The Latest News

Nhiều động lực giúp phục hồi thị trường bất động sản

Thời báo kinh tế Việt Nam - Mon, 02/16/2026 - 00:29
Nhiều động lực đang thúc đẩy "hồi sinh" thị trường bất động sản trong năm 2026. Trước thềm Xuân mới Bính Ngọ 2026, Tạp chí Kinh tế Việt Nam / VnEconomy đã ghi lại ý kiến của các chuyên gia, nhà quản lý, doanh nghiệp… dự báo về thị trường bất động sản năm 2026.

“Trong năm 2025, Chính phủ và các bộ, ngành đã ban hành một loạt chủ trương, chính sách quan trọng, đặc biệt là những định hướng đổi mới lớn của Đảng và Nhà nước, tác động trực tiếp đến lĩnh vực xây dựng và mở ra dư địa phát triển mới cho thị trường bất động sản trong giai đoạn tiếp theo.

Trong đó, bao gồm: Luật Đầu tư năm 2025, Luật Xây dựng năm 2025, Luật Đường sắt năm 2025, Nghị quyết số 201/2025/QH15  của Quốc hội thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển nhà ở xã hội, Nghị quyết 188/2025/QH15  của Quốc hội thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt để phát triển hệ thống mạng lưới đường sắt đô thị tại TP. Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh; Nghị quyết số 111/2025/UBTVQH15 về phân loại đô thị…

Các chính sách ban hành trong năm 2025 tập trung giải quyết ba nhóm vấn đề lớn.

Thứ nhất, nhóm chính sách cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và thị trường phát triển.

Thứ hai, nhóm chính sách tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế, khắc phục những vướng mắc trong quá trình thực thi pháp luật thời gian qua.

Thứ ba, nhóm chính sách liên quan đến thực hiện yêu cầu sắp xếp tổ chức bộ máy, sáp nhập đơn vị hành chính, qua đó mở ra không gian phát triển mới, đặc biệt đối với thị trường bất động sản tại các đô thị và vùng động lực.

Đáng chú ý, việc sắp xếp, hợp nhất chức năng quản lý giữa lĩnh vực giao thông và xây dựng đã tạo ra một động lực mới, thúc đẩy sự gắn kết chặt chẽ hơn giữa phát triển hạ tầng giao thông và phát triển nhà ở, thị trường bất động sản. Đây là xu hướng tất yếu trong phát triển đô thị hiện đại.

Đối với Luật Đường sắt, nhiều người chỉ nghĩ đến phát triển giao thông đường sắt thuần túy. Tuy nhiên, điểm mới và rất quan trọng của Luật này là phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD).

Cùng với việc ban hành Luật Đường sắt là việc ban hành Nghị quyết số 188/2025/QH15 thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt để phát triển hệ thống mạng lưới đường sắt đô thị tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh là bước đi quan trọng, tạo cú hích mới trong khai thác quỹ đất quanh các nhà ga, tuyến metro, qua đó dẫn dắt và định hướng thị trường bất động sản theo hướng bền vững hơn.

Bên cạnh hệ thống pháp luật, các công cụ quản lý như quy hoạch, chiến lược, chương trình và kế hoạch phát triển đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Hiện nay, các địa phương trên cả nước đang đồng loạt hoàn thiện các công cụ quản lý như: quy hoạch tỉnh, quy hoạch đô thị và nông thôn, chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở… Đây là những công cụ quan trọng nhằm sắp xếp, phân bố lại không gian phát triển mới và có thể dẫn đến sự thay đổi về cơ cấu phân khúc sản phẩm bất động sản tại từng khu vực trong thời gian tới.

Trước bối cảnh đó, các doanh nghiệp, nhà đầu tư và toàn bộ hệ sinh thái liên quan đến lĩnh vực bất động sản cần nhanh chóng nắm bắt, thích ứng kịp thời và đặt ra định hướng phát triển trong thời gian tới”.

“Hiện tại, thị trường xây dựng, bất động sản nước ta mới đóng góp dưới 10% GDP, trong khi ở Trung Quốc, con số này là khoảng 21%. Tôi cho rằng năm tới, chúng ta cần tính toán lại đóng góp của thị trường xây dựng, bất động sản đối với nền kinh tế, đặc biệt là hệ số lan tỏa.

Như chúng ta thấy, hiện có nhiều yếu tố vĩ mô đang tác động rất tốt tới thị trường bất động sản. Vừa qua, hàng loạt luật liên quan được sửa đổi theo hướng thông thoáng, tuy nhiên, thị trường vẫn còn nhiều bất cập: giá nhà tăng cao, tình trạng “đầu cơ” vẫn phổ biến; biện pháp căn cơ để kiểm soát giá nhà ở chưa được ban hành; một số doanh nghiệp có dấu hiệu đầu tư dàn trải; còn chậm trong ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số, chuyển đổi xanh; chi phí nhân công, vật liệu và đền bù, giải phóng mặt bằng tăng; một số địa phương tính bảng giá đất mới chưa nhất quán, chưa chuẩn hóa về phương pháp, dữ liệu đầu vào... dẫn đến giá đất cao, tiền nộp bổ sung lớn…

Do đó, tôi kiến nghị Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện thể chế về đất đai, xây dựng và bất động sản nhằm tăng cung, điều tiết phù hợp; có phương án, biện pháp cụ thể, khả thi trong ổn định, giảm mặt bằng giá bất động sản, nhất là nhà ở; kiểm soát phù hợp tín dụng bất động sản; đa dạng hóa nguồn vốn và phát triển tài chính bất động sản như: thị trường trái phiếu doanh nghiệp, sớm thành lập Quỹ nhà ở quốc gia, quỹ đầu tư tín thác bất động sản, có lộ trình đánh thuế bất động sản phù hợp; kiên quyết chống lãng phí, nhất là trong lĩnh vực đất đai, bất động sản, tài sản công, đầu tư công... để vừa là động lực tăng trưởng kinh tế vừa khơi thông nguồn lực, tăng niềm tin; cho phép chuyển đổi trụ sở cơ quan dư thừa thành nhà ở xã hội, nhà ở công vụ…

Với các doanh nghiệp, cần tận dụng tốt các chương trình, gói hỗ trợ (nhất là các chương trình giãn hoãn tiền thuê đất Đa dạng hóa nguồn vốn, sản phẩm; đưa giá nhà đất về mức hợp lý hơn; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin (in 3D, BIM…), chuyển đổi số, chuyển đổi xanh; thích ứng, nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp, văn hóa doanh nghiệp; chuẩn hóa quy trình, sản phẩm và nhân sự theo các Luật mới có hiệu lực”.

“Nhìn chung, mặc dù rủi ro thanh khoản vẫn là một yếu tố hiện hữu cần lưu tâm, nhưng bối cảnh hiện tại đang cho thấy những tín hiệu rất tích cực. Mọi thứ đang dần trở nên tốt hơn khi thị trường sàng lọc đi những yếu tố thiếu bền vững do tính cạnh tranh giữa các dự án sẽ được đẩy lên cao điểm. Thị trường sẽ không rơi vào trạng thái đóng băng mà sẽ tiến tới một giai đoạn phát triển chuyên nghiệp hơn, nơi mà chất lượng dự án và uy tín chủ đầu tư trở thành thước đo duy nhất cho sự thành công của giao dịch.

Năm 2026 sẽ là năm của nhu cầu thực và giá trị thực, thay thế hoàn toàn cho câu chuyện đầu cơ nóng hổi của những giai đoạn trước. Thực tế cho thấy tâm lý nhà đầu tư hiện nay đã trở nên bình tĩnh và thận trọng hơn rất nhiều. Khi mặt bằng giá đã neo ở mức cao, những người có ý định đầu cơ dần nhận ra rằng việc nhảy vào các cơn sóng ảo chỉ mang lại lợi ích cho nhóm đối tượng trục lợi hoặc những bên trung gian tung hứng giá. Do đó, dòng tiền sẽ tự khắc tìm về những sản phẩm mang lại giá trị sử dụng đích thực.

Giai đoạn này đồng thời đóng vai trò như một phép thử khắc nghiệt nhưng cần thiết đối với các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản. Thị trường đang vận hành theo quy luật chọn lọc tự nhiên một cách gắt gao. Đây là cơ hội để doanh nghiệp khẳng định vị thế và tạo dựng nền móng vững chắc cho bước phát triển tiếp theo. Khi chúng ta định hướng rõ ràng về mục tiêu phát triển bền vững thì cả dòng vốn lẫn nguồn cung sản phẩm cũng sẽ tự điều chỉnh để thích nghi theo đúng quỹ đạo đó.

Mọi thứ đang dần trở nên khuôn phép hơn với hệ thống pháp lý chặt chẽ và sự hỗ trợ quyết liệt từ phía Chính phủ. Sự kết hợp giữa tính minh bạch của dự án và các giải pháp tài chính thiết thực sẽ giúp thị trường bất động sản không còn là một cuộc chơi đầy rủi ro, mà trở thành một kênh đầu tư và an cư đúng nghĩa.

Bên cạnh đó, thời gian qua, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã tập trung chỉ đạo các bộ, ngành quyết liệt triển khai các nhiệm vụ, giải pháp tháo gỡ khó khăn, các điểm nghẽn thể chế để thúc đẩy phát triển các dự án bất động sản, nhất là nhà ở xã hội.

Hơn nữa, sau sáp nhập tỉnh, thành phố, những lợi thế riêng biệt của từng địa phương được tích hợp lại, cộng hưởng các thế mạnh, bổ trợ và bù đắp cho nhau. Việc sáp nhập sẽ thúc đẩy mạnh mẽ phát triển hạ tầng, kết nối các địa phương, đây chính là cơ hội lớn để xây dựng một thị trường bất động sản bền vững hơn trong tương lai.

Do đó, tôi tin rằng bước sang năm 2026, thị trường bất động sản sẽ chuyển mình mạnh mẽ theo hướng ưu tiên các nhu cầu thực tế khi các chính sách quản lý nhà nước bắt đầu thẩm thấu sâu rộng vào đời sống”.

“Báo cáo Khảo sát mức sống dân cư 2024 của Cục Thống kê, Bộ Tài chính, cho thấy chi tiêu cho nhà ở và các dịch vụ nhà ở hiện nay ước tính chiếm khoảng 15,0% tổng chi tiêu của hộ gia đình Việt Nam và sẽ gia tăng lên khoảng 20% trong giai đoạn 2025-2030. Với mục tiêu tới năm 2030 đạt trên 50% dân số sống ở đô thị, có 1.000-1.200 đô thị, thị trường bất động sản dự kiến tăng trưởng nhanh, đưa Việt Nam thuộc nhóm các quốc gia đô thị hóa nhanh nhất khu vực châu Á.

Tại các nước phát triển, thị trường bất động sản và dịch vụ nhà ở chiếm khoảng 16% GDP. Tại Việt Nam, con số này hiện được ước tính là 8% GDP và được dự báo sẽ tăng lên 10% GDP vào năm 2030. Khi đó, quy mô thị trường bất động sản và dịch vụ nhà ở sẽ tăng gấp đôi so với hiện tại, đạt khoảng 80-85 tỷ USD/năm.

Đặc biệt, Việt Nam đang đầu tư mạnh cho phát triển hạ tầng. Giai đoạn 2026 – 2030, dự kiến dành nguồn vốn đầu tư công ước tính lên tới khoảng 8,5 triệu tỷ đồng, gấp 3 lần giai đoạn trước. Ngay trong năm 2026, dự sẽ chi 1,08 triệu tỷ đồng cho đầu tư công. Điều này sẽ tác động mạnh mẽ, tích cực đến thị trường bất động sản thông qua mở rộng các không gian tăng trưởng mới, cải thiện hạ tầng giao thông, kết nối vùng, thu hút doanh nghiệp và lao động. Từ đó, tăng nhu cầu về bất động sản nhà ở, văn phòng, công nghiệp, thương mại, thúc đẩy giá trị bất động và tạo động lực phát triển các khu đô thị mới cũng như gia tăng giá trị từ đất đai.

Ngoài ra, nguồn vốn FDI đổ vào Việt Nam vẫn rất lớn. Trong giai đoạn 2021–2025, vốn thực hiện uớc đạt hơn 158 tỷ USD, vượt mục tiêu 100–150 tỷ USD đề ra trong Nghị quyết 50-NQ/TW của Bộ Chính trị.

Với phân khúc bất động sản công nghiệp, FDI vào ngành chế biến, chế tạo tăng mạnh thúc đẩy nhu cầu nhà xưởng, kho bãi. Xu hướng chuyển dịch sang khu công nghiệp xanh/sinh thái đạt tiêu chuẩn ESG đang trở thành ưu tiên hàng đầu của các nhà đầu tư ngoại.

Với phân khúc căn hộ dịch vụ và nhà ở cao cấp, sự gia tăng các chuyên gia, kỹ sư nước ngoài theo các dự án FDI lớn tiếp tục làm gia tăng nhu cầu thuê căn hộ cao cấp và văn phòng tại các đô thị lớn như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và các thủ phủ công nghiệp như Bắc Ninh, Bình Dương”.

“Giai đoạn 2026-2030 sẽ là chu kỳ tăng trưởng mới của thị trường bất động sản Việt Nam. Dự báo trong năm 2026, nguồn cung tiếp tục tăng khi nhiều dự án từng “đóng băng” được tháo gỡ pháp lý và quay trở lại thị trường.

Tại Hà Nội, nguồn cung năm 2026 ước đạt 40 nghìn căn, TP. Hồ Chí Minh ước đạt 28 nghìn căn. Tỷ trọng đóng góp của khu vực miền Nam tăng trưởng rõ rệt, khi các dự án đang triển khai ra hàng đúng kế hoạch. Phân khúc chung cư tiếp tục dẫn dắt nguồn cung và thanh khoản. Phân khúc đất nền, nhà ở riêng lẻ tại các tỉnh thành có kinh tế phát triển và hạ tầng đang triển khai thực tế cũng được nhiều nhà đầu tư ưa chuộng. Phân khúc nhà ở xã hội ghi nhận nguồn cung gia tăng mạnh mẽ với sự tham gia của các chủ đầu tư lớn.

Nguồn cung không chỉ tăng về lượng, mà còn thay đổi về quy mô với sự xuất hiện ngày càng nhiều của các siêu đô thị, đồng thời, chất lượng sản phẩm được cải thiện theo xu hướng đô thị xanh, phát triển bền vững. Tuy nhiên, cơ hội đầu tư không còn trải đều mà chọn lọc hơn theo vị trí - phân khúc - dòng tiền, nhất là khi áp lực từ xu hướng lãi suất tăng trở lại đang trở thành “phép thử” đối với cả chủ đầu tư lẫn người mua nhà. Lượng giao dịch sẽ tăng tỷ lệ thuận với nguồn cung nhưng tập trung vào các dự án có pháp lý hoàn thiện, chủ đầu tư uy tín, đáp ứng tiêu chuẩn bền vững, dọc các tuyến đường vành đai, hạ tầng giao thông công cộng. Nhà đầu tư tiếp tục có xu hướng đổ về khu vực vùng ven khi mặt bằng giá tại khu vực thành phố đã quá cao, không còn nhiều dư địa tăng trưởng về giá và tỷ suất sinh lời thấp.

Giá bán trên thị trường sơ cấp tiếp tục được duy trì ở mức cao do chi phí tiền sử dụng đất tăng mạnh theo bảng giá đất mới; nhiều dự án triển khai trở lại sau khi được gỡ vướng có chi phí vốn tăng; nhưng tốc độ tăng chậm lại khi có sự cạnh tranh về giá và chính sách bán hàng giữa các chủ đầu tư. Trong khi mặt bằng giá tại khu vực miền Nam vẫn duy trì đà tăng ổn định, thì tại miền Bắc, sau giai đoạn tăng “nóng” ở một số thị trường thì nguồn cung dự kiến đi vào ổn định hơn khiến giá bán bắt đầu chững lại.

Tuy nhiên, xu hướng tăng vẫn sẽ tiếp diễn theo hướng có chọn lọc, tập trung vào các dự án có khả năng kết nối giao thông thuận tiện, phát triển theo mô hình TOD, đã hình thành hạ tầng và hệ thống tiện ích cơ bản, đủ sức thu hút nhu cầu ở thực. Đồng thời, thị trường cũng ghi nhận sự “nổi lên” của một số khu vực có mặt bằng giá còn ở vùng trũng, khi bắt đầu xuất hiện các chủ đầu tư lớn triển khai những dự án quy mô lớn với hạ tầng bứt phá”.

“Triển vọng thị trường bất động sản Việt Nam trong thập kỷ tới là rất tích cực, được định hình bởi ba động lực chính: khung pháp lý ổn định và minh bạch hóa; dòng vốn FDI mạnh mẽ nhờ quy trình phê duyệt hiệu quả hơn; sự bùng nổ hạ tầng mở ra các thị trường vùng ven, thúc đẩy nguồn cung nhà ở vừa túi tiền và logistics.

Động lực tăng trưởng của Việt Nam nói chung và của thị trường bất động sản nói riêng còn đến từ thị trường nội địa năng động, lạm phát được kiểm soát tốt, lãi suất duy trì ở mức thấp và tầng lớp trung lưu mở rộng nhanh chóng. 

GDP Việt Nam hiện tại ước khoảng 480 tỷ USD và dự kiến sẽ tăng gấp ba lần vào năm 2035. Tỷ lệ đô thị hóa dự kiến đạt 50%, tương đương 51 triệu người dân đô thị. Tầng lớp trung lưu dự kiến chiếm tới 75% dân số từ đó kéo theo nhu cầu nhà ở, thương mại, nghỉ dưỡng và chăm sóc sức khỏe gia tăng mạnh.

Đây là giai đoạn Việt Nam chuyển mình từ nền kinh tế ‘tích trữ đất’ sang ‘tạo giá trị’. Thị trường sẽ chứng kiến sự gia tăng vai trò của nhà đầu tư tổ chức và dòng vốn quốc tế, hướng đến phát triển dự án bền vững và dài hạn. Chính phủ hiện cũng đang đẩy mạnh cải cách pháp lý và cơ chế huy động vốn mới, bao gồm trái phiếu hạ tầng và chuyển đổi số trong quản lý thị trường, hướng đến một môi trường minh bạch, hiện đại và thu hút vốn dài hạn. 

Từ năm 2026 trở đi, nguồn cung nhà ở sẽ dồi dào hơn. Những dòng sản phẩm được tung ra từ các chủ đầu tư uy tín, vị trí đẹp, pháp lý ổn sẽ vẫn thu hút được các nhà đầu tư cũng như người mua sử dụng. Đối với những dòng sản phẩm diện tích nhỏ hay những dòng sản phẩm 1-2 phòng ngủ thường sẽ thu hút được nhiều người mua hơn. 

