The Latest News
Thương mại Việt Nam - Lào hướng tới mục tiêu 5 tỷ USD
Với nền tảng hữu nghị đặc biệt và các khung khổ pháp lý mới, hai quốc gia đang nỗ lực đưa hợp tác kinh tế - thương mại - đầu tư trở thành "trụ cột gắn kết chiến lược" trong giai đoạn mới.
Theo bà Trần Thị Tú Anh, Tham tán Thương mại Việt Nam tại Lào, Việt Nam và Lào không chỉ là hai quốc gia láng giềng có chung không gian sinh tồn và phát triển mà còn có chung chí hướng và khát vọng. Mối quan hệ thương mại giữa hai nước đã trải dài hơn 60 năm, được xây dựng trên sự gắn bó mật thiết giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai phía.
Sự kết nối về địa lý với đường biên giới dài hơn 2.337km đi qua 9 tỉnh, thành của Việt Nam và 10 tỉnh, thành của Lào là một lợi thế tự nhiên to lớn. Đây đều là những địa bàn chiến lược trên Hành lang kinh tế Đông-Tây, đóng vai trò là cửa ngõ giao thương quan trọng của cả hai nước với khu vực ASEAN và thế giới.
Đặc biệt, sự tăng trưởng vượt bậc của thương mại song phương những năm gần đây dựa trên các khung khổ pháp lý quan trọng được ký kết, tiêu biểu là Hiệp định Thương mại song phương (sửa đổi năm 2024), Hiệp định Thương mại biên giới (2015) và Hiệp định về mua bán than và điện (2025). Những văn bản này đã tạo điều kiện thiết thực cho doanh nghiệp hai nước trao đổi hàng hóa và thúc đẩy thương mại biên giới phát triển.
Nhờ sự phối hợp hiệu quả giữa Bộ Công Thương hai nước thông qua các hoạt động xúc tiến, kết nối và hội chợ, Việt Nam hiện vững vàng ở vị trí đối tác thương mại lớn thứ 3 của Lào. Kim ngạch thương mại đã liên tục lập đỉnh, năm 2024 lần đầu tiên vượt mốc 2 tỷ USD, đạt kỷ lục 2,2 tỷ USD; năm 2025 đạt mốc 2,98 tỷ USD, tăng trưởng mạnh mẽ 32,7% so với năm trước.
Dòng chảy hàng hóa giữa hai nước diễn ra hết sức sôi động với nhiều mặt hàng chủ lực. Xuất khẩu của Việt Nam sang Lào dẫn đầu là sản phẩm hóa chất với 353,2 triệu USD (tăng 112,7%) và máy móc thiết bị đạt 140,7 triệu USD (tăng 132,8%). Các mặt hàng khác cũng ghi nhận sự tăng trưởng khả quan như sắt thép (tăng 52,8%), thức ăn gia súc (tăng 41,4%), giấy (tăng 79,0%) , dây điện (tăng 126,7%) và clanhke, xi măng (tăng 264,4%).
Ngược lại, Việt Nam nhập khẩu từ Lào chủ yếu là than đá (145,8 triệu USD), phân bón (96,7 triệu USD) và hàng rau quả (tăng đột biến 199,8%).
Bên cạnh thương mại hàng hóa, hợp tác năng lượng trở thành điểm sáng mới với các dự án năng lượng tái tạo quy mô lớn tại Lào như: Dự án điện gió Trường Sơn (600MW) tại tỉnh Bolikhamxay vận hành thương mại từ tháng 9/2025; dự án điện gió Savan 1 (300MW) tại tỉnh Savannakhet bắt đầu bán điện sang Việt Nam từ tháng 12/2025.
Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, hai Đảng đã thống nhất mục tiêu đưa hợp tác kinh tế - thương mại - đầu tư trở thành "trụ cột gắn kết chiến lược mới". Mục tiêu cốt lõi là đưa kim ngạch thương mại song phương sớm đạt mốc 5 tỷ USD.
Để hiện thực hóa tầm nhìn này, hai bên sẽ tận dụng tối đa các ưu đãi thuế phí từ những hiệp định đã ký kết, tạo thêm việc làm và nâng cao đời sống nhân dân. Điều này không chỉ thúc đẩy phát triển kinh tế mà còn góp phần xây dựng đường biên giới Việt - Lào hòa bình, ổn định và hợp tác bền vững.
Thương vụ Việt Nam tại Lào-Song Hà
Ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số để nâng tầm thương hiệu chè Thái Nguyên
Thái Nguyên cũng đã có Chỉ dẫn địa lý Tân Cương, được Liên minh châu Âu (EU) bảo hộ theo Hiệp định EVFTA, trở thành một trong số ít nông sản của Việt Nam bước chân vào thị trường này.
Địa phương này hiện đã có hơn 200 sản phẩm chè đạt tiêu chuẩn OCOP 3 đến 5 sao, trong đó có ba sản phẩm đạt 5 sao cấp quốc gia, kết nối lên các sàn thương mại điện tử lớn. Giá trị cây chè mang lại cho Thái Nguyên đạt hơn 13.000 tỷ đồng/năm, bình quân mỗi hecta chè đạt thu nhập 400 triệu đồng/năm.
https://www.youtube.com/embed/IJjBKIraMSITheo Tiến sĩ Bùi Bá Chính, Giám đốc Trung tâm Mã số, mã vạch quốc gia, Ủy ban Tiêu chuẩn, đo lường chất lượng quốc gia (Bộ Khoa học và Công nghệ), để trà Thái Nguyên vươn xa, giúp người dân làm giàu, tăng thu nhập thì việc ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số phải được thực hiện tốt hơn, hiệu quả hơn, đặc biệt việc truy xuất nguồn gốc, mã số, mã vạch và minh bạch thông tin sản phẩm là yêu cầu tất yếu.
Việc chuyển đổi số cũng như ứng dụng khoa học công nghệ không chỉ là công cụ kỹ thuật mà còn là nền tảng để bảo vệ thương hiệu, nâng cao niềm tin thị trường và giúp sản phẩm tiếp cận hiệu quả thị trường trong nước và quốc tế.
Tại xã Tân Cương, Hợp tác xã Chè Hảo Đạt là đơn vị đi đầu trong ứng dụng khoa học - công nghệ vào sản xuất chè, tự nghiên cứu cải tiến và đưa ống diệt men chè vào quy trình chế biến truyền thống tại cơ sở của mình.
So với phương pháp chảo thủ công, ống diệt men rút ngắn thời gian xao mỗi mẻ xuống chỉ 3 đến 5 phút, lá chè chín đều, mềm dẻo, giữ nguyên màu xanh sẫm tự nhiên và hương thơm đặc trưng. Một ống diệt men có thể thay thế tới tám chảo thủ công, giảm hai lao động/mẻ, tăng sản lượng gấp 3 đến 5 lần.
Thái Nguyên đã chỉ đạo, hỗ trợ các đơn vị đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ trong sản xuất, chế biến chè. Tỉnh triển khai Trạm thời tiết thông minh iMetos giúp đưa ra dự báo, cảnh báo thời tiết chính xác phục vụ trồng, chăm sóc cây chè ứng dụng hệ thống tưới nước tiết kiệm tự động, lưới cắt nắng, đăng ký mã số vùng trồng, thu hút đầu tư nhà máy chế biến quy mô, công nghệ hiện đại, thân thiện môi trường.
Tỉnh đặt mục tiêu đến năm 2030, khoảng 70% diện tích chè được chứng nhận sản xuất theo tiêu chuẩn GAP, hữu cơ; 70% diện tích được cấp mã số vùng trồng và 100% số cơ sở chế biến, kinh doanh bảo đảm quy định an toàn thực phẩm.
Tỉnh Thái Nguyên đã quyết định đầu tư hơn 500 tỷ đồng để hỗ trợ toàn bộ chi phí khi trồng mới hoặc thay thế giống chè cũ, hỗ trợ tới 70% chi phí phân bón hữu cơ, vi sinh trong năm đầu; hỗ trợ 100% kinh phí chứng nhận lần đầu tiêu chuẩn VietGAP, hữu cơ,… Các hợp tác xã, doanh nghiệp được hỗ trợ chi phí xây dựng hệ thống tưới thông minh, chi phí mua máy móc chế biến hiện đại.
Tỉnh cũng hỗ trợ chi phí cấp mã vùng trồng, tem điện tử, đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ, phát triển sản phẩm OCOP; hỗ trợ hoạt động chủ thể ngành chè quảng bá, tham gia hội chợ, triển lãm trong nước và nước ngoài; khuyến khích phát triển du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái gắn với vùng chè.
-Châu Anh
Dự báo backlog các doanh nghiệp xây dựng niêm yết tăng trưởng 24% năm 2026
Năm 2026 trở thành năm bản lề của chu kì đầu tư công trung hạn 2026 – 30 khi là bước khởi đầu trong chiến lược phát triển mạng lưới 2,362 Km đường sắt vào năm 2030 với những dự án chiến lược sẽ được khởi công như Hà Nội – Hạ Long, Đường sắt Hà Nội -Hải Phòng -Lào Cai, Metro Bến Thành – Cần Giờ và đường sắt cao tốc Bắc – Nam.
Các dự án đường sắt đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh đã hoàn thiện mục tiêu 3.000 km cao tốc và tiến tới mục tiêu 4.802km tăng so với hiện tại 2.362km.
Bên cạnh việc mở rộng danh mục dự án, các vướng mắc của năm 2025 như bảng giá đất khác nhau tại 1 số địa phương gây khó khăn trong quá trình đền bù sau sáp nhập hay tiền sử dụng đất có thể được tháo gỡ trong năm tới nhờ các quy định mới trong Luật Đất Đai (sửa đổi) và Luật Đầu tư công (sửa đổi). Nhờ đó, dự báo giải ngân vốn đầu tư công năm 2026 có thể tăng 20% so với cùng kỳ và đạt 930 nghìn tỷ đồng.
MBS dự báo backlog các doanh nghiệp xây dựng niêm yết, dự kiến tăng trưởng 24% so với cùng kỳ trong năm 2026 trong đó chủ yếu đóng góp từ các doanh nghiệp lớn. Đối với nhóm xây dựng dân dụng, việc hưởng lợi từ các chủ đầu tư lớn tăng cường triển khai dự án giúp backlog của CTD tăng trưởng 42% so với cùng kỳ.
Đối với các doanh nghiệp xây dựng hạ tầng, trúng thầu thêm các dự án cao tốc giúp VCG tăng trưởng 17% và HHV dự báo giá trị hợp đồng kí mới tăng 13%,
MBS đánh giá, backlog của các doanh nghiệp xây dựng dân dụng có thể tăng trưởng cao hơn so với các doanh nghiệp hạ tầng với những lý do chính sau các chủ đầu tư bất động sản lớn đang tập trung triển khai các đại dự án với quy mô lớn với mục tiêu mở bán dự án trong bối cảnh nhu cầu Bất động sản ở mức cao và Chính phủ trao quyền cho các chủ đầu tư lớn trong việc triển khai và vận hành 1 số dự án đầu tư hạ tầng như Sân bay Phú Quốc hay sân bay Gia Bình.
Bên cạnh đó, trong bối cảnh các dự án hạ tầng tập trung vào triển khai mạng lưới đường sắt, việc trúng thầu có thể khó khăn hơn do hiện tại việc đấu thầu cũng đang tập trung vào các chủ đầu tư lớn.
Nhờ nguồn việc ổn định trong bối cảnh các dự án được đẩy mạnh triển khai có thể tác động tích cực tới giá trúng thầu của các doanh nghiệp xây lắp. MBS đánh giá, giá trúng thầu có thể cải thiện hơn so với giai đoạn 2023 – 24 khi giá bán cải thiện hơn giúp chủ đầu tư có thêm dư địa để nâng cao giá vốn xây dựng.
Tuy nhiên, giá nguyên vật liệu tiếp tục duy trì ở mức cao có thể hạn chế khả năng mở rộng biên lợi nhuận gộp. Tóm lại, giá nguyên vật liệu cao hơn được bù đắp bởi giá trúng thầu tích cực, nhờ đó biên lợi nhuận gộp dự báo đi ngang quanh mức 3% - 3.5%.
Bên cạnh đó, lãi suất vay hiện tại dù tăng nhẹ khoảng 0.5đ % - 1đ % so với thời điểm đầu năm 2024 tuy nhiên vẫn ở mức 11.5% thấp hơn khoảng 1 điểm % so với cùng kỳ nhờ đó giảm bớt gánh nặng lãi vay cho các chủ đầu tư. Hơn nữa, trong bối cảnh nhu cầu mua bất động sản đang ở mức cao dựa trên tỷ lệ hấp thụ tại các dự án mở bán ở mức trên 70%, nhờ đó có thể mang lại dòng tiền cho doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp xây lắp có thể được hưởng lợi trong bối cảnh cơ cấu tài chính và dòng tiền của các chủ đầu tư lành mạnh khi các khoản nợ xấu có xu hướng suy giảm.
Cổ phiếu tiềm năng nhất là CTD. CTD được hưởng lợi mạnh mẽ trong bối cảnh ngành xây dựng phục hồi với 3 phân khúc chính đến từ dân dụng, công nghiệp và hạ tầng. Nhờ đó, doanh thu tăng trưởng lần lượt 13%/10% vào năm 2026-2027.
Biên lợi nhuận gộp phục hồi lần lượt 0.3đ%/ 0.2đ% so với cùng kỳ trong bối cảnh nguồn việc thuận lợi hơn và doanh nghiệp có 1 số biện pháp hạn chế tác động của việc tăng giá NVL. Thị trường bất động sản phục hồi giúp CTD dự kiến không ghi nhận khoản nợ xấu trong giai đoạn 2026 – 27, từ đó chi phí quản lý doanh nghiệp dự kiến giảm 30% so với giai đoạn 2022-24.
Mức định giá P/B đang thấp hơn trong giai đoạn phục hồi của ngành xây dựng.
-Thu Minh
Phạt tù chung thân đối tượng lừa đảo, chiếm đoạt hơn 229 tỷ đồng
Theo cáo trạng, Hương làm nghề buôn bán bất động sản tự do. Khoảng đầu năm 2018, qua quan hệ xã hội, Hương quen biết bà H. Thấy bà H có điều kiện tài chính nên Hương đã đưa ra nhiều thông tin gian dối để dẫn dụ bà H đưa tiền đầu tư bất động sản.
Hương nói với bà H chồng mình là tổng giám đốc công ty bất động sản lớn, có nhiều mối quan hệ, đồng thời cung cấp cho bà H nhiều thông tin về việc triển khai các dự án bất động sản tại TP Hà Nội.
Khoảng tháng 8/2018, bà H. thấy khu đất tại số nhà 36 phố Trần Hưng Đạo có vị trí đẹp nên muốn đầu tư xây dựng văn phòng cho thuê. Thực tế, khu đất này là biệt thự cũ thuộc sở hữu nhà nước, trước đó đã được giao cho Nhà máy Văn hóa phẩm Hồng Hà cùng 25 hộ dân quản lý sử dụng.
Mặc dù biết rõ tình trạng pháp lý dự án trên, song Hương vẫn nói có thể giúp bà H mua được toàn bộ thửa đất trên với giá 400 triệu đồng/m2. Ngày 27/8/2018, bà H chuyển 5 tỷ đồng cho Hương để đặt cọc mua thửa đất nêu trên.
Đặc biệt, Hương khi ký hợp đồng đặt cọc, Hương còn nhờ một cựu cán bộ công an ký vào mục người chứng kiến. Do đó, bà H tiếp tục chuyển cho Hương 20 tỷ đồng.
Cũng trong thời gian này, Hương còn gợi ý cho bà H mua thêm thửa đất tại địa chỉ nhà 47F phố Ngô Quyền, phường Cửa Nam. Đáng chú ý là địa chỉ trên không có thật song Hương vẫn đưa ra thông tin để nạn nhân chuyển tiền cho mình.
Tổng cộng Hương nhận hơn 229 tỷ đồng từ bà H. Sau những lần nhận tiền Hương viết giấy biên nhận, cam kết sẽ đền bù “gấp đôi tiền cọc” để nạn nhân tin tưởng.
Cơ quan tố tụng xác định từ ngày 27/8/2018 đến ngày 5/12/2020, Hương đã thực hiện 899 giao dịch chuyển tiền tới nhiều tài khoản khác nhau với số tiền hơn 193 tỷ đồng, rút tiền mặt 35 tỷ đồng để trả nợ, chi tiêu cá nhân và mua bất động sản.
Vào ngày 15/7/2019, Hương đưa cho bà H giấy “thông báo trúng thầu” nhưng không ghi ngày tháng. Sau một thời gian, Hương hứa hẹn song không thực hiện theo cam kết nên bà H đã gửi đơn tố giác đến cơ quan công an.
Quá trình điều tra, Hương không thừa nhận việc mua bán đất. Hương khai nhận toàn bộ số tiền bà H chuyển là tiền Hương vay để kinh doanh. Tuy nhiên, căn cứ vào lời khai của bị hại, người làm chứng, giám định chữ viết, file ghi âm, sao kê tài khoản, tin nhắn… thể hiện việc Hương đã nhận và chiếm đoạt hơn 229 tỷ đồng của nạn nhân.
Sau khi xem xét toàn bộ chứng cứ, Hội đồng xét xử đã tuyên phạt bị cáo Đặng Thị Thanh Hương tù chung thân về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, đồng thời tuyên buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền hơn 229 tỉ đồng cho bà H.
-Đỗ Mến
Nga và Trung Quốc lên tiếng về thuế quan Greenland của Tổng thống Trump
Bộ Ngoại giao Trung Quốc ngày 19/1 lên tiếng sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump đe dọa dùng thuế quan để trừng phạt các quốc gia châu Âu phản đối kế hoạch sáp nhập Greenland vào Mỹ.
“Luật pháp quốc tế, dựa trên các mục đích và nguyên tắc của Hiến chương Liên hợp quốc, là nền tảng của trật tự quốc tế hiện nay và cần được duy trì. Chúng tôi kêu gọi Mỹ không viện dẫn ‘mối đe dọa từ Trung Quốc’ như một lý do để theo đuổi lợi ích riêng”, ông Guo Jiakun, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc, nói tại một cuộc họp báo.
Thời gian gần đây, Tổng thống Trump liên tục khẳng định Washington cần Greenland vì mục đích an ninh quốc gia, đồng thời cho rằng Trung Quốc và Nga đang tìm cách đặt dấu ấn lớn hơn ở hòn đảo Bắc Cực giàu tài nguyên này. Theo lập luận của ông Trump, Mỹ phải tăng hiện diện tại đây để ngăn hai quốc gia này mở rộng ảnh hưởng.
Hôm thứ Bảy tuần trước, ông Trump tuyên bố sẽ áp thuế quan 10% lên hàng hóa từ 8 nước châu Âu - Đan Mạch, Na Uy, Thụy Điển, Pháp, Đức, Anh, Hà Lan và Phần Lan - nếu các nước này không ủng hộ đề xuất sáp nhập Greenland vào Mỹ. Greenland hiện là vùng bán tự trị thuộc Đan Mạch.
"Hòa bình thế giới đang bị đe dọa. Trung Quốc và Nga đều muốn Greenland, và Đan Mạch không thể làm gì để ngăn chuyện đó”, ông Trump viết trên mạng xã hội Truth Social.
Phát biểu với báo chí tại Washington tuần trước, Ngoại trưởng Đan Mạch Lars Lokke Rasmussen nói rằng nhận xét của ông Trump về việc Greenland bị tàu Nga và Trung Quốc “bao quanh” là không đúng thực tế.
