Thời báo kinh tế Việt Nam

Subscribe to Thời báo kinh tế Việt Nam feed Thời báo kinh tế Việt Nam
VnEconomy - Góc nhìn toàn cảnh về nền kinh tế Việt Nam
Updated: 2 hours 59 min ago

Coi việc tiếp cận thông tin là nhu cầu tất yếu

Thu, 01/22/2026 - 16:45
Khi được tiếp cận thông tin, người dân có cơ sở để lựa chọn mô hình sản xuất phù hợp, tránh tình trạng sản xuất manh mún, tự phát, giúp gia tăng thu nhập và vươn lên thoát nghèo...

Khi hạ tầng và kỹ năng số đến được từng thôn, bản, chuyển đổi số không chỉ nâng cao chất lượng truyền thông cơ sở, mà còn trở thành động lực trực tiếp hỗ trợ người dân vươn lên thoát nghèo.

Từ Dự án 6 “Truyền thông và giảm nghèo thông tin” thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025, người dân, nhất là vùng sâu vùng xa, hải đảo, từng bước tiếp cận thông tin, biết giao dịch điện tử hay quảng bá sản phẩm online.

Đây là bước chuyển căn bản giúp giảm nghèo trở nên tự chủ, bền vững và giảm nguy cơ tái nghèo trong bối cảnh thị trường lao động và môi trường kinh tế thay đổi nhanh.

Trong giai đoạn 2026 - 2030, thiếu hụt thông tin tiếp tục được xác định là một trong sáu chiều thiếu hụt cơ bản của người nghèo, cùng với y tế, giáo dục, việc làm, nhà ở, nước sạch - vệ sinh.

Khi được tiếp cận thông tin, người dân có cơ sở để lựa chọn mô hình sản xuất phù hợp, tránh tình trạng sản xuất manh mún, tự phát. Từ đó hình thành chuỗi giá trị khép kín từ sản xuất đến tiêu dùng, giúp gia tăng thu nhập và mở rộng khả năng cạnh tranh.

Các chuyên gia cho rằng để nâng cao hiệu quả trong thời gian tới, trước hết mỗi người dân phải coi việc tiếp cận và học hỏi thông tin là nhu cầu thiết yếu của cuộc sống, giống như ăn, mặc hay học hành. Mỗi nhóm đối tượng như nông dân, công nhân hay người dân tộc thiểu số cần được hướng dẫn theo cách riêng, có thể là truyền thông bằng tiếng dân tộc, video hướng dẫn kỹ thuật, hay qua các buổi tập huấn cộng đồng.

Quan trọng hơn, trong chuỗi giá trị sản xuất, mỗi mắt xích đều cần được trang bị thông tin phù hợp. Mỗi khâu đều có vai trò, và chỉ khi tất cả cùng được giảm nghèo về thông tin, chuỗi sản xuất mới hoàn chỉnh và hiệu quả.

Giảm nghèo về thông tin chính là bước đi căn bản để bảo đảm công bằng, bao trùm và phát triển bền vững cho mọi người dân Việt Nam. Khi người dân được tiếp cận thông tin đầy đủ, họ có trong tay chìa khóa để tự thay đổi cuộc sống, chủ động nắm bắt cơ hội và vươn lên thoát nghèo.

-Phúc Minh

Categories: The Latest News

Bất động sản vẫn là kênh tích lũy giá trị bền vững

Thu, 01/22/2026 - 16:18
Trong khi vàng và chứng khoán ghi nhận mức tăng mạnh, trở thành tâm điểm của dòng tiền đầu tư, thì dưới góc nhìn thận trọng và bền vững, bất động sản vẫn được đánh giá là kênh giữ tiền an toàn và tích lũy giá trị ổn định theo thời gian…

Chia sẻ tại hội thảo “La bàn đầu tư 2026: Tâm điểm dòng tiền” do Labandautu.vn phối hợp cùng Diaocnet.vn tổ chức mới đây, các chuyên gia cho rằng nếu nhìn một cách đa chiều giữa các kênh đầu tư, bất động sản vẫn là kênh giữ tiền tương đối an toàn và chắc chắn trong dài hạn. 

Lý giải rõ hơn, chuyên gia kinh tế Ngô Trí Long cho biết mỗi kênh đầu tư đều phục vụ những mục tiêu khác nhau, với bất động sản - lợi thế cốt lõi nằm ở tính hữu hạn của quỹ đất trong khi nhu cầu của con người ngày càng gia tăng. Để đầu tư hiệu quả, nhà đầu tư cần lựa chọn những bất động sản có chất lượng cao, được ví như “hoa hậu” của thị trường – hội tụ các yếu tố vị trí, pháp lý minh bạch, hạ tầng đồng bộ về y tế, giáo dục và an ninh. Những tài sản này không chỉ có tính thanh khoản tốt mà còn tạo ra dòng tiền ổn định, mang lại hiệu quả bền vững.

Cùng quan điểm, TS. Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia tài chính – ngân hàng, nhận định rằng với một nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam, giá bất động sản rất khó giảm. Trong khi Chính phủ và xã hội đều mong muốn giá nhà đất hạ nhiệt để người dân dễ tiếp cận hơn, nhưng thực tế cho thấy điều này khó xảy ra.

Theo ông Hiếu, hiện nay, mặt bằng giá đã ở mức cao nên cơ hội tìm kiếm lợi nhuận ngắn hạn trở nên hạn chế song về dài hạn, thị trường bất động sản – nhất là phân khúc nhà ở vẫn còn nhiều dư địa tăng trưởng, bởi nguồn cung chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu thực. Điều này tiếp tục củng cố vai trò của bất động sản như một kênh đầu tư thiên về tích lũy giá trị bền vững.

Tuy nhiên, PGS.TS Trần Đình Thiên, thành viên Tổ tư vấn Kinh tế của Thủ tướng Chính phủ, lưu ý hiện nay, một trong những biến số quan trọng nhất cần được đặt lên bàn cân chính là sự dịch chuyển của các “thủ phủ” hành chính và trung tâm quyền lực kinh tế.

Trong bối cảnh quy hoạch lại đơn vị hành chính, đặc biệt là các kịch bản sáp nhập tỉnh, giá trị bất động sản sẽ có sự phân hóa rất mạnh. Những trung tâm hành chính cũ, nếu không còn giữ vai trò đầu mối, hoàn toàn có thể đối mặt với nguy cơ suy giảm giá trị do dòng người, dòng vốn và hoạt động kinh tế - xã hội dịch chuyển sang khu vực mới. Ngược lại, các địa phương được lựa chọn làm trung tâm hành chính mới sẽ trở thành điểm hội tụ của bộ máy quản lý, hoạt động đối ngoại, đầu tư và thương mại, từ đó kích hoạt sự phát triển bùng nổ của dịch vụ, hạ tầng đô thị và bất động sản.

Theo ông Thiên, tọa độ hấp dẫn nhất của thị trường là nằm ở các khu vực thu hút được dòng vốn quy mô lớn, mang tính dẫn dắt. Thực tế ở một số địa phương, khi xuất hiện những dự án có tầm cỡ quốc tế cùng sự quan tâm từ  nhiều tập đoàn lớn, bao gồm cả nhà đầu tư mang tầm vóc toàn cầu, đã tạo ra một lực đẩy mạnh cho toàn khu vực. Trong bức tranh đó, các đại đô thị không chỉ đơn thuần là dự án nhà ở, mà còn hiện thực hóa tầm nhìn kết nối vùng.

Ngoài ra, động lực tăng trưởng của bất động sản cũng gắn chặt với cam kết đầu tư hạ tầng giao thông trọng điểm. Chỉ cần các công trình kết nối chiến lược của khu vực được triển khai đồng bộ, thời gian di chuyển được rút ngắn, cục diện thị trường tại đây sẽ thay đổi.

Từ đó, vị chuyên gia nhấn mạnh "trong chu kỳ phát triển mới, bất động sản chỉ thực sự bền vững và sinh lời khi được đặt đúng vào những “tọa độ chiến lược” của sự dịch chuyển địa kinh tế và động lực đô thị".

Ở chiều ngược lại, ông cũng lưu ý rằng dù các điều kiện thị trường hiện nay có thể khiến dòng vốn có xu hướng tìm đến bất động sản, song quá trình này sẽ không diễn ra một chiều mà đi kèm với những điều chỉnh đáng kể. Khi nhu cầu huy động vốn gia tăng, mặt bằng lãi suất tất yếu chịu áp lực đi lên.

-Thanh Xuân

Categories: The Latest News

Giảm nghèo đa chiều: Từ trụ cột chính sách đến động lực chuyển đổi số

Thu, 01/22/2026 - 16:15
Là một trong 30 quốc gia đầu tiên trên thế giới áp dụng chuẩn nghèo đa chiều, Việt Nam đã kiên định coi giảm nghèo là trụ cột trong chiến lược phát triển quốc gia. Từ cách tiếp cận dựa trên bảo đảm mức sống tối thiểu, chính sách giảm nghèo đang chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình bền vững hơn, trong đó chuyển đổi số nổi lên như một động lực mới mở rộng không gian phát triển cho người nghèo.

Ngay từ đầu thập niên 2010, Việt Nam đã lựa chọn chuẩn nghèo đa chiều, thay cho cách tiếp cận đơn thuần dựa vào thu nhập. Cách làm này không chỉ nhằm đo lường chính xác hơn tình trạng nghèo, mà còn phản ánh rõ cam kết của Việt Nam đối với các Mục tiêu Phát triển bền vững (SDG) của Liên hợp quốc, đặc biệt trong khuôn khổ Chương trình Nghị sự 2030 về Phát triển bền vững. Giảm nghèo vì vậy không tách rời các mục tiêu về giáo dục, y tế, nước sạch, vệ sinh, thông tin và khả năng tiếp cận các dịch vụ cơ bản.

Trên thực tế, phong trào giảm nghèo ở Việt Nam không chỉ là nỗ lực của Nhà nước, mà còn là kết quả của sự tham gia rộng rãi của toàn xã hội. Các chương trình, chính sách đã được thiết kế theo hướng huy động tổng lực các nguồn lực, lan tỏa đến từng cộng đồng, từng hộ gia đình. Đáng chú ý, tư duy “hỗ trợ để tự vươn lên” dần thay thế cách tiếp cận dựa nhiều vào trợ cấp, khuyến khích người dân chủ động đổi mới, sáng tạo để thoát nghèo.

Những chuyển biến về tư duy và cách làm đã mang lại kết quả rõ nét. Theo Báo cáo tóm tắt Kết quả thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2025 và 5 năm 2021-2025 của Chính phủ, tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm từ 4,4% năm 2021 xuống 1,3% năm 2025. Cũng theo Báo cáo này, thời gian qua, các chính sách người có công, an sinh xã hội, giảm nghèo được triển khai toàn diện và đạt nhiều kết quả nổi bật với tinh thần “không để ai bị bỏ lại phía sau”.

Trong nhóm đồng bào dân tộc thiểu số, tỷ lệ nghèo cũng giảm mạnh, xuống còn 12,5%, với mức giảm trung bình hằng năm khoảng 4,5%. Đây là những con số phản ánh hiệu quả của chính sách khi được triển khai đồng bộ, nhất quán và gắn với thực tiễn địa phương.

Tuy nhiên, công cuộc giảm nghèo vẫn đối mặt không ít thách thức. Ở một số vùng trung du, miền núi phía Bắc và Tây Nguyên, tỷ lệ nghèo vẫn cao hơn đáng kể so với mức trung bình cả nước, thậm chí có địa phương ghi nhận tỷ lệ trên 50%. Tại những cộng đồng xa xôi, hẻo lánh nhất, con số này có thể vượt quá 70%. Cơ sở hạ tầng còn thiếu thốn, từ y tế, giáo dục đến sản xuất và logistics, tiếp tục là rào cản lớn.

Bên cạnh đó, các yếu tố như biến đổi khí hậu, già hóa dân số, đô thị hóa nhanh và bất ổn kinh tế toàn cầu đang tạo thêm áp lực đối với nhóm dễ bị tổn thương. Một bộ phận người dân vẫn phụ thuộc nhiều vào hỗ trợ của Nhà nước, cho thấy nhu cầu cấp thiết về những mô hình giảm nghèo bền vững hơn, phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội và văn hóa địa phương.

Việt Nam đang xây dựng chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2026 – 2030 với nhiều điều chỉnh quan trọng. Trong đó, chuyển đổi số đang được nhìn nhận như một “lời giải mới” cho bài toán giảm nghèo đa chiều. Công nghệ số đã thâm nhập sâu rộng vào nhiều lĩnh vực của đời sống, mở ra cơ hội cải thiện sinh kế cho người nghèo.

Nông nghiệp thông minh ứng dụng Internet vạn vật (IoT) và trí tuệ nhân tạo (AI) giúp tăng năng suất từ 30 – 40%. Y tế số với hồ sơ sức khỏe điện tử toàn dân và khám chữa bệnh từ xa giúp người dân vùng sâu, vùng xa tiếp cận dịch vụ chất lượng cao. Giáo dục số với các nền tảng học trực tuyến và AI cá nhân hóa nội dung giảng dạy đang thu hẹp khoảng cách tiếp cận tri thức.

Cùng với đó, Chính phủ số được hoàn thiện với tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến đạt 100%, nhiều khâu xử lý hồ sơ được hỗ trợ bởi AI, qua đó nâng cao hiệu quả và khả năng tiếp cận của người dân ở vùng khó khăn.

Theo đánh giá của các tổ chức quốc tế và chuyên gia, chuyển đổi số có thể đóng góp trực tiếp cho giảm nghèo thông qua việc cải thiện khả năng tiếp cận thị trường, dịch vụ tài chính, y tế, giáo dục, đồng thời thúc đẩy tăng năng suất và tạo việc làm mới. Để các sáng kiến này phát huy hiệu quả, yêu cầu đặt ra là bảo đảm hạ tầng số có chi phí hợp lý, các mô hình triển khai gắn với cộng đồng và hướng tới nhóm yếu thế, qua đó tăng cường quyền sở hữu địa phương và tính bền vững.

Theo đánh giá của các chuyên gia giảm nghèo, chuyển đổi số đang mở ra ba cơ hội lớn cho người dân nghèo: xóa bỏ rào cản địa lý trong tiếp cận dịch vụ công và tài chính chính thức; nâng cao năng suất, thu nhập ngay cả trong các ngành truyền thống; và tạo ra những nghề nghiệp mới đòi hỏi kỹ năng số, mang lại nguồn sinh kế bền vững hơn. Trong tiến trình giảm nghèo đa chiều, đây được xem là động lực quan trọng giúp Việt Nam tiến gần hơn tới mục tiêu phát triển bao trùm và bền vững.

