The Latest News

Bảng giá đất mới: Mừng mà cũng lo

Thời báo kinh tế Việt Nam - Tue, 02/17/2026 - 16:12
Bỏ khung giá đất, ban hành Bảng giá đất mới là bước tiến tất yếu trong quản lý nhà nước, góp phần minh bạch hóa thị trường, hạn chế thất thu ngân sách và đẩy nhanh tiến độ đền bù, giải phóng mặt bằng... Tuy nhiên, việc áp dụng bảng giá đất mới với mức tăng “sốc” tại nhiều khu vực cũng tạo ra những lo ngại về rủi ro cho thị trường bất động sản.

Thông thường, giá đất chiếm 15-30% chi phí đầu vào của một dự án bất động sản. Bởi vậy, khi các địa phương đồng loạt áp dụng bảng giá đất mới (từ 1/1/2026) với mức tăng cao so với giá cũ, dự kiến giá nhà ở tại nhiều nơi, nhất là Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh sẽ có những biến động mạnh.

Cuối tháng 11/2025, Hội đồng Nhân dân TP.Hà Nội đã thông qua Nghị quyết 52/2025/ NQ-HĐND quy định bảng giá đất lần đầu để công bố và áp dụng từ ngày 1/1/2026 trên địa bàn. Theo đó, giá đất tại Hà Nội được chia thành 17 khu vực dựa trên nhóm các đơn vị hành chính có điều kiện phát triển tương đối giống nhau về vị trí địa lý, mức độ đô thị hóa, hạ tầng kỹ thuật - xã hội, mật độ dân cư và hoạt động sản xuất, kinh doanh.

GIÁ ĐẤT HÀ NỘI TĂNG 2-26%

Tại khu vực 1 gồm các phường trong vành đai 1: Tây Hồ, Ngọc Hà, Ba Đình, Giảng Võ, Ô Chợ Dừa, Hoàn Kiếm, Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Cửa Nam, Hai Bà Trưng, giá đất ở bình quân là 255,331 triệu đồng/m2, tăng 2% so với mức giá cũ và cao nhất là 702,257 triệu đồng/m2. Trong khi đó, nhiều xã thuộc khu vực ngoại thành, giá đất tăng tới 25-26%.

Đề cập đến mức tăng trên, báo cáo thuyết minh của Công ty Cổ phần Thẩm định giá và Thương mại VIC (đơn vị tư vấn, tổ chức thực hiện định giá đất) lý giải: “Quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng ở nhiều xã thuộc các huyện ngoại thành cũ như xã Đông Anh, Phúc Thịnh, Gia Lâm, Bát Tràng, Thanh Trì, Ngọc Hồi, Hoài Đức, Sơn Đồng, Ô Diên... Sự gia tăng dân số cơ học từ dòng người nhập cư, lao động ngoại tỉnh và nhu cầu học tập, làm việc tại Thủ đô đã tạo áp lực rất lớn cho quỹ đất đô thị, khiến giá đất tăng mạnh ở một số khu vực”.

Bên cạnh đó, trong hai năm 2024-2025, Hà Nội tập trung đầu tư hàng loạt công trình hạ tầng trọng điểm: đường Vành đai 4, các tuyến metro số 2A, số 3, mở rộng các tuyến đường trục Tây Thăng Long, Nguyễn Trãi, Trần Phú – Hà Đông… Hạ tầng giao thông kết nối mạnh mẽ với các tỉnh lân cận, đồng thời nâng cao giá trị sử dụng đất tại các khu vực dự án đi qua, đẩy giá đất lên. Vì vậy, nếu tiếp tục áp dụng Bảng giá đất cũ sẽ dẫn đến tình trạng không thống nhất, gây khó khăn trong quản lý nhà nước và thực hiện chính sách tài chính về đất đai.

Còn theo nội dung tờ trình của Sở Nông nghiệp Môi trường TP.Hà Nội, việc xây dựng Bảng giá đất mới tuân thủ theo quy định của Luật Đất đai năm 2024, các Nghị định của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật đảm bảo nguyên tắc thị trường, đáp ứng yêu cầu thực tiễn, giảm bớt sự chênh lệch giữa giá đất quy định tại bảng giá đất và giá đất chuyển nhượng phổ biến trên thị trường. Mức tăng không quá lớn giúp đảm bảo hài hòa, cân đối thu - chi ngân sách, không làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh, phát triển kinh tế của các tổ chức, cá nhân.

Xây dựng Bảng giá đất mới còn là cơ hội để Thành phố hoàn thiện hệ thống dữ liệu số, công khai bảng giá đất trực tuyến, giúp người dân và doanh nghiệp dễ dàng tra cứu. Đây cũng là yêu cầu để chính quyền hai cấp phối hợp trong việc cập nhật, đồng bộ dữ liệu.

GIÁ ĐẤT TP.HCM TĂNG 1-8,1 LẦN

Chiều ngày 26/12/2025, tại kỳ họp thứ 7, Hội đồng Nhân dân TP.Hồ Chí Minh khóa X đã thông qua Nghị quyết Ban hành quy định Bảng giá đất lần đầu áp dụng từ ngày 1/1/2026 trên địa bàn Thành phố. Một trong những cơ sở quan trọng để xây dựng bảng giá đất lần này xuất phát từ yêu cầu thực tiễn trong quản lý đất đai, nhất là trong bối cảnh Thành phố đã hoàn tất việc sáp nhập với tỉnh Bình Dương và tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Theo đó, Bảng giá đất 2026 được chia thành các khu vực theo địa giới hành chính trước sáp nhập nhằm bảo đảm tính kế thừa, phù hợp với đặc điểm phát triển và mặt bằng giá từng địa bàn.

Nhìn tổng thể, giá đất tăng ở hầu hết khu vực nhưng mức tăng không đồng đều: khu vực trung tâm cũ của TP.Hồ Chí Minh tăng nhẹ, trong khi giá đất tại các đô thị đang phát triển của Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu có mức tăng mạnh.

Cụ thể, giá đất trên địa bàn khu vực 1 – trung tâm TP.Hồ Chí Minh có hệ số tăng từ 1 - 1,56 lần, giá cao nhất là 687.200.000 đồng/m2 thuộc vị trí mặt đường Đồng Khởi, Nguyễn Huệ, Lê Lợi. Mức giá này không thay đổi so với Bảng giá đất theo Quyết định 79/2024/QĐ-UBND. Địa bàn khu vực 2 - tỉnh Bình Dương (cũ) có hệ số tăng cao nhất là 8,10 lần so với Quyết định 63/2024/QĐ-UBND. Tuyến đường có giá tăng mạnh là DH. 505 - đoạn từ cầu Lễ Trang đến DH. 507: giá đất ở tăng từ 780.000 đồng lên 6,3 triệu đồng/m2. Mức giá cao nhất sau điều chỉnh tại Bình Dương đạt 89, 6 triệu đồng/m2 - thuộc đường Bác sĩ Yersin và đường Bạch Đằng (giá cũ là 52,16 triệu đồng/m2).

Địa bàn khu vực 3 là tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (cũ) cũng được điều chỉnh tăng 1,7 - 3,78 lần so với Quyết định 26/2024/QĐ-UBND. Theo đó, giá cao nhất 149,8 triệu đồng/m2 áp dụng cho tuyến đường Thùy Vân – trục du lịch dịch vụ trọng điểm của tỉnh.

Tờ trình của Sở Nông nghiệp và Môi trường cho biết mức giá này được xây dựng dựa trên kết quả khảo sát giá giao dịch thực tế tại các khu vực, sau đó, các cơ quan chức năng rà soát và cân đối lại, chỉ tính tương đương 60% giá giao dịch trên thị trường. Theo khảo sát, bảng giá đất cũ quá thấp so với giá giao dịch thực tế, có nơi tại Bình Dương, giá giao dịch thực tế cao hơn 13,6 lần; tại Bà Rịa - Vũng Tàu, cao hơn 45,2 lần giá quy định trong bảng giá đất áp dụng cho năm 2025.

Bởi vậy, việc thiết lập Bảng giá đất mới không chỉ xuất phát từ quy định bắt buộc của Luật Đất đai năm 2024 mà còn phản ánh yêu cầu thực tiễn trong công tác quản lý đất đai và sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế - xã hội của địa phương; khắc phục những hạn chế của các bảng giá đất hiện hành; mở rộng phạm vi áp dụng theo quy định mới nhằm đảm bảo sự công bằng trong việc tính toán nghĩa vụ tài chính về đất đai.

Cuộc họp thẩm tra của Ban Kinh tế - Ngân sách Hội đồng Nhân dân TP.Hồ Chí Minh cũng đã thống nhất rằng bảng giá đất mới không chỉ là một công cụ quản lý mà còn là một bước tiến quan trọng trong việc xây dựng một môi trường đầu tư minh bạch và hiệu quả. Với sự đồng thuận cao từ các cơ quan chức năng và sự chuẩn bị kỹ lưỡng, bảng giá đất mới hứa hẹn sẽ góp phần ổn định thị trường bất động sản và thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững cho Thành phố trong giai đoạn tới.

Mặc dù vậy, việc áp dụng bảng giá đất mới cũng gặp phải nhiều ý kiến trái chiều. Hiệp hội bất động sản Việt Nam nhìn nhận rằng không ít địa phương đưa ra bảng giá tăng “sốc” đang tạo ra những rủi ro cho doanh nghiệp, người dân và cả hoạt động tín dụng ngân hàng.

THÁCH THỨC GIÁ ĐẤT CHO THỊ TRƯỜNG NHÀ Ở

Đối với thị trường bất động sản, khi giá đất tăng cao, với những dự án đang triển khai, doanh nghiệp sẽ rơi vào tình thế khó khăn và lúng túng khi phải cân nhắc việc có nên tiếp tục triển khai hay tạm dừng. Bởi chi phí tiền sử dụng đất tăng mạnh có thể khiến tổng mức đầu tư vượt xa khả năng tài chính của doanh nghiệp.

Ngược lại, với các dự án chưa triển khai, doanh nghiệp sẽ phải cân nhắc đến việc tăng giá bán, đồng thời, phát triển sản phẩm cao cấp để duy trì biên lợi nhuận trong bối cảnh quỹ đất khan hiếm. Giá bán dự kiến tăng theo chi phí đầu vào, khiến sức mua thực giảm.

Một số chuyên gia cho rằng dù giá đất tăng sẽ giúp tăng nguồn thu ngân sách địa phương thông qua thuế, phí và tiền sử dụng đất, nhưng cũng sẽ dẫn đến chi phí giá nhà ở tăng cao, khiến giá bán sản phẩm bất động sản bị đội lên, làm giảm sự hấp dẫn đầu tư, giảm cơ hội tiếp cận nhà ở của người dân, đặc biệt là người mua ở thực, từ đó, gây khó khăn cho việc ổn định an sinh xã hội trên địa bàn...

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8/2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-Dương Huyền Ngân

Categories: The Latest News

Ngành Công thương bứt phá trong kỷ nguyên mới

Thời Báo Kinh Tế - Tue, 02/17/2026 - 13:06
Bước vào năm 2026, dấu mốc mở ra kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, Thứ trưởng Phan Thị Thắng khẳng định: “Ngành Công Thương không chỉ giữ vai trò là nòng cốt, trụ cột vững chắc của nền kinh tế, mà còn là nhân tố quyết định trong việc bảo đảm an ninh năng lượng và thúc đẩy hội nhập quốc tế sâu rộng, tạo xung lực bứt phá cho giai đoạn phát triển mới”.

Thưa Thứ trưởng, nhìn lại giai đoạn 2021-2025, đâu là những kết quả ấn tượng nhất thể hiện vai trò nòng cốt của ngành Công Thương trong phát triển kinh tế giai đoạn 2021-2025, đặc biệt là năm 2025?

Trong nhiệm kỳ vừa qua, ngành Công Thương đã có những đóng góp rất quan trọng, toàn diện và mang tính nền tảng đối với phát triển kinh tế – xã hội đất nước. Ngành đã chủ động tham mưu xây dựng nhiều cơ chế, chính sách chiến lược nhằm thúc đẩy kinh tế, công nghiệp, thương mại và đầu tư; tháo gỡ các điểm nghẽn lớn để Trung ương, Quốc hội và các cấp có thẩm quyền ban hành nhiều nghị quyết, kết luận có tính chất quan trọng, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội (Nghị quyết 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới; Nghị quyết số 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết về cơ chế, chính sách phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026 – 2030…).

Với vai trò nòng cốt, trụ cột chiến lược, ngành Công Thương tiếp tục là một trong những động lực chủ yếu thúc đẩy tăng trưởng, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển theo hướng tự chủ, hiện đại hóa, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng, hiệu quả.

Sự phục hồi và tăng trưởng của sản xuất công nghiệp là minh chứng rõ nét nhất cho nỗ lực của toàn ngành với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 6,1% mỗi năm. Đáng chú ý, công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò động lực trung tâm của tăng trưởng - đạt mức tăng bình quân 6,9%/năm; quy mô toàn ngành tăng gần 1,5 lần so với đầu nhiệm kỳ. Tỷ lệ nội địa hóa tiếp tục được cải thiện; nhiều ngành công nghiệp mũi nhọn như điện tử, dệt may, da giày, chế biến nông sản đã hội nhập thành công, từng bước khẳng định vị trí của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Trong lĩnh vực năng lượng, hệ thống năng lượng quốc gia phát triển mạnh mẽ, quy mô hệ thống điện vươn lên nhóm 20 nước hàng đầu thế giới và đứng đầu khu vực Đông Nam Á. An ninh năng lượng quốc gia cơ bản được bảo đảm, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và đời sống nhân dân; cơ cấu năng lượng chuyển dịch theo hướng xanh hơn, bền vững hơn, phù hợp với xu thế toàn cầu.

Xuất nhập khẩu tiếp tục là điểm sáng nổi bật của nền kinh tế với tốc độ tăng trưởng bình quân 10,9%/năm. Kim ngạch xuất nhập khẩu liên tục xác lập các kỷ lục mới, riêng năm 2025 đạt trên 930 tỷ USD, gấp đôi so với đầu nhiệm kỳ; nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực duy trì thứ hạng cao trên thị trường thế giới. Thặng dư thương mại được giữ vững ở mức cao, đóng góp tích cực vào cân đối vĩ mô, bổ sung dự trữ ngoại hối và củng cố niềm tin thị trường.

Thị trường trong nước tiếp tục phát triển ổn định, với tốc độ tăng trưởng bình quân 7,7%/năm, thực sự trở thành một trụ cột quan trọng của nền kinh tế. Việc bảo đảm cung ứng đầy đủ nguyên, nhiên liệu và hàng hóa thiết yếu đã giúp thị trường trong nước phát huy vai trò “bệ đỡ”, hỗ trợ nền kinh tế đứng vững và phục hồi nhanh trước các cú sốc bên ngoài, đặc biệt trong giai đoạn đại dịch Covid-19. Cùng với đó, thương mại điện tử tăng trưởng trên 20%/năm, đưa Việt Nam vào nhóm 10 quốc gia có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất thế giới, tạo động lực quan trọng cho kinh tế số và chuyển đổi số doanh nghiệp.

Hội nhập kinh tế quốc tế được triển khai đồng bộ, thực chất và ngày càng hiệu quả. Việc tham gia 17 Hiệp định thương mại tự do đã mở ra không gian thị trường gần 6 tỷ người tiêu dùng, góp phần đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và thúc đẩy tái cơ cấu nền kinh tế theo hướng hiện đại, bền vững.

Trong những kết quả chung đó, vai trò của ngành Công Thương trong bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia được thể hiện như thế nào, thưa Thứ trưởng?

Trong cơ cấu phát triển bền vững, an ninh năng lượng được xác định là nhiệm vụ chính trị trọng yếu và xuyên suốt. Nghị quyết số 70-NQ/TW của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã  xác định mục tiêu phải bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia.

Thực hiện tinh thần của Nghị quyết số 70-NQ/TW, ngành Công Thương đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm đa dạng hóa nguồn năng lượng, kết hợp hài hòa giữa năng lượng truyền thống và năng lượng tái tạo, đồng thời thúc đẩy các dạng năng lượng mới, đẩy mạnh sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Cùng với đó, đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện thể chế, chính sách để phát triển thị trường năng lượng cạnh tranh, minh bạch nhằm thu hút mạnh mẽ các nguồn lực xã hội tham gia đầu tư phát triển năng lượng.

Thời gian qua, Bộ Công Thương đã dồn sức hoàn thiện thể chế năng lượng với trọng tâm là Luật Điện lực 2024 và Luật Dầu khí (sửa đổi). Việc tham mưu phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn 2050 (Quy hoạch điện 8 điều chỉnh) và triển khai quyết liệt các dự án lưới điện trọng điểm, đặc biệt là các đường dây 500 kV, 220kV đã giúp hệ thống điện Việt Nam vươn lên quy mô hàng đầu khu vực ASEAN. Đây là nền tảng quan trọng để bảo đảm cung ứng điện trong mọi tình huống, phục vụ đắc lực cho mục tiêu công nghiệp hóa.

Để bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia trong thời gian tới, ngành Công Thương đang tập trung xây dựng lộ trình thị trường điện cạnh tranh, minh bạch và hoàn thiện cơ chế giá điện theo nguyên tắc thị trường có sự điều tiết của Nhà nước. Đồng thời, việc đổi mới cơ chế tài chính để thu hút nguồn vốn xã hội hóa và ứng dụng chuyển đổi số trong vận hành hệ thống điện được xem là những giải pháp căn cơ để bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia bền vững.

Thưa Thứ trưởng, trong kỷ nguyên mới, ngành Công Thương sẽ tập trung triển khai những nhiệm vụ trọng tâm nào để góp phần thực hiện thắng lợi, toàn diện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng?

Đất nước ta đang bước vào một kỷ nguyên phát triển mới - kỷ nguyên của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng. Đây là giai đoạn mở ra nhiều thời cơ, thuận lợi lớn lao, đồng thời cũng đặt ra không ít khó khăn, thách thức đan xen.

Trong bối cảnh đó, để tiếp tục thúc đẩy phát triển công nghiệp và thương mại, góp phần thực hiện thắng lợi, toàn diện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, đóng góp xứng đáng vào sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới, ngành Công Thương quyết tâm tập trung triển khai đồng bộ, hiệu quả một số nhiệm vụ trọng tâm.

Thứ nhất, tiếp tục quán triệt, thể chế hóa đầy đủ, kịp thời các quan điểm, chủ trương, nghị quyết của Đảng về phát triển kinh tế – xã hội và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành các cơ chế, chính sách đồng bộ, khả thi; tập trung hoàn thiện thể chế theo tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW, lấy “chuyển đổi kép” (chuyển đổi xanh và chuyển đổi số) là đột phá của đột phá, tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thông thoáng, tháo gỡ điểm nghẽn, làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống và thúc đẩy các động lực tăng trưởng mới.

Thứ hai, đổi mới tư duy, cơ cấu lại ngành công nghiệp, thương mại theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh; lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển kinh tế tư nhân làm động lực chủ yếu. Tập trung phát triển các ngành công nghiệp nền tảng, chiến lược và từng bước làm chủ công nghệ trong một số ngành mới nổi; xây dựng cơ chế phát triển doanh nghiệp dân tộc, doanh nghiệp quy mô lớn; thu hút đầu tư đồng bộ hạ tầng năng lượng, công nghiệp, thương mại và logistics theo hướng hiện đại, xanh, số hóa, gắn với yêu cầu hội nhập sâu.

Thứ ba, nâng cấp, phát triển toàn diện chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng nhằm tăng tính tự chủ của nền kinh tế và nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu. Có chính sách đủ mạnh hỗ trợ doanh nghiệp trong nước tham gia sâu vào chuỗi của các tập đoàn lớn và doanh nghiệp FDI; tăng tỷ lệ nội địa hóa; thúc đẩy chuyển giao công nghệ, kỹ năng quản trị; phát triển các cụm liên kết ngành và chuỗi sản xuất khép kín.

Thứ tư, đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế gắn với cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng; khai thác hiệu quả các hiệp định thương mại tự do; tăng cường phòng vệ thương mại hợp pháp; đa dạng hóa thị trường, nguồn cung và chuỗi cung ứng, tránh phụ thuộc vào một số ít đối tác; đổi mới xúc tiến thương mại, phát triển thương mại điện tử và kinh tế số.

Thứ năm, thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện trong công nghiệp, thương mại; đẩy mạnh cải cách hành chính, đơn giản hóa thủ tục, điều kiện kinh doanh; mở rộng dịch vụ công trực tuyến, cơ chế một cửa liên thông, giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp và người dân.

Thứ sáu, hiện đại hóa công tác quản lý nhà nước. Việc đẩy mạnh cải cách hành chính, đơn giản hóa thủ tục và chuyển mạnh sang phương thức hậu kiểm gắn với quản lý rủi ro sẽ tạo môi trường kinh doanh minh bạch, thuận lợi cho doanh nghiệp. Ngành Công Thương sẽ kiên định mục tiêu phát triển tự chủ, hiện đại, lấy công nghiệp chế biến, chế tạo và năng lượng làm nền tảng vật chất quan trọng của nền kinh tế độc lập, tự chủ, quyết tâm đóng góp xứng đáng vào sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-

Categories: The Latest News

Ngành Công thương bứt phá trong kỷ nguyên mới

Thời báo kinh tế Việt Nam - Tue, 02/17/2026 - 13:06
Bước vào năm 2026, dấu mốc mở ra kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, Thứ trưởng Phan Thị Thắng khẳng định: “Ngành Công Thương không chỉ giữ vai trò là nòng cốt, trụ cột vững chắc của nền kinh tế, mà còn là nhân tố quyết định trong việc bảo đảm an ninh năng lượng và thúc đẩy hội nhập quốc tế sâu rộng, tạo xung lực bứt phá cho giai đoạn phát triển mới”.

Thưa Thứ trưởng, nhìn lại giai đoạn 2021-2025, đâu là những kết quả ấn tượng nhất thể hiện vai trò nòng cốt của ngành Công Thương trong phát triển kinh tế giai đoạn 2021-2025, đặc biệt là năm 2025?

Trong nhiệm kỳ vừa qua, ngành Công Thương đã có những đóng góp rất quan trọng, toàn diện và mang tính nền tảng đối với phát triển kinh tế – xã hội đất nước. Ngành đã chủ động tham mưu xây dựng nhiều cơ chế, chính sách chiến lược nhằm thúc đẩy kinh tế, công nghiệp, thương mại và đầu tư; tháo gỡ các điểm nghẽn lớn để Trung ương, Quốc hội và các cấp có thẩm quyền ban hành nhiều nghị quyết, kết luận có tính chất quan trọng, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội (Nghị quyết 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới; Nghị quyết số 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết về cơ chế, chính sách phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026 – 2030…).

Với vai trò nòng cốt, trụ cột chiến lược, ngành Công Thương tiếp tục là một trong những động lực chủ yếu thúc đẩy tăng trưởng, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển theo hướng tự chủ, hiện đại hóa, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng, hiệu quả.

Sự phục hồi và tăng trưởng của sản xuất công nghiệp là minh chứng rõ nét nhất cho nỗ lực của toàn ngành với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 6,1% mỗi năm. Đáng chú ý, công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò động lực trung tâm của tăng trưởng - đạt mức tăng bình quân 6,9%/năm; quy mô toàn ngành tăng gần 1,5 lần so với đầu nhiệm kỳ. Tỷ lệ nội địa hóa tiếp tục được cải thiện; nhiều ngành công nghiệp mũi nhọn như điện tử, dệt may, da giày, chế biến nông sản đã hội nhập thành công, từng bước khẳng định vị trí của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Trong lĩnh vực năng lượng, hệ thống năng lượng quốc gia phát triển mạnh mẽ, quy mô hệ thống điện vươn lên nhóm 20 nước hàng đầu thế giới và đứng đầu khu vực Đông Nam Á. An ninh năng lượng quốc gia cơ bản được bảo đảm, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và đời sống nhân dân; cơ cấu năng lượng chuyển dịch theo hướng xanh hơn, bền vững hơn, phù hợp với xu thế toàn cầu.

Xuất nhập khẩu tiếp tục là điểm sáng nổi bật của nền kinh tế với tốc độ tăng trưởng bình quân 10,9%/năm. Kim ngạch xuất nhập khẩu liên tục xác lập các kỷ lục mới, riêng năm 2025 đạt trên 930 tỷ USD, gấp đôi so với đầu nhiệm kỳ; nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực duy trì thứ hạng cao trên thị trường thế giới. Thặng dư thương mại được giữ vững ở mức cao, đóng góp tích cực vào cân đối vĩ mô, bổ sung dự trữ ngoại hối và củng cố niềm tin thị trường.

Thị trường trong nước tiếp tục phát triển ổn định, với tốc độ tăng trưởng bình quân 7,7%/năm, thực sự trở thành một trụ cột quan trọng của nền kinh tế. Việc bảo đảm cung ứng đầy đủ nguyên, nhiên liệu và hàng hóa thiết yếu đã giúp thị trường trong nước phát huy vai trò “bệ đỡ”, hỗ trợ nền kinh tế đứng vững và phục hồi nhanh trước các cú sốc bên ngoài, đặc biệt trong giai đoạn đại dịch Covid-19. Cùng với đó, thương mại điện tử tăng trưởng trên 20%/năm, đưa Việt Nam vào nhóm 10 quốc gia có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất thế giới, tạo động lực quan trọng cho kinh tế số và chuyển đổi số doanh nghiệp.

Hội nhập kinh tế quốc tế được triển khai đồng bộ, thực chất và ngày càng hiệu quả. Việc tham gia 17 Hiệp định thương mại tự do đã mở ra không gian thị trường gần 6 tỷ người tiêu dùng, góp phần đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và thúc đẩy tái cơ cấu nền kinh tế theo hướng hiện đại, bền vững.

Trong những kết quả chung đó, vai trò của ngành Công Thương trong bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia được thể hiện như thế nào, thưa Thứ trưởng?

Trong cơ cấu phát triển bền vững, an ninh năng lượng được xác định là nhiệm vụ chính trị trọng yếu và xuyên suốt. Nghị quyết số 70-NQ/TW của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã  xác định mục tiêu phải bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia.

Thực hiện tinh thần của Nghị quyết số 70-NQ/TW, ngành Công Thương đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm đa dạng hóa nguồn năng lượng, kết hợp hài hòa giữa năng lượng truyền thống và năng lượng tái tạo, đồng thời thúc đẩy các dạng năng lượng mới, đẩy mạnh sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Cùng với đó, đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện thể chế, chính sách để phát triển thị trường năng lượng cạnh tranh, minh bạch nhằm thu hút mạnh mẽ các nguồn lực xã hội tham gia đầu tư phát triển năng lượng.

