The Latest News
Australia chính thức không áp thuế chống bán phá giá với sản phẩm thép cốt bê tông cán nóng Việt Nam
Thông tin từ Cục Phòng vệ Thương mại (Bộ Công Thương), ngày 16 tháng 12 năm 2025, Ủy ban Chống bán phá giá Australia (Anti-Dumping Commission - ADC) đã ban hành Thông báo về việc chấm dứt một phần điều tra chống bán phá giá đối với sản phẩm thép cốt bê tông cán nóng dạng thanh nhập khẩu từ Indonesia, Thái Lan, Malaysia, Thổ Nhĩ Kỳ và Việt Nam.
Cuộc điều tra được ADC khởi xướng vào ngày 24 tháng 9 năm 2024, sau khi nhận được đơn yêu cầu của Nguyên đơn là công ty Infrabuild NSW Pty Limited (InfraBuild) theo khoản 269TB(1) của Đạo luật Hải quan Australia 1901.
Trên cơ sở kết quả điều tra, xem xét hồ sơ vụ việc và các ý kiến của các bên liên quan, ADC đã quyết định chấm dứt điều tra đối với một số doanh nghiệp cụ thể từ một số quốc gia trên, trong đó có Việt Nam.
Cụ thể, một doanh nghiệp Việt Nam đã được ADC xác định rằng: hàng hóa do doanh nghiệp này xuất khẩu có tồn tại hành vi bán phá giá, tuy nhiên biên độ bán phá giá nhỏ hơn 2% giá xuất khẩu bình quân gia quyền. Theo quy định pháp luật của Australia, mức biên độ này được coi là không đáng kể (de minimis). Vì vậy, ADC đã quyết định chấm dứt điều tra đối với doanh nghiệp này theo khoản 269TDA(1)(b)(ii) của Đạo luật.
Báo cáo chấm dứt điều tra Termination Report No. 655, trong đó nêu rõ các cơ sở thực tế và pháp lý cho quyết định của ADC, đã được đăng tải trên hồ sơ công khai của ADC tại địa chỉ: www.adcommission.gov.au.
Mặc dù đã chấm dứt điều tra đối với một số doanh nghiệp nêu trên, cuộc điều tra chống bán phá giá đối với thép cốt bê tông cán nóng từ các quốc gia bị điều tra vẫn tiếp tục đối với các nhà xuất khẩu và quốc gia khác trong phạm vi vụ việc.
Theo quy trình, ADC sẽ báo cáo kết quả điều tra cuối cùng lên Bộ trưởng Bộ Công nghiệp và Đổi mới sáng tạo, đồng thời là Bộ trưởng Bộ Khoa học Australia, chậm nhất vào ngày 18 tháng 12 năm 2025.
Theo quy định của pháp luật Australia, bên Nguyên đơn có quyền yêu cầu rà soát quyết định chấm dứt điều tra bằng cách nộp đơn lên Hội đồng Rà soát chống bán phá giá (Anti-Dumping Review Panel) theo đúng mẫu và trình tự quy định trong vòng 30 ngày kể từ ngày công bố thông báo này.
Theo Phòng vệ thương mại, mặc dù ADC đã ra quyết định chấm dứt điều tra cho 01 doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam - cũng là doanh nghiệp xuất khẩu lớn nhất sản phẩm bị điều tra trong kỳ, tuy nhiên cần tiếp tục theo dõi diễn biến tiếp theo, trong trường hợp Nguyên đơn yêu cầu Hội đồng Rà soát xem xét lại Kết luận chấm dứt của ADC.
Do đó, Cục Phòng vệ thương mại khuyến nghị các doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu thép có liên quan của Việt Nam cần tiếp tục theo dõi chặt chẽ diễn biến của vụ việc trong giai đoạn điều tra còn lại.
Chủ động phối hợp, cung cấp thông tin đầy đủ cho cơ quan điều tra Australia khi được yêu cầu. Phối hợp chặt chẽ với Cục Phòng vệ thương mại để trao đổi, xử lý trong trường hợp vụ việc có các diễn biến mới. Cục sẽ tiếp tục theo dõi sát diễn biến vụ việc và kịp thời thông tin tới cộng đồng doanh nghiệp.
Bộ Công Thương-Song Hà
Đề xuất hoán đổi ngày làm việc để nghỉ 4 ngày dịp Tết Dương lịch
Bộ Nội vụ ngày 24/12 đã đưa ra đề xuất mới về phương án nghỉ dịp Tết Dương lịch năm 2026.
Theo đó, thực hiện ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà về đề xuất phương án nghỉ Tết Dương lịch năm 2026 tại công văn số 12642/VPCP-KGVX ngày 23/12/2025 của Văn phòng Chính phủ, Bộ Nội vụ đề xuất phương án nghỉ Tết Dương lịch năm 2026 đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động của các cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và người lao động thuộc khối doanh nghiệp không phải là công chức, viên chức.
Cụ thể, đối với công chức, viên chức, Bộ Nội vụ đề xuất nghỉ ngày 1/1/2026 Dương lịch theo quy định; nghỉ ngày 2/1, và hoán đổi (đi làm bù) sang ngày nghỉ hằng tuần thứ Bảy, ngày 10/1.
Như vậy, dịp Tết Dương lịch năm 2026, công chức, viên chức được nghỉ 4 ngày liên tục, từ thứ Năm ngày 1/1/2026 Dương lịch, đến hết Chủ Nhật ngày 4/1.
Đối với người lao động, Bộ Nội vụ khuyến khích người sử dụng lao động áp dụng thời gian nghỉ Tết Dương lịch năm 2026 cho người lao động như quy định đối với công chức, viên chức, nhưng đảm bảo thực hiện đầy đủ các chế độ cho người lao động theo quy định của pháp luật. Đồng thời, khuyến khích những thỏa thuận có lợi hơn cho người lao động.
Theo Bộ Nội vụ, việc bố trí hoán đổi ngày làm việc bình thường và làm bù sang ngày khác vừa giúp đảm bảo cho công chức, viên chức có dịp nghỉ lễ hài hòa, trọn vẹn, vừa giúp kích cầu du lịch và tiêu dùng xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Ngoài ra, việc hoán đổi này cũng không làm thay đổi quỹ thời gian làm việc của công chức, viên chức.
Theo quy định tại Bộ luật Lao động năm 2019, người lao động có tất cả 11 ngày nghỉ lễ, Tết trong năm và được hưởng nguyên lương. Trong đó, Tết Dương lịch 1 ngày (ngày 1/1 Dương lịch).
Nếu ngày nghỉ này trùng vào ngày nghỉ hằng tuần thì người lao động được nghỉ bù vào ngày kế tiếp. Hằng năm, căn cứ vào điều kiện thực tế, Thủ tướng Chính phủ quyết định cụ thể ngày nghỉ theo quy định.
-Thu Hằng
Thưởng Tết ở Nghệ An: cao nhất 87 triệu, thấp nhất 200 nghìn đồng
Mới đây, Sở Nội vụ tỉnh Nghệ An phối hợp với Ban Quản lý khu Kinh tế Đông Nam cùng Ủy ban nhân dân các phường, xã tiến hành khảo sát tình hình tiền lương, tiền thưởng dịp cuối năm tại các doanh nghiệp trên địa bàn.
Đợt khảo sát được thực hiện tại 7.394 doanh nghiệp, bao gồm 10 công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, 15 công ty có cổ phần hoặc vốn góp chi phối của Nhà nước, 7.324 doanh nghiệp dân doanh và 45 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Kết quả cho thấy, năm 2025, hoạt động sản xuất, kinh doanh của nhiều doanh nghiệp trên địa bàn tiếp tục phục hồi, tạo dư địa để chi trả thưởng cho người lao động. Tuy nhiên, mức thưởng giữa các doanh nghiệp, các khối sản xuất – kinh doanh vẫn có sự chênh lệch đáng kể.
Theo số liệu khảo sát, dịp Tết Dương lịch, một số doanh nghiệp tại Nghệ An dự kiến chi thưởng cho người lao động với mức bình quân khoảng 1,85 triệu đồng/người. Đáng chú ý, mức thưởng cao nhất ghi nhận lên tới 40 triệu đồng/người, trong khi mức thấp nhất chỉ khoảng 100 nghìn đồng/người.
Sự chênh lệch này phản ánh rõ nét thực trạng phục hồi không đồng đều giữa các doanh nghiệp sau giai đoạn khó khăn. Một số doanh nghiệp có đơn hàng ổn định, hiệu quả sản xuất – kinh doanh cải thiện rõ rệt nên mạnh dạn chi thưởng cao để giữ chân lao động. Ngược lại, không ít doanh nghiệp vẫn phải cân đối chi phí, duy trì hoạt động ở mức cầm chừng, dẫn tới mức thưởng khá khiêm tốn.
Tuy nhiên, theo đánh giá chung, Tết Dương lịch không phải là thời điểm thưởng chính của phần lớn doanh nghiệp trên địa bàn. Nguồn lực chi trả thường được tập trung nhiều hơn cho dịp Tết Nguyên đán, khi nhu cầu chi tiêu của người lao động tăng cao.
Đối với Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026, đa số doanh nghiệp tại Nghệ An dự kiến dành nguồn lực lớn hơn để thưởng cho người lao động. Mức thưởng bình quân chung được ghi nhận khoảng 4,97 triệu đồng/người.
Điểm đáng chú ý là mức thưởng cao nhất lên tới 87 triệu đồng/người, trong khi mức thấp nhất chỉ khoảng 200 nghìn đồng/người. Khoảng cách này tiếp tục cho thấy sự khác biệt lớn về quy mô, hiệu quả sản xuất – kinh doanh cũng như khả năng tài chính giữa các khối doanh nghiệp.
Cụ thể, trong khối các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, mức thưởng Tết Nguyên đán cao nhất khoảng 25 triệu đồng/người, mức bình quân 4,8 triệu đồng/người và thấp nhất 1 triệu đồng/người. Đây là khối doanh nghiệp có mức thưởng tương đối ổn định, phản ánh đặc thù quản trị và cơ chế phân phối thu nhập gắn với hiệu quả sản xuất – kinh doanh và quy định hiện hành.
Đối với khối công ty có cổ phần hoặc vốn góp chi phối của Nhà nước, mức thưởng ghi nhận cao nhất lên tới 61,4 triệu đồng/người. Mức bình quân của khối này đạt khoảng 5,7 triệu đồng/người, trong khi mức thấp nhất khoảng 3 triệu đồng/người. So với khối doanh nghiệp Nhà nước thuần túy, nhóm này có biên độ thưởng rộng hơn, phản ánh tính linh hoạt cao hơn trong hoạt động sản xuất – kinh doanh.
Ở khối doanh nghiệp dân doanh, mức thưởng Tết Nguyên đán cao nhất đạt 45 triệu đồng/người, mức bình quân khoảng 3,9 triệu đồng/người và thấp nhất chỉ 200 nghìn đồng/người. Đây cũng là khối có số lượng doanh nghiệp lớn nhất trên địa bàn, với sự đa dạng về quy mô, ngành nghề, dẫn tới mức thưởng có sự phân hóa rõ rệt.
Đáng chú ý nhất là khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Theo kết quả khảo sát, mức thưởng Tết Nguyên đán cao nhất tại khối này lên tới 87 triệu đồng/người, cao nhất trong các khối doanh nghiệp được khảo sát. Mức bình quân đạt khoảng 5,5 triệu đồng/người, trong khi mức thấp nhất khoảng 800 nghìn đồng/người. Nhiều doanh nghiệp FDI duy trì đơn hàng ổn định, thị trường xuất khẩu thuận lợi nên có điều kiện chi thưởng cao, tạo động lực làm việc cho người lao động.
-Nguyễn Thuấn
Chip lượng tử quang tử mới của Trung Quốc: Bước nhảy vọt trong cuộc đua điện toán thế hệ mới
Theo South China Morning Post, con chip do Viện CHIPX (Chip Hub for Integrated Photonics Xplore) phối hợp với Start-up Turing Quantum phát triển đã được vinh danh tại Hội nghị Internet Thế giới Wuzhen 2025 - một sự kiện thường được xem là “sân khấu chính sách - công nghệ” của Trung Quốc trong lĩnh vực kinh tế số.
Dù còn nhiều câu hỏi về khả năng triển khai đại trà, dự án này đang được đánh giá là một trong những bước tiến đáng kể nhất của Trung Quốc trong điện toán quang tử.
ĐIỆN TOÁN QUANG TỬ: CẦU NỐI GIỮA MÁY TÍNH CỔ ĐIỂN VÀ LƯỢNG TỬ
Khác với chip điện tử truyền thống sử dụng dòng điện để xử lý thông tin, chip quang tử khai thác photon - tức ánh sáng - làm phương tiện tính toán. Nhờ đặc tính truyền nhanh, mang nhiều dữ liệu và tiêu thụ ít năng lượng, ánh sáng từ lâu đã được xem là lời giải tiềm năng cho các “nút thắt cổ chai” về băng thông và hiệu suất trong trung tâm dữ liệu hiện đại.
Trong bối cảnh nhu cầu tính toán cho AI, mô phỏng khoa học và tối ưu hóa quy mô lớn ngày càng tăng, các kiến trúc điện tử thuần túy đang dần chạm ngưỡng giới hạn vật lý. Điện toán quang tử, vì vậy, được coi là bước trung gian quan trọng, giúp tăng tốc đáng kể các tác vụ chuyên biệt, đồng thời hỗ trợ nghiên cứu và phát triển công nghệ lượng tử trong tương lai.
Con chip mới của Trung Quốc được giới thiệu là có khả năng tăng tốc các phép tính phức tạp lên hơn 1.000 lần so với các bộ xử lý đồ họa (GPU) hàng đầu trong những kịch bản nhất định. Tuy nhiên, giới chuyên gia cũng lưu ý rằng đây không phải là phép so sánh “một đối một” cho điện toán đa dụng, mà chủ yếu áp dụng cho các bài toán phù hợp với kiến trúc quang học song song.
Một điểm đáng chú ý trong dự án này không chỉ nằm ở hiệu năng, mà còn ở mô hình phát triển. CHIPX - viện nghiên cứu đặt tại Vô Tích, liên kết với Đại học Giao thông Thượng Hải cho biết họ đã hoàn thiện toàn bộ chu trình sản xuất chip quang tử trong nội bộ, từ thiết kế, chế tạo wafer, đóng gói, kiểm thử đến tích hợp hệ thống.
Trong ngành quang tử, nơi các công đoạn thường phân tán giữa nhiều đơn vị khác nhau, khả năng làm chủ trọn vẹn chuỗi giá trị được xem là lợi thế chiến lược hiếm có. Điều này cho phép CHIPX rút ngắn mạnh chu kỳ phát triển: từ chỗ mất khoảng 6 tháng cho một vòng thiết kế, nay chỉ còn khoảng 2 tuần.
Theo các nhà nghiên cứu, trong điện toán quang tử, chỉ một thay đổi rất nhỏ về hình học hay vật liệu cũng có thể làm biến đổi đáng kể cách ánh sáng lan truyền trong mạch. Do đó, khả năng thử nghiệm - điều chỉnh - lặp lại nhanh là yếu tố quyết định để tiến tới thương mại hóa.
Về mặt kỹ thuật, con chip mới được đánh giá cao nhờ mức độ tích hợp đặc biệt dày đặc. Hơn 1.000 linh kiện quang học được tích hợp nguyên khối trên một wafer silicon 6 inch - con số mà theo South China Morning Post là đạt trình độ hàng đầu thế giới.
Chip sử dụng vật liệu lithium niobate màng mỏng, vốn được ưa chuộng trong lĩnh vực quang tử nhờ khả năng điều biến ánh sáng hiệu quả với mức suy hao rất thấp. Điều này giúp tín hiệu ổn định hơn, đồng thời mở ra khả năng xử lý nhiều kênh thông tin song song trên cùng một chip.
Kiến trúc băng thông lớn của chip được thiết kế đủ linh hoạt để có thể mở rộng trong tương lai, hướng tới các hệ thống có khả năng hỗ trợ hàng trăm nghìn, thậm chí hàng triệu “qubit quang học” - dù khái niệm này hiện vẫn mang tính định hướng nghiên cứu hơn là ứng dụng thực tế.
