Thời báo kinh tế Việt Nam

Subscribe to Thời báo kinh tế Việt Nam feed Thời báo kinh tế Việt Nam
VnEconomy - Góc nhìn toàn cảnh về nền kinh tế Việt Nam
Updated: 1 hour 10 min ago

Nâng cao giá trị và đáp ứng chuẩn xanh: “Lời giải” cho xuất khẩu bền vững

Wed, 12/17/2025 - 07:21
Hoạt động xuất nhập khẩu Việt Nam đã ghi dấu một giai đoạn phát triển ấn tượng, trở thành trụ cột quan trọng của tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng nhanh nhưng chưa vững, cùng với những biến động khó lường của thị trường quốc tế, đòi hỏi các chính sách và giải pháp đột phá, khả thi để chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình tăng trưởng chất lượng cao và bền vững...

Tại tọa đàm “Giải pháp tăng trưởng xuất khẩu cao và bền vững” ngày 16/12/2025, ông Nguyễn Anh Sơn, Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) đã chia sẻ về chặng đường bứt phá mạnh mẽ của hoạt động xuất nhập khẩu trong 5 năm qua (2020-2025), khẳng định vai trò trụ cột của lĩnh vực này đối với tăng trưởng kinh tế quốc gia.

ÁP LỰC TỪ CHUẨN MỰC XANH VÀ THÁCH THỨC NỘI TẠI

Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu bình quân ấn tượng, đạt khoảng 10%/năm. Thành tựu này đã đưa Việt Nam gia nhập nhóm 20 nền kinh tế có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất thế giới từ năm 2023. Đáng chú ý, Việt Nam liên tục duy trì trạng thái xuất siêu 10 năm liền kể từ năm 2016, một yếu tố quan trọng giúp ổn định nguồn ngoại tệ, giảm áp lực tỷ giá và củng cố dự trữ ngoại hối quốc gia.

Từ năm 1995, với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu chỉ khoảng 500 triệu USD, con số này dự kiến sẽ tăng lên hơn 900 tỷ USD vào năm 2025, tức là gấp khoảng 180 lần. Riêng 11 tháng năm 2025, kim ngạch xuất khẩu cả nước đã đạt 430,2 tỷ USD, tăng 16,1% so với cùng kỳ năm trước. Ước tính cả năm 2025, xuất khẩu sẽ cán mốc trên 470 tỷ USD, tăng 16% so với năm 2024, minh chứng cho vị thế của Việt Nam là một trong những nền kinh tế có độ mở cao và là điểm sáng trong thương mại khu vực và toàn cầu.

Bên cạnh những kết quả rực rỡ, ông Sơn cho rằng xuất khẩu Việt Nam đang đứng trước nhiều khó khăn và thách thức mới.

Trên bình diện quốc tế, môi trường thương mại toàn cầu đang thay đổi nhanh và khó lường, với sự phục hồi kinh tế thế giới chậm chạp, xung đột địa chính trị, phân mảnh thương mại, và chủ nghĩa bảo hộ gia tăng, làm thu hẹp dư địa tăng trưởng truyền thống.

Đặc biệt, các tiêu chuẩn mới về phát triển bền vững, giảm phát thải, truy xuất nguồn gốc, trách nhiệm xã hội và “xanh hóa” chuỗi cung ứng đang trở thành điều kiện bắt buộc. Điều này tạo ra sức ép lớn, đặc biệt đối với các doanh nghiệp xuất khẩu vừa và nhỏ.

Ngoài thách thức từ bên ngoài, hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam còn tồn tại nhiều yếu tố chưa bền vững. Tăng trưởng xuất khẩu vẫn phụ thuộc đáng kể vào khu vực FDI. Khu vực doanh nghiệp trong nước chưa tham gia sâu vào các khâu có giá trị gia tăng cao trong chuỗi sản xuất và phân phối toàn cầu. Nhiều ngành hàng còn phụ thuộc lớn vào nguồn nguyên liệu, linh kiện nhập khẩu, khiến sản xuất và xuất khẩu dễ bị tổn thương trước cú sốc bên ngoài và nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng.

Quan ngại hơn, năng lực thiết kế, marketing quốc tế, xây dựng thương hiệu còn hạn chế, và khả năng đáp ứng đồng bộ các tiêu chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn xanh, tiêu chuẩn thị trường cao cấp của một bộ phận doanh nghiệp vẫn còn khó khăn.

Quang cảnh buổi tọa đàm.

Về cơ cấu hàng hóa xuất khẩu, ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho biết trong 11 tháng năm 2025, nhóm mặt hàng công nghiệp chế biến chiếm vị trí chủ đạo. Các mặt hàng tiêu biểu có trị giá cao nhất là máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện (96 tỷ USD); tiếp đến là máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng; điện thoại và linh kiện; dệt may; giày dép. Nhóm nông – lâm – thủy sản có 3 mặt hàng lọt vào top 10 kim ngạch lớn nhất, gồm: gỗ, thủy sản, và cà phê.

Về thị trường, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất, chiếm đến 32,3% (khoảng 1/3) tỷ trọng xuất khẩu của Việt Nam. Đáng chú ý, đây là một trong những thị trường lớn hiếm hoi không có FTA với Việt Nam. Ngược lại, Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất, chiếm khoảng 40% tỷ trọng nhập khẩu, chủ yếu là nguyên liệu phục vụ sản xuất và xuất khẩu.

Chỉ ra những thách thức lớn về sự phụ thuộc quá mức vào hai thị trường này (Hoa Kỳ cho xuất khẩu và Trung Quốc cho nhập khẩu), ông Hải nhấn mạnh: điều này tạo ra rủi ro và cần có chiến lược đa dạng hóa thị trường.

Ngoài ra, tỷ trọng lớn của các doanh nghiệp FDI (chiếm 70-75%) trong kim ngạch xuất khẩu, dẫn đến tỷ lệ giá trị gia tăng được tạo ra tại Việt Nam còn thấp, chủ yếu ở khâu lắp ráp cuối cùng , trong khi các khâu giá trị cao như thương hiệu, tiếp thị, và chuỗi cung ứng chưa được hoàn thiện. Cán cân thương mại cũng mất cân đối với tình trạng xuất siêu lớn sang Hoa Kỳ và nhập siêu quá lớn từ Trung Quốc.

CHUYỂN DỊCH TỪ MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG XUẤT KHẨU TỪ CHIỀU RỘNG SANG CHIỀU SÂU

Để ứng phó với nhiều biến động và sự thay đổi xu hướng toàn cầu, ông Hải nhấn mạnh yêu cầu chuyển dịch mạnh mẽ từ mô hình tăng trưởng theo chiều rộng sang tăng trưởng theo chiều sâu, hiệu quả và bền vững, gắn với nâng cao giá trị gia tăng, hàm lượng công nghệ và tỷ lệ nội địa hóa.

Cụ thể, Việt Nam cần tập trung vào các giải pháp tạo động lực lực tăng trưởng mới. Phát triển các nền công nghiệp nền tảng mang tính cốt lõi, có giá trị bền vững, phát triển mặt hàng nông sản. Chủ động nguồn nguyên liệu bằng cách đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, làm chủ công nghệ để gia tăng giá trị nội địa.

Ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu chia sẻ tại tọa đàm.

Đồng thời, đa dạng hóa thị trường thông qua tích cực xúc tiến, tìm kiếm và ký kết thêm các FTA để tạo ra thị trường mới. Đẩy mạnh các phương thức thương mại mới như thương mại điện tử xuyên biên giới. Đổi mới công tác xúc tiến thương mại gắn với xây dựng thương hiệu. Gắn thương hiệu với truy xuất nguồn gốc (nông sản) và xuất xứ hàng hóa (công nghiệp), gắn với các tiêu chuẩn xanh và số hóa.

Cùng với đó, việc tối ưu hóa quy trình logistics để đưa hàng hóa đến người tiêu dùng với chi phí thấp nhất, thời gian nhanh nhất vô cùng quan trọng nhằm thúc đẩy việc các doanh nghiệp tiến thẳng ra thị trường nước ngoài.

TS Nguyễn Thị Thu Trang, Chuyên gia pháp luật và hội nhập kinh tế quốc tế, khẳng định việc đáp ứng các tiêu chuẩn bền vững về môi trường, lao động, trách nhiệm xã hội và quản trị doanh nghiệp không còn là lựa chọn, mà đã trở thành điều kiện bắt buộc đối với hàng hóa xuất khẩu. Do đó, việc chủ động thích ứng với các chuẩn mực bền vững sẽ giúp doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh, giảm rủi ro thương mại và tạo nền tảng cho tăng trưởng dài hạn.

Các giải pháp hỗ trợ từ phía Nhà nước như hoàn thiện thể chế, phát triển hạ tầng logistics, thúc đẩy chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng được xác định là những yếu tố then chốt để duy trì đà tăng trưởng xuất khẩu cao và bền vững.

Bộ Công Thương-Vũ Khuê

Categories: The Latest News

Việt Nam vẫn nằm trong nhóm bị ETF rút ròng tại châu Á

Wed, 12/17/2025 - 07:20
Tại châu Á, dòng vốn khối ngoại có xu hướng giảm so với tuần trước, song trạng thái chung vẫn là vào ròng. Riêng Việt Nam tiếp tục bị rút ròng 6,0 triệu USD.

Trong tuần giao dịch vừa qua, thị trường chứng khoán Mỹ giằng co quanh vùng đỉnh lịch sử khi nhà đầu tư thận trọng chờ đợi quyết định chính sách của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) cùng loạt dữ liệu lạm phát quan trọng. Áp lực chốt lời gia tăng tại nhóm cổ phiếu công nghệ, đặc biệt sau mùa công bố kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp bán dẫn, đã khiến biến động tăng mạnh trong phiên cuối tuần. Trong bối cảnh đó, nhóm cổ phiếu phòng thủ đóng vai trò cân bằng, giúp thị trường không điều chỉnh quá sâu.

Kết thúc tuần, chỉ số SP 500 giảm 0,6% so với tuần trước, Nasdaq giảm 1,6%, trong khi Dow Jones tăng 1,1%, phản ánh trạng thái xoay trục tạm thời của dòng tiền từ nhóm cổ phiếu tăng trưởng sang các nhóm phòng thủ trong tuần diễn ra cuộc họp của Fed.

Dòng tiền vào các quỹ ETF tại Mỹ duy trì đà tăng mạnh, với tổng giá trị huy động ròng đạt 49,36 tỷ USD, tăng 11,7% so với tuần trước. Trong đó, ETF cổ phiếu Mỹ tiếp tục thu hút dòng tiền chủ đạo, ghi nhận 39,55 tỷ USD hút ròng, tăng 31,4% so với tuần trước, cho thấy dòng vốn vẫn ưu tiên nhóm cổ phiếu vốn hóa lớn bất chấp biến động ngắn hạn tại nhóm công nghệ.

Ở chiều ngược lại, ETF trái phiếu Mỹ chỉ hút ròng 6,65 tỷ USD, giảm 37,7% so với tuần trước, phản ánh nhu cầu đối với trái phiếu hạ nhiệt trong bối cảnh Fed đã thực hiện lần cắt giảm lãi suất thứ ba trong năm 2025.

Đối với các quỹ ETF đầu tư ngoài nước Mỹ, xu hướng tái cân bằng danh mục sang các tài sản rủi ro bên ngoài thị trường Mỹ tiếp tục gia tăng. Cụ thể, ETF cổ phiếu ngoài Mỹ hút ròng 7,11 tỷ USD, tăng 52,1% so với tuần trước, trong khi ETF trái phiếu ngoài Mỹ ghi nhận 1,82 tỷ USD hút ròng, tăng 29,3% WoW.

Bên cạnh đó, ETF hàng hóa tiếp tục được bơm ròng 2,39 tỷ USD, tăng 14,5% WoW, trong bối cảnh giá vàng quay trở lại vùng đỉnh cũ và nhu cầu phòng thủ đối với đồng USD gia tăng.

ETF cổ phiếu Mỹ vẫn là tâm điểm của dòng vốn toàn cầu. Xu hướng này được kỳ vọng sẽ tiếp diễn khi thị trường đặt cược vào khả năng Fed có thể tiếp tục giảm lãi suất thêm 2–3 lần trong năm 2026, qua đó gia tăng sức hấp dẫn tương đối của kênh cổ phiếu so với các tài sản thu nhập cố định.

Tại châu Á, dòng vốn khối ngoại có xu hướng giảm so với tuần trước, song trạng thái chung vẫn là vào ròng. Hàn Quốc tiếp tục dẫn đầu với 1.144,3 triệu USD hút ròng, theo sau là Đài Loan với 820,1 triệu USD, đánh dấu tuần hút ròng thứ hai liên tiếp. Diễn biến này phản ánh kỳ vọng của nhà đầu tư vào sự ổn định trở lại của chuỗi bán dẫn sau nhịp điều chỉnh trong tháng 11.

Ở chiều ngược lại, Ấn Độ ghi nhận mức bán ròng 679,4 triệu USD, Malaysia (-126,2 triệu USD), Philippines (-75,8 triệu USD) và Thái Lan (-7,9 triệu USD). Riêng Indonesia vẫn duy trì hút ròng nhẹ, đạt 85,5 triệu USD.

Đối với dòng vốn ETF tại khu vực Đông Nam Á, xu hướng vào ròng được duy trì nhưng quy mô giảm đáng kể, chỉ đạt 19,7 triệu USD. Trong đó, Indonesia tiếp tục là điểm sáng với 21,3 triệu USD hút ròng, nhờ câu chuyện tăng trưởng tích cực và mặt bằng định giá được đánh giá là hợp lý. Singapore (+0,3 triệu USD) và Malaysia (+4,1 triệu USD) cũng ghi nhận dòng vốn vào ròng. Ngược lại, Việt Nam tiếp tục bị rút ròng 6,0 triệu USD.

Đối với các quỹ ETF đầu tư vào Việt Nam, xu hướng rút ròng vẫn chiếm ưu thế, với áp lực chính đến từ Fubon FTSE (-5,79 triệu USD), DB FTSE (-1,00 triệu USD) và E1VFVN30 (-0,8 triệu USD). Ở chiều tích cực, FUESSVFL (+1,01 triệu USD) và FUEVFVND (+0,58 triệu USD) ghi nhận hút ròng nhẹ.

Trên thị trường chứng khoán Việt Nam, khối ngoại bán ròng trở lại khoảng 5.975 tỷ đồng sau tuần mua ròng mạnh trước đó. Áp lực bán tập trung chủ yếu ở các cổ phiếu vốn hóa lớn như VPL (-2.588 tỷ đồng), VIC (-1.597 tỷ đồng), STB (-557 tỷ đồng) và VCB (-338 tỷ đồng). Ở chiều ngược lại, khối ngoại vẫn mua ròng một số cổ phiếu đầu ngành, đáng chú ý là HPG (+501 tỷ đồng), FPT (+401 tỷ đồng) và MBB (+396 tỷ đồng).

Theo đánh giá của Yuanta, đà bán ròng của khối ngoại tại Việt Nam nhiều khả năng sẽ tiếp tục thu hẹp trong thời gian tới, trong khi các quỹ ETF dự kiến sẽ thực hiện cơ cấu danh mục trong tuần giao dịch từ ngày 15–19/12/2025.

-Thu Minh

Categories: The Latest News

CEO HSBC: Đa dạng hóa nguồn vốn, tiếp sức hành trình tăng trưởng của Việt Nam

Wed, 12/17/2025 - 07:20
Việt Nam đang sở hữu tiềm năng tăng trưởng rất lớn, với triển vọng GDP hướng tới 2 con số, trong đó việc đa dạng hóa nguồn vốn, đặc biệt khai thác hiệu quả thị trường vốn quốc tế, được xem là một trong những yếu tố then chốt để hiện thực hóa các mục tiêu phát triển dài hạn…

Ngày 16/12/2025, tại Trụ sở Chính phủ, được sự đồng ý của Thủ tướng Chính phủ và Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng, Ban Chính sách, chiến lược Trung ương và Chính phủ đồng chủ trì chỉ đạo tổ chức Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2025, triển vọng 2026 (VEPF) với chủ đề “Kinh tế Việt Nam phát triển nhanh, bền vững, chuyển đổi xanh trong kỷ nguyên số”.

Tại Phiên toàn thể cấp cao trong khuôn khổ Diễn đàn, Tổng Giám đốc Ngân hàng HSBC Việt Nam Tim Evans đã có bài tham luận sâu sắc: “Tiếp sức hành trình tăng trưởng: Huy động nguồn lực tài chính cho tăng trưởng cao và phát triển bền vững tại Việt Nam giai đoạn 2016 - 2030”.

ĐA DẠNG HÓA NGUỒN VỐN CHO TĂNG TRƯỞNG DÀI HẠN

Mở đầu bài tham luận, CEO HSBC cho biết để đạt được những mục tiêu tăng trưởng đã đề ra, nhu cầu vốn của Việt Nam là rất lớn để chuẩn bị nguồn lực cho hàng loạt dự án cơ sở hạ tầng trọng điểm, cũng như tiếp sức cho sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân.

Những năm gần đây, tác động của biến đổi khí hậu ngày càng hiện hữu qua các hiện tượng thời tiết cực đoan như bão Yagi hay các đợt lũ lụt nghiêm trọng, khiến Việt Nam được xếp vào nhóm 5 quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất, trong bối cảnh mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.

Trước yêu cầu nguồn lực rất lớn này, ông Tim Evans cho rằng hệ thống ngân hàng và các tổ chức tài chính giữ vai trò then chốt trong việc cấp vốn cho tăng trưởng, song điều quan trọng hơn là Việt Nam cần tiếp tục đa dạng hóa các kênh huy động vốn. Trên thực tế, định hướng này đã được triển khai, nhưng trong chặng đường phía trước, Việt Nam cần khai thác mạnh mẽ và hiệu quả hơn tiềm năng của thị trường vốn quốc tế để phục vụ mục tiêu phát triển dài hạn.

Theo ông Tim Evans, Việt Nam nên tiếp tục huy động thêm các công cụ vốn khác, bởi chi phí vốn có thể thấp hơn. Khi nguồn vốn được đa dạng hóa và các kênh huy động được tối ưu, nền tảng đầu tư sẽ được mở rộng, qua đó tạo dư địa cấp vốn cho nhiều dự án hơn.

"Không chỉ dừng ở yếu tố chi phí, việc huy động vốn từ các nguồn quốc tế còn mang lại những lợi thế quan trọng khác, trong đó có tính linh hoạt cao về mục đích sử dụng vốn, cho phép huy động nguồn vốn dài hạn để tài trợ cho các dự án hạ tầng", ông Tim Evans nhận định.