Thời gian qua, Bộ Công Thương đã dồn sức hoàn thiện thể chế năng lượng với trọng tâm là Luật Điện lực 2024 và Luật Dầu khí (sửa đổi). Việc tham mưu phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn 2050 (Quy hoạch điện 8 điều chỉnh) và triển khai quyết liệt các dự án lưới điện trọng điểm, đặc biệt là các đường dây 500 kV, 220kV đã giúp hệ thống điện Việt Nam vươn lên quy mô hàng đầu khu vực ASEAN. Đây là nền tảng quan trọng để bảo đảm cung ứng điện trong mọi tình huống, phục vụ đắc lực cho mục tiêu công nghiệp hóa.

Để bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia trong thời gian tới, ngành Công Thương đang tập trung xây dựng lộ trình thị trường điện cạnh tranh, minh bạch và hoàn thiện cơ chế giá điện theo nguyên tắc thị trường có sự điều tiết của Nhà nước. Đồng thời, việc đổi mới cơ chế tài chính để thu hút nguồn vốn xã hội hóa và ứng dụng chuyển đổi số trong vận hành hệ thống điện được xem là những giải pháp căn cơ để bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia bền vững.

Thưa Thứ trưởng, trong kỷ nguyên mới, ngành Công Thương sẽ tập trung triển khai những nhiệm vụ trọng tâm nào để góp phần thực hiện thắng lợi, toàn diện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng?

Đất nước ta đang bước vào một kỷ nguyên phát triển mới - kỷ nguyên của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng. Đây là giai đoạn mở ra nhiều thời cơ, thuận lợi lớn lao, đồng thời cũng đặt ra không ít khó khăn, thách thức đan xen.

Trong bối cảnh đó, để tiếp tục thúc đẩy phát triển công nghiệp và thương mại, góp phần thực hiện thắng lợi, toàn diện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, đóng góp xứng đáng vào sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới, ngành Công Thương quyết tâm tập trung triển khai đồng bộ, hiệu quả một số nhiệm vụ trọng tâm.

Thứ nhất, tiếp tục quán triệt, thể chế hóa đầy đủ, kịp thời các quan điểm, chủ trương, nghị quyết của Đảng về phát triển kinh tế – xã hội và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành các cơ chế, chính sách đồng bộ, khả thi; tập trung hoàn thiện thể chế theo tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW, lấy “chuyển đổi kép” (chuyển đổi xanh và chuyển đổi số) là đột phá của đột phá, tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thông thoáng, tháo gỡ điểm nghẽn, làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống và thúc đẩy các động lực tăng trưởng mới.

Thứ hai, đổi mới tư duy, cơ cấu lại ngành công nghiệp, thương mại theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh; lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển kinh tế tư nhân làm động lực chủ yếu. Tập trung phát triển các ngành công nghiệp nền tảng, chiến lược và từng bước làm chủ công nghệ trong một số ngành mới nổi; xây dựng cơ chế phát triển doanh nghiệp dân tộc, doanh nghiệp quy mô lớn; thu hút đầu tư đồng bộ hạ tầng năng lượng, công nghiệp, thương mại và logistics theo hướng hiện đại, xanh, số hóa, gắn với yêu cầu hội nhập sâu.

Thứ ba, nâng cấp, phát triển toàn diện chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng nhằm tăng tính tự chủ của nền kinh tế và nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu. Có chính sách đủ mạnh hỗ trợ doanh nghiệp trong nước tham gia sâu vào chuỗi của các tập đoàn lớn và doanh nghiệp FDI; tăng tỷ lệ nội địa hóa; thúc đẩy chuyển giao công nghệ, kỹ năng quản trị; phát triển các cụm liên kết ngành và chuỗi sản xuất khép kín.

Thứ tư, đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế gắn với cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng; khai thác hiệu quả các hiệp định thương mại tự do; tăng cường phòng vệ thương mại hợp pháp; đa dạng hóa thị trường, nguồn cung và chuỗi cung ứng, tránh phụ thuộc vào một số ít đối tác; đổi mới xúc tiến thương mại, phát triển thương mại điện tử và kinh tế số.

Thứ năm, thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện trong công nghiệp, thương mại; đẩy mạnh cải cách hành chính, đơn giản hóa thủ tục, điều kiện kinh doanh; mở rộng dịch vụ công trực tuyến, cơ chế một cửa liên thông, giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp và người dân.

Thứ sáu, hiện đại hóa công tác quản lý nhà nước. Việc đẩy mạnh cải cách hành chính, đơn giản hóa thủ tục và chuyển mạnh sang phương thức hậu kiểm gắn với quản lý rủi ro sẽ tạo môi trường kinh doanh minh bạch, thuận lợi cho doanh nghiệp. Ngành Công Thương sẽ kiên định mục tiêu phát triển tự chủ, hiện đại, lấy công nghiệp chế biến, chế tạo và năng lượng làm nền tảng vật chất quan trọng của nền kinh tế độc lập, tự chủ, quyết tâm đóng góp xứng đáng vào sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-

Categories: The Latest News

Bí thư Thành ủy Hà Nội: Khẳng định bản lĩnh, trí tuệ và tầm vóc Thủ đô trong kỷ nguyên mới

Thời Báo Kinh Tế - Tue, 02/17/2026 - 10:39
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Duy Ngọc đã chia sẻ những dấu ấn lịch sử nổi bật của Thủ đô trong năm 2025, làm rõ vị thế, vai trò và khát vọng vươn mình của Hà Nội trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước.

Thăng Long – Hà Nội, Thủ đô ngàn năm văn hiến và anh hùng, luôn được xem là nơi hội tụ, kết tinh và tỏa sáng những giá trị cao quý của dân tộc Việt Nam. Nhìn lại chiều dài lịch sử và chặng đường phát triển gần đây, Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Duy Ngọc khẳng định Hà Nội không chỉ là trái tim của cả nước mà còn đang ngày càng khẳng định mạnh mẽ bản lĩnh, trí tuệ và tầm vóc trong kỷ nguyên vươn lên giàu mạnh, thịnh vượng, Nhân dân hạnh phúc.

Bề dày lịch sử của mảnh đất ngàn năm văn hiến đã hun đúc tinh thần Thăng Long – Hà Nội với những giá trị bền vững, vừa mang chiều sâu truyền thống, vừa không ngừng vươn mình cùng thời đại. Hà Nội đang từng bước khẳng định vai trò biểu tượng của niềm tin, ý chí và khát vọng phát triển của dân tộc Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.

Bí thư Thành ủy nêu rõ Hà Nội không thể đảm nhận vai trò tiên phong, dẫn dắt nếu chỉ đi theo lối mòn. Với khát vọng phát triển hùng cường, thịnh vượng, Thủ đô phải dám đột phá, dám làm những việc khó, việc mới, việc chưa có tiền lệ và đặc biệt là kiên định làm đến cùng, làm có kết quả.

Từ nhận thức đó, Đại hội Đảng bộ thành phố Hà Nội lần thứ XVIII đã xác định ba đột phá phát triển mang tính chiến lược, gồm: tập trung xây dựng, hoàn thiện thể chế phát triển Thủ đô; phát triển, khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút nhân tài; phát triển hệ thống hạ tầng hiện đại, thông minh và có tính kết nối cao.

KHẲNG ĐỊNH DẤU ẤN NĂM 2025 VỚI NHỮNG THÀNH TỰU NỔI BẬT

Bí thư Thành ủy Hà Nội cho biết năm 2025 là một năm rất đặc biệt đối với Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân Thủ đô. Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường, trong nước còn nhiều khó khăn, thách thức, Hà Nội vẫn kiên định mục tiêu phát triển, phát huy cao độ truyền thống văn hiến, anh hùng, tinh thần đoàn kết, đổi mới và trách nhiệm.

Thủ đô Hà Nội sẽ phát huy vai trò đầu tàu, tạo nền tảng và động lực cho sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới. Ảnh: Nhân Đân.

Với quan điểm luôn gương mẫu, đi đầu, Hà Nội đã đi qua năm 2025 với nhiều dấu ấn lịch sử đặc biệt và đạt được những thành tựu đáng tự hào. Nổi bật là tốc độ tăng trưởng GRDP đạt 8,16%, vượt mục tiêu đề ra là 8% và cao hơn nhiều so với mức 6,52% của năm 2024. Quy mô kinh tế Thủ đô đạt khoảng 63,5 tỷ USD; thu nhập bình quân đầu người đạt 7.200 USD.

Công tác tài chính – ngân sách ghi nhận kết quả nổi bật khi tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 711 nghìn tỷ đồng, bằng 138,4% dự toán, tăng 38,4% so với năm trước, mức cao nhất trong nhiều năm gần đây. Giải ngân vốn đầu tư công đạt gần 90 nghìn tỷ đồng, bằng 106,8% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, qua đó tạo động lực quan trọng cho tăng trưởng và phát triển hạ tầng.

Cùng với phát triển kinh tế, công tác an sinh xã hội tiếp tục được thành phố quan tâm triển khai hiệu quả; việc chủ động ứng phó, phòng chống thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu đã góp phần giảm thiểu thiệt hại, bảo đảm ổn định đời sống Nhân dân.

Một điểm nhấn quan trọng trong năm 2025 là phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Thành ủy Hà Nội có sự chuyển biến rõ nét theo phương châm: “Đã nói là làm – làm nhanh, làm đúng, làm hiệu quả, làm đến cùng”. Kỷ luật, kỷ cương hành chính được tăng cường; trách nhiệm của tập thể và cá nhân trong thực thi nhiệm vụ được xác định rõ theo tinh thần “rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền”.

Thành ủy Hà Nội đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm, không né tránh, nhằm giải quyết những vấn đề bức xúc, các điểm nghẽn kéo dài của Thủ đô như ùn tắc giao thông, ô nhiễm môi trường, ngập úng, trật tự đô thị, vệ sinh an toàn thực phẩm. Công tác giải phóng mặt bằng, tổ chức thực hiện các dự án hạ tầng đô thị được triển khai quyết liệt, hiệu quả; các giải pháp ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai, bảo đảm an sinh xã hội được triển khai chủ động, đồng bộ.

Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Duy Ngọc cùng các đồng chí lãnh đạo thành phố Hà Nội tham quan gian trưng bày sản phẩm tại triển lãm Mạng lưới đổi mới sáng tạo Hà Nội.

Theo Bí thư Thành ủy, những kết quả đạt được cho thấy Hà Nội đang từng bước hình thành phương thức lãnh đạo, điều hành dựa trên kỷ cương, kiểm soát tiến độ, đo lường hiệu quả thực chất và có thể kiểm chứng bằng dữ liệu.

Trong năm 2025, thành phố cũng chủ động đề xuất xây dựng Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm, gắn với hoàn thiện thể chế, tháo gỡ các điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực và xác lập mô hình tăng trưởng mới, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số liên tục trong những năm tới.

Bên cạnh đó, Hà Nội đã tổ chức thành công Đại hội Đảng các cấp và Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ XVIII, nhiệm kỳ 2025 – 2030. Thành phố đi đầu trong sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy hệ thống chính trị với quyết tâm chính trị cao, triển khai bài bản, khoa học. Việc sắp xếp 526 phường, xã, thị trấn thành 126 phường, xã nhận được sự đồng tình, ủng hộ cao của Nhân dân. Từ ngày 1/7/2025, mô hình chính quyền địa phương hai cấp chính thức đi vào hoạt động thông suốt, bảo đảm tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả.

TẠO ĐỘT PHÁ TỪ ĐỔI MỚI LÃNH ĐẠO, HẠ TẦNG VÀ CHUYỂN ĐỔI SỐ

Theo Bí thư Thành ủy Hà Nội, cùng với việc vận hành mô hình chính quyền địa phương mới, thành phố đi đầu trong đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với tinh giản thủ tục hành chính và chuyển đổi số toàn diện. Đến nay, Hà Nội đã hoàn thành việc xây dựng và phê duyệt phương án tái cấu trúc đối với 293 thủ tục hành chính phổ biến, theo hướng quản lý dựa trên dữ liệu, giảm tiền kiểm, tăng hậu kiểm, cung cấp dịch vụ công trực tuyến liền mạch và hiệu quả.

Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Duy Ngọc cùng lãnh đạo của thành phố Hà Nội kiểm tra tiến độ thi công tuyến đường Vành đai 1, đoạn Hoàng Cầu-Voi Phục.

Hà Nội cũng là địa phương tiên phong thí điểm tích hợp thủ tục hành chính của Đảng lên Cổng Dịch vụ công quốc gia; đẩy mạnh chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng và hệ thống chính trị. Kết quả là Hà Nội có ba năm liên tiếp (2023, 2024, 2025) đứng đầu cả nước về chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương.

Trong triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Hà Nội xác định đây là bước đi chiến lược, mang tính đột phá trong mọi lĩnh vực phát triển kinh tế – xã hội. Ban Thường vụ Thành ủy đã kiện toàn Ban Chỉ đạo 57 của Thành ủy, triển khai 230 nhiệm vụ cụ thể nhằm thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong toàn bộ hệ thống chính trị và đời sống kinh tế – xã hội.

Thành phố nhấn mạnh phương châm “AI First”, coi việc nâng cao năng lực số của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức là giải pháp then chốt để giảm thủ công, cắt giảm chi phí, rút ngắn thời gian xử lý công việc và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp.

Song song với đó, Hà Nội tập trung cải cách thủ tục hành chính theo hướng thực chất, tái cấu trúc quy trình trên nền tảng dữ liệu dùng chung, tăng tỷ lệ hồ sơ xử lý toàn trình, giảm mạnh chi phí tuân thủ thủ tục hành chính cho xã hội.

Tại Đại hội Đảng lần thứ XVIII, TP Hà Nội đặt mục tiêu tăng trưởng từ 11% trở lên trong năm 2026 và cả nhiệm kỳ 2026 - 2031.

Trong lĩnh vực đầu tư công, thành phố yêu cầu minh bạch, hiệu quả, ứng dụng công nghệ để giám sát tiến độ, cảnh báo sớm điểm nghẽn, rút ngắn thời gian chuẩn bị dự án và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.

Bí thư Thành ủy cho biết Hà Nội đang từng bước chuyển đổi trạng thái quản trị từ điều hành dựa nhiều vào kinh nghiệm sang quản trị dựa trên dữ liệu, công nghệ và hiệu quả đầu ra. Các quyết định quản lý, điều hành được đưa ra nhanh hơn, chính xác hơn và có thể kiểm chứng bằng dữ liệu.

Việc đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo đã tạo ra những kết quả cụ thể, rõ nét, trong đó có việc tháo gỡ những vấn đề tồn đọng kéo dài nhiều năm. Điển hình là công tác giải phóng mặt bằng dự án đường Vành đai 1 (đoạn Hoàng Cầu – Voi Phục). Chỉ trong hơn 5 tháng, các phường liên quan đã hoàn thành bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho 1.295 hộ dân, vượt xa kết quả của nhiều năm trước đó. Ngày 15/1/2026, dự án chính thức thông xe kỹ thuật, tạo động lực mới cho phát triển đô thị và giao thông Thủ đô.

Cùng thời điểm, nhiều dự án lớn, có ý nghĩa chiến lược đã được khởi công, như Nhà máy chế tạo chip bán dẫn đầu tiên tại Việt Nam tại Khu công nghệ cao Hòa Lạc; Dự án Khu phức hợp y tế – chăm sóc sức khỏe người cao tuổi Đại học Y Hà Nội; các khu đô thị đa mục tiêu, qua đó góp phần mở rộng không gian phát triển và nâng cao chất lượng sống của người dân.

Bước sang năm 2026 – năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XVIII và Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Bí thư Thành ủy Hà Nội cho biết thành phố xác định mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 11% trở lên, đồng thời tập trung triển khai đồng bộ các nhiệm vụ trọng tâm về thể chế, quy hoạch, hạ tầng, khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Với chủ đề hành động năm 2026 là “Kỷ cương, chuyên nghiệp – Đột phá, sáng tạo – Hiệu quả, bền vững”, Hà Nội tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao trách nhiệm người đứng đầu, phát triển kết cấu hạ tầng chiến lược, giải quyết các điểm nghẽn đô thị và bảo đảm an sinh xã hội, quốc phòng – an ninh.

Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Bí thư Thành ủy Hà Nội nhấn mạnh với truyền thống đoàn kết, trí tuệ và bản lĩnh, cùng tinh thần “Hà Nội đã nói là làm – làm nhanh, làm đúng, làm hiệu quả, làm đến cùng”, Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân Thủ đô sẽ tiếp tục viết tiếp những trang sử mới, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp phát triển chung của đất nước trong kỷ nguyên mới.

-Lý Hà

Categories: The Latest News

Bí thư Thành ủy Hà Nội: Khẳng định bản lĩnh, trí tuệ và tầm vóc Thủ đô trong kỷ nguyên mới

Thời báo kinh tế Việt Nam - Tue, 02/17/2026 - 10:39
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Duy Ngọc đã chia sẻ những dấu ấn lịch sử nổi bật của Thủ đô trong năm 2025, làm rõ vị thế, vai trò và khát vọng vươn mình của Hà Nội trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước.

Thăng Long – Hà Nội, Thủ đô ngàn năm văn hiến và anh hùng, luôn được xem là nơi hội tụ, kết tinh và tỏa sáng những giá trị cao quý của dân tộc Việt Nam. Nhìn lại chiều dài lịch sử và chặng đường phát triển gần đây, Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Duy Ngọc khẳng định Hà Nội không chỉ là trái tim của cả nước mà còn đang ngày càng khẳng định mạnh mẽ bản lĩnh, trí tuệ và tầm vóc trong kỷ nguyên vươn lên giàu mạnh, thịnh vượng, Nhân dân hạnh phúc.

Bề dày lịch sử của mảnh đất ngàn năm văn hiến đã hun đúc tinh thần Thăng Long – Hà Nội với những giá trị bền vững, vừa mang chiều sâu truyền thống, vừa không ngừng vươn mình cùng thời đại. Hà Nội đang từng bước khẳng định vai trò biểu tượng của niềm tin, ý chí và khát vọng phát triển của dân tộc Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.

Bí thư Thành ủy nêu rõ Hà Nội không thể đảm nhận vai trò tiên phong, dẫn dắt nếu chỉ đi theo lối mòn. Với khát vọng phát triển hùng cường, thịnh vượng, Thủ đô phải dám đột phá, dám làm những việc khó, việc mới, việc chưa có tiền lệ và đặc biệt là kiên định làm đến cùng, làm có kết quả.

Từ nhận thức đó, Đại hội Đảng bộ thành phố Hà Nội lần thứ XVIII đã xác định ba đột phá phát triển mang tính chiến lược, gồm: tập trung xây dựng, hoàn thiện thể chế phát triển Thủ đô; phát triển, khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút nhân tài; phát triển hệ thống hạ tầng hiện đại, thông minh và có tính kết nối cao.

KHẲNG ĐỊNH DẤU ẤN NĂM 2025 VỚI NHỮNG THÀNH TỰU NỔI BẬT

Bí thư Thành ủy Hà Nội cho biết năm 2025 là một năm rất đặc biệt đối với Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân Thủ đô. Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường, trong nước còn nhiều khó khăn, thách thức, Hà Nội vẫn kiên định mục tiêu phát triển, phát huy cao độ truyền thống văn hiến, anh hùng, tinh thần đoàn kết, đổi mới và trách nhiệm.

Thủ đô Hà Nội sẽ phát huy vai trò đầu tàu, tạo nền tảng và động lực cho sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới. Ảnh: Nhân Đân.

Với quan điểm luôn gương mẫu, đi đầu, Hà Nội đã đi qua năm 2025 với nhiều dấu ấn lịch sử đặc biệt và đạt được những thành tựu đáng tự hào. Nổi bật là tốc độ tăng trưởng GRDP đạt 8,16%, vượt mục tiêu đề ra là 8% và cao hơn nhiều so với mức 6,52% của năm 2024. Quy mô kinh tế Thủ đô đạt khoảng 63,5 tỷ USD; thu nhập bình quân đầu người đạt 7.200 USD.

Công tác tài chính – ngân sách ghi nhận kết quả nổi bật khi tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 711 nghìn tỷ đồng, bằng 138,4% dự toán, tăng 38,4% so với năm trước, mức cao nhất trong nhiều năm gần đây. Giải ngân vốn đầu tư công đạt gần 90 nghìn tỷ đồng, bằng 106,8% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, qua đó tạo động lực quan trọng cho tăng trưởng và phát triển hạ tầng.

Cùng với phát triển kinh tế, công tác an sinh xã hội tiếp tục được thành phố quan tâm triển khai hiệu quả; việc chủ động ứng phó, phòng chống thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu đã góp phần giảm thiểu thiệt hại, bảo đảm ổn định đời sống Nhân dân.

Một điểm nhấn quan trọng trong năm 2025 là phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Thành ủy Hà Nội có sự chuyển biến rõ nét theo phương châm: “Đã nói là làm – làm nhanh, làm đúng, làm hiệu quả, làm đến cùng”. Kỷ luật, kỷ cương hành chính được tăng cường; trách nhiệm của tập thể và cá nhân trong thực thi nhiệm vụ được xác định rõ theo tinh thần “rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền”.

Thành ủy Hà Nội đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm, không né tránh, nhằm giải quyết những vấn đề bức xúc, các điểm nghẽn kéo dài của Thủ đô như ùn tắc giao thông, ô nhiễm môi trường, ngập úng, trật tự đô thị, vệ sinh an toàn thực phẩm. Công tác giải phóng mặt bằng, tổ chức thực hiện các dự án hạ tầng đô thị được triển khai quyết liệt, hiệu quả; các giải pháp ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai, bảo đảm an sinh xã hội được triển khai chủ động, đồng bộ.

Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Duy Ngọc cùng các đồng chí lãnh đạo thành phố Hà Nội tham quan gian trưng bày sản phẩm tại triển lãm Mạng lưới đổi mới sáng tạo Hà Nội.

Theo Bí thư Thành ủy, những kết quả đạt được cho thấy Hà Nội đang từng bước hình thành phương thức lãnh đạo, điều hành dựa trên kỷ cương, kiểm soát tiến độ, đo lường hiệu quả thực chất và có thể kiểm chứng bằng dữ liệu.

Trong năm 2025, thành phố cũng chủ động đề xuất xây dựng Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm, gắn với hoàn thiện thể chế, tháo gỡ các điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực và xác lập mô hình tăng trưởng mới, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số liên tục trong những năm tới.

Bên cạnh đó, Hà Nội đã tổ chức thành công Đại hội Đảng các cấp và Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ XVIII, nhiệm kỳ 2025 – 2030. Thành phố đi đầu trong sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy hệ thống chính trị với quyết tâm chính trị cao, triển khai bài bản, khoa học. Việc sắp xếp 526 phường, xã, thị trấn thành 126 phường, xã nhận được sự đồng tình, ủng hộ cao của Nhân dân. Từ ngày 1/7/2025, mô hình chính quyền địa phương hai cấp chính thức đi vào hoạt động thông suốt, bảo đảm tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả.

TẠO ĐỘT PHÁ TỪ ĐỔI MỚI LÃNH ĐẠO, HẠ TẦNG VÀ CHUYỂN ĐỔI SỐ

Theo Bí thư Thành ủy Hà Nội, cùng với việc vận hành mô hình chính quyền địa phương mới, thành phố đi đầu trong đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với tinh giản thủ tục hành chính và chuyển đổi số toàn diện. Đến nay, Hà Nội đã hoàn thành việc xây dựng và phê duyệt phương án tái cấu trúc đối với 293 thủ tục hành chính phổ biến, theo hướng quản lý dựa trên dữ liệu, giảm tiền kiểm, tăng hậu kiểm, cung cấp dịch vụ công trực tuyến liền mạch và hiệu quả.

Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Duy Ngọc cùng lãnh đạo của thành phố Hà Nội kiểm tra tiến độ thi công tuyến đường Vành đai 1, đoạn Hoàng Cầu-Voi Phục.

Hà Nội cũng là địa phương tiên phong thí điểm tích hợp thủ tục hành chính của Đảng lên Cổng Dịch vụ công quốc gia; đẩy mạnh chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng và hệ thống chính trị. Kết quả là Hà Nội có ba năm liên tiếp (2023, 2024, 2025) đứng đầu cả nước về chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương.

Trong triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Hà Nội xác định đây là bước đi chiến lược, mang tính đột phá trong mọi lĩnh vực phát triển kinh tế – xã hội. Ban Thường vụ Thành ủy đã kiện toàn Ban Chỉ đạo 57 của Thành ủy, triển khai 230 nhiệm vụ cụ thể nhằm thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong toàn bộ hệ thống chính trị và đời sống kinh tế – xã hội.

Thành phố nhấn mạnh phương châm “AI First”, coi việc nâng cao năng lực số của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức là giải pháp then chốt để giảm thủ công, cắt giảm chi phí, rút ngắn thời gian xử lý công việc và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp.

Song song với đó, Hà Nội tập trung cải cách thủ tục hành chính theo hướng thực chất, tái cấu trúc quy trình trên nền tảng dữ liệu dùng chung, tăng tỷ lệ hồ sơ xử lý toàn trình, giảm mạnh chi phí tuân thủ thủ tục hành chính cho xã hội.

Tại Đại hội Đảng lần thứ XVIII, TP Hà Nội đặt mục tiêu tăng trưởng từ 11% trở lên trong năm 2026 và cả nhiệm kỳ 2026 - 2031.

Trong lĩnh vực đầu tư công, thành phố yêu cầu minh bạch, hiệu quả, ứng dụng công nghệ để giám sát tiến độ, cảnh báo sớm điểm nghẽn, rút ngắn thời gian chuẩn bị dự án và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.

Bí thư Thành ủy cho biết Hà Nội đang từng bước chuyển đổi trạng thái quản trị từ điều hành dựa nhiều vào kinh nghiệm sang quản trị dựa trên dữ liệu, công nghệ và hiệu quả đầu ra. Các quyết định quản lý, điều hành được đưa ra nhanh hơn, chính xác hơn và có thể kiểm chứng bằng dữ liệu.

Việc đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo đã tạo ra những kết quả cụ thể, rõ nét, trong đó có việc tháo gỡ những vấn đề tồn đọng kéo dài nhiều năm. Điển hình là công tác giải phóng mặt bằng dự án đường Vành đai 1 (đoạn Hoàng Cầu – Voi Phục). Chỉ trong hơn 5 tháng, các phường liên quan đã hoàn thành bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho 1.295 hộ dân, vượt xa kết quả của nhiều năm trước đó. Ngày 15/1/2026, dự án chính thức thông xe kỹ thuật, tạo động lực mới cho phát triển đô thị và giao thông Thủ đô.

