Feed aggregator
The Parkland: Sức hút từ thế hệ đô thị mới - thành phố trong công viên
Mảnh ghép đầu tiên The Parkland thuộc dự án Imperia Ocean City là lời giải đáp cho nhu cầu sống xanh đúng nghĩa, khi thiên nhiên không chỉ là cảnh quan mà trở thành một phần tự nhiên của nhịp sống mỗi ngày.
HỆ SINH THÁI VÌ THIÊN NHIÊN - CHO CON NGƯỜILà phân khu đầu tiên ra mắt của tổ hợp cao tầng Imperia Ocean City tại Ocean Park 2, The Parkland không dừng lại ở việc đưa không gian xanh vào cảnh quan mà còn tạo nên một hệ sinh thái nơi thiên nhiên và con người cùng tồn tại, tương tác chặt chẽ với nhau. Trên tổng diện tích 33,68ha của phân khu là sự hiện diện của 17ha cây xanh và mặt nước, 5km chiều dài đường daọ bộ và hơn 100 loài cây, thảm thực vật phong phú…
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), mỗi cư dân đô thị nên có khả năng tiếp cận không gian xanh công cộng có diện tích tối thiểu 0,5ha trong bán kính khoảng 300m, tương đương một quãng đi bộ ngắn. Ở The Parkland, thiên nhiên đủ gần để con người có xu hướng vận động nhiều hơn, giảm căng thẳng và duy trì trạng thái tinh thần tích cực. Công viên trung tâm rộng tới 3,6ha đầu tiên tại đại đô thị Ocean City đóng vai trò dẫn dắt nhịp sống của cư dân thế hệ mới tại The Parkland.
The Parkland - thành phố trong công viên.Từ công viên trung tâm, những cụm tiện ích được chủ đích tạo ra giúp cộng đồng cư dân mạnh khỏe về thể chất và thư thái về tinh thần. Cầu đi bộ, sân tập gym, bể bơi ngoài trời, vườn yoga, vườn BBQ, sân chơi trẻ em… là những điểm nhấn trọn vẹn cho hệ sinh thái đô thị kiểu mới mà The Parkland sở hữu.
Được ví như một ốc đảo xanh, The Parkland không vì thế mà xa rời nhịp sống đô thị. Cuộc sống tại The Parkland là sự giao thoa trọn vẹn giữa chuyển động và tĩnh tại, đủ gần để chạm vào mọi tiện ích sôi động của đại đô thị, đủ tách biệt để giữ lại không gian riêng tư cho nhịp sống cá nhân.
Từ The Parkland, cư dân chỉ mất 1 phút để chạm tới hệ tiện ích sôi động của Ocean Park 2 và chỉ 3 đến 5 phút kết nối tới các trường đại học lớn và sân vận động, 30 phút đã có thể hiện diện tại hồ Hoàn Kiếm… Nhưng khi rời khỏi những tuyến kết nối ấy, The Parkland mở ra một thế giới khác với khuôn viên xanh nội khu được quy hoạch khép kín, tạo nên chất sống riêng cho cộng đồng cư dân nơi đây.
Với cách tổ chức không gian lấy hệ thống công viên làm trục trung tâm, The Parkland được hình thành như một vùng xanh liên kết, nơi thiên nhiên hiện diện xuyên suốt và gắn kết cộng đồng cư dân. Các tòa nhà không tồn tại như những khối kiến trúc riêng lẻ mà được kết nối “mềm” thông qua mạng lưới tiện ích và những dải công viên xanh.
KHI KIẾN TRÚC LÀM DỊU ĐI NHỊP SỐNG ĐÔ THỊRa mắt các tòa nhà cao tầng tưởng chừng theo khuôn mẫu, nhưng The Parkland đã làm được nhiều hơn thế với những khoảng không gian mở đưa thiên nhiên đến gần hơn với nhịp sống hàng ngày. Ngôn ngữ kiến trúc của The Parkland lấy cảm hứng từ hình thái sông - đảo - núi gợi nhắc đến địa hình tự nhiên bản địa, tôn vinh giá trị truyền thống giữa những tiện nghi hiện đại. Mặt nước và những khoảng xanh đóng vai trò làm dịu đi nhịp đô thị mang lại sức sống mới cho những tòa nhà cao tầng.
Những tòa nhà cao tầng được thiết kế xen kẽ với những khoảng nghỉ đắt giá.Được thiết kế bởi NBBJ, công ty kiến trúc, quy hoạch và thiết kế toàn cầu của Mỹ, The Parkland vừa mang âm hưởng của một New York sôi động lại vừa nổi bật bởi sắc xanh giữa các tầng không. Khi những khoảng trống đô thị gặp gỡ ánh sáng và thiên nhiên dịu mát, không khí bên trong những căn nhà nhỏ sẽ luôn được đối lưu hài hòa, mang lại chất lượng sống hoàn hảo.
Cùng với sự tối ưu hóa từ kiến trúc đến nội thất, The Parkland mang đến hệ sản phẩm đa dạng đáp ứng nhu cầu của nhiều nhóm cư dân. Các căn hộ studio, 1 phòng ngủ+, 2 phòng ngủ, 2 phòng ngủ+, 3 phòng ngủ phù hợp với người trẻ độc thân, gia đình trẻ hoặc các hộ gia đình đa thế hệ. Trong khi đó, Duplex và Penthouse lại mở ra lựa chọn cho những chủ nhân tìm kiếm không gian sống rộng rãi, riêng tư hơn.
Tại The Parkland, sự đắt giá không nằm ở những điều phô trương mà bắt đầu từ khoảnh khắc được trở về nhà sống giữa miền xanh và gạt bỏ mọi áp lực. Đó là cách The Parkland định nghĩa về một nơi đáng sống, về trải nghiệm của thế hệ mới được nuôi dưỡng từ những giá trị giản dị nhưng bền vững mỗi ngày.
Sự kiện giới thiệu dự án The Parkland
Thời gian: 09:00 ngày 4/1/2025
Địa điểm: Grand Ballroom – VinPalace Cổ Loa.
-Tuấn Sơn
Ra mắt Viện PINI Việt Nam: “Bảo chứng” mới cho ngành kim hoàn hội nhập quốc tế
Sự ra đời của PINI Việt Nam được kỳ vọng sẽ góp phần thiết lập các chuẩn mực kiểm định mới theo quy chuẩn quốc tế, qua đó nâng cao tính minh bạch, chất lượng và uy tín của sản phẩm kim hoàn Việt Nam trên thị trường trong nước và quốc tế.
Lễ ra mắt có sự tham dự của đại diện Bộ Khoa học và Công nghệ, lãnh đạo các bộ, ban, ngành Trung ương cùng đông đảo chuyên gia, nhà khoa học và nghệ nhân trong lĩnh vực kim hoàn – đá quý.
Tại buổi lễ, đại diện Bộ Khoa học và Công nghệ đã trao Giấy chứng nhận hoạt động cho Viện PINI Việt Nam, tạo cơ sở pháp lý để Viện triển khai các hoạt động nghiên cứu, giám định và đào tạo chuyên sâu.
Phát biểu tại sự kiện, TS Lê Ngọc Dũng, Chủ tịch Hội Mỹ nghệ Kim hoàn Đá quý Việt Nam, khẳng định: sự ra đời của PINI Việt Nam là “mắt xích cần thiết” để hoàn thiện hệ sinh thái ngành kim hoàn. Với hệ thống trang thiết bị hiện đại và đội ngũ chuyên gia được đào tạo bài bản, Viện được kỳ vọng sẽ góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của ngành.
Viện PINI Việt Nam được dẫn dắt bởi Ban lãnh đạo gồm nhiều chuyên gia uy tín như GS.TS danh dự Nguyễn Đình Thắng - Chủ tịch Hội đồng quản trị; ông Nguyễn Thanh Tú - Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị và TS Ngô Hữu Hải - Viện trưởng.
GS.TS Nguyễn Đình Thắng cho biết mục tiêu của Viện là trở thành một địa chỉ khoa học tin cậy, nơi kết nối giữa giá trị văn hóa dân tộc với trình độ kỹ thuật hiện đại của thế giới.
TS Ngô Hữu Hải, Viện trưởng Viện PINI, nhấn mạnh: PINI được xây dựng dựa trên ba trụ cột: Khoa học, Chuẩn xác và Niềm tin. Viện sẽ áp dụng các tiêu chuẩn giám định nghiêm ngặt nhằm xác lập giá trị thực của đá quý Việt Nam trong bối cảnh thị trường ngày càng đòi hỏi sự minh bạch cao.
Sự xuất hiện của PINI Việt Nam được cộng đồng doanh nghiệp và nhà đầu tư đánh giá là “cú hích” cho thị trường vàng bạc, đá quý. Một đơn vị kiểm định độc lập đạt chuẩn quốc tế sẽ giúp doanh nghiệp nội địa tự tin hơn khi tham gia xuất khẩu và xây dựng thương hiệu trên thị trường toàn cầu.
Bên cạnh giám định, Viện còn chú trọng đào tạo chuyên sâu, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành kim hoàn và đá quý. Với sự bảo trợ của Bộ Khoa học và Công nghệ và Hội Mỹ nghệ Kim hoàn Đá quý Việt Nam, Viện PINI Việt Nam đang từng bước hiện thực hóa mục tiêu đưa ngành đá quý Việt Nam vươn tầm khu vực và thế giới.
-Chu Khôi
Phân bổ nguồn vốn hợp lý cho tăng trưởng dài hạn
“Trong thời gian qua, hệ thống ngân hàng tại Việt Nam đã nỗ lực cung ứng vốn nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, nếu tiếp tục phụ thuộc quá nhiều vào kênh tín dụng ngân hàng có thể làm gia tăng rủi ro thanh khoản, đặc biệt trong các giai đoạn cao điểm như cuối năm. Áp lực này càng trở nên rõ nét khi cơ cấu nguồn vốn của hệ thống ngân hàng vẫn chủ yếu là huy động ngắn hạn, trong khi nhu cầu cho vay trung và dài hạn của nền kinh tế ngày càng gia tăng, dẫn đến nguy cơ mất cân đối về kỳ hạn và gia tăng rủi ro hệ thống.
Ngoài ra, mặt bằng lãi suất trong thời gian tới nhiều khả năng sẽ được điều chỉnh, điều này sẽ tác động trực tiếp đến chi phí đầu tư và kế hoạch sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp. Thêm vào đó, các ngân hàng đang từng bước áp dụng các chuẩn mực an toàn cao hơn như Basel III cũng đặt ra thách thức không nhỏ trong việc cân đối nguồn lực: vừa hỗ trợ tăng trưởng, vừa đáp ứng yêu cầu an toàn theo thông lệ quốc tế. Đây là bài toán cần được xem xét kỹ lưỡng đối với toàn hệ thống ngân hàng, đồng thời đặt ra yêu cầu nghiêm túc trong hoạch định chính sách huy động và phân bổ vốn, nhất là khi tín dụng ngân hàng vẫn đang là nguồn vốn chủ lực của nền kinh tế.
Song song với áp lực từ tín dụng, cơ cấu phân bổ vốn đầu tư hiện nay cũng bộc lộ những vấn đề cần lưu ý. Vốn đầu tư vào khu vực nông nghiệp và nông – lâm – thủy – hải sản hiện chiếm trên 20% tổng vốn đầu tư, trong khi công nghiệp và xây dựng cũng chiếm tỷ trọng tương đương. Phần còn lại, khoảng 50–60%, tập trung vào các lĩnh vực dịch vụ, thương mại và du lịch. Cơ cấu này cho thấy dòng vốn vẫn đang phân bổ khá lớn vào các lĩnh vực phi sản xuất trực tiếp.
Để đạt được tăng trưởng bền vững trong dài hạn, cần có sự chuyển dịch cơ cấu đầu tư theo hướng tập trung hơn vào sản xuất – kinh doanh. Việc ưu tiên dòng vốn và các công cụ chính sách tài khóa vào lĩnh vực sản xuất thay vì các lĩnh vực mang tính đầu cơ sẽ giúp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, giảm rủi ro cho nền kinh tế.
Ngược lại, nếu dòng vốn tiếp tục tập trung vào bất động sản, dịch vụ du lịch hay môi giới, nền kinh tế có thể đạt tăng trưởng trong ngắn hạn nhưng thiếu bền vững và tiềm ẩn rủi ro lớn cho hệ thống tài chính. Trong bối cảnh đó, ngành ngân hàng sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức khi vừa đảm bảo an toàn hệ thống khi tuân thủ chuẩn mực quốc tế, vừa hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, đồng thời góp phần duy trì ổn định kinh tế vĩ mô. Vì vậy, yêu cầu phát triển các kênh huy động vốn trung và dài hạn ngoài hệ thống ngân hàng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết nhằm giảm áp lực cho tín dụng và nâng cao tính bền vững của cấu trúc tài chính quốc gia.
Bên cạnh đó, sự phối hợp đồng bộ giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ cũng cần được tăng cường hơn. Mặc dù thời gian qua hai chính sách này đã được điều hành tương đối chặt chẽ, song mối liên kết giữa vốn ngân sách nhà nước thông qua đầu tư công và tín dụng ngân hàng vẫn chưa thực sự phát huy đầy đủ vai trò hỗ trợ lẫn nhau. Vốn ngân sách cần đóng vai trò “vốn mồi”, đồng hành cùng tín dụng ngân hàng để tạo lực đỡ cho doanh nghiệp sản xuất – kinh doanh, góp phần đạt mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững và hỗ trợ ổn định kinh tế vĩ mô. Khi hai nguồn vốn này phối hợp hiệu quả, cả vốn ngân sách và vốn tín dụng đều được khai thác tối đa, giảm lãng phí và nâng cao hiệu quả đầu tư”.
“Để nâng cao hiệu quả huy động và sử dụng vốn, cần tập trung đánh giá dựa trên cả ba góc độ. Trước hết là hiệu quả của đồng vốn trong sản xuất – kinh doanh. Vốn chỉ thực sự mang lại giá trị khi được triển khai vào các hoạt động thực tế và tạo ra lợi nhuận đủ bù đắp chi phí và đóng góp giá trị gia tăng cho nền kinh tế. Bên cạnh đó là khả năng thu hút nguồn vốn. Ngoài nguồn tiết kiệm trong dân cư, cần khai thác hiệu quả từ các nguồn tài sản và mở rộng tiếp cận nguồn vốn ở các thị trường vốn quốc tế, từ đó đa dạng hóa kênh huy động. Cuối cùng là hiệu quả của thị trường vốn và thị trường tài chính. Các thị trường này cần được phát triển theo hướng giảm thiểu chi phí kết nối giữa người có vốn và người sử dụng vốn. Thị trường càng vận hành hiệu quả, chi phí trung gian càng thấp, thì khả năng huy động và phân bổ vốn cho nền kinh tế càng được cải thiện.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, hiệu quả sử dụng vốn ở Việt Nam vẫn còn thấp. Theo đó, hệ số hiệu quả sử dụng vốn đầu tư (ICOR) của Việt Nam hiện dao động trong khoảng từ 6 đến 7. Trong khi đó, tại các nền kinh tế như Hàn Quốc hay Trung Quốc, chỉ cần khoảng 3 đơn vị vốn để đạt được cùng mức tăng trưởng. Điều này cho thấy vấn đề cốt lõi hiện nay không nằm ở việc thiếu vốn, mà chủ yếu là ở hiệu quả sử dụng vốn chưa cao. Thay vì tiếp tục mở rộng huy động vốn, nếu nâng cao hiệu quả phân bổ và sử dụng vốn đầu tư, Việt Nam hoàn toàn có thể đạt được mức tăng trưởng cao hơn ngay cả với quy mô vốn hiện có. Nói cách khác, khi hiệu quả được cải thiện, cùng một lượng vốn đầu tư có thể tạo ra sản lượng và giá trị gia tăng lớn hơn, từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững mà không nhất thiết phải gia tăng mạnh nguồn vốn mới.
Đồng thời, nếu xét trên góc độ thị trường chứng khoán, tỷ lệ giữa giá thị trường của cổ phiếu và thu nhập trên mỗi cổ phiếu (P/E) tại Việt Nam hiện đang ở mức khoảng 18 lần, được xem là mức định giá hợp lý (fair value). Tuy nhiên, khi đặt trong so sánh khu vực, mức P/E này vẫn cao hơn đáng kể so với các thị trường cùng khu vực như Malaysia (khoảng 15 lần), Indonesia (khoảng 13 lần) và đặc biệt là Trung Quốc (dưới 11 lần).
Từ góc độ quốc tế, mức định giá cao đi kèm với hiệu quả sử dụng vốn chưa tương xứng sẽ làm suy giảm sức hấp dẫn tương đối của thị trường Việt Nam trong mắt các nhà đầu tư. Khi nhà đầu tư phải bỏ ra nhiều vốn hơn để thu về cùng một đơn vị lợi nhuận so với các thị trường khác, họ sẽ có xu hướng phân bổ dòng vốn sang những quốc gia có hiệu quả sinh lời cao hơn. Do đó, việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của toàn bộ nền kinh tế không chỉ có ý nghĩa đối với tăng trưởng nội tại, mà còn chính là yếu tố then chốt để gia tăng sức hấp dẫn của thị trường, qua đó cải thiện khả năng huy động vốn trong nước và quốc tế. Khi hiệu quả đầu tư được cải thiện, lợi nhuận doanh nghiệp gia tăng một cách bền vững, thị trường chứng khoán sẽ trở nên hấp dẫn hơn.
Để đạt được mục tiêu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của toàn nền kinh tế, khu vực công cần đóng vai trò then chốt. Trước hết, trong lĩnh vực đầu tư công, việc chuẩn bị dự án kỹ càng, rút ngắn thời gian từ phê duyệt đến khởi công, hoàn thiện và đưa vào vận hành sớm sẽ giúp dự án nhanh chóng tạo ra giá trị kinh tế – xã hội, qua đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư của Nhà nước. Bên cạnh đầu tư phát triển, các khoản chi thường xuyên như an sinh xã hội, giáo dục nghề nghiệp hay nâng cao kỹ năng lao động cũng cần được phân bổ hiệu quả để nâng cao năng suất chung của nền kinh tế. Song song, trong khu vực tư nhân, cải thiện môi trường đầu tư – kinh doanh là điều kiện giúp cho doanh nghiệp giảm chi phí cũng như thời gian tuân thủ, từ đó tập trung vào triển khai sản xuất – kinh doanh và từng bước mở rộng quy mô.
Thực tế là môi trường kinh doanh hiện nay vẫn chưa đủ hấp dẫn để thúc đẩy sự phát triển theo chiều sâu đối với doanh nghiệp tư nhân, dẫn đến thiếu vắng các doanh nghiệp lớn có khả năng dẫn dắt chuỗi giá trị, trong khi khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm tỷ trọng áp đảo. Do đó, chỉ khi môi trường kinh doanh được cải thiện một cách thực chất mới có thể nâng cao hiệu quả sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân. Đồng thời, chính bản thân khu vực này có thể trở thành nguồn tạo sức hút tự nhiên đối với các dòng vốn đầu tư, cả trong nước lẫn quốc tế”.
“Dưới góc nhìn của nhà đầu tư, trên thực tế, mức độ quan tâm của các nhà đầu tư quốc tế đối với thị trường Việt Nam vẫn ở mức rất lớn. Điều này xuất phát từ những yếu tố nền tảng như dân số đông trên 100 triệu dân, nền kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng ổn định và các định hướng phát triển của Chính phủ được đánh giá là có điểm khác biệt so với nhiều quốc gia trong khu vực. Trên cơ sở đó, Việt Nam vẫn được đánh giá là một thị trường có tiềm năng đầu tư. Tuy nhiên, đối với các nhà đầu tư chiến lược, quyết định rót vốn không đơn thuần là bài toán cung – cầu ngắn hạn. Các khoản đầu tư này thường có quy mô vốn lớn, thời gian đầu tư dài và mức độ cam kết cao, do đó yếu tố an toàn và tính khả thi luôn được đặt lên hàng đầu.
Trên thực tế, khi tiếp cận các tài sản và dự án tại Việt Nam, các nhà đầu tư chiến lược thường phải nói “không” nhiều hơn “có”, bởi không ít dự án dù được trình bày rất hấp dẫn trên hồ sơ nhưng lại bộc lộ nhiều hạn chế khi đánh giá ở khâu triển khai thực tế. Vì vậy, quá trình thẩm định của nhà đầu tư không thể chỉ dừng lại ở tài liệu, báo cáo hay phương án tài chính trên giấy tờ, mà phải được kiểm chứng trực tiếp tại hiện trường. Nhà đầu tư cần đánh giá toàn diện từ nhà xưởng, máy móc, công nghệ, nguồn nhân lực cho đến hệ thống kho bãi, logistics và khả năng vận hành thực tế của dự án.
Trong bối cảnh đó, những dự án hạ tầng được triển khai nhanh, đúng tiến độ và đạt chất lượng cao có tác động rất lớn đến niềm tin của nhà đầu tư. Chẳng hạn, dự án phục vụ APEC tại Phú Quốc được xem là một ví dụ điển hình, tạo ấn tượng tích cực đối với cộng đồng nhà đầu tư quốc tế. Việc một dự án hạ tầng quy mô lớn có thể được triển khai trong thời gian ngắn và đáp ứng yêu cầu cao về chất lượng cho thấy năng lực tổ chức, điều phối và thực thi của Việt Nam. Từ đó, nhà đầu tư có cơ sở để kỳ vọng rằng các dự án hạ tầng khác trong tương lai cũng có thể đạt được tốc độ và hiệu quả tương tự.
Bên cạnh tính khả thi của dự án, năng lực của doanh nghiệp đối tác cũng là yếu tố được xem xét hết sức thận trọng. Nhà đầu tư cần xác định rõ doanh nghiệp có đủ năng lực triển khai dự án hay không, có phù hợp để hợp tác không và hình thức hợp tác nào là tối ưu, có thể là hợp tác về đất đai, chuyển giao công nghệ hay hợp tác thương mại. Việc lựa chọn đúng đối tác và đúng mô hình hợp tác có ý nghĩa quyết định đối với hiệu quả và khả năng sinh lời bền vững của khoản đầu tư.
Yếu tố quan trọng không kém là tính minh bạch sau đầu tư. Nhà đầu tư cần nhìn rõ lộ trình thu hồi vốn, cơ chế vận hành dòng tiền, hệ thống kiểm soát tài chính cũng như vai trò và trách nhiệm của các vị trí chủ chốt, đặc biệt là giám đốc tài chính. Đồng thời, các vấn đề liên quan đến quyền kiểm soát, mức độ tham gia vào quản trị doanh nghiệp đều phải được xác định rõ ràng ngay từ đầu. Đối với các nhà đầu tư tư nhân và nhà đầu tư chiến lược, trách nhiệm đối với dòng vốn bỏ ra là rất lớn, do đó yêu cầu về minh bạch, quản trị hiệu quả và khả năng kiểm soát rủi ro luôn được đặt ở mức cao nhất khi đầu tư vào Việt Nam”.
“Thị trường trái phiếu nói riêng và thị trường vốn nói chung, về bản chất, chỉ là kênh dẫn vốn vào nền kinh tế. Do đó, đây là công cụ và phương tiện hỗ trợ cho phát triển kinh tế, chứ không phải là mục tiêu cuối cùng. Việc các chính sách và công cụ này có phát huy hiệu quả hay không phụ thuộc lớn vào chiến lược phát triển và mục tiêu cụ thể trong từng giai đoạn. Trong hơn một thập kỷ qua, thị trường trái phiếu Việt Nam đã phát triển nhanh chóng. Kể từ năm 2009, cả trái phiếu Chính phủ lẫn doanh nghiệp đều tăng mạnh về quy mô, thanh khoản cải thiện rõ rệt, trong khi chi phí huy động vốn của Chính phủ vẫn ở mức thấp so với khu vực. Tuy nhiên, vấn đề cốt lõi hiện nay không nằm ở việc thiếu vốn, mà là năng lực sử dụng vốn và hiệu quả đầu tư.