ĐIỂM ĐẾN HẤP DẪN CỦA DÒNG VỐN QUỐC TẾ

Quay trở lại năm 2014, Việt Nam đã thành công trong việc tái tiếp cận thị trường vốn quốc tế khi phát hành trái phiếu Chính phủ quốc tế kỳ hạn 10 năm, huy động hơn 1 tỷ USD. Theo ông Tim Evans, so với thời điểm cách đây một thập kỷ, câu chuyện của Việt Nam hiện nay đã mang sức truyền cảm hứng mạnh mẽ hơn rất nhiều. Thực tế cho thấy, khi đã có hoài bão, Việt Nam không chỉ thực hiện được mà còn triển khai rất nhanh.

Dẫn chứng cho điều này, ông Tim Evans cho biết năm 2022, ngay sau khi Việt Nam vượt qua đại dịch Covid-19, Tập đoàn Masan đã huy động thành công hơn 600 triệu USD vốn đồng tài trợ.

Đáng chú ý, dù nhu cầu vay chỉ khoảng 375 triệu USD, tổng giá trị vốn huy động thực tế đã vượt lên hơn 600 triệu USD, qua đó cho thấy sức hấp dẫn và câu chuyện truyền cảm hứng mạnh mẽ của Việt Nam đối với các nhà đầu tư quốc tế.

Ông Tim Evans, Tổng Giám đốc Ngân hàng HSBC trình bày tham luận tại Diễn đàn - Ảnh: Tri Phong.

“Việt Nam đang nổi lên là thị trường lớn của khu vực, thu hút nhiều lớp nhà đầu tư và tài sản mới. Với những câu chuyện thành công đã được kiểm chứng, từ vượt qua Covid-19 đến thích ứng với thách thức toàn cầu, Việt Nam tiếp tục khẳng định sức hấp dẫn mạnh mẽ. Trong tiến trình đó, HSBC cam kết song hành, trở thành cầu nối thu hút nguồn vốn quốc tế cho tăng trưởng bền vững của Việt Nam”.

“Sự quan tâm của nhà đầu tư quốc tế đối với Việt Nam ngày càng gia tăng. Trong tiến trình đó, HSBC tự hào đã hiện diện tại Việt Nam nhiều thập kỷ, đồng hành cùng doanh nghiệp trong nước, các tập đoàn lớn, doanh nghiệp tầm trung và các lĩnh vực kinh tế mới nổi”, ông CEO HSBC cho biết.

Tuy nhiên, theo CEO HSBC, vẫn tồn tại những rào cản kỹ thuật cần được tháo gỡ, trong đó có việc các tổ chức quốc tế đánh giá rủi ro một cách khách quan. Các xếp hạng tín nhiệm độc lập từ Moody’s, SP Global hay Fitch được coi là những tham chiếu quan trọng, và nếu đạt được mức đánh giá tích cực, đây sẽ là tín hiệu rất thuận lợi. Vì vậy, việc áp dụng các chuẩn mực toàn cầu là yêu cầu cần thiết.

Bên cạnh đó, để tiếp cận thị trường vốn quốc tế, doanh nghiệp Việt Nam cần nâng cao năng lực quản trị, áp dụng thông lệ quốc tế, cải thiện chất lượng báo cáo tài chính và ESG; đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi số, đặc biệt trong bối cảnh bùng nổ công nghệ và AI. Song song đó là củng cố cơ cấu vốn, đa dạng hóa kênh huy động từ tín dụng, trái phiếu đến thị trường vốn.

-Vân Nguyễn

Categories: The Latest News

Thái Nguyên hướng tới mô hình khai thác than an toàn và bền vững

Wed, 12/17/2025 - 07:18
Đối mặt với nguy cơ sạt lở, tràn bùn tại các mỏ khoáng sản do mưa lũ cực đoan, Thái Nguyên kiên quyết không đánh đổi môi trường lấy kinh tế. Thay vào đó, trung tâm khai khoáng lớn của miền Bắc đang khẩn trương triển khai đồng bộ các giải pháp kỹ thuật, hướng tới mô hình khai thác an toàn và bền vững...

Tại Công ty Than Khánh Hòa (VVMI), một trong những đơn vị khai thác than lâu đời và có vai trò quan trọng đối với ngành công nghiệp khai khoáng tại Thái Nguyên, từ thực địa mỏ đến các khu xử lý môi trường, những gì ghi nhận được cho thấy rõ nỗ lực của doanh nghiệp trong việc duy trì sản xuất, đồng thời thích ứng với các yêu cầu ngày càng khắt khe về an toàn, môi trường.

KHAI THÁC THAN PHỤC VỤ SẢN XUẤT ĐIỆN

VVMI hiện là đơn vị trực thuộc Tổng Công ty Công nghiệp Mỏ Việt Bắc (TKV-CTCP), có trụ sở tại xã Sơn Cẩm, thành phố Thái Nguyên. Ông Ma Văn Thủy, Phó Giám đốc VVMI cho biết hiện công ty có hơn 700 lao động, phần lớn có trình độ quản lý và tay nghề kỹ thuật cao, được đầu tư nhiều thiết bị khai thác, vận tải và chế biến hiện đại. Nhiệm vụ chính của VVMI là khai thác, chế biến than cung cấp cho Nhà máy Nhiệt điện Cao Ngạn, các nhà máy xi măng trong Tổng Công ty Công nghiệp Mỏ Việt Bắc và các đơn vị trong ngành.

Trung bình mỗi năm, mỏ than Khánh Hòa bóc tách từ 4,5–5 triệu m3 đất đá, khai thác khoảng 400.000–500.000 tấn than nguyên khai. Mỏ than Khánh Hòa chỉ cách Nhà máy nhiệt điện Cao Ngạn vài km, từ đây có băng chuyền tải than đến thẳng nhà máy nhiệt điện.

“Thực tế khai thác cho thấy, để thu được 1 tấn than, trung bình phải bóc khoảng 10 m3 đất đá phủ. Than tại mỏ chủ yếu là than cám, trong khi than cục chiếm tỷ lệ nhỏ, phù hợp với nhu cầu của các nhà máy nhiệt điện. Trước khi đưa vào lò đốt, than cám thường được nghiền lại, chất lượng được kiểm soát chặt chẽ để đáp ứng yêu cầu công nghệ của từng nhà máy”, ông Thủy chia sẻ.

Đoàn nhà báo làm việc tại Công ty Than Khánh Hoà. Ảnh: Chu Khôi.

Trong 55 năm kể từ năm 1970 đến nay, Công ty đã bốc xúc, vận chuyển 88,2 triệu m3 đất đá, khai thác trên 11,4 triệu tấn than nguyên khai và tiêu thụ hơn 10,5 triệu tấn than sạch. Riêng giai đoạn 2019–2024, công ty sản xuất và tiêu thụ 7 triệu tấn than sạch, đạt doanh thu 4.779 tỷ đồng, nộp ngân sách Nhà nước 1.293 tỷ đồng. Những năm gần đây, doanh thu nộp ngân sách của mỏ đạt bình quân khoảng 250 tỷ đồng/năm.

Theo ông Thủy, nhu cầu năng lượng của Việt Nam trong trung và dài hạn vẫn tiếp tục tăng do đất nước đang trong quá trình công nghiệp hóa. Việc chuyển dịch nhiên liệu đối với nhiệt điện than sẽ được thực hiện theo lộ trình cụ thể do Nhà nước ban hành, không mang tính đột ngột.

Hòa." /> Khai thác than tại mỏ than Khánh Hòa.

Hiện nay, ngành than đang thực hiện theo Quy hoạch số 893/QĐ-TTg được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 2023 về Quy hoạch tổng thể năng lượng quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Theo đó, Tập đoàn được giao nhiệm vụ sản xuất than phục vụ nhu cầu trong nước, đặc biệt là cho điện năng, trong giai đoạn chuyển tiếp.

Ông Thủy cho biết đối với khu vực Khánh Hòa, mỏ than được quy hoạch khai thác lộ thiên đến khoảng năm 2038, sau đó chuyển sang khai thác hầm lò, với tầm nhìn đến năm 2050. Riêng mỏ Núi Hồng, dự kiến kết thúc giấy phép khai thác lộ thiên vào năm 2025; nếu đủ điều kiện, sẽ tiếp tục nghiên cứu phương án khai thác hầm lò trong giai đoạn tiếp theo.

VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG TRONG KHAI KHOÁNG

Một điểm nhấn đáng chú ý tại mỏ than Khánh Hòa là công tác hoàn nguyên và xử lý môi trường. Theo đề án cải tạo, phục hồi môi trường, các khu vực kết thúc khai thác lộ thiên sẽ được giữ lại để hình thành các hồ nước. Những hồ này vừa có chức năng điều hòa, vừa có thể nuôi trồng thủy sản, kết hợp trồng cây xanh xung quanh nhằm cải thiện cảnh quan và môi trường sinh thái.

Trong quá trình khai thác, việc bơm thoát nước là bắt buộc do khu vực moong luôn là điểm trũng thấp nhất. Nguy cơ ngập úng vào mùa mưa đã được tính toán trong thiết kế kỹ thuật. Hiện nay, hệ thống xử lý nước thải của mỏ mỗi năm tiếp nhận khoảng 3 triệu m3 nước thải; những năm mưa nhiều, lưu lượng có thể tăng lên trên 4 triệu m3/năm.

Ông Ma Văn Thuỷ trao đổi với đoàn nhà báo về công tác hoàn nguyên và xử lý môi trường tại mỏ than Khánh Hòa: Ảnh: Chu Khôi.

Tại khu xử lý nước thải, nước được đưa qua các bể điều hòa, bể lắng sơ cấp và bể xử lý trung gian. Ở công đoạn cuối, nước được bơm sang các bể châm hóa chất, chủ yếu là chất trợ lắng, nhằm loại bỏ chất rắn lơ lửng và bùn cặn. Sau khi xử lý đạt yêu cầu, nước được xả ra hệ thống suối tự nhiên phía sau khu vực mỏ.

Ông Thủy cho biết bùn thải sau lắng được thu gom, tập kết để ổn định trong vài tháng. Thành phần chủ yếu là đất đá mịn, sau khi khô có thể tiếp tục được xử lý hoặc nghiên cứu tận dụng theo hướng kinh tế tuần hoàn, nếu đáp ứng đầy đủ điều kiện pháp lý và môi trường.

Không chỉ riêng mỏ Khánh Hòa, bài toán an toàn và môi trường đang là yêu cầu chung đối với ngành khai khoáng tại Thái Nguyên - địa phương được coi là Trung tâm khai khoáng lớn của miền Bắc. Trong bối cảnh hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản, sử dụng hóa chất và vật liệu nổ công nghiệp tiếp tục mở rộng, tỉnh xác định không đánh đổi tăng trưởng bằng rủi ro sinh thái.

Theo đó, Sở Công Thương Thái Nguyên đã chủ động ban hành và triển khai nhiều văn bản hướng dẫn, tập trung siết chặt quản lý các hạng mục có nguy cơ cao như kho vật liệu nổ công nghiệp, tiền chất thuốc nổ và hệ thống hồ chứa quặng đuôi. Đặc biệt, với việc kịp thời áp dụng Thông tư số 24/2025/TT-BCT và Thông tư số 31/2025/TT-BCT của Bộ Công Thương đã góp phần hình thành khung pháp lý đồng bộ, yêu cầu doanh nghiệp nâng cao tiêu chuẩn an toàn ngay từ khâu thiết kế và đầu tư.

Chế biến than tại mỏ Khánh Hoà. Ảnh: Chu Khôi. Điểm nhấn trong quản lý khai khoáng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên năm 2025 là sự chuyển dịch từ tư duy “kiểm tra, xử lý” sang “hướng dẫn, phòng ngừa và đồng hành cùng doanh nghiệp”, thể hiện qua các hoạt động phối hợp liên ngành và xử lý phản ánh của người dân". Ông Phạm Văn Thọ, Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Thái Nguyên.

Ông Phạm Văn Thọ, Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Thái Nguyên, khẳng định: bảo đảm an toàn môi trường trong khai thác, chế biến khoáng sản là mệnh lệnh xuyên suốt. Trên tinh thần đó, Sở tăng cường tập huấn, kiểm tra, giám sát, yêu cầu các doanh nghiệp hoàn thiện báo cáo đánh giá rủi ro, xây dựng kế hoạch ứng cứu khẩn cấp và chỉ đưa các hạng mục vào vận hành khi đã nghiệm thu đầy đủ về kỹ thuật và môi trường.

Một thách thức nổi lên là rủi ro thiên tai trong điều kiện biến đổi khí hậu, đặc biệt đối với hệ thống hồ chứa chất thải. Mưa lớn cực đoan đã làm gia tăng nguy cơ tràn bùn, sạt lở, vỡ bờ hồ, ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường và đời sống người dân.

Trước thực tế trên, Sở Công Thương đã tổ chức các đợt kiểm tra diện rộng, rà soát toàn bộ hệ thống hồ chứa thải, bãi quặng đuôi và kho vật liệu nổ công nghiệp; yêu cầu doanh nghiệp chủ động gia cố bờ bao, kiểm tra hệ thống thoát nước và kích hoạt phương án ứng phó thiên tai.

Cùng với đó, Sở Công Thương đã rà soát, yêu cầu chỉnh sửa báo cáo kiểm kê khí nhà kính của 42 đơn vị, góp phần chuẩn hóa dữ liệu phát thải, thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư công nghệ xanh, sử dụng năng lượng hiệu quả và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững, phù hợp với cam kết phát thải ròng bằng “0”.

-Chu Khôi

Categories: The Latest News

Thương mại Việt Nam - Nhật Bản tăng trưởng ấn tượng, khẳng định vị thế đối tác hàng đầu

Wed, 12/17/2025 - 07:18
Với kim ngạch xuất khẩu 11 tháng năm 2025 đạt 24,4 tỷ USD, tăng 8,6% so với cùng kỳ, Nhật Bản tiếp tục khẳng định vị thế là đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam. Tuy nhiên, để thâm nhập sâu hơn vào thị trường này, doanh nghiệp Việt cần vượt qua hàng loạt rào cản kỹ thuật nghiêm ngặt và thích ứng với thị hiếu tiêu dùng khó tính bậc nhất thế giới.…

XU HƯỚNG TĂNG TRƯỞNG TÍCH CỰC

Quan hệ Việt Nam - Nhật Bản, được thiết lập từ năm 1973, đã phát triển thành mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện kể từ năm 2023. Nhật Bản không chỉ là đối tác thương mại hàng đầu mà còn là nhà đầu tư lớn và nhà tài trợ ODA quan trọng nhất của Việt Nam trong nhiều năm qua.

Tại Hội thảo "Thúc đẩy hợp tác thương mại Việt Nam với Nhật Bản, Hàn Quốc trong giai đoạn mới", do Bộ Công Thương tổ chức tại TP Hồ Chí Minh ngày 15/12/2025, ông Nguyễn Mạnh Đồng, Chuyên viên Vụ Phát triển thị trường nước ngoài (Bộ Công Thương) cho biết năm 2024, Nhật Bản là đối tác thương mại lớn thứ 4 của Việt Nam, đồng thời là thị trường xuất khẩu và nhập khẩu lớn thứ 4, với cán cân thương mại tương đối cân bằng.

Trong 11 tháng năm 2025, xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản đạt 24,4 tỷ USD, tăng 8,6% so với cùng kỳ năm 2024, chiếm 5,7% tổng kim ngạch xuất khẩu. Nhập khẩu từ Nhật Bản đạt 22,4 tỷ USD, tăng 14,1% so với cùng kỳ, chiếm 5,5% tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam.

Cơ cấu hàng hóa giữa hai nước mang tính bổ sung cao, ít cạnh tranh trực tiếp. Việt Nam chủ yếu xuất khẩu sang Nhật Bản các mặt hàng may mặc, giày dép, thủy sản, nông sản, trong khi nhập khẩu từ Nhật Bản các mặt hàng máy móc, thiết bị, sắt thép, phương tiện vận tải, hóa chất và nhựa nguyên liệu.

Quan hệ thương mại song phương được hưởng lợi lớn từ các hiệp định thương mại tự do, bao gồm VJEPA, AJCEP, CPTPP và RCEP, giúp hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản cơ bản có lợi thế về thuế quan.

Về đầu tư, trong 11 tháng năm 2025, Nhật Bản đứng thứ 4 trong số các đối tác đầu tư lớn vào Việt Nam với 3,57 tỷ USD, chiếm 10,6% tổng vốn đăng ký, sau Singapore, Trung Quốc và Hàn Quốc. Tính lũy kế đến tháng 11/2025, Nhật Bản có 5.698 dự án còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký 79,27 tỷ USD, chiếm 15% tổng vốn FDI vào Việt Nam.

Cơ cấu đầu tư của Nhật Bản tập trung vào công nghiệp chế biến, chế tạo (61%), sản xuất và phân phối điện - khí - nước (15%), bất động sản (10,8%). Một số dự án tiêu biểu như Lọc dầu Nghi Sơn (9 tỷ USD), Thành phố thông minh Đông Anh (4,1 tỷ USD), Nhiệt điện BOT Nghi Sơn 2 (2,8 tỷ USD) đã góp phần quan trọng vào sự phát triển của Việt Nam.

Theo số liệu từ Hải quan Nhật Bản, trong 10 tháng năm 2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Nhật Bản với thế giới đạt gần 184.000 tỷ Yên (khoảng 1.200 tỷ USD), tăng 0,78% so với cùng kỳ. Trong đó, kim ngạch nhập khẩu đạt hơn 93.000 tỷ Yên (gần 600 tỷ USD), giảm 0,52% so với cùng kỳ năm 2024.

Đáng chú ý, tỷ trọng nhập khẩu từ Việt Nam vào Nhật Bản đã tăng từ 3,6% năm 2024 lên khoảng 4% trong năm 2025, cho thấy xu hướng gia tăng rõ nét. Hàng hóa nhập khẩu từ Việt Nam nhìn chung có mức tăng trưởng cao hơn mức tăng trưởng nhập khẩu chung của Nhật Bản từ thế giới, đây là tín hiệu tích cực cho triển vọng xuất khẩu của Việt Nam.

RÀO CẢN KỸ THUẬT KHẮT KHE LÀ THÁCH THỨC LỚN

Từ Nhật Bản, chia sẻ với các Doanh nghiệp tham dự tội thảo, bà Phạm Minh Hà, Bí thư thứ nhất, Tham tán Thương mại, Thương vụ Việt Nam tại Nhật Bản, nhấn mạnh rằng rào cản lớn nhất đối với hàng hóa Việt Nam tại thị trường Nhật Bản không nằm ở thuế quan, mà chủ yếu là các hàng rào phi thuế quan, đặc biệt là các biện pháp về vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động, thực vật.

Đối với nông sản và thủy sản, quy định quan trọng nhất là Luật Vệ sinh An toàn Thực phẩm, trong đó trọng tâm là kiểm soát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và thuốc thú y. Đây chính là nguyên nhân chủ yếu khiến một số lô hàng của Việt Nam bị từ chối nhập khẩu do không đáp ứng mức dư lượng tối đa cho phép.

