The Latest News
"Bí kíp" để người lao động đứng vững trước áp lực của AI
Bước sang năm 2026, thị trường việc làm Việt Nam được dự báo sẽ tiếp tục biến động mạnh và phân hóa sâu theo ngành nghề, buộc người lao động phải chuyển đổi và thích ứng.
AI, tự động hóa và chuyển đổi số diễn ra với tốc độ chưa từng có, cùng với chuyển đổi xanh đang diễn ra mạnh mẽ, kỹ năng số và khả năng vận hành công nghệ sẽ trở thành chìa khóa để duy trì lợi thế cạnh tranh.
Bà Nguyễn Thu Trang, Giám đốc thương hiệu Manpower, Manpower Việt Nam (công ty cung ứng giải pháp nhân sự), cho rằng trong bối cảnh thị trường việc làm hiện nay, để theo kịp yêu cầu của công việc cũng như tiếp cận được nhiều cơ hội phát triển nghề nghiệp, người lao động cần liên tục cập nhật kiến thức về chuyển đổi số và chuyển đổi xanh.
Theo bà Trang, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh không còn là những khái niệm giới hạn trong các ngành chuyên biệt như công nghệ hay năng lượng tái tạo, mà đang dần trở thành yêu cầu phổ quát trong hầu hết các lĩnh vực. Do vậy, người lao động cần chủ động cập nhật xu hướng mới, hiểu đúng và hiểu rộng hơn về cách các yếu tố xanh và số hóa được tích hợp vào công việc hằng ngày.
Tiếp theo, họ cũng cần tích lũy trải nghiệm trong chuyển đổi số và chuyển đổi xanh qua từng bước nhỏ trong công việc. “Thay vì chờ đợi các dự án quy mô lớn hay một sự chuyển dịch nghề nghiệp rõ rệt, người lao động hoàn toàn có thể bắt đầu quá trình thích ứng với chuyển đổi số và chuyển đổi xanh từ những bước đi nhỏ, nhưng mang tính thực hành cao trong công việc và đời sống hằng ngày”, bà Nguyễn Thu Trang nhấn mạnh.
Đơn cử, đó có thể là việc chủ động sử dụng thành thạo các ứng dụng và nền tảng số của cơ quan nhà nước và doanh nghiệp; thực hành tiết kiệm năng lượng tại nơi làm việc và trong gia đình; giảm thiểu lãng phí, đặc biệt là lãng phí thực phẩm; hoặc tham gia các hoạt động ESG nội bộ tại doanh nghiệp, như đóng góp ý kiến vào việc xây dựng các quy tắc ứng xử, chính sách minh bạch, công bằng trong đánh giá, lương thưởng và phát triển nghề nghiệp.
Chính những “trải nghiệm tích lũy” này giúp người lao động từng bước hình thành tư duy, thói quen và năng lực làm việc mới, từ đó nâng cao khả năng thích ứng, chủ động trước các thay đổi về mô hình vận hành, yêu cầu kỹ năng và chiến lược phát triển của doanh nghiệp cũng như thị trường lao động.
Cuối cùng, là tăng cường và học hỏi liên tục các kỹ năng mềm. Khi công nghệ ngày càng phát triển, kỹ năng mềm trở thành yếu tố giúp người lao động làm chủ công nghệ và hợp tác hiệu quả hơn trong môi trường làm việc hiện đại.
Bà Nguyễn Thu Trang, Giám đốc thương hiệu Manpower, Manpower Việt Nam.Sau nhiều năm khảo sát với các doanh nghiệp thuộc nhiều lĩnh vực trên toàn cầu, báo cáo của ManpowerGroup đã chỉ ra Top 5 kỹ năng mềm quan trọng nhất mà người lao động cần có trong bối cảnh hiện nay, đó là: Kỹ năng hợp tác và làm việc nhóm; sáng tạo và đổi mới; khả năng lập luận và giải quyết vấn đề; khả năng học hỏi; khả năng thích ứng linh hoạt và phục hồi.
Bà Sinwon Park, Giám đốc Văn phòng Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) tại Việt Nam, chuyên gia có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực chính sách lao động và an sinh xã hội cũng khẳng định, phát triển kỹ năng là yếu tố then chốt để đạt được mục tiêu thúc đẩy việc làm bền vững và thỏa đáng. Theo bà, hệ thống giáo dục và đào tạo cần được hiện đại hóa để đáp ứng nền kinh tế số và kinh tế xanh, với sự chú trọng hơn vào STEM, kỹ năng số, năng lực xanh mới nổi...
Bà Sinwon Park, Giám đốc Văn phòng Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) tại Việt Nam.Việc thiết lập các khung pháp lý quốc gia để đánh giá, chứng nhận và công nhận kỹ năng - bao gồm cả chứng nhận năng lực số có thể hỗ trợ sự dịch chuyển lao động và cải thiện sự phù hợp về kỹ năng.
Cùng với đó, thúc đẩy học tập suốt đời, các lộ trình đào tạo linh hoạt và đầu tư cấp doanh nghiệp vào phát triển nguồn nhân lực sẽ rất cần thiết để đảm bảo người lao động có thể thích ứng với các yêu cầu công việc thay đổi trong suốt sự nghiệp của họ. Tăng cường khả năng ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh, cũng sẽ hỗ trợ hội nhập toàn cầu, đổi mới và tiếp cận việc làm chất lượng cao hơn.
Các chuyên gia tuyển dụng cũng nhấn mạnh rằng trong bối cảnh thị trường lao động hiện nay, người lao động nên đánh giá mức độ rủi ro của ngành nghề hiện tại, xác định sớm các kỹ năng còn thiếu và chủ động xây dựng lộ trình dịch chuyển nếu cần.
Lời khuyên quan trọng nhất dành cho người lao động trong năm 2026, đó là hãy chủ động học tập, nâng cấp kỹ năng số và kiên trì xây dựng lợi thế cạnh tranh dựa trên tốc độ thích ứng.
Đây là thời điểm để người lao động “tự thiết kế sự nghiệp của mình”, không chỉ bằng việc nắm bắt cơ hội nghề nghiệp mới, mà còn bằng cách đầu tư vào khả năng chuyển đổi, sẵn sàng dịch chuyển và củng cố năng lực thực tiễn.
Trong một thị trường đang được tái định hình bởi công nghệ, người biết thay đổi nhanh và học tập liên tục sẽ là người giữ được vị thế bền vững và có nhiều cơ hội bứt phá nhất.
-Thu Hằng
Sau giai đoạn dòng vốn đầu tư trầm lắng: Startup Việt Nam “kỷ luật” hơn
Dòng vốn đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam đã giảm sút đáng kể trong những năm gần đây, đặc biệt là từ đỉnh cao năm 2021. Báo cáo từ Quỹ VinVentures cho thấy số lượng thương vụ đầu tư mạo hiểm đã giảm mạnh, từ 75 thương vụ năm 2024 xuống còn khoảng 41 giao dịch trong năm 2025, với tổng vốn đầu tư đạt khoảng 215 triệu USD, thấp hơn 30% so với năm trước đó. Tuy nhiên, sự suy giảm này không chỉ là vấn đề của riêng Việt Nam mà là xu hướng chung của toàn khu vực.
Trong bối cảnh khó khăn này, các doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam đã trở nên "kỷ luật" hơn, tập trung vào các mô hình kinh doanh hiệu quả và bền vững. Sự thay đổi này được thúc đẩy bởi các chính sách hỗ trợ từ chính phủ, như Nghị quyết 68-NQ/TW và Nghị định số 264/2025/NĐ-CP, nhằm khẳng định vai trò của kinh tế tư nhân và thúc đẩy nghiên cứu, phát triển. Đặc biệt, việc thành lập các quỹ đầu tư mạo hiểm cấp quốc gia và địa phương đã tạo ra một "trục dẫn vốn" ổn định cho các startup, giúp giảm sự phụ thuộc vào nguồn vốn ngoại.
Sự phục hồi của thị trường đầu tư mạo hiểm đã bắt đầu xuất hiện vào cuối năm 2025, khi các nhà đầu tư dần quay trở lại thị trường. Tuy nhiên, đây không phải là sự trở lại của "thời kỳ vốn hoàng kim" mà là khởi đầu của một chu kỳ mới, thận trọng hơn và hướng tới tính bền vững dài hạn. Các chuyên gia nhận định rằng, với sự hỗ trợ từ chính sách và sự trưởng thành của hệ sinh thái khởi nghiệp, dòng vốn sẽ dần được khơi thông trở lại từ năm 2026.
Một trong những yếu tố quan trọng giúp khởi động lại thị trường đầu tư mạo hiểm là việc hình thành sàn giao dịch chứng khoán chuyên biệt cho khởi nghiệp sáng tạo. Điều này tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân và quỹ đầu tư giao dịch minh bạch hơn. Cùng với đó, các văn bản pháp lý quan trọng như Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo đang tạo nên một "đường băng thể chế" giúp khởi nghiệp sáng tạo phát triển theo chiều sâu và chuyên nghiệp hơn.
Trong bối cảnh này, các startup Việt Nam đang dần chuyển hướng từ thị trường nội địa sang thị trường toàn cầu, đặc biệt là trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo (AI). Các quỹ đầu tư không chỉ tìm kiếm những nhà sáng lập có khả năng xây dựng doanh nghiệp hàng đầu tại thị trường nội địa mà còn ưu tiên những người có tham vọng vươn ra toàn cầu. Điều này cho thấy sự thay đổi trong chiến lược của các nhà sáng lập Việt Nam, từ việc tập trung vào thị trường nội địa sang việc mở rộng ra thị trường quốc tế.
Tóm lại, hệ sinh thái khởi nghiệp Việt Nam đang đứng trước những cơ hội và thách thức mới. Sự hỗ trợ từ chính sách và sự trưởng thành của các doanh nghiệp khởi nghiệp đang tạo ra một môi trường thuận lợi cho sự phát triển bền vững. Tuy nhiên, để tận dụng được những cơ hội này, các startup cần phải linh hoạt và sẵn sàng thích nghi với những thay đổi của thị trường...
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8 Xuân Bính Ngọ phát hành ngày 16/02 - 01/3/2026. Kính mời quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html
-Ngô Huyền
Khu công nghiệp bước vào kỷ nguyên mới
Trong bối cảnh tư duy kế hoạch hóa vẫn chi phối mạnh mẽ hoạt động quản lý kinh tế thời kỳ đó, ngay cả kế hoạch 5 năm 1991–1995 cũng chỉ dám đặt mục tiêu thu hút FDI ở mức 2 tỷ USD cho cả giai đoạn. Nếu đem con số này so với quy mô vốn FDI đăng ký được cấp phép năm 2025, ước đạt gần 39 tỷ USD, trong đó riêng đầu tư vào các khu công nghiệp đã vượt trên 30 tỷ USD, có thể thấy sự phát triển của hệ thống khu công nghiệp Việt Nam đã ghi nhận một bước tiến dài và mang tính đột phá.
Tính đến hết tháng 9/2025, cả nước đã thành lập 478 khu công nghiệp, trong đó có 421 khu công nghiệp nằm ngoài các khu kinh tế, 49 khu công nghiệp thuộc các khu kinh tế ven biển và 8 khu công nghiệp trong các khu kinh tế cửa khẩu. Toàn bộ các khu công nghiệp này đều đã có quyết định thành lập, có chủ đầu tư xây dựng hạ tầng và đang thu hút các nhà đầu tư thứ cấp triển khai dự án sản xuất, kinh doanh.
Riêng 421 khu công nghiệp nằm ngoài các khu kinh tế có tổng diện tích đất tự nhiên khoảng 145,97 nghìn ha, hình thành quỹ đất công nghiệp khoảng 101,6 nghìn ha. Trong tổng số các khu công nghiệp đã được thành lập, hiện có 324 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động với tổng diện tích đất tự nhiên khoảng 95,7 nghìn ha và diện tích đất công nghiệp khoảng 68 nghìn ha.
Bên cạnh đó, 153 khu công nghiệp đang trong giai đoạn xây dựng, với tổng diện tích đất tự nhiên khoảng 50,46 nghìn ha, dự kiến bổ sung thêm khoảng 32,6 nghìn ha đất công nghiệp cho nền kinh tế. Hệ thống khu công nghiệp Việt Nam hiện tập trung chủ yếu tại hai trung tâm công nghiệp lớn là vùng Đông Nam Bộ và vùng Đồng bằng sông Hồng.
Theo tổng kết của Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Tài chính, trong giai đoạn 30 năm hình thành và phát triển khu công nghiệp từ năm 1991 đến 2020, giai đoạn 2001-2010 là thời kỳ phát triển mạnh mẽ nhất, với 195 khu công nghiệp được thành lập, tổng diện tích đạt 59.470 ha, chiếm 52,8% về số lượng và 52,1% về diện tích khu công nghiệp của toàn bộ giai đoạn 1991-2020.
Trong giai đoạn 5 năm 2021-2025, đặc biệt là giai đoạn 2021-2024, vốn đầu tư xây dựng hạ tầng khu công nghiệp và vốn đầu tư của các dự án sản xuất trong khu công nghiệp chiếm khoảng 27,7% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Hoạt động của các khu công nghiệp tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong gia tăng kim ngạch xuất khẩu, mở rộng thị trường và chuyển dịch cơ cấu ngành hàng xuất khẩu, với giá trị xuất khẩu bình quân hằng năm chiếm khoảng 55% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Đồng thời, các khu công nghiệp đã thu hút và tạo việc làm trực tiếp cho khoảng 3,83 triệu lao động, tương đương khoảng 7% lực lượng lao động toàn quốc. Riêng trong năm 2025, theo dự báo, khoảng 30 tỷ USD vốn FDI đã được đầu tư vào các khu công nghiệp Việt Nam.
Trước yêu cầu chung của phát triển kinh tế - xã hội theo hướng xanh và bền vững, công tác bảo vệ môi trường tại các khu công nghiệp cũng được chú trọng đẩy mạnh. Đến nay, khoảng 92% khu công nghiệp đang hoạt động đã có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường, với tổng công suất tối đa trên 1,3 triệu m3 nước thải mỗi ngày đêm. Cùng với đó, một xu hướng đáng chú ý trong quá trình hình thành các khu công nghiệp mới là phát triển mô hình khu công nghiệp sinh thái, nhằm giảm thiểu tác động đến môi trường, nâng cao chất lượng sống cho người lao động và thúc đẩy phát triển xanh, bền vững.
Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng của nền kinh tế Việt Nam, mô hình khu công nghiệp cũng đang từng bước chuyển đổi, từ chỗ chủ yếu cung cấp hạ tầng sang trở thành trung tâm kết nối chuỗi giá trị, nơi hội tụ dòng vốn FDI, công nghệ và sự chia sẻ thị trường giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Đây được xem là hướng phát triển mới, phù hợp với yêu cầu nâng cao giá trị gia tăng, mở rộng thị trường và gia tăng năng lực cạnh tranh của hệ thống khu công nghiệp Việt Nam trong giai đoạn tới.
Trong quá trình phát triển vừa qua, hệ thống các khu công nghiệp Việt Nam đã từng bước vượt qua nhiều khó khăn, trở ngại và đạt được những kết quả quan trọng. Tuy nhiên, trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội của đất nước giai đoạn tới, hệ thống khu công nghiệp vẫn phải đối mặt với không ít thách thức.
Trước hết là sự mất cân đối giữa cung và cầu đất công nghiệp giữa các vùng, khi một số khu vực có nhu cầu rất cao nhưng khả năng mở rộng hạ tầng còn hạn chế, khiến hệ thống khu công nghiệp chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển.
Bên cạnh đó, tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao và lao động kỹ thuật, đặc biệt trong các ngành công nghệ cao, tiếp tục là điểm nghẽn lớn.
Cùng với đó, cạnh tranh khu vực trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ngày càng gay gắt, đòi hỏi môi trường đầu tư của Việt Nam phải có tính cạnh tranh cao hơn.
Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về sự đồng bộ của hệ thống pháp luật, chính sách liên quan đến doanh nghiệp và hoạt động đầu tư, kinh doanh; thủ tục hành chính cần rõ ràng, minh bạch hơn; thời gian xử lý các vướng mắc cho doanh nghiệp phải được rút ngắn; tinh thần phục vụ doanh nghiệp và nhà đầu tư của đội ngũ cán bộ, công chức thực thi công vụ cần tiếp tục được nâng cao và được giám sát chặt chẽ về thời gian cũng như chất lượng xử lý công việc theo đúng các quy định đã đặt ra của các bộ, ngành và địa phương.
Nếu những tồn tại này được khắc phục kịp thời và hiệu quả, năng lực cạnh tranh của môi trường đầu tư Việt Nam sẽ được nâng cao rõ rệt, qua đó củng cố vị thế của Việt Nam như một điểm đến đầu tư hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Khi thu hút được dòng vốn đầu tư chất lượng cao, các mục tiêu phát triển hệ thống khu công nghiệp Việt Nam trong giai đoạn tới sẽ có cơ sở vững chắc để hiện thực hóa.
Theo đó, hệ thống khu công nghiệp sẽ tiếp tục được mở rộng theo đúng quy hoạch phát triển chung trên phạm vi cả nước, với định hướng đến năm 2030 quy hoạch phát triển mới 221 khu công nghiệp, mở rộng 76 khu công nghiệp và điều chỉnh quy hoạch 22 khu công nghiệp.
Song song với mở rộng quy mô, các khu công nghiệp cần được định hướng tăng trưởng theo chuỗi giá trị, không chỉ là không gian sản xuất đơn thuần mà từng bước trở thành cầu nối về công nghệ, thị trường và tổ chức liên kết giữa khu vực đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp trong nước, bao gồm cả các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, qua đó giúp doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Cùng với đó là yêu cầu phát triển hạ tầng kỹ thuật hiện đại gắn với số hóa, logistics thông minh, tích hợp năng lượng tái tạo và thúc đẩy chuyển đổi số nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho cả khu công nghiệp và doanh nghiệp hoạt động trong khu công nghiệp.
Phát triển bền vững tiếp tục là định hướng xuyên suốt, theo đó, hệ thống khu công nghiệp Việt Nam cần chuyển đổi nhanh nhưng có lộ trình phù hợp, từng bước nâng cấp các khu công nghiệp phổ thông được xây dựng trong các thập kỷ trước sang các mô hình khu công nghiệp sinh thái, giảm thiểu ô nhiễm môi trường và đáp ứng các tiêu chuẩn ESG (môi trường, xã hội và quản trị), phù hợp với định hướng phát triển của quốc gia và xu thế chung của thế giới.
Về tầm nhìn dài hạn đến năm 2045, việc điều chỉnh và phát triển mới hệ thống khu công nghiệp Việt Nam cần gắn với mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 17/11/2022, hướng tới mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia công nghiệp phát triển, có thu nhập cao và thuộc nhóm các nước công nghiệp tiên tiến ở châu Á.
Trong đó, hệ thống khu công nghiệp được xác định là một trụ cột quan trọng của phát triển kinh tế, là địa bàn thu hút đầu tư, gia tăng giá trị xuất khẩu và cải thiện năng lực nội địa, đồng thời là nền tảng cho quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp theo hướng ưu tiên các ngành công nghệ cao, sản xuất sạch, tích hợp phát triển công nghiệp hỗ trợ và logistics hiện đại.
Trên cơ sở đó, hệ thống khu công nghiệp Việt Nam cần tiếp tục được đầu tư và hoàn thiện toàn diện để nâng tầm cạnh tranh quốc tế, trở thành điểm đến hấp dẫn của dòng vốn FDI chất lượng cao và có khả năng tham gia sâu vào chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu.
Để hiện thực hóa các mục tiêu phát triển đối với hệ thống khu công nghiệp Việt Nam trong giai đoạn đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045, các giải pháp mang tính chiến lược cần được tập trung triển khai quyết liệt ngay trong 1- 2 năm tới.
Trước hết, việc hoàn thiện chính sách và thể chế cần được đặt lên hàng đầu thông qua rà soát, sửa đổi các cơ chế thu hút đầu tư, chính sách ưu đãi về thuế và đất đai theo hướng minh bạch, ổn định và có sức cạnh tranh cao hơn so với các quốc gia trong khu vực.
Song song với đó là yêu cầu phát triển hạ tầng khu công nghiệp theo hướng thông minh và bền vững, trong đó chú trọng đầu tư hạ tầng số hóa như Internet vạn vật, tự động hóa, logistics thông minh, đồng thời đẩy mạnh phát triển các mô hình khu công nghiệp sinh thái nhằm tối ưu hóa sử dụng tài nguyên và giảm thiểu tác động đến môi trường.
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cũng là một giải pháp then chốt, đòi hỏi phải triển khai hiệu quả các chính sách đào tạo, tăng cường liên kết giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp với doanh nghiệp trong khu công nghiệp, đồng thời thu hút lao động chất lượng cao thông qua việc cải thiện điều kiện sống và làm việc cho người lao động.
Bên cạnh đó, thúc đẩy liên kết chuỗi cung ứng cần được xem là trọng tâm nhằm nâng cao giá trị gia tăng nội địa, thông qua phát triển mạnh công nghiệp hỗ trợ, gia tăng tỷ lệ nội địa hóa linh kiện, phụ tùng và xây dựng mạng lưới liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp trong nước.
Cùng với các giải pháp trên, việc thu hút đầu tư chiến lược cần được đẩy mạnh thông qua tăng cường ngoại giao kinh tế, quảng bá hình ảnh khu công nghiệp Việt Nam như một điểm đến đầu tư hấp dẫn, đồng thời ưu tiên thu hút các dự án công nghệ mũi nhọn, thân thiện với môi trường và có đóng góp lớn cho kim ngạch xuất khẩu.
Có thể khẳng định, hệ thống khu công nghiệp Việt Nam giữ vai trò nền tảng trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Kỳ vọng trong giai đoạn đến năm 2030, hệ thống khu công nghiệp sẽ tiếp tục được mở rộng về quy mô, đồng thời nâng cao chất lượng phát triển, gắn kết sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Với tầm nhìn đến năm 2045, mục tiêu đặt ra là đưa Việt Nam trở thành quốc gia công nghiệp phát triển, có nền kinh tế bền vững, năng động và năng lực cạnh tranh cao trong khu vực châu Á. Để đạt được mục tiêu đó, chính sách nhất quán, hạ tầng hiện đại và môi trường đầu tư hấp dẫn sẽ là những yếu tố then chốt quyết định sự thành công của chiến lược phát triển hệ thống khu công nghiệp Việt Nam trong giai đoạn mới.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8/2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html
-
Khu công nghiệp bước vào kỷ nguyên mới
Trong bối cảnh tư duy kế hoạch hóa vẫn chi phối mạnh mẽ hoạt động quản lý kinh tế thời kỳ đó, ngay cả kế hoạch 5 năm 1991–1995 cũng chỉ dám đặt mục tiêu thu hút FDI ở mức 2 tỷ USD cho cả giai đoạn. Nếu đem con số này so với quy mô vốn FDI đăng ký được cấp phép năm 2025, ước đạt gần 39 tỷ USD, trong đó riêng đầu tư vào các khu công nghiệp đã vượt trên 30 tỷ USD, có thể thấy sự phát triển của hệ thống khu công nghiệp Việt Nam đã ghi nhận một bước tiến dài và mang tính đột phá.