Với phân khúc hạng C, tình trạng mất cân đối nguồn cung dự kiến sẽ sớm được cải thiện nhờ việc chính quyền địa phương đẩy mạnh xét duyệt, thực hiện thí điểm một số dự án nhà ở cũng như đẩy mạnh đầu tư cơ sở hạ tầng, tăng khả năng kết nối và đi lại giữa các vùng trong thời gian sắp tới. Một số dự án đã hoàn tất thủ tục pháp lý, đang hoàn thiện, chuẩn bị sản phẩm và sẽ sớm ra mắt thị trường.

Tại Hà Nội, Thành phố đang đẩy nhanh việc phát triển các dự án nhà ở xã hội nhằm giải quyết các hạn chế về khả năng chi trả và hỗ trợ tiếp cận nhà ở rộng rãi hơn. Nếu các biện pháp này tiếp tục được thực hiện, chúng ta có thể kỳ vọng sớm khắc phục tình trạng thiếu hụt nhà ở vừa túi tiền và nhà ở xã hội - những phân khúc vốn khan hiếm trong suốt thời gian qua.

Còn tại TP.Hồ Chí Minh, giá bán căn hộ có thể tiếp tục đà tăng nhờ niềm tin vào khả năng tiêu thụ tốt và tác động tích cực từ các dự án hạ tầng lớn như vành đai 3, tuyến metro số 2, cầu Thủ Thiêm 4... Tuy nhiên, nguồn cung hạn chế và mức giá cao vẫn là rào cản chính đối với người mua ở thật trong ngắn hạn. Để cân bằng thị trường, việc đẩy mạnh đô thị hóa, thiết lập hạ tầng liên kết vùng sẽ khiến các chủ đầu tư tự tin hơn trong việc mở rộng quỹ đất và phát triển sản phẩm nhà ở vừa túi tiền, đây sẽ là yếu tố then chốt”.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-

Categories: The Latest News

Vì sao chatbot AI sẽ thay đổi câu trả lời khi hỏi “Bạn có chắc không?”

Thời báo kinh tế Việt Nam - Mon, 02/16/2026 - 00:25
Tiến sĩ Randal S. Olson, đồng sáng lập kiêm Giám đốc công nghệ của Goodeye Labs, nhận định rằng hiện tượng này thường được gọi là “nịnh hót” (sycophancy), là một trong những "thất bại" điển hình của trí tuệ nhân tạo hiện nay...

Khi truy vấn chatbot AI, rồi hỏi lại “bạn có chắc không?”, thực tế đa phần chúng sẽ xem xét lại câu trả lời ban đầu và đưa ra hồi đáp mới, đôi khi mâu thuẫn một phần, thậm chí hoàn toàn trái ngược với chính nội dung trước đó.

Nếu tiếp tục bị chất vấn, các mô hình càng có xu hướng thay đổi quan điểm. Dù một số mô hình ngôn ngữ lớn nhận ra mình đang bị “thử phản xạ”, song chúng vẫn hiếm khi giữ nguyên lập trường ban đầu.

Trong một bài viết trên blog cá nhân, Tiến sĩ Randal S. Olson, đồng sáng lập kiêm Giám đốc công nghệ của Goodeye Labs, nhận định rằng hiện tượng này, thường được gọi là “nịnh hót” (sycophancy), là một trong những "thất bại" điển hình của trí tuệ nhân tạo hiện nay.

Các chatbot AI như ChatGPT, Claude hay Gemini được thiết kế để hỗ trợ người dùng một cách thân thiện. Tuy nhiên, chính phương pháp huấn luyện của chúng lại khiến các hệ thống này trở nên quá dễ “chiều lòng” người hỏi.

Công ty Anthropic, đơn vị phát triển Claude, cũng từng công bố nghiên cứu về vấn đề này vào năm 2023. Báo cáo chỉ ra rằng các mô hình được huấn luyện có xu hướng ưu tiên câu trả lời làm hài lòng người dùng hơn là những câu trả lời trung thực.

Phương pháp huấn luyện nói trên gọi là học tăng cường từ phản hồi của con người (RLHF) vốn được áp dụng để giúp chatbot giao tiếp tự nhiên, mềm mại và ít gây phản cảm hơn. Song mặt trái cũng khiến mô hình dễ “chiều ý” người hỏi.

Hệ quả là, trong quá trình tối ưu, những câu trả lời làm hài lòng kỳ vọng của người dùng có thể được chấm điểm cao hơn, trong khi các phản hồi thẳng thắn nhưng trái ý lại kém được ưu tiên. 

Cơ chế này vô hình trung tạo ra một vòng lặp: mô hình ngày càng có xu hướng nói điều người dùng muốn nghe thay vì điều chính xác nhất.

Một nghiên cứu khác của Fanous et al, thử nghiệm trên GPT-4o của OpenAI, Claude Sonnet và Gemini 1.5 Pro trong các lĩnh vực toán học và y khoa, cho thấy các hệ thống này đã thay đổi câu trả lời của mình gần 60% khi bị người dùng chất vấn lại.

Điều đó cho thấy đây không phải là trường hợp cá biệt, mà là xu hướng chung của các mô hình đang được hàng triệu người sử dụng mỗi ngày. Cụ thể, GPT-4o, Claude Sonnet và Gemini 1.5 Pro đã thay đổi lập trường lần lượt khoảng 58%, 56% và 61% khi bị người dùng chất vấn lại.

Đáng chú ý, cách diễn đạt cũng ảnh hưởng đến mức độ “chiều ý”. Khi người dùng sử dụng ngôi thứ nhất, chẳng hạn như “Tôi tin rằng…”, tỷ lệ chatbot thay đổi quan điểm để đồng thuận cao hơn so với cách đặt vấn đề ở ngôi thứ ba.

-Bạch Dương

Categories: The Latest News

Nhà nhiệt đới cho gia đình nhiều thế hệ

Thời báo kinh tế Việt Nam - Mon, 02/16/2026 - 00:25
Ở những vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm như Việt Nam, kiến trúc và nội thất nhà ở không chỉ là câu chuyện tường, mái và không gian. Mà đó là cuộc đối thoại với ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm và nhịp điệu tự nhiên…

Theo WHO: "Sức khỏe trong đời sống được hiểu là trạng thái thoải mái cả về thể chất lẫn tinh thần, chứ không phải chỉ là việc không có bệnh tật". Nhận thức này đã làm thay đổi cách con người định nghĩa về ngôi nhà lý tưởng. Không đơn thuần là nơi cư trú, nhà là nơi đáp ứng nhu cầu cân bằng thân - tâm - trí, tận hưởng cuộc sống trong lành, hài hòa với tự nhiên.

Khi thời tiết ngày càng trở nên khó lường, các kiến ​​trúc sư Việt Nam tìm về quá khứ và thiên nhiên để giảm bớt sức ép khí hậu. Phong cách nhiệt đới hiện nay đề cao vẻ đẹp lý tính, đơn giản, với những nguyên tắc kiến trúc bản địa cũng như kỹ thuật và phong cách xây dựng truyền thống. Nói cách khác, đây là sự hòa quyện giữa tính thẩm mỹ tối giản của thế giới hiện đại, cùng những nét văn hóa và khí hậu đặc trưng của vùng nhiệt đới.

Sự kết hợp độc đáo này không chỉ đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ hiện đại của con người mà còn đề cao các giải pháp thụ động trong thiết kế, giúp công trình giảm thiểu phụ thuộc vào điện năng và các yếu tố bên ngoài. Đây là cách kiến trúc thích nghi với điều kiện khí hậu tự nhiên, mở ra những cơ hội mới trong việc kết hợp vật liệu, tôn vinh văn hóa và phương pháp xây dựng bản địa.

TROPICAL HOUSE 2 – BẮC GIANG

Công trình Tropical House 2 được hình dung như một ngôi làng thẳng đứng dành cho một gia đình nhiều thế hệ, nơi kiến ​​trúc, cây xanh và cuộc sống sinh hoạt chung được đan xen vào một hệ sinh thái sống động, thích ứng với khí hậu nhiệt đới.

Dự án tọa lạc tại số 1 đường Hùng Vương, thành phố Bắc Giang, trên một khu đất góc trong khu dân cư đông đúc. Với mặt tiền chính hướng Đông và một mặt dài hướng Bắc, khu đất mang lại điều kiện thuận lợi cho ánh sáng tự nhiên và thông gió, đồng thời cũng đặt ra những thách thức liên quan đến việc kiểm soát nhiệt độ và sự riêng tư trong bối cảnh đô thị.

Gia chủ đã hình dung về một ngôi nhà cho một gia đình lớn với chín người con và cháu – một ngôi nhà có thể hỗ trợ cuộc sống chung nhưng vẫn cho phép không gian riêng tư và khả năng thích ứng lâu dài. Đáp lại, các kiến trúc sư đến từ ARO studio đã tìm ra một chiến lược kiến ​​trúc hợp lý: Chuyển từ một khối nhà khép kín, nhỏ gọn sang một cấu trúc không gian phân lớp theo chiều ngang.

Tổng thể công trình được thể hiện thông qua các khoảng lùi, các phần nhô ra, ban công sâu và các khoảng trống trồng cây, làm giảm quy mô cảm nhận của ngôi nhà và tạo ra các không gian bán ngoài trời có bóng mát. Hình thức phân lớp này làm mềm sự hiện diện của tòa nhà và thiết lập nhiều điểm tiếp xúc với thiên nhiên.

Mái nhà được coi như một không gian sống thứ hai, nơi mái nhà xanh và không gian ngoài trời mở rộng cảnh quan theo chiều dọc. Lớp phủ xanh này cải thiện hiệu suất nhiệt, điều chỉnh vi khí hậu và giữ lại nước mưa, đồng thời cung cấp không gian chung cho các hoạt động gia đình.

Xen kẽ trong toàn bộ khối kiến ​​trúc là một hệ thống giếng trời và mái vòm trồng cây, cho phép ánh sáng ban ngày và luồng không khí tự nhiên xuyên sâu vào bên trong. Những khoảng trống này thúc đẩy thông gió chéo và làm mát bằng hiệu ứng ống khói, đồng thời đóng vai trò là các kết nối trực quan, củng cố mối quan hệ giữa các tầng và giữa các thế hệ.

Thay vì hoạt động như một ngôi nhà đơn thông thường, Tropical House 2 đề xuất một mô hình sống nhiệt đới bắt nguồn từ sự cộng sinh. Thông qua khối kiến ​​trúc nhiều lớp, mái nhà xanh và giếng trời đan xen, ngôi nhà trở thành một khung không gian nơi cuộc sống gia đình, thiên nhiên và môi trường đô thị được kết hợp hài hòa và bền vững.

TU PHUONG SECOND HOUSE – PHÚ THỌ

Sau đại dịch Covid-19, chủ nhân ngôi nhà này - khi đó đang sinh sống tại TP.HCM - đột nhiên có mong muốn trở về quê hương và xây dựng một ngôi nhà làm nơi sum họp gia đình và bạn bè. Đây sẽ là một nơi chốn nghỉ dưỡng của đại gia đình sau hơn 20 năm xa nhà theo đuổi công việc và cuộc sống ở thành phố.

Nằm trong một ngôi làng nông thôn ở xã Bình Tuyên, tỉnh Phú Thọ, ngôi nhà tọa lạc giữa khung cảnh nông thôn vẫn còn lưu giữ những nét đặc trưng của vùng quê miền Bắc Việt Nam. Dự án nằm gần một lò gạch lâu đời, và được truyền cảm hứng từ mong muốn của chủ nhà về một ngôi nhà truyền thống hòa mình với thiên nhiên, gạch ngói đất nung và gạch đỏ được chọn làm vật liệu chính.

Các kiến trúc sư đến từ văn phòng Atelier huu đã quyết định bảo tồn cẩn thận những cây cổ thụ do chủ nhà trồng từ hai thập kỷ trước để tạo thành yếu tố chính định hình bố cục. Những thói quen hàng ngày - những cuộc trò chuyện dưới mái hiên, sự hiện diện của cây cối và nước, vườn tược, và mùi thơm của bếp củi là những yếu tố định hình vẻ đẹp của cuộc sống nông thôn và dễ dàng nhận thấy trong kiến ​​trúc nông thôn truyền thống.

Tuy nhiên những điều này cũng đang dần biến mất dưới sự đô thị hóa nhanh chóng, không kiểm soát của các kiểu nhà ở mới. Do đó, thiết kế kiến trúc tập trung vào việc tạo ra không gian sinh hoạt chung ở tầng trệt, bao gồm phòng khách, không gian làm việc, phòng ngủ, bếp trong nhà và ngoài trời, vườn và ao cá.

Cách bố trí không gian tạo nên bầu không khí ấm cúng cho bữa ăn và những buổi sum họp gia đình, không gian làm việc sáng sủa và thoáng đãng, cùng những phòng ngủ tối giản, nhưng vẫn đảm bảo sự thoải mái.

Thiết kế tránh được vấn đề thường gặp là "càng lớn càng tốt", dẫn đến việc các không gian không được sử dụng hiệu quả bị biến thành kho chứa dụng cụ hoặc đồ cũ. Thay vào đó, dự án sử dụng vật liệu địa phương, kỹ thuật thủ công và các yếu tố nông thôn quen thuộc, gợi lên cảm giác thân mật và gần gũi.

Trong thời đại mà ranh giới giữa cuộc sống thành thị và nông thôn ngày càng mờ nhạt - nơi những khu vườn tươi tốt đang được thay thế bằng những sân lát gạch và mái tôn, và những ngôi nhà "vô danh" mới xây thiếu đi bản sắc văn hóa, ngôi nhà này mong muốn trở thành một lời nhắc nhở nhẹ nhàng: Một nguồn cảm hứng để bảo tồn và trân trọng lại vẻ đẹp tĩnh lặng và những giá trị vượt thời gian của kiến ​​trúc nông thôn truyền thống Việt Nam.

-Lưu Hà

Categories: The Latest News

Hàng không Việt khoác “tấm áo” mới

Thời báo kinh tế Việt Nam - Mon, 02/16/2026 - 00:23
Năm 2025, hệ thống cảng hàng không Việt Nam đã có những bước ngoặt quan trọng khi hàng loạt công trình lớn hoàn thành và những quyết định đầu tư chiến lược bắt đầu phát huy tác dụng. Trong bối cảnh hàng không toàn cầu có nhiều biến động, các sân bay Việt Nam không còn chỉ gánh vai trò giải tỏa nhu cầu đi lại, mà đang trở thành hạ tầng lõi tái cấu trúc không gian phát triển và nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế...

Trong hơn một thập niên qua, tăng trưởng nhanh là đặc điểm xuyên suốt của thị trường hàng không Việt Nam. Tuy nhiên, ở nhiều thời điểm, tốc độ mở rộng hạ tầng không theo kịp đà tăng trưởng của vận tải, dẫn tới tình trạng quá tải kéo dài tại các cửa ngõ lớn và sự lệch pha trong tổ chức không gian hàng không quốc gia.

Đầu năm 2025, bài toán đặt ra không còn dừng ở câu hỏi “xây thêm bao nhiêu nhà ga” hay “mở rộng thêm bao nhiêu đường băng”, mà chuyển sang một yêu cầu căn bản hơn: sắp xếp lại toàn bộ hệ thống cảng hàng không theo một trật tự mới, phù hợp hơn với quy mô nền kinh tế và những rủi ro ngày càng phức tạp của môi trường quốc tế.

ÁP LỰC TĂNG TRƯỞNG VÀ YÊU CẦU TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG

Bối cảnh vận tải hàng không toàn cầu năm 2025 là một màu xám với những tác động từ nhiều yếu tố bất định, căng thẳng địa chính trị, đứt gãy chuỗi cung ứng, đến các rủi ro về an ninh và an toàn bay. Những biến động này không chỉ ảnh hưởng đến các đường bay quốc tế, mà còn đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với năng lực điều hành, khai thác và bảo đảm an toàn của từng quốc gia.

Trong tình hình đó, việc thị trường hàng không Việt Nam vẫn duy trì đà tăng trưởng hai chữ số được xem là một tín hiệu đáng chú ý.

Theo số liệu của Cục Hàng không Việt Nam, trong năm 2025, tổng thị trường hành khách đạt hơn 83,5 triệu lượt, tăng 10,7% so với năm 2024; sản lượng hàng hóa ước đạt hơn 1,5 triệu tấn, tăng trên 18%.

Đằng sau các con số tăng trưởng này là áp lực ngày càng lớn đối với hệ thống hạ tầng hiện hữu, đặc biệt tại các sân bay trung tâm. Khi lưu lượng hành khách và hàng hóa tăng nhanh, vấn đề không chỉ nằm ở công suất thiết kế, mà còn ở khả năng tổ chức khai thác, điều phối slot bay, kết nối mặt đất và bảo đảm an toàn trong các giai đoạn cao điểm. Chính trong bối cảnh đó, các quyết định đầu tư và điều chỉnh quy hoạch sân bay trong năm 2025 cần được nhìn nhận như những phản ứng mang tính cấu trúc nhằm tái cân bằng toàn hệ thống, thay vì chỉ là các dự án mở rộng đơn lẻ.

MỞ RỘNG CỬA NGÕ, HÌNH THÀNH TRUNG TÂM TRUNG CHUYỂN

Nhận diện rõ các điểm nghẽn này, Chính phủ đã chỉ đạo hoàn thành và đưa vào khai thác một loạt công trình quan trọng trong năm 2025, tập trung vào các cửa ngõ lớn của mạng lưới hàng không.

Tại phía Nam, việc đưa vào sử dụng Nhà ga T3 của Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất dịp 30/4/2025 giúp bổ sung thêm khoảng 20 triệu hành khách công suất mỗi năm. Trong nhiều năm qua, sân bay lớn nhất cả nước đã khai thác vượt xa công suất thiết kế, việc xây dựng và đưa vào sử dụng nhà ga T3 được xem là bước đi cần thiết. Tuy nhiên, ý nghĩa của nhà ga này không chỉ nằm ở con số công suất bổ sung, mà ở khả năng tái tổ chức dòng hành khách, tách bạch các luồng khai thác và giảm áp lực vận hành cho các nhà ga hiện hữu.

Ở Hà Nội, việc hoàn thành mở rộng Nhà ga T2 của Cảng hàng không quốc tế Nội Bài vào ngày 19/12/2025 đã nâng công suất nhà ga quốc tế lên khoảng 15 triệu hành khách mỗi năm. Khi lưu lượng quốc tế phục hồi nhanh, việc tăng công suất song hành với hiện đại hóa hệ thống quản lý, điều phối và khai thác được xem là điều kiện then chốt để duy trì tính ổn định của cửa ngõ hàng không phía Bắc.

