.
SẢN LƯỢNG THỦY SẢN TĂNG 3%Đối với lĩnh vực thủy sản, Cục Thống kê cho biết trong quý 4/2025, sản lượng thủy sản ước đạt 2.689,1 nghìn tấn, tăng 2,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 1.852,4 nghìn tấn, tăng 2,6%; tôm đạt 417,7 nghìn tấn, tăng 4,9%; thủy sản khác đạt 419,0 nghìn tấn, tăng 1,0%.
Tính chung năm 2025, sản lượng thủy sản đạt 9.947,5 nghìn tấn, tăng 3,0% so với năm 2024. Bao gồm: cá 6.962,4 nghìn tấn, tăng 2,7%; tôm 1.522,2 nghìn tấn, tăng 5,5%; thủy sản khác 1.462,9 nghìn tấn, tăng 1,9% so với năm 2024.
Sản lượng thủy sản nuôi trồng thu hoạch trong quý 4/2025 đạt 1.826,7 nghìn tấn, tăng 4,9% so với quý 4/2024. Trong đó, cá đạt 1.238,3 nghìn tấn, tăng 4,8%; tôm đạt 382,6 nghìn tấn, tăng 5,5%; thủy sản khác đạt 205,8 nghìn tấn, tăng 4,1%. Tính chung năm 2025, sản lượng nuôi trồng đạt 6.116,8 nghìn tấn, tăng 5,1%, gồm: cá 4.035,0 nghìn tấn, tăng 4,9%; tôm 1.381,7 nghìn tấn, tăng 6,1%; thủy sản khác 700,1 nghìn tấn, tăng 4,4%.
Tại đồng bằng sông Cửu Long, nuôi cá tra tiếp tục phát triển; sản lượng cá tra quý 4/2025 đạt 592,9 nghìn tấn, tăng 5,2% so với quý 4/2024. Tính chung năm 2025, sản lượng cá tra đạt 1.938,8 nghìn tấn, tăng 5,0% so với năm 2024.
Nuôi tôm nước lợ chuyển mạnh sang ứng dụng công nghệ cao, nhất là tôm thẻ chân trắng; sản lượng tôm thẻ quý 4 đạt 274,7 nghìn tấn, tăng 6,3%, cả năm đạt 994,4 nghìn tấn, tăng 6,9%. Sản lượng tôm sú quý 4 đạt 84,1 nghìn tấn, tăng 3,4%, cả năm đạt 296,7 nghìn tấn, tăng 3,6%.
Sản lượng thủy sản khai thác quý 4/2025 đạt 862,4 nghìn tấn, giảm 1,6%, trong đó cá đạt 614,1 nghìn tấn, giảm 1,5%; tôm đạt 35,1 nghìn tấn, giảm 2,0%. Tính chung năm 2025, sản lượng thủy sản khai thác đạt 3.830,7 nghìn tấn, giảm 0,2%, gồm cá 2.927,4 nghìn tấn, giảm 0,2%; tôm 140,5 nghìn tấn, giảm 0,4%; thủy sản khác 762,8 nghìn tấn, giảm 0,3%. Sản lượng khai thác biển quý 4 đạt 808,4 nghìn tấn, giảm 1,4%; cả năm đạt 3.638,6 nghìn tấn, giảm 0,1%.
Nguyên nhân khiến sản lượng khai thác giảm là do nhiều đợt bão, áp thấp nhiệt đới làm ảnh hưởng tới hoạt động khai thác hải sản biển và việc siết chặt chế tài xử phạt hành vi khai thác thủy sản bất hợp pháp theo Nghị định số 38/2024/NĐ-CP.
Cục Thống kê-Chu Khôi
Tháo gỡ vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ dự án Cảng hàng không quốc tế Gia Bình
Tại hội nghị, các đại biểu đã tập trung phân tích những khó khăn, vướng mắc lớn trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng và tái định cư, cho thấy áp lực rất lớn đối với tiến độ dự án trọng điểm này.
Theo báo cáo và ý kiến thảo luận, quá trình triển khai dự án gặp nhiều thách thức do quy mô thu hồi đất lớn, liên quan đến nhiều loại đất và ảnh hưởng đến hàng chục nghìn người dân. Trong khi đó, thời gian thực hiện dự án gấp, hệ thống văn bản pháp lý và các quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết phải vừa triển khai vừa điều chỉnh, dẫn đến phát sinh nhiều nội dung cần xem xét, bổ sung.
Một số vướng mắc nổi bật được chỉ ra như: nhà đầu tư chưa hoàn thành việc cắm mốc ranh giới quy hoạch khu tái định cư và nghĩa trang ngoài thực địa; nhiều chủ sử dụng đất không có mặt tại địa phương; một số thửa đất sau dồn điền đổi thửa chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, gây khó khăn cho công tác xác định nguồn gốc đất.
Đối với tài sản trên đất, nhiều công trình nhà ở, đình, chùa, mộ phần có kiến trúc đặc thù không thể áp dụng bảng giá hiện hành, buộc phải thuê đơn vị tư vấn lập dự toán nhưng việc triển khai gặp không ít trở ngại. Ngoài ra, một số tài sản có giá trị lớn không đủ điều kiện bồi thường do sử dụng sai mục đích, tự ý chuyển đổi hoặc giao đất không đúng thẩm quyền trong quá trình quản lý trước đây.
Riêng công tác bố trí tái định cư cũng đặt ra nhiều vấn đề. Diện tích đất ở bị thu hồi lớn, trong khi quy mô các lô đất tái định cư theo quy hoạch tối đa 100 m2/lô, khiến việc tạo sự đồng thuận trong nhân dân gặp khó khăn.
Trên cơ sở đó, một số đại biểu đề nghị sớm ban hành quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ tái định cư trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh (có cập nhật Nghị quyết 254 của Quốc hội). Đồng thời nghiên cứu ban hành quy định nội dung hỗ trợ đối với tài sản trên đất không được bồi thường.
Các sở, ngành liên quan được yêu cầu khẩn trương hoàn thiện, trình phê duyệt các quy hoạch; tham mưu ban hành chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; phối hợp với nhà đầu tư hoàn tất thủ tục trình cấp có thẩm quyền phê duyệt chủ trương đầu tư; sớm cắm mốc ranh giới ngoài thực địa và bảo đảm bố trí kịp thời nguồn kinh phí chi trả theo phương án đã được phê duyệt. Chính quyền cấp cơ sở tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, vận động, xác nhận nguồn gốc đất đai và tài sản trên đất làm căn cứ lập phương án bồi thường.
Phát biểu tại hội nghị, lãnh đạo tỉnh nhấn mạnh yêu cầu duy trì tiến độ, tập trung tháo gỡ dứt điểm các điểm nghẽn, nâng cao tinh thần trách nhiệm trong tổ chức thực hiện. Đồng thời, giao các sở, ngành phối hợp nghiên cứu giải pháp bảo tồn, phát triển các làng nghề truyền thống bị ảnh hưởng bởi dự án; xem xét các chính sách hỗ trợ sinh kế, ổn định đời sống cho người dân sau tái định cư.
Công tác kiểm kê, chi trả bồi thường, xây dựng khu tái định cư và di chuyển mộ phần được yêu cầu triển khai đồng bộ, chặt chẽ. Đối với mộ vô chủ, tỉnh yêu cầu nghiên cứu phương án thiết kế phù hợp, bảo đảm yếu tố tâm linh, tiết kiệm quỹ đất và tránh lãng phí.
Dự án Cảng hàng không quốc tế Gia Bình có tổng diện tích gần 2.000 ha, triển khai trên địa bàn các xã Gia Bình, Lương Tài, Nhân Thắng và Lâm Thao, là một trong những dự án hạ tầng quy mô lớn, tác động sâu rộng đến phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh. Đến nay, công tác giải phóng mặt bằng đã đạt một số kết quả quan trọng, trong đó đất nông nghiệp đã được kê khai, kiểm kê và tạm ứng chi trả hơn 3.000 tỷ đồng cho trên 6.400 hộ dân; khoảng 10.000 ngôi mộ đã được kiểm kê. Các dự án tái định cư và nghĩa trang tại nhiều địa phương đang được triển khai, một số khu đã hoàn thành chi trả bồi thường đợt đầu với giá trị hàng trăm tỷ đồng.
-Đan Tiên
Ninh Bình thu ngân sách năm 2025 đạt hơn 77.000 tỷ đồng, tăng 33,4%
Theo số liệu công bố tại họp báo, tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) năm 2025 theo giá so sánh năm 2010 ước đạt 187.794 tỷ đồng, tăng 10,65% so với năm 2024, xếp thứ 3 trong tổng số 34 tỉnh, thành phố. Mức tăng trưởng này cho thấy nền kinh tế địa phương tiếp tục phục hồi vững chắc, duy trì đà tăng cao trong bối cảnh kinh tế chung còn nhiều biến động.
KINH TẾ DUY TRÌ TĂNG TRƯỞNG CAO, QUY MÔ TIẾP TỤC MỞ RỘNGTrong các khu vực kinh tế, công nghiệp và xây dựng tiếp tục giữ vai trò động lực chính của tăng trưởng với mức tăng 13,7%. Khu vực dịch vụ tăng 9,62%, đóng góp tích cực nhờ hoạt động thương mại, vận tải và du lịch duy trì đà tăng cao. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,53%, bảo đảm ổn định sản xuất và cung ứng cho thị trường trong tỉnh.
Toàn cảnh buổi họp báoQuy mô nền kinh tế năm 2025 của Ninh Bình ước đạt 342.812 tỷ đồng. GRDP bình quân đầu người đạt 89,2 triệu đồng, tăng 13% so với năm trước, phản ánh mức sống của người dân tiếp tục được cải thiện.
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 11,04%; công nghiệp và xây dựng chiếm 47,05%; dịch vụ chiếm 34,39%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 7,52%. So với năm 2024, tỷ trọng công nghiệp – xây dựng tăng, trong khi khu vực nông nghiệp tiếp tục giảm dần, phù hợp với định hướng phát triển chung của tỉnh.
THU NGÂN SÁCH TĂNG MẠNH, ĐẦU TƯ VÀ THƯƠNG MẠI KHỞI SẮCMột trong những điểm nhấn nổi bật của bức tranh kinh tế Ninh Bình năm 2025 là kết quả thu ngân sách Nhà nước. Tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt 77.141 tỷ đồng, chiếm 46% tổng thu và tăng 33,4% so với năm 2024. Đây là mức tăng khá cao, phản ánh hiệu quả trong công tác quản lý thu, mở rộng nguồn thu cũng như sự phục hồi rõ nét của các hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Cùng với đó, vốn đầu tư phát triển trên địa bàn tỉnh đạt 178.802 tỷ đồng, tăng 26% so với năm 2024. Dòng vốn đầu tư tăng mạnh đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, mở rộng năng lực sản xuất và tạo thêm việc làm.
Năm 2025, toàn tỉnh thu hút được 328 dự án mới, trong đó có 244 dự án trong nước và 84 dự án có vốn đầu tư nước ngoài. Hoạt động sản xuất, kinh doanh tiếp tục sôi động với 8.723 doanh nghiệp và đơn vị trực thuộc được thành lập mới, bên cạnh 3.062 doanh nghiệp, đơn vị tạm ngừng kinh doanh có thời hạn.
Hoạt động thương mại và dịch vụ tiếp tục tăng trưởng ấn tượng. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ đạt 273.341 tỷ đồng, tăng 18,9% so với năm trước. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước đạt 51,36 tỷ USD, tăng 78,2% so với năm 2024; cán cân thương mại xuất siêu 2,44 tỷ USD, cho thấy năng lực sản xuất và xuất khẩu của các doanh nghiệp trên địa bàn được nâng lên rõ rệt.
Chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm 2025 tăng 3,42% so với năm trước, cơ bản được kiểm soát, góp phần ổn định đời sống người dân và hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Ông Lê Mạnh Hồng - Trưởng Thống kê, Thống kê tỉnh Ninh Bình thông tin tại buổi họp báoHoạt động vận tải năm 2025 tăng trưởng tích cực, đáp ứng tốt nhu cầu đi lại của Nhân dân và vận chuyển hàng hóa. Đặc biệt, du lịch tiếp tục là điểm sáng của nền kinh tế. Số lượt khách đến các điểm tham quan, du lịch trên địa bàn tỉnh đạt hơn 19,4 triệu lượt người, tăng 26,6% so với năm 2024, tạo động lực lan tỏa sang các ngành dịch vụ liên quan.
Tại họp báo, các phóng viên đã tập trung làm rõ nhiều nội dung được dư luận quan tâm, trong đó có kết quả thu ngân sách Nhà nước và các giải pháp thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách năm 2026; công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông; cung cầu hàng hóa và bình ổn thị trường trước, trong và sau Tết Nguyên đán Bính Ngọ. Các ý kiến, câu hỏi đã được đại diện các sở, ngành và Thống kê tỉnh Ninh Bình trao đổi, làm rõ trên tinh thần thẳng thắn, trách nhiệm.
Phát biểu tại họp báo, ông Lê Mạnh Hồng, Trưởng Thống kê tỉnh Ninh Bình, cảm ơn sự phối hợp của các sở, ngành và sự đồng hành của các cơ quan báo chí trong việc cung cấp, lan tỏa thông tin kinh tế – xã hội của tỉnh. Đồng thời, ông mong muốn các ngành, các cấp tiếp tục tăng cường công tác dự báo, triển khai hiệu quả các mục tiêu tăng trưởng kinh tế gắn với bảo đảm an sinh xã hội và nâng cao đời sống người dân, qua đó tạo nền tảng vững chắc cho phát triển trong năm 2026 và các năm tiếp theo.
-Nguyễn Thuấn
Xác lập mục tiêu kiểm soát tỷ lệ đất thoái hóa toàn quốc không không quá 40%
Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa có Quyết định 5930/QĐ-BNNMT ban hành Chương trình hành động quốc gia chống sa mạc hóa giai đoạn đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050
Chương trình thể hiện trách nhiệm của Việt Nam và nỗ lực của quốc gia chung tay hiện thực hóa các mục tiêu Công ước chống sa mạc hóa của Liên hợp quốc và các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia.