-Hà Lê

Categories: The Latest News

Ngành thuỷ sản năm 2026: Phát triển xanh, minh bạch và có trách nhiệm

Thu, 01/22/2026 - 16:09
Ngành thủy sản Việt Nam bước vào năm 2026 với tâm thế chủ động thích ứng và phát triển bền vững, sau một giai đoạn tái cơ cấu mạnh mẽ từ sản xuất đến thị trường. Trọng tâm không chỉ là tăng trưởng kim ngạch, mà còn là phát triển xanh, minh bạch, có trách nhiệm với môi trường, nguồn lợi và cộng đồng ngư dân...

Ông Đỗ Ngọc Tài, Tân Chủ tịch Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), nhận định năm 2025 là một năm nhiều thách thức đối với ngành thủy sản khi thị trường thế giới tuy có dấu hiệu phục hồi nhưng diễn biến không đồng đều. Các rào cản thương mại, thuế quan và kỹ thuật ngày càng gia tăng, trong khi chi phí sản xuất, yêu cầu về tiêu chuẩn môi trường, truy xuất nguồn gốc, dịch bệnh và lao động tiếp tục gây áp lực lớn cho doanh nghiệp. Ở trong nước, thiên tai, bão lũ và thời tiết cực đoan đã tác động mạnh đến hoạt động khai thác, nuôi trồng, chế biến và logistics của toàn ngành.

BẢN LĨNH VƯỢT KHÓ, HƯỚNG TỚI PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

Tuy vậy, ông Đỗ Ngọc Tài đánh giá ngành thủy sản Việt Nam đã thể hiện rõ bản lĩnh trong gian khó. Đó là bản lĩnh của cộng đồng doanh nghiệp, của người sản xuất nguyên liệu và của toàn bộ những người đang gắn bó với nghề thủy sản. Toàn ngành đã linh hoạt thích ứng, duy trì nhịp sản xuất, mở rộng và giữ vững thị trường xuất khẩu, đồng thời không ngừng nâng cao chất lượng, đa dạng hóa sản phẩm và gia tăng giá trị.

Năm 2025, kết quả nổi bật nhất là kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 11,3 tỷ USD, thiết lập một kỷ lục mới cho ngành. Đây là thành quả của mồ hôi, công sức và sự bền bỉ của hàng nghìn doanh nghiệp, cơ sở nuôi trồng, khai thác, chế biến; của hàng trăm nghìn người lao động trong toàn chuỗi; đồng thời là kết quả của sự quan tâm, định hướng và đồng hành từ các cơ quan quản lý nhà nước, các địa phương và đối tác trong, ngoài nước.

Năm 2025 ghi nhận 5 địa phương có kim ngạch xuất khẩu thủy sản vượt 1 tỷ USD, gồm TP. Cần Thơ, TP. Hồ Chí Minh, Cà Mau, Khánh Hòa và Đồng Tháp. Đây là những địa phương có sự bứt phá mạnh mẽ, đóng vai trò đầu tàu trong tăng trưởng của toàn ngành".  Ông Đỗ Ngọc Tài, Tân Chủ tịch Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP). 

Theo ông Đỗ Ngọc Tài, năm 2026 cũng là năm mở đầu nhiệm kỳ VII của VASEP (2026-2030), trong bối cảnh kinh tế - thương mại toàn cầu biến động nhanh, phức tạp và khó lường. Trước tình hình đó, VASEP xác định phương châm hành động xuyên suốt là “Chủ động thích ứng - Đổi mới sáng tạo - Phát triển bền vững”.

Bên cạnh mục tiêu tăng trưởng, ngành thủy sản Việt Nam ngày càng được đặt trong yêu cầu phát triển có trách nhiệm, bao gồm trách nhiệm với nguồn lợi thủy sản, với môi trường và cộng đồng, với thị trường quốc tế và với tương lai lâu dài của ngành. Trong đó, chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU) được xác định là nhiệm vụ mang tính nền tảng.

"Chống khai thác IUU không chỉ nhằm gỡ “thẻ vàng” của Ủy ban châu Âu, mà quan trọng hơn là để xây dựng một nghề cá hiện đại, minh bạch và bền vững", ông Đỗ Ngọc Tài khẳng định.

Tân Chủ tịch VASEP cũng biểu dương tinh thần trách nhiệm của các doanh nghiệp hải sản thành viên VASEP trong việc cam kết và thực thi không thu mua, không chế biến, không xuất khẩu hải sản có nguồn gốc IUU sang thị trường EU, qua đó góp phần bảo vệ uy tín ngành hàng, uy tín quốc gia và sinh kế lâu dài của ngư dân.

“Trong hơn ba tháng qua, từ tháng 10/2025 đến nay, Chính phủ, Ban Chỉ đạo quốc gia về IUU và Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã thể hiện quyết tâm rất lớn thông qua các cuộc họp thường xuyên, các chỉ đạo quyết liệt và nhiều quyết sách quan trọng. VASEP, với vai trò đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp hải sản khai thác, đã tham gia trực tiếp và đồng hành cùng quá trình này”, ông Tài khẳng định.

Bước sang năm 2026, VASEP cam kết tiếp tục đồng hành cùng doanh nghiệp theo ba ưu tiên lớn: hỗ trợ mở rộng thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh; thúc đẩy phát triển ngành theo hướng xanh, minh bạch và có trách nhiệm; đồng thời phối hợp chặt chẽ với Chính phủ và các địa phương trong phát triển bền vững, hỗ trợ sinh kế ngư dân và giảm áp lực lên nguồn lợi thủy sản.

KỲ VỌNG BỨT PHÁ TRONG GIAI ĐOẠN 2026-2030

Tại Lễ tổng kết xuất khẩu thủy sản năm 2025 do VASEP tổ chức, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đánh giá cáo kết quả mà ngành thủy sản đã đạt được trong năm 2025. Năm 2025, tổng sản lượng thủy sản đạt khoảng 9,95 triệu tấn, mức cao nhất từ trước đến nay. Kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 11,32 tỷ USD, chưa kể khoảng 250 triệu USD từ bột cá, cho thấy năng lực công nghệ, trình độ chế biến và sức cạnh tranh của thủy sản Việt Nam đã được nâng lên rõ rệt.

Một điểm sáng nổi bật trong năm qua là khả năng thích ứng nhanh và linh hoạt của cộng đồng doanh nghiệp. Trước những biến động tại thị trường Hoa Kỳ, các doanh nghiệp thủy sản đã kịp thời “xoay trục” sang các thị trường tiềm năng khác như: Trung Quốc, châu Âu và châu Phi.

Với vai trò cầu nối của VASEP cùng nền tảng từ kỷ lục năm 2025 và ba trụ cột phát triển, gồm: chuyển đổi số - khoa học công nghệ, kinh tế xanh - tuần hoàn và nâng cao giá trị gia tăng, ngành thủy sản Việt Nam được kỳ vọng sẽ hướng tới mục tiêu xuất khẩu 14–16 tỷ USD vào năm 2030”. Ông Phùng Đức Tiến, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Theo Thứ trưởng Phùng Đức Tiến, bên cạnh các mặt hàng chủ lực như tôm và cá tra, ngành thủy sản vẫn còn nhiều dư địa để phát triển. Nuôi biển được xác định là một hướng đi chiến lược, với mục tiêu đạt kim ngạch 1,4 tỷ USD vào năm 2030 theo Quyết định 1664/QĐ-TTg của Chính phủ. Cùng với đó, các sản phẩm tiềm năng như cá rô phi mặn lợ, ngành rong, tảo biển, nuôi trồng thủy sản tại hồ chứa và đặc biệt là lĩnh vực chế biến sâu tiếp tục được kỳ vọng sẽ đóng góp lớn vào việc nâng cao giá trị gia tăng cho toàn ngành.

Về vấn đề gỡ “thẻ vàng” IUU, Thứ trưởng Phùng Đức Tiến cho biết: "Chưa bao giờ công tác này nhận được sự vào cuộc quyết liệt, đồng bộ của cả hệ thống chính trị như hiện nay". Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ tướng Chính phủ, ngành thủy sản đang triển khai cao điểm các giải pháp trọng tâm như quản lý chặt chẽ đội tàu thông qua hệ thống giám sát hành trình (VMS), minh bạch và số hóa 100% hồ sơ truy xuất nguồn gốc, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm khai thác ở vùng biển nước ngoài. Mục tiêu là xây dựng một nghề cá minh bạch, có trách nhiệm và phát triển bền vững.

Bước sang năm 2026, năm khởi đầu kế hoạch 5 năm 2026-2030, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ tiếp tục chỉ đạo ngành thủy sản với tinh thần “kỷ cương trách nhiệm, chủ động hiệu quả, đổi mới sáng tạo, tăng tốc bứt phá, tăng trưởng bền vững”.

-Chu Khôi

Categories: The Latest News

Giá xăng giảm, dầu tăng do biến động của thị trường thế giới

Thu, 01/22/2026 - 15:57
Theo diễn biến của thị trường thế giới, giá xăng dầu trong nước kỳ điều hành ngày 22/1 có sự tăng giảm trái chiều. Trong khi giá xăng E5RON92 và RON95-III giảm nhẹ lần lượt 93 đồng/lít và 81 đồng/lít, thì các mặt hàng dầu lại đồng loạt tăng mạnh, cao nhất là dầu mazut tăng 471 đồng/kg so với giá cơ sở hiện hành…

Chiều 22/1/2026, liên Bộ Công Thương – Tài chính công bố điều chỉnh giá bán các mặt hàng xăng dầu.

Trong kỳ điều hành này, liên Bộ tiếp tục không chi sử dụng Quỹ Bình ổn giá xăng dầu đối với các mặt hàng xăng E5RON92, xăng RON95, dầu điêzen, dầu hỏa, dầu madút.

Sau khi thực hiện việc điều chỉnh, giá bán các mặt hàng xăng dầu tiêu dùng phổ biến trên thị trường như sau:

Xăng E5RON92: không cao hơn 18.283 đồng/lít (giảm 93 đồng/lít so với giá cơ sở hiện hành), thấp hơn xăng RON95-III 348 đồng/lít;

Xăng RON95-III: không cao hơn 18.631 đồng/lít (giảm 81 đồng/lít so với giá cơ sở hiện hành);

Dầu điêzen 0.05S: không cao hơn 17.700 đồng/lít (tăng 413 đồng/lít so với giá cơ sở hiện hành);

Dầu hỏa: không cao hơn 17.950 đồng/lít (tăng 253 đồng/lít so với giá cơ sở hiện hành);

Dầu madút 180CST 3.5S: không cao hơn 13.872 đồng/kg (tăng 471 đồng/kg so với giá cơ sở hiện hành).

Biến động giá bán xăng dầu trong nước từ 31/12/2025 đến 22/01/2026.

Về nguyên nhân điều chỉnh giá xăng dầu, liên Bộ cho biết thị trường xăng dầu thế giới kỳ điều hành lần này (từ ngày 15/01/2026 - 21/01/2026) chịu ảnh hưởng của các yếu tố chủ yếu như: nguy cơ gián đoạn nguồn cung dầu từ Iran; tiến độ xuất khẩu dầu của Venezuela diễn ra chậm; hoạt động khai thác dầu của Kazakhstan bị gián đoạn; căng thẳng giữa Mỹ và châu Âu về vấn đề Greenland; xung đột quân sự giữa Nga với Ucraina vẫn tiếp diễn… Các yếu tố nêu trên khiến giá xăng dầu thế giới trong những ngày vừa qua có diễn biến tăng, giảm tùy từng mặt hàng.

Cụ thể, bình quân giá thành phẩm xăng dầu thế giới giữa kỳ điều hành giá ngày 15/01/2026 và kỳ điều hành ngày 22/01/2026 là: 71,056 USD/thùng xăng RON92 dùng để pha chế xăng E5RON92 (giảm 0,516 USD/thùng, tương đương giảm 0,72%); 72,368 USD/thùng xăng RON95 (giảm 0,424 USD/thùng, tương đương giảm 0,58%); 83,388 USD/thùng dầu hỏa (tăng 1,428 USD/thùng, tương đương tăng 1,74%); 82,356 USD/thùng dầu điêzen 0,05S (tăng 2,326 USD/thùng, tương đương tăng 2,91%); 362,514 USD/tấn dầu mazut 180CST 3,5S (tăng 16,408 USD/tấn, tương đương tăng 4,74%).

Biến động giá thành phẩm xăng dầu trên thị trường thế giới từ 08/01/2026 - 14/01/2026 và từ 15/01/2026 - 21/01/2026.

Kỳ điều hành này, trước diễn biến giá xăng dầu thế giới, biến động tỷ giá VND/USD và các quy định hiện hành, liên Bộ Công Thương - Tài chính quyết định phương án điều hành giá xăng dầu nhằm bảo đảm biến động giá xăng dầu trong nước phù hợp với biến động giá xăng dầu thế giới; tiếp tục duy trì mức chênh lệch giá giữa xăng sinh học E5RON92 và xăng khoáng RON95 ở mức hợp lý để khuyến khích sử dụng nhiên liệu sinh học theo chủ trương của Chính phủ; bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các chủ thể tham gia thị trường.

Bộ Công Thương-Huyền Vy

Categories: The Latest News

Quảng Ninh đề nghị Bộ Xây dựng hướng dẫn thẩm định dự án đường sắt tốc độ cao Hà Nội – Quảng Ninh

Thu, 01/22/2026 - 15:55
Sở Xây dựng tỉnh Quảng Ninh vừa có công văn gửi Bộ Xây dựng đề nghị hướng dẫn trình tự, thủ tục thực hiện hồ sơ Báo cáo nghiên cứu khả thi Dự án đường sắt tốc độ cao Hà Nội – Quảng Ninh...

Theo Sở Xây dựng Quảng Ninh, đây là dự án hạ tầng giao thông quy mô lớn, có tính chất liên vùng, yêu cầu kỹ thuật phức tạp, tổng mức đầu tư rất lớn và áp dụng công nghệ cao. Dự án được đánh giá có tác động sâu rộng đến phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh cũng như hệ thống kết cấu hạ tầng quốc gia.

Trên cơ sở đó, Sở Xây dựng Quảng Ninh cho rằng việc tổ chức thẩm định ở cấp Bộ là cần thiết nhằm bảo đảm tính thống nhất, khách quan, tuân thủ đầy đủ các quy chuẩn, tiêu chuẩn quốc gia và thông lệ quốc tế, qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình triển khai dự án bảo đảm hiệu quả và tiến độ.

Vì vậy, Sở Xây dựng Quảng Ninh đề nghị Bộ Xây dựng hướng dẫn cụ thể thành phần hồ sơ, tài liệu để địa phương có cơ sở hướng dẫn nhà đầu tư lập, nộp hồ sơ trình thẩm định tại cơ quan chuyên môn thuộc Bộ Xây dựng theo đúng quy định pháp luật.