“Không đúng khi nói tàu chiến Trung Quốc xuất hiện dày đặc quanh Greenland. Theo thông tin tình báo của chúng tôi, Greenland không ghi nhận tàu chiến Trung Quốc trong khoảng một thập niên qua”, ông Rasmussen cho biết.
Cũng trong ngày 19/1, Nga lên tiếng về vấn đề Greenland. Điện Kremlin cho biết khó có thể bác bỏ nhận định của một số chuyên gia rằng Tổng thống Trump sẽ “ghi danh vào lịch sử” của Mỹ và thế giới nếu giành được quyền kiểm soát Greenland.
Người phát ngôn Điện Kremlin Dmitry Peskov nhấn mạnh ông không bình luận động thái đó là tích cực hay tiêu cực mà chỉ đơn thuần đưa ra đánh giá mang tính thực tế.
Khi được hỏi về phát biểu của ông Trump liên quan tới điều ông gọi là “mối đe dọa từ Nga”, ông Peskov nói thời gian gần đây xuất hiện nhiều “thông tin gây quan ngại”. Tuy vậy, ông cho biết Điện Kremlin sẽ không bình luận về cáo buộc cho rằng Nga có ý đồ với Greenland.
“Có lẽ nên gác lại chuyện đánh giá điều này tốt hay xấu, hay có phù hợp với luật pháp quốc tế hay không. Một số chuyên gia quốc tế cho rằng nếu giải quyết được vấn đề sáp nhập Greenland, ông Trump chắc chắn sẽ ghi danh vào lịch sử - không chỉ lịch sử của Mỹ mà cả lịch sử thế giới”, ông Peskov nói.
Trong khi đó, Bộ Ngoại giao Nga tuần trước cho rằng phương Tây không nên tiếp tục cáo buộc Nga và Trung Quốc đe dọa Greenland. Moscow cũng nhận xét căng thẳng xung quanh vùng lãnh thổ này cho thấy “tiêu chuẩn kép” của các cường quốc phương Tây.
Về phần mình, các nhà lãnh đạo Đan Mạch và Greenland đều nhấn mạnh Greenland không phải để bán, đồng thời khẳng định hòn đảo này không có ý định trở thành một phần của Mỹ.
-Đức Anh
Thái Lan hướng tới mục tiêu nâng tổng doanh thu
Theo TTG Asia - ấn phẩm truyền thông du lịch hàng đầu ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trong năm 2025, lượng khách quốc tế đến Thái Lan đạt 32,97 triệu lượt, trong đó có kỷ lục 10,8 triệu lượt khách từ các thị trường đường dài.
Lần đầu tiên, lượng khách từ Anh và Mỹ vượt mốc 1 triệu người. Du lịch nội địa cũng duy trì ổn định với 202 triệu lượt khách, đưa tổng doanh thu toàn ngành lên khoảng 2.700 tỷ baht (gần 86 tỷ USD), tiếp tục đóng vai trò trụ cột của nền kinh tế.
Trên nền tảng đó, TAT mới đây đã công bố “Chiến lược Du lịch Thái Lan Tương lai”, đặt mục tiêu nâng tổng doanh thu du lịch vào năm 2026 lên 3.000 tỷ baht (hơn 95 tỷ USD). Trọng tâm của chiến lược là mô hình Kinh tế 5 yếu tố đột phá, nhằm củng cố thương hiệu Amazing Thailand.
Yếu tố đầu tiên là Kinh tế Đời sống, tập trung phát triển du lịch chăm sóc sức khỏe và y tế, một lĩnh vực mà Thái Lan đang có lợi thế cạnh tranh rõ rệt. Yếu tố thứ hai là Kinh tế Văn hóa, hướng đến các phân khúc thị trường ngách có giá trị cao như điện ảnh, thể thao, du thuyền, du lịch tàu biển, hàng không tư nhân và các ngành công nghiệp sáng tạo. Cách tiếp cận này nhằm đa dạng hóa sản phẩm và thu hút nhóm khách có mức chi tiêu cao.
rọng tâm của chiến lược là mô hình Kinh tế 5 yếu tố đột phá, nhằm củng cố thương hiệu Amazing Thailand.Yếu tố thứ ba là Kinh tế đêm, với mục tiêu kéo dài thời gian lưu trú và mở rộng các hoạt động du lịch ngoài khung giờ ban ngày từ ẩm thực, giải trí đến sự kiện văn hóa. Yếu tố thứ tư, Kinh tế tuần hoàn, lồng ghép các nguyên tắc bền vững, thúc đẩy phân bổ thu nhập đồng đều giữa các vùng và giảm tác động môi trường.
Yếu tố cuối cùng là Kinh tế nền tảng, đóng vai trò hỗ trợ thông qua việc phát triển các dịch vụ du lịch kỹ thuật số, thương mại điện tử và hệ thống thanh toán không tiền mặt.
Thống đốc TAT Thapanee Kiatphaibool nhấn mạnh, du lịch Thái Lan năm 2026 đánh dấu sự chuyển đổi từ phục hồi sang tái cấu trúc. Trọng tâm của năm 2026 là nâng cao chất lượng, tái lập cân bằng và tạo giá trị bền vững cho kinh tế, xã hội và môi trường. Kế hoạch mới này vạch ra một lộ trình rõ ràng hướng tới du lịch chất lượng cao, chú trọng giá trị.
Theo bà Thapanee Kiatphaibool, “Chiến lược Du lịch Thái Lan Tương lai đánh dấu một sự chuyển đổi rõ rệt từ phục hồi sang chuyển mình. Đến năm 2026, trọng tâm là nâng cao chất lượng, khôi phục sự cân bằng và tạo ra giá trị lâu dài cho nền kinh tế, xã hội và môi trường. Mục tiêu ba nghìn tỷ baht phản ánh niềm tin vào tiềm năng của Thái Lan và cam kết về sự tăng trưởng bền vững, toàn diện cho tương lai”.
Những trụ cột này cũng được củng cố bởi năm chiến lược tiếp thị trọng tâm được thiết kế để thúc đẩy du lịch chất lượng và lợi nhuận bền vững. Về mảng tiếp thị quốc tế, TAT đang đẩy mạnh chủ đề bao quát "Chữa lành là sự sang trọng mới", định vị Thái Lan như một điểm đến quanh năm để phục hồi sức khỏe, chăm sóc tinh thần và trải nghiệm văn hóa đích thực.
Mục tiêu ba nghìn tỷ baht phản ánh niềm tin vào tiềm năng của Thái Lan.Những chiến lược này được bổ sung bởi những nỗ lực không ngừng nhằm nâng cao vị thế của Thái Lan như một điểm đến quay phim đẳng cấp thế giới thông qua chương trình Amazing Film Location Thailand, và được khuếch đại thông qua sự hợp tác với các phương tiện truyền thông toàn cầu, các nền tảng kỹ thuật số và các đối tác kinh doanh hàng đầu.
TAT sẽ ưu tiên khách du lịch đường dài thông qua chiến lược NIYOM, củng cố sức hấp dẫn của Thái Lan thông qua các hành trình trải nghiệm mới, tiêu chuẩn dịch vụ khách sạn toàn diện, sự sẵn sàng trở thành điểm đến quanh năm, bản sắc văn hóa độc đáo và tập trung vào du lịch ý nghĩa.
Các thị trường chặng ngắn sẽ được tiếp cận thông qua việc tăng cường tương tác cụ thể với từng thị trường, mở rộng các phân khúc thị trường ngách và phân khúc khách hàng có giá trị cao, cũng như giới thiệu các chủ đề và điểm đến du lịch mới để hỗ trợ sự tăng trưởng du lịch cân bằng.
Cách tiếp cận thị trường quốc tế này được củng cố bởi sự phát triển của TAT thành một Trung tâm Thông tin, thúc đẩy Hệ sinh thái Du lịch Kỹ thuật số kết nối cung và cầu. Về phía cầu, điều này bao gồm việc tăng cường khả năng tiếp cận với những du khách chất lượng cao thông qua ứng dụng Amazing Thailand SuperApp và hệ thống ghép nối du khách dựa trên trí tuệ nhân tạo.
Về phía cung, Cổng thông tin các bên liên quan quốc gia cho phép các nhà điều hành du lịch trên toàn quốc giới thiệu sản phẩm và dịch vụ hiệu quả hơn, từ đó củng cố hệ sinh thái du lịch bền vững và ổn định trong dài hạn.
Kinh tế Văn hóa, hướng đến các phân khúc thị trường ngách có giá trị cao như điện ảnh, thể thao, du thuyền, du lịch tàu biển...Đầu tháng 1/2026, Quyền Bộ trưởng Du lịch và Thể thao Artthakorn Sirilatthayakorn thừa nhận du lịch Thái Lan đã "bỏ lỡ cơ hội" trong phát triển điểm đến mới. Đặc biệt khi đặt cạnh Việt Nam – quốc gia mà ông cho rằng đang "liên tục tạo ra nhiều sản phẩm du lịch mới hấp dẫn du khách".
Tờ Bangkok Post, trong phần đánh giá nguyên nhân, đã nhận định rằng du lịch Thái Lan phụ thuộc nhiều vào các điểm đến truyền thống như đền chùa, cung điện và bãi biển, trong khi thiếu đổi mới để kéo du khách quay trở lại. Ở khu vực Đông Nam Á, Malaysia đã vượt Thái Lan năm thứ hai liên tiếp để trở thành điểm đến đón khách nhiều nhất Đông Nam Á trong năm 2025.
Trong nỗ lực tăng tốc các nỗ lực hướng tới mục tiêu đón 36,7 triệu lượt khách năm 2026, một động thái đang gây "sốt" là sự hiện diện của Đại sứ du lịch Thái Lan – nữ ca sĩ Lisa Blackpink - trong bộ phim quảng bá du lịch Thái Lan mới nhất.
Bộ phim quảng bá sắp ra mắt sẽ giới thiệu Lisa như một hướng dẫn viên du lịch cao cấp.Cụ thể, trước thềm ra mắt bộ phim quảng bá du lịch Thái Lan dự kiến vào ngày 28/1, TAT hôm 9/1 đã tung ra đoạn video quảng bá (teaser) với sự hiện diện của ngôi sao K-pop nổi tiếng.
Video quảng bá nhanh chóng gây "sốt" dư luận với nhiều lời đồn đoán về địa điểm quay phim, một số cho rằng bối cảnh cuối cùng có thể là chùa Wat Chedi Luang tại Chiang Mai dịp Yi Peng Festival (lễ hội thả đèn trời). TAT cũng cho biết bộ phim quảng bá sắp ra mắt sẽ giới thiệu Lisa như một hướng dẫn viên du lịch cao cấp, đưa khán giả tới các địa điểm còn chưa được nhiều người biết đến trên khắp "Xứ sở nụ cười" Thái Lan.
-Tường Bách
EU ký thỏa thuận thương mại với Nam Mỹ sau 25 năm đàm phán
Thỏa thuận thương mại giữa Liên minh châu Âu (EU) và khối thị trường chung Nam Mỹ (Mercosur) đã chính thức được ký kết vào ngày 17/1, khép lại quãng thời gian đàm phán 25 năm và đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong quan hệ thương mại quốc tế.
Sự kiện này không chỉ tạo ra một khu vực thương mại tự do với 700 triệu người tiêu dùng mà còn thể hiện sự lựa chọn của EU hướng tới "thương mại công bằng thay vì thuế quan" - như lời Chủ tịch Ủy ban châu Âu (EC) Ursula von der Leyen phát biểu tại lễ ký kết ở Asuncion, Paraguay.
Thỏa thuận này được kỳ vọng sẽ loại bỏ dần khoảng 90% thuế quan trong các lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp, mang lại lợi ích kinh tế đáng kể cho cả hai bên. Theo ước tính của EC, các công ty EU có thể tiết kiệm hơn 4 tỷ euro mỗi năm từ việc giảm thuế hải quan theo thỏa thuận EU - Mercosur. Đồng thời, các quốc gia Mercosur cũng cam kết mở cửa thị trường mua sắm công cho các công ty châu Âu với điều kiện tương tự như các công ty trong nước.
Một điểm nổi bật khác của thỏa thuận là việc công nhận 344 "chỉ dẫn địa lý", bảo vệ các sản phẩm châu Âu khỏi sự sao chép. Ngoài ra, thỏa thuận còn nhằm đảm bảo nguồn cung cấp các khoáng sản quan trọng, giúp giảm sự phụ thuộc của EU vào Trung Quốc về các khoáng sản này.
Chủ tịch Hội đồng châu Âu Antonio Costa nói rằng thỏa thuận gửi đi “một thông điệp về bảo vệ thương mại tự do, lấy nguyên tắc, chủ nghĩa đa phương và sự tôn trọng luật pháp quốc tế làm căn cứ cho mối quan hệ giữa các quốc gia và khu vực”. Ông nói thêm rằng thỏa thuận là sự đối lập với việc “sử dụng thương mại như một vũ khí chính trị”.
Tuy nhiên, theo trang Euronews, thỏa thuận EU - Mercosur cũng gây ra những tranh cãi trong nội bộ EU. Các nước ủng hộ như Đức và Tây Ban Nha cho rằng EU cần mở rộng quan hệ thương mại trong bối cảnh Mỹ bảo hộ thị trường bằng hàng rào thuế quan và Trung Quốc ngày càng có chính sách thương mại quyết liệt. Ngược lại, Pháp dẫn đầu nhóm phản đối, lo ngại rằng thỏa thuận có thể đe dọa nông dân châu Âu khi phải cạnh tranh không công bằng với hàng nhập khẩu từ Mỹ Latin.
Paris đã cố gắng ngăn chặn việc ký kết thỏa thuận, nhưng cuối cùng không thể tập hợp đủ số phiếu để chặn thỏa thuận, đặc biệt sau khi mất sự ủng hộ của Italy vào phút chót. Rome đã quay sang ủng hộ thỏa thuận sau khi đạt được cam kết về trợ cấp cho nông dân từ năm 2028 và miễn trừ thuế biên giới carbon của EU đối với mặt hàng phân bón.
Mặc dù phản đối thỏa thuận, Pháp cũng đã đạt được một điều khoản bảo vệ cho phép tái áp dụng thuế quan nếu nhập khẩu từ Mercosur tăng hơn 5% trong các ngành nhạy cảm.
Thỏa thuận cũng giới hạn lượng nhập khẩu miễn thuế cho các sản phẩm nông nghiệp chủ chốt từ Nam Mỹ vào EU. Cụ thể, nhập khẩu thịt bò hàng năm sẽ bị giới hạn ở mức 99.000 tấn với thuế quan giảm còn 7,5%, tương đương 1,5% sản lượng thịt bò của EU. Nhập khẩu gia cầm sẽ bị giới hạn ở mức 180.000 tấn mỗi năm, tương đương 1,3% sản lượng gia cầm của khối.
Theo ước tính của EC, đến năm 2040, xuất khẩu của EU sang các nước Mercosur có thể sẽ tăng 39% (tương đương tăng 48,7 tỷ euro), trong khi nhập khẩu từ Mỹ Latinh sẽ tăng 16,9% (tương đương tăng 8,9 tỷ euro).
Tuy nhiên, Tổng thống Pháp Emmanuel Macron đã viết trên mạng xã hội X vào tuần trước: "Việc ký kết thỏa thuận chưa phải là sự kết thúc của câu chuyện."
Sau khi được ký kết, thỏa thuận thương mại EU - Mercosur cần tới sự phê chuẩn của Nghị viện châu Âu để có thể có hiệu lực. Việc phê chuẩn đòi hỏi sự đồng thuận của các nhà lập pháp, trong khi các nghị sĩ còn đang chia rẽ chủ yếu theo đường lối quốc gia. Các nghị sỹ phản đối dự kiến sẽ thử thách thức thỏa thuận ngay từ tuần tới, khi Nghị viện châu Âu tiến hành cuộc bỏ phiếu về một nghị quyết kêu gọi đưa thỏa thuận này ra tòa.
-Bình Minh
Du lịch thông minh mang lại nhiều trải nghiệm tiện ích
Theo Ban quản lý hồ Hoàn Kiếm và phố cổ Hà Nội, việc thu phí tham quan bằng vé điện tử sẽ được triển khai tại Di tích số 28 Hàng Buồm và Trung tâm giao lưu văn hóa phố cổ Hà Nội (số 50 Đào Duy Từ). Cùng thời điểm này, Ngôi nhà di sản số 87 Mã Mây mở cửa trở lại, đón khách tham quan sau thời gian tạm dừng hoạt động.
Thay vì bán vé theo cách truyền thống, hai điểm di tích mới áp dụng hệ thống vé điện tử do Trung tâm Thông tin du lịch (Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam) hỗ trợ triển khai. Với hình thức trực tuyến, du khách, doanh nghiệp lữ hành và hướng dẫn viên có thể chủ động mua vé trước thông qua Ứng dụng du lịch quốc gia “Du lịch Việt Nam – Vietnam Travel”. Không gian tham quan vì thế được tổ chức linh hoạt hơn, hạn chế tình trạng ùn ứ vào giờ cao điểm.
Bên cạnh đó, vé điện tử được thiết kế theo hướng liên thông, cho phép kết nối các điểm tham quan trong khu vực phố cổ, hướng tới việc mua vé một lần và sử dụng tại nhiều điểm. Hệ thống cũng hỗ trợ đa dạng phương thức sử dụng, gồm vé in tại quầy, vé tích hợp trên ứng dụng và vé tích hợp trên Thẻ Việt – thẻ du lịch thông minh. Với khách đi theo đoàn, vé tập thể giúp rút gọn thủ tục so với phương thức phát vé lẻ trước đây.
Thay vì bán vé theo cách truyền thống, hai điểm di tích mới áp dụng hệ thống vé điện tử.Theo Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam, việc đưa thêm hai điểm di tích vào hệ thống đã nâng tổng số di tích, điểm tham quan tại phường Hoàn Kiếm được hỗ trợ triển khai vé điện tử lên 6 điểm. Trước đó, mô hình này đã được áp dụng tại Đình Kim Ngân, Đền Bạch Mã, Di tích số 22 Hàng Buồm và Ngôi nhà di sản số 87 Mã Mây.
Trong khi đó, Lễ hội Chùa Hương 2026 diễn ra từ 18/2 đến 11/5, sẽ ứng dụng vé điện tử QR và camera AI để nâng cao trải nghiệm, bảo tồn không gian linh thiêng. Theo Ban Tổ chức Lễ hội du lịch Chùa Hương, hạ tầng viễn thông được đầu tư đồng bộ; các camera AI được xã hội hóa lắp đặt tại những khu vực trọng tâm như bến đò, suối Yến, chùa Thiên Trù, động Hương Tích và các tuyến tham quan chính.
Thực tế, Hà Nội hiện đã triển khai rộng rãi mã QR Code tại nhiều điểm đến, cho phép du khách dễ dàng truy cập thông tin chi tiết, dịch vụ công và tiện ích du lịch chỉ bằng một lần quét. Đặc biệt, các di tích tiêu biểu như Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Hoàng thành Thăng Long và Di tích Nhà tù Hỏa Lò... đã áp dụng đồng bộ các giải pháp hiện đại: bán vé điện tử, thuyết minh tự động bằng nhiều ngôn ngữ, và số hóa dữ liệu qua mã QR.
Nhờ đó, du khách có thể chủ động khám phá thông tin, tùy chỉnh nội dung trải nghiệm theo sở thích cá nhân, thay vì phụ thuộc vào hướng dẫn truyền thống. Những thay đổi này không chỉ nâng cao sự tiện lợi mà còn góp phần bảo tồn và lan tỏa giá trị di sản một cách bền vững.