Về kiểm dịch thực vật, Nhật Bản áp dụng quy trình rất nghiêm ngặt. Tùy từng loại sản phẩm, có những loại rau củ hoàn toàn không được phép nhập khẩu vào Nhật Bản. Các sản phẩm tiêu dùng bắt buộc phải tuân thủ Luật An toàn sản phẩm tiêu dùng và các tiêu chuẩn ghi nhãn của Bộ Nông nghiệp Nhật Bản.

Đối với máy móc, thiết bị, linh kiện điện tử, doanh nghiệp phải đáp ứng các quy định về đánh giá sự phù hợp, bao gồm các tiêu chuẩn PSE, PSE-MAC và G-MOC. Trong đó, G-MOC là yêu cầu ghi nhãn về sự hiện diện của các hóa chất độc hại như chì và thủy ngân trong các thiết bị điện và điện tử.

Với ngành dệt may, mặc dù nhiều tiêu chuẩn mang tính tự nguyện như JIS hoặc FSA, nhưng người tiêu dùng Nhật Bản yêu cầu chất lượng gần như tuyệt đối, kể cả với các chi tiết rất nhỏ. Sản phẩm dệt may còn phải tuân thủ quy định hạn chế hóa chất, đặc biệt là formaldehyde, thuốc nhuộm gây ung thư và các dung môi độc hại khác, đồng thời phải đáp ứng quy tắc xuất xứ "từ sợi trở đi" trong CPTPP - được đánh giá là khá chặt chẽ.

“Một điểm đặc biệt cần lưu ý là quy định về sinh vật biến đổi gen (GMO). Từ năm 2023, Nhật Bản đã hạ ngưỡng cho phép từ 5% xuống mức "không thể phát hiện", yêu cầu doanh nghiệp phải áp dụng quy trình quản lý và tách biệt rất nghiêm ngặt. Đối với nhãn hữu cơ, sản phẩm bắt buộc phải được chứng nhận theo tiêu chuẩn hữu cơ JAS của Nhật Bản, thay vì chấp nhận chứng nhận của nước xuất khẩu.

Riêng với sản phẩm gỗ, từ năm 2025 có hai yêu cầu đặc biệt quan trọng. Thứ nhất, sửa đổi Luật Gỗ sạch, theo đó trách nhiệm chứng minh tính hợp pháp của nguồn gỗ sẽ chuyển hoàn toàn sang nhà cung cấp nước ngoài, bao gồm việc thiết lập hệ thống truy xuất nguồn gốc rõ ràng. Thứ hai, tiêu chuẩn phát thải formaldehyde, trong đó Nhật Bản đang áp dụng mức nghiêm ngặt nhất thế giới - tiêu chuẩn F4 sao”.

TẬN DỤNG CƠ HỘI TỪ NẮM BẮT THỊ HIẾU TIÊU DÙNG NHẬT BẢN

Tham tán Thương mại Việt Nam tại Nhật Bản thông tin, thị hiếu tiêu dùng tại Nhật Bản hiện đang chịu tác động mạnh từ già hóa dân số, với tỷ lệ người trên 65 tuổi chiếm hơn 30%, kéo theo sự thay đổi rõ nét trong hành vi tiêu dùng. Người tiêu dùng Nhật Bản đặc biệt quan tâm đến an toàn và truy xuất nguồn gốc, sẵn sàng trả giá cao cho các sản phẩm sạch, an toàn, minh bạch.

Xu hướng tiêu dùng xanh, sản phẩm hữu cơ và sản phẩm chăm sóc sức khỏe đang mở rộng rất nhanh, tạo ra cơ hội lớn cho các sản phẩm nhiệt đới như cà phê rang xay, hạt điều, trái cây chế biến. Xu hướng địa phương hóa và tiêu dùng tiện lợi cũng khiến thực phẩm chế biến sâu, thực phẩm sẵn sàng sử dụng có nhu cầu ngày càng cao.

Về bao bì, bà Hà cho biết cần đầy đủ thông tin, thiết kế đơn giản, tinh tế có thể tăng khả năng tiêu thụ từ 20-30%. Khoảng 60% người tiêu dùng Nhật Bản ưu tiên sản phẩm có bao bì bền vững. Do không gian sống nhỏ, bao bì kích thước nhỏ gọn được ưa chuộng hơn.

Một kênh bán lẻ mới đang nổi lên là chuỗi cửa hàng dược phẩm, được đánh giá là kênh quan trọng để tiếp cận người cao tuổi, đặc biệt phù hợp với hạt, quả sấy và thực phẩm chức năng.

Bà Hà nhận định: trong thời gian tới, triển vọng xuất khẩu sang Nhật Bản vẫn rất tích cực, đặc biệt đối với các mặt hàng như đồ gỗ, may mặc, nông - thủy sản, thực phẩm chế biến; rau quả đông lạnh, chế biến sâu; thực phẩm chế biến sẵn; các sản phẩm phục vụ cộng đồng người Việt tại Nhật và cơ hội thay thế hàng nội địa Nhật Bản trong bối cảnh lạm phát. 

Từ thực tiễn làm việc, đại diện Thương vụ Việt Nam tại Nhật Bản đề xuất một số khuyến nghị đối với doanh nghiệp xuất khẩu.

Thứ nhất, thường xuyên cập nhật và tuân thủ các quy định nhập khẩu, đặc biệt là kiểm soát chất lượng đầu vào, dư lượng hóa chất và chuẩn bị hồ sơ chứng nhận từ sớm.

Thứ hai, xây dựng chiến lược kinh doanh dài hạn, không tiếp cận thị trường Nhật Bản theo tư duy ngắn hạn. Đây là thị trường có yêu cầu chất lượng cao nhất thế giới, nhưng đồng thời cũng mang lại lợi ích bền vững cho những doanh nghiệp có chiến lược tiếp cận phù hợp và dài hạn.

Thứ ba, đầu tư nâng cấp công nghệ sản xuất, quản trị, tiêu chuẩn lao động và môi trường, nhằm đáp ứng yêu cầu xã hội - môi trường ngày càng cao.

Thứ tư, đẩy mạnh xúc tiến thương mại, tận dụng tối đa các chương trình hỗ trợ và tham gia các hội chợ, triển lãm quốc tế tại Nhật Bản.

Bà Hà nhấn mạnh: về dài hạn, thị trường Nhật Bản đang mở rộng mạnh mẽ nhu cầu đối với sản phẩm nhập khẩu sạch, an toàn, tiện lợi và chất lượng cao. Đây là thời điểm rất tốt để doanh nghiệp Việt Nam đầu tư bài bản, xây dựng thương hiệu và gia tăng bền vững xuất khẩu vào thị trường Nhật Bản.

-Nguyệt Hà

Categories: The Latest News

VN-Index có cơ hội hồi phục trong ngắn hạn, hướng đến mục tiêu 1.700 - 1.710 điểm

Tue, 12/16/2025 - 22:08
VnEconomy giới thiệu nhận định và khuyến nghị đầu tư của một số công ty chứng khoán về diễn biến thị trường ngày 17/12/2025

Kết phiên 16/12, VN-Index tăng 33,17 điểm, tương đương 2,02% lên mốc 1.679,18 điểm. Cùng chiều, Hnx-Index tăng 5,71 điểm, tương đương 2,29% lên 255,08 điểm.

Trong phiên tới, chỉ số sẽ hướng đến thử thách vùng kháng cự 1.685 -1.695 điểm

(Công ty Cổ phần Chứng khoán Bảo Việt – BVSC)

“VN-Index hồi phục tích cực với đà lan tỏa ở nhiều nhóm cổ phiếu. Đà tăng có thể tiếp diễn trong phiên tới, chỉ số sẽ hướng đến thử thách vùng kháng cự hội tụ của đường trung bình động 20 và 50 ngày, tương ứng vùng 1.685 -1.695 điểm.

Đây vẫn là giai đoạn khó khăn để tìm kiếm lợi nhuận khi dòng tiền vào thị trường còn khá hạn chế và vẫn còn nhiều yếu tố rủi ro ngắn hạn đang hiện hữu ở giai đoạn cuối năm. Do đó, chúng tôi vẫn ưu tiên cho hoạt động quản trị rủi ro cho danh mục theo hướng nâng gia tăng tỷ trọng tiền mặt và đóng các vị thế ngắn hạn nếu giá vi phạm các ngưỡng trailing stop. Các nhịp tăng điểm của thị trường là thời điểm tốt để nhà đầu tư thực hiện cơ cấu tỷ trọng danh mục hơn là mở vị thế mua”.

Thị trường cần thu hẹp biên độ dao động và tìm điểm cân bằng mới trong vùng 1.630 – 1.690

(Công ty Cổ phần Chứng khoán Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam - BSC)

"VN-Index tiếp tục giảm điểm khi mở cửa phiên sáng. Khi giảm xuống ngưỡng 1.630 (tương đương Fibonacci 0.236), lực cầu bắt đáy tại đây giúp chỉ số hồi phục đến khi gặp ngưỡng 1,690 (tương đương Fibonacci 0.5) thì chững lại. Kết phiên, VN-Index đóng cửa tại mốc 1.679,18 điểm, tăng hơn 33 điểm so với hôm qua. Độ rộng thị trường nghiêng về phía tích cực với 18/18 ngành tăng điểm, trong đó ngành Dầu khí tiếp tục tăng mạnh hơn 5%, theo sau là ngành Bán lẻ, Du lịch và giải trí,… Về giao dịch của khối ngoại, hôm nay khối này mua ròng trên sàn HSX và bán ròng trên hai sàn còn lại. Trong những phiên tới, thị trường cần thu hẹp biên độ dao động và tìm điểm cân bằng mới trong vùng 1.630 – 1.690”.

Xu hướng ngắn hạn VN-Index đang vượt lên giai đoạn điều chỉnh 5 phiên liên tiếp để chuyển sang phục hồi tích lũy

(Công ty Cổ phần Chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội - SHS)

"Sau 05 phiên liên tiếp giảm điểm từ vùng giá VN-Index 1.770 điểm và cân bằng, phân hóa tốt hơn trong phiên trước. VN-Index tiếp tục chịu áp lực điều chỉnh trong phiên hôm nay về quanh 1.630 điểm. Thanh khoản thấp trong phiên sáng thể hiện áp lực cung thấp, khi nhiều nhóm mã sau giai đoạn giảm giá mạnh đã về vùng quá bán ngắn hạn trong phiên trước. Thị trường sau đó phục hồi tốt với lực cầu gia tăng, thanh khoản tăng tốt khi giá hồi phục. Kết phiên VN-Index tăng 33,17 điểm (+2,02%) lên mức 1.679,18 điểm, kiểm tra lại kháng cự tâm lý 1.700 điểm. VN30 tăng tốt hơn 40,03 điểm (+2,14%) lên mức 1.909,87 điểm, trên hỗ trợ tâm lý 1.900 điểm.

Độ rộng trên HOSE tích cực trở lại sau 05 phiên chịu áp lực điều chỉnh với 253 mã tăng giá. Nổi bật ở nhóm mã dầu khí, ngân hàng, chứng khoán, bất động sản phục hồi tốt sau giai đoạn giảm giá mạnh, một số chịu áp lực giải chấp ngắn hạn...; 66 mã giảm giá và 51 mã giữ giá tham chiếu. Thanh khoản thị trường tăng, khối lượng giao dịch khớp lệnh trên HOSE tăng 25,2% so với phiên trước. Cho thấy lực cầu bắt đáy ngắn hạn gia tăng sau giai đoạn giảm giá mạnh. Khối ngoại mua ròng với giá trị 6,5 tỷ đồng trong phiên hôm nay trên HOSE, hỗ trợ tích cực diễn biến nhiều cổ phiếu.

Trên thị trường phái sinh, kỳ hạn VN30F1512 kết phiên ở mức 1.912,6 điểm, tăng 2,36% so với phiên trước. Chênh lệch chuyển sang dương 2,73 điểm so với VN30. Các kỳ hạn xa hơn 41I1G1000, 41I1G3000, 41I1G6000 từ + 2,13 điểm đến -5,47 điểm. Tổng khối lượng hợp đồng giao dịch tăng mạnh 37,1% so với phiên trước. Cho thấy các trader tăng mạnh các vị thế đầu cơ trong phiên, cover các vị thế bán. Xu hướng ngắn hạn của VN30F2512 phục hồi kiểm tra lại kháng cự quanh 1.925 điểm. Khối lượng mở OI kỳ hạn VN30F2512 là 35.782, giảm các vị thế nắm giữ. Kỳ hạn VN30F1512 sẽ đáo hạn trong 02 phiên tiếp theo.

Xu hướng ngắn hạn VN-Index đang vượt lên giai đoạn điều chỉnh 05 phiên liên tiếp để chuyển sang phục hồi tích lũy trên vùng hỗ trợ 1.600 điểm - 1.620 điểm, dưới kháng cự 1.700 điểm - 1.710 điểm, tương ứng vùng giá cao nhất tháng 9/2025. Thị trường hồi phục tốt do áp lực cung giảm khi nhiều mã sau giai đoạn giảm giá mạnh đã về các vùng hỗ trợ mạnh trung hạn như các vùng giá trung bình 01 năm. Tuy nhiên áp lực cung giá cao có thể gia tăng trở lại khi VN-Index hướng đến vùng giá 1.700 điểm - 1.730 điểm trong những phiên đến.

Thị trường đã phục hồi tốt trong phiên hôm nay với thanh khoản cải thiện. Một phần do nhiều mã nhóm bất động sản, chứng khoán... sau giai đoạn giảm giá mạnh dẫn đến áp lực giải chấp ngắn hạn đã hồi phục tốt trở lại. Nếu bóc tách ảnh hưởng của VinGroup lên chỉ số VN-Index thì đa số nhiều mã, nhóm mã đang tạo vùng cân bằng sau giai đoạn tạo đỉnh, giảm giá kéo dài từ tháng 09-10/2025 đến nay. Nhiều mã sau giai đoạn điều chỉnh mạnh đang ở vùng định giá tương đối hợp lý, với rủi ro được kiểm soát tốt hơn. Chúng tôi sẽ sẽ cập nhật các cơ hội theo dõi đầu tư, dựa đánh giá thận trọng vào kỳ vọng kết quả kinh quí IV/2025 và kế hoạch kinh doanh năm 2026 của các doanh nghiệp.

Nhà đầu tư duy trì tỉ trọng hợp lý. Mục tiêu đầu tư hướng tới các mã có nền tảng cơ bản tốt, đầu ngành trong các ngành chiến lược, tăng trưởng vượt trội của nền kinh tế".

Xu hướng của chỉ số VN-Index là hồi phục trong ngắn hạn, hướng đến mục tiêu 1.700 - 1.710

(Công ty Cổ phần Chứng khoán Thiên Việt - TVS)

“Chỉ số VN-Index tăng 33,2 điểm (+2%), đóng cửa ở mức 1.679,2 điểm. Chỉ số giảm điểm trong phiên sáng nhưng đã phục hồi mạnh trở lại từ đầu phiên chiều nhờ lực cầu lan tỏa ở hầu hết các nhóm ngành, trong đó nổi bật nhất ở nhóm Tài chính và Bất động sản.

Chúng tôi thay đổi quan điểm về xu hướng của chỉ số VN-Index sang hồi phục trong ngắn hạn, hướng đến mục tiêu 1.700 - 1.710. Một số yếu tố hiện đang hỗ trợ cho thị trường như (1) lãi suất liên ngân hàng ON giảm mạnh trong các phiên gần nhất cho thấy sức ép về thanh khoản trong ngắn hạn tạm thời được giảm bớt và (2) dòng tiền lan toả đều ở các nhóm ngành lớn như Ngân hàng, BĐS và Chứng khoán. Mặc dù vậy, chúng tôi cho rằng áp lực thanh khoản tại hệ thống ngân hàng trong dài hạn vẫn chưa được cải thiện khi lãi suất huy động các kỳ hạn đang tăng nhanh. Do đó, chúng tôi kỳ vọng đây sẽ là một nhịp hồi diễn ra trong ngắn hạn. Chúng tôi cho rằng NĐT đang nắm giữ tỷ trọng cổ phiếu lớn có thể tranh thủ nhịp hồi để cơ cấu lại danh mục”.

Thị trường có thể sẽ tiếp tục hồi phục và VN-Index có thể sớm thử thách ngưỡng kháng cự 1.709 điểm

(Công ty Chứng khoán Yuanta Việt Nam – YSVN)

“Chúng tôi cho rằng thị trường có thể sẽ tiếp tục hồi phục trong phiên kế tiếp và chỉ số VN-Index có thể sớm thử thách ngưỡng kháng cự 1.709 điểm. Đồng thời, rủi ro ngắn hạn có dấu hiệu giảm dần khi đà giảm có dấu hiệu chững lại, tâm lý nhà đầu tư đã tích cực hơn và cơ hội mua mới đang dần xuất hiện. Tuy nhiên, áp lực cung lớn vẫn còn và các NĐT cần thận trọng ở phiên tới, các vị thế mua vào chỉ canh ở các thời điểm điều chỉnh của thị trường.

Chiến lược ngắn hạn (dưới 1 tháng): Xu hướng ngắn hạn của thị trường chung vẫn duy trì ở mức giảm. Do đó, chúng tôi khuyến nghị các nhà đầu tư có thể tiếp tục nắm giữ tỷ trọng cổ phiếu ở mức thấp. Đồng thời, các nhà đầu tư có thể mua mới (*) với tỷ trọng thấp dưới 5%”.

Chỉ số VN-Index có thể cần kiểm tra lại vùng kháng cự ngắn hạn, nhằm tích lũy thêm động lực trước khi có thể quay lại vùng đỉnh cũ quanh 1.770 điểm

(Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam - VCBS)

“VN-Index kết phiên tăng điểm nhờ diễn biến tích cực ở nhóm cổ phiếu vốn hóa lớn đi cùng sự hưởng ứng ở nhiều cổ phiếu khác trên thị trường.

Trên khung đồ thị ngày, chỉ báo RSI đã tạo đáy và đảo chiều hướng lên thể hiện cho lực cầu bắt đáy mạnh mẽ của thị trường.

Đồng thời, chỉ báo CMF tiếp tục duy trì trên ngưỡng 0 cùng với thanh khoản gia tăng cho thấy dòng tiền bắt đáy dần trở lại với thị trường. Với kịch bản đà tăng giá tiếp tục được duy trì trong những phiên tới, chỉ số chung có thể sẽ cần kiểm tra lại vùng kháng cự ngắn hạn quanh đường MA20 ngày, tương đương vùng 1700 điểm, nhằm tích lũy thêm động lực trước khi có thể quay lại vùng đỉnh cũ quanh 1.770 điểm.

Trên khung đồ thị giờ, chỉ số chung đảo chiều vượt lên mốc hỗ trợ MA20 nhờ thanh khoản mua chủ động gia tăng cuối phiên chiều. Đồng thời, chỉ báo MACD đã tạo đáy xác nhận xu hướng hồi phục của VN-Index.

