Thời báo kinh tế Việt Nam
Xuất hiện điện thoại bàn phím “dáng dấp” BlackBerry
Clicks, công ty từng gây chú ý với bàn phím QWERTY gắn rời cho iPhone, mới đây đã giới thiệu sản phẩm điện thoại thông minh đầu tiên, mang tên Clicks Communicator.
Thiết kế của Clicks Communicator được nhiều người nhận xét gợi nhớ đến những chiếc BlackBerry một thời thống lĩnh phân khúc điện thoại dành cho doanh nhân.
Clicks Communicator được định vị không phải để giải trí, mà là thiết bị phục vụ giao tiếp. Theo nhà sản xuất, sản phẩm có thể xem như điện thoại phụ, phục vụ những người thường xuyên nhắn tin, gửi email và muốn hạn chế xao nhãng từ mạng xã hội.
Về phần cứng, máy sở hữu màn hình OLED 4 inch nhỏ gọn, kích thước hiếm gặp trong bối cảnh thiết kế điện thoại ngày càng lớn. Bên cạnh đó, Clicks Communicator cũng giữ lại nhiều chi tiết đang dần biến mất trên điện thoại hiện đại, như giắc cắm tai nghe 3,5 mm hay khe cắm thẻ nhớ microSD, cho phép mở rộng dung lượng lưu trữ lên tới 2TB.
Thiết bị chạy trên hệ điều hành Android 16 và được trang bị nút vật lý riêng ở cạnh bên, gọi là “phím nhắc”. Nút này cho phép kích hoạt nhanh các tính năng như chuyển giọng nói thành văn bản, ghi âm hoặc phiên âm.
Điểm nhấn đáng chú ý của máy là bàn phím QWERTY vật lý. Ngoài chức năng nhập liệu, bàn phím còn hỗ trợ cảm ứng để cuộn nội dung trong hộp thư, tin nhắn hay trang web. Cảm biến vân tay được tích hợp ngay trên phím cách, đi kèm đèn LED thông báo có thể tùy chỉnh theo từng liên hệ hoặc ứng dụng. Đây được xem như chi tiết gợi lại tinh thần BlackBerry trước đây.
Clicks Communicator được trang bị bộ nhớ trong 256GB, camera sau 50MP và camera trước 24MP. Máy hỗ trợ cả SIM vật lý và eSIM, sử dụng pin dung lượng 4.000mAh và có sạc không dây chuẩn Qi. Về kết nối, thiết bị hỗ trợ đầy đủ mạng 4G và 5G.
Theo kế hoạch, Clicks Communicator sẽ được mở bán trước tiên tại thị trường Mỹ với ba màu sắc gồm Smoke, Clover và Onyx. Giá bán dự kiến là 499 USD.
-Hạ Chi
Phát triển bền vững thị trường carbon rừng: Hoàn thiện khung pháp lý, nâng cao năng lực quản lý
Thị trường carbon rừng tại Việt Nam đang nổi lên như một lĩnh vực đầy tiềm năng, hứa hẹn mang lại nguồn tài chính xanh đáng kể cho quốc gia. Trong bối cảnh toàn cầu đang chú trọng đến các giải pháp khí hậu dựa vào tự nhiên, Việt Nam đã và đang nỗ lực hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao năng lực quản lý để phát triển thị trường này một cách bền vững và minh bạch.
Theo Luật Lâm nghiệp 2017, dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon rừng đã được luật hóa, trở thành một trong năm loại dịch vụ môi trường rừng. Điều này tạo nền tảng pháp lý vững chắc cho việc phát triển thị trường carbon rừng. Hiện tại, Việt Nam đang khẩn trương hoàn thiện khung pháp lý để vận hành sàn giao dịch carbon vào năm 2029.
Đây là bước đi quan trọng nhằm kết nối tiềm năng rừng với dòng tài chính carbon toàn cầu, đồng thời mở ra dư địa lớn cho phát triển thị trường carbon rừng trong nước.
Bà Nghiêm Phương Thúy, đại diện Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cho biết Bộ đang xây dựng bốn nhóm định hướng trọng tâm nhằm thể chế hóa dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon rừng.
Nhóm định hướng đầu tiên là hoàn thiện khung pháp lý về dịch vụ này, bảo đảm kiểm soát đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC), tránh tình trạng phát hành hoặc bán tín chỉ vượt quá phần đóng góp giảm phát thải của quốc gia. Song song với đó là xây dựng các nghị định liên quan đến quản lý sàn giao dịch carbon trong nước, bao gồm cả thị trường bắt buộc, cơ chế giao dịch và giám sát.
Nhóm định hướng thứ hai liên quan đến khung kỹ thuật và tiêu chuẩn cho thị trường carbon rừng. Cụ thể là xây dựng bộ tiêu chuẩn carbon rừng quốc gia, làm cơ sở để các dự án đăng ký và được công nhận theo chuẩn chung. Việc phát triển các dự án thí điểm theo tiêu chuẩn quốc gia sẽ giúp hoàn thiện phương pháp đo đạc, báo cáo, thẩm định (MRV), kiểm chứng thực tiễn và tạo tiền đề cho nhân rộng sau này.
Bà Thúy cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phân bổ hạn ngạch NDC cho từng dự án carbon rừng nhằm tránh bán vượt phần đóng góp của quốc gia. Một hệ thống đăng ký quốc gia về hạn ngạch và tín chỉ carbon cũng cần được xây dựng để cấp, theo dõi và lưu giữ tín chỉ trước khi đưa ra giao dịch trên thị trường.
Nhóm định hướng thứ ba tập trung vào huy động nguồn lực. Bên cạnh nguồn lực quốc tế và khu vực tư nhân, việc lồng ghép hiệu quả nguồn lực từ ngân sách địa phương và các chương trình của quốc gia cũng đang được thúc đẩy mạnh mẽ.
Nhóm định hướng thứ tư là tăng cường truyền thông, đào tạo và nâng cao nhận thức. Theo bà Thúy, phát triển thị trường carbon rừng là lĩnh vực mới, đòi hỏi sự hiểu biết đồng bộ từ cơ quan quản lý, địa phương, chủ rừng, doanh nghiệp đến các tổ chức xã hội.
Bà Trần Hồng Nhung, Đại diện Đại học Flinders (Australia), cho rằng vai trò của các tổ chức tài chính trong phát triển dự án carbon rừng và thị trường carbon rừng tại Việt Nam ngày càng trở nên quan trọng. Khi các nguồn lực từ ngân sách nhà nước hay từ các doanh nghiệp trong nước còn hạn chế, các ngân hàng thương mại, tổ chức bảo hiểm, quỹ đầu tư, quỹ bảo lãnh, cũng như các quỹ địa phương từ trung ương đến địa phương sẽ đóng vai trò then chốt trong việc cung cấp vốn, hỗ trợ kỹ thuật và tạo niềm tin cho các dự án lâm nghiệp xanh.
Với cam kết đạt mức phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, cùng giá trị đa dạng sinh học phong phú và tiềm năng lớn của thị trường carbon rừng, cơ hội huy động nguồn lực cho dịch vụ hấp thụ, lưu giữ carbon rừng tại Việt Nam là rất rộng mở.
Tuy nhiên, để biến tiềm năng thành hiện thực, cần sự chung tay của tất cả cấp, ngành, các đối tác phát triển, giới nghiên cứu và cộng đồng doanh nghiệp nhằm tạo thêm giá trị cho rừng, đồng thời khai thác hiệu quả các nguồn lực cho bảo tồn và phát triển lâm nghiệp.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 1-2026 phát hành ngày 5/1/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://vneconomy.vn/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-01-2026.htm
-Bảo Trâm
Đánh thức tiềm năng nguồn carbon xanh từ biển
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng trở nên nghiêm trọng, việc tìm kiếm các giải pháp giảm phát thải carbon đã trở thành ưu tiên hàng đầu của nhiều quốc gia. Trong khi các nỗ lực tạo nguồn carbon xanh trên đất liền đã được chú trọng thông qua các mô hình trồng rừng, tiềm năng từ biển vẫn chưa được khai thác đúng mức. Các hệ sinh thái ven biển như rừng ngập mặn, cỏ biển, rong biển hay rạn san hô có khả năng hấp thụ và lưu trữ carbon rất lớn, nhưng lại chưa được đầu tư phát triển tương xứng.
Khu vực châu Á - Thái Bình Dương (APEC) với diện tích mặt biển lớn gấp gần 2,7 lần diện tích đất liền, chiếm 30% tín chỉ carbon thiên nhiên và 70% lượng carbon thất thoát ròng toàn cầu được lưu trữ trong rừng ngập mặn suốt 25 năm qua. Điều này cho thấy tiềm năng to lớn của khu vực trong việc chuyển đổi xanh. Tuy nhiên, mức độ tích hợp carbon xanh giữa các nền kinh tế APEC vẫn còn khác biệt đáng kể. Một số quốc gia đã có chương trình tuân thủ như Australia, trong khi các nước khác như Singapore và Thái Lan chỉ mới triển khai các khuôn khổ tự nguyện.
Tại COP30, các quốc gia APEC đã điều chỉnh tiếp cận theo điều kiện trong nước, chú trọng quản lý, bảo tồn và phục hồi hệ sinh thái ven biển. Gói Giải pháp Xanh được đề xuất với 5 đột phá nhằm phát triển thị trường carbon xanh dương, bao gồm bảo tồn biển, thức ăn thủy sản, năng lượng tái tạo đại dương, vận tải và du lịch ven biển. Tuy nhiên, để đạt tiến bộ thực chất, nỗ lực phải được duy trì liên tục sau COP31, với hợp tác và phối hợp giữa các quốc gia là yếu tố then chốt.
Việc tạo nguồn carbon xanh ven biển hiện chủ yếu tập trung vào dự án carbon rừng ngập mặn. Indonesia, Myanmar và Việt Nam là những nước dẫn đầu thị trường khi chiếm tới 60% tổng số dự án toàn cầu. Tuy nhiên, chỉ một số ít dự án đạt tiêu chuẩn và đăng ký theo các hệ thống VCS, Plan Vivo và CAR. Cỏ biển và rong biển vẫn ở giai đoạn đầu phát triển, nhưng có tiềm năng lớn với mô hình trang trại từ 1–15.000 ha.
Tại Việt Nam, tiềm năng carbon xanh từ hệ sinh thái tự nhiên rừng và biển là rất lớn. Côn Đảo, với hơn 6.462 ha rừng và đất lâm nghiệp, cùng khả năng lưu trữ carbon của biển, đang được định hướng trở thành hình mẫu phát triển xanh. Việc đánh giá đúng tiềm năng tín chỉ carbon là cơ sở quan trọng để xây dựng đề án kinh tế tuần hoàn, đóng góp thực hiện cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 của Việt Nam.
Rong biển cũng là một nguồn tài nguyên quý giá với khả năng hấp thụ carbon từ khí quyển và trung hòa axit đại dương. Việt Nam có hơn 887 loài rong biển, trong đó 90 loài có giá trị kinh tế. Chương trình “Blue Ocean – Blue Foods” đang được triển khai nhằm thúc đẩy sự tham gia có trách nhiệm của các bên trong giảm tác động biến đổi khí hậu, cải thiện môi trường biển và nâng cao sinh kế cộng đồng.
Để khai thác tối đa tiềm năng carbon xanh từ biển, cần có sự hợp tác chặt chẽ giữa các quốc gia, cùng với việc áp dụng công nghệ tiên tiến và AI để giảm chi phí, tăng độ chính xác của các dự án carbon xanh. Đồng thời, cần có chính sách ưu tiên ngăn chặn chuyển đổi rừng ngập mặn và bảo vệ cỏ biển, nhằm bảo đảm an ninh lương thực dài hạn và bảo vệ môi trường biển.
Nhìn chung, việc đánh thức tiềm năng carbon xanh từ biển không chỉ là cơ hội mà còn là thách thức lớn đối với các quốc gia. Để đạt được mục tiêu phát thải ròng bằng “0”, cần có sự cam kết mạnh mẽ và hành động quyết liệt từ tất cả các bên liên quan. Chỉ khi đó, chúng ta mới có thể bảo vệ hành tinh xanh cho các thế hệ tương lai.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 1-2026 phát hành ngày 5/1/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://vneconomy.vn/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-01-2026.htị
-Chu Minh Khôi
Kiến tạo không gian phát triển mới, mở đường cho dòng vốn chảy vào nền kinh tế
Luật Quy hoạch năm 2025 đã “về đích” với sự đồng thuận rất cao từ Quốc hội (hơn 90% đại biểu tham gia biểu quyết tán thành). Nhìn lại chặng đường vừa qua, xin Thứ trưởng cho biết tinh thần cốt lõi trong lần sửa đổi luật này?
Thực hiện chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương, Chính phủ đã xây dựng Dự án Luật Quy hoạch (sửa đổi) nhằm bảo đảm đồng bộ, thống nhất với quy định của pháp luật có liên quan, đồng thời bảo đảm tính minh bạch, công bằng, hiệu quả, hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người dân và doanh nghiệp trong hoạt động quy hoạch.
Luật được xây dựng trên tinh thần cốt lõi là: Hoàn thiện pháp luật để quy hoạch thực sự là công cụ hiệu quả của Nhà nước trong việc quản lý hoạch định phát triển và kiến tạo không gian phát triển, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình phát triển giàu mạnh, thịnh vượng của dân tộc.
Với tinh thần đó, việc tháo gỡ nút thắt trong việc chồng chéo quy hoạch cũng như phù hợp với chính quyền địa phương hai cấp là như thế nào, thưa Thứ trưởng?
Luật Quy hoạch 2017 đã tạo hành lang pháp lý thống nhất cho việc triển khai hoạt động quy hoạch trên phạm vi cả nước. Tuy nhiên, quá trình triển khai thực hiện Luật Quy hoạch và các luật chuyên ngành có quy định liên quan đến quy hoạch cho thấy còn tồn tại một số khó khăn, vướng mắc. Đồng thời, việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy và sắp xếp đơn vị hành chính, xây dựng mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp sau khi hoàn thành có ảnh hưởng lớn đến toàn bộ các quy hoạch của hệ thống quy hoạch.
Nhằm tháo gỡ nút thắt trong việc chồng chéo quy hoạch trong thời gian qua cũng như phù hợp với vận hành chính quyền địa phương hai cấp, Luật Quy hoạch năm 2025 đã có nhiều quy định mới về hệ thống quy hoạch, mối quan hệ và xử lý mâu thuẫn giữa các quy hoạch, tăng cường phân cấp, phân quyền. Cụ thể:
Thứ nhất, đưa quy hoạch chi tiết ngành (trước đây là quy hoạch có tính chất kỹ thuật, chuyên ngành) vào hệ thống quy hoạch để bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ của hệ thống quy hoạch.
Thứ hai, bổ sung quy định về mối quan hệ giữa các loại quy hoạch để bảo đảm tính tuân thủ, liên tục, kế thừa, ổn định, thứ bậc trong hệ thống quy hoạch, làm căn cứ cho việc xử lý mâu thuẫn trong từng trường hợp giữa các quy hoạch.
Thứ ba, quy định về xử lý mâu thuẫn giữa các quy hoạch bao gồm: xử lý mâu thuẫn giữa các quy hoạch do các cấp khác nhau phê duyệt; xử lý mâu thuẫn giữa quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh với các quy hoạch ngành và quy hoạch chi tiết ngành; xử lý mâu thuẫn giữa các quy hoạch cùng cấp.
Các quy định được ban hành dựa trên quan điểm xác định ngay quy hoạch được thực hiện, quy hoạch phải điều chỉnh (trừ mâu thuẫn giữa các quy hoạch ngành với nhau) và việc điều chỉnh quy hoạch khi có mâu thuẫn giữa các quy hoạch được thực hiện theo trình tự, thủ tục rút gọn.
Thứ tư, phân cấp cho Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh phê duyệt quy hoạch tỉnh. Nhằm tăng tính chủ động cho địa phương, đồng thời tăng cường công tác hậu kiểm, kịp thời kiểm tra, giám sát, phát hiện các nội dung chồng lấn, mâu thuẫn, nâng cao trách nhiệm giải trình của các cơ quan sau khi phân cấp thẩm quyền phê duyệt quy hoạch, Luật đã quy định về hoạt động giám sát, kiểm tra quy hoạch.
Bổ sung quy định cho phép các quy hoạch được lập đồng thời và thứ tự phê duyệt quy hoạch để bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống quy hoạch.
Thứ năm, hoàn thiện nội dung quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng và quy hoạch tỉnh theo hướng chỉ mang tính định hướng, chiến lược; bỏ quy định về danh mục dự án trong quy hoạch để bảo đảm linh hoạt trong tổ chức thực hiện; sửa đổi một số nội dung của quy hoạch tỉnh để phù hợp với tổ chức chính quyền địa phương hai cấp.
Thực tế thời gian qua cho thấy nhiều dự án bị dừng hay chậm triển khai do vướng mắc pháp lý, gây lãng phí nguồn lực. Khi Luật sửa đổi có hiệu lực thi hành, các dự án này sẽ được thúc đẩy như thế nào, thưa Thứ trưởng?
Thời gian vừa qua, tiến độ triển khai của một số dự án đầu tư bị chậm do trong đánh giá sự phù hợp với quy hoạch chưa có cơ sở pháp lý đầy đủ về cơ chế xử lý mâu thuẫn giữa các quy hoạch; chưa có quy định cụ thể về đánh giá sự phù hợp của dự án với quy hoạch.
Vì vậy, Luật Quy hoạch năm 2025 đã có những quy định thể hiện sự đổi mới về tư duy quản lý đầu tư, gắn kết chặt chẽ giữa quản lý nhà nước về quy hoạch với đầu tư phát triển qua các quy định như bỏ quy định về Danh mục dự án trong nội dung quy hoạch để bảo đảm linh hoạt trong tổ chức thực hiện quy hoạch; tránh tình trạng “quy hoạch chạy theo dự án”; đơn giản hoá trình tự, thủ tục đánh giá sự phù hợp của chủ trương đầu tư, dự án đầu tư với quy hoạch.
Trong đó, việc đánh giá sự phù hợp này dựa trên việc quy định ba nguyên tắc.
Một là, việc chấp thuận hoặc phê duyệt chủ trương đầu tư của dự án chỉ cần căn cứ vào một trong các quy hoạch thuộc hệ thống quy hoạch để đánh giá sự phù hợp của dự án.
Hai là, đối với dự án đầu tư xây dựng sửa chữa, tu bổ, hoàn thiện, nâng cấp, cải tạo, mở rộng công trình hiện có hoặc xây dựng mới công trình thay thế công trình hiện có và giữ nguyên mục tiêu, địa điểm, quy mô thì không yêu cầu đánh giá sự phù hợp của dự án với quy hoạch.
