The Latest News

VN-Index bay gần 100 điểm trong một tuần, thanh khoản tiếp tục giảm mạnh

Thời báo kinh tế Việt Nam - Sun, 12/14/2025 - 09:44
Tính trên cả 3 sàn, tổng giá trị giao dịch bình quân phiên đạt 24.519 tỷ đồng, trong đó giá trị giao dịch khớp lệnh đạt 20.587 tỷ đồng, giảm -6,15% so với tuần trước.

VN-Index kết thúc tuần 50/2025 tại 1.646,89 điểm, giảm 94,43 điểm (-5,42%), chấm dứt chuỗi tăng trước đó và phản ánh áp lực điều chỉnh mạnh khi thị trường không giữ được vùng điểm cao.

Giá trị giao dịch khớp lệnh bình quân trên HOSE đạt 18.885 tỷ đồng/phiên, giảm 6,24% so với tuần trước và thấp hơn -5,74% so với trung bình 5 tuần gần nhất, cho thấy dòng tiền suy yếu rõ rệt trong nhịp điều chỉnh.

Tính trên cả 3 sàn, tổng giá trị giao dịch bình quân phiên đạt 24.519 tỷ đồng, trong đó giá trị giao dịch khớp lệnh đạt 20.587 tỷ đồng, giảm -6,15% so với tuần trước và thấp hơn -7,17% so với trung bình 5 tuần - phản ánh tâm lý thận trọng gia tăng và xu hướng phòng thủ của dòng tiền trong bối cảnh biến động mạnh.

Xét theo ngành, dòng tiền trong tuần 50/2025 suy yếu rõ rệt và suy yếu trên diện rộng, đi kèm với diễn biến giá đồng loạt điều chỉnh.

Nhà đầu tư nước ngoài bán ròng 5791.3 tỷ đồng, tính riêng giao dịch khớp lệnh thì họ bán ròng 2978.4 tỷ đồng.

Mua ròng khớp lệnh chính của nước ngoài là nhóm Tài nguyên Cơ bản, Công nghệ Thông tin. Top mua ròng khớp lệnh của nước ngoài gồm các mã: HPG, MBB, FPT, CTG, VNM, VJC, PVD, SHB, MWG, VPL.

Phía bên bán ròng khớp lệnh của nước ngoài là nhóm Bất động sản. Top bán ròng khớp lệnh của nước ngoài gồm các mã: VIC, STB, VCB, MSN, HDB, VHM, SSI, DXG, KBC.

Nhà đầu tư cá nhân mua ròng 2405.0 tỷ đồng, trong đó họ mua ròng 1393.7 tỷ đồng qua khớp lệnh. Tính riêng giao dịch khớp lệnh, họ mua ròng 10/18 ngành, chủ yếu là ngành Bất động sản. Top mua ròng của nhà đầu tư cá nhân tập trung gồm: VIC, STB, MSN, VHM, SSI, ACB, DIG, VPL, VIX, VCB.

Phía bán ròng khớp lệnh: họ bán ròng 8/18 ngành chủ yếu là nhóm ngành Hàng Dịch vụ Công nghiệp, Điện, nước xăng dầu khí đốt. Top bán ròng có: SHB, HAH, MBB, CTG, BAF, VJC, VSC, POW, EIB.

Tự doanh mua ròng 376.7 tỷ đồng, tính riêng khớp lệnh họ mua ròng 191.1 tỷ đồng. Tính riêng giao dịch khớp lệnh: Tự doanh mua ròng 10/18 ngành. Nhóm mua ròng mạnh nhất là Ngân hàng, Dịch vụ tài chính. Top mua ròng khớp lệnh của tự doanh trong tuần này gồm MWG, FPT, MBB, STB, VIC, VIX, PVD, CTG, VCI, VCG.

Top bán ròng là nhóm Thực phẩm và đồ uống. Top cổ phiếu được bán ròng gồm HPG, MSN, VHM, VNM, VRE, ACB, DGC, VIB, NAF, FUEVFVND .

Nhà đầu tư tổ chức trong nước mua ròng 3009.6 tỷ đồng, tính riêng khớp lệnh thì họ mua ròng 1393.6 tỷ đồng.

Tính riêng giao dịch khớp lệnh: Tổ chức trong nước bán ròng 9/18 ngành, giá trị lớn nhất là nhóm Công nghệ Thông tin Top bán ròng có FPT, HPG, MBB, VPL, VIX, DIG, MWG, PVD, SSI, CII.

Giá trị mua ròng lớn nhất là nhóm Ngân hàng. Top mua ròng có VIC, HDB, VCB, SHB, EIB, HAH, GEX, ACB, VSC, BAF.

Tỷ trọng phân bổ dòng tiền tăng ở Bất động sản, Xây dựng, Thép, Chăn nuôi Thủy sản, Công nghệ thông tin trong khi giảm mạnh ở Ngân hàng, Chứng khoán, Thực phẩm, Bán lẻ.

Sức mạnh dòng tiền: Phân bổ dòng tiền vào nhóm vốn hóa lớn VN30 giảm mạnh trong khi nhích nhẹ ở nhóm vốn hóa vừa VNMID và cải thiện mạnh ở nhóm vốn hóa nhỏ VNSML.

Trong tuần 50/2025, dòng tiền suy yếu rõ rệt ở nhóm vốn hóa lớn VN30 và vốn hóa vừa VNMID, trong khi gia tăng mạnh ở nhóm vốn hóa nhỏ VNSML. Dù vậy, VN30 vẫn là tâm điểm phân bổ dòng tiền, chiếm 55,2% tổng GTGD toàn thị trường, theo sau là VNMID (33,9%) và VNSML (7,1%).

Thanh khoản thu hẹp tại hai nhóm vốn hóa chủ chốt, với giá trị giao dịch bình quân phiên của VN30 giảm mạnh nhất -1.338 tỷ đồng (-11,4%), kế đến là VNMID giảm -218,2 tỷ đồng (-3,3%), đi kèm với diễn biến giá kém tích cực khi VN30 và VNMID lần lượt giảm -5,49% và -7,25%.

Ở chiều ngược lại, VNSML ghi nhận thanh khoản tăng mạnh +20,7% (tương đương +230,3 tỷ đồng/ phiên), dù chỉ số giảm -3,21%, thấp hơn mức giảm của thị trường chung, phản ánh dòng tiền mang tính đầu cơ ngắn hạn có xu hướng dịch chuyển sang nhóm cổ phiếu vốn hóa nhỏ trong bối cảnh thị trường điều chỉnh.

-Thu Minh

Categories: The Latest News

Chủ tịch VSDC: Nếu không có thêm hàng mới chất lượng thì 20 năm nữa cũng khó hút vốn ngoại

Thời báo kinh tế Việt Nam - Sun, 12/14/2025 - 09:44
Nếu không có hàng hoá mới, không có doanh nghiệp mới IPO gắn với niêm yết, không rút ngắn chu kỳ niêm yết, không có trái phiếu công trình, trái phiếu xanh, hoặc thiếu vắng các doanh nghiệp FDI niêm yết thì “5 năm, 10 năm hay 20 năm nữa cũng khó mà hút thêm vốn.

Chia sẻ tại Diễn đàn Triển vọng thị trường vốn Việt Nam 2026 diễn ra mới đây, ông Nguyễn Sơn – Chủ tịch HĐTV Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ Chứng khoán Việt Nam (VSDC) nhấn mạnh tới hai bước phát triển quan trọng của thị trường chứng khoán Việt Nam trong năm 2025 vừa qua. 

Một là việc hệ thống công nghệ thông tin mới (KRX) chính thức vận hành sau 5-7 năm chuẩn bị, cung ứng các tiện ích, dịch vụ cho thị trường chứng khoán. Hai là sự kiện FTSE Russell công bố nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam từ cận biên lên mới nổi thứ cấp, dự kiến sẽ qua một kỳ review vào tháng 3/2026 để chính thức bước lên vị thế mới vào tháng 9/2026.

Chủ tịch VSDC cho hay hiện tại, VSDC đang hướng tới nâng cấp và tăng hiệu năng của hệ thống, vì đây là nền tảng được xây dựng từ khá lâu.

Cũng theo ông Nguyễn Sơn, quy mô giao dịch của thị trường chứng khoán Việt Nam là khoảng 1,5 tỷ USD/phiên. So với các nước trong khu vực, độ sâu của thị trường tương đối tốt. Tốc độ mở rộng nhanh của thị trường đòi hỏi phải tiếp tục nâng cấp năng lực xử lý để đáp ứng nhu cầu trong giai đoạn tới.

Việt Nam hiện có hơn 11,6 triệu tài khoản chứng khoán, vượt mục tiêu 11 triệu tài khoản Chính phủ đặt ra cho năm 2030. Riêng tài khoản phái sinh đạt khoảng 2,5 triệu. Trên một thị trường hơn 80 triệu dân, đây là mức độ tham gia rất cao. Tuy nhiên, điểm yếu là có tới khoảng 90% tài khoản thuộc về nhà đầu tư cá nhân, thiếu đi các định chế đầu tư đầu tư chuyên nghiệp.

Vừa rồi, Bộ Tài chính đã phê duyệt đề án tái cấu trúc cơ sở nhà đầu tư và phát triển ngành quỹ, hướng tới nhà đầu tư chuyên nghiệp chiếm 20-30%. Bởi lẽ, nếu chỉ dựa vào nhà đầu tư cá nhân, dưới tác động của rủi ro liên quan tới tâm lý rủi ro và tài chính hành vi thì thị trường sẽ biến động lớn.

Về hạ tầng, Chủ tịch VSDC cho hay thị trường chứng khoán Việt Nam đang hướng tới hệ thống thanh toán chuẩn mực, đó là cơ chế thanh toán đối tác bù trừ trung tâm (CCP). Đây là nội dung đã được luật hoá trong Luật Chứng khoán 2019 và trong Luật Chứng khoán sửa đổi mới đây.

“Dự kiến, vào quý 1/2027, chúng tôi sẽ vận hành CCP”, ông Nguyễn Sơn nói và cho biết cơ chế này đã được áp dụng đối với thị trường phái sinh, trong khi thị trường cơ sở vẫn đang vận hành theo cơ chế bù trừ đa phương.

Theo Chủ tịch VSDC, thị trường đã kỳ vọng rất lâu vào những sản phẩm mà gói thầu công nghệ đã thiết kế như giao dịch chứng khoán xuyên trưa, kéo dài thời gian giao dịch sau giờ cho nhà đầu tư chuyên nghiệp, thực hiện các cơ chế tổ chức giao dịch trong phiên mở cửa với các sản phẩm gắn IPO với niêm yết và xa hơn các sản phẩm phái sinh, bán khống.

Tuy nhiên, việc triển khai bất kỳ sản phẩm nào cũng phải gắn với năng lực quản trị rủi ro và nền tảng hệ thống của tất cả thành viên thị trường – không chỉ riêng sở giao dịch chứng khoán hay VSDC. Các cơ chế xử lý như sell-out, buy-in, biện pháp cưỡng chế, hay xử lý giao dịch lỗi (fail trades) đều phải được áp dụng đầy đủ. Việc đưa sản phẩm mới ra thị trường phải có lộ trình, phù hợp với khả năng hấp thụ và kỳ vọng của nhà đầu tư.

Về câu chuyện nâng hạng thị trường chứng khoán, ông Nguyễn Sơn nhấn mạnh đây là không phải “đích đến” mà là điểm khởi đầu. Nâng hạng nghĩa là thị trường phải đáp ứng bộ tiêu chuẩn kỹ thuật của các tổ chức xếp hạng. Khi đã đạt chuẩn, nhiệm vụ tiếp theo là duy trì và từng bước vượt lên mức cao hơn. Ông cảnh báo bài học nhãn tiền từ nhiều thị trường bị hạ hạng cho thấy hệ quả lớn nhất là dòng vốn rút đi đáng kể.

Liên quan đến câu chuyện này, Chủ tịch VSDC cho rằng cho rằng cần tháo gỡ các rào cản kỹ thuật và pháp lý theo tiêu chuẩn của chứng khoán toàn cầu, các global brokers.

Một vấn đề cần lưu ý là nâng cấp hệ thống STP – nền tảng chuyển mạch nghiệp vụ giữa ngân hàng lưu ký, tổ chức giám sát nước ngoài và công ty chứng khoán trong nước để tăng cường khả năng tương tác, giao thức kết nối. “Đây là những việc phải làm ngay trong 6 tháng cuối năm nay, đầu năm tới và cả giai đoạn sau nâng hạng. Đừng nghĩ rằng lên thị trường mới nổi là vốn sẽ tự động chảy vào ào ào”, ông Nguyễn Sơn nhấn mạnh.

Theo ông, vấn đề then chốt hiện nay là nguồn hàng. Nếu không có hàng hoá mới, không có doanh nghiệp mới IPO gắn với niêm yết, không rút ngắn chu kỳ niêm yết, không có trái phiếu công trình, trái phiếu xanh, hoặc thiếu vắng các doanh nghiệp FDI niêm yết thì “5 năm, 10 năm hay 20 năm nữa cũng khó mà hút thêm vốn”.

“Việc khối ngoại bán ròng khoảng 11 tỷ USD cũng đặt ra câu hỏi quan trọng: Vì sao vốn rời khỏi Việt Nam? Các công cụ phòng vệ rủi ro – không chỉ của Bộ Tài chính mà cả của Chính phủ – cần được thiết kế phù hợp với bối cảnh biến động tỷ giá, bởi nhà đầu tư hiện vẫn thiếu các sản phẩm hedging chuyên biệt”, ông Sơn nói thêm.

Chủ tịch VSDC khẳng định khi các nút thắt hạ tầng được giải quyết, dòng vốn sẽ tự động tìm đến Việt Nam, đặc biệt từ châu Âu. Một trong những yếu tố góp phần hỗ trợ là cơ chế omnibus trading account, giúp nhà đầu tư quốc tế – theo nguyên tắc của các định chế châu Âu – có thể tiếp cận thị trường Việt Nam thuận tiện hơn.

-Tuệ Lâm

Categories: The Latest News

Chủ tịch VSD: Nếu không có thêm hàng mới chất lượng thì 20 năm nữa cũng khó hút vốn ngoại

Thời báo kinh tế Việt Nam - Sun, 12/14/2025 - 09:44
Nếu không có hàng hoá mới, không có doanh nghiệp mới IPO gắn với niêm yết, không rút ngắn chu kỳ niêm yết, không có trái phiếu công trình, trái phiếu xanh, hoặc thiếu vắng các doanh nghiệp FDI niêm yết thì “5 năm, 10 năm hay 20 năm nữa cũng khó mà hút thêm vốn.

Chia sẻ tại Diễn đàn Triển vọng thị trường vốn Việt Nam 2026 diễn ra mới đây, ông Nguyễn Sơn – Chủ tịch HĐTV Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ Chứng khoán Việt Nam (VSDC) nhấn mạnh tới hai bước phát triển quan trọng của thị trường chứng khoán Việt Nam trong năm 2025 vừa qua. 

Thứ nhất là việc hệ thống công nghệ thông tin mới (KRX) chính thức vận hành sau 5-7 năm chuẩn bị, cung ứng các tiện ích, dịch vụ cho thị trường chứng khoán. Thứ hai là sự kiện FTSE Russell công bố nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam từ cận biên lên mới nổi thứ cấp, dự kiến sẽ qua một kỳ review vào tháng 3/2026 để chính thức bước lên vị thế mới vào tháng 9/2026.

Chủ tịch VSDC cho hay hiện tại, VSDC đang hướng tới nâng cấp và tăng hiệu năng của hệ thống, vì đây là nền tảng được xây dựng từ khá lâu.

Cũng theo ông Nguyễn Sơn, quy mô giao dịch của thị trường chứng khoán Việt Nam là khoảng 1,5 tỷ USD/phiên. So với các nước trong khu vực, độ sâu của thị trường tương đối tốt. Tốc độ mở rộng nhanh của thị trường đòi hỏi phải tiếp tục nâng cấp năng lực xử lý để đáp ứng nhu cầu trong giai đoạn tới.

Việt Nam hiện có hơn 11,6 triệu tài khoản chứng khoán, vượt mục tiêu 11 triệu tài khoản Chính phủ đặt ra cho năm 2030. Riêng tài khoản phái sinh đạt khoảng 2,5 triệu. Trên một thị trường hơn 80 triệu dân, đây là mức độ tham gia rất cao. Tuy nhiên, điểm yếu là có tới khoảng 90% tài khoản thuộc về nhà đầu tư cá nhân, thiếu đi các định chế đầu tư đầu tư chuyên nghiệp.

Vừa rồi, Bộ Tài chính đã phê duyệt đề án tái cấu trúc cơ sở nhà đầu tư và phát triển ngành quỹ, hướng tới nhà đầu tư chuyên nghiệp chiếm 20-30%. Bởi lẽ, nếu chỉ dựa vào nhà đầu tư cá nhân, dưới tác động của rủi ro liên quan tới tâm lý rủi ro và tài chính hành vi thì thị trường sẽ biến động lớn.

Về hạ tầng, Chủ tịch VSDC cho hay thị trường chứng khoán Việt Nam đang hướng tới hệ thống thanh toán chuẩn mực, đó là cơ chế thanh toán đối tác bù trừ trung tâm (CCP). Đây là nội dung đã được luật hoá trong Luật Chứng khoán 2019 và trong Luật Chứng khoán sửa đổi mới đây.

“Dự kiến, vào quý 1/2027, chúng tôi sẽ vận hành CCP”, ông Nguyễn Sơn nói và cho hay cơ chế này đã được áp dụng đối với thị trường phái sinh, trong khi thị trường cơ sở vẫn đang vận hành theo cơ chế bù trừ đa phương.

Chủ tịch VSDC cũng cho hay thị trường đã kỳ vọng rất lâu vào những sản phẩm mà gói thầu công nghệ đã thiết kế như giao dịch chứng khoán xuyên trưa, kéo dài thời gian giao dịch sau giờ cho nhà đầu tư chuyên nghiệp, thực hiện các cơ chế tổ chức giao dịch trong phiên mở cửa với các sản phẩm gắn IPO với niêm yết và xa hơn các sản phẩm phái sinh, bán khống.

Tuy nhiên, việc triển khai bất kỳ sản phẩm nào cũng phải gắn với năng lực quản trị rủi ro và nền tảng hệ thống của tất cả thành viên thị trường – không chỉ riêng Sở Giao dịch hay Trung tâm Lưu ký. Các cơ chế xử lý như sell-out, buy-in, biện pháp cưỡng chế, hay xử lý giao dịch lỗi (fail trades) đều phải được áp dụng đầy đủ. Việc đưa sản phẩm mới ra thị trường phải có lộ trình, phù hợp với khả năng hấp thụ và kỳ vọng của nhà đầu tư.

Về câu chuyện nâng hạng thị trường chứng khoán, ông Nguyễn Sơn nhấn mạnh đây là không phải “đích đến” mà là điểm khởi đầu. Nâng hạng nghĩa là thị trường phải đáp ứng bộ tiêu chuẩn kỹ thuật của các tổ chức xếp hạng. Khi đã đạt chuẩn, nhiệm vụ tiếp theo là duy trì và từng bước vượt lên mức cao hơn. Ông cảnh báo bài học nhãn tiền từ nhiều thị trường bị hạ hạng cho thấy hệ quả lớn nhất là dòng vốn rút đi đáng kể.

Liên quan đến câu chuyện này, Chủ tịch VSDC cho rằng cho rằng cần tháo gỡ các rào cản kỹ thuật và pháp lý theo tiêu chuẩn của chứng khoán toàn cầu, các global brokers.

Một vấn đề cần lưu ý là nâng cấp hệ thống STP – nền tảng chuyển mạch nghiệp vụ giữa ngân hàng lưu ký, tổ chức giám sát nước ngoài và công ty chứng khoán trong nước để tăng cường khả năng tương tác, giao thức kết nối. “Đây là những việc phải làm ngay trong 6 tháng cuối năm nay, đầu năm tới và cả giai đoạn sau nâng hạng. Đừng nghĩ rằng lên thị trường mới nổi là vốn sẽ tự động chảy vào ào ào”, ông Nguyễn Sơn nhấn mạnh.

Theo ông, vấn đề then chốt hiện nay là nguồn hàng. Nếu không có hàng hoá mới, không có doanh nghiệp mới IPO gắn với niêm yết, không rút ngắn chu kỳ niêm yết, không có trái phiếu công trình, trái phiếu xanh, hoặc thiếu vắng các doanh nghiệp FDI niêm yết thì “5 năm, 10 năm hay 20 năm nữa cũng khó mà hút thêm vốn”.

