The Latest News
Xuất khẩu điều tiếp tục “bùng nổ” vào đầu năm 2026
Trung Quốc tiếp tục là thị trường lớn nhất của hạt điều Việt Nam trong tháng đầu năm, với mức tăng trưởng 49,4% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 21,3% tổng giá trị xuất khẩu nhân điều của Việt Nam. Trong khi đó, giá xuất khẩu bình quân tháng 1/2026 ước đạt 6.673 USD/tấn, giảm 2% so với cùng kỳ năm trước, cho thấy áp lực cạnh tranh về giá vẫn hiện hữu dù sản lượng tăng cao. Sau Trung Quốc, Hoa Kỳ là thị trường tiêu thụ lớn thứ hai của điều Việt Nam.
TRIỂN VỌNG TIẾP TỤC TĂNG TRƯỞNG MẠNH NĂM 2026Năm 2025 đánh dấu một cột mốc quan trọng của ngành điều khi kim ngạch xuất khẩu đạt 5,2 tỷ USD, đưa hạt điều trở thành mặt hàng nông sản thứ ba của Việt Nam vượt mốc 5 tỷ USD trong một năm, sau rau quả và cà phê. Trong năm, ngành điều đã nhập khẩu hơn 2,9 triệu tấn điều thô, trị giá 4,5 tỷ USD, xuất siêu trên 700 triệu USD.
Đáng chú ý, năm 2025 cũng là lần đầu tiên Trung Quốc vượt Hoa Kỳ để trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của hạt điều Việt Nam, với kim ngạch đạt 1,115 tỷ USD. Hoa Kỳ đứng thứ hai với 975 triệu USD, tiếp theo là Hà Lan đạt 495 triệu USD.
Theo ông Bạch Khánh Nhựt, Phó Chủ tịch Hiệp hội Điều Việt Nam (VINACAS), xuất khẩu sang Trung Quốc tăng mạnh nhờ kinh tế nước này phục hồi, nhu cầu đối với thực phẩm tốt cho sức khỏe gia tăng, cùng với việc doanh nghiệp Việt Nam chủ động đáp ứng tốt hơn các tiêu chuẩn và yêu cầu từ phía đối tác. Ngược lại, xuất khẩu sang Hoa Kỳ trong năm 2025 giảm 26% về lượng và 17% về giá trị so với năm 2024, phản ánh những khó khăn tại thị trường truyền thống này.
Quyết định ngày 14/11/2025 của Tổng thống Donald Trump về việc gỡ bỏ thuế đối với hơn 200 mặt hàng thực phẩm, trong đó có hạt điều, được xem là cú hích quan trọng giúp ngành điều Việt Nam phục hồi trong năm 2026. Ông Bạch Khánh Nhựt, Phó Chủ tịch Hiệp hội Điều Việt Nam.Xu hướng tiêu dùng tại Hoa Kỳ đang thay đổi rõ nét theo hướng ưu tiên thực phẩm lành mạnh, ăn sạch và có nguồn gốc minh bạch. Trong bức tranh đó, sữa hạt điều nổi lên như một phân khúc tăng trưởng nhanh. Theo Grand View Research, thị trường sữa hạt điều sẽ tăng trưởng 7,3%/năm đến 2030. Từ một sản phẩm ngách dành cho cộng đồng thuần chay, sữa hạt điều nay đã hiện diện phổ biến trên các kệ hàng thực phẩm tốt cho sức khỏe, cạnh tranh cùng sữa hạnh nhân và sữa yến mạch.
Với lợi thế là quốc gia chế biến và xuất khẩu điều hàng đầu thế giới, Việt Nam có cơ hội tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị này thay vì chỉ xuất khẩu nhân điều thô. Trong nhiều năm, mô hình xuất khẩu số lượng lớn nhưng giá trị gia tăng thấp đã bộc lộ giới hạn, nhất là khi nguồn nguyên liệu trong nước giảm và phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu từ châu Phi. Áp lực cạnh tranh từ Bờ Biển Ngà và Brazil - những quốc gia đẩy mạnh chế biến sâu, sẽ càng đặt ra yêu cầu chuyển đổi.
Từ cú sốc thuế đến cơ hội phục hồi, ngành điều Việt Nam đang đứng trước thời điểm tái cấu trúc quan trọng. Việc Hoa Kỳ bỏ thuế có thể tạo lực đẩy ngắn hạn, nhưng triển vọng dài hạn phụ thuộc vào chiến lược nâng cao giá trị: phát triển điều rang, điều tẩm vị, snack lành mạnh và đặc biệt là tham gia sâu vào ngành thực phẩm giá trị cao như sữa hạt điều. Nếu tận dụng tốt xu hướng tiêu dùng xanh và lành mạnh toàn cầu, điều Việt Nam hoàn toàn có thể bước vào chu kỳ tăng trưởng mới, bền vững và hiệu quả hơn.
XÂY DỰNG THƯƠNG HIỆU QUỐC GIA CHO “THỦ PHỦ ĐIỀU” ĐỒNG NAINăm 2025, sau khi tỉnh Bình Phước sáp nhập vào tỉnh Đồng Nai, tổng diện tích trồng điều của tỉnh Đồng Nai mới lên tới hơn 180 ngàn hécta điều. Đồng Nai hiện là địa phương có diện tích trồng điều lớn nhất cả nước, đồng thời nằm trong tốp đầu về thu hút doanh nghiệp sản xuất, chế biến và xuất khẩu hạt điều. Trong chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP), hạt điều được xác định là sản phẩm chủ lực của tỉnh, nhiều sản phẩm đã đạt chứng nhận OCOP 5 sao cấp quốc gia, từng bước khẳng định vị thế và hướng tới mục tiêu xây dựng thương hiệu quốc gia cho “thủ phủ điều” Việt Nam.
Đến nay, toàn tỉnh Đồng Nai có 496 sản phẩm OCOP, trong đó hàng chục sản phẩm chế biến từ hạt điều đạt chứng nhận, đặc biệt phần lớn sản phẩm OCOP 5 sao cấp quốc gia của Đồng Nai đều thuộc nhóm này. Riêng năm 2025, Hội đồng Đánh giá, phân hạng sản phẩm OCOP của tỉnh đã thẩm định thêm 15 sản phẩm mới, trong đó có 11 sản phẩm chế biến từ hạt điều, với 6 sản phẩm tiềm năng đạt chuẩn 5 sao quốc gia. Điều này cho thấy xu hướng chuyển dịch rõ nét từ sản xuất thô sang chế biến sâu, nâng cao giá trị gia tăng.
Đồng Nai cũng đẩy mạnh xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm OCOP, khuyến khích các chủ thể ứng dụng công nghệ vào sản xuất, phát triển thương mại điện tử nhằm xây dựng thương hiệu bền vững. Theo lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường, việc nhiều sản phẩm điều đạt chuẩn 5 sao quốc gia không chỉ nâng tầm thương hiệu địa phương mà còn minh chứng cho quá trình tái cơ cấu ngành điều theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp.
Nhiều doanh nghiệp đã mạnh dạn đầu tư lớn để khẳng định vị thế. Công ty cổ phần Tập đoàn Gia Bảo vừa đưa vào hoạt động Nhà máy Chế biến nông sản và thực phẩm Bà Tư Bình Phước tại xã Đồng Tâm với vốn đầu tư 6,5 triệu USD, hướng tới phát triển các dòng sản phẩm chế biến sâu phục vụ xuất khẩu. Đây được xem là bước đi chiến lược nhằm làm chủ công nghệ và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Ở góc độ thị trường, các doanh nghiệp điều Đồng Nai đã mở rộng xuất khẩu sang nhiều thị trường khó tính như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Úc, Anh… nhờ đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm quốc tế. Song song đó, nhiều đơn vị đầu tư dây chuyền tự động hóa, quy trình sản xuất khép kín, giúp giảm chi phí nhân công, nâng cao năng suất và ổn định chất lượng. Việc đa dạng hóa sản phẩm chế biến sâu, xây dựng thương hiệu ở cả thị trường nội địa và quốc tế đang trở thành chiến lược trọng tâm.
Lãnh đạo UBND tỉnh khẳng định, chương trình OCOP đang đi đúng định hướng khi tập trung phát triển sản phẩm lợi thế gắn với chế biến sâu để nâng cao giá trị. Thời gian tới, hạt điều tiếp tục là ngành hàng chủ lực, Đồng Nai đặt mục tiêu giữ vững vị thế thủ phủ điều của cả nước và nằm trong nhóm dẫn đầu về xuất khẩu, từng bước xây dựng thương hiệu quốc gia cho hạt điều trên thị trường quốc tế.
-Chu Minh Khôi
Tết xưa làng cổ Đông Sơn
Được tổ chức năm thứ tư, “Tết xưa làng cổ” dần trở thành hoạt động thường niên mỗi dịp Xuân về ở làng Đông Sơn. Không chỉ đơn thuần là chương trình chào đón năm mới, sự kiện còn là nhịp cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, góp phần gìn giữ, lan tỏa những giá trị văn hóa truyền thống của vùng đất Hàm Rồng.
Các tiết mục văn nghệ tại lễ khai mạc “Tết xưa làng cổ” Được tổ chức năm thứ tư, “Tết xưa làng cổ” dần trở thành hoạt động thường niên mỗi dịp Xuân về ở làng Đông Sơn Đông đảo nhân dân và du khách đến tham dự chương trình khai mạc “Tết xưa làng cổ”Cách trung tâm Thanh Hóa 3km, làng cổ Đông Sơn thuộc phường Hàm Rồng, tỉnh Thanh Hóa, là ngôi làng đã có hàng ngàn năm tuổi, gắn với nền văn hóa Đông Sơn nổi tiếng. Trải qua những thăng trầm của lịch sử, sự tàn phá của chiến tranh và thời gian nhưng làng cổ Đông Sơn vẫn cơ bản giữ gìn được những giá trị văn hóa vật chất với những đặc trưng của làng quê miền Bắc Trung Bộ. Đây chính là điểm đến hấp dẫn du khách và Nhân dân những ngày Tết đến xuân về.
Ngay từ những con ngõ nhỏ rêu phong của làng cổ, không gian chợ quê đã được tái hiện sinh động. Các gian hàng bày bán nông sản an toàn, sản phẩm OCOP đặc trưng của Thanh Hóa tạo nên sắc màu phong phú, vừa phục vụ nhu cầu mua sắm Tết, vừa quảng bá sản vật địa phương. Sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố văn hóa và thương mại giúp người dân có thêm cơ hội giới thiệu, tiêu thụ sản phẩm, đồng thời mang đến cho du khách trải nghiệm gần gũi, chân thực về đời sống làng quê xưa.
Các đại biểu và du khách tham quan các gian hàng nông sản an toàn, sản phẩm OCOP của Thanh Hóa. Không gian chợ quê tại làng Đông Sơn tái hiện khung cảnh Tết cổ truyền rộn ràng. Người dân địa phương giới thiệu sản phẩm đặc trưng tới khách tham quan Các gian hàng bày bán nông sản an toàn, sản phẩm OCOP đặc trưng của Thanh Hóa tạo nên sắc màu phong phú, vừa phục vụ nhu cầu mua sắm Tết, vừa quảng bá sản vật địa phương. Sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố văn hóa và thương mại giúp người dân có thêm cơ hội giới thiệu, tiêu thụ sản phẩm, đồng thời mang đến cho du khách trải nghiệm gần gũi, chân thực về đời sống làng quê xưa. Không gian chợ quê tại làng Đông Sơn tái hiện khung cảnh Tết cổ truyền rộn ràngKhông khí hội hè càng thêm rộn ràng với chuỗi trò chơi, trò diễn dân gian phong phú. Tiếng trống hội dồn dập, tiếng hò reo cổ vũ vang vọng khắp sân đình, bến nước trong các trò bịt mắt bắt dê, ném còn, chọi gà, đi cà kheo… Tất cả tạo nên bức tranh Xuân sôi động, đậm chất truyền thống, gợi nhắc ký ức tuổi thơ của nhiều thế hệ.
Một điểm nhấn đặc biệt của chương trình là hội thi nấu bánh chưng. Không chỉ là cuộc tranh tài của các nghệ nhân địa phương, hoạt động này còn trở thành bài học thực tế cho thế hệ trẻ về sự tỉ mỉ, khéo léo và lòng trân trọng hạt gạo quê hương. Hình ảnh những nồi bánh chưng đỏ lửa, làn khói bếp bảng lảng hòa quyện cùng mùi lá dong, mùi nếp thơm gợi lên ký ức về cái Tết cổ truyền ấm cúng, thiêng liêng.
Hội thi gói bánh chưng thu hút sự tham gia của nhân dân địa phương Các đội thi chăm chút từng chiếc bánh chưng với sự tỉ mỉ, khéo léo Các sản phẩm khi đã hoàn thành của các đội thiBên cạnh những hoạt động náo nhiệt, chương trình còn dành không gian cho những giá trị văn hóa mang chiều sâu tinh thần. Tại khu vực “Ông đồ cho chữ”, người dân và du khách có thể xin những nét thư pháp cầu may mắn đầu năm. Mỗi chữ được trao đi không chỉ là món quà tinh thần mà còn gửi gắm ước vọng về một năm mới an khang, thịnh vượng.
Không gian “Ông đồ cho chữ” thu hút nhiều người xin chữ đầu nămÂm hưởng của nghệ thuật Ca trù vang lên giữa không gian làng cổ càng làm đậm thêm sắc màu văn hóa. Những làn điệu mượt mà, sâu lắng đưa người nghe trở về với chiều sâu di sản, góp phần tôn vinh giá trị tinh thần vô giá của dân tộc.
Nghệ nhân biểu diễn Ca trù giữa không gian làng cổ Đông SơnKhông dừng lại ở các hoạt động vui chơi, trải nghiệm, “Tết xưa làng cổ” Xuân Bính Ngọ còn mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Theo ghi nhận, trong những ngày diễn ra sự kiện, hàng nghìn lượt khách đã đến tham quan, chụp ảnh, trải nghiệm các hoạt động.
Du khách ghi lại khoảnh khắc giữa không gian Tết xưa Hàng nghìn lượt khách đến tham quan, trải nghiệm Tết xưa làng cổSức hút của chương trình cho thấy tiềm năng lớn của du lịch văn hóa gắn với di sản làng cổ Đông Sơn, đồng thời khẳng định hướng đi đúng trong việc khai thác giá trị truyền thống để phát triển du lịch bền vững tại địa phương.
-Nguyễn Thuấn
Gỡ nút thắt chính sách cho điện gió ngoài khơi Việt Nam
Ông đánh giá thế nào về sự phát triển của lĩnh vực điện gió ngoài khơi tại Việt Nam?
Việt Nam có vị trí địa lý độc đáo để trở thành một trong những quốc gia dẫn đầu châu Á về điện gió ngoài khơi. Với đường bờ biển dài và nguồn gió dồi dào, đất nước có những lợi thế tự nhiên để phát triển một ngành công nghiệp năng lượng sạch mới, có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và tăng cường an ninh năng lượng.
Điện gió ngoài khơi không chỉ đơn thuần là sản xuất điện, mà còn là nền tảng cho phát triển công nghiệp, thu hút đầu tư quốc tế và cung cấp nguồn năng lượng tái tạo đáng tin cậy để hỗ trợ tham vọng của Việt Nam trong lĩnh vực sản xuất tiên tiến, cơ sở hạ tầng số và nền kinh tế xanh.
Việt Nam đã có những bước tiến quan trọng, như phê duyệt Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Quy hoạch điện VIII) và ban hành khung giá phát điện loại hình nhà máy điện gió ngoài khơi năm 2025. Đây là tín hiệu tích cực đến thị trường.
Tuy nhiên, thách thức hiện nay là duy trì đà phát triển bằng cách đảm bảo sự phối hợp giữa các bộ, đẩy nhanh tiến độ lập kế hoạch và đưa ra lộ trình rõ ràng. Nếu đáp ứng được các điều kiện này, Việt Nam có thể khai thác tiềm năng điện gió ngoài khơi rộng lớn và định vị mình là trung tâm năng lượng tái tạo của khu vực.
Theo ông, các nhà đầu tư nói chung quan tâm đến những yếu tố nào khi đầu tư vào các dự án điện gió ngoài khơi tại Việt Nam?
Từ góc độ nhà đầu tư, theo tôi, có ba yếu tố then chốt đang quyết định sức hấp dẫn và tính khả thi khi đầu tư vào các dự án điện gió ngoài khơi tại Việt Nam.