Ba là, trường hợp thực hiện dự án đầu tư công đặc biệt, dự án đầu tư công khẩn cấp theo quy định của pháp luật về đầu tư công; dự án khác theo chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng, Đảng ủy Chính phủ thì cơ quan, người có thẩm quyền quyết định đầu tư dự án được phép quyết định đầu tư khác với quy hoạch có liên quan, bảo đảm phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước.
Đồng thời, Luật cũng quy định dự án được triển khai ngay mà không cần chờ điều chỉnh quy hoạch khi nội dung quy hoạch có sự mâu thuẫn với nhau. Sau khi dự án được quyết định đầu tư, thì quy hoạch có liên quan có nội dung mâu thuẫn với quyết định đầu tư phải được kịp thời rà soát, điều chỉnh theo trình tự, thủ tục rút gọn.
Với những đổi mới nói trên, Luật Quy hoạch năm 2025 được kỳ vọng sẽ giải quyết các khó khăn, vướng mắc trong đánh giá sự phù hợp của dự án với quy hoạch, đẩy nhanh tiến độ của các dự án đầu tư, đặc biệt là các dự án quan trọng nhằm hiện thực hóa nhiều chủ trương, chính sách của Đảng, tạo ra động lực mới cho phát triển, huy động có hiệu quả mọi nguồn lực, mọi thành phần kinh tế tham gia vào phát triển đất nước, nhất là phát huy vai trò của khu vực kinh tế tư nhân.
Với những thay đổi lớn như Thứ trưởng vừa chia sẻ, liệu Luật mới có ảnh hưởng tới những quy hoạch cũ đang triển khai không?
Một trong những yêu cầu đối với việc sửa đổi Luật Quy hoạch đã được Bộ Chính trị đặt ra là “Đối với hệ thống quy hoạch đã được xây dựng và đang hoạt động ổn định, không có thay đổi khi thực hiện sáp nhập, điều chỉnh địa giới và không có vướng mắc phát sinh trong thực tiễn thì có thể theo phương án tiếp tục thực hiện”.
Đồng thời, nguyên tắc cơ bản của hoạt động quy hoạch là “Bảo đảm sự tuân thủ, tính liên tục, kế thừa, ổn định, thứ bậc trong hệ thống quy hoạch”.
Với tinh thần đó, Luật Quy hoạch năm 2025 đã quy định: Quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030 và điều chỉnh quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030 và các quy hoạch có tính chất kỹ thuật, chuyên ngành đã được quyết định hoặc phê duyệt được tiếp tục thực hiện đến hết thời kỳ quy hoạch hoặc đến khi quy hoạch được thay thế theo quy định của pháp luật.
Cùng với đó, kế hoạch thực hiện quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh, quy hoạch có tính chất kỹ thuật, chuyên ngành đã được ban hành thì thực hiện cho đến hết thời hạn hiệu lực của quy hoạch hoặc cho đến khi quy hoạch được phê duyệt điều chỉnh theo quy định của Luật này.
Vì vậy, các quy định nói trên sẽ bảo đảm tránh khoảng trống pháp lý, không làm gián đoạn hoạt động quản lý của các ngành, các cấp khi triển khai thực hiện Luật Quy hoạch năm 2025.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 1-2026 phát hành ngày 5/1/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://vneconomy.vn/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-01-2026.htm
-
10 vấn đề nổi bật kinh tế thế giới năm 2025
Điểm nhấn định hình năm 2025 nằm ở sự trở lại Nhà Trắng của Tổng thống Donald Trump và chiến lược “Nước Mỹ trên hết”. Các đợt áp thuế quan mới của Mỹ, cùng biện pháp trả đũa và nguy cơ đáp trả, đã đẩy nhanh quá trình dịch chuyển dòng chảy thương mại toàn cầu - từ tái cấu trúc chuỗi cung ứng cho đến cuộc đua giành lợi thế ở các “nút thắt” chiến lược như đất hiếm và chip.
Bức tranh tăng trưởng theo từng nền kinh tế tiếp tục ghi nhận sự phân hóa. Trung Quốc chịu áp lực giảm phát và nhu cầu nội địa yếu, trong khi nhiều thị trường mới nổi - nổi bật là Ấn Độ - giữ nhịp tăng trưởng tốt nhờ cầu trong nước và đầu tư. Nhật Bản tiến thêm một bước ra khỏi giảm phát, tạo nền để chính sách tiền tệ bình thường hóa. Châu Âu bước vào năm 2025 với triển vọng khiêm tốn, trong đó Đức là “điểm nghẽn”.
Trên thị trường tài chính, biến động trở thành “trạng thái bình thường mới”. Vàng và bạc hưởng lợi từ nhu cầu phòng ngừa rủi ro và kỳ vọng nới lỏng tiền tệ ở một số nền kinh tế lớn, trong đó giá vàng nhiều lần lập đỉnh mới, còn giá bạc cũng vươn lên vùng kỷ lục. Thị trường tiền ảo tiếp tục biến động mạnh khi dòng tiền và các kênh đầu tư mới mở rộng khả năng tiếp cận, nhưng cũng đảo chiều nhanh chóng khi khẩu vị rủi ro thay đổi.
Năm 2025 chứng kiến hai chủ đề song hành định hình khẩu vị rủi ro: nợ toàn cầu tiếp tục phình to, dư địa chính sách thu hẹp và làm chi phí vốn nhạy cảm hơn với biến động lãi suất; cùng với đó là cơn sốt trí tuệ nhân tạo (AI) vừa mở ra một động lực tăng trưởng mới, vừa trở thành phép thử với thị trường vốn.
Song song với các yếu tố trên, các điểm nóng địa chính trị và xung đột kéo dài tiếp tục tạo thêm bất định cho triển vọng kinh tế.
Dưới đây là 10 vấn đề nổi bật của kinh tế thế giới năm 2025 do Tạp chí Kinh tế Việt Nam / VnEconomy tổng hợp.
Ngày 20/1/2025, ông Trump nhậm chức tổng thống Mỹ nhiệm kỳ thứ hai, đưa khẩu hiệu "Nước Mỹ trên hết" trở lại vị trí trung tâm của chính sách kinh tế. Dấu ấn của vị Tổng thống nằm ở cách tiếp cận mang tính trao đổi và ưu tiên kết quả nhanh: dùng đòn bẩy chính sách để buộc đối tác nhượng bộ, thúc đẩy doanh nghiệp dịch chuyển đầu tư và tái cơ cấu chuỗi cung ứng theo hướng phục vụ lợi ích trong nước.
Tác động lan tỏa lớn nhất ra bên ngoài nước Mỹ đến từ thương mại. Các động thái áp thuế quan trên diện rộng, cùng rủi ro trả đũa, làm chi phí thương mại tăng và kéo dài trạng thái bất định cho doanh nghiệp, đặc biệt với những ngành có chuỗi cung ứng xuyên biên giới.
Ở trong nước, chương trình nghị sự này vừa tạo lực đỡ, vừa gây áp lực cho nền kinh tế. Thuế quan có thể hỗ trợ một số ngành sản xuất trong ngắn hạn, nhưng cũng làm tăng chi phí đầu vào và rủi ro giá cả, khiến quá trình giảm lạm phát khó khăn hơn và buộc chính sách tiền tệ phải được tính toán kỹ hơn.
Song song đó, các động thái siết nhập cư làm gia tăng rủi ro thiếu hụt lao động ở một số lĩnh vực, kéo theo áp lực chi phí và bất định cho kế hoạch tuyển dụng - đầu tư của doanh nghiệp. Sự khó đoán trong thông điệp và thời điểm ra quyết định của chính quyền ông Trump cũng khiến kỳ vọng của thị trường thay đổi nhanh, làm biến động tài sản nhạy hơn với tin tức chính sách.
Hệ quả là năm 2025 chứng kiến một cú xoay trục chính sách của nền kinh tế lớn nhất thế giới, tạo hiệu ứng dây chuyền lên thương mại, lạm phát, dòng vốn và tâm lý rủi ro toàn cầu.
Dù chính sách tại nhiều nền kinh tế lớn thay đổi nhanh và bất định địa chính trị kéo dài, nền kinh tế thế giới năm 2025 vẫn giữ được đà tăng trưởng trong trạng thái chống chịu mong manh. Theo một báo cáo công bố vào tháng 10/2025 của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), tăng trưởng toàn cầu được dự báo giảm nhẹ từ 3,3% năm 2024 xuống 3,2% năm 2025 và 3,1% năm 2026, phản ánh môi trường thương mại biến động hơn và các lực cản chính sách dần tác động rõ hơn lên hoạt động kinh tế.
Cũng trong báo cáo này, IMF dự báo lạm phát toàn cầu tiếp tục xuống thang, từ 5,8% năm 2024 xuống 4,2% năm 2025 và 3,7% năm 2026, dù áp lực giá cả vẫn phân hóa và còn cao hơn mục tiêu ở một số nền kinh tế.
Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) cũng đánh giá kinh tế thế giới vẫn duy trì được tăng trưởng trong năm 2025 nhưng dễ tổn thương vì các điểm rào cản tích tụ. Trong báo cáo công bố đầu tháng 12/2025, OECD cho rằng kinh tế toàn cầu đã thể hiện sức bền trong năm qua, song rủi ro vẫn lớn, nhất là khi tác động đầy đủ của thuế quan cao hơn chưa phản ánh hết vào chi phí doanh nghiệp và giá tiêu dùng. Trong khi đó, bất định chính sách tiếp tục kìm hãm đầu tư.
Trong năm đầu tiên Tổng thống Donald Trump cầm quyền nhiệm kỳ thứ hai, căng thẳng thương mại Mỹ - Trung không còn chỉ xoay quanh thuế quan, mà chuyển sang cuộc giằng co ở hai nút thắt chiến lược là đất hiếm và con chip. Hai bên tận dụng lợi thế tương đối để gia tăng sức ép, khiến rủi ro chính sách lan rộng dọc chuỗi giá trị công nghệ, từ xe điện, năng lượng gió đến quốc phòng và trung tâm dữ liệu.
Với Trung Quốc, đất hiếm là “quân bài” quan trọng do nước này giữ vai trò thống lĩnh toàn cầu ở khâu phân tách - tinh chế. Tháng 10/2025, Bắc Kinh mở rộng kiểm soát xuất khẩu đối với đất hiếm, bổ sung các hạng mục liên quan công nghệ tinh chế và siết giám sát đối với các bên sử dụng trong lĩnh vực bán dẫn, đồng thời đưa ra những yêu cầu tuân thủ với các nhà sản xuất nước ngoài dùng nguyên liệu từ Trung Quốc. Cách tiếp cận này không cấm hoàn toàn nhưng đủ để tạo độ trễ giao hàng, tăng chi phí tuân thủ và buộc doanh nghiệp điều chỉnh tồn kho cũng như nguồn cung.
Ở chiều ngược lại, Mỹ tiếp tục dùng chip làm đòn bẩy đàm phán. Trong năm, Washington đã mở rộng danh sách thực thể, điều chỉnh khung kiểm soát xuất khẩu liên quan đến con chip tiên tiến và bổ sung hướng dẫn nhằm hạn chế Trung Quốc tiếp cận con chip AI.
Kết quả là cuộc đối đầu năm 2025 mang tính “ăn miếng trả miếng” quanh hai mặt hàng chiến lược này. Doanh nghiệp toàn cầu vì thế phải trả thêm “chi phí địa chính trị” dưới dạng đa dạng hóa nguồn cung, tái cấu trúc chuỗi giá trị và chấp nhận mức bất định cao hơn trong các quyết định đầu tư.
Năm 2025 đánh dấu bước ngoặt của chu kỳ chính sách tiền tệ toàn cầu. Sau giai đoạn thắt chặt để kéo lạm phát đi xuống, phần lớn các ngân hàng trung ương chuyển sang nới lỏng nhằm hỗ trợ tăng trưởng và hướng tới kịch bản “hạ cánh mềm”. Theo thống kê của hãng tin Reuters, tính tới ngày 23/12/2025, có 9 trong số 10 ngân hàng trung ương của các đồng tiền được giao dịch nhiều nhất thế giới đã giảm lãi suất trong năm 2025 với với tổng cộng 32 lần giảm, tương ứng 8,5 điểm phần trăm - lượng nới lỏng lãi suất hàng năm lớn nhất trong hơn một thập kỷ. Riêng Nhật Bản là ngoại lệ khi tăng lãi suất hai lần.
Tại Mỹ, Cục Dự trữ liên bang (Fed) đã ba lần hạ lãi suất trong năm 2025. Quyết định ngày 10/12/2025 của Fed giảm 0,25 điểm phần trăm đưa biên độ lãi suất mục tiêu xuống 3,5-3,75%, đồng thời phát tín hiệu thận trọng về nhịp điều chỉnh tiếp theo. Ở khu vực đồng Euro, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) cắt lãi suất theo từng bước trong nửa đầu năm, đưa lãi suất tiền gửi về 2% từ tháng 6 rồi giữ ổn định, phản ánh niềm tin lớn vào xu hướng hạ nhiệt lạm phát nhưng vẫn thận trọng với các rủi ro bên ngoài. Ngân hàng Trung ương Anh (BOE) cũng đi theo hướng nới lỏng, hạ lãi suất cơ bản từ 4,75% cuối năm 2024 xuống 3,75% vào ngày 18/12/2025, thông qua các đợt giảm 0,25 điểm phần trăm trong năm.
Ở châu Á, bức tranh phân hóa rõ rệt hơn. Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) là ngoại lệ khi nâng lãi suất lên 0,75% vào tháng 12 - mức cao nhất trong khoảng 30 năm - sau khi đà tăng của giá cả và tiền lương trở nên rõ nét hơn, tạo cơ sở để BOJ tiếp tục bình thường hóa chính sách. Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (PBOC) thiên về hỗ trợ tăng trưởng bằng các công cụ định hướng như giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc từ giữa tháng 5 nhưng giữ lãi suất cho vay cơ bản kỳ hạn 1 năm ở mức 3% và kỳ hạn 5 năm ở mức 3,5% trong nhiều tháng liên tiếp. Điều này cho thấy Bắc Kinh ưu tiên sự ổn định và có sự thận trọng về dư địa chính sách.
“Bóng ma” giảm phát ở Trung Quốc chưa tan, dù chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đôi lúc được kéo lên nhờ biến động giá thực phẩm. Theo dữ liệu từ Cục Thống kê quốc gia Trung Quốc (NBS), CPI của nước này có giai đoạn rơi trở lại vùng âm, cụ thể là tháng 9 giảm 0,3% so với cùng kỳ năm trước. Đến tháng 11, CPI tăng 0,7% so với cùng kỳ năm trước nhưng áp lực giảm giá ở khu vực sản xuất vẫn rõ nét khi chỉ số giá sản xuất (PPI) giảm 2,2%.
Diễn biến cả năm cho thấy áp lực giảm phát ở Trung Quốc không phải hiện tượng nhất thời mà xuất phát từ các yếu tố nền tảng của nền kinh tế. PPI âm kéo dài phản ánh cạnh tranh giá gay gắt, dư cung ở một số ngành và tâm lý thận trọng của hộ gia đình cũng như doanh nghiệp trong bối cảnh bất động sản chưa thoát khủng hoảng. Có thời điểm PPI giảm sâu, như tháng 6 giảm 3,6% so với cùng kỳ năm trước.
Ở thời điểm cuối năm 2025, nhiều ý kiến phân tích vẫn cảnh báo rủi ro giảm phát tại nền kinh tế lớn thứ hai thế giới có thể kéo sang 2026, buộc Bắc Kinh phải cân nhắc tăng biện pháp hỗ trợ kích thích nhu cầu nội địa.
Trong khi Trung Quốc vật lộn với áp lực giảm phát, Nhật Bản cho thấy bức tranh trái chiều khi nền kinh tế đi xa hơn khỏi quỹ đạo giảm phát dai dẳng, nhờ “vòng lặp tăng lương - tăng giá” dần hình thành rõ nét. Tháng 3/2025, Bộ trưởng Kinh tế Ryosei Akazawa cho biết Nhật Bản đã vượt ngưỡng then chốt - tức các chỉ báo chính mà Chính phủ theo dõi đều chuyển sang dương - để có thể cân nhắc tuyên bố chấm dứt tình trạng giảm phát. Cùng với đó, các cuộc đàm phán lương mùa xuân ghi nhận nhiều thỏa thuận tăng lương đáng kể, củng cố triển vọng thu nhập cải thiện và tạo nền tảng để tiêu dùng phục hồi bền vững hơn.
Về giá cả, lạm phát cơ bản duy trì trên mục tiêu 2% của BOJ trong thời gian dài. Riêng tháng 11, CPI lõi của Nhật tăng 3% so với cùng kỳ năm trước và là tháng thứ 44 liên tiếp tăng hơn 2%. Trên cơ sở đó, BOJ tiếp tục lộ trình bình thường hóa chính sách.
Về tăng trưởng, IMF dự báo GDP Nhật Bản năm 2025 tăng 1,1%, còn OECD dự báo là 1,3%, với lực đỡ chủ yếu đến từ cầu nội địa nhờ tiền lương tăng và các gói hỗ trợ của Chính phủ.
Đức - nền kinh tế lớn nhất châu Âu - trở thành một mắt xích yếu của khu vực khi đà phục hồi chậm hơn mặt bằng khu vực. Ủy ban châu Âu (EC) dự báo sau 2 năm suy giảm, kinh tế Đức năm 2025 gần như đi ngang, trước khi tăng trở lại khoảng 1,2% trong cả 2026 và 2027 nhờ chi tiêu công tăng và tiền lương thực được cải thiện. OECD cũng cho rằng GDP Đức chỉ tăng 0,3% trong năm 2025, rồi lần lượt đạt 1,0% và 1,5% trong năm 2026-2027. Nhìn chung, quỹ đạo phục hồi chậm của Đức có thể khiến động lực của toàn khu vực Eurozone kém sôi động hơn.
Áp lực chủ yếu đến từ cấu trúc tăng trưởng phụ thuộc nhiều vào công nghiệp - xuất khẩu trong bối cảnh cầu bên ngoài suy yếu và bất định thương mại gia tăng.
Trong bối cảnh phục hồi ì ạch, tháng 3/2025, Đức bắt đầu nới lỏng khuôn khổ tài khóa vốn rất chặt chẽ với việc sửa đổi Hiến pháp liên quan cơ chế “phanh nợ” - quy tắc giới hạn vay mới của ngân sách liên bang ở mức 0,35% GDP - nhằm tạo thêm dư địa vay cho các ưu tiên chiến lược. Theo đó, nước này lập một quỹ hạ tầng 500 tỷ Euro nằm ngoài “phanh nợ” để đầu tư vào lĩnh vực giao thông, năng lượng, số hóa, giáo dục và y tế; đồng thời, nới trần vay bằng cách miễn trừ một phần chi tiêu quốc phòng và mở thêm dư địa vay cho chính quyền các bang.
Về trung hạn, Ngân hàng Trung ương Đức (Bundesbank) dự báo GDP của nước này tăng 0,6% trong năm 2026 và 1,3% trong năm 2027
Ngoài ra, trên toàn EU, chính sách tài khóa cũng có sự dịch chuyển mạnh mẽ hơn, theo hướng linh hoạt hơn để tăng chi cho các ưu tiên chiến lược nhưng vẫn đặt trọng tâm vào bền vững nợ.
