The Latest News

Quý 1 có thể đi vào lịch sử buồn của Bitcoin

Thời báo kinh tế Việt Nam - Wed, 02/18/2026 - 08:52
Nếu đà giảm tiếp diễn đến hết tháng này, Bitcoin có thể lần đầu tiên ghi nhận cả tháng 1 và tháng 2 cùng chìm trong sắc đỏ...

Theo CoinTelegraph, Bitcoin có nguy cơ trải qua quý đầu năm “tệ nhất” trong 8 năm qua. Dữ liệu cho thấy kể từ đầu năm, Bitcoin đã mất khoảng 22,3% giá trị. Khởi đầu năm mới ở vùng 87.700 USD, Bitcoin đã “bốc hơi” gần 20.000 USD, rơi xuống quanh mốc 68.000 USD. 

Thống kê từ CoinGlass cho thấy nếu xu hướng hiện tại không sớm đảo chiều, đây sẽ là quý 1 tiêu cực nhất kể từ thị trường gấu năm 2018 - giai đoạn Bitcoin lao dốc gần 50% chỉ trong ba tháng.

Trong 13 năm gần đây, Bitcoin có 7 lần kết thúc quý 1 với mức giảm. Gần nhất là năm 2025 với mức giảm 11,8%, năm 2020 giảm 10,8%, và nghiêm trọng nhất là năm 2018 mất tới 49,7%.

Nhận định về diễn biến hiện tại, nhà phân tích Daan Trades Crypto cho rằng quý đầu năm vốn là giai đoạn biến động mạnh của thị trường. Theo ông, dữ liệu lịch sử cho thấy diễn biến trong quý 1 thường không phản ánh toàn bộ xu hướng cả năm, các nhịp điều chỉnh đầu năm chưa chắc kéo dài sang những quý tiếp theo.

Thực tế, Bitcoin mới chỉ hai lần ghi nhận hai năm liên tiếp có quý 1 thua lỗ, rơi vào các chu kỳ thị trường gấu năm 2018 và 2022.

So với Bitcoin, Ether, đồng tiền số có vốn hóa lớn thứ hai thị trường, chỉ có 3 quý 1 giảm điểm trong 9 năm gần đây. Tuy nhiên, quý 1 năm nay đang trở thành giai đoạn tiêu cực thứ ba trong lịch sử của Ether, với mức giảm khoảng 34,3% tính đến thời điểm hiện tại.

Ở khung thời gian ngắn hơn, Bitcoin cũng đang đứng trước nguy cơ có hai tháng đầu năm liên tiếp chìm trong sắc đỏ. Tháng 1 vừa qua, giá trị Bitcoin đã mất 10,2%, sang tháng 2 tiếp tục giảm thêm 13,4% tính đến nay. Để tránh kịch bản tháng Hai khép lại trong sắc đỏ, Bitcoin cần quay lại mốc 80.000 USD.

Trao đổi với Cointelegraph, ông Nick Ruck, Giám đốc LVRG Research, nhận định đà suy yếu hiện nay của Bitcoin, trong bối cảnh kinh tế toàn cầu còn nhiều bất ổn, phản ánh một nhịp điều chỉnh thông thường hơn là dấu hiệu đổ vỡ cấu trúc xu hướng dài hạn.

Theo ông, nếu các yếu tố vĩ mô bất lợi tiếp tục kéo dài, áp lực ngắn hạn có thể gia tăng. Tuy nhiên, các mô hình lịch sử cho thấy Bitcoin thường phục hồi trong những tháng sau đó, đặc biệt khi mức độ chấp nhận từ các tổ chức lớn gia tăng và động lực từ chu kỳ “halving” tiếp tục củng cố triển vọng dài hạn của tài sản này.

Dữ liệu từ CoinGecko cho thấy Bitcoin đã bước sang tuần giảm thứ năm liên tiếp. Trong 24 giờ gần nhất, giá đồng tiền số này tiếp tục giảm thêm 2,3%, xuống còn khoảng 67.000 USD.

-Bạch Dương

Categories: The Latest News

Tập đoàn Adani đặt cược 100 tỷ USD vào hạ tầng AI, tham vọng đưa Ấn Độ thành trung tâm dữ liệu toàn cầu

Thời báo kinh tế Việt Nam - Wed, 02/18/2026 - 08:49
Tập đoàn Adani công bố kế hoạch đầu tư tới 100 tỷ USD để xây dựng các trung tâm dữ liệu “sẵn sàng cho AI” chạy bằng năng lượng tái tạo đến năm 2035, một bước đi tham vọng nhằm định vị Ấn Độ trong cuộc đua hạ tầng trí tuệ nhân tạo toàn cầu. Dự án được kỳ vọng kích hoạt hệ sinh thái đầu tư trị giá 250 tỷ USD và tạo cú hích lớn cho ngành công nghệ, năng lượng và công nghiệp máy chủ.

Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo trở thành hạ tầng chiến lược của nền kinh tế số, các tập đoàn tư nhân lớn đang chuyển từ đầu tư phần mềm sang xây dựng “xương sống vật lý” của AI.

Với kế hoạch đầu tư khổng lồ của Adani, Ấn Độ có thể bước vào nhóm quốc gia có năng lực trung tâm dữ liệu và điện toán AI quy mô toàn cầu, cạnh tranh với Mỹ, Trung Quốc và châu Âu.

Adani Enterprises ngày 17/2 cho biết tập đoàn sẽ đầu tư khoảng 100 tỷ USD để xây dựng các trung tâm dữ liệu quy mô lớn chạy bằng năng lượng tái tạo vào năm 2035, với mục tiêu tạo ra nền tảng trung tâm dữ liệu tích hợp lớn nhất thế giới. Theo tập đoàn, khoản đầu tư này không chỉ nhằm mở rộng hoạt động kinh doanh mà còn phục vụ chiến lược dài hạn về “chủ quyền công nghệ” của Ấn Độ trong kỷ nguyên AI.

Khoản đầu tư dự kiến sẽ kích thích thêm khoảng 150 tỷ USD chi tiêu trong thập kỷ tới trong các lĩnh vực liên quan như điện toán đám mây chủ quyền, sản xuất máy chủ, bán dẫn, phần mềm AI và dịch vụ dữ liệu. Adani cho rằng tổng thể dự án sẽ tạo ra một hệ sinh thái hạ tầng AI trị giá khoảng 250 tỷ USD tại Ấn Độ trong vòng 10 năm tới, qua đó thúc đẩy chuyển đổi số ở quy mô quốc gia.

Phát biểu trong tuyên bố chính thức, Chủ tịch Tập đoàn Adani Gautam Adani cho biết tập đoàn đang xây dựng dựa trên nền tảng hiện có về trung tâm dữ liệu và năng lượng xanh để mở rộng sang “chuỗi giá trị AI năm lớp”, tập trung vào chủ quyền công nghệ của Ấn Độ.

Dù không nêu chi tiết từng lớp, khái niệm này thường bao gồm hạ tầng điện và trung tâm dữ liệu, phần cứng tính toán, nền tảng phần mềm, mô hình AI và các ứng dụng AI trong nền kinh tế.

Động thái của Adani diễn ra trong bối cảnh các tập đoàn công nghệ toàn cầu đang tăng tốc đầu tư vào hạ tầng AI tại Ấn Độ. Trước đó, Google cho biết sẽ đầu tư 15 tỷ USD trong vòng 5 năm để xây dựng một trung tâm dữ liệu AI tại bang Andhra Pradesh, đánh dấu khoản đầu tư lớn nhất của Google tại thị trường này.

Dự án này cũng có thể kéo theo khoản đầu tư lên tới 5 tỷ USD cho Adani Connex, liên doanh giữa Adani Enterprises và nhà vận hành trung tâm dữ liệu EdgeConneX, nhằm cung cấp hạ tầng cho Google và các khách hàng doanh nghiệp khác.

Adani cũng cho biết đang thảo luận với nhiều tập đoàn công nghệ lớn để thiết lập các khu trung tâm dữ liệu quy mô lớn trên khắp Ấn Độ, song chưa công bố thêm chi tiết về đối tác hay địa điểm cụ thể.

Với lợi thế kiểm soát chuỗi cung ứng năng lượng tái tạo, cảng biển và logistics, tập đoàn này đang đặt mục tiêu xây dựng một nền tảng tích hợp từ sản xuất điện, truyền tải, lưu trữ dữ liệu đến dịch vụ AI.

Các nhà phân tích cho rằng kế hoạch của Adani phản ánh xu hướng toàn cầu trong đó trung tâm dữ liệu và năng lượng trở thành trụ cột chiến lược của nền kinh tế AI. Nhu cầu điện năng của các trung tâm dữ liệu đang tăng mạnh do sự bùng nổ của mô hình AI tạo sinh, điện toán đám mây và Internet vạn vật. Trong bối cảnh đó, các tập đoàn sở hữu chuỗi năng lượng - hạ tầng - dữ liệu có lợi thế cạnh tranh lớn, đặc biệt khi các quốc gia bắt đầu coi AI là lĩnh vực liên quan đến an ninh quốc gia và chủ quyền công nghệ.

Ấn Độ đang nổi lên như một điểm đến chiến lược cho đầu tư trung tâm dữ liệu nhờ thị trường nội địa lớn, lực lượng lao động công nghệ dồi dào và chính sách thúc đẩy chuyển đổi số.

Chính phủ nước này đã triển khai nhiều chương trình hỗ trợ hạ tầng số và khuyến khích phát triển điện toán đám mây nội địa, nhằm giảm phụ thuộc vào các nền tảng nước ngoài. Kế hoạch của Adani vì vậy có thể được xem là một phần trong chiến lược quốc gia rộng lớn hơn nhằm xây dựng năng lực công nghệ độc lập.

Tuy nhiên, các chuyên gia cũng cảnh báo rằng việc triển khai hạ tầng AI quy mô lớn sẽ đối mặt với nhiều thách thức, từ chi phí đầu tư cực lớn, yêu cầu về nguồn điện ổn định, đến các vấn đề về quản trị dữ liệu, an ninh mạng và môi trường.

Trung tâm dữ liệu là một trong những ngành tiêu thụ điện năng và nước làm mát lớn nhất, do đó việc gắn với năng lượng tái tạo sẽ là yếu tố then chốt để đảm bảo tính bền vững và đáp ứng các cam kết khí hậu.

Về phía thị trường tài chính, thông tin đầu tư đã được đón nhận tích cực. Cổ phiếu Adani Enterprises tăng khoảng 2,4% trong phiên giao dịch ngày 17/2 và nằm trong nhóm tăng mạnh nhất trên chỉ số chuẩn Nifty 50 của Ấn Độ.

Điều này phản ánh kỳ vọng của nhà đầu tư rằng hạ tầng AI sẽ trở thành động lực tăng trưởng dài hạn mới của tập đoàn, bên cạnh các lĩnh vực truyền thống như năng lượng, logistics và hạ tầng.

Kế hoạch đầu tư của Adani cũng phản ánh cuộc cạnh tranh địa kinh tế ngày càng gay gắt trong lĩnh vực AI. Mỹ và Trung Quốc đang dẫn đầu về công nghệ mô hình AI và bán dẫn, trong khi châu Âu tập trung vào khung pháp lý và dữ liệu công nghiệp.

Ấn Độ, với lợi thế nhân lực và thị trường, đang tìm cách bù đắp bằng hạ tầng dữ liệu và điện toán quy mô lớn, nhằm thu hút các tập đoàn công nghệ toàn cầu và phát triển hệ sinh thái AI nội địa.

Trong dài hạn, nếu được triển khai đúng tiến độ, hệ sinh thái trung tâm dữ liệu trị giá 250 tỷ USD mà Adani đề cập có thể tạo ra hiệu ứng lan tỏa lớn cho nền kinh tế Ấn Độ, từ sản xuất phần cứng, phần mềm, dịch vụ đám mây đến giáo dục và đổi mới sáng tạo.

Tuy nhiên, thành công của dự án sẽ phụ thuộc vào khả năng huy động vốn, quản trị rủi ro công nghệ và phối hợp chính sách giữa khu vực tư nhân và nhà nước.

CNA-Trọng Hoàng

Categories: The Latest News

Giá vàng “bốc hơi” 115 USD/oz, giá bạc sụt hơn 4%

Thời báo kinh tế Việt Nam - Wed, 02/18/2026 - 08:45
Giá vàng và giá bạc thế giới giảm mạnh trong phiên giao dịch ngày thứ Ba (17/2), khi đồng USD mạnh lên và nhu cầu phòng ngừa rủi ro suy yếu do có tin đàm phán hạt nhân Mỹ - Iran có tiến triển...

Quỹ SPDR Gold Trust bán ròng vàng, trong lúc thị trường vàng Trung Quốc - nước tiêu thụ vàng lớn nhất thế giới - đang trong kỳ nghỉ.

Lúc đóng cửa phiên giao dịch tại New York, giá vàng giao ngay giảm 115,2 USD/oz so với mức chốt của phiên trước, tương đương giảm 2,31%, còn 4.879 USD/oz - theo dữ liệu từ sàn giao dịch Kitco.

Giá bạc giao ngay giảm 3,13 USD/oz, tương đương giảm 4,09%, chốt ở mức 73,66 USD/oz.

Trên sàn COMEX, giá vàng giao tháng 4/2026 giảm 2,8%, chốt ở mức 4.905,9 USD/oz.

Đồng USD tăng giá được xem là một nguyên nhân chính khiến giá vàng sụt giảm trong phiên này. Chỉ số Dollar Index tăng hơn 0,2%, chốt phiên ở mức hơn 97,1 điểm. Vàng được định giá bằng USD nên theo quy luật thường thấy, vàng giảm giá khi USD tăng và ngược lại.

Một nguyên nhân khác khiến vàng giảm giá là nhu cầu phòng ngừa rủi ro suy yếu khi có tin tốt về đàm phán hạt nhân giữa Mỹ và Iran.

Vào ngày thứ Ba, Ngoại trưởng Iran Abbas Araqchi cho biết nước này và Mỹ đã đạt được sự hiểu biết chung về “các nguyên tắc chỉ đạo” trong cuộc đàm phán nhằm giải quyết mâu thuẫn kéo dài về vấn đề hạt nhân. Dù vậy, ông Araqchi nói rằng điều này không có nghĩa là hai bên đã tiến gần tới chỗ đạt một thỏa thuận.

Ngoài ra, các nhà đàm phán Nga và Ukraine có cuộc gặp diễn ra trong hai ngày tại Geneva dưới sự trung gian của Mỹ để đàm phán kết thúc chiến tranh giữa hai nước.

“Thị trường giá lên cần được tiếp sức thường xuyên bởi các thông tin hỗ trợ, mà bây giờ, thị trường vàng và bạc đang thiếu những tin tức mới có tác dụng đẩy giá lên cao hơn”, nhà phân tích cấp cao Jim Wyckoff của công ty Kitco Metals nhận xét. Ông cho rằng các cuộc đàm phán để giảm nhiệt căng thẳng địa chính trị Mỹ - Iran và Nga - Ukraine đều không có lợi cho xu hướng tăng của giá kim loại quý.

“Nếu Mỹ không tấn công Iran, mối lo lắng trên thị trường sẽ được giải tỏa và điều đó sẽ gây bất lợi cho các tài sản an toàn như vàng và bạc. Với cuộc đàm phán Nga - Ukraine cũng vậy”, ông Wyckoff nói thêm.

Quỹ ETF vàng lớn nhất thế giới SPDR Gold Trust bán ròng khoảng 1,4 tấn vàng trong phiên ngày thứ Ba, giảm khối lượng nắm giữ về mức 1.075,6 tấn vàng.

Ngoài ra, việc thị trường Trung Quốc nghỉ Tết Nguyên đán cũng có thể là một nguyên nhân khiến giá vàng suy yếu. Trung Quốc là nước tiêu thụ vàng lớn nhất thế giới, nên việc thị trường này ngừng giao dịch đồng nghĩa thị trường vàng thế giới thiếu đi một lực cầu lớn vàng vật chất.

Diễn biến giá vàng thế giới 1 năm qua. Đơn vị: USD/oz - Nguồn: Trading Economics.

Nhà đầu tư đang chờ biên bản cuộc họp chính sách tiền tệ mới đây nhất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), theo dự kiến sẽ được công bố vào ngày thứ Tư, và báo cáo chỉ số giá tiêu dùng cá nhân (PCE) của Mỹ, được công bố vào ngày thứ Sáu, để định hình triển vọng đường đi của lãi suất. Thị trường hiện đang kỳ vọng Fed hạ lãi suất hai lần trong năm nay, với đợt giảm đầu tiên vào tháng 6.

Bất kỳ thay đổi nào trong kỳ vọng lãi suất đều có thể ảnh hưởng đến giá vàng bởi vàng là tài sản không mang lãi suất.

Giá vàng và giá bạc tiếp tục đương đầu áp lực giảm khi thị trường châu Á mới mở cửa vào sáng nay (18/2).

Lúc 6h20 theo giờ Việt Nam, giá vàng giao ngay giảm 6,3 USD/oz so với chốt phiên Mỹ, tương đương giảm 0,13%, giao dịch ở mức 4.872,7 USD/oz - theo Kitco. Giá bạc giảm 0,26%, giao dịch ở mức 73,47 USD/oz.

Mức giá trên của vàng thế giới tương đương khoảng 153,6 triệu đồng/lượng, giảm 3,8 triệu đồng/lượng so với sáng hôm qua, nếu được quy đổi theo tỷ giá USD bán ra của ngân hàng Vietcombank.

Cùng thời điểm, website của Vietcombank báo giá USD ở mức 25.750 đồng (mua vào) và 26.160 đồng (bán ra), không thay đổi so với sáng qua.

-Điệp Vũ

Categories: The Latest News

Xuất khẩu của Nhật Bản tăng trưởng mạnh nhất hơn 3 năm

Thời báo kinh tế Việt Nam - Wed, 02/18/2026 - 08:44
Giá trị xuất khẩu sang Trung Quốc, đối tác thương mại lớn nhất của Nhật Bản, đã tăng 32% trong tháng đầu năm...

Xuất khẩu của Nhật Bản đạt tốc độ tăng trưởng mạnh nhất hơn 3 năm qua trong tháng 1 vừa qua, với mức tăng 16,8% so với cùng kỳ năm ngoái.

Đây là một sự tăng tốc mạnh mẽ so với mức tăng 5,1% của tháng 12 và vượt xa dự báo tăng 12% mà các nhà kinh tế đưa ra trong một cuộc khảo sát của hãng tin Reuters.

Kết quả này chủ yếu đến từ sự gia tăng mạnh mẽ của các lô hàng có đích đến là châu Á và Tây Âu, bù đắp cho sự sụt giảm xuất khẩu sang thị trường Bắc Mỹ - số liệu thống kê chính thức được Chính phủ Nhật Bản công bố sáng 18/2 cho thấy.

Đặc biệt, giá trị xuất khẩu sang Trung Quốc, đối tác thương mại lớn nhất của Nhật Bản, đã tăng 32% trong tháng đầu năm so với cùng kỳ năm ngoái, vượt xa mức tăng 5,6% của tháng trước đó.

Ngược lại, xuất khẩu sang Mỹ - đối tác thương mại lớn thứ hai của Nhật Bản - giảm 5% trong tháng 1, sau khi giảm 11,1% trong tháng 12. Sự sụt giảm này có thể liên quan đến các biện pháp thuế quan mà Mỹ áp lên hàng hóa Nhật Bản, ảnh hưởng đến các mặt hàng như thiết bị vận tải, bao gồm ô tô và phụ tùng ô tô - vốn là động lực tăng trưởng chính cho xuất khẩu của đất nước mặt trời mọc.

Thị trường châu Á chứng kiến mức tăng gần 26% trong các lô hàng xuất khẩu từ Nhật Bản, trong khi thị trường Tây Âu ghi nhận mức tăng hơn 25%, giúp thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu nói chung của Nhật và bù đắp cho sự suy giảm 3,3% ở thị trường Bắc Mỹ.

Các mặt hàng như thực phẩm, máy móc và máy móc điện tử, bao gồm cả chip, đạt mức tăng trưởng mạnh nhất, lần lượt tăng 31,3%, 14,3% và 27,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong khi đó, thiết bị vận tải chỉ tăng 0,8%, cho thấy áp lực từ các chính sách thuế quan của Mỹ.

Mặc dù xuất khẩu tăng mạnh, nhập khẩu của Nhật Bản trong tháng 1 lại giảm 2,5% so với cùng kỳ năm trước, trái ngược với mức tăng 5,1% của tháng trước và dự báo của các nhà phân tích là tăng 3%.

Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu ấn tượng nói trên là một khởi đầu đáng hoan nghênh cho năm mới, sau khi tăng trưởng xuất khẩu của Nhật Bản giảm xuống còn 3,1% vào năm ngoái, so với mức tăng 6,2% đạt được vào năm 2024.

Nền kinh tế Nhật Bản chỉ tăng trưởng 0,1% so với cùng kỳ năm trước trong quý 4/2025, được hỗ trợ bởi nhu cầu tư nhân, nhưng xuất khẩu ròng đã làm giảm 0,8 điểm phần trăm tăng trưởng.

Cả năm 2025, tổng sản phẩm trong nước (GDP) của Nhật Bản tăng 1,1%, cũng bị ảnh hưởng bởi xuất khẩu ròng yếu. Xuất khẩu của Nhật Bản đã sụt giảm vào giữa năm ngoái do ảnh hưởng từ thuế quan của Mỹ, nhưng đã phục hồi vào cuối năm sau khi nước này đạt được thỏa thuận thương mại với Mỹ, với mức thuế quan giảm xuống còn 15%.

Hiện tại, Tokyo đang làm việc với Washington để triển khai cam kết đầu tư trị giá 550 tỷ USD vào Mỹ. Đài truyền hình quốc gia Nhật Bản NHK cho biết hai nước vẫn chưa đạt được sự đồng thuận về các dự án đầu tiên liên quan đến cam kết này.

Bộ trưởng Kinh tế Nhật Bản Ryosei Akazawa bày tỏ hy vọng rằng các dự án ban đầu sẽ được chốt trước khi Thủ tướng Sanae Takaichi có cuộc gặp với Tổng thống Mỹ Donald Trump - cuộc gặp theo dự kiến sẽ diễn ra vào ngày 19/3.

Kế hoạch cho cuộc gặp này đã được ông Trump công bố ngay trước cuộc bầu cử Hạ viện Nhật Bản hôm 8/2 - cuộc bầu cử mà bà Takaichi đã dẫn dắt Đảng Dân chủ Tự do (LDP) cầm quyền giành được một chiến thắng vang dội.

-An Huy

Categories: The Latest News

Chứng khoán Mỹ tăng điểm trong lúc chờ tin Fed, giá dầu giảm vì tin tốt từ Iran

Thời báo kinh tế Việt Nam - Wed, 02/18/2026 - 08:43
Phiên này chứng kiến nhà đầu tư tiếp tục bán các cổ phiếu phần mềm đã bị xả hàng mạnh trong thời gian gần đây...

Thị trường chứng khoán Mỹ tăng điểm trong phiên giao dịch ngày thứ Ba (17/2), trong lúc nhà đầu tư chờ biên bản cuộc họp Cục Dự trữ Liên bang (Fed), nhưng tình trạng giảm giá tiếp diễn của các cổ phiếu phần mềm khiến mức tăng của các chỉ số bị hạn chế. Giá dầu thô đi xuống sau khi Iran cho biết cuộc đàm phán hạt nhân của nước này với Mỹ có tiến triển.

Lúc đóng cửa, chỉ số SP 500 tăng 0,1%, đạt 6.843,22 điểm. Chỉ số Nasdaq tăng 0,14%, đạt 22.578,38 điểm. Chỉ số Dow Jones tăng 32,26 điểm, tương đương tăng 0,07%, đạt 49.533,19 điểm.