Phòng, chống sa mạc hóa là nhiệm vụ trọng điểm, góp phần bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học, quản lý bền vững tài nguyên rừng, nguồn nước và đất đai, từng bước ổn định, nâng cao đời sống và thu nhập của người dân, góp phần xóa đói, giảm nghèo, giải quyết vững chắc nhiệm vụ định canh định cư, kết hợp chặt chẽ giữa mục tiêu phòng, chống sa mạc hóa của Chương trình với các chiến lược quốc gia, của ngành và địa phương với việc thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững (SDGs) và mục tiêu thiên niên kỷ của Liên Hợp quốc.
Chương trình hướng tới việc triển khai chủ động, đồng bộ và hiệu quả công tác phòng, chống sa mạc hóa ở Việt Nam, góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững của quốc gia, bộ, ngành và địa phương, đồng thời khẳng định các cam kết của Việt Nam trong việc thực hiện Công ước chống sa mạc hóa của Liên Hợp quốc và các cam kết quốc tế có liên quan.
Chương trình hành động quốc gia chống sa mạc hóa được triển khai trên phạm vi các vùng đất nông – lâm nghiệp bị sa mạc hóa trên cả nước, trong đó ưu tiên khắc phục các loại hình thoái hóa đất điển hình ở 4 vùng. Ảnh minh họaMục tiêu đến năm 2030 khoanh vùng và định vị các khu vực đất bị sa mạc hoa toàn quốc và theo các vùng kinh tế xã hội ở các mức độ và nguyên nhân; tăng mật độ các trạm khí tượng thủy văn phục vụ công tác theo dõi, giám sát và dự báo, cảnh báo sớm.
Xây dựng quy hoạch, kế hoạch các khu vực sa mạc hóa theo hướng thích ứng và giảm thiểu tác động của khô hạn và thoái hóa đất thông qua sử dụng bền vững đất đai, giữ ổn định 3,5 triệu ha đất trồng lúa; sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả nguồn nước; bảo đảm tỷ lệ che phủ rừng ổn định ở mức 42-43%, nâng cao chất lượng rừng tự nhiên, năng suất và hiệu quả rừng trồng và các hệ thống nông lâm kết hợp để giảm thiểu lượng bốc hơi tiềm năng vào mùa khô; bảo tồn và sử dụng bền vững đất ngập nước.
Về dài hạn, đến năm 2050, tổng diện tích đất bị thoái hóa không vượt quá 40% tổng diện tích đất tự nhiên toàn quốc (trong đó diện tích đất bị thoái hóa nặng- có nguy cơ sa mạc hóa cao- không vượt quá 4,5%) thông qua phục hồi một phần diện tích đất bị thoái hóa nhẹ, trung bình và ngăn ngừa sự gia tăng đất thoái hóa nặng. Thu nhập bình quân của người dân sống tại các khu vực bị ảnh hưởng bởi sa mạc hóa không thấp hơn 50% mức thu nhập bình quân đầu người của cả nước.
Chương trình hành động quốc gia chống sa mạc hóa được triển khai trên phạm vi các vùng đất nông – lâm nghiệp bị sa mạc hóa trên cả nước, trong đó ưu tiên khắc phục các loại hình thoái hóa đất điển hình ở 4 vùng.
Cụ thể, vùng Trung du và miền núi phía Bắc ưu tiên các giải pháp hạn chế và phục hồi đất bị xói mòn, rửa trôi và cải thiện độ phì nhiêu của đất. Vùng Bắc Trung Bộ ưu tiên các giải pháp hạn chế và phục hồi đất bị suy giảm độ phì và đất bị khô hạn như phủ xanh đất trống đồi núi trọc.
Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên ưu tiên các giải pháp hạn chế và phục hồi đất bị suy giảm độ phì và đất bị khô hạn. Vùng Đồng bằng sông Hồng, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long ưu tiên các giải pháp hạn chế và phục hồi đất bị mặn hóa và phèn hóa.
Chương trình hành động quốc gia chống sa mạc hóa giai đoạn đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 xác định rõ khung giải pháp tổng thể với 4 trụ cột: Khoa học, công nghệ và dữ liệu; canh tác thông minh và phục hồi đất; nâng cao năng lực và truyền thông; chính sách và hợp tác quốc tế.
-Tùng Dương
Nhóm doanh nghiệp có vốn Nhà nước sẽ là tâm điểm chú ý dòng tiền trong năm 2026?
Một Nghị quyết riêng về kinh tế Nhà nước dự kiến sẽ được ban hành trong năm 2026, với kỳ vọng tạo ra cơ chế điều hành linh hoạt hơn cho các doanh nghiệp có vốn Nhà nước trong quá trình tái cấu trúc, mở rộng hợp tác đầu tư, qua đó nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực quản trị, theo nhận định của Chứng khoán MBS.
Hiện nay, các doanh nghiệp có vốn Nhà nước đang đóng góp khoảng 29% tổng sản phẩm trong nước (GDP), nắm giữ vị thế đầu ngành xét trên nhiều tiêu chí như tổng tài sản, doanh thu và thị phần, thậm chí sở hữu lợi thế độc quyền trong một số lĩnh vực kinh tế trọng yếu như hàng không, dầu khí.
Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động của khu vực này nhìn chung vẫn còn khiêm tốn, chưa khai thác đầy đủ năng lực quản lý và sử dụng vốn. Trong bối cảnh đó, nếu các nguồn lực được khơi thông thông qua cải cách thể chế, doanh nghiệp Nhà nước có thể tăng tốc mạnh mẽ trong giai đoạn tới.
Tương tự như cú hích chính sách từ Nghị quyết số 68 về phát triển kinh tế tư nhân, trong năm 2026, MBS kỳ vọng nhóm doanh nghiệp niêm yết vốn Nhà nước sẽ trở thành điểm nhấn, đặc biệt là các doanh nghiệp đầu ngành, sở hữu năng lực tài chính vững vàng, lượng tiền mặt dồi dào, hiệu quả hoạt động cao với tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) trên 10%, trong khi định giá thị trường vẫn đang ở mức hấp dẫn.
Bên cạnh đó, Nghị quyết mới cũng được kỳ vọng sẽ tạo lập hành lang pháp lý vững chắc cho việc sắp xếp lại danh mục đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước, qua đó thúc đẩy tiến trình thoái vốn, niêm yết và cổ phần hóa các doanh nghiệp còn tồn đọng trong thời gian qua.
Gần đây, Bộ Tài chính đã đề xuất một số phương thức nhằm tháo gỡ vướng mắc cho hoạt động thoái vốn của Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC). Các giải pháp bao gồm: cho phép giảm giá khởi điểm tối đa 10% cho mỗi lần chào bán (trong trường hợp đấu giá hoặc thỏa thuận bán vốn không thành công), với số lần điều chỉnh không quá ba lần; đồng thời cho phép bán vốn theo lô, bao gồm cả các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả và chưa hiệu quả.
Thực tế, trong thời gian gần đây, SCIC đã ghi nhận những thương vụ thoái vốn thành công đáng chú ý. Cụ thể, SCIC đã chào bán thành công 98% cổ phần Công ty cổ phần Đầu tư nước sạch và Môi trường Việt Nam (Viwaseen, giao dịch trên thị trường UPCoM với mã VIW), trị giá 1.231 nghìn tỷ đồng, cho Tổng công ty cổ phần Xuất nhập khẩu và Xây dựng Việt Nam (Vinaconex, niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh với mã VCG).
Bên cạnh đó, 88% cổ phần Công ty cổ phần Điện tử và Tin học Việt Nam (Viettronics, UPCoM: VEC), trị giá 2.562 tỷ đồng, đã được bán cho Tập đoàn Geleximco. Những thương vụ này được xem là tín hiệu mở đầu cho làn sóng thoái vốn doanh nghiệp Nhà nước trở lại trong năm 2026.
Tính đến ngày 25/12/2025, chỉ số VN-Index đang giao dịch ở mức 15,8 lần hệ số giá trên lợi nhuận (P/E), cao hơn 16% so với mức trung bình ba năm gần đây là 13,6 lần, nhưng vẫn thấp hơn đáng kể so với đỉnh 21,0 lần của năm 2021. Tuy nhiên, khác với các chu kỳ tăng trưởng trước đây, thị trường chứng khoán Việt Nam hiện có mức độ tập trung cao, khi nhóm cổ phiếu Vingroup, bao gồm Vingroup (VIC), Vinhomes (VHM) và Vincom Retail (VRE), đang đóng góp khoảng 21% giá trị vốn hóa và tới 67% mức tăng điểm của chỉ số.
Về dài hạn, bất kỳ chu kỳ tăng giá bền vững nào cũng cần được xây dựng trên tăng trưởng lợi nhuận thực chất và mặt bằng định giá hợp lý. Với mức định giá hiện tại của cổ phiếu Vingroup (VIC) vào khoảng 14,0 lần P/E và 9,0 lần hệ số giá trên giá trị sổ sách (P/B), MBS cho rằng những lợi thế của doanh nghiệp này đã được phản ánh đầy đủ vào giá cổ phiếu.
Do đó, khi loại bỏ ảnh hưởng của VIC, P/E của VN-Index hiện chỉ còn khoảng 13,5 lần, trong khi mức trung bình năm 2025 là 12,2 lần. Điều này cho thấy, đà tăng của VN-Index trong thời gian qua, nếu không tính VIC, chủ yếu đến từ tăng trưởng lợi nhuận, thay vì từ việc nâng mặt bằng định giá (re-rating).
Trên cơ sở đó, MBS sử dụng vùng định giá mục tiêu 12,5 – 13,0 lần P/E cho năm 2026. Với kỳ vọng tăng trưởng lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết đạt 16% – 17%, chúng tôi dự báo VN-Index có thể đạt vùng 1.670 – 1.750 điểm vào cuối năm 2026.
Trong nửa đầu năm 2026, MBS duy trì quan điểm tích cực nhờ hiệu ứng “tin tốt đầu năm” và khả năng thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức được nâng hạng sau kỳ rà soát trung gian vào tháng 3. Theo đó, VN-Index có thể hướng tới vùng 1.860 điểm trong giai đoạn này.
Ngược lại, trong nửa cuối năm 2026, công ty chứng khoán thận trọng hơn khi cho rằng mặt bằng lãi suất mới sẽ dần tác động đến thanh khoản thị trường. Đồng thời, dòng tiền có xu hướng dịch chuyển một phần sang hoạt động sản xuất – kinh doanh, trong bối cảnh triển vọng phục hồi của khu vực sản xuất ngày càng rõ nét.
-Thu Minh
TPB chính thức sở hữu 51% tại Chứng khoán Tiên Phong
Công ty Cổ phần Chứng khoán Tiên Phong (mã OS-HOSE) thông báo thay đổi số lượng cổ phiếu có quyền biểu quyết, báo cáo kết quả chào bán cổ phiếu và Nghị quyết HĐQT công ty.
Theo đó, Chứng khoán Tiên Phong công bố đã hoàn tất đợt chào bán cổ phiếu riêng lẻ cho Ngân hàng TMCP Tiên Phong - TPBank (mã TPB-HOSE). Giao dịch được thực hiện vào ngày 31/12/2025.
Theo báo cáo mà ORS công bố, ORS đã phát hành gần 288 triệu cổ phiếu cho TPBank và số cổ phiếu này bị hạn chế chuyển nhượng trong vòng một năm kể từ ngày hoàn tất phát hành.
Với mức giá 12.500 đồng một cổ phiếu, TPS thu về gần 3.600 tỷ đồng, qua đó nâng vốn điều lệ lên 6.239 tỷ đồng và số lượng cổ phiếu có quyền biểu quyết tăng lên 623.930.904 cổ phiếu.
Nguồn vốn thu được sẽ được phân bổ vào nhiều hoạt động kinh doanh chính. Khoảng 60% được sử dụng cho hoạt động môi giới, cho vay ký quỹ và ứng trước tiền bán chứng khoán; 30% dành cho hoạt động tự doanh và phần còn lại cho các hoạt động đầu tư, kinh doanh khác. Việc giải ngân số vốn này dự kiến diễn ra trong năm 2026.
Sau đợt chào bán, tỷ lệ sở hữu của TPBank tại TPS tăng từ 9,01% lên hơn 318,2 triệu cổ phiếu, chiếm 51% và chính thức trở thành công ty mẹ, nắm quyền chi phối tại Chứng khoán Tiên Phong.
Được biết TPB đã công bố kết quả kinh doanh 9 tháng 2025 với thu nhập từ hoạt động kinh doanh (TOI) đạt 13,6 nghìn tỷ đồng (+5,5% cùng kỳ năm trước) và lợi nhuận trước thuế đạt 6,1 nghìn tỷ đồng (+10,7% cùng kỳ năm trước), hoàn thành lần lượt 76% và 73% dự báo cả năm của VCSC. Như vậy, so với cùng kỳ quý trước, TOI quý 3/2025 đã giảm 2,0% và lợi nhuận trước thuế giảm 6,7%, chủ yếu do khoản lỗ ngoại hối, trong khi các mảng dịch vụ cốt lõi ghi nhận mức tăng trưởng một chữ số trong cả thu nhập lãi ròng (NII) và tổng thu nhập phí ròng (NFI) thuần. Nhìn chung, kết quả kinh doanh 9 tháng 2025 của TPB phù hợp với dự báo của VCSC, dù cần thêm đánh giá chi tiết.
Theo VCSC, tăng trưởng tín dụng 9 tháng 2025 đạt 16,0%, cao hơn mức tăng trưởng toàn hệ thống là 13,4%. Động lực tăng trưởng đến từ mức tăng 18,3% của dư nợ cho vay khách hàng, trong khi dư nợ trái phiếu doanh nghiệp tiếp tục giảm 35,4%. Trong cơ cấu cho vay khách hàng, cho vay hộ gia đình đã tăng 15,6% so với đầu năm, và cho vay doanh nghiệp cũng ghi nhận mức tăng mạnh 20,8% so với đầu năm. Đáng chú ý, hoạt động cho vay đối với các chủ đầu tư BĐS ghi nhận mức tăng mạnh nhất, tăng 37,7% so với đầu năm và chiếm 9,9% tổng danh mục cho vay của TPB.