Cùng với các dự án tại hai đầu đất nước, việc nâng cấp, cải tạo một số sân bay địa phương như Vinh, Cà Mau cũng góp phần hoàn thiện mạng lưới, tăng khả năng tiếp cận hạ tầng hàng không cho các vùng. Những dự án này không tạo ra bước nhảy vọt về quy mô, nhưng có ý nghĩa trong việc giảm áp lực dồn nén lên các sân bay trung tâm, nhất là trong các dịp cao điểm lễ, Tết.

Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy mở rộng công suất thuần túy chỉ là điều kiện cần, nhưng chưa đủ. Khi tăng trưởng vận tải duy trì ở mức cao, hệ thống hàng không đòi hỏi một cách tiếp cận toàn diện hơn, trong đó hạ tầng phải gắn chặt với tổ chức không gian, phân vai chức năng và năng lực điều hành.

Trong bức tranh tái cấu trúc đó, Cảng hàng không quốc tế Long Thành giữ vị trí đặc biệt, không chỉ vì quy mô đầu tư, mà vì vai trò được định hình cho sân bay này trong cấu trúc dài hạn của hệ thống hàng không quốc gia.

Trong nhiều năm, hàng không Việt Nam chủ yếu đóng vai trò điểm đến, trong khi các luồng trung chuyển quốc tế, đặc biệt là hàng hóa hàng không giá trị cao, vẫn phụ thuộc lớn vào các trung tâm trong khu vực. Điều này khiến chuỗi logistics hàng không thiếu tính chủ động và dễ bị tổn thương trước các cú sốc bên ngoài.

Cảng hàng không quốc tế Long Thành được định vị để từng bước thay đổi trạng thái đó. Với thiết kế công suất lớn ngay từ giai đoạn đầu, dư địa mở rộng rõ ràng và khả năng tích hợp với hệ sinh thái logistics, sân bay này được kỳ vọng trở thành một mắt xích trung tâm, không chỉ phục vụ nhu cầu đi lại, mà còn nâng cao năng lực trung chuyển của nền kinh tế.

Chuyến bay kỹ thuật đầu tiên diễn ra ngày 19/12/2025, trong bối cảnh các tiêu chuẩn an ninh, an toàn hàng không toàn cầu ngày càng khắt khe, cho thấy các hạng mục cốt lõi của giai đoạn 1 đã sẵn sàng. Dù khai thác thương mại toàn diện được đặt ra cho năm 2026, mốc kỹ thuật này mang ý nghĩa xác lập vai trò của sân bay Long Thành trong cấu trúc hàng không tương lai.

Đáng chú ý, Cảng hàng không Long Thành không được phát triển như một “đảo hạ tầng” biệt lập. Việc kết nối với hệ thống cao tốc, các trục giao thông vùng Đông Nam Bộ và định hướng đường sắt kết nối sân bay phản ánh tư duy coi sân bay là trung tâm logistics – kinh tế, chứ không chỉ là điểm cất hạ cánh.

SẮP XẾP LẠI KHÔNG GIAN HÀNG KHÔNG QUỐC GIA

Nếu sân bay Long Thành đại diện cho tầm nhìn trung chuyển quốc tế ở phía Nam, thì sân bay Gia Bình phản ánh sự thay đổi trong tư duy tổ chức không gian hàng không vùng Thủ đô.

Việc Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư sân bay Gia Bình vào tháng 12/2025 cho thấy định hướng hình thành một lớp sân bay thứ hai cho vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Trong nhiều năm, Cảng hàng không quốc tế Nội Bài phải gánh đồng thời nhiều vai trò, từ cửa ngõ quốc tế, trung tâm trung chuyển đến phục vụ nhu cầu nội địa, khiến áp lực khai thác ngày càng lớn trong các khung giờ cao điểm.

Gia Bình được định hướng theo mô hình lưỡng dụng, kết hợp dân dụng với an ninh – quốc phòng. Cách tiếp cận này không chỉ tối ưu hóa nguồn lực đầu tư, mà còn tăng tính linh hoạt và khả năng ứng phó của hệ thống trong những tình huống bất thường. Đồng thời, việc đặt sân bay tại Bắc Ninh mở ra khả năng gắn kết chặt chẽ hơn giữa hạ tầng hàng không với các trung tâm công nghiệp, công nghệ và logistics đang phát triển mạnh trong khu vực.

Ở góc độ không gian phát triển, Gia Bình góp phần mở rộng phạm vi ảnh hưởng của hạ tầng hàng không Thủ đô theo hướng đa cực. Thay vì tiếp tục dồn nén hoạt động quanh một điểm, mô hình mới cho phép phân bổ lại dòng hành khách và hàng hóa, qua đó nâng cao khả năng thích ứng của toàn hệ thống.

Trong các chỉ đạo đối với ngành hàng không, yêu cầu coi an toàn là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt tiếp tục được nhấn mạnh. Đồng thời, công tác quản lý, điều hành và tối ưu hóa hoạt động khai thác, đặc biệt trong các giai đoạn cao điểm, được xác định là yếu tố quyết định để hạ tầng mới phát huy hiệu quả thực chất.

Cùng với đó, chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu hàng không và các công cụ điều phối giờ hạ, cất cánh được đặt ra như yêu cầu tất yếu. Khi lưu lượng vận tải ngày càng lớn, năng lực điều hành thông minh và minh bạch trở thành điều kiện cần để hệ thống vận hành an toàn và hiệu quả.

Từ góc nhìn kinh tế, những chuyển động của hạ tầng hàng không trong năm 2025 cho thấy một sự dịch chuyển rõ rệt trong tư duy phát triển. Nếu trước đây hạ tầng chủ yếu được đầu tư theo logic “có nhu cầu đến đâu, mở rộng đến đó”, thì nay cách tiếp cận đang dần đảo chiều. Việc chủ động phát triển các sân bay lớn, các lớp sân bay bổ trợ và mạng lưới kết nối đi kèm không chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu hiện hữu, mà còn tạo nền tảng để dẫn dắt sự hình thành các không gian kinh tế mới...

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-Đan Tiên

Categories: The Latest News

Giới phân tích dự báo giá vàng còn biến động

Thời báo kinh tế Việt Nam - Mon, 02/16/2026 - 00:03
Giá vàng đã lấy lại được mốc chủ chốt 5.000 USD/oz khi kết thúc tuần giao dịch vừa rồi, nhưng giới phân tích cảnh báo rằng phiên bán tháo vào hôm thứ Năm là một dấu hiệu cho thấy thị trường kim loại quý vẫn đang cố gắng tìm kiếm một điểm cân bằng...

Vào đầu tuần trước, giá vàng và giá bạc dường như đã thiết lập lại được xu hướng tăng sau đợt bán tháo vào cuối tháng 1, đầu tháng 2. Tuy nhiên, ngày thứ Năm, áp lực bán lại gia tăng mạnh mẽ, khiến giá vàng giảm 3% và giá bạc giảm hơn 10%.

“Đó là một diễn biến rất khác thường, không chỉ đối với vàng mà đối với cả bạc, xét tới việc không có một chất xúc tác cụ thể nào phía sau đó”, nhà phân tích Michael Brown của công ty Market Analyst Pepperstone nhận định với trang Kitco News về phiên sụt giá của kim loại quý hôm thứ Năm. Ông cho rằng với phiên giảm đó, rất khó để kết luận rằng giai đoạn biến động đã kết thúc.

“Tôi vẫn giữ quan điểm là cần phải có một giai đoạn tích lũy trước khi giá vàng nối lại xu hướng tăng”, ông Brown nhấn mạnh.

Phiên ngày thứ Sáu, giá vàng bật tăng trở lại, tái lập mốc chủ chốt 5.000 USD/oz, nhờ báo cáo thống kê cho thấy chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của Mỹ tăng yếu hơn so với dự báo - điểm dữ liệu củng cố khả năng Cục Dự trữ Liên bang (Fed) hạ lãi suất trong năm 2025. Dù vậy, thị trường hiện vẫn cho rằng Fed sẽ không giảm lãi suất trước tháng 6, và nghiêng về khả năng ngân hàng trung ương này sẽ có 2 đợt giảm lãi suất trong cả năm nay.

“Sau số liệu lạm phát mới nhất, thị trường đang ước lượng khả năng khoảng 50% Fed có thêm một đợt giảm lãi suất thứ ba trong năm 2026. Tuy nhiên, có lẽ vẫn còn quá sớm để các nhà đầu cơ giá lên vàng có thể ăn mừng, vì mốc 5.000 USD/oz vẫn đang là một ngưỡng tâm lý quan trọng. Nếu giữ được mốc này, giá vàng có thể tăng lên vùng 5.050-5.100 USD/oz. Còn nếu không giữ được mốc này, giá vàng có thể sụt về 4.900 USD/oz. Phiên bán tháo đột ngột hôm thứ Năm cho thấy tâm lý trên thị trường vàng vẫn còn khá mong manh, vì ‘vết thương’ do đợt bán tháo dữ dội hồi tháng 1 gây ra vẫn chưa lành”, nhà phân tích cấp cao Lukman Otunuga của công ty FXTM nhận xét.

Cùng với biến động trong kỳ vọng lãi suất Fed, giá vàng có thể còn đang chịu sự chi phối từ áp lực bán gia tăng trên thị trường chứng khoán Mỹ. Về phần mình, chứng khoán Mỹ đang trong giai đoạn rất nhạy cảm với mối lo ngại ngày càng lớn rằng cơn sốt công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) - động lực cho xu hướng tăng của giá cổ phiếu ở Phố Wall trong một thời gian dài - có thể đã trở nên không bền vững.

Vàng là một “hầm trú ẩn” truyền thống, thường phát huy công dụng bảo toàn giá trị cho danh mục của nhà đầu tư khi thị trường chứng khoán suy yếu. Nhưng mặt khác, vàng cũng là một tài sản có độ thanh khoản cao, dễ bị bán khi nhà đầu tư cần tiền để đáp ứng yêu cầu ký quỹ trong trường hợp giá cổ phiếu giảm mạnh.

Ngoài ra, một số nhà phân tích nhận định giá vàng và giá bạc có thể đương đầu áp lực bán mạnh trong tuần này do thị trường Trung Quốc - một thị trường kim loại quý chủ chốt - đóng cửa nghỉ Tết Nguyên đán. Theo các chuyên gia, nhu cầu của thị trường Trung Quốc đã giữ một vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ thị trường kim loại quý thời gian qua, bao gồm cả trong đợt biến động giá gần đây.

Diễn biến giá vàng thế giới 10 năm qua. Đơn vị: USD/oz - Nguồn: Trading Economics.

Nhà phân tích Barbara Lambrecht của ngân hàng Commerzbank nhận định giá vàng sẽ đi vào tích lũy trong tuần Tết Nguyên đán. Thị trường Mỹ đóng cửa vào ngày thứ Hai để nghỉ Lễ Tổng thống. Tuy nhiên, tuần này sẽ có nhiều số liệu kinh tế quan trọng của Mỹ được công bố, có thể tác động đáng kể đến diễn biến giá vàng và giá bạc, gồm các báo cáo về lĩnh vực sản xuất, thị trường bất động sản và tổng sản phẩm trong nước (GDP).

Nhà phân tích cấp cao Christopher Lewis của trang FXEmpire.com nhận định giá vàng vẫn được hỗ trợ bởi các yếu tố nền tảng thuận lợi, nhưng trong ngắn hạn, xu hướng đang không rõ nét.

“Tuy nhiên, nhà đầu tư không cần phức tạp hóa vấn đề, và mỗi lần giảm giá trong ngắn hạn vẫn có thể là cơ hội mua. Giá vàng có thể còn giằng co thêm một thời gian nữa. Giá vàng đã tăng quá nhanh, nhưng trong một môi trường như thế này, tôi cũng không muốn bán vàng. Nếu giá vàng giảm thêm khoảng 200 USD/oz, sẽ có thêm nhiều nhà đầu tư xuống tiền. Và tôi sẽ không ngạc nhiên nếu giá vàng tìm cách lập lại các mức đỉnh đã có” ông Lewis nói với Kitco News.

-Điệp Vũ

Categories: The Latest News

Thủ tướng: Khẩn trương khắc phục hư hỏng, đồng thời đầu tư xây dựng cầu sông Lô mới

Thời Báo Kinh Tế - Sun, 02/15/2026 - 22:01
Chiều 14/2, Phạm Minh Chính chủ trì cuộc họp Thường trực Chính phủ với các bộ, ngành Trung ương và tỉnh Phú Thọ về tình hình khắc phục hư hỏng công trình cầu sông Lô. Cuộc họp tập trung đánh giá hiện trạng kỹ thuật, phương án xử lý trước mắt và định hướng đầu tư xây dựng cầu mới nhằm bảo đảm nhu cầu đi lại, phát triển kinh tế – xã hội và an ninh quốc phòng.

Theo báo cáo của UBND tỉnh Phú Thọ, dự án cầu sông Lô và cứng hóa mặt đê tả sông Lô được phê duyệt ngày 21/4/2008, tổng mức đầu tư 320 tỷ đồng, trong đó phần cầu 231 tỷ đồng. Công trình được xây dựng tại huyện Đoan Hùng (nay là xã Đoan Hùng), đưa vào khai thác từ ngày 11/11/2015 và nghiệm thu hết bảo hành từ ngày 10/1/2018.

Kết quả khảo sát, kiểm định tổng thể cho thấy kết cấu dầm cầu và trụ cầu không phát hiện vấn đề bất thường. Tuy nhiên, thí nghiệm bê tông khoan rút lõi tại một số bệ trụ và cọc khoan nhồi không đạt yêu cầu thiết kế; kết cấu móng các trụ T3, T4, T5, T6 không đủ khả năng chịu lực theo tiêu chuẩn 22TCN 272-05, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn khai thác.

Trên cơ sở đó, UBND tỉnh Phú Thọ đã chỉ đạo điều chỉnh phương án phân luồng, tổ chức giao thông qua cầu; đồng thời đề xuất hai phương án gồm sửa chữa, khắc phục hư hỏng và đầu tư xây dựng cầu sông Lô mới.

Thảo luận tại cuộc họp, các ý kiến thống nhất cần khẩn trương có biện pháp sửa chữa, khắc phục hư hỏng cầu sông Lô để đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân; đồng thời nhất trí với đề xuất đầu tư xây dựng cầu sông Lô mới.

Kết luận cuộc họp, Thủ tướng Chính phủ hoan nghênh các bộ, ngành và tỉnh Phú Thọ đã kịp thời phản ứng trước sự cố. Tuy nhiên, Thủ tướng lưu ý việc xử lý vẫn còn lúng túng, chưa có phương án rõ ràng, khả thi, đáp ứng yêu cầu đi lại của người dân.

Thủ tướng yêu cầu việc hư hỏng cầu sông Lô phải được điều tra, kết luận trong tháng 2/2026 để xử lý theo quy định của Đảng và pháp luật Nhà nước. Trước mắt, vừa sửa chữa, khắc phục hư hỏng cầu hiện hữu, vừa triển khai đầu tư xây dựng cầu sông Lô mới; đồng thời nghiên cứu phương án bắc cầu phao phục vụ nhu cầu đi lại khi cần thiết.

Về định hướng lâu dài, Thủ tướng chỉ đạo nghiên cứu đầu tư xây dựng cầu sông Lô mới theo quy hoạch, quy mô tương đương cầu Phong Châu mới, thời gian hoàn thành trong 1 năm, phấn đấu để nhân dân có cầu mới đi lại vào Tết Nguyên đán 2027. Tỉnh Phú Thọ làm chủ đầu tư; các đơn vị Quân đội tham gia hỗ trợ triển khai dự án.

Về nguồn vốn, tỉnh Phú Thọ chịu trách nhiệm giải phóng mặt bằng và đường dẫn hai đầu cầu; Trung ương hỗ trợ kinh phí xây lắp cầu từ nguồn dự phòng năm 2025 chuyển sang, bảo đảm không để xảy ra tiêu cực, tham nhũng, lãng phí.

Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương triển khai nhiệm vụ theo đúng thẩm quyền; trường hợp vượt thẩm quyền phải kịp thời báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, xử lý. Đây là tình huống khẩn cấp, việc đầu tư được thực hiện theo cơ chế lệnh tình trạng khẩn cấp, tổ chức triển khai với yêu cầu tiến độ cao nhằm bảo đảm không chậm trễ, không bỏ lỡ cơ hội phát triển.

-Hà Lê

Categories: The Latest News

Thủ tướng: Khẩn trương khắc phục hư hỏng, đồng thời đầu tư xây dựng cầu sông Lô mới

Thời báo kinh tế Việt Nam - Sun, 02/15/2026 - 22:01
Chiều 14/2, Phạm Minh Chính chủ trì cuộc họp Thường trực Chính phủ với các bộ, ngành Trung ương và tỉnh Phú Thọ về tình hình khắc phục hư hỏng công trình cầu sông Lô. Cuộc họp tập trung đánh giá hiện trạng kỹ thuật, phương án xử lý trước mắt và định hướng đầu tư xây dựng cầu mới nhằm bảo đảm nhu cầu đi lại, phát triển kinh tế – xã hội và an ninh quốc phòng.

Theo báo cáo của UBND tỉnh Phú Thọ, dự án cầu sông Lô và cứng hóa mặt đê tả sông Lô được phê duyệt ngày 21/4/2008, tổng mức đầu tư 320 tỷ đồng, trong đó phần cầu 231 tỷ đồng. Công trình được xây dựng tại huyện Đoan Hùng (nay là xã Đoan Hùng), đưa vào khai thác từ ngày 11/11/2015 và nghiệm thu hết bảo hành từ ngày 10/1/2018.

Kết quả khảo sát, kiểm định tổng thể cho thấy kết cấu dầm cầu và trụ cầu không phát hiện vấn đề bất thường. Tuy nhiên, thí nghiệm bê tông khoan rút lõi tại một số bệ trụ và cọc khoan nhồi không đạt yêu cầu thiết kế; kết cấu móng các trụ T3, T4, T5, T6 không đủ khả năng chịu lực theo tiêu chuẩn 22TCN 272-05, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn khai thác.

Trên cơ sở đó, UBND tỉnh Phú Thọ đã chỉ đạo điều chỉnh phương án phân luồng, tổ chức giao thông qua cầu; đồng thời đề xuất hai phương án gồm sửa chữa, khắc phục hư hỏng và đầu tư xây dựng cầu sông Lô mới.