Thứ nhất, sự rõ ràng và khả năng dự đoán của khung pháp lý. Các nhà đầu tư cần một hệ thống quy định minh bạch, ổn định liên quan đến việc cấp phép khảo sát, phân bổ dự án cũng như thời gian phê duyệt.
Thứ hai, khả năng huy động vốn của các Thỏa thuận Mua bán điện (PPA). Các dự án điện gió ngoài khơi thường có vốn đầu tư lớn trị giá hàng tỷ USD, nên việc đảm bảo nguồn doanh thu dài hạn, ổn định và phù hợp với các chuẩn mực tài chính quốc tế là điều kiện vô cùng cần thiết.
Thứ ba, sự sẵn sàng của cơ sở hạ tầng đóng vai trò không kém phần quan trọng. Các dự án điện gió ngoài khơi cần có công suất lưới điện, các cảng biển được nâng cấp và một chuỗi cung ứng mạnh mẽ. Chỉ khi những điều kiện này được đáp ứng, các dự án mới có thể chuyển từ giai đoạn quy hoạch trên giấy sang triển khai trong thực tế.
Theo Quy hoạch điện VIII, công suất điện gió ngoài khơi vào năm 2030 sẽ đạt khoảng 6.000 MW. Chính phủ đã yêu cầu Bộ Công Thương đảm bảo các dự án điện gió ngoài khơi được hoàn thành trước năm 2030. Vậy, đâu là những ưu tiên hàng đầu cho các nhà đầu tư và nhà phát triển để đưa dự án vào hoạt động theo lộ trình này?
Quy hoạch điện VIII đề ra mục tiêu tham vọng phát triển 6.000 MW điện gió ngoài khơi vào năm 2030, song mục tiêu này chỉ có thể trở thành hiện thực nếu những vấn đề then chốt, mang tính cấp bách được tập trung tháo gỡ ngay từ thời điểm hiện nay. Các dự án điện gió ngoài khơi thường cần 6-9 năm từ giai đoạn khảo sát ban đầu đến khi vận hành, vì vậy thời gian rất eo hẹp. Để hoàn thành đúng thời hạn, cả Chính phủ và ngành công nghiệp phải hành động quyết đoán.
Đối với các nhà đầu tư và đơn vị phát triển dự án, ưu tiên hàng đầu là được tiếp cận sớm các địa điểm tiềm năng. Điều này đòi hỏi cơ quan chức năng sớm cấp phép khảo sát và phê duyệt kế hoạch phát triển dự án, tạo điều kiện để các hoạt động khảo sát thực địa và nghiên cứu khả thi được triển khai đúng tiến độ.
Ưu tiên thứ hai là xây dựng một lộ trình phân bổ dự án minh bạch, ổn định và có độ tin cậy cao. Một khung thời gian rõ ràng cho các đợt đấu giá hoặc cơ chế giao dự án, được thiết kế theo từng khu vực cụ thể sẽ giúp các nhà phát triển chủ động hoạch định phương án tài chính, chuẩn bị chuỗi cung ứng cũng như sắp xếp tiến độ xây dựng một cách hiệu quả.
Ưu tiên thứ ba là khả năng huy động vốn. Các dự án điện gió ngoài khơi đòi hỏi hàng tỷ đôla vốn đầu tư và các nhà đầu tư chỉ cam kết nếu các hợp đồng mua bán điện (PPA) cung cấp sự chắc chắn về doanh thu dài hạn, đảm bảo sản lượng và các điều khoản chia sẻ rủi ro phù hợp với thông lệ quốc tế.
Ưu tiên thứ tư là sự sẵn sàng về cơ sở hạ tầng. Đặc biệt, việc mở rộng lưới điện, phát triển cảng và lập kế hoạch hậu cần phải được đẩy nhanh song song với việc chuẩn bị dự án.
Ưu tiên thứ năm là phát triển nguồn nhân lực và chuỗi cung ứng. Lĩnh vực điện gió ngoài khơi đòi hỏi đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn cao trong kỹ thuật, vận hành hàng hải và sản xuất. Đầu tư chiến lược vào đào tạo và năng lực địa phương ngay từ bây giờ sẽ tạo nền tảng để các dự án dự kiến hoàn thành vào năm 2030 được triển khai bởi một lực lượng lao động năng lực và cạnh tranh.
Như vậy, việc điều chỉnh sự rõ ràng về quy định, khung tài chính và phát triển cơ sở hạ tầng là cách duy nhất để mục tiêu 6.000 MW điện gió ngoài khơi có thể trở thành hiện thực.
Mặc dù tiềm năng điện gió ngoài khơi của Việt Nam rất lớn, nhưng theo ông, những thách thức nào đang khiến các dự án điện gió ngoài khơi chưa thể triển khai ở quy mô lớn?
Thách thức lớn trước mắt là sự không chắc chắn về quy định. Các quy trình hiện hành liên quan đến giấy phép khảo sát, phân bổ dự án và phê duyệt liên bộ vẫn chưa được xác định rõ ràng, khiến các nhà đầu tư khó xây dựng lộ trình liền mạch từ giai đoạn thăm dò đến triển khai xây dựng. Tình trạng này không chỉ làm chậm quá trình ra quyết định đầu tư mà còn gia tăng đáng kể mức độ rủi ro cho các dự án.
Một trở ngại đáng kể khác là năng lực của hệ thống lưới điện. Điện gió ngoài khơi đòi hỏi đầu tư và nâng cấp hạ tầng truyền tải ở quy mô lớn, trong khi đó quy hoạch và đầu tư lưới điện của Việt Nam vẫn chưa theo kịp nhu cầu phát triển. Nếu không mở rộng kịp thời, ngay cả những dự án được chuẩn bị tốt cũng có thể đối mặt với việc cắt giảm hoặc chậm trễ trong kết nối.
Song song đó, quy hoạch không gian biển cũng cần được cập nhật nhằm xác định rõ các khu vực ưu tiên cho phát triển điện gió ngoài khơi, giúp giảm thiểu xung đột với hoạt động vận tải biển, đánh bắt cá hoặc khai thác dầu khí. Việc này sẽ góp phần hạn chế xung đột với các hoạt động kinh tế biển khác như vận tải hàng hải, khai thác thủy sản hay dầu khí…
Như tôi đã đề cập trước đó, khả năng huy động vốn của các hợp đồng cũng là một mối quan ngại. Mặc dù Nghị định số 58/2025/NĐ-CP về cơ chế phát triển điện năng lượng tái tạo, năng lượng mới đã đưa ra khung pháp lý cho các hợp đồng mua bán điện năng tái tạo, nhưng các cam kết mua điện hiện tại còn hạn chế so với tiêu chuẩn quốc tế. Điều này gây khó khăn cho huy động vốn ở quy mô cần thiết cho điện gió ngoài khơi.
Bên cạnh các vấn đề về quy định và tài chính, còn có những thách thức thực tiễn. Các cảng biển, xưởng đóng tàu và tàu lắp đặt của Việt Nam hiện chưa được trang bị đầy đủ để xử lý công tác hậu cần cho các tuabin lớn và các công trình ngoài khơi. Sự sẵn sàng của nguồn nhân lực cũng là một hạn chế khác, vì điện gió ngoài khơi đòi hỏi những kỹ năng chuyên môn cao mà thị trường trong nước hiện vẫn còn khan hiếm.
Nếu những vấn đề này không được giải quyết một cách có hệ thống, thông qua cải cách chính sách, đầu tư cơ sở hạ tầng và xây dựng năng lực có mục tiêu, tốc độ phát triển điện gió ngoài khơi có thể không đạt được các mục tiêu đầy tham vọng đề ra trong Quy hoạch điện VIII.
Cùng với những thách thức trong nước, tình trạng thiếu hụt chuỗi cung ứng toàn cầu đang nổi lên như một rào cản. Điện gió ngoài khơi phụ thuộc rất nhiều vào đồng cho cáp, tuabin, trạm biến áp và nhu cầu về đồng dự kiến sẽ tăng hơn 40% vào năm 2040. Giá đồng, thép và nhôm đã tăng gấp đôi hoặc gấp ba trong những năm gần đây, làm tăng chi phí cho các nhà sản xuất và phát triển tuabin. Không những thế, sự thiếu hụt toàn cầu về cáp ngầm cao áp, với các trường hợp chậm trễ và hủy bỏ đã được báo cáo tại các thị trường ngoài khơi lớn. Các nguyên tố đất hiếm cần thiết cho nam châm tuabin cũng vẫn dễ bị ảnh hưởng bởi các rủi ro địa chính trị, do sự thống trị của Trung Quốc trong khâu chế biến.
Những nút thắt này đòi hỏi ngành điện gió ngoài khơi của Việt Nam phải lập kế hoạch chủ động, đảm bảo các thỏa thuận cung ứng sớm và hợp tác với các đối tác quốc tế để đảm bảo tiếp cận các thành phần quan trọng. Nếu không, các dự án có nguy cơ vượt chi phí hoặc chậm trễ. Giải quyết cả cải cách chính sách trong nước và thực tế chuỗi cung ứng toàn cầu sẽ rất cần thiết để Việt Nam nắm bắt cơ hội điện gió ngoài khơi quy mô lớn.
Vậy, với những thực tiễn bao gồm cả tiềm năng và thách thức về phát triển điện gió ngoài khơi tại Việt Nam, ông có những đề xuất nào để chuẩn bị cho việc vận hành điện gió ngoài khơi đạt được mục tiêu đề ra trong Quy hoạch điện VIII?
Để khai thác tiềm năng điện gió ngoài khơi và đạt được các mục tiêu năm 2030 và năm 2035, Việt Nam cần một chiến lược phối hợp, có tầm nhìn xa, tập trung vào một số hành động ưu tiên.
Thứ nhất, thành lập Nhóm chuyên trách đặc biệt (Task Force) liên bộ về điện gió ngoài khơi. Phát triển điện gió ngoài khơi liên quan đến nhiều bộ, bao gồm Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và Bộ Giao thông vận tải. Do đó, một cơ quan điều phối duy nhất với nhiệm vụ rõ ràng sẽ giúp đơn giản hóa việc cấp phép, phê duyệt và ra quyết định.
Thứ hai, cập nhật và công bố bản tóm tắt Quy hoạch không gian biển, trong đó chỉ định các khu vực phát triển điện gió ngoài khơi. Thông tin được công khai và cập nhật thường xuyên sẽ giảm thiểu xung đột, tăng tính minh bạch và giúp các nhà đầu tư/phát triển lập kế hoạch đầu tư với sự tự tin hơn.
Thứ ba, thiết lập quy trình hai giai đoạn cho việc phát triển dự án, bao gồm: cấp phép khảo sát trước, sau đó tiến hành đấu thầu cạnh tranh các lô dự án. Việc liên kết các giai đoạn này sẽ khuyến khích đầu tư sớm vào khảo sát đồng thời đảm bảo chỉ những nhà phát triển đủ điều kiện về kỹ thuật và tài chính mới được tiếp tục thực hiện dự án.
Thứ tư, cải thiện khả năng huy động vốn của các hợp đồng mua bán điện (PPA). Điện gió ngoài khơi đòi hỏi nguồn vốn đầu tư hàng tỷ đôla, và các hợp đồng phải có điều khoản đảm bảo mạnh mẽ về việc mua điện, phân bổ rủi ro rõ ràng và sự đồng thuận quốc tế để giải ngân nguồn vốn này. Các hợp đồng mua bán điện (PPA) chuyên biệt cho điện gió ngoài khơi, khác với các nguồn năng lượng tái tạo khác, sẽ rất quan trọng.
Cuối cùng, cần đầu tư vào cơ sở hạ tầng và kỹ năng. Việc nâng cấp lưới điện và cảng biển cần được ưu tiên ngay từ bây giờ, cùng với các chương trình đào tạo lực lượng lao động và chuyển giao công nghệ. Hợp tác với các quốc gia có kinh nghiệm về điện gió ngoài khơi như Đan Mạch, Anh và Đức có thể đẩy nhanh quá trình học hỏi của Việt Nam.
Bằng cách hành động quyết đoán trên các lĩnh vực này, Việt Nam có thể thiết lập một ngành công nghiệp điện gió ngoài khơi vững mạnh, không chỉ đáp ứng các mục tiêu của Quy hoạch điện VIII mà còn mang lại lợi ích kinh tế, môi trường và chiến lược lâu dài.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html
-
“Tết năm cùng” trên bản Dao
Những ngày cuối năm âm lịch, khi sương sớm còn giăng mờ trên triền núi, các bản người Dao ở Thanh Hóa đã rộn ràng không khí chuẩn bị cho “Tết năm cùng”.
Là nơi có đông người Dao quần chẹt nhất tỉnh Thanh Hóa, thôn Hạ Sơn (xã Ngọc Lặc) là nơi sinh sống của 263 hộ dân tộc Dao với 1.086 nhân khẩu. Cũng như các dân tộc anh em khác, đồng bào Dao ở Hạ Sơn luôn siêng năng, cần cù, chăm chỉ trong làm ăn phát triển kinh tế, xây dựng đời sống mới. Đặc biệt, cộng đồng người Dao Hạ Sơn rất tâm huyết với việc gìn giữ những nét văn hóa đặc sắc của dân tộc mình.
Theo các bậc cao niên, “Tết năm cùng” là dịp tổng kết một năm lao động, sản xuất, cũng là thời điểm thiêng liêng để con cháu hướng về tổ tiên, cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, gia đình bình an, no đủ.
Không khí chuẩn bị bắt đầu từ nhiều ngày trước. Nhà cửa được dọn dẹp sạch sẽ, bàn thờ tổ tiên được lau chùi, trang hoàng cẩn thận. Từng vật dụng trong nhà đều được sắp xếp lại gọn gàng như một cách gột rửa những điều cũ kỹ của năm cũ, mở ra hy vọng cho năm mới. Con cháu dù đi làm ăn xa cũng thu xếp trở về, quây quần bên cha mẹ, ông bà, cùng chung tay chuẩn bị mâm cỗ.
Mâm cỗ “Tết năm cùng” của người Dao mang đậm bản sắc truyền thống với sự hài hòa giữa món mặn và món chay. Thịt lợn bản là lễ vật không thể thiếu, thường được nuôi trong nhà, tượng trưng cho sự sung túc. Sau khi làm thịt, một phần được luộc, nướng để dâng cúng tổ tiên; phần còn lại làm lạp sườn treo gác bếp dùng trong những ngày Tết. Gà đồi luộc nguyên con, bày trang trọng trên mâm, thể hiện lòng thành kính.
Xôi ngũ sắc là điểm nhấn nổi bật với năm màu đỏ, vàng, tím, xanh, trắng nhuộm từ lá rừng tự nhiên. Theo quan niệm của người Dao, năm màu tượng trưng cho ngũ hành, cầu mong sự hài hòa giữa con người và thiên nhiên. Bánh dày trắng tròn mang ý nghĩa đủ đầy, trọn vẹn.
Mâm cỗ còn có rau rừng như rau dớn, rau bò khai, măng khô… chế biến giản dị nhưng đậm hương vị núi rừng. Sự cân bằng trong món ăn cũng gửi gắm mong ước về cuộc sống yên ấm, an lành.
Sau nghi lễ dâng cúng tổ tiên, cả gia đình quây quần bên mâm cỗ trong không khí ấm áp, rộn ràng lời chúc đầu năm. Dù cuộc sống đổi thay, mâm cỗ “Tết năm cùng” vẫn được gìn giữ gần như nguyên vẹn, trở thành sợi dây gắn kết các thế hệ và lưu giữ bản sắc văn hóa của người Dao ở Thanh Hóa.
Nguyên liệu gạo nếp để đồ xôi được chọn lựa kỹ càng Theo quan niệm của người Dao, năm màu tượng trưng cho ngũ hành, cầu mong sự hài hòa giữa con người với thiên nhiên và trong mỗi gia đình. Phụ nữ Dao chuẩn bị mâm cỗ truyền thống Mâm cỗ “Tết năm cùng” được bày biện cân đối, hài hòa Gạo nếp được đồ chín thành xôi là nguyên liệu để làm bánh dày. Bánh dày trắng tròn tượng trưng cho sự đủ đầy, trọn vẹn. Giã bánh dày Những chiếc bánh dày hay còn gọi là bánh mặt trời nhỏ xinh là món ăn truyền thống không thể thiếu trong ngày Tết của đồng bào dân tộc Dao xứ Thanh. Nụ cười rạng rỡ trong ngày đoàn viên Nghi lễ cúng Tết năm cùng do 3 thầy cúng thông thạo tiếng Dao cổ hành lễ Trong ngày “Tết năm cùng”, sau khi hoàn tất các nghi thức dâng cúng tổ tiên, cả gia đình quây quần bên mâm cỗ. Không khí ấm cúng lan tỏa trong từng nếp nhà, tiếng cười nói xen lẫn lời chúc tụng đầu năm. Với người Dao, đây không chỉ là bữa cơm sum họp mà còn là dịp nhắc nhở con cháu nhớ về cội nguồn, trân trọng những giá trị truyền thống.-Nguyễn Thuấn
Không "khoán trắng" việc xác định vị trí việc làm cho đơn vị trực thuộc
Ngày 31/12/2025, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 361/2025/NĐ-CP quy định về vị trí việc làm công chức, nhằm thể chế hóa chủ trương của Đảng, quy định của Luật Cán bộ, công chức số 80/2025/QH15 về vị trí việc làm công chức, chuyển đổi phương thức quản lý công chức theo vị trí việc làm, gắn với mục tiêu, kết quả thực hiện nhiệm vụ.