Tăng trưởng tiền gửi khách hàng 9 tháng 2025 đạt 7,2%. Tăng trưởng huy động vốn (bao gồm tiền gửi khách hàng và giấy tờ có giá) đạt mức 10,0%. Hầu hết các ngân hàng đã công bố kết quả kinh doanh quý 3, và đều cho thấy tăng trưởng huy động vốn tăng chậm hơn so với tăng trưởng tín dụng, qua đó khiến thanh khoản bị thắt chặt. Do đó, các ngân hàng – đặc biệt là những ngân hàng quy mô nhỏ như TPB – có thể sẽ cần phải tăng lãi suất huy động trong các tháng tới để đảm bảo có đủ nguồn vốn cho kế hoạch tăng trưởng tín dụng mạnh mẽ dự kiến trong quý 4/2025. Ngoài ra, tỷ lệ CASA quý 3/2025 của TPB chỉ đạt 19% (-3,5 điểm % cùng kỳ quý trước).
NIM 9 tháng 2025 giảm 66 điểm cơ bản cùng kỳ năm trước xuống còn 3,09%. So với cùng kỳ quý trước, NIM của TPB đã giảm 16 điểm cơ bản xuống muốn 3,03%, do phải chịu áp lực từ cả mức tăng của chi phí huy động và mức giảm của lợi suất cho vay trong quý.
Tổng thu nhập ngoài lãi (NOII) 9 tháng 2025 đạt 3,9 nghìn tỷ đồng (+25,1% cùng kỳ năm trước), nhờ được thúc đẩy bởi diễn biến khả quan của cả NFI thuần (+19,5% cùng kỳ năm trước) và lợi nhuận từ giao dịch ngoại hối (+7,3 lần cùng kỳ năm trước).
Chất lượng tài sản suy giảm nhẹ cùng kỳ quý trước trong quý 3/2025, với tỷ lệ nợ xấu tăng 18 điểm cơ bản cùng kỳ quý trước lên mức 2,23%. Tỷ lệ nợ nhóm 2 trên tổng dư nợ giảm nhẹ 2 điểm cơ bản cùng kỳ quý trước xuống mức 1,78% trong quý 3/2025. Ngoài ra, tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) của TPB đã giảm xuống mức 61,2% (-1,5 điểm % cùng kỳ quý trước). Tuy nhiên, tỷ lệ xử lý nợ xấu hàng năm trong 9 tháng 2025 vẫn thấp hơn đáng kể so với năm ngoái, chỉ đạt mức 0,59%, so với 1,46% trong 9 tháng 2024.
Tỷ lệ chi phí/thu nhập (CIR) 9 tháng 2025 đạt 39,3% (+4,6 điểm % cùng kỳ năm trước) do TOI tăng trưởng chậm trong khi chi phí hoạt động (OPEX) ghi nhận mức tăng 19,3% cùng kỳ năm trước.
-Hà Anh
Căng thẳng ở Venezuela: 5 tín hiệu giới đầu tư toàn cầu đang theo dõi
Căng thẳng chính trị tại Venezuela sau khi Mỹ bắt Tổng thống Nicolas Maduro vào cuối tuần vừa rồi đang trở thành tâm điểm thu hút sự chú ý của giới đầu tư toàn cầu. Nhà đầu tư đang ra sức tìm kiếm những tín hiệu về ảnh hưởng của sự kiện này đến thị trường tài chính.
Dưới đây là 5 tín hiệu quan trọng mà các nhà đầu tư theo dõi sát sao để đánh giá tác động của tình hình Venezuela lên thị trường tài chính - theo hãng tin CNBC:
CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG DẦU LỬA LÀ ĐIỀU QUAN TRỌNG
Việc liệu những diễn biến ở Venezuela có ảnh hưởng mang tính hệ thống đến thị trường dầu lửa hay không sẽ không nằm ở việc giá dầu tăng hay giảm ở thời điểm này, mà nằm ở việc thị trường có cấu trúc như thế nào.
Bởi vậy, thay vì chỉ tập trung vào giá dầu hiện tại, các nhà đầu tư đang chú ý đến cấu trúc của thị trường dầu lửa.
Theo ông Billy Leung, chiến lược gia đầu tư cao cấp tại công ty Global X ETFs, mấu chốt của vấn đề là liệu nguồn cung dầu có rơi vào tình trạng thắt chặt hay không. Hiện tại, giá dầu Brent vẫn duy trì quanh mức 60 USD và đường cong kỳ hạn của giá dầu vẫn ở trạng thái “contango” (giá hợp đồng tương lai cao hơn giá giao ngay), cho thấy nguồn cung dầu đang dồi dào và ít có lo ngại về sự gián đoạn nguồn cung từ Venezuela.
Nếu thị trường chuyển sang trạng thái “backwardation” (giá hợp đồng tương lai thấp hơn hợp đồng giao sau), điều đó sẽ cho thấy một vấn đề nguồn cung thực sự, nhưng điều này chưa xảy ra - ông Leung nhấn mạnh.
Khi một cuộc khủng hoảng thực sự đe dọa nguồn cung dầu, người mua thường đổ xô mua dầu ngay lập tức, đẩy giá dầu giao ngay lên cao hơn giá tương lai, dẫn tới cấu trúc thị trường dạng “backwardation” - dấu hiệu kinh điển của sự khan hiếm nguồn cung hoặc tâm lý hoảng loạn. Cho tới khi đường cong kỳ hạn của giá dầu đảo chiều, nhà đầu tư sẽ không xem những diễn biến ở Venezuela là một mối đe dọa thực sự đối với hệ thống năng lượng toàn cầu.
Quan điểm này đang phổ biến trên thị trường dầu lửa toàn cầu. Venezuela sản xuất khoảng 1 triệu thùng dầu mỗi ngày, chiếm khoảng 1% nguồn cung toàn cầu, và cơ sở hạ tầng quan trọng của ngành dầu khí nước này vẫn đang hoạt động bình thường.
Các chuyên gia năng lượng khác cũng lưu ý rằng việc liên minh OPEC+ của Tổ chức Các nước xuất khẩu dầu lửa (OPEC) và đồng minh đã tạm dừng tăng sản lượng, lượng tồn trữ dầu đang dồi dào và tình trạng dư thừa nguồn cung dầu toàn cầu sẽ tiếp tục là những yếu tố chi phối giá dầu.
MỨC ĐỘ SỢ HÃI TRÊN THỊ TRƯỜNG CỔ PHIẾU
Mức độ biến động của thị trường là một chỉ báo rõ ràng về việc nhà đầu tư có đang hoảng sợ hay không. Chỉ số biến động (VIX) theo dõi kỳ vọng về biến động trên thị trường chứng khoán Mỹ trong 30 ngày tới - được xem là một thước đo về nỗi sợ hãi ở Phố Wall - hiện đang ở mức 14,5 điểm, thấp hơn nhiều so với mức được cho là căng thẳng và cũng thấp hơn nhiều với mức tăng đột biến trên 50 điểm khi thị trường hứng các cú sốc thuế quan vào năm ngoái.
Chỉ số VIX cao hơn cho thấy sự không chắc chắn và căng thẳng gia tăng, và ngược lại, VIX giảm cho thấy tâm lý thoải mái của nhà đầu tư. Mức điểm hiện tại của chỉ số phản ánh rằng thị trường không sẵn sàng trả giá cao cho các biện pháp bảo vệ khỏi rủi ro cho dù căng thẳng địa chính trị đang tăng.
Hầu hết các thị trường chứng khoán chủ chốt ở châu Á tăng điểm trong phiên giao dịch ngày 5/1. Sắc xanh cũng phủ khắp các thị trường chứng khoán châu Âu vào đầu phiên cùng ngày.
Chỉ số MSCI All Country World Index của chứng khoán thế giới tăng gần 0,5% trước khi phiên giao dịch ngày 5/1 tại thị trường Mỹ bắt đầu.
LỢI SUẤT THỰC VÀ CHÊNH LỆCH LÃI SUẤT TÍN DỤNG
Lợi suất thực của trái phiếu kho bạc Mỹ và chênh lệch tín dụng cũng là những yếu tố mà nhà đầu tư đang theo dõi. Nếu tình hình Venezuela dẫn tới một cuộc định giá lại tài sản trên diện rộng, điều đó sẽ được thể hiện qua lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ giảm và kỳ vọng lạm phát tăng. Tuy nhiên, điều này đến hiện tại chưa xảy ra.
Lợi suất thực của trái phiếu kho bạc Mỹ vẫn đang giữ ở mức cao, một phần phản ánh gánh nặng nợ nần của Mỹ. Kỳ vọng lạm phát cũng ổn định, cho thấy chưa có thay đổi đáng kể nào trong triển vọng tăng trưởng hoặc lạm phát.
Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ hầu như không thay đổi, với lợi suất của các kỳ hạn 10 năm và 2 năm ổn định ở mức tương ứng gần 4,19% và 4,48%.
Ngoài ra, nhà đầu tư cũng đang theo dõi thị trường tín dụng, nơi thường báo hiệu tâm lý căng thẳng sớm hơn thị trường cổ phiếu - theo ông Leung. “Lợi suất cao và chênh lệch lợi suất của trái phiếu các thị trường mới nổi là những chỉ báo chính cần theo dõi. Bản thân trái phiếu Venezuela không mang lại thông tin, vì những trái phiếu này đã bị bán tháo từ trước và phần lớn không liên quan đến định giá rủi ro toàn cầu”, ông nói.
DIỄN BIẾN GIÁ VÀNG NÓI LÊN ĐIỀU GÌ?
Vàng đang là tài sản hưởng lợi chính từ các diễn biến ở Venezuela, sau khi đã liên tục lập kỷ lục trong năm 2025. Phiên ngày 5/1, giá vàng giao ngay trên thị trường quốc tế có lúc tăng gần 100 USD/oz. Tương tự, giá bạc tăng hơn 4%.
Những mức tăng giá này của kim loại quý cho thấy nhu cầu phòng ngừa rủi ro địa chính trị đang tăng. Ngân hàng Standard Chartered dự báo giá vàng sẽ đạt 4.800 USD/oz trong năm nay.
Vàng có khuynh hướng tăng khi các tài sản khác giảm giá, song vàng thường tăng giá mạnh nhất "khi mọi người mất niềm tin vào cách thế giới vận hành" - theo Giám đốc đầu tư Steve Brice của Standard Chartered.
KHẢ NĂNG TÁC ĐỘNG ĐẾN CÁC ĐIỂM NÓNG XUNG ĐỘT KHÁC
Giới chuyên gia cho rằng rủi ro dài hạn không nằm ở Venezuela, mà là liệu sự kiện ở Venezuela có dẫn tới thay đổi hành vi chính trị ở các khu vực khác trên thế giới hay không. Venezuela đã gia nhập một danh sách vốn đã dài các điểm nóng, bao gồm Trung Đông, Ukraine và Đài Loan. Cho đến nay, những rủi ro đó chưa ngăn được thị trường chứng khoán toàn cầu tăng điểm, dù đã đẩy giá kim loại quý tăng mạnh.
Nhìn chung, hầu hết các nhà đầu tư trên toàn cầu ở thời điểm hiện tại coi các diễn biến ở Venezuela là một cú sốc chiến thuật, thay vì một sự thay đổi căn bản đối với thị trường. “Diễn biến giá các tài sản đang cho thấy một phần bù rủi ro địa chính trị tạm thời hơn là một sự thay đổi mang tính cấu trúc”, CEO Jung In Yung của công ty Fibonacci Asset Management nhận xét.
-An Huy
Phó Tổng giám đốc HAGL thoái vốn 8,24% tại HNG
Công ty cổ phần Hoàng Anh Gia Lai (mã HAG-HOSE) thông báo về việc giao dịch cổ phiếu của Công ty cổ phần Nông nghiệp Quốc tế Hoàng Anh Gia Lai (mã HNG-UPCoM).
Theo đó, bà Võ Thị Mỹ Hạnh, thành viên HĐQT kiêm Phó Tổng Giám đốc HAGL đăng ký bán toàn bộ 91,3 triệu cổ phiếu HNG, tương đương 8,24% vốn điều lệ nhằm cơ cấu lại danh mục đầu tư. Giao dịch dự kiến thực hiện từ ngày 8/1 đến ngày 6/2/2026 theo phương thức thỏa thuận.
Động thái thoái vốn diễn ra trong bối cảnh HAGL Agrico ghi nhận kết quả kinh doanh không mấy khả quan, tuy nhiên vào phiên giao dịch đầu năm 2026, giá cổ phiếu này tăng 6,67% lên 6.400 đồng/cổ phiếu.
Kết thúc quý 3/2025, HNG ghi nhận lợi nhuận sau thuế trên BCTC riêng lỗ 63 tỷ đồng, so với cùng kỳ quý 3/2024 lỗ 188,9 tỷ đồng. Nguyên nhân chủ yếu do công ty ghi nhận lãi chênh lệch tỷ giá đánh giá lại công nợ có gốc ngoại tệ.
Còn lỗ sau thuế trên BCTC hợp nhất quý 3/2025 là 118,9 tỷ đồng, đánh dấu quý thứ 18 liên tiếp thua lỗ. Nguyên nhân chủ yếu do chi phí lãi vay phát sinh trong quý 3/2025 132,9 tỷ đồng biến động giảm so với cùng kỳ quý 3/2024 là 63,5 tỷ đồng, nguyên nhân do doanh thu và lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh trái cây và mủ cao su tăng so với cùng kỳ quý 3/2024.
Qua đó, nâng lỗ lũy kế lên 9.762 tỷ đồng và vốn chủ sở hữu giảm còn 1.601,1 tỷ đồng.
Năm 2025, HNG dự kiến doanh thu thuần đạt 1.088 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế lỗ 854 tỷ đồng. Tuy nhiên, cổ đông HNG đã thông qua mức đầu tư cho năm 2025 với tổng mức chi đầu tư dự kiến là 2.044 tỷ đồng, chủ yếu cho sản xuất trồng trọt là 1.543 tỷ và 501 tỷ cho đầu tư chăn nuôi bò.
Đáng chú ý, tại BCTC năm 2024 đã kiểm toán, bên kiểm toán đã có lưu ý đến Thuyết minh số 2.6 của báo cáo tài chính hợp nhất trình bày rằng, Nhóm Công ty đã phát sinh khoản lỗ thuần với số tiền là 1.281.878.648 ngàn đồng cho năm tài chính kết thúc ngày 31/12/2024. Đồng thời, cũng tại ngày này, Nhóm công ty có khoản lỗ lũy kế là 9.384.124.776 ngàn đồng và nợ ngắn hạn của Nhóm Công ty đã vượt quá tài sản ngắn hạn là 11.829.754.262 ngàn đồng. Bên kiểm toán cho biết với các điều kiện này cho thấy có sự tồn tại của yếu tố không chắc chắn trọng yếu có thể dẫn đến nghi ngờ đáng kẻ về khả năng hoạt động liên tục của Nhóm Công ty.