VN-Index bật lên sau khi chạm vùng hỗ trợ 1630 với sắc xanh lan tỏa diện rộng nhờ sự đồng thuận ở nhóm vốn hóa lớn. Với diễn biến hiện tại, chúng tôi khuyến nghị nhà đầu tư tiếp tục nắm giữ cổ phiếu đang trong đà tăng tốt, đồng thời có thể cân nhắc giải ngân cho mục đích lướt sóng ngắn hạn với các cổ phiếu có tín hiệu kiểm tra hỗ trợ thành công khi thu hút sự trở lại của lực cầu tại những nhịp rung lắc của thị trường. Một số nhóm đáng lưu ý bao gồm ngân hàng, đầu tư công, thép, và chứng khoán”.

VN-Index đã điều chỉnh mạnh trong tuần qua nên không loại trừ khả năng chỉ số tăng trong sự giằng co

(Công ty Cổ phần Chứng khoán VietCap)

“Xuất hiện tín hiệu khả quan từ lực cầu giá thấp diện rộng quanh vùng giá 1.630 điểm sẽ gia cố khả năng tạo đáy tại đây và vùng 1.690-1.700 sẽ là mục tiêu tiếp theo trong phiên 17/12. Tuy nhiên, VN-Index đã điều chỉnh mạnh trong tuần 08-12/12 nên không loại trừ khả năng chỉ số tăng trong sự giằng co, ảnh hưởng bởi hoạt động bán tồn đọng từ giai đoạn giảm mạnh trước”

VN-Index tiếp tục biến động mạnh theo chiều tích cực và bứt phá qua khu vực 1.650 - 1.660

(Công ty Cổ phần Chứng khoán SSI – SSI)

“VN-Index tiếp tục biến động mạnh theo chiều tích cực và bứt phá qua khu vực 1.650 - 1.660. Sự cải thiện đồng thời của điểm số và thanh khoản, cùng tín hiệu hồi phục của các chỉ báo động lượng đang củng cố kịch bản cân bằng ngắn hạn của chỉ số.

Các mốc điểm số cần lưu ý: Kháng cự 1.700 – 1.710 và Hỗ trợ 1.660”.

Nhận định thị trường của các công ty chứng khoán được VnEconomy trích dẫn chỉ có giá trị như một nguồn thông tin tham khảo. Các công ty chứng khoán có thể có những xung đột lợi ích đối với các nhà đầu tư khi đưa ra nhận định.

-Hà Anh

Categories: The Latest News

Việt Nam phấn đấu tăng trưởng 2 con số: Mục tiêu khả thi và có nền tảng

Tue, 12/16/2025 - 21:20
Thủ tướng Phạm Minh Chính khẳng định: Kinh tế Việt Nam đã chứng tỏ đủ sức chống chịu với các cú sốc từ bên ngoài; mục tiêu tăng trưởng 2 con số của Việt Nam là có nền tảng, có dư địa và khả thi…

Chiều 16/12/2025, tại Hà Nội, Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì phiên toàn thể cấp cao của Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2025, triển vọng 2026 với chủ đề “Kinh tế Việt Nam phát triển nhanh, bền vững, chuyển đổi xanh trong kỷ nguyên số”. Đồng chủ trì có Phó Chủ tịch Quốc hội Vũ Hồng Thanh; Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị.

Diễn đàn còn có sự tham gia của lãnh đạo các ban, bộ, ngành, cơ quan Trung ương; lãnh đạo các tổ chức, cơ sở nghiên cứu; các nhà khoa học; đại diện các Đại sứ quán, tổ chức quốc tế tại Việt Nam; đại diện các doanh nghiệp trong và ngoài nước.

Phát biểu khai mạc Diễn đàn, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị cho rằng năm 2025 ghi nhận cả thuận lợi và khó khăn đối với kinh tế Việt Nam, trong đó khó khăn nhiều hơn so với thuận lợi. Nền kinh tế chịu ảnh hưởng không nhỏ từ xung đột địa chính trị phức tạp ở nhiều khu vực và chính sách bảo hộ thương mại của các nước. Ở trong nước, nền kinh tế gặp nhiều khó khăn do năng lực và thích ứng của doanh nghiệp trong chuỗi giá trị còn hạn chế; biến đổi khí hậu; ô nhiễm môi trường và các diễn biến thời tiết cực đoan tác động tiêu cực đến phát triển kinh tế - xã hội và đời sống nhân dân.

Ông Nguyễn Thanh Nghị - Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương phát biểu khai mạc phiên toàn thể cấp cao của Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2025, triển vọng 2026.

Trong bối cảnh đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự ủng hộ của Quốc hội, sự chỉ đạo, điều hành chủ động, quyết liệt, hiệu quả của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật, toàn diện về phát triển kinh tế - xã hội. Tăng trưởng kinh tế được thúc đẩy mạnh mẽ, dự kiến cả năm 2025 đạt trên 8%, nằm trong số các nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất trên thế giới. Việt Nam giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế.

Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương cho biết Dự thảo Báo cáo Chính trị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đề ra mục tiêu phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2026-2030 từ 10%/năm trở lên. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng năm 2026 và giai đoạn 2026-2030 là một thách thức lớn, yêu cầu cao, đòi hỏi phải định hình tư duy phát triển và xác lập mô hình tăng trưởng mới, tạo lập được các động lực tăng trưởng mới gắn với khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh; đồng thời có giải pháp, tổ chức triển khai quyết liệt, hiệu quả để phát huy tốt nhất, làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống.

Tham luận tại Phiên toàn thể cấp cao, bà Mariam Sherman, Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, khuyến nghị Việt Nam tiếp tục phát huy mạnh mẽ khu vực kinh tế tư nhân; tập trung vào con người và công nghệ; phát triển hạ tầng bền vững và tăng trưởng xanh; đảm bảo phân bổ công bằng những thành quả của tăng trưởng và hiện đại hóa về thể chế.

Bà Mariam Sherman, Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam: "Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao là rất táo bạo, nhưng trong tầm với".

“Việt Nam có thể thích ứng và đa dạng hóa động lực tăng trưởng; làm sâu sắc hơn mối quan hệ đối tác khu vực, cũng như tăng cường tốc độ cải cách; nâng cao năng lực cạnh tranh, thích ứng với những bất ổn toàn cầu. Bối cảnh toàn cầu còn nhiều bất trắc, chúng ta không quên rằng Việt Nam hoàn toàn có thể tạo dựng thành công đáng kể như Việt Nam đã làm trong quá khứ”, bà Mariam Sherman nhấn mạnh; đồng thời cho rằng mục tiêu mà Việt Nam đặt ra đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao là rất táo bạo, nhưng trong tầm với. Việt Nam cần lạc quan và cấp thiết hành động. Để thành công, Việt Nam cần xác định: Mục tiêu và lộ trình rõ ràng; nhất quán chặng đường cải cách; bất chấp rào cản và quả cảm; dũng cảm không né tránh thách thức, khó khăn. dũng cảm không né tránh thách thức, khó khăn.

Các đại biểu tham dự diễn đàn vào chiều ngày 16/12/2025.

Tại phiên tọa đàm cấp cao, các đại biểu thuộc các ban, bộ, ngành Trung ương, các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước và các địa phương đã tập trung thảo luận, phân tích, đánh giá khách quan, toàn diện về các kết quả đạt được, tồn tại, hạn chế và nguyên nhân trong điều hành kinh tế vĩ mô năm 2025, đặc biệt là việc thực hiện yêu cầu phát triển kinh tế nhanh, bền vững gắn với quá trình chuyển đổi kép (chuyển đổi xanh và chuyển đổi số).

Các đại biểu cũng đã phân tích, làm rõ bối cảnh quốc tế và trong nước; đánh giá những cơ hội, thách thức cho phát triển kinh tế năm 2026 và giai đoạn 2026-2030 hướng tới mục tiêu tăng trưởng 2 con số. Đồng thời, đề xuất các giải pháp chiến lược, hiến kế cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số, chuyển đổi xanh gắn với chuyển đổi số mạnh mẽ trong giai đoạn 2026-2030 và các định hướng, giải pháp điều hành cụ thể trong năm 2026.

Phó Chủ tịch Quốc hội Vũ Hồng Thanh khẳng định: phát triển xanh không chỉ là lựa chọn mà là tất yếu trong phát triển, Quốc hội đã ban hành nhiều luật quy định về chuyển đổi mô hình tăng trường theo hướng phát thải thấp; đảm bảo hài hòa môi trường với phát triển; đảm bảo tiêu chuẩn quốc tế, tránh cú sốc với doanh nghiệp. Đồng thời chú trọng xây dựng dữ liệu, an toàn, an ninh mạng bảo vệ người dân, doanh nghiệp, thích ứng với phát triển nhanh và bền vững.

Ông Vũ Hồng Thanh - Phó Chủ tịch Quốc hội: "Phát triển xanh không chỉ là lựa chọn mà là tất yếu trong phát triển".

Nhấn mạnh đến tập trung đổi mới mạnh mẽ, chuyển mạnh từ “quản lý bằng pháp luật” sang “kiến tạo thể chế phát triển”, chú trọng hoạch định chính sách, đánh giá tác động, thông qua giám sát, chất vấn, phát hiện những điểm nghẽn để sửa đổi, bổ sung, Phó Chủ tịch Quốc hội khẳng định: luôn coi trọng, lắng nghe ý kiến cộng đồng doanh nghiệp, là nguồn thông tin quan trọng để hoàn thiện luật pháp, tăng cường niềm tin của nhà đầu tư.

Phát biểu chỉ đạo, Thủ tướng Chính Phủ Phạm Minh Chính ghi nhận, đánh giá cao các ý kiến tâm huyết, trách nhiệm, thể hiện trí tuệ, tầm nhìn bao quát, toàn diện của các đại biểu; đồng thời khẳng định nền kinh tế Việt Nam đã chứng tỏ sức chống chịu kiên cường trước các cú sốc từ bên ngoài. Năm 2025, GDP dự kiến tăng trên 8%, quy mô nền kinh tế đạt khoảng 510 tỷ USD, xếp thứ 32 thế giới; thu nhập bình quân đầu người khoảng 5.000 USD, đưa Việt Nam bước vào nhóm thu nhập trung bình cao.

Về quan điểm định hướng, Thủ tướng nhấn mạnh: “ổn định là pháo đài bất khả xâm phạm; phát triển nhanh, bền vững là động cơ vĩnh cửu”. Mục tiêu cao nhất là sự giàu mạnh, ấm no, hạnh phúc của người dân; không hy sinh tiến bộ, công bằng xã hội và môi trường để chạy theo tăng trưởng đơn thuần.

Chỉ đạo về nhiệm vụ trọng tâm năm 2026 và giai đoạn tới, Thủ tướng yêu cầu kiên định thực hiện “chuyển đổi kép: xanh hóa và số hóa”, coi đây là lựa chọn chiến lược và động lực chính để phát triển. Phấn đấu đạt mức tăng trưởng 2 con số; khẳng định mục tiêu này là khả thi và có nền tảng. Biến thể chế từ “điểm nghẽn” thành lợi thế cạnh tranh quốc gia; hoàn thiện cơ chế thử nghiệm cho các mô hình kinh tế mới.

Thủ tướng cũng nhấn mạnh vấn đề đổi mới động lực tăng trưởng. Theo đó, chuyển dịch từ dựa vào tài nguyên, lao động giá rẻ sang khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Tập trung phát triển các ngành mũi nhọn như công nghiệp bán dẫn, AI, năng lượng sạch, đưa dữ liệu thành tài nguyên. Khai thác các không gian phát triển mới: Không gian vũ trụ, không gian ngầm, không gian biển. Ưu tiên FDI chất lượng cao (công nghệ cao, sản xuất xanh) và kết nối với doanh nghiệp trong nước.

Thủ tướng quán triệt tinh thần “chỉ bàn làm, không bàn lùi”, kiên định, nhất quán tập trung thực hiện 2 mục tiêu chiến lược 100 năm: phấn đấu đến năm 2030; trở thành một nước đang phát triển công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; năm 2045 là nước phát triển, thu nhập cao.

-Huyền Vy - Vũ Khuê

Categories: The Latest News

[Phóng sự ảnh]: Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2025, triển vọng 2026: Tìm giải pháp giữ đà tăng trưởng

Tue, 12/16/2025 - 20:51
Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2025, triển vọng 2026 (VEPF) là không gian để nhận diện các hành động chiến lược, khai thác hiệu quả không gian phát triển mới. Cùng với đó là thảo luận các giải pháp để tăng trưởng nhanh nhưng bền vững...

Được sự đồng ý của Thủ tướng Chính phủ và Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng, Ban Chính sách, chiến lược Trung ương và Chính phủ đồng chủ trì chỉ đạo tổ chức Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2025, triển vọng 2026 với chủ đề “Kinh tế Việt Nam phát triển nhanh, bền vững, chuyển đổi xanh trong kỷ nguyên số” vào ngày 16/12/2025 tại trụ sở Chính phủ với quy mô gồm 1 phiên toàn thể cấp cao và 2 phiên chuyên đề.

Trong khuôn khổ Diễn đàn, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị đã đến tham quan gian trưng bày của một số Tập đoàn, doanh nghiệp lớn. 

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã đến tham quan gian trưng bày của một số Tập đoàn, doanh nghiệp lớn. Tại đây, Thủ tướng Phạm Minh Chính thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Chính phủ đối với vai trò của ngành năng lượng trong tiến trình phát triển bền vững và chuyển đổi số quốc gia... Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tham quan gian trưng bày của Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị tham quan gian trưng bày của Tập đoàn Hòa Phát.

Diễn đàn cấp cao với chủ đề “Kinh tế Việt Nam phát triển nhanh, bền vững, chuyển đổi xanh trong kỷ nguyên số” thu hút sự quan tâm của đông đảo các đại sứ quán, tổ chức quốc tế, các hiệp hội doanh nghiệp nước ngoài, các hiệp hội ngành hàng và hiệp hội doanh nghiệp trong nước cùng lãnh đạo các Tập đoàn, doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp FDI.

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị và Phó Chủ tịch Quốc hội Vũ Hồng Thanh đồng chủ trì Diễn đàn cấp cao Kinh tế Việt Nam 2025, triển vọng 2026. Thủ tướng Phạm Minh Chính phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2025, triển vọng 2026. Nhìn lại bức tranh kinh tế Việt Nam năm 2025 và triển vọng 2026, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính nhấn mạnh, chuyển đổi kép xanh hóa – số hóa là yêu cầu khách quan, lựa chọn chiến lược, ưu tiên đầu tư của quốc gia. Đảng và Nhà nước luôn đặt sự quan tâm đặc biệt và ban hành các chủ trương thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững trên cơ sở nền tảng khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, với các Nghị quyết trọng tâm: Nghị quyết 57, Nghị quyết 59, Nghị quyết 66, Nghị quyết 68, Nghị quyết 70, Nghị quyết 71, Nghị quyết 72… cùng với đó nghị quyết về kinh tế nhà nước và nghị quyết về FDI, nghị quyết về văn hóa cũng đang được xây dựng.. Ảnh: VGP/Nhật Bắc  Thủ tướng đánh giá khái quát, nhiệm kỳ này đã chứng tỏ kinh tế Việt Nam đủ sức chống chịu với các cú sốc từ bên ngoài - Ảnh: VGP/Nhật Bắc Khai mạc Diễn đàn, ông Nguyễn Thanh Nghị - Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương, bày tỏ tin tưởng, với sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Thủ tướng Chính phủ, sự đồng hành của lãnh đạo Quốc hội, Diễn đàn sẽ khai mở nhiều ý kiến tâm huyết, giải pháp thiết thực, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh, bền vững, chuyển đổi xanh và thích ứng với kỷ nguyên số của kinh tế Việt Nam. Phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2025 – Triển vọng 2026 với chủ đề “Kinh tế Việt Nam phát triển nhanh, bền vững, chuyển đổi xanh trong kỷ nguyên số” ngày 16/12, ông Vũ Hồng Thanh, Phó Chủ tịch Quốc hội, nhấn mạnh vai trò then chốt của hoàn thiện thể chế trong việc tạo nền tảng cho mô hình tăng trưởng mới của Việt Nam giai đoạn tới. Theo Phó Chủ tịch Quốc hội, nền kinh tế Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển mới, nơi các yêu cầu về tăng trưởng nhanh không thể tách rời mục tiêu bền vững, chuyển đổi xanh và chuyển đổi số. Trong bối cảnh đó, nhiệm vụ đặt ra cho Quốc hội là cụ thể hóa, thể chế hóa kịp thời các chủ trương, định hướng lớn của Đảng thành khung pháp lý đồng bộ, hiện đại, có khả năng dẫn dắt và kiến tạo phát triển.

Các báo cáo tham luận chính của Diễn đàn đã tổng hợp và phân tích những thông tin quan trọng, có tính nền tảng và cốt lõi của kinh tế Việt Nam giai đoạn 2021-2025 trong mối tương quan với bối cảnh kinh tế khu vực và thế giới. Những nhận định về bối cảnh quốc tế, phân tích lợi thế so sánh của Việt Nam, từ đó xác định cơ hội và thách thức đối với nền kinh tế có độ mở thương mại lớn như Việt Nam. Các ý kiến tham luận cũng đặt ra những yêu cầu cấp thiết mà Việt Nam phải đáp ứng, cả về cơ chế chính sách, nguồn lực tài chính, năng lực ứng dụng và phát triển khoa học công nghệ và khả năng quản trị đầu tư và phát triển của các chủ thể kinh tế, đặc biệt là khu vực doanh nghiệp trong nước.

Bà Mariam Sherman - Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Thế giới (World Bank) tại Việt Nam, nhận định, đây là thời điểm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với Việt Nam, khi đất nước đã nhận thức rõ sự cần thiết phải hành động nhanh chóng, quyết liệt và thúc đẩy cải cách một cách thực chất...

Phiên tọa đàm đã nhận được gần 20 ý kiến hiến kế của lãnh đạo các tập đoàn, doanh nghiệp, hiệp hội và chuyên gia trong nước, quốc tế về kinh tế, công nghệ và phát triển bền vững. Các ý kiến hiến kế đều tập trung vào việc nhanh chóng thể chế, cụ thể hóa các cơ chế, chính sách từ các nghị quyết lớn đã được ban hành thời gian qua, đồng thời kiến tạo các cơ chế mới thúc đẩy mở rộng không gian đầu tư và phát triển cho doanh nghiệp trong nước và các nhà đầu tư nước ngoài. 

Các ý kiến hiến kế của doanh nghiệp đã nhận được sự đánh giá cao của lãnh đạo Chính phủ, Quốc hội và trực tiếp nhận được sự tham gia trao đổi, phản hồi của lãnh đạo một số bộ ngành và địa phương tham dự Diễn đàn. Lãnh đạo Quốc hội và Thủ tướng Chính phủ đã có bài phát biểu quan trọng tại Diễn đàn thường niên Kinh tế Việt Nam 2025, triển vọng 2026.

