The Latest News
Bộ Y tế giám sát chặt chẽ dịch bệnh trong dịp Tết Nguyên đán
Theo thông tin từ Bộ Y tế, chiều 9/2/2026, Bộ đã tổ chức cuộc họp trực tiếp kết hợp trực tuyến với nội dung rà soát, kiểm tra công tác phòng, chống dịch dịp trước, trong và sau Tết nguyên đán Bính Ngọ.
Tại cuộc họp, đại diện Cục Phòng bệnh cho biết theo thông tin mới nhất, một ca tử vong do virus Nipah vừa được ghi nhận tại Bangladesh, một lần nữa cảnh báo về loại bệnh truyền nhiễm nguy hiểm có tỷ lệ tử vong cao, khả năng lây lan phức tạp và đặc biệt dễ bùng phát từ những thói quen bình thường trong đời sống hằng ngày.
Bệnh do virus Nipah là bệnh truyền nhiễm nhóm A, có mức độ nguy hiểm rất cao, bệnh chưa có vaccine và thuốc điều trị đặc hiệu; lây truyền chủ yếu từ động vật sang người (đặc biệt là dơi ăn quả), qua thực phẩm nhiễm virus và có thể lây từ người sang người. Tỷ lệ tử vong ở các trường hợp nhập viện dao động từ 40-75%. Vì vậy, việc chủ động giám sát, phát hiện sớm và triển khai kịp thời các biện pháp phòng, chống dịch là hết sức cần thiết.
Các Viện đầu ngành như Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương, Viện Pasteur TP.HCM cho biết hiện đã có đủ trang thiết bị, phòng an toàn sinh học cấp 3 để xét nghiệm virus Nipah. Tuy nhiên, qua thực tế kiểm tra tại một số cửa khẩu cho thấy các địa phương cần đầu tư thêm loạt thiết bị cầm tay để đo thân nhiệt.
Giải pháp căn bản nhất trong phòng, chống bệnh truyền nhiễm là phải nâng cao ý thức của người dân; đẩy mạnh công tác truyền thông. Đây là hướng đi cần thiết, bởi với những bệnh có tỷ lệ tử vong cao và chưa có vaccine thì yếu tố quan trọng nhất là ngăn chặn từ sớm và chuẩn bị kịch bản ứng phó.
Tại cuộc họp cũng đề cập đến nhiều nội dung, bao gồm: Hoạt động giám sát, kiểm tra; phương án khi phát hiện sớm và xử lý ca bệnh nghi ngờ; công tác phối hợp liên ngành; hoạt động truyền thông phòng, chống dịch tại cộng đồng và khu vực cửa khẩu. Trong đó, quan trọng nhất là chủ động xây dựng kế hoạch và phương án phòng, chống dịch; bố trí nhân lực, trang thiết bị và vật tư y tế cơ bản để đáp ứng yêu cầu.
Bộ Y tế họp rà soát, kiểm tra công tác phòng, chống dịch dịp trước, trong và sau Tết Nguyên đán Bính Ngọ. Ảnh: MOH.Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Liên Hương khẳng định, thời gian qua cùng với triển khai nhiều biện pháp phòng, chống dịch, Bộ cũng thường xuyên trao đổi thông tin với Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và các tổ chức quốc tế để cập nhật tình hình dịch bệnh.
Đồng thời, phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường giám sát bệnh lây truyền từ động vật sang người; đẩy mạnh truyền thông và thành lập các đoàn đi kiểm tra, giám sát, hướng dẫn công tác phòng, chống dịch bệnh.
Thứ trưởng yêu cầu thời gian trước, trong và sau Tết Nguyên đán Bính Ngọ, các đơn vị chuyên môn của ngành cần tập trung đẩy mạnh công tác truyền thông, kiểm tra giám sát và tăng cường hướng dẫn để các đơn vị, địa phương thực hiện đúng quy trình phòng, chống dịch.
Đối với bản hướng dẫn giám sát, Thứ trưởng Bộ Y tế yêu cầu các viện khẩn trương đóng góp ý kiến, gửi Cục Phòng bệnh để tổng hợp, hoàn chỉnh, báo cáo lãnh đạo Bộ xem xét, ban hành làm căn cứ quan trọng cho các địa phương áp dụng phòng, chống dịch.
Cùng với đó, Cục Phòng bệnh tiếp tục lấy ý kiến đóng góp từ các đơn vị liên quan để hoàn thiện hướng dẫn các bệnh viện công tác ứng phó với dịch Nipah.
Ngoài liên tục cập nhật thông tin, Thứ trưởng yêu cầu đơn vị đầu mối tiến hành sớm việc chuẩn hóa quy trình xét nghiệm, lấy mẫu; các viện có sự hỗ trợ các đơn vị cùng hệ thống về công tác lấy mẫu, xét nghiệm khi cần thiết phải thực hiện theo đúng quy trình.
Thời gian tới, Bộ Y tế tiếp tục theo dõi sát tình hình dịch trên thế giới, tăng cường giám sát, phát hiện sớm các trường hợp nghi ngờ tại cửa khẩu và trong cộng đồng; kiểm soát nhiễm khuẩn tại cơ sở y tế, có kịch bản chi tiết khoanh vùng và xử lý triệt để ngay từ ca bệnh đầu tiên, không để dịch lây lan.
-Phúc Minh
Trung Quốc kêu gọi ngân hàng trong nước hạn chế nắm giữ trái phiếu kho bạc Mỹ
Theo tiết lộ của các nguồn thạo tin với hãng tin Bloomberg, cơ quan chức năng Trung Quốc gần đây đã khuyến nghị các tổ chức tài chính trong nước hạn chế nắm giữ trái phiếu kho bạc Mỹ, với lý do lo ngại về sự tập trung của rủi ro và biến động của thị trường
Nguồn tin nói rằng giới chức Trung Quốc đã khuyến cáo các ngân hàng hạn chế mua trái phiếu chính phủ Mỹ và yêu cầu những ngân hàng có mức độ tiếp xúc cao với tài sản này phải giảm bớt vị thế. Tuy nhiên, chỉ thị này không áp dụng đối với các khoản nắm giữ trái phiếu kho bạc Mỹ của nhà nước Trung Quốc.
Hướng dẫn trên - được truyền đạt bằng lời tới một số ngân hàng thuộc hàng lớn nhất của Trung Quốc trong những tuần gần đây - phản ánh sự thận trọng ngày càng tăng của Bắc Kinh trước khả năng các khoản nắm giữ lớn trái phiếu chính phủ Mỹ có thể khiến các ngân hàng dễ bị ảnh hưởng bởi những biến động mạnh trên thị trường. Những lo ngại này cũng đã được các chính phủ và nhà quản lý quỹ tại các quốc gia và vùng lãnh thổ khác nêu ra trong bối cảnh cuộc tranh luận về mức độ an toàn của nợ Mỹ và vị thế của đồng USD.
Theo Bloomberg, khuyến nghị trên của Bắc Kinh có liên quan nhiều hơn việc đa dạng hóa rủi ro tài chính, thay vì là một động thái địa chính trị nào hay sự mất niềm tin căn bản vào khả năng trả nợ của Chính phủ Mỹ. Mặc dù vẫn còn những căng thẳng đáng kể giữa Bắc Kinh và Washington, mối quan hệ song phương đã ổn định sau thỏa thuận thương mại vào năm ngoái.
Sau khi thông tin này được Bloomberg đăng tải, trái phiếu kho bạc Mỹ có lúc giảm giá nhẹ trong phiên ngày thứ Hai (9/2).
Tổng thống Mỹ Donald Trump và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã có một cuộc điện đàm vào tuần trước. Theo dự kiến, ông Trump sẽ thăm chính thức Trung Quốc sớm nhất vào tháng 4 năm nay. Nguồn thạo tin nói rằng khuyến nghị về hạn chế nắm giữ trái phiếu kho bạc Mỹ đối với các ngân hàng Trung Quốc đã được đưa ra trước cuộc điện đàm vừa rồi giữa hai nhà lãnh đạo.
Các ngân hàng Trung Quốc nắm giữ khoảng 298 tỷ USD trái phiếu bằng đồng USD tại thời điểm tháng 9/2025 - theo dữ liệu từ Cục Quản lý ngoại hối Nhà nước Trung Quốc (SAFE). Dữ liệu không cho biết bao nhiêu trong số đó là trái phiếu kho bạc Mỹ.
Sự thận trọng của Trung Quốc xuất hiện trong bối cảnh các nhà đầu tư toàn cầu ngày càng đặt câu hỏi về kỷ luật tài khóa của Washington. Mối lo ngại này đã gia tăng khi ông Trump dường như không bận tâm với xu hướng mất giá của đồng USD và liên tục gây sức ép lên Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed).
Tháng trước, một nhà phân tích của ngân hàng Deutsche Bank AG đã cảnh báo rằng các nhà quản lý tài sản châu Âu có thể chọn cắt giảm nắm giữ trái phiếu kho bạc Mỹ để đáp trả mối đe dọa từ ông Trump về thuế quan và Greenland.
Tuy nhiên, Bộ trưởng Tài chính Mỹ Scott Bessent tuần trước nói rằng bất chấp những tranh cãi về sức hấp dẫn của trái phiếu kho bạc Mỹ, trong năm ngoái, tài sản này đã mang lại hiệu suất tốt nhất kể từ năm 2020 và chứng kiến nhu cầu kỷ lục từ các nhà đầu tư nước ngoài tại các cuộc đấu giá.
Sau một đợt bán tháo ngắn hạn sau tuyên bố thuế quan đối ứng gây chấn động của Tổng thống Trump vào tháng 4/2025, trái phiếu kho bạc đã đạt hiệu suất vượt trội so với hầu hết trái phiếu chính phủ của các nước phát triển khác, khi các đợt cắt giảm lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang (Fed) đẩy lợi suất xuống thấp hơn.
Ngay cả khi một số nhà đầu tư nói về việc "rời bỏ" hoặc bán tài sản Mỹ một cách âm thầm, hầu như không có dấu hiệu hoảng loạn trên thị trường phản ánh một làn sóng bán trái phiếu kho bạc Mỹ của nhà đầu tư nước ngoài hoặc sự mất niềm tin trên diện rộng đối với tài sản trú ẩn an toàn truyền thống này. Một dấu hiệu cho thấy sự bình tĩnh trên thị trường là một thước đo về mức độ biến động của trái phiếu kho bạc đã giảm xuống mức thấp nhất trong 5 năm trở lại đây.
Lượng nắm giữ trái phiếu kho bạc Mỹ trong tay nhà đầu tư nước đã tăng lên mức kỷ lục 9,4 nghìn tỷ USD vào tháng 11 năm ngoái, cao hơn 500 tỷ USD so với một năm trước đó - theo dữ liệu chính thức mới nhất.
Lượng nắm giữ trái phiếu kho bạc Mỹ của nhà đầu tư nước ngoài qua các năm. Đơn vị: nghìn tỷ USD - Nguồn: Bộ Tài chính Mỹ/Bloomberg.Tuy nhiên, tổng nắm giữ trái phiếu kho bạc Mỹ của nhà nước và khu vực tư nhân Trung Quốc đã liên tục giảm trong thập kỷ qua. Từng là chủ nợ lớn nhất thế giới của Mỹ, Trung Quốc đã bị Nhật Bản vượt qua vào năm 2019 và tiếp đó bị Anh vượt qua vào năm ngoái. Trái phiếu kho bạc Mỹ trong dự trữ ngoại hối của Trung Quốc đã giảm gần một nửa kể từ mức đỉnh năm 2013, giảm xuống còn 683 tỷ USD vào tháng 11/2025, mức thấp nhất kể từ năm 2008.
Một số nhà phân tích cho rằng sự suy giảm thực tế có thể nhỏ hơn, vì Bắc Kinh có thể đã chuyển một số khoản nắm giữ của mình sang các tài khoản lưu ký ở châu Âu. Bỉ - nơi có các tài khoản lưu ký của Trung Quốc - đã chứng kiến lượng nắm giữ trái phiếu kho bạc tăng gấp 4 lần kể từ cuối năm 2017 lên 481 tỷ USD.
-An Huy
Thủ tướng yêu cầu bảo đảm mọi người, mọi nhà đón Tết Bính Ngọ 2026 đủ đầy, an toàn
Ngày 9/2/2026, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã ký ban hành Công điện số 13/CĐ-TTg về việc thực hiện nhiệm vụ chăm lo, hỗ trợ nhân dân đón Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026. Công điện được gửi tới các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, yêu cầu tập trung triển khai quyết liệt, hiệu quả các nhiệm vụ trọng tâm phục vụ nhân dân trong dịp Tết.
Theo Công điện, các bộ, cơ quan và địa phương tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm Chỉ thị số 55-CT/TW ngày 22/12/2025 của Ban Bí thư về tổ chức Tết Bính Ngọ năm 2026; Chỉ thị số 36/CT-TTg ngày 31/12/2025 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức Tết Nguyên đán vui tươi, lành mạnh, an toàn, tiết kiệm; cùng các công điện liên quan đến công tác phục vụ nhân dân và bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trong mùa lễ hội xuân năm 2026.
CHĂM LO AN SINH, BẢO ĐẢM “MỌI NGƯỜI, MỌI NHÀ ĐÊU CÓ CÁI TẾT”
Một trong những yêu cầu xuyên suốt được Thủ tướng nhấn mạnh là chủ động chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, bảo đảm “mọi người, mọi nhà đều có Tết”, “không để ai bị bỏ lại phía sau”. Các địa phương được yêu cầu rà soát kỹ tình hình đời sống nhân dân và người lao động, nhất là các đối tượng chính sách, người nghèo, người yếu thế, người dân tại các vùng bị ảnh hưởng bởi thiên tai, bão lũ, sạt lở để có biện pháp hỗ trợ kịp thời, phù hợp, hiệu quả.
Thủ tướng giao các bộ, ngành, địa phương theo dõi sát tình hình sản xuất, kinh doanh; đôn đốc doanh nghiệp thực hiện đầy đủ việc chi trả lương, thưởng Tết cho công nhân, người lao động theo đúng quy định.
Đồng thời, tổ chức thăm hỏi, chúc Tết cán bộ lão thành cách mạng, Mẹ Việt Nam Anh hùng, gia đình chính sách, người nghèo và người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số; bảo đảm việc tặng quà đúng đối tượng, đầy đủ chế độ, công khai, minh bạch.
Công điện cũng yêu cầu các doanh nghiệp, chủ đầu tư, nhà thầu thi công các công trình, dự án, đặc biệt là các công trình trọng điểm quốc gia, xây dựng phương án chăm lo chu đáo đời sống vật chất, tinh thần cho công nhân, người lao động làm việc và ở lại công trường trong dịp Tết.
Việc tổ chức đón Tết cho lực lượng này cần thiết thực, an toàn, tiết kiệm, tạo không khí đầm ấm, góp phần động viên người lao động yên tâm làm việc, đẩy nhanh tiến độ, bảo đảm chất lượng các công trình.
Về bảo đảm cung ứng hàng hóa, Thủ tướng giao Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương theo dõi sát diễn biến thị trường; triển khai các giải pháp bảo đảm nguồn cung hàng hóa thiết yếu phục vụ nhu cầu tiêu dùng của người dân trong dịp Tết.
Bộ Công Thương phối hợp với doanh nghiệp tổ chức các chương trình bình ổn thị trường, giảm giá, khuyến mãi phù hợp; đồng thời chỉ đạo bảo đảm nguồn cung xăng dầu, điện cho sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt, không để xảy ra thiếu hụt trong mọi tình huống.
BẢO ĐẢM CUNG ỨNG HÀNG HÓA, DỊCH VỤ, Y TẾ, DU LỊCH AN TOÀN
Bộ Nông nghiệp và Môi trường được giao bảo đảm cân đối cung – cầu các mặt hàng lương thực, thực phẩm, nhất là những mặt hàng có nhu cầu tăng cao trong dịp Tết. Công điện yêu cầu kịp thời điều hòa cung cầu giữa các vùng, địa phương nhằm ổn định giá cả thị trường; tăng cường quản lý chất lượng hàng hóa, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm. Bộ đồng thời chủ động triển khai các phương án ứng phó với ô nhiễm môi trường, ô nhiễm không khí tại đô thị; tổ chức thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt, không để xảy ra tình trạng ùn ứ rác tại khu dân cư, khu thương mại trong dịp Tết.
Thủ tướng giao Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương kịp thời xuất cấp lương thực từ nguồn dự trữ quốc gia cho người dân, không để xảy ra tình trạng thiếu đói trong dịp Tết Nguyên đán, thời điểm giáp hạt và tại các vùng bị ảnh hưởng bởi thiên tai, bão lũ.
Bộ Tài chính cũng chỉ đạo lực lượng hải quan phối hợp chặt chẽ với các lực lượng chức năng tăng cường kiểm tra, kiểm soát, phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, hàng kém chất lượng, hàng không rõ nguồn gốc, xuất xứ, nhất là tại các tuyến, địa bàn và mặt hàng trọng điểm trong dịp Tết.
Trong lĩnh vực văn hóa, du lịch, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch được giao chủ trì tổ chức các chương trình nghệ thuật, hoạt động văn hóa phù hợp, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống, phục vụ nhân dân đón Tết vui tươi, an toàn, tiết kiệm. Bộ tăng cường quản lý nhà nước về du lịch, kiểm tra, kiểm soát chất lượng dịch vụ; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm; yêu cầu các cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch niêm yết giá công khai, không nâng giá, ép giá khách; bảo đảm an ninh trật tự, an toàn phòng cháy chữa cháy, vệ sinh môi trường và an toàn thực phẩm.
Về công tác y tế, Thủ tướng yêu cầu Bộ Y tế chủ trì tổ chức tốt việc thu dung, cấp cứu, điều trị bệnh nhân; thực hiện nghiêm chế độ ứng trực 24/24 trong dịp Tết. Các cơ sở y tế chủ động phương án bảo đảm đủ nhân lực, thuốc men, trang thiết bị, vật tư y tế phục vụ công tác khám, chữa bệnh.
Bộ Y tế tăng cường thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định về an toàn thực phẩm trước, trong và sau Tết; tập trung kiểm tra các nhóm thực phẩm tiêu thụ nhiều trong dịp lễ, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.
Trong lĩnh vực giao thông vận tải, Bộ Giao thông vận tải được giao chủ trì, phối hợp với các địa phương tổ chức quản lý chặt chẽ hoạt động vận tải hành khách và hàng hóa. Công điện yêu cầu bố trí đầy đủ phương tiện đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân, bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, không để xảy ra tình trạng thiếu phương tiện khiến người dân chậm về quê đón Tết.
Hoạt động vận chuyển hàng hóa phải được duy trì thông suốt trước, trong và sau Tết, đặc biệt tại các vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; đồng thời tăng cường kiểm soát, ngăn chặn việc vận chuyển trái phép hàng nguy hiểm, hàng cấm và gia súc, gia cầm không rõ nguồn gốc.
Các Phó Thủ tướng Chính phủ theo lĩnh vực được phân công có trách nhiệm theo dõi, nắm tình hình, chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương triển khai nghiêm túc Công điện số 13/CĐ-TTg. Văn phòng Chính phủ có trách nhiệm đôn đốc, tổng hợp tình hình thực hiện, kịp thời báo cáo cấp có thẩm quyền, bảo đảm các nhiệm vụ chăm lo Tết cho nhân dân được triển khai đầy đủ, đồng bộ và hiệu quả trên phạm vi cả nước.