-Hà Anh
Vốn FDI thực hiện năm 2025 lập kỷ lục cao nhất trong vòng 5 năm
Theo số liệu vừa được Cục Thống kê (Bộ Tài chính) công bố chính thức, tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam tính đến ngày 31/12/2025 đạt 38,42 tỷ USD, tăng 0,5% so với năm trước. Đáng chú ý, số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thực hiện cả năm ước đạt 27,62 tỷ USD, tăng 9% so với cùng kỳ và xác lập mức cao nhất trong giai đoạn 2021-2025.
Cụ thể, trong năm 2025, cả nước có 4.054 dự án mới được cấp phép với tổng vốn đăng ký đạt 17,32 tỷ USD. So với năm trước, số lượng dự án tăng 20,1% nhưng số vốn đăng ký giảm 12,2%.
Trong cơ cấu vốn đăng ký cấp mới, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là hỏi nam châm” thu hút đầu tư lớn nhất với 9,80 tỷ USD, chiếm 56,5% tổng vốn. Lĩnh vực kinh doanh bất động sản đứng thứ hai với 3,67 tỷ USD, chiếm 21,2%, trong khi các ngành còn lại đạt 3,85 tỷ USD.
Về đối tác đầu tư, trong số 90 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án cấp phép mới tại Việt Nam, Singapore giữ vị trí dẫn đầu với vốn đăng ký đạt 4,84 tỷ USD, chiếm 27,9%. Tiếp theo lần lượt là Trung Quốc với 3,64 tỷ USD (21%), Hồng Công (Trung Quốc) với 1,73 tỷ USD (10%), Nhật Bản với 1,62 tỷ USD (9,4%) và Thụy Điển với 1,0 tỷ USD (5,8%). Các vị trí kế tiếp thuộc về Đài Loan và Hàn Quốc với số vốn lần lượt là 965,8 triệu USD và 895,9 triệu USD.
Vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam các năm 2021-2025 (Tỷ USD).Bên cạnh vốn cấp mới, hoạt động điều chỉnh vốn và góp vốn, mua cổ phần cũng diễn ra sôi động. Vốn đăng ký điều chỉnh từ 1.404 lượt dự án hiện hữu đạt 14,07 tỷ USD, tăng 0,8% so với năm trước. Nếu tính chung cả vốn đăng ký mới và điều chỉnh, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt mức 18,59 tỷ USD (chiếm 59,2%), và bất động sản đạt 6,26 tỷ USD (chiếm 19,9%). Đặc biệt, dòng vốn qua hình thức góp vốn, mua cổ phần tăng trưởng đột phá 54,8%, đạt 7,03 tỷ USD thông qua 3.587 lượt đầu tư.
Theo Cục Thống kê, điểm sáng trong bức tranh FDI năm 2025 chính là sự gia tăng mạnh mẽ của vốn thực hiện. Với tổng mức giải ngân 27,62 tỷ USD, lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo đóng vai trò trụ cột khi đạt 22,88 tỷ USD, chiếm tới 82,8% tổng vốn FDI thực hiện toàn quốc.
Hoạt động kinh doanh bất động sản và ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt lần lượt đóng góp 1,93 tỷ USD (7%) và 914,9 triệu USD (3,3%) vào con số thực hiện chung. Kết quả này khẳng định niềm tin vững chắc của các nhà đầu tư nước ngoài vào môi trường đầu tư và khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế Việt Nam.
-Ngân Hà
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2025 cán mốc hơn 7 triệu tỷ đồng
Theo số liệu công bố của Cục thống kê (Bộ Tài chính), tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành tháng 12/2025 ước đạt 627,8 nghìn tỷ đồng, tăng 3,9% so với tháng trước và tăng 9,8% so với cùng kỳ năm trước.
Trong đó, doanh thu nhóm hàng may mặc tăng 13,8% so với cùng kỳ năm trước; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 13,4%; lương thực, thực phẩm tăng 9,7%; vật phẩm văn hóa, giáo dục giảm 6,2%; dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng 14,2% và du lịch lữ hành tăng 19,9%.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng quý 4/2025 ước tăng 8,4% so với cùng kỳ năm trước.
Quý 4/2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành ước đạt 1.833,6 nghìn tỷ đồng, tăng 4,3% so với quý trước và tăng 8,4% so với cùng kỳ năm trước.
Tính chung năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tăng 9,2% so với năm trước. Trong đó: Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng 14,6% và doanh thu du lịch lữ hành tăng 20,2%.
Năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành ước đạt 7.008,9 nghìn tỷ đồng, tăng 9,2% so với năm trước (năm 2024 tăng 8,9%), nếu loại trừ yếu tố giá tăng 6,7% (tương đương mức tăng năm 2024).
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành các năm 2021-2025. Nguồn: Cục Thống kê.Doanh thu bán lẻ hàng hóa năm 2025 ước đạt 5.335,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 76,1% tổng mức và tăng 8,0% so với năm trước. Trong đó, nhóm hàng lương thực, thực phẩm tăng 9,8%; may mặc tăng 9,1%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 8,0%; vật phẩm văn hoá, giáo dục tăng 4,0%; phương tiện đi lại (trừ ô tô) giảm 0,8%.
Doanh thu bán lẻ hàng hóa năm 2025 so với năm trước của một số địa phương như: Đà Nẵng tăng 8,3%; Cần Thơ tăng 8,2%; Đồng Nai tăng 8,1%; Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh cùng tăng 8,0%; Vĩnh Long tăng 7,8%; Cà Mau tăng 7,7%.
Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống năm 2025 ước đạt 843,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 12,0% tổng mức và tăng 14,6% so với năm trước. Doanh thu năm 2025 so với năm trước của Thành phố Hồ Chí Minh tăng 16,6%; Đà Nẵng tăng 15,6%; Hà Nội tăng 14,5%; Cần Thơ tăng 12,0%; Hải Phòng tăng 11,5%.
Doanh thu du lịch lữ hành năm 2025 ước đạt 93,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 1,4% tổng mức và tăng 20,2% so với năm trước. Khách quốc tế đến Việt Nam tháng 12 đạt hơn 2 triệu lượt người, tăng 15,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm 2025, khách quốc tế đến Việt Nam đạt gần 21,2 triệu lượt người, tăng 20,4% so với năm trước; số lượt người Việt Nam xuất cảnh là 6,7 triệu lượt người, tăng 26,4%.
Theo Cục Thống kê, kết quả này đạt được là từ sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt của Chính phủ và ngành du lịch trong việc tái cơ cấu thị trường khách, phát triển đa dạng các sản phẩm du lịch, đổi mới hoạt động xúc tiến, quảng bá và đặc biệt là việc triển khai chính sách thị thực theo hướng ngày càng cởi mở đã thu hút mạnh mẽ khách du lịch trong nước và quốc tế.
Theo đó, doanh thu năm 2025 của một số địa phương so với năm trước như: Hà Nội tăng 24,1%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 21,9%; Quảng Ninh tăng 20,1%; Đà Nẵng tăng 14,0%; Cà Mau tăng 12,4%.
Doanh thu dịch vụ khác năm 2025 ước đạt 736,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 10,5% tổng mức và tăng 11,5% so với năm trước. Doanh thu năm 2025 của một số địa phương so với năm trước tăng như: Thái Nguyên tăng 19,3%; Khánh Hoà tăng 14,1%; Hải Phòng tăng 12,5%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 11,5%; Hà Nội tăng 9,1%; Phú Thọ tăng 7,9%; Lâm Đồng tăng 7,3%.
Cục Thống kê-Song Hà
CPI năm 2025 tăng 3,31%, đạt mục tiêu Quốc hội đề ra
Công bố tình hình kinh tế xã hội quý 4 và cả năm 2025, Cục thống kê (Bộ Tài chính) cho biết chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12 tăng 0,19% so với tháng trước do giá lương thực, thực phẩm và ăn uống ngoài gia đình tăng. So với cùng kỳ năm trước, CPI tháng 12 tăng 3,48%.
Trong mức tăng 0,19% của CPI tháng 12 so với tháng trước, có 9 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng và 2 nhóm hàng có chỉ số giá giảm.
9 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng cao nhất, với mức tăng 0,75% so với tháng trước (tác động làm CPI chung tăng 0,27 điểm phần trăm). Trong đó, chỉ số giá nhóm thực phẩm tăng 0,98% (tác động tăng 0,22 điểm phần trăm); nhóm lương thực tăng 0,55%; nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 0,29%.
Tiếp đến nhóm may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,20% do nhu cầu mua sắm quần áo, giày dép tăng vào cuối năm. Trong đó, giá quần áo may sẵn tăng 0,19%; may mặc khác tăng 0,21%; dịch vụ may mặc tăng 0,50%; mũ nón tăng 0,46%.
Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,19%, chủ yếu ở một số mặt hàng như: Giá đồ trang sức tăng 2,71% theo giá vàng thế giới; sửa chữa đồng hồ đeo tay tăng 0,69%; dịch vụ chăm sóc cá nhân tăng 0,26%; dịch vụ cắt tóc, gội đầu tăng 0,25%; hàng chăm sóc cơ thể tăng 0,04%.
Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,16% do chi phí sản xuất và nhân công tăng. Trong đó, bình nước nóng nhà tắm tăng 0,29% do nhu cầu sử dụng tăng vào mùa lạnh; thiết bị gia đình lớn có động cơ tăng 0,24%; máy xay sinh tố, ép hoa quả tăng 1,03%; nồi điện tăng 0,22%; ấm, phích nước điện tăng 0,19%; đồng hồ treo tường và để bàn tăng 0,36%; gương treo tường tăng 0,23%.
Số liệu thống kê cũng cho thấy CPI bình quân quý 4/2025 tăng 3,44% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, thuốc và dịch vụ y tế tăng 11,84%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,91%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,19%; giáo dục tăng 3,17%; hàng hóa và dịch khác tăng 3,05%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,20%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,75%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 1,58%; may mặc, mũ nón và giày dép tăng 1,42%; giao thông tăng 0,18%; thông tin và truyền thông giảm 0,37%.
Tốc độ tăng/giảm CPI tháng 12/2025 so với tháng trước. Nguồn: Cục Thống kê.Tính chung cả năm 2025, CPI tăng 3,31% so với năm trước, đạt mục tiêu Quốc hội đề ra. Cục Thống kê cũng chỉ ra 6 nguyên nhân đẩy CPI năm 2025 tăng.
Thứ nhất: Chỉ số giá nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,08%, làm CPI chung tăng 1,38 điểm phần trăm do giá nhà ở thuê tăng 7,33% và giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 6,45%.
Bên cạnh đó, chỉ số giá nhóm điện sinh hoạt tăng 7,20% do nhu cầu sử dụng điện tăng cùng với EVN điều chỉnh mức giá bán lẻ điện bình quân vào ngày 11/10/2024 và ngày 10/5/2025.
Thứ hai: Chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,27%, tác động làm CPI chung tăng 1,17 điểm phần trăm, trong đó nhóm thực phẩm tăng 3,61%, tác động làm CPI chung tăng 0,8 điểm phần trăm, nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 3,81%; nhóm lương thực tăng 0,17%.
Thứ ba: Chỉ số giá nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 13,07%, làm CPI chung tăng 0,61 điểm phần trăm do giá dịch vụ y tế được điều chỉnh theo Thông tư số 21/2024/TT-BYT ngày 17/10/2024 của Bộ Y tế.
Thứ tư: Chỉ số giá hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,78%, làm CPI chung tăng 0,17 điểm phần trăm.
Thứ năm: Chỉ số giá nhóm giáo dục tăng 2,15%, làm CPI chung tăng 0,13 điểm phần trăm do một số trường đại học, trung học dân lập, mầm non tư thục điều chỉnh học phí.
Thứ sáu: Chỉ số giá nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,66%, tác động làm CPI chung tăng 0,09 điểm phần trăm.
Cục Thống kê cho biết có 2 yếu tố góp phần kiềm chế tốc độ tăng CPI năm 2025.
Thứ nhất: Chỉ số nhóm giao thông giảm 2,14%, tác động làm CPI chung giảm 0,21 điểm phần trăm, trong đó giá xăng giảm 8,53%.
Thứ hai: Chỉ số giá nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,45%, tác động làm CPI chung giảm 0,02 điểm phần trăm do giá điện thoại thế hệ cũ giảm.
Lạm phát cơ bản tháng 12 tăng 0,23% so với tháng trước và tăng 3,27% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân năm 2025, lạm phát cơ bản tăng 3,21% so với năm trước, thấp hơn mức tăng 3,31% của CPI bình quân chung. Nguyên nhân chủ yếu do giá lương thực, thực phẩm, điện sinh hoạt, giá dịch vụ y tế, dịch vụ giáo dục là yếu tố tác động làm tăng CPI nhưng thuộc nhóm hàng được loại trừ trong danh mục tính lạm phát cơ bản.
Cũng theo Cục thống kê, giá vàng trong nước biến động cùng chiều với giá vàng thế giới. Tính đến ngày 29/12/2025, giá vàng thế giới bình quân ở mức 4.356,45 USD/ounce, tăng 6,18% so với tháng trước. Trong nước, chỉ số giá vàng tháng 12 tăng 2,18% so với tháng trước; tăng 70,37% so với cùng kỳ năm trước; bình quân năm 2025, chỉ số giá vàng tăng 47,67%.
Giá đô la Mỹ trong nước tháng 12 biến động ngược chiều với giá thế giới. Tính đến ngày 29/12/2025, chỉ số giá đô la Mỹ trên thị trường quốc tế đạt mức 98,31 điểm, giảm 1,33% so với tháng trước, chủ yếu do kỳ vọng điều chỉnh chính sách tiền tệ của Mỹ, lạm phát có xu hướng hạ nhiệt và sự phục hồi của các đồng tiền chủ chốt khác, qua đó tạo áp lực giảm giá lên đồng USD trên thị trường quốc tế.
Trong nước, chỉ số giá đô la Mỹ tháng 12 tăng 0,17% so với tháng trước; tăng 3,68% so với cùng kỳ năm trước; bình quân năm 2025, chỉ số giá đô la Mỹ tăng 3,92%.