Tính đến hết tháng 9/2025, cả nước đã thành lập 478 khu công nghiệp, trong đó có 421 khu công nghiệp nằm ngoài các khu kinh tế, 49 khu công nghiệp thuộc các khu kinh tế ven biển và 8 khu công nghiệp trong các khu kinh tế cửa khẩu. Toàn bộ các khu công nghiệp này đều đã có quyết định thành lập, có chủ đầu tư xây dựng hạ tầng và đang thu hút các nhà đầu tư thứ cấp triển khai dự án sản xuất, kinh doanh.
Riêng 421 khu công nghiệp nằm ngoài các khu kinh tế có tổng diện tích đất tự nhiên khoảng 145,97 nghìn ha, hình thành quỹ đất công nghiệp khoảng 101,6 nghìn ha. Trong tổng số các khu công nghiệp đã được thành lập, hiện có 324 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động với tổng diện tích đất tự nhiên khoảng 95,7 nghìn ha và diện tích đất công nghiệp khoảng 68 nghìn ha.
Bên cạnh đó, 153 khu công nghiệp đang trong giai đoạn xây dựng, với tổng diện tích đất tự nhiên khoảng 50,46 nghìn ha, dự kiến bổ sung thêm khoảng 32,6 nghìn ha đất công nghiệp cho nền kinh tế. Hệ thống khu công nghiệp Việt Nam hiện tập trung chủ yếu tại hai trung tâm công nghiệp lớn là vùng Đông Nam Bộ và vùng Đồng bằng sông Hồng.
Theo tổng kết của Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Tài chính, trong giai đoạn 30 năm hình thành và phát triển khu công nghiệp từ năm 1991 đến 2020, giai đoạn 2001-2010 là thời kỳ phát triển mạnh mẽ nhất, với 195 khu công nghiệp được thành lập, tổng diện tích đạt 59.470 ha, chiếm 52,8% về số lượng và 52,1% về diện tích khu công nghiệp của toàn bộ giai đoạn 1991-2020.
Trong giai đoạn 5 năm 2021-2025, đặc biệt là giai đoạn 2021-2024, vốn đầu tư xây dựng hạ tầng khu công nghiệp và vốn đầu tư của các dự án sản xuất trong khu công nghiệp chiếm khoảng 27,7% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Hoạt động của các khu công nghiệp tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong gia tăng kim ngạch xuất khẩu, mở rộng thị trường và chuyển dịch cơ cấu ngành hàng xuất khẩu, với giá trị xuất khẩu bình quân hằng năm chiếm khoảng 55% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Đồng thời, các khu công nghiệp đã thu hút và tạo việc làm trực tiếp cho khoảng 3,83 triệu lao động, tương đương khoảng 7% lực lượng lao động toàn quốc. Riêng trong năm 2025, theo dự báo, khoảng 30 tỷ USD vốn FDI đã được đầu tư vào các khu công nghiệp Việt Nam.
Trước yêu cầu chung của phát triển kinh tế - xã hội theo hướng xanh và bền vững, công tác bảo vệ môi trường tại các khu công nghiệp cũng được chú trọng đẩy mạnh. Đến nay, khoảng 92% khu công nghiệp đang hoạt động đã có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường, với tổng công suất tối đa trên 1,3 triệu m3 nước thải mỗi ngày đêm. Cùng với đó, một xu hướng đáng chú ý trong quá trình hình thành các khu công nghiệp mới là phát triển mô hình khu công nghiệp sinh thái, nhằm giảm thiểu tác động đến môi trường, nâng cao chất lượng sống cho người lao động và thúc đẩy phát triển xanh, bền vững.
Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng của nền kinh tế Việt Nam, mô hình khu công nghiệp cũng đang từng bước chuyển đổi, từ chỗ chủ yếu cung cấp hạ tầng sang trở thành trung tâm kết nối chuỗi giá trị, nơi hội tụ dòng vốn FDI, công nghệ và sự chia sẻ thị trường giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Đây được xem là hướng phát triển mới, phù hợp với yêu cầu nâng cao giá trị gia tăng, mở rộng thị trường và gia tăng năng lực cạnh tranh của hệ thống khu công nghiệp Việt Nam trong giai đoạn tới.
Trong quá trình phát triển vừa qua, hệ thống các khu công nghiệp Việt Nam đã từng bước vượt qua nhiều khó khăn, trở ngại và đạt được những kết quả quan trọng. Tuy nhiên, trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội của đất nước giai đoạn tới, hệ thống khu công nghiệp vẫn phải đối mặt với không ít thách thức.
Trước hết là sự mất cân đối giữa cung và cầu đất công nghiệp giữa các vùng, khi một số khu vực có nhu cầu rất cao nhưng khả năng mở rộng hạ tầng còn hạn chế, khiến hệ thống khu công nghiệp chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển.
Bên cạnh đó, tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao và lao động kỹ thuật, đặc biệt trong các ngành công nghệ cao, tiếp tục là điểm nghẽn lớn.
Cùng với đó, cạnh tranh khu vực trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ngày càng gay gắt, đòi hỏi môi trường đầu tư của Việt Nam phải có tính cạnh tranh cao hơn.
Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về sự đồng bộ của hệ thống pháp luật, chính sách liên quan đến doanh nghiệp và hoạt động đầu tư, kinh doanh; thủ tục hành chính cần rõ ràng, minh bạch hơn; thời gian xử lý các vướng mắc cho doanh nghiệp phải được rút ngắn; tinh thần phục vụ doanh nghiệp và nhà đầu tư của đội ngũ cán bộ, công chức thực thi công vụ cần tiếp tục được nâng cao và được giám sát chặt chẽ về thời gian cũng như chất lượng xử lý công việc theo đúng các quy định đã đặt ra của các bộ, ngành và địa phương.
Nếu những tồn tại này được khắc phục kịp thời và hiệu quả, năng lực cạnh tranh của môi trường đầu tư Việt Nam sẽ được nâng cao rõ rệt, qua đó củng cố vị thế của Việt Nam như một điểm đến đầu tư hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Khi thu hút được dòng vốn đầu tư chất lượng cao, các mục tiêu phát triển hệ thống khu công nghiệp Việt Nam trong giai đoạn tới sẽ có cơ sở vững chắc để hiện thực hóa.
Theo đó, hệ thống khu công nghiệp sẽ tiếp tục được mở rộng theo đúng quy hoạch phát triển chung trên phạm vi cả nước, với định hướng đến năm 2030 quy hoạch phát triển mới 221 khu công nghiệp, mở rộng 76 khu công nghiệp và điều chỉnh quy hoạch 22 khu công nghiệp.
Song song với mở rộng quy mô, các khu công nghiệp cần được định hướng tăng trưởng theo chuỗi giá trị, không chỉ là không gian sản xuất đơn thuần mà từng bước trở thành cầu nối về công nghệ, thị trường và tổ chức liên kết giữa khu vực đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp trong nước, bao gồm cả các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, qua đó giúp doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Cùng với đó là yêu cầu phát triển hạ tầng kỹ thuật hiện đại gắn với số hóa, logistics thông minh, tích hợp năng lượng tái tạo và thúc đẩy chuyển đổi số nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho cả khu công nghiệp và doanh nghiệp hoạt động trong khu công nghiệp.
Phát triển bền vững tiếp tục là định hướng xuyên suốt, theo đó, hệ thống khu công nghiệp Việt Nam cần chuyển đổi nhanh nhưng có lộ trình phù hợp, từng bước nâng cấp các khu công nghiệp phổ thông được xây dựng trong các thập kỷ trước sang các mô hình khu công nghiệp sinh thái, giảm thiểu ô nhiễm môi trường và đáp ứng các tiêu chuẩn ESG (môi trường, xã hội và quản trị), phù hợp với định hướng phát triển của quốc gia và xu thế chung của thế giới.
Về tầm nhìn dài hạn đến năm 2045, việc điều chỉnh và phát triển mới hệ thống khu công nghiệp Việt Nam cần gắn với mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 17/11/2022, hướng tới mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia công nghiệp phát triển, có thu nhập cao và thuộc nhóm các nước công nghiệp tiên tiến ở châu Á.
Trong đó, hệ thống khu công nghiệp được xác định là một trụ cột quan trọng của phát triển kinh tế, là địa bàn thu hút đầu tư, gia tăng giá trị xuất khẩu và cải thiện năng lực nội địa, đồng thời là nền tảng cho quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp theo hướng ưu tiên các ngành công nghệ cao, sản xuất sạch, tích hợp phát triển công nghiệp hỗ trợ và logistics hiện đại.
Trên cơ sở đó, hệ thống khu công nghiệp Việt Nam cần tiếp tục được đầu tư và hoàn thiện toàn diện để nâng tầm cạnh tranh quốc tế, trở thành điểm đến hấp dẫn của dòng vốn FDI chất lượng cao và có khả năng tham gia sâu vào chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu.
Để hiện thực hóa các mục tiêu phát triển đối với hệ thống khu công nghiệp Việt Nam trong giai đoạn đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045, các giải pháp mang tính chiến lược cần được tập trung triển khai quyết liệt ngay trong 1- 2 năm tới.
Trước hết, việc hoàn thiện chính sách và thể chế cần được đặt lên hàng đầu thông qua rà soát, sửa đổi các cơ chế thu hút đầu tư, chính sách ưu đãi về thuế và đất đai theo hướng minh bạch, ổn định và có sức cạnh tranh cao hơn so với các quốc gia trong khu vực.
Song song với đó là yêu cầu phát triển hạ tầng khu công nghiệp theo hướng thông minh và bền vững, trong đó chú trọng đầu tư hạ tầng số hóa như Internet vạn vật, tự động hóa, logistics thông minh, đồng thời đẩy mạnh phát triển các mô hình khu công nghiệp sinh thái nhằm tối ưu hóa sử dụng tài nguyên và giảm thiểu tác động đến môi trường.
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cũng là một giải pháp then chốt, đòi hỏi phải triển khai hiệu quả các chính sách đào tạo, tăng cường liên kết giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp với doanh nghiệp trong khu công nghiệp, đồng thời thu hút lao động chất lượng cao thông qua việc cải thiện điều kiện sống và làm việc cho người lao động.
Bên cạnh đó, thúc đẩy liên kết chuỗi cung ứng cần được xem là trọng tâm nhằm nâng cao giá trị gia tăng nội địa, thông qua phát triển mạnh công nghiệp hỗ trợ, gia tăng tỷ lệ nội địa hóa linh kiện, phụ tùng và xây dựng mạng lưới liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp trong nước.
Cùng với các giải pháp trên, việc thu hút đầu tư chiến lược cần được đẩy mạnh thông qua tăng cường ngoại giao kinh tế, quảng bá hình ảnh khu công nghiệp Việt Nam như một điểm đến đầu tư hấp dẫn, đồng thời ưu tiên thu hút các dự án công nghệ mũi nhọn, thân thiện với môi trường và có đóng góp lớn cho kim ngạch xuất khẩu.
Có thể khẳng định, hệ thống khu công nghiệp Việt Nam giữ vai trò nền tảng trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Kỳ vọng trong giai đoạn đến năm 2030, hệ thống khu công nghiệp sẽ tiếp tục được mở rộng về quy mô, đồng thời nâng cao chất lượng phát triển, gắn kết sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Với tầm nhìn đến năm 2045, mục tiêu đặt ra là đưa Việt Nam trở thành quốc gia công nghiệp phát triển, có nền kinh tế bền vững, năng động và năng lực cạnh tranh cao trong khu vực châu Á. Để đạt được mục tiêu đó, chính sách nhất quán, hạ tầng hiện đại và môi trường đầu tư hấp dẫn sẽ là những yếu tố then chốt quyết định sự thành công của chiến lược phát triển hệ thống khu công nghiệp Việt Nam trong giai đoạn mới.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8/2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html
-
Chủ tịch UBND Hà Nội: Đột phá thể chế, tái cấu trúc không gian, tạo nền cho tăng trưởng hai con số.
Theo Chủ tịch UBND thành phố, năm 2025 mang ý nghĩa đặc biệt khi vừa là năm về đích của nhiệm kỳ 2021-2025, vừa là năm tổ chức Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ XVIII, mở ra chặng phát triển 2026-2030.
Ngay sau Đại hội, Hà Nội đã triển khai Nghị quyết với tinh thần “đã nói là làm, làm ngay, làm đúng, làm đến cùng”, nhanh chóng cụ thể hóa nhiều nội dung và đưa vào cuộc sống chỉ trong ba tháng cuối năm.
TỪ “TẠO ĐÀ, TẠO THẾ” ĐẾN NỀN TẢNG VỮNG VÀNG CHO NHIỆM KỲ MỚI
Những kết quả nổi bật thể hiện rõ sự chuyển biến về tư duy lãnh đạo và năng lực hành động của chính quyền thành phố. Nhiều tồn đọng kéo dài được tháo gỡ, đặc biệt trong giải phóng mặt bằng và triển khai các dự án hạ tầng quy mô lớn như: Vành đai 1, Vành đai 2,5.
Kết quả này đến từ việc điều chỉnh kịp thời phương thức lãnh đạo, quán triệt nguyên tắc tập trung dân chủ; phân định rõ vai trò Đảng lãnh đạo, HĐND quyết nghị, UBND tổ chức thực hiện, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội tham gia giám sát, vận động.
Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Vũ Đại Thắng. Ảnh: hanoimoi.vnBốn trục công tác được điều phối nhịp nhàng, phân công rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm và rõ mục tiêu. Tinh thần chủ động của các cấp, ngành, địa phương, đặc biệt là 126 xã, phường theo mô hình chính quyền hai cấp, được phát huy mạnh mẽ. Cùng với đó, Ban Chấp hành Đảng bộ, Ban Thường vụ và Thường trực Thành ủy đã tạo luồng sinh khí mới, lan tỏa tinh thần đổi mới, quyết liệt trong toàn hệ thống.
Quan trọng hơn cả là niềm tin của nhân dân Thủ đô đối với các quyết sách và sự điều hành của thành phố tiếp tục được củng cố. Đây được xem là nền tảng để Hà Nội bước vào năm 2026 và nhiệm kỳ mới với tâm thế vững vàng, cùng cả nước thực hiện các mục tiêu của giai đoạn phát triển tiếp theo.
Bước sang năm 2026 – năm đầu triển khai Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ XVIII và Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV – Hà Nội đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP từ 11% trở lên. Theo Chủ tịch UBND thành phố, đây không chỉ là yêu cầu tăng tốc mà còn là bước xác lập mô hình tăng trưởng mới, chuyển mạnh từ dựa vào vốn, lao động và đất đai sang dựa trên năng suất, sáng tạo và phát triển bền vững.
ĐỘT PHÁ THỂ CHẾ, MỞ ĐƯỜNG CHO TĂNG TRƯỞNG HAI CON SỐ
Động lực tăng trưởng mới của Thủ đô được xây dựng trên sáu trụ cột chiến lược. Trong đó, khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là khâu đột phá then chốt, hướng tới tỷ lệ đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) đạt 57-60% và kinh tế số chiếm khoảng 50% GRDP vào năm 2030.
Cùng với đó là phát huy giá trị văn hóa – di sản, kinh tế ven sông và phát triển công nghiệp văn hóa; tổ chức không gian đô thị đa cực theo mô hình TOD để giải quyết các điểm nghẽn về giao thông, ngập úng và ô nhiễm.
Khu vực phố Đinh Tiên Hoàng trong không gian hồ Hoàn Kiếm. Ảnh: TTXVNThành phố cũng tập trung cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, với định hướng thành lập khu thương mại tự do, trung tâm tài chính có cơ chế ưu đãi vượt trội; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, lấy Khu công nghệ cao Hòa Lạc làm trung tâm đào tạo và nghiên cứu AI, bán dẫn theo chuẩn quốc tế; đồng thời nâng cao năng lực quản trị và thực thi với nguyên tắc rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm và rõ sản phẩm.
Để bảo đảm tăng trưởng nhanh nhưng vẫn giữ vững ổn định và chất lượng, Hà Nội xác định ba nhóm giải pháp cốt lõi. Đó là:
Thứ nhất là đột phá thể chế, khai thác tối đa các cơ chế đặc thù, phát hành trái phiếu Thủ đô và hình thành quỹ đầu tư hạ tầng.
Thứ hai là huy động mạnh mẽ nguồn lực xã hội, với tổng nhu cầu vốn giai đoạn 2026-2030 khoảng 248 tỷ USD, chủ yếu từ khu vực ngoài ngân sách và các dự án hạ tầng lớn có hệ số lan tỏa cao.
Thứ ba là tăng cường kỷ luật, kỷ cương thực thi thông qua xây dựng kịch bản tăng trưởng chi tiết theo quý, ngành và địa bàn; đánh giá kết quả bằng sản phẩm cụ thể gắn với trách nhiệm cá nhân.
Song song với mục tiêu tăng trưởng, thành phố nhấn mạnh yêu cầu kiểm soát lạm phát, bảo đảm cân đối ngân sách, bảo vệ môi trường và an sinh xã hội. Theo Chủ tịch UBND thành phố, đây là những điều kiện tiên quyết để Hà Nội hiện thực hóa khát vọng tăng trưởng hai con số một cách bền vững.
Cùng với tăng trưởng kinh tế, Hà Nội thẳng thắn nhìn nhận ô nhiễm môi trường là một trong những điểm nghẽn lớn. Áp lực phát thải gia tăng trong quá trình đô thị hóa nhanh, quy mô dân số lớn và cường độ hoạt động kinh tế cao đã đặt ra yêu cầu phải có cách tiếp cận căn cơ, đồng bộ và dài hạn.
Theo đó, thành phố không chỉ tập trung xử lý các vấn đề trước mắt mà hướng tới xây dựng mô hình phát triển đô thị bền vững, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường.
Hà Nội đang hoàn thiện Quy hoạch Thủ đô với tầm nhìn 100 năm và đề xuất sửa đổi Luật Thủ đô nhằm tạo lập đầy đủ cơ chế, công cụ đặc thù cho quản lý phát triển theo hướng xanh, tuần hoàn và phát thải thấp.
TÁI CẤU TRÚC KHÔNG GIAN, BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SỐNG
Trong năm 2026, nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu là kiểm soát chặt chẽ các nguồn phát thải, đặc biệt là ô nhiễm không khí – vấn đề tác động trực tiếp đến sức khỏe và đời sống người dân.
Thành phố sẽ đẩy nhanh tiến độ làm sạch các dòng sông, hồ nội đô; đầu tư và nâng cao hiệu quả vận hành các nhà máy xử lý nước thải, nhà máy đốt rác phát điện; đồng thời ứng dụng khoa học – công nghệ, chuyển đổi số và hệ thống quan trắc thông minh để nâng cao năng lực quản trị môi trường theo thời gian thực.
Cùng với giải pháp kỹ thuật, Hà Nội chú trọng công tác tuyên truyền, vận động để người dân và doanh nghiệp cùng tham gia bảo vệ môi trường; tăng cường kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm các vi phạm.
Thành phố cũng đẩy mạnh phối hợp với các địa phương trong Vùng Thủ đô để giải quyết các vấn đề môi trường mang tính liên vùng, hướng tới hình thành khu vực phát thải thấp, phát triển hài hòa giữa đô thị và nông thôn.
Trong tái cấu trúc không gian đô thị, Hà Nội triển khai mô hình đa cực, đa trung tâm với chín cực phát triển, chín trung tâm lớn và chín trục động lực. Hạ tầng giao thông, đặc biệt là hệ thống đường sắt đô thị, được xác định là xương sống kết nối các cực tăng trưởng.
Theo quy hoạch, thành phố sẽ đầu tư 15 tuyến metro với tổng chiều dài khoảng 616,9km; giai đoạn đến năm 2035 phấn đấu hoàn thành hơn 410km, kết nối lõi nội đô với các khu vực phía Bắc, phía Tây và phía Nam.
Đi liền với đó là mô hình phát triển đô thị định hướng giao thông công cộng (TOD), cho phép hình thành các đô thị nén, hiện đại xung quanh nhà ga, tối ưu hóa giá trị đất đai để tái đầu tư hạ tầng.
Thành phố cũng thúc đẩy quản trị thông minh thông qua Trung tâm Điều hành đô thị thông minh (IOC), đồng thời triển khai lộ trình di dời trụ sở bộ ngành, đại học, bệnh viện ra khỏi nội đô lịch sử để dành quỹ đất cho không gian xanh và hạ tầng xã hội.
Một đột phá chiến lược khác là quy hoạch trục cảnh quan sông Hồng. Thành phố chuyển từ tư duy “đô thị quay lưng vào sông” sang “đô thị hướng sông”, coi sông Hồng là trục cảnh quan trung tâm và cực phát triển mới.
Quy hoạch được triển khai trên nguyên tắc bảo đảm an toàn thoát lũ, bảo tồn giá trị văn hóa – lịch sử, khai thác hiệu quả quỹ đất và phát triển hạ tầng kết nối đa phương thức. Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng cùng hệ thống cầu và tuyến đường sắt đô thị dọc hai bờ được kỳ vọng sẽ tạo động lực tăng trưởng mới, đồng thời nâng cao chất lượng không gian sống của người dân.
Xuyên suốt các định hướng phát triển, Chủ tịch UBND thành phố nhấn mạnh quan điểm phát triển nhanh nhưng không đánh đổi môi trường; coi chất lượng môi trường sống, sức khỏe và sự hài lòng của người dân là thước đo trung tâm trong điều hành.
Với quyết tâm chính trị cao và tinh thần hành động quyết liệt, Hà Nội đặt mục tiêu biến các quy hoạch và chiến lược dài hạn thành những chuyển biến cụ thể, hiện hữu trên từng công trình, từng tuyến phố, hướng tới một Thủ đô văn hiến, văn minh, hiện đại và hạnh phúc trong kỷ nguyên mới.
-Lý Hà
Chủ tịch UBND Hà Nội: Đột phá thể chế, tái cấu trúc không gian, tạo nền cho tăng trưởng hai con số.
Theo Chủ tịch UBND thành phố, năm 2025 mang ý nghĩa đặc biệt khi vừa là năm về đích của nhiệm kỳ 2021-2025, vừa là năm tổ chức Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ XVIII, mở ra chặng phát triển 2026-2030.
Ngay sau Đại hội, Hà Nội đã triển khai Nghị quyết với tinh thần “đã nói là làm, làm ngay, làm đúng, làm đến cùng”, nhanh chóng cụ thể hóa nhiều nội dung và đưa vào cuộc sống chỉ trong ba tháng cuối năm.
TỪ “TẠO ĐÀ, TẠO THẾ” ĐẾN NỀN TẢNG VỮNG VÀNG CHO NHIỆM KỲ MỚI
Những kết quả nổi bật thể hiện rõ sự chuyển biến về tư duy lãnh đạo và năng lực hành động của chính quyền thành phố. Nhiều tồn đọng kéo dài được tháo gỡ, đặc biệt trong giải phóng mặt bằng và triển khai các dự án hạ tầng quy mô lớn như: Vành đai 1, Vành đai 2,5.
Kết quả này đến từ việc điều chỉnh kịp thời phương thức lãnh đạo, quán triệt nguyên tắc tập trung dân chủ; phân định rõ vai trò Đảng lãnh đạo, HĐND quyết nghị, UBND tổ chức thực hiện, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội tham gia giám sát, vận động.
Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Vũ Đại Thắng. Ảnh: hanoimoi.vnBốn trục công tác được điều phối nhịp nhàng, phân công rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm và rõ mục tiêu. Tinh thần chủ động của các cấp, ngành, địa phương, đặc biệt là 126 xã, phường theo mô hình chính quyền hai cấp, được phát huy mạnh mẽ. Cùng với đó, Ban Chấp hành Đảng bộ, Ban Thường vụ và Thường trực Thành ủy đã tạo luồng sinh khí mới, lan tỏa tinh thần đổi mới, quyết liệt trong toàn hệ thống.
Quan trọng hơn cả là niềm tin của nhân dân Thủ đô đối với các quyết sách và sự điều hành của thành phố tiếp tục được củng cố. Đây được xem là nền tảng để Hà Nội bước vào năm 2026 và nhiệm kỳ mới với tâm thế vững vàng, cùng cả nước thực hiện các mục tiêu của giai đoạn phát triển tiếp theo.
Bước sang năm 2026 – năm đầu triển khai Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ XVIII và Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV – Hà Nội đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP từ 11% trở lên. Theo Chủ tịch UBND thành phố, đây không chỉ là yêu cầu tăng tốc mà còn là bước xác lập mô hình tăng trưởng mới, chuyển mạnh từ dựa vào vốn, lao động và đất đai sang dựa trên năng suất, sáng tạo và phát triển bền vững.
ĐỘT PHÁ THỂ CHẾ, MỞ ĐƯỜNG CHO TĂNG TRƯỞNG HAI CON SỐ
Động lực tăng trưởng mới của Thủ đô được xây dựng trên sáu trụ cột chiến lược. Trong đó, khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là khâu đột phá then chốt, hướng tới tỷ lệ đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) đạt 57-60% và kinh tế số chiếm khoảng 50% GRDP vào năm 2030.
Cùng với đó là phát huy giá trị văn hóa – di sản, kinh tế ven sông và phát triển công nghiệp văn hóa; tổ chức không gian đô thị đa cực theo mô hình TOD để giải quyết các điểm nghẽn về giao thông, ngập úng và ô nhiễm.
Khu vực phố Đinh Tiên Hoàng trong không gian hồ Hoàn Kiếm. Ảnh: TTXVNThành phố cũng tập trung cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, với định hướng thành lập khu thương mại tự do, trung tâm tài chính có cơ chế ưu đãi vượt trội; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, lấy Khu công nghệ cao Hòa Lạc làm trung tâm đào tạo và nghiên cứu AI, bán dẫn theo chuẩn quốc tế; đồng thời nâng cao năng lực quản trị và thực thi với nguyên tắc rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm và rõ sản phẩm.
Để bảo đảm tăng trưởng nhanh nhưng vẫn giữ vững ổn định và chất lượng, Hà Nội xác định ba nhóm giải pháp cốt lõi. Đó là:
Thứ nhất là đột phá thể chế, khai thác tối đa các cơ chế đặc thù, phát hành trái phiếu Thủ đô và hình thành quỹ đầu tư hạ tầng.
Thứ hai là huy động mạnh mẽ nguồn lực xã hội, với tổng nhu cầu vốn giai đoạn 2026-2030 khoảng 248 tỷ USD, chủ yếu từ khu vực ngoài ngân sách và các dự án hạ tầng lớn có hệ số lan tỏa cao.
Thứ ba là tăng cường kỷ luật, kỷ cương thực thi thông qua xây dựng kịch bản tăng trưởng chi tiết theo quý, ngành và địa bàn; đánh giá kết quả bằng sản phẩm cụ thể gắn với trách nhiệm cá nhân.
Song song với mục tiêu tăng trưởng, thành phố nhấn mạnh yêu cầu kiểm soát lạm phát, bảo đảm cân đối ngân sách, bảo vệ môi trường và an sinh xã hội. Theo Chủ tịch UBND thành phố, đây là những điều kiện tiên quyết để Hà Nội hiện thực hóa khát vọng tăng trưởng hai con số một cách bền vững.
Cùng với tăng trưởng kinh tế, Hà Nội thẳng thắn nhìn nhận ô nhiễm môi trường là một trong những điểm nghẽn lớn. Áp lực phát thải gia tăng trong quá trình đô thị hóa nhanh, quy mô dân số lớn và cường độ hoạt động kinh tế cao đã đặt ra yêu cầu phải có cách tiếp cận căn cơ, đồng bộ và dài hạn.
Theo đó, thành phố không chỉ tập trung xử lý các vấn đề trước mắt mà hướng tới xây dựng mô hình phát triển đô thị bền vững, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường.
Hà Nội đang hoàn thiện Quy hoạch Thủ đô với tầm nhìn 100 năm và đề xuất sửa đổi Luật Thủ đô nhằm tạo lập đầy đủ cơ chế, công cụ đặc thù cho quản lý phát triển theo hướng xanh, tuần hoàn và phát thải thấp.
TÁI CẤU TRÚC KHÔNG GIAN, BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SỐNG
Trong năm 2026, nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu là kiểm soát chặt chẽ các nguồn phát thải, đặc biệt là ô nhiễm không khí – vấn đề tác động trực tiếp đến sức khỏe và đời sống người dân.
Thành phố sẽ đẩy nhanh tiến độ làm sạch các dòng sông, hồ nội đô; đầu tư và nâng cao hiệu quả vận hành các nhà máy xử lý nước thải, nhà máy đốt rác phát điện; đồng thời ứng dụng khoa học – công nghệ, chuyển đổi số và hệ thống quan trắc thông minh để nâng cao năng lực quản trị môi trường theo thời gian thực.
Cùng với giải pháp kỹ thuật, Hà Nội chú trọng công tác tuyên truyền, vận động để người dân và doanh nghiệp cùng tham gia bảo vệ môi trường; tăng cường kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm các vi phạm.
Thành phố cũng đẩy mạnh phối hợp với các địa phương trong Vùng Thủ đô để giải quyết các vấn đề môi trường mang tính liên vùng, hướng tới hình thành khu vực phát thải thấp, phát triển hài hòa giữa đô thị và nông thôn.
Trong tái cấu trúc không gian đô thị, Hà Nội triển khai mô hình đa cực, đa trung tâm với chín cực phát triển, chín trung tâm lớn và chín trục động lực. Hạ tầng giao thông, đặc biệt là hệ thống đường sắt đô thị, được xác định là xương sống kết nối các cực tăng trưởng.
Theo quy hoạch, thành phố sẽ đầu tư 15 tuyến metro với tổng chiều dài khoảng 616,9km; giai đoạn đến năm 2035 phấn đấu hoàn thành hơn 410km, kết nối lõi nội đô với các khu vực phía Bắc, phía Tây và phía Nam.
Đi liền với đó là mô hình phát triển đô thị định hướng giao thông công cộng (TOD), cho phép hình thành các đô thị nén, hiện đại xung quanh nhà ga, tối ưu hóa giá trị đất đai để tái đầu tư hạ tầng.
Thành phố cũng thúc đẩy quản trị thông minh thông qua Trung tâm Điều hành đô thị thông minh (IOC), đồng thời triển khai lộ trình di dời trụ sở bộ ngành, đại học, bệnh viện ra khỏi nội đô lịch sử để dành quỹ đất cho không gian xanh và hạ tầng xã hội.
Một đột phá chiến lược khác là quy hoạch trục cảnh quan sông Hồng. Thành phố chuyển từ tư duy “đô thị quay lưng vào sông” sang “đô thị hướng sông”, coi sông Hồng là trục cảnh quan trung tâm và cực phát triển mới.
Quy hoạch được triển khai trên nguyên tắc bảo đảm an toàn thoát lũ, bảo tồn giá trị văn hóa – lịch sử, khai thác hiệu quả quỹ đất và phát triển hạ tầng kết nối đa phương thức. Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng cùng hệ thống cầu và tuyến đường sắt đô thị dọc hai bờ được kỳ vọng sẽ tạo động lực tăng trưởng mới, đồng thời nâng cao chất lượng không gian sống của người dân.
Xuyên suốt các định hướng phát triển, Chủ tịch UBND thành phố nhấn mạnh quan điểm phát triển nhanh nhưng không đánh đổi môi trường; coi chất lượng môi trường sống, sức khỏe và sự hài lòng của người dân là thước đo trung tâm trong điều hành.
Với quyết tâm chính trị cao và tinh thần hành động quyết liệt, Hà Nội đặt mục tiêu biến các quy hoạch và chiến lược dài hạn thành những chuyển biến cụ thể, hiện hữu trên từng công trình, từng tuyến phố, hướng tới một Thủ đô văn hiến, văn minh, hiện đại và hạnh phúc trong kỷ nguyên mới.
-Lý Hà
Đẩy mạnh đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới
Nhìn lại lịch sử cách mạng Việt Nam, vận hội của đất nước luôn gắn liền với những biến chuyển của thời đại. Ngay sau khi giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói “sau vấn đề phòng thủ, ngoại giao là một vấn đề cần yếu cho một nước độc lập”, khẳng định mạnh mẽ vai trò và trách nhiệm của đối ngoại đối với quốc gia, dân tộc.
Đại hội XIV của Đảng là mốc son lịch sử, mở ra cánh cửa bước vào kỷ nguyên mới của dân tộc. Dưới ánh sáng của Đại hội XIV, đối ngoại- một nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên- sẽ được triển khai toàn diện ở tầm cao mới, nhịp đập của Việt Nam hòa cùng nhịp đập của thế giới, thở cùng hơi thở của thời đại, kiến tạo hòa bình, bồi đắp thịnh vượng và xây dựng vị thế cao hơn, vững chắc hơn cho đất nước, cho dân tộc.
VIỆT NAM TRƯỚC NGƯỠNG CỬA CỦA THỜI ĐẠI
Thế giới đang đang chứng kiến những chuyển dịch nhanh, cường độ mạnh, tác động sâu rộng, mang tính thời đại. Các xu hướng vận động đan xen, trái chiều nhau, vừa gắn kết, phụ thuộc lẫn nhau sâu hơn nhưng cũng vừa chia rẽ, cạnh tranh mạnh hơn. Nhân loại bước vào một giai đoạn tiềm ẩn những rủi ro nhưng cũng mở ra nhiều cơ hội phát triển mới. Không một quốc gia nào, dù lớn hay nhỏ, dù phát triển hay đang phát triển, có thể đứng ngoài sự vận động của thời cuộc.
Một mặt, hệ thống quan hệ quốc tế đa phương và luật pháp quốc tế bị xói mòn, tranh chấp chủ quyền, xung đột lãnh thổ gia tăng. Cạnh tranh chính trị, kinh tế đi đôi với giành quyền kiểm soát công nghệ, năng lượng và hạ tầng chiến lược. Các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống ngày càng gay gắt cả về quy mô lẫn tính chất. Mặt khác, những xu thế, trào lưu đương đại về hòa bình, hợp tác và phát triển, tăng trưởng bền vững, bao trùm và toàn cầu hóa vẫn tiếp diễn. Cộng đồng quốc tế đa số đều mong muốn kiến tạo một trật tự thế giới dân chủ, công bằng, bình đẳng, dựa trên luật pháp quốc tế. Cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang mở ra không gian phát triển vô tận dựa trên tri thức và tiềm năng con người.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đánh dấu kỷ nguyên mới của Dân tộc Việt Nam sau 96 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, 80 năm giành được độc lập và 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới. Tiếp sau kỷ nguyên độc lập, tự do, xây dựng chủ nghĩa xã hội và kỷ nguyên đổi mới, đất nước bắt đầu bước vào kỷ nguyên phát triển phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, sánh vai với các cường quốc năm châu.
Giai đoạn thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng (2026-2031) là giai đoạn bản lề, có tính quyết định việc bứt phá trở thành nước phát triển, thu nhập cao, trình độ tiên tiến. Hoặc sẽ lặp lại bài học mắc kẹt trong bẫy thu nhập trung bình khi nhiều điểm nghẽn có tính cấu trúc trong mô hình phát triển và quản trị quốc gia dần bộc lộ. Lịch sử cho thấy trong thời kỳ quá độ giữa cái cũ và cái mới, nếu không kịp thời bắt nhịp với thế giới và xu thế của thời đại, nguy cơ tụt hậu sẽ hiện hữu hơn bao giờ hết.
ĐẨY MẠNH ĐỐI NGOẠI TOÀN DIỆN Ở TẦM CAO MỚI
“Hội tụ” yêu cầu của thời đại và đòi hỏi của đất nước, việc hiện thực hóa hai mục tiêu chiến lược 100 năm là cam kết chính trị - lịch sử của Đảng trước nhân dân và cộng đồng quốc tế. Lịch sử nhân loại đã chứng minh: quốc gia nào có sự chủ động chiến lược, nắm bắt sức mạnh thời đại để gia tăng nội lực thì sẽ thành công. Trong chiều dài của lịch sử nhân loại, thực tiễn thế giới cho thấy quy luật nhất quán: không một quốc gia phát triển hùng mạnh nào mà không xây dựng một nền đối ngoại mạnh. Trong thế giới ngày nay, an ninh và phát triển của mỗi quốc gia không thể biệt lập, đứng bên ngoài những tác động của thế giới và thời đại, của thời cuộc và cục diện.
Đứng trước những thời khắc lịch sử, đất nước cần có những quyết sách lịch sử. Kỷ nguyên mới đòi hỏi phải triển khai “đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới”: Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia dân tộc; lấy hòa bình, độc lập, tự chủ, tự cường là nền tảng; đặt người dân là trung tâm của mọi chính sách; coi đóng góp cho cộng đồng quốc tế là trách nhiệm. Ở tầm cao mới, đối ngoại sẽ được triển khai một cách tự tin, tự chủ, tự lực, tự cường hơn; đóng góp hiệu quả hơn vào những mục tiêu chiến lược của đất nước; thể hiện trách nhiệm lớn hơn đối với hòa bình và phát triển của thế giới.
Đó là nền đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới về mục tiêu. Mọi hoạt động đối ngoại đều hướng đến mục tiêu bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc, vì Đảng vững mạnh, vì nước Việt Nam giàu mạnh, vì ấm no, hạnh phúc của nhân dân; hội nhập sâu rộng và có vị trí, vai trò quan trọng trong nền chính trị thế giới, nền kinh tế toàn cầu và nền văn minh nhân loại, đóng góp vào hòa bình, ổn định, công bằng, tiến bộ xã hội và sự phát triển phồn vinh của các dân tộc trong khu vực và trên thế giới.
Đó là nền đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới về lĩnh vực. Đối ngoại không phải là lĩnh vực riêng rẽ mà gắn kết chặt chẽ giữa đối ngoại với quốc phòng, an ninh, kinh tế, khoa học, công nghệ và văn hóa, xã hội, tạo sức mạnh tổng hợp phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đường lối đối ngoại toàn diện đặt phát triển kinh tế – xã hội làm trọng tâm, coi ngoại giao phục vụ phát triển và hội nhập quốc tế là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên.
Đó là nền đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới về chủ thể. Đối ngoại toàn diện là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, phát huy vai trò của cả ba kênh đối ngoại: đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại Nhân dân, đồng thời huy động sự tham gia của đối ngoại Quốc hội, các bộ, ban, ngành và địa phương; giữa đối ngoại với quốc phòng, an ninh và giữa ngoại giao chính trị với ngoại giao kinh tế, văn hóa, khoa học, công nghệ….
TRIỂN KHAI NHIỆM VỤ "TRỌNG YẾU, THƯỜNG XUYÊN" CỦA ĐỐI NGOẠI
Đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới là sự kết hợp giữa kế thừa và phát triển. Đối ngoại tiếp tục kiên định: đường lối độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Đồng thời nền đối ngoại Việt Nam tiếp tục phát triển, tiếp thu những tinh hoa, tri thức và phương pháp của ngoại giao hiện đại, thấm nhuần tinh thần “dĩ bất biến ứng vạn biến”. Con đường hòa bình, độc lập, tự chủ, tự cường không chỉ để xây dựng một đất nước giàu mạnh cho nhân dân mình mà còn để đóng góp có trách nhiệm cho hòa bình, ổn định của khu vực và trật tự thế giới dựa trên luật pháp. Đó là kim chỉ nam, là nền tảng đạo lý và là nguyên tắc cơ bản để chúng ta xây dựng các mối quan hệ đối ngoại bền vững.
Đồng thời đối ngoại toàn diện phát triển lên một tầm cao mới, trong đó đối ngoại và hội nhập quốc tế phải là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên”. Đây là bước phát triển quan trọng về tư duy, theo đó đối ngoại, hội nhập quốc tế là một trong những nhiệm vụ chủ yếu, có tầm quan trọng hàng đầu; đồng thời phải được tiến hành thường xuyên, yêu cầu tính chủ động, nhạy bén, kịp thời và hiệu quả cao. Tư tưởng đó đặt đối ngoại ở một vị trí trung tâm, với trách nhiệm và vai trò cao hơn đối với an ninh và phát triển của đất nước: Giữ vững hòa bình để ổn định, ổn định để phát triển, phát triển để nâng cao sức mạnh tổng thể của đất nước. Theo đó đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới sẽ triển khai những nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên theo các hướng sau:
Thứ nhất, đối ngoại phát huy vai trò tiên phong, thực hiện nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên trong việc tạo lập cục diện quốc tế thuận lợi cho đất nước. Thế giới càng biến động, việc củng cố hòa bình, ổn định cho đất nước càng có vai trò trọng yếu, then chốt. Đối ngoại phải có sự “chủ động chiến lược” trong mọi tình huống, giữ cho “trong ấm, ngoài êm”: giữ ổn định, phát triển ở bên trong, giữ hòa bình, hợp tác với bên ngoài. Cùng với quốc phòng, an ninh, đối ngoại kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và nền văn hóa; giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình để xây dựng, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đồng thời thúc đẩy giải quyết các khác biệt bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc.
Thứ hai, đối ngoại là động lực tạo dựng các điều kiện thuận lợi, tranh thủ nguồn lực bên ngoài và mở ra không gian phát triển mới cho đất nước. Thế giới được định hình bởi các xu hướng mới, những quốc gia thành công là những nước chủ động nắm bắt, đi trước, đặt mình vào dòng chảy thời đại. Nhiệm vụ của đối ngoại là nhận diện, tranh thủ cơ hội từ những xu hướng đang định hình kinh tế thế giới hiện nay như đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, lượng tử, tự động hóa...; chuyển hóa được quan hệ tốt đẹp về chính trị thành những kết quả cụ thể về kinh tế, có thể đo đếm và lan tỏa trực tiếp đến người dân thông qua các thỏa thuận kinh tế, hiệp định thương mại và đầu tư, hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam vươn ra thế giới, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng khu vực, toàn cầu.
Thứ ba, đối ngoại thể hiện tinh thần trách nhiệm cao đối với cộng đồng quốc tế, đóng góp vào xây dựng và bảo vệ trật tự quốc tế công bằng, bình đẳng dựa trên luật pháp quốc tế. Trong một thế giới toàn cầu hóa, lợi ích của quốc gia – dân tộc, của công dân, doanh nghiệp Việt Nam không chỉ nằm trong đường biên giới lãnh thổ. Bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc Việt Nam gắn liền với việc bảo vệ trật tự thế giới công bằng, bình đẳng, dựa trên luật pháp quốc tế. Thế và lực mới cho phép chúng ta đóng góp tích cực, trách nhiệm đối với các vấn đề chung của thế giới. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói “Mình đã hưởng cái hay của người thì phải có cái hay cho người ta hưởng”, Việt Nam sẽ tiếp tục các cam kết của mình về phát triển bền vững, an ninh lương thực, biến đổi khí hậu, giảm phát thải ròng; đồng thời tham gia sâu hơn vào các hoạt động gìn giữ hòa bình, cứu hộ cứu nạn, viện trợ nhân đạo, trung gian, hòa giải và phát huy vai trò nòng cốt, dẫn dắt trong những vấn đề và cơ chế quan trọng, phù hợp.
Thứ tư, phát huy “sức mạnh mềm” của dân tộc tương xứng với tầm vóc lịch sử và văn hóa, vị thế chính trị và kinh tế của đất nước. Vị thế, uy tín đất nước không chỉ nằm ở sức mạnh vật chất mà còn là “sức mạnh mềm”. Đó là lịch sử hào hùng, nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới, là đường lối đối ngoại hòa bình, hòa hiếu, xử lý các vấn đề quốc tế hài hòa, có lý, có tình, tôn trọng luật pháp quốc tế, là sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân thế giới. Ở tầm cao mới, đối ngoại đối ngoại phải góp phần gia tăng vị thế, ảnh hưởng của đất nước trong nền chính trị thế giới, kinh tế toàn cầu và văn minh nhân loại.
Thứ năm, xây dựng nền đối ngoại và ngoại giao toàn diện, hiện đại, chuyên nghiệp. Kỷ nguyên mới đòi hỏi xây dựng nền đối ngoại ngang tầm khu vực và vươn tầm quốc tế. Các cán bộ đối ngoại, ngoại giao phải dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới sáng tạo, dám tiên phong, đột phá vì lợi ích quốc gia – dân tộc; nhạy bén về thời thế, sâu sắc về chiến lược, có kỷ luật, kỷ cương và có kỹ năng, trình độ ngang tầm quốc tế. Đối ngoại toàn diện không chỉ là nhiệm vụ của một bộ, một ngành mà là sự nghiệp của toàn dân, của cả hệ thống chính trị để tạo sức mạnh tổng hợp.
Trước những biến động của thời cuộc, đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới phải lấy bản lĩnh, trí tuệ là la bàn định hướng; tin cậy, trách nhiệm là cầu nối hợp tác; hòa hiếu, luật pháp là nơi neo đậu giá trị. Chúng ta tin tưởng rằng đối ngoại Việt Nam sẽ tiếp tục tạo lập và gìn giữ hòa bình, ổn định, mở rộng không gian phát triển và nâng tầm vị thế đất nước, góp phần hoàn thành di nguyện thiêng liêng của Bác Hồ: "Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới".
-
Đẩy mạnh đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới
Nhìn lại lịch sử cách mạng Việt Nam, vận hội của đất nước luôn gắn liền với những biến chuyển của thời đại. Ngay sau khi giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói “sau vấn đề phòng thủ, ngoại giao là một vấn đề cần yếu cho một nước độc lập”, khẳng định mạnh mẽ vai trò và trách nhiệm của đối ngoại đối với quốc gia, dân tộc.
Đại hội XIV của Đảng là mốc son lịch sử, mở ra cánh cửa bước vào kỷ nguyên mới của dân tộc. Dưới ánh sáng của Đại hội XIV, đối ngoại- một nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên- sẽ được triển khai toàn diện ở tầm cao mới, nhịp đập của Việt Nam hòa cùng nhịp đập của thế giới, thở cùng hơi thở của thời đại, kiến tạo hòa bình, bồi đắp thịnh vượng và xây dựng vị thế cao hơn, vững chắc hơn cho đất nước, cho dân tộc.