Cùng thời điểm, nhiều dự án lớn, có ý nghĩa chiến lược đã được khởi công, như Nhà máy chế tạo chip bán dẫn đầu tiên tại Việt Nam tại Khu công nghệ cao Hòa Lạc; Dự án Khu phức hợp y tế – chăm sóc sức khỏe người cao tuổi Đại học Y Hà Nội; các khu đô thị đa mục tiêu, qua đó góp phần mở rộng không gian phát triển và nâng cao chất lượng sống của người dân.

Bước sang năm 2026 – năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XVIII và Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Bí thư Thành ủy Hà Nội cho biết thành phố xác định mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 11% trở lên, đồng thời tập trung triển khai đồng bộ các nhiệm vụ trọng tâm về thể chế, quy hoạch, hạ tầng, khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Với chủ đề hành động năm 2026 là “Kỷ cương, chuyên nghiệp – Đột phá, sáng tạo – Hiệu quả, bền vững”, Hà Nội tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao trách nhiệm người đứng đầu, phát triển kết cấu hạ tầng chiến lược, giải quyết các điểm nghẽn đô thị và bảo đảm an sinh xã hội, quốc phòng – an ninh.

Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Bí thư Thành ủy Hà Nội nhấn mạnh với truyền thống đoàn kết, trí tuệ và bản lĩnh, cùng tinh thần “Hà Nội đã nói là làm – làm nhanh, làm đúng, làm hiệu quả, làm đến cùng”, Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân Thủ đô sẽ tiếp tục viết tiếp những trang sử mới, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp phát triển chung của đất nước trong kỷ nguyên mới.

-Lý Hà

Categories: The Latest News

Đưa doanh nghiệp nhỏ và vừa trở thành động lực tăng trưởng hai con số

Thời báo kinh tế Việt Nam - Tue, 02/17/2026 - 10:05
Từ năm 2026, Bộ Tài chính thực hiện cải cách mạnh mẽ về thể chế để hiện thực hóa mục tiêu 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030; đồng thời, góp phần đưa doanh nghiệp trở thành động lực tăng trưởng hai con số. Đón Xuân Bính Ngọ, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Đức Tâm, Thứ trưởng Bộ Tài chính, về những định hướng chính sách then chốt trong giai đoạn tới.

Thưa Thứ trưởng, trong giai đoạn vừa qua, đặc biệt là năm 2025, nền kinh tế Việt Nam chịu nhiều tác động khó lường từ bên ngoài. Cảm nhận của ông về khả năng chống chọi của doanh nghiệp, trong đó có cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa, như thế nào?

Năm 2025, khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa phải đối mặt với hàng loạt sức ép từ bên ngoài lẫn nội tại. Cầu tiêu dùng thế giới suy yếu khiến đơn hàng xuất khẩu sụt giảm, trong khi chi phí nguyên liệu đầu vào, logistics và tài chính tăng cao đã làm thu hẹp biên lợi nhuận. Bên cạnh đó, diễn biến phức tạp của thị trường tiền tệ – tài chính quốc tế cùng những biến động về tỷ giá, lãi suất tiếp tục tạo thêm áp lực lên dòng tiền và khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp. Đây là nguyên nhân khiến không ít doanh nghiệp buộc phải cắt giảm sản xuất, thu hẹp quy mô hoặc tạm ngừng hoạt động trong ngắn hạn để thích ứng với bối cảnh mới.

Tuy nhiên, trong bức tranh còn nhiều gam màu thách thức đó, điểm sáng nổi bật là phần lớn doanh nghiệp vẫn kiên trì bám trụ thị trường, nỗ lực duy trì hoạt động sản xuất – kinh doanh và giữ ổn định việc làm cho người lao động.

Song song với đó, xu hướng ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng trong nước cũng như quốc tế được thúc đẩy mạnh mẽ, giúp doanh nghiệp từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng chống chịu trước các cú sốc bên ngoài.

Đặc biệt, việc Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân đã tạo ra hiệu ứng lan tỏa tích cực, góp phần củng cố niềm tin và khơi dậy tinh thần khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo trong khu vực doanh nghiệp. Ngay sau khi nghị quyết được ban hành, làn sóng thành lập doanh nghiệp mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động gia tăng rõ rệt khi bình quân mỗi tháng ghi nhận hơn 18.000 doanh nghiệp được thành lập mới và trên 12.000 doanh nghiệp tái gia nhập thị trường.

Cùng với sự gia tăng về số lượng, quy mô vốn đăng ký của khu vực kinh tế tư nhân cũng có bước cải thiện đáng kể. Tổng vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong năm 2025 ước đạt trên 6 triệu tỷ đồng, tăng 71,6% so với năm 2024, qua đó nâng tổng số doanh nghiệp đang hoạt động lên vượt mốc 1 triệu doanh nghiệp. Những con số này không chỉ phản ánh sự phục hồi rõ nét của khu vực doanh nghiệp mà còn cho thấy sức bền cũng như tinh thần đổi mới của cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh nền kinh tế đang từng bước lấy lại đà phát triển.

Thưa ông, một trong những định hướng lớn của Đảng và Chính phủ vừa qua là phát triển mạnh mẽ quy mô doanh nghiệp, trong đó có việc chuyển đổi hộ kinh doanh lên doanh nghiệp nhưng thực tế cho thấy không ít hộ vẫn còn dè dặt, chưa sẵn sàng chuyển đổi. Theo ông, rào cản lớn nhất là gì và cách giải quyết vấn đề nên như thế nào?

Khu vực kinh tế tư nhân, đặc biệt là lực lượng hộ kinh doanh, đang nổi lên như một trụ cột quan trọng thúc đẩy tăng trưởng của nền kinh tế. Với quy mô lên tới hơn 5 triệu cơ sở, khu vực hộ kinh doanh được xem là “nguồn đầu vào” then chốt để hiện thực hóa mục tiêu đạt 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030. Tuy nhiên, thực tế cho thấy tiến trình chuyển đổi từ hộ kinh doanh sang doanh nghiệp vẫn diễn ra chậm, chủ yếu do tồn tại nhiều rào cản mang tính cấu trúc và tâm lý, cho thấy còn nhiều điểm nghẽn cần được tháo gỡ một cách căn cơ.

Trước hết, tâm lý lo ngại về việc gia tăng nghĩa vụ thuế và chi phí tuân thủ vẫn là rào cản lớn. Dù góp phần nâng cao tính minh bạch và chuyên nghiệp, nhưng những sự thay đổi khi chuyển sang mô hình doanh nghiệp không chỉ làm gia tăng chi phí trực tiếp mà còn kéo theo chi phí gián tiếp như thuê kế toán, phần mềm quản trị, tư vấn pháp lý. Trong bối cảnh biên lợi nhuận của nhiều hộ kinh doanh còn mỏng, nỗi lo “lớn lên là gánh nặng nhiều hơn” khiến không ít cơ sở lựa chọn duy trì mô hình cũ.

Bên cạnh đó, hạn chế về năng lực quản trị và hiểu biết pháp lý cũng là nguyên nhân quan trọng khiến nhiều hộ kinh doanh chần chừ “lên doanh nghiệp”. Phần lớn các hộ hoạt động theo mô hình gia đình, chủ yếu dựa nhiều vào kinh nghiệm. Khi đứng trước yêu cầu phải tuân thủ hệ thống pháp luật doanh nghiệp, kế toán, lao động và các tiêu chuẩn quản trị hiện đại hơn, nhiều chủ hộ cảm thấy “quá sức” và lo ngại rủi ro phát sinh từ việc thiếu hiểu biết pháp lý, dễ dẫn đến sai sót, bị xử phạt hoặc tranh chấp. Tâm lý sợ rủi ro, sợ trách nhiệm pháp lý cao hơn vì thế trở thành lực cản đáng kể đối với quyết định chuyển đổi.

Khả năng tiếp cận tín dụng và thị trường sau khi chuyển đổi chưa thực sự tạo ra lợi ích rõ rệt so với trước đây. Không ít hộ kinh doanh cho rằng dù đã trở thành doanh nghiệp nhưng họ vẫn gặp khó trong việc vay vốn ngân hàng, tiếp cận đất đai hoặc mặt bằng sản xuất.

Đồng thời, việc mở rộng thị trường, tìm kiếm đối tác mới hay tham gia chuỗi giá trị cũng chưa mang lại lợi ích tức thì, khiến nhiều hộ chưa thấy rõ lợi ích ngắn hạn cho quyết định chuyển đổi, từ đó làm suy giảm động lực thay đổi mô hình hoạt động.

Ngoài ra, thủ tục hành chính vẫn được xem là rào cản mang tính tâm lý dai dẳng. Đối với nhiều hộ kinh doanh, việc phải dành thêm thời gian và nguồn lực cho thủ tục hành chính và tuân thủ quy định được xem là chi phí cơ hội không nhỏ, làm giảm sức hấp dẫn của quá trình chuyển đổi.

Những điểm nghẽn này cho thấy, để khai thác hiệu quả “mỏ vàng” 5,2 triệu hộ kinh doanh và biến khu vực này thành động lực quan trọng trong quá trình phát triển doanh nghiệp, cần tiếp tục hoàn thiện chính sách hỗ trợ theo hướng thực chất, dễ tiếp cận và tạo động lực đủ lớn, qua đó thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyển đổi trong giai đoạn tới.

Thưa ông, trong năm 2026, các cơ chế, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ được đặt trọng tâm vào những lĩnh vực, mục tiêu nào để thúc đẩy khả năng phục hồi và nâng cao năng lực cạnh tranh của cộng đồng này?

Các chính sách hỗ trợ được Nhà nước triển khai trong thời gian qua, từ nới lỏng tài khóa, gia hạn và giảm thuế, phí, cho tới mở rộng tín dụng và cải thiện môi trường đầu tư – kinh doanh đã đóng vai trò như “bệ đỡ” quan trọng giúp doanh nghiệp vượt qua giai đoạn khó khăn. Bộ Tài chính đã chủ động nghiên cứu, tham mưu và trình cấp có thẩm quyền ban hành nhiều gói chính sách miễn, giảm, gia hạn thuế, phí, lệ phí và tiền thuê đất nhằm tháo gỡ áp lực chi phí, cải thiện dòng tiền và hỗ trợ doanh nghiệp, người dân phục hồi hoạt động, với tổng quy mô hỗ trợ khoảng 244,5 nghìn tỷ đồng.

Nhờ những giải pháp kịp thời, áp lực chi phí của doanh nghiệp từng bước được giảm nhẹ, khả năng thanh khoản được cải thiện và niềm tin thị trường dần được củng cố.

Để đồng hành cùng cộng đồng doanh nghiệp trong chặng đường tới và thực hiện nhiệm vụ Chính phủ giao, Bộ Tài chính sẽ tập trung nghiên cứu, rà soát và sửa đổi toàn diện Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong năm 2026. Mục tiêu là thể chế hóa đầy đủ các định hướng lớn của Bộ Chính trị về phát triển khu vực doanh nghiệp, qua đó hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, nâng cao hiệu quả chính sách hỗ trợ và tạo động lực mới cho doanh nghiệp phát triển ổn định, dài hạn trong giai đoạn tới.

Tiếp cận các nguồn lực về vốn vẫn được đánh giá là một trong những rào cản lớn đối với khu vực tư nhân, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng như hộ kinh doanh trong quá trình mở rộng hoạt động và chuyển đổi lên mô hình doanh nghiệp. Bước sang năm 2026, Bộ Tài chính dự kiến triển khai những giải pháp gì để hỗ trợ khu vực này, thưa ông?

Nhận diện rõ những rào cản đang cản trở quá trình “lớn lên” của khu vực hộ kinh doanh, trong năm 2026, Bộ Tài chính sẽ tập trung triển khai đồng bộ nhiều giải pháp mang tính thực chất, nhằm tạo dựng niềm tin và động lực để các cơ sở mạnh dạn chuyển đổi sang mô hình doanh nghiệp.

Thứ nhất, hoàn thiện khung pháp lý về hộ kinh doanh và lộ trình chuyển đổi. Theo đó, Bộ Tài chính sẽ rà soát toàn diện các quy định liên quan đến tổ chức, quản trị, chế độ tài chính – kế toán và nghĩa vụ tuân thủ của hộ kinh doanh, qua đó từng bước thu hẹp khoảng cách giữa hộ kinh doanh và doanh nghiệp.

Thứ hai, triển khai bãi bỏ thuế khoán gắn với hiện đại hóa quản lý thuế và hạ tầng số. Bộ Tài chính sẽ khẩn trương hoàn thiện cơ sở pháp lý, đồng thời đầu tư, nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin để thực hiện bãi bỏ thuế khoán đối với hộ kinh doanh từ ngày 1/1/2026 theo đúng lộ trình.

Thứ ba, trên cơ sở Nghị quyết số 198/2025/QH15 ngày 17/5/2025 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân, Bộ Tài chính sẽ tiếp tục hoàn thiện các cơ chế ưu đãi dành cho hộ kinh doanh khi chuyển đổi thành doanh nghiệp, trong đó miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong những năm đầu sau khi thành lập, bãi bỏ lệ phí môn bài, hỗ trợ tiếp cận tín dụng và giảm chi phí tuân thủ.

Cùng với hoàn thiện thể chế và chính sách, Bộ sẽ phối hợp với các bộ, ngành, địa phương và hiệp hội doanh nghiệp tăng cường công tác truyền thông, tư vấn trực tiếp và đào tạo kỹ năng cho hộ kinh doanh.

Quan điểm xuyên suốt và nhất quán của Bộ Tài chính là việc chuyển đổi hộ kinh doanh lên doanh nghiệp không nhằm “quản chặt hơn” mà để “mở ra không gian phát triển rộng hơn”. Khi trở thành doanh nghiệp, các cơ sở sẽ có điều kiện tiếp cận thuận lợi hơn với vốn, thị trường, công nghệ và các chính sách hỗ trợ của Nhà nước, qua đó nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và khả năng cạnh tranh dài hạn.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8/2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-

Categories: The Latest News

Thông điệp chúc Tết Bính Ngọ 2026 của Chủ tịch nước Lương Cường

Thời Báo Kinh Tế - Tue, 02/17/2026 - 09:11
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, đúng thời khắc Giao thừa thiêng liêng chuyển giao giữa năm cũ và năm mới, thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chủ tịch nước Lương Cường có thông điệp chúc Tết gửi đến đồng bào, đồng chí và chiến sĩ cả nước, cũng như cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.

VnEconomy trân trọng giới thiệu toàn văn Thông điệp chúc Tết của Chủ tịch nước:

Thưa đồng bào, đồng chí, chiến sĩ cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài,

Xuân Bính Ngọ đã tới, trong thời khắc chuyển giao năm cũ - năm mới, tôi thân ái gửi tới đồng bào, đồng chí, chiến sĩ cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài lời chúc năm mới an lành, mạnh khỏe và hạnh phúc. Tôi trân trọng gửi tới nhân dân, bạn bè quốc tế những lời chúc tốt đẹp nhất, chúc một năm mới hòa bình, hạnh phúc và cùng phát triển.

Năm Ất Tỵ 2025, đất nước ta đã đi qua một chặng đường ghi dấu nhiều sự kiện quan trọng, có ý nghĩa đặc biệt và đạt được nhiều thành tựu rất đáng tự hào; đồng thời, cũng là một năm đất nước ta phải trải qua rất nhiều khó khăn, thử thách, với những biến động nhanh, phức tạp, khó lường của tình hình thế giới và khu vực, cùng những thiên tai khắc nghiệt, gây tổn thất nặng nề, để lại nhiều đau thương, mất mát cho đồng bào ta.

Bằng bản lĩnh kiên cường, ý chí tự lực, tự cường, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã đoàn kết, chung sức đồng lòng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc và sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế, chúng ta đã hoàn thành toàn bộ các mục tiêu chủ yếu đề ra, với nhiều dấu ấn nổi bật: Độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, môi trường hòa bình được giữ vững; tăng trưởng kinh tế thuộc nhóm dẫn đầu thế giới, trở thành nước có thu nhập trung bình cao; an sinh xã hội được quan tâm chăm lo; chính trị, xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được giữ vững và tăng cường; đối ngoại, hội nhập quốc tế được đẩy mạnh, vị thế, uy tín của Việt Nam tiếp tục được nâng cao trên trường quốc tế; tạo nền tảng quan trọng để đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới.

Bước sang năm mới Bính Ngọ 2026 - Năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, với truyền thống yêu nước nồng nàn, tinh thần đoàn kết, ý chí kiên cường và khát vọng vươn lên mạnh mẽ, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta sẽ tiếp tục đoàn kết, chung sức đồng lòng, tận dụng mọi thời cơ, vận hội, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, phát huy mạnh mẽ tinh thần tự tin, tự chủ, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, không ngừng đổi mới sáng tạo, hành động quyết liệt để hiện thực hóa thành công mục tiêu xây dựng đất nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.

Trong niềm vui đón chào mùa Xuân mới, một lần nữa, tôi chúc đồng bào, đồng chí, chiến sĩ cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài năm mới thắng lợi mới, thành công mới; dân tộc và nhân dân ta ngày càng thịnh vượng, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc.

Chào thân ái và quyết thắng!

-

Categories: The Latest News

Thông điệp chúc Tết Bính Ngọ 2026 của Chủ tịch nước Lương Cường

Thời báo kinh tế Việt Nam - Tue, 02/17/2026 - 09:11
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, đúng thời khắc Giao thừa thiêng liêng chuyển giao giữa năm cũ và năm mới, thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chủ tịch nước Lương Cường có thông điệp chúc Tết gửi đến đồng bào, đồng chí và chiến sĩ cả nước, cũng như cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.

VnEconomy trân trọng giới thiệu toàn văn Thông điệp chúc Tết của Chủ tịch nước:

Thưa đồng bào, đồng chí, chiến sĩ cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài,

Xuân Bính Ngọ đã tới, trong thời khắc chuyển giao năm cũ - năm mới, tôi thân ái gửi tới đồng bào, đồng chí, chiến sĩ cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài lời chúc năm mới an lành, mạnh khỏe và hạnh phúc. Tôi trân trọng gửi tới nhân dân, bạn bè quốc tế những lời chúc tốt đẹp nhất, chúc một năm mới hòa bình, hạnh phúc và cùng phát triển.

Năm Ất Tỵ 2025, đất nước ta đã đi qua một chặng đường ghi dấu nhiều sự kiện quan trọng, có ý nghĩa đặc biệt và đạt được nhiều thành tựu rất đáng tự hào; đồng thời, cũng là một năm đất nước ta phải trải qua rất nhiều khó khăn, thử thách, với những biến động nhanh, phức tạp, khó lường của tình hình thế giới và khu vực, cùng những thiên tai khắc nghiệt, gây tổn thất nặng nề, để lại nhiều đau thương, mất mát cho đồng bào ta.

Bằng bản lĩnh kiên cường, ý chí tự lực, tự cường, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã đoàn kết, chung sức đồng lòng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc và sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế, chúng ta đã hoàn thành toàn bộ các mục tiêu chủ yếu đề ra, với nhiều dấu ấn nổi bật: Độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, môi trường hòa bình được giữ vững; tăng trưởng kinh tế thuộc nhóm dẫn đầu thế giới, trở thành nước có thu nhập trung bình cao; an sinh xã hội được quan tâm chăm lo; chính trị, xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được giữ vững và tăng cường; đối ngoại, hội nhập quốc tế được đẩy mạnh, vị thế, uy tín của Việt Nam tiếp tục được nâng cao trên trường quốc tế; tạo nền tảng quan trọng để đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới.

Bước sang năm mới Bính Ngọ 2026 - Năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, với truyền thống yêu nước nồng nàn, tinh thần đoàn kết, ý chí kiên cường và khát vọng vươn lên mạnh mẽ, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta sẽ tiếp tục đoàn kết, chung sức đồng lòng, tận dụng mọi thời cơ, vận hội, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, phát huy mạnh mẽ tinh thần tự tin, tự chủ, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, không ngừng đổi mới sáng tạo, hành động quyết liệt để hiện thực hóa thành công mục tiêu xây dựng đất nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.

Trong niềm vui đón chào mùa Xuân mới, một lần nữa, tôi chúc đồng bào, đồng chí, chiến sĩ cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài năm mới thắng lợi mới, thành công mới; dân tộc và nhân dân ta ngày càng thịnh vượng, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc.

Chào thân ái và quyết thắng!

-

Categories: The Latest News

2025 năm đột phá về thể chế của ngành khoa học và công nghệ

Thời báo kinh tế Việt Nam - Tue, 02/17/2026 - 09:03
Với 10 bộ luật, 23 nghị định và 71 thông tư đã được ban hành, năm 2025 có lẽ là năm bận rộn nhất của Bộ Khoa học và Công nghệ, song cũng là năm khó quên đối với cộng đồng các doanh nghiệp, viện, trường công nghệ khi hàng loạt quy định đột phá ra đời, mở thêm không gian phát triển mới và tháo gỡ nhiều điểm nghẽn đã tồn tại suốt nhiều năm...

Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Bùi Hoàng Phương đã nhấn mạnh rằng khối lượng công việc này tương đương với 20 năm xây dựng văn bản pháp luật của cả hai bộ Khoa học và Công nghệ và Thông tin và Truyền thông trước đây. Việc thông qua 10 dự án luật trụ cột không chỉ đơn thuần là hoàn thiện quy định mà còn tạo ra một "hệ sinh thái" pháp lý thông thoáng, khơi thông nguồn lực để phát triển ngành.

Năm 2025 cũng là năm mà Bộ Khoa học và Công nghệ đã chủ trì soạn thảo, sửa đổi và trình Quốc hội thông qua 10 bộ luật, trong đó có những quy định về ưu đãi và chấp nhận rủi ro chưa từng có. Điều này đã mở rộng không gian cho các doanh nghiệp, viện, trường công nghệ phát triển. Đặc biệt, Luật Công nghiệp Công nghệ số đã đưa Việt Nam vào nhóm 5 nước đi đầu về luật này, và Luật Chuyển đổi số đã giúp Việt Nam trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới có luật về lĩnh vực này.

Các bộ luật được ban hành không rời rạc mà được thiết kế như một không gian thể chế kiến tạo, cho phép khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được kết nối và phát triển xuyên suốt. Tư duy quản lý đã chuyển dịch rõ rệt từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”, từ quản lý bằng mệnh lệnh hành chính sang quản lý dựa trên rủi ro. Pháp luật không còn chỉ nhằm quản lý những gì đã có, mà bắt đầu mở đường cho những điều chưa từng tồn tại, từ đó mở ra không gian phát triển rộng lớn cho ngành.

Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là văn bản pháp lý rất quan trọng, chính thức pháp điển “đổi mới sáng tạo” như một lĩnh vực độc lập, đồng thời thiết lập cơ chế "thử nghiệm có kiểm soát" cho công nghệ mới như AI, blockchain. Luật cũng tạo hành lang pháp lý để chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu, miễn trách nhiệm hành chính, dân sự, thậm chí là hình sự đối với thiệt hại gây ra cho Nhà nước nếu đã tuân thủ đầy đủ quy trình, quy định.

Nhìn về năm 2026, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng khẳng định phương châm Nhà nước sẽ đóng vai trò kiến tạo, dẫn dắt, thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ thông qua việc hoàn thiện thể chế, chính sách, đầu tư nguồn lực và tạo thị trường ban đầu cho sản phẩm công nghệ.

Thể chế phải đi trước một bước, trở thành lợi thế cạnh tranh quốc gia chứ không phải rào cản. Bộ sẽ tập trung nguồn lực cho một số công nghệ trọng điểm, thay vì dàn trải, với mục tiêu tạo ra kết quả thực chất, có thể đo đếm và lan tỏa, tác động tới tăng trưởng kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống người dân...

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8 Xuân Bính Ngọ phát hành ngày 16/02 - 01/3/2026. Kính mời quý độc giả tìm đọc tại đây:

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-Bạch Dương

Categories: The Latest News

Thị trường bất động sản bước vào chu kỳ tăng trưởng mới

Thời báo kinh tế Việt Nam - Tue, 02/17/2026 - 09:00
Trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy nhân dịp đầu năm mới 2026, ông Nguyễn Văn Sinh, Thứ trưởng Bộ Xây dựng, nhận định bước sang năm 2026, với quyết tâm chính trị cao, sự hoàn thiện dần của thể chế và nỗ lực đổi mới của cộng đồng doanh nghiệp, thị trường bất động sản Việt Nam sẽ bứt phá và bước vào chu kỳ tăng trưởng mới.

Thưa Thứ trưởng, nhiều ý kiến cho rằng một trong những dấu ấn quan trọng của thị trường bất động sản trong năm 2025 là sự chuyển biến mạnh về pháp lý. Theo Thứ trưởng, những chính sách mới ban hành đã tác động thế nào đến thị trường này?

Trong thời gian qua, Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã quan tâm, chỉ đạo quyết liệt triển khai nhiều giải pháp đồng bộ nhằm tháo gỡ khó khăn, kịp thời thúc đẩy các dự án đầu tư, tăng nguồn cung sản phẩm nhà ở, bất động sản ở các phân khúc, nhất là nhà ở xã hội.

Tính từ năm 2021 đến nay, Bộ Xây dựng đã chủ trì, trình cơ quan có thẩm quyền ban hành 2 luật, 1 nghị quyết của Quốc hội, 14 nghị định của Chính phủ, 8 quyết định (bao gồm cả quyết định chỉ đạo, điều hành) và ban hành 8 thông tư. Riêng trong năm 2025, Bộ Xây dựng đã chủ trì, trình cơ quan có thẩm quyền ban hành 1 nghị quyết của Quốc hội, 7 nghị quyết của Chính phủ, 1 quyết định của Thủ tướng Chính phủ về giao chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội, 3 công điện và 1 chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ. Đặc biệt, thời gian vừa qua Bộ Xây dựng đã tham mưu Chính phủ, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 201/2025/QH15 và các văn bản hướng dẫn về việc thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển nhà ở xã hội, với mục tiêu tạo cơ chế ưu đãi hơn nữa để thu hút các doanh nghiệp tham gia đầu tư xây dựng nhà ở xã hội.

Quốc hội, Chính phủ đã ban hành các cơ chế, chính sách về pháp luật đất đai nhằm hỗ trợ cho các dự án bất động sản, như: Nghị quyết số 170/2024/QH15 của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đối với các dự án, đất đai trong kết luận thanh tra, kiểm tra, bản án tại TP. Hồ Chí Minh, TP.Đà Nẵng và tỉnh Khánh Hòa; Nghị quyết số 171/2024/QH15 của Quốc hội về thí điểm thực hiện dự án nhà ở thương mại thông qua thỏa thuận về nhận quyền sử dụng đất hoặc đang có quyền sử dụng đất; Nghị quyết số 254/2025/QH15 của Quốc hội quy định một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai, cụ thể là: mở rộng trường hợp thu hồi đất, quy định rõ hơn về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, cơ chế giao đất, cho thuê đất không qua đấu giá/thầu, quy định về giá đất, bảng giá đất và các quy định về đăng ký đất đai, tách thửa, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất…

Các chính sách pháp luật về đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và đầu tư xây dựng được ban hành, sửa đổi đã từng bước bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất và liên thông giữa các luật, khắc phục tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn trong quá trình tổ chức thực hiện.