TỪ PHÒNG THÍ NGHIỆM RA THỰC TẾ: BƯỚC ĐI THẬN TRỌNG NHƯNG RÕ RÀNG
Theo SCMP, chip quang tử mới của Trung Quốc đã được triển khai thử nghiệm trong một số lĩnh vực như hàng không vũ trụ, y sinh và mô hình hóa tài chính. Đây đều là những ngành đòi hỏi khối lượng tính toán lớn, nhưng có cấu trúc bài toán phù hợp với xử lý song song - lợi thế tự nhiên của điện toán quang tử.
Trong hàng không vũ trụ, chip được dùng cho mô phỏng và mô hình hóa, giúp rút ngắn thời gian phân tích và giảm chi phí tính toán. Trong y sinh, các ứng dụng tập trung vào mô hình hóa phân tử và protein, hỗ trợ quá trình dự đoán và khám phá thuốc. Với tài chính, chip được thử nghiệm trong các bài toán phân tích rủi ro và mô phỏng Monte Carlo quy mô lớn.
Các nhà phát triển cho rằng đây là bước đi quan trọng hướng tới các kiến trúc lai, kết hợp giữa tính toán cổ điển, quang tử và các yếu tố “giống lượng tử”, nhằm giải quyết những bài toán mà máy tính truyền thống ngày càng khó đáp ứng hiệu quả.
Một trong những rào cản lớn nhất của điện toán quang tử từ trước tới nay là khả năng sản xuất trên quy mô công nghiệp. Việc xử lý vật liệu quang học đòi hỏi độ chính xác cực cao, trong khi các sai lệch ở cấp độ nano có thể làm suy giảm đáng kể hiệu năng.
CHIPX cho biết họ đã bắt đầu tháo gỡ nút thắt này bằng việc đưa vào vận hành dây chuyền sản xuất thử nghiệm wafer quang tử lithium niobate 6 inch – được xem là đầu tiên tại Trung Quốc. Dây chuyền này có công suất khoảng 12.000 wafer mỗi năm, mỗi wafer cho ra khoảng 350 chip.
So với các nhà máy bán dẫn truyền thống - nơi sản xuất hàng trăm nghìn wafer 200 mm hoặc 300 mm mỗi năm - con số này còn khá khiêm tốn. Tuy nhiên, trong bối cảnh quang tử, đặc biệt với lithium niobate màng mỏng, đây được xem là bước tiến công nghiệp có ý nghĩa, đủ để hỗ trợ các giai đoạn triển khai ban đầu và hợp tác thương mại.
CUỘC ĐUA TOÀN CẦU NGÀY CÀNG GAY GẮT
Động thái của Trung Quốc diễn ra trong bối cảnh cuộc đua điện toán quang tử và lượng tử toàn cầu đang tăng tốc. Tại Mỹ, PsiQuantum đã công bố kế hoạch sử dụng quy trình wafer 300 mm cho silicon photonics - tương đương chuẩn của các nhà máy bán dẫn tiên tiến nhất. Châu Âu cũng đang đẩy mạnh đầu tư vào quang tử trong khuôn khổ các chương trình công nghệ lượng tử quy mô lớn.
Trong bức tranh đó, Trung Quốc rõ ràng không chỉ nhắm tới việc bắt kịp, mà còn muốn xây dựng lợi thế riêng thông qua mô hình phát triển khép kín, gắn chặt giữa nghiên cứu, sản xuất và ứng dụng thực tế. Dù được truyền thông nhấn mạnh với con số “tăng tốc 1.000 lần”, chính các nhà phân tích cũng thừa nhận rằng những so sánh này chỉ có ý nghĩa trong các kịch bản rất cụ thể. Điện toán quang tử - cũng như điện toán lượng tử - không phải là “liều thuốc vạn năng” cho mọi bài toán.
Nhiều câu hỏi quan trọng vẫn chưa có câu trả lời rõ ràng: mức độ ổn định dài hạn của chip ra sao, hành vi sai số như thế nào khi vận hành trong môi trường thực, khả năng đồng đều giữa các lô sản xuất có đảm bảo hay không, và cần thêm bao nhiêu nỗ lực kỹ thuật để công nghệ này có thể triển khai rộng rãi trong các trung tâm dữ liệu.
Ngoài ra, hệ thống quang tử rất nhạy cảm với biến động nhiệt và sai lệch chế tạo, đặt ra thách thức không nhỏ cho vận hành quy mô lớn. Nhìn tổng thể, chip quang tử mới của Trung Quốc nên được xem là một bước tiến chiến lược hơn là một cuộc cách mạng ngay lập tức.
Nó không thay thế máy tính cổ điển, cũng chưa phải là máy tính lượng tử đúng nghĩa. Nhưng trong bối cảnh nhu cầu tính toán bùng nổ và giới hạn vật lý ngày càng rõ rệt, những nền tảng như vậy có thể đóng vai trò then chốt trong giai đoạn chuyển tiếp.
Quan trọng hơn, dự án này cho thấy Trung Quốc đang từng bước xây dựng năng lực lõi trong các công nghệ nền tảng của kỷ nguyên số tiếp theo - nơi hiệu năng tính toán, năng lượng và khả năng mở rộng sẽ quyết định lợi thế cạnh tranh quốc gia trong dài hạn.
South China Morning Post-Trọng Hoàng
Nagakawa ký kết hợp tác chiến lược giai đoạn 2026 - 2030 với Điện Máy Xanh
Hợp tác lần này được xây dựng trên nền tảng kết quả tăng trưởng thực chất và bền vững trong nhiều năm, đặc biệt là 3 năm liên tiếp Nagakawa ghi nhận mức tăng trưởng doanh thu nổi bật tại hệ thống Điện Máy Xanh. Đây là cơ sở quan trọng để hai bên nâng tầm quan hệ hợp tác từ thương mại thường niên lên định hướng chiến lược dài hạn 5 năm, hướng tới khai thác hiệu quả hơn tiềm năng thị trường và gia tăng giá trị dài hạn cho các bên liên quan.
Không dừng lại ở một thỏa thuận thương mại thông thường, hợp tác lần này thể hiện định hướng đồng hành dài hạn, dựa trên sự tương thích về tầm nhìn phát triển, năng lực vận hành và triết lý kinh doanh, hướng tới gia tăng giá trị cho người tiêu dùng và củng cố vị thế cạnh tranh trên thị trường nội địa.
HỢP TÁC CHIẾN LƯỢC TRONG BỐI CẢNH THỊ TRƯỜNG ĐIỆN MÁY TÁI CẤU TRÚCThị trường điện máy Việt Nam đang bước vào giai đoạn tái cấu trúc mạnh mẽ, với áp lực cạnh tranh gia tăng, hành vi tiêu dùng thay đổi nhanh chóng và yêu cầu ngày càng cao về chất lượng dịch vụ cũng như trải nghiệm mua sắm. Trong bối cảnh đó, việc Nagakawa và Điện Máy Xanh lựa chọn thiết lập quan hệ hợp tác chiến lược toàn diện được đánh giá là bước đi chủ động, nhằm tối ưu hiệu quả phân phối, nâng cao năng lực cạnh tranh và khai thác hiệu quả hơn tiềm năng thị trường.
MỞ RỘNG DANH MỤC, GIA TĂNG HIỆU QUẢ TIẾP CẬN THỊ TRƯỜNGTheo kế hoạch, từ năm 2026, các dòng sản phẩm chủ lực của Nagakawa – đặc biệt là điều hòa không khí dân dụng – sẽ tiếp tục được phân phối rộng rãi trong hệ thống siêu thị Điện Máy Xanh trên toàn quốc. Đồng thời, hai bên sẽ phối hợp mở rộng các ngành hàng gia dụng và thiết bị nhà bếp, hướng tới việc phát triển các giải pháp trọn bộ, đáp ứng ngày càng đầy đủ nhu cầu của hộ gia đình Việt Nam.
Sản phẩm của Nagakawa trưng bày và phân phối rộng rãi trong chuỗi siêu thị Điện Máy Xanh trên toàn quốc, thu hút người tiêu dùng bởi chất lượng BỀN.Sự hợp tác giữa một thương hiệu điện máy Việt Nam có nền tảng thị trường vững chắc và doanh nghiệp bán lẻ dẫn đầu thị phần được kỳ vọng sẽ giúp nâng cao hiệu quả vận hành, cải thiện khả năng tiếp cận người tiêu dùng và tạo dư địa tăng trưởng bền vững trong trung và dài hạn.
KHỞI ĐẦU CHO CHU KỲ TĂNG TRƯỞNG MỚI 2026–2030Chia sẻ tại sự kiện, bà Nguyễn Thị Huyền Thương – CEO Tập đoàn Nagakawa cho biết: năm 2025 đánh dấu giai đoạn hoàn thành chiến lược 2021–2025 với nhiều kết quả tích cực, đồng thời mở ra chu kỳ chiến lược mới 2026–2030 với mục tiêu tăng trưởng mạnh mẽ và bền vững hơn. Trong đó, hợp tác chiến lược với các đối tác phân phối hàng đầu được xác định là một trong những trụ cột quan trọng trong định hướng phát triển của Tập đoàn.
CEO Tập đoàn Nagakawa Nguyễn Thị Huyền Thương chia sẻ với Điện Máy Xanh về thành công của chiến lược 5 năm 2021-2025 và khát vọng của Nagakawa trong chiến lược 2026-2030 tiếp theo.Lễ ký kết hợp tác chiến lược giữa Nagakawa và Điện Máy Xanh được xem là điểm khởi đầu cho một giai đoạn hợp tác mới, nơi hai doanh nghiệp Việt cùng chia sẻ nguồn lực, kinh nghiệm và tầm nhìn dài hạn, hướng tới mục tiêu tăng trưởng bền vững và đóng góp tích cực cho sự phát triển của ngành điện máy Việt Nam.
-Tuấn Sơn
Hải Phòng "kéo" các chỉ tiêu kinh tế chưa đạt tăng trở lại
Để duy trì đà phát triển, năm 2026, Hải Phòng đặt mục tiêu tăng trưởng 9 chỉ tiêu kinh tế chủ yếu từ 1,1 - 12,6% so với năm trước, trong đó, có 4 chỉ tiêu kinh tế chủ yếu năm trước có tốc độ tăng trưởng chưa đạt được đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng là tốc độ tăng trưởng GRDP, thu nhập bình quân đầu người, tốc độ tăng chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) và thu hút đầu tư nước ngoài.
NHIỀU CHỈ TIÊU KINH TẾ CÓ MỤC TIÊU TĂNG TRƯỞNG CAONăm 2025, Hải Phòng có 4/13 chỉ tiêu phát triển kinh tế chủ yếu chưa đạt mục tiêu đề ra là tốc độ tăng trưởng GRDP, thu nhập bình quân đầu người, tốc độ tăng chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) và thu hút đầu tư nước ngoài. Nhằm duy trì tốc độ đà phát triển, năm 2026, Hải Phòng đặt mục tiêu đưa các chỉ tiêu này tăng trưởng lớn, vượt tốc độ tăng trưởng của năm 2025.
Cụ thể, năm 2025, tốc độ tăng trưởng GRDP của Hải Phòng đạt 11,81% nên Hải Phòng đặt mục tiêu năm 2026 phải đạt mức tăng tốc độ tăng trưởng 13% so với năm trước. Thu nhập bình quân đầu người năm 2025 đạt 7.056 USD, sang năm 2026, Hải Phòng đặt mục tiêu đưa thu nhập bình quân đầu người lên đạt 7.944,5 USD (tăng 12,6% so với năm trước). Chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2025 đạt tốc độ tăng 12,5%, Hải Phòng đặt mục tiêu năm 2026 chỉ số sản xuất công nghiệp của thành phố đạt tốc độ tăng từ 15,5 - 16% so với năm trước. Thu hút đầu tư nước ngoài năm 2025 chỉ đạt 3,8 tỷ USD (mục tiêu 5,5 tỷ USD), năm 2026, Hải Phòng đặt mục tiêu thu hút 3,8 - 4,3 tỷ USD.
Cùng với các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu, năm 2026, Hải Phòng cũng đặt mục tiêu tăng thu ngân sách nội địa lên thành 103.166 tỷ đồng (năm 2025 thu nội địa được 100.000 tỷ đồng), tăng tổng vốn đầu tư toàn xã hội lên thành 363.000 tỷ đồng (tăng 13,3% so với năm 2025). Tương tự, kim ngạch xuất khẩu tăng lên thành 52 tỷ USD (năm 2025 là 50,14 tỷ USD), tăng sản lượng hàng hoá thông qua cảng lên thành 238 triệu tấn (tăng 11,7% so với 213 triệu tấn của năm 2025), thu hút khách du lịch lên 16 triệu lượt (tăng 11,4% so với con số 14,43 triệu lượt năm 2025).
Ngoài ra, năm 2026, Hải Phòng cũng đặt mục tiêu hạ được chỉ tiêu xử lý nước thải đô thị xuống hơn 17,14%. Trước thời điểm sáp nhập với Hải Dương, tại Hải Phòng có 49,77% nước thải đô thị được xử lý đúng quy chuẩn. Sau khi sáp nhập, Hải Phòng có tỷ lệ nước thải được xử lý đạt 32,63%, giảm được khoảng 17,14% so với trước thời điểm sáp nhập. Sở dĩ tỷ lệ nước thải đô thị của Hải Phòng chưa được xử lý tăng lên là do một số vùng nông thôn thuộc Hải Dương (trước đây) được nâng cấp lên đô thị nhưng chưa có hệ thống xử lý nước thải nên tỷ lệ xử lý nước thải đô thị chung bị kéo giảm so với trước thời điểm sáp nhập.
KHỞI CÔNG LOẠT DỰ ÁN TRỌNG ĐIỂM HƠN 26.212 TỶ ĐỒNGTheo UBND TP. Hải Phòng, để đạt các mục tiêu tăng trưởng đã đề ra, cần đổi mới hơn nữa mô hình tăng trưởng kinh tế, cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng hiện đại, bền vững, cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, phát triển các thành phần kinh tế. Hải Phòng sẽ ưu tiên phát triển một số ngành công nghiệp mới như chất bán dẫn, robot.
Đồng thời, Hải Phòng sẽ khôi phục một số ngành công nghiệp vốn là thế mạnh của thành phố như đóng mới, sửa chữa tàu biển, phát triển năng lượng sạch, tập trung xây dựng, khai thác có hiệu quả Khu thương mại tự do, đẩy mạnh phát triển dịch vụ logistics, thương mại và cảng biển, phát triển du lịch biển, du lịch di sản…
Đối với lĩnh vực cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, phát triển các thành phần kinh tế, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, hội nhập. thành phố Hải Phòng yêu cầu lãnh đạo thành phố và các sở ngành phải dành tối thiểu 30% thời gian công tác để kiểm tra, đôn đốc, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đối với những vấn đề phát sinh mới của địa phương và cơ sở.
Hải Phòng xác định sớm đầu tư các trục giao thông đường bộ, cải tạo các tuyến đường thuỷ nội địa, nâng cao năng lực vận tải tuyến đường sắt Hà Nội - Hải Phòng để tận dụng, phát huy hệ thống cảng thuỷ nội địa, tuyến đường bộ ven biển với hệ thống Cảng biển Hải Phòng, kết nối các khu vực kinh tế của thành phố với Khu kinh tế ven biển phía Nam.