VIỆT NAM TRƯỚC NGƯỠNG CỬA CỦA THỜI ĐẠI
Thế giới đang đang chứng kiến những chuyển dịch nhanh, cường độ mạnh, tác động sâu rộng, mang tính thời đại. Các xu hướng vận động đan xen, trái chiều nhau, vừa gắn kết, phụ thuộc lẫn nhau sâu hơn nhưng cũng vừa chia rẽ, cạnh tranh mạnh hơn. Nhân loại bước vào một giai đoạn tiềm ẩn những rủi ro nhưng cũng mở ra nhiều cơ hội phát triển mới. Không một quốc gia nào, dù lớn hay nhỏ, dù phát triển hay đang phát triển, có thể đứng ngoài sự vận động của thời cuộc.
Một mặt, hệ thống quan hệ quốc tế đa phương và luật pháp quốc tế bị xói mòn, tranh chấp chủ quyền, xung đột lãnh thổ gia tăng. Cạnh tranh chính trị, kinh tế đi đôi với giành quyền kiểm soát công nghệ, năng lượng và hạ tầng chiến lược. Các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống ngày càng gay gắt cả về quy mô lẫn tính chất. Mặt khác, những xu thế, trào lưu đương đại về hòa bình, hợp tác và phát triển, tăng trưởng bền vững, bao trùm và toàn cầu hóa vẫn tiếp diễn. Cộng đồng quốc tế đa số đều mong muốn kiến tạo một trật tự thế giới dân chủ, công bằng, bình đẳng, dựa trên luật pháp quốc tế. Cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang mở ra không gian phát triển vô tận dựa trên tri thức và tiềm năng con người.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đánh dấu kỷ nguyên mới của Dân tộc Việt Nam sau 96 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, 80 năm giành được độc lập và 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới. Tiếp sau kỷ nguyên độc lập, tự do, xây dựng chủ nghĩa xã hội và kỷ nguyên đổi mới, đất nước bắt đầu bước vào kỷ nguyên phát triển phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, sánh vai với các cường quốc năm châu.
Giai đoạn thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng (2026-2031) là giai đoạn bản lề, có tính quyết định việc bứt phá trở thành nước phát triển, thu nhập cao, trình độ tiên tiến. Hoặc sẽ lặp lại bài học mắc kẹt trong bẫy thu nhập trung bình khi nhiều điểm nghẽn có tính cấu trúc trong mô hình phát triển và quản trị quốc gia dần bộc lộ. Lịch sử cho thấy trong thời kỳ quá độ giữa cái cũ và cái mới, nếu không kịp thời bắt nhịp với thế giới và xu thế của thời đại, nguy cơ tụt hậu sẽ hiện hữu hơn bao giờ hết.
ĐẨY MẠNH ĐỐI NGOẠI TOÀN DIỆN Ở TẦM CAO MỚI
“Hội tụ” yêu cầu của thời đại và đòi hỏi của đất nước, việc hiện thực hóa hai mục tiêu chiến lược 100 năm là cam kết chính trị - lịch sử của Đảng trước nhân dân và cộng đồng quốc tế. Lịch sử nhân loại đã chứng minh: quốc gia nào có sự chủ động chiến lược, nắm bắt sức mạnh thời đại để gia tăng nội lực thì sẽ thành công. Trong chiều dài của lịch sử nhân loại, thực tiễn thế giới cho thấy quy luật nhất quán: không một quốc gia phát triển hùng mạnh nào mà không xây dựng một nền đối ngoại mạnh. Trong thế giới ngày nay, an ninh và phát triển của mỗi quốc gia không thể biệt lập, đứng bên ngoài những tác động của thế giới và thời đại, của thời cuộc và cục diện.
Đứng trước những thời khắc lịch sử, đất nước cần có những quyết sách lịch sử. Kỷ nguyên mới đòi hỏi phải triển khai “đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới”: Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia dân tộc; lấy hòa bình, độc lập, tự chủ, tự cường là nền tảng; đặt người dân là trung tâm của mọi chính sách; coi đóng góp cho cộng đồng quốc tế là trách nhiệm. Ở tầm cao mới, đối ngoại sẽ được triển khai một cách tự tin, tự chủ, tự lực, tự cường hơn; đóng góp hiệu quả hơn vào những mục tiêu chiến lược của đất nước; thể hiện trách nhiệm lớn hơn đối với hòa bình và phát triển của thế giới.
Đó là nền đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới về mục tiêu. Mọi hoạt động đối ngoại đều hướng đến mục tiêu bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc, vì Đảng vững mạnh, vì nước Việt Nam giàu mạnh, vì ấm no, hạnh phúc của nhân dân; hội nhập sâu rộng và có vị trí, vai trò quan trọng trong nền chính trị thế giới, nền kinh tế toàn cầu và nền văn minh nhân loại, đóng góp vào hòa bình, ổn định, công bằng, tiến bộ xã hội và sự phát triển phồn vinh của các dân tộc trong khu vực và trên thế giới.
Đó là nền đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới về lĩnh vực. Đối ngoại không phải là lĩnh vực riêng rẽ mà gắn kết chặt chẽ giữa đối ngoại với quốc phòng, an ninh, kinh tế, khoa học, công nghệ và văn hóa, xã hội, tạo sức mạnh tổng hợp phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đường lối đối ngoại toàn diện đặt phát triển kinh tế – xã hội làm trọng tâm, coi ngoại giao phục vụ phát triển và hội nhập quốc tế là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên.
Đó là nền đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới về chủ thể. Đối ngoại toàn diện là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, phát huy vai trò của cả ba kênh đối ngoại: đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại Nhân dân, đồng thời huy động sự tham gia của đối ngoại Quốc hội, các bộ, ban, ngành và địa phương; giữa đối ngoại với quốc phòng, an ninh và giữa ngoại giao chính trị với ngoại giao kinh tế, văn hóa, khoa học, công nghệ….
TRIỂN KHAI NHIỆM VỤ "TRỌNG YẾU, THƯỜNG XUYÊN" CỦA ĐỐI NGOẠI
Đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới là sự kết hợp giữa kế thừa và phát triển. Đối ngoại tiếp tục kiên định: đường lối độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Đồng thời nền đối ngoại Việt Nam tiếp tục phát triển, tiếp thu những tinh hoa, tri thức và phương pháp của ngoại giao hiện đại, thấm nhuần tinh thần “dĩ bất biến ứng vạn biến”. Con đường hòa bình, độc lập, tự chủ, tự cường không chỉ để xây dựng một đất nước giàu mạnh cho nhân dân mình mà còn để đóng góp có trách nhiệm cho hòa bình, ổn định của khu vực và trật tự thế giới dựa trên luật pháp. Đó là kim chỉ nam, là nền tảng đạo lý và là nguyên tắc cơ bản để chúng ta xây dựng các mối quan hệ đối ngoại bền vững.
Đồng thời đối ngoại toàn diện phát triển lên một tầm cao mới, trong đó đối ngoại và hội nhập quốc tế phải là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên”. Đây là bước phát triển quan trọng về tư duy, theo đó đối ngoại, hội nhập quốc tế là một trong những nhiệm vụ chủ yếu, có tầm quan trọng hàng đầu; đồng thời phải được tiến hành thường xuyên, yêu cầu tính chủ động, nhạy bén, kịp thời và hiệu quả cao. Tư tưởng đó đặt đối ngoại ở một vị trí trung tâm, với trách nhiệm và vai trò cao hơn đối với an ninh và phát triển của đất nước: Giữ vững hòa bình để ổn định, ổn định để phát triển, phát triển để nâng cao sức mạnh tổng thể của đất nước. Theo đó đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới sẽ triển khai những nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên theo các hướng sau:
Thứ nhất, đối ngoại phát huy vai trò tiên phong, thực hiện nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên trong việc tạo lập cục diện quốc tế thuận lợi cho đất nước. Thế giới càng biến động, việc củng cố hòa bình, ổn định cho đất nước càng có vai trò trọng yếu, then chốt. Đối ngoại phải có sự “chủ động chiến lược” trong mọi tình huống, giữ cho “trong ấm, ngoài êm”: giữ ổn định, phát triển ở bên trong, giữ hòa bình, hợp tác với bên ngoài. Cùng với quốc phòng, an ninh, đối ngoại kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và nền văn hóa; giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình để xây dựng, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đồng thời thúc đẩy giải quyết các khác biệt bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc.
Thứ hai, đối ngoại là động lực tạo dựng các điều kiện thuận lợi, tranh thủ nguồn lực bên ngoài và mở ra không gian phát triển mới cho đất nước. Thế giới được định hình bởi các xu hướng mới, những quốc gia thành công là những nước chủ động nắm bắt, đi trước, đặt mình vào dòng chảy thời đại. Nhiệm vụ của đối ngoại là nhận diện, tranh thủ cơ hội từ những xu hướng đang định hình kinh tế thế giới hiện nay như đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, lượng tử, tự động hóa...; chuyển hóa được quan hệ tốt đẹp về chính trị thành những kết quả cụ thể về kinh tế, có thể đo đếm và lan tỏa trực tiếp đến người dân thông qua các thỏa thuận kinh tế, hiệp định thương mại và đầu tư, hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam vươn ra thế giới, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng khu vực, toàn cầu.
Thứ ba, đối ngoại thể hiện tinh thần trách nhiệm cao đối với cộng đồng quốc tế, đóng góp vào xây dựng và bảo vệ trật tự quốc tế công bằng, bình đẳng dựa trên luật pháp quốc tế. Trong một thế giới toàn cầu hóa, lợi ích của quốc gia – dân tộc, của công dân, doanh nghiệp Việt Nam không chỉ nằm trong đường biên giới lãnh thổ. Bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc Việt Nam gắn liền với việc bảo vệ trật tự thế giới công bằng, bình đẳng, dựa trên luật pháp quốc tế. Thế và lực mới cho phép chúng ta đóng góp tích cực, trách nhiệm đối với các vấn đề chung của thế giới. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói “Mình đã hưởng cái hay của người thì phải có cái hay cho người ta hưởng”, Việt Nam sẽ tiếp tục các cam kết của mình về phát triển bền vững, an ninh lương thực, biến đổi khí hậu, giảm phát thải ròng; đồng thời tham gia sâu hơn vào các hoạt động gìn giữ hòa bình, cứu hộ cứu nạn, viện trợ nhân đạo, trung gian, hòa giải và phát huy vai trò nòng cốt, dẫn dắt trong những vấn đề và cơ chế quan trọng, phù hợp.
Thứ tư, phát huy “sức mạnh mềm” của dân tộc tương xứng với tầm vóc lịch sử và văn hóa, vị thế chính trị và kinh tế của đất nước. Vị thế, uy tín đất nước không chỉ nằm ở sức mạnh vật chất mà còn là “sức mạnh mềm”. Đó là lịch sử hào hùng, nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới, là đường lối đối ngoại hòa bình, hòa hiếu, xử lý các vấn đề quốc tế hài hòa, có lý, có tình, tôn trọng luật pháp quốc tế, là sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân thế giới. Ở tầm cao mới, đối ngoại đối ngoại phải góp phần gia tăng vị thế, ảnh hưởng của đất nước trong nền chính trị thế giới, kinh tế toàn cầu và văn minh nhân loại.
Thứ năm, xây dựng nền đối ngoại và ngoại giao toàn diện, hiện đại, chuyên nghiệp. Kỷ nguyên mới đòi hỏi xây dựng nền đối ngoại ngang tầm khu vực và vươn tầm quốc tế. Các cán bộ đối ngoại, ngoại giao phải dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới sáng tạo, dám tiên phong, đột phá vì lợi ích quốc gia – dân tộc; nhạy bén về thời thế, sâu sắc về chiến lược, có kỷ luật, kỷ cương và có kỹ năng, trình độ ngang tầm quốc tế. Đối ngoại toàn diện không chỉ là nhiệm vụ của một bộ, một ngành mà là sự nghiệp của toàn dân, của cả hệ thống chính trị để tạo sức mạnh tổng hợp.
Trước những biến động của thời cuộc, đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới phải lấy bản lĩnh, trí tuệ là la bàn định hướng; tin cậy, trách nhiệm là cầu nối hợp tác; hòa hiếu, luật pháp là nơi neo đậu giá trị. Chúng ta tin tưởng rằng đối ngoại Việt Nam sẽ tiếp tục tạo lập và gìn giữ hòa bình, ổn định, mở rộng không gian phát triển và nâng tầm vị thế đất nước, góp phần hoàn thành di nguyện thiêng liêng của Bác Hồ: "Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới".
-
2025: Năm “tỏa sáng” của kim loại quý
Sau ba năm tăng không nghỉ, thị trường quý kim được nhận định sẽ tiếp tục đi lên trong năm 2026, song tốc độ tăng có thể sẽ không còn mạnh mẽ như trong năm qua.
Giá vàng khởi động năm 2025 ở mức trên 2.600 USD/oz và kết thúc năm ở mức hơn 4.300 USD/oz, tăng hơn 1.700 USD/oz, tương đương mức tăng hơn 65%. Đỉnh cao mọi thời đại của giá vàng đã được ghi nhận vào tháng 12/2025, ở mức 4.550 USD/oz.
Giá bạc vào thời điểm đầu năm còn ở mức dưới 30 USD/oz, khi chốt năm đã đạt xấp xỉ 72 USD/oz, tăng hơn 140%. Kỷ lục cuối cùng của giá bạc trong năm 2025 là mức 84 USD/oz thiết lập vào cuối tháng 12.
Giá bạch kim bước sang năm 2025 ở dưới ngưỡng 900 USD/oz, khi kết thúc năm đạt gần mức 2.080 USD/oz. Mức giá tăng cả năm 2025 của bạch kim là 131% và kỷ lục giá của kim loại này là gần 2.480 USD/oz, cũng xuất hiện trong những ngày cuối năm.
Đối với vàng và bạc, 2025 là năm tăng giá mạnh nhất kể từ năm 1979, còn đối với bạch kim, đây là năm tăng giá mạnh chưa từng có trong lịch sử.
ĐỘNG LỰC TĂNG GIÁ CỦA KIM LOẠI QUÝVàng, bạc và bạch kim đều có chung một số động lực tăng giá trong năm 2025, gồm nhu cầu phòng ngừa rủi ro do biến động chính sách của Mỹ, nợ nần và căng thẳng địa chính trị trên toàn cầu; môi trường chính sách tiền tệ nới lỏng thêm và xu hướng mất giá của đồng USD.
Ngay sau khi nhậm chức nhiệm kỳ thứ hai, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã công bố một loạt thay đổi chính sách quan trọng nhằm phục vụ cho chiến lược “Nước Mỹ trên hết”. Trong đó, gây chấn động nhất là chương trình thuế quan đối ứng, áp thuế quan ở mức cao lên tất cả các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Thị trường tài chính toàn cầu đã chao đảo sau mỗi động thái thuế quan của ông chủ Nhà Trắng. Trong bối cảnh đó, kim loại quý - vốn là những “hầm trú ẩn” truyền thống - trở thành kênh đầu tư hút vốn mạnh.
Chỉ trong vòng khoảng ba tuần kể từ thời điểm “Ngày Giải phóng” khi ông Trump công bố thuế quan đối ứng, giá vàng đã leo thang khoảng 300 USD/oz, tương đương mức tăng gần 9,6%.
Căng thẳng địa chính trị gia tăng tại các điểm nóng trên toàn cầu cũng thúc đẩy giới đầu tư toàn cầu bổ sung kim loại quý vào danh mục. Trong số đó có cuộc chiến tranh 12 ngày giữa Israel và Iran hồi tháng 6/2025, cuộc chiến đã kéo dài gần 4 năm giữa Nga và Ukraine, và căng thẳng nóng lên giữa Mỹ và Venezuela vào cuối năm 2025.
Mối lo về khối nợ vốn đã khổng lồ và ngày càng phình to của thế giới làm gia tăng thêm cảm giác cần thiết phải nắm giữ những tài sản an toàn như vàng. Theo dữ liệu do Viện Tài chính quốc tế (IIF) công bố trong tháng 12/2025, nợ toàn cầu đã tăng lên mức cao kỷ lục gần 346 nghìn tỷ USD vào cuối quý 3/2025, tăng hơn 8% so với cùng kỳ năm 2024, chủ yếu do nợ chính phủ tăng. Tỷ lệ nợ so với tổng sản phẩm trong nước (GDP) toàn cầu là 310%.
Nợ công của Mỹ đã vượt 38 nghìn tỷ USD, tương đương 125% GDP. Tỷ lệ này là 230% đối với Nhật Bản và 117% đối với Pháp.
Các nhà đầu tư kim loại quý càng như “cá gặp nước” trong môi trường nới lỏng chính sách trên toàn cầu, khi các ngân hàng trung ương lớn như Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) và Ngân hàng Trung ương Anh (BOE) tiếp tục chu kỳ nới lỏng chính sách tiền tệ trong năm 2025. Các ngân hàng Trung ương nhóm G10 gồm 10 đồng tiền được giao dịch nhiều nhất thế giới đã có tổng cộng 32 lần giảm lãi suất trong năm 2025, với tổng lượng giảm 8,5 điểm phần trăm, nhiều nhất trong hơn 1 thập kỷ, theo một thống kê của hãng tin Reuters. Trong số đó, Fed có 3 lần giảm lãi suất với tổng lượng giảm 0,75 điểm phần trăm.
Sức nóng của thị trường kim loại quý tăng thêm khi đồng USD mất giá sâu trong năm 2025. Chỉ số Dollar Index đo sức của bạc xanh so với một rổ gồm 6 đồng tiền chủ chốt đã giảm hơn 10% cả năm, đánh dấu năm giảm mạnh nhất trong một thập kỷ.
Nguyên nhân chính khiến đồng USD trượt dốc trong năm 2025 là cuộc chiến thương mại của Tổng thống Trump. Cuộc chiến này đã làm dấy lên mối lo ngại về sức khỏe nền kinh tế Mỹ - dù tác động đến thời điểm này không nghiêm trọng như dự báo ban đầu - cũng như mối hoài nghi về địa vị của USD như một tài sản an toàn đối với nhà đầu tư trên toàn cầu. Ngoài ra, việc ông Trump liên tục gây sức ép đòi Fed giảm lãi suất cũng làm dấy lo ngại về sự độc lập của ngân hàng trung ương này, dẫn tới áp lực mất giá đối với USD.
NHU CẦU VÀNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNGNgoài những yếu tố hỗ trợ chung cho thị trường kim loại quý, riêng giá vàng còn được thúc đẩy bởi xu hướng mua ròng vàng của các ngân hàng trung ương. Năm 2025 là năm thứ 5 liên tiếp các ngân hàng trung ương đa dạng hóa tài sản dự trữ khỏi đồng USD bằng cách tăng nắm giữ vàng.
Theo dữ liệu của Hội đồng Vàng thế giới (WGC), các ngân hàng trung ương trên thế giới đã mua ròng 634 tấn vàng trong ba quý đầu năm 2025. Ngân hàng đầu tư Morgan Stanley dự báo lượng mua ròng vàng của khối này đạt 950 tấn trong năm 2025 và 900 tấn trong năm 2026. Công ty tư vấn kim loại quý Metals Focus nhận định các ngân hàng trung ương mua ròng 850 tấn vàng trong năm 2025. Trong đó, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (PBOC) tính đến tháng 11/2025 đã mua ròng vàng 13 tháng liên tiếp.
Hoạt động mua vàng sôi động của các quỹ giao dịch hoán đổi (ETF) cũng đóng góp không nhỏ vào xu hướng tăng của giá vàng trong năm 2025. Dữ liệu của WGC cho thấy trong 10 tháng đầu năm 2025, các quỹ ETF vàng đã hút một lượng vốn ròng 64 tỷ USD. Riêng trong tháng 9/2025, lượng vốn ròng mà các quỹ ETF vàng thu hút được đã đạt mức kỷ lục 17,3 tỷ USD.
Ngoài ra, theo một báo cáo của Morgan Stanley, tỷ trọng nắm giữ vàng của các công ty quản lý tài sản trên toàn cầu đã tăng lên mức 2,8% tổng tài sản được quản lý, từ mức 1,5% trước năm 2022. Báo cáo cũng cho biết rằng tỷ trọng này, dù đã cao, vẫn còn dư địa để tăng thêm.
Cũng theo dữ liệu được WGC công bố cuối tháng 10/2025, nhu cầu vàng toàn cầu trong quý 3/2025 đạt kỷ lục 1.313 tấn, tăng 3% so với cùng kỳ năm 2024.
Đối với bạc, nguồn cung đã khan hiếm trong mấy năm trở lại đây, trong khi nhu cầu bạc trong cả lĩnh vực đầu tư và công nghiệp không ngừng tăng. Khoảng cách lớn giữa nguồn cung và nhu cầu đã đưa giá kim loại quý này không ngừng bứt phá.
Ngoài vai trò một kênh đầu tư và kim loại quý để sản xuất nữ trang, bạc còn được sử dụng trong công nghiệp (chẳng hạn trong sản xuất đồ điện tử, ô tô điện, tấm pin năng lượng mặt trời) và các trang thiết bị liên quan tới trí tuệ nhân tạo (AI). Không giống như vàng, bạc được khai thác chủ yếu dưới dạng phụ phẩm của quy trình khai thác các khoáng sản khác. Bởi vậy, các nhà khai mỏ khó có thể phản ứng nhanh với sự gia tăng của nhu cầu bạc trong những năm gần đây.
Những tháng qua, hoạt động tích trữ bạc ở Mỹ gia tăng mạnh do lo ngại chính quyền Tổng thống Donald Trump có thể áp thuế quan lên bạc. Mối lo này xuất phát từ việc Washington đưa bạc vào danh sách các khoáng sản quan trọng. Việc bạc được vận chuyển ồ ạt tới Mỹ dẫn tới sự khan hiếm bạc ở các thị trường khác.
Đối với bạch kim, câu chuyện phía sau xu hướng tăng giá chóng mặt trong năm 2025 cũng là sự thắt chặt nguồn cung. Bên cạnh đó, việc Liên minh châu Âu (EU) vào giữa tháng 12/2025 bất ngờ công bố kế hoạch bỏ lệnh cấm xe động cơ đốt trong từ năm 2035 đã hỗ trợ thêm cho giá bạch kim.
Bạch kim được dùng cho bộ chuyển đổi xúc tác - một bộ phận trong hệ thống ống xả của xe động cơ đốt trong để giảm khí thải độc hại. Bởi vậy, kế hoạch mới của EU cho phép các nhà sản xuất ô tô ở khu vực này tiếp tục sản xuất một số lượng hạn chế xe chạy bằng xăng và dầu diesel sau năm 2035 đồng nghĩa rằng nhu cầu bạch kim sẽ duy trì ở mức cao.
Dữ liệu từ Hội đồng Đầu tư bạch kim thế giới (WPIC) cho thấy năm 2025 sẽ là năm thứ ba liên tiếp thị trường bạch kim thiếu cung gần 1 triệu ounce trong quy mô hàng năm của thị trường là 8 triệu ounce. WPIC cũng dự báo thị trường sẽ vẫn ở trong tình trạng thâm hụt lớn về nguồn cung cho đến năm 2029. Theo tổ chức này, thâm hụt nguồn cung bạch kim trong năm 2024 là 992.000 ounce, mức thiếu hụt lớn nhất kể từ năm 2013.
