Thời báo kinh tế Việt Nam

Subscribe to Thời báo kinh tế Việt Nam feed Thời báo kinh tế Việt Nam
VnEconomy - Góc nhìn toàn cảnh về nền kinh tế Việt Nam
Updated: 2 hours 45 min ago

Cộng đồng cư dân thật - yếu tố quyết định giá trị bất động sản dài hạn

Wed, 01/07/2026 - 16:04
Trong nhiều năm qua, thị trường bất động sản từng chứng kiến không ít dự án tăng giá mạnh nhờ “sóng”, nhờ thông tin quy hoạch, hạ tầng hoặc hiệu ứng đám đông. Tuy nhiên, khi chu kỳ thị trường bước vào giai đoạn sàng lọc sâu, những giá trị mang tính bền vững mới dần lộ diện. Một trong những yếu tố quan trọng nhưng ít được nhắc đến một cách đúng mức chính là cộng đồng cư dân thật – yếu tố âm thầm quyết định sức sống và giá trị dài hạn của dự án. KHI “GIÁ TỐT” VÀ “CHÍNH SÁCH TỐT” KHÔNG CÒN LÀ YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH

Thực tế cho thấy, trong giai đoạn thị trường trầm lắng, người mua không còn dễ bị thuyết phục bởi mức giá thấp hay các chương trình ưu đãi ngắn hạn. Thay vào đó, họ quan tâm nhiều hơn đến câu hỏi: Ai sẽ sinh sống ở đây? Dự án này có hình thành được đời sống đô thị thật hay không?

Không ít khu đô thị được quy hoạch bài bản, sở hữu quỹ đất lớn, nhưng sau nhiều năm vẫn vắng bóng cư dân sinh sống. Hệ quả là tiện ích không vận hành hiệu quả, dịch vụ xung quanh không phát triển, tính thanh khoản kém và giá trị tài sản khó tăng trưởng. Ngược lại, những dự án sớm có cư dân về ở, tiện ích được quy hoạch bài bản và hiện hữu lại duy trì được mặt bằng giá ổn định và tăng trưởng theo thời gian.

Có thể thấy, cộng đồng cư dân được xem là một dạng “tài sản vô hình”. Đó là tổng hòa của những người lựa chọn sinh sống lâu dài, cùng chia sẻ không gian sống, tiện ích và các giá trị chung. Khi cộng đồng hình thành, khu đô thị không còn là những dãy nhà đơn lẻ mà trở thành một thực thể sống – có nhịp sinh hoạt, có tương tác xã hội và có nhu cầu dịch vụ thực tế.

Chính cộng đồng cư dân là yếu tố kích hoạt chuỗi giá trị: Cư dân về ở → dịch vụ thương mại xuất hiện → tiện ích được khai thác → môi trường sống hoàn thiện → giá trị bất động sản được củng cố. Chuỗi giá trị này diễn ra tự nhiên và bền vững hơn bất kỳ chiến dịch quảng cáo nào.

Cộng đồng cư dân là yếu tố làm tăng giá trị cho Agora City.

Từ góc nhìn đầu tư, cộng đồng cư dân giúp bất động sản duy trì thanh khoản ổn định. Một dự án có người ở thật sẽ dễ mua bán, cho thuê và ít chịu tác động tiêu cực khi thị trường biến động. Đối với người mua ở thực, cộng đồng cư dân mang lại cảm giác an tâm: Con cái có môi trường sinh hoạt, tiện ích hoạt động đúng công năng, an ninh và chất lượng sống được đảm bảo.

Đặc biệt, trong dài hạn, những khu đô thị có cộng đồng cư dân ổn định thường hình thành “thương hiệu sống” – yếu tố giúp giá trị bất động sản tăng trưởng bền vững mà không phụ thuộc vào sóng ngắn hạn.

Hiện nay, dòng tiền trên thị trường đang có xu hướng quay về những khu vực có hạ tầng hiện hữu, pháp lý rõ ràng và khả năng khai thác thực tế. Trong đó, yếu tố cộng đồng cư dân ngày càng được xem là “bộ lọc” quan trọng.

Xu hướng giãn dân từ TP.HCM về các đô thị vệ tinh như Long An, Bình Dương, Đồng Nai cũng góp phần thúc đẩy nhu cầu ở thực. Người mua không chỉ tìm một nơi để đầu tư, mà còn tìm một không gian sống đủ rộng, đủ xanh và thuận tiện cho công việc.

AGORA CITY – KHU ĐÔ THỊ ĐÃ VÀ ĐANG HÌNH THÀNH CỘNG ĐỒNG CƯ DÂN THẬT

Tại Long An, Agora City được đánh giá là dự án hội tụ nhiều điều kiện để hình thành cộng đồng cư dân bền vững. Dự án tọa lạc tại ĐT 818, Khu phố 11, xã Thủ Thừa, khu vực có vị trí kết nối thuận tiện với TP.HCM thông qua cao tốc TP.HCM – Trung Lương. Thời gian di chuyển khoảng 20 phút giúp cư dân dễ dàng làm việc tại TP.HCM nhưng vẫn tận hưởng không gian sống thoáng đãng tại Agora City.

Đặc biệt, Agora City nằm ngay “lõi” thủ phủ công nghiệp mới Thủ Thừa” quy mô đến 4.800ha; bao quanh dự án là các khu công nghiệp hiện hữu: Thủ Thừa, Suntec (Việt Phát giai đoạn 1), Hoà Bình, khu công nghiệp IDICO… nơi sẽ đón hàng nghìn chuyên gia, người lao động đến làm việc, mở ra cơ hội khai thác thương mại, cho thuê, thanh khoản tốt và tiềm năng tăng giá bền vững.

Agora City nằm trong lõi thủ phủ công nghiệp mới của Thủ Thừa thu hút dòng người đến sinh sống và làm việc.

Một trong những điểm khác biệt của Agora City là định hướng phát triển không gian sống thay vì tối đa hóa mật độ xây dựng. Chủ đầu tư lựa chọn phân bổ quỹ đất cho mảng xanh, mặt nước, công viên và các không gian sinh hoạt cộng đồng, nhằm tạo môi trường sống cân bằng cho cư dân.

Việc tích hợp Trung tâm hành chính mới của Thủ Thừa với quy mô 5ha ngay trong khuôn viên dự án cũng mang ý nghĩa đặc biệt. Không chỉ gia tăng giá trị sử dụng thực tế, yếu tố này còn góp phần hình thành nhịp sống đô thị thường xuyên, tạo điều kiện để cư dân gắn bó lâu dài với khu vực.

Thực tế thị trường cho thấy, những khu đô thị có cộng đồng cư dân rõ nét thường ít chịu tác động tiêu cực trong các giai đoạn trầm lắng. Giá trị bất động sản tại đây không tăng trưởng đột biến, nhưng duy trì sự ổn định và có xu hướng tăng đều theo thời gian – đúng với kỳ vọng của những nhà đầu tư dài hạn và người mua ở thực.

Với lợi thế về kết nối, nguồn cầu ở thực từ khu công nghiệp, cùng định hướng quy hoạch lấy cư dân làm trung tâm, Agora City được kỳ vọng sẽ hình thành một cộng đồng cư dân bền vững tại Thủ Thừa. Đây chính là nền tảng giúp dự án duy trì sức sống và giá trị trong dài hạn, bất chấp những biến động ngắn hạn của thị trường.

-Khánh Huyền

Categories: The Latest News

Theo dòng chảy đầu tư 2026: Đông Nam TP.HCM bước vào thời kỳ tăng trưởng

Wed, 01/07/2026 - 16:03
Mỗi chu kỳ tăng trưởng bất động sản thường có một “độ trễ” ngắn, khi hạ tầng đã khởi sắc nhưng giá trị bất động sản chưa kịp phản ánh đầy đủ. Gold Coast Vũng Tàu đang ở đúng thời khắc “đắt giá” này – nơi lợi thế thuộc về những nhà đầu tư nhạy bén.THEO LỰC HÚT SIÊU ĐÔ THỊ, DÒNG TIỀN TÌM “ĐIỂM RƠI”

Sau quá trình sáp nhập, TP.HCM – trung tâm kinh tế hàng đầu cả nước – đang bước vào giai đoạn phát triển mới với mô hình siêu đô thị đa cực. Không gian được mở rộng rõ nét theo các cực chức năng: Lõi trung tâm cũ giữ vai trò trung tâm tài chính – dịch vụ quốc tế. Phía Bắc (Bình Dương cũ) là thủ phủ công nghiệp – công nghệ cao.Phía Nam và Đông Nam (Bà Rịa - Vũng Tàu cũ) trở thành cửa ngõ kinh tế biển, logistics và du lịch.

Việc “phân vai” này đã phần nào phản ánh trên bản đồ giá bất động sản. Mặt bằng giá tại các khu vực tăng trưởng của TP.HCM đang định hình ở mức cao: Khu trung tâm như Quận 1 – Thủ Đức: phổ biến 200–500 triệu đồng/m2. Thuận An – Thủ Dầu Một (Bình Dương cũ): 80–150 triệu đồng/m2. Khu vực Cần Giờ: khoảng 100–150 triệu đồng/m2. Vũng Tàu (cũ): 130–200 triệu đồng/m2.

Tại phía Đông Nam TP.HCM, dọc trục Vũng Tàu - Long Hải - Hồ Tràm - Đất Đỏ với gần 50 dự án lớn nhỏ, giá căn hộ đã tiệm cận 90–120 triệu đồng/m2, sản phẩm thấp tầng từ 150–200 triệu đồng/m2.

Trong bối cảnh đó, dòng tiền đầu tư có xu hướng dịch chuyển khỏi vùng giá cao để tìm kiếm khu vực còn dư địa tăng trưởng lớn, được hỗ trợ mạnh mẽ từ hạ tầng. Tại đó, siêu đô thị đảo Gold Coast Vũng Tàu nổi bật như một – tọa độ hút vốn mới, mở ra chu kỳ đầu tư tiềm năng ngay từ đầu năm 2026.

Khách hàng có thể sở hữu một căn nhà Gold Coast Vũng Tàu với vốn tự có chỉ từ 790 triệu đồng.

Dù sở hữu vị trí trung tâm cực kinh tế biển phía Đông Nam TP.HCM, Gold Coast Vũng Tàu nổi bật với mức giá chỉ từ 4x triệu đồng/m2 đất – “hàng hiếm” so với các đô thị biển khác: Quảng Ninh (120–200 triệu đồng/m2), Đà Nẵng (135–200 triệu đồng/m2), Khánh Hòa (85–120 triệu đồng/m2) hay Kiên Giang cũ (90–170 triệu đồng/m2).

Hơn nữa, sức hút của Gold Coast Vũng Tàu còn nằm ở khoảng cách lớn giữa mặt bằng giá hiện tại và tiềm năng khai thác thực tế. Dự án được ví như “cửa ngõ vàng” đón hơn 16 triệu lượt khách du lịch/năm đến vùng biển Vũng Tàu, kết hợp dòng khách từ sân bay quốc tế Long Thành (công suất 25 triệu lượt/năm giai đoạn 1). Với khí hậu ôn hòa, khai thác quanh năm và chỉ cách trung tâm TP.HCM khoảng 60 phút cao tốc, Gold Coast Vũng Tàu mở ra cơ hội đầu tư sinh lời bền vững.

Có thể nói, Gold Coast Vũng Tàu đang hội tụ đồng thời bốn “bệ phóng” tăng giá, giúp nhà đầu tư sinh lời ngay từ thời điểm ký kết: Sức bật từ quy hoạch hành chính - Hưởng lợi trực tiếp từ đầu tư hạ tầng - Dự án bước vào giai đoạn tăng tốc triển khai, khai thác -Mặt bằng giá đang ở điểm khởi đầu của chu kỳ.

Đây chính là nền tảng tạo dư địa tăng trưởng rõ nét, đã được kiểm chứng tại nhiều thị trường và dự án tiên phong.

Gold Coast Vũng Tàu sở hữu mức giá hấp dẫn cùng nhiều “bệ phóng” gia tăng giá trị. GOLD COAST VŨNG TÀU – ĐIỂM HỘI TỤ CỦA HAI QUỸ ĐẠO TĂNG GIÁ “KINH ĐIỂN”

Thực tiễn thị trường cho thấy bất động sản thường tăng giá theo hai quỹ đạo chính: Hưởng lợi từ hạ tầng đầu tư công hoặc tăng trưởng theo tiến độ hoàn thiện – khai thác của chính dự án.

Quảng Ninh là minh chứng điển hình cho quỹ đạo tăng giá nhờ hạ tầng. Năm 2012, giá đất Hạ Long chỉ 20-30 triệu đồng/m2. Sau khi cao tốc Hải Phòng – Hạ Long khởi công (2015) và hoàn thiện (2018), cùng toàn tuyến Hà Nội - Hạ Long thông xe (2022), giá đất đã tăng gấp 2-3 lần, đạt 120-200 triệu đồng/m2 hiện nay.

Về quỹ đạo tăng giá theo tiến độ dự án, Ecopark (Hưng Yên) là ví dụ tiêu biểu: từ 20-35 triệu đồng/m2 năm 2012 lên 150-350 triệu đồng/m2 sau hơn một thập kỷ hoàn thiện. Tương tự, Swan Bay (Đồng Nai) tăng từ 25–35 triệu đồng/m2 năm 2018 lên 70–120 triệu đồng/m2 năm 2025, đồng hành cùng hạ tầng và tiện ích.

Gold Coast Vũng Tàu nổi bật khi hội tụ cả hai động lực trên. Một mặt, dự án hưởng lợi trực tiếp từ mạng lưới hạ tầng hàng trăm tỷ đô: cao tốc Biên Hòa – Vũng Tàu và sân bay quốc tế Long Thành dự kiến khai thác từ 2026; metro Bến Thành - Cần Giờ cùng cầu vượt biển Cần Giờ hoàn thành trước 2030. Những công trình này không chỉ rút ngắn thời gian di chuyển mà còn thiết lập hành lang kết nối liền mạch, đặt nền móng cho mặt bằng giá mới.

Dự báo các nhịp tăng giá của Gold Coast Vũng Tàu từ nay đến năm 2030.

Song song đó là lộ trình hoàn thiện của chính Gold Coast Vũng Tàu. Giai đoạn 2025–2027 tập trung hoàn thiện trục giao thông chính, công viên chủ đề, khu Outlet và bàn giao phân khu đầu tiên. Từ 2028, khi tiện ích đồng bộ, cư dân và hoạt động kinh doanh hình thành rõ nét, giá trị dự án sẽ bước sang giai đoạn sinh lời bền vững.

Giới chuyên gia nhận định, năm 2025 chỉ là “dấu chân đầu tiên” trên biểu đồ tăng trưởng của Gold Coast Vũng Tàu. Bước sang chu kỳ 2026, dự án mang đến cơ hội đầu tư chiến lược – nơi giá trị tích lũy âm thầm trước khi bứt phá mạnh mẽ.

-Tuấn Sơn

Categories: The Latest News

Có thể dùng Sổ sức khỏe điện tử VNeID khi đi khám chữa bệnh

Wed, 01/07/2026 - 15:57
Theo Bộ Y tế, dữ liệu trong Sổ sức khỏe điện tử VNeID nếu đã được liên thông, tích hợp và hiển thị trên ứng dụng VNeID đủ điều kiện khai thác, sử dụng, và có giá trị pháp lý tương đương bản giấy trong thành phần hồ sơ thủ tục hành chính...

Ngày 6/1/2026, Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Tri Thức đã ký ban hành Quyết định số 31/QĐ-BYT về việc công bố dữ liệu, hướng dẫn khai thác, sử dụng dữ liệu Sổ sức khoẻ điện tử tích hợp trên VNeID thay thế sổ giấy trong giải quyết thủ tục hành chính.

Quyết định nêu rõ, dữ liệu trong Sổ sức khỏe điện tử VNeID đã được liên thông, tích hợp và hiển thị trên ứng dụng VNeID đủ điều kiện khai thác, sử dụng, và có giá trị pháp lý tương đương bản giấy trong thành phần hồ sơ thủ tục hành chính.

Các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và các cơ quan thực hiện thủ tục hành chính có yêu cầu giấy tờ tương đương không yêu cầu cá nhân, tổ chức cung cấp bản giấy nếu đã có đầy đủ thông tin trên VNeID.

Sổ sức khoẻ điện tử tích hợp trên VNeID được sử dụng để thay thế hoặc cắt giảm thành phần hồ sơ trong các thủ tục hành chính bằng việc khai thác, sử dụng dữ liệu tương ứng đã có trên ứng dụng VNeID.

Việc khai thác, sử dụng và chia sẻ dữ liệu phải tuân thủ đầy đủ quy định bảo đảm nguyên tắc bảo mật, an toàn thông tin và quyền riêng tư cá nhân của Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan.

Đồng thời, tuân thủ các quy định, hướng dẫn kỹ thuật về trao đổi dữ liệu và các nguyên tắc, quy định về quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số giữa các cơ quan thuộc hệ thống chính trị.

Dữ liệu Sổ sức khoẻ điện tử tích hợp trên ứng dụng VNeID, bao gồm các nhóm thông tin chi tiết như: Thông tin hành chính cá nhân; tiền sử dị ứng, bệnh tật và tiêm chủng; thông tin của từng đợt khám, chữa bệnh; và tóm tắt hồ sơ bệnh án. 

Thông tin từng đợt khám, chữa bệnh gồm cơ sở tiếp nhận, thời gian khám, nhập viện, ra viện, hình thức khám, lý do đến khám, tình trạng và kết quả điều trị, chẩn đoán khi ra viện, chỉ số lâm sàng, kết quả cận lâm sàng, thuốc đã sử dụng và các phẫu thuật, thủ thuật đã thực hiện. 

Tóm tắt hồ sơ bệnh án thể hiện tiền sử, diễn biến lâm sàng, kết quả cận lâm sàng có giá trị, phương pháp điều trị, hướng điều trị tiếp theo, đơn thuốc, lời dặn, lịch tái khám và thông tin bác sĩ điều trị.

Người bệnh hoặc người đại diện hợp pháp được quyền truy cập và tải về bản ghi chi tiết của từng đợt khám, chữa bệnh dưới định dạng tập tin PDF thông qua ứng dụng VNeID. Việc truy xuất thông tin này bảo đảm quyền được biết, được cung cấp, được chỉnh sửa thông tin theo quy định của Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025.

Bộ Y tế đề nghị các Bộ, ngành, địa phương và cơ sở khám chữa bệnh có trách nhiệm rà soát thủ tục hành chính, điều chỉnh hệ thống thông tin và thực hiện liên thông dữ liệu Sổ sức khỏe điện tử VNeID theo quy định pháp luật hiện hành.

Dữ liệu Sổ sức khoẻ điện tử tích hợp trên VNeID. Ảnh chụp màn hình.

Theo  TS. Hà Anh Đức, Phó Chủ tịch Hội đồng Y khoa Quốc gia, Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh, Quyết định này là bước tiến trong cải cách hành chính, liên thông dữ liệu, quy định việc công bố và cho phép khai thác, sử dụng dữ liệu Sổ sức khỏe điện tử tích hợp trên ứng dụng VNeID để thay thế các giấy tờ y tế tương đương trong thành phần hồ sơ thủ tục hành chính, với điều kiện dữ liệu đã được liên thông, tích hợp và hiển thị đầy đủ trên VNeID.

Quyết định không ban hành nội dung mới, mà xác định rõ phạm vi các nhóm thông tin y tế hiện có (thông tin hành chính, tiền sử, thông tin đợt khám chữa bệnh, tóm tắt hồ sơ bệnh án…) được phép sử dụng thay cho bản giấy. Đồng thời bảo đảm quyền truy cập, tải về và sử dụng dữ liệu của người bệnh theo quy định của pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân, tiến tới xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung.

Quyết định này có ý nghĩa quan trọng trong việc thể chế hóa nguyên tắc “dùng dữ liệu thay giấy tờ” trong lĩnh vực y tế, góp phần cắt giảm thủ tục hành chính, giảm gánh nặng hồ sơ cho người dân và cơ sở khám chữa bệnh, thúc đẩy liên thông và tái sử dụng dữ liệu y tế thống nhất trên phạm vi toàn quốc.

Đây là bước triển khai cụ thể chủ trương chuyển đổi số, xây dựng Chính phủ số và y tế số, lấy người dân làm trung tâm, đồng thời bảo đảm an toàn, bảo mật và quyền riêng tư đối với dữ liệu sức khỏe cá nhân.

-Thu Hằng

Categories: The Latest News

5 câu hỏi lớn về kinh tế Trung Quốc năm 2026

Wed, 01/07/2026 - 15:55
Trung Quốc đối mặt nhiều thách thức kinh tế trong nước cũng như áp lực từ căng thẳng thương mại quốc tế trong năm 2026...