Với các phiên thảo luận được tổ chức bài bản, nội dung chuyên sâu, nhiều ý kiến tham luận thẳng thắn, thiết thực và giàu giá trị gợi mở chính sách, Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2025, triển vọng 2026 đã thu hút sự quan tâm lớn của các nhà hoạch định chính sách, giới chuyên gia, cộng đồng doanh nghiệp và dư luận xã hội. Diễn đàn cấp cao Kinh tế Việt Nam 2025, triển vọng 2026 thu hút hơn 500 đại biểu tham dự trực tiếp và hơn 1.000 đại biểu trực tuyến tại 34 điểm cầu trên cả nước.

Diễn đàn thường niên VEPF 2025 diễn ra trong một ngày 16/12/2025, gồm hai phiên chuyên đề diễn ra trong buổi sáng và một phiên toàn thể trong buổi chiều.

Phiên chuyên đề Tài chính – Ngân hàng do Ban Chính sách, chiến lược Trung ương phối hợp với Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước và Hội Khoa học kinh tế Việt Nam tổ chức, các cơ quan phối hợp tổ chức là Viện nghiên cứu chính sách và chiến lược, Tạp chí Kinh tế Việt Nam, diễn ra vào sáng ngày 16/12/2025. Tại phiên chuyên đề này, các đại biểu tập trung vào chủ đề “Huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2026-2030". Theo đó, các nhóm vấn đề chính được đề cập, bàn thảo, phân tích đánh giá nhằm làm rõ: i) nhu cầu vốn cho tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026-2030; ii) khả năng tiếp cận và huy động các nguồn lực; iii) sử dụng hiệu quả và quản trị rủi ro các nguồn vốn.

Trong phiên chuyên đề Tài chính - ngân hàng, các ý kiến tập trung tìm giải pháp huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính phục vụ mục tiêu tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2026–2030”. Ông Phạm Thanh Hà, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, cho rằng Việt Nam đang đứng trước yêu cầu tăng tốc mạnh mẽ trong giai đoạn phát triển sắp tới. Bởi vậy, Chính phủ đã xác định mục tiêu tăng trưởng kinh tế đạt tối thiểu 8% trong năm 2025 và hướng tới mức tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026–2030. Đây là nền tảng quan trọng để Việt Nam vươn lên nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và tiến tới mục tiêu trở thành nước thu nhập cao vào năm 2045... Thứ trưởng Bộ Tài chính Đỗ Thành Trung nhấn mạnh đến mục tiêu tăng trưởng kinh tế “hai con số” giai đoạn 2026–2030 thể hiện quyết tâm chính trị rất cao của Đảng và Nhà nước, đòi hỏi sự thay đổi căn bản trong tư duy hành động cũng như cách thức huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực...

Phiên chuyên đề Kinh tế tuần hoàn Việt Nam 2025 do Ban Chính sách, chiến lược Trung ương phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường và Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam đồng tổ chức, các cơ quan phối hợp tổ chức là Viện nghiên cứu chính sách và chiến lược, Tạp chí Kinh tế Việt Nam, diễn ra vào sáng ngày 16/12/2025, có chủ đề "Thúc đẩy mạnh mẽ chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn trong kỷ nguyên số để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng "2 con số" giai đoạn 2026–2030”.

Phát biểu tại phiên chuyên đề về kinh tế tuần hoàn, ông Phạm Đại Dương, Phó Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương, nhấn mạnh: Để hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược mà Đảng đã đề ra, cần một cú hích đổi mới mạnh mẽ về mô hình tăng trưởng, hướng tới tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026–2030...  Bà Francesca Nardini - Phó Trưởng đại diện Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam cho rằng, trong số các lĩnh vực ưu tiên, nông nghiệp và lương thực - thực phẩm đóng vai trò đặc biệt quan trọng, đóng góp khoảng 11,6% GDP và 26% tổng số việc làm. Việt Nam hiện sản xuất khoảng 100–105 triệu tấn nông sản mỗi năm, tiêu thụ nhiều năng lượng và tài nguyên, do đó có tiềm năng rất lớn để áp dụng các giải pháp tuần hoàn...


-Song Hoàng - Trí Dũng

Categories: The Latest News

Quốc hội lắng nghe tiếng nói doanh nghiệp để hoàn thiện chính sách

Tue, 12/16/2025 - 20:11
Quốc hội luôn coi trọng lắng nghe ý kiến từ cộng đồng doanh nghiệp, nhà đầu tư và các đối tượng chịu tác động chính sách, xem đây là nguồn thông tin quan trọng để hoàn thiện thể chế theo hướng ổn định, minh bạch và dễ dự báo, qua đó củng cố niềm tin thị trường và tạo nền tảng cho các quyết định đầu tư dài hạn trong giai đoạn 2026–2030...

Phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2025 – Triển vọng 2026 với chủ đề “Kinh tế Việt Nam phát triển nhanh, bền vững, chuyển đổi xanh trong kỷ nguyên số” ngày 16/12, ông Vũ Hồng Thanh, Phó Chủ tịch Quốc hội, nhấn mạnh vai trò then chốt của hoàn thiện thể chế trong việc tạo nền tảng cho mô hình tăng trưởng mới của Việt Nam giai đoạn tới.

Theo Phó Chủ tịch Quốc hội, nền kinh tế Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển mới, nơi các yêu cầu về tăng trưởng nhanh không thể tách rời mục tiêu bền vững, chuyển đổi xanh và chuyển đổi số. Trong bối cảnh đó, nhiệm vụ đặt ra cho Quốc hội là cụ thể hóa, thể chế hóa kịp thời các chủ trương, định hướng lớn của Đảng thành khung pháp lý đồng bộ, hiện đại, có khả năng dẫn dắt và kiến tạo phát triển.

"Trong bối cảnh kinh tế thế giới biến động nhanh, khó lường, cạnh tranh gia tăng, các tiêu chuẩn về phát triển xanh, chuyển đổi số, quản trị dữ liệu ngày càng trở thành luật chơi mới của nền kinh tế toàn cầu. Yêu cầu đặt ra đối với hệ thống pháp luật của Việt Nam ngày càng cao và cấp bách hơn", Phó Chủ tịch Vũ Hồng Thanh nói. 

Một trong những điểm nhấn quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam là việc xác định khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế. Điều này được thể hiện rõ nét qua việc Quốc hội đã thông qua nhiều dự án luật quan trọng như luật chuyển đổi số, luật trí tuệ nhân tạo, và các luật liên quan đến công nghệ cao. Những văn bản pháp lý này không chỉ tạo ra môi trường pháp lý minh bạch, an toàn cho đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp, mà còn thúc đẩy việc ứng dụng công nghệ cao và phát triển hạ tầng số.

Trong bối cảnh kinh tế thế giới biến động nhanh chóng và cạnh tranh ngày càng gia tăng, việc chuyển đổi số và phát triển công nghệ cao không chỉ là lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu tất yếu. Quốc hội đã chú trọng xây dựng pháp luật về dữ liệu, giao dịch điện tử, an toàn an ninh mạng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân và doanh nghiệp trong môi trường số. Những nỗ lực này nhằm tạo ra một hệ thống pháp luật có khả năng thích ứng với sự phát triển nhanh của công nghệ, đồng thời bảo đảm sự hài hòa giữa phát triển kinh tế và bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan.

Việc thông qua luật chuyển đổi số và luật trí tuệ nhân tạo đã được cộng đồng doanh nghiệp và các chuyên gia đánh giá cao, coi đây là bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiện thể chế kinh tế số. Những luật này không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp công nghệ phát triển mà còn khuyến khích các ngành công nghiệp khác áp dụng công nghệ mới vào hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế.

Bên cạnh đó, Quốc hội cũng đã thông qua nhiều nghị quyết liên quan đến phát triển năng lượng quốc gia, trong đó có các cơ chế điều tiết mua bán điện trực tiếp và các nghị quyết liên quan đến tín chỉ carbon và tài chính xanh. Những chính sách này không chỉ thúc đẩy phát triển năng lượng sạch mà còn khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ thân thiện với môi trường, góp phần vào mục tiêu phát triển bền vững của quốc gia.

Những nỗ lực của Quốc hội trong việc hoàn thiện khung pháp lý cho khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo đã tạo ra động lực mạnh mẽ cho sự phát triển của nền kinh tế số. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu phát triển nhanh và bền vững, Việt Nam cần tiếp tục đẩy mạnh đầu tư vào nghiên cứu và phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực khoa học công nghệ.

Xuyên suốt trong công tác lập pháp là yêu cầu đổi mới mạnh mẽ tư duy xây dựng pháp luật, chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển, từ tiền kiểm sang hậu kiểm, từ cách tiếp cận “không quản được thì cấm” sang khuyến khích sáng tạo trong khuôn khổ pháp luật.

Quốc hội luôn coi trọng lắng nghe ý kiến từ cộng đồng doanh nghiệp, nhà đầu tư và các đối tượng chịu tác động chính sách, xem đây là nguồn thông tin quan trọng để hoàn thiện thể chế theo hướng ổn định, minh bạch và dễ dự báo, qua đó củng cố niềm tin thị trường và tạo nền tảng cho các quyết định đầu tư dài hạn trong giai đoạn 2026–2030.

-Hạ Chi

Categories: The Latest News

Tổ chức trong nước mạnh tay bán ròng, tự doanh gom

Tue, 12/16/2025 - 20:08
Nhà đầu tư tổ chức trong nước hôm nay bán ròng 798.2 tỷ đồng, tính riêng khớp lệnh thì họ bán ròng 512.3 tỷ đồng. Trong khi đó Tự doanh mua ròng 497.1 tỷ đồng...

Những nỗ lực kiên nhẫn của dòng tiền đã được đền đáp bằng một phiên đảo chiều ấn tượng của thị trường. VN-Index trong buổi sáng chịu áp lực bán mạnh, có thời điểm giảm hơn 17 điểm khi nhiều cổ phiếu bị xả hàng đồng loạt. Tuy nhiên, bước sang phiên chiều, lực cầu bắt đáy gia tăng rõ rệt giúp chỉ số dần thu hẹp đà giảm và bật tăng mạnh về cuối phiên.

Kết thúc giao dịch, VN-Index bứt phá 33 điểm, tương ứng tăng 2,02%, lên mức 1.679,18 điểm. Độ rộng thị trường cải thiện mạnh với 253 mã tăng giá, áp đảo so với 66 mã giảm. Nhiều cổ phiếu ghi nhận mức tăng kịch trần, đáng chú ý có HDB, EIB, VND, VPL, BSR và GEX.

Trong nhóm ngân hàng, ngoài HDB và EIB tăng trần, hàng loạt mã khác cũng phục hồi tích cực như LPB, VPB, MBB, CTG và TCB. Nhóm chứng khoán duy trì đà hồi phục mạnh, với SSI tăng 6,51%, VIX tăng 5,05% và VCI tăng 2,55%. Ở nhóm bất động sản, các cổ phiếu họ Vin diễn biến tích cực khi VHM và VRE tăng bình quân khoảng 2,6%, trong khi VIC giữ giá tham chiếu.

Nhiều mã địa ốc khác cũng quay đầu tăng mạnh, tiêu biểu như KDH tăng 6,76%, cùng với PDR, KBC, TCH và DXG đồng loạt bứt phá. Nhìn tổng thể, thị trường ghi nhận một phiên hồi phục kỹ thuật đáng chú ý sau hơn một tuần giảm sâu. Các nhóm ngành như nguyên vật liệu, tiêu dùng, bán lẻ, vận tải hàng không và công nghệ thông tin cũng đồng loạt phủ sắc xanh.

Thanh khoản cải thiện đáng kể khi dòng tiền bắt đáy tham gia mạnh mẽ, với giá trị khớp lệnh trên cả ba sàn đạt khoảng 27.000 tỷ đồng.

Khối ngoại giao dịch tương đối cân bằng, chỉ bán ròng nhẹ khoảng 126.4 tỷ đồng, tính riêng giao dịch khớp lệnh thì họ mua ròng 8.1 tỷ đồng.

Mua ròng khớp lệnh chính của nước ngoài là nhóm Dịch vụ tài chính, Bán lẻ. Top mua ròng khớp lệnh của nước ngoài gồm các mã: TCX, MWG, VIX, BSR, SSI, VNM, CTG, KDH, CII, GEX.

Phía bên bán ròng khớp lệnh của nước ngoài là nhóm Bất động sản. Top bán ròng khớp lệnh của nước ngoài gồm các mã: VIC, VCB, DGC, VCK, STB, FPT, VRE, MBB, MSN.

Nhà đầu tư cá nhân mua ròng 295.2 tỷ đồng, trong đó họ mua ròng khớp lệnh là 95.9 tỷ đồng.

Tính riêng giao dịch khớp lệnh, họ mua ròng 9/18 ngành, chủ yếu là ngành Bất động sản. Top mua ròng của nhà đầu tư cá nhân tập trung gồm: VIX, VIC, SHB, DGC, HAG, VCK, VHM, MBB, NLG, VJC. 

Phía bán ròng khớp lệnh: họ bán ròng 9/18 ngành chủ yếu là nhóm ngành Xây dựng và Vật liệu, Hàng Dịch vụ Công nghiệp. Top bán ròng có: SSI, GEX, HPG, VNM, PC1, CII, BSR, HDB, VCG.

Tự doanh mua ròng 497.1 tỷ đồng tính riêng khớp lệnh họ mua ròng 408.3 tỷ đồng.

Tính riêng giao dịch khớp lệnh: Tự doanh mua ròng 9/18 ngành. Nhóm mua ròng mạnh nhất là Ngân hàng, Bất động sản. Top mua ròng khớp lệnh của tự doanh phiên ngày hôm nay gồm FPT, VIC, HPG, VPB, ACB, MSN, DGC, VHM, MBB, VJC. Top bán ròng là nhóm Bán lẻ. Top cổ phiếu được bán ròng gồm MWG, SSI, CTG, PVD, E1VFVN3O, CII, VIB, BSR, GEX, HSG.

Nhà đầu tư tổ chức trong nước bán ròng 798.2 tỷ đồng, tính riêng khớp lệnh thì họ bán ròng 512.3 tỷ đồng.

Tính riêng giao dịch khớp lệnh, Tổ chức trong nước bán ròng 12/18 ngành, giá trị lớn nhất là nhóm Dịch vụ tài chính Top bán ròng có VIX, TCX, MWG, KDH, VHM, SHB, HAG, VPB, VJC, CTG. Giá trị mua ròng lớn nhất là nhóm Xây dựng và Vật liệu. Top mua ròng có VCB, VCK, HDB, GEX, VCI, PC1, STB, VCG, TCB, SSI.

Tự doanh mua ròng 497.1 tỷ đồng tính riêng khớp lệnh họ mua ròng 408.3 tỷ đồng.

Tính riêng giao dịch khớp lệnh: Tự doanh mua ròng 9/18 ngành. Nhóm mua ròng mạnh nhất là Ngân hàng, Bất động sản. Top mua ròng khớp lệnh của tự doanh phiên ngày hôm nay gồm FPT, VIC, HPG, VPB, ACB, MSN, DGC, VHM, MBB, VJC. Top bán ròng là nhóm Bán lẻ. Top cổ phiếu được bán ròng gồm MWG, SSI, CTG, PVD, E1VFVN3O, CII, VIB, BSR, GEX, HSG.

Nhà đầu tư tổ chức trong nước bán ròng 798.2 tỷ đồng, tính riêng khớp lệnh thì họ bán ròng 512.3 tỷ đồng.

Tính riêng giao dịch khớp lệnh: Tổ chức trong nước bán ròng 12/18 ngành, giá trị lớn nhất là nhóm Dịch vụ tài chính Top bán ròng có VIX, TCX, MWG, KDH, VHM, SHB, HAG, VPB, VJC, CTG. Giá trị mua ròng lớn nhất là nhóm Xây dựng và Vật liệu. Top mua ròng có VCB, VCK, HDB, GEX, VCI, PC1, STB, VCG, TCB, SSI. 

Giá trị giao dịch thỏa thuận hôm nay đạt 3.419,1 tỷ đồng, tăng +4,8% so với phiên liền trước và đóng góp 12,3% tổng giá trị giao dịch. 

Hôm nay tiếp tục có giao dịch đáng chú ý ở cổ phiếu VIC, với 6 triệu đơn vị cổ phiếu tương đương 840 tỷ đồng được sang tay giữa các Tổ chức trong nước.

Tỷ trọng phân bổ dòng tiền tăng ở Chứng khoán, Hóa chất, Thiết bị điện, Dầu khí, Phần mềm, trong khi giảm ở Bất động sản, Ngân hàng, Thép, Nuôi trồng nông hải sản, Kho bãi, Vật liệu xây dựng nội thất, Hàng không, Nhựa, cao su sợi.

Tính riêng khớp lệnh, tỷ trọng phân bổ dòng tiền tăng ở nhóm vốn hóa lớn VN30, trong khi giảm ở nhóm vốn hóa vừa VNMID và nhỏ VNSML.

-Thu Minh

Categories: The Latest News

Nông nghiệp xuất siêu khoảng 21 tỷ USD trong năm 2025, hướng tới tăng trưởng xanh giai đoạn 2026–2030

Tue, 12/16/2025 - 19:58
Bộ trưởng Nông nghiệp và Môi trường cho biết năm 2025, kim ngạch xuất nhập khẩu nông lâm thủy sản ước đạt 70 tỷ USD, xuất siêu khoảng 21 tỷ USD, tiếp tục khẳng định vai trò trụ đỡ của nền kinh tế trong bối cảnh nhiều biến động toàn cầu...

Ngày 16/12, tại Trụ sở Chính phủ, Ban Chính sách, chiến lược Trung ương phối hợp với Chính phủ tổ chức Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2025, triển vọng 2026 với chủ đề “Kinh tế Việt Nam phát triển nhanh, bền vững, chuyển đổi xanh trong kỷ nguyên số”.

Phát biểu tham luận tại phiên tọa đàm, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng đánh giá trong hơn 80 năm qua, ngành nông nghiệp đã đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, giữ vai trò bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, ổn định xã hội, đồng thời là nền tảng cho nhiều ngành kinh tế và thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững, cam kết quốc tế của Việt Nam.

Từ một quốc gia phải nhập khẩu hàng triệu tấn lương thực mỗi năm, Việt Nam hiện đã trở thành một trong những cường quốc sản xuất và xuất khẩu nông lâm thủy sản. Nhiều mặt hàng như lúa gạo, cà phê, điều, trái cây nằm trong nhóm dẫn đầu thế giới, với sản phẩm nông nghiệp Việt Nam đã có mặt tại gần 200 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Theo Bộ trưởng, trong 11 tháng đầu năm 2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu nông lâm thủy sản đạt trên 64 tỷ USD, tăng gần 13% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất siêu đạt 19,55 tỷ USD, tăng 19%. Ước tính cả năm 2025, kim ngạch xuất nhập khẩu toàn ngành đạt khoảng 70 tỷ USD, xuất siêu khoảng 21 tỷ USD, vượt mục tiêu đề ra.