Giữa nhiều biến động, trường tài sản cho thấy tâm lý thận trọng, với dòng tiền ưu tiên phòng ngừa rủi ro nhưng vẫn tìm kiếm cơ hội ở một số tài sản rủi ro.
Kim loại quý là điểm sáng nổi bật. Ngày 24/12, giá vàng giao ngay lần đầu vượt 4.500 USD/oz và neo quanh 4.495 USD, còn giá bạc khoảng 72 USD/oz sau khi lập đỉnh mới quanh 72,7 USD/oz. Trong năm 2025, giá vàng tăng hơn 70%, đánh dấu mức tăng mạnh nhất kể từ năm 1979, còn bạc tăng hơn 150%. Đà tăng trưởng này phản ánh nhu cầu trú ẩn trong bối cảnh địa chính trị - thương mại căng thẳng cũng như kỳ vọng Mỹ có thể hạ lãi suất thêm trong năm 2026.
Tiền ảo tiếp tục đi “tàu lượn” khi Bitcoin lập đỉnh trên 125.000 USD vào tháng 10 nhưng sau đó giảm về vùng 88.000 USD. Đồng tiền này khép lại năm 2025 với mức giảm khoảng 5,5%.
Trên thị trường tiền tệ, đồng USD suy yếu khi chênh lệch lãi suất giữa Mỹ và các nước khác thu hẹp. Trong năm, đồng bạc xanh giảm khoảng 10%, trong khi đồng Euro tăng khoảng 14%.
Đồng Yên năm 2025 biến động mạnh theo tín hiệu chính sách, có giai đoạn tăng khi Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) nâng lãi suất nhưng cũng có lúc suy yếu do BOJ giữ giọng điệu thận trọng và chênh lệch lãi suất với Mỹ vẫn lớn, khiến giao dịch “carry trade” - vay Yên lãi suất thấp để đầu tư vào tài sản có lợi suất cao hơn ở nước ngoài - trở lại. Tính chung cả năm, đồng tiền này gần như đi ngang.
Trong năm qua, nợ toàn cầu tiếp tục phình to và lập kỷ lục mới. Theo số liệu mới nhất của Viện Tài chính quốc tế (IIF) đến hết quý 3/2025, tổng nợ toàn cầu (gồm nợ chính phủ, nợ doanh nghiệp và nợ hộ gia đình) là 345,7 nghìn tỷ USD, tương đương khoảng 310% GDP toàn cầu. Đà tăng chủ yếu đến từ nợ chính phủ tại các nền kinh tế phát triển, trong bối cảnh thâm hụt ngân sách cao và nhu cầu chi tiêu lớn. Trong đó, Mỹ và Trung Quốc là hai nguồn đóng góp lớn vào mức tăng nợ công trong năm.
Ở các nền kinh tế lớn, gánh nặng nợ chính phủ cho thấy dư địa tài khóa ngày càng co hẹp. Theo báo cáo của IMF, nợ công của Nhật Bản tương đương khoảng 229,6% GDP, Mỹ khoảng 125% GDP, Italy khoảng 136,8% GDP, Pháp khoảng 116,5% GDP, Trung Quốc khoảng 96,3% GDP, trong khi Đức thấp hơn đáng kể, khoảng 64,4% GDP. Dù tỷ lệ nợ của Đức thấp hơn đáng kể so với nhiều nền kinh tế lớn, Bundesbank cảnh báo thâm hụt ngân sách của nước này có xu hướng tăng lên do nhu cầu chi tiêu lớn.
Cuộc đua trí tuệ nhân tạo (AI) đã chuyển sang giai đoạn chạy đua đầu tư hạ tầng. Các tập đoàn công nghệ rót hàng trăm tỷ USD để mở rộng mạng lưới trung tâm dữ liệu, tích trữ chip và bảo đảm nguồn điện, kéo theo làn sóng mua bán - sáp nhập trong ngành.
Theo dữ liệu của SP Global Market Intelligence, tính tới hết tháng 11, giá trị các thương vụ liên quan trung tâm dữ liệu trên toàn cầu đạt gần 61 tỷ USD, vượt kỷ lục của cả năm 2024. Song song với đó, kênh huy động vốn cũng dịch chuyển khi các công ty công nghệ phát hành lượng trái phiếu kỷ lục 428,3 tỷ USD trong năm 2025 để phục vụ tham vọng AI, riêng doanh nghiệp Mỹ chiếm 341,8 tỷ USD.
Theo thống kê của ngân hàng Bank of America, nhóm cổ phiếu công nghệ toàn cầu hướng tới mức hút ròng khoảng 75 tỷ USD trong cả năm 2025, trong đó cổ phiếu công nghệ Mỹ đóng vai trò chủ đạo nhờ quy mô vốn hóa và sức ảnh hưởng của các doanh nghiệp tiên phong trong lĩnh vực AI.
Đầu tư dồn dập vừa củng cố kỳ vọng tăng trưởng, vừa làm gia tăng các thảo luận nỗi lo bong bóng đầu cơ AI, nhất là khi cổ phiếu công nghệ Mỹ tăng mạnh. IMF cảnh báo thị trường có thể điều chỉnh mạnh nếu AI không tạo ra lợi nhuận tương xứng với kỳ vọng; còn Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) lưu ý đà tăng đã có dấu hiệu chững lại khi nhà đầu tư thận trọng hơn với hiệu quả đầu tư và các nút thắt của ngành như năng lượng và công suất trung tâm dữ liệu.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 1-2026 phát hành ngày 5/1/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://vneconomy.vn/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-01-2026.htm
-
Thị trường chứng khoán năm 2026: Khởi đầu kỳ đầu tư mới
Kết phiên ngày 31/12/2025, VN-Index tăng 17,59 điểm, tương đương 1% lên mốc 1.784,49 điểm. Ngược chiều, Hnx-Index giảm 1,73 điểm, tương đương 0,69% xuống 248,77 điểm.
Xác suất để thị trường bứt phá khỏi kênh giá sideway biên chưa cao khi vẫn còn đó các yếu tố rủi ro tiềm ẩn về lãi suất, tỷ giá…
(Công ty Cổ phần Chứng khoán Bảo Việt – BVSC)
“VN-Index tiếp tục tăng điểm phiên thứ 4 liên tiếp và tiến sát vùng kháng cự kênh trên của kênh giá sideway. Chỉ số có thể sẽ tiếp tục thử thách vùng kháng cự này trong các phiên đầu tuần tới. Tuy
nhiên, chúng tôi vẫn giữ quan điểm cho rằng, xác suất để thị trường bứt phá khỏi kênh giá sideway biên chưa cao khi vẫn còn đó các yếu tố rủi ro tiềm ẩn về lãi suất, tỷ giá… trong khi các yếu tố hỗ trợ mới chưa xuất hiện ngay. Đồng thời lưu ý đến rủi ro thị trường có thể gặp áp lực rung lắc, điều chỉnh khi tiếp cận vùng kháng cự kênh trên sau kỳ nghỉ Tết dương lịch”.
Xu hướng thị trường vẫn phụ thuộc vào nhóm cổ phiếu lớn
(Công ty Cổ phần Chứng khoán Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam - BSC)
"Chỉ số nhanh chóng hồi phục sau đợt thoái lui cuối tuần trước, VN-Index tăng 3,1%, và tiến gần vùng đỉnh ngắn hạn. Dù vậy thanh khoản giảm 24% phần nào phản ánh tâm lý thận trọng của NĐT trước kỳ Nghỉ lễ. Độ rộng thị trường vẫn hạn chế, vận động ngắn hạn vẫn bám theo nhịp tăng giảm của nhóm cổ phiếu VIC.
- Nhóm cổ phiếu VIC đóng góp 37/54 điểm tăng của VN-Index. Sau nhịp giảm mạnh cuối tuần trước, nhóm cổ phiếu VIC đã hồi phục và là tâm điểm của đợt tăng tuần này.
- Độ rộng thị trường giữ ở mức 11/18 ngành tăng điểm. Hàng và DV công nghiệp, Tiện ích tăng trên 5% trong khi Du lịch và giải trí, truyền thông giảm khoảng 3 - 4%.
- Khối ngoại mua ròng tuần thứ 3 liên tiếp với giá trị 60 triệu USD so với 63 triệu USD tuần trước.
SBV công bố tính đến 24/12 tăng trưởng tín dụng hoàn hệ thống đạt 18.4 triệu tỷ, tăng trưởng 18,78% so đầu năm. Dự báo cả năm có thể vượt mức 19%, tỷ lệ tín dụng trên GDP tăng lên mức 146%. Khoảng chênh lệch giữ tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng huy động gần 4% đã tạo sức ép lớn lên thanh khoản hệ thống, đặc biệt thời điểm gần Tết. Chính sách tiền tệ đang ngày càng thu hẹp dư địa trước áp lực tăng lãi suất, tiềm ẩn nhiều rủi ro nợ xấu và tỷ giá. Đây cũng là lý do Hội đồng tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia trước đó cũng khuyến nghị Chính phủ không mở rộng chính sách tiền tệ 2026.
Xu hướng thị trường vẫn phụ thuộc vào nhóm cổ phiếu lớn, nhà đầu tư cân nhắc tích lũy dần các cổ phiếu cơ bản cho tầm nhìn 2026, mặt khác đẩy mạnh hoạt động trading khi chỉ số lập đỉnh mới với thanh khoản hạn chế”.
Thị trường sẽ bắt đầu kỳ đầu tư mới, năm 2026 trong những phiên tiếp theo
(Công ty Cổ phần Chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội - SHS)
"Thị trường kết thúc năm 2025 với mức tăng giá vượt trội. VN-Index kết thúc 2025 ở mức 1.784,49 điểm, tăng 40,9% so với cuối năm 2024. Ảnh hưởng đột biến tích cực đến từ các nhóm cổ phiếu với điển hình như GEE (+800,8% so với cùng kỳ năm trước), VIC (+736,5% so với cùng kỳ năm trước)... Trong khi VN30 kết năm 2025 ở mức 2.030,63 điểm (+51,0%). Đây là mức tăng giá vượt trội chỉ đứng sau một số giai đoạn đặc biệt như năm 2006 (Việt Nam gia nhập WTO), năm 2009 (phục hồi sau khủng hoảng tài chính toàn cầu), năm 2017 (trước chiến tranh thương mại Mỹ - Trung) và năm 2021 (phục hồi hậu đại dịch).
Diễn biến thị trường trong năm 2025 phân hóa theo mô hình chữ K với 02 nhóm bất động sản, điện có mức tăng giá vượt trội so với chỉ số VN30, tiếp đến là các nhóm có mức tăng giá khá tốt nhưng thấp hơn chỉ số là chứng khoán, ngân hàng, bán lẻ... Trong khi công nghệ viễn thông, hóa chất, dệt may, khu công nghiệp, hàng không phân hóa mạnh và có hiệu suất âm so với 2024. Thanh khoản năm 2025 tăng mạnh, khối lượng giao dịch khớp lệnh trên HOSE tăng 32,9% so với năm 2024. Cho thấy tín hiệu chỉ số VN-Index vượt đỉnh lịch sử năm 2022 khá thuyết phục, dưới ảnh hưởng dẫn dắt của các nhóm cổ phiếu hàng đầu. Tuy nhiên khối ngoại 03 năm liên tiếp bán ròng, bán ròng kỷ lục trong năm 2025 với giá trị -125,9 ngàn tỉ đồng.
Xu hướng ngắn hạn VN-Index duy trì tăng trưởng trên hỗ trợ quanh 1.780 điểm, tiếp tục phục hồi kiểm tra lại vùng kháng cự mạnh 1.770 điểm - 1.800 điểm, tương ứng các vùng đỉnh giá đầu vào cuối tháng 12/2025. Trong khi VN30 sẽ kiểm tra lại vùng đỉnh cũ quanh 2.050 điểm. Thị trường sẽ bắt đầu kỳ đầu tư mới, năm 2026 trong những phiên tiếp theo.
Thị trường đã kết thúc năm 2025, năm chuyển mình ngoạn mục, từ cú sốc thuế quan đến tăng trưởng vượt trội. Kết thúc năm 2025, VN-Index ở mức 1.780,00 điểm, tăng 35,3%, VN30 tăng 50,7%, so với cuối năm 2024. Rất nhiều cổ phiếu vượt trội nổi bật với GEE (+800,8% so với cùng kỳ năm trước), VIC (+736,5% so với cùng kỳ năm trước), VEC (+540,5% so với cùng kỳ năm trước), VVS (+324,7%), VHM (+210,0% so với cùng kỳ năm trước), TOS (+194,7%), NNC (+189,8% so với cùng kỳ năm trước), GEX (+148,1).... Kỳ vọng trong năm 2026, thị trường sẽ tiếp tục xuất hiện nhiều chiến mã tăng trưởng vượt trội, mang lại nhiều cơ hội cho nhà đầu tư. Trong năm 2026, chúng tôi sẽ phân tích, cung cấp thêm những nhận định về dòng tiền, xu hướng của các nhóm ngành tăng trưởng vượt trội, để hỗ trợ nhà đầu tư chiến lược đầu tư tăng trưởng hiệu quả hơn.
Nhà đầu tư duy trì tỉ trọng hợp lý. Mục tiêu đầu tư hướng tới các mã có nền tảng cơ bản tốt, đầu ngành trong các ngành chiến lược, tăng trưởng vượt trội của nền kinh tế".
VN-Index sẽ hướng đến mục tiêu 1.790 - 1.800 và tích lũy tại đây trong ngắn hạn
(Công ty Cổ phần Chứng khoán Thiên Việt - TVS)
“Chỉ số VN-Index tăng 17,6 điểm (+1%) đóng cửa ở mức 1.784,5 điểm. VN-Index tăng điểm từ đầu phiên sáng chủ yếu nhờ lực cầu từ các cổ phiếu nhóm Vingroup (VIC, VHM và VPL). Bên cạnh đó, một số cổ phiếu nhóm Ngân hàng như HDB và TCB cũng tăng mạnh và hỗ trợ đà hồi phục của chỉ số trong phiên hôm nay.
Với diễn biến thị trường hôm nay, chúng tôi cho rằng VN-Index sẽ hướng đến mục tiêu 1.790 - 1.800 và tích lũy tại đây trong ngắn hạn. Mức 1.800 là kháng cự mạnh mà chỉ số đã nhiều lần kiểm định không thành công trước đó.
Do đó, chúng tôi tiếp tục khuyến nghị nhà đầu tư duy trì tỷ trọng cổ phiếu ở mức hiện tại và theo dõi diễn biến VN-Index tại vùng 1.790 - 1.800”.
Kỳ vọng chỉ số VN-Index sẽ tiếp tục quá trình kiểm tra kháng cự quanh vùng điểm số hiện tại trước khi xuất hiện xu hướng mới
(Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam - VCBS)
“VN-Index kết phiên với nến xanh tăng điểm, chủ yếu là nhờ nhóm cổ phiếu Vingroup tiếp tục duy trì được đà hồi phục kết hợp cùng sắc xanh ở nhóm ngân hàng.
Trên khung đồ thị ngày, chỉ số chung vận động giằng co biên độ nhỏ để kiểm tra cung-cầu quanh vùng điểm 1.780-1.790. Chỉ báo CMF hướng lên cho thấy dòng tiền mua chủ động đang chiếm ưu thế trên thị trường, theo đó chỉ số chung được kỳ vọng chỉ số sẽ tiếp tục quá trình kiểm tra kháng cự quanh vùng điểm số hiện tại trước khi xuất hiện xu hướng mới.
Trên khung đồ thị giờ , chỉ số chung tiếp tục ghi nhận đà tăng mạnh và duy trì quanh biên trên của dải Bollinger band. Các chỉ báo kỹ thuật cũng đang duy trì đà đi lên nên nếu xu hướng này tiếp tục trong tuần sau thì mục tiêu trước mắt của chỉ số sẽ là vùng kháng cự tại đỉnh cũ quanh 1.800 điểm.
Đà tăng của nhóm Vingroup, đặc biệt là cổ phiếu VIC, vẫn đang là động lực chính giúp VN-Index giữ vững xu hướng đi lên. Tuy nhiên dòng tiền vẫn đang có sự phân hóa lớn giữa các nhóm ngành khi phần lớn tập trung vào nhóm cổ phiếu vốn hóa lớn và một số ít cổ phiếu vốn hóa vừa và nhỏ khác.
Trong bối cảnh hiện tại của thị trường, nhà đầu tư có thể cân nhắc giải ngân vào các cổ phiếu đang thu hút dòng tiền chủ động và còn nhiều dư địa tăng giá so với vùng đỉnh cũ gần nhất, đồng thời cần thận trọng với những mã đang áp sát vùng đỉnh cũ để tránh các nhịp điều chỉnh ngắn hạn có thể xảy ra khi VN-Index tiếp cận vùng đỉnh cũ 1.800 trong những phiên tới. Các nhóm ngành tiềm năng có thể lưu ý là ngân hàng, dầu khí và bán lẻ”.
Khả năng tiếp cận và thậm chí vượt khu vực 1.805 điểm sẽ được củng cố nếu áp lực bán tiết chế
(Công ty Cổ phần Chứng khoán VietCap)
“Với diễn biến hiện tại, chúng tôi gia tăng khả năng xuất hiện nhịp điều chỉnh trong phiên 05/01 bởi mức độ phân hóa gia tăng, sự do dự ở lực cầu mới và áp lực bán hiện diện trên nhiều mã sàn HOSE trong phiên 31/12. Hỗ trợ cho nhịp điều chỉnh này là vùng 1.755 điểm (MA5). Khả năng tiếp cận và thậm chí vượt khu vực 1.805 điểm sẽ được củng cố nếu áp lực bán tiết chế ở mức thấp trong thời gian điều chỉnh”.
Nhận định thị trường của các công ty chứng khoán được VnEconomy trích dẫn chỉ có giá trị như một nguồn thông tin tham khảo. Các công ty chứng khoán có thể có những xung đột lợi ích đối với các nhà đầu tư khi đưa ra nhận định.
-Hà Anh
Tạo hành lang pháp lý đầy đủ để phát triển thị trường carbon
Thị trường carbon đang trở thành một công cụ quan trọng trong nỗ lực giảm phát thải khí nhà kính toàn cầu. Việt Nam, với cam kết đạt mục tiêu Net Zero, đã và đang xây dựng khung pháp lý để phát triển thị trường này.
Theo ông Nguyễn Tuấn Quang, Phó Cục trưởng Cục Biến đổi khí hậu, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã quy định việc tổ chức và vận hành thị trường carbon, tạo cơ sở cho các doanh nghiệp tham gia trao đổi.