Nhiều cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án bất động sản, đặc biệt là các dự án nhà ở, nhà ở xã hội, cải tạo chung cư cũ, phát triển đô thị đã được triển khai quyết liệt, qua đó, khơi thông dòng vốn, thúc đẩy triển khai dự án, từng bước gia tăng nguồn cung, tạo nền tảng quan trọng cho thị trường bất động sản phát triển ổn định, lành mạnh và bền vững trong thời gian tới.

Mặc dù vậy, diễn biến thực tế trên thị trường bất động sản cũng cho thấy còn nhiều bất cập. Thứ trưởng đánh giá thế nào về thực trạng này?

Thực tế còn một số tồn tại, hạn chế cần được khắc phục nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững và hiệu quả trong tương lai.

Một là, dư thừa nguồn cung sản phẩm bất động sản, nhà ở phân khúc cao cấp và phân khúc trung cấp, thiếu sản phẩm bất động sản là nhà ở giá phù hợp với khả năng chi trả của đa số người dân.

Hai là, việc cập nhập thông tin lên hệ thống thông tin về nhà ở và thị trường bất động sản của các địa phương, doanh nghiệp còn chậm, khiến việc tiếp cận thông tin đầy đủ, chính xác của người dân, nhà đầu tư và cơ quan quản lý gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng trực tiếp đến tính minh bạch của thị trường.

Ba là, một số dự án vẫn gặp vướng mắc về mặt pháp lý, bị đình trệ, trong khi nguồn lực đã đầu tư là rất lớn, gây lãng phí về đất đai và nguồn vốn, làm gia tăng khó khăn và chi phí, từ đó làm tăng giá bán sản phẩm.

Bốn là, nhiều địa phương chưa bám sát chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở đã được phê duyệt, thiếu chủ động trong quản lý cơ cấu sản phẩm và quỹ đất phát triển nhà ở, chưa quan tâm thỏa đáng đến việc phát triển nhà ở xã hội, nhà ở thương mại có giá phù hợp.

Vậy, Bộ Xây dựng định hướng thế nào để khắc phục những hạn chế nêu trên, thưa Thứ trưởng?

Trong năm 2026, để tạo ra môi trường pháp lý thuận lợi, ổn định và bền vững cho sự phát triển của thị trường bất động sản, Bộ Xây dựng sẽ thực hiện nhiều giải pháp, bao gồm:

Tiếp tục rà soát, hoàn thiện thể chế, chính sách liên quan đến lĩnh vực nhà ở, bất động sản đảm bảo đồng bộ, thống nhất, khả thi và hiệu quả, theo hướng thực hiện cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, tăng cường phân cấp, phân quyền, ứng dụng chuyển đổi số để khắc phục những tồn tại, hạn chế, bất cập, chưa phù hợp với thực tiễn. Nghiên cứu cơ chế, chính sách để thúc đẩy phát triển nhà ở thương mại có giá phù hợp.

Tập trung thúc đẩy phát triển nhà ở theo quy hoạch, chương trình, kế hoạch phù hợp nhu cầu của thực tế trong giai đoạn mới, tránh việc đầu tư tràn lan gây lãng phí nguồn lực đầu tư; gắn với phát triển, cải tạo, chỉnh trang đô thị; đảm bảo đồng bộ hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội.

Thúc đẩy phát triển nhà ở xã hội theo Nghị quyết của Chính phủ về chỉ tiêu đột phá phát triển nhà ở xã hội giai đoạn từ năm 2026 đến năm 2030 để hoàn thành mục tiêu Đề án "Đầu tư xây dựng ít nhất 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội cho đối tượng thu nhập thấp, công nhân khu công nghiệp giai đoạn 2021 - 2030". Khẩn trương thành lập Quỹ nhà ở quốc gia để tiếp nhận nguồn vốn, đầu tư, tạo lập, quản lý vận hành, cho thuê nhà ở.

Kiểm tra, đôn đốc, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án bất động sản và nhà ở trên cả nước, đặc biệt là các dự án nhà ở xã hội; hướng dẫn các địa phương xác định số lượng nhà ở xã hội hoàn thành theo đúng quy định của pháp luật.

Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện xây dựng mô hình “Trung tâm giao dịch bất động sản và quyền sử dụng đất do Nhà nước quản lý” nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và tăng cường tính công khai, minh bạch của giao dịch bất động sản trên thị trường.

Tiếp tục đôn đốc các bộ ngành, địa phương cập nhật, chuẩn hóa thông tin dữ liệu lên hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về nhà ở và thị trường bất động sản. Đồng thời, xây dựng hệ thống phần mềm quản lý, vận hành, khai thác hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về nhà ở và thị trường bất động sản theo Nghị định số 357/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 của Chính phủ, bảo đảm dữ liệu đầy đủ, chính xác, đồng bộ và kết nối liên thông từ Trung ương đến địa phương với các cơ sở dữ liệu đất đai, xây dựng, quy hoạch, thuế và tài chính.

Thực hiện kiểm tra, thanh tra để kịp thời chấn chỉnh, ngăn chặn và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm trong hoạt động kinh doanh bất động sản, dịch vụ sàn giao dịch bất động sản, dịch vụ môi giới bất động sản; giám sát, kiểm soát hoạt động cấp tín dụng, phát hành trái phiếu doanh nghiệp trong lĩnh vực bất động sản…

Với những giải pháp đó, Thứ trưởng nhận định thế nào về diễn biến của thị trường bất động sản trong năm 2026?

Năm 2025 là giai đoạn bản lề quan trọng, tạo nền tảng để thị trường bất động sản bước sang năm 2026 với trạng thái ổn định và bền vững hơn. Những thay đổi lớn về thể chế, đặc biệt là việc các luật liên quan đến đất đai, nhà ở và kinh doanh bất động sản chính thức đi vào cuộc sống, đã từng bước tháo gỡ các điểm nghẽn pháp lý kéo dài, khơi thông nguồn cung và củng cố niềm tin thị trường.

Bước sang năm 2026, thị trường được dự báo sẽ “sôi động trong sự thận trọng”, phân khúc căn hộ và nhà ở phục vụ nhu cầu thực tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt. Sự phân hóa sẽ ngày càng rõ nét, khi người mua và nhà đầu tư ưu tiên các dự án có pháp lý minh bạch, hạ tầng đồng bộ, giá trị sử dụng thực và uy tín chủ đầu tư. Đây là nền tảng để thị trường phát triển lành mạnh, giảm đầu cơ và hướng tới tăng trưởng bền vững trong giai đoạn mới.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8/2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-

Categories: The Latest News

Nga tăng kỷ lục xuất khẩu dầu sang Trung Quốc

Thời báo kinh tế Việt Nam - Tue, 02/17/2026 - 08:17
Nga ghi nhận mức xuất khẩu dầu kỷ lục sang Trung Quốc trong tháng 1, phản ánh sự gắn kết ngày càng sâu sắc trong hợp tác năng lượng song phương. Trong khi đó, dòng chảy dầu toàn cầu đang tái phân bổ, với Trung Quốc giảm mua từ Trung Đông và tăng nhập từ Nga.

Theo báo Pravda, trong tháng 1, Nga đã tăng mạnh lượng dầu xuất khẩu sang Trung Quốc bằng đường biển. Khối lượng xuất khẩu tăng thêm 290.000 thùng/ngày và đạt mức kỷ lục 1,7 triệu thùng/ngày.

Dữ liệu này được nêu trong báo cáo tháng 2 của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA). Đây là mức cao nhất trong toàn bộ giai đoạn theo dõi đối với tuyến vận chuyển đường biển, cho thấy tính bền vững của hợp tác năng lượng Nga-Trung và tầm quan trọng chiến lược của quan hệ này đối với cả hai nước.

Cùng thời điểm đó, lượng nhập khẩu dầu Nga của Ấn Độ giảm 100.000 thùng/ngày, xuống còn 1,1 triệu thùng/ngày - mức thấp nhất kể từ tháng 11/2022.

Tuy nhiên, nguồn cung nguyên liệu cho nhà máy lọc dầu tại Vadinar, thuộc công ty Nayara Energy, lại tăng thêm 310.000 thùng/ngày. Do đó, việc giảm nhập khẩu tổng thể không có nghĩa là Nga mất vị thế, mà phản ánh sự tái phân bổ dòng chảy và định hướng chính xác hơn vào các cơ sở chế biến có biên lợi nhuận cao.

Theo IEA, các nhà máy lọc dầu Trung Quốc đã bắt đầu mua nhiều hơn loại dầu chủ lực Urals của Nga. Xuất khẩu Urals sang Trung Quốc tăng 250.000 thùng/ngày và đạt mức kỷ lục lịch sử 500.000 thùng/ngày.

Trước đây, các nhà máy lọc dầu Trung Quốc chủ yếu tập trung vào loại dầu cao cấp ESPO, có độ nhẹ cao và hàm lượng lưu huỳnh thấp. Tuy nhiên, sự gia tăng quan tâm đối với Urals cho thấy tính linh hoạt của ngành lọc dầu Trung Quốc và khả năng xử lý hiệu quả các loại dầu có đặc tính khác nhau.

Việc tăng mua Urals gắn liền với chính sách giá cạnh tranh và logistics ổn định. Các công ty Nga đã xây dựng được các tuyến vận tải biển đáng tin cậy và thích ứng cơ chế thương mại với các điều kiện bên ngoài mới.

Điều này củng cố niềm tin từ phía đối tác Trung Quốc và cho phép Nga mở rộng hiện diện tại một trong những thị trường dầu lớn nhất thế giới. Kết quả là Nga đang củng cố vị thế đối tác năng lượng chủ chốt của Trung Quốc.

Các nhà phân tích của IEA nhận định rằng để hấp thụ thêm lượng dầu Nga vượt mức nhu cầu tiêu thụ thông thường, Trung Quốc sẽ phải giảm nhập khẩu từ các nguồn khác hoặc đưa một phần dầu vào kho dự trữ chiến lược và thương mại.

Theo tờ Nefti Kapital, quá trình này có thể đã bắt đầu. Trong tháng 1, lượng mua từ các nhà cung cấp Trung Đông giảm 630.000 thùng/ngày xuống còn 5 triệu thùng/ngày. Điều này cho thấy dòng chảy đang được tái phân bổ theo hướng có lợi cho dầu Nga và phản ánh sức cạnh tranh gia tăng của nguồn cung này.

Xu hướng này phản ánh những biến động rộng hơn trên thị trường năng lượng toàn cầu. Trung Quốc đang tích cực đa dạng hóa nguồn nhập khẩu và tìm cách đảm bảo ổn định nguồn cung trong bối cảnh giá cả biến động và các yếu tố địa chính trị. Trong cấu hình này, dầu Nga đóng vai trò quan trọng nhờ sự kết hợp giữa khối lượng lớn, khả năng tiếp cận logistics và các điều kiện thanh toán linh hoạt.

Một yếu tố bổ sung là sự phát triển hạ tầng tại Viễn Đông Nga, bao gồm năng lực cảng biển và hệ thống đường ống, giúp tăng tốc độ giao hàng và giảm chi phí vận chuyển.

Theo dữ liệu của Hải quan Trung Quốc, các nhà cung cấp dầu chính cho nước này vẫn là Nga, Saudi Arabia, Malaysia, Iraq và Brazil. Trong đó, Nga vẫn giữ vị trí dẫn đầu, nhấn mạnh tính dài hạn của hợp tác song phương và hiệu quả kinh tế của quan hệ này.

Sự gia tăng xuất khẩu dầu sang Trung Quốc không chỉ mang ý nghĩa thương mại mà còn phản ánh sự định hình lại các liên kết năng lượng toàn cầu. Khi các tuyến cung ứng truyền thống bị phân mảnh bởi địa chính trị, trục Nga-Trung có thể trở thành một trong những nhân tố định hình cán cân năng lượng thế kỷ XXI.

Pravda-Trọng Hoàng

Categories: The Latest News

Khi trung tâm dữ liệu trở thành “người khổng lồ ngốn điện”: Ai sẽ trả hóa đơn cho kỷ nguyên AI?

Thời báo kinh tế Việt Nam - Tue, 02/17/2026 - 08:14
Sự bùng nổ trung tâm dữ liệu trong kỷ nguyên AI đang làm gia tăng mạnh nhu cầu điện và đặt ra câu hỏi ai sẽ phải trả hóa đơn năng lượng ngày càng đắt đỏ. Cuộc tranh luận về trách nhiệm tài chính của Big Tech đang trở thành một chủ đề chính sách nóng tại Mỹ.

Khi các trung tâm dữ liệu mọc lên khắp nước Mỹ để phục vụ chatbot, điện toán đám mây và các mô hình AI tạo sinh, chi phí điện năng khổng lồ của chúng đã trở thành vấn đề chính trị, kinh tế và xã hội. Cuộc tranh luận không chỉ xoay quanh giá điện mà còn phản ánh lo ngại về quyền lực của Big Tech, chính sách năng lượng và tương lai của hạ tầng điện lực.

CHI PHÍ ĐIỆN NĂNG VÀ NỖI LO CHI PHÍ SINH HOẠT Sự gia tăng mạnh mẽ của các trung tâm dữ liệu đang làm thay đổi cấu trúc tiêu thụ điện tại Mỹ. Những cơ sở này, vốn trông giống như các nhà kho khổng lồ, có thể tiêu thụ lượng điện tương đương một thành phố nhỏ, vượt xa bất kỳ khách hàng đơn lẻ nào mà các công ty điện lực từng phục vụ trước đây.

Điều này tạo ra hiệu ứng lan tỏa lên toàn hệ thống điện. Khi các công ty điện lực phải xây dựng thêm nhà máy điện, nâng cấp lưới truyền tải và đầu tư cơ sở hạ tầng mới để phục vụ trung tâm dữ liệu, chi phí đầu tư có thể được phân bổ cho toàn bộ người sử dụng điện. Kết quả là người dân và doanh nghiệp nhỏ có nguy cơ phải trả hóa đơn điện cao hơn để bù đắp nhu cầu của Big Tech.

Trong bối cảnh giá năng lượng tăng và lạm phát chi phí sinh hoạt trở thành mối quan tâm hàng đầu của cử tri Mỹ, vấn đề này đã nhanh chóng trở thành chủ đề chính trị nhạy cảm. Các chính trị gia từ Tổng thống Donald Trump đến các nhà lập pháp địa phương hiếm hoi đạt được đồng thuận lưỡng đảng rằng các tập đoàn công nghệ phải tự chi trả phần lớn chi phí điện cho hoạt động của mình, thay vì chuyển gánh nặng sang người tiêu dùng.

Tuy nhiên, sự đồng thuận này dường như chỉ dừng lại ở tuyên bố chính trị. Khái niệm “phần công bằng” (fair share) mà các tập đoàn công nghệ cam kết trả vẫn chưa được định nghĩa rõ ràng, dẫn đến tranh cãi về mức độ và cách thức phân bổ chi phí.

Sự thay đổi thái độ của các bang và cộng đồng địa phương cũng rất rõ rệt. Chỉ một năm trước, nhiều bang cạnh tranh để thu hút các dự án trung tâm dữ liệu lớn bằng ưu đãi thuế và chính sách năng lượng linh hoạt. Hiện nay, nhiều thị trấn và thành phố đã phản đối các dự án mới do lo ngại về tác động môi trường, áp lực lên hạ tầng và hóa đơn điện tăng cao.

ÁP LỰC CHÍNH TRỊ VÀ CUỘC TRANH LUẬN CHÍNH SÁCH

Cuộc tranh luận về chi phí điện cho trung tâm dữ liệu đã có tác động chính trị rõ rệt. Tại bang Georgia, cử tri đã loại bỏ hai thành viên đảng Cộng hòa khỏi ủy ban điều tiết điện lực trong cuộc bầu cử gần đây, phản ánh sự bất mãn của người dân với cách quản lý chi phí năng lượng.

Các chuyên gia thăm dò dư luận cho rằng cử tri ngày càng liên hệ trực tiếp trải nghiệm cá nhân về hóa đơn điện với sự phát triển của các trung tâm dữ liệu. Điều này đặt ra câu hỏi lớn về cách chính phủ sẽ cân bằng giữa thúc đẩy công nghệ và bảo vệ người tiêu dùng.

Trong khi đó, chính quyền liên bang vẫn coi trí tuệ nhân tạo là ưu tiên chiến lược về kinh tế và an ninh quốc gia. Tổng thống Donald Trump từng kêu gọi chính phủ hỗ trợ các trung tâm dữ liệu tiếp cận nguồn điện cần thiết để thúc đẩy đổi mới. Tuy nhiên, trước phản ứng của dư luận, ông cũng thừa nhận rằng các trung tâm dữ liệu phải “tự trả chi phí của mình”.

Tranh cãi càng trở nên gay gắt khi Bộ trưởng Năng lượng Mỹ Chris Wright cho rằng các trung tâm dữ liệu không làm tăng giá điện, trái ngược với quan điểm của các nhóm bảo vệ người tiêu dùng và các nhà phân tích độc lập. Sự khác biệt trong đánh giá này phản ánh cuộc tranh luận rộng hơn về chính sách năng lượng, đặc biệt là vai trò của năng lượng tái tạo và nhiên liệu hóa thạch.

Một số bang và công ty điện lực đã bắt đầu đưa ra các cơ chế buộc các tập đoàn công nghệ phải trả chi phí trực tiếp cho hạ tầng điện. Các biện pháp bao gồm hợp đồng mua điện dài hạn, yêu cầu doanh nghiệp công nghệ tài trợ xây dựng nhà máy điện và nâng cấp lưới điện, hoặc đặt cọc tài chính lớn để phòng trường hợp dự án bị hủy bỏ hoặc giảm nhu cầu điện.

Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng các biện pháp này khó giải quyết vấn đề ngắn hạn. Nhu cầu điện đang tăng nhanh hơn tốc độ xây dựng nhà máy điện, khiến thị trường điện đối mặt với nguy cơ thiếu hụt nguồn cung và biến động giá.

Theo ông Abe Silverman, cựu luật sư điều tiết điện lực và nhà nghiên cứu năng lượng tại Đại học Johns Hopkins, thách thức lớn nhất là việc Big Tech có thể trả giá cao hơn để giành điện năng trong ngắn hạn, khiến người tiêu dùng thông thường bị cạnh tranh trực tiếp trên thị trường điện.

TƯƠNG LAI HẠ TẦNG ĐIỆN VÀ CÂU HỎI TRÁCH NHIỆM CỦA BIG TECH

Cuộc tranh luận về trung tâm dữ liệu không chỉ liên quan đến giá điện mà còn phản ánh những câu hỏi lớn hơn về quyền lực kinh tế và trách nhiệm xã hội của các tập đoàn công nghệ. Một số nhóm bảo vệ người tiêu dùng cho rằng “phần công bằng” phải bao gồm chi phí nâng cấp lưới điện, tăng giá khí đốt tự nhiên và các khoản đầu tư hạ tầng khác do nhu cầu của trung tâm dữ liệu thúc đẩy.

Tại bang Oregon, luật mới được ban hành nhằm bảo vệ người sử dụng điện nhỏ khỏi chi phí trung tâm dữ liệu, nhưng việc thực thi vẫn gặp tranh cãi giữa nhóm vận động người tiêu dùng và công ty điện lực lớn nhất bang. Các nhóm vận động ở Indiana, Georgia và Missouri cũng cảnh báo rằng chi phí mở rộng hạ tầng có thể bị chuyển sang người dân nếu không có quy định chặt chẽ.

Ở khu vực lưới điện trung Đại Tây Dương, các nhà phân tích dự báo hàng tỷ USD chi phí tăng giá điện có thể xuất hiện trên hóa đơn của người dân do nhu cầu trung tâm dữ liệu. Điều này đặt ra thách thức lớn đối với các nhà hoạch định chính sách trong việc cân bằng giữa phát triển công nghệ và công bằng xã hội.

Trước áp lực này, nhiều dự luật đã được trình lên Quốc hội Mỹ và nghị viện các bang nhằm điều chỉnh hoạt động trung tâm dữ liệu. Các đề xuất bao gồm áp đặt moratorium (tạm dừng) dự án mới, thay đổi ưu đãi thuế, hạn chế lợi nhuận của công ty điện lực và tăng bảo vệ người tiêu dùng.

Dự báo cho năm 2026 cho thấy chi phí năng lượng sẽ tiếp tục tăng, làm gia tăng áp lực chính trị. Đảng Cộng hòa chỉ trích chính sách năng lượng thiên về năng lượng tái tạo của các bang tự do, cho rằng điều này làm tăng chi phí truyền tải và hạn chế nguồn cung nhiên liệu hóa thạch. Ngược lại, đảng Dân chủ nhấn mạnh vai trò của năng lượng sạch và kêu gọi kiểm soát lợi nhuận của công ty điện lực để bảo vệ người tiêu dùng.

Chủ tịch FERC Laura Swett cho rằng các nhà vận hành trung tâm dữ liệu sẵn sàng chi trả chi phí và hiểu tầm quan trọng của sự ủng hộ cộng đồng. Tuy nhiên, một số nghị sĩ phản bác rằng các dự án trong khu vực của họ vẫn được ưu đãi thuế, bỏ qua phản đối của cộng đồng và làm tăng chi phí cho người dân.

Sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo và trung tâm dữ liệu đang đặt ra một trong những bài toán chính sách lớn nhất của kỷ nguyên số: ai sẽ trả chi phí cho hạ tầng số? Trong khi các tập đoàn công nghệ hưởng lợi lớn từ AI và dịch vụ đám mây, người tiêu dùng và doanh nghiệp nhỏ đang lo ngại họ sẽ phải gánh phần chi phí ẩn.

Cuộc tranh luận tại Mỹ cho thấy sự giao thoa giữa công nghệ, chính sách năng lượng và chính trị, phản ánh xu hướng toàn cầu khi các quốc gia thúc đẩy chuyển đổi số. Bài học từ Mỹ có thể mang lại giá trị tham khảo cho các nền kinh tế khác, trong đó có Việt Nam, khi đối mặt với làn sóng đầu tư trung tâm dữ liệu và AI trong thập kỷ tới.

Japan Today-Trọng Hoàng

Categories: The Latest News

Giới quản lý quỹ bi quan về triển vọng đồng USD

Thời báo kinh tế Việt Nam - Tue, 02/17/2026 - 08:13
Các nhà quản lý quỹ đang có lập trường bi quan nhất về tỷ giá đồng USD trong hơn một thập kỷ trở lại đây, do đồng tiền này chịu ảnh hưởng nặng nề từ những chính sách khó lường của Mỹ - tờ báo Financial Times cho hay...

Chỉ số Dollar Index đo sức mạnh đồng USD so với một rổ tiền tệ bao gồm euro và bảng Anh đã giảm 1,3% trong năm nay, sau khi đã giảm hơn 9% trong năm 2025. Hiện tại, chỉ số đang ở gần mức thấp nhất trong 4 năm qua.

Kết quả một cuộc khảo sát của ngân hàng Mỹ Bank of America công bố cách đây ít ngày cho thấy mức độ tiếp xúc của các nhà quản lý quỹ với đồng USD đã giảm xuống dưới mức đáy gần nhất thiết lập vào tháng 4 năm ngoái - thời điểm Tổng thống Donald Trump công bố kế hoạch thuế quan đối ứng gây chấn động.

Khảo sát này phát hiện thấy vị thế USD của các nhà quản lý đang ở mức thấp nhất kể từ ít nhất năm 2012 - năm đầu tiên mà Bank of America bắt đầu ghi lại dữ liệu này. Sự thay đổi này diễn ra khi các hành động địa chính trị quyết liệt của ông Trump và việc ông gây sức ép lên Cục Dự trữ Liên bang (Fed) về vấn để lãi suất làm gia tăng mối lo ngại về sức hấp dẫn của các tài sản Mỹ với tư cách một nơi trú ẩn cho các dòng vốn toàn cầu.

Theo dữ liệu quyền chọn từ công ty quản lý sàn giao dịch CME Group, tính từ đầu năm 2026 đến nay, vị thế đặt cược vào sự mất giá của USD đã trở nên lớn hơn đặt cược vào sự tăng giá của đồng USD. Tương quan này đảo so với những gì đã diễn ra trong quý 4/2025.

Các nhà quản lý tài sản lớn cho biết sự trượt giá của đồng USD phản ánh việc các nhà đầu tư tiền thật - chẳng hạn các quỹ hưu trí - ngày càng muốn phòng ngừa rủi ro đồng USD suy yếu thêm hoặc giảm bớt sự tiếp xúc với tài sản bằng đồng USD. Đặt cược vào sự giảm giá thêm của đồng USD so với euro đã đạt tới mức mà trong thập kỷ qua, chỉ từng thấy trong đại dịch Covid-19 và sau các tuyên bố thuế quan của ông Trump vào tháng 4 năm ngoái.

“Một số biến động trong năm qua đã khiến các nhà đầu tư đặt câu hỏi về việc họ có mức độ phòng ngừa rủi ro tỷ giá đồng USD thấp lịch sử đối với các tài sản của Mỹ”, ông Roger Hallam - trưởng bộ phận lãi suất toàn cầu tại tập đoàn quản lý tài sản Vanguard - nhận định với Financial Times. Ông cho rằng việc đánh giá lại hoạt động phòng ngừa rủi ro tỷ giá USD và điều chỉnh lại mức phân bổ vốn vào các tài sản Mỹ là một "động lực chính" đằng sau sự sụt giảm gần đây của đồng USD.

“Chúng tôi vẫn thấy một môi trường mà đồng USD có thể tiếp tục suy yếu từ đây” - ông Iain Stealey, giám đốc đầu tư trái phiếu quốc tế, tiền tệ và hàng hóa tại công ty quản lý tài sản JPMorgan Asset Management, cho biết. Trong những tuần gần đây, công ty này đã xây dựng vị thế đặt cược vào sự mất giá sâu hơn của đồng USD.

Lãi suất của Mỹ hiện vẫn cao hơn so với các nền kinh tế lớn khác như eurozone và Nhật Bản, song các nhà giao dịch dự báo rằng khoảng cách này sẽ thu hẹp vì Fed có thể sẽ cắt giảm lãi suất hai lần trong năm nay.

Đề cập đến giao dịch chênh lệch lãi suất (carry trade) - một yếu tố đã giữ vai trò hỗ trợ đồng USD khi Mỹ có lãi suất cao hơn so với nền kinh tế lớn khác - ông Stealey nhận xét USD “không còn bị định giá quá cao nhưng chúng tôi cho rằng Fed sẽ tiếp tục cắt giảm lãi suất, và lợi thế chênh lệch lãi suất của USD sẽ dần dần biến mất theo thời gian”.