Để bảo đảm việc tổ chức triển khai thực hiện Nghị định số 361/2025/NĐ-CP thống nhất, đồng bộ, hiệu quả trong các cơ quan, tổ chức hành chính nhà nước, Bộ Nội vụ đề nghị các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tập trung thực hiện một số nội dung.
Theo đó, các đơn vị tổ chức quán triệt đầy đủ nội dung, yêu cầu và tinh thần đổi mới của Nghị định số 361/2025/NĐ-CP đến các cơ quan, tổ chức, đơn vị và đội ngũ công chức thuộc phạm vi quản lý; bảo đảm nhận thức thống nhất về quản lý công chức theo vị trí việc làm.
Chỉ đạo việc triển khai thực hiện Nghị định số 361/2025/NĐ-CP bảo đảm thống nhất, đồng bộ, không hình thức, gắn với đổi mới phương thức quản lý công chức theo vị trí việc làm; không khoán trắng việc xác định vị trí việc làm cho các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc phạm vi quản lý.
Việc tổ chức thực hiện việc phê duyệt, điều chỉnh vị trí việc làm công chức trong cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc phạm vi quản lý theo đúng quy định của Nghị định số 361/2025/NĐ-CP cần bảo đảm phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao; không trùng lặp, chồng chéo. Đồng thời, gắn với mục tiêu, kết quả, sản phẩm đầu ra theo vị trí việc làm và yêu cầu quản lý nhà nước của từng ngành, lĩnh vực, địa phương; gắn với yêu cầu về năng lực, mức độ phức tạp, trách nhiệm của công việc, làm cơ sở cho việc tuyển dụng, bố trí, sử dụng, đánh giá, đào tạo, quy hoạch, bổ nhiệm và các nội dung khác liên quan trong quản lý công chức.
Trong quá trình tổ chức thực hiện Nghị định số 361/2025/NĐ-CP, để bảo đảm thống nhất, khả thi và hiệu quả quản lý, Bộ Nội vụ đề nghị các Bộ, ngành, địa phương lưu ý thực hiện xây dựng bản mô tả công việc và khung năng lực của vị trí việc làm theo hướng thống nhất về cấu trúc, nội dung cốt lõi. Chủ động cụ thể hóa nội dung phù hợp với đặc thù của từng cơ quan, tổ chức, đơn vị trong phạm vi, thẩm quyền được giao.
Bên cạnh đó, các đơn vị rà soát việc xác định tỷ lệ công chức theo vị trí việc làm phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quy mô và tính chất hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị.
Công tác kiểm tra việc xác định, phê duyệt, điều chỉnh vị trí việc làm công chức cũng được nhấn mạnh; kịp thời phát hiện, chấn chỉnh cách làm chưa phù hợp với quy định của pháp luật.
-Nhật Dương
Hà Nội tổ chức chuyến xe miễn phí đưa công nhân về quê đón Tết
Ngày 14/2 (27 Tết), tại Khu công nghiệp Thăng Long (xã Thiên Lộc, TP. Hà Nội), Liên đoàn Lao động TP. Hà Nội tổ chức Chương trình “Xe ô tô miễn phí đưa công nhân lao động có hoàn cảnh khó khăn về quê đón Tết”, trao gửi những chuyến xe nghĩa tình tới 1.200 công nhân tỉnh xa.
Tại chương trình, ông Nguyễn Văn Thắng, Chủ tịch Liên đoàn Lao động TP. Hà Nội, nhấn mạnh mỗi dịp Tết đến, Xuân về, bên niềm vui sum họp gia đình vẫn còn đó nỗi trăn trở rất đời thường của hàng nghìn công nhân lao động làm việc xa quê – nỗi lo tàu xe tăng giá, quãng đường xa xôi, thu nhập còn eo hẹp giữa bối cảnh chi phí sinh hoạt ngày một cao.
“Chúng tôi hiểu rằng để có một cái Tết trọn vẹn, nhiều gia đình công nhân phải tính toán, chắt chiu từng đồng. Chính vì thế, những chuyến xe nghĩa tình không chỉ là sự hỗ trợ về vật chất, mà còn là sự sẻ chia, tiếp thêm niềm tin và động lực để người lao động yên tâm gắn bó lâu dài với doanh nghiệp, với Thủ đô Hà Nội”, ông Nguyễn Văn Thắng chia sẻ.
Năm nay, chương trình bố trí 26 chuyến xe đưa công nhân lao động thuộc Công đoàn các Khu công nghệ cao và Khu công nghiệp Hà Nội về quê đón Tết tại các tỉnh Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa và một số tỉnh phía Bắc.
Đồng thời, Liên đoàn Lao động thành phố hỗ trợ 5.500 vé xe bằng tiền mặt cho công nhân lao động với tổng kinh phí 2,45 tỷ đồng.
Đây là năm thứ 18 liên tiếp hoạt động này được duy trì. Suốt gần hai thập kỷ, những chuyến xe ấy đã trở thành nhịp cầu nối yêu thương, đưa hàng chục nghìn lượt công nhân về quê sum họp gia đình.
Công đoàn các phường, xã và Công đoàn cơ sở còn phối hợp với doanh nghiệp tổ chức hàng nghìn chuyến xe, đưa trên 40.000 công nhân về quê và đón công nhân quay trở lại làm việc sau Tết, góp phần ổn định lực lượng lao động, duy trì sản xuất, kinh doanh ngay từ những ngày đầu năm mới.
Người lao động chuẩn bị về quê đón Tết trên các chuyến xe miễn phí.Với phương châm xuyên suốt “Tất cả đoàn viên, người lao động đều có Tết, vui Tết”, dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, các cấp Công đoàn Thủ đô đã chi trên 246 tỷ đồng từ ngân sách Công đoàn và các nguồn xã hội hóa để hỗ trợ hơn 368.000 lượt đoàn viên, người lao động có hoàn cảnh khó khăn.
Những con số này không chỉ thể hiện quy mô, mà còn khẳng định vai trò đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của tổ chức Công đoàn trong đời sống người lao động.
Thực tế cho thấy để người lao động yên tâm cống hiến, trước hết họ cần được bảo đảm những điều kiện sống tối thiểu, được quan tâm cả về vật chất lẫn tinh thần. Những chuyến xe miễn phí vì thế không chỉ giải quyết bài toán chi phí đi lại, mà còn gửi gắm thông điệp: người lao động luôn ở vị trí trung tâm trong các chính sách chăm lo.
Chương trình còn có ý nghĩa trong việc củng cố mối quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ. Khi công nhân cảm nhận được sự quan tâm thiết thực từ tổ chức Công đoàn và doanh nghiệp, họ sẽ thêm tin tưởng, gắn bó và nỗ lực hơn trong công việc. Đây là nền tảng để nâng cao năng suất lao động, chất lượng nguồn nhân lực và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập sâu rộng.
-Nhật Dương
Để Việt Nam hóa rồng: “Hành lang hẹp” và chìa khóa từ tăng năng suất lao động
Bức tranh kinh tế vĩ mô của Việt Nam trong bốn thập niên vừa qua cho thấy Việt Nam đã đạt được sự tăng trưởng đầy ấn tượng (6,38% giai đoạn 1986-2024).
Trong những điều kiện thuận lợi khiến Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài cũng như mở ra nhiều cơ hội ký kết các Hiệp định thương mại tự do phải kể đến đó là việc Việt Nam sở hữu lực lượng lao động dồi dào và chăm chỉ, cạnh tranh về mức lương.
Giai đoạn “dân số vàng” mà Việt Nam đang hưởng lợi (giai đoạn mà số người trong độ tuổi lao động gấp hai lần số người phụ thuộc) sẽ còn tiếp diễn thêm khoảng 15 đến 20 năm nữa.
Như vậy, Việt Nam đã đi được hơn một nửa chặng đường của giai đoạn hiếm có trong lịch sử này, khi mức dân số đạt trạng thái cao nhất và tốt nhất, trước khi rơi vào quỹ đạo suy giảm.
Đặc biệt những gánh nặng về ngân sách, tài chính, y tế và sức khỏe có thể đẩy lùi kịch bản tăng trưởng cao, khiến Việt Nam có thể rơi vào một trong hai cái bẫy được dự báo trước: “bẫy thu nhập trung bình” hoặc “sự trì trệ kéo dài”.
Vậy, trong hai thập niên vừa qua, vai trò của năng suất lao động (NSLĐ) và hiệu quả sử dụng vốn - theo cách tiếp cận của lĩnh vực Kinh tế học phát triển - đã thể hiện như thế nào?
Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới (2020), hệ số ICOR (chỉ tiêu đo lường hiệu quả đầu tư) của Việt Nam đã tăng từ 2 tại đầu những năm 1990 lên đến mức đỉnh điểm là 5,9 trong năm 2009. Hệ số ICOR đã giảm một chút kể từ năm 2009 nhưng vẫn cao hơn nhiều (và hiệu quả đầu tư thấp hơn nhiều) so với những năm 1990.
Trong cuốn sách Học cách Công nghiệp hóa (Learning to Industrialize, 2013), được xuất bản ra tiếng Việt gần đây, của GS. Kenichi Ohno (GRIPS, Nhật Bản), tác giả phân tích hệ số ICOR và sự thay đổi của tốc độ tăng năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) của Việt Nam trong giai đoạn 1990-2009. Ông chỉ ra một thực tế trong giai đoạn này là: Việt Nam đã dựa vào mô hình tăng trưởng lấy đầu tư làm động lực, nhưng hiệu quả sử dụng vốn còn thấp.
Từ đầu thập niên 2000, khi chứng kiến những động lực mới đến từ làn sóng toàn cầu hóa và thương mại hóa sẽ thúc đẩy nền kinh tế của Việt Nam, giới nghiên cứu kinh tế và chính sách trong và ngoài nước cũng đồng thời cảnh báo về việc Việt Nam có thể đánh mất sức cạnh tranh nội tại từ các doanh nghiệp sản xuất trong nước.
Sản xuất và xuất khẩu của Việt Nam đã phụ thuộc phần lớn vào các doanh nghiệp nước ngoài, trong khi các chính sách và thể chế của Việt Nam còn yếu so với các nước Đông Á khi so sánh trong cùng thời kỳ (Ohno, K., 2013).
“HÀNH LANG HẸP”Ngân hàng Thế giới (2010) cũng đã nghiên cứu khả năng Việt Nam rơi vào bẫy thu nhập trung bình và đề xuất giải pháp gồm sáu bước do GS.Justin Yifu Lin, kinh tế trưởng của Ngân hàng Thế giới, xây dựng. Kể từ khi được Ngân hàng Thế giới khởi xướng từ giữa những năm 1990, thuật ngữ “bẫy thu nhập trung bình (middle-income trap)” đã dần xuất hiện ngày càng nhiều trên các kênh thông tin chính thống từ năm 2011. Số liệu cho thấy, các quốc gia thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình là rất ít.
Tại Hội thảo Khoa học quốc gia về kinh tế, tổ chức tại Đại học Kinh tế quốc dân (tháng 4/2025), TS. Vũ Thành Tự Anh (Trường Đại học Fulbright Việt Nam) đã thảo luận về các kịch bản mà Việt Nam có thể đạt được nhằm vượt qua “bẫy thu nhập trung bình”.
Ông nhấn mạnh đến vai trò của Nhà nước là đặc biệt quan trọng, mà trong lịch sử đã chứng minh, giúp một số quốc gia bước vào “Hành lang hẹp” - một thuật ngữ từ cuốn sách cùng tên viết bởi hai tác giả đạt giải Nobel Kinh tế năm 2024 là Daron Acemoglu (Viện Công nghệ Massachusetts, Hoa Kỳ) và James Robinson (Đại học Chicago, Hoa Kỳ).
Kết quả phân tích cho thấy những quốc gia đạt được hai chỉ số “Năng lực của nhà nước” và “Sự tham gia làm chủ của người dân” càng cao sẽ càng tịnh tiến về cánh cửa của “Hành lang hẹp” – khu vực mà các quốc gia trở nên thịnh vượng cả về kinh tế và xã hội (Hình 2). Hầu hết các quốc gia này có mức thu nhập bình quân đầu người ngưỡng 20.000 USD/ năm trở lên.
TS. Vũ Thành Tự Anh cũng cho thấy một bức tranh tương phản khác giữa hai đại diện đến từ các nền kinh tế Đông Bắc Á (Hàn Quốc và Đài Loan) và Đông Nam Á (Thái Lan và Malaysia), mà điều thú vị là Việt Nam lại nằm trên giao điểm của hai khu vực trên về mặt địa lý.
Hàn Quốc và Đài Loan (Trung Quốc) đã di chuyển về phía “hành lang hẹp” từ những thập niên 1990s sau quá trình công nghiệp hóa thành công. Trong khi Malaysia và Thái Lan vẫn còn đang loay hoay trong suốt nhiều năm để tìm cơ hội bứt phá.
Sự so sánh trên thật thú vị và đã đặt Việt Nam - một quốc gia đi sau so với các quốc gia và vùng lãnh thổ kể trên – ở vào giai đoạn mới trong việc lựa chọn mô hình tăng trưởng thực sự hiệu quả.
Một câu hỏi lớn cũng cần đặt ra, đó là: Việt Nam nên học theo các nước Đông Bắc Á hay Đông Nam Á? Quỹ đạo dẫn tới “Hành lang hẹp” nêu trên cho thấy con đường mà các nền kinh tế Đông Bắc Á (như Hàn Quốc và Đài Loan) đã đi tỏ ra hấp dẫn hơn.
CHÌA KHÓA NĂNG SUẤT LAO ĐỘNGBáo của của Ngân hàng Thế giới (2020) cũng cho thấy, trước hết Việt Nam cần tăng năng suất lao động để duy trì tăng trưởng dài hạn. Số liệu chứng minh rằng Việt Nam vẫn còn nhiều khả năng để bắt kịp tốc độ tăng trưởng.
Tăng trưởng năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) của Việt Nam đã bị chậm lại và Việt Nam còn rất xa mới chạm đường giới hạn năng suất toàn cầu. Trong năm 2014, TFP của Việt Nam chỉ bằng 1/5 so với Hoa Kỳ và còn thua xa nhiều quốc gia có thu nhập trung bình khác ở Đông Á. Điều này cũng cho thấy Việt Nam còn rất nhiều tiềm năng để phát triển.
Báo cáo Phát triển Thế giới 2024 của Ngân hàng Thế giới cũng phân tích một cách hệ thống các chiến lược mà các nền kinh tế đang phát triển có thể theo đuổi nhằm tránh rơi vào bẫy thu nhập trung bình.
Báo cáo xác định ba giai đoạn phát triển chủ yếu trong tiến trình chuyển dịch từ nền kinh tế thu nhập thấp lên thu nhập cao, bao gồm: Đầu tư, Tiếp thu và Đổi mới.
Ở giai đoạn đầu, các quốc gia có thu nhập thấp có thể đạt được tốc độ tăng trưởng cao chủ yếu thông qua tích lũy vốn (Giai đoạn 1: Đầu tư).
Tuy nhiên, do hiệu suất biên của vốn có xu hướng suy giảm theo thời gian, mô hình tăng trưởng dựa đơn thuần vào tích lũy vốn sớm bộc lộ những giới hạn. Khi đạt tới mức thu nhập trung bình, để duy trì đà tăng trưởng, các quốc gia buộc phải chuyển trọng tâm sang nâng cao năng suất.
Đối với những nền kinh tế còn ở xa ranh giới công nghệ và kinh tế, con đường hiệu quả nhất để cải thiện năng suất là tiếp thu và ứng dụng các công nghệ sẵn có từ các quốc gia phát triển hơn (Giai đoạn 2: bổ sung yếu tố Tiếp thu vào Đầu tư)...