Chính phủ đã ban hành Nghị định 06/2022/NĐ-CP và Nghị định 119/2025/NĐ-CP, đặt ra lộ trình phát triển thị trường carbon. Từ nay đến năm 2028, Việt Nam sẽ vận hành thí điểm thị trường carbon và từ năm 2029 sẽ chính thức kết nối với thị trường quốc tế.
Ông Nguyễn Thành Công, Phó trưởng Phòng Thị trường carbon, cho biết hiện nay, nhiều quốc gia đã triển khai các công cụ định giá carbon như thị trường carbon và thuế carbon. Liên minh châu Âu đã triển khai thị trường carbon từ 20 năm trước, trong khi Trung Quốc và Hàn Quốc cũng đang thực hiện. Tại ASEAN, Singapore đã áp dụng thuế carbon, còn Việt Nam và Indonesia đang trong giai đoạn sơ khai.
Thị trường carbon được chia làm hai loại: thị trường tuân thủ và thị trường tự nguyện. Thị trường tuân thủ hoạt động thông qua hệ thống trao đổi hạn ngạch phát thải khí nhà kính (ETS), trong khi thị trường tự nguyện khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp triển khai dự án giảm phát thải, tạo tín chỉ carbon. Các quốc gia đã ban hành nhiều quy định và hàng rào kỹ thuật, như Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của châu Âu, để tăng cường tính cạnh tranh của doanh nghiệp.
Việt Nam xác định mục tiêu chính của thị trường carbon là hỗ trợ giảm phát thải khí nhà kính và thực hiện các mục tiêu theo Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC), góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. Thị trường carbon cũng giúp giảm phát thải với chi phí hiệu quả nhất, tạo nền kinh tế carbon thấp có khả năng thích ứng tốt hơn với biến đổi khí hậu.
Để vận hành thị trường hiệu quả, Chính phủ giao Bộ Nông nghiệp và Môi trường xây dựng Nghị định về trao đổi quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải và tín chỉ carbon, Nghị định về hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng. Bộ Tài chính xây dựng Nghị định về sàn giao dịch carbon trong nước. Đây là cơ sở để doanh nghiệp tham gia trao đổi hạn ngạch và tín chỉ carbon.
Các chuyên gia nhấn mạnh, thị trường carbon không chỉ là công cụ khí hậu mà còn là cơ hội kinh tế giúp nâng giá trị tài nguyên rừng và khuyến khích phát triển thấp phát thải. Tuy nhiên, Việt Nam cần một khung pháp lý hoàn chỉnh, minh bạch và phù hợp với thực tiễn địa phương, đồng thời sẵn sàng đáp ứng tiêu chuẩn toàn cầu mới sau COP30.
Ông Nguyễn Tuấn Quang cho biết các công cụ định giá carbon như thị trường carbon, thuế carbon đang trở thành công cụ chính sách phổ biến, hiệu quả và mạnh mẽ nhằm giúp các quốc gia giảm phát thải khí nhà kính và chuyển đổi xanh.
Thị trường carbon thành công hay thất bại phụ thuộc vào thiết kế thể chế. Quản trị đóng vai trò quyết định đối với tính toàn vẹn môi trường, niềm tin của nhà đầu tư và tính chính danh trong mắt cộng đồng. Các thị trường carbon được quản lý kém có thể dẫn đến tình trạng "carbon trên giấy", tức tín chỉ không phản ánh giảm phát thải thực chất, từ đó làm suy giảm lòng tin và ảnh hưởng đến tham vọng khí hậu toàn cầu.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 1-2026 phát hành ngày 5/1/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
https://vneconomy.vn/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-01-2026.htm
-Nhĩ Anh
Bitcoin "bất ngờ" leo giá lên hơn 91.000 USD
Tính đến 15 giờ ngày 4/1, giá BTC hiện đang được giao dịch quanh giá 91.500 USD. Trước đó, khoảng 7 giờ sáng cùng ngày, đồng tiền điện tử này đã chính thức vượt ngưỡng 91.000 USD.
Thông thường, các biến động chính trị sẽ khiến thị trường tài sản rủi ro, bao gồm cả tiền điện tử thường phản ứng bằng các nhịp giảm mạnh khi nhà đầu tư tìm cách thu hẹp rủi ro hoặc chuyển sang các kênh trú ẩn an toàn. Tuy nhiên, diễn biến của Bitcoin trong hơn một ngày qua đang cho thấy phản ứng khá khác thường.
Bên cạnh đó, tâm lý của thị trường hiện đang ghi nhận ở trạng thái ổn định, với Chỉ số Sợ hãi Tham lam đạt 40 điểm.
Trong ngày thứ bảy, bất chấp xảy ra căng thẳng chính trị, giá Bitcoin vẫn được giao dịch quanh ngưỡng 90.000 USD. Đồng tiền điện tử lớn nhất thị trường chỉ thoáng lùi xuống dưới mốc này trong thời gian ngắn, trước khi nhanh chóng phục hồi và quay trở lại vùng giá trên 90.000 USD. Thậm chí, giá BTC tính đến thời điểm bài viết còn đang có xu hướng đi lên, góp phần kéo vốn hoá toàn thị trường tăng khoảng 1% lên 3,11 tỷ USD trong 24 giờ qua.
Từ góc độ phân tích kỹ thuật, ông Michaël van de Poppe cho biết Bitcoin hiện vẫn giao dịch phía trên đường MA 21 ngày. Theo ông, nếu giá tiếp tục giữ được vùng hỗ trợ ngắn hạn này, xu hướng tăng có thể được duy trì và mở ra triển vọng tích cực hơn trong tháng Một này.
Trong khi đó, theo đánh giá từ các nhà quan sát, phản ứng của các thị trường tài chính cho đến nay chưa ghi nhận những biến động mạnh mang tính lan tỏa.
Theo nhà phân tích thị trường tiền điện tử Lennaert Snyder, sự “bình lặng” hiện tại có thể chỉ mang tính tạm thời. “Căng thẳng địa chính trị đang gia tăng, và khi các nhà đầu tư lớn quay trở lại thị trường trong tuần tới, Bitcoin nhiều khả năng sẽ đối mặt với mức biến động cao hơn”, ông nhận định.
Giới quan sát cũng lưu ý rằng phần lớn các nhà đầu tư tổ chức trong thị trường tài chính truyền thống thường không giao dịch vào cuối tuần hoặc các kỳ nghỉ lễ. Do đó, phản ứng thực sự của dòng vốn tổ chức trước những diễn biến địa chính trị lớn nhiều khả năng sẽ chỉ xuất hiện khi các tổ chức tài chính trở lại hoạt động vào thứ hai. Khi đó, các động thái tái cơ cấu danh mục hoặc bán ra phòng ngừa rủi ro có thể khiến thị trường xuất hiện biến động, bao gồm cả Bitcoin.
-Bạch Dương
Ngành thời trang biến đồ ăn thành phụ kiện sinh lời
Thế hệ người tiêu dùng trẻ ngày nay không còn mặn mà với việc khoe logo lộ liễu. Họ ưu tiên những món đồ dễ thương, dễ chụp hình, dễ kể câu chuyện cá nhân. Ở khắp các thị trường, cả nhóm khách hàng khao khát chinh phục hàng xa xỉ lẫn nhóm sành sỏi đều đang chung một mong muốn: mang sự vui tươi và hóm hỉnh vào những món phụ kiện của mình.
Những sản phẩm charm (móc treo) đáp ứng trọn vẹn nhu cầu đó: nhỏ gọn, linh hoạt, dễ mix match và phản ánh cá tính người dùng nhiều hơn là quyền lực thương hiệu. Với chi phí sản xuất tương đối thấp, biên lợi nhuận cao và khả năng lan truyền mạnh trên mạng xã hội, dòng sản phẩm dùng để trang trí cho quần áo, túi xách này đã trở thành “điểm sáng” hiếm hoi trong bối cảnh thị trường xa xỉ đang chững lại.
Và ẩm thực, trong trường hợp này, bỗng trở thành một ngôn ngữ toàn cầu. Ai cũng từng có ký ức với một món ăn vặt, một quầy hàng ven đường, một hương vị tuổi thơ. Khi ký ức ấy được “đóng gói” trong da thuộc và kim loại cao cấp, nó trở thành thứ xa xỉ dễ tiếp cận nhất về mặt cảm xúc.
Điểm then chốt nằm ở chỗ: các nhà mốt dịch chuyển nguồn lực sáng tạo và kinh doanh sang những phụ kiện nhỏ gọn, lợi nhuận cao nhưng mang đậm bản sắc văn hóa. Trong một thị trường mà giới trẻ trở thành thế lực quan trọng, charm túi xách không chỉ là điểm chạm đầu tiên với xa xỉ, mà còn là công cụ kể chuyện hiệu quả nhất.
“Cơn sốt” cảm hứng ẩm thực do đó đã bền bỉ xâm chiếm thế giới thời trang cao cấp. Từ chiếc bánh pretzel da thuộc của Coach, bánh dumpling của Fendi cho đến quả ô liu martini của Loewe… các nhà mốt đang chứng minh một điều: trong thời đại hậu-logo, cảm xúc và ký ức văn hóa mới là thứ tạo ra khao khát sở hữu.
Trước đó, Prada cũng từng “làm quen” với thế giới ẩm thực qua các chi tiết charm trái cây và đồ ăn tối giản, đặt chúng trong ngữ cảnh trí tuệ và irony đặc trưng của nhà mốt Ý. Tháng 3 năm ngoái Loewe đã giới thiệu chiếc túi xách hình chùm măng tây có đính cườm. Ngoài ra còn có Fish Bag của Bottega Veneta, hoặc chiếc túi giống như một miếng bánh vani do Tal Maslavi thiết kế.
Chưa kể đến những sáng tạo trong bao bì sản phẩm, chẳng hạn như túi Balenciaga bắt chước một túi khoai tây chiên, hay túi chống mưa để bảo vệ bánh mì baguette do Undercover sáng tạo ra. Trong show Thu - Đông 2025, nhà mốt Moschino giới thiệu bộ sưu tập phụ kiện lấy cảm hứng từ ẩm thực Italy. Nổi bật nhất là chiếc túi mỳ spaghetti có giá 3.250 USD, do Giám đốc sáng tạo Adrian Appiolaza thực hiện.
Thiết kế sử dụng chất liệu da tổng hợp in họa tiết, kết hợp cùng những "sợi mỳ” làm từ da giả mềm, tạo nên hiệu ứng thị giác sinh động. Túi còn được điểm xuyết thêm các chi tiết mô phỏng lá húng quế và cà chua bi. Trong cùng bộ sưu tập, Moschino còn ra mắt nhiều mẫu phụ kiện độc đáo khác như túi hình bánh quy, clutch mô phỏng chai rượu vang hay ví cầm tay lấy cảm hứng từ khay trái cây trong siêu thị.
Ngoài phụ kiện, nhà mốt đến từ Italy cũng tạo dấu ấn mạnh mẽ với các thiết kế váy áo lấy cảm hứng từ ẩm thực từ bộ sưu tập Xuân Hè 2022. Các mẫu thiết kế đặc sắc như váy in hình McDonald's, chân váy mô phỏng hamburger, áo trứng chiên và áo sandwich đã nhanh chóng thu hút sự chú ý và trở thành đề tài bàn tán sôi nổi trên mạng xã hội.
Louis Vuitton, dĩ nhiên, không đứng ngoài cuộc chơi. Ngày 01/12, nhà mốt Pháp tung ra một món phụ kiện nhỏ nhưng gây tiếng vang lớn: móc khóa hình bánh cá Taiyaki – món ăn đường phố quen thuộc của Nhật Bản, được tái hiện bằng ngôn ngữ xa xỉ.
Thoạt nhìn, đây chỉ là một charm treo túi. Nhưng dưới lớp da chế tác tại Ý, với đường viền hơi “lem nhem” cố ý và lớp lót đỏ gợi phần nhân đậu ngọt bên trong, Taiyaki của Louis Vuitton là tuyên ngôn rõ ràng cho sự dịch chuyển của xa xỉ đương đại: từ quyền lực monogram sang sự vui nhộn, gần gũi và dễ lan tỏa trên mạng xã hội.
Taiyaki hay Bungeoppang vốn là món bánh nóng hổi bán ở các khu chợ Đông Á, phổ biến tại Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc. Việc Louis Vuitton chọn biểu tượng ẩm thực này không phải ngẫu nhiên. Đó là một lựa chọn mang tính chiến lược, chạm đúng vùng ký ức tập thể của người tiêu dùng châu Á, đặc biệt là thế hệ Gen Z – nhóm khách hàng đang tìm kiếm sự hoài niệm, cá nhân hóa và cảm giác “thân quen ” ngay cả trong những sản phẩm xa xỉ đắt đỏ.
Không khó để lý giải vì sao chiếc charm này nhanh chóng viral. Trên nền tảng Tiểu Hồng Thư (Xiaohongshu), từ khóa Taiyaki đạt hơn 113 triệu lượt hiển thị, trong khi các hashtag liên quan đến phụ kiện nhỏ như bagcharm đã bùng nổ lên đến 1,4 tỷ lượt xem. Những con số này cho thấy: một món đồ đủ “cute”, đủ văn hóa và đủ kể chuyện hoàn toàn có thể trở thành tâm điểm tiêu dùng.
Louis Vuitton không phải người tiên phong, nhưng chắc chắn là một trong những cái tên chơi cuộc chơi này bài bản nhất. Charm Taiyaki của Louis Vuitton hiện được niêm yết tới 800 euro tại châu Âu một mức giá đủ để khẳng định đây là một sản phẩm chiến lược chứ không phải món đồ chơi.
Có lẽ, trong tương lai gần, những món “ăn vặt” của thời trang sẽ còn tiếp tục xuất hiện nhỏ hơn, vui hơn, và thông minh hơn bao giờ hết. Điểm chung xu hướng thực tế không nằm ở việc mô phỏng đồ ăn, mà ở cách các thương hiệu chuyển hóa những vật thể đời thường thành biểu tượng cảm xúc, đủ quen để gợi nhớ, đủ lạ để tạo khao khát.
Theo dữ liệu từ Retviews, trong khi nhiều phân khúc phụ kiện cao cấp suy giảm trong năm qua, bag charms và móc khóa lại tăng trưởng thị phần tới 51% từ 2024 đến 2025. Một con số không thể xem nhẹ.
-Băng Sơn
Venezuela - nghịch lý “vàng đen” lớn nhất thế giới
Đằng sau cụm từ “dầu bị đánh cắp” mà Washington sử dụng là cả một lịch sử dài về quốc hữu hóa, tranh chấp và sự tan rã của một trong những hệ thống dầu khí quan trọng nhất thế giới.
Sự sụp đổ của Venezuela không bắt đầu từ lệnh trừng phạt hay hành động quân sự, mà bắt đầu từ những quyết định đã làm đứt gãy mối liên kết giữa trữ lượng dầu khổng lồ với vốn, công nghệ và thị trường toàn cầu.
TRỮ LƯỢNG DẦU LỚN NHẤT THẾ GIỚI - NHƯNG PHẦN LỚN LÀ DẦU SIÊU NẶNG
Theo số liệu của Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) và Energy Institute, Venezuela hiện sở hữu khoảng 303 tỷ thùng dầu đã được chứng minh, tương đương ~17-20% trữ lượng dầu toàn cầu - mức cao nhất trên thế giới.
Với dầu ở mức giá trung bình dài hạn 60 USD/thùng, trữ lượng này mang lại một tài sản ngầm trị giá ~18.000 tỷ USD, là nguồn lực lý thuyết có thể biến Venezuela thành nền kinh tế siêu giàu.
Tuy nhiên, hầu hết trữ lượng đó nằm ở vành đai Orinoco, vùng dầu siêu nặng (extr-heavy crude). Loại dầu này khác biệt rõ rệt so với dầu nhẹ ở Mỹ hay Trung Đông: độ nhớt cao, chứa lưu huỳnh và tạp chất nặng, không thể được đưa trực tiếp vào các nhà máy lọc thông thường mà không qua quy trình pha loãng, gia nhiệt và nâng cấp (upgrading). Những bước này đòi hỏi công nghệ chuyên biệt, hệ thống điện năng mạnh, nguồn dung môi pha loãng ổn định và vốn đầu tư lớn.
Từ thập niên 1970 đến đầu những năm 2000, Venezuela duy trì sản lượng lớn và ổn định nhờ các liên doanh với các tập đoàn đa quốc gia như ExxonMobil, ConocoPhillips, Chevron, Total, ENI, Statoil/Equinor, những công ty cung cấp vốn, công nghệ và thị trường xuất khẩu. Nhờ đó, Venezuela từng sản xuất hơn 3,5 triệu thùng/ngày, đưa nước này vào nhóm các nhà cung cấp dầu mỏ lớn nhất thế giới.
Khi những liên kết đó bị cắt đứt, Venezuela mất không chỉ công nghệ mà còn mất khả năng duy trì dòng tiền đầu tư, khiến tài sản dầu trị giá hàng chục nghìn tỷ USD không thể được đưa vào hoạt động hiệu quả.
Sản lượng dầu mỏ của Venezuela trước và sau các đợt quốc hữu hóa. Nguồn ảnh: Robert Rapier (Forbes)QUỐC HỮU HÓA VÀ “DẦU BỊ ĐÁNH CẮP” - NGUỒN GỐC CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG
Theo phân tích của Forbes, cụm từ “stolen oil” (dầu bị đánh cắp) mà Phó Tổng thống Mỹ JD Vance sử dụng không phải là khẩu hiệu chính trị, mà bắt nguồn từ một chuỗi tranh chấp pháp lý - tài sản kéo dài hơn hai thập niên.
Mặc dù Venezuela đã quốc hữu hóa ngành dầu mỏ từ năm 1976, nhưng bước ngoặt thực sự làm đảo lộn toàn bộ hệ sinh thái dầu khí chỉ xảy ra dưới thời Tổng thống Hugo Chávez từ đầu những năm 2000, khi Caracas chuyển từ mô hình quốc hữu hóa có trật tự sang quốc hữu hóa cưỡng ép các tài sản tư nhân nước ngoài.
Trong giai đoạn này, chính quyền Chávez buộc tất cả các tập đoàn dầu khí nước ngoài đang hoạt động tại Venezuela phải chuyển đổi các hợp đồng khai thác sang mô hình liên doanh do PDVSA nắm cổ phần chi phối, trong nhiều trường hợp là cổ phần đa số.
Quy định này đặc biệt nhắm vào các dự án tại vành đai Orinoco - nơi dầu siêu nặng chỉ có thể được khai thác hiệu quả nhờ vốn, công nghệ và hệ thống nâng cấp do các tập đoàn phương Tây cung cấp.
Hai tập đoàn dầu khí lớn của Mỹ là ExxonMobil và ConocoPhillips từ chối chấp nhận điều kiện chuyển giao quyền kiểm soát này.
Chính phủ Venezuela sau đó đã tịch thu toàn bộ tài sản của hai công ty tại Orinoco, bao gồm các mỏ dầu, các nhà máy nâng cấp (upgrader), hệ thống đường ống, kho chứa và các quyền khai thác dài hạn trong các liên doanh.