Thảo luận tại cuộc họp, các ý kiến thống nhất cần khẩn trương có biện pháp sửa chữa, khắc phục hư hỏng cầu sông Lô để đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân; đồng thời nhất trí với đề xuất đầu tư xây dựng cầu sông Lô mới.

Kết luận cuộc họp, Thủ tướng Chính phủ hoan nghênh các bộ, ngành và tỉnh Phú Thọ đã kịp thời phản ứng trước sự cố. Tuy nhiên, Thủ tướng lưu ý việc xử lý vẫn còn lúng túng, chưa có phương án rõ ràng, khả thi, đáp ứng yêu cầu đi lại của người dân.

Thủ tướng yêu cầu việc hư hỏng cầu sông Lô phải được điều tra, kết luận trong tháng 2/2026 để xử lý theo quy định của Đảng và pháp luật Nhà nước. Trước mắt, vừa sửa chữa, khắc phục hư hỏng cầu hiện hữu, vừa triển khai đầu tư xây dựng cầu sông Lô mới; đồng thời nghiên cứu phương án bắc cầu phao phục vụ nhu cầu đi lại khi cần thiết.

Về định hướng lâu dài, Thủ tướng chỉ đạo nghiên cứu đầu tư xây dựng cầu sông Lô mới theo quy hoạch, quy mô tương đương cầu Phong Châu mới, thời gian hoàn thành trong 1 năm, phấn đấu để nhân dân có cầu mới đi lại vào Tết Nguyên đán 2027. Tỉnh Phú Thọ làm chủ đầu tư; các đơn vị Quân đội tham gia hỗ trợ triển khai dự án.

Về nguồn vốn, tỉnh Phú Thọ chịu trách nhiệm giải phóng mặt bằng và đường dẫn hai đầu cầu; Trung ương hỗ trợ kinh phí xây lắp cầu từ nguồn dự phòng năm 2025 chuyển sang, bảo đảm không để xảy ra tiêu cực, tham nhũng, lãng phí.

Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương triển khai nhiệm vụ theo đúng thẩm quyền; trường hợp vượt thẩm quyền phải kịp thời báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, xử lý. Đây là tình huống khẩn cấp, việc đầu tư được thực hiện theo cơ chế lệnh tình trạng khẩn cấp, tổ chức triển khai với yêu cầu tiến độ cao nhằm bảo đảm không chậm trễ, không bỏ lỡ cơ hội phát triển.

-Hà Lê

Categories: The Latest News

Ứng dụng Tuyên giáo và Dân vận: Kết nối thông tin chính thống trên không gian số

Thời Báo Kinh Tế - Sun, 02/15/2026 - 22:01
Ứng dụng Tuyên giáo và Dân vận (TGDV) là nền tảng số chính thống của Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, cung cấp thông tin, chính sách và tài liệu của Đảng nhanh chóng, chính xác trên phạm vi toàn quốc; đồng thời hỗ trợ tương tác hai chiều giữa cơ quan Đảng với cán bộ, đảng viên và nhân dân trên không gian số.

Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương đã chính thức ra mắt ứng dụng di động TGDV – nền tảng thông tin chính thống và công cụ lãnh đạo tư tưởng của Đảng trong môi trường số, bảo đảm truyền tải thông tin kịp thời, đa phương tiện và kết nối thông suốt giữa Trung ương, địa phương và người dân.

Công cụ lãnh đạo tư tưởng trong bối cảnh chuyển đổi số

Trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, công tác tuyên giáo và dân vận giữ vai trò cầu nối giữa Đảng với nhân dân, giữa chủ trương của Đảng và thực tiễn đời sống. Bước vào giai đoạn chuyển đổi số, yêu cầu đổi mới tư duy, phương thức và công cụ triển khai công tác tuyên giáo, dân vận đặt ra ngày càng rõ nét.

Việc đưa vào vận hành một ứng dụng thống nhất của ngành Tuyên giáo và Dân vận được xác định là nền tảng trong hệ sinh thái số của Đảng, góp phần đưa công tác tư tưởng, truyền thông chính thống đến gần hơn với người dân trên nền tảng số hiện đại, an toàn, lấy lý luận chính trị làm trục xuyên suốt.

Ứng dụng TGDV bảo đảm truyền tải thông tin nhanh, đa dạng hình thức, kết nối liên thông giữa Trung ương, địa phương và cơ sở. Các chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật được thể hiện bằng văn bản, hình ảnh, video dễ tiếp cận, hỗ trợ cá nhân hóa nội dung, giúp người dân nắm bắt kịp thời và đúng đắn thông tin chính thống.

Tích hợp đa chức năng, lấy người dùng làm trung tâm

Ứng dụng Tuyên giáo và Dân vận tích hợp đồng bộ các chức năng cốt lõi: cung cấp thông tin chính thống; tổ chức học tập nghị quyết, chuyên đề thông qua nền tảng bình dân học vụ số; xây dựng thư viện tri thức số; tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của người dân; phân tích, dự báo dư luận xã hội; hỗ trợ đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên; ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và cá nhân hóa nội dung theo từng nhóm đối tượng, địa bàn.

Nền tảng được thiết kế theo kiến trúc mở, sẵn sàng tích hợp và liên thông với các hệ thống số khác của Đảng, góp phần hình thành hệ sinh thái số thống nhất, phục vụ lâu dài cho công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị.

Các tính năng trên ứng dụng được phát triển theo hướng lấy người dùng làm trung tâm, phù hợp với cán bộ các cấp và đông đảo nhân dân. Một số phân hệ nổi bật gồm: tin tức chính thống tổng hợp từ các kênh tin cậy; nội dung đa phương tiện như video, podcast, infographic; công cụ thăm dò dư luận xã hội; chức năng phản ánh, góp ý, kiến nghị trực tuyến; nền tảng học tập số; thư viện số văn kiện, pháp luật và tri thức.

Đặc biệt, hệ thống AI hỗ trợ tra cứu nhanh, tóm tắt nội dung, gợi ý thông tin liên quan, so sánh văn bản pháp luật, đồng thời vận hành trợ lý ảo chính sách, pháp luật bằng ngôn ngữ dễ hiểu, phục vụ nhu cầu hỏi – đáp của người dân.

Bảo đảm an toàn, liên thông và phục vụ lâu dài

Ứng dụng TGDV được xây dựng trên nền tảng công nghệ hiện đại, bảo đảm an toàn thông tin và bảo mật dữ liệu. Người dùng đăng nhập thông qua các cơ chế xác thực tập trung, giúp quản lý danh tính thống nhất, thuận tiện. Dữ liệu được cá nhân hóa góp phần hình thành bản đồ số theo dõi dư luận theo địa bàn, hỗ trợ nhận diện sớm các vấn đề phát sinh.

Khi được triển khai đồng bộ, đúng định hướng và bảo đảm nguyên tắc đơn giản, dễ sử dụng, Ứng dụng Tuyên giáo và Dân vận được xác định là điểm kết nối tin cậy giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân trên không gian số; đồng thời là nền tảng quan trọng để hình thành hệ sinh thái số công tác tuyên giáo, dân vận thống nhất, liên thông, góp phần xây dựng chính quyền số hiện đại, hiệu quả và hướng tới phục vụ nhân dân.

-Hà Lê

Categories: The Latest News

Ứng dụng Tuyên giáo và Dân vận: Kết nối thông tin chính thống trên không gian số

Thời báo kinh tế Việt Nam - Sun, 02/15/2026 - 22:01
Ứng dụng Tuyên giáo và Dân vận (TGDV) là nền tảng số chính thống của Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, cung cấp thông tin, chính sách và tài liệu của Đảng nhanh chóng, chính xác trên phạm vi toàn quốc; đồng thời hỗ trợ tương tác hai chiều giữa cơ quan Đảng với cán bộ, đảng viên và nhân dân trên không gian số.

Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương đã chính thức ra mắt ứng dụng di động TGDV – nền tảng thông tin chính thống và công cụ lãnh đạo tư tưởng của Đảng trong môi trường số, bảo đảm truyền tải thông tin kịp thời, đa phương tiện và kết nối thông suốt giữa Trung ương, địa phương và người dân.

Công cụ lãnh đạo tư tưởng trong bối cảnh chuyển đổi số

Trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, công tác tuyên giáo và dân vận giữ vai trò cầu nối giữa Đảng với nhân dân, giữa chủ trương của Đảng và thực tiễn đời sống. Bước vào giai đoạn chuyển đổi số, yêu cầu đổi mới tư duy, phương thức và công cụ triển khai công tác tuyên giáo, dân vận đặt ra ngày càng rõ nét.

Việc đưa vào vận hành một ứng dụng thống nhất của ngành Tuyên giáo và Dân vận được xác định là nền tảng trong hệ sinh thái số của Đảng, góp phần đưa công tác tư tưởng, truyền thông chính thống đến gần hơn với người dân trên nền tảng số hiện đại, an toàn, lấy lý luận chính trị làm trục xuyên suốt.

Ứng dụng TGDV bảo đảm truyền tải thông tin nhanh, đa dạng hình thức, kết nối liên thông giữa Trung ương, địa phương và cơ sở. Các chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật được thể hiện bằng văn bản, hình ảnh, video dễ tiếp cận, hỗ trợ cá nhân hóa nội dung, giúp người dân nắm bắt kịp thời và đúng đắn thông tin chính thống.

Tích hợp đa chức năng, lấy người dùng làm trung tâm

Ứng dụng Tuyên giáo và Dân vận tích hợp đồng bộ các chức năng cốt lõi: cung cấp thông tin chính thống; tổ chức học tập nghị quyết, chuyên đề thông qua nền tảng bình dân học vụ số; xây dựng thư viện tri thức số; tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của người dân; phân tích, dự báo dư luận xã hội; hỗ trợ đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên; ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và cá nhân hóa nội dung theo từng nhóm đối tượng, địa bàn.

Nền tảng được thiết kế theo kiến trúc mở, sẵn sàng tích hợp và liên thông với các hệ thống số khác của Đảng, góp phần hình thành hệ sinh thái số thống nhất, phục vụ lâu dài cho công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị.

Các tính năng trên ứng dụng được phát triển theo hướng lấy người dùng làm trung tâm, phù hợp với cán bộ các cấp và đông đảo nhân dân. Một số phân hệ nổi bật gồm: tin tức chính thống tổng hợp từ các kênh tin cậy; nội dung đa phương tiện như video, podcast, infographic; công cụ thăm dò dư luận xã hội; chức năng phản ánh, góp ý, kiến nghị trực tuyến; nền tảng học tập số; thư viện số văn kiện, pháp luật và tri thức.

Đặc biệt, hệ thống AI hỗ trợ tra cứu nhanh, tóm tắt nội dung, gợi ý thông tin liên quan, so sánh văn bản pháp luật, đồng thời vận hành trợ lý ảo chính sách, pháp luật bằng ngôn ngữ dễ hiểu, phục vụ nhu cầu hỏi – đáp của người dân.

Bảo đảm an toàn, liên thông và phục vụ lâu dài

Ứng dụng TGDV được xây dựng trên nền tảng công nghệ hiện đại, bảo đảm an toàn thông tin và bảo mật dữ liệu. Người dùng đăng nhập thông qua các cơ chế xác thực tập trung, giúp quản lý danh tính thống nhất, thuận tiện. Dữ liệu được cá nhân hóa góp phần hình thành bản đồ số theo dõi dư luận theo địa bàn, hỗ trợ nhận diện sớm các vấn đề phát sinh.

Khi được triển khai đồng bộ, đúng định hướng và bảo đảm nguyên tắc đơn giản, dễ sử dụng, Ứng dụng Tuyên giáo và Dân vận được xác định là điểm kết nối tin cậy giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân trên không gian số; đồng thời là nền tảng quan trọng để hình thành hệ sinh thái số công tác tuyên giáo, dân vận thống nhất, liên thông, góp phần xây dựng chính quyền số hiện đại, hiệu quả và hướng tới phục vụ nhân dân.

-Hà Lê

Categories: The Latest News

Đầu tư cho lĩnh vực AI: Dòng vốn sẽ không còn đổ vào những “giấc mơ viển vông”

Thời báo kinh tế Việt Nam - Sun, 02/15/2026 - 16:47
Trong bối cảnh dòng vốn đầu tư trở nên chọn lọc hơn bao giờ hết, các startup AI Việt Nam đang đứng trước “ngưỡng cửa” sinh tồn: hoặc là tối ưu hóa vận hành để có lãi, hoặc bị đào thải bởi chi phí hạ tầng đắt đỏ. Trong cuộc trò chuyện đầu Xuân Bính Ngọ, bà Laura Nguyễn – Giám đốc Quỹ Đầu tư GenAI (GenAI Fund) đã giải mã dữ liệu từ 2.500 startup toàn cầu để tìm ra “kim chỉ nam” cho hệ sinh thái AI Việt.

Thưa bà, khi chúng ta cùng đón Xuân Bính Ngọ, nhìn lại năm 2025 đã qua là lúc để chiêm nghiệm về tốc độ phát triển “chóng mặt” của GenAI, từ đó tìm ra kim chỉ nam cho những bước đi chiến lược trong năm mới. Năm 2025 được cho là giai đoạn GenAI chuyển từ “cơn sốt” sang “thương mại hóa”. Đâu là thành công bất ngờ nhất mà bà đã chứng kiến trên thị trường đầu tư GenAI toàn cầu?

Để mô tả về sự thành công của GenAI toàn cầu trong năm 2025 vừa qua, có lẽ không thể không nhắc đến bước ngoặt lớn: sự tăng vọt của AI trong các ứng dụng thực tế.

Xu hướng toàn cầu này không phải là lý thuyết suông, mà còn được chúng tôi trực tiếp quan sát và kiểm chứng tại GenAI Fund. Dựa trên dữ liệu từ hơn 2.500 startup trong database (cơ sở dữ liệu) của quỹ, cùng kinh nghiệm thực chiến khi trực tiếp kết nối các giải pháp AI với những tập đoàn lớn, chúng tôi thấy một làn sóng chuyển dịch ở mức nhanh chóng rõ rệt. Các doanh nghiệp hiện nay không còn hỏi “AI là gì?” mà họ tập trung vào việc: “Làm sao để AI giúp tôi chuyển đổi số và tối ưu vận hành ngay lập tức?”.

Thành công bất ngờ nhất đối với tôi chính là việc các startup không cần phải sở hữu những mô hình nền tảng tỷ đô nhưng lại đạt được doanh thu thực cực kỳ ấn tượng nhờ giải quyết các bài toán ngách nhưng đau của doanh nghiệp. Ví dụ như việc tối ưu hóa vận hành, tự động hóa các quy trình phức tạp và kiến tạo các trợ lý chuyên biệt để giải quyết trực tiếp những “nỗi đau” về chi phí và trải nghiệm khách hàng trong nhiều ngành như ngân hàng, bảo hiểm…

Điều này cho thấy GenAI đã chính thức thoát khỏi “cơn sốt” để bước vào giai đoạn thương mại hóa thực chất: giá trị của AI hiện nay không còn nằm ở chỗ nó thông minh đến đâu, mà là nó được áp dụng đúng ngữ cảnh, đúng quy trình và đúng nhu cầu kinh doanh.

Sau khi các mô hình GenAI cơ bản đã phổ cập, các startup hiện phải đối mặt với bài toán kinh doanh có lãi và bền vững. Theo bà, bài học quan trọng nhất mà các startup Việt phải học từ năm 2025 là gì về việc quản lý chi phí hạ tầng tính toán và việc xây dựng mô hình sao cho cân bằng được giữa giá trị mang lại cho khách hàng và chi phí vận hành ngày càng tăng của AI?

Bài học lớn nhất từ năm 2025 mà tôi muốn chia sẻ với các founder Việt là: AI không thể được xây dựng bằng tư duy “càng mạnh càng tốt”. Trong năm qua, chúng tôi chứng kiến nhiều startup rơi vào bẫy chi phí khi nhận ra chi phí GPU, inference (suy luận) và vận hành tăng tỷ lệ thuận với độ phức tạp của mô hình, trong khi khách hàng không nhất thiết cần những mô hình phức tạp nhất. Khách hàng doanh nghiệp hiện nay chủ yếu tập trung vào giải pháp hiệu quả, ổn định và mang lại giá trị rõ ràng trên từng đồng vốn họ bỏ ra.

Tại GenAI Fund, chúng tôi luôn khuyến khích startup bắt đầu từ một câu hỏi thực tế: “Khách hàng sẵn sàng trả tiền cho điều gì và trả bao nhiêu?”. Để giải bài toán kinh tế, các startup cần học cách tối ưu hóa lựa chọn mô hình, xây dựng mô hình kinh doanh dựa trên giá trị và quản trị dòng tiền sớm.

Trước hết, việc tối ưu hóa lựa chọn mô hình đóng vai trò then chốt: thay vì dùng các mô hình lớn đắt đỏ cho mọi tác vụ, doanh nghiệp nên sử dụng các mô hình nhỏ hơn được tinh chỉnh cho các nhiệm vụ chuyên biệt.

Song song đó, các đơn vị cần chú trọng xây dựng mô hình kinh doanh dựa trên giá trị, nghĩa là thay vì chỉ thu phí dựa trên API hay token, hãy tập trung thu phí dựa trên hiệu quả thực tế mà AI mang lại cho khách hàng.

Cuối cùng, khả năng quản trị dòng tiền sớm sẽ là yếu tố quyết định sự sinh tồn, khi 32% startup GenAI hiện nay đang tự thân vận động (bootstrapped), buộc họ phải tập trung tạo doanh thu ngay từ giai đoạn MVP thay vì đốt tiền để theo đuổi các chỉ số tăng trưởng ảo.

Nếu chấm điểm cho sự trưởng thành của hệ sinh thái startup AI Việt Nam trong năm vừa qua, bà sẽ cho điểm bao nhiêu?

Nếu chấm điểm độ trưởng thành của hệ sinh thái startup AI Việt Nam năm 2025, tôi sẽ cho 6,5/10. Con số này phản ánh một thực tế rằng Việt Nam đã chính thức vượt qua giai đoạn “AI để trình diễn” và bước vào giai đoạn áp dụng AI để giải quyết vấn đề thực tiễn. Điểm cộng lớn nhất đến từ đội ngũ kỹ sư và builder (những người xây dựng sản phẩm) của chúng ta.

Việt Nam hiện là một điểm nóng về phát triển GenAI tại ASEAN, chỉ đứng sau Singapore về số lượng startup. Các kỹ sư Việt Nam có khả năng triển khai cực kỳ nhanh, tư duy thực tế và không ngại thử sai. Chúng ta đã có những đại diện xuất sắc trong các bảng xếp hạng quốc tế về mô hình ngôn ngữ tinh chỉnh.