“Việc khối ngoại bán ròng khoảng 11 tỷ USD cũng đặt ra câu hỏi quan trọng: Vì sao vốn rời khỏi Việt Nam? Các công cụ phòng vệ rủi ro – không chỉ của Bộ Tài chính mà cả của Chính phủ – cần được thiết kế phù hợp với bối cảnh biến động tỷ giá, bởi nhà đầu tư hiện vẫn thiếu các sản phẩm hedging chuyên biệt”, ông Sơn nói thêm.

Chủ tịch VSDC khẳng định khi các nút thắt hạ tầng được giải quyết, dòng vốn sẽ tự động tìm đến Việt Nam, đặc biệt từ châu Âu. Một trong những yếu tố góp phần hỗ trợ là cơ chế omnibus trading account, giúp nhà đầu tư quốc tế – theo nguyên tắc của các định chế châu Âu – có thể tiếp cận thị trường Việt Nam thuận tiện hơn.

-Tuệ Lâm

Categories: The Latest News

Xu thế dòng tiền: “Bóng ma” giải chấp quay lại?

Thời báo kinh tế Việt Nam - Sun, 12/14/2025 - 09:43
Phiên bán tháo hỗn loạn đột ngột cuối tuần qua khiến nhà đầu tư rơi vào tình cảnh trớ trêu khi trước đó chỉ số tăng danh mục không tăng, lúc này chỉ số rơi sâu, mức thua lỗ lại tồi tệ thêm.

Các chuyên gia đều đồng thuận cho rằng biến động mạnh của thị trường cuối tuần qua không phải do thông tin xấu bất ngờ nào. Tuy vậy sự lan tỏa rộng rãi của áp lực bán cho thấy phản ứng tâm lý khá đồng nhất. Đây là sự phản ứng từ trạng thái bất ổn của nhịp kiểm định đỉnh 1800 điểm thuần túy do kéo trụ cộng với nhu cầu giảm tỷ trọng hàng loạt.

Với sức ép giảm giá xuất hiện trọn phiên cuối tuần, rất nhiều cổ phiếu giảm giá liên tục và kết thúc ở mức thấp nhất ngày. Các chuyên gia đánh giá khá thận trọng về lực cầu bắt đáy ở một phiên biến động lớn như vậy. Dòng tiền không đủ để hấp thụ lượng bán, việc thanh khoản không gia tăng đột biến trong các phiên giảm hàm ý rằng dòng tiền lớn vẫn giữ trạng thái quan sát, ưu tiên đánh giá thêm rủi ro thay vì vội vàng mở vị thế mới.

Mặc dù vậy các chuyên gia cũng không tỏ ra lo ngại về áp lực giải chấp, dù thời điểm cuối năm khả năng cho vay thường hạn chế hơn. Nhịp tăng trước đó thanh khoản thấp và độ rộng hẹp, nghĩa là dòng tiền margin chưa tham gia quá sâu hay “đu bám” quyết liệt ở vùng giá cao. Dư nợ margin thực tế không ở mức căng thẳng. Áp lực hiện tại mang tính cục bộ và tái cơ cấu nhiều hơn là một đợt sụp đổ domino, tạo dư địa cho thị trường sớm ổn định trở lại.

Nguyễn HoàngVnEconomy

VN-Index giảm khá sốc tuần qua sau khi không kiểm định thành công vùng đỉnh cũ do ảnh hưởng từ các cổ phiếu vốn hóa lớn dẫn dắt. Phiên cuối tuần chỉ số giảm mạnh nhất 40 phiên nhưng không chỉ do nhóm Vingroup mà còn vì rất nhiều blue-chips khác. Vì sao thị trường lại trở nên sợ hãi như vậy, dù trước đó nhịp kiểm định định hầu như chỉ do vài trụ kéo lên và anh chị cũng đánh giá các tín hiệu từ chỉ số không đáng tin cậy?

Phiên giảm mạnh cuối tuần mang tính “tâm lý” nhiều hơn là phản ánh một cú sốc thông tin, nhưng việc áp lực bán lan sang nhiều blue-chips cho thấy trạng thái phòng ngừa rủi ro đã chiếm ưu thế. Điều này phù hợp với bối cảnh dòng tiền trước đó đã có dấu hiệu thận trọng, nên khi điểm tựa tâm lý bị mất, phản ứng của thị trường đã trở nên quyết liệt hơn. Bà Nguyễn Thị Thảo Như

Ông Nghiêm Sỹ TiếnChuyên viên chiến lược đầu tư, Chứng khoán KBSV

Cú giảm sốc này thực chất là hệ quả tất yếu của trạng thái “xây lâu đài trên cát” trước đó. Khi động lực tăng chỉ dựa vào vài trụ đỡ, niềm tin thị trường vốn rất mong manh. Do đó khi nhóm blue-chips đồng loạt điều chỉnh, tâm lý hoảng loạn lan rộng là phản ứng dây chuyền dễ hiểu.

Tuy nhiên, nhìn ở góc độ tích cực, tôi cho rằng đây là nhịp điều chỉnh cần thiết để đưa thị trường về mặt bằng giá thực chất hơn. Cú chiết khấu mạnh sẽ giúp kích hoạt dòng tiền lớn đang kiên nhẫn đứng ngoài, đồng thời giải tỏa áp lực margin, tạo dư địa cho một nhịp tăng mới bền vững và tin cậy hơn trong thời gian tới.

Nguyễn Thị Mỹ Liên - Trưởng phòng Phân tích, Công ty CP Chứng khoán Phú Hưng

Theo góc nhìn của tôi, nhịp giảm mạnh tuần qua của VN-Index xuất phát từ sự cộng hưởng giữa hai yếu tố, cấu trúc thị trường kém và sự lo ngại thắt chặt từ hệ thống tiền tệ, trong đó lãi suất liên ngân hàng là điểm đáng chú ý. Cụ thể, lãi suất liên ngân hàng ở các kỳ hạn ngắn đã tăng mạnh gần đây, phản ánh sự thiếu hụt thanh khoản hệ thống. Lãi suất kỳ hạn qua đêm thậm chí còn vượt đỉnh lên trên mức 7% và tiếp tục neo cao. Điều này thường không gây tác động ngay lập tức về mặt vĩ mô, nhưng lại tác động mạnh đến tâm lý thị trường chứng khoán, đặc biệt trong bối cảnh chỉ số đang ở vùng cao và trạng thái dùng đòn bẩy. Khi chi phí vốn ngắn hạn tăng, dòng tiền có xu hướng hạ margin và giảm rủi ro ở các cổ phiếu vốn hóa lớn.

Trong khi đó, về mặt thị trường, nhịp kiểm định đỉnh trước đó vốn đã không đáng tin cậy khi chỉ dựa vào một số trụ lớn kéo điểm, còn độ rộng và thanh khoản không xác nhận. Vì vậy, khi nhóm dẫn dắt suy yếu, kết hợp với tín hiệu kém thuận lợi từ thị trường tiền tệ, áp lực bán sẽ nhanh chóng lan sang nhiều blue-chips khác, khiến tâm lý sợ hãi gia tăng.

Ông Lê Đức Khánh - Giám đốc phân tích, Chứng khoán VPS

Nhiều cổ phiếu được mua và nắm giữ với điều kiện được tích lũy, giữ giá và có khả năng tăng trở lại ngay ít nhất là trong ngắn hạn. Nếu giá cổ phiếu và thị trường chung liên tiếp giảm điểm hoặc giảm sâu cũng sẽ khiến các nhà đầu tư trở nên lo lắng và hoảng sợ hơn. Thực tế giai đoạn vừa qua thanh khoản toàn thị trường không tăng, nhóm cổ phiếu “đỡ chỉ số” chỉ quanh quẩn mấy mã Vingroup, hoặc một số cổ phiếu riêng lẻ trong khi nhóm tài chính, hóa chất, thép… những cổ phiếu tích lũy lại không có lực cầu mua lên đáng kể - giao dịch mua bán ngắn hạn không sinh lời ngay – chiến lược mua và nắm giữ được ưu tiên hơn giai đoạn này.

Xu thế dòng tiền: VN-Index gặp khó vùng đỉnh lịch sử, cổ phiếu bị ảnh hưởng ra sao?

Nguyễn Thị Thảo Như - Giám đốc Tư vấn đầu tư Khách hàng cá nhân, Chứng khoán Rồng Việt

Thực tế, tâm lý sợ hãi không xuất phát từ riêng một phiên giảm mạnh, mà là hệ quả của quá trình tích lũy rủi ro trước đó. Trong nhịp tăng vừa qua, chỉ số chủ yếu được nâng đỡ bởi một số cổ phiếu vốn hóa lớn, trong khi độ lan tỏa dòng tiền thấp và phần lớn cổ phiếu không xác nhận xu hướng. Khi VN-Index không thể vượt thành công vùng đỉnh cũ, kỳ vọng ngắn hạn bị phá vỡ, khiến dòng tiền ngắn hạn phản ứng rất nhanh theo hướng phòng thủ.

Phiên giảm mạnh cuối tuần mang tính “tâm lý” nhiều hơn là phản ánh một cú sốc thông tin, nhưng việc áp lực bán lan sang nhiều blue-chips cho thấy trạng thái phòng ngừa rủi ro đã chiếm ưu thế. Điều này phù hợp với bối cảnh dòng tiền trước đó đã có dấu hiệu thận trọng, nên khi điểm tựa tâm lý bị mất, phản ứng của thị trường đã trở nên quyết liệt hơn.

Nguyễn HoàngVnEconomy

Trong các lần trao đổi trước anh chị cũng đã dự kiến tình huống chỉ số điều chỉnh tại đỉnh cũ và coi đó là điều kiện tốt để đánh giá sức đề kháng của các cổ phiếu khác. Anh chị có thể rút ra kết luận gì từ diễn biến tuần này, nhất là dòng tiền bắt đáy?

Nguyễn Thị Mỹ Liên - Trưởng phòng Phân tích, Công ty CP Chứng khoán Phú Hưng

Từ diễn biến tuần này, có thể thấy đa phần cổ phiếu đã không thể hiện được sức khỏe trước xu hướng chung. Trong giai đoạn đầu điều chỉnh, thị trường giảm và nhiều nhóm ngành tìm về hỗ trợ ngắn hạn, với phản ứng đi ngang thanh khoản thấp, phản ánh tâm lý chờ đợi và kỳ vọng chỉ số giữ được trên mức 1700 điểm. Tuy nhiên, khi VN-Index giảm mạnh và đánh mất điểm tựa, thanh khoản lại gia tăng rõ rệt, số cổ phiếu sập gãy cũng nhanh chóng tăng theo, và tâm lý thị trường chuyển sang trạng thái bất ổn, chủ động bán ra.

Diễn biến cho thấy dòng tiền bắt đáy không đủ mạnh để hấp thụ nguồn cung, mà chủ yếu chỉ mang tính chất thăm dò, giao dịch ngắn hạn. Thay vì tạo ra sự phân hóa tích cực, nhịp điều chỉnh đã kéo phần lớn cổ phiếu đi xuống cùng chỉ số. Vì vậy, tôi cho rằng thị trường chưa sẵn sàng cho một nhịp hồi phục bền vững, và cần thêm thời gian để tâm lý ổn định trở lại cũng như hình thành mặt bằng giá mới, trước khi dòng tiền quay lại rõ nét hơn.

Nguyễn Thị Thảo Như - Giám đốc Tư vấn đầu tư Khách hàng cá nhân, Chứng khoán Rồng Việt

Tôi xem nhịp điều chỉnh tại vùng đỉnh cũ là một phép thử quan trọng đối với chất lượng dòng tiền. Diễn biến tuần qua cho thấy thị trường ghi nhận 4/5 phiên giảm điểm, phản ánh áp lực điều chỉnh chiếm ưu thế trong phần lớn thời gian giao dịch. Tuy nhiên, thanh khoản toàn thị trường chỉ ở mức trung bình so với các tuần trước đó trong tháng, cho thấy lực bán chưa mang tính hoảng loạn hay bị chi phối bởi các yếu tố khác.

Dòng tiền bắt đáy có xuất hiện nhưng mang tính thăm dò và chọn lọc, tập trung ở một số cổ phiếu có nền giá tốt hoặc đã điều chỉnh đủ sâu. Việc thanh khoản không gia tăng đột biến trong các phiên giảm hàm ý rằng dòng tiền lớn vẫn giữ trạng thái quan sát, ưu tiên đánh giá thêm rủi ro thay vì vội vàng mở vị thế mới.

Tổng thể, diễn biến này cho thấy thị trường đang trong giai đoạn tái cân bằng và kiểm định cung – cầu, hơn là hình thành một nhịp đảo chiều rõ ràng. Để xu hướng tích cực quay trở lại, dòng tiền cần thể hiện sự chủ động hơn, cả về quy mô lẫn độ lan tỏa, thay vì chỉ dừng ở hoạt động bắt đáy ngắn hạn.

Lo ngại về margin dịp cuối năm là có cơ sở, nhưng tôi đánh giá rủi ro giải chấp diện rộng lần này không quá đáng ngại. Lý do là nhịp tăng trước đó thanh khoản thấp và độ rộng hẹp, nghĩa là dòng tiền margin chưa tham gia quá sâu hay “đu bám” quyết liệt ở vùng giá cao.

Ông Nghiêm Sỹ TiếnChuyên viên chiến lược đầu tư, Chứng khoán KBSV

Diễn biến tuần này cho thấy việc VN-Index điều chỉnh tại vùng đỉnh cũ đã trở thành tín hiệu khá tiêu cực, khi lực bán mạnh vào cuối tuần khiến chỉ số giảm sâu nhất trong nhiều phiên gần đây. Dòng tiền bắt đáy xuất hiện nhưng khá yếu và phân tán, không đủ để cân bằng áp lực bán lan rộng ở nhóm vốn hóa lớn. Điều này phản ánh tâm lý nhà đầu tư đang trở nên thận trọng hơn, thậm chí có phần hoảng sợ trước rủi ro điều chỉnh mạnh. Kết luận quan trọng là thị trường vẫn thiếu nền tảng vững chắc, và nhịp giảm này có thể mở ra giai đoạn biến động khó lường hơn.

Ông Lê Đức Khánh - Giám đốc phân tích, Chứng khoán VPS

Tôi đánh giá lực cầu bắt đáy chưa mạnh mẽ, lực mua lên còn thận trọng. Tình trạng giao dịch vừa phải, thiếu các phiên tăng điểm ấn tượng khiến thị trường đi vào pha điều chỉnh tích lũy “side way down” để giảm về các vùng hỗ trợ mạnh phía dưới.

Nguyễn HoàngVnEconomy

Nhịp giảm mạnh tuần qua khiến những lo ngại về margin lại nổi lên, nhất là thời điểm cuối năm nguồn vốn cho vay thường được cân đối lại. Tuy nhiên ở chiều tăng thanh khoản khá thấp cũng như không nhiều cổ phiếu tăng tương ứng với VN-Index. Anh chị đánh giá rủi ro giải chấp như thế nào?

Ông Nghiêm Sỹ TiếnChuyên viên chiến lược đầu tư, Chứng khoán KBSV

Lo ngại về margin dịp cuối năm là có cơ sở, nhưng tôi đánh giá rủi ro giải chấp diện rộng lần này không quá đáng ngại. Lý do là nhịp tăng trước đó thanh khoản thấp và độ rộng hẹp, nghĩa là dòng tiền margin chưa tham gia quá sâu hay “đu bám” quyết liệt ở vùng giá cao. Dư nợ margin thực tế không ở mức căng thẳng. Áp lực hiện tại mang tính cục bộ và tái cơ cấu nhiều hơn là một đợt sụp đổ domino, tạo dư địa cho thị trường sớm ổn định trở lại.

Nguyễn Thị Mỹ Liên - Trưởng phòng Phân tích, Công ty CP Chứng khoán Phú Hưng

Ở thời điểm hiện tại, theo tôi đánh giá, rủi ro giải chấp ở mức chưa cao và chưa mang tính hệ thống. Thanh khoản trong các nhịp tăng trước đó khá khiêm tốn và số lượng cổ phiếu tăng không nhiều, cho thấy nhà đầu tư cá nhân nhìn chung không sử dụng đòn bẩy cao, khác với những giai đoạn tăng nóng trước đây.

Rủi ro nếu có sẽ đến từ các vị thế mang tính riêng lẻ, như những deal lớn, danh mục “kho” hoặc nhóm cổ phiếu tăng nhanh, phụ thuộc vào nguồn vốn vay cụ thể. Trong bối cảnh cuối năm, khi các công ty chứng khoán tái cân đối nguồn vốn và siết quản trị rủi ro, cùng với lãi suất ngắn hạn đang neo cao, áp lực bán kỹ thuật có thể xuất hiện cục bộ. Vậy nên, tôi cho rằng rủi ro giải chấp hiện chưa lan rộng, mà chỉ đáng lưu ý ở một số trường hợp đặc thù. Tuy nhiên, vẫn cần thận trọng nếu thị trường tiếp tục có dấu hiệu giảm sâu và kéo dài, có thể gây ra tác động lan tỏa gián tiếp.

Tôi nghĩ sự thận trọng trong giao dịch hiện nay ưu tiên sựan toàn vốn, kiểm soát tỷ trọng hơn là việc mua bán gì sinh lời trong ngắn hạn.

Ông Lê Đức Khánh - Giám đốc phân tích, Chứng khoán VPS

Giao dịch thận trọng diễn ra chủ yếu trong tháng 11 và tháng 12 – Nhà đầu tư cũng nên hạn chế sử dụng đòn bẩy. Có thể có những nhà đầu tư giao dịch mạo hiểm hơn với kỳ vọng thị trường sớm phục hồi là những người có lý do phải lo lắng. Rủi ro giải chấp có thể tăng lên khi thị trường điều chỉnh thêm. Tôi nghĩ sự thận trọng trong giao dịch hiện nay ưu tiên sự an toàn vốn, kiểm soát tỷ trọng hơn là việc mua bán gì sinh lời trong ngắn hạn.

Nguyễn Thị Thảo Như - Giám đốc Tư vấn đầu tư Khách hàng cá nhân, Chứng khoán Rồng Việt

Những lo ngại về margin là có cơ sở, nhất là khi thị trường bước vào giai đoạn cuối năm – thời điểm các công ty chứng khoán thường thận trọng hơn trong việc phân bổ nguồn vốn. Tuy nhiên, xét trên mặt bằng chung, mức độ rủi ro giải chấp chưa ở trạng thái căng thẳng. Việc thanh khoản trong các phiên tăng khá thấp cho thấy đòn bẩy không được sử dụng quá mạnh ở vùng giá cao. Áp lực bán chủ yếu đến từ tâm lý và nhu cầu hạ tỷ trọng, hơn là bán tháo trên diện rộng.

Dù vậy, nếu chỉ số tiếp tục suy yếu và thanh khoản tăng đột biến trong các phiên giảm sâu, rủi ro “margin call” có thể gia tăng nhanh chóng, đặc biệt ở những nhóm cổ phiếu mang tính đầu cơ. Nhà đầu tư vẫn nên chuẩn bị tâm lý cho một tình huống xấu hơn có thể xảy ra vì phía sau một cơn mưa nhỏ có thể là một cơn bão lớn.

Nguyễn HoàngVnEconomy

Thị trường đang rơi vào tình huống trớ trêu cho nhà đầu tư khi VN-Index tăng thì danh mục không tăng, nhưng chỉ số giảm mạnh thì danh mục cũng tổn thương lớn. Anh chị có lời khuyên gì lúc này, liệu có nên bắt đáy hay trông chờ tín hiệu gì từ thị trường?

Ông Nghiêm Sỹ TiếnChuyên viên chiến lược đầu tư, Chứng khoán KBSV

Trong bối cảnh VN-Index tăng nhưng danh mục không hưởng lợi, còn khi giảm lại chịu tổn thương, tôi cho rằng nhà đầu tư nên kiên nhẫn quan sát thay vì vội vàng bắt đáy. Dòng tiền đang có dấu hiệu phân hóa, vì vậy việc lựa chọn cổ phiếu cơ bản tốt, thanh khoản ổn định sẽ quan trọng hơn chạy theo chỉ số. Tín hiệu cần chờ là sự cải thiện rõ rệt của thanh khoản và “breadth” (độ rộng) thị trường, khi đó, cơ hội giải ngân sẽ an toàn và bền vững hơn.