-Hà Lê
Thủ tướng yêu cầu bảo đảm mọi người, mọi nhà đón Tết Bính Ngọ 2026 đủ đầy, an toàn
Ngày 9/2/2026, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã ký ban hành Công điện số 13/CĐ-TTg về việc thực hiện nhiệm vụ chăm lo, hỗ trợ nhân dân đón Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026. Công điện được gửi tới các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, yêu cầu tập trung triển khai quyết liệt, hiệu quả các nhiệm vụ trọng tâm phục vụ nhân dân trong dịp Tết.
Theo Công điện, các bộ, cơ quan và địa phương tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm Chỉ thị số 55-CT/TW ngày 22/12/2025 của Ban Bí thư về tổ chức Tết Bính Ngọ năm 2026; Chỉ thị số 36/CT-TTg ngày 31/12/2025 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức Tết Nguyên đán vui tươi, lành mạnh, an toàn, tiết kiệm; cùng các công điện liên quan đến công tác phục vụ nhân dân và bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trong mùa lễ hội xuân năm 2026.
CHĂM LO AN SINH, BẢO ĐẢM “MỌI NGƯỜI, MỌI NHÀ ĐÊU CÓ CÁI TẾT”
Một trong những yêu cầu xuyên suốt được Thủ tướng nhấn mạnh là chủ động chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, bảo đảm “mọi người, mọi nhà đều có Tết”, “không để ai bị bỏ lại phía sau”. Các địa phương được yêu cầu rà soát kỹ tình hình đời sống nhân dân và người lao động, nhất là các đối tượng chính sách, người nghèo, người yếu thế, người dân tại các vùng bị ảnh hưởng bởi thiên tai, bão lũ, sạt lở để có biện pháp hỗ trợ kịp thời, phù hợp, hiệu quả.
Thủ tướng giao các bộ, ngành, địa phương theo dõi sát tình hình sản xuất, kinh doanh; đôn đốc doanh nghiệp thực hiện đầy đủ việc chi trả lương, thưởng Tết cho công nhân, người lao động theo đúng quy định.
Đồng thời, tổ chức thăm hỏi, chúc Tết cán bộ lão thành cách mạng, Mẹ Việt Nam Anh hùng, gia đình chính sách, người nghèo và người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số; bảo đảm việc tặng quà đúng đối tượng, đầy đủ chế độ, công khai, minh bạch.
Công điện cũng yêu cầu các doanh nghiệp, chủ đầu tư, nhà thầu thi công các công trình, dự án, đặc biệt là các công trình trọng điểm quốc gia, xây dựng phương án chăm lo chu đáo đời sống vật chất, tinh thần cho công nhân, người lao động làm việc và ở lại công trường trong dịp Tết.
Việc tổ chức đón Tết cho lực lượng này cần thiết thực, an toàn, tiết kiệm, tạo không khí đầm ấm, góp phần động viên người lao động yên tâm làm việc, đẩy nhanh tiến độ, bảo đảm chất lượng các công trình.
Về bảo đảm cung ứng hàng hóa, Thủ tướng giao Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương theo dõi sát diễn biến thị trường; triển khai các giải pháp bảo đảm nguồn cung hàng hóa thiết yếu phục vụ nhu cầu tiêu dùng của người dân trong dịp Tết.
Bộ Công Thương phối hợp với doanh nghiệp tổ chức các chương trình bình ổn thị trường, giảm giá, khuyến mãi phù hợp; đồng thời chỉ đạo bảo đảm nguồn cung xăng dầu, điện cho sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt, không để xảy ra thiếu hụt trong mọi tình huống.
BẢO ĐẢM CUNG ỨNG HÀNG HÓA, DỊCH VỤ, Y TẾ, DU LỊCH AN TOÀN
Bộ Nông nghiệp và Môi trường được giao bảo đảm cân đối cung – cầu các mặt hàng lương thực, thực phẩm, nhất là những mặt hàng có nhu cầu tăng cao trong dịp Tết. Công điện yêu cầu kịp thời điều hòa cung cầu giữa các vùng, địa phương nhằm ổn định giá cả thị trường; tăng cường quản lý chất lượng hàng hóa, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm. Bộ đồng thời chủ động triển khai các phương án ứng phó với ô nhiễm môi trường, ô nhiễm không khí tại đô thị; tổ chức thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt, không để xảy ra tình trạng ùn ứ rác tại khu dân cư, khu thương mại trong dịp Tết.
Thủ tướng giao Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương kịp thời xuất cấp lương thực từ nguồn dự trữ quốc gia cho người dân, không để xảy ra tình trạng thiếu đói trong dịp Tết Nguyên đán, thời điểm giáp hạt và tại các vùng bị ảnh hưởng bởi thiên tai, bão lũ.
Bộ Tài chính cũng chỉ đạo lực lượng hải quan phối hợp chặt chẽ với các lực lượng chức năng tăng cường kiểm tra, kiểm soát, phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, hàng kém chất lượng, hàng không rõ nguồn gốc, xuất xứ, nhất là tại các tuyến, địa bàn và mặt hàng trọng điểm trong dịp Tết.
Trong lĩnh vực văn hóa, du lịch, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch được giao chủ trì tổ chức các chương trình nghệ thuật, hoạt động văn hóa phù hợp, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống, phục vụ nhân dân đón Tết vui tươi, an toàn, tiết kiệm. Bộ tăng cường quản lý nhà nước về du lịch, kiểm tra, kiểm soát chất lượng dịch vụ; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm; yêu cầu các cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch niêm yết giá công khai, không nâng giá, ép giá khách; bảo đảm an ninh trật tự, an toàn phòng cháy chữa cháy, vệ sinh môi trường và an toàn thực phẩm.
Về công tác y tế, Thủ tướng yêu cầu Bộ Y tế chủ trì tổ chức tốt việc thu dung, cấp cứu, điều trị bệnh nhân; thực hiện nghiêm chế độ ứng trực 24/24 trong dịp Tết. Các cơ sở y tế chủ động phương án bảo đảm đủ nhân lực, thuốc men, trang thiết bị, vật tư y tế phục vụ công tác khám, chữa bệnh.
Bộ Y tế tăng cường thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định về an toàn thực phẩm trước, trong và sau Tết; tập trung kiểm tra các nhóm thực phẩm tiêu thụ nhiều trong dịp lễ, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.
Trong lĩnh vực giao thông vận tải, Bộ Giao thông vận tải được giao chủ trì, phối hợp với các địa phương tổ chức quản lý chặt chẽ hoạt động vận tải hành khách và hàng hóa. Công điện yêu cầu bố trí đầy đủ phương tiện đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân, bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, không để xảy ra tình trạng thiếu phương tiện khiến người dân chậm về quê đón Tết.
Hoạt động vận chuyển hàng hóa phải được duy trì thông suốt trước, trong và sau Tết, đặc biệt tại các vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; đồng thời tăng cường kiểm soát, ngăn chặn việc vận chuyển trái phép hàng nguy hiểm, hàng cấm và gia súc, gia cầm không rõ nguồn gốc.
Các Phó Thủ tướng Chính phủ theo lĩnh vực được phân công có trách nhiệm theo dõi, nắm tình hình, chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương triển khai nghiêm túc Công điện số 13/CĐ-TTg. Văn phòng Chính phủ có trách nhiệm đôn đốc, tổng hợp tình hình thực hiện, kịp thời báo cáo cấp có thẩm quyền, bảo đảm các nhiệm vụ chăm lo Tết cho nhân dân được triển khai đầy đủ, đồng bộ và hiệu quả trên phạm vi cả nước.
-Hà Lê
Ngân hàng "đa mục tiêu" trước áp lực cân đối vốn
Các biện pháp can thiệp kịp thời của Ngân hàng Nhà nước đã nhanh chóng hạ nhiệt thanh khoản, tính đến chiều 9/2/2026, tổng lưu hành trên cầm cố là 489.258,42 tỷ đồng, lãi suất qua đêm về 9%, 1 tuần, 2 tuần, 1 tháng quanh 9,5%/năm.
Theo các chuyên gia, câu chuyện lãi suất liên ngân hàng và thanh khoản căng thẳng trước hết phải đặt trong bối cảnh một thời gian dài phải nới lỏng tiền tệ để kích thích kinh tế. Kéo theo đó, khi mặt bằng lãi suất huy động duy trì ở mức thấp trong nhiều năm, dòng tiền có xu hướng rời khỏi kênh tiền gửi ngân hàng để phân bổ sang các tài sản như vàng, bất động sản hay các kênh đầu tư khác. Hệ quả là khoảng cách giữa huy động và tín dụng ngày càng bị kéo giãn, trong khi một phần dòng vốn bị “chôn” ở các tài sản kém thanh khoản, làm suy giảm hệ số nhân tiền của nền kinh tế. Sự kết hợp của hai yếu tố này khiến rủi ro thanh khoản mang tính cấu trúc âm ỉ tích tụ trong hệ thống ngân hàng.
TIỀN GỬI CO HẸP TẠO ÁP LỰC LÊN THANH KHOẢN
Một chuyên gia trong ngành ngân hàng phân tích với phóng viên VnEconomy, cú sốc thanh khoản vừa qua trước hết là do tính chất mùa vụ. Ở chỗ, tháng 2 dương lịch hàng năm trùng với giai đoạn cận Tết Nguyên đán, thời điểm nhu cầu sử dụng tiền mặt và các hoạt động thanh toán trong nền kinh tế gia tăng rõ rệt, gây áp lực ngắn hạn lên thanh khoản của hệ thống ngân hàng. Tiếp đó, việc Kho bạc Nhà nước đẩy mạnh thu ngân sách trong cùng thời kỳ đã khiến một lượng vốn đáng kể được dịch chuyển từ khu vực doanh nghiệp và ngân hàng sang tài khoản Kho bạc, qua đó làm suy giảm tạm thời nguồn vốn khả dụng trong hệ thống.
Kho bạc Nhà nước đẩy mạnh thu ngân sách trong cùng thời kỳ đã khiến một lượng vốn đáng kể được dịch chuyển từ khu vực doanh nghiệp và ngân hàng sang tài khoản Kho bạc, qua đó làm suy giảm tạm thời nguồn vốn khả dụng trong hệ thống.
Tuy vậy, ngoài 2 yếu tố nêu trên, biến động mạnh của lãi suất liên ngân hàng vừa qua cũng cần được nhìn nhận như sự bộc lộ của những áp lực đã tích tụ trong thời gian dài, xuất phát từ chênh lệch ngày càng lớn giữa huy động vốn và tăng trưởng tín dụng.
Những năm gần đây, nhằm hỗ trợ phục hồi và tăng trưởng kinh tế, lãi suất cho vay được điều chỉnh giảm, kéo theo mặt bằng lãi suất huy động đi xuống. Trong bối cảnh đó, kênh tiết kiệm truyền thống dần kém hấp dẫn, đặc biệt khi nền kinh tế liên tục đối mặt với những biến động vĩ mô lớn như thiên tai, dịch bệnh, căng thẳng địa chính trị và xung đột thương mại toàn cầu. Các yếu tố này không chỉ ảnh hưởng đến tâm lý người gửi tiền, mà còn thúc đẩy dòng vốn dịch chuyển sang các kênh đầu tư và tài sản trú ẩn như vàng, bất động sản.
Giai đoạn từ năm 2019 đến quý III/2025 cho thấy sự thay đổi rõ nét trong cơ cấu nguồn vốn của hệ thống ngân hàng, khi tỷ trọng tiền gửi khách hàng (kênh huy động vốn chủ lực) liên tục thu hẹp. Cụ thể, năm 2020, tiền gửi khách hàng chiếm 80,5% tổng nguồn vốn, nhưng đến quý III/2025 chỉ còn 69,8%.
Chênh lệch giữa tăng trưởng và huy động nới rộng từ 2022 đến nay làm tích tụ rủi ro cho hệ thống (Nguồn: VnEconomy cập nhật từ NHNN)“Từ khoảng tháng 7 năm ngoái đến nay, đã có hiện tượng tiền mặt được rút ra liên tục tại các chi nhánh nhưng không quay trở lại dưới dạng tiền gửi mà dịch chuyển sang các kênh như vàng và bất động sản, khiến hệ số nhân tiền không được cải thiện, qua đó tác động tiêu cực đến thanh khoản của toàn hệ thống”, lãnh đạo khối quản lý nguồn vốn và thanh khoản của một ngân hàng lớn, nói với phóng viên VnEconomy.
Theo vị này, khi tốc độ huy động vốn không theo kịp nhu cầu tín dụng trong thời gian dài, áp lực lên cân đối vốn của hệ thống ngân hàng dần tích tụ, và có xu hướng bộc lộ rõ hơn trong những thời điểm xuất hiện cú sốc ngắn hạn, như giai đoạn cao điểm thanh toán mang tính mùa vụ.
NHÓM NGÂN HÀNG SỞ HỮU NHÀ NƯỚC GẶP KHÓ
Hệ thống ngân hàng hiện vẫn là kênh dẫn vốn chủ đạo của nền kinh tế, đặc biệt đối với khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đến cuối năm 2025, tỷ lệ tín dụng trên GDP của Việt Nam đã đạt khoảng 146%, phản ánh mức độ phụ thuộc cao của nền kinh tế vào hệ thống ngân hàng.
Đáng chú ý, kể từ năm 2020, trong bối cảnh nền kinh tế chịu tác động tiêu cực từ đại dịch COVID-19 cũng như thiên tai, bão lũ diễn biến phức tạp, vai trò hỗ trợ tăng trưởng kinh tế thông qua cung ứng vốn với lãi suất ưu đãi, giảm lãi suất và cơ cấu lại nợ cho khách hàng chủ yếu đặt lên vai 4 ngân hàng thương mại do Nhà nước chi phối vốn (Big 4).
Theo báo cáo tài chính soát xét bán niên năm 2025 của Agribank, quy mô các gói tín dụng ưu đãi của ngân hàng chiếm khoảng 20% tổng dư nợ, tương đương gần 400 nghìn tỷ đồng. Các gói tín dụng này tập trung vào lĩnh vực sản xuất – kinh doanh, xuất khẩu, nông nghiệp xanh và tuần hoàn; cho vay mua nhà đối với người trẻ dưới 35 tuổi; cho vay mua và đầu tư nhà ở xã hội theo chỉ đạo của Chính phủ, với mức lãi suất thấp hơn mặt bằng thị trường từ 0,5 đến 2%.
Theo báo cáo tài chính soát xét bán niên năm 2025 của Agribank, quy mô các gói tín dụng ưu đãi của ngân hàng chiếm khoảng 20% tổng dư nợ, tương đương gần 400 nghìn tỷ đồng. Các gói tín dụng này tập trung vào lĩnh vực sản xuất – kinh doanh, xuất khẩu, nông nghiệp xanh và tuần hoàn; cho vay mua nhà đối với người trẻ dưới 35 tuổi; cho vay mua và đầu tư nhà ở xã hội theo chỉ đạo của Chính phủ, với mức lãi suất thấp hơn mặt bằng thị trường từ 0,5 đến 2%.
Riêng tín dụng chính sách với lãi suất 4%/năm dành cho một số ngành, lĩnh vực ưu tiên theo chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước được Agribank duy trì ổn định ở mức khoảng 20.000 tỷ đồng mỗi năm. Ngoài Ngân hàng Chính sách Xã hội, Agribank hiện là ngân hàng duy nhất triển khai các gói tín dụng ưu đãi này trên quy mô lớn.
Ngân hàng thực hiện đa mục tiêu chật vật huy động vốn trong bối cảnh thanh khoản căng thẳng.Mặc dù gánh trách nhiệm cung ứng vốn lớn, đặc biệt là các gói tín dụng cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn hay các dự án hạ tầng nhưng Agribank nói riêng và nhóm “Big 4” nói chung lại đang gặp phải 3 rào cản lớn.
Thứ nhất, nhóm bốn ngân hàng thương mại do Nhà nước chi phối vốn đang chịu áp lực lớn trong huy động vốn, do lãi suất huy động thấp hơn đáng kể so với khối ngân hàng thương mại tư nhân. Theo khảo sát của VnEconomy, lãi suất niêm yết dành cho khách hàng phổ thông tại các ngân hàng tư nhân cao hơn từ 1–2,5% so với nhóm Big 4. Đối với khách hàng ưu tiên có quy mô tiền gửi lớn, mức chênh lệch thu hẹp còn khoảng 0,3–1%.
Ngoài ra, kênh tiền gửi tiết kiệm còn phải cạnh tranh gay gắt với các kênh đầu tư thay thế như vàng, chứng khoán, bất động sản và tài sản số, trong bối cảnh mặt bằng lãi suất duy trì ở mức thấp.
Thứ hai, vốn tự có hạn chế, khiến khả năng mở rộng tín dụng bị giới hạn. Dữ liệu từ FiinGroup cho thấy hệ số an toàn vốn (CAR) của nhóm Big 4 chỉ duy trì ở mức vừa trên ngưỡng tối thiểu (10,62%), thấp hơn đáng kể so với các ngân hàng thương mại cổ phần lớn như Techcombank, VPBank, MB và ACB.
Thứ ba, áp lực tuân thủ chỉ tiêu LDR (Loan-to-Deposit Ratio, tỷ lệ cho vay trên huy động) gia tăng, khi từ ngày 01/01/2026, tiền gửi của Kho bạc Nhà nước sẽ bị loại khỏi cơ sở tính LDR theo Thông tư 26/2022/TT-NHNN. Đặc biệt, nhóm Big 4 thu hút phần lớn nguồn tiền gửi của Kho bạc Nhà nước.
TĂNG VỐN TỰ CÓ CHO CÁC NGÂN HÀNG SỞ HỮU NHÀ NƯỚC
Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2026 ở mức tối thiểu 10%, tương ứng quy mô GDP danh nghĩa của Việt Nam có thể vượt 520 tỷ USD. Theo ước tính của FiinGroup, để đạt được mục tiêu này, nền kinh tế sẽ cần duy trì tổng vốn đầu tư toàn xã hội ở mức trên 30% GDP, tương đương khoảng 170 - 175 tỷ USD trong năm 2026.
Tỷ lệ tín dụng/GDP qua các năm cho thấy năng lực cấp vốn dài hạn của ngân hàng thương mại đang tiệm cận giới hạn an toàn.Hiện nay, các cơ quan quản lý Nhà nước đang tìm mọi cách để khơi thông các kênh dẫn vốn trung và dài hạn ngoài hệ thống ngân hàng, nhằm giảm áp lực cung ứng vốn lên các tổ chức tín dụng, đảm bảo an toàn vĩ mô.
FiinGroup ước tính để bảo đảm tăng trưởng GDP 10%, nhu cầu tổng vốn đầu tư toàn xã hội lên tới 170 – 175 tỷ USD, trong khi tỷ lệ tín dụng/GDP chạm ngưỡng 146%, rủi ro cao cho nền kinh tế.