Việc ông Trump đề cử ông Kevin Warsh làm chủ tịch Fed đã giúp giảm bớt mối lo ngại về sự độc lập của ngân hàng trung ương này. Nhưng ông Trump hiện đã gây áp lực lên ông Warsh, nói trong một cuộc trả lời phỏng vấn kênh NBC News gần đây rằng ông Warsh "sẽ không có được công việc" chủ tịch Fed nếu ủng hộ việc tăng lãi suất.

Các nhà phân tích của Bank of America lưu ý rằng việc đề cử ông Warsh cho ghế chủ tịch Fed "không dẫn tới nhu cầu lớn hơn đối với đồng USD cũng như không tạo ra sự lạc quan mới đối với tài sản của Mỹ".

Diễn biến chỉ số Dollar Index trong 1 năm qua - Nguồn: Trading Economics.

Hồi tháng 1, mối lo ngại rằng một số nhà đầu tư toàn cầu có thể rút khỏi tài sản của Mỹ đã bị đẩy cao bởi cuộc khủng hoảng Greenland, khi ông Trump đe dọa có hành động quân sự và các biện pháp thuế quan bổ sung đối với các đồng minh trong Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO).

Sau đó, Bộ trưởng Tài chính Mỹ Scott Bessent đã chỉ trích "ý tưởng rằng người châu Âu sẽ bán tài sản của Mỹ", nhưng trên thực tế, một số nhà quản lý cho biết đã có dòng vốn chảy khỏi tài sản Mỹ. "Chúng tôi đang chứng kiến sự gia tăng dòng vốn hồi hương khi các chủ sở hữu đồng USD ở nước ngoài chuyển vốn trở lại đồng tiền nội tệ của họ” - bà Caroline Houdril, một nhà quản lý quỹ tại ngân hàng đầu tư Schroders, cho biết.

Động thái của Washington vào năm ngoái nhằm hỗ trợ tỷ giá đồng peso Argentina và việc nhà chức trách Mỹ trong tháng 1 vừa qua kiểm tra tỷ giá đồng yên cũng đã làm dấy lên mối lo ngại rằng Mỹ đang có một kế hoạch làm suy yếu đồng USD. Sự bất định gia tăng khi ông Trump hồi tháng 1 vừa qua có bình luận rằng xu hướng mất giá của USD là "tuyệt vời".

Sau đó, ông Bessent đã lên tiếng trấn an rằng Mỹ vẫn đang theo đuổi chính sách "đồng USD mạnh" truyền thống và không có kế hoạch can thiệp vào thị trường ngoại hối.

"Có rất nhiều người trong chính quyền ông Trump nghĩ rằng một đồng USD yếu hơn sẽ có lợi cho xuất khẩu của Mỹ và thúc đẩy tái công nghiệp hóa rộng hơn”, ông Xavier Meyer, Giám đốc đầu tư tại công ty Aberdeen Group, phát biểu. Ông nói thêm rằng điều này đã là một yếu tố khiến thị trường coi khả năng Mỹ và Nhật Bản can thiệp thị trường ngoại hối để ngăn USD tăng giá thêm so với đồng yên là "rất nghiêm túc".

-An Huy

Categories: The Latest News

Nâng hạng thị trường: Cơ hội lịch sử và bài toán chuẩn mực cho chứng khoán Việt

Thời báo kinh tế Việt Nam - Tue, 02/17/2026 - 08:06
Việc thị trường chứng khoán Việt Nam được FTSE Russell đưa vào lộ trình nâng hạng lên nhóm thị trường mới nổi thứ cấp mở ra cơ hội tiếp cận các dòng vốn quốc tế quy mô lớn, dài hạn. Tuy nhiên, cơ hội này chỉ thực sự thành hiện thực nếu thị trường và doanh nghiệp Việt Nam đáp ứng được các chuẩn mực cao hơn về minh bạch, quản trị và hạ tầng vận hành theo thông lệ quốc tế.

Việc thị trường chứng khoán Việt Nam được FTSE Russell đưa vào lộ trình nâng hạng lên nhóm thị trường mới nổi thứ cấp không chỉ mang ý nghĩa về mặt xếp hạng, mà còn đánh dấu một bước chuyển quan trọng trong tiến trình phát triển của thị trường vốn. Cánh cửa tiếp cận các dòng vốn quốc tế quy mô lớn, dài hạn đang dần mở ra, song đi kèm với đó là những yêu cầu khắt khe hơn về chuẩn mực vận hành, minh bạch và quản trị doanh nghiệp.

Trước thềm năm mới 2026, trong bối cảnh thị trường đang đứng trước cả cơ hội lẫn thách thức mang tính bước ngoặt, Tạp chí Kinh tế Việt Nam / VnEconomy đã có cuộc trao đổi với ông Dominic Scriven, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần Quản lý quỹ Dragon Capital Việt Nam, nhằm làm rõ những cơ hội lớn nhất mà tiến trình nâng hạng mang lại, cũng như những điều kiện then chốt để doanh nghiệp và thị trường Việt Nam có thể thực sự hấp thụ các dòng vốn dài hạn trong giai đoạn tới.

Việc thị trường chứng khoán Việt Nam được FTSE Russell nâng hạng lên nhóm thị trường mới nổi thứ cấp mở ra một giai đoạn mới cho thị trường vốn. Dưới góc nhìn của Quỹ đầu tư có thâm niên 30 năm tại Việt Nam, ông nhìn thấy cơ hội lớn nhất cho Việt Nam từ sự kiện nâng hạng này là gì?

Trong tiến trình nâng hạng thị trường, những nỗ lực cải cách của Chính phủ, Bộ Tài chính và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước trong việc hoàn thiện khung pháp lý, hạ tầng thị trường và chuẩn mực vận hành là rất đáng ghi nhận, tạo nền tảng quan trọng cho bước chuyển tiếp tiếp theo.

Đồng thời, Bộ Tài chính và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cũng triển khai nhiều biện pháp then chốt nhằm nâng hạng thị trường, đồng thời mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng của các tổ chức đầu tư trong nước.

Chúng ta có thể thấy rõ những sự thay đổi mang tính bước ngoặt trong cách giới đầu tư nước ngoài nhìn nhận thị trường Việt Nam. Trong giai đoạn Việt Nam vẫn được xếp vào nhóm thị trường cận biên, quy mô dòng vốn quốc tế còn hạn chế, chủ yếu là các quỹ nhỏ, mang tính thử nghiệm. Khi đó, việc đầu tư vào Việt Nam thường đòi hỏi phải xin các cơ chế ngoại lệ, cả về quy mô, thời gian lẫn quy trình nội bộ của từng quỹ.

Tuy nhiên, khi thị trường được nâng hạng, bản chất câu chuyện sẽ hoàn toàn đảo chiều. Khi đó, quy mô vốn có thể đổ vào Việt Nam không chỉ tăng lên gấp nhiều lần, mà còn mở rộng mạnh về cơ cấu nhà đầu tư, từ các quỹ chủ động sang các quỹ thụ động, quỹ hưu trí, quỹ bảo hiểm và các định chế tài chính dài hạn. Dư địa tiếp cận thị trường Việt Nam vì thế có thể lớn hơn hàng trăm lần so với hiện nay.

Đáng chú ý, khi Việt Nam chính thức được đưa vào rổ đầu tư của các chỉ số lớn, việc không tham gia thị trường Việt Nam mới trở thành một “ngoại lệ ngược”. Với nhiều nhà quản lý quỹ quốc tế, việc bỏ qua Việt Nam có thể đồng nghĩa với rủi ro nghề nghiệp, khi họ không theo sát các xu hướng phân bổ vốn toàn cầu.

Cùng với cơ hội, nâng hạng cũng đặt ra những yêu cầu cao hơn từ các nhà đầu tư tổ chức quốc tế đối với doanh nghiệp Việt Nam. Theo ông, đâu là những thách thức lớn nhất mà doanh nghiệp Việt Nam đang đối mặt khi tiếp cận các dòng vốn lớn, dài hạn này?

Một trong những thách thức lớn hiện nay lại đến từ sự khác biệt sâu sắc về chuẩn mực vận hành thị trường. Trong tiếng Việt, các khái niệm như “thông cảm”, “bỏ qua thiếu sót”, “linh hoạt trong xử lý” được sử dụng khá phổ biến. Thực tế, nếu doanh nghiệp phát hành mắc những sai sót nhỏ trong hoạt động hoặc công bố thông tin, thị trường trong nước thường có xu hướng chấp nhận và cho phép điều chỉnh, với mức độ “thông cảm” tương đối cao.

Tuy nhiên, chính yếu tố này lại trở thành rào cản lớn đối với nhà đầu tư quốc tế. Trong môi trường đầu tư toàn cầu, các khái niệm trên gần như không tồn tại. Nhà đầu tư quốc tế vận hành dựa trên chuẩn mực rõ ràng, quy trình chặt chẽ và trách nhiệm giải trình cao. Sai sót, dù nhỏ, nếu lặp lại hoặc không được giải thích thuyết phục, đều có thể làm xói mòn niềm tin.

Do đó, để thực sự tận dụng cơ hội từ việc nâng hạng, doanh nghiệp Việt Nam buộc phải nâng cao năng lực nội tại, từ trình độ chuyên môn, hệ thống quản trị, đến khả năng giải trình và thuyết phục nhà đầu tư. Minh bạch không còn là lựa chọn, mà là điều kiện tiên quyết. Cùng với đó là năng lực dự báo và quản trị rủi ro trong hoạt động điều hành.

Nếu nâng hạng thị trường được xem là điều kiện cần ở cấp độ vĩ mô, thì minh bạch, chuẩn mực quản trị và sức thuyết phục chính là điều kiện đủ và là điều kiện bắt buộc ở cấp độ doanh nghiệp. Mỗi doanh nghiệp có thể có năng lực dự báo khác nhau, nhưng chỉ cần một lần gây thất vọng nghiêm trọng, nhà đầu tư quốc tế có thể sẽ rút lui và không quay trở lại trong thời gian dài.

Trong bối cảnh đó, mô hình quản trị doanh nghiệp cần được đặt vào vị trí trung tâm. Quản trị không chỉ là tuân thủ quy định, mà phải trở thành một phần cốt lõi trong chiến lược phát triển. Các nội dung về quản trị doanh nghiệp, kiểm soát nội bộ, quản trị rủi ro, phân quyền - trách nhiệm cần được trình bày đầy đủ, rõ ràng trong báo cáo thường niên.

Một báo cáo thường niên chất lượng không chỉ nhằm “đáp ứng yêu cầu”, mà phải giúp nhà đầu tư quốc tế có đủ thông tin để đánh giá khách quan về năng lực vận hành, mức độ minh bạch và độ tin cậy của doanh nghiệp. Đây chính là cơ sở để xây dựng niềm tin dài hạn, thay vì chỉ thu hút dòng vốn ngắn hạn mang tính cơ hội.

Việt Nam đang thực hiện các giải pháp toàn diện để hiện đại hóa thị trường chứng khoán theo các thông lệ quốc tế. Theo ông, Việt Nam cần thêm yếu tố gì để thị trường chứng khoán thực sự hấp dẫn dòng vốn quốc tế trong thời gian tới?

Từ góc độ cá nhân, có thể nhận diện ba thách thức lớn mà thị trường Việt Nam cần sớm giải quyết nếu muốn tiến gần hơn đến chuẩn mực thị trường mới nổi.

Thứ nhất, rào cản về thông tin và ngôn ngữ. Hiện nay, theo quy định tại Thông tư 68/2024/TT-BTC, phần lớn thông tin công bố trên thị trường đã bao gồm cả tiếng Anh bên cạnh tiếng Việt, tuy nhiên các thông tin công bố trước năm 2025 phần nhiều vẫn chỉ bằng Tiếng Việt. Dù đây là vấn đề có thể cải thiện theo thời gian, nhưng việc này có thể ảnh hưởng đến khả năng đánh giá toàn diện danh mục của nhà đầu tư quốc tế, dẫn tới việc giải ngân vốn đầu tư có thể chưa được nhanh như kỳ vọng.

Thứ hai, hạ tầng giao dịch và cơ chế ký quỹ. Hiện nay, tuy nhà đầu tư nước ngoài đã có thể giao dịch không cần ký quỹ trước (non pre-funding), đây vẫn là một giải pháp kỹ thuật tạm thời và được áp dụng đối với giao dịch tại một số công ty chứng khoán hàng đầu. Chúng ta cần thúc đẩy việc triển khai mô hình Đối tác bù trừ trung tâm (CCP), được xem là cơ chế then chốt giúp tối ưu hóa hiệu quả sử dụng vốn, xóa bỏ hẳn quy định ký quỹ trước giao dịch, đồng thời giảm thiểu rủi ro hệ thống thông qua vai trò bảo lãnh trung gian.

Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi này đang vấp phải mâu thuẫn giữa nhu cầu linh hoạt, tốc độ của thị trường và tư duy quản lý rủi ro thận trọng của cơ quan quản lý nhà nước. Sự giằng co giữa mục tiêu hiệu quả và yêu cầu an toàn chính là nguyên nhân khiến tiến độ triển khai còn chậm trễ. Do đó, để đưa CCP vào vận hành thực tế, thị trường cần một quyết tâm chính sách mạnh mẽ cùng lộ trình pháp lý rõ ràng, dứt khoát vượt qua các rào cản để tiệm cận với thông lệ quốc tế.

Thứ ba, vấn đề tỷ lệ sở hữu. Trong khi Nhà nước cần duy trì quyền chi phối ở các ngành then chốt, nhà đầu tư quốc tế lại mong muốn tiếp cận các lĩnh vực này. Việc “room” ngoại bị giới hạn đang làm giảm sức hấp dẫn của nhiều cổ phiếu lớn.  Một số quốc gia như Thái Lan và Malaysia đã giải quyết bài toán này thông qua việc phát hành các công cụ đầu tư tương đương “chứng chỉ không có quyền biểu quyết” qua đó mở rộng dư địa cho nhà đầu tư nước ngoài mà vẫn bảo toàn quyền kiểm soát.

Nâng hạng thị trường là xu hướng hiển nhiên và thực tế chúng ta đã được FTSE công nhận là thị trường mới nổi thứ cấp vào tháng 10/2025. Để được bổ sung vào các rổ chỉ số FTSE theo đúng lộ trình vào tháng 9/2026 cũng như để hoàn thành mục tiêu xa hơn là được MSCI công nhận là thị trường mới nổi, chúng ta cần có sự chuẩn bị kỹ lưỡng và các hành động cụ thể trong thời gian tới. Điều quan trọng không nằm ở tuyên bố, mà ở việc ban hành quy định rõ ràng, lộ trình phù hợp và các hành động thực chất.

Trong bối cảnh nền kinh tế vừa đối mặt với nhiều thách thức, vừa xuất hiện những cơ hội mới đan xen, theo ông, mục tiêu đạt mức tăng trưởng hai con số, cụ thể là khoảng 10% trong năm 2026 mà Chính phủ đặt ra có khả thi hay không?

Mức độ, tốc độ cũng như quy mô tăng trưởng kinh tế phụ thuộc rất lớn vào hiệu quả của các chính sách điều hành và khung pháp lý của Chính phủ. Nhà nước giữ vai trò trung tâm trong việc mở ra không gian phát triển mới thông qua đầu tư hạ tầng, hoàn thiện cơ sở vật chất và cải thiện môi trường đầu tư, từ đó tạo thêm niềm tin để khu vực kinh tế tư nhân mạnh dạn khởi động và mở rộng các dự án.

Bên cạnh đó, việc tiếp tục cải cách chính sách thuế và thể chế, nhằm từng bước đưa các hoạt động kinh tế phi chính thức vào khu vực chính thức, được kỳ vọng có thể đóng góp thêm khoảng 2% vào tăng trưởng GDP mỗi năm. Đây sẽ là yếu tố quan trọng giúp mở rộng dư địa tăng trưởng và củng cố nền tảng phát triển bền vững cho nền kinh tế trong trung và dài hạn.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-

Categories: The Latest News

Giá vàng lại tuột mốc chủ chốt 5.000 USD/oz

Thời báo kinh tế Việt Nam - Tue, 02/17/2026 - 07:50
Giá vàng đang chịu sự chi phối lớn hơn từ triển vọng lãi suất Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed)...

Giá vàng thế giới giảm trong phiên giao dịch ngày thứ Hai (16/2), trượt khỏi mốc chủ chốt 5.000 USD/oz, khi đồng USD tăng giá nhẹ và thanh khoản giảm xuống mức thấp do thị trường Mỹ và một số nước châu Á nghỉ lễ.

Lúc đóng cửa tại Mỹ, giá vàng giao ngay giảm 49,3 USD/oz so với mức chốt của phiên trước, tương đương giảm 0,98%, còn 4.993,9 USD/oz - theo dữ liệu từ sàn giao dịch Kitco.

Quy đổi theo tỷ giá USD bán ra tại ngân hàng Vietcombank, mức giá này của vàng giao ngay tương đương khoảng 157,4 triệu đồng/lượng.

Giá bạc giao ngay giảm 0,84 USD/oz, tương đương giảm 1,08%, chốt ở mức 76,73 USD/oz.

Đồng USD được xem là nguyên nhân chính khiến giá vàng giảm trong phiên này. Chỉ số Dollar Index tăng hơn 0,2%, đạt hơn 97 điểm, từ mức dưới 97 điểm khi đóng cửa tuần vừa rồi.

Thị trường tài chính Mỹ đóng cửa nghỉ Lễ Tổng thống vào ngày thứ Hai, trong khi Việt Nam, Trung Quốc và một số nước châu Á khác đang trong kỳ nghỉ Tết Nguyên đán. Việc một số thị trường chủ chốt nghỉ lễ khiến khối lượng giao dịch trên thị trường kim loại quý quốc tế giảm xuống mức thấp. Với mức thanh khoản thấp, mức độ biến động của giá có thể gia tăng.

“Giá vàng đang giằng co quanh ngưỡng 5.000 USD/oz trong một tuần mà mức thanh khoản giảm xuống thấp do nghỉ lễ”, nhà phân tích Giovanni Staunovo của ngân hàng Thụy Sỹ UBS nhận xét.

Thời gian gần đây, căng thẳng địa chính trị ở những điểm nóng như Iran, Greenland và Nga - Ukraine tạm thời chưa có bước leo thang mới. Sức nóng địa chính trị dịu đi có thể khiến nhu cầu nắm giữ vàng để phòng ngừa rủi ro giảm bớt trong ngắn hạn. Trong bối cảnh đó, giá vàng đang chịu sự chi phối lớn hơn từ triển vọng lãi suất Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed).

Các số liệu kinh tế Mỹ công bố trong tuần vừa rồi mang tới một bức tranh thiếu đồng nhất. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 1 tăng yếu hơn dự báo, làm gia tăng khả năng Fed hạ lãi suất, nhưng tăng trưởng việc làm bất ngờ tăng tốc trong tháng 1, làm gia tăng khả năng Fed giữ nguyên lãi suất lâu hơn.

Thị trường hiện đang dự báo Fed sẽ có hai lần giảm lãi suất trong năm nay, và đợt giảm đầu tiên sẽ không diễn ra trước tháng 6. Cuộc họp chính sách tiền tệ tiếp theo của Fed sẽ diễn ra vào ngày 18/3, với dự báo áp đảo là lãi suất quỹ liên bang sẽ được giữ nguyên ở mức 3,5-3,75%.

Phát biểu hôm thứ Sáu, Chủ tịch Fed chi nhánh Chicago, ông Austan Goolsbee nói lãi suất có thể giảm, nhưng lưu ý rằng lạm phát dịch vụ còn cao dai dẳng.

Về tình hình địa chính trị, một nhà ngoại giao Iran vào ngày Chủ nhật cho biết nước này mong muốn đạt được một thỏa thuận hạt nhân với Mỹ mang lại lợi ích kinh tế cho cả hai bên.

Diễn biến giá vàng thế giới 10 năm qua. Đơn vị: USD/oz - Nguồn: Trading Economics.

“Tôi tạm thời hạ mục tiêu giá vàng trong trung hạn từ 5.500 USD/oz về vùng 5.100-5.200 USD/oz, song mọi thứ vẫn đang rất khó đoán định”, nhà phân tích Zain Vawda của trang tin thị trường MarketPulse by OANDA cho biết.

Cũng theo ông Vawda, so với vàng, bạc là một kim loại quý có mức độ nhạy cảm cao hơn với chu kỳ kinh tế nên “bất kỳ dấu hiệu nào về một nền kinh tế mạnh cũng làm suy yếu nhu cầu hầm trú ẩn của bạc. Số liệu việc làm tốt hơn dự báo của Mỹ đã làm suy giảm nhu cầu tài sản an toàn trong ngắn hạn”.

Khi mới mở cửa phiên châu Á sáng nay (17/2), giá vàng tăng nhẹ trong khi giá bạc tiếp tục giảm.

Lúc hơn 6h theo giờ Việt Nam, giá vàng giao ngay tăng 2 USD/oz so với giá chốt phiên Mỹ, giao dịch ở mức 4.996,2 USD/oz. Giá bạc giảm 0,29 USD/oz, còn 76,5 USD/oz.

Cùng thời điểm trên, website của Vietcombank báo giá USD ở mức 25.750 đồng (mua vào) và 26.160 đồng (bán ra).

-Điệp Vũ

Categories: The Latest News

Cuộc tái cấu trúc lớn đưa nông nghiệp bước vào “kỷ nguyên xanh”

Thời Báo Kinh Tế - Tue, 02/17/2026 - 07:06
Trước thềm năm mới Bính Ngọ 2026, Bộ trưởng Trần Đức Thắng đã dành cho Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy một cuộc phỏng vấn để nhìn lại một năm 2025 nhiều dấu ấn tích cực và chuẩn bị cho một giai đoạn phát triển mới...

Thưa Bộ trưởng, năm 2025, ngành Nông nghiệp và Môi trường đã khép lại với nhiều dấu ấn quan trọng, đáng chú ý. Bộ trưởng có thể khái quát những kết quả nổi bật nhất mà ngành đã đạt được trong năm vừa qua?

Năm 2025 là một năm đặc biệt khó khăn đối với ngành Nông nghiệp và Môi trường. Bối cảnh kinh tế thế giới bất ổn, xung đột địa chính trị kéo dài, rào cản thương mại gia tăng, chính sách thuế đối ứng của Hoa Kỳ, cùng với thiên tai và biến đổi khí hậu diễn biến ngày càng khắc nghiệt, bất thường, với hiện tượng “bão chồng bão, lũ chồng lũ”. Trong điều kiện đó, toàn ngành vẫn giữ vững vai trò là trụ đỡ quan trọng của nền kinh tế, góp phần ổn định đời sống xã hội và sinh kế của hàng triệu người dân.

Với phương châm hành động “Kỷ cương trách nhiệm, chủ động kịp thời, tinh gọn hiệu quả, tăng tốc bứt phá”, tốc độ tăng trưởng toàn ngành ước đạt khoảng 3,9- 3,92%. Tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt khoảng 70,09 tỷ USD, vượt xa mục tiêu 65 tỷ USD; trong đó nông sản đạt 37,25 tỷ USD, lâm sản 18,5 tỷ USD, thủy sản 11,32 tỷ USD. Xuất siêu toàn ngành đạt khoảng 20,7 tỷ USD, tăng gần 17% so với năm trước, đóng góp quan trọng vào cân đối thương mại quốc gia.

Song song với phát triển kinh tế, các lĩnh vực xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và an sinh xã hội tiếp tục được triển khai đồng bộ, hiệu quả. Công tác quản lý tài nguyên đất, nước, khoáng sản có chuyển biến thực chất; bảo vệ môi trường nước, không khí, xử lý chất thải rắn sinh hoạt được tăng cường; nhiều “điểm nóng” ô nhiễm từng bước được kiểm soát. Các hoạt động chuyển đổi xanh, giảm phát thải và thích ứng với biến đổi khí hậu được đẩy mạnh hơn cả về quy mô và chiều sâu.

Năm 2025 cũng đánh dấu bước chuyển quan trọng về tổ chức và thể chế sau khi hợp nhất hai Bộ. Bộ máy được tinh gọn, chức năng, nhiệm vụ được phân định rõ ràng; phân cấp, phân quyền và cải cách thủ tục hành chính được đẩy mạnh, giúp chính sách đi vào cuộc sống nhanh hơn, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp và địa phương.

Một điểm nhấn nổi bật là chuyển dịch mạnh sang nông nghiệp xanh và kinh tế tuần hoàn. Các yêu cầu về phát triển sinh thái, giảm phát thải đã được tích hợp đồng bộ vào chiến lược, quy hoạch và hệ thống tiêu chuẩn ngành.

Cùng với đó, khoa học, công nghệ và chuyển đổi số được ứng dụng ngày càng sâu rộng, từ dữ liệu lớn, viễn thám, truy xuất nguồn gốc đến canh tác thông minh, giúp tối ưu đầu vào - đầu ra, đo lường phát thải và từng bước khép kín vòng đời sản phẩm.

Nhìn tổng thể, năm 2025 không chỉ ghi dấu bằng những con số tăng trưởng tích cực, mà quan trọng hơn là sự chuyển dịch rõ nét về chất lượng phát triển, tạo nền tảng để ngành Nông nghiệp và Môi trường từng bước chuyển từ phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu, bền vững và hiệu quả hơn trong giai đoạn tới.

Thưa Bộ trưởng, việc thành lập Bộ Nông nghiệp và Môi trường được xem là một bước ngoặt về tư duy và mô hình quản lý. Bộ trưởng có thể chia sẻ rõ hơn ý nghĩa chiến lược của bước chuyển này và những thay đổi căn bản mà ngành đang hướng tới?

Ngày 1/3/2025 là một dấu mốc đặc biệt quan trọng, khi Bộ Nông nghiệp và Môi trường chính thức đi vào hoạt động. Đây không đơn thuần là sự hợp nhất về mặt tổ chức hành chính giữa Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn với Bộ Tài nguyên và Môi trường, mà là một quyết định chiến lược, phản ánh tư duy phát triển mới của Đảng và Nhà nước. Tư duy đó nhấn mạnh yêu cầu phát triển kinh tế phải đi đôi với bảo vệ môi trường; nông nghiệp không thể tách rời quá trình xanh hóa, tuần hoàn và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Sự ra đời của Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã đặt nền móng cho mô hình quản lý tích hợp, trong đó nông nghiệp, tài nguyên, môi trường và phát triển bền vững được nhìn nhận như một chỉnh thể thống nhất. Điều này đồng thời nâng vai trò và trách nhiệm của ngành lên một tầm cao mới: không chỉ quản lý sản xuất, mà còn tham gia trực tiếp kiến tạo mô hình phát triển quốc gia, bảo đảm an ninh lương thực, an ninh sinh thái, an ninh môi trường và đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng xanh, dài hạn của đất nước.