Ở thời điểm hiện tại, theo tôi đánh giá, rủi ro giải chấp ở mức chưa cao và chưa mang tính hệ thống. Thanh khoản trong các nhịp tăng trước đó khá khiêm tốn và số lượng cổ phiếu tăng không nhiều, cho thấy nhà đầu tư cá nhân nhìn chung không sửdụng đòn bẩy cao, khác với những giai đoạn tăng nóng trước đây. Bà Nguyễn Thị Mỹ Liên

Nguyễn Thị Thảo Như - Giám đốc Tư vấn đầu tư Khách hàng cá nhân, Chứng khoán Rồng Việt

Đây rõ ràng là giai đoạn không mấy dễ chịu đối với nhà đầu tư khi thị trường rơi vào trạng thái lệch pha giữa diễn biến chỉ số và hiệu quả danh mục. Tuy nhiên, thay vì chỉ tập trung vào cảm xúc ngắn hạn, điều quan trọng là đánh giá những kịch bản có thể xảy ra tiếp theo. Đối với nhà đầu tư ngắn hạn, khi thị trường điều chỉnh về vùng hỗ trợ MA100, việc giải ngân ở thời điểm hiện tại có thể xem là hợp lý xét trên yếu tố kỹ thuật. Với nhà đầu tư dài hạn, các nhịp giảm mạnh lại mở ra cơ hội tăng tỷ trọng nhằm hạ giá vốn đối với các cổ phiếu đang nắm giữ, hoặc từng bước giải ngân vào những cơ hội mới có chất lượng tốt.

Dù thuộc nhóm nhà đầu tư nào, việc giải ngân từng phần nguồn vốn ở giai đoạn này vẫn mang lại những lợi ích nhất định, cho cả kịch bản thị trường hồi phục trở lại hoặc tiếp tục điều chỉnh sâu hơn. Tôi không khuyến nghị giải ngân mạnh ngay từ đầu, bởi động lực hấp dẫn nhất ở thời điểm hiện tại chủ yếu đến từ mặt bằng giá đã chiết khấu, chứ chưa phải từ một triển vọng vĩ mô hay xu hướng dài hạn đủ hấp dẫn. Ngày mai chúng ta cảm thấy tốt hơn không phải vì những thứ tốt đẹp đã quay trở lại mà đơn giản là vì ngày hôm qua đã quá tồi tệ mà thôi. Như vậy, trong bối cảnh khả năng dự báo cho giai đoạn xa hơn vẫn còn nhiều bất định, chiến lược phù hợp vẫn là giữ sự thận trọng, ưu tiên quản trị rủi ro và duy trì tính linh hoạt trong phân bổ vốn.

Nguyễn Thị Mỹ Liên - Trưởng phòng Phân tích, Công ty CP Chứng khoán Phú Hưng

Tôi cho rằng đây là giai đoạn nhà đầu tư không nên vội vàng bắt đáy theo chỉ số. Thực tế, việc VN-Index tăng nhưng danh mục không cải thiện cho thấy vấn đề nằm ở cấu trúc thị trường và dòng tiền, khi điểm số bị chi phối bởi một số trụ lớn, còn phần còn lại không được hưởng lợi. Ở chiều ngược lại, khi chỉ số giảm mạnh, áp lực bán lan rộng khiến danh mục tổn thương nhanh, phản ánh tâm lý phòng thủ vẫn chiếm ưu thế. Trong bối cảnh này, ưu tiên hàng đầu là quản trị rủi ro, bảo toàn vốn và kiểm soát tỷ trọng hợp lý, thay vì kỳ vọng vào những nhịp hồi ngắn để bắt đáy.

Về tín hiệu, tôi cho rằng nhà đầu tư cần chờ sự ổn định trở lại của thanh khoản trong các phiên giảm, cùng với độ rộng thị trường cải thiện rõ rệt hơn. Khi dòng tiền quay lại theo hướng lan tỏa, đó mới là thời điểm phù hợp để xem xét cơ hội, thay vì bắt đáy sớm khi xu hướng chưa được xác nhận rõ ràng.

Ông Lê Đức Khánh - Giám đốc phân tích, Chứng khoán VPS

Tôi cho rằng chiến lược chủ đạo với số đông nhà đầu tư hiện nay vẫn là ưu tiên việc kiểm soát tỷ trọng cổ phiếu nắm giữ - mua ít, mua nhiều hơn hay tình trạng sử dụng đòn bẩy là những điểm mà các nhà đầu tư cần lưu ý. Chỉ cần giữ danh mục an toàn, giao dịch thận trọng và chờ đợi được thị trường quay pha điều chỉnh là điểm mấu chốt. Giao dịch ngắn hạn cũng chỉ nên “thử nghiệm” ở vị thế nhỏ có kiểm soát và chắc chắn sẽ không ảnh hưởng nhiều đến tâm thế, tâm lý đầu tư trong giai đoạn hiện nay.

-Nguyễn Hoàng

Categories: The Latest News

Đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 50-2025

Thời báo kinh tế Việt Nam - Sat, 12/13/2025 - 23:35
Mời quý độc giả đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 50-2025 phát hành ngày 15/12/2025 với nhiều chuyên mục hấp dẫn...

Bạn đọc thân mến,

Chỉ còn hơn hai tuần lễ nữa là kết thúc năm 2025, năm cuối cùng thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (2021-2025), tạo cơ sở vững chắc cho đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới.

Trong năm có tính chốt lại một chặng đường phát triển 5 năm, đất nước ta tiếp tục phải đương đầu với những “cơn gió ngược” từ bên ngoài. Đó là những diễn biến không thuận và khó lường của nền kinh tế toàn cầu trước tác động tiêu cực từ xung đột quân sự, căng thẳng địa chính trị, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, chính sách bảo hộ mậu dịch mà điển hình là sự gia tăng các biểu thuế đối ứng đánh vào hàng nhập khẩu…

Bên cạnh đó, những khó khăn trong nước cũng không nhỏ, đặc biệt là thiên tai (bão, lũ, sạt lở đất) mà ở nhiều địa phương được coi là mức lịch sử trong mấy chục năm, gây thiệt hại hết sức nặng nề về sinh mạng và tài sản. Cuộc cách mạng tinh giản bộ máy, sắp xếp lại các đơn vị hành chính ở địa phương theo mô hình 2 cấp, bên cạnh những lợi thế được tạo ra, cũng làm nảy sinh không ít khó khăn, phức tạp. Cùng với những khó khăn đó là sức ép điều hành tỷ giá và lãi suất vẫn lớn; hoạt động sản xuất kinh doanh một số lĩnh vực còn khó khăn; các động lực tăng trưởng truyền thống chưa đạt kỳ vọng; giá vàng biến động mạnh; giá nhà đất còn cao…

Trong bối cảnh ấy, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, trong đó có cộng đồng doanh nghiệp, với tinh thần quyết tâm vượt khó, đã vượt qua mọi trở ngại, nỗ lực hoàn thành về cơ bản các mục tiêu kinh tế - xã hội năm 2025 và cả thời kỳ 5 năm (2021-2025), theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII. Thành tựu rõ nhất là kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm. Kim ngạch xuất nhập khẩu cả năm được dự báo đạt mức kỷ lục quanh mốc 900 tỷ USD (11 tháng đã đạt gần 840 tỷ USD; xuất siêu khoảng 20,5 tỷ USD). Vốn FDI đăng ký trong 11 tháng đạt gần 33,7 tỷ USD, tăng 7,4% so cùng kỳ năm 2024; vốn FDI thực hiện đạt 23,6 tỷ USD, tăng 8,9%. Tăng trưởng kinh tế ở 20/34 tỉnh, thành phố được dự báo đạt từ 8% trở lên; trong đó có 6 địa phương có thể đạt tỷ lệ tăng trưởng hai con số. Những thành tựu kinh tế - xã hội đạt được sau 11 tháng năm 2025 đã tạo cơ sở để tin rằng mức tăng trưởng GDP của nước ta trong năm nay có thể đạt mốc 8% hoặc hơn.

Điểm nhấn nổi bất nhất của năm 2025 chính là bước ngoặt mang tính lịch sử trong tư duy chỉ đạo phát triển kinh tế của Đảng, khi Bộ Chính trị, trong vòng chưa đầy nửa năm (từ cuối tháng 12/2024 đến đầu tháng 5/2025), ban hành bốn nghị quyết (Nghị quyết số 57-NQ/TW, Nghị quyết số 59-NQ/TW, Nghị quyết số 66-NQ/TW và Nghị quyết số 68-NQ/TW), được coi là “bộ tứ trụ cột” để giúp đất nước ta “cất cánh”, như lời Tổng Bí thư Tô Lâm khi phát biểu kết luận hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết số 66-NQ/TW và Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị, tổ chức ngày 18/5/2025.

Bốn nghị quyết này đã thực sự là kim chỉ nam về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; về hội nhập quốc tế trong tình hình mới; về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; về phát triển kinh tế tư nhân. Đây chính là những định hướng chiến lược trọng yếu để phát triển đất nước ta trong kỷ nguyên mới, khởi đầu từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV.

Với đường hướng phát triển mới, được khởi tạo từ các nghị quyết quan trọng này, đất nước ta đã vượt qua được nhiều khó khăn, thách thức và đạt được những thành tựu kinh tế - xã hội to lớn trong năm 2025, theo hướng ngày càng tăng ở hầu khắp các lĩnh vực, các ngành.

Tạp chí Kinh tế Việt Nam số ra tuần này tập trung nhìn lại tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong năm 2025, với những phân tích, nhận định, đánh giá về nguyên nhân của những khó khăn, tồn tại, khẳng định thành tựu không chỉ của riêng năm 2025 mà của cả thời kỳ 2021 – 2025, coi đó là nền tảng vững chắc, tạo đà để đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, theo đường hướng mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV sẽ hoạch định.

-Tạp chí Kinh tế Việt Nam - VnEconomy

Categories: The Latest News

Quyết liệt tháo gỡ vướng mắc, bảo đảm tiến độ 4 dự án đường bộ cao tốc

Thời báo kinh tế Việt Nam - Sat, 12/13/2025 - 23:31
Văn phòng Chính phủ vừa ban hành văn bản truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ Bùi Thanh Sơn về việc rà soát, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc tại 4 dự án đường bộ cao tốc trọng điểm. Mục tiêu là xử lý dứt điểm các tồn tại, đặc biệt về giải phóng mặt bằng và hạ tầng kỹ thuật, bảo đảm hoàn thành, thông tuyến theo đúng cam kết tiến độ...

Văn phòng Chính phủ vừa có văn bản số 12307/VPCP-CN ngày 11/12/2025 thông báo ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ Bùi Thanh Sơn về việc rà soát, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc tại 4 dự án đường bộ cao tốc gồm: Tuyên Quang – Hà Giang đoạn qua tỉnh Hà Giang (nay là tỉnh Tuyên Quang), Tuyên Quang – Hà Giang đoạn qua tỉnh Tuyên Quang (cũ), Đồng Đăng – Trà Lĩnh và Hữu Nghị – Chi Lăng.

Trên cơ sở báo cáo của Bộ Xây dựng và kết quả kiểm tra của Đoàn Kiểm tra số 05, Phó Thủ tướng Chính phủ ghi nhận việc lãnh đạo Chính phủ đã nhiều lần trực tiếp kiểm tra hiện trường và ban hành các văn bản chỉ đạo cụ thể nhằm tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án. Các địa phương liên quan cũng đã có văn bản đăng ký khánh thành, thông xe hoặc khởi công các dự án vào dịp 19/12/2025.

Tuy nhiên, Phó Thủ tướng Chính phủ chỉ rõ, đến nay các dự án vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, nhất là trong công tác giải phóng mặt bằng, tái định cư và di dời hạ tầng kỹ thuật. Một số nội dung đã phải lùi tiến độ nhiều lần nhưng vẫn chưa hoàn thành, tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến kế hoạch chung đã cam kết.

Để bảo đảm tiến độ hoàn thành các dự án theo đúng kế hoạch, Phó Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các địa phương, cơ quan, đơn vị liên quan khẩn trương, quyết liệt triển khai các nhiệm vụ được giao, tập trung xử lý dứt điểm các tồn tại kéo dài.

Đối với công tác giải phóng mặt bằng, tái định cư, di dời hạ tầng kỹ thuật, mỏ vật liệu và bãi đổ thải, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh Tuyên Quang và Lạng Sơn được yêu cầu trực tiếp chỉ đạo, tăng cường đôn đốc, kiểm tra, xử lý và giải quyết triệt để các vướng mắc. Đồng thời, xem xét trách nhiệm của tổ chức, cá nhân không hoàn thành nhiệm vụ đúng thời hạn, làm ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện dự án.

Cụ thể, trước ngày 18/12/2025, tỉnh Tuyên Quang phải hoàn thành việc di dời 3 vị trí đường điện còn lại. Tỉnh Lạng Sơn hoàn thành di dời các hộ dân còn lại và giải quyết dứt điểm nguyên nhân người dân cản trở thi công tại Dự án Đồng Đăng – Trà Lĩnh; đồng thời hoàn thành di dời các vị trí đường điện và bàn giao mặt bằng bãi đổ thải còn lại tại Dự án Hữu Nghị – Chi Lăng.

Về tổ chức thi công, Phó Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các địa phương, chủ đầu tư, ban quản lý dự án, nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án, tư vấn và nhà thầu tập trung cao độ, nâng cao tinh thần trách nhiệm, nỗ lực và quyết tâm hơn nữa để hoàn thành, thông tuyến các dự án trước ngày 19/12/2025, bảo đảm chất lượng, an toàn và vệ sinh môi trường.

Bên cạnh đó, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh Tuyên Quang, Cao Bằng và Lạng Sơn được giao kiểm tra, rà soát kỹ quy trình, trình tự, thủ tục, điều kiện nhằm bảo đảm việc khánh thành, thông xe, khởi công và động thổ các dự án trong dịp 19/12/2025 được thực hiện đúng quy định của pháp luật.

-Tuấn Khang

Categories: The Latest News

Thủ tướng yêu cầu hoàn thành xây dựng nhà cho 12 hộ dân ở Khe Sanh trước 31/12

Thời Báo Kinh Tế - Sat, 12/13/2025 - 23:29
Sau khi phê bình việc chậm khắc phục hậu quả thiên tai tại xã Khe Sanh, tỉnh Quảng Trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính yêu cầu địa phương khẩn trương áp dụng tình trạng khẩn cấp, tập trung nguồn lực, phối hợp các bộ, ngành liên quan, dứt khoát hoàn thành xây dựng lại nhà ở an toàn cho 12 hộ dân trước ngày 31/12/2025.

Chiều 13/12, tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính chủ trì buổi làm việc với Ban Thường vụ tỉnh Quảng Trị về tình hình triển khai “Chiến dịch Quang Trung” – chiến dịch thần tốc xây dựng, sửa chữa nhà ở cho người dân bị ảnh hưởng bởi mưa lũ.

Cuộc làm việc diễn ra sau khi ngày 9/12, tại một cuộc họp liên quan đến “Chiến dịch Quang Trung”, Thủ tướng đã phê bình nghiêm khắc tỉnh Quảng Trị do chậm trễ trong việc sửa chữa, xây dựng lại nhà ở cho 12 hộ dân tại xã Khe Sanh có nhà bị hư hỏng nặng do thiên tai, khiến người dân vẫn phải đi ở tạm.

ÁP DỤNG TÌNH TRẠNG KHẨN CẤP, TẬP TRUNG XỬ LÝ DỨT ĐIỂM TẠI KHE SANH

Theo báo cáo của lãnh đạo tỉnh Quảng Trị, trong năm 2025, địa phương liên tiếp chịu tác động của nhiều đợt thiên tai, gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về người và tài sản. Toàn tỉnh có 21 người chết, 10 người mất tích, 24 người bị thương; tổng thiệt hại kinh tế ước tính trên 2.500 tỷ đồng.

Trong đợt mưa lũ từ ngày 16 đến 22/11/2025, trên địa bàn tỉnh Quảng Trị xảy ra sạt lở bờ suối tại xã miền núi Khe Sanh, ảnh hưởng trực tiếp đến 12 hộ dân có nhà ở khu vực nguy hiểm. Ngay sau khi xảy ra sự cố, lãnh đạo tỉnh đã thành lập 3 đoàn công tác trực tiếp xuống hiện trường để động viên, thăm hỏi người dân và chỉ đạo các biện pháp khắc phục ban đầu.

Thủ tướng yêu cầu trước mắt Quảng Trị tập trung nguồn lực để khắc phục sạt lở, khôi phục chỗ ở cho 12 hộ dân tại Khe Sanh - Ảnh: VGP

UBND xã Khe Sanh đã tổ chức di dời khẩn cấp toàn bộ 12 hộ dân đến nơi ở tạm an toàn, bảo đảm các điều kiện sinh hoạt thiết yếu như điện, nước, vệ sinh, an ninh trật tự và an toàn xã hội. Đồng thời, địa phương cũng xây dựng phương án tái định cư, đề xuất hai vị trí trên địa bàn xã.

Tuy nhiên, qua làm việc, trao đổi với chính quyền các cấp, cả 12 hộ dân đều bày tỏ nguyện vọng được sửa chữa, xây dựng lại nhà ở tại vị trí cũ. Trước tình hình đó, UBND tỉnh Quảng Trị đã ban bố tình trạng khẩn cấp về thiên tai tại khu vực sạt lở nhằm kịp thời quản lý, triển khai các biện pháp xử lý và khắc phục hậu quả.

Theo lãnh đạo tỉnh, việc triển khai khảo sát, thiết kế phương án khắc phục gặp nhiều khó khăn do địa hình phức tạp, khu vực sạt lở khó tiếp cận, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn trong quá trình thăm dò, giám sát hiện trường. Đây là nguyên nhân chính khiến tiến độ triển khai chậm hơn so với yêu cầu đặt ra.

Để xử lý trước mắt và lâu dài, tỉnh Quảng Trị đã tạm cấp 10 tỷ đồng phục vụ công tác khảo sát, xây dựng phương án và đầu tư công trình chống sạt lở, nhằm ổn định đời sống cho người dân, bảo vệ các công trình công cộng, đặc biệt là tuyến đường trung tâm xã Khe Sanh.

Ngày 11/12/2025, UBND tỉnh Quảng Trị ban hành Lệnh xây dựng công trình khẩn cấp dự án xây dựng kè chống sụt lún đường Hùng Vương tại thôn 3A, xã Khe Sanh, dự kiến hoàn thành vào ngày 20/1/2026.

HUY ĐỘNG LỰC LƯỢNG, ĐẨY NHANH TIẾN ĐỘ XÂY DỰNG NHÀ CHO CÁC HỘ DÂN BỊ ẢNH HƯỞNG

Kết luận cuộc làm việc, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính chia sẻ với những mất mát mà Đảng bộ, chính quyền, lực lượng vũ trang và nhân dân tỉnh Quảng Trị đã phải gánh chịu trong các đợt mưa lũ vừa qua. Thủ tướng ghi nhận và biểu dương địa phương đã hoàn thành sửa chữa các nhà bị hư hỏng dưới 30%, giúp người dân từng bước ổn định cuộc sống, sản xuất và kinh doanh.

Tuy nhiên, Thủ tướng bày tỏ không hài lòng về việc chậm trễ trong chăm lo chỗ ở cho 12 hộ dân tại xã Khe Sanh có nhà bị sập, hư hỏng nặng. Thủ tướng nhấn mạnh, trong những tình huống khó khăn, cấp bách liên quan trực tiếp đến đời sống người dân, việc xử lý không được chần chừ, phải đặt mình vào hoàn cảnh của người dân để hành động kịp thời.

Các đại biểu tham dự cuộc họp - Ảnh: VGP

Thủ tướng yêu cầu tỉnh Quảng Trị kiểm điểm nghiêm túc trách nhiệm của tập thể, cá nhân liên quan theo đúng quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước; đồng thời phối hợp với các bộ, ngành liên quan đánh giá lại toàn bộ tình hình, áp dụng đầy đủ tình trạng khẩn cấp, tập trung mọi giải pháp cần thiết.

Mục tiêu được Thủ tướng đặt ra là dứt khoát hoàn thành việc xây dựng lại nhà ở an toàn cho toàn bộ 12 hộ dân tại xã Khe Sanh trước ngày 31/12/2025, bảo đảm người dân sớm ổn định đời sống, không còn phải đi ở nhờ.

Cùng với tỉnh Quảng Trị, Thủ tướng đề nghị Bộ Quốc phòng điều động lực lượng công binh tham gia trực tiếp vào quá trình xây dựng nhà ở cho người dân; đồng thời nghiên cứu giải pháp thoát nước, gia cố toàn bộ khu vực sạt lở để xử lý triệt để, bền vững trong dài hạn.