Trung Quốc bước vào năm 2026 với thỏa thuận “đình chiến” thương mại với Mỹ đang có hiệu lực, nhưng áp lực bên ngoài có xu hướng gia tăng khi nhiều nước ở châu Âu và Mỹ Latin dọa áp thuế quan mới với hàng hóa từ quốc gia này...

Trong nước, dù thặng dư thương mại lập kỷ lục khoảng 1 nghìn tỷ USD, Bắc Kinh vẫn cam kết thúc đẩy nhu cầu tiêu dùng nội địa. Tuy nhiên, thị trường bất động sản suy yếu và tỷ lệ thất nghiệp ở người trẻ ở mức cao đang kìm hãm chi tiêu của hộ gia đình. Trong khi đó, đầu tư vào bất động sản, hạ tầng và chế biến - chế tạo được cho là sắp ghi nhận năm suy giảm đầu tiên trong 36 năm.

Dưới đây là 5 diễn biến đáng chú ý cần theo dõi với kinh tế Trung Quốc trong năm nay.

TRUNG QUỐC SẼ ĐẶT MỤC TIÊU TĂNG TRƯỞNG NĂM 2026 Ở MỨC NÀO?

Trung Quốc nhiều khả năng đã đạt được mục tiêu tăng trưởng GDP 5% trong năm 2025, vì tổng sản phẩm trong nước (GDP) của nước này tăng đạt mức tăng 5,2% trong 9 tháng đầu năm. Như vậy, 2025 là năm thứ ba liên tiếp Bắc Kinh đặt mục tiêu GDP tăng “khoảng 5%”.

Mục tiêu tăng trưởng cho năm 2026 sẽ được công bố tại kỳ họp Quốc hội vào tháng 3 tới. Nhiều nhà kinh tế dự báo Bắc Kinh sẽ giữ mốc 5%, nhưng kịch bản này vẫn chưa chắc chắn.

Theo ông Zhennan Li, nhà kinh tế cấp cao phụ trách châu Á tại công ty quản lý tài sản Pictet Wealth Management, Bắc Kinh có thể chọn khoảng 4,5-5%. Mức này vẫn đủ để nước này bám sát cam kết dài hạn là đến năm 2035, thu nhập bình quân đầu người tăng gấp đôi so với năm 2020.

Theo một khảo sát của tờ báo Nikkei Asia, các nhà kinh tế dự báo GDP thực của Trung Quốc tăng 4,5% trong năm 2026. Đây cũng là năm mở đầu Kế hoạch 5 năm lần thứ 15 - “đề cương” định hướng phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030 - của nước này.

Câu hỏi lớn nhất là liệu Bắc Kinh có thể chặn đà giảm của doanh số bất động sản - xu hướng mà các nhà phân tích dự báo sẽ còn tiếp diễn trong năm nay - hay không. 

Trong tháng 11, lượng nhà ở mới tồn kho trên thị trường nước này tăng lên mức kỷ lục. Một ước tính cho thấy nếu giữ nguyên tốc độ bán của tháng 11, thị trường cần khoảng 27,4 tháng - tức hơn 2 năm - để tiêu thụ hết tồn kho nhà ở mới.

Chỉ số niềm tin người tiêu dùng Trung Quốc tháng 10 ở mức 89, thấp hơn đáng kể so với ngưỡng 100 - mốc phân định giữa lạc quan và bi quan.

XUẤT KHẨU SẼ TIẾP TỤC TĂNG?

Bất chấp lo ngại về tác động từ thuế quan đối ứng của Tổng thống Mỹ Donald Trump, xuất khẩu vẫn là điểm tựa lớn của nền kinh tế Trung Quốc. Tính đến hết tháng 11/2025, kim ngạch xuất khẩu của nước này tăng 5,4% so với cùng kỳ năm trước. Nhập khẩu đi xuống càng khiến thặng dư thương mại trong 11 tháng phình to lên mức chưa từng thấy 1 nghìn tỷ USD.

Để bù phần xuất khẩu sang Mỹ suy yếu, Trung Quốc tăng tốc đẩy hàng sang các thị trường khác như châu Âu, Đông Nam Á và châu Phi. Điểm mạnh then chốt của Trung Quốc vẫn là lợi thế cạnh tranh về giá.

Chuyến thăm Trung Quốc dự kiến của ông Trump vào tháng 4 tới có thể giúp giảm bớt áp lực lên xuất khẩu của Trung Quốc sang Mỹ. Tuy nhiên, khả năng duy trì tăng trưởng của Trung Quốc vẫn phụ thuộc nhiều vào việc xử lý căng thẳng địa chính trị và thương mại đang lan rộng ở các thị trường khác.

Từ tháng 1/2026, Mexico áp thuế quan lên tới 50% đối với xe nhập khẩu từ Trung Quốc và các nước mà Mexico chưa có hiệp định thương mại.

Trong bài viết đăng trên tờ báo Financial Times vào tháng 12 năm ngoái, Tổng thống Pháp Emmanuel Macron cho rằng Trung Quốc cần xử lý các mất cân đối trong nước; nếu không, châu Âu sẽ buộc phải chuyển sang lập trường bảo hộ cứng rắn hơn.

Trong bối cảnh đó, nhiều chuyên gia nhận định triển vọng xuất khẩu của Trung Quốc vẫn khó đoán. Ngân hàng Goldman Sachs dự báo xuất khẩu thực của nước này có thể tăng 5-6% mỗi năm trong vài năm tới, trong khi ngân hàng J.P. Morgan cho rằng tăng trưởng xuất khẩu sẽ chậm lại từ năm 2026 do căng thẳng thương mại leo thang.

BẮC KINH SẼ ĐẨY NHANH THÚC ĐẨY TIÊU DÙNG NỘI ĐỊA?

Trung Quốc xác định kích cầu tiêu dùng là một ưu tiên lớn nhưng thị trường nhìn chung nhận định Bắc Kinh sẽ chưa triển khai chương trình kích thích quy mô lớn.

Tháng 12 năm ngoái, giới chức nước này tái khẳng định định hướng “chính sách tài khóa chủ động” và “chính sách tiền tệ nới lỏng ở mức vừa phải” cho năm 2026, với cách diễn đạt tương tự các thông điệp trong năm 2025. So với năm 2024, cụm từ về duy trì “mức thâm hụt ngân sách phù hợp” cũng mang sắc thái thận trọng hơn.

“Các nhà hoạch định chính sách hài lòng với tình hình hiện tại và chưa thấy cần phải cấp bách tăng cường kích thích”, ông Larry Hu, nhà kinh tế trưởng phụ trách Trung Quốc tại ngân hàng Macquarie, nhận xét trong một báo cáo công bố tháng trước.

Bộ Tài chính Trung Quốc cho biết sẽ dành 62,5 tỷ nhân dân tệ, tương đương 8,94 tỷ USD, từ nguồn phát hành trái phiếu kho bạc đặc biệt kỳ hạn siêu dài để kéo dài chương trình trợ cấp “đổi cũ lấy mới” cho hàng tiêu dùng. Quy đổi theo quy mô cả năm, ngân sách của chương trình vào khoảng 250 tỷ nhân dân tệ, thấp hơn mức 300 tỷ nhân dân tệ của năm 2025.

Giới phân tích đang chờ thêm các biện pháp kích thích chi tiêu cho dịch vụ, trong bối cảnh nhiều người tiêu dùng Trung Quốc đã sớm mua điện thoại thông minh và ô tô mới nhờ chương trình hiện hành.

Ngoài ra, Trung Quốc đã bắt đầu chi trợ cấp chăm sóc trẻ em, tối đa 3.600 nhân dân tệ mỗi năm, tương đương 515 USD - một động thái hiếm hoi khi chuyển tiền mặt trực tiếp cho các hộ gia đình. Các nhà kinh tế dự báo Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (PBOC) sẽ tiếp tục cắt giảm lãi suất trong năm nay.

BẮC KINH CÓ THỂ KÌM HÃM DƯ THỪA CÔNG SUẤT?

Năm 2025, Chính phủ Trung Quốc triển khai  chiến dịch chống cạnh tranh tiêu cực nhằm hạn chế cuộc đua hạ giá quá mức - yếu tố bị cho là đang làm trầm trọng thêm áp lực giảm phát của nền kinh tế. Dù chỉ số giá tiêu dùng (CPI) nhích lên trong tháng 11, chỉ số giá sản xuất (PPI) - phản ánh giá xuất xưởng tại cổng nhà máy - đã ở trong trạng thái suy giảm suốt hơn 3 năm qua.

Dù vậy, Bắc Kinh vẫn theo đuổi mục tiêu củng cố năng lực sản xuất. Gần đây, Ủy ban Cải cách và Phát triển Quốc gia Trung Quốc (NDRC) - cơ quan hoạch định kinh tế của Bắc Kinh - công bố thành lập 3 quỹ đầu tư với số vốn dự kiến khoảng 50 tỷ nhân dân tệ mỗi quỹ. Theo một quan chức cấp cao, các quỹ này sẽ tập trung rót vốn cho các doanh nghiệp công nghệ cao ở giai đoạn đầu phát triển ở những lĩnh vực như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học và năng lượng.

Các biện pháp trong chiến dịch chống cạnh tranh tiêu cực được dự báo sẽ nhắm vào những lĩnh vực đã xuất hiện dư thừa công suất, nhằm hạn chế tác động bất lợi đến tăng trưởng.

TRUNG QUỐC CÓ THỂ NGĂN CHẶN ĐÀ GIẢM ĐẦU TƯ?

Đầu tư tài sản cố định của Trung Quốc đang đứng trước nguy cơ giảm lần đầu tiên kể từ năm 1989, sau khi giảm 2,6% trong 11 tháng đầu năm 2025. Lực cản chủ yếu đến từ bất động sản, khi đầu tư vào lĩnh vực này giảm 16%.

Ở các lĩnh vực khác, đà tăng đầu tư vào chế tạo và hạ tầng cũng chậm lại. Trong tháng 11/2025, dư nợ cho vay bằng nhân dân tệ chỉ tăng 6,4% so với cùng kỳ năm trước, mức thấp kỷ lục, phản ánh nhu cầu tín dụng suy yếu.

Một số nhà kinh tế cho rằng số liệu đầu tư sụt giảm mạnh có thể liên quan đến việc điều chỉnh số liệu chưa được công bố. Dù vậy, tháng 12/2025, Bắc Kinh phát tín hiệu lo ngại khi cam kết ngăn chặn đà giảm đầu tư. Giới chức cho biết sẽ đẩy mạnh xây dựng hạ tầng phục vụ tiêu dùng như bãi đỗ xe và trạm sạc xe điện, đồng thời tăng đầu tư chăm sóc người cao tuổi và trẻ em.

-Ngọc Trang

Categories: The Latest News

Kinh tế Quảng Ninh bứt phá, tăng trưởng cao nhất cả nước

Wed, 01/07/2026 - 15:55
Sự bứt phá mạnh mẽ của dòng vốn đầu tư, đặc biệt là các dự án hạ tầng, đô thị và dịch vụ quy mô lớn, đang trở thành động lực trực tiếp đưa Quảng Ninh đạt tốc độ tăng trưởng GRDP cao nhất cả nước trong năm 2025 và tạo nền tảng cho mục tiêu tăng trưởng hai con số giai đoạn tới…

Năm 2025 được xem là dấu mốc nổi bật trong quá trình phát triển của Quảng Ninh khi tỉnh ghi nhận hàng loạt kỷ lục về tăng trưởng kinh tế, thu ngân sách và thu hút đầu tư. Đằng sau các con số tăng trưởng ấn tượng là sự chuyển động mạnh mẽ của đầu tư công và đầu tư tư nhân, với trọng tâm là hệ thống kết cấu hạ tầng, đô thị và các dự án động lực quy mô lớn, qua đó củng cố vai trò của Quảng Ninh như một cực tăng trưởng quan trọng ở phía Bắc.

ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG TRONG NĂM 2025

Theo báo cáo tổng kết năm 2025, tốc độ tăng trưởng GRDP của Quảng Ninh đạt 11,89%, cao nhất cả nước và cũng là mức cao nhất trong giai đoạn 2021–2025. Quy mô nền kinh tế của tỉnh ước đạt 368.445 tỷ đồng, GRDP bình quân đầu người đạt khoảng 10.402 USD. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, trong đó khu vực dịch vụ giữ vai trò trụ cột, công nghiệp – xây dựng tiếp tục là động lực quan trọng, còn nông, lâm, thủy sản duy trì tăng trưởng ổn định.

Trong bức tranh tăng trưởng chung, khu vực dịch vụ nổi lên rõ nét với vai trò dẫn dắt. Năm 2025, Quảng Ninh đón khoảng 21,28 triệu lượt khách du lịch, tăng 12% so với năm 2024; doanh thu du lịch đạt trên 57.000 tỷ đồng, tăng 22,46% và đóng góp trên 50% vào tăng trưởng GRDP. Du lịch tiếp tục khẳng định vị thế ngành kinh tế mũi nhọn, tạo hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ sang thương mại, vận tải, lưu trú, logistics và các dịch vụ phụ trợ.

Song song với dịch vụ, khu vực công nghiệp – xây dựng đạt mức tăng trưởng 10,58%, đóng góp 42,17% vào GRDP. Đáng chú ý, công nghiệp chế biến, chế tạo từng bước trở thành động lực tăng trưởng mới, gắn với chiến lược phát triển các khu công nghiệp, khu kinh tế và thu hút các dự án đầu tư có công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trường. Khu vực nông, lâm, thủy sản tăng trưởng 3,85%, vượt kế hoạch đề ra, góp phần bảo đảm an sinh xã hội và phát triển bền vững khu vực nông thôn.

Một điểm sáng nổi bật khác là thu ngân sách nhà nước. Năm 2025, tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt trên 82.000 tỷ đồng, bằng 149% dự toán Trung ương giao và 143% dự toán tỉnh giao, tăng 53% so với năm 2024. Trong đó, thu nội địa tăng mạnh, phản ánh sức khỏe và tính bền vững ngày càng cao của nền kinh tế địa phương.

Kết quả tăng trưởng tích cực này gắn chặt với sự cải thiện thực chất của môi trường đầu tư, kinh doanh. Toàn tỉnh có khoảng 2.300 doanh nghiệp thành lập mới, vượt 15% kế hoạch. Tổng vốn đầu tư trong nước ngoài ngân sách đạt 475.858 tỷ đồng, gấp 15,8 lần năm 2024; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ước đạt khoảng 1 tỷ USD, tiếp tục duy trì xu hướng tăng trưởng ổn định. Dòng vốn đầu tư có sự chuyển dịch rõ rệt sang các lĩnh vực có giá trị gia tăng cao như hạ tầng, đô thị, du lịch – dịch vụ, công nghiệp chế biến, chế tạo và logistics.

Năm 2025, Quảng Ninh đón khoảng 21,28 triệu lượt khách du lịch, tăng 12% so với năm 2024; doanh thu du lịch đạt trên 57.000 tỷ đồng, tăng 22,46% và đóng góp trên 50% vào tăng trưởng GRDP. 

Năm 2025 cũng ghi dấu bước chuyển mạnh mẽ về diện mạo đô thị và kết cấu hạ tầng. Với 96 dự án, công trình được khởi công và khánh thành, Quảng Ninh tiếp tục tạo ra các “cú huých” hạ tầng quan trọng. Đáng chú ý, tỉnh đã hoàn thành kế hoạch phát triển nhà ở xã hội năm 2025 với 2.464 căn, đạt 112% chỉ tiêu Thủ tướng Chính phủ giao; đồng thời dự kiến bố trí 49 vị trí phát triển nhà ở xã hội với trên 56.000 căn trong giai đoạn tiếp theo, thể hiện định hướng phát triển hài hòa giữa kinh tế và an sinh xã hội.

Trong dịp kỷ niệm 80 năm Quốc khánh 2/9, Quảng Ninh có 50 dự án, công trình với tổng vốn đầu tư hơn 135.000 tỷ đồng đủ điều kiện khánh thành, đưa vào khai thác hoặc khởi công. Riêng lễ khánh thành, khởi công các dự án, công trình chào mừng Quốc khánh ngày 19/8, tỉnh đã trao quyết định đầu tư cho 22 dự án vốn ngoài ngân sách với tổng vốn hơn 110.800 tỷ đồng, trải rộng trên các lĩnh vực công nghiệp, thương mại – dịch vụ, đô thị và nhà ở xã hội.

Tiếp đó, ngày 19/12, nhân kỷ niệm Ngày Toàn quốc kháng chiến và chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, Quảng Ninh tổ chức khởi công 26 dự án với tổng mức đầu tư khoảng 383.000 tỷ đồng, chiếm hơn 11% tổng số dự án khởi công của cả nước trong dịp này. Trong đó có hai “siêu dự án” thuộc nhóm lớn nhất cả nước gồm khu đô thị phức hợp Hạ Long Xanh với tổng vốn gần 18 tỷ USD và khu dịch vụ du lịch phức hợp cao cấp có casino với tổng vốn 2 tỷ USD. Các dự án này được kỳ vọng tạo ra không gian phát triển mới, gia tăng năng lực hạ tầng đô thị và dịch vụ của tỉnh trong dài hạn.

Theo Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh Bùi Văn Khắng, để đạt được những kết quả trên, tỉnh luôn quán triệt phương châm “rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm”, tập trung cao độ vào ba nhiệm vụ trọng tâm gồm: tăng nhanh tiến độ thu ngân sách, đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công gắn với hiệu quả sử dụng vốn và tiếp tục hoàn thiện chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh.

ĐỊNH HƯỚNG ĐỘT PHÁ HẠ TẦNG, TẠO DƯ ĐỊA TĂNG TRƯỞNG GIAI ĐOẠN 2026–2030

Bước sang năm 2026, Quảng Ninh xác định tiếp tục duy trì đà tăng trưởng cao, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026–2030. Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh Quản Minh Cường cho biết Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã xác định rõ các chỉ tiêu trọng tâm cho năm 2026 và giai đoạn tới, trong đó đặt mục tiêu tốc độ tăng trưởng GRDP đạt trên 12,5%, cao hơn mức bình quân 12%/năm theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI.

Theo định hướng, GRDP bình quân đầu người của Quảng Ninh phấn đấu đạt từ 11.800 USD trở lên; tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tiếp tục vượt dự toán Trung ương giao; tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong GRDP đạt trên 14%; tỷ trọng kinh tế số đạt trên 12%; đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân đạt từ 40% trở lên; mỗi năm thành lập mới trên 2.500 doanh nghiệp; tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng khoảng 12,5–13%.

Để hiện thực hóa các mục tiêu này, Quảng Ninh xác định khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh là các trụ cột chiến lược, đóng vai trò động lực then chốt cho phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh. Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh Bùi Văn Khắng nhấn mạnh tỉnh sẽ tiếp tục phát huy lợi thế về địa chính trị, con người và hạ tầng, hướng tới trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số hàng đầu khu vực phía Bắc.

Hệ thống Nhà máy ô tô Thành Công Việt Hưng được vận hành theo cơ chế tự động hóa, đáp ứng xu thế phát triển của ngành công nghiệp ô tô thế giới. Ảnh: Quảng Ninh Media Group

Theo đó, Quảng Ninh tập trung hoàn thiện cơ chế, chính sách đặc thù cho phát triển khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện, phát triển hạ tầng số hiện đại như cơ sở dữ liệu chuyên ngành, trung tâm dữ liệu, Trung tâm điều hành thông minh (IOC), hạ tầng 5G, IoT và điện toán đám mây phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành và cung cấp dịch vụ công chất lượng cao.

Song song với đó, tỉnh thúc đẩy nghiên cứu, ứng dụng các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), blockchain, tự động hóa, vật liệu mới và năng lượng tái tạo trong sản xuất công nghiệp, du lịch và nông nghiệp công nghệ cao. Công nghiệp tiếp tục được cơ cấu lại theo hướng hiện đại, ưu tiên các ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp mới nổi, công nghiệp chế biến, chế tạo xanh, sạch, công nghệ cao, năng lượng tái tạo và năng lượng mới.

Trong lĩnh vực hạ tầng, Quảng Ninh xác định tiếp tục tháo gỡ dứt điểm các điểm nghẽn trong giải ngân vốn đầu tư công, đồng thời thu hút tối đa các nguồn lực đầu tư ngoài ngân sách. Đối với công nghiệp, tỉnh tập trung hình thành các khu công nghiệp, cụm công nghiệp tập trung để thu hút các dự án đầu tư quy mô lớn; đẩy nhanh triển khai dự án điện khí LNG, hướng tới mục tiêu đưa Quảng Ninh trở thành trung tâm điện khí LNG lớn của cả nước.