Cùng với đó, Sở Xây dựng Quảng Ninh cũng đề nghị Bộ Xây dựng hướng dẫn các nội dung công việc thuộc thẩm quyền, trách nhiệm của các sở, ngành và chính quyền địa phương tại tỉnh Quảng Ninh và các địa phương có liên quan gồm Hà Nội, Bắc Ninh và Hải Phòng nhằm hỗ trợ tối đa cho nhà đầu tư trong quá trình triển khai dự án.

Dự án đường sắt tốc độ cao Hà Nội – Quảng Ninh là dự án nhóm A, thuộc loại công trình giao thông đường sắt cấp đặc biệt, do Công ty cổ phần Vinspeed đề xuất đầu tư và đã được giao lập Báo cáo nghiên cứu khả thi.

Theo phương án nghiên cứu, tuyến đường sắt có điểm đầu tại khu vực Trung tâm Hội chợ Triển lãm Quốc gia Cổ Loa, xã Đông Anh, thành phố Hà Nội và điểm cuối tại khu công viên rừng, phường Tuần Châu, tỉnh Quảng Ninh. Tổng chiều dài tuyến khoảng 120,2 km, đi qua địa bàn 4 tỉnh, thành phố gồm Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Phòng và Quảng Ninh.

Quy mô đầu tư bao gồm xây dựng tuyến đường sắt tốc độ cao với tốc độ thiết kế 350 km/h, riêng đoạn qua khu vực thành phố Hà Nội có tốc độ thiết kế 120 km/h. Trên tuyến bố trí 4 ga hành khách gồm Cổ Loa, Gia Bình, Yên Tử và Hạ Long Xanh, cùng 1 ga tại khu vực Hải Phòng.

Sơ bộ tổng mức đầu tư dự án khoảng 157.640 tỷ đồng, tương đương 6,078 tỷ USD. Dự án được đề xuất đầu tư theo hình thức đầu tư kinh doanh theo Luật Đầu tư, sử dụng nguồn vốn khác, trong đó vốn chủ sở hữu chiếm khoảng 15% và vốn vay chiếm khoảng 85%.

Hiện nay, tỉnh Quảng Ninh đang tổ chức thẩm định, phê duyệt chủ trương đầu tư, đồng thời chấp thuận nhà đầu tư thực hiện dự án tuyến đường sắt tốc độ cao Hà Nội – Quảng Ninh theo quy định của pháp luật về đầu tư.

-Đan Tiên

Categories: The Latest News

Bộ Xây dựng phản hồi doanh nghiệp quan tâm dự án đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam

Thu, 01/22/2026 - 15:54
Bộ Xây dựng vừa có văn bản trả lời các doanh nghiệp về đề xuất tham gia thực hiện Dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc – Nam...

Văn bản được gửi tới 13 doanh nghiệp quan tâm đến lĩnh vực giao thông vận tải nói chung và Dự án đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam nói riêng. Danh sách các doanh nghiệp có văn bản đề xuất tham gia Dự án đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam gồm: Công ty cổ phần Tập đoàn Trường Hải; Liên danh nhà đầu tư Mekolor và Great USA; Công ty cổ phần Xây dựng Thăng Long Quốc gia; Công ty cổ phần Vận tải đường sắt Việt Nam; Công ty cổ phần Tập đoàn Vinaconey; Công ty Trách nhiệm hữu hạn Việt Nam 3000 – Tập đoàn Đầu tư và Phát triển Việt Nam; Công ty cổ phần Quản lý quỹ đầu tư FARM13; Công ty cổ phần Phần mềm – Tự động hóa – Điều khiển; Công ty cổ phần Tập đoàn Công nghiệp Quang Trung; Công ty Trách nhiệm hữu hạn HSC-VN; Công ty Trách nhiệm hữu hạn Tập đoàn Đầu tư Trương Gia; Công ty cổ phần Tập đoàn DISCOVERY; Công ty cổ phần Reign.

Theo Bộ Xây dựng, việc trả lời doanh nghiệp được thực hiện trong bối cảnh Bộ đang triển khai các nhiệm vụ theo Nghị quyết số 172/2024/QH15 ngày 30/11/2025, Nghị quyết số 227/2025/QH15 của Quốc hội và Nghị quyết số 106/NQ-CP ngày 23/4/2025 của Chính phủ, đồng thời thực hiện các chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ.

Bộ Xây dựng cho biết hiện nay đang tổ chức lập Báo cáo nghiên cứu khả thi Dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc – Nam, trong đó có nội dung nghiên cứu, lựa chọn hình thức đầu tư phù hợp. Trường hợp dự án được triển khai theo phương thức đối tác công – tư hoặc theo hình thức đầu tư kinh doanh, Bộ Xây dựng sẽ thông báo để các doanh nghiệp quan tâm biết và thực hiện việc nộp hồ sơ tham gia đầu tư theo đúng quy định của pháp luật.

Bộ Xây dựng khẳng định luôn sẵn sàng cung cấp các thông tin cần thiết liên quan đến việc triển khai dự án khi nhận được yêu cầu từ phía doanh nghiệp, đồng thời mong muốn các doanh nghiệp tiếp tục quan tâm, phối hợp để việc triển khai dự án bảo đảm tính khả thi và hiệu quả.

Liên quan đến công tác chuẩn bị đầu tư, Bộ Xây dựng đã chuyển giao nhiệm vụ lập Báo cáo nghiên cứu khả thi Dự án đầu tư xây dựng đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc – Nam cho Ban Quản lý dự án Thăng Long, thay cho Ban Quản lý dự án Đường sắt được giao trước đây. Theo quyết định, Ban Quản lý dự án Thăng Long có trách nhiệm lập Báo cáo nghiên cứu khả thi và chịu trách nhiệm toàn diện về chất lượng, tiến độ và giá thành của dự án.

Trước đó, Thường trực Chính phủ đã yêu cầu Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan xây dựng tiêu chí, quy trình và tổ chức đánh giá để lựa chọn phương thức đầu tư hiệu quả, tối ưu, bảo đảm lợi ích quốc gia và nhân dân, đồng thời phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực.

Trường hợp cần thiết phải bổ sung các cơ chế, chính sách đặc thù phù hợp với từng phương thức đầu tư như đầu tư công, đối tác công – tư hoặc đầu tư kinh doanh, việc đề xuất phải được thực hiện đúng quy trình, quy định, đánh giá kỹ lưỡng tác động, bảo đảm tính khoa học, công khai, minh bạch, hài hòa lợi ích và chia sẻ rủi ro theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.

-Đan Tiên

Categories: The Latest News

Vay mua ô tô: Xu hướng tài chính đang được nhiều người tiêu dùng lựa chọn

Thu, 01/22/2026 - 15:53
Mức sống của người dân từng bước được cải thiện kéo theo sự gia tăng nhu cầu đối với các tài sản sinh hoạt và di chuyển. Trong đó, chi tiêu cho phương tiện đi lại, nhóm tài sản có giá trị lớn và đặc thù tiếp tục là chủ đề được nhiều chuyên gia và người tiêu dùng quan tâm.THỊ TRƯỜNG Ô TÔ THEO BÁO CÁO TỪ HIỆP HỘI VAMA VÀ CỤC HẢI QUAN VIỆT NAM

Sau giai đoạn chững lại từ tháng 8/2025, thị trường ô tô ghi nhận sự phục hồi với đà tăng trưởng rõ nét. Theo số liệu tổng hợp từ Hiệp hội Các nhà sản xuất Ô tô Việt Nam (VAMA), tổng lượng xe tiêu thụ trên toàn thị trường trong năm 2025 đạt 604.134 chiếc, tăng 22,22% so với năm 2024 (494.300 chiếc). Con số này chưa bao gồm các dòng xe do các doanh nghiệp ngoài VAMA phân phối.

Nhu cầu mua ô tô tăng nhanh từ năm 2025. Nguồn ảnh: Sưu tầm.

Bên cạnh đó, theo thống kê của Cục Hải quan Việt Nam, trong năm 2025, Việt Nam nhập khẩu 205.630 ô tô nguyên chiếc, tăng 18,6% so với năm 2024. Đây là lần đầu tiên lượng xe nhập khẩu vượt mốc 200.000 chiếc trong một năm, mức cao nhất từ trước đến nay. Trong đó, nhóm xe chở người từ 9 chỗ ngồi trở xuống đạt 152.854 chiếc, phần còn lại là xe thương mại và xe chuyên dụng.

Diễn biến này cho thấy nhu cầu tiêu dùng đối với phương tiện cá nhân và phương tiện phục vụ sản xuất kinh doanh đang gia tăng, phản ánh tín hiệu phục hồi của thị trường cũng như sự cải thiện dần về thu nhập và khả năng chi tiêu của người dân.

KHI NGƯỜI TIÊU DÙNG TÌM KIẾM SỰ LINH HOẠT TRONG VAY MUA Ô TÔ

Trong bối cảnh thị trường ô tô tăng trưởng, người tiêu dùng có xu hướng thận trọng hơn trong việc đánh giá tổng chi phí sở hữu phương tiện, bao gồm chi phí khấu hao, bảo trì và vận hành trong suốt vòng đời sử dụng. Yếu tố này khiến các dòng xe có tính thực dụng, tối ưu chi phí và phù hợp với ngân sách cá nhân tiếp tục được ưu tiên lựa chọn.

Người tiêu dùng tìm kiếm sự linh hoạt và phù hợp trong vấn đề vay mua ô tô. Nguồn ảnh: Sưu tầm.

Song song đó, nhu cầu tiếp cận các giải pháp tài chính linh hoạt khi mua ô tô ngày càng gia tăng. Người tiêu dùng quan tâm đến nhiều yếu tố trong cấu trúc khoản vay như mức lãi suất, thời hạn vay, quy trình thủ tục, các chương trình ưu đãi đi kèm và phương thức thanh toán phù hợp với dòng tiền cá nhân, bao gồm tỷ lệ trả trước, lịch trả nợ và hình thức trả góp định kỳ.

Xu hướng này được thúc đẩy bởi sự cạnh tranh giữa các ngân hàng, tổ chức tín dụng và các gói hỗ trợ tài chính từ hệ thống đại lý, nhằm giảm áp lực tài chính ban đầu và gia tăng khả năng tiếp cận phương tiện.

CÂN ĐỐI TÀI CHÍNH KHI MUA Ô TÔ: BÀI TOÁN KHÔNG CỦA RIÊNG AI

Vay vốn mua ô tô ngày càng trở thành giải pháp được nhiều người tiêu dùng lựa chọn nhằm phân bổ nguồn tài chính hợp lý, thay vì sử dụng toàn bộ khoản tiền tích lũy trong ngắn hạn. Cách tiếp cận này giúp duy trì dòng tiền cho các nhu cầu chi tiêu khác, đồng thời sớm đáp ứng nhu cầu di chuyển và hạn chế tác động từ biến động giá xe.

Nguồn: Mirae Asset Việt Nam.

Trên thị trường hiện nay, các ngân hàng và công ty tài chính đang cung cấp nhiều gói vay mua ô tô với sự khác biệt về hạn mức, lãi suất và điều kiện giải ngân. Theo ghi nhận, mặt bằng chung tỷ lệ cho vay phổ biến ở mức 75–80% giá trị xe, lãi suất dao động khoảng 9–10%/năm và thường đi kèm yêu cầu mua bảo hiểm khoản vay. Trong đó, một số đơn vị tiêu biểu đã triển khai chính sách linh hoạt hơn nhằm tăng khả năng tiếp cận vốn cho người tiêu dùng.

Đơn cử, Công ty Tài chính TNHH MTV Mirae Asset (Việt Nam) áp dụng hạn mức cho vay lên đến 90% giá trị xe, riêng một số dòng xe phục vụ vận tải công nghệ như Xanh SM, mức cho vay khoảng 85%. Lãi suất được công bố ở mức thấp hơn mặt bằng chung từ 1 - 1,5 điểm phần trăm, đồng thời không yêu cầu mua bảo hiểm khoản vay, qua đó giúp giảm chi phí tài chính ban đầu cho người vay.

Công ty Tài chính TNHH MTV Mirae Asset (Việt Nam) là thành viên của Tập đoàn Mirae Asset (Hàn Quốc), hoạt động từ năm 2010. Hiện doanh nghiệp cung cấp dịch vụ cho hơn 4 triệu khách hàng, thông qua mạng lưới toàn quốc với hơn 25.000 điểm bán (POS).

Trong 15 năm hoạt động, doanh nghiệp theo mục tiêu mang đến cho khách hàng cơ hội tiếp cận nguồn vốn an toàn và hợp pháp thông qua việc không ngừng hoàn thiện các sản phẩm cho vay tiêu dùng.

-Thu Hà

Categories: The Latest News

Chuyển đổi số: Động lực mới cho công tác giảm nghèo tại Ninh Bình

Thu, 01/22/2026 - 15:49
Tại tỉnh Ninh Bình, nhờ đẩy mạnh chuyển đổi số đã góp phần giúp giảm tỷ lệ hộ nghèo đa chiều của tỉnh. Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đóng vai trò mở ra hướng đi bền vững cho phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao đời sống của người dân địa phương...

Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, là định hướng lớn cho việc thúc đẩy ứng dụng công nghệ trong mọi lĩnh vực, trong đó có công tác giảm nghèo.

Nghị quyết nhấn mạnh vai trò của đổi mới sáng tạo, phát huy nội lực, khơi dậy ý chí tự lực tự cường của người dân trong quá trình vươn lên thoát nghèo, xây dựng cuộc sống ấm no, hướng tới mục tiêu “Vì một Việt Nam không còn đói nghèo”.

Với sự đầu tư đồng bộ về thể chế, nguồn lực và hạ tầng số, chuyển đổi số được kỳ vọng trở thành động lực quan trọng thúc đẩy giảm nghèo đa chiều, tạo sinh kế bền vững và xây dựng cộng đồng hạnh phúc trong giai đoạn 2026 - 2030 và những năm tiếp theo.

Tại tỉnh Ninh Bình, ông Tạ Quang Phương, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ, cho biết để tiếp tục phát huy vai trò của chuyển đổi số trong công tác giảm nghèo bền vững, thời gian tới, đơn vị sẽ tập trung đẩy mạnh chuyển giao công nghệ số nông nghiệp thông qua việc hỗ trợ các hợp tác xã, hộ nghèo ứng dụng quy trình sản xuất thông minh. Đặc biệt hỗ trợ số hóa, gắn mã QR truy xuất nguồn gốc cho 100% sản phẩm OCOP, nâng cao giá trị và tính cạnh tranh trên thị trường số.