Nhiều di tích đã áp dụng đồng bộ các giải pháp hiện đại.Tại Hoàng thành Thăng Long, chuyển đổi số đã mang đến các trải nghiệm đột phá, đặc biệt từ cuối năm 2025 và đầu năm 2026. Tour Ký ức Cột cờ được thiết kế theo tuyến chuyên đề kết hợp trưng bày, trình diễn nghệ thuật và ki-ốt công nghệ in ảnh lấy ngay, giúp lịch sử trở nên sống động và gần gũi. Song song đó, vở diễn Kinh đô Thăng Long ứng dụng công nghệ 3D mapping và không gian trải nghiệm số.
Tương tự, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam đã triển khai hàng loạt các dự án lớn, tạo nên những sản phẩm số hóa tiên phong trong ngành. Một trong những bước đột phá là ứng dụng thuyết minh đa phương tiện iMuseum VFA, ra mắt vào năm 2021. Nhờ iMuseum VFA, du khách có thể tự do khám phá hiện vật, tìm kiếm vị trí trưng bày, thậm chí, tham quan trực tuyến từ xa…
Những nỗ lực tại Hà Nội nằm trong định hướng lớn của ngành du lịch Việt Nam, với chuyển đổi số là nhiệm vụ trọng tâm. Cục trưởng Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam Nguyễn Trùng Khánh khẳng định ngành đã kiên định phát triển du lịch gắn với chuyển đổi số để xây dựng hệ sinh thái thông minh, đáp ứng nhu cầu đa dạng của du khách.
Theo Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam, Trung tâm Thông tin du lịch đến nay đã tích hợp tính năng mua vé tàu hỏa trên ứng dụng du lịch quốc gia "Du lịch Việt Nam - Vietnam Travel", kết nối trực tiếp đến hệ thống bán vé chính thức của Đường sắt Việt Nam. Ngoài ra, giải pháp eSIM du lịch cũng được triển khai nhằm hỗ trợ du khách trong hành trình khám phá.
Những nỗ lực tại Hà Nội nằm trong định hướng lớn của ngành du lịch Việt Nam.Mới đây, Trung tâm Thông tin du lịch (Cục Du lịch quốc gia Việt Nam) và Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn-Hà Nội (SHB) cũng đã ký thỏa thuận hợp tác giai đoạn 2026 - 2030. Sự hợp tác này kỳ vọng sẽ thúc đẩy phát triển hệ sinh thái du lịch thông minh, trong đó công nghệ, dữ liệu và tài chính số đóng vai trò trụ cột.
Trước mắt, theo thỏa thuận, các bên sẽ phối hợp triển khai các giải pháp công nghệ nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Trong đó, giải pháp tài chính - du lịch toàn diện được đánh giá là điểm nhấn quan trọng của sự hợp tác giữa hai bên.
Theo đó, giải pháp này được tích hợp trực tiếp trên ứng dụng “Quản trị và kinh doanh du lịch” hỗ trợ đơn vị cung cấp dịch vụ du lịch, hướng dẫn viên, và ứng dụng “Du lịch Việt Nam - Vietnam Travel” hỗ trợ du khách tìm hiểu thông tin, đặt phòng, đặt tour, vé máy bay, vé tàu hỏa, vé tham quan, mua sắm...
Đáng chú ý, các tiện ích như mở tài khoản điện tử (eKYC), thanh toán trực tuyến, quản lý dòng tiền và đối soát giao dịch được tích hợp trên ứng dụng du lịch, giúp nâng cao trải nghiệm người dùng và hỗ trợ doanh nghiệp du lịch quản trị tài chính hiệu quả.
Các tiện ích như mở tài khoản điện tử (eKYC), thanh toán trực tuyến, quản lý dòng tiền và đối soát giao dịch được tích hợp trên ứng dụng du lịch.Từ góc độ ngành, đây là bước tiến quan trọng hướng tới việc xây dựng chuỗi dịch vụ liền mạch: tìm kiếm thông tin - đặt dịch vụ - thanh toán - đối soát - quản trị - phân tích dữ liệu. Với đặc điểm là ngành có mức giao dịch cao, phân mảnh dịch vụ, phụ thuộc vào nền tảng trung gian và nhạy cảm với rủi ro trải nghiệm, việc tích hợp tài chính số được xem là bước “gia cố nền móng” cho du lịch thông minh.
Trong bối cảnh du lịch Việt Nam đang bước vào giai đoạn tăng trưởng theo chiều sâu, việc đưa dữ liệu và tài chính số trở thành cấu phần của hệ sinh thái du lịch không chỉ giải quyết những điểm nghẽn cũ mà còn tạo biên độ cho đổi mới sáng tạo, phát triển sản phẩm và nâng vị thế điểm đến trên bản đồ du lịch quốc tế.
-Tường Bách
Xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam hiện đại, lớn mạnh trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc
Kính thưa đồng chí, trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế và hội nhập quốc tế hiện nay, đồng chí đánh giá như thế nào về vai trò, vị trí và sự phát triển của giai cấp công nhân Việt Nam sau 40 năm đổi mới?
Kể từ khi ra đời đến nay, đặc biệt là trong 40 năm đổi mới vừa qua, giai cấp công nhân nước ta luôn khẳng định sứ mệnh lịch sử, vai trò và vị trí của mình là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong của mình là Đảng Cộng sản Việt Nam. Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, giai cấp công nhân tiếp tục giữ vai trò nòng cốt, trực tiếp duy trì và phát triển sản xuất, tạo ra phần lớn của cải vật chất, đóng góp chủ yếu vào ngân sách nhà nước.
Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, cả nước hiện có khoảng 17,5 triệu lao động trong lĩnh vực công nghiệp – xây dựng và 21,2 triệu lao động trong khu vực dịch vụ, chiếm khoảng 39% dân số và 73,6% lực lượng lao động xã hội. Chất lượng và trình độ tay nghề từng bước được nâng lên; tỉ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 64,5% năm 2020 lên 70% năm 2025, trong đó tỉ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ tăng từ 24,1% năm 2020 lên khoảng 29,2% năm 2025. Đặc biệt, đã có một lớp công nhân trẻ, làm chủ khoa học – công nghệ đang hình thành, thể hiện sức bật mới của giai cấp công nhân Việt Nam trong kỷ nguyên số.
Theo ghi nhận của các cấp Công đoàn, trong thời gian qua, đời sống vật chất và tinh thần của công nhân được cải thiện. Việc làm cơ bản ổn định; thu nhập và tiền lương được nâng lên; môi trường làm việc không ngừng được cải thiện; quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ, số vụ tranh chấp và ngừng việc tập thể giảm mạnh. Quy chế dân chủ ở cơ sở được mở rộng; chính sách an sinh và phúc lợi xã hội ngày càng phát triển.
Với vai trò là tổ chức đại diện lớn nhất của người lao động, Công đoàn Việt Nam đã triển khai những giải pháp trọng tâm nào?
Là “tổ chức đại diện lớn nhất, trung tâm tập hợp, đoàn kết giai cấp công nhân và người lao động cả nước”, Công đoàn Việt Nam đã triển khai nhiều giải pháp tham gia cùng cả hệ thống chính trị xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam hiện đại, lớn mạnh, là lực lượng tiên phong trong thực hiện nhiệm vụ phát triển nhanh và bền vững đất nước.
Một là, tăng cường công tác bồi dưỡng, giáo dục, nâng cao trình độ chính trị, pháp luật, ý thức giai cấp, tinh thần dân tộc cho giai cấp công nhân. Công đoàn đã chủ động, linh hoạt lựa chọn nhiều hình thức, trong đó ứng dụng công nghệ số để đổi mới phương thức tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật; biên soạn và phát hành lượng lớn tài liệu phục vụ giáo dục chính trị, tư tưởng. Các hoạt động tư vấn, hỗ trợ pháp lý, công đoàn đã nâng cao nhận thức pháp luật. năng lực tự bảo vệ quyền lợi của người lao động, góp phần xây dựng mối quan hệ hài hòa, ổn định và tiến bộ trong doanh nghiệp.
Việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được thực hiện thường xuyên. Các hoạt động văn hóa và mạng lưới tuyên truyền viên phát huy hiệu quả. Các mô hình thiết chế văn hóa, tổ tự quản tại khu nhà trọ, hoạt động chăm lo đời sống tinh thần tiếp tục được nhân rộng. Hàng năm, có trên 80% đoàn viên, người lao động được học tập, quán triệt chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước và các quy định của cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp.
Hai là, tích cực tham gia đào tạo, nâng cao trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp, nâng cao năng suất lao động cho công nhân lao động. Công tác vận động đoàn viên, người lao động học tập suốt đời có nhiều mô hình hiệu quả được nhân rộng; chủ động đề xuất với chính quyền, thương lượng với người sử dụng lao động tạo điều kiện cho công nhân tham gia học tập, nâng cao tay nghề. Các cấp công đoàn đã chủ động phối hợp tổ chức nhiều hoạt động như: xây dựng quỹ khuyến học, điểm học tập; phối hợp tổ chức các lớp đào tạo, đào tạo lại; khuyến khích mô hình kèm cặp giữa công nhân bậc cao và công nhân mới.
Ba là, tạo dựng môi trường để công nhân rèn luyện và trưởng thành thông qua các phong trào thi đua yêu nước và các cuộc vận động rộng khắp cả nước. Phong trào thi đua yêu nước, “Lao động giỏi, Lao động sáng tạo” đã có hàng triệu sáng kiến, giá trị làm lợi hàng trăm nghìn tỷ đồng đã khơi dậy mạnh mẽ tinh thần sáng tạo, ý thức kỷ luật và trách nhiệm xã hội của công nhân, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả lao động trên phạm vi cả nước. Tỷ lệ khen thưởng cho công nhân lao động trực tiếp, người không giữ chức vụ lãnh đạo đạt 35,5%, vượt chỉ tiêu đề ra, thể hiện rõ định hướng lấy đoàn viên, người lao động làm trung tâm, hướng mạnh khen thưởng về cơ sở, nơi trực tiếp tổ chức và hưởng ứng các phong trào thi đua.
Bốn là, Công đoàn Việt Nam tiếp tục khẳng định vai trò đại diện, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động. Các cấp công đoàn đã tham gia góp ý hàng nghìn văn bản quy phạm pháp luật; tham gia hiệu quả Hội đồng Tiền lương quốc gia, đề xuất điều chỉnh tiền lương tối thiểu; phản ánh tâm tư, nguyện vọng của công nhân, người lao động với các cấp ủy và chính quyền; đồng thời nâng cao chất lượng đối thoại và thương lượng tập thể. Kết quả, đã có 80,42% bản thỏa ước lao động tập thể được ký kết với nhiều điều khoản có lợi hơn cho người lao động như tiền lương, tiền thưởng, định mức lao động, an toàn, vệ sinh lao động, điều kiện làm việc, bữa ăn giữa ca...
Các chính sách phúc lợi đoàn viên trở thành điểm tựa thiết thực cho hàng triệu người lao động. Chương trình “Mái ấm Công đoàn”, “Tết Sum vầy”, “Tháng Công nhân” được triển khai sâu rộng; đã hình thành và triển khai một số mô hình mới về chăm lo, thu được kết quả tích cực, tiêu biểu như “Bữa cơm công đoàn. Qua 2 năm tổ chức (2024, 2025), đã có hơn 20 nghìn công đoàn cơ sở tổ chức “Bữa cơm Công đoàn” với sự tham dự của hơn 5 triệu đoàn viên. Có gần 23 triệu lượt đoàn viên, người lao động được chăm lo trong dịp Tết Nguyên đán với tổng số tiền gần 15 nghìn tỷ đồng.
Năm là, Công đoàn Việt Nam tăng cường phối hợp với các cấp, các ngành trong xây dựng giai cấp công nhân hiện đại, lớn mạnh; phát huy vai trò nòng cốt của giai cấp công nhân trong liên minh với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, đồng thời thúc đẩy quá trình “trí thức hóa” công nhân. Qua đó, nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp và tư duy sáng tạo của công nhân, góp phần xây dựng lực lượng lao động hiện đại, năng động, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Giai đoạn 2023-2025, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã trao 1.457 Bằng lao động sáng tạo cho các cá nhân tiêu biểu, xuất sắc.
Theo nhận định của đồng chí, đâu là những thách thức lớn hiện nay đối với tổ chức Công đoàn và công nhân?
Bên cạnh những kết quả quan trọng đạt được, thực tiễn cho thấy, nhiệm vụ xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam vẫn đứng trước nhiều thách thức, đó là:
Thứ nhất, sự phát triển của giai cấp công nhân chưa theo kịp yêu cầu của mô hình tăng trưởng và chiến lược phát triển đất nước. Chất lượng nguồn nhân lực công nhân còn hạn chế; cơ cấu lao động kỹ thuật mất cân đối, thiếu hụt lực lượng công nhân lành nghề, công nhân kỹ thuật cao và công nhân có năng lực làm chủ công nghệ hiện đại. Lực lượng công nhân trẻ đông nhưng thiếu ổn định, tuổi nghề ngắn, nguy cơ dịch chuyển sang khu vực phi chính thức ngày càng nhiều, làm suy giảm tính bền vững của giai cấp công nhân trong dài hạn.
Thứ hai, những bất cập kéo dài trong phân phối lợi ích và bảo đảm an sinh xã hội làm suy giảm động lực phấn đấu của công nhân. Việc làm chưa bền vững; tiền lương tối thiểu chưa đủ sống; chênh lệch thu nhập giữa các nhóm lao động và giữa các khu vực còn lớn. Hệ thống phúc lợi xã hội, nhất là nhà ở, nhà gửi trẻ, cơ sở y tế và nơi học tập, sinh hoạt văn hóa tinh thần còn thiếu, làm gia tăng phân hóa trong nội bộ giai cấp công nhân và tiềm ẩn nguy cơ mất ổn định trong quan hệ lao động.
Thứ ba, mô hình quản trị nhân lực chậm đổi mới, chưa phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững. Cường độ lao động cao, thời giờ làm việc kéo dài vẫn phổ biến, trong khi việc đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất và chất lượng nguồn nhân lực chưa tương xứng. Điều này hạn chế khả năng tái tạo sức lao động, học tập nâng cao kỹ năng và chăm lo đời sống toàn diện của công nhân, ảnh hưởng lâu dài đến sức cạnh tranh quốc gia.
Thứ tư, công tác tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận về giai cấp công nhân chưa đáp ứng yêu cầu của bối cảnh mới. Nhiều vấn đề mới nảy sinh chưa được luận giải đầy đủ; chưa hình thành được các chủ trương, chính sách đột phá trong xây dựng giai cấp công nhân.
Thứ năm, ý thức giai cấp, bản lĩnh chính trị và hiểu biết pháp luật của một bộ phận công nhân còn hạn chế; công tác phát hiện, bồi dưỡng công nhân ưu tú để đào tạo, bố trí vào hệ thống chính trị còn bất cập. Hoạt động công đoàn, nhất là ở doanh nghiệp ngoài nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn nhiều khó khăn; việc pháp luật cho phép thành lập tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp có nguy cơ bị lợi dụng để chia rẽ giai cấp công nhân đặt ra những thách thức mới đối với sự lãnh đạo của Đảng.
Thưa đồng chí, để xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam hiện đại, lớn mạnh, Tổng LĐLĐVN sẽ đề xuất với Trung ương Đảng và Đại hội một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm nào?
Để xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam hiện đại, lớn mạnh, Tổng LĐLĐVN đề xuất với Trung ương Đảng và Đại hội 5 nội dung chính.
Một là, ban hành chiến lược xây dựng giai cấp công nhân gắn với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, cụ thể hóa định hướng xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam hiện đại, lớn mạnh, gắn với sự phát triển của khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo. Chú trọng nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động để giai cấp công nhân Việt Nam thích ứng, phát triển, làm chủ tri thức, công nghệ, hội nhập quốc tế và phát huy sáng kiến, đổi mới sáng tạo trong kỷ nguyên phát triển mới.
Hai là, đảm bảo phân phối hài hòa lợi ích giữa người lao động, người sử dụng lao động và xã hội mà nền tảng là ban hành quy định về mức sống tối thiểu thay cho tiền lương tối thiểu. Cần mở rộng hệ thống phúc lợi và an sinh xã hội, quan tâm tới bảo hiểm xã hội, nhà ở, nhà trẻ, mẫu giáo, y tế, giáo dục và đời sống văn hóa tinh thần của công nhân; thúc đẩy trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, khuyến khích chia sẻ lợi ích công bằng, tạo việc làm bền vững, tiền lương đủ sống và đầu tư cho phát triển con người.
Ba là, nghiên cứu giảm thời giờ làm việc, nâng cao chất lượng cuộc sống của người lao động, gắn với nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh quốc gia. Đây là nhu cầu chính đáng giúp công nhân tái tạo sức lao động, chăm lo đời sống tinh thần, chăm sóc gia đình, con cái, đồng thời có thêm điều kiện học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, thúc đẩy năng suất, chất lượng nguồn nhân lực và sức cạnh tranh của nền kinh tế, qua đó khẳng định vai trò tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Bốn là, chú trọng hơn nữa công tác nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn về xây dựng giai cấp công nhân. Chỉ đạo toàn hệ thống chính trị tổng kết 20 năm triển khai Nghị quyết số 20-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về “Tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, trên cơ sở đó hình thành chủ trương mới lãnh đạo xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam hiện đại, lớn mạnh, trong trong kỷ nguyên phát triển mới.
Năm là, đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự phối hợp, ủng hộ của Nhà nước và hệ thống chính trị để phát huy vai trò của Công đoàn Việt Nam trong xây dựng giai cấp công nhân hiện đại, lớn mạnh. Hoàn thiện cơ chế, chủ động đấu tranh, ngăn chặn việc lợi dụng quyền thành lập tổ chức của người lao động để chia rẽ giai cấp công nhân, xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước và Công đoàn. Quan tâm thúc đẩy kết nạp đoàn viên công đoàn ưu tú vào Đảng, nhất là tại các doanh nghiệp chưa có tổ chức cơ sở đảng.
Với niềm tin tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng và thành công tốt đẹp của Đại hội XIV, giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn Việt Nam nguyện đoàn kết một lòng, phát huy truyền thống vẻ vang, tinh thần tiên phong cách mạng, vững bước tiến lên dưới lá cờ vinh quang của Đảng Cộng sản Việt Nam, quyết tâm nỗ lực không ngừng, chủ động, sáng tạo sớm đưa Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng vào cuộc sống; cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân chung sức, đồng lòng hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
-
Động lực đưa Cà Mau phát triển nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới
Trong không khí phấn khởi, tin tưởng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang hướng về Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng - sự kiện chính trị trọng đại, dấu mốc lịch sử mở ra kỷ nguyên phát triển vươn mình của dân tộc, hôm nay (ngày 20/1), tại Thủ đô Hà Nội, Đại hội bước vào ngày làm việc thứ hai với những nội dung nghị sự quan trọng.
Để giúp độc giả hiểu rõ hơn về quyết tâm cùng những giải pháp chiến lược của Cà Mau trong việc đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước trong giai đoạn phát triển mới, Báo và phát thanh, truyền hình Cà Mau phỏng vấn đồng chí Nguyễn Hồ Hải, Bí thư Tỉnh uỷ, Trưởng đoàn đại biểu tỉnh Cà Mau dự Đại hội XIV của Đảng.
VnEconomy trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc nội dung cuộc phỏng vấn.
Xin đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ cho biết, để thực hiện thành công Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030, tỉnh Cà Mau có giải pháp gì để huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực?
Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030 là một dấu mốc lịch sử đặc biệt. Đây là nhiệm kỳ đầu tiên sau khi hợp nhất tỉnh (Bạc Liêu và Cà Mau), mở ra không gian phát triển mới với tiềm lực và vị thế mới. Để chuyển hoá những định hướng trong Nghị quyết thành hiện thực, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh xác định việc huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực là yếu tố then chốt, mang tính quyết định.