Ở lĩnh vực dịch vụ – du lịch, tỉnh đẩy mạnh xúc tiến thương mại, đầu tư phát triển hạ tầng vận tải đa phương thức và dịch vụ logistics; sớm hoàn thành và triển khai Đề án thí điểm cửa khẩu thông minh tại Móng Cái; thúc đẩy Khu hợp tác ngành nghề qua biên giới Móng Cái – Đông Hưng; triển khai Đề án thí điểm cơ chế, chính sách đặc thù cho đặc khu kinh tế Vân Đồn; đồng thời tập trung hoàn thiện hạ tầng cảng biển và dịch vụ cảng biển tại các khu vực Vạn Ninh, Nam Tiền Phong, Bắc Tiền Phong và Đầm Nhà Mạc.

Du lịch Quảng Ninh được định hướng phát triển theo chiều sâu, đa dạng hóa sản phẩm, mở rộng thị trường quốc tế, gắn với bảo tồn và phát huy giá trị di sản, trọng tâm là Di sản thiên nhiên, văn hóa vịnh Hạ Long và khu di tích Yên Tử. Đây được xác định là những trụ cột quan trọng bảo đảm tăng trưởng ổn định và bền vững trong dài hạn.

Năm 2026 cũng là năm Quảng Ninh đẩy mạnh hiện đại hóa không gian phát triển thông qua hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông, hạ tầng khu kinh tế, khu công nghiệp, hạ tầng cảng biển, hạ tầng số, hạ tầng năng lượng, y tế, giáo dục và văn hóa. Đáng chú ý, tỉnh phối hợp sớm triển khai một số dự án đường sắt trọng điểm như tuyến đường sắt tốc độ cao Hà Nội – Hạ Long, tuyến Hải Phòng – Hạ Long và tuyến Hạ Long – Móng Cái, qua đó mở rộng không gian kết nối vùng và tạo dư địa tăng trưởng mới.

Cùng với đó, Quảng Ninh tập trung hoàn thành các dự án nâng cao chất lượng khu đô thị, khu dân cư hiện hữu, từng bước đáp ứng các tiêu chí, tiêu chuẩn của thành phố trực thuộc Trung ương, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững, hiện đại và có sức cạnh tranh cao trong khu vực.

-Tuấn Dũng

Categories: The Latest News

Du lịch xanh: Định hướng phát triển bền vững tại TP.Hồ Chí Minh và đồng bằng sông Cửu Long

Wed, 01/07/2026 - 15:54
Trong bối cảnh du lịch toàn cầu chuyển dịch mạnh mẽ sang các mô hình thân thiện với môi trường, gắn với bảo tồn tự nhiên và văn hoá bản địa, du lịch xanh đang nổi lên như một xu hướng trọng tâm tại Việt Nam. Tại TP.Hồ Chí Minh và vùng đồng bằng sông Cửu Long, du lịch xanh được xem như một hướng đi chiến lược giúp nâng cao chất lượng và tính bền vững cho ngành du lịch...

Đồng bằng sông Cửu Long sở hữu tài nguyên thiên nhiên đa dạng với hệ sinh thái sông ngòi, rừng ngập mặn, vườn cây trái và văn hóa miệt vườn đặc trưng. Đây là tiền đề thuận lợi để phát triển các mô hình du lịch xanh, du lịch nông nghiệp và du lịch cộng đồng. 

ĐA DẠNG MÔ HÌNH XANH TỪ NÔNG NGHIỆP ĐẾN CỘNG ĐỒNG

Theo báo cáo của Hiệp hội Du lịch đồng bằng sông Cửu Long, tổng doanh thu từ hoạt động du lịch trong 6 tháng đầu năm 2025 đạt khoảng 53.800 tỷ đồng (khoảng 2,1 tỷ USD), tăng khoảng 54,5 % so cùng kỳ năm 2024.

Tổng số lượt khách đến vùng trong 6 tháng đầu năm 2025 đạt trên 35,2 triệu lượt với hơn 2 triệu lượt khách quốc tế, tăng mạnh so cùng kỳ năm 2024. Doanh thu dịch vụ toàn vùng đạt trên 55.000 tỷ đồng; trong đó nhiều điểm du lịch xanh đóng góp đáng kể vào kết quả này.

Còn TP.Hồ Chí Minh, trong 6 tháng đầu năm 2025 đã thu hút hơn 3,8 triệu lượt khách quốc tế, tăng 44% so cùng kỳ năm ngoái, và hơn 18 triệu lượt khách nội địa, tăng 7%. Doanh thu đạt gần 118 ngàn tỷ đồng (khoảng 4,5 tỷ USD), tăng 27,3% so với năm 2024. Điều này cho thấy tiềm năng lớn để đưa du lịch xanh trở thành sản phẩm chủ lực gắn với tăng trưởng bền vững.

Ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, một trong những mô hình nổi bật là du lịch thuận thiên tại Cồn Chim (tỉnh Trà Vinh cũ, nay là Vĩnh Long), nơi người dân kết hợp nông nghiệp hữu cơ với trải nghiệm du lịch sinh thái. Tại đây, cuộc sống và sản xuất nông nghiệp hòa quyện với những hoạt động trải nghiệm như thu hoạch mật hoa dừa, đi bộ sinh thái hay đạp xe tham quan vườn cây… tạo nên sản phẩm hấp dẫn du khách mà vẫn bảo vệ môi trường.

Ông Lâm Hữu Phúc, Phó giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Vĩnh Long, thông tin: địa phương đã triển khai Bộ tiêu chí du lịch xanh nhằm thúc đẩy sản phẩm du lịch gắn với bảo vệ môi trường, phát huy văn hóa bản địa và thu hút đầu tư.

Tại thành phố Cần Thơ, nhiều cơ sở lưu trú tiên phong áp dụng tiêu chí xanh, duy trì khoảng 80% không gian xanh, sử dụng vật liệu tái chế và tổ chức các hoạt động thu gom rác nhằm cải thiện môi trường sông rạch hằng tháng…

Bà Võ Xuân Thư, Giám đốc Victoria Cần Thơ Resort, cho biết hệ thống khách sạn đã đạt Chứng nhận Vàng về du lịch bền vững của Travelife (chứng nhận quốc tế về phát triển du lịch xanh bền vững - NV). “Việc có các chứng nhận xanh trong hoạt động du lịch sẽ giúp các đơn vị nâng cao trách nhiệm và giúp nhận diện thương hiệu tốt hơn, nhất là ở thị trường quốc tế”, bà Thư nói.

Mặc dù vậy, nhiều chuyên gia du lịch cho rằng mô hình du lịch xanh ở đồng bằng sông Cửu Long vẫn chưa được chuẩn hóa và định vị thương hiệu chung để có thể cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Theo bà Lê Đình Minh Thy, Giám đốc Vietravel Cần Thơ, cần có tiêu chí riêng cho du lịch xanh đồng bằng sông Cửu Long để doanh nghiệp sẵn sàng tham gia sâu hơn và thúc đẩy phát triển bền vững khu vực.

TP.HỒ CHÍ MINH LIÊN KẾT SẢN PHẨM XANH TOÀN VÙNG

TP.Hồ Chí Minh với vai trò là trung tâm du lịch của phía Nam, đang chủ động liên kết với các tỉnh, thành đồng bằng sông Cửu Long nhằm thúc đẩy phát triển các sản phẩm du lịch xanh, đặc biệt là du lịch đường sông và du lịch sinh thái, du lịch nông nghiệp.

Chương trình hợp tác liên vùng này không chỉ nhằm mở rộng cơ hội kinh doanh, mà còn tăng cường khả năng chuẩn hóa, quảng bá và kết nối thị trường cho các sản phẩm.

Du khách tham quan bãi bồi Mũi Cà Mau. Ảnh: Kim Há

Bà Nguyễn Thị Ánh Hoa, Giám đốc Sở Du lịch TP.Hồ Chí Minh, nhấn mạnh rằng liên kết giữa đô thị lớn và vùng đồng bằng sông Cửu Long cần tập trung vào xây dựng sản phẩm du lịch xanh gắn với nhận diện văn hóa đặc trưng và bảo tồn môi trường tự nhiên, đồng thời sử dụng công nghệ số như bản đồ thông minh 3D nhằm hỗ trợ quảng bá và quản lý điểm đến.

Thực tế, TP.Hồ Chí Minh đã và đang giới thiệu nhiều tuyến du lịch xanh hấp dẫn, như các tour du lịch đường sông từ trung tâm thành phố đến các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, tham quan hệ sinh thái rừng ngập mặn Cần Giờ - khu dự trữ sinh quyển được UNESCO công nhận, hay trải nghiệm nông nghiệp tại các vườn trái cây lân cận. Những sản phẩm này thu hút cả du khách nội địa và quốc tế, nhất là những nhóm khách tìm kiếm trải nghiệm thiên nhiên, hoạt động ngoài trời và gắn kết với cộng đồng địa phương.

THÁCH THỨC VÀ ĐỊNH HƯỚNG TƯƠNG LAI CHO DU LỊCH XANH

Một trong những thách thức lớn đối với du lịch xanh ở đồng bằng sông Cửu Long là ảnh hưởng của biến đổi khí hậu gồm xâm nhập mặn, sụt lún đất và thời tiết cực đoan.

Theo TS. Đoàn Mạnh Cương, Giảng viên Trường Đại học Nguyễn Tất Thành (TP.Hồ Chí Minh), các yếu tố này đang ảnh hưởng trực tiếp đến một số điểm du lịch sinh thái vùng sông nước, yêu cầu các sản phẩm du lịch phải thích ứng với thay đổi môi trường và bảo vệ cảnh quan tự nhiên. Ông Cương cho rằng tình trạng nước biển dâng, xâm nhập mặn và thời tiết cực đoan ảnh hưởng trực tiếp đến nhiều điểm du lịch.

Theo một báo cáo gần đây của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, xâm nhập mặn và sụt lún đất tại đồng bằng sông Cửu Long đã làm giảm khoảng 30% diện tích đất canh tác, rừng ngập mặn trong vòng 10 năm trở lại đây, ảnh hưởng đến các tour du lịch sinh thái...

Để nâng cao hiệu quả phát triển du lịch xanh, nhiều chuyên gia đề xuất cần hình thành các tiêu chí xanh chuẩn hóa trong toàn quốc. Ông Phùng Quang Thắng, Chủ tịch Liên chi hội Du lịch Xanh Việt Nam đánh giá rằng việc chuẩn hóa tiêu chí không chỉ nâng cao chất lượng dịch vụ và tính cạnh tranh, mà còn tạo điều kiện để thu hút nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài và thị trường quốc tế.

Chủ tịch Hiệp hội Du lịch Việt Nam Vũ Thế Bình cũng nhấn mạnh xu hướng du lịch xanh đang thay đổi rõ rệt và du khách sẵn sàng chi trả cao hơn cho trải nghiệm bền vững và an toàn môi trường. "Đồng bằng sông Cửu Long có tiềm năng chuyển đổi xanh lớn bởi tài nguyên nơi đây rất đa dạng. Các doanh nghiệp tại đây nói riêng và Việt Nam nói chung, đều chủ động làm du lịch xanh. Các điểm đến mà chúng tôi khảo sát gần như đạt tỷ lệ 70 - 80% chuyển đổi xanh. Đây là những tín hiệu rất đáng mừng”, ông cho biết.

-Anh Khuê

Categories: The Latest News

Thúc đẩy kinh tế báo chí, xây dựng nền báo chí chuyên nghiệp, nhân văn, hiện đại

Wed, 01/07/2026 - 15:45
Luật Báo chí năm 2025 bổ sung nhiều quy định mới, nhằm hướng tới mục tiêu xây dựng nền báo chí chuyên nghiệp, nhân văn và hiện đại; thúc đẩy kinh tế báo chí.

Sáng 7/1, Văn phòng Chủ tịch nước tổ chức họp báo công bố lệnh của Chủ tịch nước về 12 luật đã được Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV thông qua.

QUY ĐỊNH “CƠ QUÁN BÁO CHÍ CHỦ LỰC ĐA PHƯƠNG TIỆN”

Thứ trưởng Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch Trịnh Thị Thủy cho biết Luật Báo chí năm 2025 gồm 4 chương, 51 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2026.

Luật bổ sung quy định về vị trí của báo chí; quyền yêu cầu cải chính trên báo chí của công dân… Đặc biệt, luật bổ sung quy định các nguyên tắc về mô hình hoạt động, kinh tế báo chí, mở rộng không gian hoạt động của báo chí để phát triển báo chí trong bối cảnh sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị; đáp ứng yêu cầu thông tin, tuyên truyền trong kỷ nguyên mới.

Theo đó, “cơ quan báo chí chủ lực đa phương tiện” có nhiều loại hình báo chí, cơ quan báo chí trực thuộc; có cơ chế đặc thù về tài chính; được thành lập phù hợp với Chiến lược phát triển và quản lý hệ thông báo chí được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Còn “cơ quan báo và phát thanh, truyền hình thuộc tỉnh ủy, thành ủy”, có nhiều loại hình báo chí, sản phẩm báo chí.

Luật bổ sung quy định về nguồn thu mới của cơ quan báo chí; quy định các phương thức Nhà nước giao nhiệm vụ, đặt hàng, đấu thầu và hỗ trợ cước vận chuyển, chi phí đăng tải, truyền dẫn, phát sóng để báo chí phục vụ nhiệm vụ chính trị, an ninh, quốc phòng, văn hóa, truyền thông chính sách…

Bên cạnh đó, luật sửa đổi quy định tên gọi 4 loại hình báo chí (gồm: báo chí in, báo chí điện từ, phát thanh, truyền hình). Bổ sung các khái niệm tạp chí để phân biệt rõ báo, tạp chí; xuất bản báo chí trên không gian mạng... Bổ sung điều kiện xét cấp thẻ nhà báo lần đầu phải qua lớp bồi dưỡng nghiệp vụ báo chí, đạo đức nghề nghiệp.

TRIỂN KHAI CÁC GIẢI PHÁP QUYẾT LIỆT ĐỂ "NẮN DÒNG" QUẢNG CÁO

Tại họp báo, ông Lê Văn Hiếu, Phó Cục trưởng Cục Báo chí (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), cho biết việc sửa đổi luật lần này nhằm hướng tới mục tiêu xây dựng nền báo chí chuyên nghiệp, nhân văn và hiện đại; thúc đẩy kinh tế báo chí.

Luật Báo chí sửa đổi quy định rõ các hình thức Nhà nước đặt hàng, giao nhiệm vụ và đấu thầu để cơ quan báo chí thực hiện nhiệm vụ chính trị, tuyên truyền thiết yếu, truyền thông chính sách và thông tin đối ngoại.

Ngoài ra, thay vì chỉ giới hạn ở tên miền hay bản in như trước đây, luật đã công nhận các tài khoản, kênh nội dung của cơ quan báo chí trên mạng xã hội là sản phẩm báo chí, tạo cơ sở pháp lý để thực hiện cơ chế đặt hàng đối với loại hình này.

Đặc biệt, Điều 29 quy định cơ quan báo chí được phép tích hợp các dịch vụ công, thương mại điện tử, tài chính, giáo dục, y tế trên không gian mạng. Quy định này nhằm tạo cơ chế minh bạch giúp các tòa soạn đa dạng hóa và phát triển nguồn thu hợp pháp.

Theo Phó Cục trưởng Cục Báo chí, vấn đề bảo vệ bản quyền trên không gian mạng sẽ được triển khai quyết liệt hơn. Hiện nay, trên các nền tảng xuyên biên giới, dòng tiền quảng cáo có thể đang “chảy “vào cả những nội dung hoặc kênh vi phạm.

“Do đó, chúng tôi sẽ sử dụng các biện pháp kỹ thuật để nắn dòng quảng cáo này đưa một phần nguồn thu về cho các cơ quan báo chí chính thống", ông Lê Văn Hiếu cho biết thêm.

Theo ông Lê Văn Hiếu, cơ quan quản lý sẽ tiếp tục làm việc với Bộ Tài chính để điều chỉnh các chính sách về thuế và quảng cáo nhằm tạo điều kiện tốt hơn cho báo chí.

Liên quan đến liên kết sản xuất nội dung, đại diện Cục Báo chí cho biết Điều 23 quy định cơ quan báo chí hợp tác với các đối tác nhằm huy động nguồn lực xã hội hóa, nâng cao chất lượng sản phẩm phục vụ bạn đọc.

Hoạt động liên kết được thực hiện ở hầu hết các lĩnh vực, trừ nội dung về chính trị - xã hội, quốc phòng - an ninh và đối ngoại. Nguyên tắc là người đứng đầu cơ quan báo chí phải chịu trách nhiệm về nội dung.

Ông Lê Văn Hiếu cũng cho biết Chính phủ sẽ sớm ban hành Nghị định hướng dẫn chi tiết về điều kiện, hình thức cũng như quyền và nghĩa vụ các bên, đảm bảo hoạt động liên kết vừa hiệu quả, vừa tuân thủ đúng tôn chỉ, mục đích.

-Đỗ Mến

Categories: The Latest News

Vì sao thuế quan không khiến lạm phát ở Mỹ tăng mạnh?

Wed, 01/07/2026 - 15:42
Khi Tổng thống Donald Trump bắt đầu áp thuế quan mạnh tay lên hàng hóa nhập khẩu sau khi nhậm chức nhiệm kỳ thứ hai, nhiều nhà kinh tế đã dự báo lạm phát ở Mỹ sẽ tăng mạnh...

Song trên thực tế, dự báo đó đã không trở thành hiện thực, ít nhất là cho tới thời điểm này.

Nguyên nhân vì sao thuế quan không khiến lạm phát ở Mỹ leo thang đã được làm rõ qua hai nghiên cứu mới đây, một từ Cục Dự trữ Liên bang (Fed) chi nhánh San Francisco và một từ Đại học Northwestern.

Theo tờ báo Wall Street Journal, nghiên cứu của các nhà kinh tế tại Fed San Francisco đã phân tích dữ liệu từ năm 1886 đến 2017 và phát hiện thấy rằng các đợt tăng thuế quan trước đây thường không dẫn đến lạm phát cao hơn.

Ngược lại, nghiên cứu cho thấy thuế quan thường làm chậm lại tốc độ tăng giá. Cụ thể, mức tăng 1 điểm phần trăm trong thuế quan thường đi kèm với mức giảm 0,6 điểm phần trăm trong lạm phát. Như vậy, theo nghiên cứu này, thay vì đẩy giá cả lên cao, thuế quan có thể tạo ra một hiệu ứng ngược lại, làm giảm tốc độ tăng giá.

Một nghiên cứu khác từ Đại học Northwestern, dựa trên dữ liệu từ năm 1840 đến năm 2024, cũng cho thấy rằng lạm phát có tăng sau khi thuế quan tăng, nhưng mức tăng này rất nhỏ. Nguyên nhân chính được cho là do chi phí nhập khẩu tăng lên đã được bù đắp bởi sự giảm sút trong nhu cầu tiêu dùng và kinh doanh, khi hoạt động nhập khẩu và xuất khẩu đều giảm và hoạt động sản xuất bị thu hẹp.

Nói cách khác, một trong những lý do chính khiến thuế quan không gây ra lạm phát mạnh là do tác động tiêu cực của thuế quan đối với nền kinh tế - hai nghiên cứu kết luận.

Việc áp thuế quan dẫn tới sự bất định trong kinh tế, ảnh hưởng đến cả doanh nghiệp và người tiêu dùng. Khi nền kinh tế tăng trưởng chậm lại, nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ giảm, từ đó làm giảm áp lực tăng giá. Tác động tiêu cực của thuế quan cũng được thể hiện qua việc tỷ lệ thất nghiệp tăng lên khi thuế quan tăng, cho thấy sự bấp bênh kinh tế làm giảm nhu cầu lao động.

Thực tế ở Mỹ, lạm phát có tăng lên kể từ tháng 4 năm ngoái - thời điểm ông Trump công bố kế hoạch thuế quan đối ứng - và đang ở ngưỡng khoảng 3%, cao hơn nhiều so với mục tiêu 2% của Fed, nhưng mức tăng chậm và nhỏ giọt. Tốc độ tăng trưởng việc làm trong nền kinh tế chậm lại và tốc độ thất nghiệp tăng, song nền kinh tế vẫn giữ nhịp tăng trưởng. Ngoài ra, dự báo của chính quyền ông Trump về một sự phục hưng trong nền sản xuất của Mỹ vẫn chưa trở thành hiện thực.