Thủ tướng lưu ý, xã Khe Sanh là địa bàn có truyền thống lịch sử cách mạng, từng chịu nhiều tổn thất trong chiến tranh, nay tiếp tục chịu ảnh hưởng nặng nề của thiên tai. Do đó, cùng với việc bảo đảm chỗ ở an toàn, địa phương cần quan tâm tạo sinh kế, việc làm, giúp người dân ổn định cuộc sống lâu dài. Trường hợp vượt quá khả năng cân đối nguồn lực, tỉnh cần kịp thời đề xuất cơ chế, chính sách phù hợp.

Trên tinh thần kịp thời, chính xác, khả thi và hiệu quả, Thủ tướng yêu cầu tỉnh Quảng Trị báo cáo kết quả thực hiện hằng tuần; đồng thời khẩn trương khôi phục các hạ tầng thiết yếu như giao thông, trường học, bệnh viện, trạm y tế, trụ sở làm việc; bảo đảm an ninh trật tự, phòng chống dịch bệnh, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội và thực hiện tốt công tác an sinh xã hội.

Nhân dịp này, Thủ tướng biểu dương các bộ, ngành, địa phương đã tích cực triển khai “Chiến dịch Quang Trung”. Theo báo cáo, trong số hơn 1.600 nhà bị sập, cuốn trôi hoàn toàn phải xây dựng lại, sau 10 ngày đã có 1.535 nhà được khởi công, trong đó 469 nhà đã hoàn thành. Với hơn 34.000 nhà cần sửa chữa, đến nay đã sửa chữa xong trên 31.950 nhà; nhiều địa phương phấn đấu hoàn thành chiến dịch sớm hơn kế hoạch.

Thủ tướng cho biết, từ đầu năm đến nay, Trung ương đã hỗ trợ các địa phương 7.144 tỷ đồng để khắc phục hậu quả thiên tai.

Đồng thời, Thủ tướng chỉ đạo Thanh tra Chính phủ tiến hành thanh tra việc khắc phục hậu quả mưa lũ, việc thực hiện các chỉ đạo của cấp có thẩm quyền và sử dụng các nguồn lực hỗ trợ, nhằm kịp thời tháo gỡ vướng mắc, bảo đảm hiệu quả, đúng mục tiêu.

-Hà Lê

Categories: The Latest News

Thủ tướng yêu cầu hoàn thành xây dựng nhà cho 12 hộ dân ở Khe Sanh trước 31/12

Thời báo kinh tế Việt Nam - Sat, 12/13/2025 - 23:29
Sau khi phê bình việc chậm khắc phục hậu quả thiên tai tại xã Khe Sanh, tỉnh Quảng Trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính yêu cầu địa phương khẩn trương áp dụng tình trạng khẩn cấp, tập trung nguồn lực, phối hợp các bộ, ngành liên quan, dứt khoát hoàn thành xây dựng lại nhà ở an toàn cho 12 hộ dân trước ngày 31/12/2025.

Chiều 13/12, tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính chủ trì buổi làm việc với Ban Thường vụ tỉnh Quảng Trị về tình hình triển khai “Chiến dịch Quang Trung” – chiến dịch thần tốc xây dựng, sửa chữa nhà ở cho người dân bị ảnh hưởng bởi mưa lũ.

Cuộc làm việc diễn ra sau khi ngày 9/12, tại một cuộc họp liên quan đến “Chiến dịch Quang Trung”, Thủ tướng đã phê bình nghiêm khắc tỉnh Quảng Trị do chậm trễ trong việc sửa chữa, xây dựng lại nhà ở cho 12 hộ dân tại xã Khe Sanh có nhà bị hư hỏng nặng do thiên tai, khiến người dân vẫn phải đi ở tạm.

ÁP DỤNG TÌNH TRẠNG KHẨN CẤP, TẬP TRUNG XỬ LÝ DỨT ĐIỂM TẠI KHE SANH

Theo báo cáo của lãnh đạo tỉnh Quảng Trị, trong năm 2025, địa phương liên tiếp chịu tác động của nhiều đợt thiên tai, gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về người và tài sản. Toàn tỉnh có 21 người chết, 10 người mất tích, 24 người bị thương; tổng thiệt hại kinh tế ước tính trên 2.500 tỷ đồng.

Trong đợt mưa lũ từ ngày 16 đến 22/11/2025, trên địa bàn tỉnh Quảng Trị xảy ra sạt lở bờ suối tại xã miền núi Khe Sanh, ảnh hưởng trực tiếp đến 12 hộ dân có nhà ở khu vực nguy hiểm. Ngay sau khi xảy ra sự cố, lãnh đạo tỉnh đã thành lập 3 đoàn công tác trực tiếp xuống hiện trường để động viên, thăm hỏi người dân và chỉ đạo các biện pháp khắc phục ban đầu.

Thủ tướng yêu cầu trước mắt Quảng Trị tập trung nguồn lực để khắc phục sạt lở, khôi phục chỗ ở cho 12 hộ dân tại Khe Sanh - Ảnh: VGP

UBND xã Khe Sanh đã tổ chức di dời khẩn cấp toàn bộ 12 hộ dân đến nơi ở tạm an toàn, bảo đảm các điều kiện sinh hoạt thiết yếu như điện, nước, vệ sinh, an ninh trật tự và an toàn xã hội. Đồng thời, địa phương cũng xây dựng phương án tái định cư, đề xuất hai vị trí trên địa bàn xã.

Tuy nhiên, qua làm việc, trao đổi với chính quyền các cấp, cả 12 hộ dân đều bày tỏ nguyện vọng được sửa chữa, xây dựng lại nhà ở tại vị trí cũ. Trước tình hình đó, UBND tỉnh Quảng Trị đã ban bố tình trạng khẩn cấp về thiên tai tại khu vực sạt lở nhằm kịp thời quản lý, triển khai các biện pháp xử lý và khắc phục hậu quả.

Theo lãnh đạo tỉnh, việc triển khai khảo sát, thiết kế phương án khắc phục gặp nhiều khó khăn do địa hình phức tạp, khu vực sạt lở khó tiếp cận, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn trong quá trình thăm dò, giám sát hiện trường. Đây là nguyên nhân chính khiến tiến độ triển khai chậm hơn so với yêu cầu đặt ra.

Để xử lý trước mắt và lâu dài, tỉnh Quảng Trị đã tạm cấp 10 tỷ đồng phục vụ công tác khảo sát, xây dựng phương án và đầu tư công trình chống sạt lở, nhằm ổn định đời sống cho người dân, bảo vệ các công trình công cộng, đặc biệt là tuyến đường trung tâm xã Khe Sanh.

Ngày 11/12/2025, UBND tỉnh Quảng Trị ban hành Lệnh xây dựng công trình khẩn cấp dự án xây dựng kè chống sụt lún đường Hùng Vương tại thôn 3A, xã Khe Sanh, dự kiến hoàn thành vào ngày 20/1/2026.

HUY ĐỘNG LỰC LƯỢNG, ĐẨY NHANH TIẾN ĐỘ XÂY DỰNG NHÀ CHO CÁC HỘ DÂN BỊ ẢNH HƯỞNG

Kết luận cuộc làm việc, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính chia sẻ với những mất mát mà Đảng bộ, chính quyền, lực lượng vũ trang và nhân dân tỉnh Quảng Trị đã phải gánh chịu trong các đợt mưa lũ vừa qua. Thủ tướng ghi nhận và biểu dương địa phương đã hoàn thành sửa chữa các nhà bị hư hỏng dưới 30%, giúp người dân từng bước ổn định cuộc sống, sản xuất và kinh doanh.

Tuy nhiên, Thủ tướng bày tỏ không hài lòng về việc chậm trễ trong chăm lo chỗ ở cho 12 hộ dân tại xã Khe Sanh có nhà bị sập, hư hỏng nặng. Thủ tướng nhấn mạnh, trong những tình huống khó khăn, cấp bách liên quan trực tiếp đến đời sống người dân, việc xử lý không được chần chừ, phải đặt mình vào hoàn cảnh của người dân để hành động kịp thời.

Các đại biểu tham dự cuộc họp - Ảnh: VGP

Thủ tướng yêu cầu tỉnh Quảng Trị kiểm điểm nghiêm túc trách nhiệm của tập thể, cá nhân liên quan theo đúng quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước; đồng thời phối hợp với các bộ, ngành liên quan đánh giá lại toàn bộ tình hình, áp dụng đầy đủ tình trạng khẩn cấp, tập trung mọi giải pháp cần thiết.

Mục tiêu được Thủ tướng đặt ra là dứt khoát hoàn thành việc xây dựng lại nhà ở an toàn cho toàn bộ 12 hộ dân tại xã Khe Sanh trước ngày 31/12/2025, bảo đảm người dân sớm ổn định đời sống, không còn phải đi ở nhờ.

Cùng với tỉnh Quảng Trị, Thủ tướng đề nghị Bộ Quốc phòng điều động lực lượng công binh tham gia trực tiếp vào quá trình xây dựng nhà ở cho người dân; đồng thời nghiên cứu giải pháp thoát nước, gia cố toàn bộ khu vực sạt lở để xử lý triệt để, bền vững trong dài hạn.

Thủ tướng lưu ý, xã Khe Sanh là địa bàn có truyền thống lịch sử cách mạng, từng chịu nhiều tổn thất trong chiến tranh, nay tiếp tục chịu ảnh hưởng nặng nề của thiên tai. Do đó, cùng với việc bảo đảm chỗ ở an toàn, địa phương cần quan tâm tạo sinh kế, việc làm, giúp người dân ổn định cuộc sống lâu dài. Trường hợp vượt quá khả năng cân đối nguồn lực, tỉnh cần kịp thời đề xuất cơ chế, chính sách phù hợp.

Trên tinh thần kịp thời, chính xác, khả thi và hiệu quả, Thủ tướng yêu cầu tỉnh Quảng Trị báo cáo kết quả thực hiện hằng tuần; đồng thời khẩn trương khôi phục các hạ tầng thiết yếu như giao thông, trường học, bệnh viện, trạm y tế, trụ sở làm việc; bảo đảm an ninh trật tự, phòng chống dịch bệnh, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội và thực hiện tốt công tác an sinh xã hội.

Nhân dịp này, Thủ tướng biểu dương các bộ, ngành, địa phương đã tích cực triển khai “Chiến dịch Quang Trung”. Theo báo cáo, trong số hơn 1.600 nhà bị sập, cuốn trôi hoàn toàn phải xây dựng lại, sau 10 ngày đã có 1.535 nhà được khởi công, trong đó 469 nhà đã hoàn thành. Với hơn 34.000 nhà cần sửa chữa, đến nay đã sửa chữa xong trên 31.950 nhà; nhiều địa phương phấn đấu hoàn thành chiến dịch sớm hơn kế hoạch.

Thủ tướng cho biết, từ đầu năm đến nay, Trung ương đã hỗ trợ các địa phương 7.144 tỷ đồng để khắc phục hậu quả thiên tai.

Đồng thời, Thủ tướng chỉ đạo Thanh tra Chính phủ tiến hành thanh tra việc khắc phục hậu quả mưa lũ, việc thực hiện các chỉ đạo của cấp có thẩm quyền và sử dụng các nguồn lực hỗ trợ, nhằm kịp thời tháo gỡ vướng mắc, bảo đảm hiệu quả, đúng mục tiêu.

-Hà Lê

Categories: The Latest News

“Mở khóa” cho phát triển kinh tế dữ liệu Việt Nam

Thời báo kinh tế Việt Nam - Sat, 12/13/2025 - 23:27
Trong bối cảnh toàn cầu đang chuyển mình mạnh mẽ, dữ liệu không còn dừng lại ở khái niệm kỹ thuật mà đã trở thành động lực tăng trưởng của thế kỷ 21. Vì vậy, Việt Nam cần “mở khóa” nguồn tài nguyên này để Việt Nam không lỡ nhịp phát triển kinh tế dữ liệu và bứt phá tăng trưởng…

Phát biểu bế mạc tại Hội thảo Quốc tế về Kinh tế Dữ liệu với chủ đề “Tư tưởng mới – Chính sách mới – Cơ hội mới” ngày 13/12 tại Hưng Yên, Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Cương, Giám đốc Trung tâm Dữ liệu quốc gia, Phó Chủ tịch Hiệp hội Dữ liệu quốc gia, nhấn mạnh rằng dữ liệu hiện nay đã trở thành tài nguyên chiến lược, được ví như “dầu mỏ mới” của nền kinh tế.

Vì vậy, đối với một quốc gia muốn bứt phá, kinh tế dữ liệu không còn là một lựa chọn mà là yêu cầu tất yếu. Song để hiện thực hóa khát vọng phát triển trong giai đoạn 10–20 năm tới, Việt Nam buộc phải chuyển dịch từ mô hình tăng trưởng dựa vào lao động giá rẻ và tài nguyên hữu hạn sang mô hình mới dựa trên tri thức, dữ liệu và công nghệ.

Tuy nhiên, thách thức đặt ra là kỷ nguyên dữ liệu không chờ đợi ai. “Quốc gia nào xây dựng được nền tảng dữ liệu đáng tin cậy sẽ bứt phá, và ngược lại, nếu bỏ lỡ thời điểm này sẽ bị bỏ lại phía sau trong nhiều thập kỷ”, Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Cương nhấn mạnh.

Nếu có chiến lược phát triển phù hợp, kinh tế dữ liệu Việt Nam có thể đóng góp khoảng 5-8% GDP vào năm 2030, tương đương 20-30 tỷ USD, tạo ra 200.000-300.000 việc làm mới trong lĩnh vực công nghệ dữ liệu, phân tích và AI đến năm 2030. Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Cương chia sẻ

Để dữ liệu thực sự tạo ra giá trị, các chuyên gia tại hội thảo cho rằng Việt Nam phải có một kiến trúc quản trị thống nhất, bao gồm: dữ liệu gốc tin cậy; chuẩn dữ liệu chung; cơ chế chia sẻ an toàn; hệ thống giám sát và cưỡng chế thực thi; và khung pháp lý hiện đại phù hợp với thông lệ OECD, EU. Trong kiến trúc này, Việt Nam cần một đầu mối quốc gia có năng lực để quản trị toàn bộ hệ sinh thái dữ liệu.

“Không có đầu mối, sẽ không có liên thông. Không có liên thông, sẽ không có kinh tế dữ liệu”, Thiếu tướng Cương nêu quan điểm.

Hiện nay, Bộ Công an đang nỗ lực và từng bước khẳng định vai trò then chốt trong kiến tạo hạ tầng dữ liệu quốc gia thông qua việc xây dựng và vận hành Trung tâm Dữ liệu Quốc gia; bảo đảm an ninh, an toàn, chủ quyền dữ liệu; chuẩn hóa và kết nối dữ liệu giữa các bộ, ngành, địa phương; và tạo nền tảng dữ liệu tin cậy để Chính phủ chuyển đổi sang mô hình điều hành dựa trên dữ liệu. Đây không chỉ là nhiệm vụ kỹ thuật mà là nhiệm vụ chiến lược liên quan trực tiếp đến năng lực cạnh tranh và thịnh vượng quốc gia.

Vì vậy, Bộ Công an đang triển khai nhiều nhiệm vụ quan trọng như: xây dựng Cơ sở Dữ liệu Quốc gia về Dân cư, vận hành Hệ thống định danh điện tử, kết nối Nền tảng chia sẻ dữ liệu quốc gia và đặc biệt là triển khai Trung tâm Dữ liệu Quốc gia. Đây chính là hạ tầng chiến lược quan trọng, là “đường xương sống” của kinh tế dữ liệu Việt Nam.

Bộ Công an hiện là cơ quan duy nhất có đầy đủ năng lực cốt lõi để bảo đảm sự vận hành của nền kinh tế dữ liệu: Nguồn dữ liệu gốc tin cậy nhất (dữ liệu định danh); Hạ tầng an ninh – an toàn và chủ quyền dữ liệu mạnh nhất; Công cụ pháp lý và thẩm quyền cưỡng chế tuân thủ toàn quốc; và Mạng lưới tổ chức thống nhất từ Trung ương đến địa phương.  Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Cương nhấn mạnh.

Song để phát triển nền kinh tế dữ liệu, theo Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Cương, các ý kiến tại hội thảo cho rằng Việt Nam nên tập trung vào ba nhiệm vụ chiến lược mang tính “mở khóa” cho nền kinh tế dữ liệu.

Thứ nhất là hoàn thiện Khung pháp lý quốc gia, cụ thể là Luật Dữ liệu đã được ban hành. Đây là hành lang pháp lý cần thiết để chuẩn hóa mọi hoạt động liên quan đến dữ liệu.

Thứ hai là xây dựng Khung đo lường Kinh tế Dữ liệu theo chuẩn quốc tế (OECD/EU). Việt Nam cần một hệ thống chỉ tiêu chuẩn hóa để xác định chính xác dữ liệu đóng góp bao nhiêu phần trăm vào GDP, tác động thế nào tới năng suất tổng hợp (TFP) và hiệu quả của các chính sách.

Thứ ba và cũng là bước đi đột phá nhất, là thiết lập Thị trường Dữ liệu Quốc gia. Thị trường này sẽ bao gồm cơ chế định giá, nền tảng giao dịch, bộ tiêu chuẩn kỹ thuật và khung pháp lý cho việc mua bán, chia sẻ dữ liệu. Việc hình thành thị trường dữ liệu sẽ mở ra một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo hoàn toàn mới cho cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam.

“Thế giới chỉ bước vào Kỷ nguyên dữ liệu một lần. Việt Nam bước vào Kỷ nguyên dữ liệu với quyết tâm cao nhất. Quốc gia nào nắm bắt đúng thời điểm sẽ đi nhanh hơn trong nhiều thập kỷ. Việt Nam có dân số trẻ, tốc độ số hóa cao, doanh nghiệp năng động, hạ tầng dữ liệu quốc gia đang hình thành và sự quan tâm mạnh mẽ từ cộng đồng quốc tế. Chúng ta hội tụ đầy đủ điều kiện để bứt phá”, Thiếu tướng Cương nhấn mạnh.

Việt Nam hiện có gần 40 trung tâm dữ liệu đang hoạt động, tập trung chủ yếu tại Hà Nội và TP.HCM với tổng công suất khoảng 145 MW; có khoảng 250-270 doanh nghiệp chuyên về công nghệ dữ liệu, AI và phân tích dữ liệu, trong đó có các doanh nghiệp lớn như FPT, Viettel, VNPT, CMC đã phát triển các nền tảng dữ liệu và giải pháp phân tích dữ liệu.

-Khánh Vy

Categories: The Latest News

Tây Ninh tăng tốc hoàn thiện hạ tầng logistics, củng cố chuỗi cung ứng nông - thủy sản

Thời báo kinh tế Việt Nam - Sat, 12/13/2025 - 20:56
Tây Ninh đang tăng tốc hoàn thiện hạ tầng logistics và kinh tế cửa khẩu, củng cố vai trò trung chuyển hàng hóa trên hành lang biên giới phía Nam. Với lợi thế vị trí, tỉnh mở rộng thu hút đầu tư vào kho bãi hiện đại, nhằm nâng cao năng lực hỗ trợ chuỗi cung ứng nông – thủy sản…

Sở hữu gần 369 km đường biên giới và nhiều cửa khẩu trọng điểm, Tây Ninh đang khẳng định vai trò chiến lược trên hành lang kinh tế biên giới phía Nam thông qua việc hoàn thiện hạ tầng và thúc đẩy thương mại qua biên giới. Tỉnh tận dụng lợi thế về vị trí, logistics và công nghiệp phụ trợ để tạo sức bật tăng trưởng và mở rộng dư địa phát triển bền vững.

VỊ TRÍ CHIẾN LƯỢC TRONG HÀNH LANG KINH TẾ PHÍA NAM

Những năm gần đây, hoạt động kinh tế cửa khẩu của tỉnh ghi nhận bước phát triển tích cực. Theo Sở Công Thương Tây Ninh, kim ngạch xuất nhập khẩu 10 tháng năm 2025 đạt 2,6 tỷ USD; giá trị trao đổi cư dân biên giới đạt trên 1.700 tỷ đồng, phản ánh sức sống mạnh mẽ của thị trường biên mậu. Dòng hàng hóa luân chuyển qua các cửa khẩu ngày càng ổn định, mở ra dư địa lớn cho doanh nghiệp trên cả hai phía biên giới.

Tây Ninh hiện có 4 cửa khẩu quốc tế (Mộc Bài, Xa Mát, Tân Nam, Bình Hiệp), 3 cửa khẩu chính và nhiều cửa khẩu phụ, là cửa ngõ quan trọng kết nối giao thương với Campuchia, đóng vai trò lớn trong phát triển kinh tế biên giới. Đặc biệt, cửa khẩu quốc tế Tân Nam vừa được nâng cấp, tăng cường kết nối.