Phiên này chứng kiến nhà đầu tư tiếp tục bán các cổ phiếu phần mềm đã bị xả hàng mạnh trong thời gian gần đây, để mua các cổ phiếu tài chính như Citigroup và JPMorgan Chase. Hai cổ phiếu này chốt phiên với mức tăng tương ứng 2,6% và hơn 1%.

Hàng loạt cổ phiếu phần mềm đã ghi nhận mức giảm sâu từ đầu năm, điển hình là ServiceNow giảm hơn 1% trong phiên này và đã giảm khoảng 31% từ đầu năm. Autodesk và Palo Alto Networks giảm hơn 2% mỗi cổ phiếu trong phiên này, và đã giảm tương ứng 24% và 11 từ đầu năm.

Cổ phiếu Salesforce và Oracle giảm tương ứng gần 3% và 4% trong phiên này, nâng tổng mức giảm từ đầu năm lên tương ứng 30% và 21%. Quỹ iShares Expanded Tech-Software Sector ETF (IGV) giảm hơn 2% trong phiên này và đã giảm 23% từ đầu năm.

Nguyên nhân khiến cổ phiếu phần mềm bị bán mạnh trong thời gian qua là mối lo ngại rằng các công cụ trí tuệ nhân tạo (AI) có thể thay thế các nhà cung cấp phần mềm chuyên về các lĩnh vực cụ thể.

“Chúng ta cần thời gian để xem lợi nhuận của các công ty đó ra sao. Những công ty không có khả năng cạnh tranh và không có sự bảo vệ cần thiết cho hoạt động kinh doanh sẽ phải chứng kiến giá cổ phiếu suy yếu nhanh”, chiến lược gia Leah Bennett của công ty Concurrent Investment Advisors nhận định với hãng tin CNBC.

Tuần trước, mối lo về những thay đổi lớn do AI mang lại đã làm chao đảo các nhóm cổ phiếu phần mềm, bất động sản, vận tải - logistics, và dịch vụ tài chính. Việc những nhóm này bị bán mạnh đã khiến SP 500 và Dow Jones giảm hơn 1% trong tuần, còn Nasdaq mất hơn 2%.

Đây là tuần giảm thứ tư của Dow Jones và SP 500 trong vòng 5 tuần trở lại đây, và là tuần giảm thứ 5 liên tiếp của Nasdaq - chuỗi tuần giảm dài nhất của chỉ số này kể từ năm 2022.

Hôm thứ Hai tuần này, thị trường chứng khoán Mỹ đóng cửa nghỉ Lễ Tổng thống (Presidents Day).

Áp lực giảm liên quan tới AI đang đè nặng lên các chỉ số chứng khoán Mỹ, dù các số liệu kinh tế chủ chốt của Mỹ công bố trong tuần vừa rồi đều khả quan, gồm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 1 yếu hơn kỳ vọng và tăng trưởng việc làm phi nông nghiệp tháng 1 tốt hơn dự báo.

Nhà đầu tư đang chờ biên bản cuộc họp chính sách tiền tệ mới đây nhất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), theo dự kiến sẽ được công bố vào ngày thứ Tư, và báo cáo chỉ số giá tiêu dùng cá nhân (PCE) của Mỹ, được công bố vào ngày thứ Sáu, để định hình triển vọng đường đi của lãi suất. Thị trường hiện đang kỳ vọng Fed hạ lãi suất hai lần trong năm nay, với đợt giảm đầu tiên vào tháng 6.

Trên thị trường năng lượng, giá dầu thô Brent giao sau tại London giảm 1,23 USD/thùng, tương đương giảm 1,79%, chốt ở mức 67,42 USD/thùng. Giá dầu WTI giao sau tại New York giảm 0,56 USD/thùng, tương đương giảm 0,89%, chốt ở mức 62,33 USD/thùng.

Vào ngày thứ Ba, Ngoại trưởng Iran Abbas Araqchi cho biết nước này và Mỹ đã đạt được sự hiểu biết chung về “các nguyên tắc chỉ đạo” trong cuộc đàm phán nhằm giải quyết mâu thuẫn kéo dài về vấn đề hạt nhân. Ông Araqchi nói rằng cuộc đàm phán diễn ra nghiêm túc và mang tính xây dựng, song điều này không có nghĩa là hai bên đã tiến gần tới chỗ đạt một thỏa thuận.

Ngoài ra, các nhà đàm phán Nga và Ukraine có cuộc gặp diễn ra trong hai ngày tại Geneva dưới sự trung gian của Mỹ để đàm phán kết thúc chiến tranh giữa hai nước.

Căng thẳng xuống thang ở những điểm nóng địa chính trị này khiến phần bù rủi ro trong giá dầu suy giảm.

Tuy nhiên, trong một diễn biến khác vào ngày thứ Ba, Iran đã tiến hành tập trận ở eo biển Hormuz, một đoạn huyết mạch của hoạt động vận tải dầu lửa trên biển. Giao thông qua eo biển này đã bị dừng trong vài giờ đồng hồ trong lúc cuộc tập trận hải quân của lực lượng Vệ binh Cách mạng Iran diễn ra - theo tin từ hãng thông tấn Tasnim.

Theo dữ liệu từ công ty tư vấn Kpler, khoảng 1/3 tổng lượng dầu thô xuất khẩu bằng đường biển trên toàn cầu đi qua Hormuz.

Tasnim cho biết Vệ binh Cách mạng Iran đã chuẩn bị sẵn sàng đóng cửa eo Hormuz nếu nhận được lệnh.

-Bình Minh

Categories: The Latest News

Phát hiện, nuôi dưỡng và sử dụng nhân tài để phát triển bán dẫn

Thời báo kinh tế Việt Nam - Wed, 02/18/2026 - 08:33
Giáo sư Đàm Trung Đồn được xem là một trong những “cha đẻ” ngành vật lý bán dẫn ở Việt Nam. Hành trình của GS. Đàm Trung Đồn không chỉ là câu chuyện về truyền dạy kiến thức, mà còn là bài học về cách phát hiện, nuôi dưỡng và gìn giữ nhân tài, nhất là trong thời điểm Việt Nam đang đặt mục tiêu đào tạo 50.000 kỹ sư bán dẫn vào năm 2030 và đặc biệt là mong muốn thu hút người giỏi, các “tổng công trình sư của ngành bán dẫn”...

Thưa Giáo sư, ông được đánh giá là một trong những người khai sinh ngành vật lý bán dẫn ở Việt Nam. Cơ duyên nào đã đưa ông đến với ngành bán dẫn?

Tôi bắt đầu nghiên cứu và đến với công nghiệp bán dẫn một cách rất tình cờ. Từ hồi còn trẻ, tôi là một người rất thích “chơi” radio. Một hôm, khi tôi đang sửa cái radio của mình, GS. Nguyễn Hoán (GS. Nguyễn Hoán (1916-1978) là một nhà hóa học, người đã đặt nền móng cho ngành Hóa học Việt Nam, từng là Chủ nhiệm đầu tiên của Khoa Hóa học Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội - nay là Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội - PV) đi ngang qua và hỏi: "Sao anh không dùng semiconductor?". Đó là lần đầu tiên trong đời tôi nghe đến từ "bán dẫn". Tôi thắc mắc không biết nó là gì.

Tôi bắt đầu tìm hiểu. Lúc bấy giờ, ở hiệu sách ngoại văn chỉ có duy nhất một quyển sách về bán dẫn, tên là "Transistor thật là đơn giản". Tôi mua về đọc và thấy vô cùng thích thú. Tôi liền nhờ bạn bè đang học ở Liên Xô mua giúp vài con transistor gửi về để tôi thử lắp ráp. Lúc đó, Việt Nam rất khuyến khích cán bộ trẻ nghiên cứu khoa học. Tôi lúc ấy là cán bộ trẻ mới ra trường được vài năm nên đã đăng ký báo cáo tại Hội nghị Khoa học lần thứ nhất của Trường Đại học Tổng hợp. Đề tài của tôi là "Hoạt động của transistor trong điều kiện nhiệt đới". GS. Tạ Quang Bửu đã chuyển cho tôi một mảnh giấy, viết rằng: “Vấn đề này rất quan trọng cho quốc phòng, đề nghị anh tiếp tục nghiên cứu”.

Bạn bè thắc mắc: "Linh kiện bán dẫn nằm trong hộp kín, làm sao mà nghiên cứu tác động của nhiệt độ, độ ẩm lên nó được?" Tôi nghĩ, vậy thì chỉ có một cách tự mình làm ra linh kiện bán dẫn để nghiên cứu. Thế là, song song với việc xây dựng bộ môn Vật lý Bán dẫn, tôi bắt đầu tìm tòi và chế tạo thành công transistor đầu tiên tại Việt Nam. Tôi cũng hướng dẫn sinh viên tập trung nghiên cứu về vật lý bán dẫn.

Sau khi Hiệp định Paris 1973 được ký kết, Nhà nước có chủ trương phát triển công nghệ bán dẫn. Tôi được cử đi cùng một đoàn khảo sát công nghệ bán dẫn ở nước ngoài, thăm các nhà máy và phòng thí nghiệm của Pháp. Tại đây, tôi thấy họ đã bắt đầu nghiên cứu các mạch tích hợp phức tạp, tiền thân của CPU máy tính, dù mới chỉ là các bản vẽ trên giấy.

Khoảng năm 1979, Việt Nam xây dựng Nhà máy Z181 – nhà máy bán dẫn đầu tiên của Việt Nam. Trước đó, tôi được cử sang Pháp thực tập khoa học 1,5 năm. Vị giáo sư phụ trách lúc đó nói rằng: "Việt Nam các anh thế nào cũng phải làm công nghệ bán dẫn. Vậy anh nên tập trung nghiên cứu về vấn đề này”.

Tôi tập trung vào giảng dạy và nghiên cứu trong nước về công nghệ bán dẫn. Tôi nhận thấy rằng mặc dù Nhà máy Z181 có dây chuyền khá đồng bộ cho công nghệ bán dẫn thời kỳ đó: từ kéo đơn tinh thể silicon, cắt lát và đánh bóng wafer, oxy hóa, quang khắc, khuếch tán tạp chất, đến lắp ráp và đóng gói, nhưng vẫn không thể tồn tại và phát triển được.

Lý do chính xuất phát từ cả yếu tố kỹ thuật lẫn thị trường. Chẳng hạn, về kỹ thuật, Nhà máy chưa đạt các tiêu chuẩn nghiêm ngặt cần thiết, như nước siêu sạch (nước máy lúc đó chứa nhiều tạp chất kim loại nặng) và phòng sạch (số lượng hạt bụi trong không khí vẫn quá cao, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng nước). Quan trọng nhất là về thị trường, sản phẩm làm ra không thể cạnh tranh với hàng ngoại về cả chất lượng lẫn giá thành.

Trước thực tế năng lực sản xuất và vốn đầu tư cho lĩnh vực bán dẫn chưa đáp ứng được yêu cầu thị trường, tôi đã quyết định chuyển hướng sang một hoạt động khác, phù hợp với điều kiện và sở trường của mình hơn, đó là đào tạo và bồi dưỡng nhân tài cho ngành bán dẫn.

Giáo sư là người đã từng nhiều lần được giao nhiệm vụ lãnh đạo đội tuyển Việt Nam đi thi Olympic quốc tế, phát hiện và nuôi dưỡng nhân tài. Ông có thể chia sẻ trải nghiệm về những lần dẫn đoàn đi thi và hành trình đạt giải của Việt Nam?

Năm 1993, tôi nhận nhiệm vụ trưởng đoàn dẫn học sinh Việt Nam đi thi Olympic Vật lý quốc tế. Chuyến đi đầu tiên không đạt giải gì.

Lúc đó, một phóng viên nước ngoài đã đến phỏng vấn tôi ngay sau kỳ thi. Cô ấy hỏi: “Năm nay là năm đầu tiên ông dẫn đội tuyển Việt Nam tham dự Olympic Vật lý quốc tế. Vậy với kết quả đạt được, ông có cảm thấy hài lòng hay không?”.

Rõ ràng kết quả là chúng ta không đạt giải gì, nhưng họ lại hỏi “có hài lòng không”, giống như đang hỏi kháy chúng ta vậy (cười). Tôi đã trả lời rất thẳng thắn rằng tôi “hoàn toàn hài lòng”, bởi qua kỳ thi này, tôi hiểu rất rõ học sinh của mình đang yếu ở đâu, thiếu những gì.

Phóng viên tiếp tục đặt câu hỏi: “Việt Nam là một đất nước vừa bước ra khỏi chiến tranh, điều kiện còn nhiều thiếu thốn, không có đủ cơ sở vật chất cho học sinh học tập và thực hành, vậy làm thế nào để khắc phục điều đó?”. Tôi trả lời ngay rằng chúng tôi sẽ tự làm lấy thiết bị cho học sinh, để các em có thể học và thực hành bằng chính những dụng cụ do mình tạo ra.

Chỉ mấy câu nói ngắn gọn như vậy, nhưng khi trở về nước, tôi bỗng cảm thấy đó không còn là một câu trả lời mang tính ứng khẩu nữa, mà là một quyết tâm, một cam kết với đất nước.

Từ đó, tôi không chỉ nhận trách nhiệm dẫn dắt đội tuyển mà còn cùng một số đồng nghiệp trực tiếp hướng dẫn, huấn luyện học sinh, đồng thời tự tay thiết kế và chế tạo các thiết bị thí nghiệm phục vụ cho việc giảng dạy và đào tạo đội tuyển.

Sau ba năm, đoàn Việt Nam bắt đầu có huy chương. Đến năm thứ tư, năm thứ năm (tại Australia), đoàn Việt Nam giành được nhiều huy chương bạc đến mức các đoàn khác phải kinh ngạc và nghi ngờ.

Thi Olympic Vật lý là cuộc thi giữa các cá nhân và người thắng cuộc là người có điểm cao nhất. Trước đó, người thắng cuộc luôn là học sinh Trung Quốc, Nga, Đức, Mỹ... Đến năm thứ 10, lần đầu tiên học sinh Việt Nam đã giành vị trí cao nhất, với điểm số cao hơn thí sinh đứng thứ hai tới 2 điểm. Tôi thấy đó là một thành tích cao nhất có thể đạt được với cương vị lãnh đạo đoàn, nên tôi ngừng làm lãnh đạo đoàn và tập trung chuẩn bị cho kỳ thi Olympic Vật lý mà Việt Nam đăng cai.

Đó thực sự là kết quả của một hành trình đào tạo, học tập, nỗ lực vượt khó của thầy và trò. Vậy, phương pháp đào tạo hay những điểm mấu chốt nào đã giúp đội tuyển Việt Nam đạt kết quả vinh dự như vậy, thưa Giáo sư?

Phương pháp đào tạo của tôi xuất phát từ thực tế là chương trình vật lý phổ thông Việt Nam khi đó còn thấp so với thế giới, nặng về lý thuyết, ít thực hành, đặc biệt là các phần vật lý hiện đại. Đề thi Olympic thường rất khó, có bài tương đương với đề tài luận văn thạc sĩ.

Chúng tôi đã tập trung bồi dưỡng học sinh theo hướng nắm vững bản chất và phương pháp vật lý, hơn là học một cách máy móc. Chúng tôi tự tạo ra những bộ thí nghiệm đơn giản, thô sơ từ những vật liệu dễ kiếm để học sinh thực hành đo đạc các hằng số vật lý cơ bản.

Chúng tôi cố gắng tạo cho học sinh biết tiến hành nghiên cứu, thiết kế thí nghiệm trong điều kiện thiếu thốn, không có trang thiết bị chứ không chỉ học cách sử dụng thiết bị sẵn có. Thiết bị dùng cho kỳ thi vật lý quốc tế do Việt Nam đăng cai cũng được xây dựng theo tinh thần đó.

Không ít người trong đội tuyển, đạt giải nhưng sau đó lại dần bị mai một, không theo đuổi sự nghiệp. Điều này đặt ra bài toán nuôi dưỡng nhân tài. Giáo sư có thể chia sẻ về việc này?

Quả thật, từ thành công trong đào tạo học sinh phổ thông, tôi nhận thấy một vấn đề: những học sinh giỏi này sau đó thường không có điều kiện đi du học (do các điều kiện kinh tế, chính trị liên quan như Liên Xô tan rã, các suất học bổng ít đi…). Vì thế, tôi nghĩ cần có một tổ chức để tập hợp và đào tạo họ ở bậc cao hơn ngay tại Việt Nam. Tôi đã đề xuất với lãnh đạo Đại học Quốc gia ý tưởng thành lập một hệ đào tạo đặc biệt.

Ý tưởng này trùng với ý tưởng của lãnh đạo và hệ Cử nhân Khoa học Tài năng ra đời và tôi là Trưởng ban điều hành đầu tiên.

Hệ này tuyển chọn học sinh đạt giải quốc tế và giải nhất quốc gia. Họ được học bổng và theo học một chương trình thiết kế đặc biệt: học toán trình độ như sinh viên toán, học vật lý trình độ như sinh viên vật lý chuyên sâu... Học sinh học rất vất vả, nhưng sau này tất cả đều thừa nhận những kiến thức nền tảng đó giúp ích rất nhiều cho công việc sau này.

Sau hai năm đầu, các sinh viên Khoa học Tài năng cần phải học tập nghiên cứu nhưng ở trong nước không có đủ các phương tiện, vì thế tôi tìm cách gửi học sinh đi học ở nước ngoài. Qua mối quan hệ với các GS ở Trường Polytechnique của Pháp, đặc biệt là GS.Trương Nguyên Trân (École Polytechnique) (GS. Trương Nguyên Trân thường được gọi là "đại sứ Việt Nam ở Polytechnique" vì vai trò cầu nối, giới thiệu, giúp đỡ thế hệ trẻ Việt Nam tiếp cận giáo dục Pháp - PV), tôi đã giới thiệu được trên 50 sinh viên của Hệ Tài năng đi học, một số đã hoàn thành luận văn tiến sỹ tại Pháp. Đồng thời, tôi tìm cách mở rộng tuyển sinh cho Hệ đào tạo cử nhân khoa học tài năng. Vì quỹ học bổng không có nhiều, nên tôi đã đề nghị với GS. Trần Thanh Vân về vấn đề này và được giúp đỡ rất nhiều, tạo tiền đề để sau này hình thành học bổng Odon-Vallet cho học sinh các trường phổ thông.

Tôi cũng chủ động liên hệ với Viện JAIST (Nhật Bản) để đề nghị hỗ trợ đào tạo cao học và tiến sĩ cho các sinh viên tài năng, và nhận được sự hưởng ứng tích cực. Song song, tôi xin “học bổng 322” của Nhà nước (cách gọi tắt Đề án 322 - Quyết định số 322/QĐ-TTg năm 2000 của Thủ tướng Chính phủ, "Đề án đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật tại các cơ sở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước" - PV).

Nhờ những nỗ lực đó, chúng tôi đã đào tạo được các tiến sĩ về khoa học công nghệ và vật lý. Nhiều người hiện đang công tác tại các trường đại học lớn (như Đại học Quốc gia, Đại học Bách khoa) và các viện nghiên cứu, phụ trách các phòng thí nghiệm trọng điểm.

Theo Giáo sư, làm thế nào để tránh lặp lại những sai lầm, lãng phí trong công tác đào tạo nhân lực khoa học – công nghệ?

Về vấn đề này, tôi biết từng có các đề xuất về dự án đào tạo nhân lực công nghệ điện tử với quy mô đầu tư lớn. Tuy nhiên, khi thông tin này được đưa ra, lập tức xuất hiện tình trạng nhiều nơi đồng loạt tuyên bố sẽ tham gia đào tạo kỹ sư, cán bộ công nghệ điện tử. Nhưng đó có thể chỉ là thông tin “ảo”, không phản ánh đúng năng lực thực tế.  Bởi vì số người thực sự am hiểu sâu về lĩnh vực vô tuyến – điện tử ở Việt Nam không nhiều, thậm chí có những cơ sở đào tạo gần như không có đội ngũ chuyên môn phù hợp. Việc nhiều đơn vị cùng đăng ký tham gia chủ yếu nhằm “chia sẻ nguồn kinh phí”. Nhưng nếu nguồn lực này bị dàn trải cho nhiều trường, thì cuối cùng tiền đầu tư sẽ bị lãng phí, không tạo ra hiệu quả thực chất.

Tôi cho rằng để đào tạo được một thế hệ nhân lực chất lượng cao, trước tiên cần xác định rõ mình cần gì, sau đó mạnh dạn lựa chọn một trung tâm mạnh nhất, rồi tập trung cán bộ giỏi vào đó, dồn nguồn lực đầu tư, trang thiết bị. Các cơ sở khác thì có thể được phân bổ một phần kinh phí để đào tạo kiến thức nền tảng.

Bởi vì nếu đầu tư dàn trải, nơi nào cũng nhận là làm công nghệ điện tử trong khi thực chất không có năng lực, kết quả cuối cùng chỉ là tốn kém và không hiệu quả. Không có định hướng rõ ràng, không tập trung nguồn lực và gắn đào tạo với nhu cầu thực tế, việc đầu tư cho nhân lực và cơ sở nghiên cứu rất dễ rơi vào vòng luẩn quẩn: tốn kém, hình thức và cuối cùng là lãng phí.

Có ý kiến cho rằng Việt Nam khó có thể cạnh tranh trong lĩnh vực sản xuất bán dẫn thương mại quy mô lớn. Giáo sư nhìn nhận vấn đề này như thế nào? Đâu là những hướng đi phù hợp hơn với điều kiện và lợi thế của Việt Nam trong ngành bán dẫn?

Về triển vọng ngành bán dẫn Việt Nam trong bối cảnh hiện nay, chúng ta đã có nhiều cơ hội hơn nhờ quan hệ quốc tế rộng mở, có thể tiếp cận công nghệ mới. Tuy nhiên, thách thức vẫn còn rất lớn. Trong công nghệ bán dẫn, có những lĩnh vực đòi hỏi về thiết bị và vốn đầu tư cực lớn mà chúng ta không thể có được.

Thế mạnh của Việt Nam có lẽ không nằm ở việc cạnh tranh trong sản xuất linh kiện bán dẫn thương mại hàng loạt (vốn đòi hỏi vốn đầu tư khổng lồ và công nghệ luôn thay đổi), mà nên tập trung vào các hướng đi phù hợp hơn, ví dụ như khâu thiết kế, khâu đóng gói vi mạch.  Đây là các khâu đòi hỏi công nghệ và kỹ thuật cao nhưng phù hợp với điều kiện hiện nay của Việt Nam, là hai mắt xích thực tế để Việt Nam tham gia sâu hơn vào ngành công nghiệp bán dẫn toàn cầu.

Điều quan trọng, tiên quyết để phát triển chip bán dẫn là Nhà nước phải có định hướng rõ ràng: làm chip để phục vụ mục tiêu gì. Không phải mọi loại chip đều cần công nghệ siêu tinh vi. Nhiều dòng chip có độ phức tạp vừa phải, như sử dụng trong xe máy, ô tô hay các thiết bị công nghiệp, hoàn toàn nằm trong khả năng triển khai, đồng thời có độ bền cao và ít rủi ro hỏng hóc hơn; hoặc phát triển các cảm biến (sensor) bán dẫn cho nông nghiệp, môi trường, y tế – những thị trường mà chúng ta có nhu cầu nội tại và có thể tận dụng lợi thế về nhân lực chất lượng cao được đào tạo bài bản.

Tôi lấy ví dụ, nếu Việt Nam làm được chip đo ô nhiễm không khí, thì có thể triển khai hàng loạt thiết bị quan trắc đặt khắp các đô thị. Khi đó, việc giám sát chất lượng không khí sẽ có ý nghĩa thực tiễn rất lớn, đúng với nhu cầu cấp bách hiện nay của Việt Nam. Khi có dữ liệu đo đạc rõ ràng, như chỉ số ô nhiễm, nồng độ CO2 hay các khí thải từ xe máy, Chính phủ có thể đưa ra các giải pháp quản lý phù hợp, hạn chế xe máy ở một số khu vực, đánh giá chính xác mức độ cải thiện chất lượng không khí theo thời gian.