Đồng thời, Sở sẽ phối hợp đào tạo trên 1.300 tổ công nghệ số cộng đồng để trực tiếp hướng dẫn người dân sử dụng điện thoại phục vụ kinh doanh, thanh toán không dùng tiền mặt và tra cứu kỹ thuật canh tác; xây dựng và hoàn thiện mô hình “Xã thông minh” tiêu biểu. Từ đó nhân rộng để người dân thấy được hiệu quả thực tế và chủ động ứng dụng công nghệ để làm giàu trên mảnh đất quê hương…

Việc đẩy mạnh chuyển đổi số đã góp phần giúp tỷ lệ hộ nghèo đa chiều tại Ninh Bình giảm xuống còn 0,9%, thấp hơn mức bình quân của cả nước. Kết quả này phản ánh sự nỗ lực đồng bộ trong công tác giảm nghèo, trong đó khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đóng vai trò mở ra hướng đi bền vững cho phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao đời sống của người dân địa phương.

-Dương Thùy

Categories: The Latest News

Bắc Ninh: Chuyển đổi số làm trụ cột giảm nghèo bền vững

Thu, 01/22/2026 - 15:45
Sau sáp nhập đơn vị hành chính từ ngày 1/7/2025, Bắc Ninh đứng trước yêu cầu mới trong công tác giảm nghèo, nhất là thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các khu vực. Xác định chuyển đổi số là giải pháp trọng tâm, tỉnh đã triển khai đồng bộ nhiều chính sách, qua đó hoàn thành mục tiêu giảm nghèo sớm và tạo nền tảng sinh kế bền vững cho người dân.

Sau sáp nhập, Bắc Ninh có 99 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 66 xã và 33 phường. Việc mở rộng địa bàn quản lý tạo ra dư địa phát triển mới, song cũng đặt ra không ít thách thức trong tổ chức thực hiện các chính sách an sinh xã hội, đặc biệt là giảm nghèo bền vững, khi điều kiện kinh tế – xã hội giữa các khu vực còn có sự chênh lệch rõ rệt.

CHUYỂN ĐỔI SỐ - “CHÌA KHÓA” THU HẸP KHOẢNG CÁCH PHÁT TRIỂN

Trong khi khu vực Bắc Ninh (cũ) đã đạt trình độ phát triển cao, tỷ lệ hộ nghèo gần như bằng không, thì một số địa bàn miền núi thuộc Bắc Giang (cũ) như Sơn Động, Lục Ngạn vẫn gặp nhiều khó khăn về hạ tầng, sinh kế và khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Trước thực tế đó, việc triển khai hiệu quả Chương trình Mục tiêu Quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021–2025 được tỉnh xác định là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt.

Theo thống kê đến hết năm 2024, toàn tỉnh Bắc Ninh còn 8.308 hộ nghèo, chiếm 0,97%. Riêng khu vực Bắc Ninh (cũ), đến cuối năm 2024 đã không còn hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều. Với kết quả này, tỉnh đã hoàn thành mục tiêu đưa tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh xuống dưới 1% sớm hơn một năm so với Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh đề ra. Dự kiến đến cuối năm 2025, tỷ lệ hộ nghèo tiếp tục giảm còn khoảng 0,56% theo chuẩn nghèo đa chiều quốc gia.

Để đạt được kết quả trên, Bắc Ninh xác định ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số là giải pháp then chốt nhằm giảm nghèo bền vững trong bối cảnh mới. Tỉnh tập trung huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực để đầu tư hạ tầng số, hạ tầng viễn thông và Internet, coi đây là nền tảng giúp người dân tiếp cận thông tin, tri thức và mở rộng cơ hội phát triển sinh kế.

Thời gian qua, Bắc Ninh đã ưu tiên hoàn thiện hạ tầng công nghệ thông tin – viễn thông, đưa mạng di động và Internet phủ kín 100% thôn, xóm trên địa bàn. Việc phổ cập hạ tầng số không chỉ phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước mà còn trực tiếp hỗ trợ người dân tham gia sản xuất, kinh doanh và tiếp cận các dịch vụ công trực tuyến.

Tại các xã vùng sâu, vùng xa và địa bàn có đông lao động nhập cư, hệ thống loa truyền thanh thông minh được lắp đặt và đưa vào sử dụng. Thông qua các giải pháp công nghệ hiện đại, công tác tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, nhất là các chương trình, chính sách giảm nghèo, được truyền tải kịp thời, góp phần nâng cao nhận thức và khả năng tiếp cận thông tin của người dân.

Cùng với đó, tỉnh chú trọng hỗ trợ các nhóm yếu thế như hộ nghèo, hộ cận nghèo, người cao tuổi và người khuyết tật trong việc tiếp cận, sử dụng dịch vụ viễn thông và công nghệ số. Đây được xem là giải pháp quan trọng nhằm thu hẹp khoảng cách số, bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong tiến trình phát triển.

CÔNG NGHỆ SỐ MỞ RỘNG SINH KẾ CHO NGƯỜI DÂN

Một điểm nhấn trong công tác giảm nghèo của Bắc Ninh là đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý, giám sát và tổ chức thực hiện các chính sách an sinh xã hội. Việc khai thác dữ liệu số giúp công tác rà soát, xác định hộ nghèo, hộ cận nghèo được thực hiện chính xác, minh bạch hơn, qua đó bảo đảm các nguồn lực hỗ trợ được phân bổ đúng đối tượng, đúng thời điểm.

Bắc Ninh cũng phối hợp với các doanh nghiệp viễn thông triển khai các điểm truy cập Internet miễn phí tại nhà văn hóa thôn, khu dân cư. Giải pháp này tạo điều kiện để người dân thuận lợi tra cứu thông tin, sử dụng dịch vụ công trực tuyến và tiếp cận các nền tảng số phục vụ học tập, lao động và sản xuất.

Song song với đầu tư hạ tầng, các lớp bồi dưỡng kỹ năng số cơ bản được tổ chức thường xuyên tại các trung tâm học tập cộng đồng. Người dân được hướng dẫn sử dụng cổng dịch vụ công, thực hiện thanh toán điện tử, đăng ký học nghề và tìm kiếm việc làm qua môi trường mạng. Nhờ đó, tỷ lệ người dân sử dụng điện thoại thông minh trên địa bàn tỉnh đã vượt 95%, tạo tiền đề quan trọng cho chuyển đổi số ở khu vực nông thôn.

Trên nền tảng hạ tầng số, Bắc Ninh tích cực hỗ trợ phát triển các mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, xây dựng hợp tác xã số và khuyến khích thanh niên nông thôn khởi nghiệp gắn với công nghệ. Nhiều hợp tác xã đã tận dụng các kênh thương mại điện tử để mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản, tạo thêm việc làm ổn định và nâng cao thu nhập cho người dân.

Bên cạnh đó, tỉnh chú trọng xây dựng hệ thống dữ liệu số về hộ nghèo được cập nhật theo thời gian thực. Việc số hóa dữ liệu giúp nâng cao hiệu quả quản lý, đồng thời tạo cơ sở để các cấp, ngành xây dựng giải pháp hỗ trợ sát với nhu cầu thực tế của người dân.

Tiếp nối các giải pháp đã triển khai, Bắc Ninh tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số trong lĩnh vực tín dụng chính sách, tạo điều kiện để hộ nghèo và các đối tượng thụ hưởng tiếp cận nguồn vốn ưu đãi theo hướng nhanh gọn, công khai và an toàn. Các dịch vụ an sinh xã hội từng bước được số hóa và kết nối liên thông, giúp người dân thuận tiện theo dõi và tiếp cận chính sách hỗ trợ.

Với việc xác định chuyển đổi số là trụ cột trong giảm nghèo bền vững, Bắc Ninh đang từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các khu vực, đồng thời tạo động lực mới thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội sau sáp nhập.

-

Categories: The Latest News

Hưng Yên nỗ lực giảm tỷ lệ hộ nghèo

Thu, 01/22/2026 - 15:44
Hưng Yên đặt mục tiêu đến năm 2030 giảm tối thiểu 1/3 số hộ nghèo so với năm 2026; bảo đảm 100% hộ nghèo có nhu cầu được tiếp cận đầy đủ dịch vụ xã hội cơ bản. Trọng tâm vào nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo việc làm bền vững và cải thiện sinh kế người dân...

Tỉnh Hưng Yên đang đồng loạt triển khai nhiều chính sách an sinh, hỗ trợ y tế, giáo dục, tín dụng và nhà ở, chuyển đổi số, hỗ trợ người dân ứng dụng khoa học kỹ thuật, để tạo nền tảng quan trọng cho mục tiêu giảm nghèo bền vững và nâng cao chất lượng cuộc sống người dân.

Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững nhiều năm qua được tỉnh xác định là nhiệm vụ trọng tâm. Các dự án, tiểu dự án về truyền thông thông tin, chuyển đổi số được triển khai đồng bộ, hướng trực tiếp đến nhóm yếu thế.

Theo Chi cục Phát triển nông thôn tỉnh Hưng Yên, mục tiêu đến năm 2030 là giảm tối thiểu 1/3 số hộ nghèo so với năm 2026; bảo đảm 100% hộ nghèo có nhu cầu được tiếp cận đầy đủ dịch vụ xã hội cơ bản. Tỉnh đặt trọng tâm vào nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo việc làm bền vững và cải thiện sinh kế người dân.

Đến năm 2035, Hưng Yên phấn đấu cơ bản không còn hộ nghèo theo chuẩn thu nhập và giảm mạnh hộ nghèo đa chiều, với mục tiêu người dân có việc làm ổn định, được tiếp cận y tế, giáo dục, nước sạch và nhà ở.

Trong lĩnh vực sản xuất, tỉnh tiếp tục hỗ trợ người dân ứng dụng khoa học kỹ thuật, cây con giống chất lượng, phát triển mô hình sản xuất theo chuỗi giá trị, bảo đảm an ninh lương thực và tăng thu nhập. Công tác đào tạo nghề được gắn chặt với nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp.

Về dinh dưỡng, các chương trình phòng chống suy dinh dưỡng, thiếu vi chất cho trẻ em và bà mẹ tiếp tục được triển khai, đồng thời tăng cường chăm sóc dinh dưỡng học đường cho trẻ 5 - 16 tuổi.

Trong lĩnh vực lao động, tỉnh đặt mục tiêu hiện đại hóa hệ thống thông tin thị trường lao động, xây dựng sàn giao dịch việc làm trực tuyến, cập nhật cơ sở dữ liệu nhân lực theo thời gian thực và đẩy mạnh kết nối cung - cầu lao động.

Bên cạnh đó, tỉnh cũng chú trọng hỗ trợ xây dựng và sửa chữa nhà ở cho hộ nghèo, bảo đảm an toàn, đồng thời mở rộng truyền thông và tập huấn cho cán bộ cơ sở nhằm nâng cao năng lực triển khai chính sách.

-Phúc Minh

Categories: The Latest News

Nông dân Tây Nguyên thoát nghèo bền vững nhờ công nghệ và chuyển đổi số

Thu, 01/22/2026 - 15:40
Ứng dụng khoa học công nghệ, số hóa quy trình sản xuất và mở rộng tiêu thụ trên nền tảng số đang giúp nông dân vùng sâu, vùng xa Tây Nguyên giảm chi phí, nâng cao năng suất, tăng thu nhập và cải thiện đời sống theo hướng bền vững...

Tây Nguyên được đánh giá là vùng có nhiều lợi thế phát triển nông nghiệp nhờ quỹ đất rộng, thổ nhưỡng phù hợp với nhiều loại cây trồng giá trị. Tuy nhiên, địa hình đồi núi phức tạp, thời tiết diễn biến thất thường và hạ tầng còn hạn chế khiến sản xuất nông nghiệp nhiều năm qua gặp không ít khó khăn. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số không còn là khái niệm xa vời mà đang trở thành giải pháp thực tiễn, giúp nông dân thay đổi tư duy canh tác, tiếp cận khoa học công nghệ và từng bước thoát nghèo bền vững.

Những năm gần đây, cùng với chủ trương tái cơ cấu ngành nông nghiệp, nhiều địa phương tại Tây Nguyên đã đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao gắn với chuyển đổi số trong sản xuất. Các hợp tác xã nông nghiệp giữ vai trò trung tâm trong việc tổ chức lại sản xuất, hỗ trợ kỹ thuật, kết nối thị trường và đưa công nghệ đến gần hơn với nông dân, nhất là ở vùng sâu, vùng xa.

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ, GIẢM SỨC LAO ĐỘNG, TĂNG HIỆU QUẢ

Tại Lâm Đồng, Hợp tác xã Nông nghiệp và Dịch vụ Tân Tiến là một trong những mô hình tiêu biểu về ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất nông nghiệp. Thay cho phương thức canh tác truyền thống phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm và lao động thủ công, đơn vị này đã đầu tư hệ thống tưới tự động, quản lý dinh dưỡng cây trồng và số hóa quy trình sản xuất.

Ông Mai Văn Khẩn, Chủ tịch Hội đồng quản trị hợp tác xã, cho biết việc ứng dụng công nghệ giúp cân đối chính xác lượng nước và dinh dưỡng cho cây trồng theo từng giai đoạn sinh trưởng. Nhờ đó, cây phát triển đồng đều, hạn chế sâu bệnh và nâng cao năng suất. Trước đây, để quản lý 5 ha vườn sản xuất, hợp tác xã cần tới 5 công nhân làm việc thường xuyên. Hiện nay, với hệ thống tự động hóa, chỉ còn 2 người vẫn có thể vận hành hiệu quả.

Không chỉ giảm chi phí lao động, công nghệ còn giúp người dân chủ động hơn trong sản xuất. Là thành viên hợp tác xã, anh Đào Ngọc Tướng Quân cho biết hệ thống pha trộn và tưới tự động dung tích 10.000 lít đã rút ngắn thời gian làm việc từ hàng giờ xuống chỉ còn khoảng 20 phút mỗi lần vận hành. Nhờ chăm sóc cây trồng chính xác và đồng đều, năng suất tăng từ mức 6–7 kg/cây lên 7–8 kg/cây, chất lượng nông sản cũng ổn định hơn.

Thực tế cho thấy, khi công nghệ được áp dụng phù hợp, người nông dân không chỉ giảm bớt sức lao động mà còn nâng cao hiệu quả kinh tế. Điều này đặc biệt có ý nghĩa với các hộ sản xuất nhỏ, hộ thiếu lao động hoặc người lớn tuổi, những đối tượng dễ bị tổn thương trước biến động của thị trường và thời tiết.

Bên cạnh các mô hình tưới tự động, nhiều hợp tác xã tại Lâm Đồng còn chủ động tìm giải pháp công nghệ thích ứng với điều kiện địa hình khó khăn. Hợp tác xã Thủy canh Việt là một ví dụ điển hình. Xuất phát từ thực tế quỹ đất canh tác không đồng đều, nguồn nước ngày càng hạn chế, đơn vị này đã nghiên cứu và ứng dụng hệ thống thủy canh hồi lưu, kết hợp linh hoạt giữa thủy canh giá thể, thủy canh nước và khí canh.