Cửa khẩu quốc tế Mộc Bài.

Nhận định về tiềm năng phát triển logistics của Tây Ninh, ông Huỳnh Thanh Sơn, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh cho biết tỉnh có vị trí địa lý hết sức quan trọng, là trung tâm giao thoa kinh tế, văn hóa giữa hai vùng Đông và Tây Nam Bộ.  Nằm trên hành lang kinh tế Xuyên Á, diện tích hơn 8.536 km2, với gần 3,3 triệu dân. 

Đồng thời, hạ tầng giao thông đang được đầu tư mạnh, giúp kết nối thuận lợi với TP. Hồ Chí Minh và vùng Đông Nam Bộ, tạo điều kiện cho giao thương và vận chuyển hàng hóa từ cảng biển, sân bay quốc tế và các trung tâm tiêu dùng lớn.

Với những cơ chế chính sách phù hợp, cùng môi trường đầu tư và xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng, trong thời gian qua Tây Ninh đã và đang là điểm sáng trong thu hút đầu tư, góp phần phát triển kinh tế xã hội của khu vực.

“Sau khi sát nhập, tỉnh Tây Ninh mang một vận hội mới trở thành trung tâm công nghiệp, đô thị, dịch vụ logistics và nông nghiệp công nghệ cao. Chính vì điều đó, việc ra đời và tham gia phát triển hàng loạt các dự án lớn tập trung đầu tư vào hạ tầng kho bãi là rất quan trọng”, ông Sơn cho biết.

NÂNG CẤP HẠ TẦNG LOGISTICS, MỞ ĐƯỜNG CHO TĂNG TRƯỞNG

Trong bối cảnh Tây Ninh đẩy mạnh vai trò cửa ngõ giao thương và thu hút đầu tư hạ tầng logistics, nhu cầu về các trung tâm kho bãi hiện đại – đặc biệt là logistics lạnh càng trở nên rõ rệt. Chính thực tế này đặt bài toán không chỉ cho địa phương mà cho cả nền nông nghiệp – thủy sản Việt Nam, vốn đang đối mặt với nghịch lý kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh nhưng hạ tầng kho lạnh lại chưa theo kịp.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đặt mục tiêu xuất khẩu năm 2025 đạt 65 - 70 tỷ USD, trong đó thủy sản vượt 10 tỷ USD. Trong đó, với vai trò chiến lược của Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) và Đông Nam Bộ trong chuỗi cung ứng lương thực - thực phẩm, thủy sản đang đặt ra yêu cầu cấp bách về hạ tầng logistics lạnh tương xứng.

Theo ông Nguyễn Hoàng Hải, Phó Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc, Công ty Cổ phần Kho lạnh Kỷ Nguyên Mới (NECS), ngành kho lạnh của Việt Nam còn khá non trẻ song tăng trưởng rất nhanh tuy vậy, sự phát triển không đồng đều. Dự báo đến năm 2028, tổng công suất toàn thị trường sẽ đạt khoảng 1,7 triệu pallet.

Dù vậy, không ít doanh nghiệp trong khu vực vẫn chịu áp lực lớn như thiếu kho lạnh đạt chuẩn quốc tế, thiếu dịch vụ logistics đầu - cuối, thiếu giải pháp vốn lưu động và thiếu một hệ sinh thái đồng bộ đảm bảo hàng hóa an toàn từ vùng nguyên liệu, nhà máy đến thị trường xuất khẩu. Thực trạng này làm giảm sức cạnh tranh của nông nghiệp – thủy sản Việt Nam và khiến tiềm năng của vùng ĐBSCL và Đông Nam Bộ chưa được khai thác đầy đủ.

Trong bối cảnh này, ngày 12/12 vừa qua, NECS đã chính thức đưa vào vận hành dự án Kho lạnh Kỷ Nguyên Mới tại Tây Ninh nhân kỷ niệm 5 năm thành lập. Đây là một trong những kho ngoại quan số thông minh lớn nhất Đông Nam Á với quy mô lên đến 110.000 pallets, vận hành hệ thống đa dải nhiệt độ từ -22°C đến +25°C.

Phát biểu tại sự kiện, ông Huỳnh Văn Sơn, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh nhận đinh: “Việc ra đời các dự án hạ tầng kho bãi quy mô lớn như Kho lạnh Kỷ Nguyên Mới là bước đi quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu này. Đây không chỉ là công trình lưu trữ hàng hóa mà còn là biểu tượng cho tầm nhìn vươn mình trong kỷ nguyên số, tiên phong ứng dụng công nghệ tự động hóa và các giải pháp xanh theo tinh thần Nghị quyết 52 của Bộ Chính trị”, ông Sơn nhấn mạnh.

Đồng thời, từng bước đưa Tây Ninh đạt mục tiêu trở thành trung tâm trung chuyển hàng hóa của khu vực và các tỉnh, thành phố trong vùng. Mở ra cơ hội phát triển mạnh mẽ cho việc xuất khẩu nông sản của Việt Nam và khu vực ASEAN vươn ra thế giới.

Ông Huỳnh Văn Sơn, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh phát biểu tại lễ khánh thành kho lạnh Kỷ Nguyên Mới của NECS.

“Điểm khác biệt của NECS trên thị trường so với các kho khác là việc hợp tác với các ngân hàng triển khai mô hình hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp (Quản lý hàng hóa cầm cố), cho phép doanh nghiệp dùng chính lô hàng trong kho làm tài sản bảo đảm. Hệ thống quản lý số hóa giúp minh bạch dữ liệu, kết nối trực tiếp với ngân hàng và giảm rủi ro, từ đó đẩy nhanh giải ngân và duy trì sản xuất, phù hợp định hướng tài chính xanh và tài chính nông nghiệp”, ông Hoàng Hải thông tin thêm.

Được biết, đây là kho ngoại quan lạnh số đầu tiên được Cục Hải quan chấp thuận cho áp dụng giúp cung ứng các dịch vụ ngoại quan nhanh chóng, tiện lợi và tiết kiệm chi phí ngay tại chỗ.

Bên cạnh đó, kho lạnh mới của NECS hoạt động hoàn toàn tự động trong môi trường âm sâu, ứng dụng robot và giá kệ thông minh. Các khâu đặt chỗ, nhập – xuất, quản lý tồn, kiểm soát nhiệt độ và truy xuất lô hàng đều được số hóa trên nền tảng tích hợp IoT và AI.

-Thanh Thủy

Categories: The Latest News

Bổ sung quy định cho vay lại vốn ODA với tổ chức khoa học và công nghệ công lập

Thời Báo Kinh Tế - Sat, 12/13/2025 - 20:55
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 317/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 97/2018/NĐ-CP về cho vay lại vốn vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài. Nghị định mới có bổ sung quy định riêng đối với tổ chức khoa học và công nghệ công lập, cơ sở giáo dục đại học công lập tự chủ tài chính, đồng thời làm rõ cơ chế bảo đảm tiền vay...

Hiện nay, việc cho vay lại nguồn vốn vay nước ngoài của Chính phủ không áp dụng riêng cho đối tượng là "tổ chức khoa học và công nghệ, cơ sở giáo dục đại học công lập tự chủ tài chính" mà chỉ có quy định áp dụng chung cho các đơn vị sự nghiệp công lập.

Nghị định số 317/2025/NĐ-CP đã bổ sung nội dung trên vào khoản 2 Điều 21 Nghị định số 97/2018/NĐ-CP như sau: Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức khoa học và công nghệ công lập, cơ sở giáo dục đại học công lập có dự án đầu tư trong hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thuộc phạm vi của Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị và Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư theo quy định của pháp luật về quản lý nợ công, được áp dụng tỷ lệ vay lại 10% vốn vay ODA, vay ưu đãi sử dụng cho dự án đầu tư”.

Cùng với việc bổ sung tổ chức khoa học và công nghệ công lập, cơ sở giáo dục đại học công lập được vay lại 10% vốn vay ODA thì Nghị định số 317/2025/NĐ-CP cũng bổ sung quy định không yêu cầu tổ chức khoa học và công nghệ công lập, cơ sở giáo dục đại học công lập bảo đảm tiền vay.

Cụ thể, Nghị định số 317/2025/NĐ-CP sửa đổi khoản 4 Điều 16 Nghị định số 97/2018/NĐ-CP như sau: Không yêu cầu bảo đảm tiền vay trong trường hợp đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức khoa học và công nghệ công lập, cơ sở giáo dục đại học công lập vay lại nguồn vốn vay nước ngoài của Chính phủ theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 21 của Nghị định này, không thể thực hiện bảo đảm tiền vay bằng tài sản theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp này, căn cứ đề xuất của cơ quan chủ quản về việc không thể thực hiện bảo đảm tiền vay bằng tài sản theo quy định của pháp luật và ý kiến thẩm định của cơ quan được ủy quyền cho vay lại, Bộ Tài chính báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định về việc cho vay lại và không yêu cầu tài sản đảm bảo theo quy định tại Nghị định này. Cơ quan chủ quản chịu trách nhiệm toàn diện trước pháp luật về kết quả rà soát việc không thể thực hiện bảo đảm tiền vay bằng tài sản theo quy định của pháp luật.

-Tuấn Khang

Categories: The Latest News

Bổ sung quy định cho vay lại vốn ODA với tổ chức khoa học và công nghệ công lập

Thời báo kinh tế Việt Nam - Sat, 12/13/2025 - 20:55
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 317/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 97/2018/NĐ-CP về cho vay lại vốn vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài. Nghị định mới có bổ sung quy định riêng đối với tổ chức khoa học và công nghệ công lập, cơ sở giáo dục đại học công lập tự chủ tài chính, đồng thời làm rõ cơ chế bảo đảm tiền vay...

Hiện nay, việc cho vay lại nguồn vốn vay nước ngoài của Chính phủ không áp dụng riêng cho đối tượng là "tổ chức khoa học và công nghệ, cơ sở giáo dục đại học công lập tự chủ tài chính" mà chỉ có quy định áp dụng chung cho các đơn vị sự nghiệp công lập.

Nghị định số 317/2025/NĐ-CP đã bổ sung nội dung trên vào khoản 2 Điều 21 Nghị định số 97/2018/NĐ-CP như sau: Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức khoa học và công nghệ công lập, cơ sở giáo dục đại học công lập có dự án đầu tư trong hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thuộc phạm vi của Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị và Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư theo quy định của pháp luật về quản lý nợ công, được áp dụng tỷ lệ vay lại 10% vốn vay ODA, vay ưu đãi sử dụng cho dự án đầu tư”.

Cùng với việc bổ sung tổ chức khoa học và công nghệ công lập, cơ sở giáo dục đại học công lập được vay lại 10% vốn vay ODA thì Nghị định số 317/2025/NĐ-CP cũng bổ sung quy định không yêu cầu tổ chức khoa học và công nghệ công lập, cơ sở giáo dục đại học công lập bảo đảm tiền vay.

Cụ thể, Nghị định số 317/2025/NĐ-CP sửa đổi khoản 4 Điều 16 Nghị định số 97/2018/NĐ-CP như sau: Không yêu cầu bảo đảm tiền vay trong trường hợp đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức khoa học và công nghệ công lập, cơ sở giáo dục đại học công lập vay lại nguồn vốn vay nước ngoài của Chính phủ theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 21 của Nghị định này, không thể thực hiện bảo đảm tiền vay bằng tài sản theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp này, căn cứ đề xuất của cơ quan chủ quản về việc không thể thực hiện bảo đảm tiền vay bằng tài sản theo quy định của pháp luật và ý kiến thẩm định của cơ quan được ủy quyền cho vay lại, Bộ Tài chính báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định về việc cho vay lại và không yêu cầu tài sản đảm bảo theo quy định tại Nghị định này. Cơ quan chủ quản chịu trách nhiệm toàn diện trước pháp luật về kết quả rà soát việc không thể thực hiện bảo đảm tiền vay bằng tài sản theo quy định của pháp luật.

-Tuấn Khang

Categories: The Latest News

Cụ thể hóa cơ chế chuyển giao công nghệ cho các dự án đường sắt trọng điểm

Thời Báo Kinh Tế - Sat, 12/13/2025 - 20:53
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 319/2025/NĐ-CP quy định chi tiết nội dung, trình tự, thủ tục, thẩm quyền triển khai các cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt về phát triển khoa học, công nghệ, nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ đối với công trình trọng điểm, dự án quan trọng quốc gia trong lĩnh vực đường sắt, theo các Nghị quyết của Quốc hội...

Nghị định nhằm tạo hành lang pháp lý đồng bộ để tổ chức thực hiện các cơ chế đã được Quốc hội cho phép. Nghị định 319/2025/NĐ-CP quy định cụ thể tiêu chí lựa chọn tổ chức, doanh nghiệp Việt Nam được giao nhiệm vụ hoặc được đặt hàng nhận chuyển giao công nghệ phục vụ các dự án đường sắt.

TIÊU CHÍ CHẶT CHẼ ĐỐI VỚI TỔ CHỨC, DOANH NGHIỆP NHẬN CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ

Theo đó, tổ chức, doanh nghiệp chỉ được xem xét khi đồng thời đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định.

Trước hết, tổ chức, doanh nghiệp phải được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam, có tư cách pháp lý hợp lệ. Đối với tổ chức, phải có chức năng, nhiệm vụ rõ ràng; đối với doanh nghiệp, phải có đăng ký ngành nghề kinh doanh, giấy phép hoạt động phù hợp với lĩnh vực công nghệ dự kiến nhận chuyển giao.

Bên cạnh đó, Nghị định đặt ra yêu cầu về năng lực vật chất và tài chính. Cụ thể, tổ chức, doanh nghiệp phải có quy mô nhà xưởng, cơ sở vật chất đáp ứng yêu cầu tiếp nhận, lắp đặt máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ; đồng thời có nguồn lực tài chính hoặc khả năng huy động đủ nguồn tài chính để thực hiện việc thanh toán, quyết toán chi phí nhận chuyển giao công nghệ theo dự án.

Yếu tố nhân lực được xác định là tiêu chí bắt buộc. Theo Nghị định, tổ chức, doanh nghiệp phải có đội ngũ chuyên gia, cán bộ kỹ thuật và người lao động đủ năng lực quản lý, nghiên cứu, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, bảo đảm tiếp nhận, làm chủ và vận hành công nghệ sau khi được chuyển giao. Cùng với đó là kế hoạch huy động nguồn lực phù hợp với yêu cầu tiếp nhận công nghệ của từng dự án cụ thể.

Ngoài ra, tổ chức, doanh nghiệp phải có cam kết bảo đảm hoàn thành việc tiếp nhận, làm chủ và vận hành công nghệ; có kinh nghiệm hợp tác quốc tế trong lĩnh vực chuyển giao công nghệ. Đây được xem là điều kiện quan trọng nhằm bảo đảm khả năng hấp thụ, khai thác hiệu quả công nghệ tiên tiến, hạn chế rủi ro trong quá trình triển khai.

Nghị định cũng quy định rõ các điều kiện loại trừ. Theo đó, tổ chức, doanh nghiệp không đang trong quá trình giải thể, không bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc đăng ký kinh doanh, không thuộc trường hợp mất khả năng thanh toán theo quy định của pháp luật về phá sản. Đồng thời, giá chuyển giao công nghệ không được vượt dự toán kinh phí nhận chuyển giao công nghệ trong dự án đường sắt đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Trên cơ sở các tiêu chí chung, chủ đầu tư dự án đường sắt có trách nhiệm xác định yêu cầu cụ thể đối với từng tiêu chí, bảo đảm phù hợp với loại công nghệ nhận chuyển giao, tính chất và quy mô của từng dự án.

QUY TRÌNH LỰA CHỌN ĐƯỢC QUY ĐỊNH RÕ VỀ TRÌNH TỰ, THẨM QUYỀN

Nghị định 319/2025/NĐ-CP quy định chi tiết trình tự, thủ tục và thẩm quyền lựa chọn tổ chức, doanh nghiệp Việt Nam được giao nhiệm vụ hoặc đặt hàng nhận chuyển giao công nghệ phục vụ dự án đường sắt.

Theo đó, chủ đầu tư dự án đường sắt có trách nhiệm gửi yêu cầu cụ thể về tiêu chí lựa chọn tổ chức, doanh nghiệp nhận chuyển giao công nghệ đến Bộ Xây dựng; đối với dự án đường sắt địa phương, gửi đến UBND cấp tỉnh. Trên cơ sở yêu cầu này, Bộ Xây dựng hoặc UBND cấp tỉnh tổ chức thông báo công khai việc lựa chọn tổ chức, doanh nghiệp trên Cổng thông tin điện tử và các phương tiện thông tin đại chúng theo quy định.

Các tổ chức, doanh nghiệp có nhu cầu tham gia gửi 1 bộ hồ sơ đăng ký tham gia lựa chọn giao nhiệm vụ hoặc đặt hàng nhận chuyển giao công nghệ. Hồ sơ có thể được nộp trực tiếp, qua dịch vụ bưu chính hoặc thông qua môi trường điện tử đến Bộ Xây dựng hoặc UBND cấp tỉnh đối với dự án đường sắt địa phương.

Trường hợp hồ sơ chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu theo quy định, trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ, cơ quan tiếp nhận có trách nhiệm thông báo bằng văn bản để tổ chức, doanh nghiệp sửa đổi, bổ sung. Thời hạn sửa đổi, bổ sung hồ sơ không quá 7 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo. Nếu hồ sơ sửa đổi, bổ sung vẫn không đáp ứng quy định, trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ bổ sung, Bộ Xây dựng hoặc UBND cấp tỉnh thông báo bằng văn bản việc hồ sơ không đủ điều kiện xem xét, đánh giá.

Trong thời hạn không quá 30 ngày kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ hợp lệ, Bộ Xây dựng hoặc UBND cấp tỉnh quyết định thành lập Hội đồng tư vấn để đánh giá tổ chức, doanh nghiệp đáp ứng các tiêu chí theo quy định. Hội đồng tư vấn có trách nhiệm hoàn thành việc đánh giá kết quả thực hiện nhận chuyển giao công nghệ trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày có quyết định thành lập.

Trên cơ sở ý kiến của Hội đồng tư vấn, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kết quả đánh giá, Bộ Xây dựng hoặc UBND cấp tỉnh quyết định lựa chọn tổ chức, doanh nghiệp Việt Nam được giao nhiệm vụ hoặc đặt hàng nhận chuyển giao công nghệ phục vụ dự án đường sắt.

Việc quy định cụ thể tiêu chí, trình tự, thủ tục và thẩm quyền lựa chọn tổ chức, doanh nghiệp nhận chuyển giao công nghệ tại Nghị định 319/2025/NĐ-CP được xác định là bước cụ thể hóa các cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt đã được Quốc hội cho phép, đồng thời tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho quá trình triển khai các dự án đường sắt trọng điểm, dự án quan trọng quốc gia trong thời gian tới.

-Đan Tiên

Categories: The Latest News

Cụ thể hóa cơ chế chuyển giao công nghệ cho các dự án đường sắt trọng điểm

Thời báo kinh tế Việt Nam - Sat, 12/13/2025 - 20:53
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 319/2025/NĐ-CP quy định chi tiết nội dung, trình tự, thủ tục, thẩm quyền triển khai các cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt về phát triển khoa học, công nghệ, nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ đối với công trình trọng điểm, dự án quan trọng quốc gia trong lĩnh vực đường sắt, theo các Nghị quyết của Quốc hội...

Nghị định nhằm tạo hành lang pháp lý đồng bộ để tổ chức thực hiện các cơ chế đã được Quốc hội cho phép. Nghị định 319/2025/NĐ-CP quy định cụ thể tiêu chí lựa chọn tổ chức, doanh nghiệp Việt Nam được giao nhiệm vụ hoặc được đặt hàng nhận chuyển giao công nghệ phục vụ các dự án đường sắt.

TIÊU CHÍ CHẶT CHẼ ĐỐI VỚI TỔ CHỨC, DOANH NGHIỆP NHẬN CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ

Theo đó, tổ chức, doanh nghiệp chỉ được xem xét khi đồng thời đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định.

Trước hết, tổ chức, doanh nghiệp phải được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam, có tư cách pháp lý hợp lệ. Đối với tổ chức, phải có chức năng, nhiệm vụ rõ ràng; đối với doanh nghiệp, phải có đăng ký ngành nghề kinh doanh, giấy phép hoạt động phù hợp với lĩnh vực công nghệ dự kiến nhận chuyển giao.