Nếu chủ động làm được chip cảm biến, có thể đo các thông số môi trường cụ thể như vậy, sau đó tích hợp chúng vào mạch xử lý, chuyển đổi tín hiệu sang dạng số và kết nối với các thiết bị truyền dữ liệu như điện thoại hoặc mạng IoT để gửi về trung tâm, thì đó sẽ là một bước tiến rất lớn. Với hướng đi này, chip không cần phải quá nhỏ hay quá tinh vi; điều quan trọng là đáp ứng được nhu cầu ứng dụng thực tế.

Đây chính là giá trị cốt lõi của việc phát triển chip “đúng việc, đúng nhu cầu, đúng khả năng” trong điều kiện Việt Nam hiện nay. Còn nếu chạy đua sản xuất các dòng chip tiên tiến nhất trên thế giới thì hiện vẫn vượt quá khả năng sản xuất trong nước.

Trong câu chuyện đào tạo nhân tài, hiện tượng “chảy máu chất xám” vẫn luôn là vấn đề lớn. Vậy chúng ta phải làm sao để ngăn chặn “chảy máu chất xám” và phát huy tối đa năng lực của đội ngũ nhân tài được đào tạo?

Cần nhìn nhận vấn đề này đúng bản chất hơn, đó là khi gửi người giỏi ra nước ngoài đào tạo, giá trị lớn nhất mà họ mang về không nằm ở một kỹ năng cụ thể, mà ở năng lực làm việc, tư duy và phương pháp nghiên cứu.

"Chảy máu chất xám" cũng xuất phát từ việc chúng ta chưa có môi trường làm việc và đãi ngộ xứng đáng. Nhiều người giỏi đi học nước ngoài về nhưng không có đất dụng võ, không có thiết bị để nghiên cứu, hoặc mức lương không đủ sống nên họ buộc phải ra đi hoặc chuyển sang làm việc khác.

Hơn nữa, tạo điều kiện sống tốt cho đội ngũ khoa học là vô cùng quan trọng. Nhưng sự tôn trọng của xã hội đối với người tài cũng là một vấn đề mấu chốt. Không nhất thiết phải là mức lương quá cao, vì nếu ai chỉ thích tiền thì họ đã làm kinh doanh hoặc tiếp tục ở lại nước ngoài. Những người làm khoa học như tôi, dù thu nhập không nhiều, nhưng điều chúng tôi cần là sự trân trọng nghề nghiệp, trân trọng tri thức.

Thực ra bây giờ Nhà nước có chính sách trọng dụng người tài, nhưng trong xã hội nói chung thì đôi khi sự trân trọng ấy vẫn chưa thực sự sâu sắc. Vì thế, nói rộng ra là chúng ta cần xây dựng một xã hội biết trân trọng tri thức.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8/2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-

Categories: The Latest News

Để du lịch thực sự trở thành động lực tăng trưởng kinh tế

Thời báo kinh tế Việt Nam - Wed, 02/18/2026 - 08:00
Du lịch Việt Nam năm 2025 lập nhiều kỷ lục ấn tượng về lượng khách cũng như tổng thu, tạo nền tảng vững chắc để trong năm 2026 sẽ tiếp tục là động lực quan trọng, đóng góp mạnh mẽ vào tăng trưởng kinh tế và hội nhập quốc tế của đất nước.

Ngành du lịch Việt Nam đã xác lập nhiều kỷ lục mới trong năm 2025. Ông nhìn nhận đâu là những yếu tố then chốt giúp ngành du lịch Việt Nam đạt được kết quả ấn tượng này, đặc biệt trong bối cảnh phục hồi và cạnh tranh mạnh mẽ của thị trường quốc tế?

Năm 2025, ngành du lịch Việt Nam đã đạt nhiều kết quả rất đáng khích lệ, lập kỷ lục mới về lượng khách quốc tế đến với khoảng 21,2 triệu lượt, lập kỷ lục mới, tăng 22,1% so với năm 2024. Khách du lịch nội địa đạt khoảng 140 triệu lượt, tăng 64,7% so với năm 2019. Tổng doanh thu từ khách du lịch đạt mốc 1 triệu tỷ đồng.

Tổ chức Du lịch Liên hợp quốc (UN Tourism) đã từng dự báo trong năm 2025 du lịch toàn cầu chỉ phục hồi 90% so với trước đại dịch Covid-19, trong đó lượng khách du lịch quốc tế trên phạm vi toàn cầu được dự báo tăng khoảng 3-5%, khu vực châu Á Thái Bình Dương tăng 8%. Nếu nhìn lại dự báo này, có thể thấy kết quả mà Việt Nam đạt được như trên là một nỗ lực rất lớn cho cả một quá trình không ngừng nghỉ của toàn ngành du lịch.

Theo tôi, có năm động lực chính để du lịch Việt Nam đạt được kết qủa này.

Thứ nhất, ngành du lịch Việt Nam trong thời gian qua đã nhận được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, Quốc hội và sự chỉ đạo hết sức quyết liệt, hiệu quả của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, trong việc ban hành các chính sách, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động du lịch Việt Nam.

Thứ hai, sự phối hợp, đồng hành của các bộ, ngành liên quan để cùng ngành du lịch tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc và đồng thời tạo điều kiện thuận lợi hơn cho ngành du lịch có điều kiện phát triển trong bối cảnh mới.

Thứ ba, vai trò trong việc dẫn dắt, định hướng của cơ quan quản lý nhà nước về du lịch từ Trung ương đến địa phương thực hiện cơ cấu lại thị trường, xây dựng sản phẩm, tổ chức đa dạng công tác xúc tiến, quảng bá trong và ngoài nước, tận dụng hiệu ứng tích cực từ các chính sách mới cho hoạt động du lịch.

Thứ tư, nỗ lực của chính quyền địa phương trong việc chủ động tổ chức các hoạt động văn hoá, lễ hội và các sự kiện nổi bật để thu hút khách du lịch.

Thứ năm, vai trò quan trọng của các doanh nghiệp – những người đã chủ động, tích cực trong kết nối thị trường, xây dựng sản phẩm mới, tổ chức các chương trình xúc tiến, quảng bá. Theo tôi, vai trò của doanh nghiệp là quan trọng nhất, tạo nên các hiệu ứng để cho ngành du lịch Việt Nam đạt được kết quả ấn tượng trong năm qua.

Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch cũng như Cục Du lịch quốc gia Việt Nam đã có đóng góp gì trong việc đạt được những kết quả này, thưa ông?

Với vai trò là cơ quan quản lý nhà nước ở Trung ương, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch cũng như Cục Du lịch quốc gia Việt Nam đã nỗ lực kiến tạo, tham mưu về chính sách, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động doanh nghiệp du lịch cũng như tổ chức triển khai các hoạt động xúc tiến, quảng bá ở nhiều thị trường mục tiêu và tiềm năng ở cả trên thực địa và trên các nền tảng mạng xã hội.

Cục Du lịch quốc gia Việt Nam đã nghiên cứu, tham mưu Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch phối hợp với các bộ, ngành liên quan trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành những cơ chế, chính sách thuận lợi cho du lịch có điều kiện phát triển; định hướng các địa phương, doanh nghiệp xây dựng thêm nhiều sản phẩm mới, độc đáo trên cơ sở tiềm năng của từng địa phương, điểm đến.

Đối với công tác quản lý nhà nước, Cục Du lịch quốc gia Việt Nam đã chủ động triển khai nhiều giải pháp quản lý điểm đến, tổ chức kiểm tra công tác chấp hành quy định pháp luật trong hoạt động du lịch tại nhiều địa phương, phối hợp đảm bảo an ninh an toàn, triển khai hiệu quả công tác chuyển đổi số trong lĩnh vực du lịch.

Bên cạnh đó, Cục Du lịch quốc gia Việt Nam đã phối hợp với các đơn vị liên quan đổi mới về phương thức, hình thức, nội dung và cách thức tổ chức truyền thông, xúc tiến, quảng bá du lịch Việt Nam, tạo hiệu ứng về truyền thông về điểm đến Việt Nam hấp dẫn, an toàn.

Với nền tảng tăng trưởng tích cực của năm 2025, ngành du lịch được kỳ vọng sẽ trở thành một trong những động lực chính góp phần vào mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn tới. Theo ông, những đóng góp cụ thể của ngành trong giai đoạn tới là gì?

Trên cơ sở kết quả của năm 2025, có thể thấy rằng năm 2026 ngành du lịch Việt Nam vẫn tiếp tục là một trong những lĩnh vực có khả năng đóng góp quan trọng trong tăng trưởng kinh tế.

Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp mang tính liên ngành, liên vùng và tính xã hội hóa cao. Vì thế, khi lượng khách du lịch quốc tế và nội địa tăng lên sẽ kéo theo toàn bộ hệ sinh thái, từ các cơ sở lưu trú, dịch vụ vận chuyển, chế biến thực phẩm đến vui chơi giải trí, mua sắm phát triển mạnh mẽ hơn. Thông qua đó sẽ góp phần tăng chỉ tiêu tiêu dùng từ khách du lịch quốc tế và nội địa.

Thông qua khách du lịch sẽ góp phần làm cho các lĩnh vực khác liên quan như: nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng… có thêm cơ hội phát triển, hoàn thiện thêm hệ sinh thái du lịch cũng như cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật, từ đó đóng góp vào tăng trưởng kinh tế.

Một điều quan trọng nữa là khi du lịch phát triển sẽ kéo theo việc tăng cường giao lưu nhân dân, quảng bá hình ảnh Việt Nam là một điểm đến an toàn, hấp dẫn, thân thiện, từ đó sẽ thu hút được các nhà đầu tư đến Việt Nam tìm kiếm cơ hội đầu tư.

Vậy theo ông, để du lịch thực sự trở thành “đầu kéo” cho tăng trưởng kinh tế đất nước, ngành sẽ phải giải quyết những thách thức gì?

Để du lịch trong thời gian tới bứt phá mạnh mẽ, yếu tố đầu tiên là phải đảm bảo và nâng cao chất lượng các sản phẩm dịch vụ, trong đó vai trò nguồn nhân lực là then chốt.

Thứ hai, cần có cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật thuận tiện cho cung cấp các dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ cao cấp, để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của các thị trường khách khác nhau.

Thứ ba, quan tâm đảm bảo gìn giữ môi trường, bảo tồn các giá trị văn hóa, di sản, tài nguyên du lịch để phát triển du lịch một cách bền vững.

Một vấn đề quan trọng nữa mà ngành du lịch cần tiếp tục đẩy mạnh, đó là tăng cường chuyển đổi số, từ công tác quản lý nhà nước đến ứng dụng cụ thể cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Đồng thời, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, nâng cao nhận thức về vai trò của du lịch, tăng cường thu hút đầu tư phát triển hạ tầng, cảng biển, sân bay, đường cao tốc… nhằm tạo ra điều kiện thuận lợi hơn để ngành du lịch tăng tốc phát triển trong thời gian tới.

Vậy, Cục Du lịch quốc gia Việt Nam đã chuẩn bị lộ trình hay ưu tiên chiến lược nào cho chặng đường tới đây, thưa ông?

Cục Du lịch quốc gia Việt Nam sẽ tập trung nghiên cứu, tham mưu ban hành các cơ chế, chính sách đột pháp để du lịch có thể có những điều kiện phát triển tốt hơn, đồng thời giải quyết những thách thức để du lịch được phát triển tương xứng với những tiềm năng vốn có của đất nước ta.

Chúng tôi sẽ cùng với các địa phương, hệ thống doanh nghiệp nghiên cứu, sáng tạo thêm những sản phẩm du lịch độc đáo, hấp dẫn, dựa trên thế mạnh của từng địa phương, của đất nước thu hút khách quốc tế đến với chúng ta.

Tiếp đến là hỗ trợ để tăng cường ứng dụng chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu ngành, giúp cho các địa phương cũng như doanh nghiệp kinh doanh thuận tiện hơn, đáp ứng được nhu cầu của du khách trong tìm kiếm các thông tin, đặt dịch vụ và kiểm soát được chất lượng của các dịch vụ đó.

Cục Du lịch quốc gia Việt Nam sẽ phối hợp các đơn vị liên quan, cơ sở đào tạo du lịch chuẩn hóa chương trình đào tạo, xây dựng tiêu chuẩn nghề trong lĩnh vực du lịch, nhằm nâng cao chất lượng đầu ra nguồn nhân lực du lịch, phấn đấu đủ số lượng và đảm bảo chất lượng dịch vụ. Qua đó góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của du lịch Việt Nam trong thời gian tới.

Chúng tôi kỳ vọng rằng với những quyết sách của Đảng và Nhà nước, Chính phủ, cùng những nỗ lực của toàn ngành, du lịch Việt Nam sẽ tiếp tục khẳng định là một trong những động lực góp phần vào sự tăng trưởng của kinh tế đất nước trong năm 2026 và giai đoạn tiếp theo.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-

Categories: The Latest News

Để du lịch thực sự trở thành động lực tăng trưởng kinh tế

Thời Báo Kinh Tế - Wed, 02/18/2026 - 08:00
Du lịch Việt Nam năm 2025 lập nhiều kỷ lục ấn tượng về lượng khách cũng như tổng thu, tạo nền tảng vững chắc để trong năm 2026 sẽ tiếp tục là động lực quan trọng, đóng góp mạnh mẽ vào tăng trưởng kinh tế và hội nhập quốc tế của đất nước.

Ngành du lịch Việt Nam đã xác lập nhiều kỷ lục mới trong năm 2025. Ông nhìn nhận đâu là những yếu tố then chốt giúp ngành du lịch Việt Nam đạt được kết quả ấn tượng này, đặc biệt trong bối cảnh phục hồi và cạnh tranh mạnh mẽ của thị trường quốc tế?

Năm 2025, ngành du lịch Việt Nam đã đạt nhiều kết quả rất đáng khích lệ, lập kỷ lục mới về lượng khách quốc tế đến với khoảng 21,2 triệu lượt, lập kỷ lục mới, tăng 22,1% so với năm 2024. Khách du lịch nội địa đạt khoảng 140 triệu lượt, tăng 64,7% so với năm 2019. Tổng doanh thu từ khách du lịch đạt mốc 1 triệu tỷ đồng.

Tổ chức Du lịch Liên hợp quốc (UN Tourism) đã từng dự báo trong năm 2025 du lịch toàn cầu chỉ phục hồi 90% so với trước đại dịch Covid-19, trong đó lượng khách du lịch quốc tế trên phạm vi toàn cầu được dự báo tăng khoảng 3-5%, khu vực châu Á Thái Bình Dương tăng 8%. Nếu nhìn lại dự báo này, có thể thấy kết quả mà Việt Nam đạt được như trên là một nỗ lực rất lớn cho cả một quá trình không ngừng nghỉ của toàn ngành du lịch.

Theo tôi, có năm động lực chính để du lịch Việt Nam đạt được kết qủa này.

Thứ nhất, ngành du lịch Việt Nam trong thời gian qua đã nhận được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, Quốc hội và sự chỉ đạo hết sức quyết liệt, hiệu quả của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, trong việc ban hành các chính sách, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động du lịch Việt Nam.

Thứ hai, sự phối hợp, đồng hành của các bộ, ngành liên quan để cùng ngành du lịch tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc và đồng thời tạo điều kiện thuận lợi hơn cho ngành du lịch có điều kiện phát triển trong bối cảnh mới.

Thứ ba, vai trò trong việc dẫn dắt, định hướng của cơ quan quản lý nhà nước về du lịch từ Trung ương đến địa phương thực hiện cơ cấu lại thị trường, xây dựng sản phẩm, tổ chức đa dạng công tác xúc tiến, quảng bá trong và ngoài nước, tận dụng hiệu ứng tích cực từ các chính sách mới cho hoạt động du lịch.

Thứ tư, nỗ lực của chính quyền địa phương trong việc chủ động tổ chức các hoạt động văn hoá, lễ hội và các sự kiện nổi bật để thu hút khách du lịch.

Thứ năm, vai trò quan trọng của các doanh nghiệp – những người đã chủ động, tích cực trong kết nối thị trường, xây dựng sản phẩm mới, tổ chức các chương trình xúc tiến, quảng bá. Theo tôi, vai trò của doanh nghiệp là quan trọng nhất, tạo nên các hiệu ứng để cho ngành du lịch Việt Nam đạt được kết quả ấn tượng trong năm qua.

Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch cũng như Cục Du lịch quốc gia Việt Nam đã có đóng góp gì trong việc đạt được những kết quả này, thưa ông?

Với vai trò là cơ quan quản lý nhà nước ở Trung ương, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch cũng như Cục Du lịch quốc gia Việt Nam đã nỗ lực kiến tạo, tham mưu về chính sách, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động doanh nghiệp du lịch cũng như tổ chức triển khai các hoạt động xúc tiến, quảng bá ở nhiều thị trường mục tiêu và tiềm năng ở cả trên thực địa và trên các nền tảng mạng xã hội.

Cục Du lịch quốc gia Việt Nam đã nghiên cứu, tham mưu Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch phối hợp với các bộ, ngành liên quan trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành những cơ chế, chính sách thuận lợi cho du lịch có điều kiện phát triển; định hướng các địa phương, doanh nghiệp xây dựng thêm nhiều sản phẩm mới, độc đáo trên cơ sở tiềm năng của từng địa phương, điểm đến.

Đối với công tác quản lý nhà nước, Cục Du lịch quốc gia Việt Nam đã chủ động triển khai nhiều giải pháp quản lý điểm đến, tổ chức kiểm tra công tác chấp hành quy định pháp luật trong hoạt động du lịch tại nhiều địa phương, phối hợp đảm bảo an ninh an toàn, triển khai hiệu quả công tác chuyển đổi số trong lĩnh vực du lịch.

Bên cạnh đó, Cục Du lịch quốc gia Việt Nam đã phối hợp với các đơn vị liên quan đổi mới về phương thức, hình thức, nội dung và cách thức tổ chức truyền thông, xúc tiến, quảng bá du lịch Việt Nam, tạo hiệu ứng về truyền thông về điểm đến Việt Nam hấp dẫn, an toàn.

Với nền tảng tăng trưởng tích cực của năm 2025, ngành du lịch được kỳ vọng sẽ trở thành một trong những động lực chính góp phần vào mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn tới. Theo ông, những đóng góp cụ thể của ngành trong giai đoạn tới là gì?

Trên cơ sở kết quả của năm 2025, có thể thấy rằng năm 2026 ngành du lịch Việt Nam vẫn tiếp tục là một trong những lĩnh vực có khả năng đóng góp quan trọng trong tăng trưởng kinh tế.

Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp mang tính liên ngành, liên vùng và tính xã hội hóa cao. Vì thế, khi lượng khách du lịch quốc tế và nội địa tăng lên sẽ kéo theo toàn bộ hệ sinh thái, từ các cơ sở lưu trú, dịch vụ vận chuyển, chế biến thực phẩm đến vui chơi giải trí, mua sắm phát triển mạnh mẽ hơn. Thông qua đó sẽ góp phần tăng chỉ tiêu tiêu dùng từ khách du lịch quốc tế và nội địa.

Thông qua khách du lịch sẽ góp phần làm cho các lĩnh vực khác liên quan như: nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng… có thêm cơ hội phát triển, hoàn thiện thêm hệ sinh thái du lịch cũng như cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật, từ đó đóng góp vào tăng trưởng kinh tế.

Một điều quan trọng nữa là khi du lịch phát triển sẽ kéo theo việc tăng cường giao lưu nhân dân, quảng bá hình ảnh Việt Nam là một điểm đến an toàn, hấp dẫn, thân thiện, từ đó sẽ thu hút được các nhà đầu tư đến Việt Nam tìm kiếm cơ hội đầu tư.

Vậy theo ông, để du lịch thực sự trở thành “đầu kéo” cho tăng trưởng kinh tế đất nước, ngành sẽ phải giải quyết những thách thức gì?

Để du lịch trong thời gian tới bứt phá mạnh mẽ, yếu tố đầu tiên là phải đảm bảo và nâng cao chất lượng các sản phẩm dịch vụ, trong đó vai trò nguồn nhân lực là then chốt.

Thứ hai, cần có cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật thuận tiện cho cung cấp các dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ cao cấp, để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của các thị trường khách khác nhau.

Thứ ba, quan tâm đảm bảo gìn giữ môi trường, bảo tồn các giá trị văn hóa, di sản, tài nguyên du lịch để phát triển du lịch một cách bền vững.

Một vấn đề quan trọng nữa mà ngành du lịch cần tiếp tục đẩy mạnh, đó là tăng cường chuyển đổi số, từ công tác quản lý nhà nước đến ứng dụng cụ thể cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Đồng thời, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, nâng cao nhận thức về vai trò của du lịch, tăng cường thu hút đầu tư phát triển hạ tầng, cảng biển, sân bay, đường cao tốc… nhằm tạo ra điều kiện thuận lợi hơn để ngành du lịch tăng tốc phát triển trong thời gian tới.

Vậy, Cục Du lịch quốc gia Việt Nam đã chuẩn bị lộ trình hay ưu tiên chiến lược nào cho chặng đường tới đây, thưa ông?

Cục Du lịch quốc gia Việt Nam sẽ tập trung nghiên cứu, tham mưu ban hành các cơ chế, chính sách đột pháp để du lịch có thể có những điều kiện phát triển tốt hơn, đồng thời giải quyết những thách thức để du lịch được phát triển tương xứng với những tiềm năng vốn có của đất nước ta.

Chúng tôi sẽ cùng với các địa phương, hệ thống doanh nghiệp nghiên cứu, sáng tạo thêm những sản phẩm du lịch độc đáo, hấp dẫn, dựa trên thế mạnh của từng địa phương, của đất nước thu hút khách quốc tế đến với chúng ta.

Tiếp đến là hỗ trợ để tăng cường ứng dụng chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu ngành, giúp cho các địa phương cũng như doanh nghiệp kinh doanh thuận tiện hơn, đáp ứng được nhu cầu của du khách trong tìm kiếm các thông tin, đặt dịch vụ và kiểm soát được chất lượng của các dịch vụ đó.

Cục Du lịch quốc gia Việt Nam sẽ phối hợp các đơn vị liên quan, cơ sở đào tạo du lịch chuẩn hóa chương trình đào tạo, xây dựng tiêu chuẩn nghề trong lĩnh vực du lịch, nhằm nâng cao chất lượng đầu ra nguồn nhân lực du lịch, phấn đấu đủ số lượng và đảm bảo chất lượng dịch vụ. Qua đó góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của du lịch Việt Nam trong thời gian tới.

Chúng tôi kỳ vọng rằng với những quyết sách của Đảng và Nhà nước, Chính phủ, cùng những nỗ lực của toàn ngành, du lịch Việt Nam sẽ tiếp tục khẳng định là một trong những động lực góp phần vào sự tăng trưởng của kinh tế đất nước trong năm 2026 và giai đoạn tiếp theo.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-

Categories: The Latest News

Quỹ mở một năm bội thu

Thời báo kinh tế Việt Nam - Wed, 02/18/2026 - 07:47
Năm 2025, thị trường chứng khoán Việt Nam bứt phá khi VN-Index tăng gần 41%, trong đó các quỹ đầu tư vẫn giữ được sự ổn định nhờ chiến lược dài hạn và kỷ luật rủi ro. Bước sang năm 2026, kỳ vọng nâng hạng của FTSE Russell mở ra cơ hội chuyển mình cho thị trường, đồng thời đặt ra yêu cầu cao hơn với doanh nghiệp niêm yết trong việc đón dòng vốn lớn từ quốc tế...