Thực tiễn cho thấy nguồn vốn trong nền kinh tế không hề khan hiếm, song số lượng các dự án và doanh nghiệp có hiệu quả cao, có khả năng tạo ra giá trị gia tăng bền vững vẫn còn hạn chế. Do đó, việc xây dựng cơ chế công bố thông tin minh bạch kết hợp với hệ thống giám sát hiệu quả là điều kiện tiên quyết để thị trường vận hành công bằng và rõ ràng. Minh bạch thông tin không chỉ giúp nhà đầu tư đưa ra quyết định chính xác hơn, mà còn tạo nền tảng cho việc hình thành một cơ chế sàng lọc tự nhiên thông qua thị trường. Cơ chế này sẽ góp phần lựa chọn, hỗ trợ và nuôi dưỡng những doanh nghiệp có chất lượng cao, từ các doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp nhỏ và vừa, cho đến các doanh nghiệp quy mô lớn.
Do đó, việc huy động và phân bổ vốn không thể thực hiện theo cách dàn trải mà cần gắn chặt với quá trình sàng lọc dựa trên hiệu quả, tính minh bạch và năng lực cạnh tranh thực chất của doanh nghiệp. Nếu việc sàng lọc được tiến hành công khai và công bằng, nền kinh tế sẽ hình thành được lực lượng doanh nghiệp có chất lượng cao, tạo nền tảng cho tăng trưởng dài hạn.
Nhìn lại cuộc khủng hoảng tài chính giai đoạn 2008–2011 có thể nhận thấy rằng, một thị trường vốn lành mạnh và phát triển bền vững phụ thuộc trước hết vào chất lượng của “con nợ” và chất lượng của tổ chức phát hành. Những doanh nghiệp có năng lực quản trị tốt, hoạt động minh bạch, tuân thủ đầy đủ các quy định pháp luật và sử dụng vốn hiệu quả sẽ có khả năng tồn tại và phát triển lâu dài. Ngược lại, các doanh nghiệp yếu kém, quản trị rủi ro kém và thiếu minh bạch sẽ bị đào thải theo quy luật của thị trường. Quá trình này sẽ giúp nền kinh tế vận hành lành mạnh hơn và tạo điều kiện cho thị trường vốn Việt Nam phát triển hiệu quả trong dài hạn”.
“Đối với khu vực tư nhân, thị trường giữ vai trò quyết định trong việc huy động và sử dụng vốn. Dù tổng nguồn vốn trong nền kinh tế hiện nay được đánh giá là dồi dào, song tình trạng “thiếu vốn” vẫn xuất hiện. Nguyên nhân không nằm ở khan hiếm nguồn vốn mà là do chưa tìm được cơ hội để đầu tư vào các dự án hiệu quả. Do vậy, vấn đề cốt lõi không phải là mở rộng quy mô vốn, mà là nâng cao chất lượng dự án và hiệu quả phân bổ nguồn lực thông qua cơ chế thị trường.
Trong bối cảnh này, thách thức lớn đối với Việt Nam hiện nay chính là bài toán đánh đổi trong phối hợp chính sách giữa tài khóa và tiền tệ, cũng như giữa vai trò của Nhà nước và khu vực tư nhân. Mặc dù vẫn tồn tại quan điểm cho rằng khu vực Nhà nước hoạt động kém hiệu quả hơn khu vực tư nhân, song nhận định này cần được nhìn nhận dưới góc độ dài hạn.
Trong ngắn hạn, khu vực công có thể không tạo ra giá trị vật chất trực tiếp với hiệu quả cao như khu vực tư nhân, nhưng về dài hạn, vai trò của Nhà nước là không thể thay thế, đặc biệt là trong các lĩnh vực nền tảng như hạ tầng.
Trong bối cảnh hiện nay, chính sách tiền tệ không còn nhiều dư địa nên việc cân bằng giữa yêu cầu huy động vốn cho tăng trưởng kinh tế và duy trì ổn định vĩ mô trở thành bài toán “tiến thoái lưỡng nan” không hề đơn giản. Vì vậy, thay vì tiếp tục tập trung quá nhiều vào điều chỉnh các chỉ tiêu tín dụng, chính sách tiền tệ trong thời gian tới cần chuyển trọng tâm sang việc thúc đẩy phát triển các kênh huy động vốn ngoài ngân hàng cho nền kinh tế. Cách tiếp cận này không chỉ giúp giảm áp lực cho hệ thống ngân hàng, mà còn nâng cao tính bền vững và khả năng chống chịu của hệ thống tài chính.
Ở chiều ngược lại, chính sách tài khóa tuy vẫn còn dư địa nhất định, nhưng cũng đang đối mặt với những thách thức không nhỏ. Thực tế cho thấy thu ngân sách nhà nước trong năm nay nhiều khả năng vượt dự toán, song phần lớn khoản vượt thu này lại đến từ khu vực đất đai. Điều đó đồng nghĩa với việc tăng thu ngân sách vẫn đang phụ thuộc đáng kể vào bất động sản. Nếu cơ chế này tiếp tục được duy trì, dòng vốn sẽ có xu hướng tiếp tục chảy vào lĩnh vực bất động sản do được ưu tiên, khuyến khích và có khả năng sinh lợi cao, từ đó làm suy giảm động lực đầu tư vào các ngành sản xuất – kinh doanh cốt lõi của nền kinh tế. Trong khi đó, bất động sản khó có thể trở thành động lực tăng trưởng dài hạn, bởi đóng góp của lĩnh vực này vào năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) là có giới hạn.
Để khắc phục tình trạng này, cần có sự lựa chọn cơ chế huy động ngân sách đa dạng hơn, chẳng hạn thông qua cơ cấu thuế. Tuy nhiên, bất kỳ sắc thuế nào cũng đi kèm với những đánh đổi nhất định: tăng thuế thu nhập doanh nghiệp có thể làm giảm động lực đầu tư; tăng thuế giá trị gia tăng sẽ tác động trực tiếp tới chi tiêu của người dân, ảnh hưởng đến tiêu dùng. Do đó, việc thiết kế chính sách tài khóa cần được cân nhắc một cách thận trọng, nhằm bảo đảm nguồn thu ngân sách bền vững nhưng không gây méo mó phân bổ nguồn lực và vẫn duy trì động lực đầu tư cho khu vực sản xuất.
Từ đó có thể thấy rằng điều cần thiết hiện nay là thay đổi căn cơ cách tiếp cận trong điều hành chính sách vĩ mô. Việc phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ không nên chỉ nhằm giải quyết các mục tiêu ngắn hạn, mà cần được đặt trong một chiến lược dài hạn.
Thực tế cho thấy công tác điều hành trong ngắn hạn thời gian qua đạt được nhiều kết quả tích cực, song nếu thiếu một định hướng dài hạn rõ ràng, các rủi ro tiềm ẩn có thể dần tích tụ. Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng ở mức cao trong giai đoạn tới, việc đổi mới cách sử dụng các công cụ chính sách kinh tế, đa dạng hóa các kênh huy động vốn và nâng cao vai trò của thị trường trong phân bổ nguồn lực là yêu cầu mang tính then chốt”.
“Để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức hai con số trong giai đoạn 2026–2030, tổng vốn đầu tư toàn xã hội ước tính cần đạt bình quân khoảng 36–37% GDP. Với nhu cầu vốn ở mức rất cao như vậy, các nguồn vốn nội tại của nền kinh tế khó có thể đáp ứng đầy đủ, qua đó làm gia tăng vai trò của các nguồn vốn từ bên ngoài, đặc biệt là dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trở thành nguồn bổ sung mang tính chiến lược đối với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam.
Tuy nhiên, thách thức đặt ra hiện nay không chỉ nằm ở quy mô vốn FDI được huy động, mà quan trọng hơn là khả năng tạo ra các tác động lan tỏa tích cực từ khu vực FDI sang khu vực doanh nghiệp trong nước. Để duy trì sức cạnh tranh và thu hút dòng vốn FDI một cách ổn định và bền vững, Việt Nam cần triển khai đồng bộ một số cải cách then chốt.
Thứ nhất, cần chuyển trọng tâm từ cạnh tranh bằng ưu đãi thuế sang cạnh tranh dựa trên chất lượng thể chế, môi trường đầu tư và khả năng hình thành hệ sinh thái sản xuất – đổi mới sáng tạo. Yêu cầu này càng trở nên cấp thiết trong bối cảnh việc triển khai thuế tối thiểu toàn cầu đang làm suy giảm hiệu quả của các công cụ ưu đãi thuế truyền thống trong thu hút đầu tư.
Thực tế cho thấy, trong giai đoạn đến năm 2025, Việt Nam đã thực hiện miễn, giảm và gia hạn thuế với tổng giá trị lên tới hơn 1 triệu tỷ đồng. Đây là một con số rất lớn, song nếu các ưu đãi này không được gắn với các điều kiện cụ thể về hiệu quả sử dụng vốn, hoạt động nghiên cứu và phát triển (RD), chuyển giao công nghệ hay đào tạo và nâng cao kỹ năng cho người lao động, thì nguồn lực ngân sách bỏ ra khó có thể phát huy tối đa tác động lan tỏa đối với nền kinh tế.
Do đó, chính sách thu hút FDI trong giai đoạn tới cần chuyển sang hướng hỗ trợ đầu tư có điều kiện, được thiết kế theo từng nhóm mục tiêu cụ thể. Chẳng hạn, Nhà nước có thể sử dụng thuế tối thiểu toàn cầu để khuyến khích các doanh nghiệp FDI công nghệ cao, thông qua việc hỗ trợ chi phí RD, đào tạo nhân lực chất lượng cao, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, cũng như khuyến khích quá trình xanh hóa sản xuất và phát triển bền vững. Cách tiếp cận này không chỉ giúp Việt Nam có thể đáp ứng được các cam kết quốc tế trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, mà còn củng cố sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài.
Thứ hai, vấn đề liên kết giữa FDI và khu vực doanh nghiệp trong nước cũng cần được tháo gỡ để nâng cao giá trị nội địa. Đầu tư FDI nếu chỉ tập trung vào các nhà máy lớn, xuất khẩu thô hay dự án riêng lẻ sẽ khó tạo ra chuỗi giá trị bền vững. Do đó, trọng tâm chính sách cần chuyển từ thu hút dự án riêng lẻ sang thu hút đầu tư theo chuỗi giá trị, qua đó sàng lọc và ưu tiên các nhà đầu tư FDI có cam kết rõ ràng về nội địa hóa, chuyển giao công nghệ, cũng như sử dụng các nhà cung ứng trong nước.
Song song với đó, Nhà nước cần thiết kế và triển khai các cơ chế hỗ trợ mang tính đặc thù nhằm phát triển công nghiệp hỗ trợ và các lĩnh vực liên quan. Các chính sách này có thể bao gồm hỗ trợ tín dụng ưu đãi, ưu đãi đầu tư có điều kiện, cũng như các chương trình đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Mục tiêu là giúp doanh nghiệp nội địa từng bước đáp ứng các tiêu chuẩn về chất lượng, công nghệ và quản trị để có thể tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn FDI, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh tổng thể của khu vực doanh nghiệp trong nước.
Thứ ba, đầu tư công cần được sử dụng như một đòn bẩy để giảm chi phí logistics của nền kinh tế, hiện đang chiếm khoảng 16–18% GDP, cao hơn nhiều so với mức trung bình 10–11% của toàn thế giới. Để giải quyết vấn đề này, thay vì phân tán nguồn lực, đầu tư công cần được tập trung vào các dự án hạ tầng giao thông liên vùng, logistics đa phương thức và năng lượng xanh. Đồng thời, để khắc phục tình trạng mất cân đối giữa các phương thức vận tải, cần từng bước chuyển dịch sang các phương thức có chi phí thấp và hiệu quả hơn như đường sắt và đường thủy, qua đó giảm áp lực cho vận tải đường bộ và cắt giảm chi phí logistics.
Cùng với việc mở rộng đầu tư công, cần hoàn thiện khung pháp lý cho mô hình đối tác công – tư (PPP), cơ chế chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước và khu vực tư nhân cần được thiết kế rõ ràng, tạo điều kiện huy động vốn tư nhân vào phát triển cơ sở hạ tầng.
Một yếu tố quan trọng không kém là phát triển thị trường vốn minh bạch, an toàn và có chiều sâu. Trong bối cảnh phần lớn nguồn vốn trung và dài hạn của nền kinh tế vẫn phụ thuộc vào hệ thống ngân hàng, rủi ro mất cân đối và rủi ro hệ thống có xu hướng gia tăng. Do đó, việc phát triển các định chế trung gian tài chính, mở rộng vai trò của các quỹ đầu tư, đồng thời hoàn thiện khung pháp lý cho các công cụ tài chính mới, đặc biệt là trái phiếu xanh không chỉ là giải pháp nhằm đa dạng hóa các kênh huy động vốn trung và dài hạn, mà còn là điều kiện cần thiết để nền kinh tế bắt nhịp với xu thế chuyển đổi xanh và phát triển bền vững.
Để thu hút dòng vốn FDI một cách bền vững, Việt Nam cần chuyển đổi căn bản tư duy từ chú trọng số lượng sang đề cao chất lượng dòng vốn. Thay vì cạnh tranh chủ yếu bằng ưu đãi thuế, chính sách thu hút đầu tư cần hướng tới việc xây dựng một hệ sinh thái đầu tư toàn diện, dựa trên nền tảng thể chế minh bạch và đáng tin cậy, chi phí logistics cạnh tranh cũng như khả năng liên kết chặt chẽ giữa khu vực FDI và doanh nghiệp trong nước trong các chuỗi giá trị”.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 51-52-2025 phát hành ngày 22-29/12/2025. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://vneconomy.vn/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-5152-2025.htm
-
Đột phá vốn và năng suất để bứt phá tăng trưởng hai con số
Năm 2025, sự lãnh đạo sâu sát của Đảng cùng sự điều hành quyết liệt, chủ động từ Chính phủ, kinh tế Việt Nam đã vượt qua những “cơn gió ngược” trước bối cảnh kinh tế thế giới phục hồi chậm, phân mảnh thương mại gia tăng, xung đột địa chính trị kéo dài, rủi ro tài chính – tiền tệ toàn cầu hiện hữu và trước những ảnh hưởng nghiêm trọng từ thiên tai, bão lũ.
Nhiều quyết sách quan trọng đã được đưa ra. Bộ Chính trị đã ban hành 7 nghị quyết lớn, quan trọng, Quốc hội đã thông qua 47 luật, 8 nghị quyết ngay tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV, Chính phủ đã ban hành và trình ban hành một loạt các dự án luật và các văn bản quy phạm pháp luật, đánh dấu một bước đột phá về thế chế, chính sách và khung khổ pháp luật.
Một dấu mốc quan trọng nữa là công cuộc “sắp xếp lại giang sơn” và nỗ lực đổi mới mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, nỗ lực thúc đẩy phát triển mạnh mẽ cơ sở hạ tầng với hàng loạt các dự án chiến lược quy mô lớn, quan trọng, có tính lan tỏa và định hình cho tương lai được triển khai.
Nhờ đó, tăng trưởng GDP năm 2025 ước đạt khoảng 8,01% (theo tính toán của Nhóm nghiên cứu Ban Chính sách, chiến lược Trung ương với các số liệu đến thời điểm hiện tại), thuộc nhóm cao trong khu vực và trên thế giới.
Công nghiệp tiếp tục giữ vai trò động lực, dẫn dắt tăng trưởng kinh tế với mức tăng đạt khoảng 9,1%, đóng góp 2,72 điểm phần trăm vào tăng trưởng GDP. Đặc biệt, công nghiệp chế biến, chế tạo phục hồi mạnh, tăng trưởng khoảng 9,74%, đóng góp khoảng 2,3 điểm phần trăm vào tăng trưởng GDP, nhờ sự phục hồi của các ngành xuất khẩu chủ lực và sự gia tăng dòng vốn FDI chất lượng cao.
Khu vực dịch vụ tăng tốc rõ nét với tăng trưởng đạt khoảng 8,05%, đóng góp 3,56 điểm phần trăm vào tăng trưởng GDP, nhiều ngành đạt mức tăng trưởng hai con số, phản ánh sự phục hồi của cầu nội địa, du lịch, thương mại và các dịch vụ giá trị gia tăng cao.
Lĩnh vực xây dựng tăng trưởng cao, đạt khoảng 11%, đóng góp 0,73 điểm phần trăm, nhờ đầu tư công và các dự án hạ tầng chiến lược quy mô lớn được đẩy mạnh. Nông nghiệp tiếp tục là trụ đỡ ổn định, tăng trưởng tích cực, đạt khoảng 3,92%, trong bối cảnh chịu tác động của nhiều đợt thiên tai, bão lũ.
Một điểm rất tích cực của năm 2025 là sự phục hồi đồng bộ của các yếu tố tăng trưởng phía cầu. Theo tính toán của Nhóm nghiên cứu, tiêu dùng, xuất nhập khẩu, tích lũy tài sản cố định đều đạt được mức tăng trưởng rất ấn tượng so với các giai đoạn trước. Trong đó, tiêu dùng cuối cùng dự kiến đạt tốc độ tăng trưởng khoảng 8,07%, đóng góp 5,13 điểm phần trăm vào tăng trưởng GDP. Thu nhập cải thiện, lạm phát được kiểm soát tạo nền tảng cho sức mua trong nước.
Xuất nhập khẩu đạt tốc độ tăng trưởng cao dù chịu nhiều áp lực từ các chính sách thuế quan thương mại, quy mô thương mại đạt mức kỷ lục gần 900 tỷ USD, đưa Việt Nam tiếp tục nằm trong nhóm 20 nền kinh tế thương mại hàng đầu thế giới. Tích lũy tài sản tăng mạnh cùng với dòng vốn đầu đầu tư lớn. Tốc độ tăng trưởng tích lũy tài sản 2025 đạt khoảng 8,5%, đóng góp 3,06 điểm phần trăm trong tăng trưởng GDP.
Tổng vốn đầu tư phát triển tăng mạnh, ước khoảng 13,5%. Trong đó, đầu tư công giữ vai trò dẫn dắt, quy mô vốn đầu tư công thực hiện dự kiến đạt mức rất cao, khoảng gần 900 nghìn tỷ đồng, tăng 28,6% so với năm 2024, tập trung vào các dự án hạ tầng chiến lược như cao tốc Bắc – Nam, sân bay Long Thành, các cảng biển và hạ tầng năng lượng. Tính toán của Nhóm nghiên cứu Ban Chính sách, chiến lược Trung ương cho thấy với mức đầu tư công tăng cao năm 2025 giúp tăng trưởng kinh tế gia tăng thêm khoảng 0,587 điểm phần trăm so với kịch bản cơ sở.
Đầu tư tư nhân phục hồi mạnh, tăng khoảng 9,2% so với năm 2024 (mức cao nhất trong 5 năm qua), phản ánh tiềm lực và niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp đang cải thiện. FDI liên tục tạo các kỷ lục, giải ngân đạt mức cao, chất lượng dòng vốn tốt hơn với khoảng 70% số vốn đăng ký mới tập trung vào lĩnh vực công nghệ cao, chip, bán dẫn, công nghệ mới và năng lượng tái tạo.
Năng suất lao động cải thiện mạnh, đóng góp khoảng 6,9 điểm phần trăm vào tăng trưởng GDP. Đặc biệt, năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) tăng cao, đạt tốc độ tăng khoảng 3,76%, đóng góp gần 47% vào tăng trưởng năm 2025 – mức cao so với giai đoạn trước, phản ánh sự chuyển dịch tích cực của mô hình tăng trưởng, với năng suất, hiệu quả gia tăng rõ nét.
Ổn định kinh tế vĩ mô tiếp tục được giữ vững. Lạm phát bình quân năm 2025 được kiểm soát ở mức 3,2–3,5%, nhờ sự điều hành linh hoạt, phù hợp, cùng với sự hỗ trợ của xu hướng giảm giá dầu và giảm các áp lực lạm phát toàn cầu. Nợ công giảm về khoảng 35–36% GDP, thấp hơn đáng kể so với trần cho phép, củng cố an ninh tài chính quốc gia. Tuy nhiên, tỷ giá USD/VND chịu áp lực khá lớn trong bối cảnh chênh lệch lãi suất quốc tế. Dư nợ tín dụng ở mức cao, dự kiến tiệm cận mức 145-148% GDP.
Trên cơ sở các đánh giá, dự báo của các tổ chức kinh tế toàn cầu, Nhóm nghiên cứu Ban Chính sách, chiến lược Trung ương xây dựng ba kịch bản dự báo tăng trưởng kinh tế, thương mại và đầu tư toàn cầu, gồm: kịch bản kém thuận lợi, kịch bản thuận lợi và kịch bản rất thuận lợi. Ở cả ba kịch bản, dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới có thể tăng nhẹ, đạt mức 2,9-3,3%/năm, song chưa vững chắc, đà phục hồi diễn ra chậm chạp.
Cường độ của các rủi ro địa chính trị, xu hướng bảo hộ thương mại và quá trình tái định hình chuỗi cung ứng toàn cầu sẽ tiếp tục gây sức ép lên triển vọng thương mại và đầu tư toàn cầu. Áp lực nợ công và lạm phát toàn cầu ngày càng rõ nét. Bên cạnh đó, một số xu hướng mới đang hình thành và tác động đến kinh tế toàn cầu, như xu hướng hình thành các FTA và các cơ chế hợp tác khu vực mới và xu hướng tăng mạnh đầu tư phát triển và kiểm soát, chống thất thoát công nghệ chiến lược ở một số quốc gia.
Kinh tế Việt Nam, theo đó, đứng trước nhiều cơ hội và thách thức đan xen. Trong đó, Việt Nam có cơ hội lớn để đón nhận làn sóng dịch chuyển đầu tư chất lượng cao, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ, năng lượng xanh, kinh tế số và công nghiệp hỗ trợ. Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ tạo cơ hội cho Việt Nam “bắt nhịp” bứt phá phát triển.
Cạnh tranh chiến lược thúc đẩy các quốc gia tìm kiếm đối tác mới, tạo điều kiện cho Việt Nam tham gia sâu hơn vào các chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu, không chỉ lắp ráp mà còn ở các khâu có giá trị cao hơn như RD, thiết kế, marketing. Vấn đề then chốt là khả năng tận dụng các cơ hội đó, thông qua cải cách thể chế, nâng cao năng lực cạnh tranh và chất lượng nguồn nhân lực.
Tuy nhiên, Nhóm nghiên cứu cũng nhận diện và chỉ ra một số thách thức rất lớn đối với Việt Nam. Đó là, mô hình tăng trưởng của chúng ta mặc dù đã có nhiều đổi mới nhưng nhìn chung vẫn chưa giải quyết được sự thay đổi căn bản. Mô hình tăng trưởng thương mại theo chiều rộng khiến Việt Nam chịu nhiều áp lực rủi ro cao từ rào cản thuế quan của các nước. Việt Nam cũng là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nghiêm trọng từ biến đổi khí hậu.
Bên cạnh đó, nguy cơ “bị bỏ lại phía sau” nếu quá trình “bắt nhịp”, “đón bắt” các công nghệ không thành công. Để thực hiện mục tiêu tăng trưởng cao, nhu cầu huy động nguồn lực tài chính là rất lớn. Trong khi Việt Nam vẫn tiếp tục đối mặt với một số vấn đề mang tính cấu trúc, nội tại của nền kinh tế.
Trên cơ sở phân tích, đánh giá đầy đủ các yếu tố tác động, các điều kiện nền tảng cho tăng trưởng và phát triến kinh tế, Nhóm Nghiên cứu Ban Chính sách, chiến lược Trung ương đưa ra ba kịch bản tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2026- 2030, gồm:
(1) Kịch bản cơ sở, giả định duy trì xu hướng phát triển hiện tại, chưa tạo được đột phá mạnh mẽ về thể chế, năng suất và các điều kiện về nguồn lực phát triển. Dự báo tăng trưởng GDP đạt khoảng 7,5%/năm, lạm phát ở mức dưới 4%; quy mô GDP đến năm 2030 đạt khoảng 21,9 triệu tỷ đồng, GDP bình quân đầu người dự báo đạt mức 7.500 USD.
(2) Kịch bản chuyển tiếp, giả định có sự cải thiện rõ nét hơn các điều kiện phát triển, huy động nguồn lực cho đầu tư tăng trưởng tăng cao, công nghiệp chế biến, chế tạo, dịch vụ chất lượng cao và chuyển đổi số tăng mạnh. Theo đó, tốc độ tăng trưởng GDP có thể đạt khoảng 8,5%/năm, lạm phát duy trì khoảng 4%; quy mô GDP đến năm 2030 ước đạt khoảng 23,1 triệu tỷ đồng; GDP bình quân đầu người ước đạt 7.800 USD.