Theo ông Nguyễn Đức Duy, Giám đốc hợp tác xã, hệ thống tuần hoàn giúp tiết kiệm khoảng 90% lượng nước và 75% lượng phân bón so với phương pháp truyền thống. Đáng chú ý, quy trình vận hành được thiết kế đơn giản, không đòi hỏi người nông dân phải có kiến thức chuyên sâu về công nghệ, đồng thời giảm nguy cơ sâu bệnh trên cây trồng tới 90%.

Liên minh Hợp tác xã tỉnh Đắk Lắk hỗ trợ thành viên các hợp tác xã tập huấn livetream bán hàng trên sàn thương mại điện tử.

Nhờ những cải tiến này, chi phí đầu vào được kiểm soát tốt hơn, rủi ro trong sản xuất giảm đáng kể. Nông dân tham gia mô hình không chỉ nâng cao hiệu quả canh tác mà còn tạo ra sản phẩm có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường. Đây được xem là hướng đi phù hợp, giúp người dân vùng sâu, vùng xa từng bước tiếp cận nông nghiệp công nghệ cao mà không bị rào cản quá lớn về vốn và trình độ.

GẮN KẾT SẢN XUẤT VÀ THỊ TRƯỜNG TRÊN NỀN TẢNG SỐ

Nếu như công nghệ giúp giải bài toán năng suất và chi phí, thì chuyển đổi số trong tiêu thụ lại mở ra cánh cửa thị trường cho nông sản Tây Nguyên. Tại xã Ea Bung, tỉnh Đắk Lắk, Hợp tác xã giảm nghèo Ea Súp đã giúp người dân chuyển từ sản xuất lúa tự cung tự cấp sang kinh doanh gạo đặc sản theo chuỗi giá trị.

Trước đây, bà con chủ yếu trồng lúa để phục vụ nhu cầu sinh hoạt gia đình, thu nhập không ổn định. Khi tham gia hợp tác xã, người dân được hướng dẫn áp dụng kỹ thuật mới, tổ chức sản xuất theo quy trình thống nhất và liên kết tiêu thụ sản phẩm. Đặc biệt, việc ứng dụng công nghệ truy xuất nguồn gốc đã giúp hạt gạo địa phương từng bước khẳng định vị thế trên thị trường.

Anh Nguyễn Việt Đức, Giám đốc hợp tác xã, cho biết toàn bộ thông tin về lô hàng, hộ sản xuất và quy trình canh tác đều được cập nhật trên hệ thống quản lý. Người tiêu dùng chỉ cần quét mã QR trên bao bì để kiểm tra nguồn gốc sản phẩm. Cách làm này không chỉ nâng cao niềm tin của khách hàng mà còn tạo điều kiện để gạo đặc sản Ea Bung tiếp cận nhiều thị trường trong nước, mang lại thu nhập ổn định cho các hộ tham gia.

Song song với truy xuất nguồn gốc, nhiều hợp tác xã tại Tây Nguyên đã tận dụng mạng xã hội và các sàn thương mại điện tử để quảng bá, tiêu thụ nông sản. Những hình ảnh, video ngắn ghi lại quá trình chăm sóc và thu hoạch cây trồng được chia sẻ thường xuyên, giúp người tiêu dùng hiểu rõ hơn về chất lượng sản phẩm và quy trình sản xuất.

Chị Lê Thị Ánh Tuyết, thành viên Hợp tác xã Vườn Nhà Đà Lạt, cho biết nhờ các kênh trực tuyến, khách hàng biết đến sản phẩm nhiều hơn mà không phải phụ thuộc hoàn toàn vào thương lái. Hiện nay, doanh thu từ khách hàng online chiếm khoảng 70% tổng doanh thu, góp phần cải thiện rõ rệt thu nhập của các thành viên.

Nông nghiệp công nghệ cao mở ra hướng thoát nghèo bền vững cho nông dân vùng sâu.

Theo thống kê đến giữa năm 2025, toàn vùng Tây Nguyên có hơn 1.500 hợp tác xã nông nghiệp, riêng Lâm Đồng có trên 450 hợp tác xã. Trong số này, khoảng 20% đã ứng dụng công nghệ vào sản xuất và quản lý. Nhiều hợp tác xã còn triển khai mã số riêng cho từng hộ thành viên, giúp kiểm soát chất lượng nông sản, bảo đảm minh bạch và truy xuất nguồn gốc, từ đó tạo nguồn thu ổn định cho hàng trăm hộ gia đình.

Hai năm qua, tỉnh Lâm Đồng đã bố trí hơn 70 tỷ đồng hỗ trợ các hợp tác xã xây dựng mô hình nông nghiệp thông minh, phát triển sản phẩm và truy xuất nguồn gốc. Nhờ đó, doanh thu bình quân mỗi hợp tác xã đạt khoảng 2,2 tỷ đồng/năm, đời sống của người nông dân từng bước được nâng lên. Cùng với nguồn lực từ ngân sách, các hợp tác xã còn được hỗ trợ kết nối với các doanh nghiệp viễn thông lớn để tiếp cận nền tảng số, mở rộng kênh phân phối và gia tăng giá trị nông sản.

Thực tiễn từ các mô hình tại Lâm Đồng và Đắk Lắk cho thấy, khi khoa học công nghệ và chuyển đổi số được triển khai phù hợp với điều kiện địa phương, nông nghiệp không chỉ nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm mà còn mở ra con đường thoát nghèo bền vững cho người dân vùng sâu, vùng xa Tây Nguyên.

-Nguyễn Thuấn

Categories: The Latest News

Cổ phiếu lớn lao dốc "ép" đỏ chỉ số, dòng tiền chống đỡ tốt ở nhóm vừa và nhỏ

Thu, 01/22/2026 - 15:32
Tới 22/30 cổ phiếu trong rổ blue-chips trượt dốc trong phiên chiều nay, bao gồm cả các trụ ngân hàng, khiến VN-Index bị ảnh hưởng đáng kể. Trong khi VN-Index chốt phiên giảm 0,4%, VN30-Index tăng yếu 0,09% thì Midcap vẫn tăng 1,44%, Smallcap tăng 1,22%.

Độ rộng tổng thể của sàn HoSE cũng ủng hộ xu hướng tăng với 238 mã xanh/92 mã đỏ. Như vậy hôm nay là một phiên “đỏ vỏ, xanh lòng”, đem lại hiệu quả tích cực cho nhà đầu tư khi danh mục được cải thiện.

Nguyên nhân chính khiến VN-Index đỏ lúc đóng cửa là mất đi sức mạnh của nhóm trụ. VCB vào phiên chiều nay đột ngột xuất hiện áp lực bán rất lớn. Chốt phiên sáng trụ này khá yếu với mức tăng 0,69% nhưng “bổ nhào” rất nhanh thành giảm 2,47% lúc đóng cửa. Như vậy riêng chiều nay VCB giảm tới 3,14%, thanh khoản cũng cao nhất thị trường với 612,7 tỷ đồng. Tính chung cả ngày VCB khớp 1.358,4 tỷ đồng. BID, trụ ngân hàng lớn thứ 2 sau VCB, cũng bị xả tương tự nhưng quy mô nhỏ hơn, khoảng 412,3 tỷ đồng trong buổi chiều. Giá BID lao dốc tới 4,06% so với mức chốt buổi sáng, đảo chiều thành giảm 1,89% so với tham chiếu. CTG, cổ phiếu lớn thứ 3 trong nhóm, cũng lao dốc 2,33% thành giảm 0,75% thời điểm đóng cửa.

Các trụ ngân hàng không phải là những cổ phiếu duy nhất suy yếu. Thống kê rổ VN30 chiều nay có tới 22 mã giảm giá so với phiên sáng, chỉ 7 mã có cải thiện. Tuy độ rộng rổ này cuối ngày vẫn còn 16 mã tăng/11 mã giảm nhưng mặt bằng giá thấp xuống đáng kể. FPT, GAS, HPG, MBB là các blue-chips rất lớn khác cũng suy yếu. Tổng hợp sức ép của nhóm vốn hóa hàng đầu này khiến VN-Index trượt dốc rất nhanh từ khoảng 2h10 trở đi và đóng cửa dưới tham chiếu.

Một chút may mắn là trong số ít cổ phiếu blue-chips lên giá chiều nay (7 mã) có cả VIC và VHM. VIC nhích lên được 0,75% đủ để vượt nhẹ tham chiếu 0,37% lúc đóng cửa. VHM cũng cải thiện 0,5%, co hẹp mức giảm còn -1,95%. Lên giá tốt nhất chiều nay là MWG, tăng 1,53% so với giá chốt buổi sáng và đóng cửa vượt tham chiếu 1,29%. VRE cũng khá mạnh, tăng thêm 1,43%, chốt phiên tăng 1,92%. Tiếc rằng các cổ phiếu này ảnh hưởng không nhiều tới điểm số do vốn hóa hạn chế.

Sắc xanh phủ tốt hơn ở nhóm vốn hóa nhỏ.

Ở phần còn lại, dòng tiền vẫn duy trì lực đỡ tốt trong nhóm vừa và nhỏ giúp mặt bằng giá không kém buổi sáng. Cụ thể, toàn sàn HoSE còn 141 mã tăng từ 1% trở lên, về số lượng là tương đương với phiên sáng (144 mã). Số mã tăng vượt 2% cũng tới 80 mã, không chênh nhiều lắm so với phiên sáng (88 mã). Số mã kịch trần vẫn duy trì 15 mã. Điều này cho thấy ảnh hưởng từ việc lùi giá của các cổ phiếu trụ, nhất là nhịp rơi của VN-Index trong 20 phút cuối đợt khớp lệnh liên tục, đã không tác động nhiều đến tâm lý chung.

Những cổ phiếu có thanh khoản rất tốt và giá kịch trần là CII với 333 tỷ đồng, DGC với 666,7 tỷ, DCM với 408,7 tỷ, HDC với 119,4 tỷ, DIG với 377,8 tỷ. Ngoài ra DLG, DSE, HID, HHS, VOS, EVF cũng khớp vài chục tỷ đồng trở lên.

Một thống kê khá thú vị là 141 cổ phiếu mạnh nhất hôm nay chỉ chiếm 39,3% tổng thanh khoản khớp lệnh sàn HoSE, thấp hơn nhiều tỷ trọng 63,4% của phiên sáng. Nguyên nhân là nhiều blue-chips thanh khoản cao đã bị ép giá xuống và rời khỏi nhóm này. Trong khi đó các cổ phiếu vừa và nhỏ giá mạnh lên thì thanh khoản còn xa mới bằng được các blue-chips. Mặt khác, thanh khoản sàn HoSE chiều nay cũng giảm tới 27% so với buổi sáng, cho thấy lực bán từ nhóm vốn hóa nhỏ đã suy yếu.

Việc dòng tiền hoạt động mạnh hơn ở nhóm cổ phiếu vừa và nhỏ là một thay đổi tích cực vì nhịp kéo trụ vừa rồi hầu như nhóm này chỉ đi ngang hoặc tăng rất ít. Khi dòng tiền chốt lời mạnh ở các cổ phiếu ngân hàng, dầu khí, mối quan tâm có thể dịch chuyển sang các cổ phiếu chưa tăng nhiều.

Nhà đầu tư nước ngoài chiều nay tuy có giảm chút ít quy mô bán ra so với phiên sáng nhưng mua vào cũng không tăng. Vị thế ròng là -303,6 tỷ đồng, tốt hơn mức -1.152 tỷ đồng buổi sáng. Các cổ phiếu bị bán tăng cường là VHM -451,3 tỷ, VCB -333,8 tỷ, VIC -215,3 tỷ, BID -169,9 tỷ, CTG -151,6 tỷ, DXG -123,7 tỷ, BSR -101,8 tỷ, GAS -88 tỷ. Phía mua ròng có FPT +128,2 tỷ, GMD +58 tỷ, GVR +55 tỷ.

-Kim Phong

Categories: The Latest News

Xây dựng phương án sắp xếp đơn vị sự nghiệp công lập

Thu, 01/22/2026 - 15:29
Bộ Nội vụ đã phối hợp với các bộ, ngành, địa phương xây dựng phương án tổng thể sắp xếp đơn vị sự nghiệp công lập từ Trung ương đến địa phương...

Trả lời kiến nghị của các địa phương về tổ chức và hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập, Bộ Nội vụ cho biết đã và đang triển khai đồng bộ với nhiều giải pháp nhằm hoàn thiện thể chế, bảo đảm phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp và yêu cầu thực tiễn.

Theo Bộ Nội vụ, thực hiện chương trình công tác của Chính phủ, Bộ đã trình Chính phủ ban hành Nghị định số 283/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 120/2020/NĐ-CP quy định về thành lập, tổ chức lại, giải thể đơn vị sự nghiệp công lập.

Nghị định 283 đã quy định rõ việc thành lập đơn vị sự nghiệp công lập cung ứng dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu theo hướng đa ngành, đa lĩnh vực ở cấp xã, bảo đảm phù hợp với định hướng của Bộ Chính trị về vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp.

Đồng thời, Chính phủ đã phân công trách nhiệm cho các bộ quản lý ngành, lĩnh vực hướng dẫn cụ thể chức năng, nhiệm vụ cung ứng dịch vụ sự nghiệp công làm cơ sở để địa phương tổ chức triển khai.

Liên quan đến định hướng sắp xếp đơn vị sự nghiệp công lập, Bộ Nội vụ cho biết đã chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương xây dựng phương án tổng thể sắp xếp đơn vị sự nghiệp công lập từ Trung ương đến địa phương. 

Nội dung này đã được báo cáo Đảng ủy Chính phủ để báo cáo Ban Chỉ đạo Trung ương về tổng kết Nghị quyết số 18-NQ/TW, trong đó xác định rõ các nguyên tắc, phương án và định hướng sắp xếp phù hợp với đặc thù từng ngành, lĩnh vực và điều kiện thực tiễn của từng địa phương, nhằm bảo đảm tinh gọn bộ máy nhưng vẫn đáp ứng yêu cầu cung ứng dịch vụ sự nghiệp công.

Trong thời gian tới, Bộ Nội vụ sẽ tiếp tục tham mưu trình Chính phủ ban hành Nghị quyết về chương trình hành động thực hiện Kết luận số 210-KL/TW, trong đó sẽ xác định rõ định hướng, lộ trình sắp xếp đơn vị sự nghiệp công lập từ Trung ương đến địa phương cho phù hợp.

Đối với kiến nghị về quy hoạch mạng lưới đơn vị sự nghiệp công lập theo ngành, lĩnh vực và danh mục dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu, Bộ Nội vụ cho biết Nghị định số 283 đã xác định rõ trách nhiệm của bộ quản lý ngành, lĩnh vực về việc trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch mạng lưới, hoặc định hướng quy hoạch mạng lưới các đơn vị sự nghiệp công lập theo ngành, lĩnh vực và danh mục dịch vụ sự nghiệp công cơ bản thiết yếu theo ngành, lĩnh vực theo quy định của Luật Quy hoạch.