Cục thống kê-Vũ Khuê
VN-Index tiếp tục thử thách lại ngưỡng 1.800 điểm
Kết phiên 5/1, VN-Index tăng 3,91 điểm, tương đương 0,22% lên mốc 1.788,4 điểm. Ngược chiều, Hnx-Index giảm 2,03 điểm, tương đương 0,82% xuống 246,74 điểm.
Chỉ số VN-Index nhiều khả năng sẽ tiếp tục dao động tạo nền tích lũy quanh vùng đỉnh cũ trong các phiên tới
(Công ty Cổ phần Chứng khoán Bảo Việt – BVSC)
“Sau 4 phiên tăng điểm liên tiếp, áp lực bán gia tăng từ khối nhà đầu tư nước ngoài, VN-Index chuyển sang dao động trong biên độ hẹp với các nhịp tăng giảm đan xen trong phiên. Độ rộng thị trường nghiêng về phía giảm điểm, VN-Index được hỗ trợ chủ yếu từ nhóm cổ phiếu vốn hóa lớn. Các chỉ báo về xu hướng chưa cho thấy các tín hiệu tích cực về một xu hướng mới, chỉ số nhiều khả năng sẽ tiếp tục dao động tạo nền tích lũy quanh vùng đỉnh cũ trong các phiên tới.
Trên khung đồ thị giờ, vùng nền mới của VN-Index được thiết lập tại 1.775-1.780 điểm. Đây là vùng hỗ trợ gần của chỉ số trong phiên tới. Ở chiều ngược lại, vùng đỉnh cũ quanh 1.800 điểm vẫn là ngưỡng cản cho các nỗ lực tăng điểm cho chỉ số ở thời điểm hiện tại”.
Rủi ro tập trung ngày càng tăng khi chỉ số tiếp cận đỉnh cũ
(Công ty Cổ phần Chứng khoán Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam - BSC)
"VN-Index giằng co dưới đỉnh cũ trong ngày hôm nay và đóng cửa tại mốc 1.788,40 điểm, tăng nhẹ gần 4 điểm so với hôm qua. Số mã giảm áp đảo số mã tăng, 12/18 ngành giảm điểm; trụ đỡ cho thị trường trong ngày hôm nay tiếp tục là nhóm cổ phiếu Vin. Về giao dịch của khối ngoại, hôm nay khối này bán ròng trên cả ba sàn HSX, HNX và UPCOM. Rủi ro tập trung ngày càng tăng khi chỉ số tiếp cận đỉnh cũ. Nhà đầu tư nên cẩn trọng quan sát diễn biến thị trường trong giai đoạn này”.
Xu hướng ngắn hạn VN-Index duy trì tăng trưởng trên hỗ trợ quanh 1.780 điểm
(Công ty Cổ phần Chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội - SHS)
"Sau năm 2025 thăng hoa dưới ảnh hưởng của VN30, nhóm cổ phiếu VinGroup, thị trường đã khởi đầu năm 2026 với tâm lý lạc quan. VN-Index tiếp tục hướng đến vùng giá 1.800 điểm và chịu áp lực rung lắc, điều chỉnh với mức độ phân hóa cao, dòng tiền luân chuyển tìm các cơ hội đầu tư mới. VN-Index trong phiên chịu áp lực điều chỉnh mạnh về quanh 1.775 điểm và tăng điểm trở lại dưới ảnh hưởng tích cực của nhóm dầu khí, bất động sản. Kết phiên VN-Index tăng 3,91 điểm (+0,22%) lên mức 1.788,40 điểm, chịu áp lực bán mạnh ở nhiều mã khi VN-Index gặp vùng đỉnh cũ quanh 1.800. Trong khi VN30 giảm -1,95 điểm (-0,10%) về mức 2.028,68 điểm, trên hỗ trợ tâm lý 2.000 điểm.
Độ rộng trên HOSE nghiên về tiêu cực với 223 mã giảm giá. Áp lực bán mạnh ở nhóm cổ phiếu tập đoàn Gelex, đây cũng là nhóm mã có mức tăng giá vượt trội trong năm 2025, nhóm chứng khoán, hóa chất, ngân hàng, công nghệ...; 95 mã tăng giá, nổi bật ở các cổ phiếu dầu khí, bán lẻ, Vingroup và 52 mã giữ giá tham chiếu. Thanh khoản thị trường tăng, khối lượng giao dịch khớp lệnh trên HOSE tăng 36,9% so với phiên trước. Cho thấy áp lực bán khá mạnh ở nhiều mã, tuy nhiên dòng tiền vẫn luân chuyển tốt với nhiều cơ hội ngắn hạn nổi bật. Sau năm 2025 khối ngoại bán ròng kỷ lục -125,261 tỷ đồng, khối ngoại tiếp tục bán ròng trong phiên đầu năm 2026 với giá trị -735,2 tỷ đồng trên HOSE.
Xu hướng ngắn hạn VN-Index duy trì tăng trưởng trên hỗ trợ quanh 1.780 điểm, tiếp tục phục hồi kiểm tra lại vùng kháng cự mạnh quanh 1.800 điểm, tương ứng các vùng đỉnh giá đầu vào cuối tháng 12/2025. Trong khi VN30 sẽ kiểm tra lại vùng đỉnh cũ quanh 2.050 điểm. Thị trường đã bắt đầu năm 2026 và hiện tại chưa có dự báo chắc chắn về triển vọng VN-Index vượt lên đỉnh giá năm 2025.
Thị trường đã bắt đầu năm 2026. Chúng tôi kỳ vọng dòng tiền có thể tìm kiếm các cơ hội tăng giá mạnh ở các mã đầu ngành, có thanh khoản cao trong các nhóm ngành gắn với động lực tăng trưởng nội tại của nền kinh tế: (1) Bán lẻ- tiêu dùng: được hỗ trợ bởi thu nhập khả dụng của người dân cải thiện, tầng lớp trung lưu mở rộng, các chính sách kích cầu tiêu dùng. (2) Năng lượng: Tăng trưởng từ yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng, đáp ứng nhu cầu tăng trưởng GDP cao, định giá lại tài sản. (3) Xây dựng và vật liệu xây dựng: gắn với xu hướng đẩy mạnh đầu tư công và tiến độ giải ngân được kỳ vọng cải thiện theo từng năm. Các công ty có các tài sản có tính chất không thể, khó thay thế, được định giá lại ở mức cao hơn như: Sở hữu mỏ khoáng sản, nhà máy-hệ thống phân phối năng lượng, các hệ thống phân phối bán lẻ quy mô lớn, sân bay, cảng biển...
Nhà đầu tư duy trì tỉ trọng hợp lý. Mục tiêu đầu tư hướng tới các mã có nền tảng cơ bản tốt, đầu ngành trong các ngành chiến lược, tăng trưởng vượt trội của nền kinh tế".
VN-Index đã chạm vùng 1.790 - 1.800 và đang chịu áp lực bán mạnh tại vùng giá này
(Công ty Cổ phần Chứng khoán Thiên Việt - TVS)
“Chỉ số VN-Index tăng 3,9 điểm (+0.2%), đóng cửa ở mức 1.788,4 điểm. Chỉ số tăng điểm trong phiên sáng và đầu phiên chiều, tiệm cận vùng đỉnh lịch sử 1,800 điểm. Động lực thúc đẩy đà tăng của chỉ số vẫn tập trung ở nhóm Vingroup (VHM, VIC và VRE). Tuy nhiên, áp lực bán ở hầu hết các nhóm cổ phiếu còn lại, đặc biệt tại nhóm Ngân hàng, khiến chỉ số giảm điểm về gần tham chiếu khi kết thúc phiên.
Chúng tôi cho rằng nhà đầu tư nên thận trọng hơn trong các phiên sắp tới. Nguyên nhân chính đến từ việc VN-Index đã chạm vùng 1.790 - 1.800 và đang chịu áp lực bán mạnh tại vùng giá này. Bên cạnh đó, nhóm cổ phiếu vốn hóa lớn bắt đầu điều chỉnh đi cùng việc thị trường hôm nay tăng nhưng đa số cổ phiếu giảm điểm. Về kỹ thuật, một số chỉ báo kỹ thuật hiện đang phân kỳ âm như RSI hay MACD có thể là chỉ báo sớm cho khả năng điều chỉnh của VN-Index. Do đó, nhà đầu tư tạm thời duy trì tỷ trọng cổ phiếu và theo dõi sát diễn biến của chỉ số trong các phiên tới”.
Chỉ số VN-Index tiếp tục thử thách lại ngưỡng 1.800 điểm
(Công ty Chứng khoán Yuanta Việt Nam – YSVN)
“Chúng tôi cho rằng thị trường có thể duy trì đà tăng trong phiên kế tiếp và chỉ số VN-Index tiếp tục thử thách lại ngưỡng 1.800 điểm. Đồng thời, chúng tôi đánh giá rủi ro ngắn hạn vẫn ở mức thấp và nhịp điều chỉnh có thể nhanh chóng kết thúc trong phiên, đà tăng chủ yếu tập trung ở nhóm cổ phiếu vốn hóa lớn và tình trạng phân hóa đang diễn ra cho nên các nhà đầu tư vẫn nên chú ý chiến lược chọn cổ phiếu.
Chiến lược ngắn hạn (dưới 1 tháng): Xu hướng ngắn hạn của thị trường chung vẫn duy trì ở mức trung tính. Do đó, chúng tôi khuyến nghị các nhà đầu tư có thể tiếp tục mua và nắm giữ tỷ trọng cổ phiếu ở mức 30-50% danh mục, nhưng điểm lưu ý là các nhà đầu tư cũng nên chú ý vào quản trị rủi ro ngắn hạn tức là cần tiến hành cắt lỗ khi các cổ phiếu đảo chiều giảm ngắn hạn, đặc biệt không dùng đòn bẩy cao trong giai đoạn này”.
Chú ý diễn biến rung lắc ở khu vực 1.770-1.790 trong phiên tiếp theo
(Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam - VCBS)
“VN-Index kết phiên với nến Doji cho thấy diễn biến giằng co khi chỉ số tiếp cận lại mốc đỉnh cũ 1.800.
Ở khung đồ thị ngày, đường +DI neo cao trên mốc 25 nhưng đường ADX ở dưới mốc này nên đà tăng của VN-Index có khả năng sẽ chậm lại và chuyển sang vận động sideway để kiểm tra động lực trong ngắn hạn, đặc biệt khi chỉ số đang ở vùng kháng cự mạnh 1.790-1.800. Chỉ báo RSI có tín hiệu hình thành phân kỳ âm, tuy nhiên không đồng thuận với diễn biến của chỉ báo MACD phần nào giảm thiểu rủi ro rung lắc mạnh trong phiên.
Ở khung đồ thị giờ, chỉ số kết phiên với nến Hammer cho thấy dấu hiệu của lực cầu quay lại cuối phiên. Chỉ báo RSI hướng xuống từ vùng cao, đồng thời hai đường +/-DI có tín hiệu giao cắt nhau nên cần chú ý diễn biến rung lắc ở khu vực 1.770-1.790 trong phiên tiếp theo.
VN-Index thể hiện động lực khá tích cực với nỗ lực chinh phục lại đỉnh cũ 1.800 trong phiên đầu tiên của năm 2026. Mặc dù thị trường biến động lên xuống với tần suất dày đặc trong phiên, tuy nhiên chỉ số vẫn kết phiên tăng điểm nhờ nỗ lực ở một số nhóm cổ phiếu như Vingroup, Dầu khí, và Bán lẻ. Chúng tôi khuyến nghị nhà đầu tư chọn lọc cổ phiếu bật tăng từ vùng hỗ trợ cứng hoặc thuộc nhóm ngành đang thu hút sự quan tâm trở lại của dòng tiền sau thời gian dài đi ngang tích lũy để giải ngân tại những nhịp rung lắc của chỉ số trong các phiên tiếp theo. Bên cạnh đó, nhà đầu tư hạn chế giải ngân ở những cổ phiếu đã có nhịp tăng mạnh và đang ở vùng đỉnh/kháng cự mạnh để tránh rủi ro điều chỉnh bất ngờ. Một số nhóm ngành đáng lưu ý bao gồm Bán lẻ, Điện, Bất động sản”.
Nhận định thị trường của các công ty chứng khoán được VnEconomy trích dẫn chỉ có giá trị như một nguồn thông tin tham khảo. Các công ty chứng khoán có thể có những xung đột lợi ích đối với các nhà đầu tư khi đưa ra nhận định.
-Hà Anh
Tổ chức trong nước gom ròng 1.600 tỷ phiên đầu năm
Dư âm của năm 2025 vẫn còn hiện hữu rõ nét trong phiên giao dịch đầu tiên của năm 2026, khi VN-Index tiếp tục vận động theo mô-típ quen thuộc, phụ thuộc lớn vào nhóm cổ phiếu vốn hóa lớn, đặc biệt là Vingroup. Ngay từ đầu phiên, chỉ số được kéo điểm chủ yếu nhờ lực nâng từ nhóm này, trong khi phần còn lại của thị trường chịu áp lực giằng co đáng kể.
Kết phiên, VN-Index tăng nhẹ 3,91 điểm, tiến lên 1.788,40 điểm, song bức tranh tổng thể cho thấy trạng thái “xanh vỏ đỏ lòng” khá rõ rệt. Độ rộng thị trường nghiêng hẳn về phía tiêu cực, với 223 mã giảm giá, trong khi chỉ có 95 mã tăng, phản ánh sự thiếu lan tỏa của dòng tiền và tâm lý thận trọng vẫn đang chi phối nhà đầu tư ngay trong những ngày đầu năm.
Nhóm năng lượng trở thành điểm sáng hiếm hoi khi bật tăng mạnh, hưởng lợi từ các diễn biến mới tại Venezuela – quốc gia sở hữu trữ lượng dầu mỏ lớn nhất thế giới. Nhiều cổ phiếu ghi nhận mức tăng tích cực như PVS, PVD, OIL, PVT, PLX, PVB.
Song song với đó, nhóm Vingroup tiếp tục đóng vai trò trụ đỡ chính của thị trường. Cụ thể, VHM tăng kịch trần, VIC tăng 2,06%, trong khi VPL cùng tăng mạnh 6,16%. Riêng bốn cổ phiếu này đã đóng góp tới 17 điểm cho VN-Index, cho thấy mức độ phụ thuộc rất lớn của chỉ số vào một số mã vốn hóa lớn.