(3) Kịch bản mục tiêu, yêu cầu tăng trưởng hai con số, khoảng 10%/năm; lạm phát dự kiến ở mức 4-4,5%; quy mô GDP đến năm 2030 ước đạt 24,6 triệu tỷ đồng; GDP bình quân đầu người dự báo đạt mức 8.500 USD. Điều kiện tiên quyết ở kịch bản này là sự bứt phá về mọi mặt: cải cách thể chế, vốn đầu tư, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và năng suất.
Để đạt được mục tiêu tăng trưởng hai con số, đòi hỏi sự cải thiện mạnh mẽ ở cả ba khu vực. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản cần duy trì mức tăng trưởng khá cao, 3,5%/năm so với mức tăng trưởng cơ sở khoảng 3%/năm. Đây là áp lực rất là lớn trong thời gian tới đối với lĩnh vực nông nghiệp. Khu vực công nghiệp – xây dựng cần tăng trưởng mạnh, khoảng 12,4%/năm, trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo bứt phá, tăng trưởng khoảng 12,9%/năm và lĩnh vực xây dựng tăng trưởng đột phá ở mức 12,5%/năm nhờ đẩy mạnh đầu tư công - so với mức tăng trưởng cơ sở lần lượt là 8,7%/năm; 9,3%/năm và 8,5%/năm. Khu vực dịch vụ được thúc đẩy mạnh mẽ bởi các dịch vụ chất lượng cao và các dịch vụ giá trị gia tăng cao, với tốc độ tăng trưởng đạt 9,5%/năm so với mức cơ sở khoảng 7,5%/năm.
Sử dụng các công cụ định lượng và phân tích dữ liệu Bảng I/O, Nhóm Nghiên cứu xác định 17 ngành, lĩnh vực động lực/ưu tiên (chiếm trên 70% GDP toàn nền kinh tế), dựa trên hai nhóm tiêu chí: (1) Ngành có mức độ lan tỏa đến giá trị gia tăng toàn nền kinh tế cao; (2) Ngành có quy mô lớn, ảnh hưởng mạnh đến tăng trưởng kinh tế (theo xu hướng hiện nay). Trên cơ sở đó, chia thành bốn nhóm ngành, tương ứng với bốn nhóm định hướng phát triển, gồm:
Nhóm ngành dẫn dắt: gồm các ngành, lĩnh vực có độ lan tỏa cao, quy mô lớn, như tài chính - ngân hàng; năng lượng; bán buôn, bán lẻ; vận tải, kho bãi và logistics; nông, lâm, thủy sản.
Nhóm ngành cần thúc đẩy: gồm các ngành có độ lan tỏa mạnh, nhưng quy mô nhỏ, có triển vọng tăng trưởng mạnh, đó là RD và hoạt động khoa học, công nghệ; du lịch và lưu trú; dịch vụ ăn uống; bất động sản.
Nhóm ngành cần nâng cấp chất lượng và vị thế trong chuỗi giá trị: trong đó đặc biệt bao gồm nhóm ngành công nghệ số như điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học, viễn thông; xây dựng; sản xuất kim loại và sản phẩm kim loại. Những ngành này hiện nay có đóng góp lớn trong GDP. Một số ngành xuất khẩu cao nhưng nhập khẩu rất lớn, giá trị gia tăng đóng góp trong nước còn thấp, đòi hỏi phải nâng cao chất lượng, gia tăng vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Nhóm ngành nền tảng, tạo việc làm: gồm nhóm ngành sản xuất, chế biến thực phẩm; dệt may; da giày và sản phẩm liên quan; sản xuất hóa chất, sản phẩm hóa chất. Mặc dù độ lan tỏa tới giá trị gia tăng toàn nền kinh tế còn hạn chế, song đây là nhóm ngành có khả năng giải quyết vấn đề căn cốt về việc làm trong tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026 – 2030.
Tính toán chi tiết của Nhóm nghiên cứu cho thấy các ngành động lực nêu trên phải có các điều chỉnh rất lớn, tăng trưởng rất thực chất mới có thể đóng góp, thúc đẩy mức tăng trưởng chung 10%/năm của cả nước. Trong đó, lĩnh vực bán buôn, bán lẻ phải điều chỉnh tăng trưởng tới 3,2 điểm phần trăm so với kịch bản cơ sở, từ mức 7,6%/năm (kịch bản cơ sở) lên 10,8% (kịch bản mục tiêu), tương ứng mức điều chỉnh 3,4 điểm phần trăm so với tăng trưởng bình quân giai đoạn 2021-2025 (7,4%/năm); đạt mức đóng góp 1,03 điểm phần trăm trong tăng trưởng GDP toàn nền kinh tế.
Lĩnh vực năng lượng với mức điều chỉnh 3,7 điểm phần trăm so với kịch bản cơ sở. Lĩnh vực vận tải, kho bãi và logistics với mức điều chỉnh 2 điểm phần trăm so với kịch bản cơ sở. Lĩnh vực điện tử, máy tính, sản phẩm quang học điều chỉnh mạnh với mức tăng thêm 4 điểm phần trăm so với kịch bản cơ sở và 4,4 điểm phần trăm so với mức tăng trưởng khá cao hiện nay (10,6%/năm),…
Kinh nghiệm thực tiễn từ các quốc gia trong giai đoạn tăng trưởng cao chỉ ra rằng nhu cầu về vốn để duy trì đà phát triển là vô cùng lớn.
Để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức 10%/năm, đồng thời giảm mạnh hệ số ICOR từ 6,5 xuống 4,7 – tương ứng với sự gia tăng đột phá hiệu quả sử dụng vốn, kết quả tính toán cho thấy, tổng nhu cầu vốn đầu tư phát triển trong 5 năm tới khoảng 1.463 tỷ USD (tương đương 38,6 triệu tỷ đồng – gấp khoảng 2,1 lần giai đoạn 2021-2025), chiếm khoảng 40,01% GDP, trung bình mỗi năm cần khoảng 292,6 tỷ USD.
Cơ cấu nguồn vốn được định hướng phân bổ dựa trên các trụ cột chính: Đầu tư từ khu vực nhà nước chiếm khoảng 29%, trong đó, đầu tư công là 22,2% (khoảng 8,58 triệu tỷ đồng); đầu tư từ khu vực FDI khoảng 218 tỷ USD, chiếm khoảng 15,0% - là một yêu cầu khá thách thức trong bối cảnh hiện nay; đầu tư từ khu vực tư nhân phải đảm đương tới 56,0% tổng nhu cầu vốn đầu tư phát triển.
Xem xét các kênh cung ứng vốn cho nền kinh tế cho thấy vốn tín dụng ngân hàng hiện vẫn là kênh dẫn vốn lớn nhất, chiếm tỷ trọng từ 48-50%; tiếp sau là đầu tư công (16-18%); FDI (15-16%); trái phiếu doanh nghiệp và IPO (12-13%) và cuối cùng là vốn tự có của doanh nghiệp tư nhân và nguồn khác (khoảng 4-5%). Có thể thấy mô hình dẫn vốn dựa vào hệ thống ngân hàng (bank-based) khá rõ. Kênh dẫn vốn qua thị trường vốn còn quá khiêm tốn, chưa thực hiện tốt vai trò kênh dẫn vốn dài hạn của nền kinh tế.
Tính toán của Nhóm nghiên cứu cho thấy hệ số tương quan giữa dư nợ tín dụng và tổng vốn đầu tư phát triển khá lớn, lên tới 4,5-5. Giả định, tương quan này vẫn tiếp diễn trong 2026-2030, với mục tiêu tăng trưởng 10%/năm, nhu cầu vốn đầu tư tương đương 40% GDP, khi đó nhu cầu vốn tín dụng tăng mạnh, dẫn tới dư nợ tín dụng có thể lên đến 180-200%GDP – ẩn chứa nhiều rủi ro, gây áp lực mạnh lên hệ thống ngân hàng và ổn định kinh tế vĩ mô.
Theo đó, yêu cầu đặt ra là cần có sự kiểm soát chặt chẽ dòng vốn tín dụng nhằm gia tăng tỷ lệ vốn sử dụng vào sản xuất hay gia tăng tỷ lệ tạo lập tài sản cố định; đồng thời, định hướng các chính sách, giải pháp chiến lược để kích thích khu vực doanh nghiệp, nhà đầu tư huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán và các quỹ nhằm giảm áp lực với tín dụng ngân hàng.
Một vấn đề cốt lõi cần được xem xét kỹ lưỡng đó là khả năng hấp thụ vốn thực tế của nền kinh tế. Mặc dù dự thảo Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết về tăng trưởng hai con số đặt mục tiêu tổng vốn đầu tư toàn xã hội ở mức 40% GDP, nhưng các tính toán định lượng cho thấy hiệu quả chuyển đổi vốn còn hạn chế. Tính toán ban đầu của Nhóm nghiên cứu cho thấy để đạt được mục tiêu tăng trưởng như kỳ vọng, tổng vốn đầu tư toàn xã hội cần huy động phải ở mức cao hơn, cần khoảng 47% GDP thay vì 40% như dự kiến hiện nay. Điều này đặt ra yêu cầu cấp bách về việc phải tính toán chính xác tỷ lệ vốn thực sự hấp thụ vào sản xuất để tạo ra tăng trưởng thực chất.
Bên cạnh nguồn lực tài chính, mục tiêu tăng trưởng 10%/năm còn phụ thuộc chặt chẽ vào việc nâng cao năng suất nội tại. Trong bối cảnh tốc độ tăng trưởng lao động đang có xu hướng chậm lại, áp lực đóng góp từ các nhân tố tổng hợp (TFP) là rất lớn. Kết quả tính toán của Nhóm nghiên cứu chỉ ra rằng để đủ sức hiện thực hóa mục tiêu 10%/năm, đóng góp của TFP phải đạt trên 57% và năng suất lao động xã hội phải tăng trưởng mạnh mẽ trên mức 8,7% mỗi năm.
Nhằm tháo gỡ những nút thắt lớn nhất, khơi thông các điểm nghẽn cho quá trịnh hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số, Nhóm nghiên cứu Ban Chính sách, chiến lược Trung ương đề xuất bốn nhóm giải pháp chính.
Thứ nhất, đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô trong mọi tình huống, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn là một yêu cầu quan trọng. Đánh giá các kịch bản lạm phát cho thấy lạm phát và kỳ vọng lạm phát ổn định ở mức thấp là một điều kiện quan trọng để duy trì tăng trưởng nhanh và bền vững trong giai đoạn 2026-2030.
Kịch bản thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế 10%/năm đòi hỏi lạm phát duy trì ổn định khoảng 4%/năm. Nếu lạm phát cao sẽ làm giảm ý nghĩa của tăng trưởng kinh tế và người dân không được hưởng thành quả tương xứng từ tăng trưởng kinh tế. Ổn định lạm phát sẽ tạo điều kiện cho các cải cách thể chế kinh tế và giúp tín hiệu phân bổ nguồn lực trên thị trường ít bị “méo mó”, đồng thời thúc đẩy phát triển dịch vụ tài chính – ngân hàng.
Phối hợp đồng bộ, hiệu quả giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ trên cơ sở “phân vai” cụ thể hơn.
Theo đó, chính sách tài khóa tập trung vào thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thông qua thúc đẩy giải ngân đầu tư công vào các lĩnh vực trọng điểm, có tính lan tỏa cao, các dự án chiến lược, liên kết vùng; tăng chi chuyển giao hỗ trợ tiêu dùng của người dân; giảm thuế hỗ trợ cho các ngành gắn với chuyển đổi số, chuyển đổi xanh; hỗ trợ tiêu dùng của hộ gia đình.
Chính sách tiền tệ linh hoạt, chặt chẽ, tập trung vào ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và phối hợp hiệu quả với chính sách tài khóa. Thực hiện truyền thông chính sách về ổn định lạm phát và ổn định tỷ giá; điều tiết cung tiền hợp lý gắn với mặt bằng lãi suất phù hợp, bảo đảm lãi suất thực dương ít nhất 1%/năm. Duy trì tăng trưởng tín dụng hợp lý (khoảng 15-18%) gắn với phân bổ tín dụng tập trung vào các ngành sản xuất; thử nghiệm có kiểm soát các cơ chế tín dụng cho các lĩnh vực mới (tín dụng xanh, tín dụng dựa trên quyền sở hữu trí tuệ); rà soát và tăng cường tính độc lập tương đối của Ngân hàng Nhà nước,...
Thứ hai, thay đổi mạnh mẽ cách thức huy động nguồn lực tài chính cho nền kinh tế. (1) Thúc đẩy huy động tài chính trên thị trường vốn, thông qua phát hành trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu chính phủ và cổ phiếu, nhằm cân bằng với vai trò huy động vốn dài hạn qua hệ thống ngân hàng (bank-based) hiện nay, với một số yêu cầu cụ thể: nâng hạng tín nhiệm quốc gia (lên mức Investment Grade) - rất quan trọng với huy động vốn quốc gia và thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Đa dạng sản phẩm, đặc biệt là các sản phẩm mới (cố phiếu doanh nghiệp công nghệ số; doanh nghiệp dịch vụ (du lịch, giải trí, truyền thông). Thực hiện mục tiêu nâng hạng thị trường mới nổi MSCI. Có khung khổ quy định, cở mở hơn về tài sản đảm bảo trong phát hành TPDN.
(2) Phát triển ngành quỹ trên cơ sở có sự thay đổi tư duy, nhìn nhận đúng vai trò của ngành quỹ đối với thị trường vốn và nền kinh tế. Bổ sung, xây dựng, điều chỉnh quy định pháp luật liên quan, tạo khung khổ thể chế để phát triển ngành quỹ. Phát triển một số loại hình quỹ phổ biến như: các quỹ mở, quỹ hưu trí tự nguyện, quỹ hạ tầng, quỹ thúc đẩy kinh tế tư nhân/quỹ phát triển doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, các quỹ đầu tư quốc gia, quỹ chuyển đổi xanh...
(3) Thực hiện huy động vốn thông qua một số kênh huy động mới, như: thí điểm thị trường carbon; trung tâm tài chính quốc tế; thị trường tài sản mã hóa. Có tư duy mở hơn đối với các định chế cho vay tổng hợp – cấp tín dụng dưới dạng kênh huy động vốn trung, dài hạn.
Thứ ba, tháo gỡ vướng mắc về chính sách. Trong đó, (1) cần đơn giản hóa các thủ tục, đảm bảo hỗ trợ nhanh, gọn cho doanh nghiệp. Đặc biệt, (2) cần sớm thể chế hóa các chính sách để tháo gỡ khó khăn cho các dự án tồn đọng, chậm triển khai ở các địa phương. Hiện nay Bộ Chính trị đã có Kết luận 182-KL/TW nhưng ở các địa phương vẫn còn rất vướng. (3) Gỡ vướng cho các quỹ khoa học địa phương. Hiện nay các quỹ khoa học địa phương đến tháng 11/2025 mới chỉ giải ngân khoảng 585 tỷ đồng, con số quá thấp so với yêu cầu; quỹ đầu tư cũng chưa phát huy hiệu quả.
Mô hình quỹ khoa học, công nghệ của các địa phương phải có sự thay đổi, cải tiến thì mới đưa được nguồn vốn hiện có vào trong khoa học, công nghệ của các địa phương. Vận hành mô hình quỹ khoa học, công nghệ phải có đổi mới về tư duy và chính sách đột phá, có cơ chế PPP mới trong khoa học, công nghệ.
Thứ tư, làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống, kích thích các động lực tăng trưởng mới. (1) Thay đổi chiến lược và mô hình xuất khẩu. Thực hiện tiến quân vào thị trường bằng các chương trình “Go globle” cụ thể, đồng thời thay đổi phương thức hỗ trợ doanh nghiệp trong xuất khẩu, thông qua hỗ trợ thị trường, logistic, bảo hiểm, tư vấn và hỗ trợ kết nối với các tập đoàn đa quốc gia.
(2) Lựa chọn các dự án lớn, động lực của các địa phương. (3) Có chiến lược phát triển phù hợp với các ngành kinh tế động lực, trong đó, thúc đẩy phát triển các ngành các ngành dẫn dắt, các ngành có khả năng lan tỏa cao, như du lịch, RD, logistics, năng lượng, tài chính - ngân hàng. Nâng cấp chất lượng, giá trị gia tăng các ngành điện tử, công nghiệp công nghệ số; dệt may, da giày; chế biến thực phẩm... Trong giai đoạn đầu tăng trưởng cao, cho phép thúc đẩy các ngành trong lĩnh vực xây dựng, bất động sản.
(4) Thúc đẩy phát triển các mô hình kinh tế mới, các ngành kinh tế mới. Trong đó, hoàn thiện cơ chế thử nghiệm để hỗ trợ phát triển các ngành kinh tế mới như kinh tế không gian vũ trụ, kinh tế tầm thấp,... các mô hình kinh tế mới, kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn. Xây dựng cơ chế, chính sách khai thác không gian vũ trụ, không gian ngầm, không gian biển. Phát triển công nghiệp đường sắt, công nghiệp ứng dụng năng lượng nguyên tử, lượng tử.
Xây dựng các chương trình, đề án nghiên cứu khoa học có tính đột phá đối với 11 nhóm công nghệ chiến lược; xây dựng các cơ sở nghiên cứu và phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao như điện tử, chíp bán dẫn, trí tuệ nhân tạo.
(5) Các giải pháp khác: khai thác tốt không gian tăng trưởng mới; phát triển mạnh thị trường trong nước, kích cầu tiêu dùng thông các hội chợ quy mô lớn về thương mại, công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ; phát huy vai trò các khu thương mại tự do, Trung tâm tài chính quốc tế trong thu hút vốn đầu tư, công nghệ.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 51-52-2025 phát hành ngày 22-29/12/2025. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://vneconomy.vn/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-5152-2025.htm
-
Đột phá vốn và năng suất để bứt phá tăng trưởng hai con số
Năm 2025, sự lãnh đạo sâu sát của Đảng cùng sự điều hành quyết liệt, chủ động từ Chính phủ, kinh tế Việt Nam đã vượt qua những “cơn gió ngược” trước bối cảnh kinh tế thế giới phục hồi chậm, phân mảnh thương mại gia tăng, xung đột địa chính trị kéo dài, rủi ro tài chính – tiền tệ toàn cầu hiện hữu và trước những ảnh hưởng nghiêm trọng từ thiên tai, bão lũ.
Nhiều quyết sách quan trọng đã được đưa ra. Bộ Chính trị đã ban hành 7 nghị quyết lớn, quan trọng, Quốc hội đã thông qua 47 luật, 8 nghị quyết ngay tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV, Chính phủ đã ban hành và trình ban hành một loạt các dự án luật và các văn bản quy phạm pháp luật, đánh dấu một bước đột phá về thế chế, chính sách và khung khổ pháp luật.
Một dấu mốc quan trọng nữa là công cuộc “sắp xếp lại giang sơn” và nỗ lực đổi mới mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, nỗ lực thúc đẩy phát triển mạnh mẽ cơ sở hạ tầng với hàng loạt các dự án chiến lược quy mô lớn, quan trọng, có tính lan tỏa và định hình cho tương lai được triển khai.
Nhờ đó, tăng trưởng GDP năm 2025 ước đạt khoảng 8,01% (theo tính toán của Nhóm nghiên cứu Ban Chính sách, chiến lược Trung ương với các số liệu đến thời điểm hiện tại), thuộc nhóm cao trong khu vực và trên thế giới.
Công nghiệp tiếp tục giữ vai trò động lực, dẫn dắt tăng trưởng kinh tế với mức tăng đạt khoảng 9,1%, đóng góp 2,72 điểm phần trăm vào tăng trưởng GDP. Đặc biệt, công nghiệp chế biến, chế tạo phục hồi mạnh, tăng trưởng khoảng 9,74%, đóng góp khoảng 2,3 điểm phần trăm vào tăng trưởng GDP, nhờ sự phục hồi của các ngành xuất khẩu chủ lực và sự gia tăng dòng vốn FDI chất lượng cao.
Khu vực dịch vụ tăng tốc rõ nét với tăng trưởng đạt khoảng 8,05%, đóng góp 3,56 điểm phần trăm vào tăng trưởng GDP, nhiều ngành đạt mức tăng trưởng hai con số, phản ánh sự phục hồi của cầu nội địa, du lịch, thương mại và các dịch vụ giá trị gia tăng cao.
Lĩnh vực xây dựng tăng trưởng cao, đạt khoảng 11%, đóng góp 0,73 điểm phần trăm, nhờ đầu tư công và các dự án hạ tầng chiến lược quy mô lớn được đẩy mạnh. Nông nghiệp tiếp tục là trụ đỡ ổn định, tăng trưởng tích cực, đạt khoảng 3,92%, trong bối cảnh chịu tác động của nhiều đợt thiên tai, bão lũ.
Một điểm rất tích cực của năm 2025 là sự phục hồi đồng bộ của các yếu tố tăng trưởng phía cầu. Theo tính toán của Nhóm nghiên cứu, tiêu dùng, xuất nhập khẩu, tích lũy tài sản cố định đều đạt được mức tăng trưởng rất ấn tượng so với các giai đoạn trước. Trong đó, tiêu dùng cuối cùng dự kiến đạt tốc độ tăng trưởng khoảng 8,07%, đóng góp 5,13 điểm phần trăm vào tăng trưởng GDP. Thu nhập cải thiện, lạm phát được kiểm soát tạo nền tảng cho sức mua trong nước.
Xuất nhập khẩu đạt tốc độ tăng trưởng cao dù chịu nhiều áp lực từ các chính sách thuế quan thương mại, quy mô thương mại đạt mức kỷ lục gần 900 tỷ USD, đưa Việt Nam tiếp tục nằm trong nhóm 20 nền kinh tế thương mại hàng đầu thế giới. Tích lũy tài sản tăng mạnh cùng với dòng vốn đầu đầu tư lớn. Tốc độ tăng trưởng tích lũy tài sản 2025 đạt khoảng 8,5%, đóng góp 3,06 điểm phần trăm trong tăng trưởng GDP.
Tổng vốn đầu tư phát triển tăng mạnh, ước khoảng 13,5%. Trong đó, đầu tư công giữ vai trò dẫn dắt, quy mô vốn đầu tư công thực hiện dự kiến đạt mức rất cao, khoảng gần 900 nghìn tỷ đồng, tăng 28,6% so với năm 2024, tập trung vào các dự án hạ tầng chiến lược như cao tốc Bắc – Nam, sân bay Long Thành, các cảng biển và hạ tầng năng lượng. Tính toán của Nhóm nghiên cứu Ban Chính sách, chiến lược Trung ương cho thấy với mức đầu tư công tăng cao năm 2025 giúp tăng trưởng kinh tế gia tăng thêm khoảng 0,587 điểm phần trăm so với kịch bản cơ sở.
Đầu tư tư nhân phục hồi mạnh, tăng khoảng 9,2% so với năm 2024 (mức cao nhất trong 5 năm qua), phản ánh tiềm lực và niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp đang cải thiện. FDI liên tục tạo các kỷ lục, giải ngân đạt mức cao, chất lượng dòng vốn tốt hơn với khoảng 70% số vốn đăng ký mới tập trung vào lĩnh vực công nghệ cao, chip, bán dẫn, công nghệ mới và năng lượng tái tạo.
Năng suất lao động cải thiện mạnh, đóng góp khoảng 6,9 điểm phần trăm vào tăng trưởng GDP. Đặc biệt, năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) tăng cao, đạt tốc độ tăng khoảng 3,76%, đóng góp gần 47% vào tăng trưởng năm 2025 – mức cao so với giai đoạn trước, phản ánh sự chuyển dịch tích cực của mô hình tăng trưởng, với năng suất, hiệu quả gia tăng rõ nét.
Ổn định kinh tế vĩ mô tiếp tục được giữ vững. Lạm phát bình quân năm 2025 được kiểm soát ở mức 3,2–3,5%, nhờ sự điều hành linh hoạt, phù hợp, cùng với sự hỗ trợ của xu hướng giảm giá dầu và giảm các áp lực lạm phát toàn cầu. Nợ công giảm về khoảng 35–36% GDP, thấp hơn đáng kể so với trần cho phép, củng cố an ninh tài chính quốc gia. Tuy nhiên, tỷ giá USD/VND chịu áp lực khá lớn trong bối cảnh chênh lệch lãi suất quốc tế. Dư nợ tín dụng ở mức cao, dự kiến tiệm cận mức 145-148% GDP.