Một số nhà kinh tế cho rằng tác động của thuế quan lên lạm phát ở Mỹ có thể sẽ lớn hơn trong tương lai khi các công ty dần dần tăng giá. Tuy nhiên, một số khác lại chỉ ra rằng mức thuế thực tế mà các công ty phải trả thấp hơn so với con số công bố, nhờ vào các lỗ hổng và miễn trừ trong chính sách thuế. Một nghiên cứu mới từ các nhà kinh tế tại Harvard và Đại học Chicago cho thấy rằng mức thuế quan bình quân có hiệu lực thực tế chỉ là 14,1% tại thời điểm cuối tháng 9, thấp hơn nhiều so với con số công bố là 27,4%.

Mặc dù các mức thuế quan cao không gây ra lạm phát mạnh, vẫn có những tác động tiêu cực đến nền kinh tế. Từ khi các mức thuế mới này có hiệu lực, tăng trưởng kinh tế Mỹ vẫn duy trì ở mức lành mạnh, nhưng các dấu hiệu suy yếu đã bắt đầu xuất hiện. Tốc độ tuyển dụng đã chậm lại đáng kể từ tháng 4, khiến Fed phải hạ lãi suất 3 lần trong nửa cuối năm 2025. Đồng thời, một chỉ số quan trọng theo dõi hoạt động của lĩnh vực sản xuất đã giảm xuống mức thấp nhất 14 tháng trong tháng 12 vừa qua.

Theo nhà kinh tế Jonathan Ostry của Đại học Toronto, đúng là thuế quan trước đây gây tác động tiêu cực tới nền kinh tế nhưng không dẫn tới lạm phát cao hơn, song không có gì đảm bảo chắc chắn lịch sử sẽ lặp lại. Thời kỳ thuế quan ở Mỹ cao như hiện nay là những năm 1930, khi nước này còn áp dụng chế độ bản vị vàng và trung tâm tài chính Manhattan ở New York ngày nay còn là một vùng đất của các nhà máy.

“Thế giới ngày nay đã khác”, ông Ostry nhấn mạnh.

-An Huy

Categories: The Latest News

Thuê hay mua nhà vẫn là bài toán gắn với năng lực tài chính

Wed, 01/07/2026 - 15:40
Trong bối cảnh giá bất động sản tại các đô thị lớn không ngừng tăng cao, lựa chọn thuê hay mua nhà của người dân còn phụ thuộc vào năng lực tài chính và mức độ tích lũy. Với người có nguồn lực hạn chế, thuê nhà là giải pháp phù hợp trong ngắn hạn, nhưng nhóm có nền tảng tài chính vững vàng, họ vẫn ưu tiên mục tiêu sở hữu để an cư lâu dài…

Thuê nhà thường được nhìn nhận là lựa chọn đỡ áp lực hơn so với mua nhà, đặc biệt trong bối cảnh giá bất động sản tại các đô thị lớn liên tục tăng cao. Tuy nhiên, trên thực tế, thuê nhà chỉ thực sự “rẻ” trong những điều kiện rất cụ thể, và không phải là lựa chọn tối ưu cho mọi nhóm đối tượng.

GIẢI PHÁP KHI THU NHẬP CHƯA ỔN ĐỊNH 

Theo đó, thuê nhà phù hợp hơn với nhóm người có thu nhập thấp hoặc trung bình, tích lũy hạn chế, chưa đạt được ngưỡng an toàn về vốn tự có để vay mua nhà. Trong bối cảnh lãi suất cho vay mua nhà tại Việt Nam vẫn thả nổi, việc sử dụng đòn bẩy tài chính lớn có thể tạo ra áp lực đáng kể lên ngân sách hộ gia đình. Do đó, với nhóm chưa có nền tảng tài chính vững chắc, thuê nhà là giải pháp mang tính phòng thủ, giúp duy trì sự linh hoạt tài chính, hạn chế rủi ro và tránh tình trạng “gánh nợ” kéo dài trong khi thu nhập chưa đủ ổn định.

Giá thuê căn hộ trung bình chỉ tăng khoảng 10-15% mỗi năm và đến năm 2025, tốc độ tăng giá thuê chỉ bằng 1/3 tốc độ tăng giá nhà.  Viện Nghiên cứu đánh giá thị trường bất động sản Việt Nam .

Dữ liệu của Viện Nghiên cứu đánh giá thị trường bất động sản Việt Nam (VARS IRE) cho thấy trong 3 năm trở lại đây, mối quan hệ giữa giá nhà và giá thuê đang ngày càng mất cân đối. Tốc độ tăng giá nhà ở tại các đô thị lớn như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đang vượt xa tốc độ tăng giá thuê. 

Cụ thể, giá sơ cấp căn hộ chung cư trung bình tại các đô thị lớn như: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh (cũ) và Đà Nẵng ghi nhận mức tăng khoảng 35-40% mỗi năm. Khi các dự án mở bán mới hầu hết thuộc phân khúc cao cấp và hạng sang, kéo mặt bằng giá nhà ở thứ cấp tăng mạnh theo. Thậm chí, tại một số khu vực, giá bất động sản còn tăng gấp đôi chỉ sau khoảng hai năm.

Trong khi đó, giá thuê nhà ở tuy cũng có xu hướng tăng do nhu cầu ở thực duy trì ở mức cao và gia tăng không được đáp ứng phải chuyển qua thị trường thuê, nhưng tốc độ tăng thấp hơn nhiều. Giá thuê căn hộ trung bình chỉ tăng khoảng 10-15% mỗi năm và đến năm 2025, tốc độ tăng giá thuê chỉ bằng 1/3 tốc độ tăng giá nhà. Sự chênh lệch này tạo ra lợi thế tương đối cho người đi thuê, khi chi phí nhà ở hàng tháng không bị đẩy lên quá cao. 

Tuy nhiên, đối với nhóm người thu nhập tốt và đã có tích lũy, bức tranh lại có sự khác biệt rõ rệt. Nhờ mặt bằng lãi suất cho vay duy trì ở mức tương đối thấp cùng với các chính sách ưu đãi từ chủ đầu tư như: hỗ trợ lãi suất, ân hạn nợ gốc trong giai đoạn đầu và cam kết trần lãi suất, khoảng cách giữa chi phí trả góp mua nhà và tiền thuê đang ngày càng thu hẹp. Trong bối cảnh giá nhà tại các đô thị lớn khó giảm, việc trì hoãn mua nhà có thể khiến người mua phải đối mặt với mặt bằng giá cao hơn trong tương lai.

Đồng thời, thực tế hiện nay, thị trường thuê nhà tại Việt Nam vẫn chưa có các quy định đủ chặt chẽ để bảo vệ quyền lợi dài hạn của người thuê, từ thời hạn thuê, mức điều chỉnh giá... Vì vậy, thuê nhà chủ yếu mang tính giải pháp linh hoạt trong ngắn và trung hạn, hơn là một lựa chọn an cư bền vững. Mặt khác, giá trị bất động sản tại các đô thị lớn không chỉ nằm ở công năng để ở, mà còn gắn với sự gia tăng giá trị từ hệ thống hạ tầng đang ngày càng hoàn thiện, đặc biệt là tại những đại đô thị được quy hoạch đồng bộ.

CẦN SỰ THAM GIA MẠNH MẼ CỦA NHÀ NƯỚC

VARS IRE cho rằng việc thuê nhà chỉ thực sự trở thành một lựa chọn “rẻ” và bền vững khi có sự tham gia mạnh mẽ của Nhà nước trong việc phát triển quỹ nhà ở cho thuê. Kinh nghiệm từ các quốc gia phát triển như Đức cho thấy thị trường thuê nhà chỉ vận hành hiệu quả khi có nguồn cung nhà ở cho thuê lớn, giá hợp lý, khung pháp lý bảo vệ người thuê và hệ thống giao thông công cộng phát triển, cho phép người dân thuê nhà xa trung tâm mà vẫn đảm bảo khả năng tiếp cận việc làm.

Để đáp ứng nhu cầu nhà ở của người dân tại Việt Nam, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Bên cạnh việc phát triển nhà ở xã hội, Nhà nước cần thúc đẩy nhanh hơn nữa việc xây dựng quỹ nhà ở cho thuê dài hạn từ Quỹ nhà ở Quốc gia với mức giá phù hợp, ưu tiên cho lao động trẻ, công nhân viên chức, trí thức trẻ và người lao động trong các ngành nghề trọng điểm. Ngoài ra, cần khuyến khích các chủ đầu tư tham gia phát triển nhà ở giá rẻ thông qua các chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng và chi phí đất.

Song song là việc đẩy nhanh đầu tư và hoàn thiện các tuyến giao thông công cộng kết nối khu vực trung tâm với vùng ven. Khi hạ tầng được cải thiện, các khu vực vùng ven, nơi có nguồn cung dồi dào, chất lượng với mức giá thấp hơn khoảng 20-30% so với khu vực trung tâm sẽ trở thành lựa chọn khả thi hơn cho cả người thuê và người mua nhà, góp phần giảm áp lực nhà ở tại các đô thị lớn và hướng tới sự phát triển bền vững của thị trường bất động sản.

Ảnh minh họa.

Thực tế cho thấy bài toán nhà ở tại các đô thị lớn ngày càng trở nên cấp thiết khi quy mô dân số tiếp tục gia tăng. Theo Cục Thống kê, Bộ Tài chính, dân số trung bình của Việt Nam năm 2025 đạt 102,3 triệu người, tăng khoảng 1 triệu người, tương đương 1% so với năm 2024. Trong đó, dân số khu vực thành thị đạt 39,5 triệu người, chiếm 38,6%. Đáng chú ý, Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh vẫn là hai đô thị đông dân, là điểm đến của dòng dịch chuyển lao động.

-Thanh Xuân

Categories: The Latest News

Loạt cổ phiếu lớn hợp sức kéo VN-Index tăng bùng nổ 2,49%, khối ngoại cũng đua giá

Wed, 01/07/2026 - 15:34
Sức mạnh của cổ phiếu ngân hàng chiều nay được bổ sung “năng lượng” từ nhóm Vin. VIC, VHM, VRE đồng loạt tăng mạnh ngay lập tức tạo sự khác biệt: VN-Index đóng cửa tăng 2,49% (+45,31 điểm), mạnh nhất kể từ ngày 22/12 vừa qua. Đặc biệt khối ngoại bất ngờ quay lại mua ròng cực mạnh hơn 1.054 tỷ đồng trong buổi chiều.

Thống kê rổ VN30 chiều nay có tới 21 mã tăng giá cao hơn mức chốt buổi sáng, dù phiên sáng nhóm blue-chips cũng đã rất mạnh. Trong số này VIC thoát khỏi mốc tham chiếu để đóng cửa tăng 3,41%. VHM bay cao thêm tới 4,69% nữa, chốt tăng 5,43%. VRE cũng tăng 2,39%, đảo chiều vượt tham chiếu 1,31%. Với sức mạnh vốn hóa, ngay lập tức VIC và VHM giành lại vị trí dẫn đầu nhóm kéo chỉ số khi đem về hơn 17 điểm.

Cổ phiếu ngân hàng cũng lên giá nhưng không đột biến như vậy. Lý do đơn giản là nhiều mã đã tăng mạnh từ sáng. Đáng chú ý chỉ có HDB: Cổ phiếu này tệ nhất nhóm ngân hàng phiên sáng cũng như kém nhất rổ VN30, giảm 2,07%. Sang phiên chiều HDB nhận được dòng tiền mua khá mạnh, thanh khoản thêm 358,5 tỷ đồng và giá phục hồi 2,28%, đảo chiều thành công vượt tham chiếu 0,17%. Nhóm còn lại tuy chiều nay tăng thêm ít nhưng chung cuộc đều rất mạnh: VCB tăng 4,01%, TCB tăng 1,11%, CTG tăng 3,45%, BID tăng 5,27%, ACB tăng 2,71%, SHB tăng 1,85%, TPB tăng 2,35%, VIB tăng 1,69%, VPB tăng 1,39%.

STB là trường hợp cá biệt khi đóng cửa vẫn giảm 5,82% so với tham chiếu. Tuy nhiên giao dịch ở cổ phiếu này vẫn có nét tích cực. Giá riêng chiều nay vẫn nhích lên được một bước giá và đặc biệt là thanh khoản cực lớn với 1.103,1 tỷ đồng. Dưới áp lực này mà STB không lao dốc sâu thêm đã là thành công. Tính chung cả phiên STB xác lập kỷ lục về thanh khoản tính theo giá trị, khớp lệnh 2.906,2 tỷ đồng phiên này.

Mặc dù không có thêm sức mạnh rõ rệt ở nhóm ngân hàng nhưng ngoài cổ phiếu Vin, các blue-chips khác cũng cải thiện tốt. MSN tăng 1,82%, MWG tăng 1,13%, SAB tăng 2%, FPT tăng 3,72%, BCM tăng 6,9%, HPG tăng 2,5%, PLX tăng 6,97%... đều là có cải thiện giá trong phiên chiều.

Sức mạnh tổng hợp của các cổ phiếu trong rổ giúp VN30-Index đóng cửa tăng 1,98% với 28 mã tăng/2 mã giảm. Tới 23 mã của rổ tăng vượt 1%, với 14 mã tăng từ 2% trở lên. Điều bất ngờ là thanh khoản rổ VN30 buổi chiều lại sụt giảm gần 20% so với phiên sáng. Với mặt bằng giá cao hơn hẳn, mức thanh khoản giảm này là do bên bán đã thoái lui và bên mua phải nâng giá cao lên đáng kể mới có thanh khoản.

Nhóm cổ phiếu vốn hóa lớn có sự đồng thuận cao trong phiên chiều nay.

Phần còn lại của thị trường hơi khác một chút: Giao dịch giảm đáng kể trong rổ VN30 nhưng tổng mức khớp buổi chiều của sàn HoSE chỉ giảm 8,1%. Nói cách khác, thanh khoản đã tăng tốt ở nhóm cổ phiếu vừa và nhỏ. Điều này cũng hợp lý vì khi các blue-chips đồng loạt tăng, các nhà đầu tư nhỏ lẻ sẽ sớm bị thuyết phục và quay lại mua.

Độ rộng sàn HoSE cuối phiên ghi nhận 256 mã tăng/79 mã giảm, trong đó chỉ riêng số lượng cổ phiếu tăng vượt 2% đã lên tới 100 mã, tập trung 49% tổng giá trị khớp lệnh của sàn.

Nhóm cổ phiếu vừa và nhỏ nhận được dòng tiền tốt hơn đã tăng khỏe, thậm chí cả chục mã kịch trần. VTP, BVH, BSR, PVT, HHP, POW tăng hết biên độ với thanh khoản ấn tượng. Ngoài ra số tăng trên 3% rất nhiều giúp Midcap đóng cửa tăng 1,88% và Smallcap tăng 0,99%.

Ở phía giảm, số lượng ít và cũng chỉ có hơn chục mã đạt thanh khoản quá 10 tỷ đồng và giảm hơn 1%. STB và VJC là hai blue-chips duy nhất nằm trong số này. Còn lại có thể kể tới KDH giảm 1,57%, GEE giảm 1,95%, NVL giảm 1,12%, VPL giảm 2,33%, PET giảm 2,75%, CTD giảm 2,03%, NTL giảm 1,81%. Trong số này duy nhất CTD là đóng cửa ở giá thấp nhất, còn lại đều có mức phục hồi nhất định so với đáy trong phiên.

Một diễn biến cũng tích cực khác là nhà đầu tư nước ngoài quay lại giải ngân ấn tượng, tăng tới 61% so với phiên sáng. Trong khi đó bên bán lại giảm đi 23%. Vị thế ròng ở sàn HoSE chiều nay đảo ngược thành +1.054 tỷ đồng so với -532 tỷ đồng buổi sáng. STB bị bán tăng cường chiều nay tới 447 tỷ đồng nữa, đẩy mức bán ròng cả ngày lên 1.144 tỷ đồng. VHM được mua ròng nhẹ trở lại, tính chung còn -170 tỷ. Các cổ phiếu được mua ròng nổi bật chiều nay là FPT +285,7 tỷ, HPG +220 tỷ, VIC +174 tỷ, MBB +164 tỷ, VPB +147,8 tỷ, VCB +104,2 tỷ, BID +83,9 tỷ…

-Kim Phong

Categories: The Latest News

Khai mở nguồn lực cho phát triển xanh, giảm phát thải

Wed, 01/07/2026 - 15:07
Thị trường carbon được xác định không chỉ là công cụ khí hậu, mà còn mở ra các cơ hội kinh tế, kênh tiềm năng để huy động nguồn lực cho chuyển đổi phát triển xanh, giảm phát thải, góp phần thực hiện các mục tiêu của thỏa thuận Paris. Trước xu hướng, tiềm năng phát triển của thị trường, ngày càng có nhiều mối quan tâm từ các tổ chức, nhà đầu tư, doanh nghiệp đến Việt Nam- một thị trường carbon mới nổi. Đây là cơ hội để thúc đẩy hợp tác triển khai các dự án tín chỉ carbon, đặc biệt là tín chỉ rừng và phát triển thị trường carbon ở Việt Nam.

“Việc triển khai tín chỉ carbon tại Việt Nam đã dựa trên nhiều nền tảng quan trọng được xây dựng từ trước. Cụ thể, không chỉ các bộ tiêu chuẩn về tín chỉ carbon rừng đang được Việt Nam hoàn thiện, mà nhiều tiêu chuẩn carbon quốc tế cũng có mức độ tương thích rất cao với các tiêu chuẩn chứng chỉ rừng hiện có tại Việt Nam.

Trước hết, các yêu cầu về tuân thủ pháp luật liên quan tới đất đai, tài nguyên và bảo vệ môi trường vốn là những nguyên tắc cốt lõi của chứng chỉ rừng; đồng thời cũng là tiêu chí chung trong các hệ thống tiêu chuẩn tín chỉ carbon của Việt Nam và quốc tế.

Bên cạnh đó, các yêu cầu về an toàn môi trường – xã hội trong chứng chỉ rừng đã được quy định rất chặt chẽ, từ bảo tồn đa dạng sinh học đến đảm bảo quyền lợi cộng đồng. Điều này cũng hoàn toàn tương đồng với những yêu cầu của các tiêu chuẩn carbon.

Vì vậy, với những doanh nghiệp hoặc chủ rừng đã đạt tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững, việc nâng cấp lên tiêu chuẩn carbon không phải khởi đầu lại mà có thể phát triển dựa trên một nền tảng đã rất vững chắc.

Ở cấp độ kỹ thuật, tín chỉ carbon yêu cầu bổ sung các nội dung về giám sát, đánh giá và đặc biệt là chứng minh tính bổ sung. Tuy nhiên, Việt Nam đã có sẵn hệ thống bản đồ, dữ liệu và nhiều ô chuẩn định vị để đo đếm sinh trưởng rừng hằng năm trong khuôn khổ chứng chỉ rừng.

Đây là nguồn dữ liệu cơ sở vô cùng quan trọng để xây dựng đường tham chiếu cho các dự án carbon rừng trong thời gian tới. Điều này cho thấy Việt Nam đã sở hữu một nền tảng kỹ thuật – quản lý rất tốt để phát triển tín chỉ carbon.

Bên cạnh nền tảng tiêu chuẩn, việc triển khai các dự án carbon rừng cần tăng cường đầu tư và liên kết với hộ gia đình, cộng đồng và doanh nghiệp nhằm chuyển từ phương thức canh tác truyền thống sang các giải pháp kỹ thuật tiên tiến, từ đó giúp cải thiện năng suất và chất lượng rừng. Khi làm tốt điều này, chúng ta không chỉ tạo ra tín chỉ carbon mà còn nâng cao giá trị kinh tế của rừng.

Hiện nay, Việt Nam có khoảng 700.000 ha rừng đã được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững, chủ yếu nhờ dòng vốn đầu tư của khu vực tư nhân. Đây là tín hiệu quan trọng, mở ra cơ hội lớn để thu hút khu vực tư nhân tham gia sâu hơn vào các dự án carbon rừng trong giai đoạn tới.

Để thúc đẩy sự tham gia của doanh nghiệp tư nhân, Việt Nam cần hoàn thiện hành lang pháp lý minh bạch, dễ tiếp cận và ổn định. Đồng thời, vai trò của chính quyền địa phương là hết sức quan trọng, bởi việc hình thành dự án phải có sự đồng thuận từ cấp tỉnh đến cấp xã để đảm bảo tính khả thi. Cùng với đó, cơ chế chia sẻ lợi ích, quy trình thỏa thuận với cộng đồng và yêu cầu về minh bạch cần được quy định rõ ràng, nhằm củng cố niềm tin và đảm bảo tính bền vững trong phát triển tín chỉ carbon rừng”.

“Tổ chức Hàng không Dân dụng Quốc tế (ICAO) đã yêu cầu tất cả các chuyến bay quốc tế xuất phát từ những quốc gia tham gia Chương trình Giảm nhẹ và Bù trừ phát thải khí nhà kính đối với hàng không quốc tế (CORSIA) phải thực hiện nghĩa vụ bù trừ phát thải.