Ở chiều ngược lại, áp lực bán xuất hiện trên diện rộng tại hầu hết các nhóm ngành còn lại, đặc biệt là nhóm ngân hàng, với mức giảm đáng kể tại các cổ phiếu như BID, VPB, LPB và HDB. Nhóm chứng khoán cũng không nằm ngoài xu hướng điều chỉnh, khi lực bán gia tăng ngay trong phiên khai xuân. VPX giảm 5%, TCX giảm 2,55%, SSI giảm 3,64%, VIX giảm 6,67%, VCI giảm 3,82% và VND giảm 3,68%.
Áp lực điều chỉnh cũng lan sang các nhóm tiêu dùng, vận tải hàng không – logistics, nguyên vật liệu, công nghệ thông tin và bán lẻ, khiến sắc đỏ bao trùm phần lớn thị trường.
Về thanh khoản, giá trị khớp lệnh trên ba sàn đạt khoảng 27.500 tỷ đồng, cho thấy dòng tiền vẫn duy trì ở mức tương đối cao. Tuy nhiên, khối ngoại bán ròng hơn 747.3 tỷ đồng, tính riêng giao dịch khớp lệnh thì họ bán ròng 800.5 tỷ đồng.
Mua ròng khớp lệnh chính của nước ngoài là nhóm Điện, nước xăng dầu khí đốt, Dầu khí. Top mua ròng khớp lệnh của nước ngoài gồm các mã: STB, VRE, GAS, PVD, SSI, DGW, PDR, MSN, PLX, ACB.
Phía bên bán ròng khớp lệnh của nước ngoài là nhóm Ngân hàng. Top bán ròng khớp lệnh của nước ngoài gồm các mã: VIC, VIX, FPT, SHB, HDB, MCH, VPB, MWG, GEX.
Nhà đầu tư cá nhân bán ròng 233.1 tỷ đồng, trong đó họ bán ròng khớp lệnh là 128.7 tỷ đồng.
Tính riêng giao dịch khớp lệnh, họ mua ròng 9/18 ngành, chủ yếu là ngành Ngân hàng. Top mua ròng của nhà đầu tư cá nhân tập trung gồm: SHB, GEX, MCH, MSN, ACB, VHM, BSR, BAF, VPL, MBB.
Phía bán ròng khớp lệnh: họ bán ròng 9/18 ngành chủ yếu là nhóm ngành Dịch vụ tài chính, Bất động sản. Top bán ròng có: SSI, VRE, VIC, LPB, VJC, DGC, PVD, GEE, MWG.
Tự doanh bán ròng 587.6 tỷ đồng tính riêng khớp lệnh họ mua ròng 141.1 tỷ đồng.
Tính riêng giao dịch khớp lệnh: Tự doanh mua ròng 11/18 ngành. Nhóm mua ròng mạnh nhất là Bất động sản, Dầu khí. Top mua ròng khớp lệnh của tự doanh phiên ngày hôm nay gồm VRE, PVD, VCB, FPT, HDB, VJC, GEX, CTG, TCB, VIB. Top bán ròng là nhóm Thực phẩm và đồ uống. Top cổ phiếu được bán ròng gồm MSN, ACB, VNM, VPB, TPB, GAS, MBB, VIC, FUEVFVND, E1VFVN30.
Nhà đầu tư tổ chức trong nước mua ròng 1555.9 tỷ đồng, tính riêng khớp lệnh thì họ mua ròng 788.1 tỷ đồng.
Tính riêng giao dịch khớp lệnh, Tổ chức trong nước bán ròng 6/18 ngành, giá trị lớn nhất là nhóm Hàng Dịch vụ Công nghiệp Top bán ròng có STB, SHB, VRE, GEX, ACB, MSN, PVD, MBB, KDH, VPL. Giá trị mua ròng lớn nhất là nhóm Dịch vụ tài chính. Top mua ròng có VIC, VIX, LPB, MWG, VPB, HDB, SSI, DGC, FPT, VJC.
Giá trị giao dịch thỏa thuận hôm nay đạt 1.700,1 tỷ đồng, giảm -58,9% so với phiên liền trước và đóng góp 6,1% tổng giá trị giao dịch.
Hôm nay có giao dịch đáng chú ý ở cổ phiếu HPG, với hơn 12,9 triệu đơn vị cổ phiếu tương đương 346,1 tỷ đồng được Tự doanh trong nước bán thỏa thuận cho Tổ chức trong nước.
Tỷ trọng phân bổ dòng tiền tăng ở Chứng khoán, Thép, Nuôi trồng nông Hải sản, Bán lẻ, Thiết bị điện, Dầu khí, Phần mềm, Phân phối xăng dầu khí đốt, trong khi giảm ở Bất động sản, Ngân hàng, Xây dựng, Hóa chất, Thực phẩm, Vật liệu xây dựng nội thất.
Tính riêng khớp lệnh, tỷ trọng phân bổ dòng tiền tăng ở nhóm vốn hóa vừa VNMID, trong khi giảm ở nhóm vốn hóa lớn VN30 và nhỏ VNSML.
-Thu Minh
7 nhiệm vụ trọng tâm của ngành chứng khoán trong năm 2026
Cùng dự buổi lễ có đồng chí đồng chí Vũ Đại Thắng – Ủy viên ban chấp hành Trung ương đảng, Phó Bí thư thành ủy, Chủ tịch UBND Tp. Hà Nội; đồng chí Vũ Thị Chân Phương - Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (Ủy ban Chứng khoán Nhà nước) và đại diện lãnh đạo các đơn vị thuộc Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Sở GDCK Việt Nam (VNX), Sở GDCK Tp. HCM (HOSE), Sở GDCK Hà Nội, Tổng công ty Lưu ký Bù trừ Chứng khoán Việt Nam (VSDC), Tổng Công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC), Hiệp hội kinh doanh chứng khoán Việt Nam, Hiệp hội trái phiếu, doanh nghiệp niêm yết, đăng ký giao dịch, thành viên thị trường...
Bộ trưởng cho biết, năm 2025, kinh tế thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, thị trường tài chính – tiền tệ biến động khó lường, ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Kinh tế Việt Nam cũng chịu tác động từ các yếu tố bất lợi bên ngoài và thiên tai trong nước. Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành quyết liệt, linh hoạt của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, kinh tế vĩ mô tiếp tục ổn định, lạm phát được kiểm soát, tăng trưởng kinh tế đạt mục tiêu đề ra.
Đánh giá về thị trường chứng khoán năm 2025, Bộ trưởng cho biết thị trường chứng khoán tiếp tục duy trì hoạt động ổn định, an toàn, minh bạch và có thanh khoản cao.
Chỉ số VN-Index liên tục lập đỉnh mới, tính đến đầu tháng 12/2025 tăng gần 38% so với cuối năm trước; giá trị giao dịch bình quân đạt trên 29 nghìn tỷ đồng/phiên, tăng hơn 40%; quy mô vốn hóa thị trường cổ phiếu tăng hơn 35%. Số lượng tài khoản nhà đầu tư đạt trên 11,6 triệu tài khoản, vượt mục tiêu của Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán đến năm 2030.
Bên cạnh đó, việc đưa vào vận hành hệ thống công nghệ thông tin mới và FTSE Russell chính thức công bố nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi thứ cấp đã góp phần quan trọng thúc đẩy sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam trong năm 2025.
Thay mặt Lãnh đạo Bộ Tài chính, Bộ trưởng Nguyễn Văn Thắng ghi nhận và đánh giá cao những nỗ lực của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước; các Sở Giao dịch Chứng khoán; Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ Chứng khoán Việt Nam; sự phối hợp chặt chẽ của các bộ, ngành, địa phương, đặc biệt là Ủy ban nhân dân các địa phương và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; cùng sự tham gia tích cực của cộng đồng nhà đầu tư, doanh nghiệp niêm yết, đăng ký giao dịch và các thành viên thị trường trong quá trình vận hành và phát triển thị trường chứng khoán.
Nhấn mạnh nhiệm vụ trong thời gian tới còn nhiều khó khăn, thách thức, Bộ trưởng đề nghị ngành Chứng khoán tiếp tục phát huy kết quả đạt được, đồng thời đổi mới mạnh mẽ để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao trong năm 2026 và giai đoạn 2026–2030 theo hướng chủ động, linh hoạt và tập trung triển khai một số nhiệm vụ trọng tâm:
Một là, tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý nhằm phát triển thị trường chứng khoán ổn định, an toàn, lành mạnh, hiệu quả, bền vững và hội nhập, tận dụng các lợi thế khi thị trường được nâng hạng.
Hai là, triển khai quyết liệt các giải pháp đã được phê duyệt tại Đề án nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam; khẩn trương hoàn thiện các thủ tục, đáp ứng đầy đủ các tiêu chí đề xuất của các tổ chức xếp hạng, các tổ chức đầu tư toàn cầu nhằm tăng cường thị trường phù hợp với các thông lệ quốc tế và tình hình thị trường chứng khoán Việt Nam.
Ba là, đẩy mạnh chuyển đổi số, hiện đại hóa hạ tầng giao dịch và thanh toán, ứng dụng công nghệ mới vào hoạt động giám sát thị trường chứng khoán phù hợp với xu thế phát triển toàn cầu
Bốn là, phát triển đa dạng các sản phẩm trái phiếu, sản phẩm phái sinh, các loại chứng chỉ lưu ký niêm yết tại nước ngoài, các loại chứng chỉ quỹ đầu tư chứng khoán mới, các công cụ tài chính xanh.
Năm là, tiếp tục triển khai các giải pháp đa dạng hàng hóa, cơ sở nhà đầu tư trong nước, thu hút nhà đầu tư nước ngoài, trong đó chú trọng triển khai hiệu quả Đề án Tái cơ cấu nhà đầu tư và phát triển ngành quỹ đầu tư chứng khoán.
Sáu là, tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, xử lý nghiêm các hành vi thao túng, gian lận nhằm tăng cường kỷ cương, kỷ luật trên thị trường.
Bảy là, tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức về đầu tư minh bạch, tuân thủ pháp luật, khuyến khích các nhà đầu tư hướng đến đầu tư dài hạn, nâng cao nhận thức về đầu tư an toàn, góp phần phát triển thị trường ổn định, bền vững.
“Bộ Tài chính cam kết sẽ đồng hành, hỗ trợ và tạo mọi điều kiện để ngành Chứng khoán hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao. Tôi tin tưởng rằng, với sự nỗ lực, đoàn kết của toàn thể cán bộ, công chức ngành Chứng khoán; sự phối hợp chặt chẽ của các bộ, ngành; cùng sự ủng hộ của cộng đồng doanh nghiệp và nhà đầu tư, thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, bền vững, khẳng định vai trò là kênh huy động vốn trung và dài hạn hiệu quả cho nền kinh tế và là công cụ quản lý vĩ mô quan trọng của Chính phủ”, Bộ trưởng khẳng định.
Phát biểu tiếp thu ý kiến của Bộ trưởng Bộ Tài chính, Chủ tịch Vũ Thị Chân Phương cho biết Ủy ban Chứng khoán Nhà nước nhận thức sâu sắc nhiệm vụ trọng tâm không chỉ là duy trì đà tăng trưởng, mà quan trọng hơn là xây dựng một thị trường vận hành an toàn, minh bạch, ổn định, có khả năng chống chịu cao và thích ứng với mô hình thị trường mới trong bối cảnh hội nhập sâu rộng.
“Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cam kết quán triệt đầy đủ và tổ chức thực hiện nghiêm túc các chỉ đạo của đồng chí Bộ trưởng Bộ Tài chính, tập trung triển khai đồng bộ các giải pháp trọng tâm mang tính chiến lược nhằm nâng cao chất lượng, chiều sâu và tính bền vững của thị trường chứng khoán Việt Nam.” Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước khẳng định.
Với sự chỉ đạo sát sao của Lãnh đạo Chính phủ, Bộ Tài chính; sự phối hợp hiệu quả của các bộ, ngành, địa phương; sự chung tay, đồng hành của các chủ thể tham gia thị trường; cùng tinh thần trách nhiệm, đổi mới của toàn ngành Chứng khoán; Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước Vũ Thị Chân Phương tin tưởng thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2026 sẽ tiếp tục phát triển ổn định, bền vững, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
-Hà Anh
Xuất nhập khẩu năm 2025 cán đích kỷ lục hơn 930 tỷ USD
Theo số liệu được Cục Thống kê (Bộ Tài chính) công bố chiều 05/01/2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trong tháng 12/2025 đạt 88,72 tỷ USD, tăng 15,1% so với tháng trước và tăng 25,7% so với cùng kỳ năm trước.
Tính chung cả năm 2025, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 930,05 tỷ USD, tăng 18,2% so với năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 17,0%; nhập khẩu tăng 19,4%.
Cụ thể, về xuất khẩu, tháng 12/2025 đạt 44,03 tỷ USD, tăng 12,6% so với tháng trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 9,7 tỷ USD, tăng 17,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 34,33 tỷ USD, tăng 11,2%.
Xuất, nhập khẩu hàng hóa năm 2025. Nguồn: Cục Thống kê.So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 12/2025 tăng 23,8%, trong đó khu vực kinh tế trong nước giảm 9,8%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng 38,4%.
Trong quý 4/2025, kim ngạch xuất khẩu đạt 126,3 tỷ USD, tăng 20,0% so với cùng kỳ năm trước và giảm 1,7% so với quý 3/2025.
Tính chung cả năm 2025, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 475,04 tỷ USD, tăng 17,0% so với năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 107,95 tỷ USD, giảm 6,1%, chiếm 22,7% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 367,09 tỷ USD, tăng 26,1%, chiếm 77,3%.
Trong năm 2025 có 36 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 94,0% tổng kim ngạch xuất khẩu (có 8 mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 70,2%).
Giá trị một số mặt hàng xuất khẩu năm 2025. Nguồn: Cục Thống kê.Về cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu năm 2025, nhóm hàng công nghiệp chế biến đạt 421,47 tỷ USD, chiếm 88,7%; nhóm hàng nông sản, lâm sản đạt 39,46 tỷ USD, chiếm 8,3%; nhóm hàng thủy sản đạt 11,29 tỷ USD, chiếm 2,4%; nhóm hàng nhiên liệu và khoáng sản đạt 2,83 tỷ USD, chiếm 0,6%.