Tổng giá trị tài sản của các công ty phương Tây bị quốc hữu hóa trong giai đoạn này được ước tính ở mức tối thiểu 30-40 tỷ USD, nếu tính đầy đủ các quyền tài sản, công trình kỹ thuật và giá trị dòng tiền tương lai.
Việc tịch thu này lập tức dẫn đến hàng loạt vụ kiện tại các tòa trọng tài quốc tế. Theo các phán quyết cuối cùng, ConocoPhillips được tuyên bồi thường hơn 8,7 tỷ USD, còn ExxonMobil được tuyên bồi thường khoảng 1,6 tỷ USD. Ngoài ra, các công ty châu Âu như Total (Pháp) và ENI (Ý) cũng giành được các phán quyết bồi thường với tổng giá trị khoảng 2 tỷ USD.
Chevron, tập đoàn dầu khí lớn khác của Mỹ, là trường hợp đặc biệt trong làn sóng quốc hữu hóa này. Không giống Exxon và Conoco rời bỏ Venezuela, Chevron chấp nhận ở lại thông qua các liên doanh với PDVSA tại bốn dự án lớn gồm Petropiar, Petroboscán, Petroindependencia và Petroindependiente, với tổng vốn đầu tư lũy kế ước tính hơn 20 tỷ USD.
Tuy nhiên, việc PDVSA nắm cổ phần chi phối khiến Chevron bị tước quyền kiểm soát thực tế đối với tài sản và dòng tiền. Khi khủng hoảng tài chính và các lệnh trừng phạt của Mỹ được áp đặt từ năm 2019, Chevron buộc phải đóng băng hầu hết hoạt động, trong khi các mỏ dầu và hạ tầng mà hãng đã đầu tư vẫn nằm trong tay liên doanh do PDVSA kiểm soát.
Đây được xem là hình thức “quốc hữu hóa trên thực tế”: tài sản không bị tịch thu trên giấy tờ, nhưng quyền khai thác và lợi ích kinh tế bị vô hiệu hóa.
Tuy nhiên, chính quyền Caracas hầu như không thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ thanh toán theo phán quyết của tòa án quốc tế. Hệ quả là các chủ nợ tiếp tục theo đuổi tài sản của Venezuela ở nước ngoài để thu hồi nợ, nổi bật nhất là CITGO - hệ thống lọc dầu và phân phối tại Mỹ, được xem là tài sản chiến lược có giá trị nhiều tỷ USD của Venezuela ở hải ngoại.
Chính trong bối cảnh đó, Washington coi một phần dầu mỏ mà Venezuela xuất khẩu sau này là “dầu bị đánh cắp” - tức dầu được khai thác từ các tài sản đã bị tịch thu trái pháp luật và chưa được bồi thường cho chủ sở hữu hợp pháp theo phán quyết quốc tế. Đây không chỉ là một tranh cãi chính trị, mà là vấn đề quyền sở hữu tài sản, luật đầu tư quốc tế và dòng tiền dầu mỏ.
Hệ quả trực tiếp của chuỗi quốc hữu hóa và tranh chấp này là dòng vốn và công nghệ phương Tây rút khỏi Venezuela, PDVSA mất khả năng duy trì các mỏ dầu siêu nặng phức tạp tại Orinoco, còn toàn bộ ngành dầu khí - vốn từng là động cơ tăng trưởng quốc gia - bước vào quá trình suy sụp kéo dài.
Quan trọng hơn, Venezuela bị đẩy vào trạng thái bị cô lập khỏi thị trường tài chính toàn cầu, không thể huy động vốn, bảo hiểm hay công nghệ để khai thác chính nguồn tài nguyên lớn nhất của mình.
Một người đi xe máy chạy ngang bức tranh tường về Tập đoàn dầu khí quốc gia PDVSA của Venezuela gần trụ sở công ty tại Caracas, Venezuela. Nguồn ảnh: Leonardo Fernandez Viloria/ReutersPDVSA SỤP ĐỔ, TRUNG QUỐC - NGA THẾ CHỖ VÀ DẦU TRỞ THÀNH CÔNG CỤ ĐỊA CHÍNH TRỊ
Theo Reuters, khi sản lượng Venezuela sụt giảm, Trung Quốc và Nga trở thành những đối tác tài chính - dầu mỏ chủ chốt. Trung Quốc đã cho Venezuela vay khoảng 10 tỷ USD, đổi lại Caracas trả nợ bằng dầu thô vận chuyển trên các siêu tàu chở dầu do Trung Quốc và Venezuela đồng sở hữu.
Mỹ từng là khách hàng lớn nhất của dầu Venezuela, nhưng sau các lệnh trừng phạt, Trung Quốc trở thành điểm đến chính. Dầu Venezuela cũng được bán qua trung gian để né trừng phạt, làm giảm mạnh giá trị thực thu.
Trong khi đó, PDVSA - từng là một trong những công ty dầu khí mạnh nhất thế giới - rơi vào tình trạng thiếu vốn, hạ tầng xuống cấp, nhân sự bỏ đi. Sản lượng từ mức 3,5 triệu thùng/ngày thập niên 1970 giảm xuống chỉ khoảng 1,1 triệu thùng/ngày năm 2025, tương đương chỉ 1% nguồn cung toàn cầu.
Tài sản chiến lược nhất của Venezuela ở nước ngoài là CITGO - hệ thống lọc dầu tại Mỹ - hiện cũng bị các chủ nợ theo đuổi thông qua tòa án Mỹ để thu hồi các khoản bồi thường quốc hữu hóa.
Như Forbes nhận định, Venezuela không thiếu dầu, mà thiếu môi trường pháp lý, vốn và công nghệ để biến dầu thành sức mạnh kinh tế. Với dầu siêu nặng Orinoco, nếu không có đầu tư và hợp tác quốc tế, ngay cả trữ lượng lớn nhất thế giới cũng chỉ nằm yên dưới lòng đất.
Cuộc khủng hoảng Venezuela vì thế không chỉ là câu chuyện của một chính quyền hay một cá nhân, mà là hệ quả của việc một trong những kho tài sản năng lượng lớn nhất hành tinh bị tách rời khỏi hệ thống vốn, công nghệ và luật chơi toàn cầu.
Với hơn 300 tỷ thùng dầu nằm dưới lòng đất, Venezuela về mặt lý thuyết sở hữu một “kho vàng đen” trị giá hàng chục nghìn tỷ USD. Nhưng trong thực tế, phần lớn giá trị đó đã bị phong tỏa bởi tranh chấp pháp lý, sụp đổ hạ tầng và mất niềm tin của nhà đầu tư quốc tế.
Forbes, Reuters-Trọng Hoàng
Mỹ tấn công Venezuela: Xuất khẩu dầu mỏ bị đóng băng, thị trường năng lượng toàn cầu theo dõi sát
Hoạt động xuất khẩu dầu mỏ của Venezuela đã rơi vào trạng thái đóng băng ngay sau khi Mỹ tiến hành chiến dịch quân sự và bắt giữ Tổng thống Nicolás Maduro ngày 3/1.
XUẤT KHẨU DẦU VENEZUELA TÊ LIỆT HOÀN TOÀN SAU CHIẾN DỊCH QUÂN SỰ CỦA MỸ
Theo phóng viên TTXVN tại Washington dẫn các nguồn thạo tin, giới chức quản lý cảng tại Venezuela không nhận được bất kỳ chỉ thị nào cho phép tàu chở dầu rời cảng trong những ngày sau đó.
Dữ liệu theo dõi hàng hải cho thấy không có lệnh xuất bến nào được ban hành kể từ khi Mỹ siết chặt kiểm soát đối với các tàu dầu ra vào vùng biển Venezuela. Một số tàu đã hoàn tất việc bốc xếp dầu thô và nhiên liệu để vận chuyển tới Mỹ và châu Á buộc phải neo đậu chờ lệnh, trong khi các tàu khác rời cảng trong tình trạng không chở hàng.
Tình trạng tê liệt này diễn ra trong bối cảnh hoạt động xuất khẩu dầu của Venezuela vốn đã suy giảm mạnh do các lệnh trừng phạt kéo dài nhiều năm. Trước thời điểm Mỹ mở rộng phong tỏa hàng hải, xuất khẩu dầu của quốc gia Nam Mỹ này chỉ dao động quanh mức 700.000 đến 1 triệu thùng/ngày, thấp hơn rất nhiều so với giai đoạn đỉnh cao trước đây.
Khói lửa bốc lên tại khu phức hợp quân sự Fuerte Tiuna lớn nhất Venezuela, sau một loạt tiếng nổ ở thủ đô Caracas ngày 3-1. Ảnh: TTXVNCảng Jose – một trong những trung tâm dầu khí lớn nhất của Venezuela – không ghi nhận bất kỳ chuyến xuất hàng nào trong ngày 3/1. Đáng chú ý, ngay cả các chuyến vận chuyển liên quan đến Tập đoàn dầu khí quốc gia Venezuela (PDVSA) và đối tác chính là Chevron của Mỹ cũng bị đình trệ, cho thấy phạm vi tác động rộng và trực tiếp của các biện pháp kiểm soát hiện nay.
Các nguồn tin trong ngành dầu khí cảnh báo, nếu tình trạng này kéo dài, Venezuela sẽ buộc phải cắt giảm mạnh sản lượng khai thác. Khi các bồn chứa trên bờ và kho chứa nổi đạt ngưỡng tối đa, nhiều mỏ dầu có thể phải đóng giếng, kéo theo thiệt hại kinh tế lớn và nguy cơ suy giảm lâu dài năng lực sản xuất.
DẦU MỎ TRỞ THÀNH TRỌNG TÂM CHUYỂN TIẾP
Song song với việc phong tỏa hoạt động xuất khẩu dầu, Mỹ cũng phát đi những tín hiệu đáng chú ý về vai trò của mình tại Venezuela trong giai đoạn tới. Phát biểu tại họp báo về chiến dịch quân sự, Tổng thống Mỹ Donald Trump cho biết Washington để ngỏ khả năng triển khai lực lượng quân sự tại Venezuela và “điều hành” quốc gia này trong một thời gian dài nhằm tái thiết ngành công nghiệp dầu mỏ.
Theo ông Trump, Venezuela có thể sẽ được điều hành bởi các trợ lý chính sách đối ngoại hàng đầu của Mỹ, phối hợp với các nhân sự Venezuela. Liên quan đến khả năng chuyển giao quyền lực, Tổng thống Mỹ cho rằng lãnh đạo phe đối lập María Corina Machado khó có được sự chấp nhận rộng rãi để thay thế ông Maduro, đồng thời khẳng định Mỹ không liên lạc với bà Machado khi tiến hành chiến dịch quân sự.
Về lĩnh vực dầu khí, ông Trump nhấn mạnh các công ty dầu mỏ của Mỹ sẽ vào Venezuela và đầu tư hàng tỷ USD để sửa chữa, nâng cấp cơ sở hạ tầng đã xuống cấp nghiêm trọng sau nhiều năm thiếu vốn và công nghệ.
Những phát biểu này cho thấy dầu mỏ – nguồn thu chủ lực của nền kinh tế Venezuela – đang trở thành yếu tố trung tâm trong chiến lược can dự của Mỹ và tiến trình chuyển tiếp quyền lực tại quốc gia Nam Mỹ này.
Trong khi đó, nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế đã lên tiếng phản đối hành động quân sự của Mỹ tại Venezuela, coi đây là bước đi đi ngược lại luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc. Tại nhiều nơi trên thế giới, các cuộc tuần hành ủng hộ người dân Venezuela và yêu cầu trả tự do cho Tổng thống Maduro cũng đã diễn ra.
THỊ TRƯỜNG DẦU MỎ TOÀN CẦU DỰ BÁO CHỈ BIẾN ĐỘNG HẠN CHẾ
Mặc dù xuất khẩu dầu của Venezuela bị đóng băng, giới chuyên gia nhận định tác động tức thời đối với giá dầu thế giới có thể chỉ ở mức hạn chế.
Theo phóng viên TTXVN tại Trung Đông, báo The National của UAE dẫn ý kiến bà Vandana Hari, Giám đốc điều hành công ty phân tích thị trường năng lượng Vanda Insights (Singapore), cho rằng thị trường dầu mỏ hiện phản ứng khá thận trọng, ngoại trừ việc phí bảo hiểm rủi ro địa chính trị có xu hướng gia tăng.
Cùng quan điểm, bà Amena Bakr, người đứng đầu bộ phận nghiên cứu của công ty Kpler (Pháp), nhận định tác động hiện tại đối với cung – cầu dầu mỏ toàn cầu chưa đáng kể. Theo bà, giá dầu chỉ có thể tăng nhẹ nếu rủi ro địa chính trị tiếp tục ở mức cao trong thời gian dài.
Ông Vijay Valecha, Giám đốc phụ trách đầu tư tại Century Financial (UAE), lưu ý rằng đóng góp hiện tại của Venezuela vào nguồn cung dầu toàn cầu là tương đối nhỏ. Mức gián đoạn khoảng 700.000 – 1 triệu thùng/ngày, so với tổng nguồn cung toàn cầu, được đánh giá là không đủ lớn để tạo cú sốc giá mạnh.
Tuy nhiên, ông cũng cảnh báo nguy cơ leo thang khủng hoảng, có thể kéo theo sự can dự của nhiều bên trong khu vực, qua đó đẩy phí rủi ro tăng cao.
Theo ông Valecha, trong các cuộc khủng hoảng địa chính trị gần đây tại Trung Đông, mức phí rủi ro trung bình trên thị trường dầu mỏ từng tăng hơn 10 USD/thùng. Điều này cho thấy yếu tố tâm lý và địa chính trị có thể tác động mạnh hơn so với yếu tố cung – cầu thuần túy.
Ở góc nhìn dài hạn, ông Robin Mills, Giám đốc điều hành công ty tư vấn năng lượng Qamar Energy (UAE), cho rằng việc mất đi một phần xuất khẩu dầu của Venezuela hiện nay chưa tạo ra khác biệt lớn đối với thị trường. Tuy nhiên, ông lưu ý Venezuela vẫn có dư địa tăng trưởng sản lượng đáng kể nếu được dỡ bỏ trừng phạt và mở cửa cho đầu tư nước ngoài trong những năm tới.
Rạng sáng 3/1 (giờ địa phương), Tổng thống Donald Trump tuyên bố Mỹ đã tấn công Venezuela và bắt giữ Tổng thống Nicolás Maduro, khép lại nhiều tuần gia tăng sức ép đối với hoạt động xuất khẩu dầu mỏ của quốc gia này thông qua các biện pháp phong tỏa hàng hải.
Trong bối cảnh đó, diễn biến tại Venezuela tiếp tục được giới quan sát và thị trường năng lượng toàn cầu theo dõi sát sao, đặc biệt là vai trò của dầu mỏ trong cục diện địa chính trị mới đang hình thành.
Mỹ tấn công Venezuela: Hàng trăm chuyến bay bị hủy, giao thông hàng không khu vực gián đoạn
Chiến dịch quân sự của Mỹ dẫn đến việc bắt giữ Tổng thống Venezuela Nicolás Maduro ngày 3/1 đã gây gián đoạn nghiêm trọng hoạt động giao thông hàng không tại khu vực Caribe, đúng thời điểm cao trào đi lại sau kỳ nghỉ lễ.
Theo trang theo dõi hàng không FlightRadar24.com, trong ngày 3/1 không có chuyến bay dân dụng nào đi qua không phận Venezuela. Lệnh hạn chế bay do Cơ quan Hàng không Liên bang Mỹ (FAA) ban hành đã khiến nhiều hãng hàng không lớn của Mỹ hủy hàng trăm chuyến bay trên khắp khu vực Đông Caribe, đồng thời cảnh báo tình trạng gián đoạn có thể kéo dài trong những ngày tới.
Các chuyến bay đến và đi từ Puerto Rico, Quần đảo Virgin (thuộc Mỹ), Aruba (lãnh thổ tự trị thuộc Hà Lan) cùng hơn 10 điểm đến khác tại quần đảo Tiểu Antilles, phía Bắc Venezuela, đã bị hủy hàng loạt. Nhiều hãng hàng không thông báo miễn phí thay đổi lịch bay cho hành khách buộc phải điều chỉnh kế hoạch di chuyển trong dịp cuối tuần.
Riêng tại Sân bay Quốc tế Luis Muñoz Marín của Puerto Rico, khoảng 400 chuyến bay đi và đến đã bị hủy, tương đương gần 60% tổng lịch bay trong ngày. Ngoài ra, 15 chuyến bay khởi hành từ San Juan dự kiến vào ngày 4/1 cũng không thể thực hiện. Tại Aruba, Sân bay Quốc tế Queen Beatrix ghi nhận 91 chuyến bay bị hủy trong ngày 3/1, chiếm hơn một nửa tổng số chuyến bay đi và đến.
JetBlue, hãng hàng không có mạng lưới hoạt động rộng tại Caribe, cho biết đã hủy khoảng 215 chuyến bay do việc đóng cửa không phận liên quan đến các hoạt động quân sự. Trong khi đó, American Airlines xác nhận đã hủy toàn bộ các chuyến bay tại khu vực Đông Caribe trong ngày 3/1.
Tình trạng gián đoạn diễn ra ngay sau giai đoạn cao điểm nghỉ lễ kéo dài 13 ngày, thời điểm dự báo có khoảng 122,4 triệu người Mỹ đi du lịch. Dù vậy, nhiều du khách vẫn tranh thủ những ngày cuối để nghỉ dưỡng tại các bãi biển và khu nghỉ mát nhiệt đới trước khi quay trở lại với thời tiết mùa đông lạnh giá.
Trước đó, FAA đã ban hành lệnh cấm các chuyến bay thương mại của Mỹ đi vào không phận Venezuela, với lý do “hoạt động quân sự đang diễn ra”, trong bối cảnh ghi nhận các vụ nổ tại thủ đô Caracas. Bộ trưởng Giao thông Vận tải Mỹ Sean Duffy cho biết các biện pháp hạn chế bay sẽ được dỡ bỏ khi điều kiện cho phép.
-
TP. Hồ Chí Minh chấp thuận cho Masterise nghiên cứu, đề xuất đầu tư metro số 3
UBND TP. Hồ Chí Minh vừa có văn bản chấp thuận đề nghị của Sở Tài chính, Sở Xây dựng và Ban quản lý Đường sắt đô thị về việc giao CTCP Tập đoàn Masterise sử dụng nguồn vốn tự có để thực hiện công tác khảo sát, nghiên cứu đề xuất đầu tư dự án tuyến đường sắt đô thị số 3 (An Hạ - Hiệp Bình Phước).
Theo UBND Thành phố, việc chấp thuận này không đồng nghĩa với việc giao nhiệm vụ chủ đầu tư, chuẩn bị đầu tư hay chấp thuận nhà đầu tư theo quy định của pháp luật hiện hành.