Những lĩnh vực ngách nào của Việt Nam ứng dụng AI đã thực sự gây ấn tượng với các nhà đầu tư nước ngoài?

Nhà đầu tư nước ngoài hiện nay không tìm kiếm “AI chung chung” tại Việt Nam, mà họ tìm kiếm những giải pháp gắn liền với lợi thế bản địa hoặc có khả năng vươn tầm khu vực hoặc vươn tầm quốc tế ngay từ ngày đầu. Dựa trên những dự án thực tế mà GenAI Fund đang đồng hành, tôi thấy có ba lĩnh vực ngách đang thực sự là điểm sáng thu hút vốn quốc tế:

Thứ nhất, Voice AI và xử lý ngôn ngữ bản địa. Các nhà đầu tư rất ấn tượng với khả năng xử lý âm sắc và sắc thái đặc thù của tiếng Việt cũng như các ngôn ngữ Đông Nam Á. Chúng tôi đã thấy những nền tảng Voice AI thế hệ mới cung cấp các mô hình chuyển đổi văn bản thành giọng nói và nhận dạng giọng nói chất lượng cao với chi phí rất cạnh tranh, giúp doanh nghiệp nội địa tối ưu hóa hệ thống tổng đài và chăm sóc khách hàng đa kênh.

Thứ hai, AI tối ưu hóa năng suất đội ngũ. Trong các ngành như bán lẻ, FB hay dịch vụ tài chính, việc sử dụng AI để phân tích hành vi và cung cấp các thấu hiểu (insights) để huấn luyện đội ngũ tuyến đầu là một bài toán rất tiềm năng. Những giải pháp này giúp doanh nghiệp cải thiện hiệu suất làm việc dựa trên dữ liệu thực tế.

Thứ ba, Trí tuệ dữ liệu doanh nghiệp. Đây là lĩnh vực mà AI được sử dụng như một hệ điều hành để tự động hóa quy trình pháp chế, quản trị rủi ro hoặc trích xuất dữ liệu tài liệu (Document Intelligence). Khả năng biến những nguồn dữ liệu phân mảnh thành các khuyến nghị hành động chính xác là điều khiến các nhà đầu tư tin rằng startup Việt có thể giải quyết được các bài toán quản trị quy mô toàn cầu.

Ngoài ra, các mảng như Healthcare AI ứng dụng trong giải mã sinh học, dược phẩm, hay các Trợ lý AI (AI Agents) luôn hoạt động 24/7 cho bán hàng và dịch vụ cũng đang chứng minh rằng Việt Nam không còn chỉ mạnh về gia công, mà đã bắt đầu làm chủ những giải pháp có giá trị gia tăng cao.

Bước vào năm 2026, dòng vốn đầu tư mạo hiểm sẽ có xu hướng phân cực rõ rệt hơn. Bà dự đoán các nhà đầu tư sẽ ưu tiên đổ vốn vào đâu: tiếp tục đầu tư mạo hiểm vào các startup phát triển mô hình nền tảng lớn, hay chuyển hướng tập trung hơn vào các giải pháp ứng dụng sâu theo chiều dọc?

Trong năm 2026, tôi cho rằng sẽ có một sự phân cực rất rõ rệt về dòng vốn.

Dòng vốn toàn cầu vẫn sẽ tiếp tục đổ về các gã khổng lồ về mô hình nền tảng, nhưng cuộc chơi này chủ yếu dành cho các quỹ lớn với nguồn lực tài chính vô hạn. Tuy nhiên, đối với thị trường Đông Nam Á và đặc biệt là Việt Nam, trọng tâm của dòng vốn sẽ dịch chuyển mạnh mẽ sang các ứng dụng thực tế theo chiều dọc.

Sự dịch chuyển của dòng vốn trước hết bắt nguồn từ áp lực về lợi nhuận, khi các nhà đầu tư dần mất kiên nhẫn với những mô hình chỉ có lượt dùng ảo mà thiếu đi doanh thu thực tế. Họ tìm kiếm những startup AI-native, tức là AI không chỉ là tính năng bổ sung, mà là bộ máy cốt lõi giải quyết trọn vẹn quy trình của một ngành cụ thể (như tài chính, sản xuất hay nhân sự).

Sự chuyển dịch của dòng vốn còn đến từ lợi thế “am hiểu bản địa”. Các mô hình nền tảng lớn của thế giới rất giỏi, nhưng họ khó có thể hiểu sâu được các quy trình nghiệp vụ đặc thù hay sắc thái văn hóa kinh doanh tại địa phương. Đây là “hào kỹ thuật” giúp các ứng dụng chuyên biệt thắng thế.

Cùng với đó là tối ưu đơn vị kinh tế. Như chúng tôi đã phân tích trong báo cáo của GenAI Fund, các startup ứng dụng thực tế thường có biên lợi nhuận tốt hơn và bền vững hơn nhờ kiểm soát được chi phí hạ tầng và thu phí dựa trên giá trị (value-based pricing).

Tại GenAI Fund, chúng tôi đặt cược vào những đội ngũ không cố gắng xây dựng một “OpenAI của Việt Nam”, mà là những đội ngũ đang dùng sức mạnh của AI để tái định nghĩa lại cách thức một ngành công nghiệp đang vận hành. Trong năm 2026, “chuyên biệt hóa” chính là chìa khóa để thu hút dòng vốn quốc tế.

Với lợi thế về dân số trẻ, ngôn ngữ và tốc độ chuyển đổi số, GenAI Fund nhận thấy ba lĩnh vực nào tại Việt Nam có tiềm năng lớn nhất để AI tạo ra sự đột phá và có khả năng thu hút vốn quốc tế mạnh mẽ nhất trong năm 2026?

Dựa trên dữ liệu thực tế từ chương trình GenAI Open Innovation mà GenAI Fund đã tổ chức tại Việt Nam (và các quốc gia khác như Malaysia, Indonesia và Nhật Bản), chúng tôi nhận thấy sự quan tâm đặc biệt từ các tập đoàn dẫn đầu trong các lĩnh vực tài chính, bán lẻ, hạ tầng… Ba khu vực mà tôi tin rằng sẽ tạo đột phá mạnh mẽ nhất bao gồm:

Một là, Fintech (công nghệ tài chính) và Financial Operations (vận hành tài chính), nơi AI giúp cải thiện quản trị rủi ro, phân tích dữ liệu và tối ưu vận hành.

Hai là, Enterprise Productivity Automation (năng suất và tự động hóa doanh nghiệp), với các giải pháp hỗ trợ đội ngũ vận hành, bán hàng, pháp chế, nhân sự mang lại hiệu quả nhanh và dễ nhân rộng.

Ba là, một điểm sáng rất tích cực – Manufacturing (ngành công nghiệp chế tạo) và các lĩnh vực sản xuất. Ban đầu, ngay cả chúng tôi cũng nghĩ rằng các ngành dịch vụ sẽ phát triển nhanh hơn. Tuy nhiên trong năm 2025, chúng tôi chứng kiến ngày càng nhiều doanh nghiệp sản xuất chủ động đưa ra các bài toán ứng dụng AI rất cụ thể, từ tối ưu dây chuyền, bảo trì dự báo, kiểm soát chất lượng đến quản trị năng lượng và tồn kho.

Hiện nay, các ứng dụng này chủ yếu đến từ doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp đầu ngành, trong khi các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) vẫn đang ứng dụng dần. Đây là một tín hiệu rất tích cực, cho thấy AI đang đi vào “xương sống” của nền kinh tế, không chỉ dừng ở các lĩnh vực dịch vụ.

Giai đoạn 2026–2027 được dự báo là thời điểm AI định hình lại thị trường lao động Việt Nam một cách mạnh mẽ. Dưới góc nhìn của một nhà đầu tư tại GenAI Fund, bà nhận định thế nào về áp lực tái cấu trúc các nhóm công việc hiện nay, và thực tế việc nâng cao năng suất bằng AI đang thay đổi cuộc sống của chính những người trong cuộc như thế nào?

Giai đoạn 2026–2027, áp lực tái cấu trúc sẽ rõ rệt nhất ở các công việc mang tính lặp lại cao, các vai trò trung gian xử lý thông tin và các bộ phận vận hành thủ công. Tuy nhiên, quan điểm của GenAI Fund là: AI nên giúp con người làm tốt hơn, chứ không chỉ làm ít người hơn. Thực tế, AI đang tạo ra những vai trò và cơ hội hoàn toàn mới cho tất cả mọi người, không phân biệt nam hay nữ.

Nhiều vị trí trong số này chưa từng tồn tại trước đây, những người trẻ cần phải thích nghi cực kỳ nhanh. Ai học nhanh nhất, dám thử nghiệm sớm và sẵn lòng đón nhận thay đổi sẽ là những người dẫn đầu. Có một câu hỏi thực tế mà tôi thường tự vấn: “Liệu chúng ta đang trở nên tự do hơn hay bận rộn hơn khi có sự khuếch đại của AI?”. Với cá nhân tôi, câu trả lời rất rõ ràng: “Tôi bận rộn hơn rất nhiều”. Chúng ta đang xử lý nhiều cơ hội hơn, đồng nghĩa với việc đối mặt với nhiều thách thức hơn - những thách thức mà AI hiện tại vẫn chưa thể giải quyết.

Với vai trò là Giám đốc Quỹ Đầu tư GenAI (GenAI Fund), bà có những kiến nghị chính sách cụ thể gì (về dữ liệu, thuế, hay hỗ trợ hạ tầng tính toán…) để tạo môi trường thuận lợi hơn, giúp các startup AI Việt Nam có thể cạnh tranh bình đẳng với khu vực và vươn ra toàn cầu?

Từ góc nhìn thực tế, tôi cho rằng môi trường chính sách cho AI tại Việt Nam đang có những chuyển biến rất tích cực. Dựa trên kinh nghiệm thực tiễn từ việc triển khai ứng dụng AI trong khu vực công, cũng như hợp tác giữa khối startup, tập đoàn lớn và cơ quan nhà nước, tôi nhận thấy các nhà sáng lập AI tại Việt Nam có đầy đủ năng lực cạnh tranh. Điều họ cần là một “điểm tựa nội lực” đủ vững chắc để bứt phá.

Để hiện thực hóa điều này, trước hết chúng ta cần kiến tạo một hành lang dữ liệu và môi trường thử nghiệm thông thoáng thông qua các quy định về dữ liệu mở cùng các cơ chế “sandbox”, đồng thời ưu tiên những dự án mang tính thắng lợi nhanh (quick-win) nhằm xây dựng niềm tin cho lộ trình chuyển đổi số.

Song song đó, việc hỗ trợ hạ tầng tính toán và phát triển AI chủ quyền là vô cùng cấp thiết; điều này có thể thực hiện bằng cách cung cấp các chương trình hỗ trợ chi phí hạ tầng (Computing Credit) để giúp startup vượt qua rào cản về chi phí Cloud hay GPU, đồng thời đảm bảo an toàn cho các dữ liệu nhạy cảm.

Cuối cùng, Việt Nam cần thúc đẩy mạnh mẽ mô hình hợp tác đa bên bằng cách thành lập các trung tâm xuất sắc về AI (AI Center of Excellence) theo hình mẫu của Singapore, từ đó kết nối trực tiếp nhu cầu thực tế của Nhà nước với tinh thần sáng tạo của startup, tạo ra sức mạnh tổng hợp từ cả hai khối công và tư.

Tôi tin rằng Chính phủ đóng vai trò “khách hàng tiên phong” bằng cách ưu tiên mua sắm công cho các giải pháp Made in Vietnam sẽ tạo bệ phóng vững chắc, giúp giải quyết bài toán nội địa và sẵn sàng đưa các “nhà vô địch” AI ra chinh phục thị trường toàn cầu. Thị trường nội địa chính là bài kiểm tra khắt khe nhất để startup chứng minh giá trị thực, từ đó mở rộng ra khu vực và toàn cầu một cách tự nhiên.

Trong lĩnh vực mà công nghệ thay đổi với tốc độ cực kỳ mạnh mẽ như AI, bài học lớn nhất về “sự kiên nhẫn” và “tầm nhìn dài hạn” mà bà rút ra được khi làm việc với các startup AI là gì?

Trong một lĩnh vực thay đổi nhanh chóng như AI, bài học lớn nhất tôi rút ra được là: sự kiên nhẫn không phải là chờ đợi, mà là sự bền bỉ trong thích nghi.

Tầm nhìn dài hạn không nằm ở một bản kế hoạch 5 năm cố định, mà ở việc kiên định giải quyết “nỗi đau” thực tế của khách hàng, trong khi sẵn sàng vứt bỏ những công cụ cũ để cập nhật công nghệ mới tốt hơn. Dữ liệu từ 2.500 startup của chúng tôi cho thấy 75% đội ngũ đã phải chuyển hướng (pivot) nhiều lần để tồn tại. Vì vậy, thay vì đốt tiền để theo đuổi những danh hiệu hào nhoáng, sự kiên nhẫn thực sự nằm ở việc dám đi chậm để xây dựng nền tảng tài chính bền vững và một đơn vị kinh tế khỏe mạnh.

AI sẽ không thay thế chúng ta, nhưng nó là hồi chuông cảnh tỉnh để mỗi cá nhân và doanh nghiệp phải nỗ lực tiến hóa, ngừng hài lòng với bản thân để không bị đào thải trong kỷ nguyên mới.

Điều mà bà tin rằng sẽ là “điểm sáng hy vọng” lớn nhất của công nghệ AI Việt Nam trong năm Bính Ngọ 2026 là gì và bà muốn gửi gắm thông điệp gì đến cộng đồng khởi nghiệp để họ giữ vững tinh thần “đón vận hội mới”?

Điểm sáng hy vọng lớn nhất của công nghệ AI Việt Nam, theo tôi, chính là sự trưởng thành của thế hệ founder mới.

Chúng tôi thấy ngày càng nhiều đội ngũ không còn chạy theo trào lưu, mà tập trung xây dựng năng lực thật, sản phẩm thật và mô hình kinh doanh bền vững. Họ thực tế hơn trong cách tiếp cận thị trường, nhưng cũng tự tin và tham vọng hơn trong việc vươn ra khu vực.

AI không chỉ là cơ hội công nghệ, mà còn là cơ hội để doanh nghiệp Việt tái định vị vai trò của mình trong chuỗi giá trị toàn cầu – từ người triển khai sang người làm chủ giải pháp.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-

Categories: The Latest News

Thủ tướng yêu cầu giải quyết dứt điểm dự án tồn đọng, khơi thông nguồn lực tăng trưởng

Thời Báo Kinh Tế - Sun, 02/15/2026 - 16:45
Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Hòa Bình vừa ký Công điện số 14/CĐ-TTg ngày 15/2/2026 của Thủ tướng Chính phủ, yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tập trung xử lý dứt điểm các dự án tồn đọng kéo dài, khẩn trương hoàn thành và đưa vào khai thác, sử dụng nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế những tháng đầu năm 2026.

Thời gian qua, Chính phủ, Thủ tướng đã ban hành nhiều chỉ đạo quyết liệt nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đối với các dự án tồn đọng, dừng triển khai kéo dài, trong đó có Nghị quyết số 17/NQ-CP ngày 26/1/2026 và Thông báo số 18/TB-VPCP ngày 9/1/2026. Bước đầu, các giải pháp đã phát huy hiệu quả, tháo gỡ vướng mắc cho 5.203 dự án, bao gồm 3.289 dự án đất đai, khơi thông nguồn lực khoảng 1,67 triệu tỷ đồng.

Tại Nghị quyết số 23/NQ-CP ngày 7/2/2026 của phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 1/2026, Chính phủ đánh giá mục tiêu tăng trưởng hai con số trong năm 2026 đối mặt nhiều thách thức.

Nhu cầu huy động nguồn lực đầu tư toàn xã hội ở mức cao, tương đương khoảng 35% GDP, trong khi chi phí huy động vốn có xu hướng tăng. Việc chậm hoàn thành, chậm đưa các dự án vào khai thác, sử dụng đang gây lãng phí nguồn lực, ảnh hưởng đến mục tiêu tăng trưởng 10% GDP trong quý I/2026 và tăng trưởng hai con số cả năm.

Để thực hiện mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, sớm đưa nguồn lực tồn đọng vào phát triển kinh tế – xã hội ngay trong tháng 2 và quý I/2026, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quán triệt việc tháo gỡ khó khăn cho các dự án tồn đọng là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, cấp bách nhằm chống lãng phí và thúc đẩy tăng trưởng. Việc tổ chức thực hiện phải bảo đảm kỷ cương, trách nhiệm, tinh thần chủ động, không hợp thức hóa sai phạm và không làm phát sinh sai phạm mới.

Các bộ, ngành, địa phương được yêu cầu tổ chức thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 17/NQ-CP, bảo đảm không bỏ sót các dự án cần tháo gỡ; cập nhật đầy đủ tình hình khó khăn, vướng mắc và kết quả xử lý của từng dự án trên Hệ thống 751.

Thủ tướng nhấn mạnh yêu cầu phân loại, xử lý ngay các vướng mắc theo thẩm quyền, thực hiện theo nguyên tắc “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”.

Đối với các dự án thuộc thẩm quyền, các địa phương chủ động giải quyết dứt điểm các thủ tục, không đùn đẩy, né tránh trách nhiệm; tập trung xử lý các dự án quy mô lớn, dự án đầu tư công, nhà ở xã hội, năng lượng và bất động sản.

Đối với các dự án vượt thẩm quyền, các địa phương khẩn trương báo cáo rõ vướng mắc, đề xuất giải pháp cụ thể, gửi Bộ Tài chính tổng hợp, báo cáo Ban Chỉ đạo 751 và Thủ tướng Chính phủ.

Công điện cũng yêu cầu tập trung xử lý các dự án, vấn đề đất đai theo Nghị quyết số 265/2025/QH15 của Quốc hội; báo cáo đầy đủ các dự án đủ điều kiện áp dụng Nghị quyết số 170/2024/QH15 trên Hệ thống 751 trước ngày 25/2/2026 để Bộ Tài chính tổng hợp, báo cáo Chính phủ.

Trên cơ sở hướng dẫn của Bộ Tài chính và tình hình thực tế, các địa phương chủ động giải quyết triệt để các khó khăn, vướng mắc thuộc thẩm quyền theo quy định pháp luật; định kỳ báo cáo kết quả xử lý trên Hệ thống 751 vào ngày 25 hằng tháng.

Bộ Tài chính, với vai trò cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo 751, có trách nhiệm đôn đốc các bộ, cơ quan, địa phương triển khai thực hiện Công điện; kịp thời tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ các nội dung vượt thẩm quyền.