Hải Phòng xác định năm 2026 sẽ khởi công 10 dự án trọng điểm sử dụng hơn 26.212 tỷ đồng vốn ngân sách. Trong đó, có các dự án hạ tầng giao thông, đô thị quan trọng như dự án chỉnh trang sông đào Hạ Lý (đoạn từ cầu Thượng Lý đến cầu Tam Bạc thuộc phường Thượng Lý với tổng vốn đầu tư hơn 584 tỷ đồng), dự án đầu tư xây dựng tuyến đường bộ cao tốc Ninh Bình - Hải Phòng (đoạn qua địa phận Hải Phòng và 9 km trên địa bàn tỉnh Hưng Yên và đoạn từ cao tốc Hà Nội – Hải Phòng đến nút giao ven biển tổng vốn đầu tư hơn 4.335 tỷ đồng), dự án đầu tư xây dựng cầu Văn Úc 2 thuộc dự án đường bộ cao tốc Ninh Bình – Hải Phòng (tổng vốn đầu tư hơn 2.068 tỷ đồng), dự án nút giao phía Tây thành phố Hải Dương (trước đây) với đại lộ Võ Nguyên Giáp kéo dài kết nối với sân bay Gia Bình (tổng mức đầu tư 4.572 tỷ đồng).
Cùng với đó là các dự án xây dựng Trung tâm đào tạo, huấn luyện và thi đấu thể thao thuộc Khu liên hiệp văn hoá thể thao (tỉnh Hải Dương trước đây) với tổng vốn đầu tư 790 tỷ đồng, dự án cải tạo, sửa chữa, nâng cấp Bệnh viện đa khoa Hải Dương (khu vực Tây Hải Phòng) với tổng mức đầu tư 959 tỷ đồng, dự án cải tạo, nâng cấp kè sông Sặt (đoạn từ cầu Cất đến cầu Cây, tổng mức đầu tư 2.995 tỷ đồng), dự án phát triển thành phố Hải Phòng thích ứng với biến đổi khí hậu (tổng mức đầu tư hơn 9.908 tỷ đồng).
-Nam Khánh
Kiến nghị mở rộng danh mục chi phí được trừ khi tính thuế đối với hộ kinh doanh
Trong văn bản góp ý đối với Dự thảo Nghị định lần 2 của Bộ Tài chính quy định về việc khai thuế, tính thuế, khấu trừ thuế, nộp thuế và sử dụng hóa đơn điện tử đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cũng tập trung xoay quanh các kiến nghị liên quan đến việc xác định chi phí được trừ và cơ chế quyết toán thuế thu nhập cá nhân.
Thứ nhất, liên quan đến các khoản chi được trừ khi xác định thuế thu nhập cá nhân, khoản 1 Điều 6 của Dự thảo quy định là những chi phí thực tế phát sinh, có liên quan trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh; đồng thời phải có đầy đủ hóa đơn, chứng từ hợp pháp và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với các khoản chi từ 5 triệu đồng trở lên cho mỗi lần thanh toán.
Theo đó, Dự thảo đã liệt kê tương đối chi tiết các nhóm chi phí, bao gồm: (i) chi phí nguyên vật liệu, hàng hóa, nhiên liệu sử dụng vào sản xuất, kinh doanh; (ii) chi phí tiền lương, tiền công và các khoản chi trả cho người lao động có đóng bảo hiểm bắt buộc theo quy định cũng như chi phí tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp và các khoản chi trả cho người lao động dưới 01 tháng; (iii) chi phí khấu hao tài sản cố định phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh; (iv) chi phí dịch vụ mua ngoài như điện, nước, viễn thông, vận chuyển, thuê tài sản có chứng từ hợp pháp; (v) chi phí trả lãi vay phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh; (vi) và một số khoản chi khác có đầy đủ hóa đơn, chứng từ hợp pháp phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
“Một số khoản chi có tính chất hợp lý và phổ biến nhưng chưa được đề cập, như chi phí đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc của chính chủ hộ kinh doanh, hay các khoản đóng góp cho hoạt động từ thiện, nhân đạo, khuyến học. Đây là những khoản chi hiện nay đã được pháp luật cho phép giảm trừ khi xác định thuế thu nhập cá nhân đối với người làm công ăn lương”
(Văn bản góp ý của VCCI)
Tuy nhiên, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho rằng danh mục chi phí được trừ như trên vẫn chưa phản ánh đầy đủ thực tế hoạt động của hộ kinh doanh.
Từ góc độ đó, VCCI kiến nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung các khoản chi này vào danh mục chi phí được trừ, nhằm bảo đảm tính hợp lý, đồng bộ giữa các chính sách thuế và tránh tạo ra sự khác biệt bất lợi giữa các nhóm người nộp thuế.
Thứ hai, về quyết toán thuế, Khoản 1 Điều 7 Dự thảo Nghị định này nêu rõ, khi kết thúc kỳ tính thuế, nếu tổng doanh thu thực tế của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh thay đổi so với dự kiến ban đầu, dẫn đến việc áp dụng mức thuế suất cao hơn thì người nộp thuế không chỉ phải nộp bổ sung phần thuế còn thiếu mà còn phải nộp tiền chậm nộp theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.
Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cho rằng cách tiếp cận này chưa thực sự phù hợp với đặc thù của hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Trên thực tế, việc xác định mức thuế suất thường được căn cứ vào kết quả kinh doanh của năm trước. Trong quá trình kinh doanh, doanh thu có thể tăng mạnh vào những tháng cuối năm do yếu tố thị trường thuận lợi, đơn hàng phát sinh hoặc mở rộng quy mô, dẫn đến việc vượt ngưỡng doanh thu và thay đổi bậc thuế suất.
“Đây là diễn biến bình thường, không phản ánh hành vi chậm trễ hay né tránh nghĩa vụ thuế của người nộp thuế”, VCCI kiến nghị.
Vì vậy, VCCI đề xuất sửa đổi quy định theo hướng người nộp thuế chỉ phải nộp bổ sung phần thuế còn thiếu tương ứng với mức thuế suất mới, không áp dụng tiền chậm nộp trong trường hợp mức thuế suất được xác định tương tự mức áp dụng của năm trước đó.
Bên cạnh đó, VCCI cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo làm rõ thời điểm cụ thể mà hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh phải thực hiện quyết toán các sắc thuế, bao gồm thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập cá nhân, nhằm tạo thuận lợi cho người nộp thuế trong quá trình thực hiện nghĩa vụ và hạn chế phát sinh vướng mắc trong thực tiễn.
-Hoàng Sơn
Đề xuất điều chỉnh ngưỡng doanh thu áp dụng hóa đơn điện tử lên 3 tỷ đồng
Tại văn bản góp ý Dự thảo Nghị định lần 2 quy định về việc khai thuế, tính thuế, khấu trừ thuế, nộp thuế và sử dụng hóa đơn điện tử của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh của Bộ Tài chính, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã chỉ ra nhiều điểm cần cân nhắc liên quan đến lộ trình áp dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế.
Cụ thể, theo khoản 5 Điều 8 của Dự thảo, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh có doanh thu hằng năm từ 1 tỷ đồng trở lên phải áp dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế hoặc hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền có kết nối dữ liệu với cơ quan thuế, theo quy định tại khoản 8 Điều 1 Nghị định số 70/2025/NĐ-CP ngày 20/3/2025 của Chính phủ.
Trường hợp hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có nhiều địa điểm kinh doanh nhưng sử dụng chung một mã số thuế thì trên hóa đơn phải thể hiện rõ địa chỉ của từng địa điểm, Dự thảo Nghị định nêu rõ.
Trong khi đó, đối với nhóm hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh có doanh thu hằng năm trên 500 triệu đồng và dưới 1 tỷ đồng, không bắt buộc áp dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế. Tuy nhiên, nếu đáp ứng điều kiện về hạ tầng công nghệ thông tin và có nhu cầu sử dụng, cơ quan thuế sẽ khuyến khích và hỗ trợ đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử.
Dự thảo quy định, trong trường hợp không đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử nhưng vẫn có nhu cầu xuất hóa đơn, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh phải thực hiện khai thuế và nộp thuế trước khi được cơ quan thuế cấp hóa đơn điện tử theo từng lần phát sinh giao dịch.
Góp ý về nội dung này, VCCI cho rằng việc mở rộng áp dụng hóa đơn điện tử nhằm tăng cường tính minh bạch trong quản lý thuế là cần thiết. Tuy nhiên, việc lựa chọn ngưỡng doanh thu 1 tỷ đồng làm mốc bắt buộc áp dụng được cho là chưa phù hợp trong bối cảnh hiện nay.
"Nguyên nhân là do mức doanh thu nói trên đồng là tương đối thấp, chỉ cao hơn khoảng 500 triệu đồng so với ngưỡng không chịu thuế, trong khi nhiều hộ kinh doanh ở nhóm này vẫn còn hạn chế về tiềm lực tài chính cũng như năng lực quản trị. Đồng thời, con số này cũng không tương đồng với các ngưỡng doanh thu đang được sử dụng trong phương pháp tính thuế hiện hành, như ngưỡng 3 tỷ đồng hay 50 tỷ đồng"
(Văn bản góp ý của VCCI)
Dựa trên kết quả khảo sát nhanh của VCCI vào tháng 6/2025, đối với các hộ kinh doanh có doanh thu trên 1 tỷ đồng, việc triển khai hóa đơn điện tử có kết nối với cơ quan thuế vẫn gặp không ít trở ngại.
Cụ thể, 32% ở khu vực nông thôn và 23% ở khu vực đô thị phản ánh gặp khó khăn liên quan đến vốn đầu tư; tỷ lệ thiếu kiến thức và kỹ năng công nghệ chiếm 77% ở khu vực nông thôn và 67% ở khu vực đô thị cho thấy đây vẫn là rào cản lớn.
Từ những vướng mắc nêu trên, VCCI cho rằng việc triển khai hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế cần được thiết kế theo lộ trình phù hợp, tránh tạo cú sốc chính sách đối với các hộ kinh doanh quy mô nhỏ.
Theo đó, VCCI kiến nghị cơ quan soạn thảo xem xét nâng ngưỡng doanh thu bắt buộc áp dụng lên trên 3 tỷ đồng, tương ứng với thời điểm bắt đầu áp dụng phương pháp tính thuế dựa trên lợi nhuận.
Đối với các hộ kinh doanh có doanh thu thấp hơn ngưỡng này, cơ quan thuế có thể tăng cường công tác giám sát thông qua việc khai thác dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau, thay vì yêu cầu áp dụng đồng loạt hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế..
Theo Nghị định 70/2025/NĐ-CP hiện hành, hóa đơn điện tử phải thể hiện mã số thuế hoặc số định danh cá nhân của người mua, trừ một số trường hợp bán hàng cho khách lẻ như tại siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng xăng dầu, hoạt động kinh doanh casino hoặc trò chơi điện tử có thưởng.
Ngoài vấn đề liên quan đến ngưỡng doanh thu, VCCI cũng bày tỏ quan ngại về quy định bắt buộc ghi nhận thông tin người mua trên hóa đơn điện tử.
Quy định này đồng nghĩa với việc nhiều hộ kinh doanh trong lĩnh vực bán lẻ, ăn uống hoặc lưu trú đều phải ghi đầy đủ thông tin người mua trên hóa đơn điện tử.
Tuy nhiên, theo đánh giá của VCCI, yêu cầu này khiến nhiều hộ kinh doanh trong lĩnh vực bán lẻ, ăn uống và lưu trú gặp khó khăn do đặc điểm là giao dịch chủ yếu là khách lẻ, giá trị nhỏ và tốc độ mua bán nhanh.
“Việc yêu cầu thu thập đầy đủ thông tin người mua trong mọi giao dịch không chỉ làm tăng chi phí vận hành mà còn ảnh hưởng đến trải nghiệm của người tiêu dùng”, văn bản VCCI nêu.
Vì vậy, VCCI kiến nghị cơ quan soạn thảo cho phép hóa đơn điện tử của hộ kinh doanh không bắt buộc phải có mã số thuế hoặc số định danh cá nhân của người mua trong trường hợp người mua là cá nhân không kinh doanh.
-Hoàng Sơn
Phát triển đô thị xanh, phát thải thấp cho các mục tiêu tăng trưởng xanh, Net Zero
Trong khuôn khổ Hội nghị Thành phố thông minh Việt Nam– châu Á 2025 (Vietnam - Asia Smart City Summit 2025), do Hiệp hội Phần mềm và Dịch vụ công nghệ thông tin Việt Nam (VINASA) phối hợp cùng Ủy ban nhân dân TP.Hà Nội tổ chức ngày 23/12, đã diễn ra hội thảo với chủ đề về năng lượng xanh, di chuyển thông minh và phát triển bền vững theo mục tiêu NetZero 2050.
Hội thảo diễn ra trong bối cảnh các đô thị Việt Nam đang đối mặt với "bài toán kép": Vừa phải tăng trưởng kinh tế, vừa phải giảm phát thải carbon. Tại phiên họp, các chuyên gia thống nhất nhận định mang tính chiến lược: "Smart City 2025 bắt buộc phải là Green City".
Trong bối cảnh chúng ta đang chuyển từ kỷ nguyên "Tiêu dùng năng lượng" sang kỷ nguyên "Quản trị năng lượng", người dân và các tòa nhà không còn là đối tượng tiêu thụ thụ động, mà trở thành những người tiêu dùng kiêm sản xuất năng lượng sạch (điện mặt trời mái nhà), đòi hỏi một hạ tầng lưới điện và giao thông thông minh hơn để vận hành.
CÁC ĐÔ THỊ ĐÓNG GÓP KHOẢNG 45-50% TỔNG PHÁT THẢI KHÍ NHÀ KÍNH QUỐC GIAChia sẻ Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh và mục tiêu Net Zero 2050 trong phát triển đô thị, ông Nguyễn Sỹ Linh, Trưởng ban Biến đổi khí hậu, Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh đã nêu những quan điểm liên quan đến đô thị trong đó nhấn mạnh tăng trưởng xanh là một phương thức quan trọng để thực hiện phát triển bền vững, đóng góp trực tiếp vào giảm phát thải khí nhà kính để hướng tới nền kinh tế trung hòa carbon trong dài hạn.
Tăng trưởng xanh định hướng đầu tư vào công nghệ tiên tiến, chuyển đổi số, kết cấu hạ tầng thông minh và bền vững; tạo động lực để đầu tư tư nhân đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế xanh.
Để đạt được các mục tiêu về tăng trưởng xanh, vai trò của các đô thị rất quan trọng, đặc biệt là giảm phát thải khí nhà kính, đô thị thông minh, bền vững.Các mục tiêu giảm cường độ phát thải khí nhà kính/GDP, xanh hóa các ngành kinh tế; xanh hóa lối sống và thúc đẩy tiêu dùng bền vững… đều liên quan trực tiếp đến các thành phố. Ông Linh cho rằng “để đạt được các mục tiêu về tăng trưởng xanh, vai trò của các đô thị rất quan trọng- đặc biệt là giảm phát thải khí nhà kính, đô thị thông minh, bền vững”.
Theo thống kê phát thải khí nhà kính tại các đô thị trên toàn cầu chiếm hơn 70% lượng khí nhà kính. Phát thải từ 100 khu vực đô tị lớn nhất chiếm tới 18% phát thải carbon toàn cầu.
Tại Việt Nam, ông Linh thông tin, các đô thị đóng góp khoảng 45-50% tổng phát thải khí nhà kính quốc gia. Giao thông; công nghiệp và xây dựng; chất thải rắn và năng lượng là các nguồn phát thải khí nhà kính chính tại các đô thị. Trong đó, trong lĩnh vực giao thông, các phương tiện cá nhân chiếm tỷ lệ lớn, trên 30% tổng phát thải khí nhà kính ở nhiều thành phố.
Ngoài ra, bãi chôn lấp và rác thải hữu cơ sinh ra CH4, chiếm tỷ lệ đáng kể trong phát thải khí nhà kính đô thị. Quản lý rác yếu kém (đốt, chôn lấp) làm tăng phát thải metan (CH4)…
CÁC HÀNH ĐỘNG ƯU TIÊN HỖ TRỢ CÁC ĐÔ THỊ GIẢM PHÁT THẢI, THỰC HIỆN NET ZEROĐể giảm phát thải khí nhà kính tại các đô thị, cần tập trung vào phát triển hệ thống giao thông xanh; tiết kiệm năng lượng, xây dựng công trình xanh; quy hoạch đô thị theo hướng phát thải thấp; nâng cao hiệu quả quản lý chất thải đô thị và ứng dụng công nghệ số trong quản lý đô thị.