Đồng thời, UBND TP. Hồ Chí Minh cho biết trường hợp hồ sơ đề xuất dự án không được cấp thẩm quyền phê duyệt, hoặc quá thời gian được giao nhưng chưa hoàn thành đề xuất dự án, doanh nghiệp phải tự chịu toàn bộ kinh phí thực hiện và bàn giao sản phẩm nghiên cứu cho Ban quản lý Đường sắt đô thị để phục vụ công tác quản lý Nhà nước, khai thác dữ liệu theo quy định.
Trong quá trình khảo sát, nghiên cứu và đề xuất đầu tư, công ty có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với các sở, ngành và đơn vị có liên quan; thực hiện đầy đủ các nội dung theo đề nghị của Sở Tài chính; bảo đảm sản phẩm nghiên cứu được xem xét, đánh giá toàn diện, đáp ứng yêu cầu về chất lượng, hiệu quả và tính khả thi; phù hợp với định hướng, quy hoạch chung và quy hoạch chuyên ngành giao thông đô thị của TP. Hồ Chí Minh đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Bên cạnh đó, UBND Thành phố giao Ban quản lý đường sắt đô thị tiếp tục thực hiện nhiệm vụ chủ đầu tư các dự án thuộc mạng lưới đường sắt đô thị TP. Hồ Chí Minh theo Quyết định số 1195/QĐ-UBND của UBND TP; phối hợp, hỗ trợ CTCP Tập đoàn Masterise trong quá trình nghiên cứu; tiếp nhận, quản lý và khai thác kết quả nghiên cứu theo quy định.
Đồng thời, Sở Tài chính, Sở Xây dựng, Sở Nông nghiệp và Môi trường, Sở Quy hoạch - Kiến trúc, Ban Quản lý Đường sắt đô thị và các đơn vị liên quan chủ động phối hợp, hỗ trợ nghiên cứu; bảo đảm đồng bộ quy hoạch, công nghệ, tiêu chuẩn kỹ thuật và phương án vận hành; hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện đúng quy định pháp luật, bảo đảm tính khả thi, hiệu quả và thống nhất trong quản lý, phát triển mạng lưới đường sắt đô thị TP. Hồ Chí Minh.
Trước đó, doanh nghiệp này đã có văn bản gửi đến UBND TP. Hồ Chí Minh, đề xuất nghiên cứu tuyến metro số 3 (đoạn Hiệp Bình Phước - An Hạ) theo hình thức đối tác công tư (PPP), loại hợp đồng BT (xây dựng - chuyển giao).
Tuyến metro số 3 có tổng chiều dài gần 46 km, hướng tuyến đi qua các trục giao thông chính gồm An Hạ - Lê Minh Xuân - ga Tân Kiên - Quốc lộ 1 - Kinh Dương Vương - Hồng Bàng - Hùng Vương - ngã sáu Cộng Hòa - Nguyễn Thị Minh Khai - Xô Viết Nghệ Tĩnh - quốc lộ 13 - depot Hiệp Bình Phước.
Tuyến sẽ kết nối với tuyến metro số 2 (Thủ Dầu Một – TP. Hồ Chí Minh) tại depot Hiệp Bình Phước, để tạo thành một tuyến đường sắt đô thị xuyên suốt từ khu vực Bình Dương cũ đến khu vực trung tâm thành phố.
-Thanh Thủy
Tổng thống Trump: Mỹ sẽ tạm thời điều hành Venezuela, mở cửa cho đầu tư dầu khí
Trong cuộc họp báo ngày 3/1/2026 ở khu nghỉ dưỡng Mar-a-Lago tại bang Florida, Tổng thống Trump cho biết rằng trước đó, Mỹ đã tiến hành một chiến dịch qua đêm tại Venezuela và bắt giữ Tổng thống Maduro, người cầm quyền lâu năm.
Ông nhấn mạnh Mỹ sẽ tạm thời đặt Venezuela dưới sự kiểm soát của Washington trong giai đoạn hiện nay, đồng thời để ngỏ khả năng triển khai lực lượng Mỹ nếu cần.
“Chúng tôi sẽ điều hành Venezuela cho đến khi có thể thực hiện một quá trình chuyển tiếp an toàn, phù hợp và thận trọng. Chúng tôi không thể mạo hiểm để một người khác lên nắm quyền ở Venezuela mà không đặt lợi ích của người dân Venezuela lên trước”, ông Trump phát biểu tại họp báo.
Hiện chưa rõ Washington sẽ triển khai cơ chế giám sát Venezuela ra sao. Theo hãng tin Reuters, dù chiến dịch qua đêm của Mỹ khiến một phần Caracas mất điện và dẫn tới việc bắt giữ ông Maduro, lực lượng Mỹ chưa kiểm soát được Venezuela trên thực địa. Trong khi đó, bộ máy chính quyền của ông Maduro dường như vẫn vận hành và không phát tín hiệu sẵn sàng hợp tác với Washington.
“Đây không phải là thay đổi chế độ, mà là công lý”, ông Mike Waltz, Đại sứ Mỹ tại Liên hợp quốc (UN), viết trên mạng xã hội X ngày 3/1.
Ông cho rằng ông Maduro là “một nhà lãnh đạo bị truy tố và không chính danh”, đồng thời cáo buộc ông đứng đầu một tổ chức mà phía Mỹ gọi là “khủng bố ma túy”, liên quan đến các vụ việc khiến công dân Mỹ thiệt mạng.
Phản ứng trước vụ việc, ông Antonio Guterres, Tổng thư ký Liên hợp quốc nói rằng động thái của Mỹ tạo ra “một tiền lệ nguy hiểm”, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu tất cả các bên tôn trọng đầy đủ luật quốc tế, gồm Hiến chương Liên hợp quốc. Ông cũng bày tỏ “quan ngại sâu sắc” rằng các quy tắc của luật quốc tế đã không được tôn trọng.
Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (UNSC) dự kiến họp vào thứ Hai (5/1) về vấn đề này, sau khi Colombia, với sự ủng hộ của Nga và Trung Quốc, đã đề nghị triệu tập cuộc họp của hội đồng gồm 15 nước. UNSC đã họp hai lần - vào tháng 10 và tháng 12 - về căng thẳng leo thang giữa Mỹ và Venezuela.
Phản ứng của các quốc gia với chiến dịch của Mỹ tại Venezuela có sự phân hóa rõ rệt. Trung Quốc, Nga, Mexico, Brazil và Tây Ban Nha lên tiếng chỉ trích, nhấn mạnh nguyên tắc chủ quyền và yêu cầu tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc.
“Trung Quốc vô cùng sốc và lên án mạnh mẽ việc Mỹ dùng vũ lực với một quốc gia có chủ quyền, cũng như việc dùng vũ lực với tổng thống của một quốc gia”, Bộ Ngoại giao Trung Quốc nhấn mạnh trong một thông cáo.
Trong khi đó, một số quốc gia như Đức, Anh và Đan Mạch duy trì lập trường thận trọng, kêu gọi tránh leo thang, ưu tiên giải pháp chính trị và nói cần thêm thời gian để đánh giá khía cạnh pháp lý của diễn biến.
“Chúng tôi đánh giá khía cạnh pháp lý của chiến dịch là phức tạp và sẽ dành thời gian để xem xét. Nhưng chúng tôi cho rằng các nguyên tắc của luật quốc tế phải được áp dụng và một quá trình chuyển tiếp tới chính phủ có tính chính danh từ bầu cử”, Thủ tướng Đức Friedrich Merz phát biểu.
Thủ tướng Anh Keir Starmer cho biết London muốn xác lập các sự thật trước và cho biết ông muốn nói chuyện với Tổng thống Trump trước.
“Tôi muốn nói chuyện với các đồng minh. Tôi có thể nói rõ rằng chúng tôi không tham gia và tôi luôn nói cũng như luôn tin rằng tất cả chúng ta cần thượng tôn luật quốc tế”, ông Starmer nói.
Canada kêu gọi các bên tuân thủ luật quốc tế và cho biết đang phối hợp với các đối tác để theo dõi tình hình.
“Canada kêu gọi tất cả các bên tôn trọng luật quốc tế và chúng tôi sát cánh cùng người dân Venezuela cùng khát vọng được sống trong một xã hội hòa bình và dân chủ. Canada đang trao đổi với các đối tác quốc tế và theo dõi sát diễn biến”, Ngoại trưởng Canada Anita Anand phát biểu.
Ở chiều ngược lại, Israel công khai hoan nghênh động thái của Washington.
“Chúc mừng Tổng thống Trump vì sự lãnh đạo táo bạo và mang tính lịch sử, nhân danh tự do và công lý. Tôi hoan nghênh quyết tâm dứt khoát của ông và hành động xuất sắc của những người lính dũng cảm”, Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu phát biểu.
Tại Mỹ Latin, Argentina và Ecuador bày tỏ ủng hộ chiến dịch của Mỹ. Riêng tại Chile, quan điểm cũng chia rẽ khi Tổng thống đương nhiệm phản đối, trong khi Tổng thống đắc cử lại lên tiếng ủng hộ.
Trở lại họp báo tại Floria, Tổng thống Trump cho biết các công ty dầu khí Mỹ sẵn sàng đảm nhận nhiệm vụ khó khăn là đầu tư vào việc khôi phục sản xuất dầu tại Venezuela.
“Chúng tôi sẽ để các công ty dầu khí Mỹ rất lớn của mình - lớn nhất trên thế giới - vào đó, chi hàng tỷ USD, sửa chữa hạ tầng dầu mỏ xuống cấp nghiêm trọng và bắt đầu tạo ra doanh thu cho quốc gia này”, ông Trump phát biểu.
Chevron hiện là tập đoàn dầu khí lớn duy nhất của Mỹ còn khai thác tại các mỏ dầu ở Venezuela, nơi sản xuất dầu thô nặng phục vụ các nhà máy lọc dầu ở Bờ Vịnh Mỹ và nhiều cơ sở khác. Trong khi đó, Exxon Mobil và ConocoPhillips cùng một số doanh nghiệp khác từng hoạt động lâu năm tại Venezuela, trước khi các dự án bị quốc hữu hóa gần hai thập kỷ trước dưới thời cựu Tổng thống Hugo Chavez.
Tuy nhiên, theo các nhà phân tích, kế hoạch của ông Trump sẽ vấp phải nút thắt hạ tầng, khiến tiến độ kéo dài nhiều năm và cần vốn đầu tư lớn.
“Ngành dầu khí Venezuela vẫn còn nhiều vấn đề chưa rõ ràng, nhưng chắc chắn phải cần tới hàng chục tỷ USD mới có thể xoay chuyển tình hình”, ông Peter McNally, Trưởng bộ phận phân tích ngành toàn cầu tại công ty Third Bridge, nhận xét.
Theo ông, quá trình tái thiết có thể mất ít nhất 1 thập kỷ nếu các tập đoàn dầu khí phương Tây thực sự cam kết đầu tư dài hạn tại Venezuela.
Trong khi đó, ông Trump khẳng định lệnh cấm vận của Mỹ đối với toàn bộ dầu Venezuela vẫn còn hiệu lực. Tại họp báo, ông cho biết quân đội Mỹ sẽ tiếp tục duy trì vị trí cho đến khi các yêu cầu của Washington được đáp ứng.
Venezuela, quốc gia có trữ lượng dầu lớn nhất thế giới, xuất khẩu khoảng 921.000 thùng/ngày trong tháng 11/2025. Theo dữ liệu từ Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA), sản lượng dầu của Venezuela từng đạt 3,2 triệu thùng/ngày vào năm 2000.
-Ngọc Trang
Xuất khẩu thủy sản cán đích 11,34 tỷ USD nhờ “xoay trục” thị trường
Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), tháng 12/2025, kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt khoảng 840 triệu USD, giảm 15% so với tháng 11/2025 và giảm gần 4% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do doanh nghiệp thận trọng hơn khi xuất khẩu sang Hoa Kỳ, trong bối cảnh nhiều loài hải sản chính bị cấm nhập khẩu theo quy định MMPA (Đạo luật Bảo vệ Động vật biển có vú) và lo ngại về mức thuế chống bán phá giá đối với tôm từ đầu năm 2026.
Tuy nhiên, nếu tính chung cả năm 2025, xuất khẩu thủy sản đạt trên 11,34 tỷ USD, tăng 13% so với năm 2024.
BA ĐỘNG LỰC TẠO SỨC BẬT CHO XUẤT KHẨU THỦY SẢNVASEP nhận định năm 2025 được xem là một trong những năm nhiều thách thức nhất đối với ngành thủy sản, từ nguy cơ áp thuế đối ứng, thuế chống bán phá giá, chi phí sản xuất cao đến các rào cản kỹ thuật ngày càng khắt khe. Tuy nhiên, chính trong bối cảnh đó, xuất khẩu thủy sản lại ghi nhận những cú bật vượt dự kiến nhờ ba yếu tố then chốt.
thủy sản năm 2025, Nguồn VASEP." /> Xuất khẩu từng mặt hàng thủy sản năm 2025, Nguồn VASEP.Thứ nhất: Sự bất ổn trên thị trường toàn cầu đã làm gia tăng nhu cầu dự trữ lương thực - thực phẩm, kéo theo nhu cầu nhập khẩu thủy sản tăng tại nhiều quốc gia.
Thứ hai: Sự chủ động và linh hoạt của cộng đồng doanh nghiệp thủy sản Việt Nam đóng vai trò rất quan trọng. Doanh nghiệp đã sớm nhận diện các mốc rủi ro liên quan đến thuế và rào cản kỹ thuật, từ đó điều chỉnh kế hoạch sản xuất, giao hàng và chuyển hướng thị trường để giảm thiểu tác động tiêu cực.
Thứ ba: Lợi thế từ các hiệp định thương mại tự do (FTA) tiếp tục phát huy hiệu quả, giúp xuất khẩu thủy sản bứt phá tại các thị trường trong khối CPTPP, EU và RCEP, qua đó bù đắp cho sự sụt giảm hoặc tăng trưởng chậm tại một số thị trường lớn.
Bà Lê Hằng, Phó Tổng thư ký VASEP cho hay một trong những điểm nhấn của xuất khẩu thủy sản năm 2025 là các doanh nghiệp đã "xoay trục" thị trường để bù đắp bất ổn từ Hoa Kỳ. Trong bối cảnh thị trường Hoa Kỳ phát sinh nhiều bất ổn về chính sách thuế và rào cản kỹ thuật, cơ cấu thị trường xuất khẩu thủy sản Việt Nam đã có sự điều chỉnh rõ nét.
“Khối CPTPP tiếp tục là động lực lớn, với kim ngạch xuất khẩu năm 2025 đạt 3,07 tỷ USD, tăng 22% so với năm 2024, nhờ sự ổn định của các thị trường như Nhật Bản, Canada và Australia”. Bà Lê Hằng, Phó Tổng thư ký VASEP.Trung Quốc và Hồng Kông là thị trường tăng trưởng mạnh nhất trong nhóm thị trường chủ lực, với kim ngạch đạt 2,45 tỷ USD, tăng 29%. Đáng chú ý, nhu cầu đối với các sản phẩm tươi sống như tôm hùm, cua, sò, nghêu tăng mạnh, cho thấy vai trò ngày càng lớn của khu vực này trong cơ cấu xuất khẩu thủy sản Việt Nam.
Thị trường EU đạt gần 1,2 tỷ USD, tăng 12,5%, với nhu cầu đang dần cải thiện, đặc biệt đối với thủy sản nuôi trồng, trong khi hải sản khai thác vẫn chịu tác động từ thẻ vàng IUU.
Ngược lại, xuất khẩu sang Hoa Kỳ trong tháng 12/2025 giảm 45%, dù cả năm vẫn đạt gần 1,9 tỷ USD, tăng nhẹ 3% so với năm 2024.
THỦY SẢN NUÔI TRỒNG TIẾP TỤC DẪN DẮT TĂNG TRƯỞNGVề cơ cấu sản phẩm thủy sản xuất khẩu, năm 2025 ghi nhận sự tăng trưởng khá đồng đều giữa các nhóm hàng chủ lực, trong đó thủy sản nuôi trồng giữ vai trò dẫn dắt.
Xuất khẩu tôm đạt 4,65 tỷ USD, tăng 20% so với năm trước, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng kim ngạch. Riêng tôm hùm đạt 817 triệu USD, tăng hơn gấp đôi so với năm 2024.
Cá tra đạt 2,19 tỷ USD, tăng 8%, nhờ điều kiện thị trường thuận lợi hơn, đặc biệt là về thuế chống bán phá giá tại Hoa Kỳ. Nhóm cá biển khác đạt 2,16 tỷ USD, tăng 12,2%, tiếp tục đóng góp quan trọng nhờ quy mô lớn và thị trường đa dạng.
Mực, bạch tuộc đạt 764,4 triệu USD, tăng 16,3%, trong khi cá ngừ giảm 7,6%, đạt 913 triệu USD do thiếu hụt nguyên liệu và tác động kéo dài của các quy định IUU.
VASEP nhấn mạnh: mốc hơn 11 tỷ USD năm 2025 là kết quả của những bứt phá mang tính linh hoạt và tận dụng tốt thời cơ thị trường trong bối cảnh nhiều biến động. Tuy nhiên, sự chuyển dịch cơ cấu thị trường và sản phẩm là chiến lược dài hạn, cần thêm thời gian để tạo ra những thay đổi bền vững.
Theo bà Lê Hằng, trong năm 2026, các chính sách thuế quan và rào cản kỹ thuật, đặc biệt từ Hoa Kỳ vẫn có thể tiếp tục tạo ra những biến động lớn, khiến cạnh tranh tại các thị trường như EU, Trung Quốc, ASEAN và Trung Đông ngày càng gay gắt. Bên cạnh đó, việc tháo gỡ thẻ vàng IUU vẫn là nút thắt quan trọng để mở rộng cánh cửa vào thị trường EU, nâng cao uy tín và khả năng cạnh tranh của hải sản Việt Nam trên thị trường toàn cầu.
-Chu Khôi
Đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 01-2026
Bạn đọc thân mến,
Năm 2025 đã khép lại với nhiều dấu mốc đáng nhớ trong hành trình dựng xây, phát triển và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng, mà bên cạnh những thành tựu là chủ yếu vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức, hạn chế và cả tiêu cực.
Bằng thông tin mà Tạp chí Kinh tế Việt Nam đã theo dõi, thu thập, xử lý, xuất bản suốt năm qua và từ góc nhìn riêng của một tạp chí chuyên về thông tin kinh tế, chúng tôi đã bình chọn 10 dấu ấn nổi bật kinh tế - xã hội năm 2025 để giúp bạn đọc nhìn lại những thành tựu to lớn, cũng như những khó khăn, thách thức của nền kinh tế nước ta, sau một năm thể hiện sức chống chịu bền bỉ trước những tác động không thuận từ bên ngoài cũng như trước thiên tai (lũ, lụt và sạt lở đất) mà ở nhiều địa phương được ghi nhận là mức lịch sử trong nhiều thập kỷ.