Tuy nhiên, theo nhận định của nhiều chuyên gia, không dễ để giảm ngay tỷ lệ tín dụng ngân hàng trên GDP trong một sớm một chiều. Chính vì vậy, việc nhanh chóng thu hẹp khoảng cách giữa huy động và tín dụng, đồng thời tăng cường vốn tự có cho các ngân hàng chủ lực, là yêu cầu cấp thiết để đảm bảo an toàn hệ thống.
Trong hoạt động ngân hàng, tín dụng là khoản mục chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tài sản có và được xếp vào nhóm tài sản có rủi ro (Risk-Weighted Assets – RWA), do luôn tồn tại khả năng không thu hồi được nợ.
Khi tín dụng tăng, tài sản có rủi ro trên bảng cân đối kế toán cũng tăng tương ứng, bất kể nguồn vốn cho vay đến từ đâu. Nếu tín dụng tăng nhanh hơn huy động, bảng cân đối bị phình to về phía tài sản có rủi ro, nhưng không được củng cố tương ứng ở phía nguồn vốn.
Về mặt quản trị rủi ro, điều này có nghĩa là mức độ rủi ro trên bảng cân đối đang gia tăng nhanh hơn so với năng lực hấp thụ rủi ro của ngân hàng.
Đây chính là cơ chế cốt lõi lý giải vì sao tăng trưởng tín dụng kéo dài, nếu không đi kèm với cải thiện năng lực huy động và tăng cường vốn tự có, sẽ dẫn đến tích tụ rủi ro hệ thống.
-Phan Linh
Ngân hàng "đa mục tiêu" chật vật xoay xở nguồn vốn
Các biện pháp can thiệp kịp thời của Ngân hàng Nhà nước đã nhanh chóng hạ nhiệt thanh khoản, tính đến chiều 9/2/2026, tổng lưu hành trên cầm cố là 489.258,42 tỷ đồng, lãi suất qua đêm về 9%, 1 tuần, 2 tuần, 1 tháng quanh 9,5%/năm.
Theo các chuyên gia, câu chuyện lãi suất liên ngân hàng và thanh khoản căng thẳng trước hết phải đặt trong bối cảnh một thời gian dài phải nới lỏng tiền tệ để kích thích kinh tế. Kéo theo đó, khi mặt bằng lãi suất huy động duy trì ở mức thấp trong nhiều năm, dòng tiền có xu hướng rời khỏi kênh tiền gửi ngân hàng để phân bổ sang các tài sản như vàng, bất động sản hay các kênh đầu tư khác. Hệ quả là khoảng cách giữa huy động và tín dụng ngày càng bị kéo giãn, trong khi một phần dòng vốn bị “chôn” ở các tài sản kém thanh khoản, làm suy giảm hệ số nhân tiền của nền kinh tế. Sự kết hợp của hai yếu tố này khiến rủi ro thanh khoản mang tính cấu trúc âm ỉ tích tụ trong hệ thống ngân hàng.
TIỀN GỬI CO HẸP TẠO ÁP LỰC LÊN THANH KHOẢN
Một chuyên gia trong ngành ngân hàng phân tích với phóng viên VnEconomy, cú sốc thanh khoản vừa qua trước hết là do tính chất mùa vụ. Ở chỗ, tháng 2 dương lịch hàng năm trùng với giai đoạn cận Tết Nguyên đán, thời điểm nhu cầu sử dụng tiền mặt và các hoạt động thanh toán trong nền kinh tế gia tăng rõ rệt, gây áp lực ngắn hạn lên thanh khoản của hệ thống ngân hàng. Tiếp đó, việc Kho bạc Nhà nước đẩy mạnh thu ngân sách trong cùng thời kỳ đã khiến một lượng vốn đáng kể được dịch chuyển từ khu vực doanh nghiệp và ngân hàng sang tài khoản Kho bạc, qua đó làm suy giảm tạm thời nguồn vốn khả dụng trong hệ thống.
Kho bạc Nhà nước đẩy mạnh thu ngân sách trong cùng thời kỳ đã khiến một lượng vốn đáng kể được dịch chuyển từ khu vực doanh nghiệp và ngân hàng sang tài khoản Kho bạc, qua đó làm suy giảm tạm thời nguồn vốn khả dụng trong hệ thống.
Tuy vậy, ngoài 2 yếu tố nêu trên, biến động mạnh của lãi suất liên ngân hàng vừa qua cũng cần được nhìn nhận như sự bộc lộ của những áp lực đã tích tụ trong thời gian dài, xuất phát từ chênh lệch ngày càng lớn giữa huy động vốn và tăng trưởng tín dụng.
Những năm gần đây, nhằm hỗ trợ phục hồi và tăng trưởng kinh tế, lãi suất cho vay được điều chỉnh giảm, kéo theo mặt bằng lãi suất huy động đi xuống. Trong bối cảnh đó, kênh tiết kiệm truyền thống dần kém hấp dẫn, đặc biệt khi nền kinh tế liên tục đối mặt với những biến động vĩ mô lớn như thiên tai, dịch bệnh, căng thẳng địa chính trị và xung đột thương mại toàn cầu. Các yếu tố này không chỉ ảnh hưởng đến tâm lý người gửi tiền, mà còn thúc đẩy dòng vốn dịch chuyển sang các kênh đầu tư và tài sản trú ẩn như vàng, bất động sản.
Giai đoạn từ năm 2019 đến quý III/2025 cho thấy sự thay đổi rõ nét trong cơ cấu nguồn vốn của hệ thống ngân hàng, khi tỷ trọng tiền gửi khách hàng (kênh huy động vốn chủ lực) liên tục thu hẹp. Cụ thể, năm 2020, tiền gửi khách hàng chiếm 80,5% tổng nguồn vốn, nhưng đến quý III/2025 chỉ còn 69,8%.
Chênh lệch giữa tăng trưởng và huy động nới rộng từ 2022 đến nay làm tích tụ rủi ro cho hệ thống (Nguồn: VnEconomy cập nhật từ NHNN)“Từ khoảng tháng 7 năm ngoái đến nay, đã có hiện tượng tiền mặt được rút ra liên tục tại các chi nhánh nhưng không quay trở lại dưới dạng tiền gửi mà dịch chuyển sang các kênh như vàng và bất động sản, khiến hệ số nhân tiền không được cải thiện, qua đó tác động tiêu cực đến thanh khoản của toàn hệ thống”, lãnh đạo khối quản lý nguồn vốn và thanh khoản của một ngân hàng lớn, nói với phóng viên VnEconomy.
Theo vị này, khi tốc độ huy động vốn không theo kịp nhu cầu tín dụng trong thời gian dài, áp lực lên cân đối vốn của hệ thống ngân hàng dần tích tụ, và có xu hướng bộc lộ rõ hơn trong những thời điểm xuất hiện cú sốc ngắn hạn, như giai đoạn cao điểm thanh toán mang tính mùa vụ.
NHÓM NGÂN HÀNG SỞ HỮU NHÀ NƯỚC GẶP KHÓ
Hệ thống ngân hàng hiện vẫn là kênh dẫn vốn chủ đạo của nền kinh tế, đặc biệt đối với khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đến cuối năm 2025, tỷ lệ tín dụng trên GDP của Việt Nam đã đạt khoảng 146%, phản ánh mức độ phụ thuộc cao của nền kinh tế vào hệ thống ngân hàng.
Đáng chú ý, kể từ năm 2020, trong bối cảnh nền kinh tế chịu tác động tiêu cực từ đại dịch COVID-19 cũng như thiên tai, bão lũ diễn biến phức tạp, vai trò hỗ trợ tăng trưởng kinh tế thông qua cung ứng vốn với lãi suất ưu đãi, giảm lãi suất và cơ cấu lại nợ cho khách hàng chủ yếu đặt lên vai 4 ngân hàng thương mại do Nhà nước chi phối vốn (Big 4).
Theo báo cáo tài chính soát xét bán niên năm 2025 của Agribank, quy mô các gói tín dụng ưu đãi của ngân hàng chiếm khoảng 20% tổng dư nợ, tương đương gần 400 nghìn tỷ đồng. Các gói tín dụng này tập trung vào lĩnh vực sản xuất – kinh doanh, xuất khẩu, nông nghiệp xanh và tuần hoàn; cho vay mua nhà đối với người trẻ dưới 35 tuổi; cho vay mua và đầu tư nhà ở xã hội theo chỉ đạo của Chính phủ, với mức lãi suất thấp hơn mặt bằng thị trường từ 0,5 đến 2%.
Theo báo cáo tài chính soát xét bán niên năm 2025 của Agribank, quy mô các gói tín dụng ưu đãi của ngân hàng chiếm khoảng 20% tổng dư nợ, tương đương gần 400 nghìn tỷ đồng. Các gói tín dụng này tập trung vào lĩnh vực sản xuất – kinh doanh, xuất khẩu, nông nghiệp xanh và tuần hoàn; cho vay mua nhà đối với người trẻ dưới 35 tuổi; cho vay mua và đầu tư nhà ở xã hội theo chỉ đạo của Chính phủ, với mức lãi suất thấp hơn mặt bằng thị trường từ 0,5 đến 2%.
Riêng tín dụng chính sách với lãi suất 4%/năm dành cho một số ngành, lĩnh vực ưu tiên theo chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước được Agribank duy trì ổn định ở mức khoảng 20.000 tỷ đồng mỗi năm. Ngoài Ngân hàng Chính sách Xã hội, Agribank hiện là ngân hàng duy nhất triển khai các gói tín dụng ưu đãi này trên quy mô lớn.
Ngân hàng thực hiện đa mục tiêu chật vật huy động vốn trong bối cảnh thanh khoản căng thẳng.Mặc dù gánh trách nhiệm cung ứng vốn lớn, đặc biệt là các gói tín dụng cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn hay các dự án hạ tầng nhưng Agribank nói riêng và nhóm “Big 4” nói chung lại đang gặp phải 3 rào cản lớn.
Thứ nhất, nhóm bốn ngân hàng thương mại do Nhà nước chi phối vốn đang chịu áp lực lớn trong huy động vốn, do lãi suất huy động thấp hơn đáng kể so với khối ngân hàng thương mại tư nhân. Theo khảo sát của VnEconomy, lãi suất niêm yết dành cho khách hàng phổ thông tại các ngân hàng tư nhân cao hơn từ 1–2,5% so với nhóm Big 4. Đối với khách hàng ưu tiên có quy mô tiền gửi lớn, mức chênh lệch thu hẹp còn khoảng 0,3–1%.
Ngoài ra, kênh tiền gửi tiết kiệm còn phải cạnh tranh gay gắt với các kênh đầu tư thay thế như vàng, chứng khoán, bất động sản và tài sản số, trong bối cảnh mặt bằng lãi suất duy trì ở mức thấp.
Thứ hai, vốn tự có hạn chế, khiến khả năng mở rộng tín dụng bị giới hạn. Dữ liệu từ FiinGroup cho thấy hệ số an toàn vốn (CAR) của nhóm Big 4 chỉ duy trì ở mức vừa trên ngưỡng tối thiểu (10,62%), thấp hơn đáng kể so với các ngân hàng thương mại cổ phần lớn như Techcombank, VPBank, MB và ACB.
Thứ ba, áp lực tuân thủ chỉ tiêu LDR (Loan-to-Deposit Ratio, tỷ lệ cho vay trên huy động) gia tăng, khi từ ngày 01/01/2026, tiền gửi của Kho bạc Nhà nước sẽ bị loại khỏi cơ sở tính LDR theo Thông tư 26/2022/TT-NHNN. Đặc biệt, nhóm Big 4 thu hút phần lớn nguồn tiền gửi của Kho bạc Nhà nước.
TĂNG VỐN TỰ CÓ CHO CÁC NGÂN HÀNG SỞ HỮU NHÀ NƯỚC
Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2026 ở mức tối thiểu 10%, tương ứng quy mô GDP danh nghĩa của Việt Nam có thể vượt 520 tỷ USD. Theo ước tính của FiinGroup, để đạt được mục tiêu này, nền kinh tế sẽ cần duy trì tổng vốn đầu tư toàn xã hội ở mức trên 30% GDP, tương đương khoảng 170 - 175 tỷ USD trong năm 2026.
Tỷ lệ tín dụng/GDP qua các năm cho thấy năng lực cấp vốn dài hạn của ngân hàng thương mại đang tiệm cận giới hạn an toàn.Hiện nay, các cơ quan quản lý Nhà nước đang tìm mọi cách để khơi thông các kênh dẫn vốn trung và dài hạn ngoài hệ thống ngân hàng, nhằm giảm áp lực cung ứng vốn lên các tổ chức tín dụng, đảm bảo an toàn vĩ mô.
FiinGroup ước tính để bảo đảm tăng trưởng GDP 10%, nhu cầu tổng vốn đầu tư toàn xã hội lên tới 170 – 175 tỷ USD, trong khi tỷ lệ tín dụng/GDP chạm ngưỡng 146%, rủi ro cao cho nền kinh tế.
Tuy nhiên, theo nhận định của nhiều chuyên gia, không dễ để giảm ngay tỷ lệ tín dụng ngân hàng trên GDP trong một sớm một chiều. Chính vì vậy, việc nhanh chóng thu hẹp khoảng cách giữa huy động và tín dụng, đồng thời tăng cường vốn tự có cho các ngân hàng chủ lực, là yêu cầu cấp thiết để đảm bảo an toàn hệ thống.
Trong hoạt động ngân hàng, tín dụng là khoản mục chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tài sản có và được xếp vào nhóm tài sản có rủi ro (Risk-Weighted Assets – RWA), do luôn tồn tại khả năng không thu hồi được nợ.
Khi tín dụng tăng, tài sản có rủi ro trên bảng cân đối kế toán cũng tăng tương ứng, bất kể nguồn vốn cho vay đến từ đâu. Nếu tín dụng tăng nhanh hơn huy động, bảng cân đối bị phình to về phía tài sản có rủi ro, nhưng không được củng cố tương ứng ở phía nguồn vốn.
Về mặt quản trị rủi ro, điều này có nghĩa là mức độ rủi ro trên bảng cân đối đang gia tăng nhanh hơn so với năng lực hấp thụ rủi ro của ngân hàng.
Đây chính là cơ chế cốt lõi lý giải vì sao tăng trưởng tín dụng kéo dài, nếu không đi kèm với cải thiện năng lực huy động và tăng cường vốn tự có, sẽ dẫn đến tích tụ rủi ro hệ thống.
-Phan Linh
Dự trữ khí đốt của Đức trước "bài kiểm tra" an ninh năng lượng mùa đông
Theo tờ báo DW, mức dự trữ khí đốt của Đức giảm mạnh trong mùa đông năm nay đã làm nổi bật những rủi ro tiềm ẩn đối với an ninh năng lượng của nền kinh tế lớn nhất châu Âu. Dù vậy, giới chức và các chuyên gia cho rằng hệ thống năng lượng của Đức hiện ổn định hơn nhiều so với giai đoạn khủng hoảng sau xung đột Ukraine, nhờ đa dạng hóa nguồn nhập khẩu, mở rộng hạ tầng LNG và tăng cường kết nối đường ống.
Tuy nhiên, bài toán tái bổ sung dự trữ, biến động giá khí đốt và chuyển dịch sang năng lượng sạch vẫn đặt ra những thách thức chiến lược trong trung và dài hạn.
CÚ SỐC UKRAINE VÀ BÀI TOÁN THOÁT PHỤ THUỘC KHÍ ĐỐT NGA
Đầu tháng 2, truyền thông Đức đồng loạt cảnh báo về tình trạng suy giảm nhanh dự trữ khí đốt do thời tiết lạnh kéo dài. Tạp chí Focus mô tả “đợt rét đang nuốt chửng dự trữ khí đốt”, trong khi kênh truyền hình NTV cho rằng lượng dự trữ hiện tại về lý thuyết chỉ đủ dùng thêm khoảng sáu tuần nếu điều kiện bất lợi tiếp diễn.
Sự lo ngại này phản ánh một trong những thách thức lớn nhất của nền kinh tế lớn nhất châu Âu kể từ sau khi xung đột Nga-Ukraine bùng nổ năm 2022. Khi chiến sự xảy ra, Berlin đã đưa ra quyết định chiến lược là ngừng mua dầu và khí đốt từ Nga - nguồn cung chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu năng lượng của Đức trước đó.
Quyết định này ban đầu bị hoài nghi vì nguy cơ gây gián đoạn nguồn cung, đẩy giá năng lượng tăng vọt và làm suy yếu sức cạnh tranh công nghiệp của Đức. Tuy nhiên, chỉ trong vòng một năm, Berlin đã chứng minh khả năng thích ứng đáng kể.
Một trong những trụ cột chính là đa dạng hóa nguồn nhập khẩu. Khí đốt Nga được thay thế bằng nguồn cung từ Mỹ, Na Uy và các đối tác khác. Đồng thời, các tuyến nhập khẩu được tái cấu trúc, với vai trò ngày càng lớn của khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) vận chuyển bằng đường biển.
Đáng chú ý, các cảng tiếp nhận LNG mới đã được lên kế hoạch, phê duyệt và đưa vào vận hành với tốc độ kỷ lục - một minh chứng cho khả năng điều chỉnh chính sách và hạ tầng năng lượng trong bối cảnh khủng hoảng. Đây được coi là một trong những bước chuyển chiến lược quan trọng nhất của Đức trong chính sách năng lượng thời hậu phụ thuộc Nga.
Mùa đông năm nay được đánh giá là khắc nghiệt nhất trong nhiều năm tại Đức, khiến tốc độ rút khí từ kho dự trữ tăng mạnh và làm dấy lên lo ngại về an ninh năng lượng. Tuy nhiên, giới chức và các cơ quan quản lý khẳng định rằng nguồn cung hiện vẫn nằm trong tầm kiểm soát.
Bà Susanne Ungrad, người phát ngôn Bộ Kinh tế và Năng lượng Đức, cho biết nguồn cung khí đốt “được đảm bảo”, nhờ hạ tầng LNG phát triển mạnh tại Đức và châu Âu, cùng nguồn cung chủ yếu từ khí đốt đường ống của Na Uy.
Theo các chuyên gia, ngay cả khi mùa đông khắc nghiệt hơn, hệ thống vẫn có thể đảm bảo nguồn cung trong điều kiện bình thường. Rủi ro lớn hơn lại nằm ở những cú sốc bất thường như sự cố đường ống, gián đoạn vận chuyển hoặc các sự kiện an ninh. Điều này cho thấy an ninh năng lượng không chỉ là bài toán thị trường mà còn là vấn đề địa chính trị và an ninh quốc gia.
Mức dự trự khí đốt của Đức. Nguồn: Gas Infrastructure EuropeCƠ CHẾ DỰ TRỮ VÀ NGHỊCH LÝ GIÁ NĂNG LƯỢNG
Một điểm đáng chú ý trong hệ thống năng lượng của Đức là cách vận hành các kho dự trữ khí đốt. Nhập khẩu diễn ra tương đối ổn định quanh năm, trong khi nhu cầu tiêu thụ lại biến động mạnh theo mùa.
Vào mùa hè, nhu cầu thấp, phần khí đốt nhập khẩu dư thừa sẽ được đưa vào kho dự trữ hoặc xuất khẩu. Ngược lại, vào mùa đông, các kho dự trữ đóng vai trò quan trọng trong việc bổ sung nguồn cung và ổn định thị trường.