Trong bối cảnh thế giới biến động sâu sắc và yêu cầu tái cấu trúc mô hình tăng trưởng trong nước ngày càng cấp thiết, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh đây là thời điểm chuyển mình có ý nghĩa lịch sử. Đối với ngành Nông nghiệp và Môi trường, yêu cầu đó càng rõ nét hơn, bởi ngành trực tiếp gánh vác những nền tảng căn bản của quốc gia, từ sinh kế của hàng chục triệu người dân, an ninh lương thực đến sự bền vững của các hệ sinh thái. Điều này đòi hỏi ngành phải chuyển từ tư duy thích ứng sang tư duy chủ động dẫn dắt; từ cách làm phân tán sang tiếp cận tích hợp, đồng bộ và dài hạn.

Ngay sau khi Chính phủ ban hành Nghị định số 35/2025/NĐ-CP, Bộ đã khẩn trương ổn định tổ chức bộ máy, bảo đảm hoạt động thông suốt, không gây gián đoạn cho người dân và doanh nghiệp. Việc rà soát, điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ được triển khai đồng bộ nhằm khắc phục chồng chéo, trùng lặp; đồng thời tiếp nhận thêm nhiệm vụ quản lý nhà nước về giảm nghèo, thể hiện cách tiếp cận toàn diện hơn đối với phát triển bền vững.

Kết quả sắp xếp tổ chức cho thấy mức độ tinh gọn rõ rệt: giảm 25/55 đầu mối cấp tổng cục, cục, vụ (45,45%); giảm 19/78 đơn vị sự nghiệp trực thuộc (24,36%); giảm 63/301 đầu mối cấp phòng (20,9%).

Cùng với tổ chức bộ máy, công tác hoàn thiện thể chế được đẩy mạnh với khối lượng công việc rất lớn. Tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV, Bộ đã tham mưu trình thông qua hai Luật và một Nghị quyết sửa đổi, bổ sung 17 Luật thuộc lĩnh vực quản lý của ngành, kịp thời tháo gỡ những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn.

Đặc biệt, vấn đề phân cấp, phân quyền được thực hiện mạnh mẽ và thực chất. Bộ đã rà soát hàng loạt văn bản để phân cấp, phân quyền theo mô hình chính quyền hai cấp; đồng thời, đề xuất cắt giảm, đơn giản hóa 265 điều kiện kinh doanh và 468 thủ tục hành chính. Những cải cách này góp phần tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế, giảm chi phí tuân thủ và tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp.

Từ nền tảng tổ chức tinh gọn hơn, thể chế đồng bộ hơn và tư duy phát triển mới, ngành Nông nghiệp và Môi trường đang bước vào một giai đoạn phát triển với trách nhiệm lớn hơn, khát vọng lớn hơn và hành động mạnh mẽ hơn, nhằm đóng góp xứng đáng vào mục tiêu phát triển nhanh nhưng bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới.

Một điểm nhấn nổi bật là chuyển dịch mạnh sang nông nghiệp xanh và kinh tế tuần hoàn. Bộ trưởng cho biết những chuyển biến cụ thể và thực chất nhất của nông nghiệp xanh, kinh tế tuần hoàn thời gian qua?

Thời gian qua, việc triển khai nông nghiệp xanh và kinh tế tuần hoàn đã có những chuyển biến rõ nét, có thể khái quát trên ba phương diện lớn, từ tư duy, mô hình sản xuất đến cách thức quản lý.

Thứ nhất, sự chuyển mạnh về tư duy và thể chế phát triển xanh. Các yêu cầu về nông nghiệp sinh thái, kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải đã được tích hợp ngày càng đồng bộ vào chiến lược, quy hoạch, chương trình và hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn của ngành. Điều quan trọng là chúng ta không còn tiếp cận môi trường theo cách xử lý bị động sau khi phát sinh ô nhiễm, mà chủ động định hướng sản xuất xanh ngay từ khâu quy hoạch và tổ chức thực hiện.

Thứ hai, chuyển dịch mô hình sản xuất theo hướng xanh, tuần hoàn ở các ngành hàng chủ lực. Trong trồng trọt, lâm nghiệp, thủy sản và xây dựng nông thôn mới, nhiều mô hình tiết kiệm tài nguyên, giảm sử dụng hóa chất đầu vào, tái sử dụng phụ phẩm, gắn sản xuất với chế biến và thị trường đã được triển khai và nhân rộng. Các mô hình này không chỉ góp phần bảo vệ hệ sinh thái, giảm phát thải mà còn giúp nâng cao giá trị gia tăng, cải thiện thu nhập và sinh kế cho người nông dân.

Thứ ba, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số. Công nghệ số, dữ liệu lớn, viễn thám, truy xuất nguồn gốc và các giải pháp canh tác thông minh ngày càng được áp dụng rộng rãi trong quản lý sản xuất, tài nguyên và môi trường. Đây là những công cụ then chốt giúp tối ưu đầu vào - đầu ra, đo lường và kiểm soát phát thải, từng bước khép kín vòng đời sản phẩm, hiện thực hóa kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp.

Một dấu mốc quan trọng đó là việc Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản Việt Nam chính thức khởi động từ cuối năm 2025. Đây không chỉ là một giải pháp công nghệ, mà còn là công cụ quản lý hiện đại, góp phần nâng cao tính minh bạch, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, phòng chống gian lận thương mại và nâng cao uy tín nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, truy xuất nguồn gốc đã trở thành yêu cầu bắt buộc khi tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu, bởi giá trị nông sản ngày nay không chỉ nằm ở sản lượng, mà còn ở chất lượng, tính minh bạch và trách nhiệm với môi trường, xã hội.

Có thể khẳng định nông nghiệp xanh và kinh tế tuần hoàn đã chuyển từ định hướng sang hành động thực chất. Thời gian tới, Bộ sẽ tiếp tục hoàn thiện thể chế, phát triển thị trường carbon và tín dụng xanh, khuyến khích doanh nghiệp và nông dân mở rộng các mô hình sản xuất xanh, qua đó nâng cao sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam và từng bước hiện thực hóa cam kết phát thải ròng bằng “0”.

Quản lý tài nguyên đang ngày càng giữ vai trò chiến lược đối với phát triển bền vững. Trong năm qua, lĩnh vực này đã ghi dấu những thành tựu nổi bật nào, thưa Bộ trưởng?

Năm 2025 là một năm rất đặc biệt đối với công tác quản lý tài nguyên, nhất là trong xây dựng và hoàn thiện các cơ sở dữ liệu quốc gia, mà trọng tâm là cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai. Đây là lĩnh vực khó, phức tạp, liên quan trực tiếp đến quyền lợi của người dân, doanh nghiệp và hiệu quả quản lý của Nhà nước.

Trong điều kiện thời gian gấp, khối lượng công việc rất lớn, chịu tác động bất lợi của thiên tai tại nhiều địa phương, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã tập trung cao độ để hoàn thành xây dựng hệ thống dữ liệu và triển khai thành công Chiến dịch 90 ngày làm giàu, làm sạch dữ liệu đất đai trên phạm vi toàn quốc. Đây không chỉ là một chiến dịch kỹ thuật, mà còn là một cuộc “tổng rà soát” nhằm đưa dữ liệu đất đai về đúng thực chất, phản ánh trung thực tình trạng quản lý và sử dụng đất.

Sau 90 ngày triển khai, hơn 61 triệu thửa đất trên cả nước đã được rà soát, cập nhật và chỉnh lý; trong đó trên 24 triệu thửa đạt tiêu chí “đúng - đủ - sạch - sống”, đủ điều kiện vận hành theo thời gian thực, sẵn sàng kết nối, chia sẻ và khai thác dùng chung. So với giai đoạn trước, chất lượng dữ liệu đã có bước tiến rõ rệt, tạo nền tảng vững chắc cho quản lý hiện đại và minh bạch hơn.

Song song với việc làm giàu dữ liệu, công tác đồng bộ hóa cũng được triển khai quyết liệt nhằm bảo đảm dữ liệu thực sự “sống - sạch - thống nhất - dùng chung”. Đến nay, 100% tỉnh, thành phố đã thực hiện đồng bộ dữ liệu đất đai về Trung ương, với trên 61 triệu thửa đất, tương đương khoảng 98% tổng số thửa đất trong hệ thống dữ liệu địa phương; trong đó hơn 24 triệu thửa đã hoàn chỉnh đầy đủ các khối thông tin, sẵn sàng khai thác và chia sẻ.

Những kết quả này phản ánh quyết tâm chính trị rất cao của người đứng đầu, sự vào cuộc đồng bộ của các bộ, ngành, địa phương và tinh thần phối hợp chặt chẽ trong toàn hệ thống. Quan trọng hơn, đây là nền tảng dữ liệu cốt lõi phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, quản lý tài nguyên hiệu quả hơn, minh bạch hơn, đồng thời thúc đẩy mạnh mẽ tiến trình chuyển đổi số quốc gia.

Sau một năm đầy thiên tai cực đoan, theo Bộ trưởng, đâu là những bài học lớn nhất và những ưu tiên chính sách cấp bách nhất để giúp nông nghiệp chủ động thích ứng trong thời gian tới?

Năm 2025 có thể xem là một trong những năm thiên tai khốc liệt và bất thường nhất trong nhiều thập kỷ, cả về tần suất, cường độ lẫn phạm vi tác động. Trên Biển Đông xuất hiện nhiều cơn bão và áp thấp nhiệt đới; mưa lớn gây lũ vượt mức lịch sử tại nhiều lưu vực; ngập lụt, sạt lở xảy ra trên diện rộng, gây thiệt hại nặng nề về người, tài sản và sinh kế. Đây thực sự là một phép thử lớn đối với năng lực phòng, chống thiên tai và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu của chúng ta.

Trong bối cảnh đó, năng lực chỉ đạo, điều hành và ứng phó đã được nâng lên rõ rệt. Các kịch bản được xây dựng sớm, phương châm “4 tại chỗ” được triển khai thực chất, với tinh thần đặt an toàn tính mạng người dân lên trên hết.

Hệ thống trực ban duy trì 24/24 giờ, bám sát diễn biến để chỉ đạo kịp thời. Hệ thống đê điều, hồ đập và các công trình phòng, chống thiên tai cơ bản vận hành an toàn; nhiều trọng điểm xung yếu được phát hiện, xử lý sớm, góp phần ngăn chặn nguy cơ thảm họa lớn. Công tác dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn tiếp tục giữ vai trò then chốt, giúp địa phương chủ động sơ tán dân, bảo vệ sản xuất và giảm thiểu thiệt hại. Truyền thông cộng đồng được tăng cường, tạo sự tham gia đồng bộ của cả hệ thống chính trị và người dân.

Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy thiên tai đang vượt nhanh khỏi các “ngưỡng thiết kế” truyền thống, diễn biến ngày càng khó lường. Bài học lớn nhất rút ra là chúng ta không thể chỉ dừng ở ứng phó bị động, mà phải chuyển mạnh sang quản trị rủi ro chủ động, phòng ngừa từ sớm, từ xa, dựa trên khoa học, dữ liệu và sự tham gia của cộng đồng.

Từ những bài học đó, thời gian tới, ngành Nông nghiệp và Môi trường xác định một số ưu tiên chính sách cấp bách. Trước hết là hiện đại hóa hệ thống dự báo, cảnh báo, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo để nâng cao độ chính xác và khả năng dự báo sớm.

Cùng với đó là đầu tư hạ tầng thích ứng với biến đổi khí hậu, ưu tiên các vùng tuyến đầu thường xuyên chịu tác động của thiên tai. Ngành cũng tập trung nâng cao năng lực phòng, chống thiên tai ở cơ sở, gắn chặt với bảo vệ sinh kế và tái thiết sau thiên tai, đồng thời coi người dân là chủ thể trong phòng ngừa, ứng phó và phục hồi.

Quan điểm xuyên suốt là chủ động thích ứng, lấy phòng ngừa làm chính, giảm thiểu tối đa thiệt hại và tạo dựng nền tảng an toàn, bền vững cho phát triển nông nghiệp và nông thôn trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt.

Bộ trưởng cho biết những nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm của ngành trong năm 2026 và giai đoạn mới?

Giá trị lớn nhất năm 2025 đó là sự thống nhất ngày càng cao về nhận thức và hành động trong toàn ngành. Từ Trung ương đến địa phương, từ cơ quan quản lý đến các đơn vị thực thi, tinh thần đổi mới tư duy và phương thức phát triển đã từng bước lan tỏa. Ngành Nông nghiệp và Môi trường không còn tiếp cận nhiệm vụ theo từng lĩnh vực riêng lẻ, mà đặt mọi hoạt động trong tổng thể chiến lược phát triển quốc gia, gắn với mục tiêu tăng trưởng xanh, bền vững và bao trùm.

Bên cạnh những kết quả đạt được, chúng tôi cũng thẳng thắn nhìn nhận còn không ít hạn chế: công tác dự báo và phản ứng chính sách trước những vấn đề mới, cấp bách có lúc chưa kịp thời; thể chế và thủ tục hành chính trên một số lĩnh vực còn chồng chéo; kỷ luật, kỷ cương hành chính ở một số nơi chưa thật nghiêm; ô nhiễm môi trường không khí, tác động của thiên tai và biến đổi khí hậu tiếp tục diễn biến phức tạp; hạ tầng phục vụ nông nghiệp, nông thôn và bảo vệ môi trường còn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.

Bước sang năm 2026 và giai đoạn tiếp theo, ngành Nông nghiệp và Môi trường xác định rõ khát vọng không chỉ là tăng trưởng về quy mô, mà là kiến tạo một nền nông nghiệp hiện đại, sinh thái, có sức cạnh tranh toàn cầu; đồng thời, xây dựng hệ thống quản lý tài nguyên và môi trường minh bạch, hiệu quả, bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế và bảo vệ không gian sống của đất nước.

Trọng tâm trong điều hành là đổi mới căn bản phương pháp làm việc, chuyển từ tư duy hành chính sang tư duy kiến tạo phát triển; lấy hiệu quả thực chất, đo đếm được bằng kết quả cụ thể làm thước đo chủ yếu. Kỷ luật, kỷ cương hành chính sẽ tiếp tục được siết chặt, gắn rõ với trách nhiệm cá nhân, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu. Bộ tập trung xử lý những việc khó, việc mới, những tồn tại kéo dài, với tinh thần tiếp cận trực diện, xác định rõ nguyên nhân, thẩm quyền và lộ trình giải quyết.

Công tác phân công, phân nhiệm được thực hiện theo nguyên tắc “rõ người, rõ việc, rõ tiến độ, rõ sản phẩm”, hạn chế tối đa chồng chéo, né tránh và đùn đẩy trách nhiệm. Kiểm tra, giám sát được tăng cường để bảo đảm chỉ đạo đi vào thực chất, không bị “nghẽn” trong khâu thực thi. Đồng thời, Bộ coi trọng đối thoại, lắng nghe ý kiến từ địa phương, doanh nghiệp và người dân như một kênh quan trọng để hoàn thiện chính sách và nâng cao chất lượng điều hành.

Trong giai đoạn 2026–2030, ngành tập trung tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, nâng cao năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu và phát huy hiệu quả các nguồn lực cho phát triển nông nghiệp bền vững. Trọng tâm là hoàn thiện thể chế; nâng cao năng lực quản lý, giám sát; tăng cường phối hợp liên ngành; huy động hiệu quả nguồn lực xã hội, khoa học, công nghệ và hợp tác quốc tế.

Theo đó, một số nhiệm vụ then chốt gồm: tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy theo hướng hiệu lực, hiệu quả; kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc từ thực tiễn, nhất là ở cấp địa phương; hoàn thiện chính sách thúc đẩy tăng trưởng ngành và xuất khẩu nông, lâm, thủy sản; đầu tư hạ tầng cho nông nghiệp, nông thôn và quản lý tài nguyên; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, năng lực thực thi công vụ; đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ.

Với định hướng đó, ngành Nông nghiệp và Môi trường xác định rõ vai trò kiến tạo, dẫn dắt và đồng hành cùng người dân, doanh nghiệp và địa phương, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh, xanh và bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16 -23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-

Categories: The Latest News

Cuộc tái cấu trúc lớn đưa nông nghiệp bước vào “kỷ nguyên xanh”

Thời báo kinh tế Việt Nam - Tue, 02/17/2026 - 07:06
Trước thềm năm mới Bính Ngọ 2026, Bộ trưởng Trần Đức Thắng đã dành cho Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy một cuộc phỏng vấn để nhìn lại một năm 2025 nhiều dấu ấn tích cực và chuẩn bị cho một giai đoạn phát triển mới...

Thưa Bộ trưởng, năm 2025, ngành Nông nghiệp và Môi trường đã khép lại với nhiều dấu ấn quan trọng, đáng chú ý. Bộ trưởng có thể khái quát những kết quả nổi bật nhất mà ngành đã đạt được trong năm vừa qua?

Năm 2025 là một năm đặc biệt khó khăn đối với ngành Nông nghiệp và Môi trường. Bối cảnh kinh tế thế giới bất ổn, xung đột địa chính trị kéo dài, rào cản thương mại gia tăng, chính sách thuế đối ứng của Hoa Kỳ, cùng với thiên tai và biến đổi khí hậu diễn biến ngày càng khắc nghiệt, bất thường, với hiện tượng “bão chồng bão, lũ chồng lũ”. Trong điều kiện đó, toàn ngành vẫn giữ vững vai trò là trụ đỡ quan trọng của nền kinh tế, góp phần ổn định đời sống xã hội và sinh kế của hàng triệu người dân.

Với phương châm hành động “Kỷ cương trách nhiệm, chủ động kịp thời, tinh gọn hiệu quả, tăng tốc bứt phá”, tốc độ tăng trưởng toàn ngành ước đạt khoảng 3,9- 3,92%. Tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt khoảng 70,09 tỷ USD, vượt xa mục tiêu 65 tỷ USD; trong đó nông sản đạt 37,25 tỷ USD, lâm sản 18,5 tỷ USD, thủy sản 11,32 tỷ USD. Xuất siêu toàn ngành đạt khoảng 20,7 tỷ USD, tăng gần 17% so với năm trước, đóng góp quan trọng vào cân đối thương mại quốc gia.

Song song với phát triển kinh tế, các lĩnh vực xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và an sinh xã hội tiếp tục được triển khai đồng bộ, hiệu quả. Công tác quản lý tài nguyên đất, nước, khoáng sản có chuyển biến thực chất; bảo vệ môi trường nước, không khí, xử lý chất thải rắn sinh hoạt được tăng cường; nhiều “điểm nóng” ô nhiễm từng bước được kiểm soát. Các hoạt động chuyển đổi xanh, giảm phát thải và thích ứng với biến đổi khí hậu được đẩy mạnh hơn cả về quy mô và chiều sâu.

Năm 2025 cũng đánh dấu bước chuyển quan trọng về tổ chức và thể chế sau khi hợp nhất hai Bộ. Bộ máy được tinh gọn, chức năng, nhiệm vụ được phân định rõ ràng; phân cấp, phân quyền và cải cách thủ tục hành chính được đẩy mạnh, giúp chính sách đi vào cuộc sống nhanh hơn, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp và địa phương.

Một điểm nhấn nổi bật là chuyển dịch mạnh sang nông nghiệp xanh và kinh tế tuần hoàn. Các yêu cầu về phát triển sinh thái, giảm phát thải đã được tích hợp đồng bộ vào chiến lược, quy hoạch và hệ thống tiêu chuẩn ngành.

Cùng với đó, khoa học, công nghệ và chuyển đổi số được ứng dụng ngày càng sâu rộng, từ dữ liệu lớn, viễn thám, truy xuất nguồn gốc đến canh tác thông minh, giúp tối ưu đầu vào - đầu ra, đo lường phát thải và từng bước khép kín vòng đời sản phẩm.

Nhìn tổng thể, năm 2025 không chỉ ghi dấu bằng những con số tăng trưởng tích cực, mà quan trọng hơn là sự chuyển dịch rõ nét về chất lượng phát triển, tạo nền tảng để ngành Nông nghiệp và Môi trường từng bước chuyển từ phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu, bền vững và hiệu quả hơn trong giai đoạn tới.

Thưa Bộ trưởng, việc thành lập Bộ Nông nghiệp và Môi trường được xem là một bước ngoặt về tư duy và mô hình quản lý. Bộ trưởng có thể chia sẻ rõ hơn ý nghĩa chiến lược của bước chuyển này và những thay đổi căn bản mà ngành đang hướng tới?

Ngày 1/3/2025 là một dấu mốc đặc biệt quan trọng, khi Bộ Nông nghiệp và Môi trường chính thức đi vào hoạt động. Đây không đơn thuần là sự hợp nhất về mặt tổ chức hành chính giữa Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn với Bộ Tài nguyên và Môi trường, mà là một quyết định chiến lược, phản ánh tư duy phát triển mới của Đảng và Nhà nước. Tư duy đó nhấn mạnh yêu cầu phát triển kinh tế phải đi đôi với bảo vệ môi trường; nông nghiệp không thể tách rời quá trình xanh hóa, tuần hoàn và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Sự ra đời của Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã đặt nền móng cho mô hình quản lý tích hợp, trong đó nông nghiệp, tài nguyên, môi trường và phát triển bền vững được nhìn nhận như một chỉnh thể thống nhất. Điều này đồng thời nâng vai trò và trách nhiệm của ngành lên một tầm cao mới: không chỉ quản lý sản xuất, mà còn tham gia trực tiếp kiến tạo mô hình phát triển quốc gia, bảo đảm an ninh lương thực, an ninh sinh thái, an ninh môi trường và đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng xanh, dài hạn của đất nước.

Trong bối cảnh thế giới biến động sâu sắc và yêu cầu tái cấu trúc mô hình tăng trưởng trong nước ngày càng cấp thiết, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh đây là thời điểm chuyển mình có ý nghĩa lịch sử. Đối với ngành Nông nghiệp và Môi trường, yêu cầu đó càng rõ nét hơn, bởi ngành trực tiếp gánh vác những nền tảng căn bản của quốc gia, từ sinh kế của hàng chục triệu người dân, an ninh lương thực đến sự bền vững của các hệ sinh thái. Điều này đòi hỏi ngành phải chuyển từ tư duy thích ứng sang tư duy chủ động dẫn dắt; từ cách làm phân tán sang tiếp cận tích hợp, đồng bộ và dài hạn.

Ngay sau khi Chính phủ ban hành Nghị định số 35/2025/NĐ-CP, Bộ đã khẩn trương ổn định tổ chức bộ máy, bảo đảm hoạt động thông suốt, không gây gián đoạn cho người dân và doanh nghiệp. Việc rà soát, điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ được triển khai đồng bộ nhằm khắc phục chồng chéo, trùng lặp; đồng thời tiếp nhận thêm nhiệm vụ quản lý nhà nước về giảm nghèo, thể hiện cách tiếp cận toàn diện hơn đối với phát triển bền vững.

Kết quả sắp xếp tổ chức cho thấy mức độ tinh gọn rõ rệt: giảm 25/55 đầu mối cấp tổng cục, cục, vụ (45,45%); giảm 19/78 đơn vị sự nghiệp trực thuộc (24,36%); giảm 63/301 đầu mối cấp phòng (20,9%).

Cùng với tổ chức bộ máy, công tác hoàn thiện thể chế được đẩy mạnh với khối lượng công việc rất lớn. Tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV, Bộ đã tham mưu trình thông qua hai Luật và một Nghị quyết sửa đổi, bổ sung 17 Luật thuộc lĩnh vực quản lý của ngành, kịp thời tháo gỡ những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn.

Đặc biệt, vấn đề phân cấp, phân quyền được thực hiện mạnh mẽ và thực chất. Bộ đã rà soát hàng loạt văn bản để phân cấp, phân quyền theo mô hình chính quyền hai cấp; đồng thời, đề xuất cắt giảm, đơn giản hóa 265 điều kiện kinh doanh và 468 thủ tục hành chính. Những cải cách này góp phần tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế, giảm chi phí tuân thủ và tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp.

Từ nền tảng tổ chức tinh gọn hơn, thể chế đồng bộ hơn và tư duy phát triển mới, ngành Nông nghiệp và Môi trường đang bước vào một giai đoạn phát triển với trách nhiệm lớn hơn, khát vọng lớn hơn và hành động mạnh mẽ hơn, nhằm đóng góp xứng đáng vào mục tiêu phát triển nhanh nhưng bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới.

Một điểm nhấn nổi bật là chuyển dịch mạnh sang nông nghiệp xanh và kinh tế tuần hoàn. Bộ trưởng cho biết những chuyển biến cụ thể và thực chất nhất của nông nghiệp xanh, kinh tế tuần hoàn thời gian qua?

Thời gian qua, việc triển khai nông nghiệp xanh và kinh tế tuần hoàn đã có những chuyển biến rõ nét, có thể khái quát trên ba phương diện lớn, từ tư duy, mô hình sản xuất đến cách thức quản lý.

Thứ nhất, sự chuyển mạnh về tư duy và thể chế phát triển xanh. Các yêu cầu về nông nghiệp sinh thái, kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải đã được tích hợp ngày càng đồng bộ vào chiến lược, quy hoạch, chương trình và hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn của ngành. Điều quan trọng là chúng ta không còn tiếp cận môi trường theo cách xử lý bị động sau khi phát sinh ô nhiễm, mà chủ động định hướng sản xuất xanh ngay từ khâu quy hoạch và tổ chức thực hiện.

Thứ hai, chuyển dịch mô hình sản xuất theo hướng xanh, tuần hoàn ở các ngành hàng chủ lực. Trong trồng trọt, lâm nghiệp, thủy sản và xây dựng nông thôn mới, nhiều mô hình tiết kiệm tài nguyên, giảm sử dụng hóa chất đầu vào, tái sử dụng phụ phẩm, gắn sản xuất với chế biến và thị trường đã được triển khai và nhân rộng. Các mô hình này không chỉ góp phần bảo vệ hệ sinh thái, giảm phát thải mà còn giúp nâng cao giá trị gia tăng, cải thiện thu nhập và sinh kế cho người nông dân.

Thứ ba, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số. Công nghệ số, dữ liệu lớn, viễn thám, truy xuất nguồn gốc và các giải pháp canh tác thông minh ngày càng được áp dụng rộng rãi trong quản lý sản xuất, tài nguyên và môi trường. Đây là những công cụ then chốt giúp tối ưu đầu vào - đầu ra, đo lường và kiểm soát phát thải, từng bước khép kín vòng đời sản phẩm, hiện thực hóa kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp.

Một dấu mốc quan trọng đó là việc Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản Việt Nam chính thức khởi động từ cuối năm 2025. Đây không chỉ là một giải pháp công nghệ, mà còn là công cụ quản lý hiện đại, góp phần nâng cao tính minh bạch, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, phòng chống gian lận thương mại và nâng cao uy tín nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, truy xuất nguồn gốc đã trở thành yêu cầu bắt buộc khi tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu, bởi giá trị nông sản ngày nay không chỉ nằm ở sản lượng, mà còn ở chất lượng, tính minh bạch và trách nhiệm với môi trường, xã hội.