Việc phát triển đô thị thông minh chống chịu với rủi ro khí hậu nên tập trung vào quy hoạch đô thị tích hợp rủi ro khí hậu; giao thông và năng lượng bền vững; đồng thời có hạ tầng kỹ thuật thông minh và thích ứng…
Ông Linh khẳng định, tăng trưởng xanh, Net Zero, thành phố thông minh, phát thải thấp và chống chịu với rủi ro khí hậu là xu thế, yêu cầu phát triển bền vững đô thị trên toàn thế giới. Điều này đòi hỏi sự tham gia của các bên liên quan như quy hoạch, chiến lược tăng trưởng, công nghệ, đổi mới sáng tạo...
Các đô thị đang đứng ở trung tâm bài toán phát thải toàn cầu và giữ vai trò quyết định trong hành trình hướng tới Net Zero.Phát triển đô thị thông minh, phát thải thấp và chống chịu với rủi ro khí hậu cần nguồn lực đầu tư lớn và cần được lồng ghép vào chiến lược phát triển thành phố, tạo lập các cơ chế tài chính phù hợp, huy động nguồn lực tài chính xanh - tài chính quốc tế.
Theo ông Linh, để phát triển, lan tỏa mô hình thành phố thông minh, phát thải thấp và chống chịu với rủi ro khí hậu ở Việt Nam, cần có địa phương tiên phong, làm ví dụ thực tế để các thành phố, đô thị khác làm mẫu hình để xây dựng, trong đó vai trò của công nghệ - chuyển đổi số nên là ưu tiên áp dụng.
Thành phố thông minh, phát thải thấp và chống chịu với rủi ro khí hậu sẽ góp phần vào mục tiêu phát triển bền vững đất nước, mục tiêu tăng trưởng xanh và mục tiêu Net Zero vào năm 2050.
Chia sẻ điều này, ông Nguyễn Tuấn Anh, Giám đốc tư vấn chuyển đổi số và phát triển bền vững FPT Digital chỉ rõ “các đô thị đang đứng ở trung tâm bài toán phát thải toàn cầu và giữ vai trò quyết định trong hành trình hướng tới Net Zero”.
Với mức độ hội nhập sâu rộng cùng thế giới, Việt Nam đã có những hành động nền tảng ban đầu để bắt kịp xu hướng giảm phát thải toàn cầu. Đặc biệt, Chính phủ Việt Nam đã cam kết mạnh mẽ trong biến đổi khí hậu, đạt phát thải ròng bằng 0 (Net Zero).
Nêu những ưu tiên cho hành động cần thiết nhằm hỗ hỗ trợ các đô thị đạt được mức cắt giảm phát thải cần thiết trong tiến trình thực hiện cam kết Net Zero, chuyên gia này chỉ ra 4 lĩnh vực trọng tâm.
Thứ nhất, chuyển đổi hệ thống điện theo hướng khử carbon; tăng tỷ trọng năng lượng tái tạo thông qua cả nguồn tập trung (điện gió, điện mặt trời quy mô lớn) và nguồn phân tán (điện mặt trời mái nhà, microgrid), đồng thời nâng cao khả năng tích hợp và vận hành linh hoạt của lưới điện đô thị.
Thứ hai, phát triển các mô hình giao thông thế hệ mới, phát thải thấp. Cụ thể, chuyển dịch nhu cầu di chuyển sang các mô hình phát triển đô thị gắn với giao thông công cộng, mở rộng vận tải khối lượng lớn, đi bộ và xe đạp, thúc đẩy phương tiện thế hệ mới (xe điện, xe tự hành, chia sẻ) và tối ưu vận tải hàng hóa thương mại.
Thứ ba, nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng trong các công trình xây dựng. Theo đó, giảm nhu cầu năng lượng của công trình thông qua tiêu chuẩn xây dựng mới, cải tạo vỏ bao công trình, tối ưu hệ thống HVAC và nước nóng, nâng cấp chiếu sáng, kết hợp với tự động hóa và hệ thống điều khiển thông minh để vận hành hiệu quả hơn.
Thứ tư, hiện đại hóa và tối ưu công tác quản lý chất thải; giảm phát thải từ chất thải thông qua tối ưu thu gom, phân loại, tái chế và xử lý, đồng thời ứng dụng công nghệ để giảm chôn lấp, thu hồi năng lượng và kiểm soát phát thải trong toàn bộ vòng đời chất thải đô thị.
Từ phân tích, chuyên gia tư vấn chuyển đổi số và phát triển bền vững FPT kiến nghị hai nhóm công việc xây dựng nền tảng quản trị phát thải đô thị dựa trên dữ liệu và AI. Theo chuyên gia này, “quản trị phát thải đô thị bằng dữ liệu và AI không chỉ phục vụ mục tiêu Net Zero, mà còn tạo nền tảng và động lực cho tăng trưởng kinh tế hai chữ số một cách bền vững”.
-Đỗ Đức Phan
Đến ngày 31/12/2025, tất cả cơ sở nhà, đất phải được phê duyệt phương án sắp xếp
Bộ Tài chính cho biết số liệu tổng hợp, số lượng cơ sở nhà, đất dôi dư sau khi sắp xếp tinh gọn bộ máy, sắp xếp đơn vị hành chính của các bộ, cơ quan trung ương hiện nay còn lớn.
Do đó, Bộ Tài chính đề nghị các bộ, cơ quan trung ương khẩn trương rà soát toàn bộ các cơ sở nhà, đất thuộc phạm vi quản lý; xác định rõ các cơ sở dôi dư, không còn nhu cầu sử dụng để kịp thời chuyển giao cho địa phương quản lý hoặc xử lý theo đúng quy định của pháp luật; bảo đảm chậm nhất đến ngày 31/12/2025 tất cả các cơ sở nhà, đất đều được phê duyệt phương án sắp xếp, xử lý và có đối tượng quản lý cụ thể.
Định kỳ hàng tuần, trước 9h00 thứ hai, gửi Bộ Tài chính báo cáo tình hình sắp xếp, xử lý nhà, đất dôi dư khi sắp xếp tổ chức bộ máy, sắp xếp đơn vị hành chính để Bộ Tài chính tổng hợp, báo cáo cấp có thẩm quyền.
Bộ Tài chính cũng đề nghị các bộ, cơ quan trung ương tăng cường quản lý, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm trong quá trình bố trí, sắp xếp, xử lý trụ sở, tài sản công; kịp thời phản ánh khó khăn, vướng mắc để được hướng dẫn, xử lý theo thẩm quyền.
Tính đến ngày 1/12/2025, tổng số cơ sở nhà, đất đã được xử lý là 17.496 cơ sở, chiếm 65,89% tổng số phải xử lý. Trong đó, có 798 cơ sở được bố trí cho mục đích y tế; 4.002 cơ sở cho mục đích giáo dục; 1.314 cơ sở cho mục đích văn hóa - thể thao; và 7.952 cơ sở được bố trí làm trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp của các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp. Hiện còn 9.056 cơ sở nhà, đất dôi dư cần tiếp tục được xử lý trong thời gian tới.
-Hoàng Bách
Lãi suất huy động phân hóa, có ngân hàng tăng hơn 2 điểm phần trăm so với đầu năm
Sau khi giảm mạnh trong phiên ngày 18/12/2025, lãi suất chào bình quân trên thị trường liên ngân hàng bằng VND đã tăng trở lại, giao dịch trong khoảng 6,5–7,78%. Trong đó, lãi suất các kỳ hạn ngắn như qua đêm và 1 tuần đã giảm so với mức đỉnh thiết lập hồi đầu tháng 12, còn lãi suất các kỳ hạn dài hơn như 2 tuần và 1 tháng lại nhích tăng.
Cụ thể, tại ngày 23/12, lãi suất qua đêm ở mức 6,5%/năm, giảm 1,0 điểm phần trăm so với mức 7,5%/năm ghi nhận hồi đầu tháng 12. Lãi suất kỳ hạn 1 tuần giảm 0,6 điểm phần trăm, từ 7,6% xuống 7%/năm. Ngược lại, lãi suất kỳ hạn 2 tuần tăng lên 7,78%/năm, cao hơn 0,18 điểm phần trăm so với mức 7,6% hồi đầu tháng; lãi suất kỳ hạn 1 tháng cũng tăng 0,23 điểm phần trăm, từ 7,3% lên 7,53%/năm.
Đối với USD, ngày 23/12, lãi suất chào bình quân trên thị trường liên ngân hàng tăng nhẹ 0,01–0,03 điểm phần trăm ở tất cả các kỳ hạn, giao dịch lần lượt ở mức: qua đêm 3,67%/năm; 1 tuần 3,74%/năm; 2 tuần 3,77%/năm và 1 tháng 3,82%/năm.
Từ đầu tháng 10/2025, áp lực thanh khoản trong hệ thống ngân hàng gia tăng rõ rệt, thể hiện qua việc lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn qua đêm tăng từ mức bình quân khoảng 4% lên vùng 6–7%/năm.
Tại chuyên đề tài chính – ngân hàng thuộc Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2025, triển vọng 2026, tổ chức ngày 16/12/2025, bà Hà Thu Giang, Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, Ngân hàng Nhà nước, cho biết đến ngày 9/12, quy mô tín dụng toàn hệ thống đã đạt hơn 18,27 triệu tỷ đồng, tăng 17,04% so với cuối năm 2024.
Các chuyên gia nhận định diễn biến này chủ yếu xuất phát từ ba yếu tố chính. Thứ nhất, yếu tố mùa vụ khi nhu cầu tín dụng thường tăng mạnh vào giai đoạn cuối năm. Thứ hai, khoảng cách đáng kể giữa tốc độ tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng huy động vốn, khiến nguồn vốn khả dụng trong hệ thống bị thu hẹp. Thứ ba, biến động tỷ giá khiến các ngân hàng phải duy trì mức dự trữ thanh khoản cao hơn nhằm phòng ngừa rủi ro, qua đó làm gia tăng nhu cầu vốn ngắn hạn trên thị trường liên ngân hàng.
Trước bối cảnh đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã điều hành linh hoạt các công cụ chính sách tiền tệ nhằm hỗ trợ thanh khoản cho hệ thống.
Cụ thể, nhà điều hành tiếp tục sử dụng kênh thị trường mở để cung ứng vốn ngắn hạn, đồng thời gần đây triển khai thêm nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ kỳ hạn 14 ngày như một công cụ bổ sung nhằm giảm áp lực thanh khoản trong ngắn hạn. Đầu tháng 12, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam điều chỉnh tăng lãi suất cho vay trên thị trường mở từ 4% lên 4,5%/năm.
Đợt tăng lãi suất huy động gần đây chủ yếu được dẫn dắt bởi khối ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân, đặc biệt là các ngân hàng quy mô nhỏ và vừa, tập trung vào phân khúc khách hàng bán lẻ.
Lưu ý rằng lãi suất huy động từng giảm nhẹ trong giai đoạn tháng 3–5 theo chỉ đạo của Chính phủ.
Theo cập nhật của VnEconomy, tính đến ngày 24/12, lãi suất huy động bình quân trên thị trường đã tăng so với đầu năm ở hầu hết các kỳ hạn. Cụ thể, lãi suất kỳ hạn 1–3 tháng tăng bình quân 0,6 điểm phần trăm; kỳ hạn 6–9 tháng tăng 0,57 điểm phần trăm; trong khi lãi suất kỳ hạn 12 tháng tăng 0,47 điểm phần trăm.
Đáng chú ý, mức tăng lãi suất mạnh nhất ghi nhận ở nhóm ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân quy mô vừa và nhỏ, bao gồm Bắc Á, An Bình, KienlongBank, GPBank, PVcomBank, BaoVietBank, Saigonbank, TPBank, OCB, VIB, VCBNeo, MBV, Sacombank, PGBank và BVBank.
Cụ thể, đến ngày 24/12, lãi suất huy động kỳ hạn 1–3 tháng của nhóm ngân hàng này tăng từ 0,8 đến 2,1 điểm phần trăm so với đầu năm. Đối với kỳ hạn 6–9 tháng, lãi suất tăng trong khoảng 0,85–1,8 điểm phần trăm; trong khi lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng tăng từ 0,8 đến 1,4 điểm phần trăm so với đầu năm.
Một số ngân hàng tăng mạnh lãi suất huy động ở các kỳ hạn ngắn so với đầu năm (Nguồn: WiGroup)Ở một số ngân hàng như KienlongBank, GPBank, PVcomBank, BaoVietBank và Saigonbank, lãi suất huy động chào cho một số nhóm khách hàng chọn lọc, bao gồm cả các chương trình khuyến mãi, hiện phổ biến trong khoảng 7,5%–8,1%/năm đối với các kỳ hạn từ 6 đến 12 tháng.
Dù vậy, giới phân tích cho rằng rằng áp lực tăng lãi suất huy động trong giai đoạn hiện nay vẫn nằm trong tầm kiểm soát và mặt bằng lãi suất tuyệt đối nhìn chung vẫn mang tính hỗ trợ đối với hoạt động kinh tế.
Thanh khoản ngắn hạn hiện đang được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hỗ trợ tích cực và theo quy luật lịch sử, tình trạng căng thẳng thanh khoản thường có xu hướng hạ nhiệt từ khoảng tháng 3, sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán.
Ngoài ra, các ngân hàng thương mại cũng đã và đang chủ động đa dạng hóa nguồn vốn. Bên cạnh kênh huy động tiền gửi và sự hỗ trợ thanh khoản từ Ngân hàng Nhà nước, các ngân hàng tích cực phát hành giấy tờ có giá như trái phiếu ngân hàng và chứng chỉ tiền gửi; huy động vốn từ thị trường quốc tế, cũng như triển khai các kế hoạch phát hành cổ phiếu riêng lẻ nhằm tăng vốn điều lệ.
-Tùng Thư
Chuyên gia HSBC: Tăng trưởng 2025 bền bỉ giữa biến động, tạo lực đẩy cho năm sau
Theo ông Vũ Bình Minh, CFA, Giám đốc Kinh doanh vốn và tiền tệ, Khối Thị trường vốn và Dịch vụ Chứng khoán, HSBC Việt Nam, năm 2025 Việt Nam nhiều khả năng đạt hầu hết các mục tiêu kinh tế vĩ mô đề ra, từ tăng trưởng đến kiểm soát lạm phát và các chỉ tiêu quan trọng khác. Với quyết tâm cao và những quyết sách quyết liệt, nền kinh tế đang hướng tới mức tăng trưởng kỷ lục, qua đó tạo nền tảng tích cực cho năm sau, song cũng đặt ra không ít thách thức.
TĂNG TRƯỞNG VƯỢT “CƠN GIÓ NGƯỢC” TOÀN CẦUÔng Vũ Bình Minh nhận định bức tranh kinh tế vĩ mô năm 2025 có thể chia thành hai giai đoạn, với thuế quan là bước ngoặt lớn. Việt Nam khởi đầu năm trong tâm thế lạc quan, kỳ vọng nối tiếp đà tăng trưởng 2024.
Việc Mỹ công bố mức thuế 46% vào tháng 4/2025 đã gây chấn động thị trường. Sau nhiều vòng đàm phán, Việt Nam hiện được xếp vào nhóm các nước ASEAN đang phát triển với mức thuế 19 - 20%. Dù kết quả cuối cùng chưa ngã ngũ, xuất khẩu vẫn tăng trưởng ấn tượng nhờ xu hướng đẩy mạnh giao hàng trước thời điểm thuế quan có hiệu lực, với tác động kéo dài đến các tháng gần đây.
Thời điểm thuế quan cao được công bố, không ít nghi ngại đặt ra về khả năng hoàn thành các mục tiêu kinh tế của Chính phủ. Tuy nhiên, chuyên gia tại HSBC cho rằng số liệu cho thấy GDP quý 2 và 3 tăng trưởng tích cực, quý sau cao hơn quý trước.
Về thương mại, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tiếp tục tăng mạnh. Đáng chú ý, trong bối cảnh tăng trưởng thương mại chung có dấu hiệu hạ nhiệt, xuất khẩu điện tử vẫn duy trì đà tăng mạnh.