Những thành tựu đã đạt được, trước hết là nhờ quyết tâm chính trị rất cao của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta trong nỗ lực vượt mọi khó khăn, thách thức để đạt bằng được các mục tiêu đề ra trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2025 và kế hoạch 5 năm 2021-2025; qua đó đã sáng bừng lên tình dân tộc, nghĩa đồng bào, với các nghĩa cử cao đẹp giúp đỡ những người bị yếu thế và nhân dân các vùng bị thiên tai, nổi bật là Chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát “về đích” sớm hơn 5 năm, 4 tháng so với mục tiêu hoàn thành vào năm 2030 theo Nghị quyết số 42- NQ/TW ngày 24/11/2023 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, tiếp đó là “Chiến dịch Quang Trung” thần tốc xây dựng lại, sửa chữa nhà ở cho các gia đình có nhà bị thiệt hại do lũ lụt tại các tỉnh miền Trung, do Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính phát động ngày 30/11/2025.
Trong chủ trương phát triển kinh tế - xã hội tại Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán không hy sinh an sinh, tiến bộ, công bằng xã hội và môi trường để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần. Theo đó, phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn là những lựa chọn chuẩn xác và mang tính chiến lược. Đề án “Thành lập và phát triển thị trường carbon tại Việt Nam” (được phê duyệt tại Quyết định số 232/QĐ-TTg ngày 24/01/2025 của Thủ tướng Chính phủ) là một hướng đi đúng, nhằm “phát triển thị trường carbon tại Việt Nam, góp phần thực hiện mục tiêu giảm nhẹ phát thải khí nhà kính đã cam kết tại Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) với chi phí của doanh nghiệp và xã hội thấp, tạo dòng tài chính mới cho hoạt động cắt giảm phát thải khí nhà kính, thúc đẩy chuyển đổi xanh, phát triển công nghệ phát thải thấp, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam ở trong nước và trên thị trường thế giới, phát triển nền kinh tế carbon thấp và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, hướng tới đạt mức phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050”, như mục tiêu chung mà đề án đã đề ra.
Để bạn đọc có thêm thông tin cập nhật về những bước chuẩn bị ban đầu cho việc hình thành và phát triển thị trường carbon tại Việt Nam, từ hành lang pháp lý, chủ trương xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng phục vụ tổ chức vận hành thị trường carbon, đến tiềm năng nguồn carbon xanh, giải pháp gỡ “nút thắt” trong huy động vốn cho các dự án carbon, các bước vận hành thí điểm sàn giao dịch carbon trong nước và định hướng chiến lược trong hành trình phát triển thị trường carbon,… Tạp chí Kinh tế Việt Nam số Tân niên mừng năm mới 2026 sẽ tập trung cho tiêu điểm “Khai mở thị trường carbon”.
-Tạp chí Kinh tế Việt Nam - VnEconomy
Ninh Bình: Định hình động lực tăng trưởng mới trên nền tảng di sản và công nghiệp
Ngày 1/7/2025 đánh dấu thời điểm Ninh Bình mới chính thức đi vào hoạt động, mở ra giai đoạn phát triển mới của bộ máy hành chính theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, đồng thời hình thành không gian phát triển rộng mở hơn, đóng góp tích cực vào tăng trưởng chung của cả nước.
Với diện tích khoảng 3.942,61 km2, dân số gần 4,4 triệu người và 129 đơn vị hành chính cấp xã, phường, Ninh Bình hiện là một trong những địa phương có quy mô dân số lớn của cả nước. Tỉnh nằm ở vị trí “cửa ngõ” phía Nam Đồng bằng sông Hồng, giữ vai trò trung chuyển giữa các vùng kinh tế lớn, đồng thời sở hữu hệ thống hạ tầng giao thông kết nối vùng, liên vùng tương đối đồng bộ, tạo lợi thế cạnh tranh cho phát triển dài hạn.
NỀN TẢNG DI SẢN VÀ KẾT QUẢ PHÁT TRIỂN NĂM 2025Ninh Bình có không gian phát triển đa dạng với đồng bằng, núi rừng, ven biển và bề dày lịch sử – văn hóa đặc sắc. Toàn tỉnh hiện có hơn 5.000 di tích đã được kiểm kê, nổi bật là Quần thể danh thắng Tràng An – Di sản Văn hóa và Thiên nhiên thế giới, cùng di sản phi vật thể “Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” được UNESCO ghi danh.
Tràng An, Ninh BìnhTrên nền tảng đó, năm 2025, kinh tế – xã hội của tỉnh tiếp tục phát triển vững chắc với 18/19 chỉ tiêu chủ yếu hoàn thành và vượt kế hoạch. Tốc độ tăng trưởng GRDP đạt 10,65%; quy mô kinh tế ước 342,8 nghìn tỷ đồng; GRDP bình quân đầu người đạt 89,19 triệu đồng.
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực, trong đó công nghiệp – xây dựng chiếm 47,05%, dịch vụ chiếm 34,39%. Công nghiệp tăng 14,7%, tiếp tục là động lực tăng trưởng chính. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt khoảng 175.700 tỷ đồng, tăng 23,9%; giải ngân vốn đầu tư công vượt kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao.
Xúc tiến đầu tư đạt kết quả nổi bật với gần 280 dự án mới, tổng vốn tăng thêm hơn 13.000 tỷ đồng và 556 triệu USD. Chương trình xây dựng nông thôn mới hoàn thành 100% xã đạt chuẩn; toàn tỉnh có 980 sản phẩm OCOP từ 3 sao trở lên.
Khu vực dịch vụ tăng 9,6%; du lịch đón hơn 19,4 triệu lượt khách, doanh thu ước đạt 21,20 nghìn tỷ đồng. Kim ngạch xuất khẩu đạt 26,9 tỷ USD, tăng 68,2%, tạo thặng dư thương mại lớn. Tỷ lệ đô thị hóa đạt 36%; phát triển nhà ở xã hội hoàn thành 4.461 căn, đạt chỉ tiêu được giao.
MỤC TIÊU TĂNG TRƯỞNG HAI CON SỐNăm 2026, năm đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV và Đại hội Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2025–2030, Ninh Bình xác định mục tiêu giữ vững ổn định, đồng thời bứt phá tăng trưởng gắn với tái cơ cấu kinh tế, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và nâng cao chất lượng đời sống Nhân dân.
Tỉnh phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng GRDP 11% trong năm 2026, duy trì đà tăng trưởng hai con số ngay từ đầu nhiệm kỳ. Trọng tâm là khơi thông các động lực mới, trong đó du lịch, bảo tồn và phát huy giá trị di sản, công nghiệp văn hóa và kinh tế di sản được xác định là hướng đi chiến lược.
Song song với đó, Ninh Bình tập trung sử dụng hiệu quả các nguồn lực, mở rộng không gian phát triển thông qua quy hoạch đồng bộ, tăng cường liên kết vùng, đầu tư hạ tầng chiến lược và xây dựng nền hành chính hiện đại, chính quyền kiến tạo, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ.
Tỉnh ưu tiên đầu tư hoàn thiện hệ thống giao thông nội tỉnh và liên vùng, phát triển hạ tầng logistics, đẩy nhanh tiến độ các dự án trọng điểm như đường cao tốc Ninh Bình – Hải Phòng, cầu vượt sông Đáy, tuyến ven biển, các tuyến kết nối khu kinh tế, khu công nghiệp; đồng thời định hướng đầu tư sân bay, cảng nước sâu và đường sắt tốc độ cao.
Trong công nghiệp, Ninh Bình tập trung phát triển các khu công nghiệp, khu kinh tế trọng điểm; giai đoạn 2026–2030 dự kiến bổ sung 36 khu công nghiệp với tổng diện tích hơn 10.717 ha, hình thành các cực tăng trưởng mới.
Khu công nghiệp Gián Khẩu, Ninh BìnhĐáng chú ý, tỉnh xác định cấu trúc di sản “đa tầng, đa lớp” là lợi thế cạnh tranh đặc biệt, thúc đẩy chuyển hóa giá trị di sản thành tài sản kinh tế, phát triển công nghiệp văn hóa, kinh tế sáng tạo, hướng tới mục tiêu trở thành trung tâm du lịch lớn và trung tâm công nghiệp văn hóa của quốc gia.
Với nền tảng vững chắc của năm 2025 cùng mục tiêu và giải pháp rõ ràng, Ninh Bình bước vào năm 2026 với tâm thế chủ động, tự tin, hướng tới phát triển nhanh, bền vững và mục tiêu trở thành thành phố trực thuộc Trung ương vào năm 2030.
-Nguyễn Thuấn
Cửa hàng tiện lợi: Địa điểm du lịch "hot" nhất tại Nhật Bản
Theo Tổ chức Du lịch Quốc gia Nhật Bản (JNTO), lượng du khách quốc tế đến Nhật tiếp tục lập kỷ lục mới trong năm 2025. Trên mạng xã hội của du khách, hình ảnh về sự độc đáo và tiện lợi đáng kinh ngạc của các cửa hàng tiện lợi Nhật Bản (Konbini) xuất hiện ngày càng dày đặc.
Tính đến tháng 1/2025, Nhật Bản có tổng cộng 56.749 cửa hàng Konbini trên toàn quốc, theo số liệu của Nippon Software Service. Riêng tại khu vực trung tâm Tokyo, cứ vài dãy phố lại có thể bắt gặp một cửa hàng tiện lợi, cho thấy mật độ phủ sóng dày đặc của mô hình bán lẻ đặc trưng này.
Tính đến tháng 1/2025, Nhật Bản có tổng cộng 56.749 cửa hàng Konbini trên toàn quốc, theo số liệu của Nippon Software Service.Khoảng 90% cửa hàng Konbini tại Nhật Bản hoạt động 24/7, cung cấp danh mục hàng hóa phong phú, từ cơm hộp bento, bánh ngọt, đồ gia dụng, văn phòng phẩm cho đến cả áo sơ mi công sở. Mỗi chuỗi cửa hàng tiện lợi kinh doanh hơn 3.000 mặt hàng, với trung bình khoảng 100 sản phẩm mới được đưa lên kệ mỗi tháng, theo Forbes. Tốc độ luân chuyển hàng hóa đạt khoảng 30 vòng/năm, tương đương mỗi 1,7 tuần - cao hơn nhiều so với mức 13 vòng/năm của các siêu thị truyền thống.
Vì sao các chuỗi Konbini liên tục tung ra nhiều sản phẩm mới và xoay vòng với tốc độ nhanh như vậy? Bởi các cửa hàng tiện lợi này đóng vai trò như “phòng thí nghiệm” thử nghiệm sản phẩm mới, phản ánh thu nhỏ hành vi và thị hiếu của người tiêu dùng Nhật Bản.
Konbini đóng vai trò như “phòng thí nghiệm” thử nghiệm sản phẩm mới.Được ví như “điểm đến một cửa” cho mọi nhu cầu, từ quần áo, mỹ phẩm đến đồ dùng gia đình, các cửa hàng konbini mở cửa suốt ngày đêm và được Chính phủ Nhật Bản xếp vào nhóm “hạ tầng thiết yếu của đời sống”. Tại đây, người dân có thể thanh toán hóa đơn, gửi thư, photocopy giấy tờ… Konbini hiện diện dày đặc trên các tuyến phố, thậm chí có nhiều cửa hàng chỉ cách nhau vài trăm mét, với những thương hiệu quen thuộc như FamilyMart, 7-Eleven và Lawson.
ĐIỀU GÌ KHIẾN CÁC CỬA HÀNG TIỆN LỢI TẠI NHẬT BẢN TRỞ NÊN KHÁC BIỆT?Với nhiều người dân Nhật Bản, cửa hàng tiện lợi là một “phao cứu sinh” đúng nghĩa. Theo New York Times, bên cạnh mạng lưới dày đặc của 7-Eleven, FamilyMart hiện có hơn 16.000 cửa hàng và Lawson gần 15.000 điểm bán trên khắp Nhật Bản, tất cả đều cung cấp đa dạng dịch vụ thiết yếu cho đời sống hằng ngày.
Tại các vùng nông thôn Nhật Bản, tình trạng già hóa dân số và lực lượng lao động suy giảm đã khiến nhiều trung tâm thương mại, bưu điện và ngân hàng phải đóng cửa. Trong bối cảnh đó, các cửa hàng tiện lợi thường trở thành điểm mua sắm gần nhất - thậm chí là duy nhất - đồng thời là nơi người dân có thể tiếp cận máy ATM và các dịch vụ tài chính cơ bản.
Các cửa hàng tiện lợi tại Nhật Bản đã trở thành không gian mở, nơi bất kỳ ai cũng có thể ghé vào, kể cả khi không mua sắm, ông Gavin Whitelaw, Giám đốc điều hành Viện Nghiên cứu Nhật Bản Edwin O. Reischauer (Đại học Harvard), nhận định.
Với du khách quốc tế, Konbini đang đứng ở tuyến đầu của xu hướng “du lịch siêu thị” trên toàn cầu. Nhờ nguồn hàng phong phú – luôn được bổ sung liên tục và trưng bày chỉn chu – cùng hệ thống biển hiệu đặc trưng, các cửa hàng tiện lợi được xem như những nơi tiêu biểu cho sự chuẩn mực và hiệu quả của Nhật Bản.
“Bước vào một Konbini giống như tham gia một cuộc săn kho báu,” một du khách chia sẻ. “Có quá nhiều sản phẩm, lại được thiết kế phù hợp với từng khu vực. Vừa bước vào là choáng ngợp ngay”.
Nhưng chính ẩm thực mới là yếu tố khiến các cửa hàng tiện lợi trở thành điểm đến không thể thiếu của du khách khi tới Nhật Bản. Sự đa dạng của các món ăn chế biến sẵn tại đây thực sự đáng kinh ngạc.
Danh mục sản phẩm bao gồm onigiri (cơm nắm bọc rong biển) với nhiều loại nhân như cá bào, cá ngừ trộn mayonnaise hay mơ muối; các loại sushi cuộn; đồ ăn nóng như karaage (gà rán) được chiên trực tiếp tại cửa hàng; các món ăn kèm (osouzai) như thịt ba chỉ kho, cá nướng; mì ramen; cùng nhiều loại bánh mì và tráng miệng.
Đáng chú ý, các cửa hàng này thường xuyên tung ra sản phẩm theo mùa và theo vùng miền. Vào mùa xuân, kệ hàng tràn ngập các loại bánh ngọt và đồ uống mang hương vị hoa anh đào sakura. Một ví dụ tiêu biểu cho sản phẩm đặc trưng địa phương là mì Okinawa Soba – loại mì sợi lúa mì to, ăn cùng nước dùng và thịt heo – đặc sản của Okinawa, được bày bán tại các cửa hàng 7-Eleven trong khu vực này.
“ÔNG LỚN” TRONG NGÀNH BÁN LẺTrong việc phát triển các sản phẩm mới lạ, chuỗi cửa hàng tiện lợi Nhật Bản giữ vai trò dẫn dắt thị trường bán lẻ. Năm 2024, doanh thu của bảy chuỗi cửa hàng tiện lợi lớn tại Nhật Bản đạt mức kỷ lục 11,8 nghìn tỷ Yên, nhờ lượng khách quốc tế tăng mạnh và nhu cầu cao đối với các loại đồ ăn, thức uống tiện lợi, tiêu thụ nhanh.
Việc bổ nhiệm nhà thiết kế thời trang Nigo vào vị trí Giám đốc sáng tạo của FamilyMart gần đây cho thấy vai trò ngày càng quan trọng của các chiến lược dựa trên xu hướng và xây dựng thương hiệu mạnh trong lĩnh vực bán lẻ tiện lợi nhằm tạo lợi thế cạnh tranh.
Là người sáng lập thương hiệu streetwear A Bathing Ape và hiện giữ vai trò Giám đốc nghệ thuật của Kenzo, Nigo sẽ phụ trách định hướng marketing của FamilyMart, hệ thống biển hiệu kỹ thuật số trong cửa hàng, đồng thời tham gia phát triển mô hình cửa hàng thế hệ mới và chiến lược sản phẩm dài hạn.
Nigo, giám đốc sáng tạo mới của Family Mart.Có thể nói, nhờ sáng tạo, liên tục thay đổi và làm mới chính mình theo chiến lược, đồng thời cũng do chính sự “tiện lợi” đã khiến các Konbini tại Nhật Bản luôn là những “điểm đến nhất định phải tới” của cả người dân và khách du lịch.
-Minh Anh
Gần 7.300 tỷ để thực hiện đề án "Đà Nẵng - Thành phố đổi mới sáng tạo"
Mục tiêu tổng quát của Đề án là xây dựng Đà Nẵng trở thành thành phố đổi mới sáng tạo, là đô thị lớn, sinh thái, thông minh, bản sắc, bền vững, ngang tầm quốc tế, giữ vai trò là đầu mối kết nối và phát triển với mạng lưới đô thị khu vực và quốc tế. Đồng thời là Trung tâm du lịch gắn với Trung tâm tổ chức sự kiện quốc tế; Trung tâm công nghiệp công nghệ cao, công nghệ thông tin; Trung tâm khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo; Trung tâm tài chính quốc tế quy mô khu vực và là thành phố biển đáng sống đạt đẳng cấp khu vực châu Á.
Trong bối cảnh kinh tế - xã hội toàn cầu phát triển nhanh chóng, đổi mới sáng tạo đã trở thành động lực chính cho sự phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh của các quốc gia. Vì vậy, Đề án được xây dựng trên cơ sở Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 136/2024/QH15 của Quốc hội và Nghị quyết số 259/2025/QH15 sửa đổi bổ sung một số điều Nghị quyết 136/2024/NQ15 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Đà Nẵng; cùng các định hướng quy hoạch và kế hoạch của thành phố Đà Nẵng.
Đề án đặt ra nhiều mục tiêu cụ thể đến năm 2030 như: Nâng cấp hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của thành phố Đà Nẵng lên tầm quốc tế tương đương với một số hệ sinh thái đổi mới sáng tạo lớn trong khu vực Đông Nam Á, được các tổ chức quốc tế thừa nhận, đánh giá và xếp hạng; phấn đấu vào nhóm 300 hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo toàn cầu. Hỗ trợ hình thành khoảng 500 doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, thu hút thêm nhiều quỹ đầu tư mạo hiểm trong và ngoài nước, hướng tới mục tiêu xuất hiện ít nhất một kỳ lân công nghệ tại Đà Nẵng.
Theo Đề án, các lĩnh vực ưu tiên gồm: công nghệ thông tin và truyền thông; công nghiệp công nghệ cao, công nghệ xanh; công nghệ sinh học và y tế; kinh tế tuần hoàn, kinh tế biển và logistics; đô thị thông minh, du lịch thông minh; công nghệ tài chính (fintech); khoa học dữ liệu, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo (AI).