Tuy nhiên, cơ chế này đang gặp thách thức lớn từ biến động giá. Mùa hè năm ngoái, giá khí đốt tăng cao bất thường, đến mức giá mua vào mùa hè cao hơn giá bán vào mùa đông - một hiện tượng được gọi là “chênh lệch giá mùa hè/mùa đông âm”.
Trong điều kiện bình thường, doanh nghiệp sẽ mua khí đốt giá thấp vào mùa hè, lưu trữ và bán ra vào mùa đông với giá cao hơn. Nhưng khi cấu trúc giá bị đảo ngược, động lực kinh tế của việc lưu trữ bị suy yếu, khiến doanh nghiệp không mặn mà nạp đầy kho dự trữ.
Giới chức Đức nhấn mạnh rằng việc nạp đầy kho dự trữ phải dựa trên cơ chế thị trường, và nhà nước chỉ can thiệp khi thực sự cần thiết để bảo đảm an ninh nguồn cung mà không làm suy giảm trách nhiệm của các bên tham gia thị trường. Đây là một nguyên tắc chính sách quan trọng trong bối cảnh chuyển đổi năng lượng và cải cách thị trường điện - khí tại châu Âu.
Theo ông Olaf Geyer, yếu tố then chốt là cấu trúc giá bán buôn, đặc biệt là chênh lệch giữa giá mùa hè và mùa đông. Nếu chênh lệch này đủ lớn, doanh nghiệp mới có động lực kinh tế để lưu trữ khí đốt.
Ngoài ra, các chuyên gia kêu gọi tăng tính linh hoạt của hệ thống, bao gồm mở rộng dung lượng lưu trữ, quản lý nhu cầu phía người tiêu dùng và tăng khả năng điều chỉnh phụ tải. Đây là những yếu tố quan trọng để nâng cao khả năng chống chịu trước các cú sốc cung cầu.
Song song với đó, chuyển dịch sang năng lượng sạch vẫn là ưu tiên chiến lược. Điện khí hóa hoạt động sưởi ấm, phát triển năng lượng tái tạo và cải thiện hiệu quả năng lượng được xem là những giải pháp lâu dài để giảm phụ thuộc vào khí đốt và củng cố an ninh năng lượng.
Sản lượng khí đốt tự nhiên nhập khẩu từ Nga, Na Uy, Bỉ và Hà Lan (tính bằng gigawat giờ/ngày). Nguồn: Federal Network Agency.BÀI HỌC AN NINH NĂNG LƯỢNG TỪ ĐỨC
Trường hợp của Đức cung cấp nhiều bài học quan trọng cho các nền kinh tế đang chuyển đổi, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển và các nền kinh tế phụ thuộc lớn vào nhập khẩu năng lượng.
Thứ nhất, đa dạng hóa nguồn cung là yếu tố sống còn. Việc thay thế nhanh chóng khí đốt Nga bằng LNG và nguồn cung từ các đối tác khác cho thấy tầm quan trọng của chiến lược chuỗi cung ứng năng lượng linh hoạt và đa cực.
Thứ hai, hạ tầng năng lượng có vai trò quyết định. Khả năng xây dựng và đưa vào vận hành các cảng LNG trong thời gian kỷ lục cho thấy đầu tư hạ tầng không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia.
Thứ ba, cơ chế thị trường cần được duy trì, nhưng phải có công cụ điều tiết linh hoạt để xử lý các tình huống cực đoan. Việc để thị trường quyết định nạp đầy kho dự trữ giúp duy trì hiệu quả kinh tế, nhưng cũng đặt ra rủi ro nếu cấu trúc giá bị bóp méo trong khủng hoảng.
Cuối cùng, chuyển dịch năng lượng không thể tách rời khỏi chiến lược an ninh năng lượng. Việc mở rộng năng lượng tái tạo và điện khí hóa không chỉ nhằm giảm phát thải mà còn giúp giảm phụ thuộc vào nguồn cung bên ngoài và tăng khả năng tự chủ chiến lược.
Mùa đông năm nay là một bài kiểm tra quan trọng đối với hệ thống năng lượng của Đức. Dù dự trữ khí đốt giảm xuống mức thấp đáng lo ngại, hệ thống vẫn được đánh giá đủ khả năng đảm bảo nguồn cung trong điều kiện bình thường. Tuy nhiên, bài toán tái bổ sung dự trữ, biến động giá và chuyển dịch sang năng lượng sạch sẽ tiếp tục là những thách thức chiến lược định hình chính sách năng lượng của Đức trong những năm tới.
DW-Trọng Hoàng
Panasonic nâng cao an toàn thực phẩm từ giải pháp không khí đạt chuẩn HACCP International
Ra đời kể từ năm 1960, HACCP (Hazard Analysis and Critical Control Points) là hệ thống chứng nhận uy tín toàn cầu nhằm đánh giá nguy cơ và quản lý an toàn thực phẩm. Được áp dụng rộng rãi tại các thị trường khắt khe như Mỹ, châu Âu và Nhật Bản, chứng nhận này yêu cầu doanh nghiệp sản xuất thực phẩm phải vượt qua những tiêu chí kiểm định nghiêm ngặt, tiến đến năng lực vận hành đạt chuẩn quốc tế.
HACCP vì vậy không chỉ dừng lại ở khía cạnh kỹ thuật, mà còn mang ý nghĩa giúp các tổ chức và doanh nghiệp đảm bảo an toàn thực phẩm, nâng cao hiệu suất vận hành, tối ưu hóa công tác quản lý, đồng thời gia tăng uy tín thương hiệu và mở rộng cơ hội tiếp cận thị trường quốc tế.
Chứng nhận HACCP giúp thương hiệu FB bảo đảm an toàn thực phẩm, tối ưu vận hành và khẳng định uy tín trên thị trường quốc tế. Ảnh: Panasonic.Đáng chú ý, nếu như trước đây, chứng nhận CODEX HACCP chỉ tập trung vào các quy trình sản xuất và chế biến trực tiếp, thì hiện nay, HACCP International đã mở rộng phạm vi sang các thiết bị hoặc dịch vụ liên quan đến thực phẩm, trong đó có giải pháp không khí chuyên sâu. Đây là một bước ngoặt mang tính tiếp cận toàn diện trong mục tiêu đảm bảo an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng, bởi chất lượng không khí trong không gian kín của các cơ sở FB luôn chịu tác động từ vi khuẩn, virus, mùi và mật độ khách ra vào liên tục.
Từ trước đến nay, chất lượng không khí là yếu tố quan trọng trong các mô hình kinh doanh FB chuyên biệt. Cụ thể, tại các nhà máy thực phẩm, khu vực đóng gói đòi hỏi môi trường khí sạch tuyệt đối để ngăn chặn các tác nhân gây hại tiếp xúc với sản phẩm. Trong khi đó, các siêu thị cần chú trọng ngăn ngừa nguy cơ nhiễm khuẩn tại khu vực xử lý nguyên liệu tươi sống. Đối với hệ thống nhà hàng cao cấp, duy trì môi trường không khí trong lành, ổn định và kiểm soát hiệu quả các yếu tố gây mùi chính là điều kiện tiên quyết, góp phần nâng cao trải nghiệm thực khách.
Do đó, sử dụng hệ thống giải pháp không khí đạt chuẩn quốc tế là chọn lựa ưu tiên để các cơ sở FB thiết lập tiêu chuẩn vận hành chuyên nghiệp và bảo vệ giá trị thương hiệu bền vững.
PANASONIC ĐẠT CHỨNG NHẬN QUỐC TẾ HACCP INTERNATIONAL CHO GIẢI PHÁP KHÔNG KHÍ THÔNG MINHKhẳng định vị thế dẫn đầu qua hơn một thế kỷ hình thành và phát triển, Panasonic là thương hiệu đầu tiên đạt chứng nhận quốc tế HACCP International cho sản phẩm điều hòa thương mại, kế tiếp thành tựu của thiết bị xử lý không khí ziaino™ đã đạt chứng nhận HACCP International trước đó.
Panasonic là thương hiệu đầu tiên đạt chứng nhận quốc tế HACCP International cho các sản phẩm điều hòa không khí. Ảnh: Panasonic.Theo đó, các dòng điều hòa thương mại ứng dụng công nghệ nanoe™ X thế hệ 3 chứng minh hiệu năng vượt trội trong việc ức chế virus, vi khuẩn, nấm mốc, độc tố từ nấm mốc (*) và các tác nhân gây dị ứng, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của con người. Song song, thiết bị xử lý không khí ziaino™ cũng khẳng định năng lực khử trùng liên tục, giúp ức chế hơn 99% virus gây bệnh trong không khí và loại bỏ hoàn toàn các mùi khó chịu (**).
Nhận định về cột mốc này, đại diện Công ty chứng nhận quốc tế HACCP International – ông Nigel Asai khẳng định:“Đây là chứng nhận HACCP International đầu tiên cho sản phẩm về điều hòa. Chứng nhận này là minh chứng cho năng lực phát triển công nghệ của Panasonic, đồng thời cho thấy bước tiến quan trọng góp phần mở rộng cách tiếp cận về an toàn thực phẩm: không chỉ giới hạn ở quy trình chế biến và vận hành mà còn bao gồm cả việc lựa chọn các thiết bị phù hợp đảm bảo chất lượng không khí cho các cơ sở kinh doanh, chế biến thực phẩm.”
Trong tầm nhìn dài hạn, Panasonic định hướng trở thành đối tác đồng hành cùng các tổ chức và doanh nghiệp FB xây dựng không gian tối ưu công năng, song song tiết kiệm chi phí vận hành và đảm bảo các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm quốc tế. Trên nền tảng đó, thương hiệu phát triển bộ giải pháp tổng thể cho không gian FB bao gồm điều hòa cục bộ thương mại, điều hòa trung tâm, hệ thống quản lý chất lượng không khí (CAMS), thông gió thu hồi nhiệt (ERV), giải pháp thiết bị xử lý không khí trong nhà IAQ (quạt trần - quạt điện - quạt hút, kết hợp máy lọc không khí và máy hút ẩm), giải pháp chiếu sáng, giúp nâng chuẩn không gian, nâng tầm trải nghiệm cho khách hàng.
Panasonic định hướng trở thành đối tác đồng hành cùng các doanh nghiệp FB, hiện thực hóa sứ mệnh cung cấp giải pháp sức khỏe toàn diện. Ảnh: Panasonic.Bằng việc khẳng định mục tiêu kiến tạo các giải pháp HVAC (hệ thống sưởi ấm, thông gió và điều hoà không khí) hiện đại, Panasonic đã và đang thực hiện vai trò cung cấp giải pháp sức khỏe toàn diện, mang tới cuộc sống khỏe mạnh, an toàn và tiện nghi cho con người. Bước tiến tiên phong đưa chuẩn mực HACCP International vào giải pháp khí sạch đã tạo nên tiền đề quan trọng để hướng đến một hệ sinh thái FB chuyên nghiệp, đề cao năng lực vận hành theo quy chuẩn quốc tế – nơi sức khỏe cộng đồng và chất lượng sản phẩm luôn được đặt làm trọng tâm.
(*) Theo kết quả thử nghiệm số H24NF036-1 từ Trung tâm Phân tích Sản phẩm Panasonic Nhật Bản năm 2025.
Tìm hiểu về hiệu quả công nghệ nanoe™ X thế hệ 3 tại đây: Bằng chứng | nanoe™ X | Air Conditioner | Panasonic Vietnam
(**) Theo báo cáo kiểm nghiệm số 1174/02c3 từ Panasonic Ecology System (Kết quả ức chế COVID-19 - Panasonic Việt Nam).
-Tuấn Sơn
Thanh khoản cải thiện, khối ngoại quay lại mua ròng
VN-Index chốt phiên sáng tăng 0,49% (+8,64 điểm) nhưng độ rộng không mấy ấn tượng: 115 mã tăng/169 mã giảm. Ảnh hưởng của các trụ là rất rõ nét: VIC tăng kịch trần, VHM tăng 6%, VPL tăng 2,77%, VRE tăng 3,19%. Chỉ riêng nhóm Vin đã đem về hơn 22,5 điểm, tức là nhiều hơn đáng kể so với tổng điểm tăng của chỉ số.
VIC có phiên đột phá thứ hai trong vòng 4 phiên sau nhịp điều chỉnh hơn 32% trước đó. Thanh khoản ở cổ phiếu lớn nhất thị trường đang ghi nhận 509 tỷ đồng, còn cao hơn cả phiên hôm qua. Các tài khoản ngoại đang mua 41,6% tổng khối lượng, giá trị ròng đạt khoảng 177,1 tỷ đồng. VHM cũng có diễn biến tương tự VIC trong 4 phiên gần nhất dù cường độ có yếu hơn. VHM đã có nhịp điều chỉnh khoảng 39% kể từ đỉnh tháng 1/2026. Thanh khoản của VHM đứng ngay sau VIC với 450,4 tỷ đồng.
VN30-Index cũng đang hưởng lợi khá nhiều từ nhóm Vin, tăng 0,62% so với tham chiếu dù độ rộng chỉ là 11 mã tăng/16 mã giảm. Ngoài 4 mã nhóm này, chỉ có MBB tăng 1,63%, DGC tăng 1,19% là đáng kể. Ngược lại rổ này có 7 cổ phiếu giảm mạnh quá 1%, dẫn đầu là BID giảm 6,52%. Cổ phiếu này đã bước sang phiên điều chỉnh thứ 6 kể từ đỉnh cao, nhưng đến sáng nay mới bẻ gãy hoàn toàn vùng dao động tháng 1. BID xuất hiện áp lực bán rất lớn, đẩy thanh khoản lên 728,3 tỷ đồng, cao thứ hai thị trường và dù mới phiên sáng đã lập kỷ lục 9 phiên gần nhất. Ngoài BID, PLX giảm 4,36%, GVR giảm 4,4%, GAS giảm 2,42%, VJC giảm 1,45%, VCB giảm 1,08%, SAB giảm 1,31%.
Với độ rộng không được tốt, phần còn lại của thị trường cũng đang khá yếu, dù vẫn có một số mã nhận được dòng tiền tốt. HoSE đang ghi nhận 46 cổ phiếu tăng hơn 1% nhưng giao dịch dồn vào chừng 17 cổ phiếu hàng đầu, những mã đạt thanh khoản tối thiểu 10 tỷ đồng. Trừ nhóm Vin, không nhiều cổ phiếu thanh khoản ấn tượng: MBB tăng 1,63% với 976,8 tỷ; VIX tăng 1,2% với 263,8 tỷ; GEX tăng 1,67% với 133,3 tỷ; EIB tăng 3,9% với 116,6 tỷ; KDH tăng 1,88% với 84 tỷ; PAN tăng 2,29% với 48,5 tỷ…
Diễn biến chỉ số VN-Index sáng nay.Ở phía giảm tình hình khá xấu khi có 69 mã giảm quá 1%. Nhóm này chiếm xấp xỉ 29% tổng giá trị khớp lệnh sàn HoSE, tức là tập trung khá cao. Nguyên nhân là nhóm blue-chips có tới 7 mã trong số này, tất cả đều giao dịch khá lớn. Nhóm midcap có BSR giảm 1,42%, PVD giảm 1,76%, VPI giảm 1,54%, DGW giảm 2,87% cũng thanh khoản cỡ trăm tỷ đồng.
Nhà đầu tư nước ngoài sáng nay có diễn biến cải thiện đáng kể khi tăng mua trở lại gần gấp đôi sáng hôm qua, đạt 1.699 tỷ đồng. Giá trị ròng trên HoSE khoảng 272,5 tỷ, chấm dứt chuỗi 20 phiên sáng bán ròng liên tục. Tuy vậy các giao dịch mua ròng rất tập trung vào MBB +453,2 tỷ, VIC +177,1 tỷ, GVR +48,6 tỷ, KDH +35,9 tỷ. Phía bán ròng có BID -150 tỷ, VCB -94,7 tỷ, HPG -77,1 tỷ, ACB -70,8 tỷ, FPT -50,8 tỷ, MSN -50,1 tỷ.
Mặc dù thị trường có tín hiệu phục hồi thanh khoản sáng nay nhưng cũng chưa phải là nhiều. HoSE khớp lệnh đạt 10.292 tỷ đồng, so với trung bình các phiên sáng tuần trước khoảng 15.393 tỷ đồng là kém. Thị trường vẫn đang cho thấy dòng tiền chọn cách mua giá thấp là chính, khiến cơ hội phục hồi giá không rõ ràng. Điểm tốt là chỉ còn khoảng 28% số cổ phiếu có giao dịch của VN-Index còn chốt ở giá thấp nhất hoặc trên giá thấp nhất 1 bước giá nhưng không có dư mua. Nếu dòng tiền bắt đáy tiếp tục hoạt động tốt lên trong buổi chiều thì cơ hội phân hóa sẽ rõ nét hơn.
-Kim Phong
Việt Nam cần tập trung xử lý 3 vấn đề then chốt để đạt mục tiêu nâng hạng tín nhiệm quốc gia năm 2030
Trong cập nhật triển vọng xếp hạng mới đây, VinaCapital nhấn mạnh: Để đạt được việc nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia lên mức Đầu tư, Việt Nam cần tập trung xử lý ba vấn đề then chốt sau đây:
Thứ nhất, tăng cường các “hàng rào an toàn” cho khu vực tài chính: Bao gồm việc nâng cao quy mô dự trữ ngoại hối; củng cố sức khỏe hệ thống ngân hàng (cải thiện chất lượng tài sản, mức độ vốn hóa, khung chính sách…); kiểm soát đòn bẩy tài chính quá mức; cùng với việc áp dụng các quy định cho vay chặt chẽ hơn.
Thứ hai, nâng cao tính dự báo của chính sách và khuôn khổ pháp lý: Thể hiện qua quy trình ra quyết định của Chính phủ rõ ràng hơn, với chu kỳ chính sách có thể dự đoán được; thu hẹp các khoảng trống trong giám sát tài chính và quản trị doanh nghiệp; đồng thời tăng cường các cơ chế bảo vệ pháp lý đối với nhà đầu tư nước ngoài.
Thứ ba, cải thiện tính minh bạch dữ liệu: Bao gồm việc công bố chi tiết hơn các số liệu về ngoại hối (như nợ tư nhân ngắn hạn, các vị thế ngoại hối kỳ hạn); công khai đầy đủ nghĩa vụ nợ của doanh nghiệp nhà nước và các dự án PPP; cũng như chuẩn hóa các chỉ tiêu phản ánh chất lượng tài sản của ngân hàng (nợ xấu, các khoản nợ được cơ cấu lại).
Nhiều ngân hàng tại Việt Nam hiện có bộ đệm vốn khá mỏng. Cụ thể, tỷ lệ an toàn vốn (CAR) toàn ngành vào cuối năm 2024 đạt khoảng 12,5%, trong đó một số ngân hàng chủ chốt chỉ ở sát ngưỡng tối thiểu theo quy định, khiến bộ đệm vốn để chống đỡ các cú sốc tín dụng còn hạn chế.