Thứ nhất, huy động nguồn lực tài chính và đầu tư. Quán triệt quan điểm “vốn Nhà nước là vốn mồi, dẫn dắt và kích hoạt mọi nguồn lực xã hội”, Cà Mau sẽ tập trung đẩy mạnh cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh để thu hút các nhà đầu tư chiến lược, các tập đoàn lớn trong và ngoài nước, đặc biệt là trong các lĩnh vực năng lượng tái tạo, kinh tế biển và hạ tầng logistics.
Tỉnh sẽ đa dạng hoá các hình thức đầu tư, đặc biệt là hợp tác công - tư (PPP) để hoàn thiện hệ thống hạ tầng giao thông, hạ tầng đô thị. Trong sử dụng nguồn lực tài chính, tỉnh quán triệt nguyên tắc “trọng tâm, trọng điểm, không dàn trải”; ưu tiên vốn đầu tư công cho các công trình hạ tầng giao thông kết nối liên vùng, hạ tầng ứng phó biến đổi khí hậu và các dự án an sinh xã hội cấp thiết.
Đồng thời, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, đảm bảo mỗi đồng vốn đầu tư đều mang lại hiệu quả thiết thực cho sự phát triển của tỉnh và đời sống của người dân.
Thứ hai, phát triển nguồn nhân lực, xác định đây là nguồn lực quý giá nhất. Nghị quyết Đại hội lần thứ I, Đảng bộ tỉnh đã xác định “Đột phá phát triển nguồn nhân lực” là một trong ba đột phá chiến lược.
Tỉnh tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có tư duy đổi mới, khát vọng cống hiến và năng lực thực thi công vụ chuyên nghiệp. Đồng thời, thực hiện các chính sách thu hút nhân tài, chuyên gia đầu ngành; liên kết với các cơ sở đào tạo lớn để đào tạo nguồn lao động kỹ thuật cao, đáp ứng trong tình hình mới.
Thứ ba, nguồn lực từ cơ chế và thể chế được xác định là “nguồn lực của nguồn lực”. Cà Mau đã và đang tích cực kiến nghị Trung ương cho phép thí điểm các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm phát huy lợi thế của tỉnh địa đầu cực Nam. Tỉnh tập trung đột phá về thể chế, đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật tại địa phương; tập trung tháo gỡ các “điểm nghẽn” về thủ tục đất đai, giải phóng mặt bằng để đẩy nhanh tiến độ các dự án trọng điểm.
Thứ tư, huy động nguồn lực từ sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân. Trung ương đã xác định quan điểm chỉ đạo phát triển đất nước: “Chính trị dẫn đường, văn hoá soi đường, khoa học định hình, Nhân dân thực thi”. Mọi chủ trương của Đảng chỉ thành công khi có sự đồng thuận và chung sức của Nhân dân, tỉnh sẽ phát huy mạnh mẽ tinh thần tự lực, tự cường, tự hào, tự tin, khơi dậy khát vọng vươn lên của mỗi người dân Cà Mau, tạo thành sức mạnh tổng hợp để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra.
Việc tận dụng và khai thác các tiềm năng, lợi thế của tỉnh để thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh và bền vững được quan tâm thực hiện như thế nào, thưa đồng chí?
Cà Mau sau hợp nhất có diện tích tự nhiên hơn 7.942 km, dân số trên 2,6 triệu người, đặc biệt là bờ biển dài 310 km, có 3 mặt giáp biển, với vùng biển rộng trên 120.000 km.
Để tiềm năng được phát huy tối đa, Nghị quyết Đại hội lần thứ I Đảng bộ tỉnh xác định tập trung vào 4 trụ cột chiến lược: (1) Hoàn thiện hạ tầng giao thông kết nối, nhất là hệ thống cao tốc, sân bay, cảng biển để triển khai thực hiện các khu kinh tế, các khu, cụm công nghiệp có lợi thế; phát triển đồng bộ hạ tầng số. (2) Phát triển kinh tế biển: phát triển mạnh năng lượng tái tạo (nhất là điện gió, hướng đến xuất khẩu điện); nâng cao hiệu quả khai thác biển, gắn với bảo vệ chủ quyền quốc gia; đầu tư và từng bước khai thác hiệu quả cảng biển; phát triển công nghiệp chế biến giá trị gia tăng cao. (3) Phát triển nông nghiệp sạch, công nghệ cao, chủ lực là tôm và lúa; (4) Đẩy mạnh phát triển dịch vụ - du lịch: Dựa trên lợi thế sẵn có và giá trị lịch sử, bản sắc văn hoá đặc sắc của địa phương. Trong đó:
Thứ nhất, về hạ tầng: Đẩy nhanh tiến độ triển khai các công trình, dự án và giải ngân vốn đầu tư công ngay từ đầu nhiệm kỳ, lấy đầu tư công dẫn dắt, kích hoạt đầu tư xã hội, thúc đẩy hợp tác công - tư; đặc biệt là các dự án quan trọng, chiến lược đã có chủ trương, ý kiến chỉ đạo của Trung ương, của tỉnh theo quy hoạch. Rà soát, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc từng dự án; đặt biệt là công trình, dự án trọng tâm, trọng điểm, các chương trình mục tiêu quốc gia. Phát triển mạng lưới giao thông đồng bộ, hiện đại theo hành lang kinh tế động lực (đường bộ, thuỷ, hàng không, cảng biển).
Đầu tư các tuyến đường giao thông đến các khu vực trọng điểm phát triển kinh tế, du lịch, di tích lịch sử - văn hoá, về trung tâm các xã, liên xã, gắn với các trục giao thông chính của tỉnh, tuyến quốc lộ, cao tốc... Xây dựng hạ tầng, công trình thuỷ lợi theo hướng đa mục tiêu, vừa phục vụ sản xuất, giao thông, vận tải đường thuỷ, phòng, chống thiên tai, thích ứng biến đổi khí hậu. Có giải pháp khắc phục tình trạng khan hiếm nguồn vật liệu xây dựng (nhất là cát, đá) để bảo đảm tiến độ thi công các công trình.
Rà soát, điều chỉnh, triển khai thực hiện hiệu quả, đồng bộ các quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị, chương trình phát triển đô thị, đề án nâng loại đô thị. Huy động đa dạng nguồn lực đầu tư công trình, dự án, hạ tầng thiết yếu bảo đảm chống ngập đô thị (tại các phường: An Xuyên, Tân Thành, Lý Văn Lâm, Bạc Liêu, Vĩnh Trạch...); chỉnh trang, di dời nhà ở ven sông; cải tạo, nâng cấp cơ sở hạ tầng thiết yếu tại các đô thị. Phát triển, đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng và tăng tỷ lệ lấp đầy các khu, cụm công nghiệp, gắn với phát triển đô thị; quy hoạch, ưu tiên bố trí quỹ đất, đẩy nhanh tiến độ xây dựng phát triển nhà ở xã hội.
Tiếp tục đầu tư, nâng cấp, phát triển hạ tầng thông tin, truyền thông, hạ tầng số, giáo dục, y tế… đáp ứng yêu cầu phát triển và nhu cầu sáng tạo, văn hóa của Nhân dân. Phát triển cơ sở dữ liệu dùng chung, mạng truyền dữ liệu chuyên dùng; triển khai giải pháp số thống nhất, an toàn, kết nối thông suốt từ tỉnh đến cơ sở. Hình thành, phát triển mạng lưới trung tâm đổi mới sáng tạo; chủ động tìm kiếm công nghệ mới trong và ngoài nước, hợp tác chuyển giao công nghệ, kết quả nghiên cứu khoa học.
Thứ hai, phát triển kinh tế biển trở thành động lực tăng trưởng chính. Xác định biển là không gian sinh tồn và phát triển bền vững, tỉnh tập trung đầu tư hoàn thiện hệ thống cảng biển, đặc biệt là cảng biển Hòn Khoai, để trở thành cửa ngõ giao thương quốc tế. Phát triển mạnh công nghiệp năng lượng tái tạo (điện gió, điện mặt trời, năng lượng hydro xanh), điện khí hoá lỏng (LNG) để Cà Mau không chỉ tự chủ năng lượng mà còn trở thành trung tâm năng lượng sạch của cả nước, hướng đến xuất khẩu điện.
Bên cạnh đó, tỉnh đẩy mạnh kinh tế hàng hải, dịch vụ logistics và khai thác, nuôi trồng thuỷ hải sản theo hướng công nghiệp, công nghệ cao gắn với chế biến sâu, bảo vệ nguồn lợi và môi trường biển.
Thứ ba, lợi thế lớn của Cà Mau là con tôm và rừng ngập mặn. Tỉnh sẽ tập trung phát triển chuỗi giá trị ngành tôm theo hướng quy mô lớn, ứng dụng công nghệ hiện đại, hướng tới thị trường xuất khẩu cao cấp. Khai thác giá trị kinh tế dưới tán rừng như: tôm, cua rừng, các sản phẩm dưới tán rừng, du lịch sinh thái rừng ngập mặn,... theo hướng bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu. Đồng thời đẩy mạnh phát triển các vùng sản xuất lúa - tôm và chuyên lúa theo hướng sinh thái, công nghệ cao, hiệu quả, bền vững. Xây dựng thương hiệu nông sản Cà Mau có uy tín trên thị trường trong nước và quốc tế.
Thứ tư, phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Cà Mau sở hữu những địa danh mang tính biểu tượng quốc gia, cùng với hệ sinh thái rừng ngập mặn đặc sắc, điển hình là Khu Ramsar Mũi Cà Mau rộng gần 42.000 ha. Từ lợi thế này, tỉnh tập trung đầu tư hạ tầng du lịch đồng bộ, đa dạng hoá các loại hình: du lịch sinh thái, du lịch văn hoá - lịch sử, du lịch nghỉ dưỡng biển đảo. Đặc biệt, tỉnh sẽ chú trọng phát triển các sản phẩm du lịch mang đậm bản sắc văn hoá vùng sông nước, biến Cà Mau thành điểm đến không thể bỏ qua trên bản đồ du lịch Việt Nam.
Trong quá trình khai thác tiềm năng, lợi thế, tỉnh kiên trì quan điểm “Phát triển nhanh nhưng phải bền vững”, tuyệt đối không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần. Mọi dự án đầu tư đều phải qua sàng lọc nghiêm ngặt về tác động môi trường. Tỉnh tập trung vào kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn để bảo vệ hệ sinh thái đa dạng sinh học độc đáo của tỉnh cho các thế hệ mai sau.
Xin đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ cho biết thêm, Cà Mau đã có những kế hoạch, giải pháp nào để phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn mới sau hợp nhất tỉnh?
Giai đoạn 2025-2030 là thời kỳ Cà Mau phải bứt phá mạnh mẽ để “vững tin cùng cả nước bước vào kỷ nguyên mới”. Để làm được điều đó, bên cạnh việc huy động nguồn lực và khai thác tiềm năng, Cà Mau sẽ tập trung vào các nhóm giải pháp đột phá sau:
Đầu tiên, nhiệm vụ trọng tâm hiện nay là hoàn thiện và trình cấp thẩm quyền phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Cà Mau thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 ngay trong đầu năm 2026, từ đó tạo cơ sở pháp lý vững chắc để triển khai thực hiện hiệu quả, mở ra không gian phát triển mới cho tỉnh nhà. Sau hợp nhất, việc điều chỉnh quy hoạch là cấp thiết để đảm bảo tính kết nối, đồng bộ và thống nhất trong không gian phát triển. Quy hoạch phải mang tầm nhìn dài hạn nhưng vẫn đảm bảo tính linh hoạt, thích ứng cao với biến đổi khí hậu và nước biển dâng.
Tiếp đến, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, thúc đẩy chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo. Đây là giải pháp “đi tắt đón đầu” để nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh. Tỉnh tập trung xây dựng Chính quyền số để phục vụ người dân và doanh nghiệp tốt hơn; phát triển Kinh tế số, đặc biệt là trong nông nghiệp và du lịch; xây dựng Xã hội số để người dân được thụ hưởng các dịch vụ tiện ích hiện đại. Với Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo vừa được đưa vào vận hành, tỉnh cũng đồng thời ban hành các cơ chế đặc thù nhằm khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp đẩy mạnh ứng dụng công nghệ hiện đại vào quy trình sản xuất, kinh doanh.
Thứ ba, đầu tư hạ tầng giao thông mang tính kết nối liên vùng. Cà Mau đã và đang phối hợp quyết liệt triển khai các dự án giao thông trọng điểm: Đường bộ cao tốc Cà Mau - Đất Mũi (tiếp nối tuyến cao tốc Cần Thơ - Cà Mau đã đưa vào khai thác), các dự án đường bộ cao tốc khác, nâng cấp Cảng hàng không Cà Mau, đường dẫn ra Cảng tổng hợp Hòn Khoai,… để kết nối với các trung tâm kinh tế lớn. Khi hạ tầng giao thông thông suốt, thu hút đầu tư tăng lên, chi phí logistics giảm xuống, tạo lợi thế cạnh tranh rất lớn cho tỉnh.
Thứ tư, chú trọng phát triển văn hoá - xã hội, nâng cao đời sống Nhân dân. Phát triển kinh tế phải đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội. Cà Mau tập trung đầu tư cho giáo dục và y tế theo Nghị quyết 71,72 của Bộ Chính trị, thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững, đặc biệt là trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng sâu, vùng xa, vùng hải đảo. Chú trọng bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá truyền thống của vùng đất và con người Cà Mau, coi văn hoá là nền tảng tinh thần, là sức mạnh nội sinh cho sự phát triển.
Thứ năm, đảm bảo quốc phòng - an ninh và ổn định chính trị. Là tỉnh địa đầu cực Nam Tổ quốc có vị trí chiến lược, Cà Mau luôn đặt nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biên giới biển và giữ gìn an ninh trật tự là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên. Xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc, tạo môi trường hoà bình, ổn định để phát triển kinh tế. Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Tỉnh tập trung đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của các cấp uỷ, tổ chức cơ sở đảng. Xây dựng đội ngũ cán bộ có tâm, có tầm, có sức, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.
Với niềm tin tưởng sâu sắc vào sự lãnh đạo của Đảng và sức mạnh đoàn kết của Nhân dân, Đảng bộ, dân và quân Cà Mau quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ I, đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển chung của cả nước trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
-
Quyết tâm xây dựng Cao Bằng trở thành tỉnh năng động, phát triển nhanh và bền vững
Nhân dịp Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, đồng chí Phan Thăng An, Bí thư Tỉnh uỷ Cao Bằng đã trả lời phỏng vấn báo chí về những nhóm giải pháp trọng tâm nhằm quyết tâm xây dựng Cao Bằng trở thành tỉnh năng động, phát triển nhanh và bền vững.
Đại hội XIV của Đảng xác lập những định hướng lớn cho chặng đường phát triển mới của đất nước. Với Cao Bằng, đâu là quan điểm, mục tiêu cốt lõi mà tỉnh quyết tâm cụ thể hóa để tạo chuyển biến rõ nét về tốc độ, chất lượng và tính bền vững của tăng trưởng?
Đại hội XIV của Đảng đã xác lập những định hướng lớn mang tầm chiến lược cho chặng đường phát triển mới của đất nước. Đối với tăng trưởng, yêu cầu xuyên suốt là đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế trên nền tảng phát triển nhanh và bền vững. Quán triệt sâu sắc tinh thần đó, Đảng bộ tỉnh Cao Bằng xác định quan điểm và mục tiêu phát triển trong giai đoạn tới là: Huy động và phát huy cao nhất mọi nguồn lực, khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế so sánh của tỉnh, tạo đột phá về hạ tầng, thể chế và nguồn nhân lực, phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân khoảng 10%/năm, phát triển nhanh, bền vững, bảo đảm vững chắc quốc phòng - an ninh và nâng cao đời sống Nhân dân.
Quan điểm phát triển đó được cụ thể hóa thống nhất theo năm định hướng lớn:
Thứ nhất, phát triển hạ tầng chiến lược và liên kết vùng làm đòn bẩy tăng trưởng, trong đó trọng tâm là hoàn thành các tuyến giao thông động lực như cao tốc Đồng Đăng - Trà Lĩnh, cao tốc Bắc Kạn - Cao Bằng, hạ tầng cửa khẩu, logistics và hạ tầng đô thị, nhằm mở rộng không gian phát triển, kết nối sâu từ Cao Bằng với vùng Trung du miền núi phía Bắc, vùng đồng bằng Bắc Bộ và thị trường Trung Quốc, xa hơn là các nước ASEAN.
Thứ hai, tái cơ cấu mạnh mẽ nền kinh tế theo hướng xanh và bền vững với các động lực tăng trưởng chủ lực gồm: Phát triển du lịch gắn với Công viên địa chất toàn cầu UNESCO, du lịch xuyên biên giới và các di sản lịch sử - văn hóa của địa phương; phát triển kinh tế cửa khẩu, từng bước đưa Cao Bằng trở thành trung tâm trung chuyển hàng hóa, dịch vụ logistics, giao thương quốc tế trên tuyến biên giới Việt Nam - Trung Quốc; phát triển kinh tế rừng, các sản phẩm đặc hữu, xây dựng vùng nguyên liệu gắn với chế biến sâu và thị trường tiêu thụ; phát triển công nghiệp khai khoáng có kiểm soát, công nghiệp chế biến sâu nông, lâm sản.
Thứ ba, cải thiện đột phá môi trường đầu tư kinh doanh, phát triển khu vực kinh tế tư nhân, coi doanh nghiệp và người dân là trung tâm, là chủ thể của tăng trưởng; đẩy mạnh cải cách hành chính, tháo gỡ điểm nghẽn về đất đai, thủ tục hành chính và khả năng tiếp cận nguồn lực; đẩy mạnh xúc tiến đầu tư, tìm kiếm, thu hút các nhà đầu tư chiến lược, thực hiện những dự án lớn, tạo hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ.
Thứ tư, phát triển nguồn nhân lực gắn với chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, lao động kỹ thuật, gắn đào tạo với nhu cầu thị trường, các ngành kinh tế trọng điểm của tỉnh.
Thứ năm, bảo đảm hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường, nâng cao đời sống Nhân dân, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, để mọi người dân đều được tham gia, thụ hưởng thành quả phát triển, tạo nền tảng xã hội vững chắc cho phát triển nhanh và bền vững.
Với các định hướng đó, Cao Bằng quyết tâm tạo chuyển biến rõ nét cả về tốc độ, chất lượng và tính bền vững của tăng trưởng, đóng góp thiết thực vào mục tiêu phát triển chung của đất nước trong giai đoạn mới.
Từ thực tiễn phát triển của một tỉnh miền núi, biên giới còn gặp nhiều khó khăn, đồng chí xác định những khâu đột phá nào là then chốt để Cao Bằng vươn lên trở thành địa phương năng động, khai thác hiệu quả tiềm năng lợi thế, đồng thời bảo đảm quốc phòng - an ninh và an sinh xã hội?