Bên cạnh đó, Nghị định đặt ra yêu cầu về năng lực vật chất và tài chính. Cụ thể, tổ chức, doanh nghiệp phải có quy mô nhà xưởng, cơ sở vật chất đáp ứng yêu cầu tiếp nhận, lắp đặt máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ; đồng thời có nguồn lực tài chính hoặc khả năng huy động đủ nguồn tài chính để thực hiện việc thanh toán, quyết toán chi phí nhận chuyển giao công nghệ theo dự án.

Yếu tố nhân lực được xác định là tiêu chí bắt buộc. Theo Nghị định, tổ chức, doanh nghiệp phải có đội ngũ chuyên gia, cán bộ kỹ thuật và người lao động đủ năng lực quản lý, nghiên cứu, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, bảo đảm tiếp nhận, làm chủ và vận hành công nghệ sau khi được chuyển giao. Cùng với đó là kế hoạch huy động nguồn lực phù hợp với yêu cầu tiếp nhận công nghệ của từng dự án cụ thể.

Ngoài ra, tổ chức, doanh nghiệp phải có cam kết bảo đảm hoàn thành việc tiếp nhận, làm chủ và vận hành công nghệ; có kinh nghiệm hợp tác quốc tế trong lĩnh vực chuyển giao công nghệ. Đây được xem là điều kiện quan trọng nhằm bảo đảm khả năng hấp thụ, khai thác hiệu quả công nghệ tiên tiến, hạn chế rủi ro trong quá trình triển khai.

Nghị định cũng quy định rõ các điều kiện loại trừ. Theo đó, tổ chức, doanh nghiệp không đang trong quá trình giải thể, không bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc đăng ký kinh doanh, không thuộc trường hợp mất khả năng thanh toán theo quy định của pháp luật về phá sản. Đồng thời, giá chuyển giao công nghệ không được vượt dự toán kinh phí nhận chuyển giao công nghệ trong dự án đường sắt đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Trên cơ sở các tiêu chí chung, chủ đầu tư dự án đường sắt có trách nhiệm xác định yêu cầu cụ thể đối với từng tiêu chí, bảo đảm phù hợp với loại công nghệ nhận chuyển giao, tính chất và quy mô của từng dự án.

QUY TRÌNH LỰA CHỌN ĐƯỢC QUY ĐỊNH RÕ VỀ TRÌNH TỰ, THẨM QUYỀN

Nghị định 319/2025/NĐ-CP quy định chi tiết trình tự, thủ tục và thẩm quyền lựa chọn tổ chức, doanh nghiệp Việt Nam được giao nhiệm vụ hoặc đặt hàng nhận chuyển giao công nghệ phục vụ dự án đường sắt.

Theo đó, chủ đầu tư dự án đường sắt có trách nhiệm gửi yêu cầu cụ thể về tiêu chí lựa chọn tổ chức, doanh nghiệp nhận chuyển giao công nghệ đến Bộ Xây dựng; đối với dự án đường sắt địa phương, gửi đến UBND cấp tỉnh. Trên cơ sở yêu cầu này, Bộ Xây dựng hoặc UBND cấp tỉnh tổ chức thông báo công khai việc lựa chọn tổ chức, doanh nghiệp trên Cổng thông tin điện tử và các phương tiện thông tin đại chúng theo quy định.

Các tổ chức, doanh nghiệp có nhu cầu tham gia gửi 1 bộ hồ sơ đăng ký tham gia lựa chọn giao nhiệm vụ hoặc đặt hàng nhận chuyển giao công nghệ. Hồ sơ có thể được nộp trực tiếp, qua dịch vụ bưu chính hoặc thông qua môi trường điện tử đến Bộ Xây dựng hoặc UBND cấp tỉnh đối với dự án đường sắt địa phương.

Trường hợp hồ sơ chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu theo quy định, trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ, cơ quan tiếp nhận có trách nhiệm thông báo bằng văn bản để tổ chức, doanh nghiệp sửa đổi, bổ sung. Thời hạn sửa đổi, bổ sung hồ sơ không quá 7 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo. Nếu hồ sơ sửa đổi, bổ sung vẫn không đáp ứng quy định, trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ bổ sung, Bộ Xây dựng hoặc UBND cấp tỉnh thông báo bằng văn bản việc hồ sơ không đủ điều kiện xem xét, đánh giá.

Trong thời hạn không quá 30 ngày kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ hợp lệ, Bộ Xây dựng hoặc UBND cấp tỉnh quyết định thành lập Hội đồng tư vấn để đánh giá tổ chức, doanh nghiệp đáp ứng các tiêu chí theo quy định. Hội đồng tư vấn có trách nhiệm hoàn thành việc đánh giá kết quả thực hiện nhận chuyển giao công nghệ trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày có quyết định thành lập.

Trên cơ sở ý kiến của Hội đồng tư vấn, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kết quả đánh giá, Bộ Xây dựng hoặc UBND cấp tỉnh quyết định lựa chọn tổ chức, doanh nghiệp Việt Nam được giao nhiệm vụ hoặc đặt hàng nhận chuyển giao công nghệ phục vụ dự án đường sắt.

Việc quy định cụ thể tiêu chí, trình tự, thủ tục và thẩm quyền lựa chọn tổ chức, doanh nghiệp nhận chuyển giao công nghệ tại Nghị định 319/2025/NĐ-CP được xác định là bước cụ thể hóa các cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt đã được Quốc hội cho phép, đồng thời tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho quá trình triển khai các dự án đường sắt trọng điểm, dự án quan trọng quốc gia trong thời gian tới.

-Đan Tiên

Categories: The Latest News

Hà Nội chính thức vận hành hệ thống camera AI và trung tâm điều khiển giao thông thông minh

Thời báo kinh tế Việt Nam - Sat, 12/13/2025 - 20:51
Hệ thống hiện kết nối 1.837 camera các loại được lắp đặt tại 195 nút giao thông trọng điểm, cho phép lực lượng chức năng theo dõi trực tuyến tình hình giao thông, kịp thời phát hiện ùn tắc, tai nạn, sự cố và các hành vi vi phạm...

Ngày 13/12, Công an thành phố Hà Nội tổ chức Lễ khánh thành Trung tâm điều khiển giao thông thông minh và hệ thống camera AI xử lý vi phạm, gắn với công tác xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn giao thông trên môi trường điện tử.

Đây được xác định là một nhiệm vụ trọng tâm trong tiến trình chuyển đổi số, cải cách hành chính của lực lượng Công an, góp phần giải quyết các điểm nghẽn về trật tự đô thị và ùn tắc giao thông của Thủ đô.

Theo Công an thành phố Hà Nội, Trung tâm điều khiển giao thông thông minh đóng vai trò “đầu não” giám sát giao thông và trật tự đô thị theo thời gian thực. Hệ thống hiện kết nối 1.837 camera các loại được lắp đặt tại 195 nút giao thông trọng điểm, cho phép lực lượng chức năng theo dõi trực tuyến tình hình giao thông, kịp thời phát hiện ùn tắc, tai nạn, sự cố và các hành vi vi phạm.

Thông qua phân tích dữ liệu hình ảnh, hệ thống camera AI hỗ trợ xác định mật độ và lưu lượng phương tiện, từ đó điều chỉnh chu kỳ đèn tín hiệu phù hợp với tình hình thực tế. Đồng thời, hệ thống có khả năng tự động nhận diện nhiều hành vi vi phạm như dừng, đỗ sai quy định, đi sai làn đường, lấn chiếm lòng đường, vỉa hè hoặc tụ tập kinh doanh trái phép, giúp lực lượng chức năng ghi nhận và xử lý vi phạm nhanh chóng, giảm phụ thuộc vào kiểm tra thủ công.

Sau khi được nâng cấp, Trung tâm điều khiển giao thông của Công an thành phố Hà Nội được trang bị đầy đủ hạ tầng kỹ thuật và cơ sở pháp lý để thực hiện các chức năng quản lý trật tự, an toàn giao thông, đồng thời phục vụ công tác phối hợp phòng, chống tội phạm. Trung tâm hiện vận hành ba hệ thống chính gồm quản lý vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ, điều khiển tín hiệu giao thông thông minh thích ứng theo thời gian thực và quản lý an ninh trật tự.

Hệ thống điều khiển tín hiệu giao thông thông minh được xây dựng trên cơ sở dữ liệu lưu lượng giao thông thu thập từ 957 camera lắp đặt tại các nút đèn tín hiệu. Dữ liệu được xử lý tự động để điều chỉnh thời gian đèn xanh, đèn đỏ phù hợp với từng thời điểm trong ngày.

Ngoài ra, hệ thống còn tích hợp 132 camera giám sát PTZ phục vụ công tác an ninh trật tự và 748 camera AI chuyên dụng xử lý vi phạm, có độ phân giải cao, khả năng phân tích dữ liệu hình ảnh và lưu trữ tập trung lên tới 75 ngày, cho phép phát hiện tối đa 28 hành vi vi phạm giao thông khác nhau.

Trung tâm điều khiển giao thông thông minh với hệ thống gồm 1.837 mắt camera AI tại 195 nút giao thông trọng điểm sẽ được đưa vào sử dụng.

Theo Phòng Cảnh sát giao thông Hà Nội, mục tiêu của hệ thống không chỉ dừng lại ở việc xử phạt vi phạm qua hình thức “phạt nguội”, mà hướng tới giảm ùn tắc giao thông, hiện đại hóa hạ tầng đô thị và nâng cao năng lực quản lý.

Hệ thống cho phép thiết lập “làn sóng xanh”, cảnh báo sớm các điểm ùn tắc, phát hiện phương tiện thuộc diện theo dõi và điều chỉnh linh hoạt chu kỳ đèn tín hiệu theo lưu lượng thực tế, qua đó giảm nhu cầu bố trí lực lượng trực tiếp điều tiết tại hiện trường và tăng tính minh bạch trong quản lý.

Đến nay, Công an thành phố Hà Nội đã thiết lập sáu tuyến “làn sóng xanh” trên các trục phố Huế, Hàng Bài, Trần Hưng Đạo, Trần Phú, Nguyễn Thái Học và Quán Sứ. Trong đó, giải pháp điều khiển đèn tín hiệu thông minh trên tuyến Huế – Hàng Bài cho thấy hiệu quả rõ rệt khi thời gian hành trình giảm khoảng 31% so với trước, tốc độ lưu thông được cải thiện, số lần dừng chờ tại các nút giao giảm và lưu lượng phương tiện qua tuyến tăng lên.

Thời gian tới, Công an thành phố Hà Nội sẽ phối hợp với Trung tâm dịch vụ hành chính công tích hợp ứng dụng Công dân Thủ đô số (iHanoi) vào hạ tầng kỹ thuật của Trung tâm điều khiển giao thông, từng bước triển khai xử phạt vi phạm hành chính trên môi trường điện tử trong lĩnh vực trật tự, an toàn giao thông. Đây được kỳ vọng sẽ trở thành một bước tiến quan trọng trong xây dựng chính quyền số, xã hội số và lực lượng Công an số tại Thủ đô.

-Tuấn Khang

Categories: The Latest News

Giá bán vàng miếng SJC xô đổ mọi kỷ lục, vượt mốc 156 triệu đồng/lượng

Thời báo kinh tế Việt Nam - Sat, 12/13/2025 - 19:59
Trong ngày 13/12, giá mua, bán vàng miếng trên thị trường tăng phổ biến 700 nghìn đồng/lượng so với chốt phiên hôm qua, đưa giá vàng miếng SJC bán ra chạm mốc 156,3 triệu đồng/lượng. Bám sát đà tăng, giá vàng nhẫn cũng tăng tới 1 triệu đồng mỗi lượng...

Đóng cửa phiên cuối tuần (13/12), giá mua, bán vàng miếng SJC tại các đơn vị kinh doanh tiếp tục duy trì xu hướng tăng. Giá vàng miếng bán ra chốt phiên đồng loạt thiết lập vùng đỉnh mới ở mức 156,3 triệu đồng/lượng

Sau khi tăng 1,1 triệu đồng/lượng mỗi chiều trong phiên hôm qua (12/12), mở cửa phiên sáng nay, Công ty SJC, DOJI, PNJ, Bảo Tín Mạnh Hải và Ngọc Thẩm tiếp tục tăng thêm 700 nghìn đồng/lượng đối với cả hai chiều mua và bán.

Các thương hiệu trên đều niêm yết giá vàng miếng mua vào ở mức 154,3 triệu đồng/lượng và giá bán ra ở mức 156,3 triệu đồng/lượng. Mức giá giao dịch trên được duy trì ổn định đến hết phiên.

Trong tuần (8 –13/12), giá mua, bán vàng miếng SJC vẫn ghi nhận xu hướng tăng. So với giá chốt phiên đầu tuần (8/12), giá mua, bán vàng miếng SJC tại hầu hết các thương hiệu đều ghi nhận mức tăng phổ biến là 1,8 triệu đồng/lượng mỗi chiều. Riêng tại Bảo Tín Minh Châu và Bảo Tín Mạnh Hải, giá mua vào và giá bán ra tăng lần lượt 1,3 triệu đồng/lượng và 1,8 triệu đồng/lượng so với phiên đầu tuần.

Cùng mức tăng trên, mở cửa phiên sáng. Bảo Tín Mạnh Hải và Phú Quý cùng niêm yết giá bán vàng miếng SJC ở mức 156,3 triệu đồng/lượng.

Trong khi đó, giá vàng miếng mua vào niêm yết lần lượt ở mức 154,4 triệu đồng và 153,3 triệu đồng/lượng. Đóng cửa phiên, mức giá giao dịch trên vẫn không đổi.

Tại khu vực phía Nam, Mi Hồng là đơn vị duy nhất ghi nhận 3 nhịp điều chỉnh tăng liên tiếp đối với chiều mua nhưng chỉ ghi nhận 1 nhịp tăng đối với chiều bán trong phiên hôm nay.

Mở cửa phiên, Mi Hồng vẫn giữ nguyên giá giao dịch vàng miếng SJC ở mức 154,2 triệu – 155,6 triệu đồng/lượng.

Tuy nhiên, sau hơn 1 tiếng mở cửa, doanh nghiệp này tăng 600 nghìn đồng/lượng đối với chiều mua và tăng 700 nghìn đồng/lượng đối với chiều bán, niêm yết ở mức 154,8 triệu – 156,3 triệu đồng/lượng (mua – bán). Mức giá giao dịch trên được duy trì đến hết phiên sáng.

Mở cửa phiên chiều, sau khi tăng thêm 200 nghìn đồng/lượng đối với chiều mua và giữ nguyên chiều bán, Mi Hồng đặt giá mua, bán vàng miếng SJC chốt phiên ở mức 155 triệu – 156,3 triệu đồng/lượng.

Như vậy trong phiên 13/12, Mi Hồng ghi nhận tổng mức tăng là 800 nghìn đồng/lượng đối với chiều mua và 700 nghìn đồng/lượng đối với chiều bán.

Diễn biến giá vàng miếng SJC trong năm 2025. Nguồn: VnEconomy tổng hợp từ bảng giá các doanh nghiệp

Xu hướng tăng giá cũng hiện hữu trên thị trường vàng nhẫn “4 số 9” với mức tăng dao động từ 500 nghìn – 900 nghìn đồng/lượng mỗi chiều. Duy chỉ có một doanh nghiệp điều chỉnh giảm 500 nghìn đồng/lượng đối với giá giao dịch vàng nhẫn trong phiên hôm nay (13/12).

Tại TP. Hồ Chí Minh, Ngọc Thẩm đặt giá mua vào vàng nhẫn “4 số 9” mở cửa phiên ở mức 143,5 triệu còn giá vàng nhẫn bán ra niêm yết ở mức 146,5 triệu đồng/lượng, giữ nguyên so với giá chốt phiên hôm qua (12/12).

Tuy nhiên, chỉ sau gần 1 tiếng mở cửa, thương hiệu này giảm mạnh 1 triệu đồng/lượng mỗi chiều, niêm yết giá mua, bán ở mức 142,5 triệu – 145,5 triệu đồng/lượng. Mức giá giao dịch trên được duy trì đến hết phiên sáng. Mở cửa phiên chiều, Ngọc Thẩm tiếp tục tăng thêm 500 nghìn đồng/lượng, niêm yết giá mua, bán vàng nhẫn ở mức 143 triệu – 146 triệu đồng/lượng và giữ nguyên đến hết phiên.

So với giá chốt phiên đầu tháng (8/12), giá vàng nhẫn tại thương hiệu này vẫn tăng 1 triệu đồng/lượng đối với chiều mua và chiều bán. Đồng thời, đây cũng là mức điều chỉnh tăng khiêm tốn nhất trên thị trường trong tuần qua.

Trong khi đó, sau khi tăng 600 nghìn đồng/lượng mỗi chiều so với giá chốt phiên 12/12, Công ty SJC đặt giá mua, bán vàng nhẫn “4 số 9” mở cửa phiên ở mức 151,1 triệu – 153,6 triệu đồng/lượng và duy trì ổn định đến hết phiên. So với giá chốt phiên 8/12, giá giao dịch vàng nhẫn tại thương hiệu này tăng 1,6 triệu đồng/lượng mỗi chiều và có mức điều chỉnh cao nhất trên thị trường.

Tương tự, tại DOJI và PNJ, chốt phiên, hai thương hiệu này đều niêm yết giá vàng nhẫn mua vào ở mức 151,5 triệu đồng/lượng và giá vàng nhẫn bán ra là 154,5 triệu đồng/lượng. Giá mua, bán vàng nhẫn tại DOJI và PNJ tăng 900 nghìn đồng/lượng mỗi chiều so với giá chốt phiên 12/12 và tăng 1,5 triệu đồng/lượng mỗi chiều so với phiên đầu tuần.

Mức độ tăng, giảm giá mua,bán vàng nhẫn trong phiên 8/12 so với phiên 13/12. Nguồn: VnEconomy tổng hợp và tính toán

Mở cửa phiên sáng, Bảo Tín Minh Châu vẫn đặt giá mua vào vàng nhẫn “4 số 9” ở mức 151,8 triệu còn giá vàng nhẫn bán ra niêm yết ở mức 154,8 triệu đồng/lượng, giữ nguyên so với giá chốt phiên 12/12.

Tuy nhiên, sau hơn 2 tiếng mở cửa, thương hiệu này tăng 700 nghìn đồng/lượng mỗi chiều, niêm yết giá mua, bán vàng nhẫn tròn trơn ở mức 152,5 triệu – 155,5 triệu đồng/lượng. Đóng cửa phiên sáng, giá mua, bán vàng nhẫn lại giảm 200 nghìn đồng/lượng mỗi chiều, niêm yết ở mức 152,3 triệu – 155,3 triệu đồng/lượng. Sang phiên chiều, mức giá giao dịch trên vẫn không đổi và duy trì ổn định đến hết phiên.

Như vậy trong phiên 13/12, giá mua, bán vàng nhẫn “4 số 9” tại Bảo Tín Minh Châu ghi nhận tổng mức tăng là 500 nghìn đồng/lượng mỗi chiều và so với giá chốt phiên 8/12, giá giao dịch vàng nhẫn tại thương hiệu này tăng 1,5 triệu đồng/lượng.

Sau hai nhịp tăng giảm đan xen trong phiên 13/12, giá mua, bán vàng nhẫn chốt phiên tại Bảo Tín Mạnh Hải cũng niêm yết ở mức 152,3 triệu – 155,3 triệu đồng/lượng (mua – bán), tăng 500 nghìn đồng/lượng đối với cả hai chiều mua và bán. So với chốt phiên 8/12, giá mua, bán vàng nhẫn tại thương hiệu này cũng tăng 1,5 triệu đồng/lượng.

Tại Phú Quý, đây là thương hiệu duy nhất ghi nhận 3 nhịp điều chỉnh tăng liên tiếp trong phiên 13/12 với tổng mức tăng là 700 nghìn đồng/lượng mỗi chiều.

Mở cửa phiên sáng, Phú Quý vẫn giữ nguyên giá mua vào vàng nhẫn “4 số 9” ở mức 150,8 triệu còn giá vàng nhẫn bán ra niêm yết ở mức 153,8 triệu đồng/lượng so với giá chốt phiên 12/12.

Chỉ trong vòng hơn 1 tiếng mở cửa, thương hiệu này ghi nhận 3 lần tăng liên tiếp với tổng mức tăng là 700 nghìn đồng/lượng mỗi chiều, niêm yết giá mua, bán vàng nhẫn ở mức 151,5 triệu – 154,5 triệu đồng/lượng. Mức giá giao dịch trên không thay đổi đến khi chốt phiên.

So với chốt phiên 8/12, giá mua, bán vàng nhẫn tại thương hiệu này cũng tăng 1,5 triệu đồng/lượng.