Từ chiều ngược lại, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 12/2025 đạt 44,69 tỷ USD, tăng 17,6% so với tháng trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 14,57 tỷ USD, tăng 28,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 30,11 tỷ USD, tăng 13,0%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 12/2025 tăng 27,7%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 4,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 43,4%.
Trong quý 4/2025, kim ngạch nhập khẩu đạt 123,1 tỷ USD, tăng 21,3% so với cùng kỳ năm trước và tăng 2,9% so với quý 3/2025.
Tính chung cả năm 2025, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đạt 455,01 tỷ USD, tăng 19,4% so với năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 137,38 tỷ USD, giảm 2,0%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 317,63 tỷ USD, tăng 31,9%.
Trong năm 2025 có 47 mặt hàng nhập khẩu đạt trị giá trên 1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 93,8% tổng kim ngạch nhập khẩu (có 9 mặt hàng nhập khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 64,8%).
Giá trị một số mặt hàng nhập khẩu năm 2025. Nguồn: Cục Thống kê.Về cơ cấu nhóm hàng nhập khẩu năm 2025, nhóm hàng tư liệu sản xuất đạt 426,11 tỷ USD, chiếm 93,6%, trong đó nhóm hàng máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng chiếm 52,7%; nhóm hàng nguyên, nhiên, vật liệu chiếm 40,9%. Nhóm hàng vật phẩm tiêu dùng đạt 28,9 tỷ USD, chiếm 6,4%.
Về thị trường xuất, nhập khẩu hàng hóa năm 2025, Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 153,2 tỷ USD. Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 186,0 tỷ USD.
Trong năm 2025, xuất siêu sang Mỹ đạt 133,9 tỷ USD tăng 28,2% so với năm trước; xuất siêu sang EU 38,6 tỷ USD, tăng 10,1%; xuất siêu sang Nhật Bản 2,1 tỷ USD, giảm 30,1%; nhập siêu từ Trung Quốc 115,6 tỷ USD, tăng 39,6%; nhập siêu từ Hàn Quốc 31,6 tỷ USD, tăng 4,3%; nhập siêu từ ASEAN 14,2 tỷ USD, tăng 42,4%.
Thị trường xuất, nhập khẩu hàng hoá chủ yếu năm 2025. Nguồn: Cục Thống kê.Từ những số liệu trên, cán cân thương mại hàng hóa tháng 12/2025 nhập siêu 0,66 tỷ USD. Tính chung cả năm 2025, cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 20,03 tỷ USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 24,94 tỷ USD). Trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 29,43 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 49,46 tỷ USD.
Trong quý 4/2025, kim ngạch xuất khẩu dịch vụ ước đạt 8,26 tỷ USD, tăng 17,3% so với cùng kỳ năm trước và tăng 9,0% so với quý trước; kim ngạch nhập khẩu dịch vụ ước đạt 10,55 tỷ USD, tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước và giảm 1,1% so với quý trước.
Tính chung cả năm 2025, kim ngạch xuất khẩu dịch vụ ước đạt 30,31 tỷ USD, tăng 18,9% so với năm trước, trong đó dịch vụ du lịch đạt 15,22 tỷ USD (chiếm 50,2% tổng kim ngạch), tăng 24,4%; dịch vụ vận tải đạt 8,8 tỷ USD (chiếm 29,0%), tăng 23,6%.
Kim ngạch nhập khẩu dịch vụ năm 2025 ước đạt 40,54 tỷ USD (trong đó phí dịch vụ vận tải và bảo hiểm của hàng hóa nhập khẩu là 14,43 tỷ USD), tăng 14,0% so với năm trước, trong đó dịch vụ vận tải đạt 17,1 tỷ USD (chiếm 42,1% tổng kim ngạch), tăng 19,9%; dịch vụ du lịch đạt 14,7 tỷ USD (chiếm 36,4%), tăng 15,6%. Cán cân thương mại dịch vụ năm 2025 nhập siêu 10,23 tỷ USD.
Cục Thống kê-Việt An
Xuất nhập khẩu năm 2025 cán đích kỷ lục hơn 930 tỷ USD
Theo số liệu được Cục Thống kê (Bộ Tài chính) công bố chiều 05/01/2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trong tháng 12/2025 đạt 88,72 tỷ USD, tăng 15,1% so với tháng trước và tăng 25,7% so với cùng kỳ năm trước.
Tính chung cả năm 2025, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 930,05 tỷ USD, tăng 18,2% so với năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 17,0%; nhập khẩu tăng 19,4%.
Cụ thể, về xuất khẩu, tháng 12/2025 đạt 44,03 tỷ USD, tăng 12,6% so với tháng trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 9,7 tỷ USD, tăng 17,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 34,33 tỷ USD, tăng 11,2%.
Xuất, nhập khẩu hàng hóa năm 2025. Nguồn: Cục Thống kê.So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 12/2025 tăng 23,8%, trong đó khu vực kinh tế trong nước giảm 9,8%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng 38,4%.
Trong quý 4/2025, kim ngạch xuất khẩu đạt 126,3 tỷ USD, tăng 20,0% so với cùng kỳ năm trước và giảm 1,7% so với quý 3/2025.
Tính chung cả năm 2025, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 475,04 tỷ USD, tăng 17,0% so với năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 107,95 tỷ USD, giảm 6,1%, chiếm 22,7% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 367,09 tỷ USD, tăng 26,1%, chiếm 77,3%.
Trong năm 2025 có 36 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 94,0% tổng kim ngạch xuất khẩu (có 8 mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 70,2%).
Giá trị một số mặt hàng xuất khẩu năm 2025. Nguồn: Cục Thống kê.Về cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu năm 2025, nhóm hàng công nghiệp chế biến đạt 421,47 tỷ USD, chiếm 88,7%; nhóm hàng nông sản, lâm sản đạt 39,46 tỷ USD, chiếm 8,3%; nhóm hàng thủy sản đạt 11,29 tỷ USD, chiếm 2,4%; nhóm hàng nhiên liệu và khoáng sản đạt 2,83 tỷ USD, chiếm 0,6%.
Từ chiều ngược lại, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 12/2025 đạt 44,69 tỷ USD, tăng 17,6% so với tháng trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 14,57 tỷ USD, tăng 28,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 30,11 tỷ USD, tăng 13,0%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 12/2025 tăng 27,7%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 4,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 43,4%.
Trong quý 4/2025, kim ngạch nhập khẩu đạt 123,1 tỷ USD, tăng 21,3% so với cùng kỳ năm trước và tăng 2,9% so với quý 3/2025.
Tính chung cả năm 2025, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đạt 455,01 tỷ USD, tăng 19,4% so với năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 137,38 tỷ USD, giảm 2,0%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 317,63 tỷ USD, tăng 31,9%.
Trong năm 2025 có 47 mặt hàng nhập khẩu đạt trị giá trên 1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 93,8% tổng kim ngạch nhập khẩu (có 9 mặt hàng nhập khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 64,8%).
Giá trị một số mặt hàng nhập khẩu năm 2025. Nguồn: Cục Thống kê.Về cơ cấu nhóm hàng nhập khẩu năm 2025, nhóm hàng tư liệu sản xuất đạt 426,11 tỷ USD, chiếm 93,6%, trong đó nhóm hàng máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng chiếm 52,7%; nhóm hàng nguyên, nhiên, vật liệu chiếm 40,9%. Nhóm hàng vật phẩm tiêu dùng đạt 28,9 tỷ USD, chiếm 6,4%.
Về thị trường xuất, nhập khẩu hàng hóa năm 2025, Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 153,2 tỷ USD. Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 186,0 tỷ USD.
Trong năm 2025, xuất siêu sang Mỹ đạt 133,9 tỷ USD tăng 28,2% so với năm trước; xuất siêu sang EU 38,6 tỷ USD, tăng 10,1%; xuất siêu sang Nhật Bản 2,1 tỷ USD, giảm 30,1%; nhập siêu từ Trung Quốc 115,6 tỷ USD, tăng 39,6%; nhập siêu từ Hàn Quốc 31,6 tỷ USD, tăng 4,3%; nhập siêu từ ASEAN 14,2 tỷ USD, tăng 42,4%.
Thị trường xuất, nhập khẩu hàng hoá chủ yếu năm 2025. Nguồn: Cục Thống kê.Từ những số liệu trên, cán cân thương mại hàng hóa tháng 12/2025 nhập siêu 0,66 tỷ USD. Tính chung cả năm 2025, cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 20,03 tỷ USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 24,94 tỷ USD). Trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 29,43 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 49,46 tỷ USD.
Trong quý 4/2025, kim ngạch xuất khẩu dịch vụ ước đạt 8,26 tỷ USD, tăng 17,3% so với cùng kỳ năm trước và tăng 9,0% so với quý trước; kim ngạch nhập khẩu dịch vụ ước đạt 10,55 tỷ USD, tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước và giảm 1,1% so với quý trước.
Tính chung cả năm 2025, kim ngạch xuất khẩu dịch vụ ước đạt 30,31 tỷ USD, tăng 18,9% so với năm trước, trong đó dịch vụ du lịch đạt 15,22 tỷ USD (chiếm 50,2% tổng kim ngạch), tăng 24,4%; dịch vụ vận tải đạt 8,8 tỷ USD (chiếm 29,0%), tăng 23,6%.
Kim ngạch nhập khẩu dịch vụ năm 2025 ước đạt 40,54 tỷ USD (trong đó phí dịch vụ vận tải và bảo hiểm của hàng hóa nhập khẩu là 14,43 tỷ USD), tăng 14,0% so với năm trước, trong đó dịch vụ vận tải đạt 17,1 tỷ USD (chiếm 42,1% tổng kim ngạch), tăng 19,9%; dịch vụ du lịch đạt 14,7 tỷ USD (chiếm 36,4%), tăng 15,6%. Cán cân thương mại dịch vụ năm 2025 nhập siêu 10,23 tỷ USD.
Cục Thống kê-Việt An
Sản xuất công nghiệp năm 2025 tăng 9,2%, mức cao nhất trong 7 năm qua
Theo số liệu được Cục Thống kê (Bộ Tài chính) công bố chiều 05/01/2026, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) quý 4/2025 ước tăng 9,9% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm 2025, IIP ước tăng 9,2% so với năm trước (năm 2024 tăng 8,2%), là mức tăng cao nhất kể từ năm 2019 đến nay.
Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 10,5% (năm 2024 tăng 9,5%), đóng góp 8,4 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 6,7% (năm 2024 tăng 9,5%), đóng góp 0,6 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,8% (năm 2024 tăng 10,6%), đóng góp 0,1 điểm phần trăm; ngành khai khoáng tăng 0,5% (năm 2024 giảm 6,3%), đóng góp 0,1 điểm phần trăm trong mức tăng chung.
Tốc độ tăng/giảm chỉ số IIP các năm 2021-2025 của một số ngành công nghiệp trọng điểm (%). Nguồn: Cục Thống kê.Báo cáo của Cục Thống kê cũng cho biết chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2025 của một số ngành trọng điểm cấp II tăng cao so với năm 2024, gồm: sản xuất xe có động cơ tăng 22,0%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 16,2%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 15,7%; sản xuất kim loại tăng 15,4%; sản xuất trang phục tăng 13,2%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 12,5%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 12,4%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 11,1%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 11,0%; sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng 10,8%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 10,4%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 9,4%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 8,3%.
Ở chiều ngược lại, chỉ số IIP của một số ngành tăng thấp hoặc giảm là khai thác than cứng và than non tăng 2,5%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 2,5%.
Về bức tranh sản xuất tại các địa phương cũng cho thấy sự tích cực khi chỉ số IIP năm 2025 so với năm 2024 tăng ở cả 34 địa phương. Một số địa phương có chỉ số IIP đạt mức tăng khá cao do ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; ngành sản xuất và phân phối điện tăng cao.
Ở chiều ngược lại, một số địa phương có chỉ số IIP tăng thấp do ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, ngành sản xuất và phân phối điện, ngành khai khoáng tăng thấp hoặc giảm.
Tốc độ tăng/giảm IIP năm 2025 so với năm trước của một số địa phương. Nguồn: Cục Thống kê.Về sản phẩm công nghiệp chủ lực, Cục Thống kê ghi nhận năm 2025 tăng cao so với năm trước, dẫn đầu là ô tô tăng 39,1%; tiếp đến thép cán tăng 17,6%; tivi tăng 17,4%; thức ăn cho thủy sản và quần áo mặc thường cùng tăng 13,8%; xi măng tăng 13,6%; giày, dép da tăng 13,3%; thủy hải sản chế biến tăng 11,1%; phân hỗn hợp NPK tăng 10,7%.
Ở chiều ngược lại, một số sản phẩm giảm so với năm trước là khí đốt thiên nhiên dạng khí giảm 5,6%; vải dệt từ sợi nhân tạo giảm 1,0%; bột ngọt giảm 0,2%.
Đối với chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 12/2025, báo cáo của Cục Thống kê cho biết giảm 0,4% so với tháng trước và tăng 12,2% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm 2025, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,9% so với năm 2024 (năm trước tăng 11,4%).
Về chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tại thời điểm 31/12/2025 tăng 6,2% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 13,1% so với cùng thời điểm năm trước (cùng thời điểm năm trước tăng 10,4%). Tỷ lệ tồn kho toàn ngành chế biến, chế tạo bình quân năm 2025 là 81,1% (năm 2024 là 77,1%).
Liên quan đến số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/12/2025, báo cáo của Cục Thống kê ghi nhận tăng 0,8% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 2,4% so với cùng thời điểm năm trước. Trong đó, lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 0,2% và giảm 0,6%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 0,8% và tăng 0,3%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 1,0% và tăng 3,3%.
Theo ngành hoạt động, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng không đổi so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 1,1% so với cùng thời điểm năm trước; ngành chế biến, chế tạo tăng 0,9% và tăng 2,4%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 0,1% và tăng 2,9%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,4% và tăng 0,7%.
Cục Thống kê-Mạnh Đức
Tổng thống Trump hoãn tăng thuế quan đối với đồ nội thất, dọa áp thêm thuế quan lên Ấn Độ
Tổng thống Mỹ Donald Trump đã quyết định hoãn việc tăng thuế quan đối với một số mặt hàng nội thất - bao gồm đồ nội thất bọc nệm, tủ bếp và bàn trang điểm - trong bối cảnh người tiêu dùng nước này đối mặt với tình trạng lạm phát cao dai dẳng. Tuy nhiên, ông cảnh báo có thể áp thêm thuế quan lên Ấn Độ nếu nước này không giảm mua dầu Nga như Mỹ yêu cầu.