Không đứng ngoài sự tăng trưởng mạnh mẽ của VN-Index, quỹ đầu tư năm 2025 đặc biệt là quỹ mở cũng có sự tăng trưởng vượt kỳ vọng. Tuy vậy, đằng sau mức tăng ấn tượng ấy là sự phân hóa rõ nét, tạo ra không ít thách thức cho cả nhà đầu tư cá nhân và các nhà quản lý quỹ. Trong bối cảnh chịu nhiều sức ép ngắn hạn, nhiều quỹ mở vẫn giữ được mức sinh lời hai chữ số, với độ biến động và rủi ro thấp hơn đáng kể so với nhóm nhà đầu tư tự giao dịch.

QUỸ MỞ NỔI BẬT GIỮA BỨC TRANH PHÂN HÓA

Dù VN-Index liên tiếp chinh phục các mốc cao mới, động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ một số cổ phiếu vốn hóa lớn trong rổ VN30. Trong khi đó, hơn 46% số mã trên thị trường ghi nhận mức sinh lời âm. Ngay cả nhiều doanh nghiệp có nền tảng cơ bản tốt cũng trải qua những giai đoạn điều chỉnh kéo dài do tác động của lãi suất, bối cảnh vĩ mô và sự luân chuyển của dòng tiền. Nếu loại trừ nhóm cổ phiếu VIC, VN-Index thực tế chỉ tăng khoảng 10,6%, phản ánh việc phần đông nhà đầu tư không được hưởng lợi tương xứng từ mức tăng của chỉ số chung. 

Trong bối cảnh thị trường phân hóa, các quỹ mở đã thể hiện rõ ưu thế so với nhà đầu tư cá nhân. Dữ liệu từ Fmarket cho thấy sự luân phiên hiệu suất rõ rệt giữa các phong cách đầu tư. Năm 2025, nhóm quỹ cổ phiếu với chiến lược năng động, nhạy bén trong việc tái cơ cấu danh mục theo dòng tiền đã vươn lên dẫn đầu.

Cụ thể, nhiều quỹ đã ghi nhận mức sinh lời trên 30%, vượt xa mức tăng trưởng thực tế của phần lớn danh mục cá nhân. Tiêu biểu có thể kể đến BVFED (36,77%), DCDS (32,84%) và MAGEF (30,74%). Danh sách các quỹ có hiệu suất ấn tượng còn kéo dài với những cái tên như: UVEEF (24,6%), BMFF (24,51%), VCBF-BCF (22,82%), MBVF (20,84%), TCGF (18,93%) hay EVESG (18,86%).

Tương tự, các quỹ mở Manulife cũng có một năm thắng lợi với tỷ suất sinh lời đáng tự hào, trong đó quỹ đầu tư cổ phiếu Manulife (MAFEQI) tăng trưởng 17,3%. 

Các quỹ của UOBAM cũng ghi nhận kết quả tích cực trong năm 2025, với Quỹ Cổ phiếu United ESG Việt Nam đạt hiệu suất 24,62% và Quỹ United thu nhập năng động Việt Nam đạt 9,67%. 

Thống kê giai đoạn 5 năm của Fmarket cho thấy, nhóm quỹ có hiệu suất cao nhất đạt mức lợi nhuận bình quân khoảng 15 - 22%/năm. Đáng chú ý, các quỹ dẫn đầu lợi nhuận dài hạn vẫn là những cái tên quen thuộc như: VINACAPITAL-VESAF, DCDS, SSI-SCA, BVFED, MAGEF hay VCBF-BCF. Theo Fmarket, sự lặp lại này không mang tính ngẫu nhiên, mà phản ánh năng lực quản lý danh mục, quy trình đầu tư kỷ luật và khả năng thích ứng bền bỉ của các quỹ này qua nhiều chu kỳ thị trường.

Điều này cũng nhấn mạnh bản chất của đầu tư quỹ mở là một chiến lược phân bổ tài sản trung và dài hạn, đồng thời phát huy hiệu quả rõ rệt khi nhà đầu tư duy trì thời gian nắm giữ đủ dài, hoặc thời gian lý tưởng là xuyên suốt ít nhất một chu kỳ kinh tế.

CƠ HỘI SONG HÀNH CÙNG THÁCH THỨC TRONG NĂM 2026

Bước sang năm 2026, tâm điểm chú ý là lộ trình nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam lên nhóm thị trường mới nổi thứ cấp của FTSE Russell. Đây không chỉ là danh hiệu mà là bước ngoặt về cấu trúc dòng vốn.

Theo ông Ngô Thành Huấn, Giám đốc điều hành Công ty cổ phần Tư vấn đầu tư và Quản lý tài sản FIDT, cơ hội lớn nhất không nằm ở con số vốn ngoại vào - ra trong vài quý, mà ở sự thay đổi cấu trúc của thị trường vốn. Nâng hạng buộc thị trường tiến gần hơn tới chuẩn mực quốc tế về minh bạch, quản trị doanh nghiệp, khả năng tiếp cận của nhà đầu tư tổ chức và tính kỷ luật trong định giá. Điều này mở ra không gian cho dòng vốn dài hạn, thụ động và tổ chức, vốn ổn định hơn và ít mang tính đầu cơ.

“Nói cách khác, nâng hạng không làm thị trường tăng nhanh hơn, mà làm thị trường “trưởng thành” hơn. Cơ hội lớn nhất thuộc về những doanh nghiệp và nhà đầu tư sẵn sàng chơi theo luật dài hạn, chấp nhận kỷ luật và chuẩn mực cao hơn, tạo ra nền tảng tốt để thu hút các dòng vốn lớn trong nước như các công ty bảo hiểm hay các cơ chế hưu trí tự nguyện còn dư địa cực kỳ lớn”, ông Huấn nhấn mạnh.

Dưới góc nhìn của quỹ đầu tư, ông Lê Thành Hưng, Giám đốc đầu tư UOB Asset Management Việt Nam (UOBAM), kỳ vọng nâng hạng sẽ là “cú hích” quan trọng, tạo nền tảng mới cho hoạt động của các quỹ và sự phát triển bền vững của thị trường.

Theo ông Hưng, cơ hội lớn nhất không chỉ nằm ở dòng tiền, mà là sự công nhận quốc tế. Việc nâng hạng sẽ thay đổi cách nhìn của nhà đầu tư tổ chức từ “giao dịch ngắn hạn” (tactical allocation) sang “chiến lược dài hạn” (strategic allocation). Đây là động lực để Việt Nam cải cách mạnh mẽ hơn, chuẩn hóa thị trường theo thông lệ quốc tế và nâng cao chất lượng doanh nghiệp niêm yết.

“Cùng với cơ hội mở ra từ việc nâng hạng thị trường, doanh nghiệp Việt Nam cũng đứng trước những yêu cầu khắt khe hơn từ các nhà đầu tư tổ chức quốc tế. Khi tiếp cận các dòng vốn lớn và dài hạn, tiêu chuẩn đánh giá không chỉ dừng ở kết quả kinh doanh mà còn mở rộng sang các yếu tố về minh bạch thông tin, quản trị và trách nhiệm giải trình”, ông Hưng nhấn mạnh.

Theo đó, nhà đầu tư nước ngoài kỳ vọng doanh nghiệp Việt Nam nâng cao mức độ công khai, minh bạch trong công bố thông tin; báo cáo tài chính tiệm cận các chuẩn mực quốc tế; sử dụng tiếng Anh trong báo cáo và truyền thông với nhà đầu tư. Đồng thời, cải thiện chất lượng quản trị doanh nghiệp và hoạt động quan hệ nhà đầu tư theo thông lệ toàn cầu.

Một thách thức không kém phần quan trọng là xây dựng niềm tin dài hạn với các nhà đầu tư tổ chức. Các quỹ lớn thường đặt trọng tâm vào năng lực quản trị rủi ro và mức độ tuân thủ cam kết của doanh nghiệp đối với cổ đông. Việc duy trì uy tín, thực hiện nhất quán các cam kết và minh bạch trong hành xử sẽ là yếu tố quyết định khả năng thu hút và giữ chân các dòng vốn dài hạn trong bối cảnh thị trường bước sang một giai đoạn phát triển mới.

“Để tận dụng tốt cơ hội nâng hạng, Việt Nam cần tiếp tục tháo gỡ các nút thắt mang tính cấu trúc, như mở rộng khả năng tiếp cận thị trường cho nhà đầu tư nước ngoài (room ngoại), hoàn thiện cơ chế thanh toán - bù trừ tập trung (CCP), rút ngắn chu kỳ thanh toán (xuống T+0), áp dụng chuẩn mực kế toán và tài chính quốc tế và tạo nguồn cung các sản phẩm mới có chất lượng ra thị trường để mở rộng cơ hội đầu tư cho các nhầ đầu tư tổ chức nước ngoài, đặc biệt là các quỹ đầu tư quốc tế lớn”, ông Hưng nhấn mạnh.

TĂNG TRƯỞNG ĐI CÙNG KIỂM SOÁT RỦI RO

Bước vào năm 2026, các quỹ đầu tư nhìn nhận triển vọng kinh tế Việt Nam với tâm thế lạc quan nhưng thận trọng. Mục tiêu tăng trưởng hai con số được xem là tham vọng trong bối cảnh rủi ro toàn cầu còn hiện hữu, song vẫn khả thi nếu chính sách điều hành đủ quyết liệt và các động lực trong nước tiếp tục phát huy vai trò. Quan trọng hơn, tăng trưởng không chỉ cần nhanh mà còn phải đi cùng ổn định vĩ mô và kiểm soát rủi ro để bảo đảm chất lượng trong trung và dài hạn.

Trên thị trường chứng khoán, các yếu tố hỗ trợ trong năm 2025 như chính sách nới lỏng, tiêu dùng phục hồi và du lịch quốc tế khởi sắc được kỳ vọng tiếp tục phát huy tác dụng trong năm 2026...

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

- Uyên Vân

Categories: The Latest News

Mục tiêu tăng trưởng GDP 10% năm 2026: Giải “bài toán” để nội lực bắt kịp ngoại lực

Thời báo kinh tế Việt Nam - Wed, 02/18/2026 - 07:10
“Bài toán” đặt ra là làm sao để nội lực bắt kịp tốc độ của ngoại lực. Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy ghi nhận nhiều ý kiến của các chuyên gia nước ngoài về những giải pháp để giải “bài toán” làm sao để nội lực bắt kịp tốc độ của ngoại lực trước thềm Xuân mới 2026.

“Các yếu tố then chốt có khả năng thúc đẩy tăng trưởng GDP của Việt Nam trong năm 2026 sẽ xoay quanh hai trụ cột chính: đầu tư hạ tầng và tiêu dùng trong nước.

Về hạ tầng, tốc độ giải ngân vốn đầu tư đã tăng mạnh trong năm 2025 với số vốn giải ngân cho hạ tầng tăng hơn 40%. Tuy nhiên, các hoạt động xây dựng thực tế chỉ tăng chưa đến 10%. Sự chênh lệch này chủ yếu do độ trễ thời gian giữa việc giải ngân vốn và thời điểm các dự án chính thức triển khai thi công. Nói cách khác, phần vốn đã được phân bổ trong năm vừa qua sẽ chuyển hóa thành hoạt động kinh tế thực tế và đóng góp cho tăng trưởng trong năm 2026. Bên cạnh đó, giải ngân vốn đầu tư cho hạ tầng dự kiến sẽ tiếp tục tăng thêm 20-30% trong năm 2026, tạo thêm động lực cho tăng trưởng GDP của Việt Nam.

Một trong những lợi ích dài hạn quan trọng nhất đối với kinh tế Việt Nam được kỳ vọng là việc hoàn thành tuyến cao tốc Bắc - Nam. Khi dự án này hoàn tất, các nhà máy FDI sẽ có thể đặt cơ sở sản xuất tại nhiều địa phương hơn trên khắp cả nước, thay vì chỉ tập trung ở các trung tâm công nghiệp truyền thống. Điều này sẽ cho phép doanh nghiệp tiếp cận nguồn lao động rộng lớn hơn ngoài các vùng lõi hiện nay. Về dài hạn, đây sẽ là một trong những lợi ích lan tỏa lớn nhất mà dự án cao tốc Bắc - Nam mang lại.

Về tiêu dùng nội địa, trong năm 2026, tiêu dùng nội địa sẽ giữ vai trò đặc biệt quan trọng cho kinh tế Việt Nam. Trong năm vừa qua, doanh số bán lẻ thực tế (đã điều chỉnh theo lạm phát) tăng gần 7%. Tuy nhiên, phần lớn mức tăng này đến từ sự bùng nổ lượng khách du lịch. Nếu loại trừ yếu tố du lịch, chi tiêu thực tế của người tiêu dùng trong nước chỉ tăng khoảng 5%.

Trong bối cảnh tiêu dùng chiếm hơn 60% quy mô nền kinh tế, để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP đạt 10%, Việt Nam sẽ cần thêm các biện pháp kích thích tiêu dùng nội địa. Chúng tôi kỳ vọng khi các hộ gia đình từng bước tái tích lũy tiết kiệm sau giai đoạn Covid-19, tiêu dùng trong nước sẽ phục hồi một cách tự nhiên.

Dù Chính phủ Việt Nam đã triển khai một số biện pháp như giảm thuế, nhưng chỉ riêng các giải pháp này có thể chưa đủ để thúc đẩy tăng trưởng tiêu dùng lên mức kỳ vọng. Vì vậy, Việt Nam cần thêm những chính sách bổ sung nhằm tạo động lực mạnh mẽ hơn cho nhu cầu trong nước, từ đó hỗ trợ hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng GDP đạt 10% trong năm 2026.

Ngoài ra, phát triển khoa học và công nghệ cũng sẽ mang lại lợi ích cho nền kinh tế Việt Nam trong dài hạn. Tuy nhiên, để những tiến bộ trong lĩnh vực này tạo ra tác động thực sự, cần có nỗ lực đồng bộ và bền bỉ trong thời gian dài, cùng với việc nâng cấp mạnh mẽ hệ thống đại học. Vì vậy, các khoản đầu tư cho khoa học và công nghệ nên được nhìn nhận như những khoản đầu tư trung và dài hạn, đóng vai trò then chốt trong việc giúp Việt Nam thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình và trở thành nền kinh tế phát triển vào năm 2045.

Bên cạnh các yếu tố trong nước, một động lực bên ngoài quan trọng đối với tăng trưởng GDP của Việt Nam trong năm 2026 là triển vọng của kinh tế Mỹ và quan hệ xuất khẩu giữa hai nước, khi Mỹ vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Chúng tôi kỳ vọng kinh tế Mỹ sẽ duy trì đà tăng trưởng tích cực, thậm chí cao hơn so với nhiều dự báo hiện tại. Diễn biến này sẽ tạo thêm dư địa thuận lợi để xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Mỹ tiếp tục mở rộng.

Tình hình thuế quan được kỳ vọng sẽ chuyển biến theo hướng thuận lợi hơn. Mặc dù gần đây xuất hiện một số thông tin gây nhiễu liên quan đến chính sách thuế, nhưng những nhận định từ các quan sát viên có hiểu biết chuyên sâu cho thấy mức thuế áp lên hàng hóa Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ sẽ giảm dần trong thời gian tới. Vì vậy, chúng tôi kỳ vọng mức thuế quan bình quân sẽ trở về khoảng 10% vào cuối năm nay, qua đó giảm áp lực chi phí và tạo thêm động lực cho hoạt động xuất khẩu của Việt Nam”.

“Việt Nam bước vào năm 2026 từ một vị thế tương đối vững vàng. So với nhiều nền kinh tế định hướng xuất khẩu, Việt Nam đã thể hiện khả năng chống chịu tốt, kỷ luật kinh tế vĩ mô và năng lực thu hút dòng vốn đầu tư ổn định trong bối cảnh toàn cầu nhiều biến động.

Từ góc nhìn của các nhà chiến lược đầu tư, triển vọng tăng trưởng không chỉ được đánh giá qua tốc độ, mà quan trọng hơn là tính bền vững. Các nhà đầu tư ngày càng xem Việt Nam là một thị trường tăng trưởng mang tính cấu trúc dài hạn, thay vì chỉ là cơ hội mang tính chu kỳ, qua đó củng cố niềm tin vào triển vọng trung hạn của nền kinh tế.

Đáng chú ý, triển vọng tăng trưởng năm 2026 của Việt Nam dựa trên sự mở rộng liên tục của lĩnh vực công nghiệp, ổn định kinh tế vĩ mô và sức hút bền bỉ đối với các khoản đầu tư dài hạn. Đồng thời, năm 2026 sẽ ít mang tính “phục hồi” hơn và tập trung nhiều hơn vào năng lực thực thi. Tăng trưởng sẽ phụ thuộc vào việc Việt Nam chuyển hóa hiệu quả các định hướng chính sách thành năng lực vận hành thực tế, đặc biệt trong các lĩnh vực hạ tầng, năng lượng và phát triển nguồn nhân lực. Nếu tốc độ triển khai theo kịp tham vọng đề ra, năm 2026 có thể trở thành một khởi đầu mạnh mẽ cho giai đoạn phát triển mới và tạo nền tảng vững chắc cho phần còn lại của thập kỷ.

Mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên phản ánh tham vọng đẩy nhanh con đường phát triển của Việt Nam và về định hướng là hoàn toàn dễ hiểu. Riêng đối với năm 2026, việc đạt mức tăng trưởng như vậy sẽ là một thách thức, nhưng không phải là bất khả thi nếu hội đủ các điều kiện phù hợp. Vấn đề then chốt không nằm ở việc tăng trưởng đạt con số bao nhiêu, mà ở chỗ liệu tăng trưởng đó có cân bằng và bền vững hay không.

Trong đó, có ba điều kiện mang tính quyết định cho sự tăng trưởng của Việt Nam. Thứ nhất, hạ tầng và cung ứng năng lượng phải theo kịp nhu cầu của nền công nghiệp, bởi tăng trưởng cao đòi hỏi nguồn điện ổn định, logistics hiệu quả và quỹ đất công nghiệp sẵn sàng. Thứ hai, quá trình thực thi hành chính cần duy trì tính minh bạch và nhất quán, với thủ tục phê duyệt nhanh hơn và việc triển khai đồng bộ giữa các địa phương, để dòng vốn đầu tư có thể chuyển hóa thành sản lượng mà không gặp trở ngại. Thứ ba, chất lượng dòng vốn là yếu tố quyết định. Tăng trưởng dựa trên đầu tư hiệu quả và chuyển giao công nghệ sẽ bền vững hơn so với tăng trưởng dựa vào các biện pháp kích thích ngắn hạn.

Trong ngắn hạn, quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế xanh hơn, số hóa hơn và dựa trên đổi mới sáng tạo sẽ đi kèm với những chi phí điều chỉnh. Đầu tư vào năng lượng tái tạo, hạ tầng số và các tiêu chuẩn tuân thủ cao hơn có thể làm gia tăng chi phí đối với một số ngành trong năm 2026. Tuy nhiên, những khoản đầu tư này cũng giúp nâng cao hiệu quả, giảm rủi ro dài hạn và tăng sức hấp dẫn của Việt Nam đối với dòng vốn chất lượng cao.

Từ năm 2026 trở đi, mô hình tăng trưởng sẽ dần chuyển từ mở rộng dựa trên quy mô sang mở rộng dựa trên giá trị. Chuyển đổi số giúp nâng cao năng suất trong sản xuất, logistics và dịch vụ, trong khi quá trình chuyển đổi xanh giúp Việt Nam phù hợp hơn với các yêu cầu tài chính toàn cầu và tiêu chuẩn chuỗi cung ứng quốc tế. 

Trong trung hạn, những chuyển đổi này sẽ củng cố căn bản khả năng chống chịu của tăng trưởng kinh tế Việt Nam, thông qua việc thúc đẩy các hoạt động tạo giá trị gia tăng cao và giảm mức độ phụ thuộc vào các cú sốc bên ngoài. Đặc biệt, yếu tố then chốt nằm ở lộ trình triển khai hiệu quả như đảm bảo hạ tầng, năng lượng và phát triển kỹ năng lao động được thúc đẩy song song với phát triển chính sách”.

“Năm 2026 không chỉ đơn thuần là một năm tăng trưởng theo dự báo, mà là một năm bản lề đối với Việt Nam. Việt Nam bước vào giai đoạn 2026 - 2030 với nền tảng kinh tế vĩ mô ổn định, cán cân đối ngoại vững chắc và khuôn khổ thể chế ngày càng hoàn thiện. Mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên là đầy tham vọng và không chỉ mang tính lý thuyết. Mục tiêu này phản ánh sự chuyển dịch chiến lược từ mô hình tăng trưởng “bắt kịp” (dựa nhiều vào FDI) sang mô hình tăng trưởng dựa trên giá trị nội địa và năng lực nội sinh.

Trong bức tranh đó, con số tăng trưởng không quan trọng bằng chất lượng tăng trưởng. Nếu Việt Nam có thể đồng thời mở rộng quy mô, nâng cao năng suất và cải thiện cấu trúc kinh tế, thì năm 2026 hoàn toàn có thể đánh dấu sự khởi động của một động lực tăng trưởng mới. Một giai đoạn phát triển mới hứa hẹn sẽ ít phụ thuộc vào lao động giá rẻ, mà dựa nhiều hơn vào hạ tầng, công nghệ và giá trị gia tăng trong nước. Đây chính là bước chuyển mang tính quyết định, đặt nền móng cho khát vọng đưa Việt Nam trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.

Về bối cảnh quốc tế, Việt Nam sẽ tiếp tục vận hành trong một môi trường toàn cầu nhiều biến động, với căng thẳng địa chính trị gia tăng, thương mại thế giới tăng trưởng chậm lại và chuỗi cung ứng đang được tái sắp xếp có chọn lọc. Tuy vậy, chính những yếu tố này lại làm nổi bật vai trò chiến lược của Việt Nam như một điểm đến sản xuất và đầu tư ổn định, hội nhập sâu trong ASEAN.

Ở trong nước, yếu tố quyết định nằm ở khả năng thực thi. Định hướng chính sách và khung pháp lý cơ bản đã khá rõ ràng, nhờ các cải cách quan trọng được thúc đẩy trong những năm gần đây. Thách thức còn lại là triển khai nhanh và đồng bộ. Việc biến cam kết đầu tư công thành hoạt động kinh tế thực tế, đẩy mạnh cải cách hành chính và khôi phục niềm tin của doanh nghiệp nội địa sẽ là những nhiệm vụ then chốt.

Năm 2026, quốc gia nào hành động nhanh hơn sẽ tăng trưởng tốt hơn. Việt Nam đã nhiều lần chứng minh khả năng thích ứng linh hoạt và cách làm quyết liệt, thực tiễn. Tinh thần này sẽ càng quan trọng trong chặng đường sắp tới. 

Ngoài ra, việc đầu tư chiến lược vào hạ tầng là một trong những đòn bẩy mạnh mẽ nhất để tái định hình mô hình tăng trưởng của Việt Nam. Hiện nay, Việt Nam đang chủ động lựa chọn các chiến lược phát triển dựa trên các mô hình thành công của các quốc gia trong khu vực như Singapore, Hàn Quốc và Nhật Bản. Việc phát triển hạ tầng trong nước không chỉ đóng góp trực tiếp vào GDP trong ngắn hạn, mà còn giúp giảm chi phí giao dịch, kết nối các thị trường vùng và tạo ra quy mô kinh tế trong các mạng lưới sản xuất. Đây là những yếu tố cốt lõi của giai đoạn phát triển mới, đồng thời đặt nền móng cho triển vọng thịnh vượng của thế hệ tiếp theo tại Việt Nam.

Từ năm 2026 trở đi, đầu tư vào giao thông, logistics, năng lượng và hạ tầng số sẽ tạo ra hiệu ứng lan tỏa vượt xa lĩnh vực xây dựng. Những khoản đầu tư này mở đường cho các ngành sản xuất giá trị cao, thúc đẩy hình thành các cụm công nghiệp vùng và nâng cao khả năng thu hút cũng như tiếp nhận dòng vốn FDI chất lượng cao của Việt Nam.