Vietnam Airlines sẽ chính thức tham gia CORSIA từ năm 2026 theo cam kết của Chính phủ với ICAO. Điều này đồng nghĩa khi Vietnam Airlines khai thác các đường bay tới những quốc gia tham gia CORSIA, hãng buộc phải sử dụng các tín chỉ carbon được ICAO chấp thuận để bù trừ phần phát thải của mình.

Hiện nay, ICAO chỉ chấp thuận 6 loại tín chỉ carbon cho chương trình CORSIA. Vì vậy, để các hãng hàng không trong nước có thể sử dụng tín chỉ trong nước, các dự án và chương trình phát triển tín chỉ carbon của Việt Nam cần được triển khai theo các tiêu chuẩn quốc tế. Khi đó, các tín chỉ mới có thể được công nhận và sử dụng cho hoạt động bay quốc tế. Điều này cũng đặc biệt quan trọng trong bối cảnh nhu cầu bù trừ phát thải theo CORSIA ngày càng lớn.

Về mặt chính sách phát triển thị trường tín chỉ carbon tại Việt Nam, chúng tôi có một số đề xuất như sau:

Thứ nhất, cần hoàn thiện khung pháp lý về quản lý và giao dịch tín chỉ carbon trong nước, bao gồm cơ chế trao đổi hoặc mua bán tín chỉ carbon phù hợp với thông lệ quốc tế và yêu cầu của CORSIA.

Thứ hai, cần có cơ chế chuyển giao tín chỉ carbon minh bạch và khả thi, để các hãng hàng không trong nước có đủ năng lực cạnh tranh với hãng nước ngoài. Đặc biệt, cần quy định rõ cơ chế mua bán tín chỉ carbon trong nước. Mong muốn của chúng tôi là ưu tiên được mua tín chỉ carbon trong nước trước. Chỉ khi nguồn cung trong nước chưa đáp ứng được thì mới phải mua tín chỉ quốc tế, nhằm củng cố nội lực cho doanh nghiệp Việt Nam.

Ngoài ra, Nhà nước cũng cần tiếp tục xây dựng cơ chế tài chính và chính sách ưu đãi để khuyến khích các hãng hàng không đầu tư công nghệ mới, nhiên liệu hàng không bền vững (SAF) và các giải pháp tiết kiệm nhiên liệu…”.

“Tại hội thảo “Định hướng thị trường carbon toàn cầu và Việt Nam: Những nhận định sau COP30 và hướng đi tiếp theo”, các chuyên gia nhấn mạnh tầm quan trọng của sự tương thích quốc tế, đảm bảo thị trường carbon trong nước có thể “kết nối” với thị trường toàn cầu.

Để phát triển thị trường carbon, chúng tôi kiến nghị:

Thứ nhất, cần chuyển từ cách tiếp cận “tín chỉ carbon giá rẻ” sang “tín chỉ chất lượng cao” hay giá trị cao. Các chuẩn mực sau COP30 đã thay đổi cuộc chơi. Chúng ta cần xác định rõ ưu tiên chất lượng để bảo vệ lợi ích quốc gia, bảo vệ hệ sinh thái môi trường, tránh rủi ro về uy tín và pháp lý khi tham gia thị trường quốc tế.

Thứ hai, xây dựng hệ sinh thái thị trường carbon trong nước gắn với phát triển kinh tế xanh. Điều này bao gồm việc thiết lập và triển khai sàn giao dịch minh bạch, hệ thống định giá tín chỉ, cơ chế khuyến khích doanh nghiệp, các mô hình hợp tác công - tư thúc đẩy dự án hấp thụ carbon từ rừng, nông nghiệp, công nghiệp và đô thị.

Về thị trường và cơ chế giao dịch, sàn giao dịch, Việt Nam cần mô hình vận hành minh bạch, có tính cạnh tranh và liên thông, từng bước hướng đến khả năng “giao dịch xuyên quốc gia”. Cần làm rõ vai trò của doanh nghiệp, các bên trung gian, các chủ rừng và vai trò điều phối của Nhà nước.

Thứ ba, bảo đảm tính minh bạch, công nghệ và sự liên thông ở cấp toàn cầu. Việt Nam cần đi đầu trong áp dụng công nghệ đo đếm tiên tiến, chuẩn hệ thống đo lường, báo cáo, thẩm định (MRV) quốc tế, dữ liệu mở và hệ thống báo cáo đồng bộ. Đây là điều kiện tiên quyết để Việt Nam tham gia sâu vào chuỗi giá trị carbon toàn cầu và tránh bị loại khỏi các thị trường có tiêu chuẩn cao.

Phương pháp MRV mới theo Điều 6.4 của Thỏa thuận Paris, cùng với việc ứng dụng dữ liệu vệ tinh, AI, Blockchain trong thực hiện MRV được xác định là “điều kiện sống còn” để tín chỉ Việt Nam được chấp nhận rộng rãi.

Thị trường carbon không chỉ là “công cụ môi trường” mà phải trở thành động lực kinh tế. Cần tiếp tục xem xét mức độ tương thích của khung pháp lý Việt Nam với các chuẩn mực quốc tế sau COP30; đặc biệt đối với các quy định liên quan MRV rừng, đo đếm carbon, quyền sở hữu tín chỉ và nghĩa vụ báo cáo của doanh nghiệp”.

“Thông qua các sáng kiến toàn cầu, UNDP đã và đang có các hoạt động hỗ trợ Việt Nam, trong đó nổi bật là sáng kiến thúc đẩy hỗ trợ các quốc gia xây dựng thị trường carbon.

Cụ thể, về xây dựng hệ thống đăng ký quốc gia, UNDP toàn cầu cung cấp mã nguồn mở để tất cả các quốc gia có thể sử dụng cho xây dựng hệ thống nền tảng toàn diện để triển khai và quản lý thị trường carbon. Hệ thống này cho phép Chính phủ phát hành, theo dõi, chuyển giao và quản lý tín chỉ carbon nhằm đảm bảo tính toàn vẹn và minh bạch trong suốt vòng đời của tín chỉ, hỗ trợ quá trình chuyển đổi toàn cầu hướng tới một tương lai bền vững.

Cùng với đó, sáng kiến xây dựng một thị trường carbon mang tính toàn vẹn cao của UNDP trên toàn cầu cũng rất quan trọng. Sáng kiến này nhằm thúc đẩy, hỗ trợ 128 quốc gia trên toàn thế giới có thể tiếp cận các nguồn hỗ trợ để xây dựng thị trường carbon.

Trong thời gian qua, chúng tôi đã phối hợp với các đối tác Việt Nam để hỗ trợ, thúc đẩy xây dựng thị trường carbon toàn vẹn, làm rõ các yêu cầu triển khai  Điều 6.2 và 6.4 Thỏa thuận Paris trong bối cảnh của Việt Nam.

UNDP cũng cung cấp hỗ trợ kỹ thuật cho doanh nghiệp Việt Nam đăng ký dự án tín chỉ carbon đầu tiên trong lĩnh vực giao thông xanh theo tiêu chuẩn vàng (Gold Standard), giúp doanh nghiệp có thể tiếp cận nguồn tài chính carbon.

Với lĩnh vực rừng, UNDP đã hỗ trợ thực hiện nghiên cứu, đánh giá tiềm năng và xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về carbon rừng ngập mặn ven biển cho 28 tỉnh, thành phố (cũ) và Hướng dẫn Kỹ thuật về tính toán sinh khối và trữ lượng carbon của rừng ngập mặn. Điều này đã đặt nền tảng cho việc kiểm kê và báo cáo rừng ngập mặn cũng như phát triển các dự án carbon từ rừng ngập mặn trong tương lai.

Sắp tới, UNDP sẽ  đóng vai trò  là Ban thư ký của Đối tác hành động về carbon xanh dương (NBCAP) tại Việt Nam do Diễn đàn Kinh tế thế giới cùng với Bộ Nông nghiệp và Môi trường thành lập. Đối tác hành động NBCAP nhằm tạo cơ chế hợp tác, thúc đẩy đối thoại chính sách giữa chính phủ, khối tư nhân và các tổ chức xã hội, thúc đẩy tài chính cho carbon xanh dương ở Việt Nam.

Hiện nay, hệ thống Đo lường, báo cáo và thẩm định (MRV) của Việt Nam chưa được số hóa là một rào cản thúc đẩy phát triển thị trường carbon. Hệ thống này đóng vai trò quan trọng, hỗ trợ việc minh bạch hóa các tín chỉ carbon ở Việt Nam.

Đây là yêu cầu đặt ra trong thời gian tới cho các cơ quan quản lý nhà nước, các bộ, ban, ngành sẽ phải tập trung thúc đẩy, số hóa hệ thống MRV.

UNDP đang hỗ trợ 5 nhà máy điện than thực hiện kiểm kê khí nhà kính, đồng thời xây dựng kế hoạch giảm phát thải khí nhà kính cho giai đoạn 5 năm và 10 năm tới. Khi Việt Nam đưa ra kế hoạch phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính, các cơ sở, doanh nghiệp, nhà máy sẽ có cơ sở và định hướng tham gia thị trường carbon.

Với những bước triển khai đang được thúc đẩy, thị trường carbon tại Việt Nam đang dần hình thành những nền tảng đầu tiên. Việc hoàn thiện các hệ thống kỹ thuật và cơ chế quản lý trong thời gian tới sẽ đóng vai trò then chốt, tạo điều kiện để các doanh nghiệp và địa phương tham gia chủ động hơn, đồng thời mở ra cơ hội huy động thêm các nguồn lực phục vụ mục tiêu giảm phát thải, phát triển bền vững”.

“Đa dạng sinh học và khí hậu đã trở thành những thách thức lớn, đòi hỏi cần phải có giải pháp và nguồn lực đầu tư toàn cầu. Hiện nay, thế giới hiện đang nỗ lực để thu hẹp khoảng trống tài chính để thích ứng và ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo tồn đa dạng sinh học.

Theo thống kê, đầu tư tài chính trên toàn cầu khoảng 6,3-6,7 nghìn tỷ USD mỗi năm cho giảm phát thải carbon, thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo tồn đa dạng sinh học. Trong bối cảnh đó, các nguồn tài chính bổ sung cần sự tham gia của cả chính phủ, doanh nghiệp cũng như các nguồn tài trợ quốc tế và song phương.

Để thu hẹp khoảng trống tài chính, thị trường carbon dự kiến có thể thu hút được các nguồn lực công và tư. Ước tính, chúng ta huy động được khoảng 14 tỷ USD từ quý 1 đến quý 3/2024 để phát triển các dự án tín chỉ carbon mới trên toàn cầu. Hiện nay, các dự án loại bỏ carbon dựa vào thiên nhiên đang chiếm tỷ lệ cao nhất.

Có thể thấy rõ tiềm năng và xu hướng phát triển của các dự án tín chỉ carbon hiện nay là rất lớn, trong đó có mối quan hệ chặt chẽ giữa chất lượng tín chỉ cao và giá tín chỉ. Hiện nay, các tín chỉ hấp thụ carbon dựa vào thiên nhiên được định mức giá cao nhất. Các tín chỉ carbon rừng và đại dương, carbon xanh cũng được đánh giá cao, đặc biệt giá tín chỉ carbon xanh đã tăng mạnh trong thời gian qua.

Thực tế cho thấy thị trường carbon toàn cầu đang trở nên phức tạp hơn bởi sự chồng chéo và liên kết giữa thị trường tự nguyện và thị trường bắt buộc, giữa thị trường quốc tế và trong nước.

Thỏa thuận về thị trường carbon quốc tế tại COP29 năm 2024 đã làm rõ các quy tắc chuyển giao tín chỉ xuyên biên giới và giúp thúc đẩy sự tham gia của thị trường. Tại COP30 đã có những quyết định quan trọng về phát triển thị trường carbon, trong đó nhấn mạnh thông điệp chính về nỗ lực tập thể và hợp tác chung. Đáng chú ý, COP30 đã ra mắt Liên minh mở về thị trường carbon bắt buộc, trong đó các chính phủ cam kết xây dựng thị trường carbon được điều phối và quản lý; đồng thời, nhấn mạnh việc tập trung vào khả năng kết nối quốc tế, hợp tác xuyên biên giới và tính toàn vẹn của thị trường.

Hội nghị cũng thúc đẩy các quy tắc của Điều 6 của Thỏa thuận Paris, tiến độ cấp phát tín chỉ, chuyển giao, MRV,… đặt kỳ vọng cao hơn về các chỉ số đường cơ sở, vấn đề rò rỉ carbon và tính bền vững.

Đáng chú ý, tính toàn vẹn, minh bạch đã được nhấn mạnh, trong đó có việc kiểm tra chặt chẽ hơn đối với tín chỉ sử dụng đất (REDD+, than bùn, rừng ngập mặn); tập trung vào các phương pháp có tính toàn vẹn cao, tránh trùng lặp và một hệ thống đăng ký quốc gia minh bạch và cơ chế chia sẻ lợi ích.

Trong tương lai, tôi cho rằng cần tăng cường MRV ở cấp quốc gia cũng như cấp địa phương; đảm bảo chia sẻ lợi ích công bằng, minh bạch cho người dân bản địa và cộng đồng địa phương; đồng thời, cần điều chỉnh các hành động tại địa phương theo cấu trúc thị trường tuân thủ đang được hình thành”.

“Hiện nay nguồn tài chính lớn từ các quỹ đầu tư toàn cầu và các doanh nghiệp đang muốn đầu tư vào các dự án carbon dựa vào thiên nhiên, đặc biệt các dự án có tính rủi ro thấp, tính toàn vẹn cao, mang lại giá trị tốt.

Tôi nhận thấy Việt Nam có vị thế tốt để thu hút nguồn vốn tư nhân, có nhiều cơ hội và lợi ích để chúng ta tiếp tục tham gia, hợp tác với các nhà đầu tư toàn cầu. Khi có các giải pháp thu hút nguồn đầu tư này, các quỹ sẽ sẵn sàng “chảy” vào Việt Nam.

Dòng tiền chảy như nước, chỗ nào ít rào cản nhất sẽ chảy qua. Để loại bỏ những rào cản đối với đầu tư của khu vực tư nhân, đòi hỏi các chính sách quốc gia cũng như quy định liên quan đến thị trường carbon phải rõ ràng, ổn định và hỗ trợ cho đầu tư khu vực tư nhân.

Bên cạnh đó, đảm bảo năng lực triển khai các dự án carbon chất lượng cao, trong đó có chương trình xây dựng năng lực; có các cơ chế quản lý dự án tốt để quản lý các dòng tiền này. Các đơn vị phát triển dự án carbon đáng tin cậy với cơ cấu đầu tư phù hợp. Đặc biệt, phải có các dự án tín chỉ carbon chất lượng cao, có tính toàn vẹn và có quy mô đầu tư hợp lý. Đồng thời, tín chỉ carbon có thể dùng được cho nhiều thị trường (tuân thủ trong nước, thị trường tự nguyện quốc tế, CORSIA, Điều 6).

Trong tất cả các loại hình nhà đầu tư, các khoản tài trợ từ các tổ chức phi chính phủ, chính phủ và tổ chức từ thiện có thể đóng vai trò xúc tác, tạo điều kiện cho các cấu trúc tài chính hỗn hợp huy động khối lượng lớn vốn tư nhân và tăng cường tính toàn vẹn, quy mô và tuổi thọ của các dự án carbon dựa vào thiên nhiên.

Các quỹ khí hậu dựa vào thiên nhiên, quỹ đầu tư và tổ chức tài chính ưu tiên các dự án tín chỉ carbon chất lượng cao nhằm tạo tỷ suất hoàn vốn và đáp ứng các yêu cầu đầu tư. Đáng chú ý, mối quan tâm từ các quỹ ngày càng tăng đối với việc sử dụng đất bền vững như một loại tài sản có thể đầu tư. Quỹ đầu tư tư nhân và quỹ đầu tư mạo hiểm hướng vào các dự án nông nghiệp tái tạo, nuôi trồng thủy sản bền vững, kinh tế tuần hoàn hoặc các đơn vị phát triển dự án carbon.

Các tập đoàn toàn cầu ủng hộ các chuỗi cung ứng không phá rừng và bền vững (tuân thủ EUDR); đầu tư để giảm thiểu rủi ro khí hậu, cải thiện chất lượng nước và đáp ứng các yêu cầu thẩm định của EU/Mỹ. Các tập đoàn này cũng đầu tư vào các tín chỉ carbon chất lượng cao, các thỏa thuận mua dài hạn và mô hình tự giảm/hấp thụ phát thải carbon ngay trong chuỗi giá trị…

Về phía cầu, NatureCo hợp tác với các tập đoàn lớn và quỹ đầu tư để huy động tài chính cho dự án và đổi lại là tín chỉ carbon do dự án tạo ra. Chúng tôi sẽ hỗ trợ toàn bộ chu trình dự án từ giai đoạn khởi tạo và thiết kế dự án ban đầu đến MRV. Cùng với các đối tác tư nhân, chúng tôi phát triển các dự án giải pháp dựa vào thiên nhiên chất lượng cao nhằm hỗ trợ khả năng phục hồi của chuỗi cung ứng, cam kết phát thải ròng bằng 0 và mua tín chỉ carbon dài hạn.

Trong khuôn khổ sáng kiến nền tảng đối tác doanh nghiệp, chúng tôi đang hỗ trợ xây dựng các dự án carbon dựa vào thiên nhiên, carbon xanh để có thể được tài trợ và triển khai tại Việt Nam. Cùng với đó, kết nối nguồn tài chính tư nhân với các dự án dựa vào thiên nhiên thực địa nhằm đạt mục tiêu khí hậu, thiên nhiên và con người. Chúng tôi cũng phối hợp với các tổ chức ở Việt Nam để xây dựng tiêu chuẩn cho thị trường carbon, phát triển dự án”.

“Khi triển khai các dự án carbon, điều quan trọng nhất là đảm bảo sự hài hòa lợi ích giữa cộng đồng địa phương, nhà đầu tư và doanh nghiệp. Ngay từ giai đoạn khởi động, cần xác định rõ địa phương có thể đáp ứng những tiêu chí gì và nhà đầu tư phải minh bạch yêu cầu, năng lực cũng như cam kết của mình. Việc “đặt đúng kỳ vọng” ngay từ đầu sẽ giúp hạn chế rủi ro và tạo nền tảng hợp tác bền vững.

Để phát triển một dự án carbon hiệu quả, yếu tố cốt lõi gồm: một là, dựa vào điều kiện tự nhiên của khu vực, từ thổ nhưỡng, nguồn nước đến phương thức canh tác phù hợp. Chỉ khi hiểu đúng về hệ sinh thái thì mới có thể xây dựng mô hình bảo tồn hoặc phục hồi rừng đem lại tín chỉ carbon chất lượng.

Hai là, cần xác định rằng thu nhập từ tín chỉ carbon chỉ mang tính bổ sung. Sinh kế của người dân phải được đa dạng hóa, giúp họ không phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn thu từ carbon. Đây là yếu tố quyết định để dự án tồn tại lâu dài và giảm thiểu rủi ro khi giá tín chỉ biến động.

Ba là, xây dựng mạng lưới tổ công tác hoặc nhóm cộng đồng nhằm bảo vệ quyền lợi của người dân khi làm việc trực tiếp với doanh nghiệp. Cơ chế này giúp đảm bảo sự minh bạch, đồng thời tăng tính giám sát từ cấp cơ sở.

Đồng thời, tập huấn cho địa phương là bước không thể thiếu. Người dân cần được nâng cao kiến thức về giá trị của tín chỉ carbon, vai trò của bảo vệ rừng, cũng như tầm quan trọng của đa dạng sinh học. Khi hiểu rõ lợi ích kinh tế- xã hội và giá trị của phát triển bền vững, họ sẽ trở thành lực lượng đồng hành tích cực trong dự án.

Ngoài ra, để một dự án carbon vận hành hiệu quả, có một số nguyên tắc quan trọng cần được tuân thủ nghiêm túc. Trước hết, các tiêu chuẩn đo lường và giám sát phải minh bạch, giúp bảo đảm chất lượng tín chỉ carbon và tạo niềm tin cho cả nhà đầu tư lẫn cộng đồng. Bên cạnh đó, cơ chế chia sẻ lợi ích cần được quy định rõ ràng, từ doanh nghiệp đến từng hộ dân tham gia, để mọi người đều thấy rõ vai trò và quyền lợi của mình trong dự án.