Cao Bằng là tỉnh miền núi, biên giới có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về quốc phòng - an ninh và đối ngoại. Tuy nhiên, xuất phát điểm kinh tế - xã hội của tỉnh thấp, địa hình phức tạp, chia cắt; kết cấu hạ tầng, nhất là giao thông, đô thị, môi trường còn yếu; nguồn lực đầu tư và chất lượng nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Khu vực doanh nghiệp chủ yếu nhỏ, siêu nhỏ, sức cạnh tranh chưa cao. Những hạn chế này làm gia tăng chi phí sản xuất, lưu thông, thu hẹp không gian phát triển, ảnh hưởng trực tiếp đến việc khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế về kinh tế cửa khẩu, du lịch, tài nguyên và vị trí kết nối vùng của tỉnh
Xuất phát từ thực tiễn đó, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Cao Bằng lần thứ XX đã xác định ba khâu đột phá chiến lược, có ý nghĩa then chốt, tạo chuyển biến căn bản trong phát triển của tỉnh:
Một là, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ và nguồn nhân lực chất lượng cao với mục tiêu: Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cấp chiến lược đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn phát triển mới. Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao, nhân lực có tay nghề, kỹ thuật, công nghệ để đáp ứng nhu cầu phát triển các ngành kinh tế trọng điểm của tỉnh.
Hai là, đột phá phát triển hạ tầng giao thông, đô thị và môi trường, với trọng tâm là hoàn thiện các tuyến cao tốc: Đồng Đăng - Trà Lĩnh, Bắc Kạn - Cao Bằng, các tuyến kết nối cao tốc với các cửa khẩu quốc tế, các khu du lịch; đồng thời, phát triển hệ thống đô thị theo hướng đồng bộ, xanh, sạch, hiện đại.
Ba là, thúc đẩy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số: đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, kinh doanh, quản trị; thúc đẩy khởi nghiệp, sáng tạo. Phát triển đồng bộ chính quyền số, công dân số và kinh tế số.
Ba khâu đột phá trên được xác định vừa mang tính cấp bách, vừa có ý nghĩa lâu dài, là những “đòn bẩy” quan trọng giúp Cao Bằng tháo gỡ các điểm nghẽn, khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo động lực phát triển nhanh và bền vững, đồng thời bảo đảm vững chắc quốc phòng - an ninh và an sinh xã hội, nâng cao đời sống Nhân dân.
Trước yêu cầu xây dựng Cao Bằng trở thành tỉnh năng động, phát triển nhanh và bền vững, đồng chí muốn gửi gắm thông điệp gì đến đội ngũ cán bộ, đảng viên và Nhân dân các dân tộc tỉnh nhằm khơi dậy khát vọng phát triển, củng cố niềm tin và tạo đồng thuận trong xã hội trong giai đoạn mới?
Trước yêu cầu và thời cơ phát triển mới, tỉnh ta đang đứng trước những vận hội lớn đan xen không ít thách thức. Để hiện thực hoá mục tiêu “xây dựng Cao Bằng trở thành tỉnh năng động, phát triển nhanh và bền vững”, tôi mong muốn và kêu gọi toàn Đảng bộ, toàn dân, toàn quân, cả hệ thống chính trị phát huy truyền thống quê hương cách mạng, tinh thần đoàn kết, ý chí tự lực, tự cường, khát vọng vươn lên, chung sức, đồng lòng biến tiềm năng thành động lực phát triển thực chất, biến khát vọng thành những hành động cụ thể, hiệu quả.
Mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu cần ý thức rõ trách nhiệm của mình trước Đảng bộ và Nhân dân; thường xuyên rèn luyện bản lĩnh chính trị, đạo đức công vụ, nâng cao năng lực chuyên môn; phải thực sự gương mẫu; không ngừng đổi mới tư duy; gần dân, sát dân; dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; lấy hiệu quả công việc và sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo đánh giá, góp phần xây dựng bộ máy chính quyền liêm chính, kiến tạo, hành động vì sự phát triển của tỉnh. Tôi kỳ vọng mỗi người dân là một tấm gương vươn lên thoát nghèo bền vững, làm giàu chính đáng trên chính mảnh đất quê hương.
Tin tưởng rằng với quyết tâm chính trị cao, rằng Cao Bằng sẽ vươn lên mạnh mẽ năng động trong giai đoạn mới, đặt nền móng vững chắc cho sự phát triển nhanh và bền vững, xứng đáng với niềm tin của Trung ương và kỳ vọng của Nhân dân.
-
Phát huy trí tuệ, đoàn kết, đổi mới - Nền tảng cho giai đoạn phát triển mới của Thành phố Hồ Chí Minh
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng diễn ra vào thời điểm có ý nghĩa đặc biệt: đất nước tròn 40 năm kiên trì đổi mới, vị thế và uy tín quốc tế không ngừng được nâng cao. Đồng thời, bối cảnh thế giới và khu vực biến động nhanh, phức tạp, khó lường, đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.
Đảng Cộng sản Việt Nam - Đại hội XIVTrong bối cảnh đó, Thành phố Hồ Chí Minh nhìn lại nhiệm kỳ vừa qua không chỉ để đánh giá kết quả đạt được, mà quan trọng là để xác lập rõ hơn vai trò, trách nhiệm và phương thức đóng góp của một trung tâm lớn đối với các mục tiêu chiến lược mà Đại hội đang thảo luận và quyết định.
QUYẾT SÁCH ĐÚNG – HÀNH ĐỘNG HIỆU QUẢNhiệm kỳ vừa qua diễn ra trong bối cảnh đặc biệt khó khăn: đại dịch, suy giảm kinh tế toàn cầu, sức ép đô thị hóa ngày càng lớn; các vấn đề hạ tầng, môi trường, dân số, ngập nước đồng thời gia tăng, tạo áp lực chưa từng có. Trong hoàn cảnh đó, điều đáng quý nhất là Thành phố không chùn bước, không để đứt gãy động lực phát triển, giữ vững vai trò đầu tàu.
Điều đáng chú ý không chỉ là những con số tăng trưởng, mà là cách thức Thành phố vượt qua khó khăn: kiên định mục tiêu, thống nhất trong lãnh đạo, quyết liệt trong chỉ đạo và nghiêm túc trong tổ chức thực hiện. Thực tiễn cho thấy, trong những thời điểm thử thách nhất, vai trò lãnh đạo của Đảng bộ Thành phố được thể hiện rõ nét thông qua việc giữ vững nguyên tắc, đề cao kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm của từng cấp, từng cá nhân, nhất là người đứng đầu.
Một chuyển biến quan trọng của Thành phố Hồ Chí Minh trong nhiệm kỳ này là đổi mới tư duy lãnh đạo và điều hành. Thành phố không chỉ tập trung giải quyết vấn đề trước mắt, mà từng bước chuyển sang tư duy kiến tạo phát triển: chủ động hơn trong thiết kế không gian phát triển, tái cấu trúc nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị.
Đây cũng là sự cụ thể hóa yêu cầu xuyên suốt trong các văn kiện của Đảng: phát triển nhanh nhưng bền vững, tăng trưởng gắn với nâng cao chất lượng sống của Nhân dân; đổi mới sáng tạo đi đôi với kỷ cương và trách nhiệm.
Tinh thần mà Đại hội XIII đặt ra là trung tâm trí tuệ, đoàn kết và đổi mới đã dần được cụ thể hóa vào công việc hằng ngày của cả hệ thống chính trị và từng lĩnh vực quản lý của Thành phố.
Cùng với giữ vững kỷ cương trong điều hành, Thành phố Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng thực hiện nghiêm Điều lệ Đảng và các quy định của Trung ương.
Tổng kết 15 năm thi hành Điều lệ Đảng cho thấy: việc không ngừng bổ sung, hoàn thiện hệ thống quy định, hướng dẫn đã góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng; giữ vững kỷ luật, kỷ cương; phát huy dân chủ đi đôi với trách nhiệm; tăng cường đoàn kết, thống nhất trong toàn Đảng.
Đối với Thành phố Hồ Chí Minh, điều đó càng có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, quản lý không gian phát triển rộng lớn, năng động hơn.
Dấu ấn lớn của nhiệm kỳ này là việc Quốc hội ban hành Nghị quyết số 98/2023/QH15 và Nghị quyết số 260/2025/QH15 về cơ chế, chính sách đặc thù cho Thành phố. Điều đó khẳng định một tư duy rất rõ: Thành phố Hồ Chí Minh không chỉ là một địa phương lớn, mà là một cực tăng trưởng của quốc gia. Thành phố không xin đặc quyền, xin ưu ái mà chỉ xin cơ chế để đóng góp nhiều hơn cho sự phát triển.
Đồng thời, đây cũng là yêu cầu rất rõ: Thành phố phải tổ chức thực hiện các cơ chế ấy một cách nghiêm túc, hiệu quả, minh bạch; biến chủ trương đúng thành kết quả cụ thể, đo đếm được trong thực tiễn.
Thành phố xác định rõ: cơ chế chỉ là điều kiện cần; điều kiện đủ là năng lực tổ chức thực hiện. Dám nghĩ, dám làm phải đi liền với biết làm, làm đến nơi đến chốn và chịu trách nhiệm đến cùng. Mọi quyết sách phải được kiểm nghiệm bằng hiệu quả thực tế, bằng sự chuyển biến trong đời sống người dân và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Thành phố.
Trong suốt nhiệm kỳ, Thành phố từng bước chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào bất động sản và dịch vụ truyền thống sang mô hình dựa trên những động lực bền vững hơn: khoa học – công nghệ, kinh tế số, tài chính, logistics, công nghiệp hiện đại và thân thiện môi trường.
Cùng với đó là chuyển từ phát triển đơn lẻ sang phát triển trong không gian kinh tế vùng, gắn kết chặt chẽ hơn với vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long, phù hợp với định hướng lớn của Đảng về phát triển cân bằng, hài hòa giữa các vùng, phát huy lợi thế so sánh và tạo sức mạnh tổng hợp của nền kinh tế.
NƠI HỘI TỤ TRÍ TUỆ - ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNGNhững kết quả đạt được trong nhiệm kỳ Đại hội XIII không phải là đích đến, mà là nền móng để Thành phố Hồ Chí Minh bước vào giai đoạn phát triển cao hơn trong nhiệm kỳ Đại hội XIV của Đảng. Trên hành trình hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045, Thành phố phải vươn lên rõ nét hơn nữa để trở thành trung tâm tài chính, trung tâm đổi mới sáng tạo, trung tâm công nghệ, trung tâm kết nối khu vực và quốc tế.
Thành phố Hồ Chí Minh đặt mục tiêu đến năm 2030 trở thành đô thị văn minh, hiện đại, trung tâm đổi mới sáng tạo năng động, hội nhập sâu rộng; có vị trí nổi trội ở khu vực Đông Nam Á. Tầm nhìn đến năm 2045, Thành phố phấn đấu thuộc nhóm 100 đô thị có chất lượng sống tốt nhất thế giới, là trung tâm kinh tế – tài chính – dịch vụ – giáo dục – y tế của châu Á, điểm đến hấp dẫn toàn cầu; phát triển đặc sắc, bền vững và giàu bản sắc văn hóa.
Để hiện thực hóa mục tiêu đó, nhiệm vụ then chốt, xuyên suốt của Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh là xây dựng Thành phố trở thành trung tâm trí tuệ, đoàn kết và đổi mới – đủ năng lực lãnh đạo Thành phố bước vào giai đoạn phát triển mới nhanh hơn, hiệu quả hơn, bền vững hơn và đóng góp nhiều hơn cho đất nước.
Trí tuệ, đoàn kết và đổi mới không chỉ là khẩu hiệu, mà là cam kết chính trị và chuẩn mực hành động. Mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người dân Thành phố cần chung sức, đồng lòng, biến khát vọng thành hành động, biến mục tiêu thành kết quả; để Thành phố Hồ Chí Minh xứng đáng là nơi hội tụ trí tuệ, là động lực tăng trưởng của cả nước, xây dựng Thành phố văn minh, hiện đại, nghĩa tình.
Đi liền với đó là yêu cầu giữ vững kỷ cương trong lãnh đạo, quản lý; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính theo hướng thực chất; đầu tư hạ tầng chiến lược; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; nuôi dưỡng cộng đồng doanh nghiệp lớn mạnh. Trên hết, mọi chủ trương, chính sách phải kiên định nguyên tắc lấy người dân làm trung tâm, để mọi thành quả phát triển quay trở lại phục vụ đời sống Nhân dân ngày càng tốt hơn, văn minh hơn, hạnh phúc hơn.
Nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng là một nhiệm kỳ mà Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh vượt qua nhiều thử thách, giữ vững vai trò đầu tàu và tạo nền móng quan trọng cho giai đoạn phát triển mới. Trên nền tảng đó, Thành phố Hồ Chí Minh bước vào Đại hội XIV với tâm thế chủ động hơn, tự tin hơn và trách nhiệm lớn hơn trước Đảng, trước Nhân dân và trước tương lai đất nước.
-TRẦN LƯU QUANG, Bí thư Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh
Hoàn thiện chính sách trong lĩnh vực hàng hải và giao thông đường thủy
Chiều 17/1, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh chủ trì Hội đồng thẩm định hồ sơ chính sách Bộ luật Hàng hải và Đường thủy Việt Nam. Cơ quan chủ trì soạn thảo là Bộ Xây dựng.
Theo tờ trình, việc xây dựng chính sách Bộ luật Hàng hải và Đường thủy Việt Nam nhằm thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách trong lĩnh vực hàng hải, giao thông đường thủy nội địa.
Đồng thời, thực hiện cam kết của Việt Nam với cộng đồng quốc tế; thu gọn hệ thống pháp luật chuyên ngành; xử lý dứt điểm tình trạng đan xen giữa 2 lĩnh vực hàng hải và đường thủy nội địa, tạo thuận lợi cho quá trình tra cứu, áp dụng…
Do đó, Bộ Xây dựng đề xuất 6 chính sách, trong đó, chính sách 1 quy định chung về công tác quản lý nhà nước chuyên ngành hàng hải, giao thông đường thủy nội địa.
Chính sách 2 quy định về kết cấu hạ tầng hàng hải, đường thủy nội địa.
Chính sách 3 quy định về quản lý tàu biển, tàu sông, tàu ven biển và các loại phương tiện nổi khác.
Chính sách 4 quy định về nguồn nhân lực hàng hải, đường thủy.
Tổng sản lượng hàng hóa thông qua cảng biển giai đoạn 2015-2023. Số liệu theo báo cáo tổng kết thi hành Luật Hàng hải Việt Nam năm 2015, Luật Giao thông đường thủy nội địa.Chính sách 5 quy định về hoạt động vận tải hàng hải và đường thủy nội địa bao gồm các quy định liên quan đến vận tải quốc tế để phù hợp với quy định Công ước quốc tế; vận tải nội địa; quy định liên quan đến các dịch vụ hỗ trợ vận tải biển; dịch vụ lai dắt tàu biển, tàu sông…
Đặc biệt, chính sách 6 quy định về an toàn, an ninh; tìm kiếm cứu nạn, ứng phó sự cố khẩn cấp trong hoạt động hàng hải, giao thông đường thủy nội địa.
Chính sách này nhằm thiết lập khung pháp lý thống nhất; khắc phục tình trạng phân tán, chồng chéo giữa các văn bản pháp luật hiện hành; tạo cơ sở cho việc phối hợp liên ngành giữa các lực lượng quản lý, ứng cứu và bảo đảm an ninh.
Góp ý tại Hội đồng thẩm định, đại diện Bộ Ngoại giao nhất trí với việc xây dựng Bộ luật Hàng hải và Đường thủy Việt Nam. Tuy nhiên, để đáp ứng nhu cầu phát triển và tình hình phát triển của tàu tự hành, đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo bổ sung quy định chi tiết về tàu tự hành vào chính sách 3 hoàn thiện khung pháp lý tàu biển, tàu sông, tàu ven biển và các loại phương tiện nổi khác....
Đại diện Bộ Quốc phòng cho rằng các giải pháp cần đưa ra cụ thể hơn; đồng thời đề xuất xây dựng cảng biển ứng dụng để vừa đáp ứng yêu cầu quốc phòng, vừa bảo đảm phát triển kinh tế.
Đối với chính sách về dịch vụ tìm kiếm cứu nạn, đại diện Bộ Quốc phòng đề nghị bổ sung theo hướng xã hội hóa, có cơ chế tài chính đặc thù rõ hơn trong phần giải pháp; bổ sung thêm cơ chế, chính sách cho lực lượng tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn.
Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh kết luận phiên họp. Ảnh: MOJ.Kết luận phiên họp, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo hoàn thiện thêm hồ sơ chính sách của bộ luật, bảo đảm thực hiện đúng theo quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Theo Thứ trưởng, các chính sách chưa nêu rõ những đột phá để phát triển kinh tế hàng hải, đường thủy nội địa như chính sách phát triển tàu biển, ngành công nghiệp đóng tàu… Do đó, cần nghiên cứu, xây dựng chính sách đặc thù để phát triển kinh tế hàng hải, đường thủy nội địa, thu hút đầu tư, phát triển kinh tế; đồng thời tăng cường hội nhập trong lĩnh vực hàng hải.
Ngoài ra, cần bổ sung thêm kinh nghiệm quốc tế trong lĩnh vực này nhằm làm rõ hơn các giải pháp; bổ sung nội dung về tổng kết thi hành Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2015, Luật Giao thông đường thủy nội địa 2004.
-Đỗ Như
Chủ động chính sách tài khóa, tạo nền tảng cho tăng trưởng nhanh và bền vững
Nhân dịp Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng đã chia sẻ với báo chí về những định hướng trong thời gian tới, trong đó nhấn mạnh ngành tài chính sẽ tập trung triển khai chính sách tài khóa chủ động, mở rộng hợp lý, có trọng tâm, trọng điểm; phối hợp chặt chẽ với chính sách tiền tệ nhằm giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững.
Thưa Bộ trưởng, Bộ trưởng đánh giá như thế nào về kết quả thực hiện nhiệm vụ tài chính – ngân sách nhà nước cũng như việc hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách, pháp luật trong lĩnh vực tài chính, đầu tư, ngân sách nhà nước trong giai đoạn vừa qua?
Nhiệm vụ tài chính – ngân sách nhà nước trong 5 năm qua được thực hiện trong bối cảnh tình hình thế giới và trong nước có nhiều biến động khó lường, đặt ra không ít khó khăn, thách thức. Tuy nhiên, nhờ sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quốc hội, Chính phủ; sự vào cuộc đồng bộ của các bộ, ngành, địa phương; cùng với sự chỉ đạo điều hành chủ động, linh hoạt, kịp thời và hiệu quả của ngành tài chính, quản lý tài chính – ngân sách nhà nước đã đạt được nhiều kết quả nổi bật, toàn diện, hoàn thành toàn bộ các chỉ tiêu chủ yếu giai đoạn 2021–2025. Các nguồn lực tài chính – ngân sách nhà nước được quản lý, huy động và sử dụng ngày càng hiệu quả, góp phần quan trọng thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội. Cụ thể là:
Thứ nhất, ngành Tài chính đã kịp thời tham mưu, triển khai các quy hoạch, kế hoạch, cơ chế, chính sách và giải pháp phát triển kinh tế – xã hội; thúc đẩy tăng trưởng gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô. Bội chi ngân sách nhà nước bình quân giai đoạn 2021–2025 khoảng 3,1–3,2% GDP; nợ công ước khoảng 35–36% GDP, được kiểm soát tốt, góp phần củng cố xếp hạng tín nhiệm quốc gia.
Thứ hai, hệ thống pháp luật về tài chính – ngân sách nhà nước được tập trung hoàn thiện. Giai đoạn 2021–2025, Bộ Tài chính đã trình ban hành 32 luật, nghị quyết của Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội; 168 nghị định và ban hành theo thẩm quyền 436 thông tư, tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cắt giảm thủ tục hành chính, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Thứ ba, quản lý thu được tăng cường, cơ cấu thu ngân sách nhà nước được tập trung theo hướng bền vững; tỷ lệ huy động ngân sách nhà nước bình quân 5 năm đạt khoảng 18,3% GDP, đồng thời vẫn thực hiện miễn, giảm, gia hạn thuế, phí khoảng 1,1 triệu tỷ đồng để hỗ trợ người dân, doanh nghiệp vượt qua khó khăn, thách thức do dịch bệnh và phục hồi sản xuất, kinh doanh sau đại dịch.