Đồng thời, các nỗ lực ở quy mô quốc gia như xây dựng Trung tâm Tài chính quốc tế và cải cách hành chính sâu rộng đang tạo ra sự chuyển dịch rõ nét hướng tới các chuẩn mực toàn cầu. Về dài hạn, những sáng kiến này sẽ đưa chính sách từ vai trò kích thích tăng trưởng ngắn hạn trở thành nền tảng cho năng lực cạnh tranh và năng suất bền vững”.

“Việt Nam đang nổi lên như một điểm đến đầy tham vọng, sẵn sàng dẫn dắt làn sóng tái cơ cấu chuỗi cung ứng. Đặc biệt, điều làm nên sự khác biệt của Việt Nam trong 2026 là nằm ở sự tự tin ngày càng được củng cố của quốc gia, cùng quá trình chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng cởi mở hơn, dựa trên đổi mới sáng tạo. Trong đó, không phải ngẫu nhiên mà thời gian gần đây, Chính phủ Việt Nam đã cắt giảm các điều kiện cấp phép đối với 38 ngành nghề kinh doanh, qua đó giúp nhà đầu tư nước ngoài tiếp cận thị trường Việt Nam thuận lợi và hiệu quả hơn.

Sau cuộc cải cách mạnh mẽ về hành chính và các quy định trong năm 2025, Chính phủ Việt Nam đã xác định năm 2026 là năm bản lề của tăng trưởng, trong đó động lực phát triển đến từ đổi mới sáng tạo, khoa học, công nghệ và chuyển đổi số, thay vì dựa vào lợi thế lao động chi phí thấp.

Đặc biệt, mục tiêu đạt mức tăng trưởng GDP 10% trong năm 2026 là một tham vọng lớn, phản ánh năng lực cải cách và tiềm năng dài hạn của Việt Nam. Trong khi phần lớn các tổ chức quốc tế vẫn giữ những dự báo tăng trưởng thận trọng, Việt Nam bước vào năm 2026 với nền tảng kinh tế vĩ mô vững chắc hơn, như: tiêu dùng đang phục hồi, đầu tư tư nhân gia tăng, giải ngân đầu tư công được đẩy nhanh và điều kiện tài khóa ổn định. Bên cạnh đó, kinh tế số, chuyển đổi xanh và chuyển dịch năng lượng đang nổi lên như những động lực tăng trưởng mới, được củng cố bởi quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng của Việt Nam. 

Tuy nhiên, dữ liệu trong năm 2025 cho thấy xuất khẩu tăng 25% so với năm trước nhưng chủ yếu đến từ khu vực doanh nghiệp FDI, trong khi các doanh nghiệp xuất khẩu trong nước lại sụt giảm đơn hàng. Hiện nay, gần 80% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam do các doanh nghiệp FDI dẫn dắt; riêng trong lĩnh vực sản xuất công nghệ cao, con số này lên tới khoảng 95%. Điều này cho thấy một vấn đề mang tính hệ thống cần được các cơ quan quản lý giải quyết, thông qua các chính sách ưu đãi, hỗ trợ công nghệ và tạo cơ hội để doanh nghiệp nội địa nâng cao năng lực chống chịu và tiếp cận thị trường quốc tế.

Việc đạt mức tăng trưởng hai chữ số không những đòi hỏi dòng vốn đầu tư và ổn định vĩ mô, mà còn đòi hỏi khả năng chống chịu mạnh mẽ hơn trước các cú sốc từ bên ngoài. Khi xuất khẩu chiếm khoảng 83% GDP, độ mở cao mang lại nhiều cơ hội nhưng đồng thời cũng làm gia tăng mức độ dễ tổn thương trước biến động toàn cầu. Vì vậy, yếu tố then chốt của Việt Nam trong năm nay chính là khả năng giảm thiểu rủi ro bên ngoài; đồng thời, đẩy nhanh thực thi chính sách, rút ngắn độ trễ cải cách và đảm bảo năng lực thể chế theo kịp tham vọng kinh tế.

Cùng với đó, mô hình tăng trưởng mới của Việt Nam trong năm 2026 không nên chỉ hướng tăng trưởng cao, mà còn cần phải xây dựng một nền kinh tế cạnh tranh và có khả năng chống chịu tốt hơn. Đặc biệt, ưu tiên hàng đầu nằm ở phát triển hạ tầng và năng lượng, nơi các cải cách về Hợp tác công - tư (PPP) và Quy hoạch phát triển điện lực Quốc gia giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 cần được triển khai thực chất để đảm bảo nguồn điện xanh, ổn định và giảm chi phí logistics, đây chính là những yếu tố quyết định việc Việt Nam có thực sự trở thành điểm đến của các ngành công nghệ cao hay không.

Một điều không kém phần quan trọng khác đó chính là biến sự phụ thuộc lớn vào FDI thành động lực thúc đẩy tăng trưởng trong nước, thông qua đào tạo nhân lực, phát triển kỹ năng và chuyển giao công nghệ. Việt Nam cần thu hút các dòng vốn đầu tư mang theo công nghệ, giúp gia tăng chiều sâu chuỗi cung ứng và tạo nền tảng cho các ngành như bán dẫn, sản xuất công nghệ cao và năng lượng tái tạo, thay vì chỉ mở rộng hoạt động lắp ráp.

Cuối cùng, năng lực thể chế sẽ đóng vai trò quyết định. Nghị quyết số 68-NQ/TW và Nghị quyết số 79-NQ/TW là những bước tiến quan trọng trong việc xác định lại vai trò của khu vực tư nhân và khu vực nhà nước, nhưng thành công phụ thuộc vào việc thực thi nhất quán và cơ chế trách nhiệm rõ ràng. Khi nâng cấp chất lượng nguồn nhân lực được lồng ghép trong tất cả các ưu tiên này, Việt Nam có thể chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa vào nguồn lực đầu vào sang mô hình dựa trên năng suất, công nghệ và đổi mới sáng tạo”.

 làm sao để nội lực bắt kịp tốc độ của ngoại lực

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8/2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-

Categories: The Latest News

Mytel ở lại

Thời báo kinh tế Việt Nam - Wed, 02/18/2026 - 07:04
Khi trận động đất kinh hoàng xảy ra, người của Mytel - thương hiệu của Tập đoàn Viettel tại Myanmar - sau những giây phút sợ hãi, hoang mang, đã nhanh chóng bắt tay vào khôi phục mạng lưới, “nối sóng” và lăn lộn với đổ nát hoang tàn cùng người dân bản địa.

Chín tháng sau ngày động đất 7,7 độ Richter, đất nước Myanmar đang vào quãng thời gian đẹp nhất năm, từ tháng 11/2025 đến tháng 2/2026, với nhiệt độ ban ngày trung bình từ 25-30 độ C, nắng nhẹ, đêm và rạng sáng nhiệt độ giảm còn 18-20 độ, trời se lạnh. Con đường từ Yangon (thủ đô cũ của Myanmar) đến tỉnh Mandalay dài hơn 600 km rộng thênh thang với mỗi bên 3 làn nhưng vắng xe qua lại, thỉnh thoảng lại nổi lên đoạn nứt toác chưa được khắc phục bởi trận động đất lịch sử để lại.

Thượng tuần tháng 1/2026, Myanmar vẫn đang trong giai đoạn tăng cường các biện pháp đảm bảo an ninh xã hội để phục vụ hoạt động bầu cử. Vì thế, thời gian đến ngôi trường cấp 1 tại làng Oak Kyut Pho (Mandalay) mà Mytel (thương hiệu của Viettel tại Myanmar) mới xây đã chậm hơn hai tiếng so với dự kiến.

Giám đốc kinh doanh Chi nhánh Mytel Mandalay Lý Bình Nguyên kể: lúc đó gần 13h ngày 28/3/2025 (giờ địa phương), khi đang nghỉ trưa trên tầng 3 thì nghe thấy tiếng cốc chén loảng xoảng rơi xuống sàn nhà vỡ toang, căn phòng nghiêng ngả, rung lắc dữ dội. "Tôi biết động đất đã xảy ra nên với vội chiếc áo và quần dài mặc để chạy nhưng không thể nào mặc được, hai chân hầu như không chạm mặt sàn, cách nền nhà cỡ nửa gang tay. Vậy là trên người mỗi chiếc quần xà lỏn lao chạy xuống đường. Ở thời điểm ấy ai cũng thế”, Giám đốc Nguyên kể về giây phút kinh hoàng lần đầu tiên anh từng trải.

Chỉ chục phút sau cơn địa chấn 7,7 độ Richter, hàng loạt cơn dư chấn 4-5 độ, thậm chí tới 6 độ Richter, tương đương với những trận động đất lớn tiếp tục dội xuống đất nước Myanmar, càng khiến người dân hoang mang, sợ hãi. Nguyên cũng như giám đốc chi nhánh và bộ phận quản lý Mytel ở các tỉnh chịu tác động mạnh của tâm chấn như Sagaing, Mandalay, Naypyitaw (Thủ đô mới của Myanmar)… sau gần một tiếng đồng hồ hoảng sợ, lo lắng, đã bình tĩnh trấn an tinh thần, nhanh chóng kiểm tra tình hình nhân viên người Việt, người bản địa xem có ai bị ảnh hưởng gì không, sau đó kiểm tra tình trạng kết nối mạng di động.

Nhà mạng đến từ Việt Nam - Mytel - ngay trong ngày 28/3/2025 đã tổ chức các phương án ứng cứu thông tin, thành lập ban điều hành chỉ đạo công tác phòng chống thiên tai. Cũng trong ngày, Mytel đã thành lập Sở chỉ huy tiền phương điều hành khôi phục mạng lưới tại hai tỉnh bị ảnh hưởng nặng nhất là Mandalay và Naypyitaw. Tổ chức huy động 43 đội kỹ thuật cứu trợ từ các tỉnh khác đến các khu vực ảnh hưởng nặng của động đất để ứng cứu thông tin.

Tập đoàn Viettel ngay hôm sau cũng cử ba đoàn gồm các chuyên gia, kỹ sư thiết kế, truyền dẫn, hạ tầng trạm, truyền thông và công tác hậu cần khác gồm hơn 35 người tới Myanmar để hỗ trợ Mytel đánh giá, khắc phục hạ tầng mạng lưới cũng như công tác cứu trợ nhân đạo.

“Động đất gây thiệt hại rất lớn, trong điều kiện của đất nước Myanmar lại càng lớn hơn vì hạn chế về nguồn lực ứng cứu”, Tổng giám đốc Mytel Ngô Vĩnh Quý chia sẻ. Đồng thời, ông cho biết thêm trong lúc đó Mytel chỉ có tâm niệm “sống là cứu người” chứ không có ý nghĩ gì về kinh doanh nữa. Đây là thảm họa thiên nhiên, 48h vàng để cứu người là vô cùng quan trọng. Đất nước Myanmar lại thiếu điện, bởi vậy một chiếc điện thoại dù là “cục gạch” thì cũng chỉ hoạt động được trong tầm 48 tiếng, chính vì thế Ban lãnh đạo Mytel đã dồn mọi nguồn lực để làm sao đảm bảo kết nối cho chính quyền để điều hành cứu hộ và người dân để báo xem còn sống không, hay đang ở trong đống đổ nát nào.

Cùng việc khôi phục mạng lưới, kết nối, hàng trăm điểm phát SIM miễn phí, điểm trạm sạc điện thoại đã nhanh chóng được Mytel dựng lên. Cụ thể Mytel đã phát miễn phí hơn 30.000 SIM cho người dân Mandalay và Naypyitaw; phát sóng 100 điểm wifi miễn phí tại các điểm tập trung người bị nạn; hỗ trợ miễn phí viễn thông cho hơn 4,5 triệu khách hàng bị ảnh hưởng bởi trận động đất; hơn 500 điểm trạm sạc điện thoại dã chiến được lắp đặt để người dân sạc điện thoại.

Bên cạnh đó, nhà mạng cũng tổ chức các điểm phát cho người dân hơn 5 tấn lương thực như: gạo, mì tôm, bánh mì, nước sạch, hơn 10 nghìn suất ăn... cho hơn chục nghìn người; cung cấp hàng nghìn ô, lều để người dân nghỉ ngơi tại các điểm tập trung.

Giữa lúc khó khăn, thảm họa lớn nhất, Mytel không những ở lại mà còn là doanh nghiệp đầu tiên và nhanh nhất triển khai các hoạt động cứu trợ người dân ngay sau thảm họa trong vòng 3 giờ từ lúc thảm họa…

Tất cả các hành động này được đất nước, nhân dân Myanmar ghi nhận và đánh giá cao. Tại một trong những tỉnh bị thiệt hại nặng là Mandalay, ông U Kyaw San, Thị trưởng thành phố Mandalay, cho biết ngay sau trận động đất chỉ có duy nhất nhà mạng Mytel có mặt, không chỉ khôi phục sóng mà còn mang đến lều bạt, lương thực, nước uống. “Tôi thực sự cảm động, không phải doanh nghiệp nào cũng làm được như vậy. Tôi và người dân ở đây rất biết ơn Mytel”, vị Thị trưởng bày tỏ.

Theo Tổng giám đốc Mytel Ngô Vĩnh Quý, khi động đất hay lũ lụt xảy ra, tất cả anh em ở các chi nhánh của Mytel đều hành động tự giác, không đợi chỉ đạo từ cấp trên, cứ thế xúm lại cứu trợ, giúp sức người dân, hỗ trợ một cách tối đa. “Hành động đó không chỉ của Mytel và Viettel đâu, nó như là tinh thần là nguồn cội của người Việt Nam – lúc người dân gặp khó khăn, hoạn nạn thì tự động phản ứng, mỗi người một tay bảo nhau hỗ trợ được tốt hơn. Các thị trường khác của Viettel cũng thế”, ông Quý nói, rồi kể, có bạn người Myanmar thán phục rằng: Khổng hiểu tại sao người Việt Nam lại có tình đoàn kết như vậy.

Trận động đất lịch sử trăm năm 7,7 độ Richter như càng muốn chứng minh và khẳng định về sự hiện diện của Mytel để gắn với cuộc sống của người dân nơi đây, để góp phần làm cho cuộc sống và kinh tế của người dân Myanmar trở nên tốt đẹp hơn.

Myanmar là thị trường mà Viettel mất thời gian đeo đuổi lâu nhất để có được. Sau gần 15 năm đầu tư, mở văn phòng đại diện và chờ đón cơ hội, đến năm 2016 Viettel mới có được giấy phép, chính thức ghi tên Myanmar trên bản đồ kinh doanh viễn thông của mình. Để có được điều đó, Viettel phải đối mặt với hai lần thất bại khi bị các đối thủ quốc tế với tiềm lực tài chính hùng mạnh đã bỏ thầu lớn gấp nhiều lần số tiền mà khả năng Viettel có ở thời điểm đó.

Nhanh chóng chớp thời cơ, Viettel Myanmar xây dựng mạng lưới và phát triển thần tốc, trở thành nhà mạng đầu tiên và duy nhất tại Myanmar phủ sóng 4G toàn quốc - công nghệ hiện đại nhất lúc đó (bỏ qua 3G). Mytel đạt 1 triệu thuê bao sau 10 ngày khai trương. Đây là tốc độ phát triển khách hàng nhanh nhất trong số tất cả các thị trường (cả Việt Nam và quốc tế) mà Tập đoàn Viettel từng đầu tư. Đến năm 2019, sau 18 tháng chính thức hoạt động, nhà mạng này cán mốc 5 triệu thuê bao và chỉ 3 năm, Mytel vươn lên chiếm số 1 về thị phần với 38,6%.

Tuy nhiên, đà tăng trưởng hừng hực của Mytel bất ngờ bị “gẫy gập” khi đất nước Chùa Vàng xảy ra chính biến vào tháng 2/2021.

“Có những khoảng thời gian hệ thống mạng lưới bị cắt phá. Các nhà mạng khác cũng thế. Cứ mỗi ngày đi qua, Mytel lại mất cả nghìn thuê bao, con số thuê bao ngừng hoạt động ngày một nhiều lên, tới hàng trăm nghìn thuê bao. Chúng tôi như ngồi trên đống lửa. Ngày nào Ban lãnh đạo Tập đoàn Viettel, Tổng công ty Cổ phần Đầu tư quốc tế Viettel (Viettel Global) và Mytel cũng họp, cập nhật liên tục về tình hình an toàn của cán bộ công nhân viên, tình trạng hệ thống mạng lưới và đặc biệt là số thuê bao bị mất”, một cán bộ Viettel Global chia sẻ về những ngày tháng khó khăn nhất của Mytel trong thời điểm chính biến.

Cùng chính biến, khó khăn thêm chồng chất với sự tác động của dịch bệnh Covid-19, lũ lụt nghiêm trọng kinh hoàng hơn cả cơn bão Yagi diễn ra liên tục tại Myanmar, nhưng Mytel vẫn vượt qua, ở lại và đứng vững.

Ban lãnh đạo Mytel nhận xét 2025 là một năm đặc biệt khó khăn đối với nhà mạng và có thể xem là khó khăn nhất trong hơn 7 năm Mytel hoạt động tại Myanmar, khi nhiều rủi ro lớn xảy ra đồng thời, chồng lấn và kéo dài, tạo áp lực chưa từng có đối với hoạt động sản xuất kinh doanh và công tác bảo đảm an toàn.

Ngoài khó khăn về thảm họa động đất (khiến hơn 2.000 trạm BTS bị mất tín hiệu, nhiều tuyến truyền dẫn quốc tế bị gián đoạn) là hàng loạt thách thức khác mà Mytel phải đối mặt như tình trạng mất điện kéo dài, trung bình hơn 12 giờ mỗi ngày, chi phí nhiên liệu tăng cao, tạo áp lực rất lớn về chi phí vận hành; khó khăn về tỷ giá (khan hiếm USD và tỷ giá trên thị trường tự do có thời điểm cao gấp hơn hai lần tỷ giá niêm yết của Ngân hàng Trung ương, tạo ra độ lệch rất lớn giữa chi phí thực tế và kế hoạch tài chính ban đầu); khó khăn về nhập khẩu thiết bị…

Đứng trước những khó khăn trên, nhà mạng này đã thực hiện hàng loạt giải pháp, như chiến dịch triển khai 400 trạm BTS mới và khôi phục 542 trạm BTS down tồn lâu; chiến dịch triển khai 2.533 trạm Solar để giảm Cell giờ, tiết kiệm chi phí; chiến dịch nâng cấp 7018 acquy, 341máy nổ cho hơn 1.000 trạm; thực hiện tối ưu 1.500 trạm BTS, nâng cấp 300G băng thông quốc tế, tối ưu 120 tuyến truyền dẫn… Nhờ tổng thể những giải pháp này mà nhà mạng của Việt Nam đã giảm khoảng 50% sự cố gián đoạn thông tin trên toàn mạng; giảm hơn 50% số lít dầu, từ 1,8 triệu lít/tháng xuống dưới 900.000 lít/tháng; tiết kiệm hơn 20 triệu USD chi phí vận hành (OPEX), khôi phục và tăng trưởng 780 nghìn thuê bao, tăng lưu lượng sử dụng data lên 30% tại các trạm nâng cấp.

Bên cạnh đó là các giải pháp về kinh doanh như bỏ lớp trung gian vùng, thành lập trung tâm kinh doanh, điều hành tập trung và thẳng xuống tuyến tỉnh, huyện; điều hành kinh doanh phát triển thuê bao và quản lý lãi, lỗ đến từng trạm BTS; đẩy mạnh kinh doanh tại trạm 400 BTS mới, hơn 540 trạm BTS khôi phục và 1200 trạm BTS ít thuê bao; đẩy mạnh hệ sinh thái số…

Kết thúc năm 2025, Mytel đã hoàn thành xuất sắc 8/8 chỉ tiêu Tập đoàn Viettel giao, doanh thu dịch vụ năm 2025 tăng trưởng 30%, đạt 916 triệu USD; lợi nhuận đạt 104 triệu USD – mức cao nhất từ trước tới nay.

Triết lý kinh doanh gắn liền với trách nhiệm xã hội, phụng sự đất nước, làm cho cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn được Tập đoàn Viettel kiên trì từ những ngày đầu tiên, không chỉ tại Việt Nam mà ở tất cả các thị trường mà Viettel đặt chân tới. Tuy nhiên, tại Myanmar, vốn với những đặc trưng riêng về kinh tế xã hội, văn hóa, con người nên các chương trình trách nhiệm xã hội (CSR) cũng khá khác biệt và chi tiết tới tận từng bản, làng.

Làng Nay Pu, huyện Tadaoo, cách thủ phủ Mandalay khoảng 45 km, với 100 hộ dân nhưng 60% người có mức sống rất thấp, thu nhập chỉ chưa đầy 700 nghìn đồng, không có tiền để mua điện từ Chính phủ, thu nhập chủ yếu là làm giỏ từ cây cọ. Con đường vào làng tối om như mực. Khi đi khảo sát thị trường, nhân viên chi nhánh đã phát hiện và đề xuất lắp đặt đèn điện sử dụng năng lượng mặt trời cho ngôi làng. Trưởng làng này cho biết do làng ở xa trung tâm nên rất khó khăn và rất ít nhận được những hỗ trợ xã hội từ các doanh nghiệp và tổ chức. Từ ngày có điện do Mytel lắp đặt, ngõ vào làng không còn tối mịt như trước nữa.

Một tu viện tại Yangon đang nuôi dậy hơn 900 em học sinh được miễn học phí, tuy nhiên vì Myanmar triền miên mất điện nên các em học sinh thường xuyên phải học trong tình trạng thiếu ánh sáng. Mytel đã thực hiện lắp đặt tấm solar (tấm năng lượng mặt trời) để có điện chiếu sáng cho lớp học tu viện, cùng với việc tặng bàn ghế, sách vở, đồ dùng học tập cho các em học sinh và hỗ trợ tu viện đồ ăn, lương thực, thực phẩm thiết yếu.

Cách làm CSR của Mytel cũng khá linh hoạt, nhanh nhạy trong những tình huống khẩn cấp hay mang tính bền vững lâu dài. Ngay sau trận động đất kinh hoàng, nhà cửa bị sụp đổ, hàng trăm gia đình ở vùng ven tỉnh Mandalay đã không có nhà để ở, nhà mạng này liền cải tạo, tu sửa các trạm, điểm bán hàng mini store thành các nhà tạm cho người dân ở. Hơn 30 nhà tạm mini store  với gần 100 con người đang trú ngụ trong suốt hơn 9 tháng qua.

Trường cấp 1 tại làng Oak Kyut Pho, sau khi bị trận động đất đánh sập, gần 300 em học sinh cấp 1 đã phải chuyển sang tu viện gần đó học tạm. Rất nhanh chóng, chi nhánh Mytel Mandalay đã đề xuất ban lãnh đạo Mytel quyên góp, hỗ trợ xây dựng một ngôi trường mới khang trang. Có những làng không có nước sạch để sinh hoạt thì Mytel xây dựng hệ thống giếng nước sạch cho người dân, như 5 ngôi làng tại huyện Kyauk Tan, Yangon.

Theo ông Nguyễn Thành Chung, Phó Tổng giám đốc Mytel, CSR là hoạt động chiến lược cốt lõi của Mytel. Năm 2025, Mytel đã triển khai hơn 150 chương trình CSR trên khắp Myanmar. Như vậy, trung bình cứ hai ngày làm việc Mytel lại có một chương trình CSR.

“Có lẽ khó có doanh nghiệp nào lại làm CSR trong một năm nhiều như vậy. Mytel không làm CSR theo phong trào mà coi CSR là một phần trong chiến lược phát triển của doanh nghiệp, thông qua các chương trình hỗ trợ thiên tai, kết nối viễn thông vùng sâu vùng xa, cung cấp điện mặt trời, các chiến dịch vì phụ nữ, trẻ em và giáo dục, qua đó từng bước xây dựng hình ảnh doanh nghiệp Việt Nam vì cộng đồng, vì sự phát triển của Myanmar và vì Myanmar hạnh phúc hơn”, ông Chung khẳng định.