Hơn nữa, một số tổ chức tín dụng vẫn đang trong quá trình hoàn thiện việc tuân thủ đầy đủ các chuẩn mực Basel II/III, đặc biệt liên quan đến phương pháp tính tài sản theo trọng số rủi ro, trích lập dự phòng rủi ro và các yêu cầu về thanh khoản. Tất cả những vấn đề này có thể trở nên nghiêm trọng hơn do tốc độ tăng trưởng tín dụng nhanh đang diễn ra tại các ngân hàng này.
Cuối năm ngoái, Fitch đã cảnh báo rằng áp lực từ phía các nhà hoạch định chính sách Việt Nam nhằm “đẩy nhanh tăng trưởng tín dụng — vốn đã ở mức rất cao” có thể làm gia tăng thêm các điểm yếu trong hệ thống ngân hàng có bộ đệm vốn mỏng. Các vấn đề tiềm ẩn trong lĩnh vực ngân hàng có thể tạo ra tác động lan truyền sang toàn bộ nền kinh tế, khi quy mô tài sản mà các ngân hàng Việt Nam nắm giữ hiện tương đương gần hai lần GDP.
Tất cả những điều trên càng củng cố tính cấp thiết của các cải cách chủ động từ Chính phủ, tương tự như cách Hàn Quốc đã làm khi ban hành Đạo luật Khuyến khích Tái cơ cấu Doanh nghiệp (2001), giúp tăng vốn cho nhiều ngân hàng, đẩy nhanh quá trình xử lý nợ xấu và áp dụng các quy định cho vay chặt chẽ hơn. Trong trường hợp của Việt Nam, các tổ chức xếp hạng tín nhiệm khác nhau đã bày tỏ lo ngại về một số vấn đề, trong đó bao gồm tính đầy đủ của dữ liệu liên quan đến ngoại hối (như dự trữ ngoại hối, vị thế đầu tư nước ngoài và nợ nước ngoài ngắn hạn).
Đây là một điểm mấu chốt mà Việt Nam đang nỗ lực giải quyết, bởi dữ liệu không đầy đủ khiến các tổ chức xếp hạng khó đánh giá được năng lực của quốc gia trong việc thực hiện các nghĩa vụ tài chính đối ngoại trong điều kiện khó khăn. Kết quả là, các tổ chức này buộc phải áp dụng những giả định thận trọng hơn, từ đó gây bất lợi lên kết quả xếp hạng cuối cùng.
"Việt Nam đã và đang có những bước tiến đáng kể trong việc củng cố nền tảng thể chế, giải quyết vấn đề minh bạch trong công bố dữ liệu ngoại hối, cũng như thực thi giám sát tài chính và pháp lý chặt chẽ hơn. Tuy nhiên, cần có một tinh thần quyết liệt hơn nữa để tháo gỡ các điểm nghẽn cụ thể mà các tổ chức xếp hạng tín nhiệm xem xét, nếu muốn đạt được mục tiêu nâng hạng tín nhiệm lên mức Đầu tư vào năm 2030", ông Michael Kokalari, CFA, Giám đốc phòng Phân tích kinh tế vĩ mô và Nghiên cứu thị trường VinaCapital nhấn mạnh.
Nhìn rộng hơn, tiến trình củng cố thể chế của Việt Nam được triển khai xoay quanh Nghị quyết 66 (có hiệu lực từ tháng 4/2025). Đây là Nghị quyết có tính đột phá khi yêu cầu xây dựng khung pháp luật hiện đại, dựa trên nguyên tắc pháp quyền, khắc phục sự chồng chéo, mâu thuẫn, đồng thời tăng cường hiệu lực thực thi và tuân thủ.
Sau khi Nghị quyết 66 được thông qua, số lượng luật mới được phê duyệt tại Kỳ họp thứ 9 Quốc hội vào tháng 6/2025 nhiều hơn so với cả giai đoạn 2021–2023 cộng lại, giải quyết hàng loạt vấn đề có thể tác động đến điểm xếp hạng tín nhiệm của Việt Nam (như đã đề cập ở trên). Hơn nữa, Kỳ họp thứ 10 Quốc hội, bắt đầu từ tháng 10/2025 và kết thúc vào tháng 1/2026, cũng thông qua kỷ lục 53 dự án luật và nghị quyết, đánh dấu một đợt thúc đẩy lập pháp quy mô lớn để sửa đổi các khoảng trống thể chế.
Song song với các cải cách pháp lý này, Đề án chuyển đổi số và chuẩn hóa hệ thống dữ liệu quốc gia theo Luật Dữ liệu mới, điển hình là việc ra mắt Trung tâm Dữ liệu Quốc gia, giúp chuẩn hóa và mở thêm nhiều bộ dữ liệu nhà nước cập nhật dưới định dạng có thể đọc được bằng máy. Sự quyết liệt này cần được áp dụng cho các vấn đề khác liên quan đến việc củng cố hệ thống ngân hàng; bộ đệm thanh khoản ngoại hối và cải thiện tính minh bạch của dữ liệu tài khóa và ngoại hối.
Với mục tiêu của Chính phủ là đạt mức xếp hạng đầu tư vào năm 2030, các cải cách nên tập trung vào các tiêu chí xếp hạng cụ thể được SP Global, Moody’s và Fitch theo dõi sát sao.
Ngoài ra, một khi đã đạt được, việc duy trì mức xếp hạng đầu tư sẽ đòi hỏi sự kỷ luật bền vững. Sau khi đạt mức BBB- vào năm 2012, Thổ Nhĩ Kỳ đã bị hạ bậc, một phần do bộ đệm thanh khoản ngoại hối bị suy yếu. Việt Nam cũng có thể đối mặt với các rủi ro tương tự nếu các cải cách thúc đẩy tăng trưởng — chẳng hạn như việc đẩy mạnh tín dụng nhanh qua các ngân hàng thương mại cổ phần nhà nước hoặc bơm lượng vốn lớn cho các tập đoàn lớn hơn là đẩy mạnh năng lực giám sát và các biện pháp bảo đảm an toàn vốn.
Cuối cùng, VinaCapital nhấn mạnh: Việc được nâng hạng lên mức Đầu tư sẽ đánh dấu một cột mốc then chốt trong quỹ đạo phát triển kinh tế của Việt Nam, gỡ bỏ một trong những rào cản cấu trúc cuối cùng đang hạn chế khả năng tiếp cận của quốc gia với nhóm các nhà đầu tư toàn cầu quy mô lớn hơn — những tổ chức có năng lực tài trợ cho các dự án hạ tầng quy mô lớn, cũng như các nguồn vốn đa tài sản lớn hơn (bao gồm các chỉ số trái phiếu mức đầu tư và vốn hạ tầng kỳ hạn dài).
Việc đạt được ngưỡng này sẽ mở ra cánh cửa đến với một phạm vi rộng lớn hơn các nhà đầu tư tổ chức — bao gồm quỹ hưu trí, công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư quốc gia và các ủy thác đầu tư trái phiếu xếp hạng đầu tư (investment-grade bond mandates) — đồng thời giảm chi phí huy động vốn cho cả khu vực chính phủ và doanh nghiệp.
Các tác động này có tính chất bổ trợ và củng cố lẫn nhau. Dòng vốn vào mạnh mẽ hơn giúp tái xây dựng bộ đệm ngoại hối (FX buffers), giảm phần bù rủi ro, hỗ trợ ổn định tiền tệ và cải thiện hiệu quả kinh tế của các dự án hạ tầng quy mô lớn, cho phép Việt Nam đẩy nhanh việc xây dựng cảng biển, đường cao tốc, nhà máy phát điện và các khoản đầu tư thiết yếu khác để duy trì tăng trưởng dài hạn.
-Thu Minh
Du khách xả rác thải nhựa cao hơn gần 2 lần so với người dân sở tại ở các điểm du lịch
Theo báo cáo nghiên cứu cơ sở đánh giá ô nhiễm nhựa trong ngành du lịch của UNDP, ngành du lịch vừa là động lực kinh tế, vừa là nguồn phát thải rác nhựa đe dọa chính tài sản cốt lõi của mình là cảnh quan và môi trường.
Nhựa dùng một lần xuất hiện phổ biến trong hầu hết các khâu của chuỗi giá trị du lịch, từ lưu trú, ăn uống, vận chuyển, tham quan cho đến các hoạt động giải trí và trở thành một trong những nguồn phát sinh rác thải khó kiểm soát nhất tại các điểm đến.
NGUỒN PHÁT SINH RÁC THẢI NHỰA TỪ DU KHÁCHTheo các thống kê, lượng sử dụng nhựa hàng năm ở Việt Nam đã tăng từ 3,8 kg/người/năm vào năm 1990 lên 33 kg/người vào năm 2010, 41 kg/người vào năm 2015 và 81 kg/người vào năm 2019. Khối lượng nhựa tiêu thụ trung bình của Việt Nam cao hơn so với trung bình thế giới (46 kg/người), Châu Á (39 kg/người), nhưng còn thấp hơn các quốc gia thuộc khối NAFTA (170 kg/người) và Châu Âu (126 kg/người) (WWF, 2022).
Tại Việt Nam, chất thải nhựa là một trong những thành phần đáng kể trong dòng chất thải rắn sinh hoạt, chiếm khoảng 3–26% (trung bình khoảng 12%) tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt, và được đánh giá là nhóm chất thải có nguy cơ thất thoát ra môi trường cao do đặc tính khó phân hủy, giá trị tái chế không đồng đều và phụ thuộc lớn vào hành vi tiêu dùng – thải bỏ của của người dân và du khách (World Bank, 2023).
Trong ngành du lịch, việc sử dụng các sản phẩm nhựa dùng một lần (SUPs) như chai nước, bao bì, đồ amenities khách sạn đã trở thành thói quen khó bỏ do tính tiện lợi và giá rẻ.
Chất thải nhựa là một trong những thành phần đáng kể trong dòng chất thải rắn sinh hoạt. Ảnh minh họaTừ thực tế điển hình ở TP.Đà Nẵng và Ninh Bình, nghiên cứu chỉ rõ tại Ninh Bình, tổng lượng chất thải rắn từ du lịch là 27,24 tấn/ngày (chiếm 1,08% tổng rác thải tỉnh nhưng cục bộ lên tới 20% tại các xã du lịch trọng điểm như Hoa Lư); trong đó tỷ lệ rác nhựa cao hơn, chiếm 18,5% (5,04 tấn/ngày).
Còn tại Đà Nẵng, tổng lượng chất thải rắn từ du lịch là 117,8 tấn/ngày (chiếm 5,95% tổng rác thải của thành phố); trong đó, rác nhựa chiếm 13,56% (15,98 tấn/ngày).
Về cường độ phát thải (kg/khách/ngày), nghiên cứu cho biết khách lưu trú tại Đà Nẵng xả thải gấp hơn 2 lần khách tại Ninh Bình (2,01 kg/ngày so với 0,51 kg/ngày). Điều này phản ánh mô hình tiêu dùng cao cấp, sử dụng nhiều bao bì và tiện ích tại các đô thị nghỉ dưỡng biển.
Đáng chú ý, nghiên cứu chỉ rõ thực tế lượng rác nhựa phát sinh từ khách du lịch (từ 0,12 - 0,27 kg/người/ngày) cao gấp 1,7 đến 2 lần so với người dân địa phương, khẳng định du khách là nguồn phát sinh chính.
Tại Ninh Bình, rác nhựa PET đứng đầu bảng (chiếm 38%), tiếp đó là túi ni lông (19%). Nguyên nhân do đặc thù di chuyển bằng thuyền và đi bộ tham quan di sản khiến nhu cầu nước đóng chai rất cao.
Còn tại Đà Nẵng, túi nilon và nhựa dùng một lần (SUPs) là “điểm nóng” khi chiếm tỷ trọng cao nhất (23,7%), vượt qua chai nhựa. Điều này phản ánh thói quen mua sắm, ăn uống mang đi (take-away) và các dịch vụ tiện ích tại bãi biển.
“ĐIỂM NGHẼN” THU GOM, TRUNG CHUYỂN RÁC THẢI NHỰATrước hiện trạng rác thải nhựa trên, nghiên cứu phát hiện một nghịch lý về dòng chảy và rò rỉ: tỷ lệ tái chế cao không đồng nghĩa với tỷ lệ rò rỉ rác thấp.
Tại Ninh Bình, tỷ lệ thu gom tái chế rất cao (47,25%) do rác PET có giá trị kinh tế, thu hút lực lượng ve chai/phi chính thức hoạt động mạnh. Tuy nhiên, tỷ lệ rò rỉ nhựa ra môi trường lại cao (9%, tương đương 0,45 tấn/ngày). Nguyên nhân được chỉ ra là do địa hình sông nước, hang động khó thu gom triệt để và hệ thống thu gom tại vùng nông thôn còn hạn chế (91%).
Trong khi đó, tại Đà Nẵng, tỷ lệ tái chế thấp hơn (14,33%) do phần lớn rác là túi nilon và hộp xốp (giá trị thấp) bị chôn lấp. Nhưng nhờ hạ tầng đô thị tốt, tỷ lệ rò rỉ thấp (0,75%, tương đương 0,12 tấn/ngày). Tuy nhiên, lượng rò rỉ này chủ yếu trôi ra biển, gây tác hại sinh thái nghiêm trọng.
Các phát hiện định lượng từ nghiên cứu cho thấy ô nhiễm nhựa trong ngành du lịch không còn là vấn đề môi trường cục bộ, mà đã trở thành một thách thức mang tính kinh tế, quản trị và năng lực cạnh tranh điểm đến.Nghiên cứu chỉ ra rằng điểm nghẽn lớn nhất là sự "đứt gãy" trong khâu thu gom, trung chuyển. Thực tế tại nhiều nơi, doanh nghiệp đã phân loại rác tại nguồn, nhưng đơn vị thu gom lại đổ lẫn rác đã phân loại vào chung một xe để vận chuyển đi chôn lấp/đốt, gây lãng phí nguồn lực và mất niềm tin của người dân và doanh nghiệp.
Thực tế nghiên cứu cho thấy mặc dù 95-100% doanh nghiệp đã nhận thức được tác hại của rác nhựa, nhưng 95% (Ninh Bình) và 81,6% (Đà Nẵng) vẫn đang cung cấp nhựa dùng một lần.
Một trong những rào cản chính đó là vấn đề chi phí sản phẩm thay thế đắt hơn nhựa (rào cản lớn nhất với 53% doanh nghiệp). Trong khi đó, sản phẩm nhựa lại được 87% doanh nghiệp đánh giá tiện lợi và khách hàng đã quen thuộc.
Không những thế, việc thiếu nguồn cung, thiếu nhà cung cấp sản phẩm xanh ổn định và giá cả phải chăng cho SMEs cũng là một rào cản dẫn đến tình trạng này.
Về phía du khách, 72% khách tại Ninh Bình sử dụng >3 chai nhựa/ngày, còn khách quốc tế tiêu thụ chai nhựa nhiều hơn khách nội địa.
Một thực tế đáng suy ngẫm là hiện nay mức sẵn lòng chi trả thêm cho dịch vụ xanh rất thấp. 71% du khách chỉ chấp nhận trả thêm dưới 10% chi phí chuyến đi cho các hoạt động bảo vệ môi trường.
Theo các chuyên gia nghiên cứu “du khách sẽ không tự thay đổi nếu không có hạ tầng hỗ trợ (trạm refill, thùng rác phân loại) và các lựa chọn "mặc định" là xanh từ phía doanh nghiệp”.
Các phát hiện định lượng từ nghiên cứu cho thấy ô nhiễm nhựa trong ngành du lịch không còn là vấn đề môi trường cục bộ, mà đã trở thành một thách thức mang tính kinh tế, quản trị và năng lực cạnh tranh điểm đến.
Quy mô phát sinh lớn, mức độ tập trung cao của các dòng rác nhựa chủ đạo, cùng với chi phí của việc không hành động ở mức hàng trăm đến hàng nghìn tỷ đồng mỗi năm, đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với các can thiệp chính sách và đầu tư có trọng tâm, mang tính hệ thống, có khả năng mở rộng…
-Nhĩ Anh
Hải Phòng: Đầu tư cơ sở hạ tầng để đưa 3 khu vực khó khăn thành trọng điểm du lịch
Trong định hướng quy hoạch phát triển đến năm 2045, thành phố Hải Phòng dự định thực hiện quy hoạch, định vị phát triển kinh tế, đầu tư hạ tầng, kết nối giao thông thu hút đầu tư phát triển phường Nguyễn Trãi, đặc khu Cát Hải, đặc khu Bạch Long Vĩ còn không ít khó khăn trở thành các vùng trọng điểm phát triển du lịch – một trong ba trụ cột phát triển kinh tế của thành phố cảng.
“VÙNG LÕM” CỦA THÀNH PHỐ CẢNG
Phường Nguyễn Trãi nằm ở phía Tây Hải Phòng được hình thành trên cơ sở hợp nhất các phường Bến Tắm, xã Hoàng Hoa Thám, xã Bắc An Ninh (thuộc thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương trước đây). Phường có dân số 15.899 người, trong đó, có 3.515 người dân tộc thiểu số (chiếm 22%). Tại đây có 23 khu dân cư thì có tới 12 khu có 15% người dân tộc thiểu số sinh sống.
Do đặc thù địa hình miền núi, mật độ dân cư thưa thớt, kinh tế chủ yếu phụ thuộc vào chăn nuôi, trồng trọt, việc thu hút đầu tư, tạo sinh kế cho người dân phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ gặp nhiều khó khăn. Phường Nguyễn Trãi vẫn có tới 1,3% hộ nghèo đa chiều, thu nhập người dân nơi đây bấp bênh, thấp hơn nhiều mặt bằng thu nhập bình quân chung của Hải Phòng.
Tại phía Đông Hải Phòng, hai đặc khu Cát Hải và Bạch Long Vĩ mặc dù không có hộ nghèo, hộ cận nghèo nhưng tại nhiều khu vực vẫn còn hết sức khó khăn về hạ tầng. Tại thôn 1, thôn 2 Việt Hải (đặc khu Cát Hải) vẫn chưa có đường giao thông kết nối tới trung tâm đặc khu, người dân di chuyển ra bên ngoài chủ yếu đi đò, mùa mưa bão, việc đi lại tương đối khó khăn. Khu vực đảo Cát Bà kết nối với đất liền phải qua phà Cái Viềng - Đồng Bài hoặc cáp treo, vào mùa du lịch, thường xuyên bị ùn tắc, ảnh hưởng đến cuộc sống người dân, tạo ấn tượng không tốt về hình ảnh du lịch của địa phương.
Đặc khu Bạch Long Vĩ là đảo xa bờ nhất nằm trong Vịnh Bắc Bộ, đi lại của người dân trên đảo với đất liền hoàn toàn phụ thuộc vào tàu Hoa Phượng Đỏ. Con tàu đã được Hải Phòng đầu tư từ nhiều năm trước, không đảm bảo nhu cầu đi lại của người dân trên đảo với đất liền. Nhà ở của người dân trên đảo cũng do nhà nước đầu tư từ 20 - 30 năm trước, tạm giao cho các hộ dân sử dụng khi thực hiện di dân ra đảo.