Trên cơ sở các đánh giá, dự báo của các tổ chức kinh tế toàn cầu, Nhóm nghiên cứu Ban Chính sách, chiến lược Trung ương xây dựng ba kịch bản dự báo tăng trưởng kinh tế, thương mại và đầu tư toàn cầu, gồm: kịch bản kém thuận lợi, kịch bản thuận lợi và kịch bản rất thuận lợi. Ở cả ba kịch bản, dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới có thể tăng nhẹ, đạt mức 2,9-3,3%/năm, song chưa vững chắc, đà phục hồi diễn ra chậm chạp.
Cường độ của các rủi ro địa chính trị, xu hướng bảo hộ thương mại và quá trình tái định hình chuỗi cung ứng toàn cầu sẽ tiếp tục gây sức ép lên triển vọng thương mại và đầu tư toàn cầu. Áp lực nợ công và lạm phát toàn cầu ngày càng rõ nét. Bên cạnh đó, một số xu hướng mới đang hình thành và tác động đến kinh tế toàn cầu, như xu hướng hình thành các FTA và các cơ chế hợp tác khu vực mới và xu hướng tăng mạnh đầu tư phát triển và kiểm soát, chống thất thoát công nghệ chiến lược ở một số quốc gia.
Kinh tế Việt Nam, theo đó, đứng trước nhiều cơ hội và thách thức đan xen. Trong đó, Việt Nam có cơ hội lớn để đón nhận làn sóng dịch chuyển đầu tư chất lượng cao, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ, năng lượng xanh, kinh tế số và công nghiệp hỗ trợ. Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ tạo cơ hội cho Việt Nam “bắt nhịp” bứt phá phát triển.
Cạnh tranh chiến lược thúc đẩy các quốc gia tìm kiếm đối tác mới, tạo điều kiện cho Việt Nam tham gia sâu hơn vào các chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu, không chỉ lắp ráp mà còn ở các khâu có giá trị cao hơn như RD, thiết kế, marketing. Vấn đề then chốt là khả năng tận dụng các cơ hội đó, thông qua cải cách thể chế, nâng cao năng lực cạnh tranh và chất lượng nguồn nhân lực.
Tuy nhiên, Nhóm nghiên cứu cũng nhận diện và chỉ ra một số thách thức rất lớn đối với Việt Nam. Đó là, mô hình tăng trưởng của chúng ta mặc dù đã có nhiều đổi mới nhưng nhìn chung vẫn chưa giải quyết được sự thay đổi căn bản. Mô hình tăng trưởng thương mại theo chiều rộng khiến Việt Nam chịu nhiều áp lực rủi ro cao từ rào cản thuế quan của các nước. Việt Nam cũng là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nghiêm trọng từ biến đổi khí hậu.
Bên cạnh đó, nguy cơ “bị bỏ lại phía sau” nếu quá trình “bắt nhịp”, “đón bắt” các công nghệ không thành công. Để thực hiện mục tiêu tăng trưởng cao, nhu cầu huy động nguồn lực tài chính là rất lớn. Trong khi Việt Nam vẫn tiếp tục đối mặt với một số vấn đề mang tính cấu trúc, nội tại của nền kinh tế.
Trên cơ sở phân tích, đánh giá đầy đủ các yếu tố tác động, các điều kiện nền tảng cho tăng trưởng và phát triến kinh tế, Nhóm Nghiên cứu Ban Chính sách, chiến lược Trung ương đưa ra ba kịch bản tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2026- 2030, gồm:
(1) Kịch bản cơ sở, giả định duy trì xu hướng phát triển hiện tại, chưa tạo được đột phá mạnh mẽ về thể chế, năng suất và các điều kiện về nguồn lực phát triển. Dự báo tăng trưởng GDP đạt khoảng 7,5%/năm, lạm phát ở mức dưới 4%; quy mô GDP đến năm 2030 đạt khoảng 21,9 triệu tỷ đồng, GDP bình quân đầu người dự báo đạt mức 7.500 USD.
(2) Kịch bản chuyển tiếp, giả định có sự cải thiện rõ nét hơn các điều kiện phát triển, huy động nguồn lực cho đầu tư tăng trưởng tăng cao, công nghiệp chế biến, chế tạo, dịch vụ chất lượng cao và chuyển đổi số tăng mạnh. Theo đó, tốc độ tăng trưởng GDP có thể đạt khoảng 8,5%/năm, lạm phát duy trì khoảng 4%; quy mô GDP đến năm 2030 ước đạt khoảng 23,1 triệu tỷ đồng; GDP bình quân đầu người ước đạt 7.800 USD.
(3) Kịch bản mục tiêu, yêu cầu tăng trưởng hai con số, khoảng 10%/năm; lạm phát dự kiến ở mức 4-4,5%; quy mô GDP đến năm 2030 ước đạt 24,6 triệu tỷ đồng; GDP bình quân đầu người dự báo đạt mức 8.500 USD. Điều kiện tiên quyết ở kịch bản này là sự bứt phá về mọi mặt: cải cách thể chế, vốn đầu tư, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và năng suất.
Để đạt được mục tiêu tăng trưởng hai con số, đòi hỏi sự cải thiện mạnh mẽ ở cả ba khu vực. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản cần duy trì mức tăng trưởng khá cao, 3,5%/năm so với mức tăng trưởng cơ sở khoảng 3%/năm. Đây là áp lực rất là lớn trong thời gian tới đối với lĩnh vực nông nghiệp. Khu vực công nghiệp – xây dựng cần tăng trưởng mạnh, khoảng 12,4%/năm, trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo bứt phá, tăng trưởng khoảng 12,9%/năm và lĩnh vực xây dựng tăng trưởng đột phá ở mức 12,5%/năm nhờ đẩy mạnh đầu tư công - so với mức tăng trưởng cơ sở lần lượt là 8,7%/năm; 9,3%/năm và 8,5%/năm. Khu vực dịch vụ được thúc đẩy mạnh mẽ bởi các dịch vụ chất lượng cao và các dịch vụ giá trị gia tăng cao, với tốc độ tăng trưởng đạt 9,5%/năm so với mức cơ sở khoảng 7,5%/năm.
Sử dụng các công cụ định lượng và phân tích dữ liệu Bảng I/O, Nhóm Nghiên cứu xác định 17 ngành, lĩnh vực động lực/ưu tiên (chiếm trên 70% GDP toàn nền kinh tế), dựa trên hai nhóm tiêu chí: (1) Ngành có mức độ lan tỏa đến giá trị gia tăng toàn nền kinh tế cao; (2) Ngành có quy mô lớn, ảnh hưởng mạnh đến tăng trưởng kinh tế (theo xu hướng hiện nay). Trên cơ sở đó, chia thành bốn nhóm ngành, tương ứng với bốn nhóm định hướng phát triển, gồm:
Nhóm ngành dẫn dắt: gồm các ngành, lĩnh vực có độ lan tỏa cao, quy mô lớn, như tài chính - ngân hàng; năng lượng; bán buôn, bán lẻ; vận tải, kho bãi và logistics; nông, lâm, thủy sản.
Nhóm ngành cần thúc đẩy: gồm các ngành có độ lan tỏa mạnh, nhưng quy mô nhỏ, có triển vọng tăng trưởng mạnh, đó là RD và hoạt động khoa học, công nghệ; du lịch và lưu trú; dịch vụ ăn uống; bất động sản.
Nhóm ngành cần nâng cấp chất lượng và vị thế trong chuỗi giá trị: trong đó đặc biệt bao gồm nhóm ngành công nghệ số như điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học, viễn thông; xây dựng; sản xuất kim loại và sản phẩm kim loại. Những ngành này hiện nay có đóng góp lớn trong GDP. Một số ngành xuất khẩu cao nhưng nhập khẩu rất lớn, giá trị gia tăng đóng góp trong nước còn thấp, đòi hỏi phải nâng cao chất lượng, gia tăng vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Nhóm ngành nền tảng, tạo việc làm: gồm nhóm ngành sản xuất, chế biến thực phẩm; dệt may; da giày và sản phẩm liên quan; sản xuất hóa chất, sản phẩm hóa chất. Mặc dù độ lan tỏa tới giá trị gia tăng toàn nền kinh tế còn hạn chế, song đây là nhóm ngành có khả năng giải quyết vấn đề căn cốt về việc làm trong tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026 – 2030.
Tính toán chi tiết của Nhóm nghiên cứu cho thấy các ngành động lực nêu trên phải có các điều chỉnh rất lớn, tăng trưởng rất thực chất mới có thể đóng góp, thúc đẩy mức tăng trưởng chung 10%/năm của cả nước. Trong đó, lĩnh vực bán buôn, bán lẻ phải điều chỉnh tăng trưởng tới 3,2 điểm phần trăm so với kịch bản cơ sở, từ mức 7,6%/năm (kịch bản cơ sở) lên 10,8% (kịch bản mục tiêu), tương ứng mức điều chỉnh 3,4 điểm phần trăm so với tăng trưởng bình quân giai đoạn 2021-2025 (7,4%/năm); đạt mức đóng góp 1,03 điểm phần trăm trong tăng trưởng GDP toàn nền kinh tế.
Lĩnh vực năng lượng với mức điều chỉnh 3,7 điểm phần trăm so với kịch bản cơ sở. Lĩnh vực vận tải, kho bãi và logistics với mức điều chỉnh 2 điểm phần trăm so với kịch bản cơ sở. Lĩnh vực điện tử, máy tính, sản phẩm quang học điều chỉnh mạnh với mức tăng thêm 4 điểm phần trăm so với kịch bản cơ sở và 4,4 điểm phần trăm so với mức tăng trưởng khá cao hiện nay (10,6%/năm),…
Kinh nghiệm thực tiễn từ các quốc gia trong giai đoạn tăng trưởng cao chỉ ra rằng nhu cầu về vốn để duy trì đà phát triển là vô cùng lớn.
Để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức 10%/năm, đồng thời giảm mạnh hệ số ICOR từ 6,5 xuống 4,7 – tương ứng với sự gia tăng đột phá hiệu quả sử dụng vốn, kết quả tính toán cho thấy, tổng nhu cầu vốn đầu tư phát triển trong 5 năm tới khoảng 1.463 tỷ USD (tương đương 38,6 triệu tỷ đồng – gấp khoảng 2,1 lần giai đoạn 2021-2025), chiếm khoảng 40,01% GDP, trung bình mỗi năm cần khoảng 292,6 tỷ USD.
Cơ cấu nguồn vốn được định hướng phân bổ dựa trên các trụ cột chính: Đầu tư từ khu vực nhà nước chiếm khoảng 29%, trong đó, đầu tư công là 22,2% (khoảng 8,58 triệu tỷ đồng); đầu tư từ khu vực FDI khoảng 218 tỷ USD, chiếm khoảng 15,0% - là một yêu cầu khá thách thức trong bối cảnh hiện nay; đầu tư từ khu vực tư nhân phải đảm đương tới 56,0% tổng nhu cầu vốn đầu tư phát triển.
Xem xét các kênh cung ứng vốn cho nền kinh tế cho thấy vốn tín dụng ngân hàng hiện vẫn là kênh dẫn vốn lớn nhất, chiếm tỷ trọng từ 48-50%; tiếp sau là đầu tư công (16-18%); FDI (15-16%); trái phiếu doanh nghiệp và IPO (12-13%) và cuối cùng là vốn tự có của doanh nghiệp tư nhân và nguồn khác (khoảng 4-5%). Có thể thấy mô hình dẫn vốn dựa vào hệ thống ngân hàng (bank-based) khá rõ. Kênh dẫn vốn qua thị trường vốn còn quá khiêm tốn, chưa thực hiện tốt vai trò kênh dẫn vốn dài hạn của nền kinh tế.
Tính toán của Nhóm nghiên cứu cho thấy hệ số tương quan giữa dư nợ tín dụng và tổng vốn đầu tư phát triển khá lớn, lên tới 4,5-5. Giả định, tương quan này vẫn tiếp diễn trong 2026-2030, với mục tiêu tăng trưởng 10%/năm, nhu cầu vốn đầu tư tương đương 40% GDP, khi đó nhu cầu vốn tín dụng tăng mạnh, dẫn tới dư nợ tín dụng có thể lên đến 180-200%GDP – ẩn chứa nhiều rủi ro, gây áp lực mạnh lên hệ thống ngân hàng và ổn định kinh tế vĩ mô.
Theo đó, yêu cầu đặt ra là cần có sự kiểm soát chặt chẽ dòng vốn tín dụng nhằm gia tăng tỷ lệ vốn sử dụng vào sản xuất hay gia tăng tỷ lệ tạo lập tài sản cố định; đồng thời, định hướng các chính sách, giải pháp chiến lược để kích thích khu vực doanh nghiệp, nhà đầu tư huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán và các quỹ nhằm giảm áp lực với tín dụng ngân hàng.
Một vấn đề cốt lõi cần được xem xét kỹ lưỡng đó là khả năng hấp thụ vốn thực tế của nền kinh tế. Mặc dù dự thảo Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết về tăng trưởng hai con số đặt mục tiêu tổng vốn đầu tư toàn xã hội ở mức 40% GDP, nhưng các tính toán định lượng cho thấy hiệu quả chuyển đổi vốn còn hạn chế. Tính toán ban đầu của Nhóm nghiên cứu cho thấy để đạt được mục tiêu tăng trưởng như kỳ vọng, tổng vốn đầu tư toàn xã hội cần huy động phải ở mức cao hơn, cần khoảng 47% GDP thay vì 40% như dự kiến hiện nay. Điều này đặt ra yêu cầu cấp bách về việc phải tính toán chính xác tỷ lệ vốn thực sự hấp thụ vào sản xuất để tạo ra tăng trưởng thực chất.
Bên cạnh nguồn lực tài chính, mục tiêu tăng trưởng 10%/năm còn phụ thuộc chặt chẽ vào việc nâng cao năng suất nội tại. Trong bối cảnh tốc độ tăng trưởng lao động đang có xu hướng chậm lại, áp lực đóng góp từ các nhân tố tổng hợp (TFP) là rất lớn. Kết quả tính toán của Nhóm nghiên cứu chỉ ra rằng để đủ sức hiện thực hóa mục tiêu 10%/năm, đóng góp của TFP phải đạt trên 57% và năng suất lao động xã hội phải tăng trưởng mạnh mẽ trên mức 8,7% mỗi năm.
Nhằm tháo gỡ những nút thắt lớn nhất, khơi thông các điểm nghẽn cho quá trịnh hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số, Nhóm nghiên cứu Ban Chính sách, chiến lược Trung ương đề xuất bốn nhóm giải pháp chính.
Thứ nhất, đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô trong mọi tình huống, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn là một yêu cầu quan trọng. Đánh giá các kịch bản lạm phát cho thấy lạm phát và kỳ vọng lạm phát ổn định ở mức thấp là một điều kiện quan trọng để duy trì tăng trưởng nhanh và bền vững trong giai đoạn 2026-2030.
Kịch bản thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế 10%/năm đòi hỏi lạm phát duy trì ổn định khoảng 4%/năm. Nếu lạm phát cao sẽ làm giảm ý nghĩa của tăng trưởng kinh tế và người dân không được hưởng thành quả tương xứng từ tăng trưởng kinh tế. Ổn định lạm phát sẽ tạo điều kiện cho các cải cách thể chế kinh tế và giúp tín hiệu phân bổ nguồn lực trên thị trường ít bị “méo mó”, đồng thời thúc đẩy phát triển dịch vụ tài chính – ngân hàng.
Phối hợp đồng bộ, hiệu quả giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ trên cơ sở “phân vai” cụ thể hơn.
Theo đó, chính sách tài khóa tập trung vào thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thông qua thúc đẩy giải ngân đầu tư công vào các lĩnh vực trọng điểm, có tính lan tỏa cao, các dự án chiến lược, liên kết vùng; tăng chi chuyển giao hỗ trợ tiêu dùng của người dân; giảm thuế hỗ trợ cho các ngành gắn với chuyển đổi số, chuyển đổi xanh; hỗ trợ tiêu dùng của hộ gia đình.
Chính sách tiền tệ linh hoạt, chặt chẽ, tập trung vào ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và phối hợp hiệu quả với chính sách tài khóa. Thực hiện truyền thông chính sách về ổn định lạm phát và ổn định tỷ giá; điều tiết cung tiền hợp lý gắn với mặt bằng lãi suất phù hợp, bảo đảm lãi suất thực dương ít nhất 1%/năm. Duy trì tăng trưởng tín dụng hợp lý (khoảng 15-18%) gắn với phân bổ tín dụng tập trung vào các ngành sản xuất; thử nghiệm có kiểm soát các cơ chế tín dụng cho các lĩnh vực mới (tín dụng xanh, tín dụng dựa trên quyền sở hữu trí tuệ); rà soát và tăng cường tính độc lập tương đối của Ngân hàng Nhà nước,...
Thứ hai, thay đổi mạnh mẽ cách thức huy động nguồn lực tài chính cho nền kinh tế. (1) Thúc đẩy huy động tài chính trên thị trường vốn, thông qua phát hành trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu chính phủ và cổ phiếu, nhằm cân bằng với vai trò huy động vốn dài hạn qua hệ thống ngân hàng (bank-based) hiện nay, với một số yêu cầu cụ thể: nâng hạng tín nhiệm quốc gia (lên mức Investment Grade) - rất quan trọng với huy động vốn quốc gia và thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Đa dạng sản phẩm, đặc biệt là các sản phẩm mới (cố phiếu doanh nghiệp công nghệ số; doanh nghiệp dịch vụ (du lịch, giải trí, truyền thông). Thực hiện mục tiêu nâng hạng thị trường mới nổi MSCI. Có khung khổ quy định, cở mở hơn về tài sản đảm bảo trong phát hành TPDN.
(2) Phát triển ngành quỹ trên cơ sở có sự thay đổi tư duy, nhìn nhận đúng vai trò của ngành quỹ đối với thị trường vốn và nền kinh tế. Bổ sung, xây dựng, điều chỉnh quy định pháp luật liên quan, tạo khung khổ thể chế để phát triển ngành quỹ. Phát triển một số loại hình quỹ phổ biến như: các quỹ mở, quỹ hưu trí tự nguyện, quỹ hạ tầng, quỹ thúc đẩy kinh tế tư nhân/quỹ phát triển doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, các quỹ đầu tư quốc gia, quỹ chuyển đổi xanh...
(3) Thực hiện huy động vốn thông qua một số kênh huy động mới, như: thí điểm thị trường carbon; trung tâm tài chính quốc tế; thị trường tài sản mã hóa. Có tư duy mở hơn đối với các định chế cho vay tổng hợp – cấp tín dụng dưới dạng kênh huy động vốn trung, dài hạn.
Thứ ba, tháo gỡ vướng mắc về chính sách. Trong đó, (1) cần đơn giản hóa các thủ tục, đảm bảo hỗ trợ nhanh, gọn cho doanh nghiệp. Đặc biệt, (2) cần sớm thể chế hóa các chính sách để tháo gỡ khó khăn cho các dự án tồn đọng, chậm triển khai ở các địa phương. Hiện nay Bộ Chính trị đã có Kết luận 182-KL/TW nhưng ở các địa phương vẫn còn rất vướng. (3) Gỡ vướng cho các quỹ khoa học địa phương. Hiện nay các quỹ khoa học địa phương đến tháng 11/2025 mới chỉ giải ngân khoảng 585 tỷ đồng, con số quá thấp so với yêu cầu; quỹ đầu tư cũng chưa phát huy hiệu quả.
Mô hình quỹ khoa học, công nghệ của các địa phương phải có sự thay đổi, cải tiến thì mới đưa được nguồn vốn hiện có vào trong khoa học, công nghệ của các địa phương. Vận hành mô hình quỹ khoa học, công nghệ phải có đổi mới về tư duy và chính sách đột phá, có cơ chế PPP mới trong khoa học, công nghệ.
Thứ tư, làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống, kích thích các động lực tăng trưởng mới. (1) Thay đổi chiến lược và mô hình xuất khẩu. Thực hiện tiến quân vào thị trường bằng các chương trình “Go globle” cụ thể, đồng thời thay đổi phương thức hỗ trợ doanh nghiệp trong xuất khẩu, thông qua hỗ trợ thị trường, logistic, bảo hiểm, tư vấn và hỗ trợ kết nối với các tập đoàn đa quốc gia.
(2) Lựa chọn các dự án lớn, động lực của các địa phương. (3) Có chiến lược phát triển phù hợp với các ngành kinh tế động lực, trong đó, thúc đẩy phát triển các ngành các ngành dẫn dắt, các ngành có khả năng lan tỏa cao, như du lịch, RD, logistics, năng lượng, tài chính - ngân hàng. Nâng cấp chất lượng, giá trị gia tăng các ngành điện tử, công nghiệp công nghệ số; dệt may, da giày; chế biến thực phẩm... Trong giai đoạn đầu tăng trưởng cao, cho phép thúc đẩy các ngành trong lĩnh vực xây dựng, bất động sản.
(4) Thúc đẩy phát triển các mô hình kinh tế mới, các ngành kinh tế mới. Trong đó, hoàn thiện cơ chế thử nghiệm để hỗ trợ phát triển các ngành kinh tế mới như kinh tế không gian vũ trụ, kinh tế tầm thấp,... các mô hình kinh tế mới, kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn. Xây dựng cơ chế, chính sách khai thác không gian vũ trụ, không gian ngầm, không gian biển. Phát triển công nghiệp đường sắt, công nghiệp ứng dụng năng lượng nguyên tử, lượng tử.
Xây dựng các chương trình, đề án nghiên cứu khoa học có tính đột phá đối với 11 nhóm công nghệ chiến lược; xây dựng các cơ sở nghiên cứu và phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao như điện tử, chíp bán dẫn, trí tuệ nhân tạo.
(5) Các giải pháp khác: khai thác tốt không gian tăng trưởng mới; phát triển mạnh thị trường trong nước, kích cầu tiêu dùng thông các hội chợ quy mô lớn về thương mại, công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ; phát huy vai trò các khu thương mại tự do, Trung tâm tài chính quốc tế trong thu hút vốn đầu tư, công nghệ.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 51-52-2025 phát hành ngày 22-29/12/2025. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://vneconomy.vn/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-5152-2025.htm
-
Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2025 (VEPF): Định hình mô hình tăng trưởng mới
Năm 2025 khép lại trong bối cảnh bức tranh kinh tế toàn cầu đan xen những khó khăn và thuận lợi, trong đó khó khăn được đánh giá là lớn hơn thuận lợi. Diễn biến phức tạp của tình hình địa chính trị tại nhiều khu vực, cùng xu hướng gia tăng các chính sách bảo hộ thương mại tại một số quốc gia đã ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động thương mại, đầu tư và chuỗi cung ứng toàn cầu, qua đó tác động đến nền kinh tế nước ta.
Với một nền kinh tế có độ mở lớn, Việt Nam tiếp tục đối mặt với nhiều thách thức. Đó là năng lực và khả năng thích ứng của doanh nghiệp trong chuỗi giá trị còn hạn chế, trong khi các tác động của biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và các hiện tượng thời tiết cực đoan ngày càng rõ nét, ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất, kinh doanh, đời sống kinh tế – xã hội và sinh kế của người dân.
Trong bối cảnh đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự ủng hộ của Quốc hội và sự chỉ đạo, điều hành chủ động, quyết liệt, linh hoạt và hiệu quả của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, kinh tế – xã hội Việt Nam tiếp tục đạt được những kết quả nổi bật. Tăng trưởng kinh tế được thúc đẩy mạnh mẽ, dự kiến cả năm 2025 đạt trên 8%, đưa Việt Nam vào nhóm các nền kinh tế tăng trưởng nhanh trên thế giới. Cùng với đó, ổn định kinh tế vĩ mô được giữ vững, lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm.
Các chính sách phát triển kinh tế gắn với an sinh xã hội tiếp tục được triển khai, góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Những kết quả này phản ánh nỗ lực đồng bộ của hệ thống chính trị, sự sáng tạo và thích ứng của cộng đồng doanh nghiệp, cùng với sự đồng thuận, ủng hộ của các tầng lớp nhân dân trong quá trình thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội.
Dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng xác định mục tiêu phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2026–2030 từ 10%/năm trở lên. Trong bối cảnh hiện nay, việc hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng năm 2026 và giai đoạn 2026–2030 đặt ra yêu cầu rất cao, đòi hỏi phải định hình lại tư duy phát triển, xác lập mô hình tăng trưởng mới; đồng thời, tạo lập các động lực tăng trưởng mới gắn với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh.
Trên cơ sở đó, việc tổ chức triển khai các giải pháp cần được thực hiện một cách quyết liệt, hiệu quả, nhằm phát huy tối đa các động lực tăng trưởng truyền thống như đầu tư, xuất khẩu và tiêu dùng; đồng thời, làm mới và nâng cao chất lượng các động lực này trong bối cảnh mới.
Thực hiện chỉ đạo của Bộ Chính trị, với sự quan tâm chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và Lãnh đạo Quốc hội, Đảng ủy Chính phủ và Ban Chính sách, chiến lược Trung ương đã đồng chủ trì tổ chức Diễn đàn cấp cao Kinh tế Việt Nam với chủ đề “Kinh tế Việt Nam phát triển nhanh, bền vững, chuyển đổi xanh trong kỷ nguyên số”. Diễn đàn được tổ chức với quy mô gồm một phiên toàn thể cấp cao và hai phiên chuyên đề, kết hợp hình thức tham dự trực tiếp và trực tuyến tại điểm cầu của 34 tỉnh, thành phố.
Các nội dung thảo luận tại Diễn đàn tập trung vào một số trụ cột chính sách lớn, gắn với yêu cầu phát triển nhanh, bền vững và chuyển đổi mô hình tăng trưởng trong giai đoạn 2026–2030.
Thứ nhất, nhấn mạnh yêu cầu nhận diện các lĩnh vực, quy định cần ưu tiên thể chế hóa trong thời gian tới, nhằm hiện đại hóa quản trị quốc gia gắn với nâng cao hiệu quả thực thi. Trong giai đoạn 2026–2030, thể chế được xác định là nguồn lực chủ đạo, có vai trò mở đường cho việc huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong mô hình tăng trưởng mới. Việc hoàn thiện thể chế không chỉ nhằm tháo gỡ các rào cản, điểm nghẽn hiện hữu, mà còn tạo lập khuôn khổ pháp lý thuận lợi cho các mô hình kinh tế mới phát triển.
Thứ hai, tập trung lắng nghe các kiến nghị cụ thể, thực chất liên quan đến việc nâng cao năng lực tự chủ và khả năng vươn lên của doanh nghiệp tư nhân trong nước. Các nội dung thảo luận hướng tới việc tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ mới nổi và công nghệ chiến lược. Mục tiêu đặt ra là từng bước hình thành các doanh nghiệp, thương hiệu và sản phẩm Việt Nam có vị thế trên bản đồ công nghệ và chuỗi giá trị toàn cầu.
Thứ ba, thảo luận các giải pháp nhằm bảo đảm tăng trưởng nhanh đi đôi với bền vững và ổn định kinh tế vĩ mô. Trong đó, các cơ chế, chính sách đột phá, vượt trội, có tính “thân thiện” với phát triển được xem là điều kiện cần thiết để thúc đẩy các mô hình kinh tế mới và các dự án trọng điểm trong các lĩnh vực như kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế không gian tầm thấp và kinh tế dữ liệu. Việc xây dựng các chính sách phù hợp được kỳ vọng sẽ tạo động lực mới cho tăng trưởng, đồng thời nâng cao chất lượng và sức chống chịu của nền kinh tế.
Thứ tư, nhận diện các hành động chiến lược để các địa phương khai thác hiệu quả không gian phát triển mới. Việc thực hiện phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm giải trình, cùng với việc tận dụng các cơ chế thử nghiệm, cơ chế đặc thù, được xem là yếu tố quan trọng để củng cố vai trò của các cực tăng trưởng và thúc đẩy phát triển vùng thông qua đầu tư hạ tầng kết nối liên vùng và nội vùng.
Thứ năm, trao đổi về việc thúc đẩy các quan hệ đối tác nhiều bên vì sự phát triển và thịnh vượng của Việt Nam. Trong đó, các giải pháp “làm mới” quan hệ đối tác với các đối tác phát triển, thúc đẩy quan hệ đối tác công – tư, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp và các viện nghiên cứu, cũng như hợp tác giữa các khu vực doanh nghiệp được đặt trong phương châm “cùng đồng hành, cùng sáng tạo, cùng phát triển”.
Bên cạnh các nội dung trên, Diễn đàn cũng thảo luận sâu về bối cảnh, các kịch bản phát triển và yêu cầu định hướng giải pháp nhằm thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số trong năm 2026 và giai đoạn 2026–2030. Các nội dung trao đổi cho thấy việc đạt được mục tiêu này là một nhiệm vụ thách thức, song có cơ sở khả thi từ những thời cơ và thuận lợi mới, cùng với quyết tâm chính trị và nỗ lực của toàn hệ thống.
Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững, Việt Nam cần xây dựng chiến lược và kế hoạch hành động tổng thể, huy động và sử dụng hiệu quả tất cả các nguồn lực. Trong đó, việc phát triển thị trường vốn theo hướng cân bằng, toàn diện, hội nhập và hiện đại theo chuẩn mực quốc tế được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, nhằm đáp ứng nhu cầu huy động nguồn lực tài chính với quy mô lớn cho giai đoạn phát triển tới.
Cùng với đó, việc tiếp tục thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Đảng được nhấn mạnh nhằm bảo đảm thể chế thực sự trở thành nguồn lực chủ đạo cho phát triển. Trên cơ sở đó, các nút thắt, điểm nghẽn trong quá trình phát triển được tháo gỡ, tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận và hiện thực hóa các mô hình kinh tế mới, từ kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn đến kinh tế số, kinh tế dữ liệu và các lĩnh vực mới nổi khác.
Diễn đàn cũng đề cập đến yêu cầu tiếp tục làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống, bao gồm đầu tư, xuất khẩu và tiêu dùng, đồng thời kết hợp chặt chẽ với việc tạo lập các động lực tăng trưởng mới dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Việc khai thác cân bằng và hiệu quả các động lực này, trong một môi trường thể chế kiến tạo, được xem là điều kiện quan trọng để bảo đảm tăng trưởng nhanh và bền vững trong dài hạn.
Trong bối cảnh đó, vai trò của các địa phương được đặt ra rõ nét hơn, với yêu cầu xây dựng quy hoạch và các giải pháp triển khai đồng bộ nhằm khai thác hiệu quả các không gian phát triển mới, các cực tăng trưởng. Đồng thời, sự đồng hành và hợp tác hiệu quả của các đối tác quốc tế, đặc biệt trong các lĩnh vực chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển kinh tế tuần hoàn, tiếp tục được xem là yếu tố quan trọng giúp Việt Nam tiệm cận và áp dụng các thông lệ quốc tế tốt hơn.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 51-52-2025 phát hành ngày 22-29/12/2025. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://vneconomy.vn/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-5152-2025.htm
-
Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2025 (VEPF): Định hình mô hình tăng trưởng mới
Năm 2025 khép lại trong bối cảnh bức tranh kinh tế toàn cầu đan xen những khó khăn và thuận lợi, trong đó khó khăn được đánh giá là lớn hơn thuận lợi. Diễn biến phức tạp của tình hình địa chính trị tại nhiều khu vực, cùng xu hướng gia tăng các chính sách bảo hộ thương mại tại một số quốc gia đã ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động thương mại, đầu tư và chuỗi cung ứng toàn cầu, qua đó tác động đến nền kinh tế nước ta.
Với một nền kinh tế có độ mở lớn, Việt Nam tiếp tục đối mặt với nhiều thách thức. Đó là năng lực và khả năng thích ứng của doanh nghiệp trong chuỗi giá trị còn hạn chế, trong khi các tác động của biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và các hiện tượng thời tiết cực đoan ngày càng rõ nét, ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất, kinh doanh, đời sống kinh tế – xã hội và sinh kế của người dân.
Trong bối cảnh đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự ủng hộ của Quốc hội và sự chỉ đạo, điều hành chủ động, quyết liệt, linh hoạt và hiệu quả của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, kinh tế – xã hội Việt Nam tiếp tục đạt được những kết quả nổi bật. Tăng trưởng kinh tế được thúc đẩy mạnh mẽ, dự kiến cả năm 2025 đạt trên 8%, đưa Việt Nam vào nhóm các nền kinh tế tăng trưởng nhanh trên thế giới. Cùng với đó, ổn định kinh tế vĩ mô được giữ vững, lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm.
Các chính sách phát triển kinh tế gắn với an sinh xã hội tiếp tục được triển khai, góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Những kết quả này phản ánh nỗ lực đồng bộ của hệ thống chính trị, sự sáng tạo và thích ứng của cộng đồng doanh nghiệp, cùng với sự đồng thuận, ủng hộ của các tầng lớp nhân dân trong quá trình thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội.
Dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng xác định mục tiêu phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2026–2030 từ 10%/năm trở lên. Trong bối cảnh hiện nay, việc hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng năm 2026 và giai đoạn 2026–2030 đặt ra yêu cầu rất cao, đòi hỏi phải định hình lại tư duy phát triển, xác lập mô hình tăng trưởng mới; đồng thời, tạo lập các động lực tăng trưởng mới gắn với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh.
Trên cơ sở đó, việc tổ chức triển khai các giải pháp cần được thực hiện một cách quyết liệt, hiệu quả, nhằm phát huy tối đa các động lực tăng trưởng truyền thống như đầu tư, xuất khẩu và tiêu dùng; đồng thời, làm mới và nâng cao chất lượng các động lực này trong bối cảnh mới.
Thực hiện chỉ đạo của Bộ Chính trị, với sự quan tâm chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và Lãnh đạo Quốc hội, Đảng ủy Chính phủ và Ban Chính sách, chiến lược Trung ương đã đồng chủ trì tổ chức Diễn đàn cấp cao Kinh tế Việt Nam với chủ đề “Kinh tế Việt Nam phát triển nhanh, bền vững, chuyển đổi xanh trong kỷ nguyên số”. Diễn đàn được tổ chức với quy mô gồm một phiên toàn thể cấp cao và hai phiên chuyên đề, kết hợp hình thức tham dự trực tiếp và trực tuyến tại điểm cầu của 34 tỉnh, thành phố.
Các nội dung thảo luận tại Diễn đàn tập trung vào một số trụ cột chính sách lớn, gắn với yêu cầu phát triển nhanh, bền vững và chuyển đổi mô hình tăng trưởng trong giai đoạn 2026–2030.
Thứ nhất, nhấn mạnh yêu cầu nhận diện các lĩnh vực, quy định cần ưu tiên thể chế hóa trong thời gian tới, nhằm hiện đại hóa quản trị quốc gia gắn với nâng cao hiệu quả thực thi. Trong giai đoạn 2026–2030, thể chế được xác định là nguồn lực chủ đạo, có vai trò mở đường cho việc huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong mô hình tăng trưởng mới. Việc hoàn thiện thể chế không chỉ nhằm tháo gỡ các rào cản, điểm nghẽn hiện hữu, mà còn tạo lập khuôn khổ pháp lý thuận lợi cho các mô hình kinh tế mới phát triển.
Thứ hai, tập trung lắng nghe các kiến nghị cụ thể, thực chất liên quan đến việc nâng cao năng lực tự chủ và khả năng vươn lên của doanh nghiệp tư nhân trong nước. Các nội dung thảo luận hướng tới việc tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ mới nổi và công nghệ chiến lược. Mục tiêu đặt ra là từng bước hình thành các doanh nghiệp, thương hiệu và sản phẩm Việt Nam có vị thế trên bản đồ công nghệ và chuỗi giá trị toàn cầu.
Thứ ba, thảo luận các giải pháp nhằm bảo đảm tăng trưởng nhanh đi đôi với bền vững và ổn định kinh tế vĩ mô. Trong đó, các cơ chế, chính sách đột phá, vượt trội, có tính “thân thiện” với phát triển được xem là điều kiện cần thiết để thúc đẩy các mô hình kinh tế mới và các dự án trọng điểm trong các lĩnh vực như kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế không gian tầm thấp và kinh tế dữ liệu. Việc xây dựng các chính sách phù hợp được kỳ vọng sẽ tạo động lực mới cho tăng trưởng, đồng thời nâng cao chất lượng và sức chống chịu của nền kinh tế.
Thứ tư, nhận diện các hành động chiến lược để các địa phương khai thác hiệu quả không gian phát triển mới. Việc thực hiện phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm giải trình, cùng với việc tận dụng các cơ chế thử nghiệm, cơ chế đặc thù, được xem là yếu tố quan trọng để củng cố vai trò của các cực tăng trưởng và thúc đẩy phát triển vùng thông qua đầu tư hạ tầng kết nối liên vùng và nội vùng.
Thứ năm, trao đổi về việc thúc đẩy các quan hệ đối tác nhiều bên vì sự phát triển và thịnh vượng của Việt Nam. Trong đó, các giải pháp “làm mới” quan hệ đối tác với các đối tác phát triển, thúc đẩy quan hệ đối tác công – tư, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp và các viện nghiên cứu, cũng như hợp tác giữa các khu vực doanh nghiệp được đặt trong phương châm “cùng đồng hành, cùng sáng tạo, cùng phát triển”.
Bên cạnh các nội dung trên, Diễn đàn cũng thảo luận sâu về bối cảnh, các kịch bản phát triển và yêu cầu định hướng giải pháp nhằm thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số trong năm 2026 và giai đoạn 2026–2030. Các nội dung trao đổi cho thấy việc đạt được mục tiêu này là một nhiệm vụ thách thức, song có cơ sở khả thi từ những thời cơ và thuận lợi mới, cùng với quyết tâm chính trị và nỗ lực của toàn hệ thống.
Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững, Việt Nam cần xây dựng chiến lược và kế hoạch hành động tổng thể, huy động và sử dụng hiệu quả tất cả các nguồn lực. Trong đó, việc phát triển thị trường vốn theo hướng cân bằng, toàn diện, hội nhập và hiện đại theo chuẩn mực quốc tế được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, nhằm đáp ứng nhu cầu huy động nguồn lực tài chính với quy mô lớn cho giai đoạn phát triển tới.
Cùng với đó, việc tiếp tục thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Đảng được nhấn mạnh nhằm bảo đảm thể chế thực sự trở thành nguồn lực chủ đạo cho phát triển. Trên cơ sở đó, các nút thắt, điểm nghẽn trong quá trình phát triển được tháo gỡ, tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận và hiện thực hóa các mô hình kinh tế mới, từ kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn đến kinh tế số, kinh tế dữ liệu và các lĩnh vực mới nổi khác.
Diễn đàn cũng đề cập đến yêu cầu tiếp tục làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống, bao gồm đầu tư, xuất khẩu và tiêu dùng, đồng thời kết hợp chặt chẽ với việc tạo lập các động lực tăng trưởng mới dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Việc khai thác cân bằng và hiệu quả các động lực này, trong một môi trường thể chế kiến tạo, được xem là điều kiện quan trọng để bảo đảm tăng trưởng nhanh và bền vững trong dài hạn.
Trong bối cảnh đó, vai trò của các địa phương được đặt ra rõ nét hơn, với yêu cầu xây dựng quy hoạch và các giải pháp triển khai đồng bộ nhằm khai thác hiệu quả các không gian phát triển mới, các cực tăng trưởng. Đồng thời, sự đồng hành và hợp tác hiệu quả của các đối tác quốc tế, đặc biệt trong các lĩnh vực chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển kinh tế tuần hoàn, tiếp tục được xem là yếu tố quan trọng giúp Việt Nam tiệm cận và áp dụng các thông lệ quốc tế tốt hơn.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 51-52-2025 phát hành ngày 22-29/12/2025. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://vneconomy.vn/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-5152-2025.htm
-
Kinh tế Việt Nam: Sức chống chịu kiên cường, sẵn sàng cho kỷ nguyên tăng trưởng mới
Trên cơ sở xác định rõ xu thế tất yếu, không thể đảo ngược của chuyển đổi xanh trong kỷ nguyên số, Việt Nam xác định rõ “chuyển đổi kép: xanh hóa và số hóa” là yêu cầu khách quan, là lựa chọn chiến lược, là ưu tiên đầu tư phát triển; vừa là nền tảng, vừa tạo động lực thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững của đất nước nói chung và nền kinh tế nói riêng.
Đảng, Nhà nước, Chính phủ Việt Nam luôn đặc biệt quan tâm và ban hành nhiều chủ trương, cơ chế, chính sách để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững dựa trên cơ sở nền tảng "chuyển đổi kép: xanh hóa và số hóa".
Nghị quyết Đại hội XIII xác định rõ: "Tiếp tục phát triển nhanh và bền vững đất nước"; "đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số trên nền tảng khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo"; "xây dựng nền kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, thân thiện với môi trường".
Bộ Chính trị đã tiếp tục ban hành và cụ thể hóa các quyết sách quan trọng trong các lĩnh vực trụ cột, chiến lược, gồm các Nghị quyết số: 57, 59, 66, 68, 70, 71, 72; đang xây dựng và chuẩn bị ban hành các nghị quyết về kinh tế nhà nước, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và văn hóa.
Song song với việc thông qua các đạo luật, Việt Nam còn ban hành các nghị quyết để kịp thời thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, với phương châm “không cầu toàn, không nóng vội nhưng không bỏ lỡ cơ hội”. Đây là sự đổi mới về tư duy, cách làm.
Đặc biệt, Nghị quyết số 57-NQ/TW nhấn mạnh phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu; thúc đẩy chuyển đổi số, nghiên cứu, chuyển giao công nghệ xanh, công nghệ phát thải thấp; kiến tạo phát triển các mô hình kinh tế mới, kinh tế số, kinh tế xanh; chuyển dịch mạnh mẽ từ năng lượng hóa thạch sang năng lượng tái tạo (gió, mặt trời, hydro xanh); phát triển hệ sinh thái công nghiệp năng lượng sạch,…
Tình hình thế giới, khu vực diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường, trong đó có những vấn đề chưa có tiền lệ, vượt dự báo như cạnh tranh chiến lược, xung đột quân sự, xu hướng đầu tư, thương mại toàn cầu tăng trưởng chậm lại, thiên tai và biến đổi khí hậu ảnh hưởng nặng nề đến các nước. Nhìn chung, khó khăn thách thức nhiều hơn cơ hội.
Đối với Việt Nam, nhờ sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, tình hình kinh tế - xã hội đất nước đạt nhiều kết quả nổi bật, khá toàn diện, cao hơn năm 2024 trên tất cả các lĩnh vực, như Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhận định: "Bức tranh kinh tế - xã hội đất nước năm 2025 với gam màu sáng là chủ đạo".
Nổi bật là kinh tế Việt Nam thể hiện sức chống chịu kiên cường và đạt tốc độ tăng trưởng thuộc nhóm cao hàng đầu khu vực, thế giới. GDP năm 2025 dự kiến tăng trên 8%, đưa quy mô nền kinh tế lên khoảng 510 tỷ USD, xếp thứ 32 thế giới; thu nhập bình quân đầu người khoảng 5.000 USD, đưa Việt Nam bước vào nhóm thu nhập trung bình cao.
Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn được bảo đảm; nợ công, bội chi ngân sách nhà nước được kiểm soát tốt, thấp hơn nhiều giới hạn cho phép. Chính phủ quan niệm đầu tư là có thể phải đi vay, nhưng quan trọng là phải có hiệu quả và có khả năng trả nợ.
Việt Nam kiểm soát tốt lạm phát trong cả giai đoạn 2021-2025, trong bối cảnh lạm phát toàn cầu neo ở mức cao. Thu ngân sách nhà nước ước vượt khoảng 25% so với dự toán, tương đương khoảng hơn 500 nghìn tỷ đồng; quy mô thương mại năm 2025 dự kiến đạt kỷ lục trên 900 tỷ USD…
Ba đột phá chiến lược được triển khai quyết liệt, hiệu quả, theo hướng “thể chế thông thoáng, hạ tầng thông suốt, quản trị và nguồn nhân lực thông minh”. Hiện tại, kết quả từ nỗ lực trên được thể hiện thông qua các công trình như hệ thống đường cao tốc tạo thành hành lang kinh tế quan trọng, bến cảng, sân bay, hạ tầng số được đầu tư. Việt Nam cũng cương quyết không để thiếu điện, đảm bảo niềm tin của nhà đầu tư.
Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia được triển khai quyết liệt, đạt kết quả bước đầu quan trọng. Hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo có bước phát triển mạnh mẽ; Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia và Trung tâm dữ liệu quốc gia đi vào hoạt động hiệu quả. Tỷ trọng kinh tế số năm 2025 đạt khoảng 20% GDP. Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu của Việt Nam năm 2025 xếp hạng 44/139 quốc gia, vùng lãnh thổ.
Triển khai quyết liệt, hiệu quả việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy của Chính phủ và tổ chức chính quyền địa phương hai cấp gắn với đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, phân bổ nguồn lực, nâng cao năng lực thực thi và tăng cường giám sát, kiểm tra.
Các lĩnh vực văn hóa, xã hội phát triển; đời sống vật chất, tinh thần của người dân tiếp tục được nâng lên. Giai đoạn 2021-2025, chi khoảng 1,1 triệu tỷ đồng cho an sinh xã hội, chiếm 17% tổng chi ngân sách nhà nước. Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm từ 4,4% năm 2021 xuống còn 1,3% năm 2025. Cơ bản hoàn thành xóa nhà tạm, nhà dột nát trên cả nước. Triển khai tích cực xây dựng 1 triệu căn hộ cho người thu nhập thấp.
Chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được củng cố, tăng cường; trật tự an toàn xã hội được bảo đảm. Đối ngoại và hội nhập quốc tế là điểm sáng, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển đất nước.
Nhiệm kỳ này đã chứng tỏ kinh tế Việt Nam đủ sức chống chịu với các cú sốc từ bên ngoài như đại dịch Covid-19 và hậu quả; chiến tranh, xung đột, đứt gãy các chuỗi cung ứng; chính sách tiền tệ thắt chặt của các nước; chính sách thuế quan phức tạp; tăng trưởng toàn cầu giảm, lạm phát toàn cầu tăng. Đây là những "cơn gió ngược" mà Việt Nam đã vượt qua để đạt được những thành quả như trên.
Trong năm 2026, khái quát tình hình thế giới: chính trị phân cực, kinh tế phân tách, thể chế phân mảnh, phát triển phân hóa.
Đối với Việt Nam, sau gần 40 năm Đổi mới và hội nhập, cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước được nâng lên, là nền tảng quan trọng để đất nước vươn mình trong kỷ nguyên phát triển mới. Việt Nam xác định rõ thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen, nhưng khó khăn, thách thức nhiều hơn.
Tình hình thế giới tiềm ẩn nhiều rủi ro, trong khi nền kinh tế Việt Nam có độ mở lớn; chất lượng tăng trưởng còn hạn chế, còn dựa vào thâm dụng lao động giá rẻ, tài nguyên và vốn; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo chưa thực sự là động lực của tăng trưởng và cần thời gian để phát huy hiệu quả hơn; thể chế, chính sách vẫn còn vướng mắc, cần tiếp tục hoàn thiện xử lý các "điểm nghẽn"; Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng lớn nhất bởi tác động của các thảm họa thiên tai, biến đổi khí hậu. Riêng các cơn bão lũ liên tiếp vừa qua đã gây thiệt hại khoảng 100 nghìn tỷ đồng.
Nông nghiệp đã giúp Việt Nam thoát đói nghèo sau cuộc chiến tranh tàn khốc; công nghiệp đã giúp Việt Nam có thu nhập trung bình cao. Thời gian tới, Việt Nam xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh sẽ đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững, trở thành nước phát triển có thu nhập cao.
Về mục tiêu chiến lược, Việt Nam kiên định, nhất quán tập trung thực hiện hai mục tiêu chiến lược 100 năm, phấn đấu đến năm 2030, trở thành một nước đang phát triển công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; năm 2045 là nước phát triển, thu nhập cao.
Để đạt được hai mục tiêu chiến lược nêu trên, Việt Nam xác định rõ ổn định là pháo đài bất khả xâm phạm; phát triển nhanh, bền vững là động cơ vĩnh cửu, không có điểm dừng; giàu mạnh, ấm no, hạnh phúc của người dân là mục tiêu cao nhất; không hy sinh tiến bộ, công bằng, an sinh xã hội, môi trường để chạy theo tăng trưởng đơn thuần.