(*) Đại học VinUni, Thành viên Mạng lưới Kinh tế chính sách, tổ chức khoa học và chuyên gia Việt Nam toàn cầu (AVSE Global)
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 05-2026 phát hành ngày 02/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-5-2026.html
-ThS. Lê Minh Phượng (*)
Để Việt Nam hóa rồng: “Hành lang hẹp” và chìa khóa từ tăng năng suất lao động
Bức tranh kinh tế vĩ mô của Việt Nam trong bốn thập niên vừa qua cho thấy Việt Nam đã đạt được sự tăng trưởng đầy ấn tượng (6,38% giai đoạn 1986-2024).
Trong những điều kiện thuận lợi khiến Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài cũng như mở ra nhiều cơ hội ký kết các Hiệp định thương mại tự do phải kể đến đó là việc Việt Nam sở hữu lực lượng lao động dồi dào và chăm chỉ, cạnh tranh về mức lương.
Giai đoạn “dân số vàng” mà Việt Nam đang hưởng lợi (giai đoạn mà số người trong độ tuổi lao động gấp hai lần số người phụ thuộc) sẽ còn tiếp diễn thêm khoảng 15 đến 20 năm nữa.
Như vậy, Việt Nam đã đi được hơn một nửa chặng đường của giai đoạn hiếm có trong lịch sử này, khi mức dân số đạt trạng thái cao nhất và tốt nhất, trước khi rơi vào quỹ đạo suy giảm.
Đặc biệt những gánh nặng về ngân sách, tài chính, y tế và sức khỏe có thể đẩy lùi kịch bản tăng trưởng cao, khiến Việt Nam có thể rơi vào một trong hai cái bẫy được dự báo trước: “bẫy thu nhập trung bình” hoặc “sự trì trệ kéo dài”.
Vậy, trong hai thập niên vừa qua, vai trò của năng suất lao động (NSLĐ) và hiệu quả sử dụng vốn - theo cách tiếp cận của lĩnh vực Kinh tế học phát triển - đã thể hiện như thế nào?
Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới (2020), hệ số ICOR (chỉ tiêu đo lường hiệu quả đầu tư) của Việt Nam đã tăng từ 2 tại đầu những năm 1990 lên đến mức đỉnh điểm là 5,9 trong năm 2009. Hệ số ICOR đã giảm một chút kể từ năm 2009 nhưng vẫn cao hơn nhiều (và hiệu quả đầu tư thấp hơn nhiều) so với những năm 1990.
Trong cuốn sách Học cách Công nghiệp hóa (Learning to Industrialize, 2013), được xuất bản ra tiếng Việt gần đây, của GS. Kenichi Ohno (GRIPS, Nhật Bản), tác giả phân tích hệ số ICOR và sự thay đổi của tốc độ tăng năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) của Việt Nam trong giai đoạn 1990-2009. Ông chỉ ra một thực tế trong giai đoạn này là: Việt Nam đã dựa vào mô hình tăng trưởng lấy đầu tư làm động lực, nhưng hiệu quả sử dụng vốn còn thấp.
Từ đầu thập niên 2000, khi chứng kiến những động lực mới đến từ làn sóng toàn cầu hóa và thương mại hóa sẽ thúc đẩy nền kinh tế của Việt Nam, giới nghiên cứu kinh tế và chính sách trong và ngoài nước cũng đồng thời cảnh báo về việc Việt Nam có thể đánh mất sức cạnh tranh nội tại từ các doanh nghiệp sản xuất trong nước.
Sản xuất và xuất khẩu của Việt Nam đã phụ thuộc phần lớn vào các doanh nghiệp nước ngoài, trong khi các chính sách và thể chế của Việt Nam còn yếu so với các nước Đông Á khi so sánh trong cùng thời kỳ (Ohno, K., 2013).
“HÀNH LANG HẸP”Ngân hàng Thế giới (2010) cũng đã nghiên cứu khả năng Việt Nam rơi vào bẫy thu nhập trung bình và đề xuất giải pháp gồm sáu bước do GS.Justin Yifu Lin, kinh tế trưởng của Ngân hàng Thế giới, xây dựng. Kể từ khi được Ngân hàng Thế giới khởi xướng từ giữa những năm 1990, thuật ngữ “bẫy thu nhập trung bình (middle-income trap)” đã dần xuất hiện ngày càng nhiều trên các kênh thông tin chính thống từ năm 2011. Số liệu cho thấy, các quốc gia thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình là rất ít.
Tại Hội thảo Khoa học quốc gia về kinh tế, tổ chức tại Đại học Kinh tế quốc dân (tháng 4/2025), TS. Vũ Thành Tự Anh (Trường Đại học Fulbright Việt Nam) đã thảo luận về các kịch bản mà Việt Nam có thể đạt được nhằm vượt qua “bẫy thu nhập trung bình”.
Ông nhấn mạnh đến vai trò của Nhà nước là đặc biệt quan trọng, mà trong lịch sử đã chứng minh, giúp một số quốc gia bước vào “Hành lang hẹp” - một thuật ngữ từ cuốn sách cùng tên viết bởi hai tác giả đạt giải Nobel Kinh tế năm 2024 là Daron Acemoglu (Viện Công nghệ Massachusetts, Hoa Kỳ) và James Robinson (Đại học Chicago, Hoa Kỳ).
Kết quả phân tích cho thấy những quốc gia đạt được hai chỉ số “Năng lực của nhà nước” và “Sự tham gia làm chủ của người dân” càng cao sẽ càng tịnh tiến về cánh cửa của “Hành lang hẹp” – khu vực mà các quốc gia trở nên thịnh vượng cả về kinh tế và xã hội (Hình 2). Hầu hết các quốc gia này có mức thu nhập bình quân đầu người ngưỡng 20.000 USD/ năm trở lên.
TS. Vũ Thành Tự Anh cũng cho thấy một bức tranh tương phản khác giữa hai đại diện đến từ các nền kinh tế Đông Bắc Á (Hàn Quốc và Đài Loan) và Đông Nam Á (Thái Lan và Malaysia), mà điều thú vị là Việt Nam lại nằm trên giao điểm của hai khu vực trên về mặt địa lý.
Hàn Quốc và Đài Loan (Trung Quốc) đã di chuyển về phía “hành lang hẹp” từ những thập niên 1990s sau quá trình công nghiệp hóa thành công. Trong khi Malaysia và Thái Lan vẫn còn đang loay hoay trong suốt nhiều năm để tìm cơ hội bứt phá.
Sự so sánh trên thật thú vị và đã đặt Việt Nam - một quốc gia đi sau so với các quốc gia và vùng lãnh thổ kể trên – ở vào giai đoạn mới trong việc lựa chọn mô hình tăng trưởng thực sự hiệu quả.
Một câu hỏi lớn cũng cần đặt ra, đó là: Việt Nam nên học theo các nước Đông Bắc Á hay Đông Nam Á? Quỹ đạo dẫn tới “Hành lang hẹp” nêu trên cho thấy con đường mà các nền kinh tế Đông Bắc Á (như Hàn Quốc và Đài Loan) đã đi tỏ ra hấp dẫn hơn.
CHÌA KHÓA NĂNG SUẤT LAO ĐỘNGBáo của của Ngân hàng Thế giới (2020) cũng cho thấy, trước hết Việt Nam cần tăng năng suất lao động để duy trì tăng trưởng dài hạn. Số liệu chứng minh rằng Việt Nam vẫn còn nhiều khả năng để bắt kịp tốc độ tăng trưởng.
Tăng trưởng năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) của Việt Nam đã bị chậm lại và Việt Nam còn rất xa mới chạm đường giới hạn năng suất toàn cầu. Trong năm 2014, TFP của Việt Nam chỉ bằng 1/5 so với Hoa Kỳ và còn thua xa nhiều quốc gia có thu nhập trung bình khác ở Đông Á. Điều này cũng cho thấy Việt Nam còn rất nhiều tiềm năng để phát triển.
Báo cáo Phát triển Thế giới 2024 của Ngân hàng Thế giới cũng phân tích một cách hệ thống các chiến lược mà các nền kinh tế đang phát triển có thể theo đuổi nhằm tránh rơi vào bẫy thu nhập trung bình.
Báo cáo xác định ba giai đoạn phát triển chủ yếu trong tiến trình chuyển dịch từ nền kinh tế thu nhập thấp lên thu nhập cao, bao gồm: Đầu tư, Tiếp thu và Đổi mới.
Ở giai đoạn đầu, các quốc gia có thu nhập thấp có thể đạt được tốc độ tăng trưởng cao chủ yếu thông qua tích lũy vốn (Giai đoạn 1: Đầu tư).
Tuy nhiên, do hiệu suất biên của vốn có xu hướng suy giảm theo thời gian, mô hình tăng trưởng dựa đơn thuần vào tích lũy vốn sớm bộc lộ những giới hạn. Khi đạt tới mức thu nhập trung bình, để duy trì đà tăng trưởng, các quốc gia buộc phải chuyển trọng tâm sang nâng cao năng suất.
Đối với những nền kinh tế còn ở xa ranh giới công nghệ và kinh tế, con đường hiệu quả nhất để cải thiện năng suất là tiếp thu và ứng dụng các công nghệ sẵn có từ các quốc gia phát triển hơn (Giai đoạn 2: bổ sung yếu tố Tiếp thu vào Đầu tư)...
(*) Đại học VinUni, Thành viên Mạng lưới Kinh tế chính sách, tổ chức khoa học và chuyên gia Việt Nam toàn cầu (AVSE Global)
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 05-2026 phát hành ngày 02/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-5-2026.html
-ThS. Lê Minh Phượng (*)
OpenAI khai tử loạt mô hình cũ, trong đó có GPT-4o
Từ khoảng 00 giờ ngày 14/2 (giờ Việt Nam), mô hình GPT-4o đã không còn khả dụng. Cùng với với việc đưa quảng cáo vào các gói miễn phí và Go, quyết định này càng khiến nhiều người dùng bày tỏ không mấy hài lòng đối với nhà phát triển OpenAI.
Trước đó, vào đầu tháng 2, công ty đã thông báo kế hoạch loại bỏ GPT-5, GPT-4o, GPT-4.1, GPT-4.1 mini và o4-mini.
Thông thường, việc ngừng hỗ trợ các mô hình AI cũ hiếm khi trở thành chủ đề gây chú ý lớn. Tuy nhiên, GPT-4o lại là trường hợp đặc biệt.
Trên các diễn đàn như Reddit, không ít người bày tỏ sự tiếc nuối khi “trợ lý quen thuộc” biến mất. Theo phản ánh của Mashable, sự thay đổi này đặc biệt ảnh hưởng tới những người đã hình thành thói quen tương tác thường xuyên với chatbot.
Đây cũng không phải lần đầu OpenAI tính đến việc dừng GPT-4o. Khi OpenAI ra mắt GPT-5 vào năm trước, mô hình này từng bị đưa khỏi danh sách tùy chọn, gây ra làn sóng phản ứng mạnh từ cộng đồng.
Nhiều người dùng khi đó cho rằng phiên bản mới thiếu sự tự nhiên và thân thiện như GPT-4o. Trước áp lực từ người dùng, OpenAI đã khôi phục mô hình này chỉ sau vài ngày.
Một số chuyên gia cũng từng bày tỏ lo ngại về mức độ “thân thiện quá mức” của các mô hình AI, trong đó có GPT-4o. Hiện tượng này được gọi là “tâng bốc AI”, khi chatbot trở nên quá đồng thuận, dễ chiều theo quan điểm người dùng, thậm chí có nguy cơ củng cố những suy nghĩ sai lệch hoặc rủi ro.
Theo một số nhà quan sát, đây có thể là lý do OpenAI đã đăng tải một bài blog dài giải thích lý do loại bỏ các mô hình cũ. “Chúng tôi hiểu rằng việc mất quyền truy cập vào GPT-4o sẽ khiến một số người dùng thất vọng và đây không phải là quyết định dễ dàng. Tuy nhiên, việc ngừng hỗ trợ các mô hình cũ cho phép chúng tôi tập trung nguồn lực vào việc phát triển những mô hình mà phần lớn người dùng đang sử dụng hiện nay”, công ty cho biết.
Theo OpenAI, chỉ khoảng 0,1% người dùng thường xuyên sử dụng GPT-4o cho các tác vụ chính. Con số này tương đương khoảng 800.000 người, dựa trên thống kê gần nhất về 800 triệu người dùng hoạt động hàng tuần được công bố trong báo cáo doanh nghiệp năm 2025. Sau khi các mô hình cũ bị loại bỏ, người dùng sẽ được chuyển sang các phiên bản mới hơn như GPT-5.1 và GPT-5.2.
Trong bối cảnh AI liên tục thay đổi, việc các mô hình quen thuộc bị thay thế là điều khó tránh. Tuy nhiên, phản ứng mạnh mẽ từ cộng đồng cho thấy mối quan hệ giữa người dùng và các công cụ AI ngày càng chặt chẽ...
-Bạch Dương
Bộ Y tế hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh do virus Nipah
Bộ Y tế vừa ban hành tài liệu chuyên môn "Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh do virus Nipah", áp dụng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong cả nước.
Hướng dẫn nêu rõ, bệnh do virus Nipah là bệnh truyền nhiễm cấp tính lây truyền từ động vật sang người và có thể lây từ người sang người. Bệnh được xếp vào bệnh truyền nhiễm nhóm A, có tiềm năng gây đại dịch và nằm trong danh sách ưu tiên của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO).
Đường lây truyền của virus Nipah gồm tiếp xúc trực tiếp với động vật nhiễm bệnh hoặc chất tiết của chúng như nước tiểu, nước bọt; tiêu thụ thực phẩm bị nhiễm chất bài tiết của dơi như nhựa cây chà là, trái cây; và lây từ người sang người qua dịch tiết hô hấp, nước tiểu hoặc chất nôn.
Virus lan truyền qua giọt bắn khi người bệnh ho hoặc hắt hơi. Người bệnh có triệu chứng hô hấp có nguy cơ lây truyền cao hơn so với người chỉ có triệu chứng viêm não.
Về biểu hiện lâm sàng, hướng dẫn của Bộ Y tế nêu rõ, tthời gian ủ bệnh của bệnh do virus Nipah dao động từ 3-14 ngày, có thể đến 45 ngày (hiếm gặp).
Bệnh khởi phát đột ngột với các triệu chứng như sốt cao, đau đầu nhiều, đau mỏi cơ, đau họng, nôn và tiêu chảy. Giai đoạn toàn phát có thể xuất hiện biểu hiện thần kinh như chóng mặt, lơ mơ, lú lẫn, mất định hướng; giảm ý thức có thể tiến triển nhanh từ lơ mơ sang hôn mê sâu trong vòng 24-48 giờ.
Các triệu chứng khác có thể gặp gồm co giật, yếu chi, liệt mềm, liệt vận nhãn. Bệnh cũng có thể gây biểu hiện hô hấp như ho, khó thở và suy hô hấp tiến triển nhanh.
Ở giai đoạn nặng, người bệnh có thể suy đa tạng, suy thận, suy tim, xuất huyết tiêu hóa và nhiễm trùng huyết. Một số trường hợp sống sót có thể bị viêm não tái phát sau nhiều tháng hoặc nhiều năm. Khoảng 20% người sống sót để lại di chứng thần kinh lâu dài như mệt mỏi dai dẳng, thay đổi tính cách, trầm cảm và dấu hiệu thần kinh khu trú.
Về xét nghiệm chẩn đoán, hướng dẫn của Bộ Y tế yêu cầu tuân thủ quy định lấy mẫu, bảo quản, đóng gói và vận chuyển mẫu theo hướng dẫn giám sát và phòng, chống bệnh do Bộ Y tế ban hành.
Các xét nghiệm gồm phát hiện RNA của virus bằng Real-time RT-PCR hoặc giải trình tự gen, mẫu bệnh phẩm có thể là dịch tiết đường hô hấp, nước tiểu, máu và dịch não tủy. Xét nghiệm huyết thanh học ELISA được sử dụng để phát hiện kháng thể trong máu hoặc dịch não tủy.
Ca bệnh nghi ngờ được xác định là người có yếu tố dịch tễ như trở về từ vùng dịch lưu hành hoặc tiếp xúc với dịch tiết của ca bệnh xác định trong vòng 14 ngày và có triệu chứng lâm sàng nghi ngờ; hoặc xét nghiệm huyết thanh học dương tính.