Gieo nhân lành gặt quả ngọt.  Sau động đất, Mytel tăng thêm 500 nghìn thuê bao – toàn bộ là thuê bao được Mytel phát miễn phí cho người dân để kết nối liên lạc sau trận động đất lịch sử xảy ra và tập khách hàng chuyển sang từ nhà mạng khác. Hiện, hơn một nửa thuê bao này ở lại với nhà mạng, góp phần đưa số thuê bao thực tăng trưởng trong năm 2025 của nhà mạng lên tới 1,05 triệu, lũy kế đạt 14,2 triệu thuê bao và giữ vững thị phần số 1 với 39,0%.

Cũng nhờ chiến lược cốt lõi CSR “theo cách riêng” như vậy mà Mytel đã giành Giải vàng CSR của Stevie Award năm 2025 -  một giải thưởng uy tín và rất khó đạt được (Stevie Award là giải thưởng hàng đầu thế giới về kinh doanh, được tạp chí New Your Post ví như giải Oscar cho doanh nghiệp và doanh nhân. Giải thưởng được khai sinh năm 2002 để tôn vinh và ghi nhận những thành tựu và đóng góp tích cực của các tổ chức và cá nhân trên toàn thế giới).

Đồng thời, nhà mạng cũng giành được giải thưởng “Nhà mạng tốt nhất dành cho thế hệ trẻ” (The Best Operator for the Young Generation) do Stevie Awards bình chọn năm 2025.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8/2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-6-2026.html

-

Categories: The Latest News

Giá trị cà phê Việt chuyển từ “lượng” sang “chất”

Thời báo kinh tế Việt Nam - Wed, 02/18/2026 - 07:00
Trong tổng mức tăng thêm 7,59 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản năm 2025 so với năm 2024 (từ 62,5 tỷ USD lên 70,09 tỷ USD), riêng cà phê đã đóng góp hơn 3 tỷ USD - một con số đặc biệt ấn tượng. Giữa lúc chính sách thuế quan đối ứng của Hoa Kỳ làm chậm nhịp xuất khẩu nhiều mặt hàng, cà phê lại là ngoại lệ hiếm hoi khi không những ít bị tác động xấu mà còn được hưởng lợi từ chính sách này.

Năm 2025 đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong ngành cà phê Việt Nam khi kim ngạch xuất khẩu đạt mức kỷ lục, vượt qua con số 8,57 tỷ USD. Đây không chỉ là thành quả của sự gia tăng về lượng mà còn là sự chuyển dịch mạnh mẽ từ "lượng" sang "chất" trong chiến lược phát triển của ngành. Trong bối cảnh nhiều mặt hàng xuất khẩu khác chịu tác động tiêu cực từ chính sách thuế quan đối ứng của Hoa Kỳ, cà phê Việt Nam lại nổi lên như một ngoại lệ hiếm hoi, không chỉ ít bị ảnh hưởng mà còn hưởng lợi từ những thay đổi này.

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, năm 2025, Việt Nam đã xuất khẩu hơn 1,5 triệu tấn cà phê, tăng 16,9% về lượng và 60,7% về giá trị so với năm 2024. Động lực chính đến từ việc giá xuất khẩu duy trì ở mức cao kỷ lục, có thời điểm tiệm cận 5.850 USD/tấn. Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Hoàng Trung nhận định rằng đây là một "dấu mốc lịch sử" cho ngành cà phê Việt Nam, với sự đóng góp quan trọng từ các thị trường chủ lực như EU và Hoa Kỳ, cùng với sự tăng trưởng đột biến từ các thị trường mới nổi như Algeria và Mexico.

Sự thành công này không chỉ đến từ yếu tố giá cả mà còn từ những nỗ lực nâng cao chất lượng cà phê Việt. Các doanh nghiệp đã đầu tư mạnh mẽ vào chế biến sâu và truy xuất nguồn gốc, giúp nâng cao giá trị sản phẩm. Cà phê Robusta vẫn giữ vai trò chủ lực, nhưng cà phê Arabica và cà phê chế biến cũng ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng, cho thấy chiến lược đi sâu vào chuỗi giá trị đang phát huy hiệu quả.

Một điểm đáng chú ý là trong khi cà phê Brazil bị áp thuế tới 40% tại Hoa Kỳ, cà phê Việt Nam chỉ chịu mức thuế 20%, tạo lợi thế cạnh tranh rõ rệt. Điều này đã góp phần thúc đẩy kim ngạch xuất khẩu cà phê Việt Nam lập kỷ lục mới. Ngoài ra, việc gia tăng tỷ trọng cà phê chế biến sâu đã giúp nâng cao giá trị xuất khẩu và giảm dần sự phụ thuộc vào xuất khẩu thô, mang lại lợi nhuận cao hơn cho người trồng cà phê.

Năm 2025 cũng chứng kiến sự thành công của nhiều nông dân tại các vùng cà phê trọng điểm như Đắk Lắk, Gia Lai, khi giá cà phê tăng cao đã giúp họ có một vụ mùa "trúng đậm". Với năng suất bình quân 3-3,5 tấn/ha và mức giá có thời điểm lên tới 120–130 triệu đồng/tấn, mỗi ha cà phê mang lại doanh thu 350-450 triệu đồng, lợi nhuận 250-300 triệu đồng. Điều này không chỉ cải thiện đời sống của người nông dân mà còn tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của ngành cà phê Việt Nam.

Bước sang năm 2026, ngành cà phê Việt Nam đứng trước những cơ hội và thách thức mới. Việc Hoa Kỳ giảm thuế đối với hàng hóa Brazil có thể làm giảm lợi thế thuế quan của cà phê Việt. Tuy nhiên, với việc sớm đáp ứng tiêu chuẩn EUDR của EU, cà phê Việt Nam vẫn có thể mở rộng thị phần tại châu Âu. Ngành cà phê sẽ tiếp tục phát triển theo hướng bền vững, mở rộng áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế, tăng cường truy xuất nguồn gốc và đẩy mạnh chế biến sâu.

Trong dài hạn, ngành cà phê Việt Nam định hướng phát triển theo mô hình nông nghiệp sinh thái, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn. Việc xây dựng thương hiệu "Cà phê Việt Nam" và thúc đẩy canh tác giảm phát thải sẽ là những yếu tố then chốt giúp nâng tầm thương hiệu cà phê Việt trên thị trường quốc tế. Với những bước đi chiến lược và sự nỗ lực không ngừng, ngành cà phê Việt Nam đang trên đà bứt phá mạnh mẽ, hứa hẹn một tương lai tươi sáng và bền vững.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8/2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-Chu Minh Khôi

Categories: The Latest News

Chính phủ “hành động” và bước ngoặt ngành công nghệ lõi

Thời báo kinh tế Việt Nam - Wed, 02/18/2026 - 06:26
Năm 2025 đã khép lại với những con số kỷ lục và những cột mốc định vị lại vị thế của Việt Nam trên bản đồ công nghệ toàn cầu. Hàng tỷ USD đã được đổ vào lĩnh vực nghiên cứu và phát triển (RD) và công nghệ lõi. Sự xuất hiện của các công xưởng AI, những con chip 5G tự thiết kế và các cơ chế thử nghiệm linh hoạt cho thấy Việt Nam đã sẵn sàng cho kỷ nguyên “làm chủ” công nghệ...

Năm 2025 ghi nhận làn sóng đầu tư mạnh mẽ nhất từ trước đến nay của các tập đoàn đa quốc gia vào các ngành công nghệ cao như bán dẫn, AI, hạ tầng dữ liệu… tại Việt Nam. Theo Cục Thống kê, tính đến ngày 31/12/2025, tổng vốn đầu tư nước ngoài (FDI) bao gồm cả đăng ký mới và điều chỉnh vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo là 18,59 tỷ USD, chiếm 59,2% tổng số vốn.

Trong đó, riêng 10 tháng năm 2025, ngành bán dẫn đã thu hút khoảng 11,6 tỷ USD vốn FDI. Điều này cho thấy dòng vốn FDI đổ về Việt Nam đã chất lượng hơn với sự xuất hiện của các dự án tỷ USD từ những tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới gia tăng trước làn sóng chuyển dịch chuỗi cung ứng công nghệ cao.

DÒNG VỐN CHẢY MẠNH VÀO CÁC NGÀNH CÔNG NGHỆ CAO 

Một trong những dự án công nghệ cao điển hình là nhà máy sản xuất, lắp ráp và thử nghiệm vật liệu, thiết bị bán dẫn Công ty TNHH Amkor Technology Việt Nam tại Bắc Ninh. Vận hành từ tháng 10/2023 với số vốn đầu tư 520 triệu USD, chỉ sau 10 tháng hoạt động, Amkor Technology đã đưa nhà máy tại Bắc Ninh trở thành cứ điểm đóng gói chip lớn nhất thế giới của mình sau khi rót thêm 1,07 tỷ USD vào tháng 7/2024, nâng tổng vốn đầu tư vào Việt Nam lên mức 1,6 tỷ USD (tăng quy mô vốn sớm hơn dự kiến tới 11 năm). Tính đến hết quý 1/2025, tổng vốn FDI mà tập đoàn này giải ngân là hơn 850 triệu USD.

“Gã khồng lồ” công nghệ khác là Hana Micron cũng không đứng ngoài “cuộc đua” bán dẫn. Từ số vốn đầu tư ban đầu 600 triệu USD, tập đoàn có kế hoạch nâng tổng vốn đầu tư tại Bắc Giang lên hơn 1 tỷ USD vào năm 2027 để khép kín chuỗi sản xuất bảng mạch cho các thiết bị di động thế hệ mới.

Đặc biệt, “cơn sốt” AI toàn cầu đã đưa những tên tuổi lớn như Nvidia, Marvell… đến gần Việt Nam hơn. Sự cam kết của Nvidia trong việc xây dựng một hệ sinh thái AI toàn diện, từ hạ tầng siêu máy tính đến đào tạo nhân lực, đã chứng minh rằng Việt Nam không còn là “điểm đến dự phòng” mà đã trở thành “ngôi nhà thứ hai” của Nvidia trong chiến lược đầu tư. Điểm nhấn là ngày 7/8/2025, Công ty TNHH Nvidia Việt Nam đã hoàn tất việc tăng vốn điều lệ lên mức 1,1 triệu USD để chuẩn bị cho các hoạt động mở rộng tại Việt Nam trong thời gian tới. Trước đó, vào tháng 12/2024, tập đoàn công nghệ Mỹ đã gây chú ý khi thâu tóm toàn bộ Công ty TNHH Vinbrain từ Tập đoàn Vingroup, với giá trị chuyển nhượng vốn hơn 627 tỷ đồng.

Ngoài ra, các trung tâm RD của Marvell và Synopsys tại Đà Nẵng và TP. Hồ Chí Minh với quy mô vốn lên tới hàng tỷ USD cũng bắt đầu tham gia vào thiết kế các dòng chip thế hệ mới cho thị trường thế giới.

Sự hiện diện của các doanh nghiệp FDI này tạo ra một “hệ sinh thái vệ tinh”. Hàng trăm doanh nghiệp phụ trợ từ Đài Loan, Hàn Quốc và Hoa Kỳ… đã kéo theo, tạo thành một cụm ngành công nghiệp bán dẫn thực thụ tại các khu vực trọng điểm như: Bắc Ninh, Thái Nguyên, Đà Nẵng và TP. Hồ Chí Minh. Đây chính là minh chứng rõ nhất cho thấy niềm tin của các tập đoàn đa quốc gia vào sự ổn định và tiềm năng của Việt Nam.

DOANH NGHIỆP NỘI KHẲNG ĐỊNH TINH THẦN “MANKE IN VIETNAM”

Trước dòng chảy “sôi động” của các tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới, các tập đoàn công nghệ nội địa cũng đã có sự chuyển mình rõ nét. Năm 2025 đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của tinh thần “Make in Vietnam” của các doanh nghiệp công nghệ Việt Nam. Thay vì tập trung gia công, lắp ráp, các công ty đang từng bước nỗ lực vươn lên để làm chủ công nghệ lõi.

Tập đoàn Viettel tiếp tục khẳng định vị thế dẫn đầu khi sản xuất thành công chip 5G DEF SoC đầu tiên của Việt Nam. Đây thực sự là một kỳ tích bởi thiết kế chip viễn thông đòi hỏi trình độ kỹ thuật rất cao. Không dừng lại ở đó, Viettel đã hoàn thành triển khai và đưa vào sử dụng hơn 23.500 trạm BTS trong giai đoạn từ tháng 2 -12/2025. Đáng chú ý, hơn 2.000 trạm trong số này là sản phẩm “Make in Vietnam” do Viettel tự nghiên cứu và phát triển. Nhờ đó, đưa Việt Nam vào nhóm ít quốc gia trên thế giới tự chủ được hạ tầng viễn thông thế hệ mới.

Mới đây nhất, vào tháng 1/2026, tập đoàn này cũng chính thức khởi công nhà máy chế tạo chip công nghệ cao đầu tiên tại Khu công nghệ cao Hòa Lạc. Dự án này là mắt xích then chốt giúp Việt Nam khép kín chuỗi sản xuất từ thiết kế đến chế tạo, dự kiến hoàn thiện vào năm 2027.

Trong khi đó, FPT đã chứng minh sự nhạy bén khi chuyển dịch mạnh mẽ sang mảng bán dẫn và AI. Công ty FPT Semiconductor trong năm 2025 đã nhận đơn đặt hàng lên tới hàng trăm triệu USD từ đối tác từ Nhật Bản, Đài Loan và Hàn Quốc. Đồng thời, việc hợp tác với Nvidia để vận hành các nhà máy AI (AI Factory) trước đó cũng đã giúp FPT cung cấp hạ tầng tính toán siêu mạnh cho các doanh nghiệp trong nước, giải quyết bài toán chủ quyền dữ liệu và tối ưu hóa chi phí cho các doanh nghiệp nội địa khi muốn ứng dụng AI vào kinh doanh...

CHÍNH PHỦ “HÀNH ĐỘNG”

Có thể nói, những kết quả rực rỡ trong năm 2025 là thành quả của một sự chuyển dịch tư duy quản lý mang tính bước ngoặt, từ “cam kết” sang “hành động”, từ “văn bản” sang “thực chiến”.

Trong đó, một trong những điểm nhấn quan trọng là Quỹ Hỗ trợ đầu tư. Trong bối cảnh Thuế tối thiểu toàn cầu (GMT) được áp dụng, các biện pháp miễn giảm thuế truyền thống đã không còn là lợi thế cạnh tranh. Việt Nam đã nhanh chóng thay đổi “chiến thuật” thu hút FDI, thay vì giảm thuế, các chính sách đã hỗ trợ trực tiếp cho các hoạt động RD, đào tạo nhân lực và hạ tầng công nghệ cao cho các tập đoàn công nghệ. Đây là một bước đi “thực chiến” đúng nghĩa, giúp Việt Nam giữ chân các nhà đầu tư lớn và thu hút thêm các dự án tỷ USD.

Về mặt pháp lý, việc thông qua Luật Công nghệ cao (sửa đổi) và Luật Trí tuệ nhân tạo trong năm 2025 đã tạo ra một hành lang an toàn và minh bạch. Chính phủ đã cho phép thí điểm cơ chế  sandbox (khung quản lý thử nghiệm) tại Đà Nẵng và TP. Hồ Chí Minh, cho phép các doanh nghiệp thử nghiệm những công nghệ chưa có tiền lệ như xe tự hành, drone vận tải hay các mô hình tài chính số dựa trên Blockchain. Sự linh hoạt này đã tháo gỡ những nút thắt của các thủ tục hành chính cũ, giúp doanh nghiệp rút ngắn thời gian từ phòng thí nghiệm ra thị trường.

Bên cạnh đó, chiến lược đào tạo 50.000 kỹ sư bán dẫn không còn là một con số khẩu hiệu. Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng Bộ Kế hoạch và Đầu tư (nay là Bộ Tài chính) đã phối hợp chặt chẽ để triển khai các chương trình đào tạo chuyển đổi ngắn hạn, đưa sinh viên các ngành kỹ thuật sang học chuyên sâu về chip với sự tài trợ trực tiếp từ ngân sách và các tập đoàn FDI. Việc thành lập các trung tâm đào tạo bán dẫn dùng chung (shared facilities) tại Hà Nội, Đà Nẵng và TP. Hồ Chí Minh là minh chứng cho việc Chính phủ sẵn sàng đầu tư hạ tầng đắt đỏ để doanh nghiệp và nhà trường cùng khai thác.

Nút thắt về hạ tầng năng lượng - một vấn đề sống còn của ngành bán dẫn - cũng đã được Chính phủ xử lý quyết liệt bằng cách ưu tiên nguồn điện xanh và điện ổn định cho các khu công nghệ cao. Các dự án truyền tải điện trực tiếp đã được khơi thông, cho phép các nhà máy công nghệ cao được mua điện trực tiếp từ các nguồn tái tạo, đáp ứng tiêu chuẩn ESG (môi trường - xã hội - quản trị) khắt khe của quốc tế.

Vì vậy, bước sang năm 2026, Việt Nam được kỳ vọng sẽ tiếp tục tăng tốc trong phát triển các ngành công nghệ cao, công nghệ lõi như bán dẫn, AI… để từng bước đưa kinh tế số chiếm trên 25% GDP trong giai đoạn tới.

“Với sự đồng lòng của khu vực FDI, doanh nghiệp trong nước và Chính phủ “hành động”, ngành công nghệ lõi của Việt Nam đang đứng trước cơ hội ngàn năm có một để thực hiện giấc mơ trở thành cường quốc công nghệ trong tương lai”, Phó Thủ tướng Nguyễn Chí Dũng nhấn mạnh tại buổi làm việc với Mạng lưới Đổi mới sáng tạo Việt Nam và chuyên gia các ngành công nghệ chiến lược tại Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia (NIC) cuối tháng 11/2025.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8/2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-Ngân Hà

Categories: The Latest News

Việt Nam đang ở bước ngoặt để “vươn mình” sang chu kỳ phát triển mới

Thời Báo Kinh Tế - Wed, 02/18/2026 - 06:00
Trước thềm năm mới, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy đã có cuộc trao đổi với GS. Nguyễn Đức Khương, Chủ tịch Tổ chức Khoa học và Chuyên gia Việt Nam Toàn cầu (AVSE Global) để nhìn lại bức tranh kinh tế năm 2025 và đưa ra những khuyến nghị cho năm 2026 và những năm tới.

Thưa Giáo sư, năm 2025 là năm cuối của giai đoạn phát triển 2021-2025. Ông sẽ lựa chọn từ khóa nào để mô tả bức tranh kinh tế của năm nay?

Nếu phải dùng từ khóa để định hình, theo tôi, có ba từ khóa quan trọng.

Từ khóa đầu tiên là “phục hồi kinh tế sau đại dịch”. Giai đoạn 2021-2025 là giai đoạn chúng ta xử lý những tác động sâu sắc lên cấu trúc và mô hình kinh tế toàn cầu sau những ảnh hưởng nặng nề từ đại dịch Covid-19. Năm 2025 ghi nhận những nỗ lực phục hồi đi vào chiều sâu, thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo để tạo ra một nền tảng mới cho nền kinh tế.

Từ khóa thứ hai là “kiên cường”. Đây là “phẩm chất” mà nền kinh tế Việt Nam đã tôi luyện và xây dựng được trong suốt những năm khó khăn vừa qua. Khả năng chống chịu trước các cú sốc bên ngoài, từ đứt gãy chuỗi cung ứng đến lạm phát toàn cầu, đã trở thành một lợi thế cạnh tranh của chúng ta.

Từ khóa quan trọng nhất chính là “vươn mình trong biến động”. Chúng ta đang chuyển dịch mạnh mẽ từ một nền kinh tế thâm dụng lao động, tài nguyên và giá trị gia tăng thấp sang một giai đoạn mới mà ở đó, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đóng vai trò nền tảng cốt lõi cho mọi hoạt động kinh doanh và tăng trưởng chất lượng.

Năm 2025 là năm kết thúc của một giai đoạn phát triển 5 năm và mở đầu cho một chu kỳ mới. Ông đánh giá thế nào về vị thế của Việt Nam trong bức tranh kinh tế toàn cầu đầy biến động hiện nay?

Việt Nam đã có được một vị thế quốc tế tốt, tiếp tục là điểm sáng trong phát triển kinh tế, ngoại giao và có thế chủ động chiến lược trong các hợp tác đối tác. Ví dụ, khi thế giới gặp thách thức từ chính sách thuế quan mới của Mỹ xuất hiện, Việt Nam đã chủ động đàm phán với Mỹ, đồng thời đẩy mạnh chiến lược đa dạng hóa thị trường, biến áp lực từ chính sách thuế quan thành “cú hích vươn mình” để mở rộng sự hiện diện trên bản đồ thương mại quốc tế.

Quá trình đa dạng hóa đã giúp chúng ta khai phá những dư địa giàu tiềm năng từ nhiều thị trường, trong đó đáng chú ý là thị trường EU với kim ngạch xuất khẩu ước đạt 51,16 tỷ USD trong 11 tháng đầu năm 2025, tăng 7,9% so với cùng kỳ năm 2024. Tuy nằm trong “hành lang hẹp” giữa hai cường quốc – một bên là nguồn nhập khẩu nguyên liệu chính (Trung Quốc), một bên là thị trường xuất khẩu lớn nhất (Mỹ) – Việt Nam đã biến thách thức thành cơ hội, khi tổng kim ngạch xuất nhập khẩu lần đầu tiên cán mốc 930 tỷ USD. Đây là một con số không tưởng nếu nhìn lại những lo ngại hồi đầu năm về chính sách thuế quan bất lợi từ Mỹ.

Thành công này xuất phát từ hai yếu tố cốt lõi: thứ nhất, khả năng thích ứng linh hoạt của nền kinh tế; thứ hai, nền tảng vĩ mô ổn định được duy trì ở mức cao. Chính phủ đã triển khai đồng bộ các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, kiểm soát tốt lạm phát và khuyến khích hoạt động RD để đổi mới mô hình kinh doanh. Các cải cách về thể chế theo hướng thông thoáng đã tạo điều kiện cho khối doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là các các “sếu đầu đàn”, thực hiện những chuyển dịch chiến lược mạnh mẽ.

Bên cạnh thương mại, câu chuyện đầu tư công và hạ tầng cũng đang được nhắc đến như một luồng sinh khí mới cho tăng trưởng năm 2025. Ông nhìn nhận như thế nào về việc hàng loạt công trình trọng điểm được khởi công đồng loạt?

Trước hết, đây là một quyết sách thể hiện ý chí và quyết tâm chính trị rất lớn của nước ta. Để Việt Nam có thể thực sự “vươn mình” trong những thập kỷ tới, chúng ta cần một nền tảng hạ tầng vừa bền vững, vừa có khả năng kiến tạo những “dòng chảy” nguồn lực. Đó không chỉ là dòng chảy hàng hóa mà còn là sự dịch chuyển tối ưu các nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực con người. Việc kết nối thông suốt giữa các vùng, miền và giữa Việt Nam với thế giới chính là tiền đề then chốt để hội nhập sâu rộng, đồng thời giải quyết bài toán chi phí logistics – một trong những điểm nghẽn lớn của nền kinh tế hiện nay.

Với hạ tầng kết nối tốt, các nhà đầu tư quốc tế sẽ không còn nhìn nhận các “hub” (trung tâm) kinh tế của Việt Nam chỉ bó hẹp tại các đầu tàu truyền thống như Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh, Hải Phòng hay Đà Nẵng. Thay vào đó, dòng vốn và cơ hội sẽ lan tỏa đến mọi vùng miền trên cả nước, hình thành nên những mắt xích mới trong chuỗi giá trị nhờ sự kết nối hạ tầng.