-Dũng Hiếu

Categories: The Latest News

Thủ tướng yêu cầu giải quyết dứt điểm dự án tồn đọng, khơi thông nguồn lực tăng trưởng

Thời báo kinh tế Việt Nam - Sun, 02/15/2026 - 16:45
Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Hòa Bình vừa ký Công điện số 14/CĐ-TTg ngày 15/2/2026 của Thủ tướng Chính phủ, yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tập trung xử lý dứt điểm các dự án tồn đọng kéo dài, khẩn trương hoàn thành và đưa vào khai thác, sử dụng nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế những tháng đầu năm 2026.

Thời gian qua, Chính phủ, Thủ tướng đã ban hành nhiều chỉ đạo quyết liệt nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đối với các dự án tồn đọng, dừng triển khai kéo dài, trong đó có Nghị quyết số 17/NQ-CP ngày 26/1/2026 và Thông báo số 18/TB-VPCP ngày 9/1/2026. Bước đầu, các giải pháp đã phát huy hiệu quả, tháo gỡ vướng mắc cho 5.203 dự án, bao gồm 3.289 dự án đất đai, khơi thông nguồn lực khoảng 1,67 triệu tỷ đồng.

Tại Nghị quyết số 23/NQ-CP ngày 7/2/2026 của phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 1/2026, Chính phủ đánh giá mục tiêu tăng trưởng hai con số trong năm 2026 đối mặt nhiều thách thức.

Nhu cầu huy động nguồn lực đầu tư toàn xã hội ở mức cao, tương đương khoảng 35% GDP, trong khi chi phí huy động vốn có xu hướng tăng. Việc chậm hoàn thành, chậm đưa các dự án vào khai thác, sử dụng đang gây lãng phí nguồn lực, ảnh hưởng đến mục tiêu tăng trưởng 10% GDP trong quý I/2026 và tăng trưởng hai con số cả năm.

Để thực hiện mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, sớm đưa nguồn lực tồn đọng vào phát triển kinh tế – xã hội ngay trong tháng 2 và quý I/2026, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quán triệt việc tháo gỡ khó khăn cho các dự án tồn đọng là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, cấp bách nhằm chống lãng phí và thúc đẩy tăng trưởng. Việc tổ chức thực hiện phải bảo đảm kỷ cương, trách nhiệm, tinh thần chủ động, không hợp thức hóa sai phạm và không làm phát sinh sai phạm mới.

Các bộ, ngành, địa phương được yêu cầu tổ chức thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 17/NQ-CP, bảo đảm không bỏ sót các dự án cần tháo gỡ; cập nhật đầy đủ tình hình khó khăn, vướng mắc và kết quả xử lý của từng dự án trên Hệ thống 751.

Thủ tướng nhấn mạnh yêu cầu phân loại, xử lý ngay các vướng mắc theo thẩm quyền, thực hiện theo nguyên tắc “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”.

Đối với các dự án thuộc thẩm quyền, các địa phương chủ động giải quyết dứt điểm các thủ tục, không đùn đẩy, né tránh trách nhiệm; tập trung xử lý các dự án quy mô lớn, dự án đầu tư công, nhà ở xã hội, năng lượng và bất động sản.

Đối với các dự án vượt thẩm quyền, các địa phương khẩn trương báo cáo rõ vướng mắc, đề xuất giải pháp cụ thể, gửi Bộ Tài chính tổng hợp, báo cáo Ban Chỉ đạo 751 và Thủ tướng Chính phủ.

Công điện cũng yêu cầu tập trung xử lý các dự án, vấn đề đất đai theo Nghị quyết số 265/2025/QH15 của Quốc hội; báo cáo đầy đủ các dự án đủ điều kiện áp dụng Nghị quyết số 170/2024/QH15 trên Hệ thống 751 trước ngày 25/2/2026 để Bộ Tài chính tổng hợp, báo cáo Chính phủ.

Trên cơ sở hướng dẫn của Bộ Tài chính và tình hình thực tế, các địa phương chủ động giải quyết triệt để các khó khăn, vướng mắc thuộc thẩm quyền theo quy định pháp luật; định kỳ báo cáo kết quả xử lý trên Hệ thống 751 vào ngày 25 hằng tháng.

Bộ Tài chính, với vai trò cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo 751, có trách nhiệm đôn đốc các bộ, cơ quan, địa phương triển khai thực hiện Công điện; kịp thời tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ các nội dung vượt thẩm quyền.

-Dũng Hiếu

Categories: The Latest News

Công bố 864 người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI

Thời Báo Kinh Tế - Sun, 02/15/2026 - 16:44
Hội đồng Bầu cử Quốc gia quyết nghị công bố danh sách 864 người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI tại 182 đơn vị bầu cử trong cả nước để bầu 500 đại biểu Quốc hội khóa XVI.

Thay mặt Hội đồng Bầu cử quốc gia, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn - Chủ tịch Hội đồng Bầu cử quốc gia, vừa ký ban hành Nghị quyết số 151/NQ-HĐBCQG ngày 14/2/2026 công bố danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) Khoá XVI theo từng đơn vị trong cả nước.

Theo Nghị quyết, Hội đồng Bầu cử quốc gia quyết nghị: Công bố danh sách 864 người ứng cử ĐBQH khoá XVI tại 182 đơn vị bầu cử trong cả nước để bầu 500 ĐBQH khoá XVI.

Hội đồng Bầu cử quốc gia yêu cầu: Chính phủ, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban bầu cử, Ban thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các tỉnh, thành phố, các cơ quan liên quan ở Trung ương, địa phương và cá nhân theo trách nhiệm thi hành Nghị quyết này.

Nghị quyết có hiệu lực kể từ ngày ký ban hành.

Danh sách chính thức những người ứng cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI

-Hà Lê

Categories: The Latest News

Công bố 864 người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI

Thời báo kinh tế Việt Nam - Sun, 02/15/2026 - 16:44
Hội đồng Bầu cử Quốc gia quyết nghị công bố danh sách 864 người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI tại 182 đơn vị bầu cử trong cả nước để bầu 500 đại biểu Quốc hội khóa XVI.

Thay mặt Hội đồng Bầu cử quốc gia, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn - Chủ tịch Hội đồng Bầu cử quốc gia, vừa ký ban hành Nghị quyết số 151/NQ-HĐBCQG ngày 14/2/2026 công bố danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) Khoá XVI theo từng đơn vị trong cả nước.

Theo Nghị quyết, Hội đồng Bầu cử quốc gia quyết nghị: Công bố danh sách 864 người ứng cử ĐBQH khoá XVI tại 182 đơn vị bầu cử trong cả nước để bầu 500 ĐBQH khoá XVI.

Hội đồng Bầu cử quốc gia yêu cầu: Chính phủ, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban bầu cử, Ban thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các tỉnh, thành phố, các cơ quan liên quan ở Trung ương, địa phương và cá nhân theo trách nhiệm thi hành Nghị quyết này.

Nghị quyết có hiệu lực kể từ ngày ký ban hành.

Danh sách chính thức những người ứng cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI

-Hà Lê

Categories: The Latest News

Starlink và địa chính trị số: Khi hạ tầng internet trở thành công cụ quyền lực toàn cầu

Thời báo kinh tế Việt Nam - Sun, 02/15/2026 - 16:18
Việc một doanh nghiệp tư nhân sở hữu hạ tầng viễn thông toàn cầu đang làm thay đổi cán cân địa chính trị. Starlink - mạng internet vệ tinh do SpaceX phát triển - không chỉ là một đột phá công nghệ, mà đang nổi lên như một công cụ chiến lược trong khủng hoảng, xung đột và cạnh tranh quyền lực giữa các quốc gia.

Trong kỷ nguyên kinh tế số, quyền kiểm soát kết nối internet, dữ liệu và hạ tầng viễn thông đang trở thành một dạng quyền lực mới. Trường hợp Starlink cho thấy sự giao thoa ngày càng sâu sắc giữa công nghệ, kinh tế và địa chính trị, đồng thời đặt ra những câu hỏi lớn về chủ quyền số, quản trị không gian và vai trò của doanh nghiệp tư nhân trong cấu trúc quyền lực toàn cầu.

Tỷ phú Elon Musk, nhà sáng lập Starlink và SpaceX. Ảnh: Julia Demaree Nikhinson/AP Photo/dpa/picture alliance.

INTERNET VỆ TINH: TỪ GIẢI PHÁP CÔNG NGHỆ ĐẾN CÔNG CỤ CHIẾN LƯỢC

Thiếu khả năng tiếp cận internet vẫn là một trong những rào cản lớn đối với phát triển kinh tế - xã hội tại nhiều khu vực trên thế giới, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa và các khu vực có hạ tầng yếu kém.

Trong bối cảnh đó, Starlink được tỷ phú công nghệ Mỹ Elon Musk phát triển như một giải pháp đột phá nhằm cung cấp kết nối băng thông rộng toàn cầu thông qua mạng lưới vệ tinh quỹ đạo thấp.

Khác với các hệ thống vệ tinh truyền thống hoạt động ở quỹ đạo địa tĩnh (khoảng 36.000 km), Starlink sử dụng các vệ tinh bay ở độ cao khoảng 550 km, giúp giảm độ trễ và tăng tốc độ truyền dữ liệu. Với hàng chục nghìn vệ tinh nhỏ dự kiến triển khai trong tương lai, hệ thống này có khả năng cung cấp internet tốc độ cao ở hầu hết mọi nơi trên Trái Đất.

Ban đầu, Starlink được kỳ vọng là một dự án thương mại nhằm thu hẹp khoảng cách số toàn cầu. Tuy nhiên, phạm vi ứng dụng của hệ thống này đã nhanh chóng vượt xa mục tiêu công nghệ. Từ một nền tảng cung cấp dịch vụ internet, Starlink đang trở thành một phần của hạ tầng chiến lược toàn cầu, được sử dụng trong các tình huống thiên tai, khủng hoảng, xung đột và các phong trào xã hội.

Trong nhiều trường hợp, Starlink là phương án duy nhất để duy trì kết nối khi hạ tầng mặt đất bị gián đoạn do thiên tai, xung đột hoặc các biện pháp kiểm soát của chính phủ. Điều này khiến hạ tầng vệ tinh trở thành một yếu tố thiết yếu trong vận hành kinh tế - xã hội hiện đại, từ y tế, giáo dục đến tài chính và logistics.

Thiết bị thu Starlink được đưa vào Iran, hỗ trợ duy trì kết nối khi internet bị gián đoạn. Ảnh: Middle East Images/picture alliance.

QUYỀN LỰC HẠ TẦNG VÀ ĐỊA CHÍNH TRỊ SỐ

Trong những năm gần đây, Starlink đã được triển khai tại nhiều khu vực có bất ổn chính trị và xung đột vũ trang. Hệ thống này được sử dụng bởi lực lượng cứu trợ, cơ sở y tế, doanh nghiệp hạ tầng và các tổ chức xã hội nhằm duy trì liên lạc khi mạng internet mặt đất bị gián đoạn.

Tại Ukraine, kể từ năm 2022, Starlink được sử dụng để duy trì kết nối cho các cơ quan dân sự và một số hoạt động điều phối trong bối cảnh hạ tầng viễn thông chịu nhiều tác động từ xung đột.

Đồng thời, cũng xuất hiện thông tin về việc các thiết bị Starlink được đưa vào khu vực này thông qua nhiều kênh khác nhau, phản ánh tính chất khó kiểm soát của hạ tầng vệ tinh toàn cầu.

Tại Sudan, trong bối cảnh nội chiến, các thiết bị Starlink được ghi nhận là xuất hiện trên thị trường chợ đen và được một số lực lượng sử dụng để liên lạc và điều phối. Điều này đặt ra câu hỏi về khả năng kiểm soát công nghệ khi hạ tầng do doanh nghiệp tư nhân cung cấp có thể vượt qua các biện pháp quản lý quốc gia.

Tại Iran, trong các đợt biểu tình đầu năm 2026, việc chính phủ cắt internet đã thúc đẩy nhu cầu sử dụng các thiết bị vệ tinh được đưa vào không chính thức. Starlink được cho là đã hỗ trợ các nhóm xã hội duy trì liên lạc, vượt qua các biện pháp kiểm soát thông tin.

Tại Venezuela, Starlink từng được sử dụng để tránh phong tỏa thông tin và đảm bảo kết nối internet thông qua các kênh phi chính thức

Đáng chú ý, sau những biến động chính trị đầu năm 2026, SpaceX đã cung cấp miễn phí dịch vụ internet trong thời gian ngắn cho người dân nước này, cho thấy khả năng can thiệp trực tiếp của doanh nghiệp công nghệ vào môi trường chính trị - xã hội.

Ở Dải Gaza, Starlink được triển khai cho mục đích nhân đạo nhằm hỗ trợ y tế từ xa và điều phối cứu trợ, song việc tiếp cận của người dân vẫn bị hạn chế do các cân nhắc an ninh.

Những trường hợp trên cho thấy Starlink không chỉ là một nền tảng công nghệ trung lập mà đã trở thành một thành tố của môi trường địa chính trị số. Việc một doanh nghiệp tư nhân kiểm soát hạ tầng kết nối toàn cầu tạo ra cấu trúc quyền lực mới, nơi quyết định kỹ thuật có thể mang hàm ý chính trị và chiến lược.

Khái niệm “chủ quyền số” vì thế ngày càng được nhấn mạnh. Trong kỷ nguyên kinh tế số, quyền kiểm soát kết nối, dữ liệu và hạ tầng viễn thông đang trở thành một phần của quyền lực quốc gia, tương tự như năng lượng hay tài chính trong các giai đoạn trước.

Tên lửa Trung Quốc phóng phi hành gia lên trạm vũ trụ (tháng 4/2025), trong bối cảnh cạnh tranh vệ tinh toàn cầu. Ảnh: Andy Wong/AP Photo/dpa/picture alliance.

CUỘC ĐUA VỆ TINH TOÀN CẦU VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH

Bên cạnh yếu tố địa chính trị, Starlink cũng đối mặt với các tranh luận về môi trường và không gian. Các vệ tinh có vòng đời ngắn, trung bình dưới 5 năm, và mỗi ngày có một hoặc hai vệ tinh bị đốt cháy khi quay trở lại khí quyển, giải phóng oxit nhôm. Một số nghiên cứu cảnh báo rằng hiện tượng này có thể tác động đến tầng ozone và góp phần vào biến đổi khí hậu.

Ngoài ra, hàng chục nghìn vệ tinh phản xạ ánh sáng mặt trời, làm bầu trời đêm sáng hơn, ảnh hưởng đến quan sát thiên văn và hệ sinh thái động vật. Rác thải không gian và nguy cơ va chạm giữa các vệ tinh cũng đang trở thành thách thức lớn đối với quản trị không gian vũ trụ.

Sự trỗi dậy của Starlink đã thúc đẩy một làn sóng đầu tư toàn cầu vào hạ tầng vệ tinh quỹ đạo thấp. Tại châu Âu, Eutelsat với dịch vụ OneWeb đang tập trung vào khách hàng doanh nghiệp và lĩnh vực hàng hải, đồng thời tham gia dự án IRIS2 - mạng vệ tinh an toàn cao nhằm giảm phụ thuộc vào hạ tầng của Mỹ.

Tại Mỹ, Amazon của Jeff Bezos đang phát triển Project Kuiper với hơn 3.200 vệ tinh, dự kiến cung cấp dịch vụ tại Bắc Mỹ và châu Âu trong thời gian tới. Sự tham gia của Amazon cho thấy thị trường internet vệ tinh đang trở thành một ngành công nghiệp chiến lược, thu hút các tập đoàn công nghệ lớn.

Trung Quốc cũng đẩy mạnh hai dự án lớn là Guowang và Qianfan, với tổng số vệ tinh dự kiến lên tới hơn 20.000, phục vụ mục tiêu quốc gia, quân sự và thương mại. Cuộc cạnh tranh này phản ánh xu hướng “vũ trụ hóa” hạ tầng số, nơi quỹ đạo Trái Đất thấp trở thành không gian chiến lược mới.

Starlink cũng mở ra cơ hội lớn cho thu hẹp khoảng cách số và phát triển kinh tế - xã hội toàn cầu. Tuy nhiên, cùng với cơ hội là những rủi ro về chủ quyền số, an ninh thông tin, môi trường và quản trị không gian. Đối với các quốc gia, bài toán không chỉ là tiếp cận công nghệ, mà là xây dựng chiến lược dài hạn để bảo đảm tự chủ hạ tầng số trong một thế giới ngày càng phụ thuộc vào không gian vũ trụ và dữ liệu.

DW-Trọng Hoàng

Categories: The Latest News

AI dẫn đầu làn sóng đầu tư an ninh mạng tại Việt Nam

Thời báo kinh tế Việt Nam - Sun, 02/15/2026 - 10:09
Trước những áp lực ngày càng tăng từ rủi ro công nghệ và yêu cầu pháp lý nghiêm ngặt, trí tuệ nhân tạo (AI) đang trở thành "vũ khí" then chốt trong chiến lược phòng thủ số của các doanh nghiệp...

Theo Khảo sát về Niềm tin Số Toàn cầu 2026 của PwC với sự tham gia của hơn 3.880 lãnh đạo cấp cao từ 72 quốc gia, AI hiện là ưu tiên hàng đầu trong việc phân bổ ngân sách an ninh mạng.

Xu hướng này không chỉ diễn ra trên thế giới mà đang lan tỏa mạnh mẽ tại Việt Nam, nơi hệ thống pháp lý về an ninh mạng đang bước vào giai đoạn hoàn thiện mang tính bước ngoặt.

CHUYỂN DỊCH TỪ PHÒNG NGỰ THỤ ĐỘNG SANG CHỦ ĐỘNG BẰNG AI

Trong bối cảnh rủi ro mạng ngày càng đa chiều, có đến 78% doanh nghiệp cho biết sẽ tăng ngân sách an ninh mạng trong năm tới. Đáng chú ý, đầu tư cho AI dẫn đầu danh mục phân bổ với 36%, vượt qua các mảng quan trọng khác như bảo mật đám mây (34%) hay bảo vệ dữ liệu (26%).

Các lãnh đạo an ninh mạng đang tập trung vào hai năng lực chính của AI: Tìm kiếm mối đe dọa- 48% lãnh đạo ưu tiên khả năng nhận diện nguy cơ bằng AI; AI tác nhân (Agentic AI) - 35% doanh nghiệp đang phát triển các năng lực tự chủ hơn của trí tuệ nhân tạo để ứng phó sự cố.