DỰ BÁO NĂM 2026: LẠC QUAN VÀ THẬN TRỌNGCác ngân hàng lớn ở Phố Wall đều có chung quan điểm lạc quan về triển vọng của giá vàng trong năm 2026, cho rằng các yếu tố hỗ trợ giá vàng trong năm 2025 về cơ bản sẽ tiếp tục duy trì. Chính sách thương mại của Mỹ còn nhiều bất định, đặt ra thách thức đối với kinh tế toàn cầu, trong khi đàm phán hòa bình Nga - Ukraine chưa có tiến bộ đáng kể và nợ nần của thế giới vẫn chưa có dấu hiệu sẽ sớm được kiểm soát. Các ngân hàng trung ương được cho là sẽ tiếp tục mua ròng vàng, đồng USD được dự báo còn mất giá trong năm 2026 do Fed hạ lãi suất về mức thấp hơn.
Theo các nhà phân tích của JPMorgan Chase, để giá vàng đi ngang, nhu cầu vàng của nhà đầu tư và các ngân hàng trung ương cần đạt khoảng 350 tấn mỗi quý. Trong khi đó, JPMorgan Chase dự báo nhu cầu này sẽ đạt bình quân 585 tấn mỗi quý trong năm 2026. Một cuộc khảo sát thường niên của WGC tháng 6/2025 cho thấy phần lớn các ngân hàng trung ương có kế hoạch tăng dự trữ vàng trong thời gian một năm tiếp theo, bất chấp giá vàng cao.
Morgan Stanley dự báo giá vàng ở thời điểm giữa năm 2026 sẽ là 4.500 USD/oz. JPMorgan Chase kỳ vọng giá vàng sẽ đạt bình quân 4.600 USD/oz trong quý 2 và hơn 5.000 USD/oz trong quý 4/2026. Metals Focus nhận định trong năm 2026, giá vàng sẽ đạt 5.000 USD/oz. Ngân hàng Goldman Sachs và Bank of America cũng nằm trong nhóm các tổ chức dự báo nhận định giá vàng sẽ đạt mốc 5.000 USD/oz trong 2026.
Tuy nhiên, những mức giá dự báo này cho thấy tốc độ tăng của giá vàng có thể sẽ chậm lại trong năm 2026, sau khi giá kim loại quý đã tăng hơn 150% trong ba năm qua. Mức giá 5.000 USD/oz chỉ cao hơn khoảng 16% so với mức giá chốt năm 2025 của vàng, ít hơn nhiều so với mức tăng 65% của năm 2025 và 27% của năm 2024.
Xu hướng tăng của giá vàng nếu duy trì có thể kéo các kim loại quý khác như bạc và bạch kim tăng theo. Ngoài ra, yếu tố thiếu hụt nguồn cung được dự báo sẽ tiếp tục hỗ trợ giá các quý kim này.
Dù vậy, đã có một số cảnh báo về rủi ro đảo chiều của thị trường. Trong một báo cáo vào đầu tháng 12/2025, Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) cảnh báo về nguy cơ bong bóng trên thị trường vàng và chứng khoán Mỹ, cho rằng các nhà đầu tư cá nhân đang có một vai trò lớn trong việc đẩy giá vàng và giá cổ phiếu lên mức cao chưa từng thấy. BIS cho rằng giá vàng và cổ phiếu Mỹ đang có những dấu hiệu của một bong bóng, bao gồm sự "hưng phấn" của nhà đầu tư bán lẻ, định giá tăng nhanh và sự thổi phồng từ truyền thông.
Trong một cuộc trao đổi với trang Kitco News vào giữa tháng 12/2025, ông Avi Gilburt, một nhà phân tích kỹ thuật uy tín và là nhà sáng lập công ty ElliottWaveTrader, cho biết xu hướng tăng của giá vàng kể từ mức đáy thiết lập vào năm 2015-2016 đang đi đến giai đoạn cuối. Ông tin rằng đợt tăng hiện nay của giá vàng có gốc rễ từ một đợt thiết lập lại trên thị trường từ sau năm 2015, sau quãng thời gian nhiều năm các quỹ ETF liên tục bán ròng và mối quan tâm của nhà đầu tư đối với vàng suy giảm. Chu kỳ tăng giá này, hiện đã đạt gần 10 năm, dường như đang cạn dần xung lực...
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8/2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html
-Điệp Vũ
Nhiều yếu tố tác động mạnh đến thị trường bất động sản
Diễn biến trên thị trường bất động sản thời gian qua cho thấy hàng loạt chính sách pháp luật liên quan được ban hành (bao gồm nhiều Luật sửa đổi và các Nghị quyết của Quốc hội) đã cơ bản tạo không gian cho sự phát triển của thị trường bất động sản, giải quyết các vấn đề vướng mắc mà thị trường này gặp phải. Bên cạnh đó, việc sáp nhập các đơn vị hành chính với mô hình chính quyền địa phương hai cấp cũng mở ra không gian phát triển mới cho quy hoạch, đầu tư và tổ chức thị trường bất động sản; nhiều dự án hạ tầng được xây dựng góp phần thúc đẩy mạnh mẽ cung - cầu bất động sản tại nhiều địa phương.
Đồng thời, với sự quan tâm chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, hàng loạt dự án bất động sản đã được tháo gỡ về pháp lý, được tiếp tục triển khai, giúp gia tăng nguồn cung mới và tạo nền tảng cho thị trường bất động sản bước vào chu kỳ ổn định hơn.
NGUỒN CUNG TĂNG MẠNH, GIÁ VẪN NEO CAOTheo thống kê của Bộ Xây dựng, trên địa bàn cả nước hiện có 3.297 dự án nhà ở thương mại, nhà ở xã hội, đất nền, với quy mô 5,9 triệu căn và tổng mức đầu tư là 7,42 triệu tỷ đồng. Trong đó, riêng nhà ở xã hội có 698 dự án với quy mô 657.441 căn, bao gồm 193 dự án đã hoàn thành, 200 dự án đang thi công và 305 dự án đã được chấp thuận chủ trương đầu tư, đạt khoảng 62% mục tiêu Đề án xây dựng 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội đến 2030; lĩnh vực du lịch, nghỉ dưỡng có 218 dự án với quy mô 10.800 căn và tổng mức đầu tư là 1,86 triệu tỷ đồng (112 dự án đã hoàn thành, 74 dự án đang triển khai và 32 dự án đã chấp thuận chủ trương đầu tư); công trình thương mại, dịch vụ, văn phòng có 223 dự án, tổng mức đầu tư là 544,3 nghìn tỷ đồng, gồm: 138 dự án đã hoàn thành, 65 dự án đang triển khai và 20 dự án đã chấp thuận chủ trương đầu tư.
Cùng với đó là rất nhiều dự án được tháo gỡ khó khăn, tái khởi động, tạo điều kiện khơi thông nguồn lực, thúc đẩy sự phát triển của thị trường bất động sản.
Thông tin tại hội nghị quán triệt triển khai các nghị quyết của Quốc hội về tháo gỡ vướng mắc đối với các dự án, đất đai trong kết luận thanh tra, kiểm tra, bản án và Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (ngày 30/12/2025) cho biết sau thời gian triển khai thực hiện Kết luận 77 của Bộ Chính trị và Nghị quyết 170 của Quốc hội, đến nay, đã tháo gỡ và có định hướng tháo gỡ cho 5.203 dự án. Trong đó, 3.289 dự án, đất đai với tổng mức đầu tư khoảng 1,67 triệu tỷ đồng, 70.000 ha đất đã được đưa vào khai thác.
Hệ thống cơ sở dữ liệu của Ban Chỉ đạo về giải quyết các dự án tồn đọng đã ghi nhận 2.991 dự án có khó khăn, vướng mắc kéo dài, cần tháo gỡ với tổng quy mô hơn 153.000 ha, tổng mức đầu tư là 2,46 triệu tỷ đồng. Trong đó, Thanh tra Chính phủ xác định 491 dự án cần tiếp tục công tác thanh tra; còn lại khoảng 2.500 dự án không phải thanh tra và tiếp tục thực hiện theo Kết luận 77 và Nghị quyết 170.
Nói về kết quả trên, Hội Môi giới bất động sản (VARS) đánh giá cùng với nhiều dự án quy mô lớn được phê duyệt mới, hàng loạt dự án được tái khởi động đã góp phần quan trọng giúp nguồn cung nhà ở năm 2025 tăng tới 88% so với năm 2024 và tiến gần mốc “đỉnh” 2018. Đồng thời, góp phần lấy lại niềm tin của khách hàng và nhà đầu tư khi tỷ lệ hấp thụ của các dự án mới lên tới 70%. Tuy nhiên, điều đáng quan ngại là giao dịch nhằm mục đích đầu tư, đầu cơ vẫn áp đảo nhu cầu thật.
Ông Nguyễn Mạnh Quỳnh, Phó Tổng thư ký VARS, cho hay: tình trạng mất cân đối cơ cấu sản phẩm tại các đô thị lớn diễn ra trầm trọng khi nguồn cung nhà ở thương mại mới đều thuộc phân khúc cao cấp, giá trị lớn, chủ yếu phục vụ nhu cầu đầu tư, đầu cơ. Ngay cả tại các khu vực vùng ven, vốn được kỳ vọng sẽ cung cấp sản phẩm nhà ở hợp túi tiền, giá bán thực tế vẫn cao hơn đáng kể so với mức thu nhập bình quân của người dân, chỉ “thấp hơn ở mức tương đối” so với khu vực trung tâm.
Trong khi đó, nhu cầu lớn nhất của thị trường lại nằm ở phân khúc nhà ở vừa túi tiền. Lệch pha cung - cầu khiến giá nhà ở, nhất là phân khúc căn hộ tại các thành phố lớn tăng mạnh, thiết lập mặt bằng giá mới và vượt xa tốc độ tăng thu nhập thực tế, khiến khả năng tiếp cận nhà ở, đất ở của người dân thêm khó khăn.
Cụ thể, phân khúc căn hộ chung cư ghi nhận mức tăng mạnh nhất trong 3 năm trở lại đây. Tại thời điểm thống kê vào cuối quý 3/2025, so với năm 2019, giá bán bình quân các dự án trong tập mẫu được VARS lựa chọn để tính chỉ số giá tăng lần lượt: Hà Nội 96,2%, Đà Nẵng 72,6% và TP.Hồ Chí Minh 56,9%. Cá biệt trong một số giai đoạn ngắn tại Hà Nội, giá bán tăng từ vài trăm triệu đồng tới cả tỷ đồng chỉ trong vòng một tháng.
Giá trung bình của các dự án chung cư mở bán mới tại Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh vào nửa cuối năm 2025 lần lượt là 95 và 91 triệu đồng/m2 (đa số có giá trên 100 triệu đồng/m2). Các phân khúc nhà ở khác như: đất nền, biệt thự, liền kề, nhà ở riêng lẻ... cũng ghi nhận mức giá tăng tới 30% trong năm.
CƠ HỘI TIẾP CẬN NHÀ Ở BỊ THU HẸPHệ quả của tình trạng trên là chênh lệch giữa nhóm đã sở hữu tài sản và nhóm chưa có tài sản ngày càng lớn. Người có lợi thế tài chính và tài sản ban đầu có xu hướng nắm giữ nhiều bất động sản, như công cụ tích lũy và đầu tư, tiếp tục giàu lên nhờ sự gia tăng giá trị đất đai, còn người chưa sở hữu nhà ở đối mặt nguy cơ ngày càng nghèo đi do ngày càng khó tạo lập được nhà ở, dù nỗ lực cải thiện thu nhập. Điều này cho thấy dấu hiệu thiếu bền vững, không chỉ làm thu hẹp cơ hội tiếp cận nhà ở của đại bộ phận người dân mà còn tiềm ẩn rủi ro bong bóng khi giá nhà tăng “nóng”, vượt xa thu nhập thực tế.
Cũng bàn về thực trạng giá nhà, tại phiên họp lần thứ 4 của Ban Chỉ đạo Trung ương về chính sách nhà ở và thị trường bất động sản, một số đại biểu cho biết trong những năm gần đây, thị trường bất động sản tại nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước, đặc biệt là tại các đô thị lớn và khu vực đang đô thị hóa nhanh, đã xuất hiện nhiều diễn biến bất ổn, gây ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng tiếp cận nhà ở của người dân và sự phát triển lành mạnh của thị trường.
Tình trạng đầu cơ, găm giữ đất đai, “thổi giá”, tạo “sốt ảo” diễn ra phổ biến tại nhiều địa phương, đặc biệt khi có thông tin về sáp nhập, quy hoạch hoặc đầu tư hạ tầng mới, tạo ra những biến động lớn, ảnh hưởng tiêu cực đến thị trường và xã hội.
Trong khi đó, hiện nay, các công cụ điều tiết thị trường như thuế, tín dụng, quy hoạch, giá đất nhà nước... còn thiếu đồng bộ, chưa đủ hiệu lực và chưa theo kịp diễn biến thực tế. Hệ quả là nhiều người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ, công nhân, viên chức và người lao động đô thị ngày càng gặp khó khăn trong việc tiếp cận nhà ở phù hợp. Bên cạnh đó, tại nhiều địa phương vẫn còn không ít dự án chậm triển khai do vướng mắc pháp lý, giải phóng mặt bằng và khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn.
Vì vậy, các đại biểu đề nghị cần tiếp tục rà soát, hoàn thiện thể chế, chính sách liên quan đến lĩnh vực nhà ở, bất động sản đảm bảo đồng bộ, thống nhất, khả thi và hiệu quả; nghiên cứu cơ chế, chính sách để thúc đẩy phát triển nhà ở thương mại để bán và cho thuê với giá phù hợp; đẩy nhanh việc thực hiện các dự án nhà ở xã hội. Đồng thời, có giải pháp quản lý, điều tiết thị trường một cách hợp lý…
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html
-Phan Nam
Nâng hạng thị trường chứng khoán: “Phép thử” cho chuẩn mực quản trị
Việt Nam đang thực hiện các giải pháp toàn diện để hiện đại hóa thị trường chứng khoán theo các thông lệ quốc tế. Theo ông, Việt Nam cần thêm yếu tố gì để thị trường chứng khoán thực sự hấp dẫn dòng vốn quốc tế trong thời gian tới?
Việt Nam đã đi được một chặng đường quan trọng trong việc hiện đại hóa thị trường chứng khoán, từ hạ tầng giao dịch, khuôn khổ pháp lý đến việc tiệm cận các thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, để thị trường thực sự hấp dẫn và trở thành điểm đến bền vững của dòng vốn quốc tế, Việt Nam cần bổ sung và hoàn thiện thêm một số yếu tố then chốt.
Thứ nhất, nâng cao khả năng tiếp cận thị trường (market accessibility). Với nhà đầu tư tổ chức quốc tế, các vấn đề như cơ chế giao dịch, thanh toán – bù trừ, chuyển tiền và phòng ngừa rủi ro tỷ giá quan trọng không kém yếu tố định giá. Việc đơn giản hóa thủ tục mở tài khoản, đảm bảo tính thông suốt của dòng vốn ra – vào, tiến tới các chuẩn mực như Delivery versus Payment/DvP (giao chứng khoán song song với thanh toán), T+0 (giao dịch trong ngày), T+1 (ngày làm việc tiếp theo sau giao dịch) sẽ giúp giảm đáng kể “ma sát vận hành” – yếu tố thường khiến các quỹ lớn chần chừ dù rất quan tâm đến Việt Nam.
Thứ hai, mở rộng “hàng hóa” chất lượng cao cho thị trường. Dòng vốn quốc tế chỉ có thể giải ngân mạnh khi thị trường có đủ doanh nghiệp quy mô lớn, free-float tốt, thanh khoản cao và minh bạch. Điều này đòi hỏi thúc đẩy cổ phần hóa, niêm yết và thoái vốn thực chất tại các doanh nghiệp nhà nước lớn, đồng thời khuyến khích khu vực tư nhân niêm yết với chuẩn mực cao hơn, tạo thêm trụ cột cho thị trường vốn.
Thứ ba, tính nhất quán và khả năng dự báo của chính sách. Nhà đầu tư dài hạn đánh giá rất cao sự ổn định của khung pháp lý, đặc biệt liên quan đến thị trường vốn, ngoại hối, thuế và bảo vệ nhà đầu tư. Không chỉ là luật trên giấy, mà là cách thực thi nhất quán, minh bạch và có lộ trình rõ ràng, giúp giảm “country risk premium” (CRP - Phần bù rủi ro quốc gia) trong mắt các nhà phân bổ vốn toàn cầu.
Thứ tư, xây dựng niềm tin dài hạn với nhà đầu tư quốc tế. Niềm tin này đến từ việc thị trường vận hành công bằng, thông tin minh bạch, quyền lợi cổ đông được bảo vệ và các chuẩn mực ESG (môi trường, xã hội, quản trị) được áp dụng một cách thực chất. Khi niềm tin được củng cố, Việt Nam sẽ không chỉ thu hút dòng vốn theo chỉ số, mà còn trở thành thị trường được các quỹ dài hạn chủ động tăng tỷ trọng.
Như vậy, bên cạnh những cải cách đang triển khai, yếu tố quyết định để thị trường chứng khoán Việt Nam thực sự hấp dẫn dòng vốn quốc tế trong thời gian tới là khả năng tiếp cận thuận lợi, nguồn hàng chất lượng, chính sách ổn định và niềm tin dài hạn. Đây chính là những điều kiện để Việt Nam chuyển từ “thị trường tiềm năng” sang “thị trường được phân bổ vốn chiến lược” trong danh mục toàn cầu.
Trong bối cảnh ESG ngày càng trở thành tiêu chí quan trọng của nhà đầu tư quốc tế, ESG nên được tiếp cận như một yêu cầu tuân thủ hay một trụ cột chiến lược trong câu chuyện huy động vốn dài hạn của doanh nghiệp niêm yết, thưa ông?
Dưới góc nhìn của nhà đầu tư quốc tế, ESG không nên chỉ được tiếp cận như một yêu cầu tuân thủ, mà cần được coi là một trụ cột chiến lược trong câu chuyện huy động vốn dài hạn của doanh nghiệp niêm yết. Ở giai đoạn đầu, tuân thủ là điều kiện cần để doanh nghiệp “đủ chuẩn” tham gia vào danh sách đầu tư của các quỹ quốc tế; nhưng về dài hạn, chỉ những doanh nghiệp tích hợp ESG một cách thực chất vào chiến lược kinh doanh mới có thể giữ chân dòng vốn lớn và ổn định.
Với doanh nghiệp niêm yết Việt Nam, cách tiếp cận hiệu quả là coi ESG như một lợi thế cạnh tranh trong huy động vốn: lựa chọn các ưu tiên ESG phù hợp với ngành nghề, minh bạch lộ trình thực hiện, gắn ESG với chiến lược tăng trưởng, phân bổ vốn và quản trị rủi ro. Khi đó, ESG không chỉ giúp doanh nghiệp “được đầu tư”, mà còn giúp được nắm giữ dài hạn trong danh mục của các quỹ quốc tế - điều cốt lõi nhất trong bối cảnh thị trường ngày càng hội nhập sâu vào dòng vốn toàn cầu.
Nhận định của SAM về cơ hội cũng như thách thức của thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2026?
Từ góc nhìn của SAM, năm 2026 sẽ là một năm vừa mở ra cơ hội, vừa đặt ra nhiều phép thử cho thị trường chứng khoán Việt Nam.
Về mặt tích cực, nền tảng vĩ mô trong nước tương đối ổn định, triển vọng tăng trưởng kinh tế vẫn khả quan và quá trình hiện đại hóa thị trường vốn bao gồm tác động lan tỏa từ việc Việt Nam được FTSE Russell nâng hạng tiếp tục hỗ trợ tâm lý nhà đầu tư và cải thiện chất lượng dòng vốn. Ở bên ngoài, thị trường Mỹ đang có diễn biến khá tích cực trong năm nay, phản ánh kỳ vọng rằng các tập đoàn toàn cầu, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ và năng lượng, vẫn duy trì được kết quả kinh doanh tốt. Nếu xu hướng này được duy trì, môi trường quốc tế sẽ bớt bất lợi hơn cho các thị trường mới nổi, trong đó có Việt Nam.
Tuy nhiên, các rủi ro và thách thức trong năm 2026 cũng cần được nhìn nhận rõ ràng. Thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ nhạy cảm hơn với các yếu tố bên ngoài như diễn biến lãi suất toàn cầu, chu kỳ dòng vốn tại các thị trường mới nổi và các rủi ro địa chính trị vẫn còn hiện hữu. Đồng thời, sự phân hóa sẽ ngày càng rõ nét: dòng tiền, đặc biệt là vốn tổ chức và vốn quốc tế, sẽ tập trung vào các doanh nghiệp đầu ngành, có quản trị tốt, kết quả kinh doanh thực chất và khả năng tiếp cận vốn quốc tế, thay vì lan tỏa trên diện rộng.
Vì vậy, theo SAM, khả năng thị trường chứng khoán Việt Nam tiếp tục tăng trưởng hai con số trong năm 2026 là có thể xảy ra trong kịch bản thuận lợi, khi môi trường quốc tế ổn định hơn và tăng trưởng lợi nhuận doanh nghiệp được duy trì. Tuy nhiên, đây không nên được coi là kịch bản cơ sở và sẽ khó mang tính đại trà như năm 2025. Kịch bản hợp lý hơn là một giai đoạn tăng trưởng có chọn lọc, dựa trên chất lượng doanh nghiệp và sự cải thiện của cấu trúc thị trường.
Cơ sở nào cho những nhận định đó, thưa ông?
Cơ sở cho các nhận định của SAM đến từ ba yếu tố: (i) bức tranh vĩ mô - thị trường toàn cầu đang “đỡ xấu” hơn kỳ vọng; (ii) kỳ vọng lợi nhuận doanh nghiệp vẫn tích cực (đặc biệt ở tech và năng lượng); (iii) các yếu tố cấu trúc trong nước đang cải thiện nhưng thị trường sẽ phân hóa mạnh.
Tuy nhiên, SAM nhấn mạnh các điều kiện ràng buộc, các báo cáo hay quan điểm quốc tế cũng cảnh báo rủi ro “quá tự tin” trong bối cảnh địa chính trị, thương mại và lạm phát còn bất định, nên kịch bản tích cực sẽ đi kèm biến động và các nhịp điều chỉnh.
Vì vậy, khi đưa ra nhận định cho thị trường chứng khoán Việt Nam 2026, chúng tôi dựa trên logic rằng nếu “bệ đỡ” toàn cầu (earnings, kỳ vọng lãi suất, khẩu vị rủi ro) duy trì, Việt Nam sẽ hưởng lợi; nhưng do mặt bằng định giá đã cao hơn sau năm 2025 và tiêu chuẩn của dòng vốn tổ chức ngày càng khắt khe, dòng tiền sẽ tập trung vào doanh nghiệp có nền tảng thật (quản trị, minh bạch, thanh khoản, tăng trưởng lợi nhuận), thay vì tăng đồng loạt.
Với kinh nghiệm đầu tư lâu năm trên thị trường chứng khoán Việt Nam, ông có lời khuyên gì cho các nhà đầu tư nội địa trong năm 2026?