Trên thị trường NewYork, đóng cửa phiên ngày 12/12, hợp đồng giá vàng giao ngay tăng nhẹ 0,42%, tiến lên mốc 4.298 USD/oz. Như vậy, tổng mức tăng trong trong tuần qua đối với hợp đồng giá vàng giao ngay là 2,57%.

Theo tỷ giá Vietcombank (đã bao gồm thuế và phí...), chênh lệch giữa giá vàng miếng và giá vàng thế giới đồng loạt ở mức 18,08 triệu đồng/lượng, giảm hơn 1 triệu đồng/lượng so với phiên đầu tuần. Trong khi đó, tùy từng thương hiệu, khoảng cách này đối với giá vàng nhẫn “4 số 9” giảm từ 2 – 3 triệu đồng/lượng mỗi chiều, dao động ở mức 7,78 triệu – 17,08 triệu đồng/lượng.

-Mai Nhi

Categories: The Latest News

Chính phủ yêu cầu tăng tốc điều hành, tạo đà thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội năm 2026

Thời Báo Kinh Tế - Sat, 12/13/2025 - 19:03
Chính phủ ban hành Nghị quyết số 406/NQ-CP phiên họp thường kỳ tháng 11/2025, yêu cầu các bộ, ngành, địa phương theo dõi sát tình hình, tăng tốc, bứt phá trong điều hành, quyết tâm hoàn thành cao nhất các mục tiêu năm 2025, đồng thời tạo nền tảng vững chắc cho kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2026.

Trong Nghị quyết, Chính phủ nhận định bối cảnh quốc tế tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường; căng thẳng địa chính trị, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng; tăng trưởng kinh tế toàn cầu phục hồi chậm, nợ công tại nhiều quốc gia ở mức cao. Ở trong nước, khó khăn và thuận lợi đan xen nhưng thách thức vẫn là chủ yếu, nhất là trong những tháng cuối năm 2025 khi khối lượng công việc còn rất lớn.

THÚC ĐẨY GIẢI NGÂN ĐẦU TƯ CÔNG, GIỮ VỮNG ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ

Trước yêu cầu đó, Chính phủ yêu cầu Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phát huy tinh thần đoàn kết, thống nhất, phối hợp chặt chẽ, triển khai đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp trên các lĩnh vực; vừa tăng tốc, bứt phá để hoàn thành Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2025, vừa tạo đà, tạo lực, tạo thế cho năm 2026.

Ảnh minh hoạ.

Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tiếp tục khẩn trương phổ biến, quán triệt và triển khai hiệu quả các nghị quyết, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư; các nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội; nghị quyết của Chính phủ và các quyết định, chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.

Trên cơ sở đánh giá đầy đủ tác động của thiên tai, bão lũ, các cơ quan liên quan phải kịp thời rà soát, cập nhật kịch bản tăng trưởng, kiên định mục tiêu ưu tiên giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, qua đó tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững.

Chính sách tiền tệ tiếp tục được điều hành chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả; phối hợp chặt chẽ, hài hòa với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác. Ngân hàng Nhà nước tăng cường thanh tra, kiểm tra, kiểm soát dòng vốn tín dụng, định hướng tín dụng vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng; kiểm soát chặt chẽ chất lượng tín dụng, nợ xấu; điều hành tỷ giá, lãi suất phù hợp diễn biến thị trường nhằm ổn định thị trường tiền tệ, ngoại tệ, tạo thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh và thu hút đầu tư.

Về tài khóa, Chính phủ yêu cầu siết chặt kỷ luật, kỷ cương quản lý tài chính, ngân sách nhà nước; chống thất thu, mở rộng cơ sở thu, nhất là trong các lĩnh vực thương mại điện tử, dịch vụ ăn uống, bán lẻ. Phấn đấu tăng thu ngân sách nhà nước ít nhất 25% so với dự toán; đồng thời rà soát, xây dựng các mức thuế xuất khẩu, nhập khẩu phù hợp với lộ trình hội nhập quốc tế.

Đặc biệt, Chính phủ yêu cầu tiếp tục triển khai quyết liệt, hiệu quả các giải pháp thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công, bảo đảm giải ngân 100% kế hoạch vốn đầu tư công năm 2025 được Thủ tướng Chính phủ giao; tập trung xử lý dứt điểm các dự án tồn đọng, doanh nghiệp và ngân hàng yếu kém, qua đó giải phóng nguồn lực cho phát triển kinh tế – xã hội.

BẢO ĐẢM NGUỒN CUNG CẤP HÀNG HOÁ, KÍCH CẦU TIÊU DÙNG CUỐI NĂM, KHẮC PHỤC HẬU QUẢ THIÊN TAI

Các bộ, ngành, địa phương được yêu cầu chủ động nắm chắc tình hình thị trường, có giải pháp phù hợp để ổn định cung – cầu, phát triển sản xuất trong nước; bảo đảm nguồn cung lương thực, thực phẩm và hàng hóa thiết yếu phục vụ tiêu dùng trong những tháng cuối năm 2025 và dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, không để xảy ra thiếu hàng, tăng giá đột biến.

Song song với đó, tăng cường phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại, gian lận xuất xứ, hàng giả, hàng kém chất lượng; bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và doanh nghiệp làm ăn chân chính.

Ảnh minh họa.

Chính phủ cũng yêu cầu đẩy mạnh đầu tư, kích cầu tiêu dùng, phát triển mạnh các động lực tăng trưởng mới, nhất là khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đẩy nhanh tiến độ đàm phán, ký kết các hiệp định thương mại tự do (FTA) trong dịp cuối năm 2025 và đầu năm 2026 với Pakistan, Kuwait, các nước Trung Đông, Brazil, khu vực Nam Mỹ, Algeria; đồng thời khai thác hiệu quả các FTA đã ký kết.

Cùng với đó, tiếp tục đàm phán Hiệp định thương mại đối ứng với Hoa Kỳ theo chỉ đạo của cấp có thẩm quyền, thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa, mở rộng thị trường và đa dạng hóa chuỗi cung ứng.

Chính phủ yêu cầu tập trung khắc phục hậu quả bão lũ; hoàn thành sửa chữa nhà bị hư hỏng trước ngày 31/12/2025; xây dựng lại nhà bị đổ, sập, bị nước cuốn trôi trước ngày 31/01/2026. Đồng thời, nâng cao chất lượng công tác dự báo, cảnh báo sớm thiên tai; tăng cường năng lực phòng, chống thiên tai của cộng đồng và chính quyền địa phương hai cấp, nhất là cấp xã.

Các cơ quan chức năng tiếp tục rà soát quy trình vận hành hồ chứa, liên hồ chứa, bảo đảm an toàn trong các tình huống khẩn cấp; chủ động sơ tán, di dời người dân khỏi khu vực có nguy cơ sạt lở, lũ quét; nghiên cứu điều chỉnh quy hoạch dân cư phù hợp với biến đổi khí hậu và thiên tai cực đoan.

Về thể chế, Chính phủ yêu cầu khẩn trương ban hành đầy đủ các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành các luật, nghị quyết đã được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ 10; hoàn thành xử lý các “điểm nghẽn” do quy định pháp luật trong năm 2025. Dự kiến sửa đổi, bổ sung 319 văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện phương án cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính; phấn đấu 100% thủ tục hành chính liên quan đến doanh nghiệp được thực hiện trực tuyến, thông suốt, không phụ thuộc địa giới hành chính trong phạm vi cấp tỉnh.

Chính phủ cũng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương chuẩn bị tốt các điều kiện phục vụ Nhân dân đón Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026; thực hiện đầy đủ chính sách đối với người có công, các đối tượng chính sách; chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho người dân vùng bị thiệt hại do thiên tai, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; bảo đảm lương, thưởng Tết cho người lao động.

Cùng với đó là tiếp tục củng cố tiềm lực quốc phòng, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; đẩy mạnh ngoại giao kinh tế, ngoại giao khoa học – công nghệ; thu hút FDI chất lượng cao, ODA thế hệ mới, tài chính xanh; triển khai quyết liệt các giải pháp chống khai thác IUU, gỡ “Thẻ vàng”, hướng tới phát triển bền vững ngành thủy sản.

Chuẩn bị tốt công tác tổ chức Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ XI, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV:

Các bộ, ngành, địa phương được yêu cầu chuẩn bị chu đáo các điều kiện tổ chức Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ XI và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; đồng thời triển khai quyết liệt các đợt thi đua cao điểm nhằm khắc phục khó khăn, tăng tốc, bứt phá, tạo chuyển biến rõ nét trong thực hiện nhiệm vụ theo phương châm đổi mới tư duy, kiến tạo phát triển, quyết tâm hành động, gương mẫu đi đầu, tận tâm cống hiến, vì dân phục vụ. Những địa phương không bị ảnh hưởng bởi thiên tai tiếp tục đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh, phấn đấu hoàn thành vượt mức kế hoạch năm 2025.

Thực hiện nghiêm chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương tập trung chuẩn bị đầy đủ điều kiện vật chất, kỹ thuật để tổ chức lễ khánh thành, khởi công các công trình, dự án quy mô lớn, có ý nghĩa chào mừng Đại hội XIV của Đảng vào ngày 19/12/2025; kịp thời khen thưởng các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc. Đồng thời, khẩn trương tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đối với các dự án giao thông trọng điểm, bảo đảm tiến độ thông xe kỹ thuật trong năm 2025, phấn đấu hoàn thành mục tiêu 3.188 km đường bộ cao tốc, 1.700 km đường bộ ven biển và phần xây lắp Cảng hàng không quốc tế Long Thành giai đoạn 1.

Cùng với đó, công tác chuẩn bị bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031 được triển khai khẩn trương, đúng hướng dẫn của Trung ương; tăng cường truyền thông, định hướng dư luận và đấu tranh phản bác thông tin xấu, độc, sai sự thật.

-Hà Lê

Categories: The Latest News

Chính phủ yêu cầu tăng tốc điều hành, tạo đà thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội năm 2026

Thời báo kinh tế Việt Nam - Sat, 12/13/2025 - 19:03
Chính phủ ban hành Nghị quyết số 406/NQ-CP phiên họp thường kỳ tháng 11/2025, yêu cầu các bộ, ngành, địa phương theo dõi sát tình hình, tăng tốc, bứt phá trong điều hành, quyết tâm hoàn thành cao nhất các mục tiêu năm 2025, đồng thời tạo nền tảng vững chắc cho kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2026.

Trong Nghị quyết, Chính phủ nhận định bối cảnh quốc tế tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường; căng thẳng địa chính trị, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng; tăng trưởng kinh tế toàn cầu phục hồi chậm, nợ công tại nhiều quốc gia ở mức cao. Ở trong nước, khó khăn và thuận lợi đan xen nhưng thách thức vẫn là chủ yếu, nhất là trong những tháng cuối năm 2025 khi khối lượng công việc còn rất lớn.

THÚC ĐẨY GIẢI NGÂN ĐẦU TƯ CÔNG, GIỮ VỮNG ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ

Trước yêu cầu đó, Chính phủ yêu cầu Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phát huy tinh thần đoàn kết, thống nhất, phối hợp chặt chẽ, triển khai đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp trên các lĩnh vực; vừa tăng tốc, bứt phá để hoàn thành Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2025, vừa tạo đà, tạo lực, tạo thế cho năm 2026.

Ảnh minh hoạ.

Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tiếp tục khẩn trương phổ biến, quán triệt và triển khai hiệu quả các nghị quyết, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư; các nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội; nghị quyết của Chính phủ và các quyết định, chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.

Trên cơ sở đánh giá đầy đủ tác động của thiên tai, bão lũ, các cơ quan liên quan phải kịp thời rà soát, cập nhật kịch bản tăng trưởng, kiên định mục tiêu ưu tiên giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, qua đó tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững.

Chính sách tiền tệ tiếp tục được điều hành chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả; phối hợp chặt chẽ, hài hòa với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác. Ngân hàng Nhà nước tăng cường thanh tra, kiểm tra, kiểm soát dòng vốn tín dụng, định hướng tín dụng vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng; kiểm soát chặt chẽ chất lượng tín dụng, nợ xấu; điều hành tỷ giá, lãi suất phù hợp diễn biến thị trường nhằm ổn định thị trường tiền tệ, ngoại tệ, tạo thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh và thu hút đầu tư.

Về tài khóa, Chính phủ yêu cầu siết chặt kỷ luật, kỷ cương quản lý tài chính, ngân sách nhà nước; chống thất thu, mở rộng cơ sở thu, nhất là trong các lĩnh vực thương mại điện tử, dịch vụ ăn uống, bán lẻ. Phấn đấu tăng thu ngân sách nhà nước ít nhất 25% so với dự toán; đồng thời rà soát, xây dựng các mức thuế xuất khẩu, nhập khẩu phù hợp với lộ trình hội nhập quốc tế.

Đặc biệt, Chính phủ yêu cầu tiếp tục triển khai quyết liệt, hiệu quả các giải pháp thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công, bảo đảm giải ngân 100% kế hoạch vốn đầu tư công năm 2025 được Thủ tướng Chính phủ giao; tập trung xử lý dứt điểm các dự án tồn đọng, doanh nghiệp và ngân hàng yếu kém, qua đó giải phóng nguồn lực cho phát triển kinh tế – xã hội.

BẢO ĐẢM NGUỒN CUNG CẤP HÀNG HOÁ, KÍCH CẦU TIÊU DÙNG CUỐI NĂM, KHẮC PHỤC HẬU QUẢ THIÊN TAI

Các bộ, ngành, địa phương được yêu cầu chủ động nắm chắc tình hình thị trường, có giải pháp phù hợp để ổn định cung – cầu, phát triển sản xuất trong nước; bảo đảm nguồn cung lương thực, thực phẩm và hàng hóa thiết yếu phục vụ tiêu dùng trong những tháng cuối năm 2025 và dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, không để xảy ra thiếu hàng, tăng giá đột biến.

Song song với đó, tăng cường phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại, gian lận xuất xứ, hàng giả, hàng kém chất lượng; bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và doanh nghiệp làm ăn chân chính.

Ảnh minh họa.

Chính phủ cũng yêu cầu đẩy mạnh đầu tư, kích cầu tiêu dùng, phát triển mạnh các động lực tăng trưởng mới, nhất là khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đẩy nhanh tiến độ đàm phán, ký kết các hiệp định thương mại tự do (FTA) trong dịp cuối năm 2025 và đầu năm 2026 với Pakistan, Kuwait, các nước Trung Đông, Brazil, khu vực Nam Mỹ, Algeria; đồng thời khai thác hiệu quả các FTA đã ký kết.

Cùng với đó, tiếp tục đàm phán Hiệp định thương mại đối ứng với Hoa Kỳ theo chỉ đạo của cấp có thẩm quyền, thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa, mở rộng thị trường và đa dạng hóa chuỗi cung ứng.

Chính phủ yêu cầu tập trung khắc phục hậu quả bão lũ; hoàn thành sửa chữa nhà bị hư hỏng trước ngày 31/12/2025; xây dựng lại nhà bị đổ, sập, bị nước cuốn trôi trước ngày 31/01/2026. Đồng thời, nâng cao chất lượng công tác dự báo, cảnh báo sớm thiên tai; tăng cường năng lực phòng, chống thiên tai của cộng đồng và chính quyền địa phương hai cấp, nhất là cấp xã.

Các cơ quan chức năng tiếp tục rà soát quy trình vận hành hồ chứa, liên hồ chứa, bảo đảm an toàn trong các tình huống khẩn cấp; chủ động sơ tán, di dời người dân khỏi khu vực có nguy cơ sạt lở, lũ quét; nghiên cứu điều chỉnh quy hoạch dân cư phù hợp với biến đổi khí hậu và thiên tai cực đoan.

Về thể chế, Chính phủ yêu cầu khẩn trương ban hành đầy đủ các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành các luật, nghị quyết đã được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ 10; hoàn thành xử lý các “điểm nghẽn” do quy định pháp luật trong năm 2025. Dự kiến sửa đổi, bổ sung 319 văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện phương án cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính; phấn đấu 100% thủ tục hành chính liên quan đến doanh nghiệp được thực hiện trực tuyến, thông suốt, không phụ thuộc địa giới hành chính trong phạm vi cấp tỉnh.

Chính phủ cũng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương chuẩn bị tốt các điều kiện phục vụ Nhân dân đón Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026; thực hiện đầy đủ chính sách đối với người có công, các đối tượng chính sách; chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho người dân vùng bị thiệt hại do thiên tai, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; bảo đảm lương, thưởng Tết cho người lao động.

Cùng với đó là tiếp tục củng cố tiềm lực quốc phòng, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; đẩy mạnh ngoại giao kinh tế, ngoại giao khoa học – công nghệ; thu hút FDI chất lượng cao, ODA thế hệ mới, tài chính xanh; triển khai quyết liệt các giải pháp chống khai thác IUU, gỡ “Thẻ vàng”, hướng tới phát triển bền vững ngành thủy sản.

Chuẩn bị tốt công tác tổ chức Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ XI, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV:

Các bộ, ngành, địa phương được yêu cầu chuẩn bị chu đáo các điều kiện tổ chức Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ XI và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; đồng thời triển khai quyết liệt các đợt thi đua cao điểm nhằm khắc phục khó khăn, tăng tốc, bứt phá, tạo chuyển biến rõ nét trong thực hiện nhiệm vụ theo phương châm đổi mới tư duy, kiến tạo phát triển, quyết tâm hành động, gương mẫu đi đầu, tận tâm cống hiến, vì dân phục vụ. Những địa phương không bị ảnh hưởng bởi thiên tai tiếp tục đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh, phấn đấu hoàn thành vượt mức kế hoạch năm 2025.

Thực hiện nghiêm chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương tập trung chuẩn bị đầy đủ điều kiện vật chất, kỹ thuật để tổ chức lễ khánh thành, khởi công các công trình, dự án quy mô lớn, có ý nghĩa chào mừng Đại hội XIV của Đảng vào ngày 19/12/2025; kịp thời khen thưởng các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc. Đồng thời, khẩn trương tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đối với các dự án giao thông trọng điểm, bảo đảm tiến độ thông xe kỹ thuật trong năm 2025, phấn đấu hoàn thành mục tiêu 3.188 km đường bộ cao tốc, 1.700 km đường bộ ven biển và phần xây lắp Cảng hàng không quốc tế Long Thành giai đoạn 1.

Cùng với đó, công tác chuẩn bị bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031 được triển khai khẩn trương, đúng hướng dẫn của Trung ương; tăng cường truyền thông, định hướng dư luận và đấu tranh phản bác thông tin xấu, độc, sai sự thật.

-Hà Lê

Categories: The Latest News

Báo cáo khoảng cách phát thải: Cơ hội nào cho kinh tế xanh toàn cầu?

Thời báo kinh tế Việt Nam - Sat, 12/13/2025 - 19:02
Báo cáo Khoảng cách Phát thải thường niên 2025 của Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) công bố mới đây cho thấy thế giới đã có chuyển biến tích cực, đặc biệt từ việc mở rộng công suất năng lượng sạch và các điều chỉnh chính sách khí thải ở một số nền kinh tế lớn. Những yếu tố này giúp giảm nhẹ đường phát thải dự báo cho cuối thế kỷ. Tuy nhiên, mức tiến bộ chỉ ở dạng “gia tốc ban đầu”, chưa đủ để “bẻ cong” đường phát thải theo đúng kỳ vọng của Thỏa thuận Paris...

Theo báo cáo, điểm quan trọng là tốc độ giảm phát thải đến nay chủ yếu là kết quả của xu hướng công nghệ và lực đẩy thị trường, chưa phải sự chuyển biến căn bản trong mô hình tăng trưởng của các quốc gia.

Năm 2024, tổng phát thải khí nhà kính toàn cầu vẫn đạt kỷ lục 57.7 tỷ tấn GtCO2e (đơn vị đo tổng lượng khí nhà kính như CO₂, CH₄, N₂O… sau khi quy đổi về mức độ làm nóng tương đương CO₂), tăng 2.3% so với năm trước.

Sự bùng nổ của điện mặt trời, xe điện và pin lưu trữ đã giúp giảm nhẹ dự báo phát thải nhưng nền kinh tế thế giới vẫn phụ thuộc lớn vào than, dầu và khí trong công nghiệp nặng, vận tải đường dài và hóa chất. Tình trạng này tạo ra nghịch lý: thị trường di chuyển nhanh hơn chính sách, trong khi những lĩnh vực phát thải lớn nhất lại có tốc độ chuyển đổi chậm nhất.