Mặc dù đối mặt nhiều khó khăn do biến đổi khí hậu, thiên tai và biến động thị trường thế giới, ngành nông nghiệp vẫn duy trì mức tăng trưởng khoảng 4% trong nhiều năm qua, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng chung của nền kinh tế. Riêng năm 2025, lĩnh vực này dự kiến đóng góp khoảng 5,5% vào tăng trưởng GDP cả nước.

Cùng với đó, diện mạo nông thôn và đời sống người dân tiếp tục được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 1,93%, độ che phủ rừng đạt 42,03%. Các lĩnh vực quản lý tài nguyên và môi trường như đất đai, khoáng sản, tài nguyên nước, rừng, biển, khí tượng thủy văn cũng có bước phát triển mạnh, đóng góp ngày càng rõ nét cho nền kinh tế.

Thủ tướng Phạm Minh Chính chụp ảnh lưu niệm cùng các đại biểu tại Diễn đàn. Ảnh: Tri Phong.

Tuy nhiên, Bộ trưởng Trần Đức Thắng cũng chỉ ra những thách thức lớn trong thời gian tới, gồm tăng trưởng ngành chưa thực sự ổn định, giá trị gia tăng còn thấp, thu nhập của người dân nông thôn trực tiếp sản xuất nông nghiệp còn hạn chế, trong khi tác động của biến đổi khí hậu ngày càng rõ nét. Ngoài ra, bất ổn địa chính trị và xu hướng bảo hộ thương mại, rào cản kỹ thuật tại nhiều thị trường xuất khẩu đòi hỏi nông sản Việt Nam phải chuyển mạnh sang hướng xanh hơn, sạch hơn và minh bạch hơn.

Để góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số của nền kinh tế giai đoạn 2026–2030, Bộ trưởng cho biết ngành nông nghiệp đặt mục tiêu duy trì tốc độ tăng trưởng khoảng 3,5% mỗi năm trong 5 năm tới. Trong đó, trọng tâm là bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, không để xảy ra thiếu đói cục bộ, đồng thời hướng tới mục tiêu kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản đạt 100 tỷ USD.

Ngành sẽ đẩy mạnh chuyển đổi mô hình sản xuất theo hướng xanh, sạch, an toàn thực phẩm, phát triển nông nghiệp tuần hoàn, giảm phát thải, tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, chế biến sâu nhằm nâng cao năng suất và giá trị gia tăng. Song song với đó là chủ động phòng, chống thiên tai, giảm thiểu tác động bất lợi của thời tiết cực đoan tới sản xuất và đời sống người dân.

Trong quản lý tài nguyên, Bộ trưởng nhấn mạnh việc sử dụng hiệu quả đất đai, khoáng sản thông qua tăng cường giám sát bằng công nghệ số, viễn thám và trí tuệ nhân tạo, đồng thời đẩy mạnh phục hồi rừng tự nhiên và hệ sinh thái rừng ngập mặn để bảo đảm đa dạng sinh học.

Về môi trường, ngành đặt mục tiêu triển khai quyết liệt các giải pháp giảm ô nhiễm, phát triển bền vững theo xu hướng toàn cầu. Đáng chú ý, ngay đầu năm 2026, Việt Nam phấn đấu hình thành thị trường tín chỉ carbon, trước mắt là thị trường trong nước, sau đó từng bước kết nối với thị trường quốc tế, phù hợp với các cam kết và lợi ích quốc gia.

Bộ trưởng Trần Đức Thắng cho biết Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách phát triển, bám sát các kết luận, chỉ đạo của Trung ương, Bộ Chính trị và Chính phủ. Trong kỳ họp thứ 10 vừa qua, Quốc hội đã thông qua việc sửa đổi đồng loạt 17 luật do Bộ chủ trì, bước đầu tháo gỡ nhiều điểm nghẽn, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân trong sản xuất, kinh doanh.

Theo Bộ trưởng, chuyển đổi xanh, phát triển bền vững và kinh tế tuần hoàn không chỉ là yêu cầu bắt buộc mà còn là hướng đi chiến lược để ngành nông nghiệp và môi trường tiếp tục đóng góp hiệu quả cho tăng trưởng kinh tế đất nước trong giai đoạn tới.

-Đan Tiên

Categories: The Latest News

Hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số, cần cuộc cách mạng về nguồn lực và thể chế

Tue, 12/16/2025 - 19:57
Để đưa nền kinh tế bước vào kỷ nguyên vươn mình với mục tiêu tăng trưởng 10%/năm trong giai đoạn 2026-2030, Việt Nam không thể chỉ dựa vào các động lực truyền thống…

Phát biểu Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2025, triển vọng 2026 với chủ đề “Kinh tế Việt Nam phát triển nhanh, bền vững, chuyển đổi xanh trong kỷ nguyên số” vào chiều ngày 16/12, ông Nguyễn Đức Hiển, Phó Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, cho biết để đạt tốc độ tăng trưởng GDP 10%/năm giai đoạn 2026-2030, nền kinh tế cần một lượng vốn đầu tư phát triển khổng lồ.

Tuy nhiên, cơ cấu cung ứng vốn hiện nay đang bộc lộ rủi ro lớn khi tín dụng ngân hàng vẫn chiếm tới 48-50% tổng vốn đầu tư, đưa tỷ lệ dư nợ tín dụng/GDP có nguy cơ vọt lên mức 160-200% nếu không có sự điều chỉnh.

Để giải quyết bài toán này, theo ông Hiển, giải pháp chiến lược là phải thay đổi tư duy huy động nguồn lực tài chính. Trọng tâm không còn nằm ở “room” tín dụng ngân hàng, mà là cuộc dịch chuyển sang thị trường vốn dài hạn.

Chẳng hạn, đặt mục tiêu nâng hạng tín nhiệm quốc gia lên mức “Investment Grade” để thu hút dòng vốn rẻ và chất lượng. Đồng thời, thúc đẩy mạnh mẽ việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp và cổ phiếu (IPO), đặc biệt là cho các doanh nghiệp công nghệ số và dịch vụ, nhằm cân bằng với kênh tín dụng ngân hàng. Ngoài ra, thay đổi tư duy về vai trò của các quỹ đầu tư và dần cởi trói các quy định để hình thành các quỹ hưu trí tự nguyện, quỹ hạ tầng, và đặc biệt là các quỹ đầu tư mạo hiểm cho đổi mới sáng tạo.

Song quan trọng hơn, theo đại diện Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, hiệu quả sử dụng vốn mới là yếu tố quyết định. Để đạt mức tăng trưởng 10% với nguồn lực vốn đầu tư khoảng 40% GDP, hệ số ICOR giảm xuống 4,7, tốc độ tăng lao động khoảng 8,7% thì năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) buộc phải đóng góp trên 57% vào tăng trưởng chung, cao hơn đáng kể so với giai đoạn trước.

Đây là áp lực rất lớn với nền kinh tế, đồng nghĩa với việc khoa học công nghệ cần được đẩy mạnh và phát huy hiệu quả. Vì vậy, cần gỡ vướng cơ chế tài chính cho khoa học công nghệ, chấp nhận rủi ro và thí điểm mô hình hợp tác công - tư (PPP) trong nghiên cứu và phát triển (RD).

Đặc biệt, để kích hoạt không gian mới, ông Nguyễn Đức Hiển cho rằng Việt Nam cần “cởi trói” thể chế để giải phóng nguồn lực. Các giải pháp bao gồm: Triển khai quyết liệt việc kết nối liên thông dữ liệu về đất đai, thuế và thủ tục đầu tư nhằm cắt giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp; Tập trung tháo gỡ pháp lý cho các dự án chậm triển khai, đưa nguồn lực đất đai và vốn đang bị đóng băng trở lại nền kinh tế…

Đặc biệt, giai đoạn tới sẽ chứng kiến sự chuyển dịch sang các mô hình kinh tế mới. Không chỉ dừng lại ở kinh tế số hay kinh tế xanh, Việt Nam cần mạnh dạn xây dựng cơ chế cho kinh tế không gian vũ trụ, kinh tế thấp tầng và khai thác không gian ngầm.

Về thương mại, thay vì chỉ chờ đợi các đơn hàng gia công, chiến lược xuất khẩu mới đòi hỏi doanh nghiệp Việt Nam thực hiện “Go Global”, đẩy mạnh ra thị trường quốc tế, kết nối sâu với các tập đoàn đa quốc gia và tham gia vào các khâu có giá trị cao như thiết kế, RD.

-Ngân Hà

Categories: The Latest News

Liên minh Kinh tế tầm thấp Việt Nam (LAEP) hợp tác JUIDA, cơ hội phát triển hệ sinh thái UAV, drone

Tue, 12/16/2025 - 19:01
Ngày 15/12 tại Nhật Bản, Liên minh Kinh tế tầm thấp Việt Nam (LAEP) đã ký kết hợp tác chiến lược với Hiệp hội UAV Nhật Bản (JUIDA), mở ra một hướng đi mới trong lĩnh vực giao thông vận tải thế hệ mới, đặc biệt là các ứng dụng UAV, drone và hệ sinh thái liên quan…

Sự kiện này đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc phát triển công nghệ UAV tại Việt Nam, đồng thời củng cố mối quan hệ hợp tác công nghệ giữa Việt Nam và Nhật Bản.

Thỏa thuận hợp tác giữa LAEP và JUIDA tập trung vào ba trụ cột chính. Thứ nhất, hai bên sẽ phối hợp chia sẻ kinh nghiệm xây dựng thể chế, khung pháp lý và tiêu chuẩn quốc tế cho lĩnh vực UAV và giao thông thông minh. LAEP mong muốn học hỏi các mô hình quản lý, vận hành đã được Nhật Bản triển khai hiệu quả.

Thứ hai, thỏa thuận này sẽ thúc đẩy kết nối doanh nghiệp, tạo điều kiện để các doanh nghiệp hai nước giao lưu, tìm kiếm cơ hội hợp tác kinh doanh, phát triển sản phẩm và mở rộng thị trường.

Thứ ba, hai bên sẽ hợp tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt trong các lĩnh vực vận hành, điều phối UAV, công nghệ mới và quản lý theo chuẩn quốc tế. Qua đó, Nhật Bản sẽ chuyển giao các kinh nghiệm và quy trình đào tạo bài bản cho Việt Nam.

Chủ tịch LAEP ông Nguyễn Văn Khoa, nhấn mạnh mong muốn hai bên tăng cường trao đổi thông tin, hỗ trợ lẫn nhau trong xây dựng khung pháp lý và tiêu chuẩn cho ngành UAV tại Việt Nam. Ông cho rằng Việt Nam có lợi thế lớn về nguồn nhân lực trẻ, năng động, nhanh chóng tiếp cận công nghệ mới, trong khi Nhật Bản có thế mạnh về tiêu chuẩn, quy trình và kinh nghiệm triển khai thực tế. Sự kết hợp này sẽ góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, thúc đẩy hệ sinh thái giao thông vận tải thế hệ mới và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác công nghệ Việt Nam – Nhật Bản trong thời gian tới.

Đại diện JUIDA, Chủ tịch Shinji Suzuki, cho biết hiệp hội được thành lập từ năm 2014, là một trong những tổ chức tiên phong về UAV và drone tại Nhật Bản. JUIDA đã tham gia sâu vào quá trình xây dựng thể chế, tiêu chuẩn và hướng dẫn vận hành drone, đồng thời phát triển mạng lưới hơn 200 trường đào tạo tại Nhật Bản và nhiều khu vực khác. Hiệp hội cũng đóng vai trò quan trọng trong đào tạo nguồn nhân lực vận hành UAV, tổ chức các chương trình huấn luyện, triển lãm chuyên ngành như Japan Drone Exhibition định kỳ hằng năm, thu hút sự quan tâm lớn của cộng đồng công nghệ quốc tế.

Trước đó, LAEP đã tiếp đón đoàn Hiệp hội JUAV tại Việt Nam. Tại buổi làm việc, LAEP đánh giá cao những thành tựu JUIDA đạt được trong hơn một thập kỷ phát triển, đặc biệt trong đào tạo, xúc tiến ngành và xây dựng tiêu chuẩn an toàn cho UAV. Hai bên đã trao đổi về mạng lưới hội viên, chương trình giáo dục, hợp tác quốc tế, đồng thời thảo luận các khả năng ứng dụng UAV trong phát triển đô thị, logistics, nông nghiệp và đào tạo nguồn nhân lực. Cuộc gặp này đặt nền tảng cho các hoạt động hợp tác tiếp theo thông qua hội thảo, kết nối doanh nghiệp và các chuyến thăm song phương.

Liên minh Kinh tế tầm thấp (LAEP) được thành lập với mục tiêu xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia dẫn đầu khu vực về kinh tế tầm thấp, tiến tới trung tâm kinh tế tầm thấp của thế giới, phát triển các ngành công nghệ cao ứng dụng UAV, hàng không không người lái, thiết bị thông minh, dữ liệu và tự động hóa. Liên minh kỳ vọng nền kinh tế mới này sẽ thúc đẩy hàng nghìn doanh nghiệp phụ trợ, tạo 1 triệu việc làm chất lượng cao và mang về hàng chục tỷ USD cho Việt Nam trong 10-15 năm tới.

Sự hợp tác giữa LAEP và JUIDA không chỉ là một bước tiến quan trọng trong việc phát triển công nghệ UAV tại Việt Nam mà còn là một minh chứng cho sự hợp tác quốc tế hiệu quả. Với sự kết hợp giữa nguồn nhân lực trẻ, năng động của Việt Nam và kinh nghiệm, tiêu chuẩn của Nhật Bản, hai bên kỳ vọng sẽ tạo ra những đột phá mới trong lĩnh vực giao thông vận tải thế hệ mới, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành công nghệ cao.

-Hồng Quang

Categories: The Latest News

Quảng Trị và Canada hợp tác hướng tới tăng cường khả năng chống chịu trước thiên tai

Tue, 12/16/2025 - 18:41
Biến đổi khí hậu, thiên tai diễn biến phức tạp đang đặt ra nhiều thách thức đối với tỉnh Quảng Trị, thúc đẩy địa phương tăng cường tìm kiếm hợp tác với các đối tác quốc tế, trong đó có Canada, nhằm nâng cao năng lực ứng phó và bảo vệ sinh kế người dân...

Ngày 15/12/2025, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Quảng Trị Hoàng Nam đã có buổi tiếp xã giao với Ngài Jim Nickel, Đại sứ Canada tại Việt Nam, để thảo luận về các cơ hội hợp tác trong lĩnh vực này.

Trong buổi gặp gỡ, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Quảng Trị trân trọng cảm ơn sự hỗ trợ hiệu quả của Chính phủ Canada thông qua Đại sứ quán Canada tại Việt Nam. Các chương trình và dự án do Canada hỗ trợ đã mang lại nhiều kết quả rõ nét, đặc biệt trong các lĩnh vực như rà phá bom mìn, hỗ trợ nạn nhân bom mìn, và khắc phục hậu quả thiên tai.

Những nỗ lực này không chỉ cải thiện đời sống mà còn bảo đảm an toàn cho người dân Quảng Trị, một địa phương từng chịu nhiều đau thương do chiến tranh để lại.

Quảng Trị là một trong những tỉnh chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ hậu quả của bom mìn sau chiến tranh, điều này đã và đang là thách thức lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Trong bối cảnh đó, các hoạt động nhân đạo quốc tế, đặc biệt là sự đồng hành của Canada, có ý nghĩa hết sức quan trọng. Sự hỗ trợ này giúp địa phương từng bước làm sạch đất đai, mở ra cơ hội sản xuất và sinh kế bền vững cho cộng đồng.

Ông Hoàng Nam nhấn mạnh rằng tỉnh đang nỗ lực phấn đấu để sớm trở thành địa phương an toàn về bom mìn, đồng thời chú trọng các chương trình hỗ trợ nạn nhân bom mìn và giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng.

Bên cạnh việc khắc phục hậu quả chiến tranh, Quảng Trị cũng đang đối mặt với những thách thức lớn do tác động của biến đổi khí hậu. Tình trạng thiên tai, hạn hán, và lũ lụt diễn biến phức tạp đã ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp, hạ tầng và đời sống của người dân.

Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Quảng Trị Hoàng Nam tặng quà lưu niệm Đại sứ Canada tại Việt Nam

Do đó, tỉnh đặc biệt quan tâm đến các lĩnh vực như cảnh báo sớm thiên tai, nâng cao kỹ năng bảo vệ người dân trước rủi ro khí hậu, phòng chống sạt lở, và phát triển nông nghiệp bền vững. Đây cũng là những lĩnh vực mà Canada có nhiều kinh nghiệm và thế mạnh, phù hợp với nhu cầu thực tiễn của Quảng Trị.

Quảng Trị là tỉnh có lợi thế lớn về vị trí địa lý khi nằm trên tuyến Hành lang Kinh tế Đông - Tây, kết nối Việt Nam với Lào, Thái Lan và Myanmar. Tỉnh sở hữu hệ thống cửa khẩu quốc tế, sân bay, các tuyến quốc lộ trọng điểm, cùng mạng lưới khu công nghiệp đang từng bước được hoàn thiện.

Trên cơ sở đó, Quảng Trị luôn sẵn sàng chào đón và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước, trong đó có các doanh nghiệp Canada, đến nghiên cứu và đầu tư vào các lĩnh vực như logistics, công nghiệp, năng lượng tái tạo, nông nghiệp công nghệ cao, giáo dục và du lịch.

Phát biểu tại buổi tiếp, Đại sứ Canada tại Việt Nam, Ngài Jim Nickel, bày tỏ sự chia sẻ trước những thiệt hại do thiên tai, bão lũ gây ra tại nhiều địa phương của Việt Nam, trong đó có Quảng Trị. Ông đánh giá cao những kết quả mà tỉnh đạt được trong công tác khắc phục hậu quả chiến tranh và các mô hình nâng cao sinh kế cho người dân.

Đại sứ Jim Nickel cho rằng Quảng Trị là một trong những địa phương tiêu biểu trong việc kết hợp hiệu quả giữa hỗ trợ nhân đạo và phát triển bền vững. Trên cơ sở đó, Canada sẵn sàng gợi mở và thúc đẩy các khả năng hợp tác mới với tỉnh, đặc biệt trong lĩnh vực nâng cao năng lực thích ứng của cộng đồng trước biến đổi khí hậu, phát triển bền vững và các lĩnh vực hai bên cùng có thế mạnh và nhu cầu chung.