Thứ tư, ngành Tài chính đã thực hiện tăng thu, tiết kiệm chi khoảng 1,5 triệu tỷ đồng để bổ sung nguồn lực cho đầu tư phát triển, quốc phòng, an ninh, khoa học – công nghệ, cải cách tiền lương, an sinh xã hội, xóa nhà dột nát và xây dựng trường học tại các vùng biên giới
Thứ năm, tỷ lệ chi đầu tư phát triển của cả nước tăng lên khoảng 32% tổng chi ngân sách nhà nước, được bố trí có trọng tâm, trọng điểm, bảo đảm nguồn lực cho các dự án hạ tầng chiến lược, có sức lan tỏa lớn.
Thứ sáu, môi trường đầu tư, kinh doanh tiếp tục được cải thiện, khuyến khích mạnh mẽ các thành phần kinh tế phát triển. Đến nay, cả nước có trên 1 triệu doanh nghiệp đang hoạt động, tăng trên 46% so với năm 2020; tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2021–2025 đạt khoảng 32,2% GDP, trong đó khu vực tư nhân và doanh nghiệp nhà nước chiếm trên 65%.
Thứ bảy, Việt Nam tiếp tục là điểm sáng trong thu hút đầu tư nước ngoài, thuộc nhóm 15 quốc gia đang phát triển thu hút FDI lớn nhất thế giới; vốn FDI đóng góp khoảng 16% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.
Thứ tám, các thị trường vốn phát triển theo hướng an toàn, bền vững và hội nhập, từng bước trở thành kênh huy động vốn quan trọng cho nền kinh tế. Đến cuối năm 2025, quy mô thị trường trái phiếu đạt khoảng 3,93 triệu tỷ đồng, tương đương 30,7% GDP; vốn hóa thị trường chứng khoán đạt gần 10 triệu tỷ đồng, tương đương 77,9% GDP. Năm 2025, thị trường chứng khoán Việt Nam đã đáp ứng đầy đủ các tiêu chí và được nâng hạng từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi.
Và cuối cùng, ngành tài chính tích cực thúc đẩy phát triển kinh tế vùng, các ngành, lĩnh vực và mô hình kinh tế mới; tham gia xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do; đồng thời phối hợp hiệu quả trong an sinh xã hội, bảo đảm tăng trưởng kinh tế gắn với tiến bộ và công bằng xã hội.
Trong thời gian tới, ngành Tài chính sẽ tập trung những nhiệm vụ, giải pháp nào để ổn định kinh tế vĩ mô và thúc đẩy tăng trưởng nhanh, bền vững, thưa Bộ trưởng?
Thời gian tới, trước yêu cầu và nhiệm vụ mới đặt ra, ngành tài chính sẽ tập trung triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, thực hiện chính sách tài khóa chủ động, mở rộng hợp lý, có trọng tâm, trọng điểm; củng cố vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương, đồng thời phát huy tính chủ động, sáng tạo của các bộ, ngành, địa phương. Phối hợp chặt chẽ với chính sách tiền tệ nhằm giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, góp phần tăng trưởng 2 con số, chuyển đổi mô hình phát triển.
Chúng tôi sẽ nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý thu, chi ngân sách nhà nước; thực hiện thu đúng, thu đủ, thu kịp thời, gắn với nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu bền vững. Phấn đấu bảo đảm tỷ lệ huy động ngân sách nhà nước bình quân giai đoạn 2026–2030 khoảng 18% GDP; tăng chi đầu tư phát triển lên khoảng 40% tổng chi ngân sách nhà nước; quản lý chặt chẽ bội chi, nợ công phù hợp khả năng vay – trả nợ của nền kinh tế, góp phần cải thiện xếp hạng tín nhiệm quốc gia.
Bộ trưởng có thể cho biết thêm những định hướng lớn về phát triển thị trường, doanh nghiệp và thu hút đầu tư trong giai đoạn tới?
Ngành tài chính sẽ tiếp tục hoàn thiện thể chế, hệ thống pháp luật về tài chính – ngân sách nhà nước; đẩy mạnh chuyển đổi số, cải cách thủ tục hành chính, nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý, giám sát.
Đồng thời, nâng cao hiệu quả hoạt động của kinh tế nhà nước, thực sự phát huy vai trò chủ đạo, tiên phong trong các ngành, lĩnh vực then chốt, thiết yếu, chiến lược. Cùng với đó, phát triển mạnh mẽ khu vực kinh tế tư nhân theo tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW; phấn đấu đến năm 2030 Việt Nam có khoảng 2 triệu doanh nghiệp hoạt động; trình độ công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thuộc nhóm dẫn đầu ASEAN và châu Á.
Ngoài ra, ngành tài chính phát triển các thị trường vốn, thị trường chứng khoán trở thành kênh huy động vốn trung và dài hạn quan trọng; khai thác hiệu quả cơ hội từ nâng hạng thị trường chứng khoán; hoàn thiện hành lang pháp lý cho các xu hướng mới như tài sản số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số.Đặc biệt, thu hút FDI có chọn lọc, ưu tiên các dự án quy mô lớn, công nghệ cao, thân thiện với môi trường; tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng toàn cầu.
-
Đại hội XIV của Đảng họp phiên trù bị, thông qua chương trình và quy chế làm việc
Trước giờ khai mạc phiên trù bị, các đại biểu dự Đại hội đã vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau đó, các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các đồng chí Trưởng đoàn đại biểu của các đảng bộ trực thuộc Trung ương dự Đại hội đặt vòng hoa và dâng hương tại Đài tưởng niệm các anh hùng liệt sỹ.
Các đại biểu vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ảnh: TTXVNToàn thể Đại hội dành một phút mặc niệm để tưởng nhớ đến đồng chí Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã từ trần trong nhiệm kỳ Đại hội XIII.
Đồng chí Trần Thanh Mẫn, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thay mặt các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước điều hành phiên họp trù bị.
Đại hội đã biểu quyết tán thành, nhất trí cao thông qua Chương trình phiên họp trù bị, Quy chế làm việc của Đại hội, Chương trình làm việc của Đại hội và Quy chế bầu cử tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
Đại hội đã bầu Đoàn Chủ tịch gồm 16 đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị. Đại hội bầu Đoàn Thư ký gồm 5 đồng chí và Ban Thẩm tra tư cách đại biểu dự Đại hội gồm 13 đồng chí.
Đại hội đã biểu quyết tán thành, nhất trí cao thông qua Báo cáo thẩm tra tư cách đại biểu Đại hội XIV của Đảng do Ban Thẩm tra tư cách đại biểu trình. Theo đó, tất cả 1.586 đại biểu được triệu tập dự Đại hội đều đủ tư cách đại biểu Đại hội.
Buổi chiều, các đại biểu nghiên cứu tài liệu tại nơi ở của đoàn.
-Hà Lê
Đại tướng Lương Tam Quang: Lực lượng Công an nhân dân chủ động kiến tạo phát triển, tạo nền tảng thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng
Trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thi đua chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Đại tướng Lương Tam Quang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Đảng ủy Công an Trung ương, Bộ trưởng Bộ Công an đã dành thời gian trả lời phỏng vấn báo chí về những định hướng chiến lược của lực lượng Công an nhân dân trong thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.
Kính thưa Bộ trưởng, chúng ta đang sống trong không khí của những ngày toàn Đảng, toàn dân, toàn quân chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Với cương vị là người đứng đầu lực lượng Công an nhân dân, xin Bộ trưởng cho biết những định hướng lớn của lực lượng Công an - một trong những lực lượng chủ công nòng cốt trong thực hiện các chủ trương của Đảng, trước hết là Nghị quyết Đại hội XIV và các chủ trương chiến lược nhằm đưa đất nước vững bước vào kỷ nguyên phát triển, giàu mạnh?
Đại hội Đảng bộ Công an Trung ương lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2025-2030 đã xác định những định hướng công tác lớn của lực lượng Công an nhân dân để khẳng định vai trò chủ công nòng cốt thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV, các chủ trương chiến lược của Đảng, đó là: Tiếp tục gương mẫu, đi đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV và các chủ trương chiến lược của Đảng với những kết quả cụ thể, phấn đấu tạo ra những dấu ấn mới vì Đảng, vì dân. Xây dựng lực lượng Công an nhân dân thật sự trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, “Kỷ luật nhất - Trung thành nhất - Gần dân nhất”, ngang tầm yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Giữ vững an ninh quốc gia, góp phần bảo đảm vững chắc hòa bình, ổn định, tạo môi trường an ninh, an toàn, thuận lợi cao nhất cho phát triển. Xây dựng, củng cố xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh, tiến tới không tội phạm, không ma túy, tăng cường bảo vệ an ninh con người, vì cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân.
Xây dựng phương thức quản lý, quản trị an ninh, trật tự hiện đại, minh bạch, hiệu quả, thân thiện, nhân văn, vì nhân dân phục vụ. Phát huy lợi thế, đặc thù của đối ngoại Công an nhân dân, góp phần tạo dựng môi trường hòa bình, ổn định, phục vụ phát triển đất nước. Tập trung phát triển công nghiệp an ninh tự chủ, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại và triển khai thương mại an ninh.
Tiếp tục thực hiện tốt phương châm “lúc dân cần, lúc dân khó, có Công an”; khẳng định vai trò lực lượng tuyến đầu cứu dân, giúp dân lúc hiểm nguy, gian khó; nâng tầm công tác Công an hỗ trợ người yếu thế, người có hoàn cảnh khó khăn, góp phần giải quyết từ gốc rễ các vấn đề liên quan an ninh trật tự, phát huy “thế trận lòng dân” trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Tựu trung các định hướng công tác lớn nêu trên đó là “Theo lời Bác dạy - Đổi mới tư duy - Nâng cao tri thức - Chính quy hiện đại - Vì Đảng, vì dân”.
Kính thưa Bộ trưởng, một trong những điểm mới trong tư duy hành động của lực lượng Công an nhân dân là chuyển từ phương châm “mệnh lệnh - phục tùng” sang “mệnh lệnh - phục tùng và chủ động đề xuất, kiến tạo phát triển”. Điều này đặt ra những yêu cầu gì đối với lực lượng Công an nhân dân trong thực hiện nhiệm vụ, thưa Bộ trưởng?
Tư duy mới đặt ra yêu cầu rất cao đối với lực lượng Công an về sự chủ động và tinh thần phục vụ, tạo thuận lợi tối đa, kiến tạo phát triển. Thực tiễn công tác Công an rất phong phú, thường xuyên nắm, đánh giá tình hình bên ngoài, bên trong, việc triển khai các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; mỗi cán bộ, chiến sỹ Công an, trong phạm vi chức trách, nhiệm vụ của mình, khi có sự chủ động cao gắn với tinh thần phục vụ, kiến tạo phát triển, tích cực phát hiện, tham mưu những giải pháp, sáng kiến hay cho phát triển đất nước, kiến nghị bịt kín sơ hở, thiếu sót, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, góp phần giải quyết từ sớm những sai phạm nhỏ, không để tích tụ thành vi phạm pháp luật, khơi thông nguồn lực, thúc đẩy phát triển.
Việc chủ động phát hiện, kiến nghị giải quyết từ sớm những mâu thuẫn, bức xúc trong nhân dân; chủ động giúp đỡ nhân dân, huy động sự hỗ trợ đối với người yếu thế, người khó khăn… góp phần củng cố, phát huy cao độ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong xây dựng và phát triển đất nước.
Đại hội XIV xác định mục tiêu “đến năm 2045, trở thành nước phát triển, thu nhập cao, là một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc”; nhận thức sâu sắc trách nhiệm vẻ vang của lực lượng Công an nhân dân gia tăng đóng góp, tạo nền tảng cho thành công của phát triển, thực hiện thắng lợi các mục tiêu của Đảng, yêu cầu đổi mới mạnh mẽ tư duy, hành động quyết liệt, đột phá, hiệu quả đang đặt ra cấp bách đối với mỗi cán bộ, chiến sỹ.
Thưa đồng chí Bộ trưởng, một trong những yêu cầu của Tổng Bí thư Tô Lâm đối với lực lượng Công an nhân dân khi phát biểu tại Đại hội Đảng bộ Công an Trung ương lần thứ VIII là: Lực lượng Công an nhân dân phải củng cố vững chắc môi trường hòa bình, ổn định, xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh, tạo nền tảng thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV và 2 mục tiêu chiến lược của Đảng. Xin Bộ trưởng cho biết, mục tiêu này được Bộ Công an triển khai bằng những hành động cụ thể như thế nào?
Lực lượng Công an sẽ “giương mọi ăng ten”, nắm chắc tình hình, kịp thời tham mưu với Đảng, Nhà nước hoạch định các vấn đề đối ngoại, đối nội, thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số, xác lập mô hình tăng trưởng mới, tuyệt đối không để đất nước bị động về chiến lược, biến nguy thành cơ cho phát triển. Giữ vững an ninh quốc gia, tăng cường bảo vệ an ninh chế độ, an ninh chính quyền, an ninh văn hóa, tư tưởng, an ninh kinh tế, an ninh mạng, an ninh dữ liệu, bảo vệ yếu nhân, “rường cột” của hệ thống chính trị, tinh hoa trong giới khoa học, công nghệ; giải quyết các yếu tố tiềm ẩn phức tạp về an ninh trật tự, không để xảy ra bị động, bất ngờ.
Chủ động nhận diện, bảo vệ vững chắc an ninh trên các không gian, lĩnh vực mới (robot, thiết bị không người lái, an ninh kinh tế tầm thấp, an ninh dữ liệu…); đấu tranh hiệu quả với các phương thức, thủ đoạn mới của tội phạm. Phấn đấu xây dựng 50% xã trên cả nước, 18 địa phương không ma túy, tiến tới không tội phạm. Tập trung xây dựng văn hóa “thượng tôn pháp luật”, văn hóa giao thông. Tích cực tham gia giải quyết các vấn đề toàn cầu, tăng cường hợp tác quốc tế thực hiện Công ước Hà Nội, đưa Việt Nam trở thành trung tâm hợp tác chống tội phạm mạng khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
Trong những ngày đầu năm mới, năm đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Bộ trưởng gửi gắm gì với cán bộ, chiến sỹ trong lực lượng Công an nhân dân, các cấp, các ngành và nhân dân cả nước trong việc chung tay xây dựng đất nước phồn vinh, xã hội ngày càng phát triển, đời sống nhân dân bình yên, hạnh phúc?
Nhân dịp năm mới Bính Ngọ 2026, cũng là năm đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, trước hết, tôi bày tỏ sự tri ân sâu sắc trước sự nỗ lực phấn đấu, sẵn sàng hy sinh, “Vì nước quên thân, vì dân phục vụ” của toàn thể cán bộ, chiến sỹ Công an nhân dân; chân thành cảm ơn sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, sự phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ của Quân đội nhân dân, các ban, bộ, ngành địa phương, sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn của nhân dân và bạn bè quốc tế trong sự nghiệp bảo vệ an ninh trật tự những năm qua.
Tôi tin tưởng sâu sắc rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, phát huy truyền thống anh hùng vẻ vang hơn 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, với sự phối hợp của các ban, bộ, ngành, địa phương, sự ủng hộ, giúp đỡ của nhân dân và bạn bè quốc tế, toàn lực lượng Công an nhân dân sẽ vượt qua mọi khó khăn, thách thức, hoàn thành xuất sắc sứ mệnh mà Đảng, Nhà nước và nhân dân tin cậy giao phó: “Bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân; tạo nền tảng thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV và các chủ trương chiến lược của Đảng, xây dựng thành công một nước Việt Nam phát triển hùng cường, thịnh vượng, văn minh, phồn vinh, hạnh phúc”.
Xin chúc toàn thể cán bộ, chiến sỹ lực lượng vũ trang nhân dân, đồng bào, đồng chí một năm mới dồi dào sức khỏe, giành nhiều thắng lợi trong công tác và cuộc sống.
-
Đại tướng Nguyễn Trọng Nghĩa: Xây dựng Đảng bộ Quân đội mẫu mực, tiêu biểu, ngang tầm nhiệm vụ
Ngay từ ngày đầu thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định rõ nhiệm vụ xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, tổ chức quân đội của giai cấp công-nông và đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng. Vì vậy, khi Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam) được thành lập (ngày 22/12/1944), đã có chi bộ đảng, với 4 đảng viên và biên chế chức danh chính trị viên để trực tiếp lãnh đạo, tiến hành công tác Đảng, công tác chính trị.
Từ chiến thắng mở đầu Phai Khắt, Nà Ngần đến thành công rực rỡ của Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, sự trưởng thành vượt bậc của Quân đội ta đều bắt nguồn từ sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự giáo dục, rèn luyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh và sự yêu thương, đùm bọc, giúp đỡ của nhân dân. Đảng đã kịp thời xác định đúng phương hướng, mục tiêu, phương pháp tác chiến và khẳng định rõ quan điểm: Quân đội ta là quân đội của dân, do dân, vì dân, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng; nhiệm vụ chính trị quyết định nhiệm vụ quân sự.
Trong các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, cũng như trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và công cuộc đổi mới đất nước, sự lãnh đạo của Đảng luôn là nhân tố quyết định mọi chiến công, mọi thắng lợi của Quân đội. Chính bằng việc kiên định và thực hiện nghiêm nguyên tắc ấy, Quân đội nhân dân Việt Nam đã không ngừng trưởng thành, lớn mạnh cùng toàn dân, đánh bại kẻ thù xâm lược, làm nên những chiến công oanh liệt, những chiến thắng vĩ đại đi vào lịch sử vẻ vang của dân tộc.
Đại tướng Nguyễn Trọng Nghĩa trao quà tặng các gia đình chính sách, người có công trên địa bàn tỉnh Cao Bằng - Ảnh: QĐNDNhững năm qua, nhất là nhiệm kỳ 2020-2025, tình hình thế giới và khu vực diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường; đất nước ta đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, đặc biệt là những tác động của đại dịch COVID-19, thiên tai, biến đổi khí hậu, cùng với yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội tiếp tục được tăng cường. Toàn quân đã phát huy cao độ tinh thần đoàn kết, chủ động, sáng tạo, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, hoàn thành toàn diện các nhiệm vụ; nhiều nhiệm vụ hoàn thành tốt và xuất sắc, qua đó khẳng định rõ vai trò lãnh đạo mang tính quyết định của Đảng đối với sự trưởng thành và những chiến công của Quân đội. Trong đó, nổi lên một số điểm nhấn quan trọng:
Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng thực hiện tốt chức năng tham mưu chiến lược với Đảng, Nhà nước về quân sự, quốc phòng. Chủ động dự báo đúng tình hình, kịp thời tham mưu, xử lý hiệu quả các tình huống về quốc phòng, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống, giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Nhiều nghị quyết, chiến lược, đề án, kế hoạch được xây dựng công phu, bài bản, sát thực tiễn, đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa Quân đội, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới. Đảng bộ Quân đội đã chỉ đạo toàn quân phối hợp chặt chẽ với các lực lượng xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, “thế trận lòng dân” ngày càng vững chắc. Thế trận phòng thủ các quân khu, khu vực phòng thủ các tỉnh, thành phố tiếp tục được củng cố, kiện toàn; tiềm lực quốc phòng của đất nước được tăng cường; sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc không ngừng được nâng cao.