Ca bệnh xác định là người có bằng chứng xét nghiệm xác nhận nhiễm virus Nipah thông qua phát hiện RNA của virus. Hướng dẫn nhấn mạnh nguyên tắc chung trong điều trị là cách ly và kiểm soát nhiễm khuẩn. Do chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, điều trị hỗ trợ tích cực và điều trị triệu chứng là chính.
Tất cả ca bệnh nghi ngờ hoặc xác định phải nhập viện và cách ly ngay tại phòng cách ly riêng biệt hoặc khu vực chuyên biệt; không cho phép người nhà hoặc người không có nhiệm vụ vào thăm người bệnh trong khu vực cách ly.
Trong điều trị triệu chứng, hướng dẫn nêu rõ việc sử dụng paracetamol để hạ sốt và chống chỉ định NSAID do nguy cơ biến chứng chảy máu hoặc hội chứng Reye.
Người bệnh được hỗ trợ điều trị các cơ quan tổn thương, hỗ trợ hô hấp tùy tình trạng; chống co giật bằng các thuốc theo khuyến cáo; kiểm soát tăng áp lực nội sọ; đặt nội khí quản bảo vệ đường thở và thở máy trong trường hợp hôn mê sâu.
Kháng sinh chỉ sử dụng khi có bằng chứng nhiễm khuẩn thứ phát. Việc cân bằng dịch và điện giải được yêu cầu duy trì thông qua đường uống hoặc truyền tĩnh mạch. Các thuốc kháng virus hiện đang nghiên cứu và chưa có khuyến cáo chuẩn.
Theo Bộ Y tế, hiện chưa có vaccine phòng bệnh do virus Nipah. Các biện pháp phòng bệnh chủ yếu dựa vào ngăn chặn đường lây truyền theo quy định của Bộ Y tế.
-Nhật Dương
Bổ sung chính sách hỗ trợ sinh đủ hai con
Phó Thủ tướng Lê Thành Long đã ký Quyết định số 291/QĐ-TTg phê duyệt “Chương trình Bảo đảm mức sinh thay thế trên toàn quốc đến năm 2030”.
Mục tiêu của chương trình là tăng tỷ lệ sinh để đạt và duy trì mức sinh thay thế trên toàn quốc đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực, góp phần thực hiện thành công Chiến lược Dân số Việt Nam đến năm 2030, bảo đảm phát triển nhanh, bền vững đất nước.
Chương trình phấn đấu đến năm 2030, tăng trung bình 2% tổng tỷ suất sinh trên toàn quốc mỗi năm. Trên 95% các cặp vợ chồng, nam, nữ trong độ tuổi sinh đẻ được cung cấp thông tin về kết hôn, sinh con để đạt và duy trì mức sinh thay thế trên toàn quốc. 100% tỉnh, thành phố thực hiện các chính sách hỗ trợ các cặp vợ chồng, cá nhân sinh con, nuôi con.
Để đạt được các mục tiêu trên, Chương trình đưa ra các giải pháp cụ thể như: Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy, chính quyền; đẩy mạnh tuyên truyền, vận động thay đổi hành vi; điều chỉnh, hoàn thiện các chính sách hỗ trợ, khuyến khích; mở rộng tiếp cận các dịch vụ sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình và các dịch vụ có liên quan...
Chương trình quán triệt sâu sắc hơn nữa việc chuyển hướng trọng tâm chính sách dân số sang dân số và phát triển, điều chỉnh mức sinh sang đạt và duy trì mức sinh thay thế trên toàn quốc. Thống nhất nhận thức trong lãnh đạo và chỉ đạo việc vận động, khuyến khích, hỗ trợ để cặp vợ chồng, cá nhân sinh con, nuôi dạy con tốt, xây dựng gia đình tiến bộ, hạnh phúc.
Cùng với đó, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo gia tăng tỷ lệ sinh, chú trọng ở địa phương có mức sinh dưới mức sinh thay thế để đạt và duy trì mức sinh thay thế trên toàn quốc, điều kiện quan trọng nhất bảo đảm nguồn nhân lực, là tiền đề cơ bản nhất để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, dân tộc trường tồn.
Các hoạt động tuyên truyền, vận động cũng được đẩy mạnh, với hình thức đa dạng, phong phú, sinh động, hấp dẫn và thuyết phục. Nâng cao hiệu quả của truyền thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, chú trọng việc sử dụng các phương tiện truyền thông đa phương tiện, internet và mạng xã hội.
Cùng với đó, Chương trình thực hiện rà soát, đề xuất sửa đổi các quy định không phù hợp với mục tiêu đạt và duy trì vững chắc mức sinh thay thế, đặc biệt là các quy định xử lý vi phạm chính sách dân số hiện hành.
Cụ thể, đề xuất ban hành quy định về việc đề cao tính tiên phong, gương mẫu của mỗi cán bộ, đảng viên trong việc sinh con, nuôi dạy con tốt, xây dựng gia đình tiến bộ, hạnh phúc để đạt và duy trì mức sinh thay thế.
Căn cứ điều kiện kinh tế - xã hội và khả năng cân đối ngân sách nhà nước, các tỉnh, thành phố có chính sách hỗ trợ cặp vợ chồng, cá nhân sinh con, nuôi con nhằm đạt và duy trì mức sinh thay thế bền vững; ưu tiên đối với tỉnh, thành phố có mức sinh dưới mức sinh thay thế, dân tộc thiểu số rất ít người.
Bổ sung các chính sách hỗ trợ, khuyến khích các cặp vợ chồng sinh con, sinh đủ hai con, phụ nữ sinh đủ hai con trước 35 tuổi trên cơ sở phân tích, đánh giá tác động của các chính sách về lao động, việc làm, nhà ở, phúc lợi xã hội, giáo dục, y tế;... đến việc sinh ít con; xây dựng, triển khai các mô hình can thiệp thích hợp.
Việc tiếp cận các dịch vụ sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình và các dịch vụ có liên quan cũng được mở rộng bằng cách: Phổ cập dịch vụ kế hoạch hoá gia đình, chăm sóc sức khỏe sinh sản tới mọi người dân đảm bảo công bằng, bình đẳng trong tiếp cận, sử dụng dịch vụ, không phân biệt giới, người đã kết hôn, người chưa kết hôn để mỗi cá nhân, cặp vợ chồng chủ động, tự nguyện quyết định số con, thời gian sinh con và khoảng cách giữa các lần sinh nhằm nâng cao chất lượng dân số...
Đối với địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo: Tổ chức các loại hình cung cấp dịch vụ phù hợp; tư vấn, kiểm tra sức khỏe, phát hiện sớm, phòng, tránh các yếu tố nguy cơ dẫn đến sinh con dị tật, mắc các bệnh, tật ảnh hưởng đến việc nâng cao chất lượng dân số...
-Phúc Minh
Người bán hoa Tết như "ngồi trên đống lửa" vì vắng khách
Tại các vườn lan dọc theo sân vận động Mỹ Đình, phường Từ Liêm, Hà Nội, trong các ngày 13,14/2, theo ghi nhận của VnEconomy, lượng khách đến xem, chốt đơn vẫn rất thưa vắng.
Năm nay, các địa phương cũng như chính quyền địa phương thành phố Hà Nội đã quản lý rất chặt chẽ các điểm bán hoa tự phát, ngăn tình trạng hoa Tết tràn ra vỉa hè, lòng đường nên người dân nếu có nhu cầu mua hoa sẽ buộc phải tới các địa điểm cố định. Tuy nhiên, tại các điểm bán này không khí mua sắm vẫn khá trầm lắng.
Chiều 26 Tết, dù thời tiết rất đẹp, nắng nhẹ, trời không quá rét nhưng khu vực bán hóa trên đường Lê Quang Đạo, đoạn qua sân vận động Mỹ Đình có rất ít khách hàng. Những chậu lan khá to, đẹp nhưng do vắng khách nên người bán đã quyết định giảm giá xuống còn 300.000đ/chậu. Tương tự là hoa mai dù đã "bung lụa" nhưng chưa có nhiều người chọn mua, nên chủ vườn đã quyết định "sale off" 50%. Với lượng hoa mai, cúc còn khá nhiều như hiện tại, người bán hoa cho biết đang rất sốt ruột, nếu không tiêu thụ hết sẽ rất "gay go" vì cả năm chỉ trông cả vào việc bán hoa mấy này cận Tết. Chờ khách "mỏi mòn" là tình cảnh của nhiều chủ điểm bán hoa mai. Chủ vườn mai này cho biết, dù đã giảm giá khá sát nhưng nhiều khách vẫn mặc cả đòi giảm thêm nên chị không muốn bán, vì không còn lãi. Cũng trong tình trạng "hóng khách" chủ vườn quất này đã treo biển xả hàng, nhưng vẫn khó kéo người mua tới xem và "chốt đơn". Người bán hoa tranh thủ lướt facbook, tiktok trong khi chờ khách. 27 Tết, số lượng cây quất cảnh vẫn còn tương đối nhiều khiến người bán hàng này lo lắng. Hoa nhiều, khách ít là tình cảnh chung khiến không ít những người bán cảm thấy sốt ruột. "May mắn là từ nay đến chiều 29 Tết theo dự báo trời không có mưa, chứ nếu không chợ hoa sẽ càng thêm vắng khách", bà Tuyết, chủ vườn hoa này cho biết. Những cành đào đã bung nở nhưng vẫn chưa có người mua. Năm nay không chỉ tại các điểm bán hoa có không khí trầm lắng, tại một số hội chợ Xuân, tình trạng nhân viên đông hơn khách cũng diễn ra khá phổ biến. Tại hội chợ Xuân trong khu vực trường đua F1, Mỹ Đình, chiều 26 Tết gần như không có 1 bóng khách.-Song Hoàng
Giao dịch tiền điện tử liên quan mạng lưới buôn người tăng mạnh 85%
Công ty phân tích blockchain Chainalysis cho biết, dù việc sử dụng tiền điện tử trong các mạng lưới buôn người đang gia tăng nhanh chóng, tính minh bạch của công nghệ blockchain vẫn có thể giúp cơ quan chức năng theo dõi dòng tiền và hỗ trợ công tác thực thi pháp luật.
Theo báo cáo mới công bố, dòng tiền điện tử phục vụ các giao dịch bị nghi liên quan đến mạng lưới buôn người trong năm 2025 được cho là đã tăng tới 85% so với cùng kỳ năm trước. Tổng khối lượng giao dịch chuyển đến các tổ chức này, phần lớn hoạt động tại khu vực Đông Nam Á, đã đạt quy mô hàng trăm triệu USD thông qua những giao dịch đã được cơ quan phân tích nhận diện.
Báo cáo cho biết nhiều dịch vụ có mối liên hệ chặt chẽ với các tổ hợp lừa đảo trực tuyến, sòng bạc trên mạng và những mạng lưới rửa tiền sử dụng tiếng Trung. Trong đó, các hoạt động buôn người có sử dụng tiền điện tử mà đơn vị này theo dõi bao gồm các dịch vụ hoạt động trên nền tảng nhắn tin Telegram để môi giới dịch vụ hộ tống quốc tế; các nhóm tuyển dụng lao động trái phép, dụ dỗ và đưa người vào những khu phức hợp lừa đảo; cùng với các mạng lưới mại dâm và các đường dây phát tán tài liệu bóc lột trẻ em.
Các hoạt động này gần như chỉ sử dụng stablecoin để thực hiện giao dịch, cho thấy mức độ thích nghi nhanh chóng của các nhóm tội phạm với những công cụ tài chính mới.
Dù vậy, báo cáo nhấn mạnh rằng blockchain vẫn có thể trở thành công cụ hỗ trợ đắc lực cho lực lượng chức năng. Nhờ khả năng truy vết dòng tiền và nhận diện các mẫu giao dịch bất thường, cơ quan thực thi pháp luật có thể theo dõi hoạt động, đánh giá mức độ tuân thủ, đồng thời nhắm vào những điểm nghẽn chiến lược như các sàn giao dịch hoặc chợ trực tuyến bất hợp pháp.
“Khác với giao dịch tiền mặt thường khó lần dấu vết, tính minh bạch của blockchain cho phép theo dõi các hoạt động này ở mức độ chưa từng có, qua đó mở ra cơ hội phát hiện và ngăn chặn hiệu quả hơn so với các phương thức thanh toán truyền thống”, báo cáo cho biết.
Theo Chainalysis, trong năm qua, cơ quan thực thi pháp luật tại nhiều quốc gia đã đạt được một số kết quả đáng chú ý trong việc triệt phá các đường dây buôn người. Chẳng hạn Đức đã gỡ bỏ một nền tảng bóc lột trẻ em, trong đó phân tích dữ liệu blockchain đóng vai trò quan trọng trong quá trình điều tra và xử lý.
-Hạ Chi
Nghiên cứu cơ chế tài chính xanh hỗ trợ các đô thị dễ bị tổn thương
Ngày 13/2/2026, Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà ký Chỉ thị số 04/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh triển khai Đề án phát triển các đô thị Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021- 2030.
Thời gian qua, các Bộ, ngành, UBND các tỉnh, thành phố và cơ quan liên quan đã thực hiện nghiêm túc Đề án 438/QĐ-TTg về phát triển đô thị ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021-2030. Nhiều giải pháp thiết thực đã được triển khai, tạo chuyển biến rõ nét và đạt kết quả quan trọng, góp phần thúc đẩy phát triển đô thị xanh, thông minh và phát triển kinh tế - xã hội.
Tuy nhiên, công tác phát triển đô thị ứng phó với biến đổi khí hậu vẫn còn nhiều tồn tại, bất cập: việc xây dựng hệ thống bản đồ cảnh báo rủi ro đô thị (Atlats Đô thị và Khí hậu) còn gặp khó khăn về xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu; các tài liệu hướng dẫn các giải pháp kỹ thuật chủ yếu tập trung vào ứng phó với biến đổi khí hậu, còn thiếu các giải pháp tập trung vào giảm nhẹ phát thải khí nhà kính trong đô thị; nguồn lực để triển khai các nhiệm vụ còn hạn chế…
HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ TĂNG TRƯỞNG XANHĐể tăng cường chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, Thủ tướng Chính phủ chỉ thị Bộ Xây dựng theo quy định tại khoản 1 Điều 10 Nghị quyết số 190/2025/QH15 ngày 19/2/2025 của Quốc hội, giao Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành và địa phương tiếp tục, khẩn trương triển khai thực hiện các nhiệm vụ đã được giao tại Quyết định số 438/QĐ-TTg ngày 25/3/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án "Phát triển các đô thị Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021-2030" đảm bảo hiệu quả, thiết thực, đúng quy định của pháp luật.
Theo dõi, giám sát nội dung phát triển đô thị ứng phó với biến đổi khí hậu trong công tác quy hoạch, quản lý phát triển đô thị, bảo đảm tính minh bạch, thống nhất, loại bỏ các mâu thuẫn, chồng chéo, đáp ứng được yêu cầu phát triển của thực tiễn và hội nhập.
Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, các địa phương tiếp tục triển khai hoàn thiện, đồng bộ các cơ chế chính sách, quy định, quy phạm pháp luật về phát triển đô thị tăng trưởng xanh; phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị xanh, thông minh; xây dựng các quy chuẩn, tiêu chuẩn, định mức kinh tế kỹ thuật trong phát triển vật liệu xanh, công trình xanh, công trình sử dụng năng lượng hiệu quả.
Xây dựng các quy chuẩn, tiêu chuẩn, định mức kinh tế kỹ thuật trong phát triển vật liệu xanh, công trình xanh, công trình sử dụng năng lượng hiệu quả. Ảnh minh họaCùng với đó thực hiện có kế hoạch, hiệu quả các nhiệm vụ đã được giao tại các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số: 84/QĐ-TTg ngày 19/1/2018 về kế hoạch phát triển đô thị tăng trưởng xanh Việt Nam đến năm 2030; Quyết định 950/QĐ-TTg ngày 01/8/2018 về phát triển đô thị thông minh bền vững Việt Nam giai đoạn 2018- 2025 và định hướng đến năm 2030.
Tổ chức lập Quy hoạch tổng thể hệ thống đô thị và nông thôn đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2050 và các chương trình, dự án đầu tư nâng cấp đô thị, tăng trưởng xanh, thông minh, ứng phó với biến đổi khí hậu cho giai đoạn 2025- 2030 và các giai đoạn tiếp theo, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt làm cơ sở quản lý hiệu quả các nguồn lực của đô thị, hướng tới phát triển đô thị ổn định, bền vững.