Có thể khẳng định nông nghiệp xanh và kinh tế tuần hoàn đã chuyển từ định hướng sang hành động thực chất. Thời gian tới, Bộ sẽ tiếp tục hoàn thiện thể chế, phát triển thị trường carbon và tín dụng xanh, khuyến khích doanh nghiệp và nông dân mở rộng các mô hình sản xuất xanh, qua đó nâng cao sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam và từng bước hiện thực hóa cam kết phát thải ròng bằng “0”.

Quản lý tài nguyên đang ngày càng giữ vai trò chiến lược đối với phát triển bền vững. Trong năm qua, lĩnh vực này đã ghi dấu những thành tựu nổi bật nào, thưa Bộ trưởng?

Năm 2025 là một năm rất đặc biệt đối với công tác quản lý tài nguyên, nhất là trong xây dựng và hoàn thiện các cơ sở dữ liệu quốc gia, mà trọng tâm là cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai. Đây là lĩnh vực khó, phức tạp, liên quan trực tiếp đến quyền lợi của người dân, doanh nghiệp và hiệu quả quản lý của Nhà nước.

Trong điều kiện thời gian gấp, khối lượng công việc rất lớn, chịu tác động bất lợi của thiên tai tại nhiều địa phương, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã tập trung cao độ để hoàn thành xây dựng hệ thống dữ liệu và triển khai thành công Chiến dịch 90 ngày làm giàu, làm sạch dữ liệu đất đai trên phạm vi toàn quốc. Đây không chỉ là một chiến dịch kỹ thuật, mà còn là một cuộc “tổng rà soát” nhằm đưa dữ liệu đất đai về đúng thực chất, phản ánh trung thực tình trạng quản lý và sử dụng đất.

Sau 90 ngày triển khai, hơn 61 triệu thửa đất trên cả nước đã được rà soát, cập nhật và chỉnh lý; trong đó trên 24 triệu thửa đạt tiêu chí “đúng - đủ - sạch - sống”, đủ điều kiện vận hành theo thời gian thực, sẵn sàng kết nối, chia sẻ và khai thác dùng chung. So với giai đoạn trước, chất lượng dữ liệu đã có bước tiến rõ rệt, tạo nền tảng vững chắc cho quản lý hiện đại và minh bạch hơn.

Song song với việc làm giàu dữ liệu, công tác đồng bộ hóa cũng được triển khai quyết liệt nhằm bảo đảm dữ liệu thực sự “sống - sạch - thống nhất - dùng chung”. Đến nay, 100% tỉnh, thành phố đã thực hiện đồng bộ dữ liệu đất đai về Trung ương, với trên 61 triệu thửa đất, tương đương khoảng 98% tổng số thửa đất trong hệ thống dữ liệu địa phương; trong đó hơn 24 triệu thửa đã hoàn chỉnh đầy đủ các khối thông tin, sẵn sàng khai thác và chia sẻ.

Những kết quả này phản ánh quyết tâm chính trị rất cao của người đứng đầu, sự vào cuộc đồng bộ của các bộ, ngành, địa phương và tinh thần phối hợp chặt chẽ trong toàn hệ thống. Quan trọng hơn, đây là nền tảng dữ liệu cốt lõi phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, quản lý tài nguyên hiệu quả hơn, minh bạch hơn, đồng thời thúc đẩy mạnh mẽ tiến trình chuyển đổi số quốc gia.

Sau một năm đầy thiên tai cực đoan, theo Bộ trưởng, đâu là những bài học lớn nhất và những ưu tiên chính sách cấp bách nhất để giúp nông nghiệp chủ động thích ứng trong thời gian tới?

Năm 2025 có thể xem là một trong những năm thiên tai khốc liệt và bất thường nhất trong nhiều thập kỷ, cả về tần suất, cường độ lẫn phạm vi tác động. Trên Biển Đông xuất hiện nhiều cơn bão và áp thấp nhiệt đới; mưa lớn gây lũ vượt mức lịch sử tại nhiều lưu vực; ngập lụt, sạt lở xảy ra trên diện rộng, gây thiệt hại nặng nề về người, tài sản và sinh kế. Đây thực sự là một phép thử lớn đối với năng lực phòng, chống thiên tai và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu của chúng ta.

Trong bối cảnh đó, năng lực chỉ đạo, điều hành và ứng phó đã được nâng lên rõ rệt. Các kịch bản được xây dựng sớm, phương châm “4 tại chỗ” được triển khai thực chất, với tinh thần đặt an toàn tính mạng người dân lên trên hết.

Hệ thống trực ban duy trì 24/24 giờ, bám sát diễn biến để chỉ đạo kịp thời. Hệ thống đê điều, hồ đập và các công trình phòng, chống thiên tai cơ bản vận hành an toàn; nhiều trọng điểm xung yếu được phát hiện, xử lý sớm, góp phần ngăn chặn nguy cơ thảm họa lớn. Công tác dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn tiếp tục giữ vai trò then chốt, giúp địa phương chủ động sơ tán dân, bảo vệ sản xuất và giảm thiểu thiệt hại. Truyền thông cộng đồng được tăng cường, tạo sự tham gia đồng bộ của cả hệ thống chính trị và người dân.

Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy thiên tai đang vượt nhanh khỏi các “ngưỡng thiết kế” truyền thống, diễn biến ngày càng khó lường. Bài học lớn nhất rút ra là chúng ta không thể chỉ dừng ở ứng phó bị động, mà phải chuyển mạnh sang quản trị rủi ro chủ động, phòng ngừa từ sớm, từ xa, dựa trên khoa học, dữ liệu và sự tham gia của cộng đồng.

Từ những bài học đó, thời gian tới, ngành Nông nghiệp và Môi trường xác định một số ưu tiên chính sách cấp bách. Trước hết là hiện đại hóa hệ thống dự báo, cảnh báo, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo để nâng cao độ chính xác và khả năng dự báo sớm.

Cùng với đó là đầu tư hạ tầng thích ứng với biến đổi khí hậu, ưu tiên các vùng tuyến đầu thường xuyên chịu tác động của thiên tai. Ngành cũng tập trung nâng cao năng lực phòng, chống thiên tai ở cơ sở, gắn chặt với bảo vệ sinh kế và tái thiết sau thiên tai, đồng thời coi người dân là chủ thể trong phòng ngừa, ứng phó và phục hồi.

Quan điểm xuyên suốt là chủ động thích ứng, lấy phòng ngừa làm chính, giảm thiểu tối đa thiệt hại và tạo dựng nền tảng an toàn, bền vững cho phát triển nông nghiệp và nông thôn trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt.

Bộ trưởng cho biết những nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm của ngành trong năm 2026 và giai đoạn mới?

Giá trị lớn nhất năm 2025 đó là sự thống nhất ngày càng cao về nhận thức và hành động trong toàn ngành. Từ Trung ương đến địa phương, từ cơ quan quản lý đến các đơn vị thực thi, tinh thần đổi mới tư duy và phương thức phát triển đã từng bước lan tỏa. Ngành Nông nghiệp và Môi trường không còn tiếp cận nhiệm vụ theo từng lĩnh vực riêng lẻ, mà đặt mọi hoạt động trong tổng thể chiến lược phát triển quốc gia, gắn với mục tiêu tăng trưởng xanh, bền vững và bao trùm.

Bên cạnh những kết quả đạt được, chúng tôi cũng thẳng thắn nhìn nhận còn không ít hạn chế: công tác dự báo và phản ứng chính sách trước những vấn đề mới, cấp bách có lúc chưa kịp thời; thể chế và thủ tục hành chính trên một số lĩnh vực còn chồng chéo; kỷ luật, kỷ cương hành chính ở một số nơi chưa thật nghiêm; ô nhiễm môi trường không khí, tác động của thiên tai và biến đổi khí hậu tiếp tục diễn biến phức tạp; hạ tầng phục vụ nông nghiệp, nông thôn và bảo vệ môi trường còn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.

Bước sang năm 2026 và giai đoạn tiếp theo, ngành Nông nghiệp và Môi trường xác định rõ khát vọng không chỉ là tăng trưởng về quy mô, mà là kiến tạo một nền nông nghiệp hiện đại, sinh thái, có sức cạnh tranh toàn cầu; đồng thời, xây dựng hệ thống quản lý tài nguyên và môi trường minh bạch, hiệu quả, bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế và bảo vệ không gian sống của đất nước.

Trọng tâm trong điều hành là đổi mới căn bản phương pháp làm việc, chuyển từ tư duy hành chính sang tư duy kiến tạo phát triển; lấy hiệu quả thực chất, đo đếm được bằng kết quả cụ thể làm thước đo chủ yếu. Kỷ luật, kỷ cương hành chính sẽ tiếp tục được siết chặt, gắn rõ với trách nhiệm cá nhân, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu. Bộ tập trung xử lý những việc khó, việc mới, những tồn tại kéo dài, với tinh thần tiếp cận trực diện, xác định rõ nguyên nhân, thẩm quyền và lộ trình giải quyết.

Công tác phân công, phân nhiệm được thực hiện theo nguyên tắc “rõ người, rõ việc, rõ tiến độ, rõ sản phẩm”, hạn chế tối đa chồng chéo, né tránh và đùn đẩy trách nhiệm. Kiểm tra, giám sát được tăng cường để bảo đảm chỉ đạo đi vào thực chất, không bị “nghẽn” trong khâu thực thi. Đồng thời, Bộ coi trọng đối thoại, lắng nghe ý kiến từ địa phương, doanh nghiệp và người dân như một kênh quan trọng để hoàn thiện chính sách và nâng cao chất lượng điều hành.

Trong giai đoạn 2026–2030, ngành tập trung tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, nâng cao năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu và phát huy hiệu quả các nguồn lực cho phát triển nông nghiệp bền vững. Trọng tâm là hoàn thiện thể chế; nâng cao năng lực quản lý, giám sát; tăng cường phối hợp liên ngành; huy động hiệu quả nguồn lực xã hội, khoa học, công nghệ và hợp tác quốc tế.

Theo đó, một số nhiệm vụ then chốt gồm: tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy theo hướng hiệu lực, hiệu quả; kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc từ thực tiễn, nhất là ở cấp địa phương; hoàn thiện chính sách thúc đẩy tăng trưởng ngành và xuất khẩu nông, lâm, thủy sản; đầu tư hạ tầng cho nông nghiệp, nông thôn và quản lý tài nguyên; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, năng lực thực thi công vụ; đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ.

Với định hướng đó, ngành Nông nghiệp và Môi trường xác định rõ vai trò kiến tạo, dẫn dắt và đồng hành cùng người dân, doanh nghiệp và địa phương, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh, xanh và bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16 -23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-

Categories: The Latest News

Chính sách tiền tệ: ưu tiên mục tiêu dài hạn, tạo tiền đề cho chu kỳ tăng trưởng mới

Thời Báo Kinh Tế - Tue, 02/17/2026 - 06:08
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Thanh Hà đã có cuộc trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy về định hướng điều hành chính sách tiền tệ năm 2026, trong đó đặc biệt nhấn mạnh vai trò của việc phối hợp hiệu quả giữa chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa, phát triển thị trường vốn bền vững.

Thưa ông, năm 2025 kinh tế thế giới tiếp tục trải qua nhiều cú sốc và khó dự báo nhưng kinh tế Việt Nam vẫn duy trì được sức chống chịu, các chỉ tiêu lớn đạt mục tiêu của Quốc hội và Chính phủ đề ra. Những thách thức trong năm qua đã được Ngân hàng Nhà nước ứng phó và xử lý ra sao trong quá trình điều hành chính sách tiền tệ nhằm giữ ổn định kinh tế vĩ mô và thúc đẩy tăng trưởng?

Năm 2025 là một năm đầy khó khăn, thách thức đối với điều hành kinh tế vĩ mô nói chung và công tác điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước nói riêng.

Trong bối cảnh đó, bám sát chủ trương của Đảng, các Nghị quyết của Quốc hội, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước luôn kiên định, chủ động, linh hoạt trong điều hành chính sách tiền tệ để cân bằng nhiều mục tiêu quan trọng: kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối, duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý, hỗ trợ doanh nghiệp và người dân tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng với chi phí phù hợp.

Đồng thời, chính sách tiền tệ được điều hành với sự phối hợp chặt chẽ cùng chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác, phản ứng nhanh nhạy, theo sát với diễn biến kinh tế thế giới và trong nước. Song song với đó, các giải pháp điều hành tín dụng được thực hiện hiệu quả, hướng dòng vốn tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng kinh tế theo chỉ đạo của Chính phủ, kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro.

Với việc triển khai đồng bộ các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ, mặt bằng lãi suất cho vay tiếp tục có xu hướng giảm (đến ngày 30/11/2025, lãi suất cho vay bình quân của các giao dịch phát sinh mới ở mức 6,96%/năm, tương đương so với cuối năm 2024),  doanh nghiệp và người dân đang tiếp cận vốn vay với lãi suất thấp hơn trước đây. Thị trường ngoại tệ hoạt động thông suốt, các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp của nền kinh tế được đáp ứng đầy đủ, kịp thời; tỷ giá USD/VND diễn biến linh hoạt, phù hợp với điều kiện thị trường.

Đến ngày 31/12/2025, dư nợ tín dụng nền kinh tế đạt trên 18,58 triệu tỷ đồng, tăng 19,01% so với cuối năm 2024; cơ cấu tín dụng phù hợp với cơ cấu nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu tín dụng của người dân, doanh nghiệp. Hoạt động thanh toán và chuyên đổi số diễn ra mạnh mẽ, gia tăng nhiều tiện ích và nâng cao trải nghiệm cho khách hàng trong sử dụng dịch vụ ngân hàng trên nền tảng số.

Với những thành quả nêu trên, có thể khẳng định rằng công tác điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước trong năm 2025 đã phát huy tốt vai trò “trụ cột” trong  việc giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, từ đó tạo cơ sở, nền tảng quan trọng hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững.

Thưa ông, sau một giai đoạn chính sách tiền tệ được nới lỏng để hỗ trợ tăng trưởng, các tổ chức quốc tế đánh giá dư địa điều hành của Ngân hàng Nhà nước hiện nay rất hạn hẹp, thể hiện qua tỷ lệ tín dụng trên GDP đang ở mức cao, trên dưới 145%. Trong bối cảnh đó, ông đánh giá như thế nào về vai trò điều phối giữa chính sách tiền tệ, tài khóa và thị trường vốn để giảm áp lực cho hệ thống ngân hàng?

Thực tế tại Việt Nam cũng như kinh nghiệm quốc tế cho thấy chính sách tiền tệ cần ưu tiên mục tiêu dài hạn là kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Còn chính sách tài khóa với công cụ chi tiêu tài khóa, đầu tư công và điều chỉnh các sắc thuế tác động trực tiếp vào tiêu dùng, đầu tư, thu hút FDI, xuất khẩu của quốc gia, cùng với đó là tổng cầu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bên cạnh đó, một vai trò quan trọng nữa của chi tiêu ngân sách đối với tăng trưởng là thông qua “hiệu ứng vốn mồi”: triển khai các dự án đầu tư công sẽ kéo theo đầu tư tư nhân, tạo công ăn việc làm và kích thích tiêu dùng. Có thể nói, chính sách tài khóa có vai trò rất lớn trong thúc đẩy tổng cầu của nền kinh tế.

Song song với chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa, các chính sách thúc đẩy phát triển thị trường vốn (thị trường cổ phiếu, trái phiếu) cũng đóng vai trò là “xương sống” của nền kinh tế, giúp huy động vốn trung, dài hạn hiệu quả cho doanh nghiệp, Chính phủ để đầu tư sản xuất, cơ sở hạ tầng, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giảm sự phụ thuộc vào nguồn vốn tín dụng ngân hàng. Qua đó, góp phần phân bổ nguồn lực hiệu quả và tạo điều kiện cho đổi mới sáng tạo, hướng tới một hệ thống tài chính đa dạng, minh bạch, an toàn và bền vững.

Ngân hàng Nhà nước thường xuyên phối hợp chặt chẽ với Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan để triển khai hiệu quả các giải pháp tài khóa, tiền tệ; chủ động, tích cực phối hợp trao đổi các thông tin về thị trường tiền tệ, thị trường trái phiếu chính phủ, việc điều hành ngân quỹ nhà nước, tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước tại các ngân hàng thương mại… để tăng cường sự phối hợp giữa công tác điều hành chính sách tiền tệ  và chính sách tài khóa nhằm thực hiện các mục tiêu về kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Thưa Phó Thống đốc, trong năm 2026, mức độ liều lượng và sự ưu tiên giữa chính sách tiền tệ và tài khóa nên theo hướng nào để nâng cao hiệu quả điều hành cũng như tạo dư địa cho tăng trưởng bền vững?

Bước sang năm 2026 và giai đoạn 2026-2030, để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội mà Quốc hội, Chính phủ đề ra, cần tiếp tục có sự phối hợp chặt chẽ, hỗ trợ tích cực lẫn nhau giữa chính sách tiền tệ, tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác để phát huy hiệu quả và thực hiện mục tiêu giữ vững ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế.

Trong đó, trọng tâm là nâng cao chất lượng phối hợp giữa các chính sách trên cơ sở bám sát diễn biến thực tiễn, chia sẻ thông tin kịp thời; đồng thời, phát huy đúng vai trò của từng chính sách để hướng tới phát triển bền vững. Trong bối cảnh dư địa của chính sách tiền tệ được đánh giá là rất hạn hẹp như hiện nay, cần tập trung ưu tiên mở rộng chính sách tài khóa có trọng tâm, trọng điểm, là trụ cột để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ hiệu quả cho chính sách tiền tệ. Đồng thời, cần tiếp tục đẩy mạnh các giải pháp thúc đẩy thị trường vốn phát triển an toàn, bền vững, trở thành kênh cung ứng vốn trung, dài hạn chủ yếu cho nền kinh tế, qua đó đảm bảo đáp ứng tốt nhu cầu vốn cho tăng trưởng cao thời gian tới.

Với những dự báo về tình hình kinh tế thế giới và khu vực, những mục tiêu, định hướng trong điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước năm 2026 là gì, thưa ông?

Năm 2026, kinh tế thế giới và khu vực được dự báo tiếp tục đối mặt với nhiều rủi ro. Điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục kiên định ưu tiên mục tiêu kiểm soát lạm phát, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững; đồng thời, phát huy bài học kinh nghiệm từ giai đoạn 2021-2025 để có quyết định điều hành đồng bộ các công cụ và giải pháp với thời điểm và liều lượng hợp lý, phù hợp với bối cảnh thực tiễn.

Chính sách tiền tệ tiếp tục tăng cường phối hợp với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác để giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, củng cố các cân đối lớn của nền kinh tế, đặc biệt trong giai đoạn đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ.

Ngân hàng Nhà nước tiếp tục chỉ đạo các tổ chức tín dụng tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng kinh tế theo chỉ đạo của Chính phủ; kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro; tăng cường rà soát, đơn giản hóa thủ tục cấp tín dụng, áp dụng chuyển đổi số vào quy trình cấp tín dụng, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng, đảm bảo chặt chẽ, an toàn.

Thể chế pháp luật ngân hàng tiếp tục được hoàn thiện để đảm bảo cơ sở pháp lý đồng bộ, thuận lợi cho điều hành chính sách tiền tệ, thúc đẩy phát triển thị trường tiền tệ và hội nhập quốc tế.

Ngân hàng Nhà nước cũng chú trọng thực hiện các giải pháp như nâng cao năng lực thanh tra, giám sát, kiểm tra các lĩnh vực rủi ro, nợ xấu, đảm bảo an toàn và lành mạnh hệ thống tổ chức tín dụng, thúc đẩy chuyển đổi số, tăng cường năng lực quản trị và bảo đảm an ninh, an toàn hệ thống thanh toán.

Những giải pháp này sẽ tạo nền tảng ổn định, hỗ trợ điều hành chính sách tiền tệ hiệu quả, duy trì thanh khoản, ổn định tỷ giá, đồng thời đảm bảo niềm tin của người dân, doanh nghiệp và nhà đầu tư.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-

Categories: The Latest News

Chính sách tiền tệ: ưu tiên mục tiêu dài hạn, tạo tiền đề cho chu kỳ tăng trưởng mới

Thời báo kinh tế Việt Nam - Tue, 02/17/2026 - 06:08
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Thanh Hà đã có cuộc trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy về định hướng điều hành chính sách tiền tệ năm 2026, trong đó đặc biệt nhấn mạnh vai trò của việc phối hợp hiệu quả giữa chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa, phát triển thị trường vốn bền vững.

Thưa ông, năm 2025 kinh tế thế giới tiếp tục trải qua nhiều cú sốc và khó dự báo nhưng kinh tế Việt Nam vẫn duy trì được sức chống chịu, các chỉ tiêu lớn đạt mục tiêu của Quốc hội và Chính phủ đề ra. Những thách thức trong năm qua đã được Ngân hàng Nhà nước ứng phó và xử lý ra sao trong quá trình điều hành chính sách tiền tệ nhằm giữ ổn định kinh tế vĩ mô và thúc đẩy tăng trưởng?

Năm 2025 là một năm đầy khó khăn, thách thức đối với điều hành kinh tế vĩ mô nói chung và công tác điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước nói riêng.

Trong bối cảnh đó, bám sát chủ trương của Đảng, các Nghị quyết của Quốc hội, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước luôn kiên định, chủ động, linh hoạt trong điều hành chính sách tiền tệ để cân bằng nhiều mục tiêu quan trọng: kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối, duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý, hỗ trợ doanh nghiệp và người dân tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng với chi phí phù hợp.

Đồng thời, chính sách tiền tệ được điều hành với sự phối hợp chặt chẽ cùng chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác, phản ứng nhanh nhạy, theo sát với diễn biến kinh tế thế giới và trong nước. Song song với đó, các giải pháp điều hành tín dụng được thực hiện hiệu quả, hướng dòng vốn tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng kinh tế theo chỉ đạo của Chính phủ, kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro.

Với việc triển khai đồng bộ các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ, mặt bằng lãi suất cho vay tiếp tục có xu hướng giảm (đến ngày 30/11/2025, lãi suất cho vay bình quân của các giao dịch phát sinh mới ở mức 6,96%/năm, tương đương so với cuối năm 2024),  doanh nghiệp và người dân đang tiếp cận vốn vay với lãi suất thấp hơn trước đây. Thị trường ngoại tệ hoạt động thông suốt, các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp của nền kinh tế được đáp ứng đầy đủ, kịp thời; tỷ giá USD/VND diễn biến linh hoạt, phù hợp với điều kiện thị trường.

Đến ngày 31/12/2025, dư nợ tín dụng nền kinh tế đạt trên 18,58 triệu tỷ đồng, tăng 19,01% so với cuối năm 2024; cơ cấu tín dụng phù hợp với cơ cấu nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu tín dụng của người dân, doanh nghiệp. Hoạt động thanh toán và chuyên đổi số diễn ra mạnh mẽ, gia tăng nhiều tiện ích và nâng cao trải nghiệm cho khách hàng trong sử dụng dịch vụ ngân hàng trên nền tảng số.

Với những thành quả nêu trên, có thể khẳng định rằng công tác điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước trong năm 2025 đã phát huy tốt vai trò “trụ cột” trong  việc giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, từ đó tạo cơ sở, nền tảng quan trọng hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững.

Thưa ông, sau một giai đoạn chính sách tiền tệ được nới lỏng để hỗ trợ tăng trưởng, các tổ chức quốc tế đánh giá dư địa điều hành của Ngân hàng Nhà nước hiện nay rất hạn hẹp, thể hiện qua tỷ lệ tín dụng trên GDP đang ở mức cao, trên dưới 145%. Trong bối cảnh đó, ông đánh giá như thế nào về vai trò điều phối giữa chính sách tiền tệ, tài khóa và thị trường vốn để giảm áp lực cho hệ thống ngân hàng?

Thực tế tại Việt Nam cũng như kinh nghiệm quốc tế cho thấy chính sách tiền tệ cần ưu tiên mục tiêu dài hạn là kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Còn chính sách tài khóa với công cụ chi tiêu tài khóa, đầu tư công và điều chỉnh các sắc thuế tác động trực tiếp vào tiêu dùng, đầu tư, thu hút FDI, xuất khẩu của quốc gia, cùng với đó là tổng cầu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bên cạnh đó, một vai trò quan trọng nữa của chi tiêu ngân sách đối với tăng trưởng là thông qua “hiệu ứng vốn mồi”: triển khai các dự án đầu tư công sẽ kéo theo đầu tư tư nhân, tạo công ăn việc làm và kích thích tiêu dùng. Có thể nói, chính sách tài khóa có vai trò rất lớn trong thúc đẩy tổng cầu của nền kinh tế.

Song song với chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa, các chính sách thúc đẩy phát triển thị trường vốn (thị trường cổ phiếu, trái phiếu) cũng đóng vai trò là “xương sống” của nền kinh tế, giúp huy động vốn trung, dài hạn hiệu quả cho doanh nghiệp, Chính phủ để đầu tư sản xuất, cơ sở hạ tầng, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giảm sự phụ thuộc vào nguồn vốn tín dụng ngân hàng. Qua đó, góp phần phân bổ nguồn lực hiệu quả và tạo điều kiện cho đổi mới sáng tạo, hướng tới một hệ thống tài chính đa dạng, minh bạch, an toàn và bền vững.

Ngân hàng Nhà nước thường xuyên phối hợp chặt chẽ với Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan để triển khai hiệu quả các giải pháp tài khóa, tiền tệ; chủ động, tích cực phối hợp trao đổi các thông tin về thị trường tiền tệ, thị trường trái phiếu chính phủ, việc điều hành ngân quỹ nhà nước, tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước tại các ngân hàng thương mại… để tăng cường sự phối hợp giữa công tác điều hành chính sách tiền tệ  và chính sách tài khóa nhằm thực hiện các mục tiêu về kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Thưa Phó Thống đốc, trong năm 2026, mức độ liều lượng và sự ưu tiên giữa chính sách tiền tệ và tài khóa nên theo hướng nào để nâng cao hiệu quả điều hành cũng như tạo dư địa cho tăng trưởng bền vững?

Bước sang năm 2026 và giai đoạn 2026-2030, để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội mà Quốc hội, Chính phủ đề ra, cần tiếp tục có sự phối hợp chặt chẽ, hỗ trợ tích cực lẫn nhau giữa chính sách tiền tệ, tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác để phát huy hiệu quả và thực hiện mục tiêu giữ vững ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế.