Sau một năm tăng trưởng mạnh, mặt bằng định giá đã cao hơn, mức độ phân hóa sẽ rõ rệt hơn và biến động có thể lớn hơn. Vì vậy, lời khuyên quan trọng nhất là tập trung vào những doanh nghiệp có nền tảng kinh doanh thực chất, quản trị tốt, dòng tiền rõ ràng và có khả năng hưởng lợi từ các xu hướng dài hạn của nền kinh tế, thay vì chạy theo các câu chuyện ngắn hạn hoặc tâm lý đám đông.
Bên cạnh đó, nhà đầu tư nội địa nên nâng cao kỷ luật đầu tư và quản trị rủi ro. Việc đa dạng hóa danh mục, kiểm soát đòn bẩy và kiên nhẫn với chiến lược đã lựa chọn sẽ quan trọng hơn rất nhiều trong bối cảnh thị trường không còn tăng đồng loạt. Khi dòng vốn tổ chức và vốn quốc tế ngày càng đóng vai trò lớn, thị trường sẽ phản ứng nhanh hơn với thông tin và kết quả kinh doanh, khiến các quyết định đầu tư cảm tính trở nên rủi ro hơn.
Những kiến nghị của ông để phát triển thị trường trong dài hạn?
Về kiến nghị để phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam trong dài hạn, theo chúng tôi, trọng tâm cần nằm ở ba trụ cột.
Thứ nhất, tiếp tục hiện đại hóa hạ tầng và nâng cao khả năng tiếp cận thị trường, tiệm cận đầy đủ các chuẩn mực quốc tế về giao dịch, thanh toán và quản lý rủi ro.
Thứ hai, mở rộng nguồn “hàng hóa” chất lượng cao, thông qua cổ phần hóa, niêm yết và thoái vốn thực chất tại các doanh nghiệp lớn, song song với việc nâng chuẩn niêm yết và quản trị của khu vực tư nhân.
Thứ ba, xây dựng niềm tin dài hạn, bằng cách đảm bảo khung pháp lý ổn định, thực thi nhất quán, bảo vệ nhà đầu tư và khuyến khích minh bạch, quản trị tốt.
Với nhà đầu tư nội địa, năm 2026 nên được nhìn nhận như một giai đoạn tích lũy có chọn lọc và nâng cấp tư duy đầu tư. Còn với thị trường, đây là thời điểm quan trọng để chuyển từ tăng trưởng dựa vào dòng tiền sang tăng trưởng dựa vào chất lượng, niềm tin và chiều sâu, tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của thị trường chứng khoán Việt Nam.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8/2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html
-
Cà Mau: Mũi tàu mang khát vọng vươn khơi
Mùa hè năm 2025 đánh dấu bước ngoặt lớn khi Cà Mau và Bạc Liêu chính thức hợp nhất, tạo nên tỉnh Cà Mau - vùng đất cũ với tầm vóc mới, khát vọng mới. Không còn là miền đất xa xôi, Cà Mau ngày nay trở thành trung tâm năng động, đầu mối kết nối trục phát triển ven biển Tây Nam Bộ, từng bước vươn mình mạnh mẽ, hội tụ sức sống, tiềm năng và cơ hội để phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới.
Ngày 3/2/1930, khi lá cờ đỏ búa liềm lần đầu tung bay trên mảnh đất này, một trang sử mới mở ra, mở đầu cho một thời đại cách mạng hào hùng. Người anh hùng Phan Ngọc Hiển với lòng nhiệt thành và ý chí kiên trung đã gieo những hạt giống cách mạng đầu tiên trên đất Cà Mau, khơi dậy ngọn lửa đấu tranh trong lòng nhân dân.
NƠI THIÊN NHIÊN HOANG SƠ HÒA NHỊP CÙNG ĐÔ THỊ HIỆN ĐẠIChỉ mười năm sau, Khởi nghĩa Hòn Khoai (13/12/1940) ghi dấu một bước ngoặt lịch sử, trở thành phát súng đầu tiên, trận thắng đầu tiên trong lịch sử cách mạng của Đảng bộ, quân và dân Cà Mau.
Đại hội Đảng bộ tỉnh Minh Hải (nay là Cà Mau) lần thứ VI (1981-1982) quyết định lấy ngày 13/12 ngày Khởi nghĩa Hòn Khoai làm ngày truyền thống cách mạng vẻ vang của Đảng bộ, dân và quân tỉnh nhà. Kể từ đó, mốc son lịch sử ấy trở thành biểu tượng bất tử, một niềm tự hào sâu sắc của Cà Mau, nhắc nhở thế hệ này nối tiếp thế hệ khác về ý chí kiên cường, lòng dũng cảm và tinh thần bất khuất của quê hương.
Trong chuyến về thăm và làm việc tại Cà Mau, Tổng bí Thư Tô Lâm đã nhấn mạnh: “Cà Mau là đất cuối trời Nam, nhưng chưa bao giờ là điểm cuối của khát vọng Việt Nam. Trong kỷ nguyên mới, chúng ta cần coi Cà Mau là mũi của con tàu Việt Nam vươn ra biển lớn”.
Rừng U Minh Hạ, rừng Năm Căn hay những cánh rừng ven biển không chỉ là nguồn sống mà còn là lớp áo giáp thiên nhiên bảo vệ vùng lõi sinh sống của cộng đồng. Từng ngọn đước, cây mắm đến những cánh rừng ngập mặn xanh thẫm như ôm trọn đất và nước, vừa che chắn bờ bãi, vừa nuôi sống bao loài thủy sinh quý hiếm.
Người Cà Mau từ bao đời gắn bó mật thiết với sông nước, với nhịp sống len lỏi theo dòng kênh, rạch, từng con đò, từng mùa nước nổi. Lối sống của họ mộc mạc, chân chất, nhưng cũng rộng mở, hào sảng, luôn chan chứa nghĩa tình.
Cà Mau còn chinh phục trái tim mỗi người phương xa bằng những hương vị đặc trưng, mang đậm tinh hoa của đất và biển. Món cua Cà Mau chắc thịt, gạch đỏ au, ngọt tự nhiên, hay tôm khô đậm đà khiến du khách phương xa không thể nào bỏ lỡ khi đặt chân đến. Mỗi món ăn là câu chuyện về rừng, về biển, về những cánh đồng nặng phù sa…
Bức tranh về vùng đất Cà Mau sẽ chưa thể tròn vẹn nếu thiếu đi những gam màu rực rỡ của nhịp sống đô thị đang trỗi dậy mạnh mẽ. Rời xa những cánh rừng ven biển, bước vào lòng trung tâm đô thị của tỉnh Cà Mau, du khách ngỡ ngàng trước một diện mạo trẻ trung, năng động và hiện đại. Vị trí địa lý nơi “cuối đất” không hề là rào cản khiến nơi đây kém phát triển, mà trái lại, dường như càng thôi thúc ý chí vươn lên, biến Cà Mau trở thành một điểm sáng kinh tế vùng cực Nam Tổ quốc.
Chính sự giao thoa giữa thiên nhiên hoang sơ của Đất Mũi và sức bật mạnh mẽ, năng động, hiện đại của thành phố trung tâm đã tạo nên một Cà Mau đầy sức hút.
Trước đây, hạn chế về hạ tầng là rào cản lớn khiến Cà Mau có phần kém phát triển so với các tỉnh, thành trong cả nước. Vùng đất cuối trời cách xa trung tâm, thiếu nguồn vật liệu xây dựng tại chỗ, nền địa chất yếu khiến suất đầu tư công trình cao gấp nhiều lần so với nơi khác. Giao thông đường bộ hạn chế, phần lớn di chuyển phải bằng đường thủy, các tuyến sông rạch trở thành động mạch chính của đời sống kinh tế - xã hội.
Với tinh thần “giao thông đi trước, mở đường phát triển”, từ những con đường huyết mạch như Quốc lộ 1, tuyến đường Hồ Chí Minh xuyên tỉnh, đến nay những công trình trọng điểm như cầu vượt sông, đường ven biển, tuyến cao tốc Cần Thơ - Cà Mau và Cà Mau - Đất Mũi đang từng bước hình thành, nối những rừng tràm, bãi bồi và biển cả vào nhịp sống phát triển chung của cả nước. Những tuyến đường này không chỉ giải quyết vấn đề giao thông, mà còn kiến tạo nền tảng kinh tế - xã hội vững chắc, nâng cao năng lực kết nối vùng, liên vùng và quốc tế, mở ra không gian cho thương mại, công nghiệp và du lịch phát triển bền vững.
HẠ TẦNG MỞ LỐI CHO CỰC PHÁT TRIỂNGiữa vùng đất xa xôi nơi cực Nam Tổ quốc, cụm công nghiệp Khí - Điện - Đạm Cà Mau đã viết nên một kỳ tích công nghiệp. Hơn hai thập kỷ qua, tổ hợp Khí - Điện - Đạm lớn nhất khu vực Tây Nam Bộ không chỉ là công trình trọng điểm quốc gia mà còn là biểu tượng của khát vọng làm chủ công nghệ. Công suất lớn, vận hành ổn định, đây là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế biển, nuôi trồng và chế biến thủy sản, đồng thời thu hút các nhà đầu tư lớn, góp phần tạo việc làm và tăng thu ngân sách địa phương.
Năm 2025 ghi dấu nhiều bước tiến mới trong việc hiện thực hóa những công trình hạ tầng chiến lược kết nối không gian biển - đảo, mở rộng dư địa phát triển kinh tế. Điểm sáng nổi bật nhất là dự án cầu vượt biển dài hơn 18 km kết nối đất liền Cà Mau với đảo Hòn Khoai đang được thi công với mục tiêu hoàn thành vào năm 2028. Khi đưa vào sử dụng, đây sẽ là công trình cầu vượt biển dài nhất Việt Nam và nằm trong nhóm đầu khu vực, tạo điều kiện thuận lợi cho giao thông, logistics và du lịch biển đảo tại cực Nam Tổ quốc.
Song hành với đó là Cảng tổng hợp lưỡng dụng Hòn Khoai đang được triển khai xây dựng trên đảo Hòn Khoai với quy mô hiện đại, công suất tiếp nhận tàu đến 250.000 DWT, định hướng trở thành cảng nước sâu chiến lược, kết nối các tuyến vận tải biển quốc tế. Khi cảng và cầu vượt biển đi vào hoạt động, hệ thống hạ tầng chiến lược này sẽ kiến tạo một “trục động lực” mới cho kinh tế biển Cà Mau, thúc đẩy giao thương, xuất khẩu và liên kết vùng sâu rộng hơn.
Khi hoàn thành, Hòn Khoai sẽ trở thành mắt xích trọng yếu trong chuỗi logistics quốc gia, kích hoạt công nghiệp chế biến và dịch vụ chất lượng cao, biến những lợi thế tĩnh thành động lực tăng trưởng thực tế cho Cà Mau. Hạ tầng giao thông đồng bộ cũng thúc đẩy du lịch, dịch vụ và các ngành công nghiệp phụ trợ phát triển. Các tuyến cao tốc, cầu vượt biển và cảng lưỡng dụng không chỉ rút ngắn thời gian di chuyển mà còn nâng cao năng lực kết nối, xuất nhập khẩu nông - thủy sản.
Những bước đi này đã và đang trở thành bệ phóng, đưa Cà Mau từ vùng đất xa xôi trở thành trung tâm kinh tế biển năng động. Từ đây, Cà Mau chứng minh rằng sự kiên trì, quyết tâm và tầm nhìn chiến lược có thể biến những điều tưởng chừng khó khăn nhất thành điểm tựa cho sự phát triển công nghiệp, tạo nên cực tăng trưởng mới và góp phần quan trọng vào hành trình đưa Đất Mũi vươn mình ra biển lớn.
ĐỊA ĐẦU PHƯƠNG NAM TRONG TÂM THẾ VƯƠN MÌNHTỉnh Cà Mau sau khi hợp nhất từ ngày 1/7/2025, có diện tích hơn 7.942 km2, dân số trên 2,6 triệu người đã mở ra một chương mới cho tỉnh, hội tụ đầy đủ lợi thế để phát triển nuôi tôm sinh thái và thâm canh, năng lượng tái tạo, du lịch, dịch vụ logistics, cùng công nghiệp chế biến.
Khép lại năm 2025, kinh tế Cà Mau tiếp tục duy trì đà phục hồi và tăng trưởng ổn định. GRDP ước đạt 8%, hoàn thành mục tiêu đề ra, với tổng giá trị sản phẩm trên địa bàn theo giá hiện hành hơn 172 ngàn tỷ đồng; GRDP bình quân đầu người đạt khoảng 80 triệu đồng/năm. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực, khi khu vực dịch vụ và công nghiệp – xây dựng ngày càng khẳng định vai trò động lực, trong khi nông - lâm - thủy sản tiếp tục là trụ đỡ quan trọng.
Định hướng phát triển của tỉnh tập trung cơ cấu lại nền kinh tế, phát triển thủy sản công nghệ cao, công nghiệp chế biến, năng lượng sạch; hoàn thiện hạ tầng trọng điểm; đẩy mạnh chuyển đổi số, bảo vệ môi trường, phát triển nguồn nhân lực và văn hóa - du lịch; đồng thời đảm bảo an sinh, quốc phòng - an ninh, mở rộng hợp tác quốc tế.
Tầm nhìn chiến lược của Cà Mau gắn liền với chủ trương “mạnh về biển, giàu từ biển và phát triển bền vững”, nhấn mạnh bảo vệ chủ quyền biển đảo, khai thác kinh tế biển hiệu quả, phát triển logistics quốc tế và du lịch biển đảo. Hệ thống hạ tầng giao thông, cảng biển cùng các dự án năng lượng và công nghiệp chế biến sẽ kiến tạo trục động lực mới, đưa Cà Mau trở thành địa đầu phương Nam đầy tiềm năng.
Các dự án trọng điểm đang được triển khai đồng bộ, khi đi vào hoạt động, những công trình này sẽ rút ngắn khoảng cách tới các trung tâm kinh tế lớn, giảm chi phí vận tải, mở ra không gian phát triển mới cho du lịch biển đảo, thương mại và công nghiệp...
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html
- Hải Vân
Sức sống mới ở những ngôi làng bên kia Phá Tam Giang
Từ trên cầu Trường Hà nối đôi bờ phá Tam Giang, khung cảnh đầm phá mở ra hiền hòa, mênh mang nước biếc. Nhìn xuống đầm, những hàng cọc đáy giăng trên mặt nước thẳng tắp, còn phía Tây, đỉnh Bạch Mã mây trắng phủ mờ. Con phá lớn nhất Đông Nam Á này là nơi hợp lưu của ba dòng sông Ô Lâu, Hương và Bồ trước khi đổ ra biển Thuận An.
Đi qua cầu Trường Hà, thấy ngay phố xá mọc lên san sát ở ngã tư Vinh Thanh và hai bên quốc lộ 49B. Nhưng chỉ cần đi sâu vào dải đất mỏng bên phá, một thế giới khác hiện ra: triền miên cát trắng, cát xô trước thềm nhà, cát bay qua mái ngư phủ bạc màu nắng muối. Cát phủ lên cả bông xương rồng héo rũ cuối chiều, mang theo mùi hoang dại đặc quánh tinh dầu của những loài cỏ bụi.
Ký ức chiến tranh và cuộc mưu sinh khắc nghiệt vẫn nằm trong từng đụn cát, từng rặng phi lao và trong câu chuyện trầm ngâm của những người cao niên nơi đây. Trong câu chuyện với chúng tôi, ông Nguyễn Văn Khôi, sinh năm 1945, ở xã Phú Vinh (trước 1/7/2025 là xã Vinh An), nhớ lại quãng đời cơ cực thời Mỹ - Ngụy. Trước năm 1954, một người anh của ông tập kết ra Bắc, ông còn nhỏ nên ở nhà sống cùng mẹ. Đến tuổi trưởng thành, ông bị bắt đi lính Việt Nam Cộng hòa vào năm 1962. Mang súng ra chiến trường, ông luôn lo sợ có ngày bắn vào người thân của mình ở bên kia chiến tuyến.
“Ngày ấy, tôi luôn canh cánh nỗi lo biết đâu một ngày bắn vào anh ruột của mình là bộ đội Cụ Hồ. Vì vậy, tôi tự bắn vào tay mình để xin giải ngũ. Tôi suýt bị quân đội Việt Nam Cộng hòa xử tội phản ngũ. May mắn, bố vợ là chủ hiệu vàng Kiếm nổi tiếng ở Huế, đã phải bỏ ra khoản lớn để lo liệu, cứu tôi khỏi án tử”, ông Khôi kể và giơ bàn tay có ngón cái bị cụt lên cho tôi xem.
Ông Khôi vẫn nhớ như in những năm tháng đạn bom: do thưa dân, vùng đầm phá được đánh dấu là tuyến phòng bị, cũng là nơi quân miền Bắc nằm vùng. Vì vậy, cây phi lao bị đốn trụi để mở tầm nhìn, trực thăng quần thảo trên những rặng xanh. “Chiều nào cũng có xe cam nhông chở đầy xác lính chạy qua làng. Nhà nào có người đi lính phía bên kia là chúng đốt nhà, bắt người”, ông kể, ánh mắt dõi về đường chân trời tím sẫm. Bao kiếp người ngã xuống, dân làng chôn cất vào những nấm mồ vô chủ trên trảng cát. Mỗi khi gần Tết, ông cùng người làng thường chạp mộ âm linh, truyền thống gìn giữ qua nhiều đời để tưởng nhớ những người khuất mặt không nơi nương tựa.
Từ khi đất nước thống nhất, sự bình yên đã trở lại với vùng phá Tam Giang nhưng cái nghèo vẫn đeo đẳng suốt nhiều thập kỷ. Ông Khôi nhớ lại, khu vực cồn phá xưa kia thưa vắng dân cư, bốn bề chỉ toàn cát trắng, nhà này cách nhà kia cả trăm mét. Thời ấy, diện tích đất phụ thuộc vào công sức khai hoang; nhờ vậy mà khuôn viên gia đình ông hiện vẫn rộng gần 2 ha, chưa kể 1 ha đã chia cho người con trai.
Do đặc thù thổ nhưỡng đất cát, người dân chỉ trồng được phi lao chắn gió chứ không thể canh tác lúa hay cây lương thực, gạo ăn phải mua từ nơi khác. Rau xanh chủ yếu là các loại dân dã như dấp cá, rau ngổ, rau khoai, sống nhờ nguồn nước mưa tích trữ trong ao. Vào mùa khô, ao cạn nước khiến việc trồng rau cũng ngưng trệ. Hoạt động chăn nuôi cũng đầy khó khăn, chỉ duy trì được trâu, bò, dê nhờ nguồn cỏ tự nhiên; trong khi gà và lợn gần như không nuôi nổi vì người còn thiếu ăn, lấy đâu thức ăn cho gia súc.
Trước khi có cầu Trường Hà, muốn vào đất liền phải đi đò, nên người dân quanh năm chỉ luẩn quẩn quanh vùng phá, gần như không ra bên ngoài. Mãi đến năm 2003, khi cầu hoàn thành, hàng hóa mới được trao đổi dễ dàng hơn, người ngoài mới tìm đến mua đất xây nhà. Từ đó, dải đất bên phá dần hình thành phố xá, đặc biệt là khu vực ngã tư ngay chân cầu.
Hai mươi năm nay, ông Khôi trồng phi lao và cây keo, cứ 5 năm thì thu hoạch bán dăm gỗ. Chỉ vào những hàng cây keo vừa mới trồng, cây chỉ cao chừng gang tay, ông Khôi nói: “Tôi năm nay 81 tuổi rồi, không muốn bán dăm gỗ nữa. Vườn keo mới trồng này, tôi dặn con cháu không thu hoạch sớm, mà để 20-30 năm cho chúng lên xanh thành rừng cây gỗ lớn”.
Từ khi giao thông thuận tiện, nhiều người đã phát triển trồng trọt, chăn nuôi. Sang nhà anh Liễm là con trai của ông Khôi, gặp lúc gia đình đang xuất lứa lợn 20 con. Anh Liễm cho hay bình quân mỗi năm nuôi 3 lứa lợn, xuất bán lợi nhuận khoảng 50-80 triệu đồng. Anh Liễm còn cải tạo vườn, đem đất từ nơi khác về đổ lên nền cát, đầu tư nhà lưới chắn gió cát để trồng rau. Nhờ chăn nuôi trồng trọt, vợ chồng anh Liễm xây được ngôi nhà mái bằng rộng rãi khang trang.
Ở Phá Tam Giang, nhiều người dân từ xưa đã bám đầm phá bằng nghề chài lưới, đặt đáy. Những năm gần đây, nghề nuôi cá lồng, cá bè phát triển mạnh, chủ yếu các loài cá nước lợ như cá trắm cỏ, cá nâu, cá dầy, cá đối, cá dìa. Mô hình “gần tự nhiên”, tận dụng rong rêu và nguồn thức ăn sẵn có của đầm phá giúp người dân giảm chi phí và ổn định sinh kế.
Đáng chú ý nhất, cá dìa là loài cá đặc hữu của vùng đầm phá Tam Giang, có giá trị kinh tế cao. Tùy thời điểm, giá cá dìa dao động từ 130.000–200.000 đồng/kg. Theo số liệu địa phương, diện tích nuôi trồng thủy sản toàn vùng phá Tam Giang hiện đạt 4.925 ha, gồm 85,5 ha nuôi chuyên tôm, 113 ha nuôi chuyên cá, 3.336 ha nuôi xen ghép, 1.388 ha nuôi chắn sáo và 8.482 lồng nuôi cá lồng. Trong đó, Phú Vang dẫn đầu với 2.778,5 ha, tiếp đến là Phú Lộc với 1.037 ha.
Hệ thống đầm phá Tam Giang - Cầu Hai, rộng tới 22.000 ha và được xem là lớn nhất Đông Nam Á, sở hữu cảnh quan cùng giá trị sinh thái đặc sắc. Nơi đây có nhiều bãi biển đẹp, là tài nguyên cho phát triển du lịch. Bãi biển Thuận An nằm ở nơi sông Hương đổ vào phá Tam Giang trước khi vươn ra biển Đông, từng được xếp vào cảnh đẹp thứ 10 trong “Thần kinh nhị thập cảnh”.
Nằm trên quốc lộ 49B, cách Huế khoảng 30 km, biển Vinh Thanh mang vẻ đẹp bình yên với không khí trong lành, bãi biển xanh biếc và mây trắng chan hòa. Trong khi đó, bãi biển Phú Diên khiến nhiều du khách thích thú với bãi cát rộng, nước biển trong vắt và không gian yên bình. Địa phương đã xây dựng điểm check-in lấy cảm hứng từ đời sống ngư dân với lưới chài, thúng rái…
Những năm qua, Thành phố Huế đã tập trung đầu tư và nâng cấp hạ tầng giao thông, thủy lợi, phòng chống thiên tai và bảo vệ môi trường nhằm thúc đẩy phát triển toàn vùng đầm phá. Địa phương cũng đã phê duyệt đề cương Đề án phát triển kinh tế - xã hội vùng đầm phá Tam Giang - Cầu Hai đến năm 2030, trong đó ưu tiên thủy sản, nông nghiệp sinh thái đặc thù và đưa du lịch trở thành ngành kinh tế chủ lực.