Xây dựng các khung hướng dẫn; sửa đổi, bổ sung hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn cụ thể về đô thị tăng trưởng xanh, công trình xanh, công trình tiết kiệm năng lượng và quy định việc thực hiện bắt buộc đối với các công trình sử dụng vốn đầu tư công; hoàn thành trong năm 2026.
Đồng thời, Bộ Xây dựng tiếp tục chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành và địa phương đẩy mạnh trao đổi kinh nghiệm, kết nối mạng lưới, đối thoại chính sách về phát triển đô thị ứng phó với biến đổi khí hậu, đô thị tăng trưởng xanh, phát triển đô thị thông minh nhằm hướng đến phát triển hệ thống đô thị Việt Nam bền vững và bao trùm;
Theo dõi, đôn đốc và kiểm tra việc rà soát, điều chỉnh quy hoạch đô thị, chương trình phát triển đô thị, hạ tầng kỹ thuật đô thị tính toán giải pháp phát triển đô thị ứng phó với biến đổi khí hậu, đô thị phát thải carbon thấp, tăng trưởng xanh và thông minh.
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬUBộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương nghiên cứu báo cáo cấp có thẩm quyền xây dựng, bổ sung, hoàn thiện các quy định liên quan đến hướng dẫn cơ chế tài chính, phân bổ ngân sách cho các hoạt động thích ứng với biến đổi khí hậu trong đô thị; nghiên cứu cơ chế tài chính xanh hỗ trợ các đô thị dễ bị tổn thương.
Bộ này cũng được giao chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan và các địa phương tăng cường kiểm tra kế hoạch, chương trình, dự án và các nhiệm vụ quản lý nhà nước về đầu tư công, đảm bảo gắn kết giữa kế hoạch đầu tư công trung hạn và hàng năm với kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội, quy hoạch đô thị, các chương trình, dự án phát triển đô thị được phê duyệt.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường cung cấp thông tin, cập nhật kịch bản biến đổi khí hậu quốc gia, dữ liệu khí tượng thủy văn, bản đồ ngập lụt, nước biển dâng hỗ trợ công tác quản lý và phát triển đô thị; chủ trì, phối hợp các Bộ, ngành tăng cường hướng dẫn các địa phương quản lý sử dụng đất đô thị, đảm bảo phù hợp với quy hoạch, kế hoạch của địa phương đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
Chỉ thị yêu cầu UBND các tỉnh, thành phố khẩn trương rà soát, thống kê, chủ động thực hiện lập và quản lý bản đồ ngập úng đô thị theo kịch bản biến đổi khí hậu, bản đồ dự báo các khu vực có nguy cơ và mức độ, quy mô ngập lụt, sạt lở, lũ quét...; cập nhật thường xuyên các khu vực có nguy cơ cao bị ảnh hưởng thiên tai trong đô thị.Rà soát và xử lý các tồn tại trong công tác quy hoạch, đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị đảm bảo ứng phó với biến đổi khí hậu để đề ra các giải pháp thực hiện hoặc tổ chức điều chỉnh quy hoạch; rà soát chương trình, xây dựng cơ sở hạ tầng, quản lý vận hành hệ thống thoát nước đô thị, hạn chế tối đa phát sinh điểm ngập mới hoặc tái diễn kéo dài…
Tăng cường nghiên cứu ứng dụng các giải pháp kỹ thuật và công nghệ phù hợp với địa phương trong phát triển đô thị ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng trưởng xanh như: tăng diện tích hồ điều hòa, không gian trữ nước, vùng ngập tạm; phục hồi sông hồ, kênh rạch bị lấn chiếm và các giải pháp phù hợp khác.
Cân đối nguồn lực, xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn và hàng năm đảm bảo bố trí đủ nguồn vốn để đầu tư đồng bộ hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội trong đô thị. Thiết lập hệ thống theo dõi, giám sát quá trình phát triển đô thị theo các bộ chỉ tiêu về xây dựng đô thị tăng trưởng xanh, phát triển đô thị ứng phó với biến đổi khí hậu đảm bảo phù hợp với tình hình kinh tế xã hội.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các địa phương phải phân công rõ trách nhiệm giữa các cấp chính quyền, chủ đầu tư, đơn vị quản lý vận hành hệ thống hạ tầng kỹ thuật trong việc phòng, chống và khắc phục hậu quả ngập lụt, sạt lở; tăng cường tuyên truyền, phổ biến kiến thức, hướng dẫn cộng đồng nâng cao ý thức, kỹ năng ứng phó với các loại hình thiên tai.
-Tùng Dương
Ba thế kỷ đỏ nắng phên hương
Những ngày cuối năm, khi nhịp sống ngoài kia gấp gáp theo từng chuyến xe hàng Tết, Đông Khê cũng tất bật, nhưng theo một cách rất riêng. Không tiếng máy móc ồn ào, không nhà xưởng quy mô lớn, cả làng vận hành bằng đôi tay cần mẫn và kinh nghiệm truyền đời. Từ đầu làng đến cuối ngõ, đâu đâu cũng thấy phên hương đỏ au xếp thẳng hàng, hứng trọn nắng hanh cuối mùa. Màu đỏ ấy vừa báo hiệu Tết đang đến rất gần, vừa là dấu hiệu của một vụ làm ăn quyết định thu nhập cả năm của người dân.
Ở Đông Khê, người ta quen gọi đây là “mùa hương”. Mùa hương không chỉ gắn với thời tiết, mà còn gắn với thị trường, với nhu cầu tăng cao của người tiêu dùng mỗi dịp Tết Nguyên đán. Người Đông Khê làm hương theo thói quen từ nhiều thế hệ: chậm rãi, chắc tay và luôn đặt chất lượng lên trước số lượng. Với họ, một nén hương không chỉ là sản phẩm bán ra thị trường, mà còn gắn với tín ngưỡng, với bàn thờ gia tiên của mỗi gia đình.
Theo các bậc cao niên, nghề làm hương ở Đông Khê đã xuất hiện từ khoảng thế kỷ XVIII. Trải qua bao biến động, nghề vẫn được lưu truyền như một phần không thể tách rời của đời sống làng quê.
Khoảng giữa tháng Mười âm lịch, khi gió heo may bắt đầu se lạnh, cả làng gần như đồng loạt tăng tốc. Sáng sớm, khi mặt trời còn chưa lên cao, tiếng chẻ tăm đã vang đều trong sân. Những bó vầu được cưa, chẻ thành từng que nhỏ, đều tăm tắp. Đến trưa, tranh thủ nắng, người già, phụ nữ, thậm chí trẻ nhỏ phụ giúp những công đoạn nhẹ như lăn hương, xếp phên. Chiều xuống, các phên hương lại được trở tay, tận dụng từng giờ nắng hiếm hoi của mùa đông miền Trung.
“Làm hương vụ Tết là phải chạy đua với nắng”, bà Đoàn Thị Tiên, 65 tuổi, vừa lăn hương vừa nói. Đôi tay bà thoăn thoắt, động tác quen thuộc đến mức không cần nhìn vẫn đều tăm tắp. “Chỉ cần gặp mưa bất chợt là hương không khô, hỏng cả mẻ, coi như mất công mấy ngày”. Với bà Tiên và nhiều người trong làng, vụ hương cuối năm quyết định phần lớn thu nhập của gia đình. Nếu thời tiết thuận lợi, làm được nhiều, Tết sẽ đủ đầy hơn, con cháu có thêm quần áo mới, mâm cỗ ngày đầu năm cũng tươm tất hơn.
Quy trình làm hương Đông Khê vẫn giữ tính thủ công cao. Phần bột hương được trộn từ nhựa cây trám, bột than làm từ thân mía hoặc lá chuối, kết hợp với các loại thảo mộc như rễ trầm, đinh hương theo tỷ lệ riêng của từng nhà. Mỗi gia đình đều có “bí quyết” riêng, tạo nên mùi thơm khác biệt, không lẫn với nơi khác.
Người thợ lăn tăm qua lớp nhựa, phủ bột đều tay để nén hương tròn, chắc, không nứt, không bong. Công việc lặp đi lặp lại hàng trăm, hàng nghìn lần mỗi ngày, đòi hỏi sự kiên nhẫn và cảm nhận tinh tế. Chỉ cần tay non hoặc bột trộn không đều, nén hương sẽ cháy không chuẩn, dễ tắt hoặc khói gắt. Chính sự tỉ mỉ ấy tạo nên chất lượng cho hương Đông Khê: cháy đều, khói nhẹ, không cay mắt, mùi thơm dịu, phù hợp với không gian thờ cúng ngày Tết.
Những ngày nắng đẹp, phên hương được xếp kín từ sân ra ngõ, tạo nên một bức tranh làng nghề đặc trưng. Khách lạ đến làng dịp này thường dừng lại khá lâu, vừa ngắm sắc đỏ trải dài, vừa hít hà mùi trầm thoang thoảng trong gió. Với người Đông Khê, đó là hình ảnh quen thuộc của mỗi mùa Tết về.
Dù máy móc đã hỗ trợ phần nào ở khâu chẻ tăm, nhưng phần lớn các công đoạn quan trọng vẫn được làm bằng tay. “Làm nhanh bằng máy thì được nhiều số lượng, nhưng hương không còn mùi quen. Hương thủ công tuy vất vả hơn, nhưng giữ được khách lâu dài”, ông Đoàn Văn Mậu, 68 tuổi, người có hơn nửa thế kỷ gắn bó với nghề, chia sẻ. Theo ông Mậu, người mua hương Tết không chỉ nhìn vào giá, mà còn rất coi trọng mùi hương và độ cháy. Một khi đã quen dùng hương Đông Khê, nhiều gia đình năm nào cũng tìm mua cho bằng được.
Chính sự kiên trì giữ chất lượng đã giúp hương Đông Khê có chỗ đứng ổn định trên thị trường. Ngoài tiêu thụ trong tỉnh, hương còn được đưa đi nhiều địa phương khác như Nghệ An, Hà Tĩnh và một số tỉnh phía Nam thông qua các mối quen. Mỗi dịp Tết, lượng đơn hàng tăng mạnh, nhiều hộ phải làm xuyên ngày, thậm chí tranh thủ buổi tối để kịp giao. Những chuyến xe nhỏ nối nhau rời làng, chở theo hàng nghìn bó hương thành phẩm.
Với nhiều gia đình, nghề hương là nguồn thu chính trong những tháng cuối năm, bù đắp cho sản xuất nông nghiệp vốn phụ thuộc nhiều vào thời tiết. Có hộ chỉ làm vài nghìn bó để bán lẻ, nhưng cũng có nhà làm số lượng lớn, tạo việc làm thời vụ cho người thân, hàng xóm, nhất là phụ nữ và người cao tuổi. Công việc tuy không nhẹ, nhưng phù hợp với điều kiện lao động tại chỗ, giúp nhiều người có thêm thu nhập mà không phải đi làm ăn xa.
“Nghề này không giàu nhanh, nhưng nếu chịu khó thì cũng đủ trang trải. Quan trọng là có việc làm tại chỗ, có thêm tiền lo cho gia đình, nhất là dịp cuối năm”, ông Mậu cho biết. Với người dân Đông Khê, giá trị của nghề không chỉ nằm ở con số thu nhập, mà còn ở sự ổn định và tính bền bỉ qua nhiều thế hệ.
Tuy vậy, nghề làm hương cũng đối mặt không ít khó khăn. Sản xuất phụ thuộc hoàn toàn vào thời tiết, chỉ cần mưa kéo dài là thiệt hại lớn. Nguyên liệu ngày càng khan hiếm, giá tăng, trong khi hương công nghiệp sản xuất hàng loạt, giá rẻ, đang chiếm lĩnh thị trường phổ thông. Sự cạnh tranh này buộc người làm nghề truyền thống phải chấp nhận lợi nhuận không cao, đổi lại là giữ uy tín và khách hàng lâu năm.
Một thách thức khác là bài toán lao động kế cận. Đi sâu vào làng, dễ nhận ra người làm hương chủ yếu đã có tuổi. Thanh niên trẻ ít mặn mà với nghề. “Ngày trước, con cái lớn lên là theo cha mẹ làm hương. Giờ nhiều đứa đi học, đi làm xa, ít ai muốn về làm nghề”, ông Mậu trầm ngâm. Nỗi lo thiếu lớp kế cận vẫn hiện hữu, nhất là khi nghề đòi hỏi sự kiên nhẫn và gắn bó lâu dài.
Dẫu vậy, mỗi dịp Tết đến, làng Đông Khê lại nhộn nhịp theo cách riêng. Sân nhà nào cũng đỏ rực hương thành phẩm, được bó gọn gàng, xếp chờ xe đến lấy. Không khí sản xuất xen lẫn niềm hy vọng về một mùa Tết đủ đầy hơn sau những tháng ngày vất vả. Những bó hương rời làng mang theo mùi thơm quen thuộc, theo chân thương lái đến nhiều vùng miền, hiện diện trên bàn thờ ngày Tết của nhiều gia đình.
Ở đó, hương không chỉ là sản phẩm phục vụ nhu cầu tâm linh, mà còn là kết quả của lao động thủ công, là nguồn thu giúp người dân bám trụ với làng nghề.
Giữa sắc xuân đang lan dần trên từng mái nhà, Đông Khê vẫn giữ cho mình một nhịp điệu riêng: chậm rãi nhưng bền bỉ. Nghề làm hương ở đây không chỉ giữ lại vị Tết truyền thống trong từng nén hương, mà còn góp phần nuôi dưỡng sinh kế, duy trì một mô hình kinh tế làng nghề gắn với văn hóa, để mỗi mùa xuân về, làng lại đỏ rực phên hương và đầy ắp hy vọng.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html
-
Tết về quê mẹ
Tháng 12/2025, chị Hồng Hải, hiện sống và làm việc tại Vancouver (Canada), tất bật hoàn thiện những phần việc cuối cùng để xin nghỉ phép dài ngày. Hơn ba năm sang Canada định cư nhưng chị hoàn toàn không quen được "tết Tây" tại nơi mình sống.
"Dù cách xa quê mẹ cả nửa vòng trái đất, nhưng mỗi dịp Tết đến em luôn tưởng tượng thấy mùi của Tết, có nồi nước lá mùi già, không khí chộn rộn chiều cuối năm, mùi khói hương trầm, và cả mùi của bánh chưng, bếp củi và không khí đầm ấm trong gia đình", chị Hải chia sẻ lên trang facebook cá nhân.
Khi còn ở Việt Nam, Hải từng khá thờ ơ với Tết. Có những ngày nghỉ dài, chị chọn ở trong phòng, tránh các cuộc gặp gỡ, đôi khi cảm thấy mệt mỏi trước sự ồn ào, náo nhiệt và những con đường luôn kẹt cứíng. Từ ngày xa quê, cảm nhận về Tết của chị đã thực sự thay đổi. Mong muốn được trở về quê nhà luôn thường trực tuy nhiên chi phí vé máy bay cao và việc xin nghỉ phép dài ngày không phải lúc nào cũng thuận lợi. Năm nay, sau nhiều cân nhắc, chị quyết định về Việt Nam. “Em sẽ gói bánh chưng với mẹ, đi cà phê với bạn bè, ăn thật nhiều đồ Việt. Nhớ không khí Tết quê nhà quá rồi”, chị Hải bộc bạch.
Câu chuyện của Hồng Hải không phải cá biệt. Với nhiều người Việt sinh sống tại các quốc gia có mùa đông kéo dài như Đức, Thụy Sĩ, Phần Lan hay các nước Bắc Âu, Đông Âu, cuối năm, đặc biệt là những ngày cận Tết luôn là khoảng thời gian đặc biệt, có người cho biết phải ẩn bớt những bài viết, ảnh chụp hoặc video clip của bạn bè khoe không khí đón xuân, mừng Tết trên mạng xã hội. Theo anh Phùng Quang Hiển, một người đã cư trú tại thành phố Stuttgart của Đức gần sáu năm, mùa đông luôn là giai đoạn khó thích nghi nhất. Có những tháng anh hoàn toàn không thấy mặt trời, nhịp sinh hoạt lặp đi lặp lại như cái máy, đi làm, về ngủ và đi làm. Trời lạnh, sinh hoạt thu hẹp trong không gian kín, đường phố vắng và ít giao tiếp khiến nhiều lúc Hiển rơi vào cảm giác stress nặng.