Cả hai đặc khu Cát Hải, Bạch Long Vĩ cũng được đánh giá là những địa phương chịu nhiều ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, thời tiết cực đoan. Trong đó, một số thôn xóm gần đê bao vẫn còn tình trạng nước tràn qua đê gây ngập lụt kéo dài khi có mưa bão, triều cường kéo dài, ảnh hưởng cuộc sống và sinh kế của người dân.
ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN THÀNH CÁC DU LỊCH
Theo đánh giá từ UBND TP. Hải Phòng, phường Nguyễn Trãi là địa bàn miền núi, thuộc khu vực khó khăn. Tuy nhiên, địa phương này lại được thiên nhiên ưu đãi có các hồ nước lớn. Hệ thống hồ bến Tắm có các đảo nổi trên hồ nằm giữa địa hình đồi núi nhấp nhô, rừng cây bao bọc, tạo nên cảnh quan kỳ vĩ, được ví như “hồ Xuân Hương” của Hải Dương (trước đây).
Trên sườn núi Tam Ban thuộc cánh cung Đông Triều có chùa Thanh Mai (một trong ba trung tâm Phật giáo quan trọng của Thiền phái Trúc Lâm) nằm trong quần thể di sản thế giới Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc.
UBND TP. Hải Phòng xác định đây là những tài nguyên, tiềm năng, lợi thế quý giá để phát triển du lịch tâm linh, sinh thái. Để đánh thức các tiềm năng, lợi thế, đưa khu vực này thoát nghèo cần đầu tư hạ tầng giao thông để phát triển du lịch sinh thái hồ Bến Tắm và kết nối di tích chùa Thanh Mai vào tuyến du lịch để phát huy giá trị di sản Thanh Mai - Côn Sơn - Kiếp Bạc.
Hải Phòng dự định sẽ đầu tư loạt các công trình hạ tầng giao thông trên địa bàn phường Nguyễn Trãi như các dự án tuyến đường kết nối từ tỉnh lộ 397B với đường tỉnh 354 (Quảng Ninh), tuyến đường kết nối từ tỉnh lộ 397B (đoạn từ cầu Đồng Châu) với tỉnh Bắc Ninh để phá vỡ thế cô lập, đánh thức vùng di sản, sinh thái, tâm linh để phát triển kinh tế.
Hải Phòng cũng xác định sẽ đẩy nhanh tiến độ thu hút đầu tư, thực hiện dự án khu du lịch nghỉ dưỡng, sinh thái, thể thao và vui chơi giải trí hồ Bến Tắm vốn đã được tỉnh Hải Dương (trước đây) phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch từ năm 2021. Bên cạnh đó là thực hiện trùng tu chùa Thanh Mai để hình thành hệ thống du lịch sinh thái – tâm linh, kết nối di sản văn hoá thiêng liêng với cảnh quan non nước thơ mộng.
Tại khu vực phường Nguyễn Trãi, Hải Phòng sẽ đẩy mạnh hỗ trợ các hoạt động khuyến nông, khuyến lâm, khuyến công, tổ chức các hộ kinh doanh hình thành mô hình liên kết sản xuất – tiêu thụ sản phẩm, phát triển kinh tế tập thể. Bên cạnh đó là đẩy mạnh phát triển kinh tế tư nhân, hỗ trợ doanh nghiệp, tổ chức, hộ kinh doanh phát triển, hình thành các mô hình liên kết phát triển kinh tế bền vững đưa khu vực này trở thành trọng điểm phát triển kinh tế du lịch, dịch vụ khu vực Tây Bắc Hải Phòng.
Đặc khu Cát Hải được xác định sẽ ưu tiên khuyến khích thu hút đầu tư phát triển năng lượng sạch như năng lượng gió, năng lượng mặt trời để đảo Cát Bà dần tự chủ năng lượng trên đảo, góp phần phát triển du lịch biển đảo, đưa Cát Bà trở thành khu du lịch quốc gia, trung tâm du lịch sinh thái biển quốc tế. Đặc khu Bạch Long Vĩ cũng được nghiên cứu, đầu tư thực hiện chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh, bảo vệ đa dạng sinh học, bảo tồn hệ sinh thái rừng biển, phát triển du lịch biển nghỉ dưỡng cao cấp, đầu tư hạ tầng trở thành trung tâm hậu cần nghề cá và tìm kiếm cứu nạn khu vực phía Bắc.
Theo UBND TP. Hải Phòng, các khu vực kinh tế khó khăn nếu được quy hoạch, đầu tư, cải tạo hạ tầng, có chiến lược phát triển kinh tế dựa trên tiềm năng và lợi thế để tập trung phát triển du lịch sinh thái, du lịch tâm linh sẽ giúp các khu vực này cất cánh, phát triển.
-Nam Khánh
Đặc sản OCOP các vùng miền thu hút người dân sắm Tết
Theo ghi nhận, nhu cầu tiêu dùng các đặc sản vùng miền trong dịp Tết không chỉ tăng về số lượng mà còn có sự chuyển dịch rõ nét về chất lượng và hình thức. Người tiêu dùng ngày càng ưu tiên lựa chọn những sản phẩm có nguồn gốc rõ ràng, bảo đảm an toàn thực phẩm, mang đậm bản sắc địa phương và được thiết kế bao bì trang nhã, phù hợp làm quà biếu, tặng.
Tại Hợp tác xã Cá cơm nguyên chất Hải Đăng, phường Phước Thắng (TP.HCM) những ngày này, các thành viên liên tục đóng chai nước mắm truyền thống để kịp giao các đơn hàng Tết. Đây là sản phẩm OCOP 3 sao được sản xuất theo phương pháp truyền thống. Theo ông Lê Viết Hùng, Chủ tịch Hội đồng quản trị Hợp tác xã, mùa cao điểm Tết năm nay, đơn vị dự kiến cung ứng trên 5.000 lít nước mắm nguyên chất với nhiều quy cách đóng chai khác nhau.
Tương tự, Hợp tác xã Bưởi da xanh Sông Xoài, phường Tân Thành (TP.HCM) cũng đang bước vào giai đoạn cao điểm. Theo ông Hồ Hoàng Kha, Giám đốc hợp tác xã, sản lượng bưởi phục vụ thị trường Tết năm nay khoảng 200 tấn. Bên cạnh bưởi tươi, hợp tác xã còn ra mắt các sản phẩm bưởi lên men, vỏ bưởi sấy, trà hoa bưởi… được đóng gói thành các giỏ quà Tết, góp phần đa dạng hóa lựa chọn cho người tiêu dùng.
Bưởi da xanh Sông Xoài được nhận xét chất lượng ngon, vị ngọt thanh, tép bưởi to, màu hồng đậm, khô ráo.Ở góc độ thị trường, xu hướng lựa chọn đặc sản vùng miền được phản ánh khá rõ qua các con số. Khảo sát tại nhiều chuỗi bán lẻ lớn cho thấy tỷ lệ hàng Việt luôn duy trì ở mức cao trong dịp Tết. Tại hệ thống siêu thị Go!, hàng Việt chiếm trên 90% với hơn 40.000 mã sản phẩm. Trong khi đó, hệ thống WinMart, WinMart+ duy trì tỷ lệ 80 - 90% hàng Việt; riêng nhóm nông sản và thực phẩm chế biến, trong đó có nhiều sản phẩm OCOP, đóng góp trên 30% doanh thu.
Cùng với sự thay đổi trong lựa chọn của người tiêu dùng, Tết Bính Ngọ 2026 cho thấy diện mạo ngày càng chỉn chu của hàng Việt và các sản phẩm OCOP, từ chất lượng đến cách đưa hàng ra thị trường. Bao bì Tết được đầu tư kỹ hơn, mẫu mã gọn gàng, thông tin nhãn mác rõ ràng. Nhiều sản phẩm OCOP đã được chuẩn hóa để đáp ứng các tiêu chí của hệ thống siêu thị, nhờ đó đứng vững trên kệ bán lẻ hiện đại.
Đại diện Central Retail Việt Nam cho biết, dịp Tết Bính Ngọ 2026, hệ thống GO!, Tops Market và Mini Go! trên toàn quốc cung ứng hơn 3.000 giỏ quà Tết mang nhãn riêng, trong đó phần lớn là các đặc sản Việt Nam. Các giỏ quà có mức giá phổ biến từ 300.000 - 500.000 đồng; đáng chú ý là dòng giỏ quà “Viet Gems”, được thiết kế nhằm giới thiệu các đặc sản vùng miền và sản phẩm OCOP đến người tiêu dùng.
Tết Bính Ngọ 2026 cho thấy diện mạo ngày càng chỉn chu của hàng Việt và các sản phẩm OCOP.Tại Hà Nội, Hội chợ Mùa Xuân trở thành điểm mua sắm quen thuộc của người dân Thủ đô những ngày giáp Tết. Từ nông sản vùng cao, đặc sản biển đảo đến các sản phẩm OCOP tiêu biểu, hàng trăm mặt hàng được giới thiệu, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng tăng cao dịp cuối năm.
Trong đó, gian hàng của tỉnh Sơn La thu hút sự quan tâm của nhiều người tiêu dùng với các sản phẩm nông sản tươi và chế biến. Theo đại diện đơn vị tham gia, các mặt hàng như thịt khô, hoa quả sấy, chè, cà phê – những sản phẩm chủ lực của địa phương – đều có nguồn gốc rõ ràng, được chứng nhận OCOP hoặc sản phẩm nông nghiệp tiêu biểu. Bên cạnh đó, quýt Mộc Châu, táo đại Mường La, dâu tây Mộc Châu cũng được bổ sung hàng ngày để đảm bảo độ tươi ngon khi đến tay người tiêu dùng.
Không kém phần sôi động là khu gian hàng đặc sản Phú Quốc với nước mắm truyền thống, tôm khô, tiêu chín, ruốc và các loại mắm khô. Nhóm sản phẩm chế biến từ dừa sáp Cầu Kè (Trà Vinh) thì gây ấn tượng nhờ chất lượng đặc trưng: cơm dày, dẻo, vị béo tự nhiên. Khai thác lợi thế nguyên liệu bản địa, VICOSAP đã đầu tư chế biến sâu, đa dạng hóa thành các dòng hàng như dừa sáp đóng hũ, dừa sáp sấy dẻo, kẹo dừa sáp nhiều hương vị.
Hội chợ Mùa Xuân hội tụ các gian hàng nông sản vùng cao, đặc sản biển đảo đến các sản phẩm OCOP tiêu biểu.Không chỉ thực phẩm, nhóm sản phẩm dược liệu cũng tạo sức hút. Tham gia hội chợ năm nay, Hợp tác xã An Bình (huyện Chợ Đồn, tỉnh Thái Nguyên) mang đến 13 sản phẩm đặc trưng của địa phương, trong đó nổi bật là bộ sản phẩm trà hoa vàng đạt chứng nhận OCOP 3 sao. Tương tự, trà hoa vàng Quy Hoa là sản phẩm OCOP 5 sao cấp quốc gia, được ví như “vàng xanh” của vùng Đông Bắc thu hút đông đảo khách tham quan nhờ câu chuyện sản phẩm gắn với bảo tồn và sinh kế…
Theo ghi nhận tại hội chợ, nhiều khách hàng sẵn sàng lựa chọn các sản phẩm đặc sản chính gốc, dù giá thành cao hơn, bởi sự an tâm về chất lượng và nguồn gốc xuất xứ. Xu hướng tiêu dùng dịp Tết đang chuyển dịch rõ nét từ “mua nhiều” sang “mua kỹ”, ưu tiên các sản phẩm sạch, an toàn và có thương hiệu.
Trong bối cảnh đó, nhằm phục vụ nhu cầu mua sắm của người dân dịp Tết Nguyên đán, Sở Công Thương Hà Nội tổ chức chuỗi chương trình “Không gian quảng bá sản phẩm tiêu biểu, đặc sản, OCOP phục vụ Tết Bính Ngọ – Xuân Đoàn Kết” từ ngày 09/02 đến 13/02/2026.
Với quy mô gần 300 gian hàng cùng hàng nghìn sản phẩm chất lượng, sự kiện được kỳ vọng trở thành điểm đến mua sắm – trải nghiệm sôi động, góp phần thúc đẩy tiêu dùng nội địa và lan tỏa giá trị hàng Việt. Chương trình được tổ chức tại 3 địa điểm gồm xã Quang Minh, xã Phúc Lộc và xã Thạch Thất, diễn ra liên tục từ 08h30 đến 22h00 mỗi ngày.
Một trong những điểm nhấn quan trọng của chuỗi chương trình là tập trung quảng bá các sản phẩm OCOP, đặc sản địa phương.Việc tổ chức đồng thời tại nhiều điểm giúp người dân các khu vực lân cận dễ dàng tiếp cận, mua sắm thuận tiện mà không cần di chuyển xa, đồng thời lan tỏa sắc xuân trên khắp nơi trong địa bàn thành phố. “Xuân Đoàn Kết” cũng là không gian trải nghiệm văn hóa, nơi người dân có thể cảm nhận rõ nét không khí Tết cổ truyền thông qua những sản phẩm bánh mứt, kẹo, đặc sản vùng miền.
Trong đó, một trong những điểm nhấn quan trọng là việc tập trung quảng bá các sản phẩm OCOP, đặc sản địa phương, hàng thủ công mỹ nghệ... Đối với các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất, chương trình là cơ hội quan trọng để giới thiệu thương hiệu, quảng bá sản phẩm và tìm kiếm đối tác. Thông qua hoạt động xúc tiến thương mại trực tiếp, nhiều sản phẩm OCOP và đặc sản địa phương có điều kiện tiếp cận người tiêu dùng, từ đó mở rộng thị trường, nâng cao giá trị và sức cạnh tranh.
-Tuệ Mỹ
Quy định mới về tọa độ địa lý cho gỗ Việt Nam tuân thủ EUDR
Quy định chống mất rừng của EU (EUDR) áp dụng cho 7 nhóm nông sản chính nhập khẩu vào thị trường EU, gồm cà phê, cao su, gỗ, dầu cọ, ca cao, đậu nành và gia súc. Theo lộ trình, EUDR sẽ chính thức áp dụng từ ngày 30/12/2026 đối với doanh nghiệp lớn và vừa nhập khẩu vào EU, và từ ngày 30/6/2027 đối với doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ.
EU không áp dụng Luật trực tiếp lên các doanh nghiệp xuất khẩu tại Việt Nam, mà áp dụng đối với các doanh nghiệp nhập khẩu tại EU, yêu cầu các doanh nghiệp này phải cung cấp đầy đủ hồ sơ hợp lệ đối với hàng hóa nhập khẩu. Do đó, các đối tác nhập khẩu sẽ yêu cầu doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam cung cấp các giấy tờ chứng minh quá trình sản xuất nông, lâm sản không gây mất rừng.
TOẠ ĐỘ ĐỊA LÝ: ĐIỀU KIỆN KỸ THUẬT BẮT BUỘCTheo danh sách phân loại rủi ro do Ủy ban châu Âu (EC) công bố vào tháng 5/2025, Việt Nam được xếp vào nhóm “quốc gia rủi ro thấp” trong khuôn khổ EUDR. Việc xếp hạng này dựa trên xu hướng mất rừng, khuôn khổ pháp lý và năng lực quản lý, thực thi tại nước xuất xứ. Với các quốc gia rủi ro thấp, cơ quan chức năng EU chỉ tiến hành hậu kiểm khoảng 1% lô hàng hoặc doanh nghiệp xuất khẩu, được xem là lợi thế lớn cho gỗ và cao su Việt Nam.
Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm nhấn mạnh, nghĩa vụ nộp Tuyên bố thẩm định (Due Diligence Statement – DDS) thuộc về nhà nhập khẩu tại EU, không phải tổ chức, cá nhân tại Việt Nam. Tuy nhiên, doanh nghiệp trong nước vẫn có trách nhiệm cung cấp đầy đủ hồ sơ, dữ liệu để nhà nhập khẩu có cơ sở kết luận mức “rủi ro không đáng kể”.
Theo EUDR, tất cả sản phẩm gỗ và sản phẩm có nguồn gốc từ gỗ khi đưa vào thị trường EU phải chứng minh không gây mất rừng hoặc suy thoái rừng sau ngày 31/12/2020. Việc xác minh hiện được thực hiện thông qua hệ thống ảnh vệ tinh viễn thám, cho phép đối chiếu hiện trạng rừng trước và sau mốc thời gian này. Do đó, các lô hàng xuất khẩu vào EU bắt buộc phải cung cấp thông tin tọa độ địa lý khu vực canh tác, khai thác, được xác định bằng kinh độ và vĩ độ theo hệ quy chiếu WGS84, với tối thiểu 6 chữ số thập phân.
Trong Quyết định số 29/QĐ-LNKL, Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm phân biệt rõ yêu cầu về tọa độ theo quy mô lô rừng. Đối với các lô hàng được sản xuất, khai thác trên diện tích dưới 4 ha, chỉ cần cung cấp một tọa độ GPS, ưu tiên vị trí gần trung tâm lô. Quy định này giúp giảm đáng kể chi phí đo đạc kỹ thuật, vốn là rào cản lớn đối với các hộ tiểu điền, đồng thời vẫn đáp ứng yêu cầu xác định vị trí khai thác của EU.
Đối với lô hàng khai thác từ 4 ha trở lên, chủ rừng bắt buộc phải cung cấp tọa độ các điểm góc tạo thành đa giác (polygon) thể hiện đầy đủ ranh giới lô đất. Trong trường hợp có điều kiện, Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm khuyến nghị nên thu thập tọa độ đa giác ngay cả với các lô nhỏ để tăng mức độ chi tiết của hồ sơ, song đây không phải yêu cầu bắt buộc.
Quy định về tọa độ áp dụng thống nhất cho gỗ rừng trồng, gỗ cao su khai thác lấy gỗ và các loại gỗ khác thuộc phạm vi điều chỉnh của EUDR. Riêng với gỗ cao su, hồ sơ cần bổ sung thông tin về năm trồng, năm khai thác, hồ sơ thanh lý vườn cây, kèm theo tọa độ lô khai thác.
CHUỖI TRÁCH NHIỆM KHÔNG THỂ “PHA TRỘN”EUDR thiết lập một chuỗi trách nhiệm chặt chẽ từ thượng nguồn đến hạ nguồn, yêu cầu không được “pha trộn” giữa các lô nguyên liệu đáp ứng EUDR và các lô có rủi ro.
Chủ rừng là bên chịu trách nhiệm đầu nguồn, phải xác lập ranh giới và tọa độ địa lý của từng lô khai thác, chứng minh quyền sử dụng đất hợp pháp và cung cấp hồ sơ khai thác theo quy định. Tổ chức, cá nhân khai thác gỗ có trách nhiệm xây dựng phương án khai thác gắn với tọa độ địa lý, thực hiện khai thác đúng phương án được phê duyệt, đo đếm và kê khai đầy đủ khối lượng gỗ. Sau khai thác, toàn bộ hồ sơ phải được bàn giao cho bên mua, bảo đảm khả năng truy xuất nguồn gốc theo từng lô.
Xưởng xẻ và cơ sở sơ chế chỉ được tiếp nhận các lô gỗ có hồ sơ nguồn gốc hợp lệ, quản lý nhập - xuất nguyên liệu theo từng lô, duy trì hệ thống truy xuất nội bộ và bảo đảm không pha trộn nguyên liệu có rủi ro với các lô đáp ứng yêu cầu EUDR.