Đây là cơ sở để các bộ, ngành, địa phương chủ động sắp xếp đơn vị sự nghiệp công lập thuộc phạm vi quản lý, đáp ứng yêu cầu cung ứng dịch vụ sự nghiệp công trên địa bàn theo quy định của pháp luật. 

Về việc xếp hạng đơn vị sự nghiệp công lập, Bộ Nội vụ nêu rõ các bộ quản lý ngành, lĩnh vực có trách nhiệm ban hành thông tư hướng dẫn xếp hạng đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc lĩnh vực quản lý. 

Đối với các đơn vị sự nghiệp công lập cung ứng dịch vụ sự nghiệp công đa ngành, đa lĩnh vực, các Bộ, ngành, địa phương căn cứ hướng dẫn việc xếp hạng đơn vị sự nghiệp công lập theo từng lĩnh vực (nếu có) để quyết định xếp hạng, bảo đảm nguyên tắc công khai, minh bạch, tương quan và thuận lợi nhất đối với các đơn vị.

-Phúc Minh

Categories: The Latest News

Tuổi nghỉ hưu tiếp tục tăng trong năm 2026

Thu, 01/22/2026 - 15:29
Theo lộ trình tăng tuổi nghỉ hưu, năm 2026, lao động nam làm việc trong điều kiện lao động bình thường sẽ nghỉ hưu ở 61 tuổi 6 tháng (tăng 3 tháng so với năm 2025); đối với lao động nữ là 57 tuổi, tăng 4 tháng. Một số trường hợp đặc biệt, người lao động sẽ được nghỉ hưu sớm, song vẫn phải đảm bảo thời gian đóng bảo hiểm xã hội tối thiểu...

Bộ luật Lao động 2019 quy định tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường được điều chỉnh theo lộ trình, cho đến khi đủ 62 tuổi đối với lao động nam vào năm 2028, và đủ 60 tuổi đối với lao động nữ vào năm 2035.

CÁC TRƯỜNG HỢP ĐƯỢC NGHỈ HƯU SỚM SO VỚI QUY ĐỊNH

Bắt đầu từ năm 2021, tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường là đủ 60 tuổi 3 tháng đối với lao động nam và đủ 55 tuổi 4 tháng đối với lao động nữ. Sau đó, cứ mỗi năm tăng thêm 3 tháng đối với lao động nam và 4 tháng đối với lao động nữ.

Theo lộ trình này, năm 2026, lao động nam sẽ nghỉ hưu ở 61 tuổi 6 tháng, lao động nữ là 57 tuổi. Đây là độ tuổi nghỉ hưu trong điều kiện lao động bình thường. Ngoài ra, pháp luật cũng quy định một số trường hợp đặc biệt mà người lao động được nghỉ hưu ở độ tuổi thấp hơn so với điều kiện lao động bình thường, nhưng vẫn phải đảm bảo thời gian đóng bảo hiểm xã hội tối thiểu.

Đối với người lao động làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc làm việc tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn: Người lao động có tổng thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 15 năm trở lên khi làm các công việc này, hoặc làm việc tại các vùng đặc biệt khó khăn (bao gồm cả thời gian làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên trước ngày 1/1/2021) được nghỉ hưu ở độ tuổi thấp hơn so với quy định chung.

Tuổi nghỉ hưu trong trường hợp này có thể thấp hơn, nhưng không quá 5 tuổi so với tuổi nghỉ hưu trong điều kiện lao động bình thường tại thời điểm nghỉ hưu theo quy định.

Đối với người lao động làm công việc khai thác than trong hầm lò: Người lao động có từ đủ 15 năm trở lên làm công việc khai thác than trong hầm lò được nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn tối đa 10 tuổi so với tuổi nghỉ hưu trong điều kiện lao động bình thường. Các công việc cụ thể được quy định tại Phụ lục I Nghị định số 158/2025/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc.

Đối với sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công an nhân dân và một số đối tượng đặc thù khác: Các đối tượng này khi nghỉ việc, có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 15 năm trở lên có thể nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn tối đa 5 tuổi so với quy định chung, trừ khi có quy định khác trong các luật chuyên ngành.

Đối với người lao động bị nhiễm HIV/AIDS do tai nạn rủi ro nghề nghiệp: Người lao động thuộc trường hợp này được hưởng lương hưu khi có đủ thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 15 năm trở lên, mà không phụ thuộc vào điều kiện về tuổi.

Đối với người lao động bị suy giảm khả năng lao động: Người lao động bị suy giảm khả năng lao động cũng có thể được nghỉ hưu sớm, nhưng phải đáp ứng điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội dài hơn và mức lương hưu sẽ bị trừ tỷ lệ do nghỉ hưu trước tuổi. Mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi giảm 2%.

Về điều kiện hưởng, người lao động phải có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 20 năm trở lên. Các trường hợp cụ thể, quy định như sau: Nghỉ hưu sớm hơn tối đa 5 tuổi nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 61% đến dưới 81%; nghỉ hưu sớm hơn tối đa 10 tuổi nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên.

Người có từ đủ 15 năm trở lên làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên cũng được hưởng lương hưu với mức thấp hơn.

Lộ trình tăng tuổi nghỉ hưu. Nguồn: Nghị định số 135/2020/NĐ-CP của Chính phủ quy định về tuổi nghỉ hưu.

Bên cạnh đó, người lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao và một số trường hợp đặc biệt có thể nghỉ hưu ở tuổi cao hơn, nhưng không quá 5 tuổi so với quy định tại tại thời điểm nghỉ hưu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Theo đó, trường hợp này, người lao động có thể nghỉ hưu ở tuổi cao hơn khi thỏa thuận với người sử dụng lao động tiếp tục làm việc sau tuổi nghỉ hưu.

ĐIỀU KIỆN HƯỞNG LƯƠNG HƯU

Về điều kiện hưởng lương hưu, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 và các văn bản hướng dẫn đã có những quy định chi tiết về điều kiện hưởng lương hưu, áp dụng từ ngày 1/7/2025.

Điều kiện chung để hưởng lương hưu: Theo Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024, người lao động cần đáp ứng đồng thời hai điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội và độ tuổi nghỉ hưu để được hưởng lương hưu.

Về thời gian đóng bảo hiểm xã hội: Người lao động phải có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 15 năm trở lên. Đây là một thay đổi quan trọng so với quy định cũ (yêu cầu 20 năm), tạo điều kiện cho nhiều người lao động có thời gian tham gia bảo hiểm xã hội ngắn được tiếp cận với chế độ hưu trí. Đối với người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, thời gian đóng bảo hiểm xã hội yêu cầu cũng là từ đủ 15 năm trở lên.

Về độ tuổi nghỉ hưu: Tuổi nghỉ hưu được thực hiện theo lộ trình quy định tại Bộ luật Lao động năm 2019.

Mức lương hưu hằng tháng của người lao động được quy định như sau: Đối với lao động nữ bằng 45% mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội, tương ứng 15 năm đóng. Sau đó, cứ thêm mỗi năm đóng thì tính thêm 2%, mức tối đa bằng 75%.

Đối với lao động nam bằng 45% mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội, tương ứng 20 năm đóng. Sau đó, cứ thêm mỗi năm đóng thì tính thêm 2%. Mức tối đa cũng bằng 75%.

Trường hợp lao động nam có thời gian đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 15 năm đến dưới 20 năm, mức lương hưu hằng tháng bằng 40% mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội tương ứng 15 năm đóng, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng thì tính thêm 1%.

-Thu Hằng

Categories: The Latest News

Nâng cao năng lực cán bộ cơ sở yếu tố quyết định của giảm nghèo thông tin

Thu, 01/22/2026 - 15:29
Trong giảm nghèo thông tin, thì hạ tầng và nội dung truyền thông chỉ phát huy hiệu quả khi được vận hành bởi đội ngũ cán bộ cơ sở đủ năng lực. Và chính con người ở cấp xã, thôn bản mới là mắt xích quyết định để thông tin từ chính sách trở thành năng lực của người dân.

Dự án 6 “Truyền thông và giảm nghèo về thông tin” thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021–2025, cho thấy công tác truyền thông có vai trò quan trọng trong việc đưa chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đến gần hơn với người dân.

Đặc biệt sự lan tỏa thông tin ấy có thể biến thành hành động thực tế của các hộ nghèo, hộ cận nghèo… hay không là nhờ vào đội ngũ cán bộ cơ sở của xã, phường làm công tác truyền thông họ là người giúp dân nâng cao khả năng tiếp cận các chính sách phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương.

GIẢM NGHÈO THÔNG TIN KHÔNG CHỈ TRÔNG CHỜ VÀO HẠ TẦNG

Một trong những thuận lợi lớn của giai đoạn 2021–2025 là hạ tầng thông tin, viễn thông ở nhiều vùng khó khăn đã được cải thiện đáng kể. Hệ thống truyền thanh cơ sở, điểm bưu chính công cộng, các nền tảng truyền thông số từng bước được mở rộng. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Dự án 6 cho thấy, hạ tầng dù quan trọng nhưng không phải yếu tố quyết định duy nhất.

Ở nhiều địa phương, nơi nào đội ngũ cán bộ làm công tác thông tin cơ sở còn lúng túng, thiếu kỹ năng truyền thông, thiếu khả năng lựa chọn nội dung phù hợp, thì dù có thiết bị, hoạt động truyền thông vẫn khó tạo tác động thực chất. Thông tin có thể được phát đi, nhưng không đến đúng đối tượng, không đúng thời điểm, hoặc không gắn với nhu cầu cụ thể của người dân.

Giảm nghèo thông tin không phải là bài toán kỹ thuật thuần túy, mà là bài toán về năng lực tổ chức và con người. Nếu cán bộ cơ sở chỉ dừng lại ở việc “đọc chính sách”, “phát văn bản”, thì khó có thể giúp người dân hiểu, tin và sử dụng thông tin như một nguồn lực cho phát triển.

Internet đã đến được vùng cao.

Trong thực tiễn giảm nghèo thông tin, cán bộ cơ sở không chỉ là người truyền tải thông tin, mà còn đóng vai trò như một “bộ lọc” và “người phiên dịch” chính sách. Họ là những người trực tiếp chuyển các văn bản pháp lý, chủ trương lớn thành ngôn ngữ đời sống, phù hợp với trình độ, phong tục và nhu cầu của cộng đồng.

Thực tế tại nhiều địa phương cho thấy, nơi nào cán bộ xã, thôn bản được trang bị kỹ năng truyền thông, hiểu rõ đối tượng, thì giảm nghèo thông tin đạt hiệu quả rõ rệt hơn. Ở Quảng Ngãi, trong quá trình triển khai Dự án 6, địa phương đã tổ chức nhiều lớp tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng cho cán bộ làm công tác thông tin và truyền thông ở cơ sở. Nhờ đó, nội dung truyền thông không chỉ tập trung vào chính sách giảm nghèo, mà còn mở rộng sang lĩnh vực sinh kế, việc làm, pháp luật và kỹ năng sống.

Tại một số huyện miền núi, cán bộ cơ sở còn đóng vai trò cầu nối giữa chính quyền và người dân trong việc phản hồi thông tin. Những khó khăn, vướng mắc trong tiếp cận chính sách được ghi nhận và phản ánh kịp thời, giúp điều chỉnh cách thức truyền thông phù hợp hơn.

Ví dụ như UBND xã Ia Tơi ( Quảng Ngãi) tổ chức lớp tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng công nghệ thông tin năm 2025 cho cán bộ, công chức, viên chức và các thành viên Tổ công nghệ số cộng đồng trên địa bàn xã theo hình thức trực tiếp. Điều này cho thấy, năng lực của cán bộ cơ sở không chỉ ảnh hưởng đến “đầu ra” của thông tin, mà còn quyết định chất lượng tương tác hai chiều giữa chính sách và người dân.

CÁN BỘ CƠ SỞ ĐỦ NĂNG LỰC, THÔNG TIN MỚI GẮN VỚI SINH KẾ

Một điểm đáng chú ý trong triển khai Dự án 6 là xu hướng gắn truyền thông giảm nghèo với phát triển sinh kế và nâng cao năng lực tự thân của người dân. Tuy nhiên, để làm được điều này, vai trò của cán bộ cơ sở là không thể thay thế.

Ở những địa phương mà cán bộ được tập huấn bài bản, nội dung truyền thông không chỉ dừng ở việc phổ biến chính sách, mà hướng vào các vấn đề thiết thực như kỹ thuật sản xuất, mô hình kinh tế hiệu quả, thông tin thị trường lao động, đào tạo nghề và xuất khẩu lao động. Thông tin trở thành công cụ hỗ trợ người dân lựa chọn sinh kế, thay vì chỉ là “thông báo hành chính”.

Tại Hà Tĩnh, việc phối hợp giữa cán bộ thông tin cơ sở với các cơ quan báo chí để sản xuất sản phẩm truyền thông về làm ăn, khởi nghiệp, chăn nuôi đã giúp người dân tiếp cận tri thức mới, thay đổi tư duy sản xuất. Ở Quảng Trị, lực lượng làm công tác thông tin cơ sở, trong đó có sự tham gia của bộ đội biên phòng, đã góp phần đưa thông tin thiết yếu đến các bản làng biên giới, gắn truyền thông với ổn định đời sống và phát triển kinh tế.

Những ví dụ này cho thấy khi cán bộ cơ sở đủ năng lực, thông tin không chỉ giúp người dân “biết”, mà còn giúp họ “làm được”. Đây chính là giá trị cốt lõi của giảm nghèo thông tin trong tiếp cận giảm nghèo bền vững.

Dù đạt được nhiều kết quả tích cực, thực tiễn triển khai Dự án 6 cũng bộc lộ không ít hạn chế liên quan đến năng lực cán bộ cơ sở. Ở nhiều địa phương, cán bộ làm công tác thông tin thường kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ, quỹ thời gian dành cho truyền thông hạn chế. Trình độ và kỹ năng truyền thông giữa các địa bàn còn chênh lệch, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa.

Một số nơi, hoạt động tập huấn mới dừng ở việc truyền đạt nội dung chính sách, chưa chú trọng đầy đủ đến kỹ năng truyền thông, kỹ năng sử dụng công nghệ số hay phương pháp tiếp cận cộng đồng. Điều này khiến giảm nghèo thông tin có nguy cơ trở thành hoạt động mang tính hình thức, thiếu chiều sâu.