Tại đầm Chuồn ở Phú An, nhiều hộ gia đình và doanh nghiệp đã được hỗ trợ vay vốn để xây dựng nhà hàng phục vụ du khách. Khu du lịch sinh thái đầm Chuồn rộng hơn 100 ha, nổi bật với những căn nhà chồ bằng tre lồ ô giữa mặt nước, vừa là nơi sinh hoạt của ngư dân, vừa là không gian nghỉ ngơi, ngắm cảnh, thưởng thức đặc sản cho du khách. Những loại hình du lịch như ngắm bình minh, hoàng hôn; khám phá thủy hải sản, chim nước; nghiên cứu hệ sinh thái; tham quan làng nghề; tắm biển; thể thao nước; xe đạp địa hình trên cồn cát; hay tham quan di tích lịch sử… đang thu hút đông đảo khách đến, góp phần tăng thu nhập, tạo việc làm và giảm nghèo cho cộng đồng cư dân vùng đầm phá.
Theo Quyết định 955/QĐ-UBND được tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là Thành phố Huế) phê duyệt vào năm 2023, đồ án Quy hoạch đô thị Vinh Thanh và vùng phụ cận có quy mô hơn 1.500 ha, bao gồm toàn bộ xã Vinh Thanh cũ và một phần các xã Vinh An, Vinh Xuân. Vinh Thanh được định hướng trở thành tiểu đô thị trung tâm của tiểu vùng ven biển đầm phá, sẽ phát triển theo mô hình sinh thái - cảnh quan, ưu tiên các ngành du lịch dịch vụ, nuôi trồng và khai thác thủy sản, đồng thời hình thành các tổ hợp khách sạn, khu vui chơi giải trí và hệ thống bãi tắm đạt chuẩn quốc tế.
Quy hoạch chia Vinh Thanh thành bốn vùng chức năng đặc trưng. Khu vực không gian ven phá sẽ khai thác hệ sinh thái nước lợ để phát triển các dịch vụ du lịch đặc trưng và các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp liên quan. Khu vực đô thị hiện hữu được chỉnh trang, bổ sung hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội, hình thành thêm các khu dân cư mới. Không gian trằm nước sẽ trở thành “lõi xanh” của đô thị, gắn với định hướng phát triển du lịch sinh thái, khu ở cao cấp và nông nghiệp xanh. Trong khi đó, dải không gian ven biển được quy hoạch phát triển mạnh dịch vụ du lịch biển với hệ thống resort, khách sạn, khu giải trí và bãi tắm công cộng. Từ ngày 1/7/2025, các xã Phú Diên, Vinh Xuân, Vinh An và Vinh Thanh đã sáp nhập trở thành xã Phú Vinh, càng mở ra dư địa phát triển đô thị và kinh tế cho vùng đất này, kỳ vọng sẽ thay da đổi thịt trong tương lai.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8/2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html
-
Ngựa bạch “cực phẩm” ở xóm Phẩm
Ngựa bạch không chỉ là một loài vật nuôi thông thường mà còn mang trong mình giá trị dược liệu quý giá. Thịt và xương ngựa bạch được sử dụng để nấu cao làm thuốc chữa bệnh, khiến giá của chúng cao hơn so với các giống ngựa khác. Nhờ vào lợi nhuận tốt, mô hình chăn nuôi ngựa bạch đã phát triển mạnh mẽ ở các tỉnh miền núi phía Bắc như Lạng Sơn, Bắc Giang, Hà Giang, và đặc biệt là Thái Nguyên.
Tại xóm Phẩm, ông Dương Văn Đoàn nổi tiếng là một "kỳ nhân" trong nghề buôn ngựa bạch. Ông không chỉ nuôi ngựa mà còn tham gia vào mọi khâu từ bán giống, bán xương, thẩm định ngựa đến nấu cao. Với con mắt nghề tinh tường, ông Đoàn có thể dễ dàng phân biệt ngựa bạch bản địa và bạch Tây Tạng, xác định trọng lượng và tuổi của chúng chỉ qua một cái liếc mắt. Mỗi tháng, ông bán từ 15 đến 40 con ngựa bạch, bao tiêu hàng trăm con mỗi năm, và nấu gần 50 nồi cao vào dịp Tết âm lịch.
Ngựa bạch ở Xóm PhẩmNgựa bạch Việt Nam có trọng lượng từ 170 đến 250 kg, giá từ 60 đến 80 triệu đồng mỗi con, trong khi bạch Tây Tạng nặng hơn và có giá từ 90 đến hơn 100 triệu đồng. Xương ngựa bạch được bán với giá 35 đến 45 triệu đồng mỗi bộ, còn phổi ngựa bạch, một món thuốc hen quý, có giá 8 triệu đồng một bộ. Nghề nấu cao ngựa bạch cũng phát triển mạnh mẽ, với quy trình nấu cao công phu kéo dài từ 24 giờ đến 7 ngày đêm.
Xóm Phẩm, trước đây thuộc xã Dương Thành, huyện Phú Bình, đã có truyền thống nuôi ngựa từ lâu. Tuy nhiên, chỉ khi giá trị của ngựa bạch được phát hiện, nghề nuôi ngựa bạch mới thực sự phát triển. Từ những năm 1970, người dân đã bắt đầu nhập ngựa bạch từ Trùng Khánh, Cao Bằng về gây giống. Đến năm 2008, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển chăn nuôi miền núi đã tổ chức các hộ dân lập Hội Chăn nuôi ngựa bạch, sau đó chuyển thành Hợp tác xã Chăn nuôi ngựa bạch xóm Phẩm vào năm 2013.
Ngựa bạch đã trở thành "mũi nhọn" kinh tế, giúp người dân xóm Phẩm thoát nghèo và vươn lên thành triệu phú, tỷ phú. Với 164 hộ dân, phần lớn xem ngựa là nghiệp, là vốn liếng, là niềm tin. Ngựa giống 6–7 tháng tuổi có giá 25–35 triệu đồng, ngựa thịt 1,5 tuổi có giá 50–70 triệu đồng. Nghề nấu cao cũng mang lại thu nhập ổn định, với sản phẩm cao ngựa bạch Trường Nguyên được chứng nhận OCOP 4 sao từ năm 2020.
Ông Dương Xuân Trường, Giám đốc Hợp tác xã, tự hào về giấc mơ lớn hơn khi phát triển thêm các sản phẩm từ ngựa bạch như cao phổi, cao gân, viên nén cao ngựa, phổi ngựa ngâm mật ong, xúc xích ngựa, giò ngựa. Ông còn đầu tư xây dựng gian hàng giới thiệu đặc sản từ ngựa và mở dịch vụ du lịch trải nghiệm làm cao, thưởng thức món ngon từ ngựa bạch.
Xóm Phẩm đã thực sự thay da đổi thịt, với thu nhập bình quân đạt hơn 85 triệu đồng/người/năm, nhiều hộ thu 400–500 triệu đồng/năm, có nhà thu nhập cả tỷ đồng/năm. Tiếng vó ngựa lốc cốc hòa trong tiếng cười nói rộn rã, như nhịp điệu đặc trưng của một vùng quê biết làm giàu từ thứ tưởng chừng bị bỏ quên. Giữa sắc trắng của những chú bạch mã thong dong trên bãi cỏ, người dân nơi đây đã tìm thấy màu mới của cuộc sống, màu của đổi thay, của cần cù, của hy vọng. Trong tiếng vó không ngừng gõ nhịp trên đất quê, ta nghe như vang lên câu chuyện về một vùng quê biết vượt lên chính mình, từ sự giản đơn mà làm nên điều kỳ diệu.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên ấn phẩm đặc biệt Tạp chí Kinh tế Việt Nam mừng xuân Bính Ngọ phát hành ngày 16/2 - 1/3/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
https://vneconomy.vn/don-doc-an-pham-dac-biet-cua-tap-chi-kinh-te-viet-nam-mung-xuan-binh-ngo-2026.htm
-Chu Minh Khôi
Ấn Độ tăng gấp đôi quy mô đầu tư mạo hiểm của Nhà nước, phê duyệt quỹ 1,1 tỷ USD
Ấn Độ vừa phê duyệt chương trình đầu tư mạo hiểm trị giá 1,1 tỷ USD do Nhà nước bảo trợ. Theo đó, tiền ngân sách sẽ được rót vào các công ty khởi nghiệp thông qua các quỹ đầu tư tư nhân, thay vì đầu tư trực tiếp.
Động thái này giúp chính phủ tăng gấp đôi nguồn lực dành cho những lĩnh vực rủi ro cao như trí tuệ nhân tạo, sản xuất tiên tiến và các ngành thuộc nhóm “công nghệ sâu”.
Chương trình lần đầu ra mắt từ năm 2016, cam kết đầu tư 100 tỷ rupee cho 145 quỹ đầu tư tư nhân. Các quỹ này đã rót hơn 255 tỷ rupee (khoảng 2,8 tỷ USD) vào hơn 1.370 doanh nghiệp khởi nghiệp, theo số liệu chính thức công bố cuối tuần qua.
Chương trình được thiết kế theo mô hình “quỹ của các quỹ” – một cách làm phổ biến trong đầu tư mạo hiểm. Theo đó Nhà nước không trực tiếp rót vốn vào doanh nghiệp mà phân bổ nguồn lực cho các quỹ tư nhân, để họ thực hiện đầu tư.
So với giai đoạn năm 2016, chương trình mới được định hướng mục tiêu rõ ràng hơn, tập trung vào các startup công nghệ sâu và sản xuất, những lĩnh vực đòi hỏi chu kỳ phát triển dài và nhu cầu vốn lớn.
Bên cạnh đó, chính phủ Ấn Độ cũng đặt mục tiêu hỗ trợ các nhà sáng lập ở giai đoạn đầu, mở rộng đầu tư ra ngoài các đô thị lớn và củng cố hệ sinh thái quỹ đầu tư trong nước, đặc biệt là các quỹ quy mô nhỏ.
Tại buổi công bố, Bộ trưởng Công nghệ thông tin Ấn Độ Ashwini Vaishnaw nhấn mạnh tốc độ tăng trưởng ấn tượng của hệ sinh thái khởi nghiệp Ấn Độ.
Số lượng startup đã tăng từ dưới 500 vào năm 2016 lên hơn 200.000 hiện nay. Riêng năm 2025, có hơn 49.000 doanh nghiệp khởi nghiệp được đăng ký mới. Đây mức cao nhất từng ghi nhận trong một năm.
Việc nội các Ấn Độ phê duyệt quỹ mới diễn ra sau hàng loạt điều chỉnh chính sách nhằm tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp công nghệ sâu. Chính phủ nước này đã kéo dài thời gian được công nhận là “startup” từ 10 năm lên 20 năm, đồng thời nâng ngưỡng doanh thu đủ điều kiện hưởng ưu đãi thuế và các hỗ trợ pháp lý từ 1 tỷ rupee lên 3 tỷ rupee (khoảng 33 triệu USD).
Là quốc gia đông dân nhất thế giới và một trong những thị trường internet lớn nhất với hơn một tỷ người dùng trực tuyến, Ấn Độ đang trở thành điểm đến ngày càng hấp dẫn đối với các tập đoàn công nghệ toàn cầu muốn mở rộng tệp khách hàng.
Tuy nhiên, trong bối cảnh vốn tư nhân ngày càng thận trọng, việc huy động nguồn lực trở nên khó khăn hơn. Năm 2025, hệ sinh thái khởi nghiệp Ấn Độ gọi vốn được 10,5 tỷ USD, giảm hơn 17% so với năm trước. Số vòng gọi vốn cũng giảm gần 39%, xuống còn 1.518 thương vụ, theo dữ liệu từ Tracxn.
-Hạ Chi
Tổng Bí thư Tô Lâm lên đường tham dự cuộc họp khai mạc Hội đồng Hòa bình về Gaza tại Hoa Kỳ
Tham gia chuyến công tác cùng Tổng Bí thư Tô Lâm có các đồng chí: Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Đại tướng Lương Tam Quang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an; Nguyễn Duy Ngọc, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội; Lê Hoài Trung, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao; Phạm Gia Túc, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng; Nguyễn Văn Thắng, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Tài chính; Nguyễn Thị Hồng, Ủy viên Trung ương Đảng, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước; Lê Mạnh Hùng, Ủy viên Trung ương Đảng, Quyền Bộ trưởng Bộ Công Thương; Tô Ân Xô, Trợ lý Tổng Bí thư, phụ trách Văn phòng Tổng Bí thư; Nguyễn Quốc Dũng, Đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ.
Sự tham dự của Lãnh đạo cao nhất của Việt Nam cho thấy sự ủng hộ và sẵn sàng tham gia của Việt Nam vào các nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế vì hòa bình và phát triển. Đây cũng là việc cụ thể hóa thỏa thuận hợp tác trên các vấn đề quốc tế trong nội hàm Đối tác chiến lược toàn diện giữa Việt Nam và Hoa Kỳ.
-Hà Lê
Tổng Bí thư Tô Lâm lên đường tham dự cuộc họp khai mạc Hội đồng Hòa bình về Gaza tại Hoa Kỳ
Tham gia chuyến công tác cùng Tổng Bí thư Tô Lâm có các đồng chí: Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Đại tướng Lương Tam Quang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an; Nguyễn Duy Ngọc, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội; Lê Hoài Trung, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao; Phạm Gia Túc, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng; Nguyễn Văn Thắng, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Tài chính; Nguyễn Thị Hồng, Ủy viên Trung ương Đảng, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước; Lê Mạnh Hùng, Ủy viên Trung ương Đảng, Quyền Bộ trưởng Bộ Công Thương; Tô Ân Xô, Trợ lý Tổng Bí thư, phụ trách Văn phòng Tổng Bí thư; Nguyễn Quốc Dũng, Đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ.
Sự tham dự của Lãnh đạo cao nhất của Việt Nam cho thấy sự ủng hộ và sẵn sàng tham gia của Việt Nam vào các nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế vì hòa bình và phát triển. Đây cũng là việc cụ thể hóa thỏa thuận hợp tác trên các vấn đề quốc tế trong nội hàm Đối tác chiến lược toàn diện giữa Việt Nam và Hoa Kỳ.
-Hà Lê
So sánh thuế thu nhập cá nhân ở các nước châu Âu
Ở hầu hết các quốc gia châu Âu, người có thu nhập càng cao thường phải đóng thuế thu nhập cá nhân với thuế suất càng cao. Tuy nhiên, thuế suất cao nhất đối với thu nhập cá nhân lại có sự khác biệt đáng kể giữa các quốc gia ở khu vực này.
Trang Euronews dẫn số liệu từ tổ chức Tax Foundation cho thấy các nước Bắc Âu và Tây Âu thường áp dụng thuế suất cao nhất, trong khi các nước Đông Âu có xu hướng duy trì mức thuế thấp hơn.
Tại Đan Mạch, thuế suất cao nhất của thuế thu nhập cá nhân được dự kiến sẽ tăng lên 60,5% trong năm 2026, cao nhất trong khu vực.
Bên cạnh Đan Mạch, 6 quốc gia khác cũng áp dụng thuế suất cao nhất của thuế thu nhập cá nhân trên mức 50%, bao gồm Pháp, Áo, Tây Ban Nha, Bỉ, Bồ Đào Nha và Thụy Điển. Những quốc gia này thường có hệ thống phúc lợi xã hội phát triển, đòi hỏi nguồn thu lớn từ thuế để duy trì các dịch vụ công cộng.
Những người thuộc nhóm thu nhập cao nhất ở Slovenia và Hà Lan cũng phải đối mặt với thuế suất khoảng 50%.
Ngược lại, các nước như Bulgaria và Romania áp dụng thuế suất cao nhất chỉ 10%, thấp nhất ở châu Âu. Các quốc gia Đông Âu khác như Moldova, Hungary, Ukraine, Georgia, Czechia và Estonia cũng duy trì mức thuế dưới 25%, cho thấy một xu hướng chung trong khu vực này là ưu tiên thu hút đầu tư và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua chính sách thuế thấp.
Trung bình, thuế suất cao nhất ở 35 quốc gia châu Âu là 38,5%, nhưng con số này tăng lên 43,4% nếu chỉ tính các thành viên châu Âu của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD).
Có tổng cộng 18 quốc gia châu Âu áp dụng mức thuế trên 40%. Các nền kinh tế lớn nhất châu Âu gồm Anh, Đức, Ý, Pháp và Tây Ban Nha có thuế suất dao động từ 45% ở Anh đến 55,4% ở Pháp.
Một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chính sách thuế là sự thay đổi chính sách của chính phủ. Nhiều quốc gia đã điều chỉnh thuế suất cao nhất của thuế thu nhập cá nhân trong năm qua - theo Tax Foundation.
“Nhìn chung, các chính phủ có thể tạo ra thu ngân sách từ thuế một cách hiệu quả hơn bằng cách tận dụng thuế suất biên ở phân khúc thu nhập thấp hơn, thay vì sử dụng thuế suất cao hơn ở phân khúc thu nhập cao nhất. Đó là bởi việc áp dụng thuế suất cao hơn cho một bậc thuế sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến động lực kiếm tiền chỉ đối với những cá nhân trong bậc thuế đó, nhưng lại tăng thu ngân sách từ tất cả người nộp thuế ở các bậc thuế cao hơn” - ông Alex Mengden, nhà phân tích chính sách toàn cầu tại Tax Foundation, nhận định trong một bài viết.
Đan Mạch đã giới thiệu một khung thuế mới cho thu nhập trên 2,8 triệu DKK, nâng mức thuế cao nhất từ 55,6% lên 60,5%. Estonia tăng thuế suất cố định từ 22% lên 24%, trong khi Slovakia bổ sung hai khung thuế mới, nâng mức thuế cao nhất từ 25% lên 35%. Ngược lại, Phần Lan đã giảm mức thuế cao nhất từ 51,5% xuống 45%.
Thuế suất cao nhất của thuế thu nhập cá nhân ở các quốc gia châu Âu trong năm 2026. Màu xanh đậm chỉ các nước ngoài Liên minh châu Âu (EU), màu vàng chỉ mức bình quân của toàn châu Âu. Đơn vị:% - Nguồn: Euronews.Công bằng thuế là điều quan trọng đối với bất kỳ xã hội nào, phản ánh việc người dân có đóng thuế tương xứng với thu nhập và tài sản của họ hay không. Ở hầu hết các nước châu Âu, hệ thống thuế mang tính lũy tiến: thu nhập càng cao, gánh nặng thuế càng lớn.
Tuy nhiên, theo một nghiên cứu của Eurobarometer vào năm 2025, chỉ có 1/5 người dân trong Liên minh châu Âu (EU) tin rằng chính sách thuế thu nhập cá nhân hiện tại là công bằng theo thu nhập và tài sản. 51% cho rằng chỉ có sự công bằng ở một mức độ nhất định trong chính sách thuế thu nhập cá nhân hiện hành.
-Bình Minh
Nhật Bản rót 36 tỷ USD vào một loạt dự án năng lượng và khoáng sản ở Mỹ
Theo hãng tin Bloomberg, thông báo về các dự án trên được đưa ra trong bối cảnh mối quan hệ thương mại giữa hai quốc gia đồng minh này đang được củng cố, với mục tiêu thúc đẩy đầu tư của Nhật Bản vào các ngành công nghiệp chủ chốt của Mỹ.
“Thỏa thuận thương mại khổng lồ của chúng ta với Nhật Bản đã bắt đầu được triển khai. Quy mô của các dự án này rất lớn, và là kết quả không thể đạt được nếu không có một thứ rất đặc biệt là thuế quan”, ông Trump viết trong một bài đăng trên mạng xã hội Truth Social.
Một trong những khoản đầu tư đáng chú ý nhất là trong kế hoạch nói trên là rót vốn vào một nhà máy phát điện chạy bằng khí đốt tự nhiên tại Ohio. Được dự kiến sẽ tạo ra 9,2 gigawatt điện năng, đây là một dự án phát điện khổng lồ mà ông Trump đã mô tả là "lớn nhất trong lịch sử".
Bộ trưởng Thương mại Mỹ Howard Lutnick cho biết Nhật Bản dự kiến đầu tư 33 tỷ USD vào nhà máy điện chạy bằng khí đốt này, và việc triển khai sẽ do công ty con của SoftBank Group Corp., SB Energy, dẫn đầu.
Nếu hoạt động hết công suất, nhà máy trên sẽ tương đương với 9 lò phản ứng hạt nhân hoặc lượng điện tiêu thụ của khoảng 7,4 triệu hộ gia đình trên lưới điện lớn nhất của Mỹ do công ty PJM Interconnection LLC vận hành.
Dự án thứ hai là một cơ sở xuất khẩu dầu thô nước sâu tại Vịnh Mexico. Ông Trump đã mô tả dự án này là một cơ sở khí tự nhiên hóa lỏng ngoài khơi bờ biển Texas, nhưng một phát ngôn viên của công ty Sentinel Midstream cho biết cơ sở Texas GulfLink đang được phát triển là một dự án xuất khẩu dầu thô.
Ngoài ra, Nhật Bản cũng dự kiến đầu tư vào một cơ sở sản xuất kim cương công nghiệp tổng hợp, mà theo bài đăng của ông Trump sẽ được đặt tại Georgia. Sản phẩm kim cương từ nhà máy này là "thành phần quan trọng cho sản xuất công nghiệp và công nghệ tiên tiến" - Bộ trưởng Lutnick cho biết. Dự án này sẽ nhận được khoản đầu tư 600 triệu USD và có sự tham gia của Element Six, một công ty con của hãng kim cương lớn nhất thế giới De Beers.
Tuyên bố về các dự án đầu tư nói trên đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc thực thi thỏa thuận thương mại và kinh tế mà Mỹ và Nhật Bản đạt được vào năm ngoái. Kế hoạch đầu tư được công bố chỉ vài tuần trước khi Thủ tướng Nhật Bản Sanae Takaichi dự kiến có cuộc gặp thượng đỉnh với Trump tại Washington.
Việc chốt các dự án trên để phía Nhật Bản rót vốn đầu tư được thực hiện sau khi một hội đồng chung Mỹ - Nhật họp lần đầu vào tháng 12 để xem xét các dự án.
Cuối cùng, Tổng thống Trump đã đích thân lựa chọn các dự án dựa trên các khuyến nghị từ một ủy ban đầu tư mà ông thành lập, cùng với sự đóng góp ý kiến từ các quan chức Nhật Bản.
Cam kết đầu tư trong thỏa thuận thương mại Mỹ - Nhật được kỳ vọng sẽ tạo ra một làn sóng đầu tư của Nhật Bản vào các ngành công nghiệp chủ chốt của Mỹ.
Đổi lại cam kết này, Mỹ đã đồng ý hạ thuế quan đối ứng từ 25% về 15% đối với hàng hóa Nhật Bản xuất khẩu sang Mỹ, trong đó có mặt hàng ô tô - một sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Nhật.
Việc thực hiện thỏa thuận này được dự báo sẽ là một trong những nội dung chính trong chương trình nghị sự của cuộc gặp giữa ông Trump và bà Takaichi tại Washington vào ngày 19/3 tới.