Quyết định hoãn thuế quan đối với hàng nội thất được công bố vào đêm giao thừa trước khi bước sang năm 2026, ngay trước khi các mức thuế mới dự kiến có hiệu lực vào ngày 1/1.
Theo một thông báo từ Nhà Trắng, thuế nhập khẩu đối với tủ và bàn trang điểm lẽ ra sẽ tăng từ 25% lên 50%, trong khi các sản phẩm gỗ bọc nệm như ghế sofa và ghế bành sẽ bị áp thuế 30%. Tuy nhiên, mức thuế này sẽ được giữ nguyên ở mức 25% đối với tất cả các mặt hàng bị ảnh hưởng.
Nhà Trắng cho biết quyết định hoãn thuế quan này là kết quả của các cuộc đàm phán hiệu quả với các đối tác thương mại nhằm giải quyết các vấn đề về đối ứng thương mại và an ninh quốc gia liên quan đến nhập khẩu sản phẩm gỗ. Các mức thuế này được áp trên cơ sở Mục 232 của Đạo luật Mở rộng Thương mại năm 1962, cho phép áp đặt thuế quan vì lý do an ninh quốc gia.
Tháng 8 năm ngoái, Tổng thống Trump tuyên bố sẽ nhắm vào ngành công nghiệp nội thất để áp thuế và đưa sản xuất trong ngành này trở lại các khu vực như vùng Piedmont của Bắc Carolina, nơi từng là trung tâm sản xuất sôi động của các mặt hàng nội thất. Bang này đã mất hàng chục nghìn việc làm trong ngành sản xuất nội thất trong những thập kỷ gần đây và gặp khó khăn trong việc cạnh tranh với hàng nhập khẩu từ Trung Quốc - theo tờ báo Wall Street Journal.
Lời đe dọa áp thuế của mà ông Trump đưa ra vào tháng 8 đã khiến cổ phiếu của các công ty nhập khẩu nội thất, bao gồm công ty mẹ của Restoration Hardware là RH và Wayfair, giảm mạnh.
Sau khi ồ ạt áp thuế quan trong cuộc chiến thương mại mà ông khởi động khi trở lại Nhà Trắng trong nhiệm kỳ thứ hai, ông Trump sau đó đã giảm bớt thuế quan đối với nhiều sản phẩm và đối tác thương mại.
Vào tháng 11, vị Tổng thống đã giảm thuế đối với thịt bò, cà phê, chuối và hàng chục mặt hàng nông sản khác để giải quyết lo ngại về chi phí sinh hoạt của người Mỹ. Nhiều mặt hàng thực phẩm trong số này là những sản phẩm khó sản xuất tại Mỹ.
Trong năm qua, thuế quan đã góp phần làm tăng giá đáng kể nhiều mặt hàng tiêu dùng ở Mỹ. Giá tiêu dùng cho đồ nội thất gia đình đã tăng 4,6% vào tháng 11 so với cùng kỳ năm trước, theo dữ liệu từ Cục Thống kê Lao động (BLS). Hồi đầu năm, hầu như không có lạm phát ở nhóm sản phẩm này.
Quyết định hoãn thuế quan của Trump có thể được xem như một động thái chiến lược nhằm xoa dịu sự mối lo ngại của người tiêu dùng và các doanh nghiệp nhập khẩu, đồng thời tạo điều kiện cho các cuộc đàm phán thương mại tiếp tục diễn ra. Tuy nhiên, giới phân tích cho rằng quyết định này cũng cho thấy sự bất định của các chính sách thương mại.
Ngoài ra, Tòa án Tối cao Mỹ có thể sắp công bố phán quyết về tính hợp pháp của các kế hoạch thuế quan toàn cầu mà ông Trump đã đưa ra, trong đó có thuế quan đối ứng. Phán quyết này có thể đưa ra ngay trong tháng 1/2026 - truyền thông Mỹ đưa tin gần đây.
Nếu Tòa án Tối cao bác bỏ các kế hoạch thuế quan của ông Trump trong vụ kiện này, chính quyền của ông có thể phải hoàn lại số tiền thuế quan hàng trăm tỷ USD đã thu, và các thỏa thuận thương mại đã ký kết có thể mất đi động lực lớn để thực thi. Dù vậy, giới quan sát cho rằng Chính phủ Mỹ còn nhiều căn cứ pháp lý khác để áp thuế quan.
Có thể nói, cuộc chiến thương mại của ông Trump vẫn âm ỉ nóng và khó lường khi bước sang năm 2026. Trong phát biểu mới nhất liên quan tới thuế quan, được đưa ra khi ông Trump đi cùng các nhà báo trên chuyên cơ Không lực 1 ngày 4/1, ông cho biết có thể áp thêm thuế quan lên hàng hóa Ấn Độ nếu nước này không tuân thủ yêu cầu của Mỹ về giảm mua dầu Nga.
“Ông Modi là người tốt. Ông ấy biết là tôi không vui, và khiến tôi cảm thấy vui vẻ là một việc quan trọng”, hãng tin Reuters dẫn lời ông Trump nhắc đến Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi.
Năm ngoái, ông Trump áp thuế quan 50% lên hàng hóa Ấn Độ, trong đó có 25% là thuế quan đối ứng và 25% là thuế quan trừng phạt việc nước này mua dầu Nga. Dù vậy, xuất khẩu của Ấn Độ sang Mỹ trong tháng 11/2025 vẫn tăng 22% so với cùng kỳ năm trước, vượt mức tăng 19% của tổng kim ngạch xuất khẩu của nước này trong tháng 11.
Với xuất khẩu tăng trưởng khả quan, giới chức Ấn Độ đến nay vẫn duy trì lập trường cứng rắn trong đàm phán thương mại với Mỹ, chỉ cho thấy một mức độ linh hoạt nhất định ở một số lĩnh vực như hàng nông sản. Tuy nhiên, số liệu gần đây cho thấy hoạt động nhập khẩu dầu Nga của Ấn Độ đã giảm xuống.
Nguồn thạo tin tiết lộ với Reuters rằng Ấn Độ đã yêu cầu các nhà máy lọc dầu của nước này công bố số liệu hàng tuần về mua dầu thô của Nga và Mỹ. Nguồn tin cũng nói nhập khẩu dầu thô Nga của Ấn Độ có thể giảm dưới mức 1 triệu thùng/ngày vì New Delhi đang cố gắng đạt thỏa thuận thương mại với Washington.
-An Huy
Du lịch TP. Hồ Chí Minh đạt hơn 2.600 tỷ đồng doanh thu trong Tết Dương lịch 2026
Theo báo cáo của Sở Du lịch TP. Hồ Chí Minh trong 4 ngày nghỉ lễ Tết Dương lịch 2026, khách tham quan các khu, điểm du lịch ước đạt 1.240.000 lượt, khách quốc tế đến Thành phố đạt 75.726 lượt. Công suất phòng ước đạt khoảng 75%; doanh thu du lịch ước đạt 2.632 tỷ đồng.
Trong kỳ nghỉ Tết Dương lịch năm nay, khu vực trung tâm TP. Hồ Chí Minh như phố đi bộ Nguyễn Huệ - Bến Bạch Đằng và Công viên bờ sông Sài Gòn trở thành điểm hẹn sôi động, thu hút đông đảo người dân và du khách tham gia các hoạt động chào năm mới, biểu diễn nghệ thuật đường phố và trải nghiệm du lịch đường sông.
Cùng với đó, chợ Bến Thành và các trung tâm thương mại lớn như Saigon Centre, Takashimaya, Vincom Đồng Khởi ghi nhận không khí mua sắm, ẩm thực nhộn nhịp trong suốt kỳ nghỉ lễ.
Nhiều điểm tham quan quen thuộc như Bưu điện Thành phố, Dinh Độc Lập, Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh, Đường sách Nguyễn Văn Bình… cũng đón lượng khách lớn, trong đó khách quốc tế chiếm tỷ lệ đáng kể.
Ở phân khúc vui chơi giải trí, Công viên Văn hóa Đầm Sen, Khu du lịch văn hóa Suối Tiên và Thảo Cầm Viên Sài Gòn ghi nhận lượng khách tăng mạnh, chủ yếu là khách nội địa, đặc biệt là các gia đình đưa trẻ em đi tham quan, giải trí dịp đầu năm.
Tại Bình Dương, hoạt động du lịch diễn ra khá sôi động với dòng khách nội địa và khách tham quan ngắn ngày, tập trung nhiều tại Khu du lịch Đại Nam. Các khu sinh thái, du lịch cộng đồng và điểm vui chơi cuối tuần tại Dĩ An, Thuận An, Bến Cát đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí của người dân địa phương và vùng lân cận. Đồng thời, các sản phẩm du lịch gắn với làng nghề, không gian văn hóa - công nghiệp từng bước được khai thác, góp phần làm phong phú hệ sinh thái du lịch địa phương.
Tại Bà Rịa - Vũng Tàu, các bãi biển Vũng Tàu, Long Hải, Hồ Tràm, Hồ Cốc ghi nhận lượng khách tăng cao trong những ngày nghỉ lễ. Nhiều khu nghỉ dưỡng tại Hồ Tràm, Long Hải đạt công suất phòng cao, thậm chí kín phòng vào các ngày cao điểm. Bên cạnh đó, các điểm du lịch tâm linh, sinh thái như tượng Chúa Kitô Vua, Núi Lớn - Núi Nhỏ, suối khoáng nóng Bình Châu tiếp tục thu hút đông đảo du khách.
Trong dịp Tết Dương lịch 2026, các cơ sở lưu trú chủ động tăng cường nhân sự, triển khai thêm nhiều dịch vụ đi kèm; doanh nghiệp ăn uống, vui chơi giải trí và các trung tâm thương mại kéo dài thời gian hoạt động, làm mới sản phẩm nhằm nâng cao trải nghiệm cho du khách.
Song song đó, Sở Du lịch TP. Hồ Chí Minh đã yêu cầu các cơ sở lưu trú và doanh nghiệp du lịch thực hiện nghiêm các biện pháp bảo đảm an ninh, an toàn, phòng cháy chữa cháy, an toàn vệ sinh thực phẩm, niêm yết và bán đúng giá, qua đó góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch trong dịp cao điểm lễ.
Ngày 1/1/2025, tại Cảng Hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất, Sở Du lịch TP. Hồ Chí Minh tổ chức “Lễ đón đoàn khách du lịch đến TP.Hồ Chí Minh đầu năm 2026”. Phó Chủ tịch UBND TP. Hồ Chí Minh Nguyễn Văn Dũng cùng lãnh đạo ngành Du lịch, các đơn vị hàng không đã tham dự lễ đón.
Đây là hoạt động mở màn đầy hứng khởi, thành công cho một năm mới của ngành Du lịch Thành phố, gửi gắm thông điệp về một TP. Hồ Chí Minh cởi mở, trẻ trung và tràn đầy năng lượng trong vận hội mới.
Phó Chủ tịch UBND TP. Hồ Chí Minh Nguyễn Văn Dũng (thứ 4 từ phải qua) cùng ngành Du lịch Thành phố đón đoàn khách du lịch “xông đất” đầu năm - Ảnh: Cổng thông tin điện tử Thành phố.Hai chuyến bay quốc tế “xông đất” TP. Hồ Chí Minh sáng đầu năm gồm chuyến bay VN30 từ Đức đến TP.Hồ Chí Minh của Vietnam Airlines, hạ cánh lúc 6 giờ 35 phút tại khu vực băng chuyền 4 và 5, ga đến quốc tế; tiếp đó là chuyến bay QR974 từ Qatar đến TP.Hồ Chí Minh của Qatar Airways, hạ cánh lúc 7 giờ 15 phút tại cùng khu vực.
Ngay sau khi hoàn tất thủ tục nhập cảnh, hành khách trên hai chuyến bay được lãnh đạo Thành phố và ngành Du lịch chào đón, trao hoa tươi, quà lưu niệm như lời chúc may mắn và an lành trong năm mới.
Lễ đón khách năm nay được tổ chức với các hoạt động trải nghiệm văn hóa đặc sắc, sống động, đậm nét văn hóa Việt Nam. Những vị khách đầu tiên của năm mới và du khách được đắm mình trong không khí Tết cổ truyền với tiểu cảnh Chợ Bến Thành, hoa mai vàng, hoa cúc rực rỡ cùng cụm chữ “I Love Vibrant HCMC”.
Ông Phạm Huy Bình, Giám đốc Sở Du lịch TP. Hồ Chí Minh chia sẻ Lễ đón đoàn khách du lịch đến Thành phố đầu năm 2026 không chỉ là hoạt động chào mừng những vị khách “xông đất” đầu tiên, mà còn mang ý nghĩa khởi đầu cho một năm du lịch Việt Nam bùng nổ và thành công.
Với vị thế của một siêu đô thị năng động, trẻ trung và giàu bản sắc, TP. Hồ Chí Minh cam kết không ngừng nâng cao chất lượng điểm đến, bảo đảm môi trường du lịch an toàn, thân thiện và sáng tạo.
“Chúng tôi kỳ vọng mỗi du khách khi đặt chân đến Thành phố sẽ cảm nhận được sự giao hòa giữa giá trị văn hóa truyền thống và nhịp sống đô thị hiện đại, từ đó lan tỏa những trải nghiệm tích cực, góp phần thúc đẩy tăng trưởng du lịch của Thành phố và cả nước trong năm 2026”, ông Bình cho biết.
Năm 2026, ngành Du lịch TP. Hồ Chí Minh đặt mục tiêu đón khoảng 11 triệu lượt khách quốc tế và 50 triệu lượt khách nội địa. Tổng thu từ du lịch dự kiến đạt 330.000 tỷ đồng.
Thành phố cũng định vị hình ảnh điểm đến giàu bản sắc, gắn giá trị văn hóa - lịch sử với sản phẩm du lịch hiện đại, sáng tạo. Bước sang giai đoạn mới sau hợp nhất, ngành Du lịch đặt mục tiêu lớn: Đến năm 2030 trở thành trung tâm du lịch sáng tạo hàng đầu châu Á, thu hút dòng khách giá trị cao và dẫn dắt du lịch xanh, du lịch số.
-Thiên Di