Từ đầu năm 2025, điện tử đã vượt công nghiệp nhẹ để trở thành mặt hàng xuất khẩu lớn nhất sang Mỹ. Dù vẫn chủ yếu ở phân khúc thấp, nhu cầu AI tăng cao đã thúc đẩy xuất khẩu điện thoại, điện tử tiêu dùng và mở rộng vai trò của Việt Nam trong chuỗi sản xuất chip.
2025 tiếp tục là một năm Việt Nam đạt được hầu hết những mục tiêu kinh tế vĩ mô - Ảnh minh họa.Song song đó, dòng vốn FDI tiếp tục là điểm sáng, cơ cấu FDI cho thấy sự dịch chuyển rõ nét khi dòng vốn từ Trung Quốc và Mỹ tăng mạnh, bù đắp cho sự sụt giảm từ các thị trường khác.
Tuy nhiên, ông Vũ Bình Minh nhận định bức tranh kinh tế năm 2025 không hoàn toàn thuận lợi khi thị trường tài chính – tiền tệ trải qua nhiều biến động. Trong nửa đầu năm, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng được duy trì ổn định nhờ Ngân hàng Nhà nước (NHNN) điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, hỗ trợ tăng trưởng tín dụng và kích thích kinh tế trong bối cảnh rủi ro thuế quan gia tăng.
Theo Bloomberg, đến tháng 8, Việt Nam chiếm 75% lượng máy chơi game xuất sang Mỹ. Kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này từ mức dưới 30 triệu USD/tháng năm 2024 đã tăng lên hơn 400 triệu USD/tháng sau tháng 5. Nhiều doanh nghiệp Trung Quốc như Pegatron, Hosiden, Goertek đang mở rộng sản xuất, lao động và nhà máy tại Việt Nam.Áp lực lãi suất tăng mạnh xuất hiện từ những tháng cuối năm, khi lãi suất VNĐ tiệm cận mức cao nhất trong ba năm. Dù NHNN tiếp tục hỗ trợ thanh khoản, với dư nợ OMO đạt kỷ lục gần 370.000 tỷ đồng và triển khai nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ, cơ quan điều hành cũng nâng lãi suất OMO lên 4,5%/năm từ mức 4% duy trì từ tháng 9/2024.
Bên cạnh đó, ông Vũ Bình Minh cho rằng lạm phát cũng là yếu tố cần theo dõi. Tháng 11, CPI tăng 0,5% so với tháng trước và 3,58% so với cùng kỳ, chủ yếu do giá thực phẩm tăng sau bão lũ. Dù vậy, lạm phát vẫn thấp hơn đáng kể so với mục tiêu 5% Quốc hội đã thông qua.
Theo chuyên gia HSBC, Ngân hàng Nhà nước nhiều khả năng tiếp tục giữ ổn định lãi suất điều hành. Khi mục tiêu tăng trưởng năm tới được đặt ở mức cao nhưng lạm phát vẫn trong tầm kiểm soát, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng được kỳ vọng sẽ dần ổn định trở lại.
Về tỷ giá, USD/VND biến động mạnh trong năm 2025. Dù chỉ số USD giảm hơn 9% và Fed quay lại chu kỳ cắt giảm lãi suất, VNĐ vẫn mất giá khoảng 3,5% so với USD.
Tuy nhiên, từ tháng 9, tỷ giá dần ổn định nhờ điều hành ngoại hối chủ động của NHNN, bao gồm điều chỉnh tỷ giá trung tâm theo hướng giảm và bán hợp đồng kỳ hạn để hỗ trợ thanh khoản.
“Nhờ đó, tỷ giá được kỳ vọng duy trì ổn định trong phần còn lại của năm 2025. Sang năm 2026, dù nhu cầu ngoại hối mang tính cơ cấu vẫn hiện hữu, mức biến động USD/VND dự kiến thấp hơn hai năm gần đây khi chênh lệch chính sách tiền tệ thu hẹp và bất ổn thuế quan đã qua cao điểm”, ông Bình Minh nhận định.
ĐIỂM TỰA CHO NĂM 2026Theo Giám đốc Kinh doanh vốn và tiền tệ, Khối Thị trường vốn và Dịch vụ Chứng khoán, HSBC Việt Nam, mặc dù các diễn biến của năm 2026 là rất khó dự đoán tại thời điểm này, nhưng các chỉ số như PMI cũng góp phần hé lộ một số triển vọng đáng khích lệ. Đặc biệt, đơn đặt hàng xuất khẩu mới đã tăng trưởng với tốc độ nhanh hơn trong tháng thứ hai liên tiếp.
Đồng thời, thời gian qua, Việt Nam đã tập trung đẩy mạnh đầu tư công, đặc biệt vào cơ sở hạ tầng trọng điểm. Chi tiêu công cho cơ sở hạ tầng chiếm khoảng 6 - 7% GDP, cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực. “Đây đã và đang là động lực quan trọng hỗ trợ đà tăng trưởng kinh tế. Khi những bất ổn bên ngoài gia tăng với rủi ro thương mại toàn cầu luôn hiện diện, việc tiếp tục tập trung đẩy mạnh đầu tư công sẽ là một trụ cột quan trọng đẩy mạnh tăng trưởng”, ông Bình Minh cho biết.
Điều này đặc biệt ý nghĩa trong bối cảnh dư địa cho chính sách tiền tệ hạn chế, ở phía ngược lại, dư địa về chính sách tài khóa còn tương đối rộng mở khi tỷ lệ nợ công trên GDP của Việt Nam là thấp nhất trong số các nước ASEAN.
Ông Vũ Bình Minh, CFA, Giám đốc Kinh doanh vốn và tiền tệ, Khối Thị trường vốn và Dịch vụ Chứng khoán, HSBC Việt Nam.“Đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, cần tiếp tục chủ động trong hoạt động phòng vệ rủi ro tỷ giá, rủi ro lãi suất nhằm đảm bảo kết quả kinh doanh không bị ảnh hưởng. 2026 sẽ tiếp tục là một năm Việt Nam đứng trước nhiều thách thức, nhưng cũng không thiếu những cơ hội. Việc tìm được điểm cân bằng sẽ giúp đưa quốc gia bước vào một kỷ nguyên mới vững mạnh hơn”.
Về triển vọng thương mại, đa dạng hóa thương mại đã trở thành một chiến lược quan trọng trong bối cảnh bất ổn về thuế quan từ. Ngoài ra, Việt Nam đã và đang ký một loạt các hiệp định thương mại, cũng như nâng cấp quan hệ với các quốc gia, cho thấy tiềm năng của việc đa dạng hóa thương mại là rất lớn.
Về thị trường tài chính, mặc dù Việt Nam đã có một năm tương đối thành công trong kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, thị trường ngoại tệ và tỷ giá VND chủ yếu chịu tác động từ các diễn biến phức tạp, khó lường của thị trường quốc tế như lộ trình chính sách tiền tệ khó lường của Fed, chính sách thương mại, thuế quan của Chính quyền Mỹ và biến động của đồng USD quốc tế.
“Do đó, trong một số giai đoạn, rủi ro vẫn có thể đến từ biến số bên ngoài khiến cân đối cung cầu ngoại tệ trong nước chịu sức ép tạm thời. Tuy nhiên, chính sách điều hành tiền tệ chủ động, linh hoạt của NHNN tiếp tục sẽ tiếp tục tạo điều kiện cho thị trường vận động trong biên độ ổn định”, ông Bình Minh đưa ra dự báo.
-Minh Huy
Năm 2025: Nguồn cung bất động sản tăng 50%, giá chung cư tăng mạnh nhất 3 năm
Theo báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ quản lý thị trường bất động sản và phát triển nhà ở xã hội năm 2025 của Bộ Xây dựng, trên cả nước có 3.297 dự án bất động sản với quy mô khoảng 5,9 triệu căn, tổng mức đầu tư lên tới 7,42 triệu tỷ đồng. Trong đó, nhà ở thương mại và khu đô thị đóng vai trò chủ đạo với 2.358 dự án, tương đương 5,2 triệu căn, tổng vốn đầu tư 6,74 triệu tỷ đồng.
Tuy nhiên, dù nguồn cung tăng mạnh nhưng các dự án nhà ở vẫn được hấp thụ tốt. Tỷ lệ hấp thụ của các dự án mới đạt trên 60%, thậm chí nhiều dự án “cháy hàng” nhờ nhu cầu ở thực và nhu cầu đầu tư trung, dài hạn vẫn duy trì ở mức cao.
Song song với sự phục hồi của giao dịch, mặt bằng giá bất động sản cũng tiếp tục xu hướng tăng. Trong đó, căn hộ chung cư tiếp tục đóng vai trò dẫn dắt thị trường, và ghi nhận mức tăng mạnh nhất trong 3 năm trở lại đây.
Tại thời điểm thống kê vào cuối quý 3/2025, so với năm 2019, giá bán bình quân các dự án thuộc tập mẫu được Viện Nghiên cứu đánh giá thị trường bất động sản Việt Nam (VARS IRE) lựa chọn để tính chỉ số giá tăng lần lượt: Hà Nội là 96,2%, Đà Nẵng 72,6% và Thành phố Hồ Chí Minh 56,9%. Cá biệt một số giai đoạn ngắn ở Hà Nội, giá bán còn tăng từ vài trăm triệu đồng tới cả tỷ đồng chỉ trong vòng một tháng. Các phân khúc nhà ở khác như đất nền, biệt thự, liền kề, nhà ở riêng lẻ,... cũng ghi nhận mức giá tăng cao, tới 30% trong năm.
Tuy nhiên, từ cuối quý 4/2025, giá bất động sản có dấu hiệu chững lại và đi ngang tại một số thị trường nhưng chưa ghi nhận dấu hiệu giảm. Giao dịch “cắt lỗ” chỉ ghi nhận ở những sản phẩm mua chênh cao, hoặc giao dịch theo tâm lý FOMO trong các đợt tăng nóng ngắn hạn trước đó. Đặc biệt, giữa bối cảnh phần lớn nhà đầu tư chưa chịu áp lực tài chính đáng kể, đồng thời, tâm lý thị trường được củng cố bởi nhiều giải pháp được đề ra để phục vụ mục tiêu tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là việc khởi công đồng loạt nhiều dự án, công trình hạ tầng quy mô lớn, mặt bằng giá bất động sản rất khó có khả năng giảm sâu trên diện rộng.
Về tồn kho, báo cáo của Bộ Xây dựng tổng hợp từ 22/34 địa phương cho thấy tồn kho bất động sản quý 3 ở mức khoảng 26.717 căn/nền. Đáng chú ý, tồn kho chung cư và nhà ở riêng lẻ tăng mạnh, bằng 137% so với quý 2, còn tồn kho đất nền giảm gần 69% so với năm 2024.
Song VARS IRE cho rằng lượng tồn kho tăng cao hiện nay mang tính tích cực, phản ánh kỳ vọng phục hồi của doanh nghiệp trong bối cảnh hàng loạt dự án được tháo gỡ vướng mắc pháp lý và thị trường xuất hiện nhiều thông tin tích cực, tạo tiền đề bổ sung nguồn cung và cải thiện thanh khoản trong thời gian tới.
Cụ thể, khác với các giai đoạn trước, khi hàng tồn kho chủ yếu là các sản phẩm đã hoàn thành nhưng khó tiêu thụ, thì hiện nay, phần lớn lượng tồn kho là các sản phẩm đang trong quá trình xây dựng. Trong đó có nhiều sản phẩm thuộc các dự án hình thành trong tương lai đã đủ điều kiện mở bán và ghi nhận kết quả giao dịch rất tích cực. Ngoài ra, nhiều dự án đang xây dựng cũng đã lên kế hoạch mở bán trong ngắn hạn. Bức tranh tồn kho hiện nay cũng phản ánh khá sát diễn biến thực tế của thị trường, khi nguồn cung đất nền dự án sụt giảm rõ rệt...
-Thanh Xuân
Thủ tướng yêu cầu đánh giá thận trọng đề xuất đầu tư kinh doanh đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam
Chiều ngày 23/12/2025, tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính chủ trì phiên họp Thường trực Chính phủ cho ý kiến rà soát, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đối với các dự án đầu tư, xây dựng tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng; dự án đường sắt tốc độ cao trục Bắc – Nam và các dự án đường sắt đô thị tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.
LƯU Ý LỰA CHỌN CÔNG NGHỆ CHO CÁC DỰ ÁN ĐƯỜNG SẮTPhát biểu chỉ đạo tại phiên họp, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh đến thời điểm này, Chính phủ và các bộ, ngành đã triển khai được khối lượng công việc lớn, từ hoàn thiện thể chế, xây dựng hệ thống luật, nghị định, nghị quyết của Quốc hội và Chính phủ, đến việc thúc đẩy triển khai các dự án đường sắt quan trọng. Thủ tướng ghi nhận Bộ Xây dựng đã tích cực triển khai các nhiệm vụ; Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành nhiều tiêu chuẩn, quy chuẩn cho dự án đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam.
Thủ tướng lưu ý việc lựa chọn công nghệ cho các dự án đường sắt, đặc biệt là đường sắt tốc độ cao, phải được xem xét trên nhiều yếu tố như kinh tế, chính trị, ngoại giao, an ninh – quốc phòng, khả năng chuyển giao công nghệ và vận hành. Trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Xây dựng cần tiếp tục rà soát, hoàn thiện bộ tiêu chuẩn, quy chuẩn để làm căn cứ lựa chọn công nghệ và phương thức đầu tư phù hợp, bảo đảm công khai, minh bạch, hài hòa lợi ích, phòng ngừa tiêu cực, tham nhũng.
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính phát biểu chỉ đạo tại Phiên họp. Ảnh: VGPĐối với tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng, Thủ tướng cho biết phía Trung Quốc đánh giá Việt Nam đang triển khai nhanh hơn từ 1,5–2 năm so với các dự án tương tự trong khu vực ASEAN. Với dự án thành phần 1 đã khởi công và tổng mức đầu tư hơn 2.000 tỷ đồng, Thủ tướng yêu cầu Bộ Xây dựng tập trung triển khai đúng và vượt tiến độ; đồng thời đẩy nhanh việc hoàn thiện hồ sơ tiền khả thi, chậm nhất hoàn thành trong tháng 3/2026, làm cơ sở ký kết Hiệp định nối ray Việt Nam – Trung Quốc.
Về nguồn vốn, Thủ tướng cho biết Chính phủ đã bố trí 16.000 tỷ đồng và dự kiến mỗi năm có thể bố trí, giải ngân khoảng 40.000–50.000 tỷ đồng từ các nguồn tiết kiệm chi và vốn đầu tư trung hạn. Về nhân lực, Thủ tướng yêu cầu xây dựng lộ trình đến cuối năm 2026 xác định đầy đủ nhu cầu nhân lực cho phát triển ngành đường sắt, bao gồm số lượng, trình độ và lĩnh vực chuyên môn.
Đồng thời, Thủ tướng nhấn mạnh yêu cầu xây dựng lộ trình nội địa hóa ngành công nghiệp đường sắt, trước mắt tại các dự án kết nối với Trung Quốc, thúc đẩy nội địa hóa đầu máy, toa xe, hệ thống điều khiển, đường ray và các hạng mục hạ tầng kỹ thuật.
Đối với dự án đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam, Thủ tướng yêu cầu Bộ Xây dựng khẩn trương hoàn thành lựa chọn tư vấn khảo sát trong tháng 1/2026; đánh giá đầy đủ các phương thức đầu tư, lựa chọn hình thức tối ưu, bảo đảm lợi ích cao nhất cho đất nước, tổ chức triển khai công khai, minh bạch.
Đối với các tuyến đường sắt đô thị tại Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh, Thủ tướng đề nghị hai thành phố thống nhất lựa chọn công nghệ có tiêu chuẩn, quy chuẩn liên thông, có khả năng dùng chung, từng bước nội địa hóa, chuyển giao công nghệ và hình thành chuỗi cung ứng cho doanh nghiệp trong nước.