Thực tế cũng cho thấy nếu không có cơ chế hỗ trợ và khuyến khích phù hợp, cán bộ cơ sở khó toàn tâm toàn ý cho công tác truyền thông giảm nghèo. Đây là thách thức cần được nhìn nhận thẳng thắn trong quá trình tổng kết giai đoạn 2021–2025.

Từ những phân tích trên, có thể thấy nâng cao năng lực cán bộ cơ sở không chỉ là giải pháp kỹ thuật, mà là yêu cầu mang tính chiến lược đối với giảm nghèo thông tin. Trước hết, cần tiếp tục coi đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác thông tin cơ sở là một hợp phần quan trọng của chính sách giảm nghèo, không phải nhiệm vụ phụ trợ. Bên cạnh việc trang bị kiến thức chính sách, các chương trình tập huấn cần chú trọng kỹ năng truyền thông, kỹ năng số và khả năng làm việc với cộng đồng. Việc xây dựng đội ngũ cán bộ thông tin cơ sở có năng lực, am hiểu địa bàn và gắn bó với người dân sẽ quyết định tính bền vững của giảm nghèo thông tin.

Đồng thời, cần có cơ chế đánh giá hiệu quả giảm nghèo thông tin gắn với năng lực cán bộ, thay vì chỉ dựa trên số lượng sản phẩm truyền thông hay thiết bị được đầu tư. Khi hiệu quả được đo bằng mức độ người dân hiểu, sử dụng và hưởng lợi từ thông tin, vai trò của cán bộ cơ sở sẽ được nhìn nhận đúng mức hơn.

Trong bối cảnh chuyển đổi số và yêu cầu giảm nghèo bền vững ngày càng cao, đầu tư cho con người ở cấp cơ sở chính là đầu tư cho nền tảng của chính sách. Khi cán bộ cơ sở đủ năng lực, giảm nghèo thông tin sẽ không chỉ là một nhiệm vụ trong khuôn khổ dự án, mà trở thành động lực thúc đẩy người dân chủ động vươn lên, góp phần thực hiện mục tiêu giảm nghèo đa chiều một cách thực chất và lâu dài.

-Lý Hà

Categories: The Latest News

Khi di sản lên app, du lịch Ninh Bình thêm gần du khách

Thu, 01/22/2026 - 15:25
Từ ứng dụng du lịch thông minh Ninhbinhtourisminfo đến số hóa di sản, địa chỉ đỏ, Ninh Bình đang từng bước đưa chuyển đổi số trở thành “đòn bẩy mềm” cho du lịch, nâng cao trải nghiệm du khách và gia tăng giá trị kinh tế từ kho tàng văn hóa – thiên nhiên đặc sắc.

Cụ thể hóa chủ trương phát triển kinh tế số, xã hội số của tỉnh, đồng thời tìm lời giải cho bài toán quảng bá Di sản Tràng An và các danh thắng theo hướng hiện đại, tương tác, Sở Du lịch tỉnh Ninh Bình đã chỉ đạo Trung tâm Thông tin xúc tiến du lịch xây dựng và đưa vào vận hành ứng dụng du lịch thông minh Ninhbinhtourisminfo.

Không chỉ là một ứng dụng di động, Ninhbinhtourisminfo được xem như “cánh cửa số” mở ra hành trình khám phá Cố đô theo cách tiện lợi và linh hoạt hơn. Thay vì những cuốn cẩm nang dày, du khách chỉ cần một chiếc điện thoại thông minh để tra cứu thông tin, lên lịch trình và trải nghiệm Ninh Bình theo nhu cầu cá nhân.

Ứng dụng được thiết kế hiện đại, hoạt động ổn định trên cả hai nền tảng Android và iOS. Từ khi đưa vào sử dụng, Ninhbinhtourisminfo nhanh chóng trở thành người bạn đồng hành quen thuộc của nhiều du khách, đặc biệt là nhóm khách trẻ, khách tự túc.

MỘT CHẠM DU LỊCH, ĐA TẦNG TIỆN ÍCH

Điểm nổi bật của Ninhbinhtourisminfo là cách tổ chức nội dung khoa học, tích hợp nhiều tiện ích trong một nền tảng thống nhất. Ứng dụng cung cấp thông tin du lịch qua 7 chuyên mục cốt lõi gồm: Khám phá (gợi ý hành trình), tham quan (di tích, danh thắng), lưu trú, nhà hàng – ẩm thực, nổi bật (tour, sự kiện), tin tức và thời tiết. Nhờ đó, du khách dễ dàng tiếp cận bức tranh toàn diện về du lịch Ninh Bình chỉ trong vài thao tác.

Bản đồ số thông minh được coi là “trái tim” của ứng dụng. Không chỉ giúp định vị chính xác vị trí người dùng, bản đồ còn tích hợp dữ liệu của hàng trăm điểm đến, cơ sở lưu trú, ăn uống, mua sắm. Việc tìm đường, tìm nhà hàng đặc sản hay chỗ nghỉ phù hợp trở nên nhanh gọn, trực quan.

Ứng dụng du lịch Ninh Bình

Đáng chú ý, tính năng kiến tạo hành trình cá nhân hóa cho phép du khách tự xây dựng lịch trình tham quan dựa trên sở thích, thời gian và khoảng cách di chuyển. Ứng dụng sẽ gợi ý, sắp xếp các điểm đến hợp lý, giúp tối ưu hóa thời gian và nâng cao trải nghiệm trong suốt chuyến đi.

Song song đó, hệ thống chatbot hỗ trợ 24/7 được lập trình để trả lời các câu hỏi thường gặp, cung cấp thông tin về tour tuyến, sự kiện và kết nối tổng đài hỗ trợ khi cần thiết. Điều này giúp du khách luôn nhận được sự hỗ trợ kịp thời, ngay cả trong những tình huống phát sinh.

Thực tế cho thấy, công nghệ đang đóng vai trò “người dẫn đường” hiệu quả cho nhiều chuyến đi. Chị Bảo Trâm (Thanh Hóa) chia sẻ, sau khi xem các video quảng bá Ninh Bình trên fanpage và TikTok, chị đặc biệt ấn tượng với mùa lúa chín ở Tam Cốc, mùa bướm rừng Cúc Phương hay cảnh chim bay rợp trời tại Thung Nham. “Tôi tìm hiểu thêm thông tin trên Google, xem lưu ý theo mùa, đặt vé, đặt phòng trước nên khi đến Ninh Bình cảm thấy khá thoải mái, không bị bỡ ngỡ”, chị Trâm nói.

Thực tế cho thấy, việc ứng dụng khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số không chỉ thay đổi phương thức quản lý, quảng bá mà còn tác động trực tiếp đến đời sống, sinh kế của người dân, góp phần giảm nghèo và nâng cao thu nhập một cách bền vững. “Trước đây, gia đình tôi làm du lịch chủ yếu dựa vào khách quen và các đoàn nhỏ, lượng khách không ổn định. Từ khi được hướng dẫn quảng bá trên các nền tảng số về du lịch, như mạng xã hội và các ứng dụng đặt phòng, homestay của gia đình được nhiều du khách biết đến hơn. Khách tìm đến qua mạng ngày càng tăng, nhất là vào mùa cao điểm. Nhờ đó, thu nhập của gia đình cũng cải thiện rõ rệt, chúng tôi có điều kiện đầu tư thêm cơ sở vật chất và dịch vụ để phục vụ du khách tốt hơn,” một hộ làm du lịch phường Nam Hoa Lư chia sẻ.

SỐ HÓA DI SẢN, KÉO GẦN KHOẢNG CÁCH TRẢI NGHIỆM

Sau khi sáp nhập ba tỉnh Hà Nam, Nam Định và Ninh Bình, vùng đất Ninh Bình mới không chỉ mở rộng về không gian địa lý mà còn gia tăng chiều sâu văn hóa. Với gần 5.000 di tích đã được kiểm kê, trong đó có 8 Di tích quốc gia đặc biệt và 33 Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia, Ninh Bình hội tụ đầy đủ điều kiện để phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn, hướng tới năng lực cạnh tranh quốc tế.

Trong bối cảnh Cách mạng Công nghiệp 4.0 lan tỏa mạnh mẽ, chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa – di sản được xác định là hướng đi tất yếu. Việc số hóa không chỉ phục vụ công tác quản lý, bảo tồn mà còn giúp các giá trị di sản được lan tỏa rộng rãi hơn, đặc biệt tới thế hệ trẻ.

Ngành du lịch Ninh Bình tiếp tục đầu tư, nâng cấp hạ tầng, hệ thống thông tin và các nền tảng số nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, xúc tiến, quảng bá và hỗ trợ du khách

Tiêu biểu, thực hiện Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021 – 2030, Sở Văn hóa và Thể thao Ninh Bình đã triển khai xây dựng hệ thống quản lý thông tin, tạo lập cơ sở dữ liệu cho các hiện vật tiêu biểu tại Bảo tàng tỉnh. Nhờ ứng dụng công nghệ, du khách tham quan bảo tàng có thể tiếp cận hiện vật theo cách trực quan, sinh động thông qua các mũi tên chỉ dẫn trên màn hình và hệ thống thuyết minh đã được ghi âm, cài đặt sẵn.

Website của Bảo tàng Ninh Bình, triển khai từ năm 2022 theo chương trình chuyển đổi số của tỉnh, ghi nhận lượng truy cập ngày càng tăng. Nhiều hiện vật quý trước đây chỉ lưu trữ nay đã được số hóa, trình chiếu hoa văn, chi tiết tại Nhà trưng bày “Di sản văn hóa thời Đinh – Tiền Lê”, giúp du khách dễ dàng tiếp cận và tìm hiểu lịch sử.

Tại Quần thể danh thắng Tràng An – Di sản Văn hóa và Thiên nhiên thế giới, chuyển đổi số tiếp tục được đẩy mạnh. Các giá trị địa chất, thẩm mỹ và văn hóa của di sản được số hóa thành dữ liệu chi tiết, giới thiệu trên nền tảng số. Du khách chỉ cần quét mã QR để tra cứu thông tin, qua đó nâng cao trải nghiệm tham quan.

Cùng với ngành văn hóa, Tỉnh đoàn Ninh Bình đã triển khai mô hình “Số hóa các địa chỉ đỏ” tại phường Tây Hoa Lư. Việc gắn mã QR tại các di tích lịch sử, văn hóa giúp du khách tiếp cận thông tin đa chiều chỉ bằng một thao tác quét đơn giản trên điện thoại thông minh.

Thời gian tới, ngành du lịch Ninh Bình tiếp tục đầu tư, nâng cấp hạ tầng, hệ thống thông tin và các nền tảng số nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, xúc tiến, quảng bá và hỗ trợ du khách. Đồng thời, việc huy động lực lượng trẻ tham gia sáng tạo nội dung số cũng được chú trọng.

-Nguyễn Thuấn

Categories: The Latest News

Thúc đẩy chuyển đổi số trong hợp tác xã nông nghiệp

Thu, 01/22/2026 - 15:23
Những năm qua, các hợp tác xã nông nghiệp tại Việt Nam đã đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số vào sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản, nhằm tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả, qua đó giúp hàng ngàn nông dân vươn lên làm giàu một cách bền vững...

Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết đến thời điểm này đã có khoảng 2.600 trong số hơn 22.500 hợp tác xã nông nghiệp trên cả nước ứng dụng phần mềm và công nghệ số. 

Chuyển đổi số trong hợp tác xã nông nghiệp giúp giảm chi phí vận hành lên tới 30%, giảm chi phí vật tư phân bón từ 15-20%; đồng thời, tăng năng suất từ 15-28%. Có thể nói, chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ mới là chìa khóa quan trọng để giúp nông dân thoát nghèo vươn lên làm giàu bền vững. 

Tại Sơn La, Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp Ngọc Hoàng là một trong những đơn vị sớm nhận thấy vai trò của công nghệ trong quản lý sản xuất.

TỪ SỐ HÓA SẢN XUẤT ĐẾN NÂNG CAO GIÁ TRỊ SẢN PHẨM

Trước đây, việc ghi chép nhật ký canh tác chủ yếu thực hiện thủ công trên giấy, gây mất thời gian, khó kiểm soát và hạn chế khả năng truy xuất thông tin khi liên kết tiêu thụ hoặc xuất khẩu.

Khi mạnh dạn đầu tư và ứng dụng cổng thông tin egap.vn, hợp tác xã đã từng bước thay đổi cách thức quản lý. Chỉ với điện thoại thông minh có kết nối internet, các thành viên có thể cập nhật đầy đủ lịch sử canh tác, từ khâu làm đất, gieo trồng, bón phân, phòng trừ sâu bệnh đến thu hoạch. Toàn bộ dữ liệu được lưu trữ tập trung, giúp hợp tác xã dễ dàng theo dõi, kiểm soát và đáp ứng yêu cầu về truy xuất nguồn gốc.

Việc số hóa quy trình sản xuất không chỉ nâng cao hiệu quả quản lý nội bộ mà còn tạo sự minh bạch rõ ràng cho sản phẩm. Nhờ đó, các loại cây ăn quả chất lượng cao của Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp Ngọc Hoàng ngày càng được người tiêu dùng tin tưởng, dễ dàng tiếp cận các kênh phân phối hiện đại, từng bước nâng cao giá trị và mở rộng thị trường.

Nông nghiệp thông minh gói gọn trong một chiếc điện thoại

Không chỉ riêng Sơn La, tại Ninh Bình, nhiều hợp tác xã cũng đang từng bước tiếp cận chuyển đổi số theo hướng phù hợp với quy mô và nguồn lực.

TỪ NHẬN THỨC ĐẾN HÀNH ĐỘNG TỪNG BƯỚC

Hợp tác xã Riti đã triển khai một số phần mềm phục vụ quản lý sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Dù kỹ năng công nghệ thông tin của một bộ phận thành viên còn hạn chế, nhưng đây được xem là bước khởi đầu quan trọng, tạo nền tảng cho quá trình chuyển đổi sâu hơn trong thời gian tới.

Theo báo cáo đánh giá khoảng trống trong chuyển đổi số và kỹ năng số của các hợp tác xã tại Việt Nam thuộc dự án Youcool, phần lớn các hợp tác xã hiện đang ở giai đoạn đầu của quá trình chuyển đổi.

Tuy nhiên, việc có tới một nửa số hợp tác xã tham gia khảo sát đang triển khai chuyển đổi số cho thấy nhận thức về vai trò của công nghệ đã có những chuyển biến tích cực.

Bà Trần Thị Hòa, Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp Nhân Mỹ (Ninh Bình), cho biết các thành viên đều xác định chuyển đổi số là xu thế tất yếu để nâng cao hiệu quả quản lý và mở rộng thị trường tiêu thụ. Dù còn gặp khó khăn về tài chính và nhân lực, hợp tác xã vẫn lựa chọn cách làm từng bước, ưu tiên những nội dung thiết thực và dễ triển khai.