Những nguyên tắc này không chỉ giúp tăng tính công bằng và minh bạch mà còn tạo nền tảng để dự án phát triển lâu dài, hiệu quả và bền vững, đồng thời khuyến khích người dân gắn bó hơn với công tác bảo vệ rừng”.

“Bài học về phát triển thị trường carbon từ các quốc gia trên thế giới là vô cùng quan trọng, đặc biệt khi Việt Nam đang tìm cách phát triển thị trường tín chỉ carbon bền vững và thu hút vốn đầu tư quốc tế. Một trong những yếu tố then chốt là việc xác định rõ các nguyên tắc cơ bản của tín chỉ carbon, bao gồm tính bổ sung và tính bền vững của các dự án carbon, cùng với đó là hệ thống đo lường, báo cáo, thẩm định (MRV) chặt chẽ.

Cụ thể, tính bổ sung đảm bảo rằng các dự án carbon mang lại kết quả giảm phát thải thực chất, vượt trên các mức cam kết hiện có. Trong khi tính vĩnh viễn đảm bảo rằng lượng carbon được hấp thụ hoặc giảm thải không bị mất đi trong quá trình dài hạn. MRV minh bạch là công cụ quan trọng giúp nhà đầu tư quốc tế đánh giá hiệu quả và độ tin cậy của mỗi tín chỉ carbon, từ đó đưa ra quyết định đầu tư chính xác.

Bên cạnh đó, việc làm rõ quyền sở hữu tín chỉ carbon và cơ chế chia sẻ lợi ích cũng đóng vai trò then chốt. Quyền sở hữu tín chỉ carbon cần được xác định minh bạch; đồng thời, các cơ chế chia sẻ lợi ích giữa nhà đầu tư, cộng đồng địa phương và các bên liên quan phải công bằng, rõ ràng. Khi quyền lợi và trách nhiệm của các bên được xác định rõ ràng, các dự án không chỉ đảm bảo tính hợp pháp mà còn tăng giá trị tín chỉ carbon nhờ sự ổn định và minh bạch trong quản lý.

Thị trường carbon Việt Nam cũng có tiềm năng lớn, cơ hội cho khu vực tư nhân. Các doanh nghiệp xuất khẩu có thể sử dụng tín chỉ carbon để đáp ứng các yêu cầu quốc tế về trung hòa carbon hoặc tiêu chuẩn ESG, từ đó tạo lợi thế cạnh tranh cho hàng hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Việc phát triển các dự án carbon chất lượng cao cũng sẽ mở ra cơ hội hợp tác giữa khu vực công và tư, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và xây dựng các mô hình tài chính bền vững, bao gồm cả việc huy động vốn từ các quỹ đầu tư quốc tế.

Xu hướng toàn cầu cho thấy hiện nay các nhà đầu tư ưu tiên các dự án carbon có chất lượng cao, minh bạch, có thể kiểm chứng bằng dữ liệu thực tế và công nghệ. Công nghệ Blockchain cũng có thể giúp nâng cao tính minh bạch và khả năng truy xuất nguồn gốc tín chỉ carbon.

Đây là một hướng đi quan trọng mà Việt Nam có thể cân nhắc áp dụng để phát triển thị trường carbon bền vững, đảm bảo tính minh bạch, tăng niềm tin của nhà đầu tư quốc tế; đồng thời, khẳng định vị thế của tín chỉ carbon Việt Nam trên thị trường toàn cầu”.

-

Categories: The Latest News

Từ năm 2026, phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt bằng 10% giá nước sạch

Wed, 01/07/2026 - 14:45
Theo quy định mới, mức phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt được xác định bằng 10% giá bán 1m³ nước sạch...

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 346/2025/NĐ-CP quy định về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải.

Nghị định quy định chi tiết về đối tượng chịu phí, người nộp phí, tổ chức thu phí, các trường hợp miễn phí, mức phí cũng như việc khai, thu, nộp, quản lý và sử dụng phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp.

MỨC PHÍ VÀ SỐ PHÍ PHẢI NỘP

Theo quy định này, đối tượng chịu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp là toàn bộ nước thải phát sinh từ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung, cụm công nghiệp xả vào nguồn tiếp nhận theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.

Đối tượng chịu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt bao gồm nước thải sinh hoạt và nước thải phát sinh từ cơ sở thuộc danh mục các loại hình kinh doanh, dịch vụ phát sinh nước thải được quản lý như nước thải sinh hoạt theo quy định tại Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải sinh hoạt và nước thải đô thị, khu dân cư tập trung do Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành.

Bên cạnh đó, nước thải của các cơ sở có tổng lượng nước thải trung bình năm dưới 20 m3/ngày (tương đương 7.300 m3/năm) trong trường hợp sử dụng nước từ hệ thống cấp nước sạch cũng thuộc diện áp dụng.

Việc thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt được thực hiện thông qua hóa đơn tiền nước.

Cụ thể, Nghị định quy định mức phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt là 10% trên giá bán của 01 m3 nước sạch chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng. Trường hợp cần áp dụng mức phí cao hơn, HĐND cấp tỉnh quyết định mức phí cụ thể cao hơn đối với từng đối tượng chịu phí.

Số phí bảo vệ môi trường phải nộp đối với nước thải sinh hoạt được xác định trên cơ sở lượng nước sạch tiêu thụ thực tế của người sử dụng, xác định theo chỉ số đồng hồ đo nước. Giá bán nước sạch làm căn cứ tính phí là giá nước sinh hoạt do UBND cấp tỉnh ban hành, chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng.

Việc thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt được thực hiện thông qua hóa đơn tiền nước. Tổ chức cung cấp nước sạch có trách nhiệm thu, theo dõi riêng khoản phí này và nộp đầy đủ vào ngân sách nhà nước theo quy định.

Hằng tháng, chậm nhất là ngày 20 của tháng tiếp theo, toàn bộ số tiền phí thu được phải được chuyển vào tài khoản phí chờ nộp ngân sách nhà nước và thực hiện khai, quyết toán theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.

Bên cạnh nước thải sinh hoạt, Nghị định cũng quy định mức phí, xác định số phí phải nộp đối với nước thải công nghiệp.

10 TRƯỜNG HỢP ĐƯỢC MIỄN PHÍ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI NƯỚC THẢI

Đáng chú ý, Nghị định cũng quy định 10 trường hợp được miễn phí bảo vệ môi trường đối với nước thải.

Thứ nhất, nước xả ra từ nhà máy thủy điện bao gồm nước xả ra từ tua bin phát điện của nhà máy thủy điện lấy từ đập, hồ chứa của nhà máy, không qua bất kỳ công đoạn sản xuất, vận hành nào có khả năng gây ô nhiễm (không bao gồm nước thải từ sinh hoạt, từ hoạt động bảo dưỡng, sửa chữa, vệ sinh công trình và hoạt động cơ khí, kỹ thuật, tổ chức, vận hành khác của nhà máy có tiếp xúc với chất gây ô nhiễm).

Thứ hai, nước thải từ nước biển dùng vào sản xuất muối.

Thứ ba, nước thải sinh hoạt của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân ở địa bàn cấp xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật đầu tư; nước thải sinh hoạt của tổ chức (trừ cơ sở phát sinh tổng lượng nước thải trung bình từ 20 m3/ngày (tương ứng với 7.300 m3/năm) trở lên), hộ gia đình, cá nhân ở địa bàn chưa có hệ thống cung cấp nước sạch hoặc tự khai thác nước để sử dụng.

Có 10 trường hợp sẽ được miễn phí bảo vệ môi trường đối với nước thải. Ảnh minh họa

Thứ tư, nước trao đổi nhiệt theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.

Thứ năm, nước thải từ nước mưa tự nhiên chảy tràn.

Thứ sáu, nước thải từ phương tiện đánh bắt thủy sản, hải sản.

Thứ bảy, nước thải của hệ thống xử lý nước thải tập trung đô thị theo quy định của pháp luật về thoát nước và xử lý nước thải và nước thải của hệ thống thoát nước và xử lý nước thải của khu chung cư cao tầng, cụm chung cư, khu dân cư tập trung theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.

Thứ tám, nước thải từ hoạt động khai thác khoáng sản theo quy định của pháp luật về địa chất và khoáng sản.

Thứ chín, nước thải từ hoạt động sản xuất, chế biến của cơ sở được tái sử dụng theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.

Thứ mười, nước thải từ hoạt động nuôi trồng thủy sản, hải sản.

Theo quy định, từ ngày Nghị định có hiệu lực thi hành, trường hợp HĐND cấp tỉnh chưa ban hành mức phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt và tỷ lệ để lại tiền phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt theo quy định thì tiếp tục thực hiện theo văn bản đã ban hành theo quy định tại Nghị định số 53/2020/NĐ-CP. HĐND cấp tỉnh ban hành văn bản mới thay thế tại kỳ họp gần nhất.

Việc kê khai, thẩm định tờ khai, thu, nộp, quyết toán, quản lý và sử dụng phí đối với các trường hợp phát sinh trước ngày Nghị định này có hiệu lực thì hành thì tiếp tục thực hiện theo quy định tại Nghị định số 53/2020/NĐ-CР.

Nghị định cũng nêu rõ, việc nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải theo quy định tại Nghị định này không là căn cứ xác nhận việc xả thải hợp pháp của cơ sở thải nước thải. Cơ sở thải nước thải vi phạm các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường sẽ bị xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.

-Nhĩ Anh

Categories: The Latest News

Startup AI của Elon Musk huy động được 20 tỷ USD, định giá tăng gấp đôi

Wed, 01/07/2026 - 14:44
Nhu cầu rót vốn của nhà đầu tư vào lĩnh vực AI vẫn ở mức cao, bất chấp các cảnh báo bong bóng...

Công ty trí tuệ nhân tạo xAI của tỷ phú Elon Musk vừa huy động được 20 tỷ USD trong đợt huy động vốn mới nhất, vượt xa mục tiêu đề ra là huy động 15 tỷ USD. Số vốn này sẽ phục vụ cho việc đẩy mạnh phát triển các mô hình AI và hạ tầng điện toán mới.

Trong một tuyên bố, xAi cho biết các nhà đầu tư tham gia vào vòng gọi vốn này bao gồm Valor Equity Partners, StepStone Group, Fidelity Management Research Company, và Quỹ đầu tư quốc gia Qatar (QIA). Ngoài ra, hai công ty Nvidia và Cisco Investments tham gia với tư cách nhà đầu tư chiến lược, giữ vai trò hỗ trợ xAI mở rộng năng lực điện toán.

xAI hiện đang đào tạo mô hình AI thế hệ mới có tên Grok 5. Công ty cho biết sẽ dùng số vốn mới huy động được để xây dựng hạ tầng, đẩy nhanh việc phát triển và triển khai các sản phẩm AI, và đầu tư nghiên cứu.

Nhu cầu rót vốn của nhà đầu tư vào lĩnh vực AI vẫn ở mức cao, bất chấp các cảnh báo bong bóng được đưa ra khi các công ty chi mạnh để phát triển năng lực điện toán và các mô hình AI mới.

Theo hãng tin CNBC, xAI hiện đang mở rộng trung tâm dữ liệu để đào tạo thêm các mô hình tiên tiến nhằm rút ngắn khoảng cách với ChatGPT của OpenAi và Gemini của Alphabet.

Đợt gọi vốn này định giá xAI ở mức khoảng 230 tỷ USD, tăng gấp đôi so với tại thời điểm mùa xuân năm ngoái - theo tờ báo Financial Times. Trong vòng gọi vốn gần đây nhất vào tháng 7, công ty huy động được 10 tỷ USD.

Không chỉ xAI mà nhiều startup AI khác đã đạt mức vốn hóa “khủng” trong thời gian gần đây, khi các công ty này huy động được những số vốn lớn để rót vào các mô hình. Hồi tháng 10, OpenAi huy động được 6,6 tỷ USD trong một đợt chào bán cổ phiếu định giá công ty ở mức 500 tỷ USD. Một tháng sau đó, Anthropic được định giá ở mức khoảng 350 tỷ USD trong một cuộc gọi vốn có sự tham gia của Microsoft và Nvidia.

xAI hiện đang sở hữu và vận hành mạng xã hội X, trước đây là Twitter, sau khi hai công ty sáp nhập làm một vào tháng 3/2025.

Thách thức đối với xAI hiện nay là một loạt cuộc điều tra mới ở châu Âu, Ấn Độ và Malaysia, sau khi chatbot Grok tạo ra các hình ảnh gây tranh cãi liên quan tới phụ nữ và trẻ em và những hình ảnh này bị chia sẻ trên X.

Dù vậy, xAI đã ký được một thỏa thuận với Bộ Quốc phòng Mỹ, và Grok gần đây đã được bổ sung Grok vào nên tảng tác nhân AI của cơ quan này. Grok cũng đang là chatbot chính của các nền tảng các cược trực tuyến Polymarket và Kalshi.

-Bình Minh

Categories: The Latest News

Bộ Tài chính gia hạn lộ trình chuyển cổ phiếu sang HOSE đến cuối năm 2026

Wed, 01/07/2026 - 14:44
Theo định hướng này, các thị trường giao dịch cổ phiếu, trái phiếu và chứng khoán phái sinh được sắp xếp lại theo hướng chuyên môn hóa chức năng giữa Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM (HOSE) và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX).

Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 139/2025/TT-BTC, sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 57/2021/TT-BTC (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 69/2023/TT-BTC), liên quan đến lộ trình sắp xếp lại các thị trường giao dịch chứng khoán.

Trước đó, Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 57/2021/TT-BTC ngày 12/7/2021 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định lộ trình sắp xếp lại thị trường giao dịch cổ phiếu, thị trường giao dịch trái phiếu, thị trường giao dịch chứng khoán phái sinh và thị trường giao dịch các loại chứng khoán khác được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 69/2023/TT-BTC ngày 15/11/2023 của Bộ trưởng Bộ Tài chính.

Theo định hướng này, các thị trường giao dịch cổ phiếu, trái phiếu và chứng khoán phái sinh được sắp xếp lại theo hướng chuyên môn hóa chức năng giữa Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM (HOSE) và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX).

Cụ thể, theo quy định mới, chậm nhất đến hết ngày 31/12/2026, HOSE phải hoàn thành việc tiếp nhận cổ phiếu của các tổ chức niêm yết chuyển từ HNX.

Đồng thời, HNX cũng có trách nhiệm hoàn tất việc chuyển toàn bộ cổ phiếu niêm yết sang HOSE trong cùng thời hạn này.

Thông tư này có hiệu lực từ ngày 30/12/2025.

-Hà Anh

Categories: The Latest News

Nền kinh tế ảm đạm của Greenland - hòn đảo mà Tổng thống Trump muốn sáp nhập

Wed, 01/07/2026 - 14:43
Tổng thống Mỹ Donald Trump từ lâu đã bày tỏ mong muốn giành quyền kiểm soát Greenland, hòn đảo Bắc Cực rộng lớn với nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào thuộc Đan Mạch...

Trong bối cảnh giới chức Mỹ những ngày gần đây tiếp tục đưa ra những tuyên bố thể hiện ý định này và vấp phải sự phản đối của nhiều quốc gia, một báo cáo đã nêu rõ những thách thức lớn mà nền kinh tế Greenland đang phải đối mặt.

Trong một cuộc trao đổi email với hãng tin CNBC ngày 6/1, thư ký báo chí Nhà Trắng Karoline Leavitt cho biết Tổng thống Trump và các quan chức trong chính quyền ông đang cân nhắc “nhiều lựa chọn” để có được quyền kiểm soát Greenland, bao gồm cả phương án “sử dụng quân đội Mỹ”. Trước đó, vào hôm Chủ nhật, ông Trump nói Mỹ cần Greenland cho mục đích an ninh quốc gia.

Greenland là một lãnh thổ của Đan Mạch, quốc gia đồng minh với Mỹ trong Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO). Ngày 6/1, lãnh đạo Đan Mạch và các nước châu Âu khác trong NATO đã đưa ra một tuyên bố chung phản đối ý định giành quyền kiểm soát Greenland của Mỹ.

“Greenland thuộc về nhân dân Greenland. Chỉ có Đan Mạch và Greenland mới có quyền quyết định những vấn đề liên quan tới Đan Mạch và Greenland”, tuyên bố có đoạn viết.

Tuyên bố của bà Leavitt về Greenland được đưa ra sau tuyên bố chung này. “Tổng thống Trump đã nói rõ rằng việc có được Greenland là một ưu tiên an ninh quốc gia của Mỹ, và giữ vai trò quan trọng trong việc ứng phó với các đối thủ của Mỹ ở vùng Bắc Cực. Tổng thống và đội ngũ của ông đang thảo luận nhiều lựa chọn khác nhau để theo đuổi mục tiêu chính sách đối ngoại quan trọng này, và dĩ nhiên, sử dụng quân đội Mỹ luôn là một phương án”, bà Leavitt viết trong email.

Tuy nhiên, tờ Wall Street cùng ngày đưa tin rằng trong một cuộc họp kín với các nghị sỹ Mỹ, Ngoại trưởng Marco Rubio nói mục tiêu của chính quyền là mua lại Greenland từ Đan Mạch.

Trong nhiệm kỳ thứ hai này, ông Trump đã thường xuyên nói về sáp nhập Greenland và Canada vào Mỹ, cũng như giành quyền kiểm soát kênh đào Panama. Việc ông Trump trong những ngày gần đây nói về sáp nhập Greenland đặc biệt gây nhiều lo ngại, vì Mỹ mới can thiệp vào Venezuela và bắt vợ chồng Tổng thống Nicolas Maduro.

Giữa bối cảnh như vậy, một báo cáo ngày 6/1 của ông Soren Bjerregaard - trưởng bộ phận chứng khoán và cán cân thanh toán của Ngân hàng Trung ương Đan Mạch (Danmarks Nationalbank), cảnh báo rằng có nhiều “thách thức lớn ở phía trước” đối với nền kinh tế Greenland.

Năm 2025, kinh tế Greenland - với ngành chủ lực là đánh bắt hải sản - tăng trưởng 0,8%. Năm nay, nền kinh tế của hòn đảo được dự báo duy trì mức tăng 0,8%, giảm mạnh từ mức tăng 2% của năm 2022. Theo Danmarks Nationalbank, xu hướng giảm tốc của kinh tế Greenland sẽ tiếp tục trong thời gian tới.

“Nền kinh tế Greenland đang chậm lại, với mức tăng trưởng khiêm tốn và những thách thức nghiêm trọng đối với nền tài chính công. Đó một phần là do việc xây dựng cơ sở hạ tầng mới, cụ thể là sân bay, đã gần hoàn tất, trong khi các dự án lớn về cung cấp năng lượng và trong các lĩnh vực khác vẫn chưa được triển khai”, ông Bjerregaard viết trong báo cáo.

Báo cáo cho biết thêm rằng trữ lượng tôm đang giảm xuống, khiến ngành đánh bắt hải sản gặp khó khăn, và nền tài chính công của Greenland “xấu đi một cách đáng ngạc nhiên trong năm 2025”. Áp lực tài chính công của hòn đảo đến từ việc chính quyền Greenland thu được ít cổ tức hơn từ các công ty nhà nước.

“Thanh khoản trong ngân sách chính quyền Greenland đã giảm xuống mức thấp đáng lo ngại trong nửa sau của năm 2025”, ông Bjerregaard viết trong báo cáo và cho biết chính quyền sẽ đưa ra các biện pháp thắt chặt tài khóa khẩn cấp cho năm 2026.

“Đang có nhiều thách thức tài khóa ở phía trước. Cùng với đó, dân số giảm và lão hóa đặt ra thêm thách thức đối với nền kinh tế”, báo cáo nhận định.

Ở thời điểm quý 4/2205, dân số của Greenland là 56.699 người. Theo dự báo, đến năm 2026, dân số trên đảo này sẽ giảm 20%, một phần do khó thu hút người di cư tới Greenland để thay thế những người di cư khỏi đảo này.

-Bình Minh

Categories: The Latest News

Bức tranh vận tải Việt Nam 2025: Tăng trưởng mạnh về "lượng", phân hóa rõ về "chất"

Wed, 01/07/2026 - 14:43
Với hơn 6 tỷ lượt hành khách và 3 tỷ tấn hàng hóa được vận chuyển, ngành vận tải năm 2025 là một trong những động lực thúc đẩy kinh tế bứt phá. Đáng chú ý là sự bứt phá của vận tải hành khách đường sắt với mức tăng gần 100% so với năm trước và vận tải hàng hóa đường biển vẫn giữ mức tăng hai con số bất chấp những khó khăn từ tình hình thế giới...