Tuần trước, ông Lutnick và Bộ trưởng Thương mại Nhật Bản Ryosei Akazawa đã có cuộc gặp tại Washington để thảo luận chi tiết về đợt đầu tư 36 tỷ USD đầu tiên.
Ông Akazawa cho biết ông không cho rằng các dự án nằm trong kế hoạch 550 tỷ USD sẽ có mức độ rủi ro cao và lợi nhuận cao. Phát biểu này cho thấy phía Nhật Bản đang tìm kiếm các sáng kiến có lợi nhuận an toàn, thay vì các dự án đầu tư ít chắc chắn hơn.
"Nhật Bản sẽ cung cấp vốn. Cơ sở hạ tầng đang được xây dựng tại Mỹ. Thu nhập từ các dự án này được cấu trúc sao cho Nhật Bản có được lợi nhuận và Mỹ có được các tài sản chiến lược, mở rộng năng lực công nghiệp và củng cố sự thống trị năng lượng”, ông Lutnick cho biết trong một tuyên bố vào ngày 17/2.
Dự án đầu tư vào nhà máy phát điện chạy bằng khí đốt tự nhiên ở Ohio được đánh giá là kịp thời. Nhu cầu điện tăng mạnh của các trung tâm dữ liệu mới, nhất là do nhu cầu của lĩnh vực trí tuệ nhân tạo (AI) đang phát triển bùng nổ, đã đẩy cao chi phí của việc đảm bảo nguồn cung cấp năng lượng đầy đủ.
Trong chuyến thăm của ông Trump tới Nhật Bản vào năm ngoái, giới chức hai nước đã nhận diện các dự án tiềm năng ở Mỹ để Nhật rót vốn đầu tư. Đó là các dự án có quy mô từ 350 triệu USD đến 100 tỷ USD, chủ yếu thuộc các lĩnh vực năng lượng, trí tuệ nhân tạo và khoáng sản quan trọng.
Theo dự kiến, Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (IBIB) và Công ty Bảo hiểm xuất khẩu và đầu tư Nippon sẽ đóng vai trò hàng đầu trong việc tài trợ cho các dự án đầu tư của Nhật vào Mỹ đã được công bố. Hiện vẫn chưa rõ bao nhiêu vốn sẽ được cam kết dưới hình thức đầu tư trực tiếp.
Năm ngoái, ông Akazawa cho biết chỉ 1-2% của gói đầu tư 550 tỷ USD sẽ là các khoản đầu tư tiền mặt, và phần còn lại sẽ đến từ các khoản vay và bảo lãnh vay.
Theo thỏa thuận, sau khi đã lựa chọn được dự án để rót vốn, Nhật Bản có 45 ngày làm việc để giải ngân. Nếu Nhật Bản chọn không cấp vốn cho một dự án bất kỳ, Mỹ có thể tái áp mức thuế quan cao hơn.
Gần đây, ông Trump đã phàn nàn về tốc độ thực hiện của một thỏa thuận đầu tư tương tự mà Mỹ đạt được với Hàn Quốc - một đối thủ lớn của Nhật Bản trong lĩnh vực sản xuất ô tô.
Theo thỏa thuận thương mại với Mỹ, Hàn Quốc cam kết đầu tư 350 tỷ USD để được Mỹ hạ thuế quan về 15%, bằng với mức thuế quan mà Mỹ áp dụng với Nhật Bản.
-An Huy
Anh hùng lao động Nguyễn Thị Phương Thảo trên hành trình Đại sứ Hội nhập toàn cầu
Khoảnh khắc ấy là sự hội tụ, là điểm đến của một hành trình dài ba thập kỷ. Đó là hành trình từ góc sân nhỏ bé của một cô bé phố cổ Hà Nội đến bầu trời mênh mông của một anh hùng lao động gặp nhau, hòa làm một, tạo nên một bản trường ca về sự kiến tạo và phụng sự.
Hành trình nào cũng bắt đầu từ một điểm nhỏ bé. Góc sân trong cuộc đời Anh hùng Lao động - Tiến sĩ Nguyễn Thị Phương Thảo là một vũ trụ tinh thần thu nhỏ, được kiến tạo nên từ những trang sách, những câu chuyện gia đình và bầu không khí tri thức của thuở ấu thơ.
Đó là Hà Nội của thời bao cấp những năm 80 (thế kỷ 20), với những con phố nhỏ quanh Hồ Gươm êm đềm. Nhưng chính trong khung cảnh một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung còn nhiều khó khăn ấy, những giá trị tinh thần, văn hóa lại được nâng niu một cách đặc biệt.
Bà Thảo lớn lên trong một gia đình mà văn hóa và tri thức như là không khí để thở. Ông bà nội của bà Thảo vốn là doanh nhân kháng chiến. Bà nội, dòng dõi quan võ nền nã; bà ngoại, một nữ thương gia quyết đoán. Người cha, một trí thức tham gia kháng chiến, người đã truyền cho bà Thảo tinh thần cầm kỳ thi họa và cốt cách thanh lịch, sâu sắc của người Tràng An.
Bà Thảo hoài niệm về một tuổi thơ bình yên: “Tôi có tuổi thơ êm đềm, xung quanh hồ Hoàn Kiếm, xung quanh phố cổ”. Trong căn nhà nhỏ ấy, những cuốn sách là cửa sổ mở ra thế giới. Những trang sách về kinh tế, lịch sử được đọc dưới ánh đèn dầu đã trở thành những viên gạch đầu tiên xây nên một thế giới quan khác biệt, nơi những quy luật thị trường vận hành, nơi những ý tưởng có thể biến thành hiện thực.
Khát vọng vươn xa, chinh phục những chân trời tri thức đã được ươm mầm từ chính những giờ phút tĩnh lặng ấy, giữa sự giao thoa của ba thế hệ. Bà tâm sự: “Có lẽ tôi bị ảnh hưởng bởi tổng hợp những hình bóng của những phụ nữ ở đâu đó, trên thế giới, ở đất nước mình, ở quanh cuộc sống của mình”. Dường như đó chính là nền tảng tạo nên một Nguyễn Thị Phương Thảo đa chiều: vừa mang sự nền nã, trầm tĩnh của truyền thống, vừa có sự quyết đoán, mạnh mẽ của một nhà kinh doanh; vừa trân trọng những giá trị cội nguồn, vừa khao khát đổi mới và hội nhập.
Cô gái 17 tuổi Nguyễn Thị Phương Thảo được tuyển chọn đi du học tại Liên Xô năm 1987. Bà bắt đầu hành trình du học tại Học viện Kinh tế Quốc dân Plekhanov danh tiếng. Giữa môi trường học thuật hàn lâm và những biến động lớn của nền kinh tế thế giới lúc bấy giờ, cô sinh viên trẻ đã dành trọn tâm trí để quan sát và phân tích sự vận hành của các mô hình kinh tế. Thay vì chỉ dừng lại ở sách vở, bà luôn trăn trở về cách áp dụng các quy luật thị trường vào thực tiễn để thúc đẩy sự phát triển của đất nước. Chính những trải nghiệm tại giảng đường quốc tế đã rèn luyện cho bà tư duy hệ thống và khả năng nhìn nhận vấn đề từ nhiều chiều.
Bà chọn một con đường khác biệt so với nhiều du học sinh thời đó: “Tôi không tham gia nhiều các hoạt động người Việt Nam hay làm, không buôn bán ở các khu chợ mà chủ yếu tìm cơ hội hợp tác với các tập đoàn xuất nhập khẩu phía bên Đông Âu”. Mỗi chuyến hàng, mỗi hợp đồng là một bài học quý giá về thị trường, về nghệ thuật đàm phán, về quản trị rủi ro và tài chính.
Năm 21 tuổi, bà đã trở thành triệu phú USD. Thành công sớm về tài chính ấy không khiến bà dừng lại, ngược lại, nó thúc đẩy bà tiếp tục học lên tiến sĩ, với một khát khao tri thức mãnh liệt. Bà hiểu rõ rằng hành trang vững chắc nhất để kiến thiết quê hương cần vốn liếng và cả một nền tảng tư duy hệ thống và thực tiễn.
Bằng sự am hiểu sâu sắc về kinh tế quốc tế và uy tín được xây dựng trong quá trình học tập, nghiên cứu, bà đã có những đóng góp âm thầm nhưng quan trọng trong việc hỗ trợ các hoạt động kết nối kinh tế giữa Việt Nam và thế giới. Những nỗ lực này không chỉ giúp nâng cao vị thế của Việt Nam trên thị trường vốn quốc tế, mà còn thể hiện trách nhiệm của một người trí thức luôn hướng về Tổ quốc. Đó chính là sự nối dài của tinh thần hiếu học và lòng yêu nước được nuôi dưỡng từ "góc sân phố cổ" năm nào.
Trở về Việt Nam đầu những năm 2000 với hành trang là vốn liếng, kinh nghiệm và một tầm nhìn toàn cầu, bà Thảo nhìn lên bầu trời hàng không trong nước và thấy một khoảng trời rộng lớn nhưng còn nhiều rào cản, nhiều khoảng cách.
Khi ấy, máy bay vẫn là một thứ xa xỉ, xa lạ với đại đa số người dân, một phương tiện chỉ dành cho giới công chức, doanh nhân hoặc người nước ngoài. Ý tưởng thành lập một hãng bay giá rẻ nảy sinh từ một sự thấu cảm sâu sắc, được khơi nguồn từ một câu chuyện cảm động mà bà không bao giờ quên.
“Tôi nhớ có một năm, dịp Tết, anh chị em lãnh đạo đi thăm các gia đình truyền thống ở miền núi phía bắc. Khi đến thăm một bà mẹ, bà ấy hỏi bao nhiêu tấn thóc thì có một vé máy bay và bà muốn đặt chân lên máy bay một lần”, bà kể.
Câu hỏi giản dị mà ám ảnh ấy đã trở thành sứ mệnh, nó đánh thức trong bà khát vọng lớn lao: mang bầu trời, mang tự do di chuyển, mang cơ hội đến với mọi người, bất kể họ là ai, ở đâu. Bà quyết định thực hiện một cuộc cách mạng thực sự: không phải cạnh tranh trong một thị trường sẵn có, mà là tạo ra một thị trường mới hoàn toàn, thị trường hàng không đại chúng.
Bà chia sẻ một cách rõ ràng về triết lý đó: “Trước khi Vietjet tham gia thị trường, chỉ 1% dân số được tiếp cận với phương tiện được cho là xa xỉ và chỉ dành cho người giàu. Chúng tôi đã có quyết định rất khác thường là hướng tới những đối tượng chưa đi máy bay bao giờ, thậm chí chưa biết chữ và chưa bao giờ bước chân ra khỏi làng quê của mình”.
Quyết định “rất khác thường” ấy chính là xương sống của mọi thứ. Nó phản ánh triết lý kinh doanh xuyên suốt của bà: tìm kiếm và phục vụ những nhu cầu chưa được đáp ứng, những ước mơ chưa được chạm tới.
Khi được hỏi về lựa chọn con đường tiên phong đầy thách thức này, bà trả lời với sự bình thản xuất phát từ nhận thức sâu sắc: “Đó cũng là tinh thần của người lãnh đạo mà tôi vẫn nuôi dưỡng từ nhỏ. Tôi nghĩ xã hội và cộng đồng luôn cần người tiên phong. Nếu không có những người như vậy thì cũng khó mang đến những sự thay đổi mang tính cách mạng”.
Vietjet ra đời năm 2007 và chính thức cất cánh năm 2011 đã mang đến một mô hình kinh doanh mới, một triết lý phát triển mới: hàng không phải là hạ tầng phát triển, là cầu nối bình đẳng, là công cụ rút ngắn khoảng cách địa lý và kinh tế trong xã hội.
Bà khẳng định: “Với chúng tôi, hàng không không chỉ là phương tiện di chuyển, mà là hạ tầng phát triển, là chiếc cầu kết nối giấc mơ, tri thức và cơ hội”. Tầm nhìn ấy vượt xa phạm vi một doanh nghiệp, hướng đến vai trò của cả một ngành công nghiệp trong sự phát triển của đất nước: “Doanh nghiệp hãy mơ lớn, hãy biến Việt Nam thành trung tâm động lực phát triển hàng không của khu vực và thế giới”.
Hành trình hiện thực hóa triết lý đó chưa bao giờ là dễ dàng. Bà và đội ngũ phải đối mặt với vô vàn chông gai, từ các rào cản pháp lý, sự hoài nghi của thị trường, cho đến những thách thức vận hành để vừa giảm giá vé, vừa đảm bảo an toàn tuyệt đối, giá trị cốt lõi không thể thỏa hiệp.
Bà kiên trì xây dựng niềm tin, tạo dựng một hệ thống vận hành tối ưu và hiện đại. Sự kiên trì ấy đã được thế giới công nhận bằng điểm số an toàn cao nhất 7/7 sao từ tổ chức đánh giá uy tín AirlineRatings. Sự kiên trì cũng được thị trường đền đáp xứng đáng. Đến năm 2023, Vietjet đã chở hàng trăm triệu lượt khách, sở hữu đội bay hiện đại và kết nối hàng trăm điểm đến trong và ngoài nước.
Hơn cả những con số ấn tượng là hàng triệu câu chuyện cảm động về những chuyến bay, về những cơ hội việc làm, kinh doanh mới được mở ra, về những cuộc đoàn tụ gia đình. Bà đã biến bầu trời từ một khái niệm xa vời, cao sang thành một phần đời sống thường nhật, một biểu tượng của sự năng động, tự tin và khát vọng vươn lên của cả một dân tộc.
Phẩm chất của một người dẫn đường, một Anh hùng thực thụ, thường tỏa sáng rực rỡ nhất trong những cơn bão khủng hoảng. Danh hiệu Anh hùng Lao động của Tiến sĩ Nguyễn Thị Phương Thảo được khắc sâu bằng cách bà đứng vững và hành động như một trụ cột vững chắc, một công dân có trách nhiệm trong những thời điểm then chốt của đất nước.
Năm 2021, khi Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) gặp sự cố nghẽn lệnh kéo dài, đe dọa nghiêm trọng đến sự ổn định của thị trường vốn non trẻ và làm xói mòn niềm tin của hàng triệu nhà đầu tư, bà không đứng ngoài quan sát.
Với tư cách là một chuyên gia am hiểu công nghệ và hệ thống, bà đã chủ động đưa ra sáng kiến và cùng các chuyên gia công nghệ hàng đầu khắc phục sự cố một cách thần tốc, giúp HOSE sớm trở lại vận hành ổn định, liên tục.
Hành động này xuất phát từ trách nhiệm của một công dân có năng lực, một doanh nhân có tầm nhìn, người hiểu rõ hệ lụy của sự bất ổn chung đối với toàn bộ nền kinh tế. Bà hành động với tư cách một chuyên gia được kỳ vọng trong thời khắc cấp bách, đặt lợi ích tập thể lên trên hết.
Đại dịch Covid-19, thử thách khắc nghiệt chưa từng có với ngành hàng không toàn cầu, lại một lần nữa làm nổi bật tinh thần chủ động, sáng tạo và trách nhiệm xã hội sâu sắc của bà.
Bà và Tập đoàn đã nhanh chóng chuyển hướng năng lực công nghệ mạnh mẽ của mình sang mặt trận phòng chống dịch. Các nền tảng quản lý xét nghiệm, truy vết tiếp xúc được triển khai thần tốc, góp phần quan trọng vào công tác phòng dịch của Chính phủ. Những chuyến bay chở hàng cứu trợ, thiết bị y tế, vaccine có mặt tại mọi điểm nóng của dịch bệnh. Những hành động ấy được ghi nhận là “tinh thần công nghệ vì cộng đồng”.
Trong thời khắc sinh tử ấy, nghĩa vụ xã hội, tinh thần tương thân tương ái được bà đặt lên hàng đầu, vượt qua mọi tính toán kinh doanh thông thường. Điều này thể hiện triết lý phát triển sâu sắc mà bà theo đuổi: doanh nghiệp là một phần hữu cơ, máu thịt của xã hội, phải cùng chia sẻ trách nhiệm và gánh vác trước những thách thức chung của cộng đồng và đất nước.
Giữa tâm bão khủng hoảng, bà kiên định giữ vững đội ngũ, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho hơn 40.000 cán bộ nhân viên trong tập đoàn, dù doanh nghiệp chịu tổn thất nặng nề.
Trong khó khăn, sự gắn kết, tình nghĩa và trách nhiệm với tập thể càng được thể hiện rõ, truyền đi một thông điệp mạnh mẽ về sự bền bỉ, về văn hóa “tử tế” ngay trong thương trường khốc liệt. Đó chính là sức mạnh nội tại giúp Vietjet và cả tập đoàn vươn lên mạnh mẽ sau đại dịch.
Sau khi đã chinh phục những bầu trời rộng lớn, mở ra những chân trời mới cho hàng triệu người, Anh hùng lao động – Tiến sĩ Nguyễn Thị Phương Thảo quay trở lại, mang tất cả tinh hoa, nguồn lực và tầm nhìn về để vun đắp cho cộng đồng và kiến tạo tương lai. Điều này được thực hiện một cách có hệ thống, xuất phát từ một triết lý căn cốt mà bà luôn tâm niệm: “Tăng trưởng chỉ thực sự bền vững khi gắn với phát triển con người”.
Trong lĩnh vực tài chính, với vai trò then chốt tại Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh (HDBank), bà góp phần định hình một mô hình ngân hàng mới, vượt ra ngoài những mục tiêu lợi nhuận thuần túy. Khi HDBank đạt được những lợi nhuận kỷ lục, bà và ban lãnh đạo hướng đến các giá trị phát triển bền vững (ESG - môi trường, xã hội, quản trị) và thúc đẩy triết lý “ngân hàng nhân văn”.
Bà tâm niệm: “Không chỉ dẫn đầu về quy mô, mà phải được lựa chọn vì sự tử tế và giá trị con người”. Đó là tầm nhìn hướng đến việc xây dựng một định chế tài chính được xã hội tin cậy, bằng sự vững mạnh về tài chính đi đôi với những giá trị cốt lõi về đạo đức và trách nhiệm xã hội.
Tuy nhiên, di sản nhân văn và có tính kiến tạo lâu dài nhất của bà có lẽ nằm ở sự đầu tư kiên định vào tri thức và vào thế hệ tương lai của đất nước. Tháng 10 năm 2025, trong khuôn viên cổ kính của Đại học Oxford (Vương quốc Anh), dưới sự chứng kiến của Tổng Bí thư Tô Lâm, bà đã long trọng trao khoản tài trợ 13,7 triệu bảng Anh cho Quỹ Học bổng Tiên phong (The Reach Oxford Scholarships) dành riêng cho sinh viên Việt Nam.
Đây là một sự đầu tư chiến lược vào tài sản quý giá nhất của quốc gia: trí tuệ con người. Bà chia sẻ ý nghĩa sâu xa của việc làm này: “Tri thức là hạt giống của hòa bình và thịnh vượng. Tôi mong những học bổng này sẽ giúp các bạn trẻ Việt Nam tự tin bước ra thế giới, mang tri thức và lòng nhân ái phụng sự quê hương và cộng đồng”.
Hành động này tiếp nối một khoản tài trợ lịch sử trước đó, khẳng định cam kết dài hạn của bà trong việc xây dựng những cây cầu tri thức vững chắc, đưa trí tuệ Việt Nam hòa nhập với những đỉnh cao học thuật của nhân loại, để rồi mang những tinh hoa ấy về phục vụ sự phát triển của đất nước.
Đặc biệt, bà dành một sự quan tâm sâu sắc và đầy trân trọng cho phụ nữ, những người bà gọi một cách yêu thương và đầy sức mạnh là “nữ chiến binh thầm lặng”. Bà nhìn thấy, thấu hiểu và tôn vinh sức mạnh, sự kiên cường và đóng góp to lớn của họ trong mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội.
“Chúng ta đã thấy những phụ nữ khởi nghiệp từ căn bếp nhỏ, những chị em bán hàng qua nền tảng số dù ở tận bản làng xa xôi, những người mẹ vừa chăm con vừa gây dựng mô hình kinh doanh. Chị em chính là những nữ chiến binh thầm lặng”, bà chia sẻ.
Bà tin tưởng mạnh mẽ rằng: “Khi mỗi người phụ nữ được tiếp thêm niềm tin và cơ hội, Việt Nam sẽ có thêm hàng triệu động lực mới cho phát triển xanh, bền vững, nhân văn”. Từ nhận thức và niềm tin ấy, bà không ngừng tạo điều kiện, hỗ trợ và trao quyền cho phụ nữ thông qua các chương trình đào tạo, tài trợ và tạo cơ hội kinh doanh, góp phần giải phóng tiềm năng to lớn của một nửa đất nước.
Buổi lễ trao tặng danh hiệu Anh hùng Lao động khép lại trong những tràng pháo tay nồng nhiệt và đầy xúc động. Phát biểu tại lễ vinh danh, với lòng thành kính sâu sắc, bà nhắc lại lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Về ý nghĩa sâu sắc của phong trào thi đua yêu nước, lúc sinh thời, Bác Hồ đã nói: Phong trào thi đua yêu nước đã đưa đất nước ta tiến những bước dài chưa từng có trong lịch sử dân tộc, làm cho đất nước, xã hội, con người đều đổi mới. Tinh thần của Bác đã dẫn dắt tôi trên hành trình xây dựng các doanh nghiệp của mình”.
Bà cũng khiêm tốn dành vinh quang cho tập thể, cho những người đồng hành: “Vinh dự danh hiệu Anh hùng này là món quà tinh thần ý nghĩa dành cho hơn 40 ngàn cán bộ nhân viên chăm chỉ của tôi”.
Kết thúc bài phát biểu, bà đúc kết cả hành trình dài của mình bằng một hình ảnh đẹp đẽ, giàu tính triết lý và gợi mở: “Khoảnh khắc này, quá khứ và hiện tại đang nắm tay nhau bước vào tương lai… Tất cả nối tiếp một mạch nguồn chung: Ý chí, niềm tin vào một Việt Nam thịnh vượng vươn ra thế giới”.
Quá khứ ở đây chính là góc sân Hà Nội với những giấc mơ thuở thiếu thời, với tinh thần hiếu học, ý chí vượt khó và cốt cách văn hóa được tôi rèn. Hiện tại là những bầu trời đã được chinh phục và kiến tạo: bầu trời hàng không với những cánh bay tự tin vươn xa, bầu trời tài chính với một hệ sinh thái vững mạnh hướng đến sự tử tế và bầu trời tri thức với những cây cầu nối đến những đỉnh cao học thuật thế giới. Còn tương lai chính là sứ mệnh tiếp tục dẫn đường, là trách nhiệm nặng nề nhưng vinh quang của một thế hệ doanh nhân tiên phong trong vận hội mới của dân tộc.
Bằng trí tuệ sắc sảo được tích lũy từ những giảng đường danh tiếng và trường đời đầy biến động, bằng bản lĩnh thép được tôi luyện qua vô vàn sóng gió thương trường, và trên hết, bằng một trái tim nhân hậu luôn hướng về con người, về cộng đồng, về quê hương, bà đã và đang mở ra một không gian phát triển mới, một tư duy dám chinh phục, một chuẩn mực mới về đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội cho cả một thế hệ doanh nhân mới.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html
-