Theo đó, thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững trên nền tảng "chuyển đổi kép: xanh hóa và số hóa", phấn đấu tăng trưởng đạt hai con số gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế; chú trọng nâng cao khả năng chống chịu, sức cạnh tranh của nền kinh tế; nâng cao năng lực phân tích, dự báo, chủ động ứng phó linh hoạt, kịp thời, hiệu quả với các biến động bên ngoài.
Đẩy mạnh thực hiện đột phá chiến lược về thể chế, biến điểm nghẽn của điểm nghẽn trở thành lợi thế cạnh tranh quốc gia, giảm chi phí tuân thủ cho người dân và doanh nghiệp. Đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao; ưu tiên các ngành mũi nhọn về khoa học, công nghệ, quản trị thông minh, khoa học cơ bản và các lĩnh vực ưu tiên, mới nổi. Tập trung xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng chiến lược thông suốt đồng bộ, hiện đại; qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho chuyển đổi số, chuyển đổi xanh.
Làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống và thúc đẩy mạnh mẽ các động lực tăng trưởng mới. Trong đó, tập trung triển khai quyết liệt Nghị quyết số 57-NQ/TW; đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh; chú trọng phát triển các ngành công nghiệp bán dẫn, AI, năng lượng sạch, trung tâm dữ liệu; xây dựng trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do…
Xây dựng các chương trình, đề án nghiên cứu khoa học có tính đột phá đối với 11 nhóm công nghệ chiến lược; xây dựng đồng bộ cơ sở dữ liệu về đất đai, khoáng sản, đưa dữ liệu thành tài nguyên; xây dựng các cơ sở nghiên cứu và phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao như điện tử, chíp bán dẫn, trí tuệ nhân tạo…
Khai thác tốt các không gian phát triển mới thông qua các dự án hạ tầng kết nối liên vùng, phát huy vai trò các mô hình kinh tế mới, khu thương mại tự do, trung tâm tài chính quốc tế trong thu hút vốn đầu tư, công nghệ...
Thúc đẩy, tạo đột phá cho các động lực tăng trưởng mới thông qua hoàn thiện cơ chế thử nghiệm để hỗ trợ phát triển kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn. Xây dựng cơ chế, chính sách phát triển doanh nghiệp công nghệ số; cơ chế khai thác không gian vũ trụ, không gian ngầm, không gian biển; phát triển công nghiệp đường sắt, công nghiệp ứng dụng năng lượng nguyên tử, lượng tử...
Tiếp tục đa dạng hóa các hình thức huy động nguồn lực; thúc đẩy xã hội hóa, thu hút mạnh mẽ nguồn lực đầu tư ngoài nhà nước. Ưu tiên thu hút FDI có chọn lọc, tái cấu trúc xuất khẩu gắn liền với cơ cấu nền kinh tế, sản xuất xanh, tuần hoàn, kết nối với đầu tư trong nước.
Lịch sử dân tộc Việt Nam đã chứng minh, truyền thống của người Việt Nam là càng áp lực lại càng nỗ lực, càng trong gian nan, bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam càng tỏa sáng; để phát triển nhanh, bền vững, phát triển xanh, phát triển số, phải tiếp tục phát huy tinh thần "chỉ bàn làm, không bàn lùi", coi trọng trí tuệ, tiết kiệm thời gian, lựa chọn ưu tiên phù hợp.
Mục tiêu tăng trưởng hai con số của Việt Nam là có nền tảng, có dư địa và khả thi. Với quyết tâm chính trị rất cao, nỗ lực rất lớn, hành động rất quyết liệt, Việt Nam rất mong tiếp tục nhận được sự đồng hành, ủng hộ, hỗ trợ của bạn bè, đối tác quốc tế trong thực hiện khát vọng lớn lao này; qua đó biến khát vọng và niềm tin thành hành động, thành các dự án, sản phẩm cụ thể với hiệu quả đo lường được, cân đong đo đếm được, mang lại hạnh phúc ấm no cho người dân Việt Nam.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 51-52-2025 phát hành ngày 22-29/12/2025. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://vneconomy.vn/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-5152-2025.htm
-
Kinh tế Việt Nam: Sức chống chịu kiên cường, sẵn sàng cho kỷ nguyên tăng trưởng mới
Trên cơ sở xác định rõ xu thế tất yếu, không thể đảo ngược của chuyển đổi xanh trong kỷ nguyên số, Việt Nam xác định rõ “chuyển đổi kép: xanh hóa và số hóa” là yêu cầu khách quan, là lựa chọn chiến lược, là ưu tiên đầu tư phát triển; vừa là nền tảng, vừa tạo động lực thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững của đất nước nói chung và nền kinh tế nói riêng.
Đảng, Nhà nước, Chính phủ Việt Nam luôn đặc biệt quan tâm và ban hành nhiều chủ trương, cơ chế, chính sách để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững dựa trên cơ sở nền tảng "chuyển đổi kép: xanh hóa và số hóa".
Nghị quyết Đại hội XIII xác định rõ: "Tiếp tục phát triển nhanh và bền vững đất nước"; "đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số trên nền tảng khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo"; "xây dựng nền kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, thân thiện với môi trường".
Bộ Chính trị đã tiếp tục ban hành và cụ thể hóa các quyết sách quan trọng trong các lĩnh vực trụ cột, chiến lược, gồm các Nghị quyết số: 57, 59, 66, 68, 70, 71, 72; đang xây dựng và chuẩn bị ban hành các nghị quyết về kinh tế nhà nước, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và văn hóa.
Song song với việc thông qua các đạo luật, Việt Nam còn ban hành các nghị quyết để kịp thời thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, với phương châm “không cầu toàn, không nóng vội nhưng không bỏ lỡ cơ hội”. Đây là sự đổi mới về tư duy, cách làm.
Đặc biệt, Nghị quyết số 57-NQ/TW nhấn mạnh phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu; thúc đẩy chuyển đổi số, nghiên cứu, chuyển giao công nghệ xanh, công nghệ phát thải thấp; kiến tạo phát triển các mô hình kinh tế mới, kinh tế số, kinh tế xanh; chuyển dịch mạnh mẽ từ năng lượng hóa thạch sang năng lượng tái tạo (gió, mặt trời, hydro xanh); phát triển hệ sinh thái công nghiệp năng lượng sạch,…
Tình hình thế giới, khu vực diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường, trong đó có những vấn đề chưa có tiền lệ, vượt dự báo như cạnh tranh chiến lược, xung đột quân sự, xu hướng đầu tư, thương mại toàn cầu tăng trưởng chậm lại, thiên tai và biến đổi khí hậu ảnh hưởng nặng nề đến các nước. Nhìn chung, khó khăn thách thức nhiều hơn cơ hội.
Đối với Việt Nam, nhờ sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, tình hình kinh tế - xã hội đất nước đạt nhiều kết quả nổi bật, khá toàn diện, cao hơn năm 2024 trên tất cả các lĩnh vực, như Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhận định: "Bức tranh kinh tế - xã hội đất nước năm 2025 với gam màu sáng là chủ đạo".
Nổi bật là kinh tế Việt Nam thể hiện sức chống chịu kiên cường và đạt tốc độ tăng trưởng thuộc nhóm cao hàng đầu khu vực, thế giới. GDP năm 2025 dự kiến tăng trên 8%, đưa quy mô nền kinh tế lên khoảng 510 tỷ USD, xếp thứ 32 thế giới; thu nhập bình quân đầu người khoảng 5.000 USD, đưa Việt Nam bước vào nhóm thu nhập trung bình cao.
Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn được bảo đảm; nợ công, bội chi ngân sách nhà nước được kiểm soát tốt, thấp hơn nhiều giới hạn cho phép. Chính phủ quan niệm đầu tư là có thể phải đi vay, nhưng quan trọng là phải có hiệu quả và có khả năng trả nợ.
Việt Nam kiểm soát tốt lạm phát trong cả giai đoạn 2021-2025, trong bối cảnh lạm phát toàn cầu neo ở mức cao. Thu ngân sách nhà nước ước vượt khoảng 25% so với dự toán, tương đương khoảng hơn 500 nghìn tỷ đồng; quy mô thương mại năm 2025 dự kiến đạt kỷ lục trên 900 tỷ USD…
Ba đột phá chiến lược được triển khai quyết liệt, hiệu quả, theo hướng “thể chế thông thoáng, hạ tầng thông suốt, quản trị và nguồn nhân lực thông minh”. Hiện tại, kết quả từ nỗ lực trên được thể hiện thông qua các công trình như hệ thống đường cao tốc tạo thành hành lang kinh tế quan trọng, bến cảng, sân bay, hạ tầng số được đầu tư. Việt Nam cũng cương quyết không để thiếu điện, đảm bảo niềm tin của nhà đầu tư.
Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia được triển khai quyết liệt, đạt kết quả bước đầu quan trọng. Hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo có bước phát triển mạnh mẽ; Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia và Trung tâm dữ liệu quốc gia đi vào hoạt động hiệu quả. Tỷ trọng kinh tế số năm 2025 đạt khoảng 20% GDP. Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu của Việt Nam năm 2025 xếp hạng 44/139 quốc gia, vùng lãnh thổ.
Triển khai quyết liệt, hiệu quả việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy của Chính phủ và tổ chức chính quyền địa phương hai cấp gắn với đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, phân bổ nguồn lực, nâng cao năng lực thực thi và tăng cường giám sát, kiểm tra.
Các lĩnh vực văn hóa, xã hội phát triển; đời sống vật chất, tinh thần của người dân tiếp tục được nâng lên. Giai đoạn 2021-2025, chi khoảng 1,1 triệu tỷ đồng cho an sinh xã hội, chiếm 17% tổng chi ngân sách nhà nước. Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm từ 4,4% năm 2021 xuống còn 1,3% năm 2025. Cơ bản hoàn thành xóa nhà tạm, nhà dột nát trên cả nước. Triển khai tích cực xây dựng 1 triệu căn hộ cho người thu nhập thấp.
Chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được củng cố, tăng cường; trật tự an toàn xã hội được bảo đảm. Đối ngoại và hội nhập quốc tế là điểm sáng, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển đất nước.
Nhiệm kỳ này đã chứng tỏ kinh tế Việt Nam đủ sức chống chịu với các cú sốc từ bên ngoài như đại dịch Covid-19 và hậu quả; chiến tranh, xung đột, đứt gãy các chuỗi cung ứng; chính sách tiền tệ thắt chặt của các nước; chính sách thuế quan phức tạp; tăng trưởng toàn cầu giảm, lạm phát toàn cầu tăng. Đây là những "cơn gió ngược" mà Việt Nam đã vượt qua để đạt được những thành quả như trên.
Trong năm 2026, khái quát tình hình thế giới: chính trị phân cực, kinh tế phân tách, thể chế phân mảnh, phát triển phân hóa.
Đối với Việt Nam, sau gần 40 năm Đổi mới và hội nhập, cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước được nâng lên, là nền tảng quan trọng để đất nước vươn mình trong kỷ nguyên phát triển mới. Việt Nam xác định rõ thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen, nhưng khó khăn, thách thức nhiều hơn.
Tình hình thế giới tiềm ẩn nhiều rủi ro, trong khi nền kinh tế Việt Nam có độ mở lớn; chất lượng tăng trưởng còn hạn chế, còn dựa vào thâm dụng lao động giá rẻ, tài nguyên và vốn; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo chưa thực sự là động lực của tăng trưởng và cần thời gian để phát huy hiệu quả hơn; thể chế, chính sách vẫn còn vướng mắc, cần tiếp tục hoàn thiện xử lý các "điểm nghẽn"; Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng lớn nhất bởi tác động của các thảm họa thiên tai, biến đổi khí hậu. Riêng các cơn bão lũ liên tiếp vừa qua đã gây thiệt hại khoảng 100 nghìn tỷ đồng.
Nông nghiệp đã giúp Việt Nam thoát đói nghèo sau cuộc chiến tranh tàn khốc; công nghiệp đã giúp Việt Nam có thu nhập trung bình cao. Thời gian tới, Việt Nam xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh sẽ đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững, trở thành nước phát triển có thu nhập cao.
Về mục tiêu chiến lược, Việt Nam kiên định, nhất quán tập trung thực hiện hai mục tiêu chiến lược 100 năm, phấn đấu đến năm 2030, trở thành một nước đang phát triển công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; năm 2045 là nước phát triển, thu nhập cao.
Để đạt được hai mục tiêu chiến lược nêu trên, Việt Nam xác định rõ ổn định là pháo đài bất khả xâm phạm; phát triển nhanh, bền vững là động cơ vĩnh cửu, không có điểm dừng; giàu mạnh, ấm no, hạnh phúc của người dân là mục tiêu cao nhất; không hy sinh tiến bộ, công bằng, an sinh xã hội, môi trường để chạy theo tăng trưởng đơn thuần.
Theo đó, thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững trên nền tảng "chuyển đổi kép: xanh hóa và số hóa", phấn đấu tăng trưởng đạt hai con số gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế; chú trọng nâng cao khả năng chống chịu, sức cạnh tranh của nền kinh tế; nâng cao năng lực phân tích, dự báo, chủ động ứng phó linh hoạt, kịp thời, hiệu quả với các biến động bên ngoài.
Đẩy mạnh thực hiện đột phá chiến lược về thể chế, biến điểm nghẽn của điểm nghẽn trở thành lợi thế cạnh tranh quốc gia, giảm chi phí tuân thủ cho người dân và doanh nghiệp. Đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao; ưu tiên các ngành mũi nhọn về khoa học, công nghệ, quản trị thông minh, khoa học cơ bản và các lĩnh vực ưu tiên, mới nổi. Tập trung xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng chiến lược thông suốt đồng bộ, hiện đại; qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho chuyển đổi số, chuyển đổi xanh.
Làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống và thúc đẩy mạnh mẽ các động lực tăng trưởng mới. Trong đó, tập trung triển khai quyết liệt Nghị quyết số 57-NQ/TW; đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh; chú trọng phát triển các ngành công nghiệp bán dẫn, AI, năng lượng sạch, trung tâm dữ liệu; xây dựng trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do…
Xây dựng các chương trình, đề án nghiên cứu khoa học có tính đột phá đối với 11 nhóm công nghệ chiến lược; xây dựng đồng bộ cơ sở dữ liệu về đất đai, khoáng sản, đưa dữ liệu thành tài nguyên; xây dựng các cơ sở nghiên cứu và phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao như điện tử, chíp bán dẫn, trí tuệ nhân tạo…
Khai thác tốt các không gian phát triển mới thông qua các dự án hạ tầng kết nối liên vùng, phát huy vai trò các mô hình kinh tế mới, khu thương mại tự do, trung tâm tài chính quốc tế trong thu hút vốn đầu tư, công nghệ...
Thúc đẩy, tạo đột phá cho các động lực tăng trưởng mới thông qua hoàn thiện cơ chế thử nghiệm để hỗ trợ phát triển kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn. Xây dựng cơ chế, chính sách phát triển doanh nghiệp công nghệ số; cơ chế khai thác không gian vũ trụ, không gian ngầm, không gian biển; phát triển công nghiệp đường sắt, công nghiệp ứng dụng năng lượng nguyên tử, lượng tử...
Tiếp tục đa dạng hóa các hình thức huy động nguồn lực; thúc đẩy xã hội hóa, thu hút mạnh mẽ nguồn lực đầu tư ngoài nhà nước. Ưu tiên thu hút FDI có chọn lọc, tái cấu trúc xuất khẩu gắn liền với cơ cấu nền kinh tế, sản xuất xanh, tuần hoàn, kết nối với đầu tư trong nước.
Lịch sử dân tộc Việt Nam đã chứng minh, truyền thống của người Việt Nam là càng áp lực lại càng nỗ lực, càng trong gian nan, bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam càng tỏa sáng; để phát triển nhanh, bền vững, phát triển xanh, phát triển số, phải tiếp tục phát huy tinh thần "chỉ bàn làm, không bàn lùi", coi trọng trí tuệ, tiết kiệm thời gian, lựa chọn ưu tiên phù hợp.
Mục tiêu tăng trưởng hai con số của Việt Nam là có nền tảng, có dư địa và khả thi. Với quyết tâm chính trị rất cao, nỗ lực rất lớn, hành động rất quyết liệt, Việt Nam rất mong tiếp tục nhận được sự đồng hành, ủng hộ, hỗ trợ của bạn bè, đối tác quốc tế trong thực hiện khát vọng lớn lao này; qua đó biến khát vọng và niềm tin thành hành động, thành các dự án, sản phẩm cụ thể với hiệu quả đo lường được, cân đong đo đếm được, mang lại hạnh phúc ấm no cho người dân Việt Nam.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 51-52-2025 phát hành ngày 22-29/12/2025. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://vneconomy.vn/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-5152-2025.htm
-
Thị trường “lặng sóng” ngày cuối năm
Thanh khoản sàn HoSE sáng nay tương đương sáng hôm qua, ở mức rất thấp với 7.342 tỷ đồng chưa kể thỏa thuận. Nếu tính chung cả HNX, tổng giá trị khớp lệnh giảm nhẹ 2% còn 7.654 tỷ đồng. Mức giao dịch này thậm chí còn nhỏ hơn cả giao dịch của riêng rổ VN30 ở thời điểm sôi động.
Mức thanh khoản rất thấp này không phản ánh tình trạng dòng tiền mà chủ yếu thể hiện tâm lý nghỉ ngơi của nhà đầu tư. Thị trường chỉ còn giao dịch thêm một phiên nữa là bước vào kỳ nghỉ Tết Dương lịch kéo dài 4 ngày. Nếu quan tâm tới hiệu suất đầu tư tính theo năm thì lúc này cũng đã “chốt sổ”. Sau một năm quá nhiều biến động, đặc biệt là 4 tháng cuối năm với hiện tượng “lệch pha” giữa điểm số và danh mục, đây có thể coi là thời điểm nghỉ ngơi để “xả căng thẳng”.
VN-Index chốt phiên sáng nay giảm 0,44% tương đương -7,68 điểm. Nhóm Vin lao dốc mạnh: VIC giảm 1,57%, VHM giảm 2,46%, VPL giảm 4,04%, VRE giảm 2,11%. Chỉ riêng nhóm này đã lấy đi 8,5 điểm, tức là còn nhiều hơn cả mức giảm của chỉ số.
Diễn biến này thực ra là tích cực, khi nhóm trụ làm “méo” điểm số thì càng làm nổi bật sự cân bằng và phân hóa ở các cổ phiếu còn lại. Rổ VN30 vẫn có 12 mã tăng/16 mã giảm và điểm số giảm 0,35%. Ngoài nhóm Vin, chỉ vài mã giảm đáng chú ý là VJC giảm 3,84%, STB giảm 1,67%, PLX giảm 1,51%. Phía tăng giá cũng không tệ, khá nhiều mã mạnh như DGC tăng 2,62%, GVR tăng 2,5%, VPB tăng 1,96%, FPT tăng 1,91%, TPB tăng 1,48%, BID tăng 1,42%. Sự phân hóa về sức mạnh cho thấy ảnh hưởng của nhóm Vin không còn rõ rệt như trước.
Diễn biến VN-Index sáng nay.Mở rộng ra toàn sàn HoSE, diễn biến giảm giá vẫn chiếm ưu thế một chút khi độ rộng ghi nhận 118 mã tăng/174 mã giảm. Tuy vậy rất ít cổ phiếu thực sự có áp lực bán lớn và giảm giá mạnh. Trong 174 mã đỏ có 70 mã giảm quá 1% thì giao dịch chỉ dồn vào chừng 20 cổ phiếu. Từ góc độ thanh khoản, nhóm blue-chips kể trên đã chiếm hầu hết. Một số mã tầm trung khớp vài chục tỷ đồng là CII giảm 1,75%, PVD giảm 2,11%, DIG giảm 1,44%, VND giảm 1,01%, CTD giảm 2,94%, DXG giảm 1,42%... Tính cung 70 cổ phiếu này chiếm khoảng 29,3% tổng giá trị khớp lệnh sàn HoSE, với 82% dồn vào 10 cổ phiếu thanh khoản cao nhất.
Ở phía tăng tình hình cũng không khả quan hơn. Giao dịch chủ đạo chỉ tập trung vào chục mã và cũng là những cổ phiếu blue-chips mạnh nhất. GEE tăng 2,69%, PHR tăng 4,98%, NVL tăng 1,06%, KBC tăng 1,04%, PDR tăng 3,07% là những mã khác đáng kể. Nhóm này cũng chỉ chiếm 24,6% giá trị sàn HoSE.
Như vậy đại đa số cổ phiếu chỉ có dao động rất hẹp sáng nay. Điều này phù hợp với thanh khoản tổng thể duy trì mức thấp. Cả bên mua lẫn bên bán đều không có ý chí giao dịch quyết liệt nên dư mua dư bán đều không được chuyển thành thanh khoản. Trong bối cảnh như vậy, nhóm cổ phiếu dẫn dắt tuy giảm mạnh nhưng cũng không tác động lớn đến tâm lý chung. Đây có thể xem là tín hiệu tích cực.
Nhà đầu tư nước ngoài sáng nay cũng rơi vào trạng thái “ngủ đông”. Giá trị mua vào trên sàn HoSE rơi xuống mức thấp nhất 12 phiên, đạt 797,4 tỷ đồng và giá trị bán ra thấp kỷ lục 6 tháng với 767,2 tỷ đồng. Một số cổ phiếu giao dịch đáng chú ý là FPT +128,6 tỷ, MWG +79,3 tỷ, VPB +61 tỷ, MSN +29,7 tỷ. Phía bán ròng có VHM -83,8 tỷ, VIC +61 tỷ, VCB -32,2 tỷ, VJC -30,5 tỷ.
-Kim Phong
Đồng Nai: Định hướng quy hoạch đô thị Long Thành đến năm 2045
Ngày 29/12, Phó Bí thư Tỉnh ủy Đồng Nai Võ Tấn Đức chủ trì buổi làm việc với Sở Xây dựng và các địa phương nhằm nghe báo cáo tiến độ lập Đồ án Quy hoạch chung đô thị Long Thành đến năm 2045.
Theo báo cáo của Sở Xây dựng, sau khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt nhiệm vụ Quy hoạch chung đô thị Long Thành đến năm 2045 vào tháng 2/2024, tỉnh Đồng Nai đã tổ chức thi tuyển quốc tế ý tưởng quy hoạch đô thị Cảng hàng không quốc tế Long Thành và khu vực phụ cận. Cuộc thi thu hút sự tham gia của nhiều đơn vị tư vấn quốc tế với đội ngũ chuyên gia hàng đầu, qua đó tìm kiếm các ý tưởng mang tính đột phá cho quy hoạch chung đô thị Long Thành.
Hiện nay, tỉnh Đồng Nai đang hoàn thiện đồ án quy hoạch trên cơ sở các ý tưởng thi tuyển, định hướng phát triển đô thị Long Thành theo mô hình thành phố song sinh (Twin City), kết nối chặt chẽ với TP. Hồ Chí Minh, hình thành khu vực có năng lực cạnh tranh toàn cầu.
Đồ án được triển khai với Sân bay Long Thành là hạt nhân phát triển, hướng tới xây dựng đô thị sân bay (Aerotropolis) hiện đại, sinh thái, xanh, thông minh và đạt đẳng cấp quốc tế, đóng vai trò cửa ngõ giao thương mới của khu vực châu Á. Theo mục tiêu quy hoạch, sau năm 2030, đô thị sân bay Long Thành hướng tới đạt đô thị loại II; đến năm 2045, quy mô dân số Long Thành Aerotropolis có thể vượt 1,5 triệu người.
Song song đó, tỉnh nghiên cứu mô hình phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD), khai thác hiệu quả lợi thế của Sân bay Long Thành cùng hệ thống hạ tầng giao thông gồm các tuyến cao tốc, đường sắt và metro.
Để phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế của Sân bay Long Thành, Đồng Nai định hướng phát triển đô thị Long Thành theo mô hình đô thị sân bay trên quy mô hơn 43.000 ha, với 5 phân khu chức năng.