-Nguyễn Thuấn

Categories: The Latest News

Thúc đẩy doanh nghiệp tham gia nhiều hơn vào kinh tế tuần hoàn

Tue, 12/16/2025 - 18:31
Việc thúc đẩy các ứng dụng, phát triển các mô hình, sáng kiến kinh tế tuần hoàn sẽ mang lại nhiều giá trị cho cả doanh nghiệp, xã hội và môi trường. Trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, TS.Lại Văn Mạnh, Trưởng Ban Kinh tế tài nguyên - môi trường, Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), cho rằng yếu tố quan trọng nhất thu hút các doanh nghiệp tham gia vào kinh tế tuần hoàn là để họ thấy được động lực từ việc đầu tư vào kinh tế tuần hoàn; gỡ các điểm nghẽn, thúc đẩy triển khai các cơ chế chính sách để doanh nghiệp tiếp cận vốn.

Thưa ông, trong thời gian qua, nhiều chủ trương, chính sách của Việt Nam trong phát triển kinh tế - xã hội đều đề cập việc phát triển kinh tế xanh, bền vững, kinh tế tuần hoàn. Ông nhìn nhận thế nào về thực trạng triển khai kinh tế tuần hoàn trong các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay?

Hiện nay, việc triển khai ứng dụng kinh tế tuần hoàn đã có những tín hiệu tích cực. Thực tế trong nhiều lĩnh vực đã xuất hiện những mô hình, sáng kiến áp dụng kinh tế tuần hoàn được các doanh nghiệp tự nguyện triển khai áp dụng. Điển hình ở lĩnh vực nông nghiệp với các mô hình thu gom xử lý tuần hoàn trong sản xuất café, cacao, tuần hoàn trong trồng lúa…

Bên cạnh đó, ở lĩnh vực dệt may đã có những doanh nghiệp đã áp dụng mô hình tuần hoàn để đáp ứng yêu cầu, tiêu chuẩn của thị trường như châu Âu. Trong giao thông vận tải cũng đã xuất hiện các sáng kiến và mô hình kinh doanh tuần hoàn.

Các mô hình sáng kiến tuần hoàn hiện nay rất đa dạng, nhưng tôi cho rằng phần lớn chỉ tập trung ở dạng thu gom, tái chế là chính, chưa đi sâu vào các sáng kiến khác để thúc đẩy phát triển, đa dạng hóa các mô hình nhằm nâng cao giá trị kinh tế tuần hoàn.

Khi các mô hình kinh tế tuần hoàn chỉ tập trung vào hoạt động thu gom, tái chế tức là đang ở chu kỳ cuối của vòng đời sản phẩm. Tuy nhiên, chúng ta cần có cách tiếp cận từ trên xuống, có nghĩa ngay từ trong tư duy thiết kế ban đầu đã hình thành chiến lược kinh doanh, lồng ghép mô hình kinh tế tuần hoàn.

Trong thời gian tới, cần thúc đẩy phát triển mô hình kinh tế tuần hoàn ngay từ khâu thiết kế đến khâu cuối cùng trong toàn bộ vòng đời sản phẩm. Theo đó, các doanh nghiệp cần lồng ghép kinh tế tuần hoàn ngay khi tư duy về sản phẩm, mô hình sản xuất. Khi đó, kinh tế tuần hoàn đã được lồng ghép và trở thành một chiến lược kinh doanh, mang lại lợi ích cho doanh nghiệp. Đây cũng là yếu tố quan trọng giúp các doanh nghiệp thích ứng, đáp ứng các yêu cầu tiêu chuẩn xanh, bền vững của thị trường.

Việc thúc đẩy ứng dụng, phát triển các mô hình, sáng kiến kinh tế tuần hoàn sẽ mang lại nhiều giá trị cho cả doanh nghiệp, xã hội và môi trường. Đó cũng là mục tiêu, động lực mà các chính sách về về kinh tế tuần hoàn hướng tới.

Thưa ông, Việt Nam đã có Đề án Phát triển kinh tế tuần hoàn. Đầu năm 2025, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 222/QĐ-TTg về Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện kinh tế tuần hoàn đến năm 2035. Theo ông, yếu tố nào để thúc đẩy sự tham gia, vào cuộc hơn nữa từ phía các doanh nghiệp là nhân tố quan trọng triển khai thực hiện kinh tế tuần hoàn?

Tôi cho rằng có nhiều điểm nghẽn cần tháo gỡ để thúc đẩy phát triển kinh tế tuần hoàn. Mặc dù hiện nay Việt Nam đã có các cơ chế chính sách cho phát triển kinh tế tuần hoàn, nhưng để áp dụng vào thực tiễn vẫn còn những vướng mắc cần tháo gỡ, trong đó có việc thiếu các tiêu chuẩn, quy chuẩn.

Thứ nhất, dưới góc độ chính sách, điểm khó nhất chính là việc nhận biết giữa chất thải và nguyên vật liệu. Điều này liên quan đến các quy chuẩn, đòi hỏi cần phải tiếp tục hoàn thiện trong thời gian tới. Khi có các quy chuẩn rõ ràng, chúng ta sẽ định danh được đâu là chất thải và có sự ứng xử phù hợp.

Thứ hai, nhận thức của các doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng như trong cộng đồng dân cư về kinh tế tuần hoàn còn hạn chế.

Thứ ba, hành động của các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam. Thực tế hiện nay vai trò và quyền lực của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong chuỗi cung ứng chưa đủ mạnh để có thể thay đổi toàn bộ nhận thức của cả chuỗi cung ứng.

Ví dụ, đối tượng tham gia hoạt động tái chế, thu gom bao bì phần lớn là các doanh nghiệp nhỏ và vừa - đang ở cuối của chuỗi cung ứng, nên không thể thay đổi cả hệ thống, chuỗi cung ứng của toàn thị trường. Để phát triển kinh tế tuần hoàn, những doanh nghiệp ở khâu đầu chuỗi cung ứng phải thay đổi thì mới kéo theo sự vào cuộc của cả chuỗi.

Do đó, tôi cho rằng cần phải có giải pháp, tư duy hệ thống để thúc đẩy sự tham gia vào cuộc, hành động thực sự của tất cả các mắt xích quan trọng, đóng vai trò chính trong chuỗi cung ứng thì mới tạo sự thay đổi hành động trong cả chuỗi.

Để thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, việc huy động nguồn lực tài chính, thị trường tiêu thụ sản phẩm… là rất quan trọng. Ông nhìn nhận thế nào về các vấn đề này hiện nay?

Tôi cho rằng khi áp dụng kinh tế tuần hoàn mà sản phẩm làm ra không tiêu thụ được thì sẽ là một thách thức lớn. Mục tiêu cuối cùng khi doanh nghiệp đầu tư vốn vào áp dụng tuần hoàn đó là sản phẩm phải bán được và mang lại lợi nhuận.

Vấn đề đặt ra với các sản phẩm, vật liệu tạo ra từ kinh tế tuần hoàn hiện nay là giá thành còn cao. Một trong những nguyên nhân là do công nghệ và quy mô sản xuất còn nhỏ, dẫn đến giá thành sản phẩm tăng. Bên cạnh đó là tâm lý và sự quan ngại của người tiêu dùng về sản phẩm từ tuần hoàn cũng dẫn đến việc tiêu thụ còn khó khăn.

Để giải quyết bài toán này, trước hết, nếu tập trung vào tái chế cần phải thúc đẩy quy mô hoạt động thu gom theo quy trình, có các chính sách hỗ trợ cho các hoạt động thu gom nhiều hơn, nhanh hơn, rẻ hơn, tái chế chất lượng hơn. Để thúc đẩy quá trình này, vai trò tham gia, liên kết của các hiệp hội ngành nghề, chuỗi cung ứng là rất quan trọng, chứ không chỉ có sự tham gia của lực lượng phi chính thức.

Bên cạnh đó, các chính sách, hành động phải tập trung vào hạ tầng phục vụ thu gom tái chế, tăng quy mô, chất lượng thu gom, phân loại tốt và có công nghệ xử lý tốt. Một yếu tố quan trọng khác là phải đưa ra các tiêu chuẩn, quy chuẩn với nguyên vật liệu thứ cấp, các sản phẩm tái chế.

Cùng với đó, cần đẩy mạnh thực thi các biện pháp khuyến khích của Nhà nước, giúp giảm chi phí vận hành cho doanh nghiệp như chính sách tín dụng xanh, ưu đãi hỗ trợ lãi suất…

Tôi cho rằng yếu tố quan trọng nhất thu hút doanh nghiệp tham gia đó là để họ thấy được động lực từ đầu tư vào các sáng kiến kinh tế tuần hoàn; thúc đẩy triển khai các cơ chế chính sách để doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn, tiếp cận công nghệ và thị trường.

Hiện nay, nhiều ngân hàng đã đưa ra các gói hỗ trợ cho phát triển xanh nhưng cơ cấu nguồn vốn không chỉ ở các dự án năng lượng, nông nghiệp hữu cơ,… mà cần dịch chuyển mạnh mẽ sang cả các dự án khác thông qua tái chế, áp dụng chuẩn tuần hoàn trong nước và quốc tế.

Tại Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân đã nhấn mạnh việc đẩy mạnh phát triển tín dụng xanh; Nhà nước có cơ chế hỗ trợ lãi suất và khuyến khích các tổ chức tín dụng giảm lãi suất cho doanh nghiệp tư nhân vay để triển khai các dự án xanh, tuần hoàn và áp dụng khung tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị (ESG).

Nghị quyết 198/2025/QH15 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân cũng nêu rõ: doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh được Nhà nước hỗ trợ lãi suất 2%/năm khi vay vốn để thực hiện các dự án xanh, tuần hoàn và áp dụng khung tiêu chuẩn ESG.

Mới đây, Chính phủ đã ban hành Nghị định 156/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 55/2015/NĐ-CP về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị định số 116/2018/NĐ-CP. Nghị định 156 quy định khách hàng có dự án, phương án sản xuất - kinh doanh sản phẩm nông nghiệp hữu cơ theo quy định về nông nghiệp hữu cơ hoặc dự án, phương án sản xuất, kinh doanh sản phẩm nông nghiệp đáp ứng tiêu chí về kinh tế tuần hoàn theo quy định của pháp luật về kinh tế tuần hoàn được tổ chức tín dụng xem xét cho vay không có tài sản bảo đảm tối đa bằng 70% giá trị của dự án, phương án.

Nội dung đầy đủ của bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 50-2025 phát hành ngày 13/12/2025. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-50-2025.html

-

Categories: The Latest News

Chuyên gia đề xuất tái cơ cấu SCIC thành quỹ đầu tư của Chính phủ

Tue, 12/16/2025 - 18:02
Trong khuôn khổ "Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2025, triển vọng 2026" tổ chức ngày 16/12, tại Hà Nội, một chuyên gia cho rằng Chính phủ cần sớm tái cơ cấu Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) theo hướng chuyển thành quỹ đầu tư của Chính phủ nhằm tập trung nguồn vốn cho các lĩnh vực chiến lược và ưu tiên tăng trưởng…

Tại phần thảo luận phiên chuyên đề Tài chính – Ngân hàng với chủ đề “Huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính cho tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2026–2030”, TS. Phạm Xuân Hoè, Tổng Thư ký Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam (VLFA), cho rằng để giảm sự lệ thuộc của nền kinh tế vào kênh tín dụng ngân hàng, cần sớm định vị lại vai trò của SCIC và tái cơ cấu Ngân hàng Phát triển Việt Nam trong hệ thống kênh dẫn vốn.

“Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) cần được tái cấu trúc triệt để để trở thành một ngân hàng đầu tư thực sự của nền kinh tế, tập trung cung cấp nguồn vốn trung và dài hạn. Nếu tiếp tục duy trì mô hình hoạt động như hiện nay, hiệu quả của ngân hàng này là rất hạn chế”.

TS Phạm Xuân Hoè, Tổng Thư ký Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam.

Đối với SCIC, ông Hoè kiến nghị cần chuyển định chế này thành một quỹ đầu tư của Nhà nước.

“Những doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hóa và hoạt động hiệu quả nên tự huy động vốn trên thị trường, còn quỹ đầu tư của Nhà nước chỉ tập trung đầu tư vào các ngành kinh tế quan trọng, chiến lược. Nếu SCIC được tổ chức theo mô hình tương tự Temasek của Singapore, nguồn vốn dành cho các lĩnh vực ưu tiên, như ngành chip và các ngành then chốt khác có thể được mở rộng”, ông Hoè phân tích. 

Những đề xuất trên xuất phát từ thực trạng nền kinh tế Việt Nam đang phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng khi cung ứng hơn 60% tổng vốn cho nền kinh tế. Tỷ lệ tín dụng trên GDP đã ở mức khoảng 137% và có thể tăng lên 180% vào năm 2030 nếu các kênh dẫn vốn khác không được phát triển. 

Ông Hoè cũng chỉ ra 4  rủi ro lớn và đó cũng là những bài học lịch sử mà nền kinh tế phải trả giá khi tăng trưởng tín dụng quá nóng.

Thứ nhất, giai đoạn 2008–2011, khi tăng trưởng tín dụng nóng đã để lại hệ quả kéo dài đối với hệ thống ngân hàng và nền kinh tế. Đến nay, Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) vẫn đang xử lý một khối lượng nợ xấu đáng kể, phản ánh hệ quả của việc mở rộng tín dụng vượt quá khả năng hấp thụ hiệu quả của nền kinh tế.

Thứ hai là rủi ro bong bóng tài sản, đặc biệt là bất động sản. Thực tế cho thấy, thời gian qua, xuất hiện dày đặc các dự án bất động sản quy mô hàng tỷ USD, trong khi các dự án lớn của những ngành kinh tế khác lại khá hạn chế. Bên cạnh đó, nguy cơ bong bóng trên thị trường chứng khoán cũng cần được lưu ý, nhất là trong bối cảnh dư nợ cho vay margin tại các công ty chứng khoán có xu hướng gia tăng.

Thứ ba là rủi ro thanh khoản của hệ thống ngân hàng và rủi ro hệ thống. Áp lực cung ứng vốn của hệ thống ngân hàng hiện nay là tương đối lớn. Tỷ lệ cho vay trung và dài hạn đang ở mức khoảng 45–47%, trong khi khoảng 80% nguồn vốn huy động là ngắn hạn. Với cơ cấu này, chỉ cần lãi suất biến động cũng có thể ảnh hưởng đến niềm tin đối với hệ thống ngân hàng và làm gia tăng rủi ro lan truyền.

Thứ tư là rủi ro vĩ mô, đặc biệt là rủi ro mang tính chu kỳ của nền kinh tế. Việc dồn áp lực lớn lên chính sách tiền tệ trong khi dư địa ngày càng thu hẹp có thể làm gia tăng rủi ro trong kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô, qua đó gây khó khăn cho mục tiêu phát triển bền vững.

-Kỳ Phong

Categories: The Latest News

Vì sao cú sụp đổ bất động sản Trung Quốc phải được “giữ kín”?

Tue, 12/16/2025 - 17:52
Trong khi doanh số bán nhà tại Trung Quốc tiếp tục lao dốc, chính quyền Bắc Kinh ngày càng siết chặt việc công bố các số liệu độc lập về thị trường bất động sản...

Việc hạn chế các nhà cung cấp dữ liệu tư nhân và kiểm soát chặt thông tin được giới quan sát quốc tế coi là dấu hiệu cho thấy mức độ nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng - không chỉ đối với lĩnh vực nhà đất, mà còn đối với toàn bộ nền kinh tế và sự ổn định xã hội của Trung Quốc.

Theo nhận định của tờ báo DW, đằng sau lớp “màn che thông tin” đó là một cuộc suy thoái sâu rộng, kéo dài và có hệ quả lâu dài, đang làm bốc hơi tài sản hộ gia đình, làm suy yếu hệ thống ngân hàng và làm lung lay mô hình tăng trưởng dựa vào bất động sản mà Trung Quốc theo đuổi suốt hơn hai thập kỷ qua.

BONG BÓNG CÀNG LỚN, CÚ SẬP CÀNG SÂU

Sau hơn 20 năm tăng trưởng nóng, bong bóng bất động sản Trung Quốc đạt đỉnh vào năm 2020, khi giá nhà tại nhiều đô thị lớn tăng lên mức cao gấp hơn 17 lần thu nhập bình quân. Đây là tỷ lệ mà ngay cả các thị trường phát triển cũng hiếm khi duy trì trong thời gian dài.

Đà tăng này không phải ngẫu nhiên, mà được thúc đẩy bởi một “cơn bão hoàn hảo” gồm nhiều yếu tố cấu trúc. Cải cách nhà ở năm 1998 đã chuyển hệ thống nhà ở từ cơ chế bao cấp sang sở hữu tư nhân, biến bất động sản thành tài sản đầu tư. Cùng lúc đó, làn sóng gần 500 triệu người di cư từ nông thôn ra đô thị tạo ra nhu cầu nhà ở khổng lồ. Dòng tín dụng rẻ và dồi dào từ các ngân hàng quốc doanh tiếp tục bơm phồng thị trường.

Hệ quả là một cơn sốt xây dựng chưa từng có. Đường chân trời các thành phố Trung Quốc thay đổi chóng mặt, các khu đô thị mới mọc lên dày đặc, còn người dân thì dồn phần lớn tiền tiết kiệm vào căn hộ. Trong nhiều năm, bất động sản không chỉ là nơi ở, mà còn là trụ cột tài sản của tầng lớp trung lưu, tạo cảm giác giàu có và thúc đẩy tiêu dùng.

Bước ngoặt xảy ra trong làn sóng phong tỏa Covid-19 đầu tiên. Lo ngại rủi ro tài chính tích tụ quá lớn, chính quyền của Chủ tịch Tập Cận Bình áp đặt bộ quy định “ba lằn ranh đỏ”, siết chặt khả năng vay nợ của các doanh nghiệp bất động sản. Chính sách này nhanh chóng chặn đứng dòng vốn nuôi dưỡng thị trường.

Hệ quả mang tính dây chuyền: các “đại gia” như Evergrande, Country Garden cùng hàng chục doanh nghiệp nhỏ hơn lần lượt vỡ nợ. Theo thống kê, hơn 70 doanh nghiệp phát triển bất động sản đã rơi vào tình trạng phá sản hoặc buộc phải duy trì hoạt động nhờ các gói cứu trợ có bảo lãnh của Nhà nước. Niềm tin thị trường sụp đổ, người mua quay lưng, còn giá nhà bắt đầu trượt dốc.

HƠN 18.000 TỶ USD TÀI SẢN HỘ GIA ĐÌNH “BỐC HƠI”

Quy luật “trọng lực” giáng mạnh vào thị trường bất động sản Trung Quốc. Nguồn: DW

Hơn 5 năm sau cú sốc ban đầu, cuộc suy thoái vẫn chưa có dấu hiệu kết thúc. Theo ước tính của Barclays, tổng giá trị tài sản hộ gia đình Trung Quốc đã giảm hơn 18.000 tỷ USD, phản ánh mức độ phụ thuộc sâu sắc của người dân vào bất động sản.

Hoạt động xây dựng - từng là một trong những động lực lớn nhất của GDP - suy giảm nghiêm trọng đến mức trở thành lực cản tăng trưởng. Khi bất động sản từng chiếm tới 1/4 GDP, cú sập của lĩnh vực này kéo theo hàng loạt hệ lụy: từ ngân hàng, vật liệu xây dựng, tài chính địa phương cho tới tiêu dùng hộ gia đình.