Ở Việt Nam đi làm về, kể cả mùa nào thì cũng dễ dàng ra phố, hòa vào dòng người, gặp gỡ bạn bè, đi ăn vặt, café, nhưng tại châu Âu, kết thúc một ngày làm việc, ai về nhà nấy, tới mùa đông thì cảm giác cô đơn, nhớ quê, nhớ Tết càng "dữ dội" hơn. Năm nay, anh Hiển cho biết cũng sẽ chọn cách sắp xếp để trở về Việt Nam đón Tết thay vì ở lại châu Âu trong những tháng mùa đông dài đằng đẵng. "Nếu không vướng vợ con, tôi đã về Việt Nam và ở lại luôn rồi, tôi rất nhớ, rất thèm đồ ăn quê nhà” anh Hiển trải lòng.
Theo các thống kê chính thức, hiện có khoảng 6,5 triệu người Việt Nam sinh sống tại hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó trên 80% ở các nước phát triển. Đây là cộng đồng đa dạng với nhiều hình thức di cư, gồm lao động, du học sinh, đoàn tụ gia đình, doanh nhân, trí thức, chuyên gia… Theo Bộ Ngoại giao, những năm qua, Đảng, Nhà nước và nhân dân cả nước luôn chào đón, tạo điều kiện thuận lợi để người Việt Nam ở nước ngoài về nước thăm thân, du lịch, đầu tư sản xuất, kinh doanh; hết sức cầu thị, lắng nghe tâm tư nguyện vọng, tiếp thu ý kiến đóng góp, hiến kế xây dựng đất nước của bà con.
Nhiều chủ trương, đường lối về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài đã được thể chế hóa thông qua các chính sách pháp luật trong nhiều lĩnh vực như: quốc tịch, xuất cảnh, nhập cảnh, đất đai, nhà ở, đầu tư, kinh doanh, lao động... nhằm hỗ trợ, chăm lo cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, đồng thời phát huy tinh thần yêu nước và nguồn lực của đồng bào ta ở nước ngoài cho sự nghiệp xây dựng quê hương, đất nước.
Với những thuận lợi nêu trên, mỗi năm, hàng trăm nghìn người trong số này lựa chọn trở về Việt Nam, đặc biệt vào các dịp lễ lớn như Tết Nguyên đán. Hành trình về quê ăn Tết của kiều bào không phải lúc nào cũng thuận lợi. Có những người phải trải qua những chuyến bay kéo dài hàng chục giờ, sự khác biệt múi giờ, chi phí đắt đỏ nhưng họ sẵn sàng chấp nhận để có những ngày được thực sự ăn, chơi Tết Việt.
Tính đến cuối năm 2023, tổng chiều dài hệ thống đường bộ của Việt Nam đã gần 595.000 km, trong đó khoảng 25.600 km là đường quốc lộ và đường cao tốc — một phần quan trọng trong việc rút ngắn thời gian di chuyển giữa các tỉnh, thành lớn. Các tuyến cao tốc mới được đưa vào sử dụng trong những năm gần đây đã giúp kết nối các vùng phía Bắc – Nam và các đô thị trung tâm hiệu quả hơn. Dự kiến đến năm 2025, tổng chiều dài đường cao tốc có thể đạt hơn 3.000 km, với mục tiêu mở rộng lên khoảng 5.000 km vào năm 2030.
Ngoài đường bộ, mạng lưới sân bay và đường sắt cũng được chú trọng mở rộng. Hiện Việt Nam có hơn 20 sân bay vận hành, bao gồm nhiều cảng quốc tế tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng, cùng các dự án như Nhà ga T3 Tân Sơn Nhất và Sân bay quốc tế Long Thành đang được xây dựng nhằm tăng công suất phục vụ hành khách.
Các dịch vụ đời sống phát triển mạnh. Từ ăn uống, mua sắm, vui chơi giải trí đến làm đẹp, chăm sóc sức khỏe, Việt Nam hiện có nhiều lựa chọn không thua kém các nước phát triển. Các trung tâm thương mại, khu phố ẩm thực, quán cà phê, nhà hàng và không gian giải trí xuất hiện ngày càng nhiều, đáp fíng cả nhu cầu truyền thống lẫn phong cách sống hiện đại.
Với nhiều kiều bào, trải nghiệm về nước không còn gắn với cảm giác “thiếu thốn” hay “bất tiện” như trước đây. Ngược lại, đó là quãng thời gian dễ chịu, khi họ có thể tận hưởng nhịp sống quen thuộc, dịch vụ tiện lợi và sự kết nối xã hội mà không phải đánh đổi chất lượng sinh hoạt. Chính sự kết hợp giữa đời sống vật chất ngày càng hoàn thiện và giá trị tinh thần của gia đình, Tết truyền thống khiến những ngày trở về quê hương trở thành khoảng thời gian được mong đợi và trọn vẹn hơn.
Cùng với việc tránh mùa đông và đón Tết, nhiều kiều bào tranh thủ thời gian về nước để khám và điều trị y tế. Theo ghi nhận của các cơ sở y tế lớn tại TP. Hồ Chí Minh và Hà Nội, mỗi năm có hàng trăm nghìn lượt kiều bào về Việt Nam sử dụng dịch vụ y tế, tập trung vào các lĩnh vực như khám tổng quát, nha khoa, cơ xương khớp và các điều trị không khẩn cấp.
Một trong những lý do kéo được kiều bào về quê khám bệnh là năng lực y tế trong nước đã phát triển nhanh trong những năm gần đây. Hệ thống bệnh viện tư nhân, bệnh viện quốc tế và các trung tâm chuyên khoa được đầu tư bài bản, đội ngũ bác sĩ có trình độ cao, nhiều người được đào tạo ở nước ngoài. So với tại nước ngoài, chi phí điều trị tại Việt Nam được đánh giá là hợp lý hơn, trong khi thời gian chờ đợi ngắn hơn đáng kể.
Việc kết hợp nhiều mục đích trong một chuyến đi – tránh rét, sum họp gia đình và chăm sóc sức khỏe – đang nổi lên như một lựa chọn mang tính kinh tế rõ nét, đặc biệt đối với nhóm kiều bào trung niên và cao tuổi. Sự trở về của kiều bào dịp Xuân vì thế không chỉ mang ý nghĩa tinh thần, mà còn góp phần kích hoạt sức mua, thúc đẩy tăng trưởng và củng cố mối liên kết kinh tế – xã hội giữa cộng đồng người Việt ở nước ngoài với quê hương.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html
-
Sát Tết Bính Ngọ, giá bán vàng miếng SJC tái lập mốc đỉnh hai tuần
Trong tuần cận Tết Bính Ngọ (9–14/2), giá vàng miếng SJC biến động mạnh, mỗi nhịp tăng, giảm lên tới cả triệu đồng mỗi lượng. Tuy nhiên, tính theo giá chốt phiên tại các doanh nghiệp thì mặt bằng chung vẫn giữ xu thế đi ngang.
Sau nhịp giảm hơn 2 triệu đồng/lượng trong phiên hôm qua (13/2), giá bán vàng miếng nhanh chóng quay trở lại vùng giá phổ biến trong tuần là 181 triệu đồng/lượng.
Lúc 10 giờ ngày 14/2, Công ty SJC vẫn niêm yết giá mua vàng miếng ở mức 178 triệu đồng/lượng và giá bán ra là 181 triệu đồng/lượng từ khi mở cửa phiên sáng. So với giá chốt phiên 13/2, giá vàng miếng SJC doanh nghiệp này tăng 2 triệu đồng/lượng mỗi chiều.
Theo thông báo của Công ty SJC, các sản phẩm vàng miếng, vàng nhẫn và vàng may mắn giao dịch đến hết ngày 13/2 để phục vụ công tác kiểm kê. Hầu hết cửa hàng SJC tại khu vực phía Bắc sẽ nghỉ Tết từ 15/2, trong khi các cửa hàng tại TP.Hồ Chí Minh đóng cửa từ ngày 16/2 (29 tháng Chạp). Riêng hai điểm bán tại Aeon Bình Tân và Aeon Tân Phú vẫn mở cửa xuyên Tết.
Mức giá giao dịch 178 triệu – 181 triệu đồng/lượng cũng được niêm yết tại PNJ, DOJI, Bảo Tín Minh Châu và Bảo Tín Mạnh Hải. So với giá chốt phiên 13/2, giá vàng miếng SJC các doanh nghiệp này cũng tăng 2 triệu đồng/lượng mỗi chiều.
Tại khu vực phía Nam, mở cửa phiên sáng nay, giá giao dịch vàng miếng SJC tại Mi Hồng cũng tăng trở lại 1,8 triệu đồng/lượng đối với chiều mua và 2 triệu đồng/lượng đối với chiều bán. Thương hiệu này đặt giá mua, bán ở mức 178,3 triệu – 181 triệu đồng/lượng.
Sau khi giảm 1,5 triệu đồng/lượng mỗi chiều trong phiên 13/2, giá mua, bán vàng miếng SJC tại Ngọc Thẩm tăng 1 triệu đồng/lượng trong phiên sáng nay. Cập nhật lúc 10 giờ, thương hiệu này niêm yết giá mua, bán vàng miếng ở mức 177 triệu – 180 triệu đồng/lượng.
Riêng tại DOJI và Phú Quý, giá giao dịch vàng miếng vẫn giữ nguyên so với phiên hôm qua. Giá vàng miếng tại hai doanh nghiệp này hiện đang giao dịch ở mức 176 triệu – 179 triệu đồng/lượng.
Giá giao dịch vàng miếng SJC trong tuần 9-14/2/2026. Nguồn: VnEconomy tổng hợp từ bảng giá doanh nghiệpTheo sát diễn biến thị trường vàng miếng, giá giao dịch vàng nhẫn các hệ thống lớn cũng ghi nhận mức tăng phổ biến là 2 triệu đồng/lượng trong phiên sáng 14/2.
Ở vùng giá gần 181 triệu đồng/lượng, thị trường vàng miếng đang đứng tại mức cao nhất trong vòng 2 tuần qua. Chênh lệch giá mua – bán hiện ghi nhận ở mức phổ biến là 3 triệu đồng. Biên độ giá mua - bán tại Mi Hồng dù nới rộng lên 2,7 triệu đồng nhưng vẫn ở mức thấp nhất thị trường
Sau khi giảm 1,9 triệu đồng/lượng mỗi chiều trong phiên hôm qua (13/2), giá vàng nhẫn Tròn 9999 Hưng Thịnh Vượng tại DOJI mở cửa phiên sáng tiếp tục duy trì ổn định ở mức 175,6 triệu – 178,6 triệu đồng/lượng (mua – bán). Tính đến 10 giờ ngày 14/2, mức giá giao dịch trên vẫn không đổi.
Tương tự, tại Phú Quý, sau 3 phiên đứng giá, giá mua, bán vàng nhẫn tròn 9999 tại doanh nghiệp này giảm mạnh 1,8 triệu đồng/lượng mỗi chiều trong phiên 13/2. Trong phiên sáng nay (14/2), thương hiệu này giữ nguyên giá giao dịch vàng nhẫn ở mức 175,7 triệu – 178,7 triệu đồng/lượng (mua – bán).
Trong khi đó, Công ty SJC và PNJ cùng niêm yết giá mua vàng nhẫn ở mức 177,5 triệu đồng/lượng và giá bán ở mức 180,5 triệu đồng/lượng trong suốt phiên sáng. So với giá chốt phiên 13/2, giá giao dịch vàng nhẫn tại cả hai doanh nghiệp này tăng lần lượt 2 triệu đồng/lượng và 1,9 triệu đồng/lượng.
Tại TP.Hồ Chí Minh, sau 2 phiên giảm liên tiếp (12-13/2) với tổng mức giảm lên tới 3 triệu đồng/lượng mỗi chiều, giá giao dịch vàng nhẫn tại Ngọc Thẩm ghi nhận nhịp điều chỉnh tăng mạnh nhất trên thị trường.
Mở cửa phiên sáng, Ngọc Thẩm niêm yết giá mua vào vàng nhẫn “4 số 9” ở mức 169,5 triệu đồng/lượng và giá vàng nhẫn bán ra là 173,5 triệu đồng/lượng, tăng 2,5 triệu đồng/lượng so với giá chốt phiên 13/2. Lúc 10 giờ, thương hiệu này vẫn duy trì ổn định mức giá giao dịch trên.
Chênh lệch giá vàng trong nước và giá vàng thế giới trong phiên 14/2. Nguồn: VnEconomy tổng hợp và tính toánDù tăng mạnh hơn hẳn so với mặt bằng chung nhưng giá giao dịch vàng nhẫn tại Ngọc Thẩm vẫn thấp nhất thị trường, chênh khoảng 7-8 triệu đồng/lượng so với các doanh nghiệp tại miền Bắc. Tuy nhiên, mức chênh lệch giá mua – bán vàng nhẫn tại đây lại cao nhất thị trường, ở ngưỡng 4 triệu đồng/lượng.
Trong tuần sát Tết, Bảo Tín Minh Châu và Bảo Tín Mạnh Hải vẫn hai doanh nghiệp niêm yết giá vàng nhẫn “4 số 9” ngang bằng với giá vàng miếng SJC.
Bảo Tín Minh Châu và Bảo Tín Mạnh Hải vẫn giữ giá mua vàng nhẫn “4 số 9” ở mức 178 triệu đồng/lượng và giá vàng nhẫn bán ra là 181 triệu đồng/lượng trong cả phiên sáng. Mức giá giao dịch trên duy trì ổn định đến khi đóng cửa phiên. So với giá chốt phiên 13/2, giá giao dịch vàng nhẫn “4 số 9” tại cả hai thương hiệu này tăng 2 triệu đồng/lượng đối với cả hai chiều mua và bán.
Tại thị trường NewYork, đóng cửa phiên 13/2, hợp đồng giá vàng giao ngay tăng mạnh gần 2,5%, tiến lên mốc 5.043,9 USD/oz
Theo tỷ giá Vietcombank (đã bao gồm thuế và phí...), chênh lệch giữa giá vàng miếng và giá vàng thế giới ở mức 20,3 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, đối với giá vàng nhẫn “4 số 9”, tùy từng thương hiệu, khoảng cách này dao động từ 12,8 – 20,3 triệu đồng/lượng.
-Mai Nhi
Hải quan khu vực lúng túng xác nhận chứng từ, xử lý tờ khai buộc tái xuất hoặc tiêu huỷ
Thông tư 121/2025/TT-BTC của Bộ Tài chính đã sửa đổi, bổ sung nhiều quy định liên quan đến thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu.
Tuy nhiên, trong quá trình triển khai, một số đơn vị hải quan địa phương đã phản ánh những vướng mắc phát sinh, nổi cộm là liên quan đến khai bổ sung hồ sơ hải quan và xử lý tờ khai trong trường hợp hàng hóa buộc tái xuất, tiêu hủy.
Về khai bổ sung hồ sơ hải quan, theo quy định tại điểm a.8 khoản 2 Điều 20 Thông tư 38/2015/TT-BTC (được sửa đổi, bổ sung qua các thông tư liên quan và cập nhật tại Thông tư 121/2025/TT-BTC), đối với tờ khai xuất khẩu, nhập khẩu có phương thức vận chuyển là hàng rời, hàng xá, nếu sau khi hàng đủ điều kiện qua khu vực giám sát nhưng phát sinh chênh lệch về số lượng, trọng lượng so với khai báo thì công chức hải quan phải kiểm tra, xác nhận trên Phiếu cân hàng của cảng hoặc Biên bản nhận hàng có đại diện người bán ký xác nhận hoặc Biên bản ghi nhận tại hiện trường giám định.
Trong khi đó, khoản 1 Điều 1 Thông tư 121/2025/TT-BTC quy định việc xuất trình các chứng từ, trong đó hồ sơ khai bổ sung được thực hiện qua Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan.
Sự kết hợp giữa yêu cầu xác nhận trên chứng từ giấy và quy định nộp hồ sơ qua hệ thống điện tử đã làm nảy sinh cách hiểu khác nhau tại cơ sở. Theo phản ánh từ Chi cục Hải quan khu vực VIII, thực tiễn trên nảy sinh hai vấn đề:
Thứ nhất, việc xác nhận của công chức hải quan sẽ thực hiện hoàn toàn trên chứng từ giấy và lưu hồ sơ hay có thể xác nhận trên hệ thống điện tử (E5) ?
Thứ hai, với các lô hàng mở tờ khai tại hải quan ngoài cửa khẩu, trong trường hợp hải quan cửa khẩu nơi giám sát không thể truy cập đầy đủ hồ sơ trên Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử, việc xác nhận chứng từ được thực hiện theo phương thức nào?