Để triển khai hiệu quả, thành phố tập trung đồng bộ các nhóm giải pháp về hoàn thiện cơ chế, chính sách đặc thù; cơ sở hạ tầng, hệ thống đổi mới sáng tạo; thu hút và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; huy động nguồn lực (xã hội hóa, thu hút đầu tư, hợp tác quốc tế…); truyền thông; phát triển đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp; phát triển các ngành, lĩnh vực chủ chốt, tập trung; nâng cao bộ chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương PII.
Để triển khai Đề án “Đà Nẵng - Thành phố đổi mới sáng tạo”, thành phố dự kiến tổng kinh phí thực hiện là hơn 7.295 tỷ đồng, được cân đối từ nguồn kinh phí sự nghiệp khoa học và công nghệ hằng năm do Sở Khoa học và Công nghệ Đà Nẵng quản lý, cùng các nguồn kinh phí hợp pháp khác.
Trong thời gian qua, thực hiện các chủ trương của đảng và pháp luật của nhà nước, thành phố Đà Nẵng đã chủ động triển khai nhiều cơ chế, chính sách, giải pháp hiệu quả nhằm xây dựng và phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, xem đây là một trong những động lực quan trọng cho mô hình tăng trưởng mới dựa trên tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo của thành phố được hình thành, cơ bản đầy đủ các thành tố với các trụ cột chính là: cơ quan nhà nước - viện nghiên cứu, trường đại học - tổ chức hỗ trợ - cộng đồng doanh nghiệp và các chủ thể liên quan cùng tham gia tích cực vào hệ sinh thái, có sự kết nối mạnh mẽ với hệ sinh thái quốc gia và quốc tế.
Ông Nguyễn Thanh Hồng, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Đà Nẵng, cho biết đến nay, trên địa bàn thành phố đang có 03 Trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; 12 vườn ươm; 03 không gian sáng chế; 08 không gian làm việc chung; 06 quỹ đầu tư khởi nghiệp thành lập trên địa bàn thành phố; 10 câu lạc bộ khởi nghiệp ở các trường đại học, cao đẳng; hơn 20 cơ sở, trường đại học tham gia tích cực vào hệ sinh thái, ước tính khoảng 200 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. Từ năm 2024, thành phố Đà Nẵng lần đầu tiên đã góp mặt trong danh sách top
1.000 thành phố tiêu biểu toàn cầu về hệ sinh thái khởi nghiệp theo xếp hạng của Trung tâm Nghiên cứu và lập bản đồ hệ sinh thái khởi nghiệp toàn cầu StartupBlink. Năm 2025, thành phố Đà Nẵng tăng 130 bậc, vươn lên thứ 766 trong danh sách top 1.000 thành phố tiêu biểu toàn cầu về hệ sinh thái khởi nghiệp; được chứng nhận "Hệ sinh thái tăng trưởng nhanh nhất Việt Nam“ do StartupBlink đánh giá.
Bên cạnh các kết quả đạt được trong thời gian qua, quy mô và chất lượng hệ sinh thái vẫn còn một số hạn chế. Số doanh nghiệp có khả năng tăng trưởng nhanh, tham gia chuỗi giá trị và vươn ra thị trường quốc tế chưa nhiều, nguồn vốn đầu tư mạo hiểm và nguồn nhân lực chất lượng cao còn thiếu, mức độ liên kết giữa các chủ thể chưa thực sự chặt chẽ. Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu cần có định hướng, mục tiêu và giải pháp mang tính tổng thể, đột phá hơn trong giai đoạn 2026–2030 nhằm nâng cao chất lượng, chiều sâu và sức cạnh tranh của hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, đáp ứng mục tiêu xây dựng Đà Nẵng trở thành thành phố đổi mới sáng tạo.
Sở KHCN Đà Nẵng- Ngô Anh Văn
Giá chip leo thang, iPhone đứng trước áp lực tăng giá
Trong năm nay, giới công nghệ nhiều khả năng sẽ chứng kiến chip 2nm bắt đầu được triển khai rộng rãi trên các thiết bị điện tử.
Riêng trong lĩnh vực điện thoại thông minh, nếu không xuất hiện bất kỳ biến cố nào, Galaxy S26 và Galaxy S26+ của Samsung được dự đoán sẽ là những mẫu smartphone đầu tiên thương mại hóa công nghệ chip 2nm.
Theo PhoneArena, tại thị trường châu Âu, phần lớn các nước châu Á, châu Phi và Trung Đông, Galaxy S26 và Galaxy S26+sẽ sử dụng chip Exynos 2600 do Samsung tự thiết kế và tự sản xuất trên dây chuyền 2nm mới nhất của Samsung Foundry.
Ngược lại, tại các thị trường như Mỹ, Trung Quốc, Canada và Nhật Bản, Galaxy S26 và S26+ sẽ được trang bị Snapdragon 8 Elite Gen 5 của Qualcomm, sản xuất bởi TSMC trên tiến trình 3nm.
Sự khác biệt về bộ xử lý không chỉ phản ánh chiến lược thị trường của Samsung, mà còn tác động trực tiếp đến hiệu năng, mức tiêu thụ năng lượng và đặc biệt là chi phí của thiết bị. Kích thước chip được thu nhỏ, bóng bán dẫn cũng càng nhỏ, mật độ bóng bán dẫn cũng cao hơn, từ đó chip mạnh và tiết kiệm điện hơn.
Nhiều bóng bán dẫn hơn giúp chip xử lý được nhiều tác vụ đồng thời, trong khi khoảng cách giữa các bóng bán dẫn ngắn lại khiến tín hiệu điện di chuyển ngắn hơn, giảm thất thoát năng lượng và hạn chế sinh nhiệt. Những con chip có bóng bán dẫn được “xếp dày” vì thế vừa nhanh, vừa mát, lại phù hợp hơn trong các thiết bị di động nhỏ gọn.
Trong khi đó, về phía Apple, tháng 9 tới, tập đoàn này cũng dự kiến ra mắt loạt sản phẩm mới như iPhone 18 Pro, iPhone 18 Pro Max, iPhone Air 2 và iPhone Fold. Các thiết bị này nhiều khả năng sẽ sử dụng chip A20 hoặc A20 Pro, do TSMC sản xuất trên tiến trình 2nm (N2).
Đây là bước tiến công nghệ lớn, nhưng cũng cực kỳ tốn kém. Theo các ước tính trong ngành, giá mỗi tấm wafer 2nm cao hơn đáng kể wafer 3nm, kéo theo chi phí của từng con chip đội lên mạnh.
Với tiến trình 2nm, mức độ phức tạp của con chip cao hơn. Mỗi chipset có thể có tới 100 lớp cấu trúc khác nhau, đòi hỏi quy trình sản xuất tinh vi và tốn kém hơn rất nhiều. Một tấm wafer silicon đường kính 12 inch dùng cho sản xuất chip 2nm của TSMC hiện có giá khoảng 30.000 USD, cao hơn nhiều so với giá 20.000 USD cho wafer cùng kích thước dùng trong chip 3nm.
Một báo cáo khác cho biết, chi phí mà Apple phải trả cho mỗi chip A20 Pro có thể lên tới 280 USD, cao hơn 87% so với giá chip A19 Pro (150 USD) dùng cho dòng iPhone 17 Pro và iPhone Air, sản xuất trên tiến trình 3nm thế hệ thứ ba (N3P) của TSMC.
Thậm chí, nếu so sánh với chip A18 Pro dùng trong iPhone 16 Pro và iPhone 16 Pro Max, được sản xuất bằng tiến trình 3nm thế hệ thứ hai (N3E), chỉ có giá khoảng 45–50 USD mỗi chipset, thì chỉ trong vòng chưa đầy hai năm, giá chip trên iPhone đã cao hơn sáu lần.
Tuy nhiên, không chỉ riêng Apple,các hãng điện thoại khác như Samsung và Google cũng đang phải đối mặt với áp lực chi phí tương tự, khi giá wafer silicon liên tục leo thang cùng độ phức tạp ngày càng lớn của công nghệ 2nm.
Trước bài toán chi phí thiết bị tăng cao, Apple không có nhiều lựa chọn, hoặc buộc phải hy sinh biên lợi nhuận, hoặc đẩy giá bán các mẫu iPhone thế hệ mới để bù đắp chi phí sản xuất.
Trong lĩnh vực sản xuất chip, TSMC hiện giữ thị phần áp đảo, trong khi Samsung Foundry đứng thứ hai nhưng ở khoảng cách khá xa. Hạn chế về năng suất và tỷ lệ chip đạt chuẩn trong vài năm qua đã khiến Samsung Foundry chỉ chiếm khoảng 7,2% thị phần, trong khi TSMC nắm tới 71%.
Chính vì vậy, các tên tuổi lớn như Apple, Qualcomm hay MediaTek vẫn lựa chọn TSMC, sẵn sàng trả giá wafer cao hơn để đổi lấy bảo đảm về chất lượng và sản lượng.
Theo các nguồn tin trong ngành, Samsung Foundry hiện chào giá khoảng 20.000 USD cho mỗi wafer 12 inch dùng cho tiến trình 2nm GAA, thấp hơn khoảng 33% so với mức giá của TSMC. Tuy nhiên, về năng suất, TSMC được cho là đạt tỷ lệ thành phẩm khoảng 70%, trong khi Samsung Foundry chỉ ở mức 50–60%.
Khác biệt ấy lý giải vì sao, dù chi phí cao hơn đáng kể, TSMC vẫn là lựa chọn ưu tiên của các hãng điện thoại và công ty phát triển chip đầu ngành.
-Hạ Chi
Dấu ấn kinh tế thế giới tuần 28/12/2025-3/1/2026: Giá vàng sụt dốc, giá đồng lập kỷ lục mới
Trong một năm đầy sóng gió của thương mại toàn cầu, các cuộc đàm phán thương mại vẫn đang được đẩy mạnh khi nhiều quốc gia tìm cách giảm bớt sự phụ thuộc vào thị trường Mỹ.
Dưới đây là một số thông tin, sự kiện kinh tế đáng chú ý trong tuần từ 28/12/2025-3/1/2026 do VnEconomy điểm lại:
Khủng hoảng già hóa dân số ở Nhật Bản ngày càng nghiêm trọng
Dựa trên dữ liệu sơ bộ của 10 tháng đầu năm, các chuyên gia của Viện Nghiên cứu dân số và an sinh xã hội Quốc gia Nhật Bản dự báo tổng số trẻ được sinh ra ở Nhật Bản trong năm 2025 có khả năng sẽ ít hơn con số 670.000 trẻ. Đây sẽ là mức thấp nhất kể từ khi thống kê này bắt đầu ghi nhận vào năm 1899, và sớm hơn 16 năm so với dự báo của Chính phủ Nhật.
Thực tế này đặt ra thách thức lớn cho Thủ tướng Sanae Takaichi trong việc cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và hạn chế nhập cư giữa lúc dân số đang lão hóa và suy giảm nhanh chóng.
Các đối tác thương mại lớn của Mỹ tìm kiếm thỏa thuận thương mại với các quốc gia khác
Trong năm qua, Ấn Độ đã cố gắng ký kết hiệp định thương mại tự do (FTA) với nhiều quốc gia trên thế giới. Nỗ lực này được đẩy mạnh hơn sau khi Ấn Độ bị chính quyền Tổng thống Donald Trump áp thuế quan 50%.
Tương tự, Canada cũng đang tăng cường đàm phán thương mại với các nước ở khu vực Nam Mỹ nhằm giảm bớt sự phụ thuộc vào thị trường Mỹ, với mục tiêu là đạt một thỏa thuận với khối thị trường chung Nam Mỹ Mercosur vào cuối năm nay.
Về phần mình, Mexico đang hưởng lợi từ thuế quan Mỹ, vì hàng hóa Mexico bị Mỹ áp thuế quan thấp hơn so với nhiều quốc gia khác. Như một cách để xoa dịu Mỹ, Chính phủ Mexico đã tăng chính thức tăng thuế quan đối với hàng hóa nhập khẩu từ nhiều nước châu Á từ ngày 1/1/2026, trong đó có hàng Trung Quốc.
Nợ nần của Trung Quốc gây lo ngại
Gánh nặng nợ nần của Trung Quốc đặt ra thách thức đối với nền kinh tế là câu chuyện được nhiều tờ báo đề cập trong tuần này. Theo dữ liệu từ Viện Tài chính và Phát triển Quốc gia Trung Quốc (NIFD), tổng nợ của Trung Quốc đã vượt 3 lần quy mô nền kinh tế giữa lúc tăng trưởng kinh tế giảm tốc, khiến rủi ro giảm phát trở nên nghiêm trọng hơn.
Trong khi đó, các chính quyền địa phương Trung Quốc vẫn đang đẩy mạnh phát hành trái phiếu đảm bảo bằng tài sản. Theo dữ liệu từ công ty Wind, số vụ phát hành trái phiếu ABS của chính quyền các địa phương Trung Quốc đã lập kỷ lục 2.386 vụ trong thời gian từ đầu năm đến ngày 24/12/2025, phá vỡ kỷ lục trước đó được thiết lập vào năm 2021.
Lợi nhuận của doanh nghiệp sản xuất công nghiệp ở Trung Quốc giảm mạnh
Có khả năng đạt mục tiêu tăng trưởng khoảng 5% trong năm 2025, song nền kinh tế Trung Quốc gần đây vẫn phát đi nhiều tín hiệu gây lo ngại. Số liệu thống kê gần đây cho thấy lợi nhuận công nghiệp của Trung Quốc giảm mạnh nhất trong hơn một năm, trong lúc nước này vẫn đang cố gắng kiểm soát hậu quả của tình trạng dư thừa công suất và niềm tin của người tiêu dùng kẹt ở mức thấp.
Nhìn tổng quan nền kinh tế Trung Quốc năm 2025, giới phân tích cho rằng đó là một bức tranh kinh tế có hai mảng màu khác biệt, một lạc quan và một bi quan.
Giá kim loại quý giảm chóng mặt trong tuần này, song đây vẫn là kênh đầu tư mang lại lợi nhuận lớn nhất trong năm 2025
Trong phiên giao dịch ngày thứ Hai (29/12), sau khi đồng loạt lập kỷ lục mới, giá vàng “bốc hơi” hơn 200 USD/oz và giá bạc sụt hơn 9% do hoạt động chốt lời của nhà đầu tư. Tính cả tuần, giá vàng giảm gần 5% và giá bạc giảm gần 10%.
Dù vậy, vàng, bạc và bạch kim vẫn là những tài sản mang lại lợi nhuận cao nhất cho nhà đầu tư trong năm 2025, vượt xa cổ phiếu, trái phiếu và các hàng hóa cơ bản khác.
Cơn sốt giá đồng tiếp diễn
Phiên ngày 29/12, giá đồng trên sàn giao dịch LME ở London - giá tham chiếu của thị trường đồng toàn cầu - có lúc đạt 12.960 USD/oz, cao chưa từng có trong lịch sử. Giới phân tích dự báo nhu cầu đồng sẽ vượt nguồn cung khai thác từ các mỏ trong suốt thời gian từ nay đến những năm 2030, và giá đồng có thể duy trì ở mức cao trong năm tới.
Xuất khẩu khí đốt qua đường ống của Nga sang Trung Quốc có thể tăng 25% trong năm nay
Dòng chảy khí đốt Nga đang chuyển hướng sang thị trường Trung Quốc khi châu Âu đẩy mạnh các nỗ lực nhằm tiến tới chấm dứt phụ thuộc vào năng lượng hóa thạch Nga. Theo tiết lộ của nguồn thạo tin với hãng tin Reuters, xuất khẩu khí đốt Nga theo đường ống sang thị trường Trung Quốc được dự báo đạt mức tăng trưởng khoảng 25% trong năm nay.
Tỷ phú công nghệ kiếm nhiều tiền nhất năm 2025
Cơn sốt trí tuệ nhân tạo (AI) đã đưa tài sản của các tỷ phú công nghệ tăng mạnh trong năm 2025. Theo xếp hạng tỷ phú thế giới Bloomberg Billionaires Index, 5 người có mức tăng tài sản mạnh nhất trong năm qua đều hưởng lợi từ cơn sốt AI, ít nhất ở một phần hoạt động kinh doanh. Trong đó, CEO Elon Musk của Tesla có tài sản tăng thêm hơn 200 tỷ USD, và nhà đồng sáng lập Google Larry Page có tài sản tăng thêm 102 tỷ USD.
Chứng khoán Trung Quốc có năm tăng mạnh nhất từ 2017
2025 là một năm khó khăn đối với kinh tế Trung Quốc, khi nước này cùng lúc đương đầu với cuộc chiến thương mại của Mỹ, cuộc khủng hoảng bất động sản kéo dài và tiêu dùng trong nước ảm đạm. Dù vậy, thị trường chứng khoán Trung Quốc vẫn có năm tăng mạnh nhất kể từ năm 2017.
Chỉ số MSCI China tăng khoảng 28% trong năm qua, hoàn tất năm tăng thứ hai liên tiếp. Cổ phiếu AI giữ một vai trò lớn trong sự tăng trưởng này của thị trường.
Đồng USD có năm giảm mạnh nhất trong vòng 1 thập kỷ
Chỉ số Dollar Index giảm hơn 10% trong năm 2025. Nguyên nhân chính khiến bạc xanh trượt giá trong năm qua là cuộc chiến thương mại của Tổng thống Trump, và việc ông Trump gây áp lực lớn đòi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) hạ lãi suất. Ngoài ra, việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục chu kỳ nới lỏng chính sách tiền tệ cũng được xem là một nguồn sức ép mất giá đối với USD.
Hai cú sốc thương mại đối với châu Âu trong năm 2025
Nhìn lại năm 2025, giới phân tích cho rằng châu Âu đã hứng cùng lúc hai cú sốc thương mại, đến từ hai nền kinh tế lớn nhất thế giới là Mỹ và Trung Quốc. Cú sốc đầu tiên là việc Tổng thống Mỹ Donald Trump áp thuế quan cao nhất trong một thế kỷ qua. Cú sốc thứ hai là khi căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc leo thang, Bắc Kinh bắt đầu sử dụng sự phụ thuộc của thế giới vào đất hiếm của nước này như một vũ khí.
Chứng khoán Mỹ khép lại một năm rực rỡ, giá dầu có một năm ảm đạm
Chỉ số SP 500 - thước đo rộng nhất của chứng khoán Mỹ - tăng 16,39% cả năm, đánh dấu năm thứ ba liên tiếp tăng với tốc độ hai con số. Thành quả năm 2025 của chứng khoán Mỹ cho thấy sự phục hồi ấn tượng của thị trường sau đợt bán tháo vào tháng 4 sau khi ông Trump công bố kế hoạch thuế quan đối ứng gây chấn động.
Trong khi đó, giá dầu Brent giao sau tại thị trường London giảm 19% trong năm 2025, đánh dấu năm giảm mạnh nhất kể từ năm 2020 nếu tính theo tỷ lệ phần trăm, đồng thời là năm giảm thứ ba liên tiếp - chuỗi giảm dài chưa từng thấy. Giá dầu WTI giao sau tại thị trường New York giảm khoảng 20% cả năm.
-An Huy