Cụ thể, vùng trung tâm sân bay được xác định là “trái tim” của toàn đô thị, nơi vận hành các luồng hàng hóa và hành khách quy mô lớn; vùng lõi đô thị (Core Urban) tập trung các cao ốc tài chính, ngân hàng và khách sạn 5 sao phục vụ đội ngũ chuyên gia toàn cầu; vành đai công nghiệp công nghệ cao là khu vực thu hút đầu tư vào các ngành kinh tế mới nổi như bán dẫn, dược phẩm và công nghệ xanh; vùng logistics đa phương thức; cùng vùng du lịch và nghỉ dưỡng sinh thái, khai thác cảnh quan sông Đồng Nai và các hồ Cầu Mới, Đá Vàng.
Phát biểu tại buổi làm việc, Phó Bí thư Tỉnh ủy Võ Tấn Đức nhấn mạnh Đồ án Quy hoạch chung đô thị Long Thành đến năm 2045 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với tỉnh Đồng Nai và cả nước. Vì vậy, tiến độ lập, trình thẩm định và phê duyệt đồ án cần được đẩy nhanh, làm cơ sở thu hút đầu tư và triển khai các dự án.
Phó Bí thư Tỉnh ủy yêu cầu Sở Xây dựng sớm thành lập tổ công tác chuyên trách để thúc đẩy tiến độ lập, trình thẩm định đồ án. Đồng thời, các địa phương trong phạm vi quy hoạch cần chủ động rà soát các dự án trên địa bàn; đối với các dự án quy mô nhỏ, triển khai chậm, cần đề xuất phương án xử lý phù hợp, tránh tình trạng phát triển manh mún, thiếu đồng bộ.
-Thiên Di
Thành lập Trung tâm Điều tra, Quy hoạch đất đai quốc gia
Ngày 29/12, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã công bố quyết định thành lập Trung tâm Điều tra, Quy hoạch đất đai quốc gia. Sự kiện đánh dấu bước kiện toàn quan trọng về tổ chức, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng bền vững tài nguyên đất đai trong giai đoạn phát triển mới.
Trung tâm được thành lập trên cơ sở hợp nhất Trung tâm Điều tra, Quy hoạch và Định giá đất (thuộc Cục Quản lý đất đai) và Trung tâm Phát triển và Ứng dụng khoa học công nghệ về đất đai (thuộc Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường), chính thức đi vào hoạt động từ ngày 1/1/2026.
Theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Trung tâm là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ, có tư cách pháp nhân, con dấu, tài khoản riêng. Trung tâm có chức năng lập, điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất quốc gia và kế hoạch sử dụng đất quốc gia; tổ chức điều tra, đánh giá đất đai; bảo vệ, cải tạo, phục hồi đất; nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao khoa học công nghệ trong lĩnh vực đất đai; thực hiện các hoạt động dịch vụ sự nghiệp công theo quy định của pháp luật.
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Thị Phương Hoa trao quyết định bổ nhiệm ông Chu An Trường, Phó Cục trưởng Cục Quản lý đất đai giữ chức Tổng Giám đốc Trung tâm; ông Nguyễn Đắc Nhẫn, Phó Cục trưởng Cục Quản lý đất đai giữ chức Phó Tổng Giám đốc Trung tâm. Ảnh: Trường GiangVề nhiệm vụ chuyên môn, Trung tâm được giao xây dựng, trình Bộ trưởng các chương trình, kế hoạch, đề án, dự án liên quan đến quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; chiến lược sử dụng và bảo vệ tài nguyên đất. Đồng thời, Trung tâm trực tiếp tổ chức lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc gia; điều tra, đánh giá chất lượng, tiềm năng, thoái hóa và ô nhiễm đất trên phạm vi cả nước và các vùng kinh tế xã hội.
Bên cạnh đó, Trung tâm xây dựng, quản lý và vận hành hệ thống quan trắc chất lượng đất; tham gia xây dựng, cập nhật cơ sở dữ liệu về đất đai, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, giá đất và các dữ liệu chuyên ngành khác vào cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai. Công tác nghiên cứu khoa học, dự báo chiến lược sử dụng đất, phát triển nguồn lực kinh tế- tài chính đất đai tiếp tục được xác định là nhiệm vụ trọng tâm.
Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Thị Phương Hoa, việc thành lập Trung tâm Điều tra, Quy hoạch đất đai quốc gia thể hiện kỳ vọng của lãnh đạo Bộ với công tác nghiên cứu khoa học, lập quy hoạch sử dụng đất quốc gia và điều tra cơ bản về đất đai, qua đó phục vụ hiệu quả công tác quản lý nhà nước.
Bà Hoa lưu ý trong bối cảnh triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, việc nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý đất đai có vai trò đặc biệt quan trọng, cần được đẩy mạnh từ sớm, từ xa.
Thứ trưởng đề nghị Trung tâm xây dựng kế hoạch, chiến lược phát triển dài hạn, nâng cao vị thế của ngành quản lý đất đai; đồng thời, yêu cầu các đơn vị trực thuộc Bộ tăng cường phối hợp, hỗ trợ Trung tâm, nhất là trong triển khai các đề tài nghiên cứu khoa học.
-Hằng Anh
Thanh Hóa có thêm hơn 18.600 doanh nghiệp trong 5 năm 2021-2025
Từ năm 2021 đến nay, Thanh Hóa ghi nhận 18.621 doanh nghiệp được thành lập mới, vượt xa mục tiêu 15.000 doanh nghiệp đề ra cho giai đoạn 2021–2025, đạt 124,1%. Tổng vốn điều lệ đăng ký đạt 163.525 tỷ đồng, bình quân 8,78 tỷ đồng mỗi doanh nghiệp, phản ánh xu hướng gia tăng quy mô và năng lực tài chính của các doanh nghiệp mới gia nhập thị trường.
Cơ cấu doanh nghiệp thành lập mới cho thấy sự phân bố khá rõ theo không gian phát triển. Khu vực đồng bằng có 12.605 doanh nghiệp, chiếm 67,7%; khu vực ven biển có 4.089 doanh nghiệp, chiếm 21,96%; khu vực miền núi có 1.927 doanh nghiệp, chiếm 10,34%. Lũy kế đến nay, toàn tỉnh có khoảng 21.500 doanh nghiệp đang hoạt động, tương ứng gần 5,7 doanh nghiệp trên 1.000 dân.
Song hành với sự gia tăng về số lượng, công tác hỗ trợ doanh nghiệp được các sở, ngành và địa phương trong tỉnh chú trọng triển khai theo hướng thực chất. Từ năm 2021 đến nay, Thanh Hóa đã tổ chức 427 lớp đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về khởi sự doanh nghiệp và quản trị doanh nghiệp cho 22.720 lượt học viên là người quản lý, người lao động tại các doanh nghiệp và các cá nhân có nhu cầu thành lập doanh nghiệp.
Đáng chú ý, trên 1.000 doanh nghiệp chuyển đổi từ hộ kinh doanh đã được tư vấn, miễn lệ phí đăng ký doanh nghiệp và phí công bố doanh nghiệp lần đầu. Đây được xem là giải pháp quan trọng nhằm mở rộng khu vực doanh nghiệp chính thức, nâng cao tính minh bạch và khả năng tiếp cận các chính sách hỗ trợ của Nhà nước.
Hoạt động kết nối giữa ngân hàng và doanh nghiệp cũng được đẩy mạnh nhằm tháo gỡ khó khăn về vốn. Các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh đã tổ chức 294 hội nghị đối thoại, trao đổi trực tiếp với doanh nghiệp. Hiện nay, toàn tỉnh có 5.153 doanh nghiệp có quan hệ tín dụng với các ngân hàng, với tổng dư nợ đạt 65.913 tỷ đồng, tăng 12.639 tỷ đồng so với cuối năm 2020.
Cùng với hỗ trợ về đào tạo và tín dụng, các hoạt động xúc tiến thương mại được triển khai đồng bộ nhằm giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường. Trên 6.100 lượt doanh nghiệp và cơ sở sản xuất đã được hỗ trợ tham gia các hội chợ, hội nghị kết nối cung – cầu, các chương trình xúc tiến thương mại trong và ngoài tỉnh.
Nhờ đó, nhiều sản phẩm chủ lực của Thanh Hóa từng bước khẳng định chỗ đứng trên thị trường. Đến nay, toàn tỉnh có 304 doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất khẩu, với hơn 50 chủng loại hàng hóa, được đưa tới 68 thị trường và vùng lãnh thổ trên thế giới. Hoạt động xuất khẩu không chỉ góp phần nâng cao giá trị sản xuất mà còn thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới công nghệ, cải thiện chất lượng sản phẩm theo tiêu chuẩn quốc tế.
Hiệu quả hoạt động của khu vực doanh nghiệp tại Thanh Hóa từng bước được cải thiện, thể hiện rõ qua các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu. Giai đoạn 2021–2025, bình quân hằng năm khu vực doanh nghiệp đóng góp khoảng 56,66% GRDP của tỉnh.
Thu nộp ngân sách nhà nước của khu vực doanh nghiệp ước đạt 13.283 tỷ đồng, chiếm 91,29% tổng thu nội địa của tỉnh, không bao gồm thu tiền sử dụng đất và thu từ xổ số, gấp 2,02 lần so với năm 2020. Bên cạnh đó, khu vực doanh nghiệp hiện đang tạo việc làm cho gần 480 nghìn lao động, gấp 1,43 lần so với năm 2020, góp phần quan trọng vào ổn định đời sống người dân và bảo đảm an sinh xã hội.
Mặc dù đạt được nhiều kết quả tích cực, phát triển doanh nghiệp trên địa bàn Thanh Hóa vẫn còn những hạn chế nhất định. Hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của một bộ phận doanh nghiệp còn thấp; số doanh nghiệp lớn, có vai trò dẫn dắt, tạo đột phá cho tăng trưởng kinh tế của tỉnh chưa nhiều. Việc liên kết theo chuỗi giá trị trong sản xuất, kinh doanh chưa phổ biến, khiến sức lan tỏa và khả năng tham gia sâu vào chuỗi cung ứng còn hạn chế.
Thực tế này đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đồng thời có chính sách hỗ trợ trọng tâm, trọng điểm hơn để doanh nghiệp Thanh Hóa không chỉ tăng về số lượng, mà còn mạnh về chất lượng, đủ sức cạnh tranh và hội nhập sâu rộng.
-Nguyễn Thuấn
Tiến sĩ Nguyễn Thị Phương Thảo nhận danh hiệu Anh hùng Lao động: Biểu tượng bản lĩnh, khát vọng Việt Nam hùng cường
Trong hơn ba thập kỷ lao động và cống hiến, Tiến sĩ Nguyễn Thị Phương Thảo, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần Hàng không Vietjet đã để lại dấu ấn đậm nét trong các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế như hàng không, tài chính – ngân hàng, đầu tư và công nghệ. Ở mỗi lĩnh vực, bà đều theo đuổi một triết lý nhất quán: đổi mới để giải phóng nguồn lực, công nghệ để dẫn đầu xu thế, tăng trưởng phải gắn liền với lợi ích quốc gia, văn hóa và con người.
Những sáng kiến và cống hiến của bà mang lại những giá trị mới cho hàng triệu khách hàng, giá trị tăng trưởng hiệu quả cho các nhà đầu tư, mang lại hàng trăm ngàn việc làm mới, thúc đẩy tăng trưởng những nơi bà hiện diện.
Riêng trong ngành hàng không, bà Thảo là người sáng lập và lãnh đạo hãng hàng không tư nhân đầu tiên của Việt Nam, góp phần mở ra giai đoạn xã hội hóa dịch vụ hàng không và hội nhập quốc tế sâu rộng.
Theo số liệu của Cục Hàng không Việt Nam, Vietjet đã vận chuyển hàng trăm triệu lượt hành khách kể từ khi khai thác thương mại, góp phần quan trọng vào quá trình xã hội hóa hàng không, mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ bay cho người dân và thúc đẩy kết nối du lịch – thương mại.
Không chỉ dừng ở quy mô nội địa, Vietjet còn mở rộng mạng bay quốc tế, trở thành cầu nối giữa Việt Nam với khu vực châu Á – Thái Bình Dương và xa hơn. Hình ảnh tàu bay mang biểu tượng Việt Nam xuất hiện tại hơn 100 sân bay quốc tế được xem là minh chứng sinh động cho một nền kinh tế năng động, hội nhập và tự tin, là biểu tượng của tinh thần "người Việt Nam tự tin chinh phục thế giới".
Danh hiệu Anh hùng Lao động của bà còn được tôi luyện qua những giai đoạn khó khăn, thách thức vượt qua lĩnh vực chính là ngành hàng không. Trong thời điểm thị trường chứng khoán Việt Nam đứng trước nguy cơ tê liệt do nghẽn hệ thống vào năm 2021, bà đã tiên phong đưa ra sáng kiến cùng các chuyên gia công nghệ khắc phục thần tốc, giúp Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM vận hành liên tục, ổn định, bảo vệ niềm tin của hàng triệu nhà đầu tư và sự phát triển của thị trường vốn quốc gia.
“Phong trào thi đua yêu nước đã đưa đất nước ta tiến những bước dài chưa từng có trong lịch sử dân tộc, làm cho đất nước, xã hội, con người đều đổi mới. Tinh thần của Bác đã dẫn dắt tôi trên hành trình xây dựng các doanh nghiệp của mình. Tiến sĩ Nguyễn Thị Phương Thảo, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần Hàng không Vietjet.Ở thời điểm đó, hệ thống giao dịch của Sở Giao dịch chứng khoán TP.HCM quá tải, có doanh nghiệp phải chuyển sang niêm yết tạm ở sàn Hà Nội. Ngày 8/3/2021, ngay trước thềm buổi làm việc với Thủ tướng Chính phủ, bà Thảo cùng lãnh đạo một số doanh nghiệp công nghệ lớn đã chủ động trao đổi và thống nhất kiến nghị cho phép khu vực tư nhân tham gia hỗ trợ xử lý sự cố.
Theo đó, các doanh nghiệp như FPT, Sovico đề xuất phương án phối hợp cùng Bộ Tài chính nhằm “giải cứu” hệ thống HOSE. Sau nhiều nỗ lực tháo gỡ, các nguồn lực cần thiết đã được huy động và giải pháp chính thức được đưa vào vận hành. Hệ thống này sau đó hoạt động ổn định trong suốt bốn năm, đáp ứng nhiều phiên giao dịch có thanh khoản lên đến 2 tỷ USD mỗi phiên kỷ lục trên thị trường chứng khoán.
Theo đánh giá của giới chuyên môn,, nếu không có quyết định kịp thời và sự tham gia của khu vực tư nhân vào thời điểm đó, thị trường chứng khoán Việt Nam khó có thể duy trì đà tăng trưởng, còn nhà đầu tư và doanh nghiệp niêm yết sẽ chịu thiệt hại đáng kể.
Trên bình diện quốc tế, năm 2025 còn ghi dấu những bước đi chiến lược mang tầm toàn cầu của Tiến sĩ Nguyễn Thị Phương Thảo. Vietjet và bà Thảo chủ trì nhiều thỏa thuận hợp tác quốc tế quan trọng với các đối tác hàng đầu trong ngành. Điển hình là hợp đồng đặt mua các máy bay mới phục vụ phát triển đa vùng bay, trong đó có thỏa thuận với Airbus ký tại Paris Airshow 2025 về việc mua tới 150 máy bay A321neo trị giá hàng tỷ USD, nhằm hỗ trợ chiến lược mở rộng hoạt động tại thị trường quốc tế.
Cũng trong năm 2025, Vietjet ký kết đơn hàng bổ sung với Airbus cho 20 máy bay A330neo trong chuyến thăm của Tổng thống Pháp đến Việt Nam, được đánh giá là dấu ấn quan hệ hợp tác công – tư quốc tế và một bước đi chiến lược nâng tầm mạng bay dài.
Các thỏa thuận hợp tác và hợp đồng thương mại quy mô lớn với các tập đoàn hàng đầu thế giới không chỉ tạo động lực tăng trưởng, mà còn góp phần cân bằng thương mại, củng cố niềm tin đối tác, thu hút đầu tư và khẳng định năng lực tài chính, quản trị của doanh nghiệp.
Nhờ những đóng góp to lớn của mình, bà vừa được Tatler đưa vào danh sách “Most Influential 2025” – danh sách những nhà lãnh đạo có tầm ảnh hưởng lớn trong khu vực, được đánh giá qua tác động xuyên biên giới, giá trị thực tiễn và đóng góp cho cộng đồng quốc tế. Đây là lần thứ hai liên tiếp (2024–2025) bà được vinh danh trên danh sách này, phản ánh vị thế ngày càng cao của lãnh đạo doanh nghiệp Việt trên bản đồ kinh tế toàn cầu.
Song hành với kinh doanh, bà luôn kiên định theo đuổi sứ mệnh nhân văn. Từ các chương trình an sinh xã hội, hỗ trợ phụ nữ, trẻ em và người yếu thế, đến các sáng kiến giáo dục và học bổng quốc tế, Tiến sĩ Nguyễn Thị Phương Thảo nhất quán với tinh thần: tăng trưởng chỉ thực sự bền vững khi gắn với phát triển con người. Bà đặc biệt nhấn mạnh vai trò của phụ nữ – mà bà gọi là “nữ chiến binh thầm lặng” trong hành trình xây dựng nền kinh tế thịnh vượng và bao trùm.
Những doanh nghiệp dưới sự lãnh đạo của bà luôn xây dựng Đảng bộ vững mạnh. Nhờ đó có nhiều thuận lợi khi phát động và thực thi các phong trào thi đua yêu nước, hưởng ứng các phong trào của Đảng ủy cấp trên. Cán bộ nhân viên luôn nỗ lực bền bỉ với các hoạt động phong trào trong suốt mấy thập kỷ qua. Đảng bộ có hàng trăm Đảng viên; Đoàn Thanh niên có hàng chục ngàn đoàn viên và công đoàn viên.
“Khoảnh khắc này, quá khứ và hiện tại đang nắm tay nhau bước vào tương lai... Tất cả nối tiếp một mạch nguồn chung: Ý chí, niềm tin vào một Việt Nam thịnh vượng vươn ra thế giới", bà Thảo xúc động nói.
-Thu Minh
Người Việt chuyển sang chảo Ceramic: Lựa chọn an toàn cho sức khỏe
Chỉ cần lướt qua các chợ online hay gian hàng nhỏ lẻ, người dùng có thể mua một chiếc chảo chống dính với giá chỉ từ 90.000 – 150.000 đồng. Mẫu mã phong phú, quảng cáo “chống dính siêu tốt”, “bền nhiều năm” khiến nhiều người dễ dàng xuống tiền.
Thế nhưng, đằng sau mức giá rẻ đó là vô vàn nguy cơ:
Hàng trôi nổi xuất hiện khắp nơi, được sản xuất với vật liệu không kiểm định.
Người tiêu dùng khó phân biệt đâu là hàng chính hãng, đâu là hàng pha tạp, nhái nhãn mác.
Đáng nói hơn, ngay cả những loại chảo “chuẩn rẻ tiền” – sử dụng lớp phủ chống dính PTFE đời cũ (thuộc nhóm PFAS) – cũng tiềm ẩn rủi ro không nhỏ.
PTFE có thể phân hủy khi quá nhiệt, sinh ra khí độc, đồng thời dễ bong tróc khi bề mặt bị trầy xước. Những hạt vi mô này có thể lẫn vào thức ăn và tích tụ lâu dài trong cơ thể.
Tại nhiều nước, hóa chất nhóm PFAS được gọi là “hóa chất vĩnh cửu”, bởi rất khó phân hủy trong môi trường và cơ thể người. Đây cũng là lý do khiến các quốc gia phát triển bắt đầu mạnh tay siết chặt hoặc cấm nhóm chất này.
VÌ SAO NGƯỜI VIỆT ĐANG CHUYỂN TỪ CHẢO CHỐNG DÍNH PTFE GIÁ RẺ SANG CERAMIC?Nếu như chảo chống dính dùng lớp phủ PTFE từng phổ biến suốt nhiều năm vì giá rẻ và dễ dùng, thì hiện nay, loại chảo này bộc lộ ngày càng nhiều hạn chế về độ bền và mức độ an toàn. Sự khác biệt giữa chống dính PTFE và Ceramic không chỉ nằm ở chất liệu, mà ở triết lý công nghệ phía sau.
Ảnh minh họa (Ảnh: Elmich).Thành phần: Công nghệ hóa học và vật liệu khoáng tự nhiên
PTFE được tạo từ polymer fluor – thuộc nhóm PFAS, vốn đang bị cảnh báo tại nhiều nước vì khả năng tồn lưu lâu dài trong cơ thể. Trong khi đó, lớp phủ Ceramic được làm từ khoáng tự nhiên (đất sét, cát, đá), không chứa fluor, không mang theo rủi ro phân hủy hóa học. Chính nguồn gốc vật liệu đã đặt Ceramic vào nhóm an toàn cao hơn ngay từ đầu.
Khả năng chịu nhiệt: Điểm yếu “quá nhiệt” của PTFE
PTFE bắt đầu phân hủy và sinh khí độc từ mức ~260°C – nhiệt độ hoàn toàn có thể xảy ra khi chiên rán. Người dùng có thể không nhìn thấy, nhưng khí phân hủy và vi hạt từ lớp chống dính bong tróc có thể xâm nhập vào thực phẩm.
Ceramic lại có khả năng chịu nhiệt vượt trội, giữ ổn định ở mức nhiệt cao mà không tạo ra sản phẩm phân hủy độc hại, giảm rủi ro tiềm ẩn trong quá trình nấu.
Độ bền bề mặt: PTFE dễ bong tróc, nguy cơ thôi nhiễm theo thời gian
Chống dính ceramic được đánh giá cao nhờ khả năng hạn chế trầy xước và bền nhiệt tốt, giúp bề mặt giữ được độ láng mịn trong thời gian dài nếu sử dụng đúng cách. Các thử nghiệm cho thấy lớp phủ này có độ bền cao hơn nhiều so với các lớp chống dính thông thường.
Ngược lại, nhiều dòng chống dính kém chất lượng dễ bong tróc chỉ sau thời gian ngắn, tiềm ẩn nguy cơ thôi nhiễm vào thực phẩm và ảnh hưởng đến trải nghiệm nấu nướng hàng ngày.
Vệ sinh và môi trường: Một bên khó phân hủy, một bên thân thiện
Phần lớn vật liệu fluoropolymer thuộc nhóm “hóa chất vĩnh cửu” – tồn tại rất lâu trong môi trường. Đây là lý do châu Âu và Mỹ đang siết chặt.
Ceramic, với nền tảng từ vật liệu tự nhiên, có mức độ ảnh hưởng môi trường thấp hơn, phù hợp xu hướng tiêu dùng bền vững đang lan rộng toàn cầu.
RẺ TRƯỚC MẮT – ĐẮT VỀ SAUMột chiếc chảo giá rẻ có thể giúp tiết kiệm vài chục nghìn đồng. Nhưng nếu lớp chống dính bị bong tróc, sinh độc tố, hoặc tạo vi hạt ảnh hưởng gan – thận – nội tiết, thì cái “giá phải trả” cho sức khỏe có thể lớn hơn rất nhiều.
Người tiêu dùng Việt cần tỉnh táo:
Ưu tiên chảo có chứng nhận rõ ràng
Tránh lớp phủ PTFE đời cũ
Chọn các thương hiệu minh bạch vật liệu và xuất xứ
Sức khỏe là khoản đầu tư lâu dài, không phải nơi để tiết kiệm nhất thời.
Từ châu Âu đến Mỹ, nhiều nước đang tiến hành cấm hoặc hạn chế PFAS trong sản phẩm gia dụng. Ceramic vì thế trở thành giải pháp thay thế tự nhiên, an toàn và phù hợp với tiêu chuẩn của các thị trường khó tính nhất.
XU HƯỚNG CERAMIC THẾ HỆ MỚI VÀ VAI TRÒ CỦA CÁC NHÀ SẢN XUẤT TẠI VIỆT NAMTại thị trường Việt Nam, một số doanh nghiệp gia dụng quốc tế đã bắt đầu chuyển dịch mạnh sang các dòng sản phẩm “không PFAS”, trong đó có Elmich – thương hiệu đến từ Cộng hòa Séc. Việc đưa Ceramic thế hệ mới đạt các tiêu chuẩn khắt khe của châu Âu vào thị trường Việt Nam cho thấy xu hướng phát triển rõ rệt của ngành hàng gia dụng: an toàn – bền vững – minh bạch về vật liệu.