Việc tối ưu hóa khả năng dịch chuyển nguồn lực không chỉ thu hút vốn ngoại mà còn mở ra cơ hội tăng trưởng cho những địa phương vốn bị hạn chế về năng lực tài chính và khả năng tiếp cận. Những siêu dự án như Sân bay Long Thành, Đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam, hay các tuyến đường sắt kết nối với những trung tâm kinh tế của Trung Quốc sẽ tạo nên bước ngoặt, nâng cao vai trò, vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.

Vậy, ông nhìn nhận như thế nào về những động lực tăng trưởng trong thời gian tới khi mục tiêu đặt ra là tăng trưởng hai con số?

Ở thời điểm hiện nay, tăng trưởng 7-8% đã thuộc nhóm những nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao nhất thế giới. Để đạt được mức tăng trưởng cao hơn, chúng ta chắc chắn cần phát huy những động lực mới. Trước hết đó là kỷ nguyên số, AI và tự động hóa. Không chỉ ở cấp quốc gia, mà nhiều doanh nghiệp đã chủ động dấn thân vào các lĩnh vực mới này.

Theo Cục thống kê, khu vực kinh tế số tăng trưởng 14,6% năm 2025, đạt trên 72 tỷ USD, và đóng góp hơn 14% vào GDP. Việt Nam đã có bước nhảy vọt trong việc đầu tư và ứng dụng kinh tế số. Khi được hỗ trợ bởi dữ liệu, hệ sinh thái kinh tế số sẽ có kỳ vọng phát triển hơn nữa. Quy hoạch lại không gian phát triển mới với những kết nối hạ tầng chiến lược và tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế, môi trường kinh doanh là hai động lực khác rất quan trọng để tạo sức đột phá cho nền kinh tế.

Điều cần chú ý là khoa học, công nghệ phải đóng vai trò trụ cột giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh bền vững, tạo đà để vừa phát huy các động lực truyền thống như xuất khẩu, đầu tư công, vừa khai phá những động lực mới.

Trong bối cảnh hiện nay, bên cạnh mục tiêu tăng trưởng hai con số để hướng tới tầm nhìn 2045 thì chúng ta phải quan tâm đến những vấn đề lớn gì khác, thưa ông?

Tôi tin rằng mục tiêu cao nhất của Việt Nam không chỉ là trở thành nước thu nhập cao, mà là kiến tạo hạnh phúc và thịnh vượng cho nhân dân. Trong quá trình chuyển từ thu nhập trung bình cao lên thu nhập cao, tăng trưởng phải đi kèm tính bao trùm, bảo đảm mọi người dân đều có cơ hội đóng góp và thụ hưởng thành quả phát triển. Các chỉ số tăng trưởng chỉ là công cụ; điều quan trọng là xây dựng một mô hình kinh tế cân bằng giữa chất lượng tăng trưởng và tiến bộ xã hội.

Khát vọng thịnh vượng đòi hỏi sự chuyển mình đồng bộ của cả hệ thống. Tăng trưởng bền vững không thể dựa vào một khu vực riêng lẻ; sự kết hợp giữa “bàn tay Nhà nước” và “động lực tư nhân” chỉ hiệu quả khi điểm nghẽn thể chế được tháo gỡ. Yêu cầu là tiếp tục tạo ra những cơ chế vận hành thông thoáng, kỷ luật cao, bảo đảm quyền lợi của các chủ thể kinh tế, đồng thời thúc đẩy sáng tạo và cạnh tranh bình đẳng. Thể chế cũng phải có tính “mở”, cho phép thử nghiệm, sáng tạo và cập nhật liên tục, nhất là trong những vấn đề mới.

Chìa khóa cũng nằm ở sự thúc đẩy liên kết giữa các ngành, các lĩnh vực để tăng tính toàn hoàn cho kinh tế, tiết kiệm nguồn lực và đẩy mạnh hàm lượng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo trong mô hình kinh doanh.

Theo ông, trong bối cảnh nguồn lực còn hạn chế, làm thế nào để Việt Nam tạo ra đột phá dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo?

Tôi cho rằng nguồn lực là rất quan trọng, nhưng chính những ràng buộc về nguồn lực mới là động lực mạnh mẽ nhất cho sự thay đổi đột phá. Lịch sử đã chứng minh, sức sáng tạo của chúng ta thường đạt đỉnh khi bị đặt vào những giới hạn. Từ tinh thần “vừa đánh vừa học hỏi kinh nghiệm” của quân đội ta trong những ngày đầu thành lập hay bài học của Trung Quốc từ “công xưởng thô sơ” vươn lên dẫn đầu về AI, viễn thông và vũ trụ đều cho thấy: khi không có nguồn lực vô hạn, chúng ta buộc phải tìm con đường riêng, thông minh hơn và hiệu quả hơn.

Việt Nam không nên đi theo lối mòn của thế giới, vốn đòi hỏi vốn đầu tư khổng lồ. Thay vào đó, trong giai đoạn nguồn lực chưa dồi dào, chúng ta cần tập trung đầu tư công vào các công nghệ chiến lược, đồng thời tìm cách kích hoạt tối đa năng lực sáng tạo nội sinh. Ý thức về giới hạn và khát vọng mục tiêu lớn là nền tảng tạo nên những đột phá đưa Việt Nam tăng trưởng bứt phá.

Để hiện thực hóa tầm nhìn đó, khu vực tư nhân cần những cơ chế gì để vươn tầm quốc tế (Go Global) và đóng góp sâu hơn vào chuỗi giá trị?

Bên cạnh các ưu đãi về thuế, RD và hỗ trợ mở rộng thị trường, nhất là đối với các doanh nghiệp trong những lĩnh vực ưu tiên, thì mấu chốt nằm ở mô hình hợp tác “Ba nhà” (Nhà nước - nhà trường - nhà doanh nghiệp). Nhà nước giữ vai trò kiến tạo với một thể chế mở và cơ chế Sandbox linh hoạt; nhà trường trở thành trung tâm tri thức và chuyển giao công nghệ; doanh nghiệp đóng vai trò ứng dụng và đổi mới để nâng cao năng suất và giá trị gia tăng, từ đó thu hẹp khoảng cách phát triển với thế giới.

Xây dựng một hệ sinh thái doanh nghiệp hoàn chỉnh la rất cần thiết. Trong đó, những doanh nghiệp dẫn dắt tạo điều kiện và không gian hợp tác với các doanh nghiệp vừa và nhỏ nội địa để cùng phát triển chuỗi giá trị. Khi đó chúng ta sẽ có một “bộ đỡ” kinh tế tư nhân thuần Việt vững mạnh, có khả năng tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu, giúp nền kinh tế đứng vững trước các cú sốc bên ngoài và duy trì đà tăng trưởng bền vững.

Trong bối cảnh kinh tế thế giới đầy biến động, làm thế nào để Việt Nam vừa hiện thực hóa tham vọng tăng trưởng hai con số, vừa đảm bảo được các mục tiêu định tính về sự ổn định trong năm 2026?

Việt Nam cần tiếp tục phát huy những nền tảng đã tạo dựng được để duy trì ổn định và tăng trưởng. Đầu tiên là dư địa tài khóa ở ngưỡng an toàn với nợ công ở mức thấp, cho phép Chính phủ linh hoạt hỗ trợ doanh nghiệp và người dân trước các cú sốc bất lợi. Tiếp đến là kiểm soát lạm phát hiệu quả giúp bảo vệ sức mua của người lao động, qua đó duy trì năng suất và chất lượng tăng trưởng. Việt Nam cũng giữ được sự tự chủ trong điều hành kinh tế vĩ mô, không bị cuốn theo các biến động chính sách của những nền kinh tế lớn, tạo ra môi trường ổn định hơn so với nhiều khu vực khác.

Bên cạnh đó, vị thế địa chính trị chiến lược giúp Việt Nam trở thành mắt xích quan trọng trong ổn định khu vực, đồng thời tận dụng lợi thế này để mở rộng hợp tác đa phương hài hoà cùng có lợi và củng cố vai trò trên trường quốc tế.

Chính những nền tảng trên đã tạo nên một “sức hút chiến lược”. Khi các tập đoàn đa quốc gia mở rộng ra thế giới, Việt Nam càng có nhiều cơ hội trở thành lựa chọn đầu tư hàng đầu trong khu vực. Điển hình là lĩnh vực chip và bán dẫn: việc các cường quốc và tập đoàn công nghệ chọn Việt Nam làm mắt xích an toàn của chuỗi cung ứng toàn cầu sẽ kéo theo sự dịch chuyển của nhiều doanh nghiệp vệ tinh.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-

Categories: The Latest News

Việt Nam đang ở bước ngoặt để “vươn mình” sang chu kỳ phát triển mới

Thời báo kinh tế Việt Nam - Wed, 02/18/2026 - 06:00
Trước thềm năm mới, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy đã có cuộc trao đổi với GS. Nguyễn Đức Khương, Chủ tịch Tổ chức Khoa học và Chuyên gia Việt Nam Toàn cầu (AVSE Global) để nhìn lại bức tranh kinh tế năm 2025 và đưa ra những khuyến nghị cho năm 2026 và những năm tới.

Thưa Giáo sư, năm 2025 là năm cuối của giai đoạn phát triển 2021-2025. Ông sẽ lựa chọn từ khóa nào để mô tả bức tranh kinh tế của năm nay?

Nếu phải dùng từ khóa để định hình, theo tôi, có ba từ khóa quan trọng.

Từ khóa đầu tiên là “phục hồi kinh tế sau đại dịch”. Giai đoạn 2021-2025 là giai đoạn chúng ta xử lý những tác động sâu sắc lên cấu trúc và mô hình kinh tế toàn cầu sau những ảnh hưởng nặng nề từ đại dịch Covid-19. Năm 2025 ghi nhận những nỗ lực phục hồi đi vào chiều sâu, thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo để tạo ra một nền tảng mới cho nền kinh tế.

Từ khóa thứ hai là “kiên cường”. Đây là “phẩm chất” mà nền kinh tế Việt Nam đã tôi luyện và xây dựng được trong suốt những năm khó khăn vừa qua. Khả năng chống chịu trước các cú sốc bên ngoài, từ đứt gãy chuỗi cung ứng đến lạm phát toàn cầu, đã trở thành một lợi thế cạnh tranh của chúng ta.

Từ khóa quan trọng nhất chính là “vươn mình trong biến động”. Chúng ta đang chuyển dịch mạnh mẽ từ một nền kinh tế thâm dụng lao động, tài nguyên và giá trị gia tăng thấp sang một giai đoạn mới mà ở đó, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đóng vai trò nền tảng cốt lõi cho mọi hoạt động kinh doanh và tăng trưởng chất lượng.

Năm 2025 là năm kết thúc của một giai đoạn phát triển 5 năm và mở đầu cho một chu kỳ mới. Ông đánh giá thế nào về vị thế của Việt Nam trong bức tranh kinh tế toàn cầu đầy biến động hiện nay?

Việt Nam đã có được một vị thế quốc tế tốt, tiếp tục là điểm sáng trong phát triển kinh tế, ngoại giao và có thế chủ động chiến lược trong các hợp tác đối tác. Ví dụ, khi thế giới gặp thách thức từ chính sách thuế quan mới của Mỹ xuất hiện, Việt Nam đã chủ động đàm phán với Mỹ, đồng thời đẩy mạnh chiến lược đa dạng hóa thị trường, biến áp lực từ chính sách thuế quan thành “cú hích vươn mình” để mở rộng sự hiện diện trên bản đồ thương mại quốc tế.

Quá trình đa dạng hóa đã giúp chúng ta khai phá những dư địa giàu tiềm năng từ nhiều thị trường, trong đó đáng chú ý là thị trường EU với kim ngạch xuất khẩu ước đạt 51,16 tỷ USD trong 11 tháng đầu năm 2025, tăng 7,9% so với cùng kỳ năm 2024. Tuy nằm trong “hành lang hẹp” giữa hai cường quốc – một bên là nguồn nhập khẩu nguyên liệu chính (Trung Quốc), một bên là thị trường xuất khẩu lớn nhất (Mỹ) – Việt Nam đã biến thách thức thành cơ hội, khi tổng kim ngạch xuất nhập khẩu lần đầu tiên cán mốc 930 tỷ USD. Đây là một con số không tưởng nếu nhìn lại những lo ngại hồi đầu năm về chính sách thuế quan bất lợi từ Mỹ.

Thành công này xuất phát từ hai yếu tố cốt lõi: thứ nhất, khả năng thích ứng linh hoạt của nền kinh tế; thứ hai, nền tảng vĩ mô ổn định được duy trì ở mức cao. Chính phủ đã triển khai đồng bộ các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, kiểm soát tốt lạm phát và khuyến khích hoạt động RD để đổi mới mô hình kinh doanh. Các cải cách về thể chế theo hướng thông thoáng đã tạo điều kiện cho khối doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là các các “sếu đầu đàn”, thực hiện những chuyển dịch chiến lược mạnh mẽ.

Bên cạnh thương mại, câu chuyện đầu tư công và hạ tầng cũng đang được nhắc đến như một luồng sinh khí mới cho tăng trưởng năm 2025. Ông nhìn nhận như thế nào về việc hàng loạt công trình trọng điểm được khởi công đồng loạt?

Trước hết, đây là một quyết sách thể hiện ý chí và quyết tâm chính trị rất lớn của nước ta. Để Việt Nam có thể thực sự “vươn mình” trong những thập kỷ tới, chúng ta cần một nền tảng hạ tầng vừa bền vững, vừa có khả năng kiến tạo những “dòng chảy” nguồn lực. Đó không chỉ là dòng chảy hàng hóa mà còn là sự dịch chuyển tối ưu các nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực con người. Việc kết nối thông suốt giữa các vùng, miền và giữa Việt Nam với thế giới chính là tiền đề then chốt để hội nhập sâu rộng, đồng thời giải quyết bài toán chi phí logistics – một trong những điểm nghẽn lớn của nền kinh tế hiện nay.

Với hạ tầng kết nối tốt, các nhà đầu tư quốc tế sẽ không còn nhìn nhận các “hub” (trung tâm) kinh tế của Việt Nam chỉ bó hẹp tại các đầu tàu truyền thống như Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh, Hải Phòng hay Đà Nẵng. Thay vào đó, dòng vốn và cơ hội sẽ lan tỏa đến mọi vùng miền trên cả nước, hình thành nên những mắt xích mới trong chuỗi giá trị nhờ sự kết nối hạ tầng.

Việc tối ưu hóa khả năng dịch chuyển nguồn lực không chỉ thu hút vốn ngoại mà còn mở ra cơ hội tăng trưởng cho những địa phương vốn bị hạn chế về năng lực tài chính và khả năng tiếp cận. Những siêu dự án như Sân bay Long Thành, Đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam, hay các tuyến đường sắt kết nối với những trung tâm kinh tế của Trung Quốc sẽ tạo nên bước ngoặt, nâng cao vai trò, vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.

Vậy, ông nhìn nhận như thế nào về những động lực tăng trưởng trong thời gian tới khi mục tiêu đặt ra là tăng trưởng hai con số?

Ở thời điểm hiện nay, tăng trưởng 7-8% đã thuộc nhóm những nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao nhất thế giới. Để đạt được mức tăng trưởng cao hơn, chúng ta chắc chắn cần phát huy những động lực mới. Trước hết đó là kỷ nguyên số, AI và tự động hóa. Không chỉ ở cấp quốc gia, mà nhiều doanh nghiệp đã chủ động dấn thân vào các lĩnh vực mới này.

Theo Cục thống kê, khu vực kinh tế số tăng trưởng 14,6% năm 2025, đạt trên 72 tỷ USD, và đóng góp hơn 14% vào GDP. Việt Nam đã có bước nhảy vọt trong việc đầu tư và ứng dụng kinh tế số. Khi được hỗ trợ bởi dữ liệu, hệ sinh thái kinh tế số sẽ có kỳ vọng phát triển hơn nữa. Quy hoạch lại không gian phát triển mới với những kết nối hạ tầng chiến lược và tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế, môi trường kinh doanh là hai động lực khác rất quan trọng để tạo sức đột phá cho nền kinh tế.

Điều cần chú ý là khoa học, công nghệ phải đóng vai trò trụ cột giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh bền vững, tạo đà để vừa phát huy các động lực truyền thống như xuất khẩu, đầu tư công, vừa khai phá những động lực mới.

Trong bối cảnh hiện nay, bên cạnh mục tiêu tăng trưởng hai con số để hướng tới tầm nhìn 2045 thì chúng ta phải quan tâm đến những vấn đề lớn gì khác, thưa ông?

Tôi tin rằng mục tiêu cao nhất của Việt Nam không chỉ là trở thành nước thu nhập cao, mà là kiến tạo hạnh phúc và thịnh vượng cho nhân dân. Trong quá trình chuyển từ thu nhập trung bình cao lên thu nhập cao, tăng trưởng phải đi kèm tính bao trùm, bảo đảm mọi người dân đều có cơ hội đóng góp và thụ hưởng thành quả phát triển. Các chỉ số tăng trưởng chỉ là công cụ; điều quan trọng là xây dựng một mô hình kinh tế cân bằng giữa chất lượng tăng trưởng và tiến bộ xã hội.

Khát vọng thịnh vượng đòi hỏi sự chuyển mình đồng bộ của cả hệ thống. Tăng trưởng bền vững không thể dựa vào một khu vực riêng lẻ; sự kết hợp giữa “bàn tay Nhà nước” và “động lực tư nhân” chỉ hiệu quả khi điểm nghẽn thể chế được tháo gỡ. Yêu cầu là tiếp tục tạo ra những cơ chế vận hành thông thoáng, kỷ luật cao, bảo đảm quyền lợi của các chủ thể kinh tế, đồng thời thúc đẩy sáng tạo và cạnh tranh bình đẳng. Thể chế cũng phải có tính “mở”, cho phép thử nghiệm, sáng tạo và cập nhật liên tục, nhất là trong những vấn đề mới.

Chìa khóa cũng nằm ở sự thúc đẩy liên kết giữa các ngành, các lĩnh vực để tăng tính toàn hoàn cho kinh tế, tiết kiệm nguồn lực và đẩy mạnh hàm lượng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo trong mô hình kinh doanh.

Theo ông, trong bối cảnh nguồn lực còn hạn chế, làm thế nào để Việt Nam tạo ra đột phá dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo?

Tôi cho rằng nguồn lực là rất quan trọng, nhưng chính những ràng buộc về nguồn lực mới là động lực mạnh mẽ nhất cho sự thay đổi đột phá. Lịch sử đã chứng minh, sức sáng tạo của chúng ta thường đạt đỉnh khi bị đặt vào những giới hạn. Từ tinh thần “vừa đánh vừa học hỏi kinh nghiệm” của quân đội ta trong những ngày đầu thành lập hay bài học của Trung Quốc từ “công xưởng thô sơ” vươn lên dẫn đầu về AI, viễn thông và vũ trụ đều cho thấy: khi không có nguồn lực vô hạn, chúng ta buộc phải tìm con đường riêng, thông minh hơn và hiệu quả hơn.

Việt Nam không nên đi theo lối mòn của thế giới, vốn đòi hỏi vốn đầu tư khổng lồ. Thay vào đó, trong giai đoạn nguồn lực chưa dồi dào, chúng ta cần tập trung đầu tư công vào các công nghệ chiến lược, đồng thời tìm cách kích hoạt tối đa năng lực sáng tạo nội sinh. Ý thức về giới hạn và khát vọng mục tiêu lớn là nền tảng tạo nên những đột phá đưa Việt Nam tăng trưởng bứt phá.

Để hiện thực hóa tầm nhìn đó, khu vực tư nhân cần những cơ chế gì để vươn tầm quốc tế (Go Global) và đóng góp sâu hơn vào chuỗi giá trị?

Bên cạnh các ưu đãi về thuế, RD và hỗ trợ mở rộng thị trường, nhất là đối với các doanh nghiệp trong những lĩnh vực ưu tiên, thì mấu chốt nằm ở mô hình hợp tác “Ba nhà” (Nhà nước - nhà trường - nhà doanh nghiệp). Nhà nước giữ vai trò kiến tạo với một thể chế mở và cơ chế Sandbox linh hoạt; nhà trường trở thành trung tâm tri thức và chuyển giao công nghệ; doanh nghiệp đóng vai trò ứng dụng và đổi mới để nâng cao năng suất và giá trị gia tăng, từ đó thu hẹp khoảng cách phát triển với thế giới.

Xây dựng một hệ sinh thái doanh nghiệp hoàn chỉnh la rất cần thiết. Trong đó, những doanh nghiệp dẫn dắt tạo điều kiện và không gian hợp tác với các doanh nghiệp vừa và nhỏ nội địa để cùng phát triển chuỗi giá trị. Khi đó chúng ta sẽ có một “bộ đỡ” kinh tế tư nhân thuần Việt vững mạnh, có khả năng tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu, giúp nền kinh tế đứng vững trước các cú sốc bên ngoài và duy trì đà tăng trưởng bền vững.

Trong bối cảnh kinh tế thế giới đầy biến động, làm thế nào để Việt Nam vừa hiện thực hóa tham vọng tăng trưởng hai con số, vừa đảm bảo được các mục tiêu định tính về sự ổn định trong năm 2026?

Việt Nam cần tiếp tục phát huy những nền tảng đã tạo dựng được để duy trì ổn định và tăng trưởng. Đầu tiên là dư địa tài khóa ở ngưỡng an toàn với nợ công ở mức thấp, cho phép Chính phủ linh hoạt hỗ trợ doanh nghiệp và người dân trước các cú sốc bất lợi. Tiếp đến là kiểm soát lạm phát hiệu quả giúp bảo vệ sức mua của người lao động, qua đó duy trì năng suất và chất lượng tăng trưởng. Việt Nam cũng giữ được sự tự chủ trong điều hành kinh tế vĩ mô, không bị cuốn theo các biến động chính sách của những nền kinh tế lớn, tạo ra môi trường ổn định hơn so với nhiều khu vực khác.

Bên cạnh đó, vị thế địa chính trị chiến lược giúp Việt Nam trở thành mắt xích quan trọng trong ổn định khu vực, đồng thời tận dụng lợi thế này để mở rộng hợp tác đa phương hài hoà cùng có lợi và củng cố vai trò trên trường quốc tế.

Chính những nền tảng trên đã tạo nên một “sức hút chiến lược”. Khi các tập đoàn đa quốc gia mở rộng ra thế giới, Việt Nam càng có nhiều cơ hội trở thành lựa chọn đầu tư hàng đầu trong khu vực. Điển hình là lĩnh vực chip và bán dẫn: việc các cường quốc và tập đoàn công nghệ chọn Việt Nam làm mắt xích an toàn của chuỗi cung ứng toàn cầu sẽ kéo theo sự dịch chuyển của nhiều doanh nghiệp vệ tinh.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-

Categories: The Latest News

Quảng Ninh đón 5 du thuyền quốc tế dịp Tết Bính Ngọ 2026

Thời báo kinh tế Việt Nam - Tue, 02/17/2026 - 18:23
Sau khi đón 2 du thuyền chở gần 2.400 du khách quốc tế vào ngày mùng 1 Tết, Quảng Ninh sẽ tiếp tục đón 3 du thuyền quốc tế vào các ngày mùng 3, mùng 4 và mùng 8 Tết Bính Ngọ 2026.

Sáng 17/2 (mùng 1 Tết Bính Ngọ), Cảng tàu khách quốc tế Hạ Long (Quảng Ninh) đã đón 2 du thuyền hạng sang chở theo gần 2.400 du khách quốc tế tham quan mở đầu cho chuỗi hoạt động đón 5 du thuyền quốc tế tham quan vùng di sản trong những ngày đầu xuân mới Bính Ngọ 2026.

2 du thuyền quốc tế cập Cảng tàu khách quốc tế Hạ Long.

Du thuyền Seabourn Encore chở theo 571 du khách châu Âu và du thuyền Piano Land chở khoảng 1793 du khách chủ yếu đến từ Hồng Kông (Trung Quốc) đã cập cảng tàu khách quốc tế Hạ Long trong không khí hân hoan ngày đầu năm mới.