Cùng với đó, đã lãnh đạo, chỉ đạo toàn quân cơ bản hoàn thành sắp xếp tổ chức, biên chế theo hướng “tinh, gọn, mạnh”, cơ động, linh hoạt, bảo đảm phù hợp với chiến lược quốc phòng, quân sự và nghệ thuật tác chiến trong điều kiện mới. Nhiều cơ quan, đơn vị được kiện toàn, sắp xếp, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội trong tình hình mới. Các đơn vị trong toàn quân chủ động bảo đảm đầy đủ, kịp thời công tác hậu cần, kỹ thuật cho các nhiệm vụ, ứng phó kịp thời, có hiệu quả các thách thức an ninh phi truyền thống.
Đại tướng Nguyễn Trọng Nghĩa trao quà tặng các gia đình chính sách, người có công trên địa bàn tỉnh Cao Bằng. Ảnh: QĐNDCông tác giáo dục chính trị, tư tưởng được các cấp ủy, tổ chức đảng trong toàn quân đặc biệt coi trọng, tổ chức thực hiện chặt chẽ, đi vào chiều sâu, đạt hiệu quả thiết thực; tiên phong gương mẫu trong phòng, chống âm mưu "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch, phản động, đấu tranh với các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Việc đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; cuộc vận động phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới và Phong trào Thi đua Quyết thắng được triển khai sâu rộng, tạo sự chuyển biến rõ nét trong nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ toàn quân.
Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và luân chuyển cán bộ được thực hiện đồng bộ, bài bản, bảo đảm dân chủ, khách quan đúng quy trình, nguyên tắc. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc chấp hành nguyên tắc, điều lệ, chỉ thị, nghị quyết; chủ động phát hiện, ngăn ngừa và xử lý nghiêm minh các vi phạm, góp phần giữ vững kỷ luật, kỷ cương của Đảng. Thực hiện tốt công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, góp phần xây dựng môi trường trong sạch, lành mạnh.
Công nghiệp quốc phòng có bước đột phá, đã làm chủ một số công nghệ nền, công nghệ lõi, nghiên cứu, chế tạo, thử nghiệm thành công nhiều vũ khí có ý nghĩa chiến lược và trang bị kỹ thuật hiện đại, phù hợp với đối tượng tác chiến và thực tế chiến tranh; đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại. Quân đội chủ động, tích cực tham gia các hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc; tổ chức thành công nhiều hoạt động giao lưu, triển lãm quốc phòng, diễn tập chung, cứu hộ, cứu nạn, góp phần nâng cao vị thế, uy tín của đất nước và Quân đội trên trường quốc tế.
Những kết quả đạt được không chỉ thể hiện trí tuệ, bản lĩnh, ý chí và quyết tâm chính trị cao của Đảng bộ Quân đội và toàn quân, mà còn góp phần củng cố, nâng cao vị thế của Quân đội nhân dân Việt Nam; tiếp tục khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của Quân đội trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, vì mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc.
Những năm tới, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến nhanh, phức tạp, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, xung đột vũ trang xảy ra ở nhiều nơi, với nhiều loại hình chiến tranh, phương thức tác chiến mới, các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống đan xen tác động đến đời sống quốc tế và tiềm ẩn nhân tố gây mất ổn định.
Đất nước ta, sau 40 năm đổi mới đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, kinh tế tăng trưởng khá, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện, chính trị-xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được củng cố vững chắc, vị thế và uy tín quốc tế ngày càng được nâng cao. Việc thực hiện cuộc cách mạng sắp xếp tinh gọn bộ máy và mô hình chính quyền địa phương hai cấp bước đầu đạt nhiều kết quả quan trọng, đặt ra yêu cầu tiếp tục điều chỉnh tổ chức quân sự địa phương phù hợp với tình hình mới.
Tuy nhiên, bên cạnh những thời cơ, thuận lợi, chúng ta vẫn phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức, nhất là trong phát triển kinh tế, nâng cao tiềm lực khoa học-công nghệ; các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh âm mưu “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “phi chính trị hóa” quân đội, kích động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, lợi dụng không gian mạng để chống phá Đảng, Nhà nước và Quân đội.
Từ những đặc điểm tình hình trên, thời gian tới, quán triệt thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XII, Đảng bộ Quân đội và toàn quân tiếp tục kiên định nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội, xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch vững mạnh, mẫu mực, tiêu biểu; tiếp tục thực hiện tốt chức năng tham mưu chiến lược về quân sự, quốc phòng, hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng trong Quân đội, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trong đó, Đảng bộ Quân đội và toàn quân tập trung thực hiện thật tốt những nội dung chủ yếu sau:
Một là, tiếp tục quán triệt và kiên định đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng, phát huy trí tuệ tập thể, bản lĩnh và tầm nhìn chiến lược để thực hiện tốt chức năng tham mưu chiến lược về quân sự, quốc phòng.
Quán triệt sâu sắc và kiên định đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng là yêu cầu có tính nguyên tắc, đồng thời là điều kiện tiên quyết để Quân đội nhân dân Việt Nam giữ vững bản chất cách mạng, phát huy vai trò nòng cốt trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Trước những biến động nhanh chóng, phức tạp, khó lường của tình hình thế giới, khu vực; sự đan xen giữa hợp tác và đấu tranh, giữa hòa bình và xung đột; sự phát triển mạnh mẽ của khoa học-công nghệ quân sự và các hình thái chiến tranh mới, việc giữ vững định hướng chiến lược, không dao động về mục tiêu, không lệch chuẩn về tư duy có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Đảng bộ Quân đội và toàn quân phải tiếp tục quán triệt đầy đủ, toàn diện các quan điểm, chủ trương của Đảng về quân sự, quốc phòng; vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; gắn chặt nhiệm vụ quân sự, quốc phòng với nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, đối ngoại; kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.
Đảng bộ Quân đội và toàn quân cần phát huy cao độ trí tuệ tập thể, bản lĩnh chính trị và tầm nhìn chiến lược để thực hiện ngày càng tốt hơn chức năng tham mưu với Đảng, Nhà nước về quân sự, quốc phòng. Tham mưu phải đi trước một bước, dự báo đúng, đánh giá trúng, đề xuất kịp thời những quyết sách chiến lược, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Thực hiện tốt tư tưởng chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm về thực hiện “2 kiên định, 2 đẩy mạnh, 2 ngăn ngừa” và phương châm “5 vững”. Coi trọng tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận quân sự, quốc phòng; chủ động nghiên cứu các vấn đề mới nảy sinh từ thực tiễn bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện hòa bình, từ yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân hiện đại và nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại.
Đồng thời, tiếp tục hoàn thiện hệ thống thể chế, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch về quân sự, quốc phòng; bảo đảm sự thống nhất cao giữa tư duy chiến lược và tổ chức thực hiện; giữa mục tiêu lâu dài và giải pháp trước mắt; giữa xây dựng lực lượng và sử dụng lực lượng, qua đó nâng cao chất lượng, hiệu quả tham mưu chiến lược, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc.
Hai là, tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng trong Quân đội, kiên định nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân.
Kiên định nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân Việt Nam là vấn đề có ý nghĩa sống còn, quyết định bản chất, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu và sức mạnh tổng hợp của Quân đội. Thực tiễn hơn 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta khẳng định rõ, giữ vững và thực hiện nghiêm nguyên tắc này bảo đảm cho Quân đội hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao; ngược lại, bất kỳ sự mơ hồ, lơi lỏng nào về vai trò lãnh đạo của Đảng đều làm suy giảm sức mạnh chính trị-tinh thần của Quân đội.
Trong bối cảnh hiện nay, khi các thế lực thù địch đẩy mạnh âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội bằng những thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt, thì yêu cầu giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo Quân đội tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt càng phải được đặt lên hàng đầu, không chỉ về nhận thức mà cả trong tổ chức thực hiện.
Cùng với việc kiên định nguyên tắc, Đảng bộ Quân đội và toàn quân cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng trong Quân đội cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ mới và mô hình tổ chức, biên chế của Quân đội hiện đại. Trọng tâm là làm rõ hơn nữa mối quan hệ giữa sự lãnh đạo của Đảng với quản lý của Nhà nước và chỉ huy, điều hành của người chỉ huy các cấp; bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, tập trung, thống nhất, xuyên suốt đồng thời phát huy tính chủ động, sáng tạo của từng tổ chức, cá nhân. Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Quân ủy Trung ương và cấp ủy các cấp theo hướng khoa học, chặt chẽ, hiệu quả, có tầm dự báo cao. Coi trọng xây dựng, hoàn thiện các quy chế, quy định về công tác Đảng, công tác chính trị; bảo đảm mọi hoạt động của Quân đội đều đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng bộ Quân đội và các cấp ủy, tổ chức đảng trong toàn quân.
Ba là, chú trọng xây dựng Đảng bộ Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, vững vàng trước mọi khó khăn, thách thức, thực sự là lực lượng nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân và đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Xây dựng Đảng bộ Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng là nhiệm vụ cơ bản, lâu dài, có ý nghĩa quyết định đến bản chất cách mạng và sức mạnh chiến đấu của Quân đội. Trong bối cảnh các thế lực thù địch gia tăng chống phá bằng các thủ đoạn chiến tranh tư tưởng, chiến tranh thông tin, yêu cầu đặt ra là Đảng bộ Quân đội phải giữ vững vai trò định hướng tư tưởng, thống nhất ý chí và hành động trong toàn quân. Trọng tâm là làm cho Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đường lối đổi mới của Đảng trở thành nền tảng tư tưởng vững chắc, chi phối mọi hoạt động lãnh đạo, chỉ huy và tổ chức thực hiện nhiệm vụ.
Trên nền tảng đó, Đảng bộ Quân đội cần lãnh đạo, chỉ đạo phát huy vai trò nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân; chủ động tham gia đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Việc đấu tranh phải được tiến hành có tổ chức, có lực lượng, có phương pháp phù hợp, gắn chặt với thực tiễn nhiệm vụ quân sự, quốc phòng. Qua đó, khẳng định vai trò tiên phong của Quân đội trên mặt trận tư tưởng-lý luận, củng cố vững chắc “thế trận lòng dân”, tạo nền tảng chính trị-tinh thần vững chắc cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Bốn là, thường xuyên chăm lo xây dựng tổ chức đảng các cấp trong sạch, vững mạnh tiêu biểu, có uy tín và năng lực lãnh đạo cao, sức chiến đấu mạnh mẽ, ngang tầm nhiệm vụ.
Xây dựng tổ chức đảng các cấp trong sạch, vững mạnh tiêu biểu là yêu cầu trực tiếp, thường xuyên trong công tác xây dựng Đảng bộ Quân đội, nhằm bảo đảm vai trò hạt nhân lãnh đạo toàn diện ở từng cơ quan, đơn vị. Trước yêu cầu nhiệm vụ ngày càng cao, quy mô tổ chức, lực lượng ngày càng lớn, trình độ hiện đại hóa ngày càng sâu, nếu tổ chức đảng không thực sự vững mạnh thì khó có thể lãnh đạo đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ. Vì vậy, Đảng bộ Quân đội và toàn quân cần tiếp tục tập trung củng cố, kiện toàn tổ chức đảng các cấp phù hợp với mô hình tổ chức, biên chế mới; nâng cao chất lượng sinh hoạt cấp ủy, chi bộ; thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình.
Bên cạnh đó, chú trọng nâng cao uy tín, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng thông qua việc gắn công tác xây dựng Đảng với thực hiện nhiệm vụ chính trị. Thước đo quan trọng nhất của tổ chức đảng vững mạnh là kết quả hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị và sự trưởng thành của cán bộ, chiến sĩ. Do đó, phải kiên quyết khắc phục tình trạng hình thức, chạy theo thành tích; xây dựng mối quan hệ chặt chẽ giữa cấp ủy với người chỉ huy và các tổ chức quần chúng; phát huy dân chủ, tạo sự đồng thuận cao trong đơn vị. Qua đó, xây dựng hệ thống tổ chức đảng trong toàn quân thực sự trong sạch, vững mạnh tiêu biểu, đủ năng lực lãnh đạo đơn vị hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ trong giai đoạn mới.
Năm là, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có phẩm chất, năng lực, uy tín; thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, góp phần xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.
Cán bộ là gốc của mọi công việc; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có phẩm chất, năng lực, uy tín là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng bộ Quân đội. Trước yêu cầu xây dựng Quân đội hiện đại, nhiệm vụ đặt ra là phải xây dựng đội ngũ cán bộ có tư duy chiến lược, trình độ tổng hợp cao, am hiểu khoa học-công nghệ quân sự, có năng lực tổ chức chỉ huy, quản lý trong điều kiện mới. Các cấp ủy, tổ chức đảng trong Quân đội cần thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ theo hướng đồng bộ, liên thông, kế thừa và phát triển, thu hút, trọng dụng nhân tài, chú trọng phát hiện, tạo nguồn, quan tâm đến cán bộ trẻ, cán bộ tài năng; đặc biệt coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ chủ trì, cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược có bản lĩnh, trí tuệ, phẩm chất, năng lực, uy tín hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Cùng với xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, cần thực hiện nghiêm công tác bảo vệ chính trị nội bộ, bảo đảm sự trong sạch, thống nhất trong Đảng bộ Quân đội. Trọng tâm là chủ động phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời các vấn đề phức tạp nảy sinh liên quan đến cán bộ, đảng viên; giữ vững kỷ luật, kỷ cương, bảo đảm sự ổn định chính trị nội bộ Quân đội. Thông qua đó, tạo nền tảng nhân sự vững chắc để xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
Sáu là, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương pháp, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật Đảng trong Quân đội.
Quân đội là tổ chức chặt chẽ, kỷ luật nghiêm minh, yêu cầu đặt ra đối với công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật Đảng phải đòi hỏi cao hơn, chặt chẽ và hiệu quả hơn. Đảng bộ Quân đội và toàn quân coi trọng đổi mới nội dung, phương pháp kiểm tra, giám sát, chú trọng ngay từ khi triển khai thực hiện để phòng ngừa; phát huy vai trò các cấp ủy, tổ chức đảng trong tự kiểm tra, giám sát kịp thời chấn chỉnh, khắc phục những vi phạm từ khi mới phát sinh, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn. Kiên quyết xử lý các hành vi vi phạm kỷ luật bảo đảm dân chủ, công bằng, nghiêm minh; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra, giám sát; thực hiện chuyển đổi số, đột phá phát triển khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo.
Truyền thống hơn 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam đã để lại những bài học về sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng; về sức mạnh đoàn kết quân-dân; về tinh thần độc lập, tự cường, dám đánh, biết đánh và biết thắng. Quán triệt, thực hiện các nghị quyết của Đảng, Đảng bộ Quân đội tiếp tục phấn đấu là Đảng bộ trong sạch, vững mạnh, mẫu mực, tiêu biểu; lãnh đạo xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên phát triển của dân tộc.
-
Những giải pháp đột phá nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số thời gian tới
Bí thư Tỉnh ủy An Giang Nguyễn Tiến Hải đã trả lời phỏng vấn báo chí trước thềm Đại hội XIV của Đảng về những giải pháp mang tính đột phá nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số trong thời gian tới.
Thưa đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, với mục tiêu đưa An Giang trở thành trung tâm kinh tế biển mạnh của quốc gia vào năm 2030, Đảng bộ tỉnh An Giang xác định đâu là những nguồn lực then chốt và những kết quả bứt phá nào trong thời gian qua đã tạo tiền đề vững chắc để tỉnh nhà tự tin bước vào kỷ nguyên mới ?
Để đạt được mục tiêu đến năm 2030, đưa An Giang trở thành tỉnh phát triển khá của cả nước; là trung tâm kinh tế biển mạnh của quốc gia, với tinh thần quán triệt sâu sắc đường lối, chủ trương của Đảng được nêu tại các văn kiện trình Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Đảng bộ tỉnh An Giang xác định rõ: huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực là yêu cầu có tính quyết định để tỉnh phát triển nhanh, bền vững và cùng cả nước bước vào kỷ nguyên mới.
Trước hết, An Giang đặt con người và hệ thống chính trị ở vị trí trung tâm của quá trình kiến tạo phát triển.
Sau sáp nhập, toàn tỉnh có hơn 131.700 đảng viên, 107 đảng bộ trực thuộc Tỉnh ủy và hơn 20.000 doanh nghiệp đang hoạt động, đây là nguồn lực chính trị-xã hội rất lớn để tổ chức thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đã đề ra.
Công tác xây dựng Đảng, cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được đẩy mạnh, góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân và doanh nghiệp, tạo nền tảng ổn định cho phát triển dài hạn.
Kế tiếp, tỉnh tập trung khơi thông và huy động hiệu quả các nguồn lực tài chính-đầu tư.
Năm 2025, tốc độ tăng trưởng GRDP của tỉnh đạt 8,39%, đứng đầu vùng Đồng bằng sông Cửu Long và xếp 14/34 tỉnh, thành phố cả nước. Tổng thu ngân sách nhà nước đạt trên 25.188 tỷ đồng, tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt 89.048 tỷ đồng, tăng trên 35% so với cùng kỳ; toàn tỉnh có hơn 4.000 doanh nghiệp thành lập mới và 32 dự án đầu tư được chấp thuận chủ trương, với tổng vốn đăng ký trên 13.000 tỷ đồng. Những con số này cho thấy niềm tin của nhà đầu tư và doanh nghiệp đối với môi trường đầu tư của An Giang tiếp tục được củng cố.
Thưa đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, để đạt được mục tiêu tăng trưởng GRDP bứt phá trên 10,71% vào năm 2026 và khẳng định vị thế của tỉnh trong kỷ nguyên mới, Đảng bộ tỉnh An Giang sẽ tập trung vào những giải pháp đột phá cụ thể nào để khơi thông nguồn lực đầu tư và phát huy tối đa lợi thế tổng hợp từ không gian phát triển mới sau sáp nhập?
Sang năm 2026, tỉnh An Giang đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP phải đạt trên 10,71%, GRDP bình quân đầu người đạt trên 90,53 triệu đồng; tổng thu ngân sách nhà nước đạt trên 32.360 tỷ đồng; tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt khoảng 113.500 tỷ đồng; tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GRDP đạt 8%.
Để đạt được mục tiêu này, tỉnh An Giang sẽ tiếp tục huy động mọi nguồn lực cho đầu tư, trong đó lấy đầu tư công dẫn dắt đầu tư tư bằng các công trình, dự án trọng điểm, có tính kết nối và lan tỏa cao, tạo điều kiện thuận lợi cho thu hút đầu tư các dự án phát triển các lĩnh vực trọng tâm, ưu tiên đầu tư của tỉnh như: hạ tầng khu kinh tế cửa khẩu, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, các dự án nhà máy chế biến thực phẩm giá trị gia tăng gắn với vùng nguyên liệu tập trung.
An Giang đặt Nghị quyết số 57 của Bộ Chính trị về “phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số” vào vị trí trọng tâm và được cụ thể hóa bằng các chương trình, dự án thiết thực, coi đây là động lực tăng trưởng mới.
Đồng thời, sẽ huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực, nhất là từ kinh tế tư nhân và hợp tác quốc tế, để thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững trên cơ sở chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế gắn với xác lập mô hình tăng trưởng mới với không gian phát triển vừa “đồng bằng-rừng-biển”; vừa “biên giới-nội địa” để phát triển kinh tế biển, kinh tế cửa khẩu, kinh tế nông nghiệp và dịch vụ logistics đa ngành.
Đặc biệt là du lịch sẽ phát triển mạnh sau khi hàng loạt các dự án hạ tầng chuẩn bị cho Hội nghị APEC 2027 được triển khai.