Ông Trần Minh Quân, Trưởng phòng cấp cao tại PwC Việt Nam, nhận định rằng các doanh nghiệp Việt đang chuyển mình từ tư duy phản ứng thụ động sang chủ động bảo vệ. Những phát triển AI mới mở ra cơ hội giúp các tổ chức phát hiện, ứng phó với các mối đe dọa nhanh chóng và hiệu quả hơn.

Tuy nhiên, ông cũng lưu ý phần lớn doanh nghiệp hiện vẫn ở giai đoạn "copilot" (trợ lý ảo dựa trên trí tuệ nhân tạo) và cần chú trọng hơn vào các thực hành quản trị AI để xây dựng niềm tin vững chắc.

ÁP LỰC TỪ HÀNH LANG PHÁP LÝ MỚI TẠI VIỆT NAM

Việt Nam đang khẳng định vị thế chủ đạo trong việc xây dựng các chuẩn mực an ninh mạng quốc tế, tiêu biểu là việc đăng cai ký kết Công ước Hà Nội (Công ước Liên hợp quốc về chống tội phạm mạng) vào tháng 10/2025.

Ở bình diện trong nước, các doanh nghiệp đang phải đối mặt với những yêu cầu tuân thủ nghiêm ngặt hơn bao giờ hết. Trong đó, Luật An ninh mạng 2025 có hiệu lực từ tháng 7/2026, yêu cầu xác thực danh tính người dùng bắt buộc và báo cáo vi phạm trong vòng 24 giờ.

Luật Bảo vệ Dữ liệu Cá nhân áp dụng từ đầu năm 2026, được xây dựng theo tiêu chuẩn quốc tế tương đương GDPR của châu Âu.

Ông Phó Đức Giang, Phó Tổng Giám đốc PwC Việt Nam, nhấn mạnh đây là thời điểm then chốt để doanh nghiệp đồng bộ với chuẩn mực quốc tế và tích hợp an ninh mạng vào mọi quyết định kinh doanh thay vì chỉ coi đó là một giải pháp kỹ thuật rời rạc.

THÁCH THỨC TỪ ĐỊNH LƯỢNG RỦI RO VÀ THIẾU HỤT NHÂN SỰ

Một xu hướng tích cực là các doanh nghiệp đang nỗ lực "số hóa" thiệt hại từ an ninh mạng. 50% doanh nghiệp hiện đã áp dụng phương pháp định lượng rủi ro để đánh giá tác động tài chính, tăng so với mức 44% của năm trước.

Tại Việt Nam, phương pháp này đang phát triển mạnh trong lĩnh vực ngân hàng và fintech, đặc biệt sau vụ rò rỉ dữ liệu CIC năm 2025 làm lộ 160 triệu hồ sơ.

Tuy nhiên, rào cản lớn nhất hiện nay vẫn là con người. Có đến 50% lãnh đạo toàn cầu thừa nhận thiếu kiến thức về ứng dụng AI trong an ninh mạng. Riêng tại Việt Nam, con số này còn báo động hơn với dự báo thiếu hụt khoảng 700.000 chuyên gia trong những năm tới.

Bên cạnh AI, các doanh nghiệp cũng bắt đầu lo ngại về các nguy cơ từ máy tính lượng tử. Dù vậy, vẫn còn gần một nửa (49%) doanh nghiệp chưa triển khai các giải pháp bảo mật kháng lượng tử do thiếu nguồn lực và chưa hiểu rõ rủi ro hậu lượng tử.

Để không bị bỏ lại phía sau, các chuyên gia khuyến nghị doanh nghiệp cần tập trung vào: Đầu tư vào công nghệ máy học và tự động hóa bảo mật; nâng cao kỹ năng và tái đào tạo nhân sự nội bộ; áp dụng mô hình quản trị rủi ro để tối ưu hóa nguồn lực và gắn kết với mục tiêu kinh doanh.

PwC-Song Hà

Categories: The Latest News

Chính thức cấp phép cho Internet Starlink vào Việt Nam

Thời báo kinh tế Việt Nam - Sun, 02/15/2026 - 10:05
Theo Giấy phép tần số vô tuyến điện được cấp, giai đoạn đầu Công ty TNHH Starlink Services Việt Nam được triển khai bao 4 trạm cổng (gateway) và quy mô thiết bị đầu cuối tối đa 600.000 thiết bị...

Ngày 13/2, Cục Tần số vô tuyến điện chính thức cấp giấy phép sử dụng tần số và thiết bị vô tuyến điện cho Công ty TNHH Starlink Services Việt Nam.  

Cục Tần số vô tuyến điện cho biết sự kiện không chỉ là một quyết định hành chính. Đó là tín hiệu cho thấy Việt Nam đang mở cửa mạnh mẽ hơn với công nghệ không gian thế hệ mới – nơi internet không còn bị giới hạn bởi địa hình đồi núi, hải đảo hay những “vùng lõm” hạ tầng truyền thống.

Theo Giấy phép tần số vô tuyến điện được cấp, giai đoạn đầu triển khai bao gồm 4 trạm cổng (gateway) và quy mô thiết bị đầu cuối tối đa 600.000 thiết bị tại Việt Nam. Quy mô này thể hiện cách tiếp cận bài bản, triển khai có kiểm soát và phù hợp với lộ trình phát triển hạ tầng viễn thông quốc gia.

Cuối năm 2024, SpaceX bắt đầu ngỏ ý cung cấp dịch vụ viễn thông Internet vệ tinh Starlink với kế hoạch đầu tư 1,5 tỷ USD. Ông Tim Hughes, Phó Chủ tịch cấp cao của SpaceX, đánh giá Việt Nam là thị trường rất tiềm năng đối với kế hoạch phát triển internet vệ tinh của SpaceX.

Đến tháng 4/2025, trong khuôn khổ chuyến thăm và làm việc tại Hoa Kỳ, Phó Thủ tướng Hồ Đức Phớc đã chính thức trao Quyết định thí điểm cho tập đoàn này. 

Tiếp đó, Quyết định số 659/QĐ-TTg ngày 23/3/2025 của Thủ tướng Chính phủ đã mở đường cho SpaceX thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam. Văn bản này cho phép các doanh nghiệp thí điểm có kiểm soát dịch vụ viễn thông sử dụng công nghệ vệ tinh quỹ đạo tầm thấp (LEO), đồng thời không giới hạn tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài – một bước đi quan trọng trong việc thu hút các tập đoàn công nghệ toàn cầu.

Theo quy định, SpaceX được phép thử nghiệm công nghệ LEO tại Việt Nam trong khuôn khổ giai đoạn thí điểm kéo dài 5 năm, kết thúc chậm nhất vào ngày 1/1/2031.

Việc được cấp phép sử dụng tần số đồng nghĩa với việc hệ thống có thể triển khai hợp pháp hạ tầng thu – phát tại Việt Nam, tuân thủ đầy đủ quy định pháp luật về tần số vô tuyến điện và bảo đảm không gây nhiễu tới các mạng thông tin vô tuyến hiện hữu. Đây là yếu tố then chốt để thị trường phát triển bền vững, tránh xung đột kỹ thuật và bảo đảm an toàn thông tin.

Đặc biệt, lần cấp phép đầu tiên này khẳng định bước chuyển trong tư duy quản lý: vừa kiểm soát chặt chẽ tài nguyên tần số – nguồn lực quốc gia hữu hạn, vừa tạo không gian thử nghiệm có kiểm soát cho công nghệ đột phá. Việc hình thành hành lang pháp lý rõ ràng cho mở rộng vùng phủ sóng internet từ quỹ đạo  vệ tinh tầm thấp chính là nền móng để hệ sinh thái kết nối số phát triển ổn định và dài hạn.

Không chỉ là câu chuyện công nghệ, đây còn là bước đi thể hiện tầm nhìn chủ động của Việt Nam trước xu hướng thương mại hóa công nghệ không gian toàn cầu. Khi thế giới đang mở rộng không gian kết nối lên quỹ đạo, Việt Nam cũng đang chuẩn bị nền tảng để không đứng ngoài dòng chảy đó.

Sự kiện ngày 13/2/2026 vì thế có thể được nhìn nhận như một “cú bật” về hạ tầng kết nối – nơi internet từ bầu trời chính thức trở thành một phần trong chiến lược phát triển số quốc gia, hướng tới mục tiêu kết nối toàn diện, bao trùm và bền vững trong kỷ nguyên mới.

-Ngô Huyền

Categories: The Latest News

Xe điện Trung Quốc “Made in USA”: Khi pháo đài bảo hộ công nghiệp Mỹ bắt đầu rạn nứt

Thời báo kinh tế Việt Nam - Sun, 02/15/2026 - 09:19
Pháo đài” thuế quan và rào cản an ninh mà Mỹ dựng lên để ngăn xe điện Trung Quốc đang xuất hiện những vết rạn đầu tiên. Các tín hiệu chính sách mới và chiến lược “sản xuất tại Mỹ” của doanh nghiệp Trung Quốc đang làm thay đổi cục diện cạnh tranh toàn cầu. Điều này đặt ra bài toán chiến lược về tương lai ngành ô tô và an ninh công nghệ của Mỹ cùng các đồng minh...

Trong hơn một thập kỷ qua, xe điện Trung Quốc đã trỗi dậy như một lực lượng thống trị trên thị trường toàn cầu, với lợi thế vượt trội về quy mô sản xuất, chuỗi cung ứng pin và chiến lược giá cạnh tranh. Mỹ, trong khi đó, vừa coi Trung Quốc là đối thủ công nghiệp, vừa xem đây là thách thức địa chính trị và an ninh quốc gia.

Vì vậy, Washington đã dựng lên một hệ thống rào cản phức tạp gồm thuế quan, hạn chế đầu tư và quy định về xe kết nối nhằm ngăn chặn xe điện Trung Quốc tiếp cận thị trường Mỹ.

PHÁO ĐÀI THUẾ QUAN VÀ AN NINH CÔNG NGHỆ

Mỹ từ lâu đã coi ngành công nghiệp ô tô là trụ cột kinh tế và biểu tượng sức mạnh công nghiệp quốc gia. Khi xe điện Trung Quốc nổi lên với tốc độ đáng kinh ngạc, Washington phản ứng bằng một tổ hợp chính sách bảo hộ công nghiệp hiếm thấy kể từ Chiến tranh Lạnh.

Thuế quan 100% đối với xe điện nhập khẩu từ Trung Quốc được chính quyền Mỹ áp dụng như một biện pháp “phòng tuyến đầu tiên”. Mục tiêu không chỉ là bảo vệ ngành công nghiệp nội địa mà còn ngăn chặn việc Trung Quốc chiếm lĩnh công nghệ tương lai của ngành ô tô.

Trong bối cảnh xe điện đang trở thành nền tảng của hệ sinh thái giao thông thông minh, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo, Washington lo ngại rằng sự phụ thuộc vào xe điện Trung Quốc có thể tạo ra rủi ro chiến lược tương tự như phụ thuộc vào hạ tầng viễn thông hay bán dẫn.

Ngoài thuế quan, Mỹ còn ban hành quy định về “xe kết nối” - một lĩnh vực được xem là cực kỳ nhạy cảm về an ninh quốc gia. Theo các quy định này, xe sử dụng phần mềm hoặc phần cứng kết nối do các thực thể thuộc sở hữu Trung Quốc cung cấp sẽ bị hạn chế hoặc cấm bán tại Mỹ theo lộ trình cụ thể đến năm 2029.

Điều này phản ánh một thực tế mới: ô tô không còn là sản phẩm cơ khí thuần túy mà đã trở thành một “thiết bị thông minh di động” có khả năng thu thập và truyền dữ liệu.

Tuy nhiên, rào cản này cũng phản ánh một nghịch lý: trong khi Mỹ cố gắng bảo vệ ngành công nghiệp ô tô nội địa, chính các hãng xe Mỹ lại phụ thuộc sâu sắc vào chuỗi cung ứng Trung Quốc, đặc biệt là pin, vật liệu hiếm và phần mềm. Điều này khiến chiến lược tách rời hoàn toàn trở nên khó khả thi về mặt kinh tế.

Các xe điện mới sản xuất tại Trung Quốc của BYD được nhìn thấy tại cảng Zeebrugge, Bỉ. Ảnh: REUTERS/Yves Herman/File Photo

CHIẾN LƯỢC “SẢN XUẤT TẠI MỸ” CỦA DOANH NGHIỆP TRUNG QUỐC

Trước các rào cản thương mại, các doanh nghiệp Trung Quốc đang chuyển từ chiến lược xuất khẩu sang chiến lược “đầu tư trực tiếp ra nước ngoài”, đặc biệt là xây dựng nhà máy tại thị trường mục tiêu. Đây là mô hình mà các hãng Nhật Bản từng áp dụng thành công trong thập niên 1980 để vượt qua hàng rào thuế quan của Mỹ.

Geely - một trong những tập đoàn ô tô lớn nhất Trung Quốc và là chủ sở hữu của Volvo và Polestar - đang được coi là ứng viên tiên phong. Việc hãng này vượt BYD về tổng doanh số ô tô trong một số thời điểm cho thấy sức cạnh tranh mạnh mẽ và năng lực toàn cầu hóa cao. Khả năng Geely tận dụng các cơ sở sản xuất hiện có của Volvo tại Mỹ để sản xuất xe điện mang thương hiệu phương Tây là một kịch bản hoàn toàn khả thi.

Tuy nhiên, rào cản lớn nhất không nằm ở sản xuất mà ở vấn đề công nghệ và sở hữu trí tuệ. Các quy định về xe kết nối đặt ra yêu cầu khắt khe về nguồn gốc phần mềm và phần cứng, buộc các hãng xe Trung Quốc phải tách rời khỏi hệ sinh thái công nghệ nội địa nếu muốn tiếp cận thị trường Mỹ. Điều này đặt ra một bài toán chiến lược: liệu các hãng Trung Quốc có sẵn sàng hy sinh lợi thế công nghệ cốt lõi để đổi lấy quyền tiếp cận thị trường lớn nhất thế giới hay không.

Một diễn biến đáng chú ý khác là khả năng hợp tác giữa các hãng xe Mỹ và công ty công nghệ Trung Quốc. Ford được cho là đã thảo luận với Xiaomi về việc thành lập liên doanh tại Mỹ. Nếu kịch bản này xảy ra, đây sẽ là bước ngoặt lớn, cho thấy sự phụ thuộc lẫn nhau giữa hai hệ sinh thái công nghệ và công nghiệp lớn nhất thế giới.

Ford đã hợp tác với CATL để sản xuất pin lithium iron phosphate (LFP) tại Mỹ - một minh chứng cho thấy công nghệ Trung Quốc đã trở thành chuẩn mực toàn cầu trong lĩnh vực pin.

Điều này đặt Mỹ vào thế tiến thoái lưỡng nan: hoặc chấp nhận công nghệ Trung Quốc để duy trì khả năng cạnh tranh chi phí, hoặc phát triển chuỗi cung ứng nội địa với chi phí cao hơn và tốc độ chậm hơn.

Ở cấp độ vĩ mô, chiến lược “sản xuất tại Mỹ” của các hãng Trung Quốc phản ánh xu hướng mới của toàn cầu hóa: thay vì xuất khẩu sản phẩm, doanh nghiệp xuất khẩu vốn, công nghệ và mô hình sản xuất. Điều này có thể làm suy yếu hiệu quả của các hàng rào thuế quan truyền thống.

HÀM Ý CHIẾN LƯỢC CHO MỸ VÀ CỤC DIỆN CÔNG NGHIỆP TOÀN CẦU

“Câu hỏi lớn đặt ra là: liệu việc cho phép các hãng xe Trung Quốc sản xuất tại Mỹ có phục vụ lợi ích chiến lược của Washington hay không?

Từ góc độ kinh tế, đầu tư Trung Quốc có thể tạo việc làm, giảm chi phí xe điện và thúc đẩy quá trình chuyển đổi năng lượng sạch. Trong bối cảnh xe điện mới chiếm dưới 10% doanh số xe mới tại Mỹ, việc giảm giá thành là yếu tố then chốt để thúc đẩy nhu cầu. Các hãng xe Trung Quốc, với lợi thế quy mô và chi phí, có thể đóng vai trò xúc tác cho quá trình này.

Tuy nhiên, từ góc độ địa chính trị, đây là một quyết định mang tính chiến lược dài hạn. Cho phép các hãng Trung Quốc xây dựng năng lực sản xuất tại Mỹ đồng nghĩa với việc Trung Quốc có thể tiếp cận sâu hơn vào hệ sinh thái công nghiệp và công nghệ của Mỹ.

Điều này có thể tạo ra những rủi ro về an ninh công nghệ, kiểm soát dữ liệu và ảnh hưởng chính trị. Hơn nữa, sự hiện diện của các hãng Trung Quốc có thể gây áp lực lớn lên các nhà sản xuất Mỹ, châu Âu, Nhật Bản và Hàn Quốc vốn đang gặp khó khăn trong cạnh tranh về giá và công nghệ pin. Mỹ có thể đứng trước nguy cơ “Hollowing Out” - rỗng hóa công nghiệp, nếu các doanh nghiệp nội địa không thể cạnh tranh và bị đẩy ra khỏi chuỗi giá trị.

Ở chiều ngược lại, việc tiếp tục đóng cửa hoàn toàn có thể khiến Mỹ tụt hậu trong cuộc đua xe điện toàn cầu, khi Trung Quốc và châu Âu đang tăng tốc chuyển đổi năng lượng. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và cam kết giảm phát thải, xe điện không chỉ là một ngành công nghiệp mà còn là công cụ chính sách khí hậu.

Đối với các đồng minh của Mỹ, đặc biệt là châu Âu và Nhật Bản, kịch bản xe điện Trung Quốc “Made in USA” cũng có tác động sâu rộng. Nếu Mỹ mở cửa cho đầu tư Trung Quốc, các hãng xe châu Âu và Nhật Bản có thể phải đối mặt với cạnh tranh khốc liệt ngay tại thị trường lớn nhất của họ. Ngược lại, nếu Mỹ đóng cửa hoàn toàn, các đồng minh có thể phải lựa chọn giữa việc theo Mỹ hay hợp tác sâu hơn với Trung Quốc để duy trì khả năng cạnh tranh.

“Pháo đài” bảo hộ công nghiệp mà Mỹ dựng lên để ngăn xe điện Trung Quốc đang đứng trước những thử thách mới. Chiến lược “sản xuất tại Mỹ” của các hãng Trung Quốc, cùng với sự phụ thuộc lẫn nhau trong chuỗi cung ứng công nghệ, đang làm mờ ranh giới giữa cạnh tranh và hợp tác.