TIẾN ĐỘ CÁC DỰ ÁN ĐƯỜNG SẮT TRỌNG ĐIỂMTrước đó, báo cáo tại cuộc họp, Bộ Xây dựng cho biết đối với dự án tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng, dự án thành phần 1 đầu tư hạ tầng và kết nối các ga đã được phê duyệt, trong đó 5 nhà ga đầu tiên đã được khởi công vào ngày 19/5/2025. Hiện nay, các đơn vị đang tiếp tục khảo sát, thiết kế 16 nhà ga còn lại, phấn đấu khởi công trong quý I/2026.
Đối với dự án thành phần 2, công tác khảo sát hiện trường, đánh giá nhu cầu vận tải, thu thập số liệu khí tượng, thủy văn, vật liệu và bãi thải đã cơ bản hoàn thành. Bộ Xây dựng đặt mục tiêu hoàn thành báo cáo nghiên cứu khả thi vào tháng 3/2026 để trình thẩm định, phê duyệt vào tháng 7/2026. Ban Quản lý dự án đường sắt hiện đang triển khai thiết kế kỹ thuật và chỉ định thầu tư vấn, bảo đảm hoàn thành thiết kế kỹ thuật trong tháng 1/2026.
Liên quan đến dự án đường sắt tốc độ cao trục Bắc – Nam, Bộ Xây dựng cho biết đến nay đã có 11/15 địa phương rà soát nhu cầu, xác định khu tái định cư. Tập đoàn Điện lực Việt Nam đã tiến hành kiểm đếm, lập phương án di dời các công trình điện; 12/15 địa phương đã có báo cáo đăng ký nhu cầu vốn ngân sách trung ương.
Về công tác lập báo cáo nghiên cứu khả thi, hiện các cơ quan đang thương thảo hợp đồng để ký kết trong tháng 12/2025. Các gói thầu tư vấn khác đã được phê duyệt nhiệm vụ, dự toán, đánh giá tác động môi trường và đang thực hiện các thủ tục lựa chọn nhà thầu, bảo đảm phù hợp tiến độ lập báo cáo nghiên cứu khả thi.
Bộ Xây dựng đã trình Chính phủ các cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt cho dự án, trong đó có đề xuất cho phép tách công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thành dự án độc lập. Bộ Khoa học và Công nghệ đã thẩm định, công bố 37 tiêu chuẩn về đường sắt tốc độ cao – là những tiêu chuẩn phổ biến, được nhiều quốc gia áp dụng.
Về công nghệ, dự án áp dụng công nghệ chạy trên ray, điện khí hóa, đảm bảo hiện đại, đồng bộ, hiệu quả; việc lựa chọn cụ thể về công nghệ, quy mô sẽ được xác định chi tiết trong quá trình lập báo cáo nghiên cứu khả thi.
Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh phát biểu tại Phiên họp. Ảnh: VGP.Tại cuộc họp, các đại biểu cũng cho biết hiện có một số nhà đầu tư đề xuất triển khai tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam theo hình thức đầu tư kinh doanh, song cần nghiên cứu kỹ lưỡng và xây dựng các cơ chế đặc thù, đặc biệt, đồng thời đánh giá đầy đủ tác động trước khi xem xét quyết định.
Đối với các dự án đường sắt đô thị, Hà Nội đang triển khai tuyến số 3 đoạn Hà Nội – Hoàng Mai, đồng thời lựa chọn tư vấn hỗ trợ kỹ thuật; Thủ tướng đã quyết định cho phép huy động vốn ODA và vay nước ngoài cho dự án. Tuyến số 5 Văn Cao – Hòa Lạc đã hoàn thành phê duyệt dự án thành phần 2 và khởi công, hiện đang tiếp tục triển khai các thủ tục giải phóng mặt bằng. Tuyến số 2 đoạn Nam Thăng Long – Trần Hưng Đạo đã khởi công từ tháng 10/2025 và đang được thành phố tổ chức thẩm định, điều chỉnh theo mô hình TOD. Riêng tuyến số 3 đoạn đi ngầm từ Cầu Giấy đến ga Hà Nội hiện đạt khoảng 72% khối lượng thi công.
Tại TP.Hồ Chí Minh, các cơ quan đang triển khai một số nhiệm vụ chuẩn bị cho 7 tuyến đường sắt đô thị, bao gồm xây dựng phương án tổng thể, kế hoạch đầu tư và chuẩn bị nguồn vốn. Dự án tuyến số 2 Bến Thành – Tham Lương đang được điều chỉnh và hoàn thiện các thủ tục để dự kiến khởi công vào ngày 19/1/2026.
Bộ Xây dựng cho biết đã tổ chức họp với hai thành phố để thống nhất định hướng, áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn cho đường sắt đô thị. Việc áp dụng các tiêu chuẩn này hiện không phát sinh vướng mắc trong quá trình triển khai.
Tại phiên họp, các đại biểu nhấn mạnh tính cấp thiết của việc xây dựng hệ thống quy chuẩn và tiêu chuẩn kỹ thuật đồng bộ; đảm bảo khả năng kết nối liên thông giữa các tuyến và đặt nền móng cho sự phát triển của ngành đường sắt.
Các ý kiến đề nghị đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng, huy động vốn ODA và đề xuất các cơ chế chính sách đặc thù để lựa chọn công nghệ hiện đại cũng như mô hình đầu tư hiệu quả.
-Minh Kiệt
Thủ tướng yêu cầu đánh giá thận trọng đề xuất đầu tư kinh doanh đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam
Chiều ngày 23/12/2025, tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính chủ trì phiên họp Thường trực Chính phủ cho ý kiến rà soát, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đối với các dự án đầu tư, xây dựng tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng; dự án đường sắt tốc độ cao trục Bắc – Nam và các dự án đường sắt đô thị tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.
LƯU Ý LỰA CHỌN CÔNG NGHỆ CHO CÁC DỰ ÁN ĐƯỜNG SẮTPhát biểu chỉ đạo tại phiên họp, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh đến thời điểm này, Chính phủ và các bộ, ngành đã triển khai được khối lượng công việc lớn, từ hoàn thiện thể chế, xây dựng hệ thống luật, nghị định, nghị quyết của Quốc hội và Chính phủ, đến việc thúc đẩy triển khai các dự án đường sắt quan trọng. Thủ tướng ghi nhận Bộ Xây dựng đã tích cực triển khai các nhiệm vụ; Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành nhiều tiêu chuẩn, quy chuẩn cho dự án đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam.
Thủ tướng lưu ý việc lựa chọn công nghệ cho các dự án đường sắt, đặc biệt là đường sắt tốc độ cao, phải được xem xét trên nhiều yếu tố như kinh tế, chính trị, ngoại giao, an ninh – quốc phòng, khả năng chuyển giao công nghệ và vận hành. Trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Xây dựng cần tiếp tục rà soát, hoàn thiện bộ tiêu chuẩn, quy chuẩn để làm căn cứ lựa chọn công nghệ và phương thức đầu tư phù hợp, bảo đảm công khai, minh bạch, hài hòa lợi ích, phòng ngừa tiêu cực, tham nhũng.
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính phát biểu chỉ đạo tại Phiên họp. Ảnh: VGPĐối với tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng, Thủ tướng cho biết phía Trung Quốc đánh giá Việt Nam đang triển khai nhanh hơn từ 1,5–2 năm so với các dự án tương tự trong khu vực ASEAN. Với dự án thành phần 1 đã khởi công và tổng mức đầu tư hơn 2.000 tỷ đồng, Thủ tướng yêu cầu Bộ Xây dựng tập trung triển khai đúng và vượt tiến độ; đồng thời đẩy nhanh việc hoàn thiện hồ sơ tiền khả thi, chậm nhất hoàn thành trong tháng 3/2026, làm cơ sở ký kết Hiệp định nối ray Việt Nam – Trung Quốc.
Về nguồn vốn, Thủ tướng cho biết Chính phủ đã bố trí 16.000 tỷ đồng và dự kiến mỗi năm có thể bố trí, giải ngân khoảng 40.000–50.000 tỷ đồng từ các nguồn tiết kiệm chi và vốn đầu tư trung hạn. Về nhân lực, Thủ tướng yêu cầu xây dựng lộ trình đến cuối năm 2026 xác định đầy đủ nhu cầu nhân lực cho phát triển ngành đường sắt, bao gồm số lượng, trình độ và lĩnh vực chuyên môn.
Đồng thời, Thủ tướng nhấn mạnh yêu cầu xây dựng lộ trình nội địa hóa ngành công nghiệp đường sắt, trước mắt tại các dự án kết nối với Trung Quốc, thúc đẩy nội địa hóa đầu máy, toa xe, hệ thống điều khiển, đường ray và các hạng mục hạ tầng kỹ thuật.
Đối với dự án đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam, Thủ tướng yêu cầu Bộ Xây dựng khẩn trương hoàn thành lựa chọn tư vấn khảo sát trong tháng 1/2026; đánh giá đầy đủ các phương thức đầu tư, lựa chọn hình thức tối ưu, bảo đảm lợi ích cao nhất cho đất nước, tổ chức triển khai công khai, minh bạch.
Đối với các tuyến đường sắt đô thị tại Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh, Thủ tướng đề nghị hai thành phố thống nhất lựa chọn công nghệ có tiêu chuẩn, quy chuẩn liên thông, có khả năng dùng chung, từng bước nội địa hóa, chuyển giao công nghệ và hình thành chuỗi cung ứng cho doanh nghiệp trong nước.
TIẾN ĐỘ CÁC DỰ ÁN ĐƯỜNG SẮT TRỌNG ĐIỂMTrước đó, báo cáo tại cuộc họp, Bộ Xây dựng cho biết đối với dự án tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng, dự án thành phần 1 đầu tư hạ tầng và kết nối các ga đã được phê duyệt, trong đó 5 nhà ga đầu tiên đã được khởi công vào ngày 19/5/2025. Hiện nay, các đơn vị đang tiếp tục khảo sát, thiết kế 16 nhà ga còn lại, phấn đấu khởi công trong quý I/2026.
Đối với dự án thành phần 2, công tác khảo sát hiện trường, đánh giá nhu cầu vận tải, thu thập số liệu khí tượng, thủy văn, vật liệu và bãi thải đã cơ bản hoàn thành. Bộ Xây dựng đặt mục tiêu hoàn thành báo cáo nghiên cứu khả thi vào tháng 3/2026 để trình thẩm định, phê duyệt vào tháng 7/2026. Ban Quản lý dự án đường sắt hiện đang triển khai thiết kế kỹ thuật và chỉ định thầu tư vấn, bảo đảm hoàn thành thiết kế kỹ thuật trong tháng 1/2026.
Liên quan đến dự án đường sắt tốc độ cao trục Bắc – Nam, Bộ Xây dựng cho biết đến nay đã có 11/15 địa phương rà soát nhu cầu, xác định khu tái định cư. Tập đoàn Điện lực Việt Nam đã tiến hành kiểm đếm, lập phương án di dời các công trình điện; 12/15 địa phương đã có báo cáo đăng ký nhu cầu vốn ngân sách trung ương.
Về công tác lập báo cáo nghiên cứu khả thi, hiện các cơ quan đang thương thảo hợp đồng để ký kết trong tháng 12/2025. Các gói thầu tư vấn khác đã được phê duyệt nhiệm vụ, dự toán, đánh giá tác động môi trường và đang thực hiện các thủ tục lựa chọn nhà thầu, bảo đảm phù hợp tiến độ lập báo cáo nghiên cứu khả thi.
Bộ Xây dựng đã trình Chính phủ các cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt cho dự án, trong đó có đề xuất cho phép tách công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thành dự án độc lập. Bộ Khoa học và Công nghệ đã thẩm định, công bố 37 tiêu chuẩn về đường sắt tốc độ cao – là những tiêu chuẩn phổ biến, được nhiều quốc gia áp dụng.
Về công nghệ, dự án áp dụng công nghệ chạy trên ray, điện khí hóa, đảm bảo hiện đại, đồng bộ, hiệu quả; việc lựa chọn cụ thể về công nghệ, quy mô sẽ được xác định chi tiết trong quá trình lập báo cáo nghiên cứu khả thi.
Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh phát biểu tại Phiên họp. Ảnh: VGP.Tại cuộc họp, các đại biểu cũng cho biết hiện có một số nhà đầu tư đề xuất triển khai tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam theo hình thức đầu tư kinh doanh, song cần nghiên cứu kỹ lưỡng và xây dựng các cơ chế đặc thù, đặc biệt, đồng thời đánh giá đầy đủ tác động trước khi xem xét quyết định.
Đối với các dự án đường sắt đô thị, Hà Nội đang triển khai tuyến số 3 đoạn Hà Nội – Hoàng Mai, đồng thời lựa chọn tư vấn hỗ trợ kỹ thuật; Thủ tướng đã quyết định cho phép huy động vốn ODA và vay nước ngoài cho dự án. Tuyến số 5 Văn Cao – Hòa Lạc đã hoàn thành phê duyệt dự án thành phần 2 và khởi công, hiện đang tiếp tục triển khai các thủ tục giải phóng mặt bằng. Tuyến số 2 đoạn Nam Thăng Long – Trần Hưng Đạo đã khởi công từ tháng 10/2025 và đang được thành phố tổ chức thẩm định, điều chỉnh theo mô hình TOD. Riêng tuyến số 3 đoạn đi ngầm từ Cầu Giấy đến ga Hà Nội hiện đạt khoảng 72% khối lượng thi công.
Tại TP.Hồ Chí Minh, các cơ quan đang triển khai một số nhiệm vụ chuẩn bị cho 7 tuyến đường sắt đô thị, bao gồm xây dựng phương án tổng thể, kế hoạch đầu tư và chuẩn bị nguồn vốn. Dự án tuyến số 2 Bến Thành – Tham Lương đang được điều chỉnh và hoàn thiện các thủ tục để dự kiến khởi công vào ngày 19/1/2026.
Bộ Xây dựng cho biết đã tổ chức họp với hai thành phố để thống nhất định hướng, áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn cho đường sắt đô thị. Việc áp dụng các tiêu chuẩn này hiện không phát sinh vướng mắc trong quá trình triển khai.
Tại phiên họp, các đại biểu nhấn mạnh tính cấp thiết của việc xây dựng hệ thống quy chuẩn và tiêu chuẩn kỹ thuật đồng bộ; đảm bảo khả năng kết nối liên thông giữa các tuyến và đặt nền móng cho sự phát triển của ngành đường sắt.
Các ý kiến đề nghị đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng, huy động vốn ODA và đề xuất các cơ chế chính sách đặc thù để lựa chọn công nghệ hiện đại cũng như mô hình đầu tư hiệu quả.
-Minh Kiệt
Đồng yên hồi giá sau cảnh báo can thiệp của Nhật Bản
Tỷ giá đồng yên Nhật Bản hồi phục sau khi giới chức nước này đưa ra cảnh báo mạnh mẽ nhất về việc sẵn sàng can thiệp vào thị trường tiền tệ để ngăn đà sụt giá của đồng nội tệ.
Phát biểu ngày 23/12, Bộ trưởng Bộ Tài chính Nhật Bản Satsuki Katayama nói nước này hoàn toàn không có bất kỳ sự ràng buộc hay khó khăn nào trong việc xử lý với những biến động thái quá của tỷ giá yên. Giới phân tích đánh giá đây là cảnh báo rõ ràng nhất của Tokyo tính đến thời điểm này về khả năng can thiệp tỷ giá.
“Những diễn biến tỷ giá này hoàn toàn không phản ánh đúng các yếu tố nền tảng”, hãng tin Reuters dẫn lời bà Katayama phát biểu tại một cuộc họp báo về tình trạng mất giá của đồng yên.
“Tôi không tin là đồng yên có thể mất giá đến như vậy nếu không có hành vi đầu cơ. Chính phủ sẵn sàng có hành động phù hợp đối với những biến động thái quá này”, phù hợp với thỏa thuận Nhật - Mỹ hồi tháng 9 về chính sách tỷ giá hối đoái, bà nói.