Theo số liệu tổng hợp của Cục Thống kê, tính chung cả năm 2025, vận chuyển hành khách đạt 6.183,6 triệu lượt, tăng 22,2% so với năm trước; luân chuyển hành khách đạt 312,0 tỷ lượt khách.km, tăng 13,6%. Ở chiều ngược lại, vận chuyển hàng hóa đạt 3.027,7 triệu tấn, tăng 14,1%, với luân chuyển đạt 612,3 tỷ tấn.km, tăng 13,1%.

TĂNG NHANH VỀ SỐ LƯỢT, NHỊP LUÂN CHUYỂN MỞ RỘNG CHẬM HƠN

Đi sâu vào lĩnh vực vận tải hành khách, xu thế xuyên suốt năm 2025 là số lượt đi lại tăng nhanh hơn so với cự ly di chuyển bình quân. Ngay từ quý 1/2025, vận tải hành khách đã ghi nhận mức tăng so với cùng kỳ, đóng vai trò tạo nền cho cả năm. Cụ thể, quý 1/2025 đạt 1.414,2 triệu lượt hành khách, tăng 17,6%, trong khi luân chuyển đạt 77,7 tỷ lượt khách.km, tăng 14,7%.

Sang quý 2/2025, cùng với cao điểm du lịch hè, nhịp tăng trở nên rõ rệt hơn. Vận chuyển hành khách đạt 1.462,8 triệu lượt, tăng 25,9% so với cùng kỳ, trong khi luân chuyển đạt 76,0 tỷ lượt khách.km, tăng 15,1%. Chênh lệch giữa hai chỉ tiêu phản ánh số lượt đi lại tăng nhanh hơn so với quãng đường di chuyển bình quân.

Đến quý 3/2025, vận tải hành khách duy trì mức tăng cao. Quý này ghi nhận 1.655,1 triệu lượt hành khách, tăng 25,1%, với luân chuyển đạt 83,0 tỷ lượt khách.km, tăng 18,0%. Đây là quý có quy mô vận chuyển lớn nhất trong năm, đóng góp đáng kể vào tổng mức tăng lũy kế chín tháng.

Trong quý 4/2025, vận tải hành khách tiếp tục tăng so với cùng kỳ, song tốc độ thấp hơn so với hai quý trước. Tổng vận chuyển đạt 1.669,5 triệu lượt, tăng 21,5%, trong khi luân chuyển đạt 78,7 tỷ lượt khách.km, tăng 11,5%. Riêng tháng 12, vận tải hành khách đạt 567,5 triệu lượt, tăng 3,8% so với tháng trước, cho thấy nhu cầu đi lại cuối năm tiếp tục được duy trì.

Tính chung cả năm, mức tăng 22,2% của vận chuyển cao hơn đáng kể so với mức tăng 13,6% của luân chuyển. Chênh lệch này lặp lại xuyên suốt các quý, cho thấy động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ gia tăng tần suất và số lượt đi lại, thay vì mở rộng cự ly di chuyển.

Xét theo phạm vi, vận tải hành khách trong nước chiếm gần như toàn bộ quy mô, đạt 6.164,2 triệu lượt, tăng 22,2%. Trong khi đó, vận tải hành khách ngoài nước đạt 19,4 triệu lượt, tăng 7,8%, với 61,5 tỷ lượt khách.km luân chuyển, tăng 6,4%, phản ánh đặc thù di chuyển cự ly dài dù số lượt không lớn.

Theo loại hình vận tải, đường bộ tiếp tục giữ vai trò chi phối về số lượt trong toàn bộ năm, với 5.654,7 triệu lượt khách, tăng 22,4%. Đường sắt ghi nhận mức tăng mạnh về vận chuyển, đạt 39,9 triệu lượt, tăng gần 100%, trong khi luân chuyển tăng 15,7%, cho thấy số lượt tăng nhanh hơn cự ly vận chuyển. Điều này phù hợp khi số lượng hành khách đang sử dụng các tuyến đường sắt đô thị tại hai thành phố là Hà Nội và TP.HCM ngày một nhiều hơn.

Số liệu vận tải hành khách năm 2025 theo ngành vận tải. Nguồn: Cục Thống kê.

Song song với đó, đường thủy nội địa vận chuyển 453,5 triệu lượt khách, tăng 14,2%, với luân chuyển tăng 21,6%, phần nào phản ánh cự ly di chuyển bình quân tăng nhanh hơn số lượt.

Ngược lại, vận tải hành khách đường biển đạt 11,3 triệu lượt, giảm 5,1%, trong khi luân chuyển vẫn tăng 8,7%, cho thấy sự thay đổi về cơ cấu cự ly vận chuyển. Hàng không, tính theo ngành vận tải, đạt 55,9 triệu lượt hành khách, tăng 7,4%, với luân chuyển tăng 6,2%, duy trì vai trò ổn định trong tổng luân chuyển hành khách.

KHỐI LƯỢNG TĂNG ĐỀU, LUÂN CHUYỂN ĐƯỜNG DÀI ĐÓNG VAI TRÒ CHỦ ĐẠO

So với hành khách, vận tải hàng hóa năm 2025 thể hiện nhịp tăng ổn định hơn giữa các quý và ít chịu tác động của yếu tố mùa vụ. Ngay trong quý 1/2025, khối lượng hàng hóa vận chuyển đạt 715,8 triệu tấn, tăng 15,4%, trong khi luân chuyển đạt 138,6 tỷ tấn.km, tăng 8,9%, phản ánh nhu cầu lưu thông phục vụ sản xuất và tiêu dùng duy trì ở mức cao từ đầu năm.

Sang quý 2/2025, vận chuyển hàng hóa đạt 730,7 triệu tấn, tăng 14,4%, nhưng luân chuyển tăng nhanh hơn, đạt 150,6 tỷ tấn.km, tăng 16,2%, cho thấy cự ly vận chuyển bình quân được mở rộng so với quý trước đó.

Trong quý 3/2025, vận tải hàng hóa đạt mức tăng cao nhất trong năm. Khối lượng vận chuyển đạt 804,9 triệu tấn, tăng 19,8%, với luân chuyển đạt 161,3 tỷ tấn.km, tăng 16,3%. Đây là giai đoạn phản ánh rõ nhu cầu vận chuyển phục vụ sản xuất, lưu thông và xuất nhập khẩu trước cao điểm cuối năm.

Đến quý 4/2025, vận tải hàng hóa tiếp tục duy trì đà tăng, song tốc độ thấp hơn so với quý trước đó. Quý này ghi nhận 799,6 triệu tấn hàng hóa, tăng 10,8%, với luân chuyển đạt 160,2 tỷ tấn.km, tăng 9,9%. Riêng tháng 12, khối lượng vận chuyển đạt 272,3 triệu tấn, tăng 4,7% so với tháng trước, đóng góp đáng kể vào tổng quy mô cả năm.

Tính chung năm 2025, vận chuyển hàng hóa tăng 14,1%, trong khi luân chuyển tăng 13,1%, phản ánh sự mở rộng tương đối đồng đều cả về khối lượng và cự ly vận chuyển.

Xét theo phạm vi, vận tải hàng hóa trong nước ước đạt 2.977,5 triệu tấn, tăng 14,3%, song luân chuyển chỉ tăng 7,3%, phản ánh đặc trưng vận chuyển ngắn và trung tuyến.

Ngược lại, vận tải hàng hóa ngoài nước đạt 50,2 triệu tấn, tăng 4,3%, nhưng luân chuyển đạt 257,3 tỷ tấn.km, tăng 22,2%, đóng góp tỷ trọng lớn vào tổng cự ly vận chuyển của toàn ngành.

Theo loại hình, đường bộ tiếp tục chiếm ưu thế về khối lượng với 2.275,4 triệu tấn hàng hóa, tăng 14,7%, trong khi luân chuyển chỉ tăng 8,9%. Đường thủy nội địa trong năm 2025 vận chuyển 598,0 triệu tấn, tăng 12,8%, với luân chuyển tăng 10,9%, giữ vai trò quan trọng trong vận chuyển hàng rời.

Số liệu vận tải hàng hóa năm 2025 phân theo ngành vận tải. Nguồn: Cục Thống kê.

Đường biển đạt 148,3 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 12%, và luân chuyển đạt 321,9 tỷ tấn.km, tăng 16,6%, tiếp tục là phương thức chủ đạo về vận tải đường dài và xuất nhập khẩu.

Đường sắt đạt 5,5 triệu tấn, tăng 7,1%, với luân chuyển tăng 4,9%. Trong khi hàng không vận chuyển 0,5 triệu tấn, tăng 4,4%, chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng quy mô vận tải hàng hóa.

-Minh Kiệt

Categories: The Latest News

Dòng tiền xoay trục mạnh, đổ vào các quỹ ETF cổ phiếu Mỹ

Wed, 01/07/2026 - 13:38
Diễn biến này cho thấy dòng vốn vẫn ưu tiên các rổ chỉ số cổ phiếu Mỹ trong giai đoạn đầu năm, bất chấp việc các chỉ số thị trường điều chỉnh nhẹ.

Trong tuần giao dịch vừa qua, thị trường chứng khoán Mỹ ghi nhận nhịp điều chỉnh nhẹ trong bối cảnh thanh khoản suy yếu do kỳ nghỉ cuối năm và tâm lý thận trọng quay trở lại đối với nhóm cổ phiếu công nghệ sau giai đoạn tăng mạnh trước đó. Các phiên đầu tuần cho thấy áp lực chốt lời gia tăng tại nhóm công nghệ, khiến các chỉ số chính đồng loạt giảm điểm.

Đến phiên giao dịch ngày 02/01, thị trường chuyển sang trạng thái dao động giằng co khi lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ nhích lên cùng với việc đồng đô la Mỹ (USD) mạnh hơn, qua đó khiến thị trường tiến hành tái định giá kỳ vọng về lộ trình lãi suất trong giai đoạn đầu năm.

Kết thúc tuần, chỉ số Standard Poor’s 500 (SP 500) giảm 1,1% so với tuần trước (week-over-week), chỉ số Nasdaq Composite giảm 1,6% so với tuần trước, trong khi chỉ số Dow Jones Industrial Average giảm 0,7% so với tuần trước.

Song song với nhịp điều chỉnh của thị trường chứng khoán Mỹ, dòng tiền vào các quỹ hoán đổi danh mục (Exchange-Traded Fund – ETF) tại Mỹ gần như đi ngang so với tuần trước đó. Tổng giá trị huy động ròng đạt 36,19 tỷ USD, tăng nhẹ 0,5% so với tuần trước.

Điểm đáng chú ý là sự xoay trục mạnh mẽ của dòng tiền sang các quỹ ETF cổ phiếu Mỹ, với giá trị hút ròng lên tới 27,59 tỷ USD, tăng 92,5% so với tuần trước. Diễn biến này cho thấy dòng vốn vẫn ưu tiên các rổ chỉ số cổ phiếu Mỹ trong giai đoạn đầu năm, bất chấp việc các chỉ số thị trường điều chỉnh nhẹ.

Ngược lại, ETF trái phiếu Mỹ ghi nhận dấu hiệu hạ nhiệt khi giá trị hút ròng giảm xuống còn 9,07 tỷ USD, tương đương mức giảm 49,1% so với tuần trước.

Đối với các quỹ ETF đầu tư ra ngoài nước Mỹ, dòng tiền thể hiện sự thận trọng rõ rệt hơn. Cụ thể, ETF cổ phiếu ngoài Mỹ chỉ hút ròng 4,42 tỷ USD, giảm mạnh 65,4% so với tuần trước, trong khi ETF trái phiếu ngoài Mỹ hút ròng 1,18 tỷ USD, giảm 33,9% so với tuần trước. Việc đồng đô la Mỹ và lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ cùng tăng trong tuần đã làm suy giảm sức hấp dẫn tương đối của các tài sản ngoài Mỹ, qua đó khiến hoạt động giải ngân ra thị trường quốc tế chững lại.

Trong khi đó, dòng vốn vào các quỹ ETF hàng hóa đảo chiều sang trạng thái rút ròng với giá trị -0,52 tỷ USD, sau khi ghi nhận mức hút ròng mạnh trong tuần trước đó. Nguyên nhân chủ yếu đến từ việc giá vàng hạ nhiệt cùng với xu hướng tăng giá của đồng đô la Mỹ.

Nhìn chung, tổng dòng tiền vào các quỹ ETF không suy giảm đáng kể, tuy nhiên cấu trúc dòng vốn cho thấy sự ưu tiên tiếp tục nghiêng về thị trường Mỹ, đồng thời giảm tỷ trọng phân bổ vào hàng hóa và các tài sản ngoài Mỹ trong tuần giao dịch ngắn.

Tại khu vực châu Á, dòng vốn của nhà đầu tư nước ngoài ghi nhận sự phân hóa mạnh trong tuần đầu năm. Đáng chú ý, thị trường Ấn Độ bị rút ròng 1,54 tỷ USD, tăng mạnh so với tuần trước đó, trong bối cảnh đồng rupee tiếp tục mất giá bất chấp các biện pháp can thiệp quy mô lớn từ Ngân hàng Dự trữ Ấn Độ (Reserve Bank of India). Đồng thời, tâm lý nhà đầu tư vẫn duy trì sự thận trọng trước triển vọng lợi nhuận doanh nghiệp và các yếu tố bất định liên quan đến thương mại quốc tế.

Ngược lại, dòng tiền tiếp tục tìm đến các thị trường gắn chặt với chuỗi giá trị công nghệ. Thị trường Đài Loan tiếp tục hút ròng 1,04 tỷ USD, trong khi Hàn Quốc đảo chiều sang trạng thái rút ròng 316,6 triệu USD sau tuần hút ròng mạnh trước đó.

Bên cạnh đó, Indonesia duy trì hút ròng 124,4 triệu USD, nhờ định hướng chính sách ưu tiên ổn định tỷ giá của Ngân hàng Trung ương Indonesia (Bank Indonesia) cùng với kỳ vọng tăng trưởng kinh tế năm 2026 tương đối vững chắc, giúp thị trường này giữ được sức hấp dẫn so với các thị trường nhạy cảm hơn trước biến động của nhóm cổ phiếu công nghệ.

Dòng vốn vào các quỹ ETF tại khu vực Đông Nam Á tiếp tục trong trạng thái rút ròng nhưng mức độ đã thu hẹp đáng kể so với tuần trước, với tổng giá trị rút ròng 2,88 triệu USD. Trong đó, Singapore (định danh bằng đồng USD) và Việt Nam lần lượt hút ròng 4,47 triệu USD và 2,38 triệu USD. Ngược lại, Thái Lan bị rút ròng 5,10 triệu USD, Philippines rút ròng 3,74 triệu USD và Indonesia rút ròng 0,89 triệu USD.

Riêng các quỹ ETF có phân bổ đầu tư vào thị trường Việt Nam ghi nhận trạng thái rút ròng nhẹ. Áp lực rút vốn chủ yếu đến từ quỹ Fubon FTSE Vietnam ETF với giá trị -2,29 triệu USD và quỹ E1VFVN30 ETF với giá trị -0,81 triệu USD. Ở chiều ngược lại, quỹ FUEVFVND ETF hút ròng 0,73 triệu USD, góp phần cân bằng một phần áp lực rút vốn chung.

Trên thị trường chứng khoán Việt Nam, khối nhà đầu tư nước ngoài ghi nhận mua ròng 1.568 tỷ đồng, đi ngang so với tuần trước. Hoạt động mua ròng tập trung chủ yếu tại các cổ phiếu STB với giá trị 674 tỷ đồng, FPT với 526 tỷ đồng và MWG với 453 tỷ đồng. Ở chiều ngược lại, áp lực bán ròng tập trung tại VIC với giá trị -892 tỷ đồng, VHM với -460 tỷ đồng và BWE với -328 tỷ đồng.

Với bối cảnh dòng vốn toàn cầu đang có xu hướng ổn định trở lại và sự cải thiện tương đối của tâm lý nhà đầu tư, xu hướng mua ròng của khối ngoại tại thị trường chứng khoán Việt Nam được kỳ vọng sẽ tiếp tục duy trì trong tuần giao dịch đầu tiên của năm 2026.

-Thu Minh

Categories: The Latest News

Nhà đầu tư cá nhân lại ồ ạt mở tài khoản chứng khoán trong tháng cuối năm 2025

Wed, 01/07/2026 - 13:37
Trong tháng 12 - tháng cuối cùng của năm 2025, nhà đầu tư cá nhân trong nước mở mới 279.000 tài khoản, tăng mạnh so với số tài khoản mở của tháng trước 237.000 tài khoản.

Theo số liệu mới nhất từ Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam cho thấy, trong tháng 12 - tháng cuối cùng của năm 2025, nhà đầu tư cá nhân trong nước mở mới 279.000 tài khoản, tăng mạnh so với số tài khoản mở của tháng trước 237.000 tài khoản.

Tính đến hết năm 2025, số tài khoản của nhà đầu tư cá nhân trong nước đạt 11,8 triệu tài khoản vượt xa mục tiêu chính phủ đề ra. Theo đó, số tài khoản chứng khoán tương đương với khoảng 11,8% dân số, vượt mục tiêu trước thời hạn 11 triệu tài khoản vào năm 2030.

Nhà đầu tư cá nhân mở mới tài khoản tăng vọt trong bối cảnh quy mô thị trường tăng trưởng mạnh trong năm 2025, thể hiện qua vốn hóa thị trường mở rộng, thanh khoản gia tăng nhờ dòng tiền trong nước với đóng góp đáng kể từ dòng tiền margin. 

Khối ngoại bán ròng kỷ lục năm 2025 với tổng giá trị -135.329 tỷ đồng, đánh dấu năm bán ròng thứ 3 liên tiếp của khối ngoại trong chuỗi bán ròng 5/6 năm vừa qua. Năm 2025, khối ngoại mua ròng đối với: VPL (+1.495 tỷ đồng), MWG (+1.409 tỷ đồng), NVL (+1.270 tỷ đồng), trong khi bán ròng VIC (-22.994 tỷ đồng), VHM (-11.819 tỷ đồng), FPT (-11.677 tỷ đồng), …

Cá nhân và tổ chức trong nước là bên mua ròng đối ứng giá trị ròng lần lượt 54 nghìn tỷ và 43,8 nghìn tỷ. Trong khi đó, tự doanh các công ty chứng khoán năm 2025 mua ròng 6,8 nghìn tỷ đối với các cổ phiếu như: GEE (+2.438 tỷ đồng), HPG (+1.180 tỷ đồng), TCB (+1.001 tỷ đồng), … trong khi bán ròng đối với các cổ phiếu khác như: VPB (-3.012 tỷ đồng), SHS (-812 tỷ đồng), BSR (-661 tỷ đồng).

Dưới góc nhìn của Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam (VSDC), việc số lượng nhà đầu tư mở tài khoản mới trong năm qua đạt mức kỷ lục là một dấu mốc rất đáng chú ý, phản ánh cả sự phát triển về chiều rộng lẫn chiều sâu của thị trường chứng khoán Việt Nam

TS Tạ Thanh Bình, Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ Chứng khoán Việt Nam (VSDC) nhấn mạnh việc số lượng nhà đầu tư cá nhân chiếm tỉ lệ quá lớn như vậy, cũng sẽ phần nào ảnh hưởng đến tính ổn định của thị trường. Chính vì vậy, Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 3168/QĐ-BTC ngày 12/9/2025 phê duyệt Đề án “Tái cấu trúc nhà đầu tư và phát triển ngành quỹ đầu tư chứng khoán đến năm 2030”. Đây là một trong những nỗ lực trọng tâm của cơ quan quản lý nhằm cơ cấu lại cầu đầu tư, nâng cao chất lượng và tính bền vững của thị trường chứng khoán Việt Nam.

"Từ góc độ triển vọng, VSDC đánh giá số lượng tài khoản nhà đầu tư vẫn còn dư địa tiếp tục tăng trong những năm tới. Sự gia tăng nhanh của số lượng tài khoản cũng song hành với diễn biến tích cực của thị trường trong năm qua, khi chỉ số thị trường tăng khoảng 30%, thanh khoản cải thiện rõ rệt, niềm tin của nhà đầu tư từng bước được củng cố", TS Tạ Thanh Bình nói.

-Thu Minh

Categories: The Latest News

Viettel ra mắt sàn thương mại điện tử nông sản Freso

Wed, 01/07/2026 - 13:07
Sàn thương mại điện tử nông sản Freso do Tổng Công ty Dịch vụ số Viettel, thành viên Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội (Viettel) triển khai đã chính thức ra mắt vào ngày 5/1.

Trong Chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, Thủ tướng Chính phủ đã xác lập rõ định hướng chuyển từ tư duy “sản xuất nông nghiệp” sang phát triển “kinh tế nông nghiệp”. Các văn bản như Quyết định 150/QĐ-TTg (2022), Quyết định 56/QĐ-BTTTT và Nghị quyết 19-NQ/TW (2022) đều nhấn mạnh yêu cầu tổ chức sản xuất - kinh doanh nông nghiệp theo chuỗi giá trị; hiện đại hóa kênh thương mại; đưa nông sản và hộ nông sản lên các sàn giao dịch số; đồng thời nâng cao khả năng truy xuất nguồn gốc chuẩn hoá chứng từ giao dịch; tăng tính kết nối giữa các chủ thể tham gia thị trường.