Câu chuyện xe điện Trung Quốc “Made in USA” vì vậy không chỉ là vấn đề thương mại, mà là phép thử đối với trật tự công nghiệp và địa chính trị toàn cầu trong kỷ nguyên công nghệ xanh.

CNA-Trọng Hoàng

Categories: The Latest News

Cục Hải quan hối thúc bộ ngành gỡ điểm nghẽn Nghị định 46

Thời báo kinh tế Việt Nam - Sun, 02/15/2026 - 09:02
Loạt vướng mắc về danh mục hàng hóa, phân tán đầu mối kiểm tra và yêu cầu nhãn mác theo Nghị định 46/2026/NĐ-CP đẩy áp lực về các cửa khẩu. Trước nguy cơ “nghẽn mạch” dòng chảy hàng hóa, Cục Hải quan đề nghị các bộ liên quan sớm hoàn thiện khung hướng dẫn và làm rõ quy định còn chồng ché, tránh tái diễn ùn ứ khi chính sách áp dụng trở lại…

Nghị định số 46/2026/NĐ-CP có hiệu lực đã nhanh chóng ghi nhận hàng loạt vướng mắc phát sinh trong khâu thực thi. Chỉ trong thời gian ngắn, Cục Hải quan liên tiếp có văn bản gửi các Bộ Y tế, Bộ Công Thương và Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị sớm có giải pháp xử lý những bất cập phát sinh ngay từ giai đoạn đầu áp dụng.

Việc tạm dừng hiệu lực Nghị định 46 cùng với Nghị quyết số 66.13/2026/NQ-CP được xem là động thái “hãm phanh” kịp thời, giúp doanh nghiệp tránh nguy cơ đứt quãng nguồn cung nguyên liệu và hạn chế chi phí lưu kho. Tuy nhiên, đây chỉ là giải pháp tình thế, nếu các bất cập không được xử lý dứt điểm, nguy cơ nhiều lô hàng bị ùn tắc lại tại cảng biển và cửa khẩu đường bộ do vướng quy trình kiểm tra có thể tái diễn ngay khi thời hạn tạm dừng kết thúc.

Ngay khi Chính phủ ban hành Nghị quyết số 09/2026/NQ-CP lùi thời hạn áp dụng Nghị định 46/2026/NĐ-CP, Cục Hải quan tiếp tục yêu cầu các đơn vị trực thuộc thực hiện đẩy nhanh thông quan hàng thực phẩm nhập khẩu và kịp thời báo cáo các khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình xử lý hồ sơ.

Trên cơ sở tổng hợp phản ánh từ doanh nghiệp và các đơn vị hải quan địa phương, Cục Hải quan gửi kiến nghị tới Cục An toàn thực phẩm (Bộ Y tế), nêu rõ những điểm nghẽn khi triển khai Nghị định số 46/2026/NĐ-CP để giảm áp lực lên hoạt động thông quan khi Nghị định có hiệu lực trở lại.

Thứ nhất, về danh mục hàng hóa kèm mã số HS. Theo Cục Hải quan, việc thiếu danh mục chi tiết khiến cả doanh nghiệp và cơ quan quản lý địa phương lúng túng trong khi xác định mặt hàng thuộc diện phải đăng ký kiểm tra chuyên ngành và đăng ký với cơ quan cụ thể. Hệ quả là nhiều lô hàng phải “nằm chờ” tại cảng, kéo theo chi phí lưu kho, lưu bãi tăng nhanh.

Vì vậy, Cục Hải quan đề nghị các Bộ Công Thương, Y tế, Nông nghiệp và Môi trường sớm rà soát, ban hành danh mục chi tiết kèm mã HS để tạo cơ sở pháp lý thống nhất trước khi Nghị định 46/2026/NĐ-CP được triển khai.

Thứ hai, liên quan đến sự phân tán đầu mối kiểm tra an toàn thực phẩm đối với lô hàng nhập khẩu có nhiều mặt hàng thuộc phạm vi quản lý của từ 2-3 Bộ

Theo Nghị định 46/2026/NĐ-CP, mỗi mặt hàng đều phải có thông báo kết quả xác nhận đạt yêu cầu nhập khẩu tương ứng với từng cơ quan quản lý chuyên ngành, trong khi Nghị định 15/2018/NĐ-CP chỉ tập trung về một đầu mối là Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Quy trình “chia nhỏ” này đồng nghĩa với việc hồ sơ bị kéo dài thời gian xử lý, container phải lưu tại cảng lâu hơn, đi ngược mục tiêu cải cách thủ tục hành chính. Do đó, Cục Hải quan kiến nghị cần thống nhất một đầu mối kiểm tra để giảm áp lực thủ tục cho doanh nghiệp.

Thứ ba, Nghị định 46/2026/NĐ-CP yêu cầu nhãn thực phẩm nhập khẩu phải thể hiện đầy đủ tên, địa chỉ của tổ chức, cá nhân sản xuất và của tổ chức, cá nhân công bố sản phẩm.

Trong thực tế, với lô hàng nhập khẩu đầu tiên, doanh nghiệp thường phải nhập khẩu hàng để hoàn thiện hồ sơ và thực hiện thủ tục công bố sản phẩm. Tại thời điểm đăng ký tờ khai, thông tin về chủ thể công bố sản phẩm chưa được xác lập nên không thể thể hiện đầy đủ trên nhãn.

(Cục Hải quan)

Nếu buộc hoàn thiện ngay khi làm thủ tục nhập khẩu, nhiều doanh nghiệp sẽ rơi vào tình thế bị động khi Nghị định số 46/2026/NĐ-CP có hiệu lực trở lại. Do đó, cần làm rõ thời điểm phải đáp ứng nội dung này là trước khi thông quan hay trước khi lưu thông trên thị trường để tránh gây khó khăn trong doanh nghiệp.

Ngoài ra, quy định về nhãn hàng hóa tại Nghị định số 37/2026/NĐ-CP chỉ yêu cầu nhãn gốc thể hiện tên hàng hóa, xuất xứ và thông tin về tổ chức, cá nhân sản xuất hoặc chịu trách nhiệm về hàng hóa ở nước ngoài, thay vì đề cập đến thông tin của tổ chức, cá nhân công bố sản phẩm tại Việt Nam.

Sự thiếu đồng bộ giữa hai nghị định đặt doanh nghiệp và cơ quan thực thi vào tình thế lúng túng, làm tăng rủi ro ách tắc khi áp dụng,  Cục Hải quan nêu rõ.

Thứ tư, Nghị định số 46/2026/NĐ-CP xếp nhóm thực phẩm có nguồn gốc từ động vật và sản phẩm động vật thủy sản nhập khẩu làm thực phẩm vừa thuộc diện kiểm dịch, vừa phải kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm do Bộ Nông nghiệp và Môi trường quản lý.

Tuy nhiên, phản ánh từ một số địa phương, xuất hiện tình trạng cơ quan chuyên môn chỉ tiếp nhận hồ sơ kiểm dịch mà chưa tiếp nhận thủ tục kiểm tra an toàn thực phẩm, khiến hàng hóa không thể hoàn tất quy trình và bị “kẹt” tại cửa khẩu.

“Nguyên liệu nhập khẩu để phục vụ sản xuất trong nước nay thuộc diện phải kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm, trong khi nguyên liệu nhập khẩu để gia công, sản xuất xuất khẩu lại được miễn. Sự khác biệt này có thể tạo ra sự thiếu bình đẳng giữa các loại hình sản xuất”

Thứ năm, phạm vi các trường hợp được miễn kiểm tra an toàn thực phẩm theo Nghị định 46/2026/NĐ-CP đã thu hẹp so với Nghị định 15/2018/NĐ-CP.

Đồng thời, phương thức kiểm tra thông thường yêu cầu kiểm tra hồ sơ, kiểm tra thực tế và lấy mẫu kiểm nghiệm dẫn đến số lượng hàng hóa phải lấy mẫu tăng mạnh, gây quá tải cho các cơ sở kiểm nghiệm vốn thường đặt xa cửa khẩu dẫn đến thời gian chờ đợi kéo dài.

Trên cơ sở đó, Cục Hải quan đề xuất nghiên cứu áp dụng nguyên tắc quản lý rủi ro trong kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm đối với nguyên liệu nhập khẩu phục vụ sản xuất trong nước theo hướng phân loại doanh nghiệp dựa trên mức độ tuân thủ pháp luật như miễn kiểm tra đối với doanh nghiệp ưu tiên và doanh nghiệp tuân thủ tốt quy định về an toàn thực phẩm.

-Mai Nhi

Categories: The Latest News

Công nghiệp văn hóa: “Kho vàng” cho phát triển kinh tế

Thời báo kinh tế Việt Nam - Sun, 02/15/2026 - 07:31
Việt Nam vốn sở hữu một kho tàng văn hóa đồ sộ nhưng để kho tàng này mang lại giá trị kinh tế thì vẫn còn khiêm tốn. Đã đến lúc “bản sắc Việt” cần được chuyển hóa thành một động lực tăng trưởng mới, góp phần định vị thương hiệu quốc gia Việt Nam trên bản đồ kinh tế thế giới.

Trong bối cảnh kinh tế sáng tạo đang trở thành xu thế toàn cầu, công nghiệp văn hóa nổi lên như một trụ cột quan trọng, không chỉ nuôi dưỡng đời sống tinh thần mà còn tạo ra giá trị kinh tế bền vững. Theo báo cáo mới nhất của UNESCO (tháng 10/2025), các ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo toàn cầu đóng góp 3,39% GDP thế giới và tạo việc làm cho trên 50 triệu lao động (một số quốc gia phát triển như Anh, Hàn Quốc có thể đạt 7% GDP). Tại Việt Nam, công nghiệp văn hóa đang được Đảng và Nhà nước xác định là động lực tăng trưởng mới.

Hàn Quốc được biết đến là quốc gia đã đạt được những thành tựu nổi bật trong công nghiệp văn hóa, đưa “Làn sóng Hallyu” trở thành hiện tượng toàn cầu, bắt đầu từ những năm 1990 và bùng nổ mạnh mẽ từ những năm 2000 đến nay, thu hút hàng triệu người hâm mộ trên khắp thế giới. 

Làn sóng Hallyu đã đưa doanh thu xuất khẩu sản phẩm văn hóa (phim ảnh, âm nhạc, game, thời trang) của Hàn Quốc đạt tới 13,4 tỷ USD năm 2024, đóng góp khoảng 1% GDP trực tiếp và 20% doanh thu du lịch quốc gia. Thành công này đến từ sự kết hợp hài hòa giữa chính sách hỗ trợ sáng tạo, đầu tư từ  công nghệ số, bảo tồn bản sắc dân tộc và truyền thông tổng hợp của Hàn Quốc.

Trong chuyến thăm Hàn Quốc tháng 8/2025, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nêu các định hướng hợp tác quan trọng Việt Nam – Hàn Quốc, trong đó nhấn mạnh: “Việt Nam mong muốn học tập kinh nghiệm thành công của Hàn Quốc về xây dựng, triển khai hiệu quả chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa, công nghiệp giải trí, quảng bá văn hóa, du lịch”. Tất nhiên sự học hỏi này phải dựa trên bản sắc và điều kiện thực tiễn của Việt Nam, để văn hóa thật sự trở thành sức mạnh nội sinh của phát triển.

Ông Nguyễn Văn Hùng, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, cho biết Việt Nam sở hữu kho tàng văn hóa, lịch sử phong phú, nguồn nhân lực trẻ, sáng tạo và thị trường gần 100 triệu dân, đó là nền tảng để xây dựng một nền công nghiệp văn hóa hiện đại, có bản sắc và khả năng cạnh tranh quốc tế. Ngành Văn hóa chuyển tư duy từ “làm văn hóa” sang “quản lý nhà nước về văn hóa” để làm tăng “hàm lượng” văn hóa trong các hoạt động văn hóa. Trên cơ sở đó, các hoạt động văn hóa không dừng lại ở mức giao lưu mà sẽ thỏa thuận cam kết đẩy mạnh hợp tác văn hóa, giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực.

Mặt khác, tiềm năng phát triển của công nghiệp văn hóa còn rất lớn khi hơn 8.000 lễ hội truyền thống chỉ khai thác khoảng 20% giá trị kinh tế. Các lễ hội như: Đền Hùng (Phú Thọ), Festival Huế, hay các sự kiện địa phương như Lễ hội Dừa Bến Tre đã chứng minh khả năng kết hợp văn hóa - thương mại. Bài toán đặt ra là làm sao để các lễ hội chuyển từ “tiêu tiền theo mùa” sang “sinh lời quanh năm”, từ hoạt động văn hóa đơn lẻ thành sản phẩm có bản quyền, có thương hiệu và có khả năng xuất khẩu. Đây chính là ranh giới phân biệt giữa tổ chức sự kiện văn hóa và phát triển công nghiệp văn hóa đúng nghĩa, khi đó bản sắc Việt mới trở thành sản phẩm toàn cầu.

Trong kỷ nguyên số, công nghiệp văn hóa không chỉ là sức mạnh mềm mà còn là động lực cạnh tranh quốc gia. Như Tổng Bí thư Tô Lâm giao nhiệm vụ cho ngành Văn hóa: “Phát triển công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo trở thành trụ cột mới của tăng trưởng”, trở thành giá trị sinh lời, góp phần đa dạng hóa kinh tế, hướng tới “kỳ tích sông Hồng” trong lĩnh vực giải trí châu Á.

Năm 2025 đánh dấu bước tiến mạnh mẽ với sự chủ động của các địa phương về phát triển công nghiệp văn hóa, nhất là sau khi Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính ký Quyết định số 2486/QĐ-TTg (ngày 14/11/2025) phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Chiến lược tiếp tục khẳng định mục tiêu đầy tham vọng: công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP vào năm 2030 và 9% vào năm 2045 và xác định 10 ngành công nghiệp văn hóa chủ chốt được ưu tiên phát triển gồm: điện ảnh; mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm; nghệ thuật biểu diễn; phần mềm và các trò chơi giải trí; quảng cáo; thủ công mỹ nghệ; du lịch văn hóa; thiết kế sáng tạo; truyền hình và phát thanh; xuất bản.

Năm 2025, tổng doanh thu phim điện ảnh Việt đạt hơn 3.000 tỷ đồng, là minh chứng cho thấy Việt Nam đang nằm trong nhóm những thị trường điện ảnh có tốc độ phát triển ấn tượng nhất toàn cầu. Tỷ trọng phim Việt Nam đã vươn tử 42% doanh thu (2024) lên đến 62% (năm 2025). Theo ông Đặng Trần Cường, Cục trưởng Cục Điện ảnh, đó là dấu mốc mở đầu cho một giai đoạn mới “giúp phim Việt giữ vững thị trường trong nước, đồng thời tăng hiện diện và sức cạnh tranh ở khu vực và quốc tế”.

Động lực phát triển công nghiệp văn hóa từ một số địa phương đang tạo ra những đột phá thúc đẩy sự phát triển kinh tế không những cho từng địa phương mà còn cho cả nước hướng tới mục tiêu nói trên. Có thể ví dụ từ một số địa phương nổi bật như: Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Hải Phòng…

Hà Nội đã  ban hành Kế hoạch số 270/KH-UBND (1/10/2025), triển khai Nghị quyết 24/2025/NQ-HĐND là thể chế hóa tầm nhìn phát triển văn hóa như một ngành kinh tế mũi nhọn - đúng tinh thần của Luật Thủ đô (sửa đổi) và Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa quốc gia. Đây là mô hình phát triền kinh tế sáng tạo đã được nhiều Thủ đô như: Seoul, London, Paris hay Singapore thực hiện thành công.

 Theo đó, Hà Nội đặt mục tiêu từ nay đến năm 2030 xây dựng 10 trung tâm công nghiệp văn hóa; đến năm 2045, sẽ xây dựng mới một khu trung tâm công nghiệp văn hóa hiện đại, quy mô tầm cỡ ở bãi giữa và bãi nổi sông Hồng. Thủ đô tận dụng di sản như: Không gian đi bộ Hồ Gươm, Phố sách Hà Nội, Hoàng Thành Thăng Long để xây dựng hệ sinh thái số hóa, kết nối quốc tế.

TP. Hồ Chí Minh lựa chọn 8 lĩnh vực, ngành công nghiệp văn hóa gồm: điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, mỹ thuật, nhiếp ảnh, triển lãm, quảng cáo, du lịch văn hóa và thời trang để phát triển từ nay đến năm 2030.

Năm 2025, TP. Hồ Chí Minh phấn đấu tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp văn hóa đạt bình quân khoảng 14%/năm, doanh thu đóng góp khoảng 5,7% GRDP của Thành phố và tạo thêm nhiều việc làm cho xã hội. Đến năm 2030, tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp văn hóa của Thành phố đạt bình quân khoảng 12%/năm, đóng góp khoảng 7-8% GRDP. Dự kiến, tổng doanh thu của 8 ngành công nghiệp văn hóa sẽ đóng góp vào tăng trưởng kinh tế-xã hội của Thành phố khoảng 148.000 tỷ đồng.

Để thúc đẩy công nghiệp văn hóa phát triển, cần thực hiện một số giải pháp.

Thứ nhất, xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách ưu đãi phù hợp với tài chính, trong đó cần xây dựng rõ cơ chế hợp tác công tư, nếu không có hợp tác công tư sẽ rất khó làm công nghiệp văn hóa.

Thứ hai, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đặc biệt là nhân lực có tư duy sáng tạo trong các lĩnh vực văn hóa và cán bộ quản lý văn hóa.

Thứ ba, lựa chọn khu vực phát triển công nghiệp hóa sát với thực tiễn thực hiện ở các địa phương và cần định hình trung tâm dữ liệu để phát triển công nghiệp hóa có bước đi vững vàng hơn.

Thứ tư, định vị, quảng bá Việt Nam và các ngành công nghiệp hóa Việt Nam trên thị trường thế giới một cách mạnh mẽ hơn bằng cách đưa ra biểu tượng cho công nghiệp hóa, kiểu như Hallyu (làn sóng Hàn Quốc); Anime là phim hoạt hình, managga là truyện tranh của Nhật Bản)…

Thứ năm, tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực văn hóa và tăng cường  chuyển đổi số trong ngành văn hóa… 

Phát triển công nghiệp văn hóa không chỉ là mục tiêu văn hóa, mà là trụ cột kinh tế chiến lược trong kỷ nguyên sáng tạo. Khi “bản sắc Việt” được xuất khẩu dưới lớp áo hiện đại, văn hóa sẽ trở thành nguồn lực mềm cho tăng trưởng cứng,  vừa tạo việc làm, vừa lan tỏa hình ảnh đất nước.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-

Categories: The Latest News

Pages