Sau những phát biểu này của bà Katayama, đồng yên tăng giá lên mức 156 yên đổi 1 USD vào cuối ngày 23/12 tại thị trường Tokyo. Sáng nay (24/12), đồng yên tiếp tục trụ vững ở vùng tỷ giá này. Dù vậy, đồng tiền này vẫn đang cách không xa mức đáy của 11 tháng là 157,78 yên đổi 1 USD thiết lập vào hôm thứ Sáu tuần trước.
Trong một tuyên bố chung đưa ra vào tháng 9, Nhật Bản và Mỹ tái khẳng định cam kết tỷ giá hối đoái “do thị trường quyết định”, và nhất trí rằng việc can thiệp tỷ giá nên được để dành để giải quyết những biến động quá mức.
Các nhà hoạch định chính sách của Nhật Bản đã dẫn tuyên bố để khẳng định rằng họ có quyền can thiệp vào thị trường tiền tệ khi biến động của tỷ giá đồng yên không còn phù hợp với các yếu tố nền tảng của nền kinh tế.
Lần gần đây nhất Nhật Bản can thiệp tỷ giá là vào tháng 7/2024, bằng cách mua vào yên khi tỷ giá đồng tiền này chạm đáy 38 năm ở 161,96 yên đổi 1 USD.
“Nếu đồng USD tăng giá lên ngưỡng 158 yên đổi 1 USD và cao hơn, Chính phủ Nhật Bản chắc chắn sẽ có động thái can thiệp”, chuyên gia tỷ giá Hiroyuki Machida của ngân hàng ANZ nhận định với Reuters.
Đồng yên yếu đang là một thách thức đối với Chính phủ Nhật Bản vì đẩy giá hàng hóa nhập khẩu và lạm phát lên, làm trầm trọng thêm cuộc khủng hoảng chi phí sinh hoạt của các hộ gia đình ở nước này.
Phát biểu ngày 23/12 của Bộ Tài chính Nhật Bản cho thấy mức độ cứng rắn đã gia tăng so với trước đó chỉ một ngày. Hôm 22/12, bà nói Tokyo sẽ có hành động phù hợp, nhưng không nói rằng biến động tỷ giá đồng yên gần đây đã đi trệch khỏi các yếu tố nền tảng.
Đồng yên đương đầu áp lực giảm giá dù Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) mới tăng lãi suất vào hôm 19/12, đưa lãi suất chủ chốt tăng thêm 0,25 điểm phần trăm lên mức 0,75%, cao nhất trong 30 năm. Thị trường cho rằng BOJ sẽ không vội có đợt tăng lãi suất tiếp theo, và đây được xem là nguyên nhân khiến tỷ giá yên tiếp tục đi xuống.
Ông Machida nói rằng xu hướng mất giá gần đây của yên phản ánh cả chính sách tài khóa nới lỏng của Nhật Bản và cả chính sách tiền tệ còn nới lỏng của BOJ. Theo ông, với việc chính quyền của Thủ tướng Sanae Takaichi đang chuẩn bị một kế hoạch ngân sách mở rộng cho tài khóa tới, đồng yên chỉ có thể hồi phục nếu BOJ thắt chặt chính sách tiền tệ hơn nữa.
-An Huy
Nhận diện “điểm nghẽn” đầu tư công để khơi thông nguồn lực
Dự kiến giai đoạn 2026 - 2030, tổng chi đầu tư phát triển của Việt Nam có thể đạt mức kỷ lục 8,5 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, giới chuyên gia cho rằng nếu không quyết liệt xử lý các nút thắt mang tính “hệ thống” về thể chế và nguồn cung vật liệu, hiệu quả lan tỏa của dòng vốn khổng lồ này sẽ bị kìm hãm, đe dọa trực tiếp đến mục tiêu tăng trưởng kinh tế.
THÁO GỠ NÚT THẮT CĂN CƠTại tọa đàm “Đầu tư công - Gỡ nút thắt để bứt phá tăng trưởng năm 2026”, do Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp phối hợp với Hiệp hội Công nghiệp khoáng sản TP. Hồ Chí Minh tổ chức ngày 23/12, ông Võ Tân Thành, Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), cho biết với mục tiêu hoàn thành 5.000 km đường cao tốc vào năm 2030, cùng hàng loạt dự án trọng điểm như đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam, các cảng hàng không quốc tế và metro, quy mô vốn đầu tư công sẽ được mở rộng mạnh mẽ chưa từng có.
Tuy nhiên, ông Thành cho rằng từ thực tiễn giai đoạn 2021 - 2025, những thách thức về tiến độ và hiệu quả sử dụng vốn không chỉ xuất hiện ở vài dự án cá biệt mà đã trở thành những nút thắt mang tính hệ thống. Đó là những hạn chế trong thiết kế thể chế, cơ chế phối hợp và năng lực thực thi lặp đi lặp lại ở nhiều cấp, nhiều ngành.
“Các nút thắt này khiến dự án chậm tiến độ, đội vốn và làm giảm hiệu quả lan tỏa đối với nền kinh tế. Nếu không được tháo gỡ căn cơ, tình trạng này sẽ tái diễn trong giai đoạn 2026 - 2030. Trong đó, điểm nghẽn về nguồn cung và giá vật liệu xây dựng; đặc biệt là cát, đá, vật liệu san lấp tác động trực tiếp đến tiến độ hạ tầng trọng điểm,” Phó Chủ tịch VCCI nhận định.
Ông Võ Tân Thành, Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phát biểu tại tọa đàm.Đồng quan điểm, TS. Đỗ Thiên Anh Tuấn cho biết đầu tư công không đơn thuần là công cụ kích cầu ngắn hạn mà là đòn bẩy năng lực cạnh tranh quốc gia.
Dẫn chứng nghiên cứu giai đoạn 2010 - 2024, ông Tuấn chỉ ra cứ 1% GDP vốn đầu tư công tăng thêm sẽ đóng góp 0,2% vào tăng trưởng GDP năm đầu và tạo hiệu ứng lan tỏa tới 0,85% trong 4 năm tiếp theo.
“Đầu tư công không chỉ đơn thuần là một công cụ để kích thích tổng cầu trong ngắn hạn mà quan trọng hơn, đây chính là đòn bẩy để cải thiện năng suất và năng lực cạnh tranh dài hạn cho quốc gia. Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế ít nhất 10% từ năm 2026 trở đi, sự phụ thuộc vào tăng trưởng đầu tư công là rất lớn”, ông Tuấn nhận định.
Mặt khác, theo ông Võ Minh Đức, Phó Chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp Khoáng sản TP. Hồ Chí Minh, sự thiếu hụt trầm trọng nguồn cung đã đẩy giá cả leo thang, đẩy nhà thầu vào thế khó.
Ông Đức phân tích gốc rễ vấn đề nằm ở tư duy quy hoạch. Trong khi các vật liệu như xi măng, gạch, kính có quy hoạch quốc gia rõ ràng, thì các vật liệu thiết yếu cho hạ tầng như đất, cát, đá lại nằm trong “khoảng trống quản lý”.
“Không có cơ quan nào thực sự nắm vai trò điều tiết tổng thể nhu cầu vật liệu thông thường cho các công trình quốc gia. Điều này dẫn đến sự lệch pha nghiêm trọng. Quy hoạch cho phép trữ lượng hàng tỷ mét khối, nhưng để đưa vào khai thác lại là hành trình gian nan do giấy phép cũ hạn chế độ sâu, thời hạn ngắn,” ông Đức chia sẻ.
Thêm vào đó, tâm lý “giữ an toàn” của các sở ngành địa phương khiến thủ tục cấp phép, nâng công suất bị trì hoãn. Ngay tại đô thị đặc biệt như TP. Hồ Chí Minh, dù nhu cầu đá xây dựng năm 2026 dự kiến lên tới 26 triệu m3, cơ chế liên kết vùng để điều tiết nguồn cung vẫn chưa rõ ràng.
CẦN NHỮNG CÁCH TIẾP CẬN MỚI ĐỂ BỨT PHÁĐể hiện thực hóa khát vọng bứt phá đầu tư công, TS. Đỗ Thiên Anh Tuấn kiến nghị chuyển trọng tâm từ việc chỉ ưu tiên tỷ lệ giải ngân (như một KPI duy nhất) sang đánh giá hiệu quả kinh tế thực chất suốt vòng đời dự án.
“Cơ quan quản lý cần chú trọng vào giá trị hiện tại ròng của dự án, đảm bảo quyết định đầu tư dựa trên tính toán khoa học thay vì cảm tính. Đặc biệt, khâu kiểm toán và đánh giá sau dự án vốn đang là điểm yếu cần được thiết lập chặt chẽ để rút kinh nghiệm cho các chu kỳ sau,” ông Tuấn nhấn mạnh.
Bên cạnh đó, ông Tuấn đề xuất các giải pháp kỹ thuật như: nâng cao chất lượng chuẩn bị dự án để giảm độ trễ hành chính; điều hành vốn linh hoạt (cho phép tái phân bổ từ dự án chậm sang dự án tốt); dứt khoát trong giải phóng mặt bằng.
Tọa đàm “Đầu tư công - Gỡ nút thắt để bứt phá tăng trưởng năm 2026” ngày 23/12.Đối với nút thắt vật liệu xây dựng, ông Võ Minh Đức đưa ra kiến nghị công tác chuẩn bị nguồn vật liệu nên được thực hiện song song với giải phóng mặt bằng ngay từ khi phê duyệt chủ trương đầu tư, thay vì tình trạng “nước đến chân mới nhảy” như hiện nay.
Phó Chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp Khoáng sản TP. Hồ Chí Minh kiến nghị Bộ Xây dựng cần đóng vai trò là đầu mối chỉ đạo và điều tiết nhu cầu vật liệu liên vùng để tránh cục bộ địa phương.
Các địa phương cũng cần lập quy hoạch nhu cầu vật liệu phù hợp với quy hoạch khoáng sản, cho phép các mỏ hiện hữu được linh hoạt nâng công suất và tăng độ sâu khai thác dựa trên nhu cầu thực tế của thị trường thay vì áp đặt các định mức cứng nhắc.
Ông Đức cũng kỳ vọng vào sự thay đổi của Luật Địa chất và Khoáng sản năm 2024 trong việc phân cấp cho chính quyền địa phương phê duyệt các khu vực không đấu giá quyền khai thác. Đây là mấu chốt để giải quyết bài toán cho các mỏ đang hoạt động muốn mở rộng hoặc xuống sâu mà không phải trải qua quy trình đấu giá phức tạp, vốn thường gây ra xung đột về quyền lợi đất đai và máy móc thiết bị giữa doanh nghiệp cũ và mới.
Đồng thời, cần mạnh dạn chuyển từ tư duy “tiền kiểm” sang “hậu kiểm” trong quản lý đầu tư để giảm bớt các thủ tục hành chính rườm rà cho doanh nghiệp.
-Thanh Thủy
Nhận diện “điểm nghẽn” đầu tư công để khơi thông nguồn lực
Dự kiến giai đoạn 2026 - 2030, tổng chi đầu tư phát triển của Việt Nam có thể đạt mức kỷ lục 8,5 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, giới chuyên gia cho rằng nếu không quyết liệt xử lý các nút thắt mang tính “hệ thống” về thể chế và nguồn cung vật liệu, hiệu quả lan tỏa của dòng vốn khổng lồ này sẽ bị kìm hãm, đe dọa trực tiếp đến mục tiêu tăng trưởng kinh tế.
THÁO GỠ NÚT THẮT CĂN CƠTại tọa đàm “Đầu tư công - Gỡ nút thắt để bứt phá tăng trưởng năm 2026”, do Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp phối hợp với Hiệp hội Công nghiệp khoáng sản TP. Hồ Chí Minh tổ chức ngày 23/12, ông Võ Tân Thành, Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), cho biết với mục tiêu hoàn thành 5.000 km đường cao tốc vào năm 2030, cùng hàng loạt dự án trọng điểm như đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam, các cảng hàng không quốc tế và metro, quy mô vốn đầu tư công sẽ được mở rộng mạnh mẽ chưa từng có.
Tuy nhiên, ông Thành cho rằng từ thực tiễn giai đoạn 2021 - 2025, những thách thức về tiến độ và hiệu quả sử dụng vốn không chỉ xuất hiện ở vài dự án cá biệt mà đã trở thành những nút thắt mang tính hệ thống. Đó là những hạn chế trong thiết kế thể chế, cơ chế phối hợp và năng lực thực thi lặp đi lặp lại ở nhiều cấp, nhiều ngành.
“Các nút thắt này khiến dự án chậm tiến độ, đội vốn và làm giảm hiệu quả lan tỏa đối với nền kinh tế. Nếu không được tháo gỡ căn cơ, tình trạng này sẽ tái diễn trong giai đoạn 2026 - 2030. Trong đó, điểm nghẽn về nguồn cung và giá vật liệu xây dựng; đặc biệt là cát, đá, vật liệu san lấp tác động trực tiếp đến tiến độ hạ tầng trọng điểm,” Phó Chủ tịch VCCI nhận định.
Ông Võ Tân Thành, Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phát biểu tại tọa đàm.Đồng quan điểm, TS. Đỗ Thiên Anh Tuấn cho biết đầu tư công không đơn thuần là công cụ kích cầu ngắn hạn mà là đòn bẩy năng lực cạnh tranh quốc gia.
Dẫn chứng nghiên cứu giai đoạn 2010 - 2024, ông Tuấn chỉ ra cứ 1% GDP vốn đầu tư công tăng thêm sẽ đóng góp 0,2% vào tăng trưởng GDP năm đầu và tạo hiệu ứng lan tỏa tới 0,85% trong 4 năm tiếp theo.
“Đầu tư công không chỉ đơn thuần là một công cụ để kích thích tổng cầu trong ngắn hạn mà quan trọng hơn, đây chính là đòn bẩy để cải thiện năng suất và năng lực cạnh tranh dài hạn cho quốc gia. Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế ít nhất 10% từ năm 2026 trở đi, sự phụ thuộc vào tăng trưởng đầu tư công là rất lớn”, ông Tuấn nhận định.
Mặt khác, theo ông Võ Minh Đức, Phó Chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp Khoáng sản TP. Hồ Chí Minh, sự thiếu hụt trầm trọng nguồn cung đã đẩy giá cả leo thang, đẩy nhà thầu vào thế khó.
Ông Đức phân tích gốc rễ vấn đề nằm ở tư duy quy hoạch. Trong khi các vật liệu như xi măng, gạch, kính có quy hoạch quốc gia rõ ràng, thì các vật liệu thiết yếu cho hạ tầng như đất, cát, đá lại nằm trong “khoảng trống quản lý”.
“Không có cơ quan nào thực sự nắm vai trò điều tiết tổng thể nhu cầu vật liệu thông thường cho các công trình quốc gia. Điều này dẫn đến sự lệch pha nghiêm trọng. Quy hoạch cho phép trữ lượng hàng tỷ mét khối, nhưng để đưa vào khai thác lại là hành trình gian nan do giấy phép cũ hạn chế độ sâu, thời hạn ngắn,” ông Đức chia sẻ.
Thêm vào đó, tâm lý “giữ an toàn” của các sở ngành địa phương khiến thủ tục cấp phép, nâng công suất bị trì hoãn. Ngay tại đô thị đặc biệt như TP. Hồ Chí Minh, dù nhu cầu đá xây dựng năm 2026 dự kiến lên tới 26 triệu m3, cơ chế liên kết vùng để điều tiết nguồn cung vẫn chưa rõ ràng.
CẦN NHỮNG CÁCH TIẾP CẬN MỚI ĐỂ BỨT PHÁĐể hiện thực hóa khát vọng bứt phá đầu tư công, TS. Đỗ Thiên Anh Tuấn kiến nghị chuyển trọng tâm từ việc chỉ ưu tiên tỷ lệ giải ngân (như một KPI duy nhất) sang đánh giá hiệu quả kinh tế thực chất suốt vòng đời dự án.