Tỉnh kiên định phát triển nhanh gắn với bền vững, Tập trung điều chỉnh và triển khai Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Đồng thời cơ cấu lại nền kinh tế, lựa chọn lĩnh vực ưu tiên, nền tảng tập trung phát triển, đảm bảo mục tiêu tăng trưởng 2 con số hàng năm đến năm 2030.
Tỉnh cũng đã triển khai Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, cụ thể hóa bằng các chương trình hành động, kế hoạch triển khai thực hiện với từng nhiệm vụ và giải pháp cụ thể gắn với trách nhiệm của người đứng đầu.
Đồng thời, xây dựng và triển khai thực hiện Đề án phát triển kinh tế tư nhân gắn với các đề án quan trọng khác của tỉnh nhằm huy động hiệu quả nguồn lực tư nhân cho phát triển.
Với quyết tâm chính trị cao, cách làm chủ động, sáng tạo và những kết quả thực tiễn đã đạt được, An Giang tin tưởng sẽ huy động hiệu quả mọi nguồn lực, tạo bước phát triển nhanh, bền vững, đóng góp ngày càng lớn vào tăng trưởng chung của vùng Đồng bằng sông Cửu Long và của cả nước trong kỷ nguyên mới.
-
Thắp lên "tinh thần Điện Biên Phủ" - Mệnh lệnh phát triển trong kỷ nguyên mới
Nhân dịp Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, đồng chí Trần Tiến Dũng, Bí thư Tỉnh uỷ Điện Biên, đã trả lời phỏng vấn báo chí về những nhóm giải pháp trọng tâm nhằm đưa Điện Biên phát triển "xanh - thông minh - bền vững", trở thành tỉnh phát triển khá trong khu vực.
Trước hết, xin đồng chí cho biết một số thành tựu nổi bật của tỉnh Điện Biên trong nhiệm kỳ 2020-2025 vừa qua?
Nhiệm kỳ vừa qua Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân các dân tộc tỉnh Điện Biên đã nỗ lực tổ chức thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ 14 với nhiều kết quả quan trọng, toàn diện trên các lĩnh vực, có thể kể đến:
Kinh tế của tỉnh tăng trưởng khá, cơ cấu chuyển dịch đúng hướng. Tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân đạt 8,35%/năm. Môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện; từng bước hình thành các vùng sản xuất nông nghiệp tập trung. Nhiều dự án, công trình trọng điểm được hoàn thành, như Dự án mở rộng Cảng hàng không Điện Biên, tổ chức thành công các hoạt động kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ,… Du lịch khẳng định vai trò mũi nhọn, thu hút trên 5,5 triệu lượt khách du lịch, tạo động lực quan trọng cho phát triển kinh tế và tạo đà để Điện Biên bứt phá, vươn lên.
Các lĩnh vực văn hoá, xã hội, an sinh xã hội được quan tâm chăm lo; tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm mạnh, bình quân mỗi năm giảm khoảng 4% gắn với tạo việc làm, tạo sinh kế bền vững cho người dân; hoàn thành hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát cho khoảng 22.300 hộ nghèo. Bản sắc văn hóa các dân tộc được bảo tồn, phát huy gắn với phát triển du lịch.
Quốc phòng, an ninh, đối ngoại không ngừng được củng cố, tăng cường; chủ quyền biên giới quốc gia được giữ vững; các vấn đề phát sinh được giải quyết kịp thời, từ sớm, từ xa, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống, không để phát sinh "điểm nóng", tạo môi trường hòa bình, ổn định để tỉnh phát triển kinh tế, thu hút đầu tư và tăng cường mở rộng hợp tác quốc tế.
Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị được quan tâm, có nhiều đổi mới. Phương thức lãnh đạo chuyển đổi mạnh mẽ theo hướng cụ thể, rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm. Tỉnh đã thực hiện sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, xây dựng chính quyền địa phương 2 cấp hoạt động thông suốt, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, tạo được niềm tin và sự đồng thuận trong Nhân dân.
Những kết quả này là tiền đề quan trọng để Điện Biên tiếp tục vươn lên phát triển xanh, thông minh, bền vững trong giai đoạn tới.
Để đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số trong giai đoạn 2025 - 2030, tỉnh Điện Biên xác định những đột phá trọng tâm nào, thưa đồng chí?
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Điện Biên lần thứ XV nhiệm kỳ 2025 - 2030 đề ra mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 10 - 11%/năm. Đây là mục tiêu thể hiện quyết tâm chính trị cao của Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân các dân tộc tỉnh nhằm đưa Điện Biên phát triển "xanh - thông minh - bền vững", trở thành tỉnh phát triển khá trong khu vực. Để hiện thực mục tiêu đó, ngay sau Đại hội, Tỉnh ủy đã triển khai đồng bộ các giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh; tập trung tạo đột phá 3 nhóm sau:
Trước hết, Điện Biên xác định đột phá về hoàn thiện cơ chế, chính sách và nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh là yếu tố then chốt, quyết định. Tỉnh tập trung hoàn thiện, ban hành các cơ chế, chính sách phù hợp với thực tiễn, tạo môi trường đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh như: Xây dựng các chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế tư nhân, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, chính sách hỗ trợ du lịch thông minh gắn với phát huy bản sắc văn hóa... và coi đó là những nhiệm vụ xuyên suốt, là "chìa khóa mở cửa" cho các nguồn lực xã hội tham gia phát triển. Đồng thời, đẩy mạnh cải cách hành chính, xác định một số nhóm dự án trọng điểm cần thu hút đầu tư thực hiện theo "luồng xanh", cắt giảm từ 70 - 90% thời gian thực hiện thủ tục hành chính và tạo điều kiện tối đa, thuận lợi nhất cho doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Thứ hai, đột phá về phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội, tập trung hạ đầu tư hạ tầng giao thông chiến lược và kết nối không gian phát triển để tháo gỡ những điểm nghẽn của một tỉnh miền núi, biên giới. Tỉnh ưu tiên huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực để đầu tư hạ tầng giao thông; đặc biệt là tuyến cao tốc Sơn La - Điện Biên - Cửa khẩu quốc tế Tây Trang, tuyến kết nối đến cửa khẩu A Pa Chải - Long Phú, mở ra hướng phát triển mới với tỉnh Vân Nam, Trung Quốc... Phát triển đồng bộ hạ tầng điện, viễn thông và hạ tầng du lịch. Qua đó, từng bước giảm chi phí logistics, mở rộng không gian phát triển, tạo điều kiện thu hút đầu tư và lưu thông hàng hóa, dịch vụ.
Thứ ba, Điện Biên xác định đẩy mạnh phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn với nhiều loại hình; đổi mới các sản phẩm du lịch hiện có theo hướng phát huy giá trị độc bản, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh, phát triển các sản phẩm du lịch chủ đạo dựa trên ba trụ cột (lịch sử - tâm linh; bản sắc văn hóa 19 đồng bào dân tộc anh em - khám phá thiên nhiên và nghỉ dưỡng, giải trí, chăm sóc sức khỏe, du lịch cộng đồng). Cùng với việc đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, tỉnh đẩy mạnh thu hút đầu tư, tập trung phát triển Khu du lịch quốc gia Điện Biên Phủ - Pá Khoang, tạo điểm nhấn và sức hút cho du lịch Điện Biên; tăng cường gắn kết du lịch với văn hóa, thể thao, ẩm thực và sản xuất nông nghiệp.
Bên cạnh đó, tỉnh đặc biệt coi trọng đột phá về phát triển nguồn nhân lực, phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đây được xác định là giải pháp lâu dài, then chốt để nâng cao năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế. Điện Biên xác định tập trung cho đào tạo và thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao; đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, ứng dụng AI trong quản lý nhà nước, cung cấp dịch vụ công và trong sản xuất, kinh doanh; từng bước phát triển kinh tế số, tạo dư địa tăng trưởng mới trong giai đoạn tới.
Thưa đồng chí, Điện Biên cần làm thế nào để kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân với củng cố quốc phòng – an ninh, bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới quốc gia?
Điện Biên là tỉnh có vị trí chiến lược về quốc phòng, an ninh; là vùng đất "phên dậu" nơi biên cương của Tổ quốc, với đường biên giới dài hơn 455 km, tiếp giáp với 2 nước bạn Lào và Trung Quốc.
Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã xác định quan điểm phát triển đất nước trong giai đoạn mới là "phát triển để ổn định và ổn định để phát triển nhanh, bền vững đất nước".
Muốn củng cố và phát huy hơn nữa khối đại đoàn kết toàn dân tộc thì phải làm cho nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, bà con nhân dân yên tâm ở khu vực biên giới lao động, sản xuất cùng các lực lượng bảo vệ chủ quyền, giữ rừng, bảo vệ an ninh nguồn nước.
Đặc biệt, trong chuyến thăm và làm việc tại tỉnh tháng 7/2025, Đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ đạo Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân các dân tộc tỉnh Điện Biên: "Tinh thần Điện Biên Phủ cần tiếp tục được thắp lên trong thời bình như một mệnh lệnh phát triển", với tinh thần đó, tỉnh Điện Biên đang nỗ lực hành động, ra sức thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội: Thu hút đầu tư, khơi thông mọi nguồn lực; hoàn thiện kết cấu hạ tầng giao thông, thủy lợi; tập trung các giải pháp nhằm hiện thực hoá các mục tiêu xóa bản chưa có điện lưới, xây dựng các trường phổ thông nội trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở tại các xã biên giới, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đưa Điện Biên trở thành tỉnh không ma túy vào năm 2030; đẩy mạnh cơ cấu lại ngành nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới để giảm nghèo đa chiều, đảm bảo sinh kế bền vững, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho Nhân dân, để Nhân dân yên tâm lao động, sản xuất; củng cố thế trận quốc phòng toàn dân, gắn với thế trận an ninh nhân dân, bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới quốc gia.
Cùng với đó, tăng cường mở rộng hợp tác với các tỉnh có chung đường biên giới nước bạn Lào và Trung Quốc, thúc đẩy giao lưu nhân dân, xây dựng đường biên giới hoà bình, hợp tác, phát triển.
-
Tạo thống nhất nhận thức, quyết tâm và hành động thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV
Đồng chí Phạm Tất Thắng, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương nắm tình hình nhân dân và dư luận xã hội về đại hội đảng bộ các cấp; tổ chức lấy ý kiến, tổng hợp ý kiến góp ý của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào dự thảo các văn kiện Đại hội XIV của Đảng, trao đổi với phóng viên Báo Nhân Dân, đã làm rõ những kết quả nổi bật, điểm mới trong công tác này.
Thưa đồng chí, công tác lấy ý kiến của nhân dân đối với dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng được triển khai với tinh thần và yêu cầu như thế nào nhằm bảo đảm phát huy trí tuệ tập thể, phản ánh sát thực tiễn và nguyện vọng của nhân dân?
Các văn kiện trình Đại hội XIV không chỉ tổng kết chặng đường phát triển 5 năm qua, xác định phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu trong nhiệm kỳ tới mà còn định hình tư duy chiến lược, tầm nhìn và định hướng phát triển đất nước đến giữa thế kỷ XXI. Đặt trong yêu cầu đó, công tác lấy ý kiến và tiếp thu góp ý của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân là nhiệm vụ chính trị hệ trọng được Bộ Chính trị đặc biệt quan tâm, chỉ đạo sát sao.
Bám sát các chỉ thị, kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương đã thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương và Tổ Công tác nắm tình hình nhân dân và dư luận xã hội về đại hội đảng bộ các cấp; tổ chức lấy ý kiến, tổng hợp ý kiến góp ý của cán bộ, đảng viên và Nhân dân vào dự thảo các văn kiện Đại hội XIV của Đảng (Ban Chỉ đạo); đồng thời, ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc nhằm tiến hành hiệu quả, lan tỏa sâu rộng tinh thần dân chủ, phát huy trí tuệ, tâm huyết của cán bộ, đảng viên và nhân dân góp ý vào dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng.
Công tác lấy ý kiến của nhân dân đối với dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng được triển khai với tinh thần phát huy dân chủ, tôn trọng ý kiến của nhân dân, huy động trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân bảo đảm các văn kiện phản ánh đúng nguyện vọng, mong muốn, đề xuất của nhân dân. Yêu cầu xuyên suốt đợt lấy ý kiến là phải phản ánh đầy đủ, khách quan những trăn trở, kỳ vọng, tâm huyết của nhân dân về định hướng phát triển đất nước.
Trong quá trình thực hiện, Ban Chỉ đạo đã triển khai việc lấy ý kiến tới tất cả các cơ quan, tổ chức, địa phương; nhiều cách làm mới, sáng tạo nhằm mở rộng diện tiếp cận, huy động trí tuệ, tâm huyết của các tầng lớp nhân dân trong và ngoài nước tham gia góp ý vào dự thảo các văn kiện. Nổi bật là việc Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương triển khai lấy ý kiến góp ý vào dự thảo các văn kiện thông qua hệ thống trực tuyến trên phạm vi toàn quốc. Nhằm thu hút sự quan tâm và nhiệt tình tham gia góp ý của thế hệ trẻ, Ban đã phối hợp các tổ chức, đơn vị triển khai lấy ý kiến góp ý của nhân dân qua việc cung cấp mã QR, đường link tại các cảng hàng không Nội Bài, Tân Sơn Nhất, Đà Nẵng, Phú Bài, Cam Ranh và tại 1.200 địa điểm thuộc hệ thống cafe Highlands trên cả nước. Báo Nhân Dân phối hợp Tổng công ty Bưu điện Việt Nam đã triển khai chương trình đưa dự thảo các văn kiện đến 7.461 điểm Bưu điện Văn hóa xã.
Bên cạnh đó, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương mà trực tiếp là Ban Chỉ đạo đã phát huy những kinh nghiệm, cách làm hay trong nhiều nhiệm kỳ qua nhằm tập hợp những ý kiến tâm huyết về dự thảo văn kiện trình Đại hội XIV từ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài thông qua đầu mối là đại sứ quán, cơ quan đại diện, chi hội và tổ chức đoàn thể, bằng nhiều hình thức như hội thảo trực tuyến, tọa đàm, phiên đóng góp tại sứ quán, mạng xã hội và qua email. Nhờ thực hiện đồng bộ những cách làm này, nhiều ý kiến tâm huyết, trách nhiệm của kiều bào đã được gửi về, thể hiện sự gắn bó sâu sắc với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.
Theo đồng chí, công tác tiếp thu ý kiến đóng góp lần này có những điểm nhấn nào thể hiện rõ tinh thần phát huy dân chủ, trí tuệ toàn Đảng, toàn dân so với các kỳ Đại hội trước?
So với các nhiệm kỳ trước, đợt lấy ý kiến Nhân dân vào các Dự thảo Văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng thể hiện bước phát triển vượt bậc cả về hình thức, cách thức, số lượng và chất lượng. Nhờ đó đã có gần 5 triệu cán bộ, đảng viên và nhân dân đóng góp gần 14 triệu lượt ý kiến tâm huyết, trách nhiệm cho các dự thảo văn kiện. Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV được chuẩn bị từ rất sớm, với quá trình xây dựng công phu, bài bản và liên tục được cập nhật trong gần hai năm cuối nhiệm kỳ. Tiểu ban Văn kiện đã huy động, tập hợp hàng nghìn nhà khoa học, chuyên gia đến từ các trường đại học, viện nghiên cứu, các đoàn thể nhân dân, tổ chức nhiều cuộc hội thảo, tọa đàm, trao đổi ý kiến về từng vấn đề. Đây là cơ sở quan trọng để chúng ta thu về kinh nghiệm, bài học, từ đó triển khai hiệu quả công tác lấy ý kiến rộng rãi và tiếp thu góp ý của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân với dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV trong thời gian qua.
Việc tiếp thu ý kiến của cán bộ, đảng viên và Nhân dân được thực hiện nghiêm túc trên tinh thần lắng nghe và cầu thị. Nhất là khi, chúng ta đã tiếp nhận một khối lượng ý kiến rất lớn, nhiều ý kiến trí tuệ, sắc sảo, thể hiện người dân thật sự quan tâm, có trách nhiệm đối với công việc hệ trọng của Đảng, của đất nước. Điểm nhấn nổi bật là tinh thần cầu thị, lắng nghe và tôn trọng ý kiến nhân dân được đặt ở vị trí trung tâm (các ý kiến dù thống nhất hay còn khác nhau đều được tôn trọng tiếp nhận, phân tích thấu đáo trên tinh thần khoa học, khách quan và trách nhiệm cao với lợi ích quốc gia, dân tộc). Phương thức tiếp thu được tổ chức bài bản, chặt chẽ, khoa học. Điểm nhấn đáng chú ý là yêu cầu gắn chặt việc tiếp thu với tính khả thi và hiệu quả tổ chức thực hiện.
Điểm mới của công tác này so với các kỳ Đại hội trước là chúng ta có sự hỗ trợ của công nghệ và quan trọng hơn là cách phân loại, chọn lọc ý kiến bài bản, khoa học. Theo đó, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương đã sớm nghiên cứu, ban hành Hướng dẫn số 18-HD/BTGDVTW-BCĐ ngày 3/7/2025 về tổ chức lấy ý kiến, tổng hợp ý kiến đóng góp của cán bộ, đảng viên và Nhân dân đối với dự thảo các văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Nhấn mạnh việc ý kiến góp ý của cán bộ, đảng viên và nhân dân phải được tổng hợp đầy đủ, chính xác, khách quan, Ban Chỉ đạo đã ban hành mẫu báo cáo tổng hợp góp ý với bố cục, mục, chi tiết; đính kèm phụ lục nội dung thảo luận, góp ý và phụ lục các ý kiến đóng góp cụ thể. Ngoài ra, Ban Chỉ đạo đã phân công Vụ Nghiên cứu-Dư luận xã hội làm đầu mối sẵn sàng tư vấn, hỗ trợ thông tin bằng hình thức gọi điện, tin nhắn qua điện thoại, thư điện tử.
Nhờ cách làm đồng bộ, khoa học, nhiều ý kiến chất lượng về dự thảo Báo cáo chính trị, đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII, cơ đồ đất nước sau 40 năm đổi mới cũng như 13 định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2026-2030 đã được nghiêm túc tiếp thu, báo cáo Bộ Chính trị và chuyển tới Tiểu ban Văn kiện để nghiên cứu, chọn lọc, hoàn thiện. Tất cả các ý kiến góp ý được tập hợp đầy đủ, phân loại khoa học, tổng hợp khách quan, theo từng văn kiện, từng nhóm vấn đề lớn; đồng thời được báo cáo kịp thời để Tiểu ban Văn kiện nghiên cứu, tiếp thu với tinh thần: ý kiến nào xác đáng, có cơ sở lý luận, thực tiễn, phù hợp lợi ích quốc gia - dân tộc thì được tiếp thu tối đa; những nội dung còn khác nhau đều được phân tích, làm rõ, giải trình nghiêm túc. Quá trình tiếp thu không chỉ dừng lại ở việc chỉnh sửa câu chữ, mà còn góp phần làm rõ hơn tư duy phát triển, hoàn thiện nội dung, nâng tầm khát vọng và tầm nhìn chiến lược của các văn kiện. Chính quá trình này đã giúp các văn kiện gần dân hơn, sát thực tiễn hơn, dễ triển khai hơn.
Có thể khẳng định, việc lấy ý kiến và tiếp thu ý kiến góp ý lần này đã thực sự phát huy dân chủ, huy động trí tuệ toàn dân; các văn kiện trình Đại hội XIV là kết quả của sự hội tụ ý chí, nguyện vọng và niềm tin của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; là bước phát triển mới cả về tầm tư duy lý luận, tầm vóc chính trị và giá trị thực tiễn, là kim chỉ nam, nền tảng vững chắc cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.
-