Đại diện lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh, Sở Văn hoá – Thể thao và Du lịch, Cảng tàu khách quốc tế Hạ Long và cơ quan chức năng đã chào đón du khách quốc tế xông đất đầu năm với các nghi lễ truyền thống của Việt Nam như trống hội, múa lân, tặng hoa, lì xì cho du khách.

Du khách quốc tế rời tàu bắt đầu chuyến tham quan di sản vịnh Hạ Long.

Bà Maria Thompson, du khách người Anh, đến từ du thuyền Seabourn Encore, cho biết bà rất bất ngờ trước sự đón tiếp nồng hậu từ địa phương. “Tôi rất ấn tượng với nghi thức tết cổ truyền của Việt Nam. Đây chính khởi đầu tuyệt vời trên hành trình khám phá vịnh di sản”, bà Maria Thompson nói.

Ông Lý Kiến Hoa, du khách Trung Quốc đến từ tàu Piano Land, đánh giá cao sự chuyên nghiệp, hiếu khách của Việt Nam. “Chất lượng dịch vụ du lịch Việt Nam ngày càng tiệm cận chuẩn mực quốc tế, tạo ấn tượng tốt đẹp đối với chúng tôi”, ông Lý Kiến Hoa nói.

Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh Bùi Văn Khắng lì xì du khách quốc tế.

Sau lễ đón, du khách sẽ có lịch trình tham quan Di sản Thiên nhiên Thế giới Vịnh Hạ Long với chương trình city tour khám phá văn hóa, ẩm thực, nhịp sống địa phương. Công tác nhập cảnh, an ninh và điều phối tour được triển khai đồng bộ, nhanh chóng, bảo đảm an toàn, thuận tiện.

Du khách quốc tế nhận quà lưu niệm tại Cảng tàu khách quốc tế Hạ Long.

Sau 2 du thuyền Seabourn Encore và Piano Land, tới đây, trong các ngày 19/2 (mùng 3 Tết), 20/2 (mùng 4 Tết) và 24/2 (mùng 8 Tết), Cảng tàu khách quốc tế Hạ Long sẽ tiếp tục đón các du thuyền Le Jacques Cartier (quốc tịch Pháp), Adora Mediterranea (quốc tịch Bahamas) và Silver Nova (quốc tịch Bahamas).

Du khách quốc tế chụp ảnh lưu niệm tại Cảng tàu khách quốc tế Hạ Long. Du khách rời cảng đi tham quan di sản vịnh Hạ Long.

Sự kiện Cảng tàu khách quốc tế Hạ Long liên tiếp đón 5 siêu du thuyền trong dịp tết Nguyên đán cho thấy Quảng Ninh đang trở thành điểm đến ưa thích trên hải trình của nhiều hãng tàu quốc tế.

Dự kiến trong năm 2026, Cảng tàu khách quốc tế Hạ Long sẽ đón khoảng 88 chuyến tàu biển với khoảng 150.000 lượt khách đến từ các thị trường trọng điểm như Mỹ, Đức, Anh, Canada, Trung Quốc và nhiều quốc gia châu Âu.

-Mai Hoàng

Categories: The Latest News

Nhà mạng nào đang dẫn đầu tốc độ mạng di động 5G?

Thời báo kinh tế Việt Nam - Tue, 02/17/2026 - 18:21
Viettel tiếp tục dẫn đầu về tốc độ mạng di động 5G trong tháng 1/2026. Đứng thứ hai, VNPT duy trì chất lượng 5G ổn định trong nhiều tháng qua...

Ghi nhận từ nền tảng đo tốc độ i-Speed của Trung tâm Internet Việt Nam (VNNIC, Bộ Khoa học và Công nghệ), trong tháng 1/2026, chất lượng mạng 5G trên phạm vi toàn quốc tiếp tục cải thiện rõ rệt.

Cụ thể, tốc độ tải xuống (download) trung bình của 5G toàn quốc đạt 594,81 Mbps, nhanh hơn 52% so tốc độ tải xuống 391,05 Mbps của tháng 12/2025. Đáng chú ý, tốc độ tải lên (upload) đạt 123,71 Mbps, nhanh hơn 29,5% so với tốc độ 95,47 Mbps được ghi nhận trong tháng trước.

Xét theo từng nhà mạng, Viettel tiếp tục dẫn đầu về tốc độ mạng di động 5G trong tháng 1/2026. Tốc độ tải xuống trong tháng vừa qua của nhà mạng này là 616,99 Mbps, cải thiện 53,2% so với tốc độ 402,61 Mbps của tháng 12/2025. Tốc độ tải lên mạng di động 5G của Viettel cũng tăng từ 98,4 Mbps lên 127,09 Mbps, củng cố vị trí dẫn đầu của nhà mạng này.

Đứng thứ hai là VNPT với tốc độ tải xuống đạt 311,11 Mbps và tải lên 52,7 Mbps. Đây cũng là nhà mạng duy trì chất lượng 5G ổn định nhất, ít biến động trong khoảng 8 tháng qua.

MobiFone đứng thứ ba với tốc độ tải xuống 5G đạt 187,57 Mbps và tải lên 35,33 Mbps. So với mức đỉnh ghi nhận vào tháng 11/2025, tốc độ hiện tại đã giảm khoảng 57%. 

Ở cấp độ địa phương, trong nhóm các đô thị lớn gồm Hà Nội, Hải Phòng, TP. Hồ Chí Minh, Cần Thơ và Đà Nẵng, Đà Nẵng tiếp tục giữ vị trí dẫn đầu về tốc độ 5G với mức tải xuống đạt 677,23 Mbps. Xếp sau là TP. Hồ Chí Minh và Cần Thơ – hai địa phương ghi nhận mức tăng trưởng bứt phá trong tháng. Cụ thể, TP. Hồ Chí Minh đạt 632,02 Mbps, tăng 86% so với tháng trước; trong khi Cần Thơ đạt 595,88 Mbps, tăng 83,9%. 

Tính chung mạng di động (bao gồm cả 4G và 5G), chất lượng toàn quốc trong tháng 1/2026 duy trì ổn định. Tốc độ tải xuống trung bình đạt 90,05 Mbps, trong khi tốc độ tải lên đạt 29,77 Mbps.

Thứ hạng giữa các nhà mạng gần như không thay đổi. Viettel tiếp tục dẫn đầu với tốc độ tải xuống trung bình 111,18 Mbps và tải lên 31,66 Mbps. VNPT đứng thứ hai với 73,33 Mbps (tải xuống) và 28,82 Mbps (tải lên). MobiFone xếp thứ ba với 55,42 Mbps và 23,64 Mbps. Vietnamobile tiếp tục đứng cuối bảng, với tốc độ tải xuống 11,09 Mbps và tải lên 4,74 Mbps.

Ở góc độ địa phương, chất lượng mạng di động tại Hải Phòng giảm mạnh, khi tốc độ tải xuống từ 221,19 Mbps trong tháng 12/2025 xuống còn 105,36 Mbps trong tháng 1/2026. Cần Thơ và Đà Nẵng cũng ghi nhận mức sụt giảm. Ngược lại, TP. Hồ Chí Minh và Hà Nội lại cải thiện tốc độ so với tháng trước đó.

Đối với mạng băng rộng cố định, chất lượng dịch vụ trên toàn quốc trong tháng 1/2026 duy trì ổn định. Tốc độ tải xuống trung bình đạt 256,86 Mbps, còn tải lên đạt 170,28 Mbps.

Tại các đô thị lớn gồm Hà Nội, Hải Phòng, TP. Hồ Chí Minh, Cần Thơ và Đà Nẵng, chất lượng mạng cố định nhìn chung được duy trì đồng đều. Hà Nội tiếp tục là địa phương dẫn đầu về tốc độ mạng cố định kể từ tháng 6/2025, với tốc độ tải xuống đạt 337,31 Mbps.

Về xếp hạng nhà cung cấp dịch vụ băng rộng cố định, Viettel giữ vị trí số một với tốc độ tải xuống 300,96 Mbps và tải lên 229,53 Mbps.

Nhờ tốc độ mạng tăng trưởng mạnh trong tháng qua, CMC Telecom đã vươn lên vị trí thứ hai về chất lượng mạng băng rộng cố định. Cụ thể, tốc độ tải xuống tăng từ 229,31 Mbps lên 268,61 Mbps, tương đương mức tăng khoảng 17,1%. Đáng chú ý hơn, tốc độ tải lên tăng từ 80,85 Mbps lên 109,41 Mbps, tức tăng khoảng 35,3%.

VNPT xếp thứ ba với tốc độ tải xuống 250,6 Mbps và tải lên 167,42 Mbps. Theo sau là FPT Telecom với 172,6 Mbps (tải xuống) và 104,53 Mbps (tải lên). Ở các vị trí tiếp theo, SCTV đạt 95,11 Mbps và 32,92 Mbps, trong khi NETNAM ghi nhận 68,22 Mbps (tải xuống) và 70,54 Mbps (tải lên).

-Ngô Huyền

Categories: The Latest News

Tết Trung Quốc trong kỷ nguyên công nghệ: khi lễ hội trở thành ngành công nghiệp sáng tạo

Thời báo kinh tế Việt Nam - Tue, 02/17/2026 - 18:18
Tết Nguyên đán 2026 tại Trung Quốc không chỉ là dịp đoàn viên mà còn trở thành “phòng thí nghiệm” công nghệ, với drone, robot và AI tham gia lễ hội. Sự kết hợp giữa văn hóa truyền thống và đổi mới đang biến Tết thành công cụ kinh tế sáng tạo và quyền lực mềm của Bắc Kinh.

Theo Nhật Báo Trung Quốc (China Daily), tại Thuần An, một huyện cổ ở tỉnh Chiết Giang, những vũ công dân gian vẫn mang theo khung tre mô phỏng hình ngựa, nhảy múa theo nhịp trống truyền thống.

Trong khi đó, cách hàng nghìn km về phía nam, bầu trời Thâm Quyến được “vẽ” bởi hàng nghìn máy bay không người lái tạo hình đàn ngựa phi nước đại với độ chính xác tính bằng milimet.

Hai lát cắt này cho thấy một Trung Quốc đang tìm cách kết nối quá khứ nông nghiệp với tương lai số hóa thông qua lễ hội quan trọng nhất trong năm.

DI SẢN VĂN HÓA TRONG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN MỚI

Múa ngựa tre ở huyện Thuần An là một ví dụ điển hình của nghệ thuật dân gian có lịch sử nhiều thế kỷ. Hình ảnh con ngựa gắn liền với các cộng đồng nông nghiệp, nơi ngựa từng là phương tiện vận chuyển và biểu tượng của sức lao động. Trong hệ thống biểu tượng văn hóa Á Đông, ngựa đại diện cho sự bền bỉ, năng động và tinh thần tiên phong - những phẩm chất thường được nhấn mạnh trong các thông điệp phát triển quốc gia.

Điều đáng chú ý là cách Trung Quốc tiếp cận bảo tồn di sản. Thay vì giữ nguyên hình thức biểu diễn mang tính “bảo tàng sống”, các hoạt động dân gian được mở rộng quy mô, kết hợp vũ đạo hiện đại và huy động cộng đồng tham gia rộng rãi. Đây là mô hình “bảo tồn động”, trong đó di sản trở thành sản phẩm văn hóa phục vụ du lịch và giáo dục cộng đồng.

Việc công nhận múa ngựa tre là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia không chỉ mang ý nghĩa bảo tồn mà còn tạo cơ sở pháp lý để đầu tư công, phát triển sản phẩm du lịch và thúc đẩy kinh tế địa phương. Với hàng trăm buổi biểu diễn trong mùa lễ hội, các địa phương có thể thu hút dòng khách du lịch nội địa vốn đang tăng mạnh trong kỳ nghỉ Tết.

CÔNG NGHỆ TÁI ĐỊNH NGHĨA TRẢI NGHIỆM LỄ HỘI

Nếu di sản dân gian đại diện cho “truyền thống hữu hình”, thì trình diễn drone tại Thâm Quyến thể hiện rõ nét chiến lược chuyển dịch sang công nghệ xanh và công nghiệp sáng tạo. Thay vì pháo hoa gây ô nhiễm và tiếng ồn, hàng nghìn drone được điều khiển bằng thuật toán đã biến bầu trời thành một không gian trình diễn kỹ thuật số.

Từ góc độ công nghệ, các màn trình diễn này là bài toán phức tạp về điều khiển đồng bộ, định vị chính xác và xử lý dữ liệu thời gian thực. Các doanh nghiệp Trung Quốc đang sử dụng lễ hội như một “sân khấu” để trình diễn năng lực công nghệ, đồng thời quảng bá các giải pháp điều khiển bay, phần mềm dựng hình 3D và hệ thống điều phối không người lái.

Đối với khán giả, trải nghiệm lễ hội đã chuyển từ thụ động sang tương tác. Các nội dung trình diễn được thiết kế để dễ dàng ghi lại bằng smartphone và lan truyền trên mạng xã hội, biến người xem thành một phần của hệ sinh thái truyền thông. Điều này phù hợp với chiến lược “nền kinh tế chú ý”, nơi giá trị được tạo ra từ lượt xem, chia sẻ và dữ liệu người dùng.

Bên cạnh drone, trí tuệ nhân tạo và robot đang dần tham gia vào các hoạt động Tết. Từ robot xuất hiện trên sân khấu gala truyền hình, đến cánh tay robot phục vụ đồ uống tại hội chợ đền chùa, công nghệ đang tái định nghĩa cách con người trải nghiệm lễ hội và tạo ra nhu cầu mới cho phần cứng robot, phần mềm AI và nội dung số.

LỄ HỘI, QUYỀN LỰC MỀM VÀ KINH TẾ SÁNG TẠO

Không chỉ phục vụ thị trường nội địa, các doanh nghiệp Trung Quốc đang đưa mô hình trình diễn công nghệ ra thế giới, trở thành một dạng “xuất khẩu dịch vụ sáng tạo”. Đây là lĩnh vực nằm trong chuỗi giá trị mới, kết hợp phần cứng, phần mềm, nội dung sáng tạo và dịch vụ tổ chức sự kiện.

Ở góc độ chính sách, Trung Quốc đang coi văn hóa và công nghệ là hai trụ cột của nền kinh tế dịch vụ. Các sự kiện lễ hội công nghệ cao vừa phục vụ tiêu dùng trong nước, vừa tạo hình ảnh về một quốc gia đổi mới và thân thiện môi trường.

Tết Nguyên đán cũng trở thành công cụ quyền lực mềm trong kỷ nguyên số. Các hình ảnh lễ hội công nghệ cao được lan truyền toàn cầu, góp phần xây dựng câu chuyện quốc gia về đổi mới sáng tạo.

Đồng thời, lễ hội ánh sáng, trình diễn drone và sự kiện văn hóa về đêm đang được tích hợp vào chiến lược phát triển kinh tế ban đêm và đô thị thông minh, thúc đẩy du lịch, bán lẻ và dịch vụ.

Tuy nhiên, việc công nghệ hóa lễ hội cũng đặt ra thách thức về bảo tồn bản sắc khi các hoạt động dân gian có nguy cơ bị “làm nền”. Các nhà nghiên cứu văn hóa cho rằng chìa khóa nằm ở sự cân bằng: công nghệ là công cụ, còn bản sắc văn hóa phải là lõi nội dung.

Tết Nguyên đán 2026 cho thấy Trung Quốc đang biến lễ hội thành một nền tảng đa chức năng: bảo tồn văn hóa, thử nghiệm công nghệ, thúc đẩy tiêu dùng và quảng bá quốc gia. Sự kết hợp giữa múa dân gian hàng thế kỷ và trình diễn công nghệ cao phản ánh chiến lược phát triển dựa trên sáng tạo và công nghệ.

Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu chuyển dịch sang dịch vụ và nội dung số, lễ hội không còn chỉ là truyền thống mà đang trở thành một phần của nền kinh tế sáng tạo. Với biểu tượng con ngựa của tốc độ và tiến lên, Trung Quốc đang sử dụng chính Tết Nguyên đán như một động cơ văn hóa - công nghệ để bước vào kỷ nguyên AI.

China Daily-Trọng Hoàng

Categories: The Latest News

Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản lập kỷ lục tạo đà bứt phá năm 2026

Thời báo kinh tế Việt Nam - Tue, 02/17/2026 - 18:16
Năm 2025, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt kỷ lục hơn 70 tỷ USD, trong đó nổi bật là sự bứt phá của rau quả và cà phê. Bước sang năm 2026, với đà phục hồi mạnh mẽ, riêng kim ngạch rau quả dự báo có thể đạt 10 tỷ USD, tiếp tục khẳng định vị thế nông sản Việt trên thị trường quốc tế.

Năm 2025 đã chứng kiến một bước ngoặt quan trọng trong lĩnh vực xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam khi kim ngạch đạt mức kỷ lục hơn 70 tỷ USD. Đây không chỉ là một con số ấn tượng mà còn là minh chứng cho sự phát triển mạnh mẽ và bền vững của ngành nông nghiệp nước ta.

Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đang dần phục hồi sau đại dịch, thành tựu này không chỉ khẳng định vị thế của nông sản Việt trên thị trường quốc tế mà còn mở ra những triển vọng mới cho năm 2026.

Theo số liệu từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản năm 2025 đạt 70,09 tỷ USD, tăng 12% so với năm 2024 và vượt xa mục tiêu 65 tỷ USD đã đề ra.

Đáng chú ý, xuất siêu toàn ngành đạt khoảng 20,7 tỷ USD, tăng 16,8% so với năm trước. Trong cơ cấu xuất khẩu, nhóm nông sản tiếp tục giữ vai trò chủ lực với 37,25 tỷ USD, tăng gần 14%. Lâm sản và thủy sản cũng ghi nhận những con số ấn tượng với kim ngạch lần lượt đạt 18,5 tỷ USD và 11,32 tỷ USD.

Đặc biệt, sản phẩm chăn nuôi và đầu vào sản xuất cũng có sự tăng trưởng đáng kể, cho thấy sự đa dạng và phong phú của ngành nông nghiệp Việt Nam.

Một trong những điểm sáng nổi bật trong bức tranh xuất khẩu nông sản năm qua chính là sự bứt phá của rau quả và cà phê. Lần đầu tiên, hai mặt hàng này vượt ngưỡng 8 tỷ USD, cho thấy sự chuyển dịch sang giá trị cao và khả năng thích ứng linh hoạt trước biến động toàn cầu.

Cụ thể, xuất khẩu cà phê đạt 8,57 tỷ USD, tăng 52% về trị giá so với năm 2024, nhờ giá cà phê xuất khẩu duy trì ở mức cao kỷ lục. Tương tự, xuất khẩu rau quả cũng đạt kỷ lục 8,6 tỷ USD, tăng gần 20%, với động lực chính đến từ các loại trái cây chủ lực như sầu riêng, chuối, xoài, mít, dừa và bưởi.

Thị trường xuất khẩu nông sản của Việt Nam cũng có sự mở rộng đáng kể. Châu Á vẫn là khu vực tiêu thụ lớn nhất với 45,2% thị phần, tiếp theo là châu Mỹ và châu Âu. Đặc biệt, xuất khẩu sang châu Âu tăng mạnh nhất với 34,2%, cho thấy tiềm năng lớn của thị trường này.

Trung Quốc tiếp tục là thị trường lớn nhất của rau quả Việt Nam, chiếm khoảng 64% tổng kim ngạch xuất khẩu. Mặc dù đầu năm 2025, xuất khẩu sang thị trường này gặp khó khăn do vấn đề kiểm soát dư lượng, nhưng nhờ các nghị định thư mới được ký kết, xuất khẩu đã phục hồi nhanh chóng.

Bên cạnh những thành công, ngành nông nghiệp Việt Nam cũng đối mặt với một số thách thức. Xuất khẩu gạo và cao su đều giảm, cho thấy sự cần thiết phải đa dạng hóa sản phẩm và thị trường.

Tuy nhiên, với nền tảng tích cực của năm 2025, ngành nông nghiệp Việt Nam được kỳ vọng sẽ tiếp tục phát triển bền vững và đóng góp lớn hơn cho tăng trưởng kinh tế quốc gia.

Nhìn về tương lai, năm 2026 hứa hẹn sẽ là một năm đầy triển vọng cho xuất khẩu nông, lâm, thủy sản Việt Nam. Với đà phục hồi mạnh mẽ, kim ngạch xuất khẩu rau quả dự báo có thể đạt 10 tỷ USD, tiếp tục khẳng định vị thế của nông sản Việt trên thị trường quốc tế.

Ngành lâm nghiệp cũng đặt mục tiêu xuất khẩu khoảng 18,5 tỷ USD, đồng thời đẩy mạnh phát triển rừng gỗ lớn và ứng dụng khoa học – công nghệ. Trong khi đó, ngành thủy sản, dù đối mặt với nhiều thách thức, vẫn ghi nhận kết quả tích cực và được kỳ vọng sẽ duy trì đà tăng trưởng trong năm tới.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên ấn phẩm đặc biệt Tạp chí Kinh tế Việt Nam mừng xuân Bính Ngọ phát hành ngày 16/2 - 1/3/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:

https://vneconomy.vn/don-doc-an-pham-dac-biet-cua-tap-chi-kinh-te-viet-nam-mung-xuan-binh-ngo-2026.htm

-Chu Minh Khôi

Categories: The Latest News

Hình tượng ngựa trong dòng chảy lịch sử

Thời báo kinh tế Việt Nam - Tue, 02/17/2026 - 17:46
Trong dòng chảy văn hóa Việt Nam, hiếm có con vật nào vừa gần gũi với đời sống thường nhật, vừa mang nhiều tầng ý nghĩa tâm linh như ngựa. Ngựa xuất hiện trong truyền thuyết, tín ngưỡng, lễ nghi; ngựa trong thành ngữ, ca dao; ngựa đi cùng lịch sử mở đất, giữ nước và cả những sinh hoạt đời thường của người dân khắp mọi miền.

Hình tượng ngựa trong văn hóa Việt Nam không chỉ là một biểu tượng quen thuộc trong đời sống thường nhật mà còn mang nhiều tầng ý nghĩa tâm linh sâu sắc. Ngựa xuất hiện trong truyền thuyết, tín ngưỡng, lễ nghi và cả trong thành ngữ, ca dao, gắn liền với lịch sử mở đất, giữ nước của dân tộc. Trong tín ngưỡng dân gian, ngựa được xem là linh vật trung gian giữa con người và thế giới thần thiêng, biểu tượng cho sự trung thành, bền bỉ và khát vọng vươn xa. Hình ảnh ngựa sắt phun lửa của Thánh Gióng là minh chứng rõ nét cho sức mạnh siêu nhiên và tinh thần quật khởi của cộng đồng.

Ngựa không chỉ hiện diện trong đời sống tâm linh mà còn gắn bó mật thiết với nhịp sống nông nghiệp và xã hội tiền hiện đại. Khi giao thông đường bộ còn khó khăn, ngựa là phương tiện quan trọng để vận chuyển hàng hóa, đi lại, truyền tin. Từ vai trò thực tiễn ấy, ngựa dần được “thiêng hóa”, bước vào thế giới biểu tượng, thể hiện qua các câu thành ngữ, tục ngữ như “mã đáo thành công”, “ngựa quen đường cũ”. Những câu này không chỉ phản ánh kinh nghiệm sống mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh, khát vọng chinh phục và khả năng làm chủ chính mình.

Trong bối cảnh hiện đại, dù ngựa không còn giữ vai trò thiết yếu trong đời sống thường nhật, hình ảnh ngựa vẫn hiện diện trong các lễ hội truyền thống, tranh Tết, tượng ngựa trang trí, như một ký ức văn hóa sống động, nhắc nhớ về sức mạnh tinh thần bền bỉ, trung thành và khát vọng vươn xa của con người.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây: 

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-Anh Khuê

Categories: The Latest News

Pages