“Cơ quan quản lý cần chú trọng vào giá trị hiện tại ròng của dự án, đảm bảo quyết định đầu tư dựa trên tính toán khoa học thay vì cảm tính. Đặc biệt, khâu kiểm toán và đánh giá sau dự án vốn đang là điểm yếu cần được thiết lập chặt chẽ để rút kinh nghiệm cho các chu kỳ sau,” ông Tuấn nhấn mạnh.
Bên cạnh đó, ông Tuấn đề xuất các giải pháp kỹ thuật như: nâng cao chất lượng chuẩn bị dự án để giảm độ trễ hành chính; điều hành vốn linh hoạt (cho phép tái phân bổ từ dự án chậm sang dự án tốt); dứt khoát trong giải phóng mặt bằng.
Tọa đàm “Đầu tư công - Gỡ nút thắt để bứt phá tăng trưởng năm 2026” ngày 23/12.Đối với nút thắt vật liệu xây dựng, ông Võ Minh Đức đưa ra kiến nghị công tác chuẩn bị nguồn vật liệu nên được thực hiện song song với giải phóng mặt bằng ngay từ khi phê duyệt chủ trương đầu tư, thay vì tình trạng “nước đến chân mới nhảy” như hiện nay.
Phó Chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp Khoáng sản TP. Hồ Chí Minh kiến nghị Bộ Xây dựng cần đóng vai trò là đầu mối chỉ đạo và điều tiết nhu cầu vật liệu liên vùng để tránh cục bộ địa phương.
Các địa phương cũng cần lập quy hoạch nhu cầu vật liệu phù hợp với quy hoạch khoáng sản, cho phép các mỏ hiện hữu được linh hoạt nâng công suất và tăng độ sâu khai thác dựa trên nhu cầu thực tế của thị trường thay vì áp đặt các định mức cứng nhắc.
Ông Đức cũng kỳ vọng vào sự thay đổi của Luật Địa chất và Khoáng sản năm 2024 trong việc phân cấp cho chính quyền địa phương phê duyệt các khu vực không đấu giá quyền khai thác. Đây là mấu chốt để giải quyết bài toán cho các mỏ đang hoạt động muốn mở rộng hoặc xuống sâu mà không phải trải qua quy trình đấu giá phức tạp, vốn thường gây ra xung đột về quyền lợi đất đai và máy móc thiết bị giữa doanh nghiệp cũ và mới.
Đồng thời, cần mạnh dạn chuyển từ tư duy “tiền kiểm” sang “hậu kiểm” trong quản lý đầu tư để giảm bớt các thủ tục hành chính rườm rà cho doanh nghiệp.
-Thanh Thủy
Căng thẳng thương mại hạ nhiệt, triển vọng nào cho cổ phiếu cảng biển logistics?
Tính đến hết tháng 11/2025, giá cước vận chuyển container đã giảm 54% so với vùng đỉnh tháng 1/2025, trở về mức tương tự như trước khủng hoảng Biển Đỏ. Trong cập nhật triển vọng cổ phiếu cảng biển logistics mới đây, Chứng khoán MBS bày tỏ kỳ vọng giá cước vận chuyển container sẽ tiếp tục hạ nhiệt và duy trì ổn định trong năm 2026 quanh 1.630USD/40ft container.
Lý do bởi hoạt động thương mại toàn cầu sẽ duy trì tăng trưởng nhờ xu hướng US+1, khi các quốc gia mở rộng thị trường xuất khẩu trong nỗ lực giảm sự phụ thuộc vào Mỹ, đặc biệt là Trung Quốc. Đến hết tháng 7/2025, sản lượng vận chuyển container của Trung Quốc sang thị trường mới có xu hướng gia tăng rõ rệt, nổi bật nhất là khu vực EU.
Theo dự báo của Goldman Sachs, GDP thực của Trung Quốc được điều chỉnh tăng lên 4,8% (so với dự báo cũ là 4%), thúc đẩy bởi sự phục hồi của hoạt động thương mại tiếp tục được duy trì trong năm 2026, nhờ vậy hỗ trợ tình hình thương mại tiếp tục sôi nổi.
Tốc độ tăng trưởng của nguồn cung tàu mới tiếp tục chậm lại trong 2026 nhờ lượng tàu mới bàn giao thấp. Mặc dù lượng đơn đặt đóng tàu mới đã tăng lên mức cao kỷ lục, vượt 10 triệu TEU (tương đương với hơn 1.000 tàu mới), đẩy tỷ lệ đặt hàng/đội tàu lên 31% (cao nhất từ 2010) nhưng thời gian bàn giao dự kiến diễn ra chủ yếu trong 2027, do vậy theo Xeneta, nguồn cung tàu mới dự kiến chỉ tăng 3,6% so với cùng kỳ, mức tăng thấp nhất trong 4 năm trở lại đây.
Tuy nhiên do mức tăng của nguồn cung tàu mới được dự kiến sẽ tiếp tục vượt trội hơn mức tăng nhu cầu vận chuyển, giá cước container giao ngay sẽ tiếp tục hạ nhiệt trước khi duy trì ổn định với vùng cân bằng ở quanh vùng đáy trước biến động khu vực Biển Đỏ.
Trái ngược với đà suy giảm của giá cước vận chuyển container giao ngay, giá cước cho thuê tàu container trong năm vừa qua tiếp tục phục hồi mạnh mẽ, tính đến hết tháng 11/2025, giá cước cho thuê tàu kích cỡ 1700-1800 TEU đã tăng 18,2% so với đầu năm.
Bước sang 2026, kỳ vọng giá cước cho thuê tàu sẽ ít bị ảnh hưởng bởi đà giảm của giá cước giao ngày và sẽ tiếp tục duy trì ở mức cao, trong đó chúng tôi ước tính giá cước cho thuê trung bình đối với tàu 1.800 TEU sẽ đạt khoảng 32.300 USD/container40ft vào cuối 2026, tăng 4,6%.
Theo ước tính của Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam, trong 9 tháng năm 2025, tổng sản lượng container thông qua hệ thống các cảng biển Việt Nam đạt khoảng 25,4 triệu TEUs (tăng 13% so với cùng kỳ) khi tình hình Xuất Nhập khẩu duy trì sôi động, đặc biệt nhờ xu hướng front-loading trong gần 3 quý đầu 2025.
Bước sang 2026, MBS đánh giá sản lượng container thông qua toàn hệ thống sẽ duy trì đà tăng trưởng nhưng có xu hướng chậm lại, dự kiến sẽ tăng khoảng 10% so với cùng kỳ, đạt 36,7 triệu TEUs, do áp lực cạnh tranh tại các thị trường ngoài Mỹ sẽ gia tăng trong ngắn hạn do xu hướng US +1 sẽ khiến việc gia tăng thị phần tại các thị trường ngoài Mỹ khó khăn hơn trong 2026, đặc biệt khi Trung Quốc đẩy mạnh mở rộng thị trường để giảm phụ thuộc vào Mỹ.
Ngoài ra, do ảnh hưởng từ xu hướng front-loading trong 2024 và 2025, sản lượng xuất khẩu sang Mỹ của Việt Nam sẽ hạ nhiệt trong nửa năm 2026 trước khi phục hồi từ quý 4/2026.
Tuy nhiên khi căng thẳng thương mại có xu hướng hạ nhiệt, hoạt động thương mại bước vào thời kỳ bình thường mới, Việt Nam vẫn sẽ duy trì thị phần ổn định tại Mỹ và các nước khác, nhờ mức thuế cạnh tranh và đàm phán thuận lợi với Mỹ, cùng với lợi thế về năng lực sản xuất và chi phí lao động thấp so với các quốc gia trong khu vực.
Ngoài ra, với kỳ vọng thị trường bất động sản phía Nam phục hồi, nhu cầu vận chuyển nội địa sẽ tiếp tục cải thiện, hỗ trợ bởi nhu cầu vận chuyển vật liệu xây dựng cũng như sản phẩm ốp lát và nội thất, từ đó thúc đẩy tăng trưởng sản lượng vận chuyển container.
Các cảng nước sâu sẽ có hiệu suất cao hơn nhờ xu hướng gia tăng kích cỡ tàu, đẩy mạnh phát triển hạ tầng hỗ trợ giúp nâng cao vị thế cạnh tranh kết hợp với đề xuất nâng phí dịch vụ cảng biển nước sâu (dự kiến áp dụng trong Q1/2026) sẽ giúp gia tăng sản lượng khai thác và lợi nhuận các cảng này.
Về triển vọng cổ phiếu, MBS đánh giá cao GMD, HAH, VTP cho chiến lược đầu tư năm 2026. Trong bối cảnh hoạt động thương mại toàn cầu tiếp tục tăng trưởng và Việt Nam duy trì vị thế cạnh tranh so với các quốc gia trong khu vực, những doanh nghiệp đầu ngành với tiềm năng tăng trưởng lợi nhuận tích cực trong khi vẫn được định giá rẻ hơn so với các doanh nghiệp cùng ngành trong khu vực.
-Thu Minh
Những thay đổi lớn trên thị trường chứng khoán sẽ diễn ra vào giai đoạn sau của năm 2026
Kết thúc năm 2025, VN-Index sau những nhịp tăng trưởng bứt phá đã tạo nền tích lũy ở mức 1.620 - 1.700 điểm. Những đợt vượt tích lũy, tăng đến 1.780 điểm chủ yếu phụ thuộc vào nhóm cổ phiếu Vingroup.
Xét về nhóm ngành trong 2025, ngành hàng và dịch vụ công nghiệp, ô tô và phụ tùng, công nghệ thông tin và viễn thông có mức giảm từ 17% - 27%. Bốn nhóm ngành có hiệu suất vượt VN-Index gồm bất động sản (+168%), Du lịch và giải trí (+46%), Dịch vụ tài chính (+31%) và Tài nguyên cơ bản (+30%).
Nhận định về diễn biến các nhóm ngành trên thị trường trong năm 2025, TS. Trần Thăng Long, Giám đốc Phân tích, Công ty CP Chứng khoán BIDV (BSC), cho biết tốc độ tăng trưởng chung của lợi nhuận thị trường khá tốt, nhưng cũng có sự phân hóa nhất định.
Có khoảng 9/19 ngành có tốc độ tăng trưởng vượt trội so với năm trước, nhưng bên cạnh đó, cũng có nhiều nhóm ngành có kết quả vẫn chưa thể hiện tốt trong năm vừa qua.
Đến năm 2026, theo ông Long, sẽ có sự khác biệt do chúng ta đang ở trong một chu kỳ tăng trưởng tương đối khác. Thế nên, những nhóm ngành có độ trễ cao hơn so với trước đây chẳng hạn như tiêu dùng hay bán lẻ có khả năng sẽ có tốc độ phục hồi tốt hơn, khi đang có xu hướng cải thiện qua từng quý, cũng như diễn biến bán hàng cũng đang tốt dần lên.
Bên cạnh đó, nhà đầu tư cũng sẽ nhìn lại những yếu tố liên quan đến định giá và tăng trưởng, có thể dễ dàng nhận thấy, không phải những doanh nghiệp nào có nhiều cổ phiếu tăng thật mạnh trước đây, sẽ là những doanh nghiệp có khả năng chắc chắn sẽ tăng trong những năm tiếp theo và ngược lại. Chúng ta sẽ nhìn thấy cơ hội ở những nhóm ngành khác.
Ngoài ra, cũng sẽ có những nhóm ngành tiếp tục được hưởng lợi từ xu hướng giải ngân đầu tư công mạnh mẽ của Việt Nam, cùng những thay đổi chính sách về mặt hạ tầng của Việt Nam, chẳng hạn như nhóm ngành liên quan đến xây lắp hay vật liệu hoặc những nhóm ngành liên quan đến năng lượng. Đó là những nhóm ngành nền tảng của nền kinh tế.
"Mặc dù VN-Index tăng điểm mạnh trong 2025 nhưng diễn biến cổ phiếu đang có sự phân hóa khá rõ. Năm 2026 sẽ không còn sự phân hóa quá rộng như 2025. Thay vào đó là những câu chuyện và triển vọng trên thị trường sẽ dàn trải ở nhiều cổ phiếu lớn trong danh mục đầu tư, khi thị trường được nâng hạng. Dòng tiền đầu tư dự báo tập trung vào các cổ phiếu có chất lượng tăng trưởng tốt ở một số ngành như tiêu dùng, ngân hàng, tài nguyên cơ bản, tiện ích và công nghệ", ông Long kỳ vọng.
Một thống kê được thực hiện bởi Yuanta về diễn biến các ngành trong giai đoạn tháng 12, tháng 01 và tháng 02 – thời điểm nghỉ Tết Dương lịch và Nguyên Đán cho thấy, trong giai đoạn đặc biệt này, top 3 nhóm ngành dẫn dắt thị trường gồm Khai khoáng, Dầu khí và Ngân hàng.
Đây là những "ngôi sao" thực sự trong giai đoạn này. Đặc biệt Ngân hàng có sự bứt phá mạnh nhất vào tháng 1, trong khi Dầu khí và Khai khoáng duy trì phong độ cực tốt xuyên suốt cả 3 tháng.
Trong khi đó, các ngành Tiêu dùng gồm Đồ uống, Thực phẩm thường được kỳ vọng tăng trưởng dịp Tết nhưng thực tế dữ liệu lịch sử lại cho thấy mức tăng trưởng khá khiêm tốn hoặc thậm chí âm. Điều này có thể do thị trường đã phản ánh kỳ vọng này vào giá cổ phiếu từ trước đó tháng 10, 11.
Ngành Thép (Kim loại công nghiệp) và Thiết bị điện có xu hướng bùng nổ mạnh nhất vào tháng 2 (sau Tết), thường gắn liền với việc khởi động lại các công trình xây dựng. Nhóm rủi ro lại là Hóa chất, Truyền thông và Đồ uống thường có hiệu suất kém nhất trong giai đoạn chuyển giao năm mới này.
TS. Hồ Quốc Tuấn, Giảng viên Cao cấp, Đại học Bristol, Anh cũng cho rằng dòng vốn của thị trường đầu năm 2026 vẫn sẽ chảy vào những nhóm cổ phiếu được hưởng lợi từ đầu tư công và đó là một cách phân bổ sẽ diễn ra có tính chủ đạo trong các tháng đầu năm.
Nguyên nhân là bởi sẽ không có sự đột biến lớn về kỳ vọng trong đầu năm sau và những thay đổi lớn sẽ diễn ra vào những giai đoạn sau của năm 2026, khi mà người ta nhận thấy rằng việc chỉ tập trung lượng tiền vào một số cổ phiếu nhất định sẽ đẩy định giá của những cổ phiếu đó lên quá cao, và đến một lúc nào đó, dòng tiền thị trường phải phân bổ lại vào các nhóm cổ phiếu khác có chất lượng tốt hơn nhưng vẫn chưa có sự tăng giá nhiều ở giai đoạn trước đó.
Đơn cử như, nhóm cổ phiếu ngân hàng sẽ được hưởng lợi nói chung từ những yếu tố của nền kinh tế với sự tăng trưởng nhanh hơn. Về các dự án hạ tầng, hay như, về năng lượng, và một số cổ phiếu liên quan đến xây dựng, định giá của một số cổ phiếu này còn có thể còn có nhiều dư địa tăng trưởng và chưa có sự phân bổ vốn quá nhiều.
Tuy nhiên, cũng cần phải lưu ý về câu chuyện phân bổ vốn vào các nhóm ngành. Yếu tố quan trọng đầu tiên là câu chuyện về lãi suất, có thể sẽ có những biến động khác đi so với kỳ vọng ban đầu. Ví dụ, một cú sốc về lãi suất nước ngoài cao hơn dự đoán chẳng hạn, có thể gây ra tác động lớn lên một một số nhóm ngành nếu như sử dụng vay nợ cao.
Lấy ví dụ, lãi suất Nhật có thể tiếp tục tăng, và điều đó sẽ ảnh hưởng đến doanh nghiệp vay nợ bằng Yên Nhật nếu lãi suất tăng đồng thời đồng Yên cũng tăng, và giảm mối quan tâm của nhà đầu tư Nhật đối với tài sản của Việt Nam.
-Thu Minh