Trên thực tế, đối với các đơn vị tiêu thụ như nhà hàng, quán ăn, quán cà phê…, hoạt động nhập nguyên liệu nông sản gắn liền với các yêu cầu quản lý ngày càng chặt chẽ về hóa đơn, chứng từ và quản trị dữ liệu giao dịch. Đơn cử, theo Nghị định 70/2025/NĐ-CP, từ ngày 1/6/2025, hoạt động kinh doanh dịch vụ ăn uống thuộc diện áp dụng phải sử dụng hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền có kết nối chuyển dữ liệu với cơ quan thuế… Từ đây, bài toán tổ chức giao dịch đầu vào - đầu ra theo hướng minh bạch, có dữ liệu và dễ truy xuất khi cần - trở thành một yêu cầu thực tế nhằm giảm rủi ro và vận hành ổn định hơn cho các đơn vị FB.

Trong bối cảnh đó, Tổng Công ty Dịch vụ số Viettel nghiên cứu phát triển Freso - sàn thương mại điện tử nông sản B2B; kết nối cung cấp nguyên liệu thực phẩm trực tiếp từ nông trại, hợp tác xã đến các nhà hàng, quán ăn, quán cà phê (FB). Freso quy tụ hơn 100 nhà cung cấp, đảm bảo hơn 10.000 mặt hàng chất lượng và đủ 100% hóa đơn VAT.

Hiện nay, Freso được triển khai chủ yếu tại Hà Nội và TP.HCM - các địa bàn tập trung 2/3 trong tổng số hơn 323.000 cơ sở FB đang hoạt động trên cả nước (tính đến cuối 2024, theo số liệu của iPOS.vn và Nestlé Professional). Việc triển khai tại các trung tâm tiêu thụ này cho phép Freso tiếp cận trực tiếp khu vực có quy mô giao dịch lớn, đồng thời từng bước hỗ trợ các đơn vị làm quen với hình thức giao dịch nông sản minh bạch, có dữ liệu và thuận tiện cho công tác quản trị.

Sàn thương mại điện tử nông sản Freso được hình thành như một giải pháp số hóa hoạt động thương mại nông sản Việt, góp phần chuẩn hoá quy trình giao dịch, minh bạch hoá nguồn gốc và kết nối các đối tượng cung - cầu hiệu quả.

Thông qua Freso, việc kết nối nguồn cung - cầu từ nông trại, hợp tác xã tới nhà hàng được thực hiện tập trung hơn, giúp giảm tình trạng giao dịch phân mảnh, phải qua nhiều trung gian. Nhờ đó, thông tin về nhà cung cấp, sản phẩm và chứng từ được quản lý thống nhất; góp phần tăng tính minh bạch và giảm rủi ro trong quá trình giao dịch. Cách vận hành này không chỉ hỗ trợ tiêu thụ nông sản theo hướng bài bản, mà còn góp phần xây dựng các chuẩn mực giao dịch phù hợp với định hướng phát triển kinh tế nông nghiệp quốc gia.

Khi truy cập website/ứng dụng Freso, người dùng được “cá nhân hoá” trải nghiệm giao diện từ danh mục sản phẩm đến nhà cung cấp phù hợp với nhu cầu và khu vực địa lý.

Cùng với tiến trình phát triển kinh tế nông nghiệp và chuyển đổi số quốc gia, Freso hướng tới góp phần xây dựng nền tảng dữ liệu và quy trình giao dịch chuẩn hóa, tạo tiền đề để nông sản Việt nâng cao giá trị và đáp ứng tốt hơn các yêu cầu của thị trường.

Tổng Công ty Dịch vụ số Viettel là đơn vị trực thuộc Tập đoàn Công nghiệp – Viễn thông Quân đội (Viettel), hoạt động chuyên sâu trong lĩnh vực fintech. Trước Freso, Tổng Công ty đã triển khai các nền tảng tài chính số quy mô lớn như Viettel Money phục vụ 30 triệu người dùng cá nhân và VT Finance dành cho doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng. Freso được xác định là bước đi tiên phong trong lĩnh vực nông nghiệp, góp phần hiện thực hóa mục tiêu chuyển đổi số hoạt động thương mại nông nghiệp nước nhà theo hướng minh bạch, chính quy và bền vững hơn.

-Khánh Huyền

Categories: The Latest News

Mở đường chuyển dịch tài sản số vào nền kinh tế

Wed, 01/07/2026 - 13:02
Luật Công nghiệp công nghệ số chính thức luật hóa tài sản số, tài sản mã hóa, cùng với Nghị quyết 05/2025/NQ-CP về thí điểm giao dịch, đã khẳng định đây là một lớp tài sản quan trọng. Trong tương lai, dù ở cấp độ quốc gia, doanh nghiệp hay cá nhân, tài sản mã hóa đều sẽ được sở hữu và tích lũy. Bài toán trước mắt là cần sớm chuyển dịch tài sản mã hóa từ khu vực “kinh tế ngầm” rất tiềm năng hiện nay trở thành động lực phát triển kinh tế.

Ông nhìn nhận như thế nào về vai trò của loại hình tài sản mới – tài sản mã hóa sau khi chính thức được “gọi mặt, đặt tên” trong Luật Công nghiệp công nghệ số có hiệu lực từ 1/1/2026 và Nghị quyết 05 về thí điểm thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam, thưa ông?

Luật Công nghiệp công nghệ số xác lập hai đặc điểm quan trọng của tài sản số.

Đặc điểm thứ nhất, tài sản số được định nghĩa trên cơ sở tham chiếu Bộ luật Dân sự 2015, qua đó khẳng định tài sản số là một loại tài sản.

Đặc điểm thứ hai, dù có nhiều cách phân loại, về cơ bản tài sản số được phân theo hai tiêu chí chính: mục đích sử dụng và tính chất công nghệ.

Ở đặc điểm thứ nhất, việc khẳng định là tài sản theo Bộ luật Dân sự cho phép các hoạt động liên quan đến tài sản số được xem xét và điều chỉnh trong khuôn khổ pháp luật hiện hành mà chưa cần ban hành luật mới. Đây cũng là xu hướng lập pháp phổ biến của nhiều quốc gia khi tiếp cận loại tài sản này. Tất nhiên, đối với các hoạt động mang tính thị trường (phát hành, giao dịch, cung cấp dịch vụ…), mức độ “đi vào đời sống” vẫn phụ thuộc vào thiết kế quy định chuyên ngành và hướng dẫn triển khai cụ thể.

Ở đặc điểm thứ hai, cách phân loại tài sản mã hóa theo mục đích sử dụng và tính chất công nghệ mở ra hướng tiếp cận tiệm cận nhiều chuẩn mực và thông lệ quốc tế, phù hợp với hệ thống pháp luật Việt Nam, vừa bảo đảm vai trò quản lý nhà nước, vừa tạo dư địa thúc đẩy đổi mới sáng tạo.

Khi thực hiện phân loại, có thể thấy hệ sinh thái tài sản số rất đa dạng bao gồm: CBDC (tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương), RWA (token hóa tài sản thực), tài sản ảo, token chứng khoán… Mỗi loại có đặc điểm, vai trò riêng và trong thực tiễn có thể chồng lấn về mặt phân loại. Quá trình hình thành của từng loại tài sản cũng mang những đặc thù rất khác biệt.

Chẳng hạn, Bitcoin là một loại tài sản mã hóa không gắn với tài sản thực, nhưng lại giữ vai trò nền tảng, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong không gian tài sản mã hóa. Xu hướng các quốc gia dự trữ Bitcoin nhằm tối ưu lợi ích kinh tế và thúc đẩy sự phát triển của lĩnh vực này đang được nhiều nền kinh tế lớn quan tâm. Riêng Hoa Kỳ đã có quyết định ở cấp hành pháp về việc thiết lập Quỹ Dự trữ Bitcoin chiến lược tại một số bang, trong khi nhiều quốc gia khác dù chưa chính thức về mặt hành pháp nhưng cũng đang nắm giữ lượng lớn Bitcoin một cách công khai.

Với cách tiếp cận như vậy, Luật Công nghiệp công nghệ số hướng tới đồng thời hai mục tiêu: quản lý và thúc đẩy sự phát triển của tài sản số nói chung, tài sản mã hóa nói riêng, phù hợp với pháp luật trong nước và bám sát xu hướng toàn cầu.

Nguồn tài sản mới này nên được quản lý như thế nào, thưa ông?

Trong quản lý, Việt Nam có thể tham khảo kinh nghiệm từ các mô hình đi trước như Hoa Kỳ, Các Tiểu vương quốc Arập Thống nhất (UAE), Hồng Kông, Thái Lan… Cần khẳng định rằng không tồn tại một mô hình quản trị chung phù hợp cho mọi quốc gia. Bên cạnh việc tuân thủ các tiêu chuẩn toàn cầu về phòng, chống rửa tiền của FATF, hay các khuyến nghị từ các tổ chức quốc tế khác như BIS, FSB, IMF,... mỗi quốc gia đều thiết kế khuôn khổ quản lý riêng phù hợp với đặc thù thị trường nội địa nhằm tối ưu nguồn lực và đáp ứng nhu cầu phát triển khác nhau.

Ví dụ, Hoa Kỳ ưu tiên thúc đẩy đổi mới sáng tạo, kết nối fintech với tài chính truyền thống nhưng đồng thời nhấn mạnh bảo vệ nhà đầu tư và kỷ luật thị trường; Singapore nhấn mạnh quản trị rủi ro và tuân thủ song hành đổi mới; Hồng Kông định vị mình như một trung tâm VA-VASP toàn cầu; còn UAE tận dụng khung pháp lý cởi mở để xây dựng khung cấp phép chuyên biệt, điển hình Dubai có VARA và bộ quy định quản lý hoạt động tài sản ảo nhằm thu hút doanh nghiệp quốc tế.

Đối với Việt Nam, việc ban hành các quy định thúc đẩy thị trường tài sản số gắn với RWA là một lựa chọn phù hợp và mang tính đón đầu. Cách tiếp cận này không chỉ giúp doanh nghiệp mở rộng kênh huy động vốn, gia tăng thanh khoản, mà còn tạo động lực đổi mới cho lĩnh vực fintech và tài chính truyền thống, đặc biệt tại các khu vực đang được ưu tiên phát triển như Trung tâm Tài chính quốc tế Đà Nẵng và TP.Hồ Chí Minh.

Những quy định pháp lý mới nhất về tài sản số, tài sản mã hóa cùng với Chiến lược Blockchain quốc gia trước đó sẽ tác động như thế nào đến sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam?

Chiến lược Blockchain quốc gia được ban hành ngày 22/10/2024 đã được tiếp thêm động lực mạnh mẽ nhờ Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, Luật Công nghiệp công nghệ số, Danh mục Công nghệ chiến lược. Nói cách khác, Blockchain được kéo về đúng vị trí công nghệ hạ tầng trong chiến lược năng lực cạnh tranh quốc gia, chứ không chỉ là câu chuyện của một thị trường ngách.

Đối với thị trường tài sản số, Luật Công nghiệp công nghệ số và Nghị quyết 05/NQ-CP của Chính phủ về thí điểm thị trường tài sản mã hóa đang tạo ra khung nền ban đầu. Cùng với các cơ chế, chính sách thúc đẩy đổi mới sáng tạo của Đà Nẵng và định hướng xây dựng Trung tâm Tài chính quốc tế tại Đà Nẵng và TP. Hồ Chí Minh đã tạo không gian pháp lý cho triển khai và thử nghiệm khá rộng mở. Cách tiếp cận này giúp Nhà nước vừa có dữ liệu thực tiễn để hoàn thiện luật về sau, vừa giảm rủi ro hệ thống trong giai đoạn đầu triển khai thí điểm.

Để chính sách đi vào thực tiễn vẫn cần thêm nhiều văn bản hướng dẫn cụ thể, đặc biệt là các chuẩn về cấp phép vận hành, công bố thông tin, kế toán, định giá tài sản cơ sở, thuế, bảo vệ nhà đầu tư, và tuân thủ AML/CFT... Tôi tin rằng tài sản mã hóa đang khởi đầu tích cực và sẽ sớm tạo ra tác động sâu rộng tới đời sống kinh tế - xã hội, tương tự những gì mà thị trường chứng khoán đã thể hiện cách đây 20 năm.

Chiến lược Blockchain quốc gia cũng đặt ra nhiều mục tiêu cụ thể tới năm 2030 như xây dựng 3 trung tâm ứng dụng thử nghiệm có kiểm soát về Blockchain, 20 doanh nghiệp - sản phẩm “Make in Việt Nam” và hạ tầng Blockchain quốc gia. Cùng với đó là các mục tiêu lồng ghép ứng dụng công nghệ này vào hoạt động của các lĩnh vực từ ngân hàng, văn hóa và du lịch tới nông nghiệp.

Công nghệ Blockchain được xác định là một công nghệ chiến lược, hạ tầng Blockchain được định vị là hạ tầng số dùng chung cho các dịch vụ công – tư, điển hình như ứng dụng truy xuất nguồn gốc tiền chất, hóa chất của Bộ Công an đang triển khai trên nền tảng định danh quốc gia VNeID.

Bên cạnh đó, nhiều ứng dụng tiêu biểu khác đang được triển khai tích cực trên Mạng dịch vụ đa chuỗi Blockchain Việt Nam (VBSN) do VBA khởi xướng, như: ChainTracer phục vụ truy vết các dự án có dấu hiệu rủi ro; bản đồ số thí điểm tại TP. Đà Nẵng; xác thực văn bằng, chứng chỉ tại Học viện Kỹ thuật Mật mã; định danh và xác thực phi tập trung (DID/VC) tại một số ngân hàng, tổ chức tài chính lớn; cùng nền tảng xác thực, đăng ký và quản lý quyền sở hữu trí tuệ.

VBA cũng liên tục ghi nhận sự quan tâm rõ nét từ các doanh nghiệp truyền thống và các định chế tài chính trong việc phối hợp đào tạo, chia sẻ kinh nghiệm quốc tế về ứng dụng, triển khai Blockchain, từ cấp hội đồng quản trị, lãnh đạo cấp cao đến đội ngũ thực thi. Điều này cho thấy sự quan tâm đã chuyển từ giai đoạn tìm hiểu sang trạng thái sẵn sàng triển khai có chọn lọc, có trọng điểm.

Như ông chia sẻ, tài sản số, công nghệ Blockchain sẽ tác động tới nhiều ngành nghề, lĩnh vực khác nhau, vậy cụ thể sẽ tác động và mở ra những cơ hội như thế nào?

Nghị quyết 05/NQ-CP dự kiến cho phép tối đa 5 doanh nghiệp, mỗi doanh nghiệp có vốn điều lệ từ 10.000 tỷ đồng, tham gia thí điểm thành lập sàn giao dịch tài sản mã hóa tập trung. Tôi cho rằng nhóm doanh nghiệp này sẽ tạo ra những chuyển biến đáng kể, từ hoàn thiện hạ tầng giao dịch, thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao, đến hình thành một sân chơi mới cho nhà đầu tư và các tổ chức có nhu cầu huy động vốn thông qua RWA.

Thực tế cho thấy, trong khi dòng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam 2025 dự kiến cao kỷ lục nhưng cũng chỉ ở mức 35-38 tỷ USD, thì ở các khu vực tự phát, dòng vốn tài sản mã hóa cao gấp 4 lần, lên tới 220 tỷ USD (giai đoạn tháng 7/2024 - tháng 6/2025), theo Chainalysis.

Những con số này khẳng định nguồn lực và tiềm năng rất lớn của Việt Nam trong lĩnh vực này. Vấn đề then chốt là làm thế nào để chuyển dịch dòng vốn từ khu vực “kinh tế ngầm” sang khu vực chính thống, điều vốn phụ thuộc nhiều vào chính sách cụ thể, năng lực thực thi của cơ quan quản lý và cần thời gian để trả lời.

Dù vậy, ở thời điểm hiện tại, các chính sách về tài sản mã hóa đã cho thấy tác động tích cực, thể hiện qua việc hạn chế tình trạng lợi dụng công nghệ để huy động vốn đa cấp hoặc buôn bán tài sản mã hóa giả mạo (như Bitcoin, ETH…). Việc nhiều vụ việc xảy ra trước năm 2022 được điều tra hồi tố trong thời gian gần đây cho thấy khung pháp lý đang dần phát huy hiệu quả, đồng thời thể hiện sự quyết liệt của cơ quan quản lý trong việc củng cố niềm tin đối với thị trường tài chính Việt Nam nói chung.

Đối với các doanh nghiệp, việc luật hóa tài sản số - dòng tài sản mới và công nghệ Blockchain sẽ hỗ trợ và thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp như thế nào, thưa ông?

Trước hết, phải khẳng định Blockchain có thể thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của các doanh nghiệp và tạo ra lợi ích rõ nhất với các ngành có yêu cầu cao về minh bạch dữ liệu và đối soát đa bên, điển hình là lĩnh vực tài chính, sau đó lan rộng ra nhiều lĩnh vực khác nhờ vào tính năng ghi nhận giao dịch bất biến và truy xuất lịch sử giao dịch một cách minh bạch và đáng tin cậy.

Trên thế giới, xu hướng số hóa tài sản và vận hành thị trường trên nền tảng token hóa đã đi vào giai đoạn triển khai thực tế, Quỹ token hóa tài sản (BUIDL) của BlackRock đã vượt mốc 1 tỷ USD giá trị tài sản quản lý, hay J.P. Morgan Asset Management vừa ra mắt quỹ thị trường tiền tệ được token hóa trên blockchain Ethereum công khai. Những ví dụ này cho thấy Blockchain đang được các định chế lớn sử dụng như một hạ tầng vận hành chứ không chỉ là thử nghiệm công nghệ.

Thử hình dung việc chuyển 1 USD từ Việt Nam sang Mỹ, thông thường sẽ phải giao dịch qua ngân hàng, nhưng thực tế việc thực hiện các giao dịch siêu nhỏ xuyên biên giới như thế này có khả thi không? Tất nhiên không vì chi phí thực hiện vượt quá giá trị giao dịch, nhưng Blockchain/tài sản số sẽ làm được. Thực tế, chi phí kiều hối trung bình toàn cầu vẫn ở mức đáng kể (khoảng 6,49%), cho thấy chi phí vẫn là bài toán hiện hữu khi chuyển giá trị xuyên biên giới, đặc biệt với các khoản nhỏ. Giao dịch ngân hàng có thể thực hiện 24/7 được hay không? Câu trả lời là có nhưng chỉ đối với các giao dịch nhỏ hoặc cá nhân (qua app ngân hàng), nhưng ở quy mô giao dịch lớn (ủy nhiệm chi doanh nghiệp) là không được. Còn Blockchain sẽ làm được với các giao dịch 24/7, chỉ cần có Internet. 

Tuy nhiên, Blockchain không phải là lời giải tối ưu cho mọi doanh nghiệp. Trước khi triển khai, mỗi doanh nghiệp cần trả lời rõ ràng các câu hỏi: việc ứng dụng Blockchain có giúp tăng doanh thu, giảm chi phí hay tối ưu quy trình quản trị hay không. Thực tế cho thấy không ít trường hợp áp dụng Blockchain chỉ như một công cụ marketing, nhằm nâng giá sản phẩm, thay vì tạo ra giá trị cốt lõi bền vững.

Về mặt bản chất, Blockchain sẽ phát huy hiệu quả cao nhất đối với các doanh nghiệp có mô hình hoạt động phân tán, quy mô đủ lớn, phạm vi xuyên biên giới hoặc toàn cầu.

Tôi cho rằng khi Luật Công nghiệp công nghệ số chính thức có hiệu lực, cùng với các nghị định và thông tư liên quan đến tài sản số và tài sản mã hóa được ban hành, Việt Nam sẽ hình thành nhiều nền tảng ứng dụng xuyên biên giới. Có thể kể đến token hóa tài sản thực (RWA), các mô hình xây dựng cộng đồng dựa trên token, ứng dụng NFT trong truyền tải văn hóa thông qua game, giải pháp fintech giúp ngân hàng tiếp cận thị trường quốc tế với chi phí thấp, cũng như các ứng dụng logistics và truy xuất nguồn gốc trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 51-52-2025 phát hành ngày 22-29/12/2025. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:

Link: https://vneconomy.vn/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-5152-2025.htm

-

Categories: The Latest News

Pages