Doanh nghiệp và thương lái thu mua có trách nhiệm sàng lọc nhà cung cấp, chỉ thu mua gỗ có hồ sơ đầy đủ và gắn với tọa độ lô khai thác, đồng thời chuyển giao trọn vẹn hồ sơ cho các khâu tiếp theo. Doanh nghiệp chế biến gỗ phải thiết lập hệ thống truy xuất nguồn gốc nội bộ, bảo đảm toàn bộ nguyên liệu sử dụng có thể truy ngược về lô khai thác; với gỗ nhập khẩu, phải thu thập thông tin tọa độ từ nước xuất xứ và quản lý riêng biệt từng lô.
Doanh nghiệp xuất khẩu là bên tổng hợp và chuyển giao toàn bộ hồ sơ cho nhà nhập khẩu EU. Dù không trực tiếp nộp hồ sơ cho cơ quan quản lý EU, doanh nghiệp vẫn phải đánh giá rủi ro nội bộ và lưu trữ hồ sơ tối thiểu 5 năm để phục vụ công tác xác minh khi cần thiết.
Dù hành lang pháp lý đã được thiết lập, các chuyên gia cho rằng việc triển khai EUDR trên thực tế vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Trước hết là nguy cơ xung đột dữ liệu ranh giới do sai số khi sử dụng Google Maps hoặc Google Earth; nếu tọa độ lô rừng chồng lấn lên đất quy hoạch phòng hộ hoặc đất đang tranh chấp, lô hàng có thể bị từ chối nhập khẩu.
Bên cạnh đó là chi phí và hạ tầng số hóa. Dù lô dưới 4 ha chỉ cần một tọa độ, việc quản lý hàng triệu lô diện tích nhỏ lẻ quy mô hộ tại Việt Nam sẽ đòi hỏi một nền tảng dữ liệu dùng chung. Hiện mới chỉ có khoảng 15 tỉnh hoàn thành tích hợp dữ liệu kiểm kê rừng, tạo áp lực lớn cho các địa phương còn lại.
Cuối cùng là khái niệm “suy thoái rừng”. Với gỗ cao su, việc phân định giữa khai thác trắng để tái canh và suy thoái rừng vẫn cần hướng dẫn kỹ thuật chi tiết hơn, nhằm tránh cách hiểu khác nhau giữa nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu EU.
-Chu Khôi
Nghị định hướng dẫn Luật Trí tuệ nhân tạo sẽ tạo thuận lợi cho các chủ thể tham gia hoạt động AI
Nghị định hướng tới xây dựng hành lang pháp lý toàn diện cho quản lý rủi ro đối với các hệ thống trí tuệ nhân tạo, thúc đẩy phát triển hệ sinh thái AI tại Việt Nam theo hướng bền vững, bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và quyền, lợi ích hợp pháp của con người; đồng thời tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân.
Nội dung Nghị định tập trung cụ thể hóa các quy định của Luật với tinh thần tháo gỡ khó khăn, tạo thuận lợi tối đa cho các chủ thể tham gia hoạt động AI; thúc đẩy phân cấp, phân quyền, tăng cường phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương; đề cao trách nhiệm tuân thủ pháp luật của tổ chức, cá nhân; bảo đảm tính minh bạch, đơn giản và khả thi trong áp dụng.
Nghị định áp dụng đối với cơ quan nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài có hoạt động nghiên cứu, phát triển, cung cấp, triển khai hoặc sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo tại Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Dự thảo Nghị định gồm 07 Chương với 45 Điều:
Chương I. Quy định chung (từ Điều 1 đến Điều 4)
Chương II. Phân loại và quản lý hệ thống trí tuệ nhân tạo (từ Điều 5 đến Điều 15)
Chương III. Minh bạch, giải trình và xử lý sự cố hệ thống trí tuệ nhân tạo (từ Điều 16 đến Điều 23)
Chương IV. Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (từ Điều 24 đến Điều 31)
Chương V. Hạ tầng, dữ liệu và bảo đảm năng lực tự chủ trong phát triển trí tuệ nhân tạo (từ Điều 32 đến Điều 39)
Chương VI. Phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trí tuệ nhân tạo (từ Điều 40 đến Điều 43)
Chương VII. Điều khoản thi hành (từ Điều 44 đến Điều 45
Trong đó, chương 1 quy định phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng của Nghị định; các thuật ngữ quan trọng để làm cơ sở áp dụng; nguyên tắc thực hiện đối với hoạt động trí tuệ nhân tạo, theo đó xuyên suốt nội dung dự thảo Nghị định là quản lý dựa trên mức độ rủi ro, bảo đảm biện pháp quản lý tương xứng, minh bạch và không tạo gánh nặng tuân thủ không cần thiết, đặc biệt hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Bên cạnh đó, chương này cũng quy định về việc thiết lập, vận hành Cổng thông tin điện tử một cửa và Cơ sở dữ liệu quốc gia về trí tuệ nhân tạo do Bộ Khoa học và Công nghệ quản lý để phục vụ công tác đăng ký, thông báo và giám sát toàn diện đối với hệ thống AI.
Chương 2 thiết lập khung quản lý toàn diện dựa trên mức độ rủi ro với nguyên tắc nghĩa vụ tuân thủ tương xứng rủi ro. Quy trình phân loại gồm ba bước: rà soát hành vi bị nghiêm cấm; đối chiếu với Danh mục hệ thống AI rủi ro cao do Thủ tướng ban hành; và đánh giá tổng hợp các yếu tố nâng mức rủi ro.
Nhà cung cấp chịu trách nhiệm phân loại, bảo đảm tính chính xác. Chương cũng quy định cơ chế ngoại lệ, rà soát lại mức độ rủi ro, hồ sơ kỹ thuật, thủ tục thông báo và cấp mã định danh hệ thống, cùng yêu cầu đánh giá sự phù hợp đối với hệ thống rủi ro cao trước khi đưa vào sử dụng.
Chương 3 đặt ra yêu cầu minh bạch và trách nhiệm giải trình nhằm bảo vệ người dùng. Nhà cung cấp phải gắn nhãn nhận diện nội dung do AI tạo ra bằng biện pháp kỹ thuật máy đọc được và nhãn hiển thị trực quan.
Quy định trách nhiệm báo cáo, xử lý sự cố nghiêm trọng trong 24–72 giờ tùy mức độ rủi ro; yêu cầu cơ quan nhà nước đánh giá tác động trước khi sử dụng AI trong quản lý hành chính hoặc dịch vụ công; đồng thời thiết lập cơ chế giải trình về logic vận hành và vai trò giám sát của con người.
Chương 4 tạo hành lang pháp lý cho sandbox nhằm khuyến khích đổi mới sáng tạo đối với các hệ thống AI mới chưa có quy định điều chỉnh. Tổ chức, doanh nghiệp có thể được miễn trừ một số nghĩa vụ tuân thủ trong thời gian thử nghiệm tối đa 3 năm (có thể gia hạn) nếu đáp ứng điều kiện quản lý rủi ro.
Quy trình xét duyệt phân cấp cho bộ chuyên ngành hoặc UBND cấp tỉnh; kết quả thử nghiệm là cơ sở điều chỉnh chính sách hoặc cho phép triển khai chính thức; đồng thời quy định các trường hợp tạm dừng hoặc kết thúc thử nghiệm trước thời hạn khi phát sinh rủi ro.
Chương 5 định hướng phát triển hạ tầng AI quốc gia gồm hạ tầng tính toán hiệu năng cao, dữ liệu và nền tảng phần mềm dùng chung; Nhà nước giữ vai trò chủ đạo đầu tư hạ tầng dùng chung dưới dạng dịch vụ công. Bộ Khoa học và Công nghệ quản lý Cơ sở dữ liệu quốc gia về AI, Bộ Công an quản lý hạ tầng dữ liệu cốt lõi và bảo đảm an ninh mạng.
Chương này nhấn mạnh ưu tiên làm chủ công nghệ lõi, phát triển mô hình ngôn ngữ lớn tiếng Việt và tiếng dân tộc thiểu số nhằm tăng cường năng lực tự chủ công nghệ.
Chương 6 quy định chính sách hỗ trợ phát triển thị trường và nhân lực AI, khuyến khích mô hình cụm liên kết giữa Nhà nước – viện/trường – doanh nghiệp. Áp dụng cơ chế “phiếu hỗ trợ” cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, startup khi sử dụng hạ tầng tính toán và dữ liệu.
Triển khai chương trình quốc gia phát triển nhân lực AI, tích hợp kiến thức AI vào giáo dục phổ thông và đào tạo chuyên sâu. Thành lập Quỹ Phát triển trí tuệ nhân tạo quốc gia với cơ chế tài chính đặc thù, chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu.
Chương cuối cùng của Nghị định quy định thời điểm có hiệu lực thi hành của Nghị định là từ ngày 1/3/2026.
-Bạch Dương
Đài Loan: Xuất khẩu tăng mạnh nhất trong 16 năm qua nhờ nhu cầu lớn về chip
Xuất khẩu của Đài Loan tăng mạnh hơn nhiều so với dự báo trong tháng 1 vừa qua, với tốc độ tăng cao nhất trong 16 năm trở lại đây, do nhu cầu tiếp tục ở mức cao đối với các sản phẩm chip và công nghệ phục vụ các ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI).
Theo số liệu do Bộ Tài chính Đài Loan công bố ngày 9/2, kim ngạch xuất khẩu của Đài Loan trong tháng đầu năm tăng 69,9% so với cùng kỳ năm trước, đạt 65,77 tỷ USD, cao hơn nhiều so với mức tăng 43,4% của tháng 12/2025 và mức dự báo tăng 51,9% mà các nhà phân tích đưa ra trong một cuộc khảo sát của hãng tin Reuters.
Đây là kỷ lục kim ngạch xuất khẩu trong một tháng của Đài Loan, được thiết lập sau 27 tháng liên tiếp giá trị xuất khẩu của vùng lãnh thổ này ghi nhận tăng trưởng so với cùng kỳ năm trước.
Tuyên bố của Bộ Tài chính Đài Loan nói rằng nhu cầu trong lĩnh vực AI và điện toán đám mây diễn ra mạnh mẽ, song lưu ý rằng cơ sở so sánh thấp hơn do tháng 1 năm ngoái có kỳ nghỉ Tết Nguyên đán cũng là một nguyên nhân phía sau mức tăng trưởng lớn của xuất khẩu tháng 1.
Con chip là sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Đài Loan. Các nhà sản xuất chip Đài Loan như Nvidia là nhà cung cấp lớn của các công ty như Nvidia và các “ông lớn” công nghệ hàng đầu khác.
Đến hiện tại, các công ty xuất khẩu của Đài Loan đã hấp thụ tốt mức thuế quan 20% mà chính quyền Tổng thống Donald Trump áp lên hàng hóa xuất khẩu của vùng lãnh thổ này vào thị trường Mỹ, mà không chịu tổn thất kinh tế đáng kể nào. Động lực phía sau sức chống chịu tốt của Đài Loan với thuế quan là xuất khẩu con chip của Đài Loan được miễn thuế quan khi vào Mỹ.
Trong thỏa thuận thương mại giữa Mỹ và Đài Loan đạt được vào tháng trước, Washington nhất trí giảm thuế quan cho Đài Loan xuống mức 15%, để đổi lấy cam kết đầu tư 250 tỷ USD của Đài Loan vào Mỹ.
Bộ Tài chính Đài Loan nhận định nhu cầu ngày càng lớn về chip cho AI và thỏa thuận thương mại Mỹ - Đài sẽ giúp duy trì đà tăng trưởng xuất khẩu của vùng lãnh thổ trong năm nay. Bộ này dự báo xuất khẩu của Đài Loan sẽ tăng trưởng 20-27% trong tháng 2 so với cùng kỳ năm ngoái, dù có kỳ nghỉ Tết Nguyên đán vào giữa tháng.
Trong tháng 1, xuất khẩu của Đài Loan sang Mỹ tăng trưởng 151,8% so với cùng kỳ năm ngoái, đạt 21,28 tỷ USD. Xuất khẩu của Đài Loan sang Trung Quốc trong tháng tăng 49,6%.
Xuất khẩu linh kiện điện tử của tháng 1 của Đài Loan tăng 59,8%, đạt 22,36 tỷ USD, một con số cao chưa từng thấy.
Nhập khẩu tháng đầu năm của vùng lãnh thổ tăng 63,6%, đạt 46,87 tỷ USD, vượt xa dự báo của các nhà kinh tế là tăng 40,85%.
-Bình Minh
Giá cá tra lập đỉnh, xuất khẩu khởi sắc nhưng tiềm ẩn rủi ro phát triển nóng
Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), cho biết cùng với tín hiệu tích cực từ xuất khẩu, thị trường cá tra tại đồng bằng sông Cửu Long ghi nhận đợt tăng giá mạnh chưa từng thấy trong nhiều năm trở lại đây. Hiện giá cá tra thương phẩm loại 0,8–1 kg mỗi con tại các vùng nuôi trọng điểm như Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ đã đạt mức cao kỷ lục 35.000 đồng/kg, cao hơn từ 5.000–7.000 đồng mỗi kg so với các đợt tăng trước.
NUÔI CÁ TRA ĐẠT LỢI NHUẬN CAOMức giá bán hiện nay giúp người nuôi thu cá tra được lợi nhuận đáng kể sau thời gian dài thua lỗ. Với chi phí sản xuất bình quân khoảng 24.000–26.000 đồng mỗi kg, hiện người nuôi cá tra có thể đạt mức lãi từ 8.000-10.000 đồng/kg cá xuất bán. Đây được xem là mức lợi nhuận “trong mơ” đối với nhiều hộ nuôi, nhất là trong bối cảnh giá thức ăn, con giống và chi phí vốn duy trì ở mức cao suốt nhiều năm qua.
Nguyên nhân chính khiến giá cá tra tăng mạnh được xác định là do thiếu hụt nguồn cung nguyên liệu. Cá tra có chu kỳ nuôi kéo dài từ 6-8 tháng, trong khi giai đoạn trước, giá cá duy trì ở mức thấp trong thời gian dài đã khiến nhiều hộ nuôi phải treo ao, giảm mật độ thả nuôi hoặc rút khỏi nghề. Khi nhu cầu chế biến và xuất khẩu phục hồi, lượng cá đến kỳ thu hoạch không đủ đáp ứng, tạo áp lực lớn lên giá thu mua.
Không chỉ cá thương phẩm, thị trường cá tra giống cũng ghi nhận mức tăng giá đột biến. Thời tiết lạnh cùng những biến động khí hậu bất lợi khiến tỷ lệ hao hụt trong khâu ươm giống tăng cao, nguồn cung trở nên khan hiếm.
Hiện cá tra giống cỡ 100 con mỗi kg có giá khoảng 1.000 đồng mỗi con, trong khi loại 30–35 con mỗi kg có thời điểm lên tới hơn 90.000 đồng mỗi kg, cao gấp nhiều lần so với mức thông thường. Giá cá giống tăng mạnh khiến không ít hộ nuôi e dè tái thả, lo ngại rủi ro nếu giá cá thương phẩm đảo chiều trong thời gian tới.
Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu cá tra Việt Nam ước đạt 2,2 tỷ USD, tăng khoảng 8% so với năm 2024 và vượt mục tiêu kế hoạch khoảng 5%. Trong đó, xuất khẩu cá tra sang thị trường EU ghi nhận xu hướng tương đối ổn định so với năm 2024, song diễn biến theo từng tháng và từng quốc gia thành viên cho thấy sự phân hóa ngày càng rõ nét. Nếu như năm 2024 duy trì mức xuất khẩu khá đồng đều, đặc biệt trong nửa đầu năm, thì năm 2025 xuất hiện các giai đoạn tăng/giảm đan xen, phản ánh nhu cầu nhập khẩu của thị trường EU chưa thực sự ổn định.
Những biến động này chịu tác động từ lạm phát kéo dài, xu hướng tiêu dùng thận trọng và sự cạnh tranh ngày càng gay gắt từ các nguồn cung cá thịt trắng khác. Xét theo diễn biến từng tháng, xuất khẩu cá tra sang EU năm 2025 đạt mức cao nhất vào tháng 3, đồng thời cao hơn so với cùng kỳ năm 2024. Ngoài ra, các tháng 8 và 12 cũng ghi nhận kim ngạch tương đối cao, cho thấy nhu cầu nhập khẩu tăng vào giai đoạn cao điểm tiêu dùng và cuối năm.
Theo số liệu tổng hợp, năm 2025 EU nhập khẩu cá tra từ Việt Nam đạt khoảng 175 triệu USD, giảm nhẹ 1% so với năm 2024. Hà Lan tiếp tục là thị trường nhập khẩu lớn nhất, dù kim ngạch giảm 3%. Đức giảm mạnh 17%, cho thấy nhu cầu tại một số thị trường truyền thống có xu hướng chững lại. Ở chiều ngược lại, nhiều thị trường ghi nhận tăng trưởng tích cực như Tây Ban Nha, Pháp, Bỉ và Italy. Tổng thể, xuất khẩu cá tra sang EU năm 2025 đi ngang, song vẫn còn dư địa tăng trưởng tại những thị trường có mức tăng hai con số.
KỲ VỌNG TĂNG TRƯỞNG NĂM 2026Theo VASEP, xuất khẩu cá tra tiếp tục được kỳ vọng tăng trưởng trong năm 2026. Cá tra tiếp tục khẳng định vai trò là ngành hàng trụ cột của thủy sản nước ngọt Việt Nam. Diện tích nuôi duy trì ổn định khoảng 6.400 ha, với sản lượng ước đạt 1,67 triệu tấn. Năm 2026, nhu cầu từ các thị trường lớn như Mỹ, Trung Quốc, châu Âu và Trung Đông được dự báo sẽ tiếp tục phục hồi, tạo dư địa tăng trưởng cho ngành.
Tuy nhiên, diện tích thả nuôi toàn vùng hiện vẫn ở mức thấp, chỉ khoảng 6.000–6.500 ha, chưa đủ đáp ứng nhu cầu dài hạn của ngành. Bên cạnh đó, những biến động về chính trị, thương mại, thuế quan và các yêu cầu ngày càng khắt khe từ thị trường nhập khẩu đang tạo áp lực lớn đối với doanh nghiệp xuất khẩu cá tra.
Theo đánh giá của các chuyên gia, mô hình phát triển dựa trên tăng sản lượng, chi phí thấp và cạnh tranh bằng giá đang bộc lộ nhiều hạn chế, khó duy trì lợi thế trong trung và dài hạn. Giá cá tra lập đỉnh là tín hiệu tích cực, nhưng cũng tiềm ẩn rủi ro nếu sản xuất phát triển tự phát, thiếu kiểm soát.
Định hướng đặt ra cho ngành cá tra trong giai đoạn tới là chuyển mạnh từ tư duy “sản lượng” sang “giá trị”, lấy chất lượng, an toàn thực phẩm, uy tín và tính bền vững làm nền tảng. Trong đó, giống cá tra được xác định là yếu tố cốt lõi, cần ưu tiên đầu tư nghiên cứu, quản lý chặt chẽ và gắn kết giữa khoa học với sản xuất thực tiễn. Đồng thời việc hình thành các vùng nuôi và vùng sản xuất giống tập trung, có hạ tầng đồng bộ tại các địa phương trọng điểm của đồng bằng sông Cửu Long được xem là giải pháp then chốt.