Trong đó, trọng tâm là nâng cao chất lượng phối hợp giữa các chính sách trên cơ sở bám sát diễn biến thực tiễn, chia sẻ thông tin kịp thời; đồng thời, phát huy đúng vai trò của từng chính sách để hướng tới phát triển bền vững. Trong bối cảnh dư địa của chính sách tiền tệ được đánh giá là rất hạn hẹp như hiện nay, cần tập trung ưu tiên mở rộng chính sách tài khóa có trọng tâm, trọng điểm, là trụ cột để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ hiệu quả cho chính sách tiền tệ. Đồng thời, cần tiếp tục đẩy mạnh các giải pháp thúc đẩy thị trường vốn phát triển an toàn, bền vững, trở thành kênh cung ứng vốn trung, dài hạn chủ yếu cho nền kinh tế, qua đó đảm bảo đáp ứng tốt nhu cầu vốn cho tăng trưởng cao thời gian tới.

Với những dự báo về tình hình kinh tế thế giới và khu vực, những mục tiêu, định hướng trong điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước năm 2026 là gì, thưa ông?

Năm 2026, kinh tế thế giới và khu vực được dự báo tiếp tục đối mặt với nhiều rủi ro. Điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục kiên định ưu tiên mục tiêu kiểm soát lạm phát, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững; đồng thời, phát huy bài học kinh nghiệm từ giai đoạn 2021-2025 để có quyết định điều hành đồng bộ các công cụ và giải pháp với thời điểm và liều lượng hợp lý, phù hợp với bối cảnh thực tiễn.

Chính sách tiền tệ tiếp tục tăng cường phối hợp với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác để giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, củng cố các cân đối lớn của nền kinh tế, đặc biệt trong giai đoạn đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ.

Ngân hàng Nhà nước tiếp tục chỉ đạo các tổ chức tín dụng tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng kinh tế theo chỉ đạo của Chính phủ; kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro; tăng cường rà soát, đơn giản hóa thủ tục cấp tín dụng, áp dụng chuyển đổi số vào quy trình cấp tín dụng, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng, đảm bảo chặt chẽ, an toàn.

Thể chế pháp luật ngân hàng tiếp tục được hoàn thiện để đảm bảo cơ sở pháp lý đồng bộ, thuận lợi cho điều hành chính sách tiền tệ, thúc đẩy phát triển thị trường tiền tệ và hội nhập quốc tế.

Ngân hàng Nhà nước cũng chú trọng thực hiện các giải pháp như nâng cao năng lực thanh tra, giám sát, kiểm tra các lĩnh vực rủi ro, nợ xấu, đảm bảo an toàn và lành mạnh hệ thống tổ chức tín dụng, thúc đẩy chuyển đổi số, tăng cường năng lực quản trị và bảo đảm an ninh, an toàn hệ thống thanh toán.

Những giải pháp này sẽ tạo nền tảng ổn định, hỗ trợ điều hành chính sách tiền tệ hiệu quả, duy trì thanh khoản, ổn định tỷ giá, đồng thời đảm bảo niềm tin của người dân, doanh nghiệp và nhà đầu tư.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-

Categories: The Latest News

Xây dựng nền kinh tế dữ liệu Việt Nam phát triển nhanh, an toàn, mở nhưng có kiểm soát

Thời Báo Kinh Tế - Tue, 02/17/2026 - 06:08
Trong bài phỏng vấn dành riêng cho Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy trước thềm năm mới 2026, Đại tướng Lương Tam Quang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an, Chủ tịch Hiệp hội Dữ liệu quốc gia, khẳng định dữ liệu được xác định là tài sản chiến lược gắn liền với chủ quyền quốc gia, do vậy, việc bảo đảm an ninh mạng, an ninh dữ liệu, an toàn thông tin của tổ chức và cá nhân có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với ổn định chính trị, phát triển bền vững và tự chủ chiến lược của đất nước.

Thưa Bộ trưởng, trong bối cảnh kinh tế số phát triển nhanh, đất nước bước vào giai đoạn bình minh của kỷ nguyên số, dữ liệu đã trở thành “nguồn tài nguyên mới”, Bộ trưởng đánh giá như thế nào về vai trò then chốt của dữ liệu trong sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc?

Vai trò của dữ liệu đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam trong kỷ nguyên mới được Đảng, Nhà nước, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước nhiều lần nhấn mạnh. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị đã xác định rõ quan điểm “làm giàu, khai thác tối đa tiềm năng của dữ liệu, đưa dữ liệu thành tư liệu sản xuất chính, thúc đẩy phát triển nhanh cơ sở dữ liệu lớn, công nghiệp dữ liệu, kinh tế dữ liệu”. Đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm tại buổi làm việc với Trung tâm Dữ liệu quốc gia ngày 29/12/2025 đã khẳng định: “Dữ liệu đã trở thành một nguồn lực chiến lược, một loại tài nguyên mới, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với năng lực quản trị quốc gia, sức cạnh tranh của nền kinh tế và chất lượng đời sống của nhân dân”.

Trên thế giới, nhiều quốc gia đã khai thác hiệu quả sức mạnh của dữ liệu trong tiến trình chuyển đổi quốc gia. Theo Ngân hàng Thế giới, dữ liệu và công nghệ số có thể đóng góp từ 20-30% tăng trưởng GDP tại các nền kinh tế đang phát triển trong giai đoạn tới. Việt Nam có nhiều lợi thế với hơn 70% dân số sử dụng Internet; kinh tế số hiện đóng góp gián tiếp khoảng 12-18% GDP, tạo nền tảng quan trọng để phát triển kinh tế dữ liệu. Điều này cho thấy tăng trưởng kinh tế trong thời gian tới sẽ ngày càng phụ thuộc vào năng lực tạo lập, kết nối và khai thác dữ liệu trong các ngành, lĩnh vực.

Cùng với đó, dữ liệu là nền tảng cốt lõi của quản trị quốc gia hiện đại. Việc hình thành các cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, đất đai, doanh nghiệp, tài chính, bảo hiểm... và mới đây là đưa Trung tâm Dữ liệu quốc gia đi vào hoạt động đã tạo điều kiện để Nhà nước chuyển mạnh từ mô hình quản lý thủ công sang quản trị dựa trên dữ liệu và bằng chứng; đã góp phần cắt giảm hàng trăm thủ tục hành chính, tiết kiệm mỗi năm hàng nghìn tỷ đồng chi phí xã hội, đồng thời nâng cao tính minh bạch, hiệu lực và hiệu quả trong điều hành của bộ máy nhà nước.

Dữ liệu hiện nay vừa là tài sản, vừa là nguồn lực sản xuất. Vậy, xin Bộ trưởng chia sẻ quan điểm về an ninh và chủ quyền dữ liệu quốc gia trong kỷ nguyên số hóa?

Nghị quyết số 57/NQ-TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị xác định quan điểm chỉ đạo “Bảo đảm chủ quyền quốc gia trên không gian mạng; bảo đảm an ninh mạng, an ninh dữ liệu, an toàn thông tin của tổ chức và cá nhân là yêu cầu xuyên suốt, không thể tách rời trong quá trình phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”. Thực tiễn cho thấy đây là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với ổn định chính trị, phát triển bền vững và tự chủ chiến lược của đất nước.

Song song với quá trình chuyển đổi số quốc gia, Việt Nam đã có cách tiếp cận chủ động trong bảo đảm chủ quyền và an ninh dữ liệu. Trong đó: (i) Dữ liệu được xác định là tài sản chiến lược gắn liền với chủ quyền quốc gia; việc thu thập, lưu trữ, xử lý, khai thác và chia sẻ dữ liệu quốc gia phải được Nhà nước quản lý thống nhất và bảo đảm bằng pháp luật.

(ii) An ninh dữ liệu là điều kiện tiên quyết của chuyển đổi số và phát triển kinh tế số; an ninh dữ liệu phải được bảo đảm xuyên suốt toàn bộ vòng đời dữ liệu, gắn chặt với bảo vệ quyền riêng tư và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và công dân.

(iii) Chủ quyền dữ liệu phải gắn với làm chủ hạ tầng và nền tảng số quốc gia; theo đó, ưu tiên xây dựng hạ tầng dữ liệu, trung tâm dữ liệu và các nền tảng số trọng yếu do Việt Nam làm chủ, đồng thời quản lý chặt chẽ việc chuyển dữ liệu ra nước ngoài, thúc đẩy phát triển các công nghệ dữ liệu cốt lõi.

(iv) Bảo đảm an ninh và chủ quyền dữ liệu là trách nhiệm chung của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, trong đó Nhà nước giữ vai trò chủ đạo về thể chế và tổ chức thực thi; các chủ thể tham gia tạo lập, khai thác dữ liệu phải tuân thủ nghiêm các quy định về an ninh, an toàn dữ liệu. Việc bảo vệ chủ quyền dữ liệu không đồng nghĩa với hạn chế chia sẻ dữ liệu, mà hướng tới khai thác hiệu quả dữ liệu phục vụ phát triển kinh tế  - xã hội trên cơ sở pháp luật và yêu cầu đảm bảo chủ quyền, an ninh quốc gia.

Thưa Bộ trưởng, kinh tế dữ liệu đang mở ra cơ hội mới cho doanh nghiệp khởi nghiệp và doanh nghiệp công nghệ, Bộ Công an có những biện pháp gì để bảo đảm an toàn, an ninh khi doanh nghiệp thu thập, lưu trữ và xử lý dữ liệu số quy mô lớn?

Với chức năng quản lý nhà nước về an ninh, trật tự, Bộ Công an cam kết sẽ là người đồng hành với doanh nghiệp để cùng xây dựng nền kinh tế dữ liệu an toàn, minh bạch, bền vững.

Một số giải pháp trọng tâm đã, đang và sẽ được triển khai, đó là:

Thứ nhất, tiếp tục tham mưu hoàn thiện thể chế, pháp luật về dữ liệu, trước mắt là Luật An ninh dữ liệu, nhằm thiết lập khung pháp lý thống nhất điều chỉnh toàn bộ vòng đời dữ liệu, làm rõ trách nhiệm của các chủ thể liên quan, phân loại và bảo vệ dữ liệu quan trọng, dữ liệu nhạy cảm và dữ liệu cốt lõi quốc gia, đồng thời tăng cường cơ chế đánh giá tác động, kiểm tra, giám sát và chế tài bảo đảm tuân thủ.

Thứ hai, xây dựng và phát triển hạ tầng dữ liệu, hạ tầng số an toàn, độc lập và có khả năng kiểm soát ở tầm quốc gia; ưu tiên đầu tư trung tâm dữ liệu, nền tảng điện toán đám mây trong nước đạt tiêu chuẩn an toàn cao, kiểm soát chặt chẽ việc lưu trữ, xử lý dữ liệu quan trọng và dữ liệu cá nhân quy mô lớn, đặc biệt là dữ liệu xuyên biên giới, gắn với hệ thống giám sát, cảnh báo sớm và phối hợp ứng phó sự cố.

Thứ ba, góp phần nâng cao năng lực của doanh nghiệp và chất lượng nguồn nhân lực về bảo vệ và quản trị dữ liệu thông qua việc ban hành, bảo đảm việc thực hiện tiêu chuẩn, hướng dẫn kỹ thuật bảo vệ an ninh dữ liệu và đẩy mạnh đào tạo chuyên sâu.

Thứ tư, tăng cường hợp tác quốc tế về an ninh dữ liệu trên cơ sở bảo đảm tự chủ, chủ quyền dữ liệu, tiếp thu kinh nghiệm quốc tế đồng thời kiên định nguyên tắc Nhà nước giữ quyền quyết định đối với dữ liệu quan trọng và dữ liệu cốt lõi quốc gia, tránh phụ thuộc về công nghệ và hạ tầng.

Thưa Bộ trưởng, kinh tế dữ liệu không chỉ là thu thập, mà còn là phân tích, khai thác giá trị. Trong chiến lược an ninh mạng quốc gia, Bộ Công an sẽ hỗ trợ như thế nào để Việt Nam có thể xây dựng năng lực khai thác dữ liệu thông minh (AI - machine learning) một cách an toàn?

Trong triển khai Nghị quyết của Bộ Chính trị về Chiến lược an ninh mạng quốc gia, Bộ Công an tập trung xây dựng môi trường an toàn nhằm thúc đẩy Việt Nam khai thác dữ liệu thông minh thông qua trí tuệ nhân tạo (AI, machine learning) một cách bền vững, có kiểm soát, gắn chặt với bảo đảm an ninh quốc gia, dựa trên các định hướng trọng tâm sau:

Một là, hoàn thiện thể chế và hành lang pháp lý để xác lập “ranh giới an toàn” cho AI và khai thác dữ liệu; tham gia xây dựng khung pháp lý về an ninh mạng, an ninh dữ liệu và bảo vệ dữ liệu cá nhân, làm rõ khái niệm dữ liệu nhạy cảm, dữ liệu cốt lõi quốc gia và trách nhiệm pháp lý của các tổ chức, doanh nghiệp trong vòng đời AI, qua đó kiểm soát rủi ro và ngăn ngừa lạm dụng.

Hai là, tăng cường bảo đảm an ninh dữ liệu - nền tảng cốt lõi của AI an toàn; nâng cao năng lực bảo vệ dữ liệu quốc gia, giám sát và ứng phó với các rủi ro mới phát sinh từ ứng dụng AI như thao túng dữ liệu, giả mạo thông tin, xâm phạm quyền riêng tư, tạo điều kiện để AI được triển khai an toàn trong các lĩnh vực nhạy cảm.

Ba là, phối hợp xây dựng hạ tầng và môi trường khai thác dữ liệu an toàn, phát triển trung tâm dữ liệu và nền tảng số đáp ứng yêu cầu xử lý dữ liệu lớn, huấn luyện AI; đồng thời kiểm soát chặt chẽ việc lưu trữ, xử lý dữ liệu quan trọng, dữ liệu cá nhân quy mô lớn, kể cả dữ liệu xuyên biên giới.

Bốn là, thúc đẩy phát triển AI an toàn, có trách nhiệm, gắn với bảo vệ quyền con người và dữ liệu cá nhân, an ninh con người, qua đó củng cố niềm tin xã hội - điều kiện tiên quyết để mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng dữ liệu phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc gia.

Thưa Bộ trưởng, trong thực tiễn, dữ liệu cá nhân và dữ liệu nhạy cảm có nguy cơ bị xâm phạm nếu hệ thống bảo mật yếu. Xin Bộ trưởng cho biết Bộ Công an định hướng như thế nào để vừa thúc đẩy lưu thông dữ liệu, vừa bảo vệ quyền riêng tư của người dân?

Những năm qua, tình trạng xâm phạm dữ liệu cá nhân tại Việt Nam ngày càng diễn biến phức tạp, có những vụ việc gây thiệt hại lớn cho cá nhân và tổ chức; đã phát hiện nhiều cuộc tấn công mạng quy mô lớn tập trung vào đánh cắp dữ liệu, đặc biệt là dữ liệu cá nhân nhạy cảm. Trước tình hình đó, năm 2025, Bộ Công an đã tham mưu Chính phủ trình Quốc hội ban hành Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân số 91/2025/QH15 và Nghị định số 356/2025/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật, có hiệu lực từ ngày 1/1/2026. Đây là khung pháp lý quan trọng nhằm nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật, bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế dữ liệu và bảo vệ quyền riêng tư của người dân.

Theo quy định của pháp luật, việc lưu thông và khai thác dữ liệu cần tuân thủ một số nguyên tắc chủ yếu. (i) Xác lập nguyên tắc “lưu thông có kiểm soát” thay cho lưu thông tự do dữ liệu; làm rõ quyền của người dân đối với dữ liệu cá nhân và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp trong quá trình xử lý dữ liệu, coi quyền riêng tư là ranh giới pháp lý của mọi hoạt động khai thác. (ii) Thực hiện phân loại dữ liệu theo quy định pháp luật để áp dụng cơ chế lưu thông phù hợp, trong đó dữ liệu phục vụ quản lý, phát triển kinh tế - xã hội được khuyến khích chia sẻ, còn dữ liệu liên quan trực tiếp đến đời sống riêng tư và an ninh, trật tự xã hội phải được bảo vệ ở mức cao hơn.

(iii) Thúc đẩy lưu thông dữ liệu gắn với các biện pháp bảo vệ kỹ thuật và tăng cường giám sát, xử lý nghiêm vi phạm; bảo vệ quyền riêng tư cần được thiết kế ngay từ hệ thống thông qua các giải pháp như mã hóa, kiểm soát truy cập, ẩn danh hóa và giám sát việc sử dụng dữ liệu. (iv) Đề cao vai trò của sự đồng thuận và niềm tin của người dân, bảo đảm người dân được biết, được quyết định và thực hiện đầy đủ các quyền đối với dữ liệu cá nhân theo quy định pháp luật, coi đây là điều kiện tiên quyết để hình thành lưu thông dữ liệu bền vững phục vụ chuyển đổi số.

Việc xây dựng cơ chế chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan Nhà nước, doanh nghiệp và tổ chức quốc tế là vô cùng quan trọng. Xin Bộ trưởng chia sẻ về những sáng kiến phối hợp liên ngành để thúc đẩy chia sẻ dữ liệu minh bạch và hiệu quả?

Việc chia sẻ dữ liệu là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, mang tính đột phá mà Bộ Công an đang triển khai quyết liệt. Đây không chỉ là vấn đề kỹ thuật, mà còn là vấn đề tư duy, là vấn đề thể chế, văn hóa trong bộ máy nhà nước. Thời gian qua, Bộ Công an đã phối hợp với các bộ, ngành tham mưu Đảng, Nhà nước ban hành nhiều chủ trương, chính sách quan trọng nhằm thúc đẩy kết nối, chia sẻ dữ liệu trong hệ thống chính trị, như các kế hoạch, nghị quyết và nghị định về chuyển đổi số liên thông, kết nối dữ liệu bắt buộc và tạo lập dữ liệu phục vụ chuyển đổi số toàn diện. Tuy nhiên, kết quả đến nay vẫn chưa đạt kỳ vọng.

Thời gian tới, Bộ Công an sẽ tập trung thực hiện một số nhiệm vụ sau:

Một, tiếp tục tham mưu Chính phủ chỉ đạo người đứng đầu các bộ, ngành nâng cao trách nhiệm, quyết liệt lãnh đạo, điều hành công tác xây dựng cơ sở dữ liệu; khẩn trương hoàn thành tạo lập, cập nhật, số hóa dữ liệu đáp ứng yêu cầu “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”, đồng thời đẩy mạnh liên thông, kết nối giữa các cơ sở dữ liệu để tối đa hóa việc thay thế thành phần hồ sơ, cắt giảm thủ tục hành chính.

Hai, tập trung xây dựng nền tảng kỹ thuật và chuẩn hóa, phát triển các nền tảng số quốc gia và hệ thống API chuẩn hóa cho phép các cơ quan nhà nước kết nối, trao đổi dữ liệu an toàn, hiệu quả theo thời gian thực, gắn với mã hóa, ghi nhật ký và tuân thủ các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật thống nhất về định dạng, giao thức và bảo mật, tạo điều kiện để các hệ thống thông tin “kết nối”, chia sẻ dữ liệu.

Ba, phát huy vai trò của Hiệp hội Dữ liệu quốc gia trong thiết lập cơ chế hợp tác công - tư, huy động nguồn lực từ doanh nghiệp để làm giàu kho dữ liệu quốc gia.

Các mối đe dọa từ dữ liệu giả mạo, lừa đảo qua dữ liệu ngày càng tinh vi, Bộ Công an có những giải pháp kỹ thuật và chiến lược nào để đối phó với các mối đe dọa này, thưa Bộ trưởng?

Bộ Công an đã có chiến lược và nhiều giải pháp chủ động ứng phó các mối đe dọa từ dữ liệu giả mạo, lừa đảo qua dữ liệu, trong đó:

Thứ nhất, tham mưu Đảng, Nhà nước ban hành Chiến lược An ninh mạng quốc gia, Luật An ninh mạng từ năm 2018, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân và tổ chức triển khai có hiệu quả trong thực tiễn.

Thứ hai, nâng cao năng lực giám sát, phát hiện và cảnh báo sớm ở quy mô quốc gia thông qua các hệ thống theo dõi, phân tích, nhận diện hành vi bất thường trên không gian mạng, kịp thời phát hiện và ngăn chặn các chiến dịch lừa đảo, giả mạo danh tính và phát tán dữ liệu sai lệch ngay từ sớm.

Thứ ba, tăng cường điều tra, xử lý nghiêm các loại tội phạm sử dụng công nghệ cao, tập trung triệt phá các đường dây lừa đảo trực tuyến và mua bán dữ liệu cá nhân trái phép, qua đó tạo răn đe, lập lại kỷ cương trong môi trường số và củng cố niềm tin xã hội.

Thứ tư, chú trọng bảo vệ dữ liệu gốc, dữ liệu chuẩn như “tuyến phòng thủ đầu tiên” trước dữ liệu giả mạo thông qua các cơ chế xác thực, đối soát, kiểm soát và truy vết việc truy cập, sử dụng dữ liệu, góp phần nâng cao độ tin cậy của thông tin và thu hẹp không gian tồn tại của hành vi lừa đảo dựa trên dữ liệu sai lệch.

Thứ năm, đẩy mạnh công tác phòng ngừa xã hội, nâng cao nhận thức của người dân bằng việc thường xuyên công khai phương thức, thủ đoạn mới của tội phạm công nghệ cao, hướng dẫn kỹ năng nhận diện lừa đảo và bảo vệ dữ liệu cá nhân, coi đây là giải pháp bền vững từ gốc.

Thứ sáu, tăng cường phối hợp liên ngành và hợp tác quốc tế trong phòng, chống các mối đe dọa mạng và tội phạm dữ liệu xuyên biên giới, thông qua chia sẻ thông tin, phối hợp điều tra và tiếp thu kinh nghiệm quốc tế, đáp ứng yêu cầu bảo vệ an ninh trong không gian mạng không có biên giới.

Đối với các doanh nghiệp nước ngoài muốn đầu tư vào lĩnh vực dữ liệu tại Việt Nam, Bộ trưởng khuyến nghị gì về chính sách, quy định pháp luật và trách nhiệm xã hội mà họ cần tuân thủ?

Bộ Công an nhất quán quan điểm khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp nước ngoài đầu tư, kinh doanh hợp pháp trên cơ sở tuân thủ pháp luật Việt Nam, đặc biệt là quy định pháp luật về an ninh mạng, an ninh dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân. Đây không chỉ là nghĩa vụ pháp lý, mà còn là nền tảng để bảo đảm môi trường đầu tư ổn định, bền vững và bình đẳng cho mọi chủ thể tham gia thị trường.

Mọi hoạt động thu thập, lưu trữ, xử lý và chia sẻ dữ liệu tại Việt Nam phải có mục đích hợp pháp, rõ ràng, minh bạch và nằm trong phạm vi cho phép, không xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và cá nhân. Các doanh nghiệp nước ngoài phải bảo đảm an ninh, an toàn dữ liệu; dữ liệu liên quan đến người dân Việt Nam, dữ liệu quan trọng và dữ liệu nhạy cảm phải được bảo vệ ở mức độ cao, bảo đảm không bị khai thác trái phép, không trở thành nguồn phát sinh rủi ro cho an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội.

Doanh nghiệp phải thực hiện các quy định về lưu trữ, xử lý và chuyển dữ liệu xuyên biên giới; không lợi dụng công nghệ, dữ liệu và nền tảng xuyên biên giới để thực hiện hoặc tiếp tay cho các hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam.

Cuối cùng, xin Bộ trưởng chia sẻ về định hướng ưu tiên trong năm 2026 - năm đầu tiên của kỷ nguyên mới, để xây dựng một nền kinh tế dữ liệu an toàn, minh bạch và bền vững cho Việt Nam?

Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị tổng kết công tác năm 2025 và nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm năm 2026 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không còn là sự lựa chọn, mà là yêu cầu bắt buộc để phát triển nhanh và bền vững đất nước trong giai đoạn tới; phương châm của năm 2026 là “Hành động đột phá, lan tỏa kết quả”.

Quán triệt chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Bộ Công an và Hiệp hội Dữ liệu quốc gia thống nhất tầm nhìn xuyên suốt: đồng hành cùng cả nước xây dựng nền kinh tế dữ liệu an toàn, minh bạch và bền vững, lấy con người làm trung tâm. Dữ liệu được khai thác hiệu quả phục vụ phát triển, đặt dưới sự quản lý chặt chẽ của pháp luật, gắn với bảo vệ chủ quyền quốc gia và quyền, lợi ích chính đáng của tổ chức, cá nhân; mọi chính sách và mô hình khai thác dữ liệu đều hướng tới bảo vệ quyền riêng tư, củng cố niềm tin xã hội và hình thành văn hóa sử dụng dữ liệu an toàn, có trách nhiệm, góp phần bảo đảm phát triển thịnh vượng, tự chủ trong kỷ nguyên số.

Ưu tiên chiến lược hàng đầu của Bộ Công an trong năm 2026 là bảo đảm an ninh dữ liệu, an ninh mạng như bộ phận không thể tách rời của an ninh quốc gia. Bộ Công an tiếp tục giữ vai trò nòng cốt trong phòng ngừa, phát hiện, xử lý các mối đe dọa đối với dữ liệu quốc gia, dữ liệu của tổ chức và cá nhân; hoàn thiện các công cụ giám sát, cảnh báo sớm và bảo vệ dữ liệu gốc, dữ liệu quan trọng, tạo dựng “vành đai an toàn” cho nền kinh tế dữ liệu.

Đồng thời, Bộ Công an định hướng thúc đẩy lưu thông dữ liệu có kiểm soát, coi đây là điều kiện quan trọng để phát triển các mô hình kinh tế dữ liệu, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo, với trọng tâm là phối hợp liên ngành trong xây dựng chuẩn dữ liệu, cơ chế chia sẻ, xác thực và truy vết, vừa tháo gỡ điểm nghẽn, vừa bảo đảm tuân thủ pháp luật và quyền riêng tư.

Về phía Hiệp hội Dữ liệu quốc gia, trọng tâm năm 2026 là phát huy vai trò cầu nối giữa Nhà nước, doanh nghiệp và xã hội; thúc đẩy hình thành hệ sinh thái dữ liệu minh bạch, có trách nhiệm; hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực quản trị dữ liệu, tuân thủ pháp luật về bảo vệ dữ liệu và an ninh mạng, triển khai các mô hình khai thác dữ liệu sáng tạo, bền vững; đồng thời, thực hiện tốt vai trò phản biện chính sách, đề xuất giải pháp từ thực tiễn, góp phần xây dựng hành lang pháp lý đồng bộ, khả thi, tiệm cận thông lệ quốc tế và phù hợp điều kiện Việt Nam.

Mục tiêu cao nhất đó là xây dựng nền kinh tế dữ liệu Việt Nam phát triển nhanh nhưng an toàn, mở nhưng có kiểm soát, hiện đại nhưng gắn chặt với chủ quyền, an ninh và lợi ích quốc gia. Trên nền tảng đó, dữ liệu sẽ trở thành nguồn lực quan trọng đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16 - 23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-

Categories: The Latest News

Pages