Bộ sưu tập gia dụng Ceramic cao cấp Elmich Harmony.Điểm đáng chú ý là các sản phẩm Ceramic Elmich được kiểm định bởi những tổ chức đánh giá độc lập như SGS (châu Âu), nhằm xác nhận việc không chứa PFAS/PFOA và khả năng chịu nhiệt cao mà không sinh khí phân hủy độc hại. Việc công khai chứng nhận giúp người dùng Việt có thêm cơ sở tham khảo khi lựa chọn sản phẩm, trong bối cảnh thị trường còn tồn tại nhiều dòng chống dính không rõ nguồn gốc.
Chứng nhận an toàn của Elmich được cấp bởi tổ chức SGS. (Ảnh: Elmich).Bên cạnh đó, lớp phủ chống dính Ceramic Elmich thế hệ mới cũng được đánh giá có độ bền bề mặt ổn định, bền nhiệt và ít xuống cấp hơn khi sử dụng đúng cách – một tiêu chí quan trọng với những gia đình nấu nướng thường xuyên. Nhờ nền nguyên liệu thiên nhiên, Ceramic Elmich cũng phù hợp với định hướng tiêu dùng bền vững đang được khuyến khích tại nhiều quốc gia.
Sự góp mặt của các sản phẩm Ceramic Elmich đạt chuẩn quốc tế cho thấy thị trường gia dụng Việt Nam đang dịch chuyển dần sang nhóm sản phẩm an toàn hơn, đồng thời thúc đẩy hình thành thói quen nấu nướng lành mạnh và có trách nhiệm trong mỗi gia đình.
-P.V
Quảng Ninh: Khởi công, khánh thành loạt công trình, dự án với tổng vốn đầu tư hơn 2.300 tỷ đồng
Ngày 29/12, đặc khu Vân Đồn (Quảng Ninh) tổ chức lễ khánh thành, khởi công và thông xe kỹ thuật 15 công trình, dự án gồm 12 dự án khởi công mới và 3 dự án khánh thành, thông xe kỹ thuật, hợp long. Các dự án thuộc nhiều lĩnh vực như giao thông, hạ tầng đô thị, thương mại, môi trường với tổng mức đầu tư trên 2.300 tỷ đồng.
Trong số này, dự án cầu bắc qua luồng sông Mang, xã Quan Lạn được xác định là công trình trọng điểm. Dự án nhằm kết nối đảo Minh Châu – Quan Lạn với đảo Bản Sen, từng bước xóa bỏ sự chia cắt về giao thông giữa các xã đảo, đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân, đồng thời tạo điều kiện phát triển du lịch, dịch vụ và logistics vùng biển đảo phía Đông Bắc.
Theo Bí thư Đảng ủy đặc khu Vân Đồn Cao Tường Huy, dự án cầu sông Mang đã được nghiên cứu, chuẩn bị từ nhiều năm trước. Đến nay, các điều kiện về mặt bằng, thủ tục đầu tư đã cơ bản hoàn tất, đủ điều kiện để chính thức khởi công.
Cầu sông Mang có chiều dài 967,4 m, mặt cắt ngang rộng 12 m. Điểm đầu dự án đấu nối với tuyến đường Bản Sen – Tân Lập (thuộc xã Quan Lạn), điểm cuối kết nối tại Km6+195 tuyến đường xuyên đảo Minh Châu – Quan Lạn. Tổng mức đầu tư dự án hơn 600 tỷ đồng, thời gian thực hiện dự kiến 20 tháng.
Theo tỉnh Quảng Ninh, cầu sông Mang khi hoàn thành sẽ giúp hình thành trục giao thông liên hoàn giữa các đảo trong khu vực, rút ngắn thời gian di chuyển, giảm phụ thuộc vào phương tiện thủy, nhất là trong điều kiện thời tiết xấu, đồng thời mở rộng không gian phát triển kinh tế biển đảo.
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh nhiệm kỳ 2025–2030, địa phương đang tập trung nghiên cứu dự án đầu tư xây dựng tuyến giao thông kết nối liên đảo tại đặc khu Vân Đồn. Theo phương án nghiên cứu, tuyến này gồm 9 cây cầu với tổng chiều dài 14,2 km; xây dựng mới 22 km đường giao thông và nâng cấp, mở rộng 22 km tuyến đường Tân Lập – Bản Sen hiện hữu.
Quảng Ninh xây dựng hai phương án đầu tư. Phương án 1 có chiều rộng cầu và đường 12 m, tổng mức đầu tư khoảng 8.570 tỷ đồng, trong đó chi phí xây dựng 9 cây cầu khoảng 7.100 tỷ đồng; phần đường xây mới khoảng 990 tỷ đồng và nâng cấp, mở rộng tuyến Tân Lập – Bản Sen khoảng 440 tỷ đồng. Phương án 2 mở rộng quy mô lên 24 m, tổng vốn đầu tư khoảng 17.160 tỷ đồng.
Cùng với Vân Đồn, đặc khu Cô Tô cũng đang nghiên cứu dự án cầu vượt biển kết nối đảo Cô Tô lớn và đảo Thanh Lân với chiều dài khoảng 2 km. Theo Bí thư Đảng ủy đặc khu Cô Tô Lê Ngọc Hân, dự án dự kiến triển khai trong giai đoạn 2027–2029.
Hiện nay, việc đi lại giữa hai đảo chủ yếu bằng thuyền, đò, mất khoảng 20–30 phút mỗi lượt trong điều kiện thời tiết thuận lợi. Những ngày sóng to, gió lớn, việc di chuyển thường xuyên bị gián đoạn, ảnh hưởng đến sinh hoạt của người dân và hoạt động du lịch.
-Đan Tiên
Bộ tiêu chí nông thôn mới 2026–2030: Mở đường cho xây dựng nông thôn hiện đại
Theo Quyết định, Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026-2030, gồm ba nội dung trọng tâm: Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới; Khung thí điểm xây dựng xã nông thôn mới hiện đại; và Điều kiện để tỉnh, thành phố hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn 2026-2030.
XÂY DỰNG XÃ NÔNG THÔN MỚI HIỆN ĐẠITheo Quyết định 51/2025/QĐ-TTg, bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2026 - 2030 bao gồm 10 tiêu chí, 47 chỉ tiêu, trên các lĩnh vực: quy hoạch, hạ tầng kinh tế - xã hội, phát triển kinh tế nông thôn, đào tạo nguồn nhân lực, văn hóa - giáo dục - y tế, giảm nghèo và an sinh xã hội, khoa học công nghệ và chuyển đổi số, môi trường và cảnh quan nông thôn, xây dựng hệ thống chính trị và hành chính công, đến tiếp cận pháp luật và bảo đảm quốc phòng - an ninh.
Trong đó, mỗi tiêu chí được thiết kế theo 3 nhóm xã, gồm: xã nhóm 1, xã nhóm 2 và xã nhóm 3, nhằm phù hợp với việc sắp xếp, tổ chức lại đơn vị hành chính cấp xã và trình độ phát triển thực tế của từng địa bàn. Đây được xem là bước đột phá, chấm dứt cách tiếp cận “một bộ tiêu chí cho mọi xã”, tạo tính linh hoạt, sát thực tiễn và khả năng hoàn thành.
Cụ thể, xã nhóm 1 là các xã liền kề đô thị hiện hữu, có định hướng phát triển thành đô thị; hoặc xã có tỷ trọng nông nghiệp dưới 10% trong cơ cấu kinh tế; hoặc xã được quy hoạch là đô thị mới. Xã nhóm 2 là các xã không thuộc nhóm 1 và nhóm 3. Xã nhóm 3 gồm các xã khu vực II, khu vực III thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo phân định của cấp có thẩm quyền.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, sau khi cả nước tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, các đơn vị hành chính xã sau sắp xếp đã có quy mô lớn hơn, dư địa và không gian phát triển được mở rộng, tạo động lực tăng trưởng mới. Để xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn phát triển mới theo hướng chất lượng, chiều sâu, hiệu quả và bền vững, các địa phương cần tập trung nguồn lực và quyết tâm cao.
Trên cơ sở rà soát, nghiên cứu và tiếp thu ý kiến của các bộ, ngành, địa phương, nhiều tiêu chí, chỉ tiêu của nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2021-2025 đã được tích hợp. Đồng thời, các quy định pháp luật, chính sách mới về nông nghiệp, nông dân, nông thôn mang tính đột phá cũng được cụ thể hóa với yêu cầu cao hơn, nhằm tạo chuyển biến rõ nét về chất lượng xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2026-2030.
Quyết định 51/2025/QĐ-TTg cũng quy định khung thí điểm xây dựng xã nông thôn mới hiện đại giai đoạn 2026-2030. Theo đó, xã nông thôn mới hiện đại phải đạt chuẩn nông thôn mới theo mức của xã nhóm 1; có thu nhập bình quân đầu người cao hơn ít nhất 10% so với mức áp dụng cho xã nhóm 1 trên cùng địa bàn.
Xã phải đáp ứng các tiêu chí do UBND cấp tỉnh quy định, bảo đảm hạ tầng số, sử dụng năng lượng mới hoặc tái tạo, phát triển nông nghiệp thông minh, bảo đảm an sinh xã hội, môi trường sống an toàn, cảnh quan sáng - xanh - sạch - đẹp và giữ vững an ninh, trật tự.
Việc quy định khung thí điểm này là điểm mới so với giai đoạn trước, nhằm tạo cơ chế thử nghiệm mô hình nông thôn mới hiện đại, gắn với quá trình đô thị hóa, tránh triển khai dàn trải, thiếu cơ sở thực tiễn; đồng thời làm cơ sở để nhân rộng trong giai đoạn sau năm 2030.
Quy định này cũng nhằm phát huy tối đa tiềm năng, thế mạnh của địa phương, phấn đấu thí điểm xây dựng xã nông thôn mới hiện đại, tiệm cận điều kiện về hạ tầng và dịch vụ của đô thị văn minh, sáng, xanh, sạch, đẹp, bình yên, giàu bản sắc văn hóa truyền thống, nâng cao hơn đời sống vật chất, tinh thần và môi trường sống của người dân nông thôn.
TỈNH NÔNG THÔN MỚI PHẢI ĐẠT TIÊU CHUẨN KHẮT KHE HƠN TRƯỚCQuyết định cũng quy định 13 điều kiện để tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được công nhận hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2026-2030 khi đáp ứng các điều kiện sau:
Thứ nhất: 100% số xã trên địa bàn đạt chuẩn nông thôn mới (đáp ứng đầy đủ mức đạt chuẩn theo yêu cầu của Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2026-2030).
Thứ hai: Ít nhất 10% số xã trên địa bàn đạt nông thôn mới hiện đại (đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của Quy định khung thí điểm xây dựng xã nông thôn mới hiện đại giai đoạn 2026- 2030).
Thứ ba: Trường hợp cần thiết, xây dựng nông thôn mới ở phường được hình thành từ việc sắp xếp với đơn vị hành chính xã và có diện tích đất nông nghiệp chiếm từ 70% trở lên so với tổng diện tích đất tự nhiên của phường tại thời điểm ngày 1/7/2025 hoặc xây dựng nông thôn mới ở đặc khu: phải đảm bảo đáp ứng từ 70% trở lên số nội dung tiêu chí (trong đó có các nội dung tiêu chí: Tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người; có kế hoạch và thực hiện hiệu quả kế hoạch phát triển sản phẩm OCOP gắn với đặc trưng, thế mạnh của địa phương; có hoạt động phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn gắn với tạo việc làm, thu nhập cho người lao động địa phương; tỷ lệ nghèo đa chiều; tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch theo quy chuẩn; đảm bảo an toàn thực phẩm) yêu cầu đối với xã nhóm 1 thuộc Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2026 - 2030, do UBND tỉnh, thành phố quy định cụ thể.
Thứ tư: Hệ thống giao thông trên địa bàn tỉnh, thành phố đảm bảo kết nối tới các xã và được bảo trì hàng năm (trong đó có ít nhất 70% số km đường tỉnh trên địa bàn được trồng cây xanh dọc tuyến đường) theo hướng dẫn của Bộ Xây dựng.
Thứ năm: Có đủ các loại hình thiết chế văn hóa cấp tỉnh theo hướng dẫn của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
Thứ sáu: Đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi; có ít nhất 80% số trường phổ thông đạt chuẩn quốc gia; hoàn thành giáo dục bắt buộc hết trung học cơ sở; tỷ lệ người trong độ tuổi theo học các trình độ sau trung học phổ thông đạt từ 50% trở lên theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Thứ bảy: Hệ thống y tế cơ sở trên địa bàn tỉnh, thành phố đáp ứng nhu cầu phòng bệnh, khám chữa bệnh của người dân theo hướng dẫn của Bộ Y tế.
Thứ tám: Có đề án hoặc kế hoạch và chính sách hỗ trợ: phát triển OCOP; phát triển du lịch nông thôn trên địa bàn theo hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
Thứ chín: 100% hồ sơ công việc tại cấp tỉnh được xử lý trên môi trường mạng (trừ hồ sơ công việc thuộc phạm vi bí mật nhà nước), do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố quy định cụ thể.
Thứ mười: Tốc độ tăng trưởng bình quân của kinh tế tư nhân đạt từ 10%/năm trở lên theo hướng dẫn của Bộ Tài chính.
Mười một: Khu xử lý chất thải rắn tập trung cấp tỉnh đảm bảo yêu cầu về bảo vệ môi trường theo hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
Mười hai: Chỉ số hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước đạt từ 85% trở lên.
Mười ba: An ninh, trật tự trên địa bàn toàn tỉnh, thành phố được bảo đảm theo hướng dẫn của Bộ Công an.
-Chu Khôi
Thủ tướng Phạm Minh Chính: Đẩy mạnh triển khai chiến lược đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới
Chiều 29/12, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dự Hội nghị tổng kết công tác năm 2025 và triển khai phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm năm 2026 của ngành Ngoại giao.
Hội nghị tập trung đánh giá công tác đối ngoại của Bộ Ngoại giao trong năm 2025 và nhiệm kỳ 2021 – 2025; xác định những định hướng lớn trong năm 2026 và thời gian tới để triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng, nhất là cụ thể hóa quan điểm, chỉ đạo mới về vai trò “trọng yếu, thường xuyên” của đối ngoại và hội nhập quốc tế.
NHIỀU THÀNH TỰU QUAN TRỌNG TRONG BỐI CẢNH QUỐC TẾ NHIỀU BIẾN ĐỘNGHội nghị đánh giá, năm 2025, ngành Ngoại giao đã triển khai nhiệm vụ trong bối cảnh quốc tế nhiều biến động, khó khăn hơn, nhưng dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo và tham gia trực tiếp, sâu sát, quyết liệt của Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, sự chỉ đạo sát sao của Thủ tướng Chính phủ và sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, sự quyết tâm đồng lòng của các lực lượng đối ngoại, công tác đối ngoại năm 2025 tiếp được triển khai đồng bộ, hiệu quả, khép lại nhiệm kỳ Đại hội XIII với nhiều thành tựu có ý nghĩa lịch sử.
Công tác đối ngoại đạt nhiều kết quả nổi bật, trong đó các quyết sách, định hướng chiến lược về nâng tầm, nâng cấp quan hệ với các đối tác chủ chốt, củng cố quan hệ với các nước láng giềng, tăng cường quan hệ với các nước lớn, đối tác quan trọng và bạn bè truyền thống, ứng phó kịp thời với các vấn đề mới nổi lên đã góp phần kiến tạo và giữ vững cục diện đối ngoại thuận lợi, ổn định, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.
Các hoạt động đối ngoại, đặc biệt là ngoại giao cấp cao được triển khai sôi động, rộng khắp, đạt được những kết quả quan trọng. Trong năm 2025, các đồng chí Lãnh đạo chủ chốt đã thực hiện 75 hoạt động đối ngoại, tăng gần gấp 1,5 lần so với năm 2024, tạo định hướng chiến lược cho quan hệ với các đối tác.
Công tác ngoại giao phục vụ phát triển, ngoại giao kinh tế với phương châm “lấy người dân, địa phương và doanh nghiệp là trung tâm phục vụ” đã đem lại nhiều kết quả thực chất; đặc biệt đóng góp tích cực vào chuyển dịch mô hình tăng trưởng, tranh thủ các động lực mới cho tăng trưởng như khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, FDI và ODA chất lượng cao.
Thủ tướng Phạm Minh Chính chỉ đạo Hội nghị tổng kết công tác ngành ngoại giao năm 2025 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2026. Ảnh: TTXVN.Công tác xây dựng Ngành, xây dựng Đảng đạt được nhiều kết quả quan trọng, có ý nghĩa lịch sử của Ngành, với việc thực hiện giảm 17 trên tổng số 40 đầu mối, mở thêm mới 5 cơ quan đại diện, nâng số Cơ quan đại diện lên 99 cơ quan; tham mưu, trình Chính phủ ban hành Nghị quyết về Kế hoạch xây dựng và phát triển ngành Ngoại giao đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và xây dựng Nghị quyết số 250/2025/QH15 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế.
Bộ và ngành Ngoại giao xác định, năm 2026 và giai đoạn 2025 - 2030 tới đặt ra cho Ngành những nhiệm vụ hết sức to lớn và vẻ vang. Phát huy truyền thống 80 năm của ngoại giao cách mạng Việt Nam, toàn Ngành quyết tâm đổi mới mạnh mẽ công tác tạo động lực thực chất, khơi dậy sức sáng tạo, thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc mà Đảng và nhân dân giao phó.
Trong đó, Bộ và ngành Ngoại giao triển khai ngay, cụ thể hóa đường lối đối ngoại mà Đại hội XIV của Đảng đề ra; củng cố môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa trong bối cảnh có nhiều biến động; đóng góp vào tạo đột phá trong phát triển kinh tế, phục vụ mục tiêu tăng trưởng hai con số và bền vững trong năm 2026; đóng góp cho các vấn đề chung của thế giới và giải quyết các vấn đề chung của thế giới.
Phát biểu tại hội nghị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính nhấn mạnh, năm 2025 nói riêng và giai đoạn 2021-2025 nói chung, thế giới trải qua những thay đổi mang tính “thời đại” từ dịch bệnh, thiên tai, chiến tranh, cạnh tranh chiến lược, an ninh phi truyền thống, chính sách kinh tế…
Những yếu tố bất ngờ, bất thường, bất lợi, bất định đã ảnh hưởng tới sự phát triển đất nước, trong đó có công tác đối ngoại. Tuy nhiên, Việt Nam đã vượt qua “những cơn gió ngược” để đạt được những thành tựu quan trọng. Trong đó, kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát, tăng trưởng được thúc đẩy, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm; nợ công, nợ chính phủ, nợ nước ngoài được kiểm soát tốt và thấp hơn nhiều ngưỡng cho phép; quốc phòng, an ninh được giữ vững; văn hóa - xã hội được chú trọng; đời sống người dân không ngừng được nâng lên.
Thủ tướng Chính phủ tóm tắt thành tựu ngoại giao bằng 24 từ khóa: “bộ máy tinh gọn, thích ứng kịp thời, sáng tạo hiệu quả, hợp tác mở rộng, vị thế nâng cao, kiến tạo phát triển”.
Đưa ra các dẫn chứng cụ thể để chứng minh cho mệnh đề trên, thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính hoan nghênh, đánh giá cao và nhiệt liệt biểu dương, chúc mừng những thành tích, kết quả quan trọng mà ngành Ngoại giao đã đạt được trong năm 2025 và nhiệm kỳ qua; đồng thời chỉ rõ một số hạn chế như: chưa thực sự khai thác hết tiềm năng của các khuôn khổ quan hệ; công tác phối hợp giữa một số bộ, ngành, địa phương còn chậm, chưa đáp ứng với yêu cầu mới, nhất là các lĩnh vực hợp tác mới như chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, khoa học, công nghệ, đổi mới, sáng tạo…
TẬP TRUNG GIẢI QUYẾT 3 VẤN ĐỀ LỚNNêu 3 bài học kinh nghiệm quan trọng trong công tác đối ngoại, Thủ tướng Chính phủ nhấn mạnh phải kiên trì, kiên định về đường lối; tính mềm dẻo, linh hoạt với phương châm “đoàn kết để có sức mạnh, hợp tác để có lợi ích, đối thoại để củng cố niềm tin”; phải hiểu sâu, nắm chắc tình hình; cán bộ ngoại giao phải nhạy bén về chính trị, nhạy cảm về kinh tế, sâu sắc về khoa học công nghệ, có tâm – đức – tài.
Phân tích, dự báo tình hình thời gian tới, Thủ tướng Chính phủ khái quát 3 vấn đề lớn nổi lên gồm sự điều chỉnh chính sách của các nước rất nhanh, mạnh và quyết liệt; xung đột, bất ổn diễn ra ngày càng nhiều, tác động ngày càng lớn, nguy cơ va chạm có thể xảy ra tại các điểm nóng; xuất hiện những xu hướng, trào lưu mới về chính trị, an ninh, kinh tế, khoa học công nghệ, tác động đa chiều, sâu rộng đến nền kinh tế trong nước.
Thủ tướng Chính phủ lưu ý, trong bối cảnh tình hình nêu trên, Đảng và Nhà nước đặt kỳ vọng rất lớn vào công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế sẽ phát huy vai trò “tiên phong, trọng yếu, thường xuyên”, “đẩy mạnh triển khai chiến lược đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới” như Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ đạo; tiếp tục là trụ cột quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc theo đúng tinh thần Nghị quyết 59-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung tham dự Hội nghị tổng kết công tác ngành Ngoại giao năm 2025 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2026. Ảnh: TTXVN.Yêu cầu Bộ và ngành Ngoại giao phải quán triệt phương châm với 24 từ khóa: “tham mưu chính xác, thích ứng linh hoạt, xoay chuyển kịp thời, chuyển đổi hiệu quả, trách nhiệm cộng đồng, ổn định phát triển”, Thủ tướng Phạm Minh Chính chỉ đạo tập trung thực hiện hiệu quả 3 nội dung trọng tâm.
Trong đó, phải củng cố vững chắc vành đai an ninh - phát triển của đất nước, giữ thế chủ động chiến lược cho các tình huống phức tạp, bất ngờ và những biến động của tình hình thế giới; tiếp tục đưa quan hệ với các đối tác ưu tiên, chủ chốt đi vào chiều sâu, ổn định, bền vững, đặc biệt, đẩy mạnh quan hệ với các nước láng giềng, nước lớn, đối tác chiến lược, đối tác toàn diện, bạn bè truyền thống và các đối tác quan trọng khác.
Ngành nâng tầm “sứ mệnh quốc tế”, đóng góp của Việt Nam cho hòa bình, phát triển và giải quyết những vấn đề chung của khu vực và thế giới, góp phần xây dựng và bảo vệ trật tự quốc tế công bằng, bình đẳng, dựa trên luật pháp quốc tế.
Thủ tướng chỉ đạo tiếp tục mở rộng không gian phát triển, kiến tạo cơ hội đột phá, tranh thủ tối đa các nguồn lực và điều kiện thuận lợi bên ngoài để tăng trưởng nhanh, bền vững; phát huy sức mạnh mềm quốc gia, lan tỏa hình ảnh Việt Nam “độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển, phồn vinh, hạnh phúc” tương xứng với tầm vóc, thế và lực của đất nước trong kỷ nguyên mới; xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại, chuyên nghiệp; triển khai đồng bộ, hiệu quả các hoạt động trên cả ba trụ cột đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại Nhân dân.
Cho rằng, công tác đối ngoại là nhiệm vụ hết sức khó khăn, vất vả nhưng cũng rất vẻ vang và đáng tự hào, Thủ tướng Phạm Minh Chính mong muốn cán bộ ngoại giao phải phát huy cao nhất tinh thần 24 chữ: “Trung thành, tận tụy; tự tin, sáng tạo; bản lĩnh, linh hoạt; đàm phán thuyết phục; hiệu quả hàng đầu; Tổ quốc trên hết”; tin tưởng, phát huy bề dày truyền thống vẻ vang 80 năm qua, ngành Ngoại giao Việt Nam sẽ tiếp tục gặt hái nhiều thành tựu rực rỡ hơn nữa, góp phần phát triển đất nước ta ngày càng giàu mạnh, văn minh, phồn vinh, thịnh vượng, Nhân dân ngày càng được ấm no, hạnh phúc; với kết quả, thành tựu năm sau cao hơn năm trước, nhiệm kỳ sau cao hơn nhiệm kỳ trước, kỷ nguyên mới tốt hơn kỷ nguyên vừa qua.
-Việt An