TÍNH TOÁN KINH TẾ VÀ THIỆT HẠI GDP CỦA MỘT THẾ GIỚI TĂNG 2,8°C

Báo cáo dự báo mức tăng nhiệt 2,8°C cuối thế kỷ nếu duy trì chính sách hiện tại. Dưới góc độ kinh tế, con số này không chỉ là dự báo khí hậu mà là chỉ báo rủi ro vĩ mô dài hạn.

Các mô hình kinh tế khí hậu (IAMs) cho thấy ở mức 2,8°C, thiệt hại GDP toàn cầu trung bình có thể đạt 15-20% vào cuối thế kỷ, nhưng phân bố thiệt hại không đồng đều: các nền kinh tế phụ thuộc nông nghiệp, nền kinh tế ven biển hoặc có cơ sở hạ tầng yếu kém chịu tác động nặng nhất.

Biểu đồ tổng lượng phát thải khí nhà kính từ 1990-2024 cho thấy tổng lượng phát thải khí nhà kính toàn cầu đã tăng mạnh trong hơn 3 thập kỷ qua. Năm 1990, tổng phát thải là 37.8 GtCO₂e, đến năm 2024, con số này đã tăng lên 57.7 GtCO₂e, cho thấy mức tăng trưởng đáng kể. Nguồn ảnh: UNEP

Đáng lưu ý, chi phí thích ứng tăng theo cấp số nhân. Chi phí bảo vệ bờ biển, chống hạn, chống mất mùa và duy trì chuỗi cung ứng trong một thế giới nóng hơn không tăng tuyến tính theo mức nhiệt độ mà tăng gần như lũy thừa. Điều này đồng nghĩa với việc thế giới càng chậm hành động, chi phí càng tăng nhanh.

Một vấn đề then chốt là chi phí cơ hội của việc không hành động. Khi duy trì nền kinh tế dựa vào nhiên liệu hóa thạch quá lâu, các quốc gia không chỉ chịu áp lực khí hậu mà còn bỏ lỡ cơ hội chiếm lĩnh thị trường công nghệ xanh đang tăng trưởng nhanh.

Những nền kinh tế có khả năng giảm phát thải sớm hơn sẽ nắm lợi thế chi phí vốn, công nghệ và năng suất trong dài hạn. Do đó, quỹ đạo 2,8°C không chỉ là rủi ro môi trường; đó là kịch bản tụt hậu kinh tế xanh.

CÔNG NGHỆ XANH VÀ CHUYỂN DỊCH NĂNG LƯỢNG LÀ CHÌA KHÓA

Một điểm sáng của báo cáo là sự mở rộng năng lượng tái tạo với tốc độ chưa từng có, đặc biệt tại Trung Quốc và châu Âu. Giá điện mặt trời tiếp tục giảm, xe điện trở thành phương thức vận tải phổ biến ở nhiều đô thị và công suất lưu trữ năng lượng bằng pin tăng nhanh.

Năm 2024 tiếp tục phá kỷ lục về công suất điện tái tạo được lắp đặt. Tuy nhiên, tiến độ vẫn chưa đủ. Mặc dù 73% các Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) mới có bao gồm mục tiêu năng lượng tái tạo, các xu hướng thị trường hiện tại mới chỉ hướng tới mức tăng 2.7 lần công suất vào năm 2030, thấp hơn mục tiêu gấp ba lần toàn cầu.

Tuy nhiên, khả năng của công nghệ trong việc đảo ngược toàn bộ quỹ đạo phát thải toàn cầu vẫn bị giới hạn. Chỉ 29% NDC mới đặt mục tiêu giảm dần than đá và chưa có NDC nào đặt mục tiêu giảm sản xuất dầu khí hoặc loại bỏ trợ cấp nhiên liệu hóa thạch.

Biểu đồ thanh ngang so sánh mức giảm phát thải tuyệt đối mà các NDC mới (cho năm 2035) của các quốc gia G20 cam kết so với mức phát thải dựa trên mục tiêu NDC năm 2030 của họ. Trung Quốc (-961 MtCO₂e/năm) và Mỹ (-921 MtCO₂e/năm) là 2 quốc gia có mức cam kết giảm phát thải tuyệt đối lớn nhất. Nguồn ảnh: UNEP

Thứ nhất, chi phí chuyển đổi ở các ngành khó giảm phát thải như thép, xi măng, hóa chất vẫn cao. Thứ hai, đầu tư vào cơ sở hạ tầng điện lưới và hệ thống lưu trữ chưa theo kịp tốc độ tăng của nguồn cung năng lượng tái tạo. Thứ ba, các nước đang phát triển vẫn đối mặt rào cản lớn về tài chính, lãi suất và nợ công, làm chậm quá trình mở rộng năng lượng sạch.

Công nghệ là điều kiện cần nhưng để trở thành điều kiện đủ, nó cần đi cùng các cơ chế thị trường, tài chính và thể chế phù hợp. Nếu không, đà tiến hiện tại vẫn chỉ là những “tín hiệu tích cực ban đầu”, chưa thể xoay chuyển toàn bộ hệ thống năng lượng toàn cầu.

Tờ New York Times nhận định rằng một phần tiến triển toàn cầu có nguy cơ bị bào mòn khi một số nền kinh tế lớn nới lỏng quy định về kiểm soát ô nhiễm và khí thải. Trong lĩnh vực kinh tế xanh, tính ổn định chính sách là yếu tố quyết định dòng vốn đầu tư. Một quyết định thay đổi chính sách không chỉ ảnh hưởng phát thải nội địa mà còn tạo ra tác động lan tỏa đối với thị trường năng lượng toàn cầu.

Tính bất định chính sách gia tăng đang đẩy chi phí vốn của các dự án năng lượng sạch lên mức cao hơn, đặc biệt với những công nghệ còn ở giai đoạn đầu của đường cong học hỏi như pin lưu trữ dài hạn, hydrogen xanh, thu giữ và lưu trữ carbon (CCS) và các giải pháp công nghiệp ít phát thải.

Đây đều là những lĩnh vực đòi hỏi vốn đầu tư lớn, vòng đời dự án dài và phụ thuộc mạnh vào độ ổn định của khuôn khổ chính sách để bảo đảm khả năng hoàn vốn. Khi rủi ro chính sách tăng, chi phí huy động tài chính cũng tăng theo, kéo dài thời gian thu hồi vốn, làm chậm tốc độ thương mại hóa và thu hẹp lợi thế cạnh tranh của công nghệ sạch so với nhiên liệu hóa thạch truyền thống.

Một thách thức khác là sự thiếu đồng bộ giữa chính sách trong nước và xu hướng toàn cầu. Trong khi các khu vực như EU đang đẩy nhanh tiến trình thiết lập các tiêu chuẩn phát thải nghiêm ngặt, từ Cơ chế CBAM đến quy chuẩn khí nhà kính cho sản phẩm công nghiệp, thì sự đảo chiều chính sách tại một nền kinh tế lớn có thể tạo ra “độ vênh” đáng kể trong hệ sinh thái thị trường.

Điều này không chỉ khiến doanh nghiệp khó dự đoán quy định tương lai mà còn làm tăng mức độ bất trắc trong chuỗi cung ứng công nghệ xanh, từ vật liệu, linh kiện tới thị trường tiêu thụ.

Thị trường năng lượng toàn cầu vốn vận hành dựa trên kỳ vọng dài hạn. Khi các kỳ vọng này biến động theo hướng khó lường, quỹ đạo phát triển của toàn bộ ngành kinh tế xanh cũng trở nên chập chờn.

Dòng vốn đầu tư, vốn rất nhạy với rủi ro chính sách, có xu hướng dịch chuyển sang các thị trường ổn định hơn, khiến các dự án chiến lược, vốn cần cam kết nhiều thập kỷ, đối mặt với nguy cơ chậm tiến độ hoặc thu hẹp quy mô.

Vì vậy, một môi trường chính sách nhất quán và dự đoán được không chỉ là nền tảng cho chuyển dịch năng lượng, mà còn là điều kiện tiên quyết để các công nghệ sạch đạt đến quy mô thương mại và động lực cạnh tranh thực sự trên thị trường quốc tế.

KHOẢNG CÁCH PHÁT THẢI- VẤN ĐỀ CỦA NĂNG LỰC TRIỂN KHAI

Báo cáo của Liên Hợp Quốc khẳng định rằng nếu toàn bộ các quốc gia thực thi đầy đủ cam kết hiện tại, mức tăng nhiệt toàn cầu có thể giảm xuống 2,3°C, cải thiện so với quỹ đạo 2,8°C hiện tại, nhưng vẫn cao hơn nhiều so với mục tiêu 1,5°C đặt ra tại Thỏa thuận Paris. Khoảng chênh lệch này không chỉ phản ánh khoảng trống về nỗ lực mà thể hiện 3 điểm nghẽn trong quá trình chuyển dịch sang nền kinh tế xanh.

Thứ nhất, phần lớn NDC vẫn tập trung ở mốc trung hạn 2030-2035, trong khi bản chất của chuyển dịch năng lượng lại đòi hỏi tầm nhìn dài hạn 20-30 năm cho hạ tầng, công nghệ, mạng lưới truyền tải, và tái cấu trúc các ngành nền tảng. Việc đặt trọng tâm quá lớn vào mục tiêu 2030 khiến nhiều nước tối ưu hóa theo chu kỳ chính trị ngắn, trong khi quá trình giảm phát thải quy mô lớn phụ thuộc hoàn toàn vào đầu tư dài hạn và tính bền bỉ của chính sách.

Biểu đồ cho thấy các cam kết khí hậu mới NDC của nhóm G20 cho năm 2035 sẽ giúp giảm 3.6 tỷ tấn CO₂/năm so với mức phát thải dự kiến cho năm 2030; tuy vậy, các cam kết này là chưa đủ, chúng chỉ làm giảm phát thải so với một mốc trong tương lai (năm 2030), chứ không phải là mức cắt giảm sâu cần thiết so với hiện tại để đạt được mục tiêu phát thải ròng bằng 0. Nguồn ảnh: UNEP.

Thứ hai, động lực vĩ mô ngắn hạn đang lấn át ưu tiên khí hậu. Lạm phát năng lượng, lãi suất duy trì ở mức cao và dư địa tài khóa hạn chế khiến nhiều chính phủ ưu tiên ổn định giá nhiên liệu và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế trước mắt. Điều này làm giảm khả năng duy trì các chương trình đầu tư quy mô lớn cho công nghệ xanh- vốn đòi hỏi vốn lớn, thời gian thu hồi dài và độ ổn định chính sách cao.

Thứ ba, cơ chế quốc tế chưa hình thành được hệ thống điều phối tài chính đủ mạnh cho nhóm nước thu nhập trung bình, nơi sẽ quyết định hình dạng đường cong phát thải toàn cầu trong thập kỷ tới. Dù chiếm gần 50% lượng phát thải tăng thêm, nhóm này lại nhận tỷ lệ tài chính khí hậu thấp hơn nhiều so với nhu cầu, do chi phí vốn cao, rủi ro thị trường lớn và thiếu các cam kết tài trợ đa phương mang tính dài hạn. Hệ quả là các quốc gia này thiếu năng lực triển khai, từ thiết kế chính sách, huy động vốn, đến quản trị dự án.

Trong bối cảnh đó, khoảng cách phát thải của thế giới không đơn thuần xuất phát từ thiếu cam kết, mà sâu xa hơn là thiếu khả năng thực thi. Vấn đề trở thành câu chuyện của hạ tầng thể chế và hạ tầng tài chính- những cấu phần quyết định mọi chuyển đổi công nghệ quy mô lớn.

Những dữ liệu trong báo cáo cho thấy một nghịch lý đáng chú ý: dù thế giới đã có những bước tiến, tốc độ và độ bền vững của tiến bộ này vẫn chưa đủ mạnh để đưa nhân loại ra khỏi vùng rủi ro khí hậu. Việc thu hẹp khoảng cách phát thải vì vậy không thể chỉ dựa vào việc nâng mục tiêu trên giấy, mà đòi hỏi một nền tảng chuyển dịch sâu rộng hơn.

Trước hết, các quốc gia cần duy trì một môi trường chính sách ổn định và nhất quán trong nhiều thập kỷ, qua đó giảm rủi ro cho nhà đầu tư và bảo đảm quỹ đạo chuyển đổi không bị đứt gãy theo những biến động ngắn hạn. Song song với đó là yêu cầu mở rộng quy mô tài chính khí hậu, đặc biệt hướng tới các nền kinh tế đang phát triển và thu nhập trung bình- nơi mỗi đồng vốn đầu tư có hiệu quả giảm phát thải biên lớn nhất, nhưng cũng là nơi chi phí vốn và rủi ro thị trường cao nhất.

Một trọng tâm khác là giảm chi phí vốn cho năng lượng sạch, thông qua cải thiện khung pháp lý, mở rộng cơ chế bảo lãnh và các công cụ giảm thiểu rủi ro, giúp các công nghệ xanh nhanh chóng đạt độ chín thương mại.

Cuối cùng, thế giới cần xây dựng một hệ thống khuyến khích đủ mạnh để thúc đẩy quá trình chuyển đổi trong các ngành phát thải cao như thép, xi măng, hóa chất hay vận tải- những lĩnh vực giữ vai trò quyết định trong quỹ đạo phát thải toàn cầu.

Trong nền kinh tế xanh, chỉ khi đầu tư xanh được nhìn nhận như một chiến lược dài hạn, xuyên thế hệ, thay vì một giai đoạn bùng nổ nhất thời, quỹ đạo phát thải toàn cầu mới có thể được “bẻ cong” một cách thực chất.

-Huy Sơn

Categories: The Latest News

Khẩn trương khắc phục hậu quả thiên tai, phục hồi sản xuất, đẩy mạnh tiêu dùng dịp Tết

Thời Báo Kinh Tế - Sat, 12/13/2025 - 18:59
Trước tác động nghiêm trọng của các đợt thiên tai, bão lũ lịch sử thời gian qua, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương khẩn trương khắc phục hậu quả, phục hồi sản xuất kinh doanh, ổn định đời sống Nhân dân, đồng thời đẩy mạnh tiêu dùng, bảo đảm nguồn cung hàng hóa, dịch vụ phục vụ Tết Nguyên đán và năm mới 2026.

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính vừa ký Công điện số 239/CĐ-TTg ngày 12/12/2025 yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tập trung khẩn trương, quyết liệt khắc phục hậu quả thiên tai, phục hồi sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tiêu dùng, phục vụ nhu cầu vui xuân, đón Tết của Nhân dân, qua đó góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế năm 2025 và tạo nền tảng cho năm 2026.

TẬP TRUNG KHẮC PHỤC HẬU QUẢ THIÊN TAI, SỚM ỔN ĐỊNH ĐỜI SỐNG NHÂN DÂN

Công điện nêu rõ, thời gian qua, tại nhiều địa phương trên cả nước đã liên tiếp xảy ra các đợt thiên tai, bão lũ lớn trên diện rộng với tính chất phức tạp, cực đoan, “lũ chồng lũ, bão chồng bão”, kèm theo sạt lở đất, gây thiệt hại rất lớn về người, tài sản, nhà ở, hạ tầng kỹ thuật, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống Nhân dân và hoạt động sản xuất kinh doanh, tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế.

Trong bối cảnh đó, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương tập trung ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai, hỗ trợ người dân ổn định cuộc sống, khôi phục sản xuất. Nhờ sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, kinh tế vĩ mô trong 11 tháng năm 2025 cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm, tăng trưởng tiếp tục được thúc đẩy.

Để nhanh chóng khắc phục hậu quả thiên tai, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, cơ quan trung ương và địa phương tập trung thực hiện quyết liệt, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp đã được Chính phủ ban hành tại Nghị quyết số 347/NQ-CP ngày 24/10/2025 về khắc phục hậu quả thiên tai sau bão số 11 và Nghị quyết số 380/NQ-CP ngày 25/11/2025 về phục hồi sản xuất tại các địa phương khu vực miền Trung.

Theo chỉ đạo, các bộ, ngành, địa phương tiếp tục triển khai quyết liệt “Chiến dịch Quang Trung”, phấn đấu hoàn thành sửa chữa nhà ở cho các hộ dân có nhà bị hư hỏng nặng trước ngày 31/12/2025; xây dựng lại nhà ở, bố trí tái định cư cho các hộ có nhà bị đổ, sập, trôi, bảo đảm hoàn thành chậm nhất trước ngày 31/1/2026.

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chịu ảnh hưởng bởi thiên tai được yêu cầu chủ động phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan triển khai các giải pháp theo thẩm quyền nhằm bảo đảm an sinh xã hội, duy trì hoạt động học tập, khám chữa bệnh, ổn định đời sống Nhân dân. Đồng thời, tập trung khôi phục các hoạt động sản xuất kinh doanh, lưu thông hàng hóa, ổn định thị trường trên địa bàn, hạn chế tối đa đứt gãy chuỗi cung ứng.

Thủ tướng cũng yêu cầu các địa phương rà soát, đánh giá đầy đủ thiệt hại, kịp thời hỗ trợ người dân, doanh nghiệp khắc phục khó khăn; chủ động phương án phòng, chống thiên tai, sạt lở đất, lũ quét trong thời gian tới, không để bị động, bất ngờ.

THÚC ĐẨY SẢN XUẤT, KÍCH CẦU TIÊU DÙNG, BẢO ĐẢM THỊ TRƯỜNG DỊP TẾT

Bên cạnh nhiệm vụ khắc phục hậu quả thiên tai, Công điện nhấn mạnh yêu cầu thúc đẩy mạnh mẽ sản xuất kinh doanh, phát triển thị trường trong nước, kích cầu tiêu dùng nhằm phục vụ tốt nhu cầu của Nhân dân trong dịp cuối năm và Tết Nguyên đán.

Các bộ, ngành, địa phương được giao chủ động theo dõi sát diễn biến cung cầu hàng hóa, dịch vụ, tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, bảo đảm nguồn cung, nhất là đối với lương thực, thực phẩm và các mặt hàng thiết yếu. Việc tăng cường sản xuất, cung ứng thực phẩm chế biến, thực phẩm tươi sống và hàng tiêu dùng khác cần gắn với bảo đảm chất lượng, an toàn, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng tăng cao trong dịp Tết.

Thủ tướng yêu cầu tập trung phát triển kết cấu hạ tầng thương mại, hệ thống phân phối, triển khai hiệu quả các chương trình bình ổn thị trường dịp cuối năm và Tết Nguyên đán. Các hoạt động xúc tiến thương mại, kích cầu tiêu dùng trong nước cần được tổ chức thực chất, hiệu quả; tiếp tục triển khai Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” và chuẩn bị chu đáo Hội chợ mùa Xuân năm 2026.

Cùng với đó, các lực lượng chức năng tăng cường phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại, gian lận xuất xứ, hàng giả, hàng kém chất lượng; kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ thị trường, không để xảy ra tình trạng đầu cơ, găm hàng, tăng giá bất hợp lý.

Trong lĩnh vực du lịch, các bộ, ngành, địa phương được yêu cầu đẩy mạnh xúc tiến, khai thác hiệu quả mùa du lịch quốc tế và trong nước, nâng cao chất lượng dịch vụ, trải nghiệm của du khách, tăng mức chi tiêu bình quân. Công tác quản lý giá dịch vụ lưu trú, ăn uống cần được tăng cường; thúc đẩy liên kết du lịch với tiêu dùng sản phẩm OCOP, đặc sản địa phương.

Bộ Y tế chủ trì phối hợp với Bộ Công Thương và các địa phương tăng cường thanh tra, kiểm tra, kiểm soát an toàn thực phẩm trên toàn chuỗi từ sản xuất, chế biến đến tiêu dùng; kiên quyết xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.

Bộ Công Thương được giao tập trung triển khai các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu dịp cuối năm và đầu năm mới; khai thác hiệu quả các hiệp định thương mại tự do; đẩy nhanh tiến độ đàm phán, ký kết các hiệp định thương mại song phương, đa phương với các đối tác tiềm năng; thúc đẩy kết nối giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Các tập đoàn, tổng công ty nhà nước khẩn trương khắc phục hậu quả thiên tai, tổ chức lại sản xuất kinh doanh, đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh của sản phẩm, mở rộng thị trường và chuỗi cung ứng.

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu người đứng đầu các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp nhà nước tập trung quán triệt và tổ chức triển khai nghiêm túc, hiệu quả Công điện, nhằm nhanh chóng ổn định đời sống Nhân dân, phục hồi sản xuất kinh doanh, tạo việc làm, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2025 từ 8% trở lên, tạo nền tảng cho mục tiêu tăng trưởng năm 2026 từ 10% trở lên.

-Minh Hiếu

Categories: The Latest News

Pages