Đối với doanh nghiệp xuất khẩu, yêu cầu đặt ra là chủ động nâng cấp vùng nuôi, đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế, đẩy mạnh chuyển đổi số, truy xuất nguồn gốc và đo lường phát thải carbon. Đây được coi là “giấy thông hành” để cá tra Việt Nam gia tăng hiện diện tại các thị trường cao cấp như EU, Mỹ và Nhật Bản, đồng thời nâng cao giá trị và vị thế của ngành hàng trên thị trường toàn cầu.
-Chu Khôi
Nghề tư vấn sức khỏe tinh thần, trị liệu tâm lý sẽ tăng trưởng mạnh trong thời đại AI
Khảo sát về xu hướng nhân lực của Navigos Group cho thấy doanh nghiệp Việt Nam nhận định rõ xu hướng tăng trưởng mạnh mẽ của các vị trí gắn liền với công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và các ngành công nghiệp mới.
Chuyên gia trí tuệ nhân tạo (AI) và máy học là vị trí được dự báo tăng trưởng cao nhất, với 71,2%, xuất phát từ nhu cầu tự động hóa quy trình, tối ưu vận hành và ứng dụng AI trong phân tích, ra quyết định.
Tiếp theo, chuyên gia dữ liệu lớn được kỳ vọng tăng mạnh nhờ sự bùng nổ dữ liệu doanh nghiệp và nhu cầu xây dựng hệ thống phân tích dự báo hiệu quả, với 42,8%.
Chuyên gia an ninh mạng cũng nằm trong nhóm nghề tăng trưởng trọng điểm khi doanh nghiệp chuyển dịch sang nền tảng số và đối mặt với rủi ro tấn công mạng ngày càng gia tăng, với 28,4%.
Bên cạnh lĩnh vực công nghệ, nhóm nghề liên quan đến chăm sóc sức khỏe và con người cũng được dự báo gia tăng nhu cầu. Các vị trí như chuyên viên trị liệu tâm lý – tư vấn sức khỏe tinh thần (18,8%) và y tá – điều dưỡng (16,4%) tăng trưởng nhờ nhu cầu về sức khỏe tinh thần sau đại dịch, đô thị hóa nhanh và sự mở rộng của hệ thống y tế, đặc biệt là khu vực tư nhân.
Ngoài ra, các ngành công nghiệp mới và kinh tế xanh cũng nổi lên như những lĩnh vực tăng trưởng đáng chú ý. Kỹ sư bán dẫn được thúc đẩy bởi định hướng phát triển ngành chip của Việt Nam và nhu cầu toàn cầu đối với linh kiện điện tử, với 8,8%.
Kỹ sư năng lượng tái tạo phản ánh xu hướng đầu tư mạnh mẽ vào điện gió, điện mặt trời và cam kết Net Zero 2050, với 7,6%. Chuyên viên phát triển bền vững tăng theo nhu cầu doanh nghiệp tuân thủ tiêu chuẩn ESG và nâng cao hiệu quả vận hành theo hướng xanh và sạch, với 6,8%.
Dữ liệu trên phản ánh thị trường lao động Việt Nam đang dịch chuyển rõ rệt sang các nhóm công việc chuyên môn cao về công nghệ số, dữ liệu, an ninh mạng, công nghiệp bán dẫn, năng lượng tái tạo và chăm sóc sức khỏe.
Xu hướng này phản ánh tác động kết hợp của chuyển đổi số, nhu cầu an toàn thông tin, sự thay đổi hành vi xã hội và định hướng phát triển bền vững. Trong 3 - 5 năm tới, các nhóm nghề này được kỳ vọng sẽ dẫn dắt nhu cầu tuyển dụng, tạo ra khoảng trống lớn về nhân lực kỹ thuật cao và mở ra cơ hội phát triển mạnh mẽ cho lao động có chuyên môn sâu.
Dự đoán của doanh nghiệp về ngành nghề đang xuất hiện hoặc có xu hướng gia tăng nhu cầu tại thị trường Việt Nam trong 3 - 5 năm tới. Ảnh chụp màn hình.Về nhóm kỹ năng, năng lực công nghệ và các kỹ năng giao tiếp, quan hệ giữa cá nhân được dự đoán dẫn dắt xu hướng yêu cầu kỹ năng tại Việt Nam.
Kết quả khảo sát cho thấy các doanh nghiệp đang xác định khá rõ những năng lực cốt lõi cần được ưu tiên trong giai đoạn 3 - 5 năm tới, phản ánh sự dịch chuyển mạnh mẽ của thị trường lao động trong bối cảnh chuyển đổi số và AI diễn ra sâu rộng.
Nổi bật nhất là yêu cầu về khả năng hiểu và ứng dụng công nghệ trong công việc, với 76,8% doanh nghiệp ưu tiên. Tỷ lệ vượt trội này cho thấy kỳ vọng rằng năng lực công nghệ không còn giới hạn trong các vị trí chuyên môn kỹ thuật, mà đã trở thành yêu cầu phổ biến đối với hầu hết các vai trò trong doanh nghiệp, từ vận hành, tài chính, nhân sự đến kinh doanh, nhằm đảm bảo hiệu quả làm việc trong môi trường số hóa.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp ngày càng coi trọng những năng lực giúp người lao động thích ứng và ra quyết định trong môi trường biến động, như khả năng kiên trì, linh hoạt và thích nghi với thay đổi, năng lực ứng dụng AI và phân tích dữ liệu, cũng như khả năng phân tích tình huống và đưa ra giải pháp phù hợp.
Xu hướng này phản ánh sự thay đổi vai trò của con người trong kỷ nguyên AI, từ việc thực hiện các tác vụ mang tính lặp lại sang xử lý vấn đề phức tạp, đánh giá thông tin và đưa ra quyết định có giá trị gia tăng cao.
Song song với đó, các kỹ năng liên quan đến giao tiếp và dẫn dắt con người vẫn tiếp tục được đánh giá cao. Giao tiếp đa ngôn ngữ và khả năng lãnh đạo – tạo ảnh hưởng trở nên đặc biệt quan trọng trong bối cảnh doanh nghiệp vận hành theo mô hình linh hoạt, đa quốc gia và đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các phòng ban, đội nhóm.
Tổng thể các kết quả cho thấy yêu cầu về nhân tài đang dịch chuyển rõ rệt. Năng lực công nghệ trở thành điều kiện nền tảng, trong khi khả năng phân tích, hợp tác và thích ứng quyết định mức độ tạo ra giá trị cạnh tranh trong môi trường làm việc mới.
Trong bối cảnh đó, các chuyên gia nhấn mạnh doanh nghiệp cần đầu tư bài bản vào việc nâng cấp năng lực số cho toàn bộ đội ngũ. Người lao động cần chủ động củng cố năng lực công nghệ, tăng cường tư duy phản biện và khả năng thích ứng để duy trì lợi thế trên thị trường lao động trong tương lai.
-Nhật Dương
Bán thức ăn đường phố vi phạm an toàn thực phẩm bị phạt đến 3 triệu đồng
Bộ Y tế nhấn mạnh thông tin này trong công văn gửi các địa phương về việc bảo đảm an toàn thực phẩm trong kinh doanh thức ăn đường phố.
Đây là nhiệm vụ thực hiện sự chỉ đạo của Chính phủ về việc thực hiện các giải pháp phù hợp, đồng bộ nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý an toàn thực phẩm đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm nhỏ lẻ, thức ăn đường phố và nhằm tăng cường bảo đảm an toàn thực phẩm, phòng ngừa ngộ độc thực phẩm, bảo vệ sức khoẻ nhân dân.
Theo đó, Bộ Y tế đề nghị các địa phương chỉ đạo cơ sở kinh doanh thức ăn đường phố thực hiện các quy định về điều kiện an toàn thực phẩm.
Theo quy định tại Nghị định 15/2018/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật An toàn thực phẩm, cơ sở kinh doanh thức ăn đường phố không thuộc diện cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm, nhưng phải đáp ứng được các yêu cầu về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm tương ứng.
Cụ thể, đối với người trực tiếp kinh doanh thức ăn đường phố: Người trực tiếp chế biến thức ăn phải được tập huấn kiến thức an toàn thực phẩm và được chủ cơ sở kinh doanh thức ăn đường phố xác nhận; không bị mắc các bệnh tả, lỵ, thương hàn, viêm gan A, E, viêm da nhiễm trùng, lao phổi, tiêu chảy cấp khi đang sản xuất, kinh doanh thực phẩm.
Đối với địa điểm kinh doanh thức ăn đường phố: Phải cách biệt nguồn gây độc hại, nguồn gây ô nhiễm; được bày bán trên bàn, giá, kệ, phương tiện bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, mỹ quan đường phố.
Dụng cụ ăn uống, chứa đựng thực phẩm phải bảo đảm an toàn vệ sinh. Bao gói và các vật liệu tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm không được gây ô nhiễm và thôi nhiễm vào thực phẩm. Có dụng cụ che nắng, mưa, bụi bẩn, côn trùng và động vật gây hại. Có đủ nước đạt quy chuẩn kỹ thuật phục vụ việc chế biến, kinh doanh.
Đối với nguyên liệu thực phẩm, theo quy định tại Luật An toàn thực phẩm, nguyên liệu để chế biến thức ăn đường phố phải bảo đảm an toàn thực phẩm, có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng.
Phụ gia thực phẩm chỉ được sử dụng trong danh mục các chất phụ gia được phép sử dụng trong thực phẩm do Bộ Y tế quy định. Trong trường hợp phụ gia thực phẩm không thuộc danh mục các chất phụ gia được phép sử dụng trong thực phẩm, hoặc không đúng đối tượng sử dụng do Bộ Y tế quy định; tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh phụ gia thực phẩm phải đăng ký bản công bố sản phẩm tại Bộ Y tế theo quy định.
Cơ sở kinh doanh thức ăn đường phố có trách nhiệm cung cấp các thông tin liên quan đến nơi cung cấp nguyên liệu, thực phẩm để phục vụ công tác truy xuất nguồn gốc thực phẩm khi xảy ra sự cố an toàn thực phẩm.
Khi xảy ra vi phạm về an toàn thực phẩm, cơ sở kinh doanh thức ăn đường phố phải chấp hành các mức xử phạt theo quy định.
Trong đó, phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1 triệu đồng đối với một trong các hành vi sau đây: Không có bàn, tủ, giá, kệ, thiết bị, dụng cụ đáp ứng theo quy định của pháp luật để bày bán thức ăn; thức ăn không được che đậy ngăn chặn bụi bẩn; có côn trùng, động vật gây hại xâm nhập; không sử dụng găng tay khi tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm chín, thức ăn ngay.
Mức phạt tiền từ 1 – 3 triệu đồng đối với một trong các hành vi: Sử dụng dụng cụ chế biến, ăn uống, vật liệu bao gói, chứa đựng tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm không bảo đảm an toàn thực phẩm theo quy định của pháp luật; người trực tiếp chế biến thức ăn mà đang bị mắc bệnh: tả, lỵ, thương hàn, viêm gan A, E, viêm da nhiễm trùng, lao phổi, tiêu chảy cấp.
Mức phạt này cũng áp dụng với hành vi sử dụng phụ gia thực phẩm được sang chia, san chiết không phù hợp quy định của pháp luật để chế biến thức ăn; sử dụng nước không bảo đảm để chế biến thức ăn, vệ sinh trang thiết bị, dụng cụ phục vụ chế biến, ăn uống; vi phạm các quy định khác về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm theo quy định của pháp luật trong kinh doanh thức ăn đường phố.
Bên cạnh đó, buộc tiêu hủy thực phẩm đối với vi phạm sử dụng phụ gia thực phẩm được sang chia, san chiết không phù hợp quy định của pháp luật để chế biến thức ăn.
Bộ Y tế cũng nêu rõ trách nhiệm quản lý cơ sở kinh doanh thức ăn đường phố; công tác chỉ đạo, phối hợp liên ngành. Các đơn vị quản lý về an toàn thực phẩm, đặc biệt trạm y tế xã/phường cập nhật kịp thời số lượng cơ sở kinh doanh thức ăn đường phố kèm theo địa điểm kinh doanh; kết quả phát hiện vi phạm, xử phạt về an toàn thực phẩm trong kinh doanh thức ăn đường phố; và báo cáo các vụ ngộ độc thực phẩm (nếu có).
Theo Bộ Y tế, thức ăn đường phố là thực phẩm được bán bởi người bán hàng rong, người bán thực phẩm lưu động tại các địa điểm công cộng hoặc được bán tại các sự kiện, lễ hội để sử dụng ngay, hoặc sử dụng sau đó mà không cần chế biến hoặc chuẩn bị thêm.
Cơ sở kinh doanh thức ăn lưu động là tổ chức hoặc cá nhân kinh doanh thức ăn đường phố trên xe bán thức ăn, xe đẩy hoặc các hình thức vận chuyển thực phẩm khác.
-Thu Hằng
Dự án Luật Thủ đô (sửa đổi): Hoàn thiện thể chế, tạo động lực để Hà Nội phát triển mạnh mẽ
Bộ Tư pháp vừa đăng tải công khai hồ sơ dự án Luật Thủ đô (sửa đổi) để thẩm định. Việc sửa đổi luật nhằm hoàn thiện thể chế đặc thù, vượt trội, ổn định, có tầm nhìn dài hạn, phù hợp với vị trí, vai trò, tính chất riêng có của Thủ đô; đưa thể chế, pháp luật về Thủ đô trở thành lợi thế cạnh tranh, nền tảng vững chắc, động lực mạnh mẽ cho phát triển..
Dự thảo luật gồm 9 chương, 42 điều, tập trung vào 3 nhóm chính sách lớn bao gồm: vị trí, chức năng, nhiệm vụ của Thủ đô; thẩm quyền; quản trị, xây dựng, phát triển và bảo vệ Thủ đô.
NHIỀU ĐỀ XUẤT ĐỂ TĂNG TÍNH CHỦ ĐỘNG TRONG ÁP DỤNG PHÁP LUẬTTheo tờ trình dự thảo, bên cạnh việc kế thừa các quy định cũ, dự thảo sửa đổi, bổ sung, làm rõ các thuật ngữ trong Luật Thủ đô để bảo đảm áp dụng thống nhất, chẳng hạn như: “dự án lớn, quan trọng”; “không gian tầm thấp”; “kinh tế bạc”; “thí điểm cơ chế, chính sách”.
Đặc biệt, khoản 2, Điều 5, Hội đồng nhân dân thành phố có thẩm quyền áp dụng quy định trong trường hợp luật, nghị quyết của Quốc hội ban hành sau ngày Luật Thủ đô có hiệu lực thi hành có quy định cơ chế, chính sách ưu đãi hoặc thuận lợi hơn. Quy định này nhằm tăng tính chủ động cho chính quyền thành phố trong việc áp dụng các quy định pháp luật.
Bên cạnh đó, điều 8 dự thảo bổ sung thêm quy định mới về thẩm quyền xây dựng, ban hành văn bản pháp luật của chính quyền Thành phố Hà Nội nhằm phục vụ phát triển Thủ đô và tăng cường liên kết Vùng Thủ đô.
Cụ thể, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân thành phố được ban hành quy chuẩn, tiêu chuẩn, định mức kinh tế – kỹ thuật, đơn giá và giá dịch vụ sự nghiệp áp dụng riêng cho Thủ đô, khác hoặc chưa được quy định ở trung ương.
Bộ Tư pháp cũng nhấn mạnh việc ban hành các văn bản này phải bảo đảm đúng thẩm quyền, phù hợp với yêu cầu phát triển và đặc thù quản trị của Thủ đô; bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ môi trường, sức khỏe cộng đồng, quốc phòng, an ninh và quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Đồng thời có tiêu chí đánh giá, cơ chế giám sát, giải trình và phương án xử lý khi không đạt mục tiêu hoặc phát sinh rủi ro.
“Riêng đối với các quy định do Ủy ban nhân dân Thành phố ban hành, phải bảo đảm tính khả thi, tính tương thích với quy chuẩn, tiêu chuẩn quốc gia hoặc phù hợp với tiêu chuẩn, thông lệ quốc tế, không làm cản trở việc liên thông, kết nối kỹ thuật, quản lý và dữ liệu với hệ thống quốc gia và các địa phương khác”, tờ trình nêu rõ.
TĂNG CƯỜNG TÍNH TỰ CHỦ TÀI CHÍNH- NGÂN SÁCHMột điểm đáng chú ý, về nguồn lực phát triển Thủ đô (Điều 25), dự thảo tờ trình quy định các chính sách tài chính nhằm tăng cường tính chủ động, tự chủ về tài chính – ngân sách cho Thủ đô, phù hợp với vai trò là trung tâm chính trị – hành chính quốc gia, đầu tàu phát triển kinh tế, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của cả nước.
Theo đó, ngân sách trung ương bổ sung có mục tiêu cho ngân sách Thành phố toàn bộ số tăng thu ngân sách trung ương phát sinh trên địa bàn so với dự toán được giao, trên cơ sở tổng hợp các khoản thu, do Bộ Tài chính xác định hằng năm.
Dự toán chi ngân sách hằng năm của Thành phố được xác định theo định mức phân bổ cao hơn (1,5 lần) so với các địa phương khác.
Hội đồng nhân dân Thành phố được quyết định phương án vay trong nước và cơ chế vay lại vốn Chính phủ; quyết định việc giữ lại toàn bộ phần ngân sách trung ương được hưởng từ các khoản thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất thuộc thẩm quyền quản lý của Thành phố.
Các khoản thu từ giao dịch tín chỉ các-bon, giảm phát thải khí nhà kính sử dụng ngân sách Thành phố được hưởng 100% và không tính vào tỷ lệ phân chia ngân sách.
Hội đồng nhân dân Thành phố có thẩm quyền quyết định việc thành lập, tổ chức và cơ chế tài chính của các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách; quyết định cơ cấu chi ngân sách, sử dụng ngân sách và các quỹ ngân sách cho đầu tư phát triển; quyết định hỗ trợ tài chính cho cơ quan trung ương, địa phương khác, hỗ trợ quốc tế và hỗ trợ giữa các đơn vị hành chính cấp xã trong các trường hợp cần thiết.
Ngoài ra, Hội đồng nhân dân Thành phố được quyết định sử dụng ngân sách cho các dự án liên kết vùng, công trình giao thông quan trọng đi qua địa bàn và ban hành chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách Thành phố cao hơn hoặc chưa được quy định tại văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên.
Theo Bộ Tư pháp, việc cho phép Thành phố Hà Nội được hưởng toàn bộ phần tăng thu ngân sách trung ương phát sinh trên địa bàn sẽ tạo động lực trực tiếp để Thành phố có đủ nguồn lực đẩy mạnh cải cách hành chính.
Đồng thời, nâng cao chất lượng nền hành chính, triển khai thực hiện mô hình phát triển kinh tế mới, thực hiện Quy hoạch tổng thể Thủ đô. Từ đó nuôi dưỡng nguồn thu bền vững và đầu tư trở lại cho phát triển Thủ đô, Vùng Thủ đô.
-Đỗ Mến