“Chúng tôi xác định không làm dàn trải mà lựa chọn những việc quan trọng trước, vừa làm vừa rút kinh nghiệm. Quan trọng nhất là thay đổi tư duy và dám tiếp cận công nghệ”, bà Hòa chia sẻ.

Một tín hiệu tích cực khác là nhiều hợp tác xã đã bắt đầu quan tâm hơn đến việc đào tạo, nâng cao kỹ năng số cho thành viên, đồng thời tìm cách thu hút lao động trẻ tham gia. Dù tỷ lệ lao động trẻ trong khu vực kinh tế hợp tác hiện nay còn thấp, song xu hướng trẻ hóa đang từng bước hình thành thông qua các mô hình sản xuất gắn với công nghệ và thị trường số.

Tại Đắk Lắk, Hợp tác xã Sản xuất – Dịch vụ – Du lịch chiếu cói An Cư cũng đang từng bước đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số trong quản lý, sản xuất và quảng bá sản phẩm.

Theo ông Nguyễn Anh Quân, Giám đốc hợp tác xã, việc ứng dụng các công cụ, nền tảng công nghệ số không chỉ giúp nâng cao hiệu quả quản lý, tiết giảm chi phí mà còn góp phần giới thiệu các sản phẩm thủ công truyền thống đến với đông đảo khách hàng hơn thông qua các kênh trực tuyến, từng bước mở rộng thị trường tiêu thụ.

Qua đó, hợp tác xã tạo thêm việc làm ổn định cho người dân địa phương, nâng cao thu nhập cho các hộ thành viên, góp phần giúp nhiều gia đình cải thiện đời sống và từng bước thoát nghèo.

Bên cạnh nỗ lực từ phía các hợp tác xã, sự đồng hành của các tổ chức hỗ trợ đang tạo thêm động lực cho quá trình chuyển đổi số. Ông Mai Quang Vinh, Chủ tịch Hội đồng quản trị Liên hiệp Hợp tác xã Kinh tế số Việt Nam, cho biết đơn vị này đã phối hợp với Viện Công nghệ xanh hỗ trợ một số hợp tác xã ứng dụng công nghệ và đạt được kết quả tích cực.

Điển hình như Hợp tác xã dược liệu Sóc Sơn (Hà Nội), đã áp dụng phần mềm quản lý chất lượng, đăng ký tiêu chuẩn sản xuất Nhật Bản JAS cho các sản phẩm chủ lực. Việc ứng dụng công nghệ giúp hợp tác xã kiểm soát chất lượng tốt hơn, nâng cao uy tín và từng bước khẳng định vị thế trên thị trường.

Theo các chuyên gia, chuyển đổi số đối với hợp tác xã không cần làm ồ ạt mà cần lựa chọn đúng trọng tâm. Những lĩnh vực như kế toán, nhật ký sản xuất điện tử, truy xuất nguồn gốc được xem là nền tảng cần ưu tiên, bởi chi phí đầu tư không quá lớn nhưng mang lại hiệu quả lâu dài.

-Nguyễn Thuấn

Categories: The Latest News

Nỗ lực nâng tầm thương hiệu sầu riêng Việt Nam

Thu, 01/22/2026 - 15:18
Sầu riêng là sản phẩm nông sản chủ đạo của các tỉnh như Lâm Đồng, thành phố Hồ Chí Minh... Những năm qua, nhiều tổ hợp tác nông nghiệp, các hộ dân tại các địa phương này đã thực hiện nhiều giải pháp chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ để góp phần nâng cao chất lượng loại nông sản đặc biệt này...

Sau sáp nhập, tỉnh Lâm Đồng có tổng diện tích trồng cây sầu riêng là gần 44.000 ha, diện tích thời kỳ kinh doanh là 22.058 ha, tổng sản lượng niên vụ 2025 ước đạt 266.700 tấn.

Trong đó, diện tích sầu riêng ứng dụng hệ thống tưới nước tiết kiệm đạt hơn 7.200 ha; chứng nhận an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP 1.015 ha; tỉnh Lâm Đồng đã công nhận vùng sản xuất sầu riêng ứng dụng công nghệ cao xã Đạ Huoai 2 với quy mô 300 ha.

Toàn tỉnh đã được cấp 337 mã số vùng trồng sầu riêng xuất khẩu với diện tích 13.127,83 ha và 53 mã số cơ sở đóng gói sầu riêng xuất khẩu với tổng diện tích nhà xưởng 134.971 m2. Các mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói sầu riêng đã được Tổng cục Hải quan Trung Quốc phê duyệt.

Lâm Đồng hiện có 133 doanh nghiệp, hợp tác xã thu mua sầu riêng phục vụ xuất khẩu qua thị trường chính là Trung Quốc; 47 chuỗi liên kết sản xuất tiêu thụ sản phẩm sầu riêng với 1.678 hộ tham gia, diện tích là 4.504,5 ha.

Tính đến nay, toàn tỉnh có 75 mã số vùng trồng sầu riêng đã ủy quyền cho 31 doanh nghiệp và 15 mã đóng gói ủy quyền cho 8 doanh nghiệp hoạt động đóng gói xuất khẩu sầu riêng.

Đặc biệt sau sáp nhập, Đạ Huoai 2 trở thành vùng đất “thủ phủ” của cây sầu riêng Lâm Đồng, tập trung phần lớn diện tích đã được cấp và sử dụng nhãn hiệu “Sầu riêng Đạ Huoai” với năng suất, chất lượng vượt trội.

UBND tỉnh Lâm Đồng cũng đã công nhận vùng sản xuất sầu riêng ứng dụng công nghệ cao xã Hà Lâm, huyện Đạ Huoai cũ (nay là xã Đạ Huoai 2) với quy mô 300ha.

Để ngành sầu riêng phát triển bền vững, Sở Nông nghiệp và Môi trường khuyến cáo người dân tuân thủ quy trình canh tác an toàn, giám sát, xử lý các loại sâu bệnh hại, kiểm soát chặt chẽ dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, kim loại nặng để đáp ứng yêu cầu của nước nhập khẩu.

Đối với cơ sở đóng gói thực hiện nghiêm quy trình đóng gói một chiều, truy xuất nguồn gốc, đầu tư trang bị để thực hiện các biện pháp kỹ thuật nhằm đáp ứng quy định của nước nhập khẩu, không sử dụng chất Vàng O trong sơ chế, bảo quản sản phẩm sầu riêng.

Đối với doanh nghiệp xuất khẩu cần tổ chức chuỗi liên kết sản xuất, lên kế hoạch thu mua và xuất khẩu, đồng hành với người dân để xây dựng chuỗi giá trị bền vững, không vì lợi trước mắt mà phá vỡ liên kết.

Tại sản xuất sầu riêng ứng dụng công nghệ cao của các xã Châu Đức, Ngãi Giao, Kim Long, Bình Giã, Nghĩa Thành, Xuân Sơn thành phố Hồ Chí Minh (trước đây là huyện Châu Đức tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu cũ) hàng trăm hộ dân cũng như các doanh nghiệp, hợp tác xã tại đây đã ứng dụng nhiều công nghệ mới, chuyển đổi số để quản lý, canh tác…

Hiện vùng sản xuất sầu riêng ứng dụng công nghệ cao tại đây có quy mô vùng 449,92 ha, với 467 hộ sản xuất kinh doanh sầu riêng của Hợp tác xã sầu riêng Liên Đức.

Các hộ dân, doanh nghiệp trồng, sản xuất sầu riêng tại đây đã tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm liên kết theo chuỗi giá trị sầu riêng trong vùng, tổ chức đầu mối là hai hợp tác xã gồm Hợp tác xã sầu riêng Liên Đức và Hợp tác xã sầu riêng 9 Bê.

Đặc biệt, việc đẩy mạnh chuyển đổi số, đưa dữ liệu vào quản trị nông nghiệp thay vì chỉ dựa trên kinh nghiệm truyền thống đã tạo ra điểm đột phá tại vùng này.

Các hộ nông dân trong hợp tác xã được tiếp cận với nhật ký sản xuất điện tử, cho phép số hóa toàn bộ quá trình chăm sóc từ khâu bón phân đến khi thu hoạch. Hệ thống này không chỉ giúp quản lý sản xuất đồng nhất mà còn là cơ sở để thiết lập hệ thống truy xuất nguồn gốc thông minh.

Thông qua tem xác thực điện tử trên từng sản phẩm, mọi thông tin về mã số vùng trồng, tiêu chuẩn VietGAP và lịch trình canh tác đều được hiển thị minh bạch, giúp việc xuất khẩu sầu riêng dễ dàng vượt qua các rào cản kỹ thuật để tiến sâu vào các thị trường quốc tế cao cấp.

Bên cạnh đó, việc ứng dụng các cảm biến IoT để theo dõi độ ẩm, dinh dưỡng đất và điều khiển hệ thống tưới tự động giúp tối ưu hóa chi phí vận hành, giảm lãng phí nguồn tài nguyên nước và phân bón. Đây là bước đi then chốt để hình thành một hệ sinh thái nông nghiệp số, nhằm nâng cao giá trị thương hiệu và năng lực cạnh tranh cho sầu riêng tại Bà Rịa - Vũng Tàu.

Về tiêu chuẩn chất lượng, vùng đã có 9,8 ha sản xuất đạt chứng nhận thực hành nông nghiệp tốt VietGAP; đặc biệt, hơn 32% diện tích đã được cấp mã số vùng trồng xuất khẩu sang Trung Quốc. Đáng chú ý, thương hiệu sầu riêng tươi của HTX 9 Bê đã khẳng định được vị thế với chứng nhận OCOP 3 sao.

So với phương thức truyền thống, mô hình thâm canh sầu riêng đã chứng minh ưu thế vượt trội khi nâng cao hiệu quả kinh tế và năng suất lên gấp 1,5 đến 2 lần so với sản xuất thông thường.

Để đạt được kết quả này, các hộ nông dân đã chuẩn hóa quy trình canh tác an toàn và bền vững, trọng tâm là việc triển khai đồng bộ hệ thống quản lý dinh dưỡng, dịch hại tổng hợp (ICM) cùng các giải pháp phòng trừ sâu bệnh chuyên sâu (IPM)...

-Bảo Châu

Categories: The Latest News

Luật Dầu khí (sửa đổi): Bộ Công thương đề xuất 5 nhóm chính sách lớn

Thu, 01/22/2026 - 15:10
Hoạt động dầu khí đã phát sinh một số vướng mắc, bất cập cần được xử lý. Với bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên mới, việc tiếp tục nâng tầm Luật Dầu khí năm 2022 đáp ứng yêu cầu mới là cần thiết...

Bộ Tư pháp vừa đăng tải hồ sơ để thẩm định dự án Luật Dầu khí (sửa đổi). Cơ quan chủ trì soạn thảo dự án luật là Bộ Công thương.

Theo dự thảo tờ trình, Luật Dầu khí năm 2022 có hiệu lực từ ngày 1/7/2023 được đánh giá là một trong những luật chuyên ngành tiến bộ với những cơ chế, chính sách đặc thù, phù hợp với thực tiễn hoạt động dầu khí tại Việt Nam.

Trong 3 năm, nhiều quyết định đã được thẩm định, phê duyệt/chấp thuận giúp cho ngành dầu khí phát triển nhanh và bền vững.

Tuy nhiên, bên cạnh đó, hoạt động dầu khí đã phát sinh một số vướng mắc, bất cập cần được xử lý. Với bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên mới, việc tiếp tục nâng tầm Luật Dầu khí năm 2022 đáp ứng yêu cầu mới là cần thiết.

Bộ Công thương xác định chính sách hướng tới mục tiêu chung là nâng cao tính khả thi của Luật Dầu khí và bảo đảm đồng bộ, thống nhất của hệ thống luật pháp; đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong các hoạt động dầu khí.

Đặc biệt là bảo đảm các quyền và lợi ích chính đáng của các nhà thầu, nhà đầu tư, tổ chức, cá nhân trong các hoạt động dầu khí. Tạo hành lang pháp lý thông thoáng, thuận lợi hơn đối với PVN, các doanh nghiệp ngành dầu khí, các nhà thầu, nhà đầu tư trong điều tra cơ bản về dầu khí và hoạt động dầu khí kỷ nguyên mới. Ngoài ra, thu hút đầu tư nước ngoài và tư nhân vào các hoạt động dầu khí.

Từ đó, Bộ Công thương đề xuất tập trung 5 nhóm chính sách lớn.

Chính sách 1 là hoàn thiện, đơn giản hóa thủ tục; tăng cường phân quyền trong thẩm định, phê duyệt các bước triển khai điều tra cơ bản về dầu khí và hoạt động dầu khí.

Chính sách 2 là bổ sung, hoàn thiện các quy định về hợp đồng dầu khí. Mục tiêu nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, bất cập mang tính đặc thù phát sinh trong thực tiễn hoạt động dầu khí tại Việt Nam; bổ sung các vấn đề mới phát sinh chưa được quy định trong pháp luật dầu khí hiện hành nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động dầu khí...

Chính sách 3 là bổ sung, hoàn thiện các quy định về ưu đãi đầu tư trong hoạt động dầu khí như sửa đổi, bổ sung quy định về ưu đãi đầu tư đối với mỏ cận biên; các dự án dầu khí áp dụng nâng cao hệ số thu hồi dầu; các hoạt động thu giữ và lưu trữ carbon…

Chính sách 4 là quy định cơ chế, chính sách phát triển chuỗi giá trị dầu khí, bao gồm dịch vụ dầu khí kỹ thuật cao và năng lượng ngoài khơi.

Chính sách 5 là quy định khung cho việc giảm phát thải khí nhà kính, thu giữ và lưu trữ carbon trong hoạt động dầu khí.

Theo tờ trình, mục tiêu của chính sách 5 nhằm tạo lập khung pháp lý để khuyến khích nhà thầu áp dụng các giải pháp kỹ thuật nhằm giảm phát thải khí nhà kính trong hoạt động dầu khí. Kết hợp hoạt động dầu khí và các hoạt động thu giữ, lưu trữ carbon. Tận dụng cơ sở hạ tầng sẵn có để nghiên cứu, đề xuất phương án sử dụng các mỏ dầu khí hoặc các cấu tạo địa chất có thể lưu giữ CO2.

Đồng thời có cơ chế phù hợp để khuyến khích thương mại hóa hoạt động thu giữ, lưu trữ carbon (mua bán tín chỉ carbon) trong quá trình triển khai hoạt động dầu khí theo quy định của hợp đồng dầu khí.

Chính sách hướng tới mục tiêu giảm ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu, tăng hiệu quả sử dụng năng lượng; góp phần hiện thực hóa cam kết của Việt Nam tại Hội nghị COP26 (phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050), nâng cao vị thế của Việt Nam trên thế giới.

-Đỗ Mến

Categories: The Latest News

Pages