Đặc biệt, tại khu vực cảng biển có hoạt động chuyển tải, sang mạn, neo đậu, nơi điều kiện giám sát trực tiếp còn hạn chế, đơn vị đề xuất Cục Hải quan xem xét áp dụng cơ chế xác nhận trên hệ thống điện tử nhằm giảm hồ sơ giấy và tạo thuận lợi cho hoạt động thông quan.
“Sau khi ký tên, đóng dấu công chức xác nhận lên một trong các chứng nêu trên, cơ quan hải quan lưu một bản chụp, trả lại bản chính cho người khai hải quan để thực hiện khai bổ sung tại hải quan nơi đăng ký tờ khai.”
(Cục Hải quan)
Phản hồi nội dung này, Cục Hải quan cho biết khi khai sửa đổi, bổ sung thì người khai hải quan nộp bản Phiếu cân hàng của cảng hoặc Biên bản nhận hàng có đại diện người bán ký xác nhận hoặc Biên bản ghi nhận tại hiện trường giám định về số lượng, trọng lượng có xác nhận của công chức giám sát cho Hải quan nơi đăng ký tờ khai thông qua hệ thống để hoàn tất thủ tục.
Đối với hoạt động chuyển tải, sang mạn tại cảng biển, căn cứ quy định tại Điều 52b Thông tư 38/2015/TT-BTC, việc giám sát được thực hiện trên cơ sở thu thập thông tin, phân tích và đánh giá rủi ro, Cục Hải quan cho biết.
Tùy từng trường hợp, Đội trưởng Hải quan quản lý khu vực có thể phân công công chức giám sát thông qua: hệ thống seal định vị điện tử gắn trên phương tiện vận chuyển nội địa; hệ thống nhận dạng tự động hàng hải (AIS) hoặc giám sát trực tiếp, cơ động kết hợp tuần tra, kiểm soát địa bàn và phối hợp với lực lượng chức năng.
Căn cứ kết quả giám sát và đối chiếu chứng từ do người khai nộp, nếu đủ cơ sở xác định phù hợp thực tế, công chức giám sát sẽ ký xác nhận để làm căn cứ khai bổ sung.
Một nội dung khác cũng gây lúng túng cho các chi cục Hải quan khu vực là quy định tại Điều 22 Thông tư 38/2015/TT-BTC (được sửa đổi, bổ sung qua các thông tư liên quan và cập nhật tại Thông tư 121/2025/TT-BTC) về hủy tờ khai hải quan.
Đối với các tờ khai vi phạm bị buộc tái xuất hoặc tiêu hủy thì có thuộc trường hợp hủy tờ khai hay không? Nếu không hủy, tờ khai sẽ tiếp tục tồn tại trên hệ thống, trong khi trường hợp này cũng không thuộc diện Tờ khai hàng hóa nhập khẩu đã được đăng ký nhưng hàng hóa thực tế không nhập khẩu và chưa đưa qua khu vực giám sát.
(Chi cục Hải quan khu vực IV)
Theo đó, so quy định trước đây, quy định về Tờ khai hải quan đã đăng ký nhưng hàng hóa không đáp ứng các quy định về quản lý, kiểm tra chuyên ngành, sau khi xử lý vi phạm với hình thức phạt bổ sung là buộc phải tái xuất hoặc tiêu hủy đã bị bãi bỏ.
Đơn vị đề xuất vẫn cho phép hủy tờ khai trong trường hợp này, bởi khi tái xuất hàng hóa sẽ thực hiện theo biên bản giám sát mà không mở tờ khai xuất mới, do đó cần hủy tờ khai nhập khẩu ban đầu để bảo đảm đồng bộ dữ liệu.
Về vấn đề này, Cục Hải quan khẳng định các trường hợp hàng hóa bị buộc tái xuất, tiêu hủy hoặc bị tịch thu theo quyết định xử lý hành chính, hình sự không thuộc diện hủy tờ khai.
Cục Hải quan cho biết sau khi hoàn thành hình thức xử phạt bổ sung, công chức hải quan thực hiện cập nhật thông tin vụ việc trên Hệ thống tại mục “Cập nhật ý kiến của công chức xử lý” và chuyển xử lý thủ công bằng nghiệp vụ PAI/PEA với mã lý do MID.
Trong khi đó, trường hợp được hủy tờ khai quy định tại Điều 22 chỉ áp dụng khi hàng hóa đã đăng ký tờ khai nhưng còn trong khu vực giám sát và người khai từ chối nhận hàng theo quy định tại Nghị định 08/2015/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 167/2025/NĐ-CP) hoặc người nhập khẩu không đáp ứng điều kiện là người khai hải quan, Cục Hải quan nhấn mạnh
Đối với trường hợp này, sau khi hoàn tất thủ tục từ chối nhận hàng và giám sát tái xuất, hải quan nơi đăng ký tờ khai mới thực hiện hủy theo quy định.
-Hoàng Sơn
Năm 2025, thu giữ 376.577 sản phẩm thuốc lá điện tử nhập lậu
Kể từ sau thời điểm Nghị quyết 173/2024/QH15 có hiệu lực từ ngày 1/1/2025, thuốc lá điện tử và thuốc lá nung nóng chính thức nằm trong danh mục hàng hóa cấm lưu thông
Theo Cục Hải quan, việc thay đổi chính sách này kéo theo yêu cầu siết chặt kiểm soát trên diện rộng, nhất là tại các tuyến vận chuyển và loại hình có nguy cơ cao. Trong đó, hoạt động quá cảnh được xác định là khâu tiềm ẩn nhiều rủi ro khi bị các đối tượng lợi dụng để trung chuyển hàng vi phạm.
Mặc dù chính sách đã siết chặt song các đường dây vẫn tìm cách đưa hàng đi qua lãnh thổ Việt Nam.
Số liệu cho thấy, chỉ trong năm 2025, ghi nhận 376.577 sản phẩm thuốc lá điện tử bị cơ quan chứ năng phát hiện và thu giữ. Tính chung giai đoạn 2023 - 2025, tổng số tang vật bị thu giữ lên tới 614.608 sản phẩm. Những con số này phản ánh áp lực không nhỏ đối với công tác kiểm soát.
Theo đánh giá của cơ quan Hải quan, các vụ việc gần đây không chỉ gia tăng về số lượng mà còn thể hiện mức độ tinh vi trong thủ đoạn.
Tháng 12/2024, tại cửa khẩu Hữu Nghị, thông qua kiểm tra các lô hàng quá cảnh, Cục Điều tra chống buôn lậu đã phát hiện hơn 50.000 thiết bị thuốc lá điện tử các loại cùng hàng nghìn hộp tinh dầu không khai báo cùng nhiều sản phẩm có dấu hiệu xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.
Sang tháng 11/2025, cũng tại địa bàn này, Chi cục Điều tra chống buôn lậu tiếp tục phát hiện vụ việc liên quan đến 174.160 lọ tinh dầu, 5.600 thuốc lá điện tử và 400 thiết bị thuốc lá điện tử chưa có tinh dầu được trà trộn trong các lô hàng quá cảnh.
Tang vật vi phạm bị thu giữ. Nguồn: Cục Hải quanĐiển hình, trong cao điểm đấu tranh giai đoạn 2025–2026, Chi cục Điều tra chống buôn lậu (Cục Hải quan) đã phát hiện và khởi tố một vụ án đặc biệt nghiêm trọng để hợp thức hóa vận chuyển hàng tiềm ẩn nguy cơ lớn đối với sức khỏe cộng đồng và trật tự thị trường với tổng trị giá hàng hóa vi phạm trên 9 tỷ đồng.
Tang vật vi phạm bị thu giữ gồm 65.357 thiết bị thuốc lá điện tử; 3.389 lọ tinh dầu dùng cho thuốc lá điện tử; 120 ba lô thể thao nhãn hiệu Nike; 120 ba lô thể thao nhãn hiệu Adidas và 120 đôi giày thể thao nhãn hiệu Nike với tổng trị giá hàng hóa vi phạm trên 9 tỷ đồng.
(Báo cáo từ Cục Hải quan)
Trước đó, vào ngày 26/10/2025 và 28/10/2025, khi kiểm tra hai tờ khai vận chuyển độc lập của Công ty TNHH Hợp Mạnh đăng ký quá cảnh từ cửa khẩu quốc tế Móng Cái (Quảng Ninh) về cửa khẩu quốc tế Cha Lo (Quảng Trị), lực lượng Hải quan phát hiện nhiều điểm bất nhất giữa hồ sơ và hàng hóa thực tế.
Theo Cục Hải quan, kết quả xác minh ban đầu cho thấy doanh nghiệp đã nhiều thủ đoạn để hợp thức hóa việc vận chuyển hàng hóa vi phạm pháp luật như: khai báo thiếu số lượng, lập bảng kê sai thực tế, tự phát hành hóa đơn, chỉnh sửa chứng từ có gắn con dấu và chữ ký của phía đối tác Trung Quốc, đồng thời khai sai tên hàng và trị giá nhằm qua mặt cơ quan chức năng.
“Đáng chú ý, bản chất giao dịch không dựa trên hợp đồng thương mại chính thức mà chủ yếu mua gom qua các nhóm WeChat, sau đó trung chuyển qua Việt Nam để đưa sang Lào tiêu thụ”, Cục Hải quan nhấn mạnh
Cục Hải quan cho biết, vụ án trên vừa được khởi tố theo Quyết định số 03/QĐ-ĐTCBL ngày 10/02/2026 và toàn bộ hồ sơ hiện đã chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra-Công an tỉnh Quảng Trị để tiếp tục xử lý theo thẩm quyền..
Thời gian tới, ngành Hải quan sẽ tiếp tục rà soát, đánh giá rủi ro đối với loại hình quá cảnh và thương mại điện tử xuyên biên giới; đồng thời tăng cường phối hợp với Công an, Bộ đội Biên phòng và lực lượng Quản lý thị trường nhằm ngăn chặn sớm các đường dây buôn lậu quy mô lớn, góp phần bảo đảm trật tự thị trường và an toàn cho người tiêu dùng.
-Hoàng Sơn
Tăng sở hữu cổ phần cho người lao động khi tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước
Một nội dung đáng chú ý tại Nghị định số 57/2026/NĐ-CP của Chính phủ về cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp là chính sách đối với người lao động khi cổ phần hóa doanh nghiệp.
Liên quan đến chính sách bán cổ phần cho người lao động, Nghị định nêu rõ ba nhóm đối tượng được tham gia mua cổ phần với giá ưu đãi bao gồm: (i) người lao động làm việc theo hợp đồng lao động và người quản lý doanh nghiệp tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp; (ii) người lao động được cử làm đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp khác nhưng chưa từng hưởng chính sách ưu đãi và (iii) người lao động và người quản lý của doanh nghiệp cấp II chưa được hưởng quyền lợi này khi doanh nghiệp cấp I thực hiện cổ phần hóa.
Theo quy định, người lao động được mua tối đa 100 cổ phần cho mỗi năm thực tế làm việc trong khu vực nhà nước với mức giá bằng 60% mệnh giá, tương đương 6.000 đồng/cổ phần theo mệnh giá là 10.000 đồng/cổ.
(Nghị định 57/2026/NĐ-CP)
Đối với người lao động đại diện cho hộ gia đình nhận khoán, nếu tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa có hợp đồng nhận khoán ổn định lâu dài với công ty nông, lâm nghiệp thì khi chuyển sang công ty cổ phần được mua tối đa 100 cổ phần cho mỗi năm thực tế đã nhận khoán với giá bán bằng 60% mệnh giá.
Theo đó, phần chênh lệch giữa giá bán cho người lao động so với mệnh giá cổ phần được trừ vào giá trị phần vốn nhà nước khi quyết toán tại thời điểm doanh nghiệp chính thức chuyển thành công ty cổ phần.
Nghị định nhấn mạnh, số cổ phần ưu đãi người lao động phải nắm giữ tối thiểu ba năm kể từ thời điểm nộp tiền mua và không được chuyển nhượng trong thời gian này. Đồng thời, tổng giá trị cổ phần bán ưu đãi tính theo mệnh giá không được vượt quá giá trị phần vốn chủ sở hữu theo sổ sách kế toán tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp.
Bên cạnh cơ chế ưu đãi, Nghị định 57/2026/NĐ-CP còn thiết kế chính sách mua thêm cổ phần dành cho những người lao động thuộc diện doanh nghiệp cần tiếp tục sử dụng và có cam kết làm việc tối thiểu ba năm kể từ khi doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu.
Giá bán đối với số cổ phần mua thêm là giá khởi điểm do cơ quan đại diện chủ sở hữu phê duyệt trong phương án cổ phần hóa. Số cổ phần mua thêm được tính theo thời gian cam kết tiếp tục làm việc tối đa đến khi đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định của pháp luật
(Nghị định 57/2026/NĐ-CP)
Theo đó, người lao động được mua thêm 200 cổ phần cho mỗi năm cam kết làm việc, tối đa không quá 2.000 cổ phần. Riêng các chuyên gia giỏi, có trình độ chuyên môn cao, mức mua thêm có thể lên tới 500 cổ phần mỗi năm cam kết và tối đa 5.000 cổ phần.
Doanh nghiệp cổ phần hóa có trách nhiệm xây dựng tiêu chí xác định chuyên gia giỏi, phù hợp với đặc thù ngành nghề và phải được Hội nghị người lao động thông qua trước khi thực hiện.
“Mỗi người lao động chỉ được hưởng một trong hai mức mua thêm nêu trên. Số cổ phần mua thêm sẽ được chuyển đổi thành cổ phần phổ thông sau khi người lao động hoàn thành thời gian cam kết”, Nghị định 57/2026/NĐ-CP nêu rõ.
Trường hợp công ty cổ phần thay đổi cơ cấu, công nghệ, di dời hoặc thu hẹp địa điểm sản xuất, kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền dẫn đến người lao động phải chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn cam kết thì số cổ phần đã mua thêm vẫn được chuyển đổi thành cổ phần phổ thông.
Các doanh nghiệp tái cơ cấu thông qua Công ty Mua bán nợ Việt Nam, người lao động cũng được áp dụng các chính sách về giá ưu đãi và mua thêm tương tự, căn cứ vào điều kiện cụ thể và phương án tái cơ cấu được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Nghị định 57/2026/NĐ-CP quy định nếu người lao động có nhu cầu bán lại cho doanh nghiệp, công ty cổ phần có trách nhiệm mua lại với giá sát với giá giao dịch trên thị trường.
Ngược lại, nếu người lao động chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn cam kết thì phải bán lại cho công ty cổ phần toàn bộ số cổ phần đã được mua thêm với giá sát giá giao dịch trên thị trường nhưng không vượt quá giá đã mua tại thời điểm cổ phần hóa.
Ngoài số cổ phần mua theo diện ưu đãi và cam kết, nếu có nhu cầu mua thêm, người lao động phải tham gia đấu giá công khai như các nhà đầu tư khác, bảo đảm nguyên tắc minh bạch và bình đẳng, Nghị định nhấn mạnh.
Song song với chính sách nắm giữ cổ phần, Nghị định 57/2026/NĐ-CP cũng quy định rõ cơ chế xử lý đối với lao động dôi dư.
Theo đó, người lao động làm việc theo hợp đồng lao động và người lao động của doanh nghiệp cổ phần hóa tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa đã được cử xuống làm đại diện phần vốn tại các doanh nghiệp khác mà không bố trí được việc làm tại công ty cổ phần theo phương án sử dụng lao động sẽ được hưởng chính sách đối với người lao động dôi dư theo quy định của pháp luật.
Đối với người quản lý doanh nghiệp, cơ quan đại diện chủ sở hữu có trách nhiệm xem xét, quyết định bố trí công việc. Trường hợp đã áp dụng mọi biện pháp nhưng không thể sắp xếp, người quản lý sẽ được hưởng chính sách tương tự tinh giản biên chế theo quy định.
Với người quản lý tại doanh nghiệp cấp II, thẩm quyền bố trí thuộc về Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch doanh nghiệp nhà nước; nếu không bố trí được việc làm thì thực hiện giải quyết theo pháp luật lao động.
Ba hình thức cổ phần hóa doanh nghiệp tại Nghị định 57/2026/NĐ-CP bao gồm:
1. Giữ nguyên vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp, phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn điều lệ.
2. Bán một phần vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp hoặc kết hợp vừa bán bớt một phần vốn nhà nước vừa phát hành thêm cổ phiếu đế tăng vốn điều lệ.
3. Bán toàn bộ vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp hoặc kết hợp vừa bán toàn bộ vốn nhà nước vừa phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn điều lệ.
(Nghị định 57/2026/NĐ-CP)
-Hoàng Sơn