Trong bối cảnh đó, Bắc Kinh bắt đầu kiểm soát chặt dữ liệu bất động sản. Tháng trước, giới chức Trung Quốc yêu cầu các nhà cung cấp dữ liệu tư nhân ngừng công bố số liệu bán nhà, cắt đứt một trong số ít “cửa sổ độc lập” giúp thị trường và nhà đầu tư đánh giá thực trạng.

Động thái này diễn ra ngay sau khi doanh số bán nhà mới của 100 nhà phát triển lớn nhất giảm 42% so với cùng kỳ trong tháng 10 - mức giảm mạnh nhất trong vòng 18 tháng, theo China Real Estate Information.

Theo bà Anne Stevenson-Yang, nhà sáng lập J Capital Research (Đài Bắc), việc hạn chế công bố dữ liệu giúp che giấu mức giảm giá thực sự. “Toàn thị trường có thể đã giảm khoảng 50%, và thậm chí còn có thể giảm tới 85% trước khi tìm được điểm cân bằng,” bà nhận định với DW.

Thực tế tại các đô thị cho thấy mức độ phân hóa rõ rệt. Oxford Economics ước tính giá nhà tại các thành phố hạng 1 như Bắc Kinh và Thượng Hải đã giảm khoảng 10% so với đỉnh. Tuy nhiên, tại các thành phố hạng 2 và 3 như Thành Đô hay Đông Quan, giá nhà có nơi giảm tới 30%, thậm chí hơn nếu tính cả các hình thức khuyến mãi trá hình.

Bất động sản từng là trụ cột tài sản của các hộ gia đình Trung Quốc. Ảnh: Zhou Jianping/dpa/picture alliance “THÀNH PHỐ MA”, CUNG DƯ THỪA VÀ BÀI TOÁN DÀI HẠN

Trên khắp Trung Quốc, cú sập bất động sản để lại những hệ quả hữu hình: các dự án dang dở, những khu đô thị vắng người và hàng triệu hộ gia đình rơi vào tình trạng giá trị tài sản thấp hơn dư nợ vay. Điều này làm gia tăng bất mãn xã hội, dẫn tới các cuộc phản đối lẻ tẻ của người mua nhà yêu cầu chính quyền can thiệp.

Theo ông George Magnus, cộng tác viên nghiên cứu tại Trung tâm Trung Quốc thuộc Đại học Oxford, lượng cung dư thừa hiện tương đương 3-5 năm nhà ở chưa bán được, chủ yếu tập trung ở các thành phố nhỏ. Trong khi đó, nhóm người mua nhà lần đầu độ tuổi 20-35  đang thu hẹp nhanh chóng do dân số Trung Quốc bắt đầu suy giảm sau khi đạt đỉnh 1,41 tỷ người.

Sự suy yếu của bất động sản còn lan rộng ra toàn cầu. Trung Quốc từng là nước tiêu thụ lớn nhất thế giới đối với quặng sắt, đồng, thép và xi măng. Khi xây dựng chững lại, các quốc gia xuất khẩu như Australia, Brazil và Chile đều chịu tác động tiêu cực. Trong nước, tiêu dùng hộ gia đình suy yếu kéo theo nhập khẩu hàng xa xỉ và ô tô giảm mạnh.

Khác với các giai đoạn khủng hoảng trước, Bắc Kinh lần này tránh tung ra các gói kích thích quy mô lớn. Theo nhiều nhà quan sát, chính phủ đang chấp nhận để giá nhà giảm dần có kiểm soát, ưu tiên ổn định và tái cơ cấu dài hạn hơn là cứu thị trường bằng mọi giá. “Đến một thời điểm, bạn không thể kích thích thêm nữa vì lượng tiền cần thiết sẽ quá lớn và có nguy cơ gây lạm phát,” bà Stevenson-Yang nhận định. Theo Bloomberg, Bắc Kinh hiện chỉ cân nhắc các biện pháp hỗ trợ có chọn lọc như trợ cấp lãi suất vay thế chấp, giảm phí giao dịch và tăng ưu đãi thuế.

Lịch sử cho thấy các cuộc khủng hoảng bất động sản thường kéo dài nhiều năm. Trong khi Mỹ và Tây Ban Nha mất khoảng 5 năm để ổn định, cuộc khủng hoảng hậu bong bóng của Nhật Bản đã khiến giá nhà đình trệ hơn một thập kỷ. SP Global Ratings cho rằng suy thoái bất động sản Trung Quốc có thể kéo dài đến cuối thập niên 2020, thậm chí lâu hơn.

Với hàng triệu gia đình đã dồn toàn bộ tiền tiết kiệm vào nhà ở, đây là một “viên thuốc đắng”. Và chính mức độ nhạy cảm về kinh tế - xã hội đó lý giải vì sao Bắc Kinh muốn giữ cú sụp đổ này ở mức thấp nhất trên không gian công khai, trong khi tìm cách xử lý nó theo một lộ trình dài hơi và thận trọng.

DW-Trọng Hoàng

Categories: The Latest News

Cục Quản lý Dược yêu cầu tăng kiểm tra, ngăn thuốc, mỹ phẩm giả

Tue, 12/16/2025 - 17:48
Tháng cuối năm 2025, nhất là dịp trước, trong và sau Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, Cục Quản lý Dược - Bộ Y tế đề nghị tăng cường rà soát, kiểm tra hoạt động kinh doanh thuốc, mỹ phẩm trên sàn thương mại điện tử như: Shopee, Lazada, Tiki, TikTok Shop, và mạng xã hội Facebook, Instagram, TikTok, YouTube…

Cục Quản lý Dược – Bộ Y tế vừa gửi văn bản đến Sở Y tế các tỉnh, thành phố đề nghị tăng cường các biện pháp đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả trong lĩnh vực dược, mỹ phẩm.

Đặc biệt tập trung vào tháng cuối năm 2025, nhất là dịp trước, trong và sau Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, bảo đảm Nhân dân đón Tết an toàn, lành mạnh.

Theo đó, Cục Quản lý Dược đề nghị các Sở Y tế khẩn trương phối hợp với Ban Chỉ đạo 389 tỉnh, thành phố và các lực lượng chức năng trên địa bàn (Quản lý thị trường, Công an, Hải quan…) triển khai đợt cao điểm kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật trong lĩnh vực y tế đối với các cơ sở đăng ký thuốc, cơ sở công bố, cơ sở sản xuất, kinh doanh dược, mỹ phẩm. Thời gian từ nay đến ngày 31/3/2026.

Nội dung kiểm tra bao gồm tính pháp lý của cơ sở sản xuất, kinh doanh (giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh và việc duy trì điều kiện kinh doanh), tính hợp pháp của sản phẩm sản xuất kinh doanh (giấy đăng ký lưu hành thuốc/số tiếp nhận phiếu công bố sản phẩm mỹ phẩm); nguồn gốc xuất xứ sản phẩm; chất lượng sản phẩm; ghi nhãn sản phẩm…

Trong đó, đối với thuốc, chú trọng kiểm tra về giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dược; việc duy trì GPs (các tiêu chuẩn thực hành tốt); số đăng ký lưu hành/giấy phép nhập khẩu, nguồn gốc, xuất xứ, hóa đơn, chứng từ mua bán; hạn dùng; mua bán theo đơn.

Đối với mỹ phẩm, kiểm tra về giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất mỹ phẩm; hoạt động công bố sản phẩm mỹ phẩm và cung cấp hồ sơ thông tin sản phẩm (Product Information File - PIF), sự phù hợp thông tin công bố sản phẩm và sản phẩm sản xuất, nhập khẩu.

Kiểm tra việc ghi nhãn sản phẩm (thành phần, tính năng, công dụng), hoạt động quảng cáo mỹ phẩm; nguồn gốc, xuất xứ, hóa đơn, chứng từ mua bán, hồ sơ nhập khẩu (đối với các sản phẩm nhập khẩu).

Bên cạnh đó, các Sở Y tế tăng cường rà soát, kiểm tra hoạt động kinh doanh thuốc, mỹ phẩm trên sàn thương mại điện tử như: Shopee, Lazada, Tiki, TikTok Shop…, và mạng xã hội Facebook, Instagram, TikTok, YouTube…

Trường hợp phát hiện kinh doanh các sản phẩm không được phép cấp phép lưu hành (đối với thuốc), hoặc không được cơ quan chức năng tiếp nhận công bố sản phẩm (đối với mỹ phẩm); kinh doanh các sản phẩm không được phép kinh doanh theo hình thức thương mại điện tử; kinh doanh các sản phẩm đã có thông báo thu hồi, tiêu hủy của các cơ quan chức năng; quảng cáo các sản phẩm vi phạm quy định về quảng cáo, cần kịp thời xử lý và phản ánh về Bộ Công Thương; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Bộ Khoa học và Công nghệ; Bộ Y tế để phối hợp giải quyết.

Bộ Y tế nhấn mạnh kiên quyết xử lý các tổ chức, cá nhân vi phạm theo quy định của pháp luật, bảo đảm không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Cùng với đó, chuyển hồ sơ tới cơ quan điều tra để xử lý hình sự theo quy định trong trường hợp có dấu hiệu tội phạm (giá trị hàng hóa lớn, gây hậu quả nghiêm trọng, sai phạm có tổ chức, tái phạm…).

Cục Quản lý Dược đề nghị Sở Y tế các tỉnh, thành phố phối hợp với các cơ quan chức năng trên địa bàn để khẩn trương triển khai, thực hiện bảo đảm công tác quản lý dược, mỹ phẩm được thực hiện hiệu quả, kịp thời, bảo vệ sức khỏe và quyền lợi của người tiêu dùng.

-Thu Hằng

Categories: The Latest News

Kinh tế Trung Quốc đang yếu đi trên nhiều phương diện

Tue, 12/16/2025 - 17:47
Những số liệu thống kê mới nhất cho thấy nền kinh tế Trung Quốc mất đà trên diện rộng trong tháng 11...

Trong đó, tiêu dùng giảm tốc mạnh, đặt ra sức ép lớn hơn đối với Bắc Kinh trong việc bình ổn nhu cầu của hộ gia đình và doanh nghiệp.

Theo báo cáo ngày 15/12 của Tổng cục Thống kê Trung Quốc (NBS), doanh thu bán lẻ tháng 11 chỉ tăng 1,3% so với cùng kỳ năm trước, mức tăng thấp nhất kể từ năm 2022 và giảm từ mức tăng 2,9% ghi nhận trong tháng 10.

Bên cạnh đó, đầu tư và thị trường bất động sản cũng tiếp tục suy yếu.

Đầu tư tài sản cố định giảm 2,6% trong 11 tháng đầu năm so với cùng kỳ 2024, sâu hơn mức giảm 1,7% ghi nhận trong 10 tháng đầu năm.

Đầu tư bất động sản giảm 15,9% trong 11 tháng, sâu hơn mức giảm 14,7% của 10 tháng. Giá nhà bình quân tại 70 thành phố lớn giảm 2,8% trong tháng 11 so với cùng kỳ năm ngoái, so với mức giảm 2,6% của tháng 10.

Tăng trưởng sản lượng công nghiệp chậm lại, với mức tăng 4,8% trong tháng 11 so với cùng kỳ năm ngoái, giảm tốc so với mức tăng 4,9% của tháng 10.

Tỷ lệ thất nghiệp tại khu vực thành thị duy trì ở mức 5,1% trong tháng 11, không thay đổi so với tháng 10.

Trong bối cảnh bức tranh kinh tế trong nước ảm đạm, xuất khẩu vẫn đang giữ vai trò là đầu tàu tăng trưởng của Trung Quốc, dù các nhà lãnh đạo nước này đã đặt ưu tiên thúc đẩy tiêu dùng nội địa. Trong tháng 12 này, Trung Quốc công bố mức thặng dư thương mại kỷ lục hơn 1 nghìn tỷ USD của 11 tháng đầu năm. Trong khi đó, giá nhà sản xuất của nước này vẫn chưa thoát khỏi xu hướng giảm đã kéo dài 3 năm liên tiếp.

Tăng trưởng kinh tế Trung Quốc từ đầu năm đến nay tốt hơn kỳ vọng, nhưng sự tăng trưởng chủ yếu đến từ xuất khẩu. Trong khi đó, các lĩnh vực khác của nền kinh tế, từ đầu tư đến bất động sản, đều đang chật vật.

Tính đến tháng 11, doanh thu bán lẻ - thước đo chủ chốt của nhu cầu tiêu dùng - đã có 6 tháng liên tiếp giảm so với cùng kỳ năm ngoái, chuỗi giảm dài nhất kể từ năm 2020. Chương trình trợ giá hàng tiêu dùng mà Chính phủ Trung Quốc triển khai vào năm ngoái đã thúc đẩy việc mua sắm sớm, nên đà tăng trưởng của tiêu dùng khó có thể tiếp tục duy trì.

Cũng trong tháng 12 này, Tổng giám đốc Kristalina Georgieva của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đã cảnh báo Trung Quốc về sự phụ thuộc quá nhiều vào xuất khẩu để tăng trưởng kinh tế. Bà cũng nói sự thống trị của Trung Quốc trong lĩnh vực sản xuất có nguy cơ làm trầm trọng thêm căng thẳng thương mại toàn cầu. IMF kêu gọi Bắc Kinh hành động mạnh mẽ hơn để đưa tiêu dùng trong nước trở thành động lực tăng trưởng chính.

Tình trạng suy giảm đầu tư tài sản cố định phản ánh qua các số liệu thống kê của Trung Quốc trong những tháng gần đây là thuộc hàng nghiêm trọng nhất trong lịch sử nước này. Tại hội nghị công tác kinh tế trung ương mới đây, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã lần đầu tiên đưa ra một cam kết rõ ràng về việc sẽ triển khai các chính sách nhằm đảo ngược xu hướng giảm đầu tư.

Cùng với đó, Trung Quốc đã cam kết đặt nhiệm vụ thúc đẩy nhu cầu tiêu dùng trong nước làm nhiệm vụ kinh tế chủ chốt của năm 2026. Tại hội nghị nói trên, các nhà lãnh đạo tuyên bố sẽ triển khai các biện pháp kích thích tiêu dùng và tăng thu nhập cho các hộ gia đình.

Về cuộc khủng hoảng bất động sản, Bắc Kinh nói sẽ khuyến khích việc mua nhà tồn kho để làm nhà ở xã hội.

Dù vậy, trong kế hoạch kinh tế 5 năm tiếp theo, các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc tiếp tục xác định công nghệ cao, sản xuất tiên tiến và tự chủ về công nghệ - công nghiệp là những ưu tiên lớn nhất đối với nền kinh tế trong thời gian còn lại của thập kỷ này.

-Bình Minh

Categories: The Latest News

Gần 3.600 chuyến bay cất hạ cánh tại sân bay Đà Nẵng trong dịp Tết dương lịch năm 2026

Tue, 12/16/2025 - 17:31
Dịp Tết dương lịch 2026 (từ ngày 22/12/2025 - 4/1/2026), sẽ có 3.600 chuyến bay cất hạ cánh tại sân bay Quốc tế Đà Nẵng, tăng 14-16 lượt so với ngày thường, tăng 7,6% so với cùng kỳ 2025, chủ yếu tăng các chuyến nội địa của Vietjet Air và Vietnam Airlines...

Theo phương án phục vụ bay cao điểm Tết Dương lịch, Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026 của Cảng hàng không quốc tế Đà Nẵng, sản lượng bay trong khung giờ cao điểm giai đoạn này đã tiệm cận ngưỡng công suất thiết kế của nhà ga T1 và T2, sân bay Quốc tế Đà Nẵng.

Ông Tô Ngọc Hải, Phó giám đốc Cảng hàng không quốc tế Đà Nẵng, cho biết hoạt động bay cao điểm Tết Nguyên Đán 2026 dự kiến sẽ đạt sản lượng rất cao do có thêm nhiều hãng hàng không mới cũng như các hãng hàng không tăng cao tần suất khai thác trong giai đoạn này. Trung bình từ ngày 10/02/2026 đến 24/02/2026, sản lượng cất hạ cánh trong ngày đạt 343 lượt, cao hơn rất nhiều so với cùng kỳ 2025 (trung bình 246 lượt/ ngày).

Riêng số chuyến bay quốc tế hạ cánh sân bay Đà Nẵng trong dịp Tết dương lịch là 62 chuyến/ngày, tăng gần 13% so với cùng kỳ năm ngoái (55 chuyến). Số lượng tàu bay thân rộng khai thác cũng tăng thêm (quốc tế từ 09 - 11 chuyến/ ngày; quốc nội 02 - 04 chuyến/ngày).

Theo dự kiến, tổng số chuyến bay cất hạ cánh tại sân bay Quốc tế Đà Nẵng trong dịp Tế Nguyên đán Bính Ngọ là 5.042, tăng gần 37% so với năm 2025 (3.682 chuyến).

Khách làm thủ tục tại sân bay Quốc tế Đà Nẵng. Ảnh Ngô Anh Văn

Để khai thác kết cấu hạ tầng khu bay hợp lý, thông suốt và đảm bảo an toàn, Cảng Hàng không quốc tế Đà Nẵng đang thi công bảo dưỡng đường cất hạ cánh, đường lăn, sân đỗ thường xuyên được kiểm tra, sửa chữa bảo đảm khai thác an toàn với số vị trí đỗ phục vụ cao điểm là 57 vị trí đỗ, trong đó: Sân đỗ hàng không dân dụng 35 vị trí; sân đỗ số 4 quân sự 03 vị trí và sân đỗ số 8 quân sự  19 vị trí đỗ.

Việc khai thác Nhà ga quốc nội với năng lực phục vụ tại ga đi là 2.700 khách/giờ - 15 chuyến bay; năng lực phục vụ ga đến là 2.700 khách/giờ - 15 chuyến bay; quầy thủ tục hành khách là 52 quầy (có 02 quầy hành lý quá khổ); kios check – in là 12 kios.

Khai thác Nhà ga quốc tế với năng lực phục vụ tại ga đi là 1.800 khách/giờ - 10 chuyến bay; năng lực phục vụ ga đến là 1.800 khách/giờ - 10 chuyến bay; quầy thủ tục với tổng cộng 63 quầy (44 quầy thủ tục loại 1; 09 quầy thủ tục loại 2; 10 quầy tự làm thủ tục;  06 quầy tự ký gửi hành lý) và Quầy thủ thủ tục xuất cảnh là 20 quầy.

Khách nước ngoài đến miền Trung qua sân bay Quốc tế Đà Nững. Ảnh Ngô Anh Văn

Cùng với đó, Cảng hàng không quốc tế Đà Nẵng đã bố trí phân luồng, vị trí đậu đỗ cho các phương tiện thuận lợi cho việc giao/ nhận hàng tại khu vực nhà ga hàng hóa; phối hợp với các đơn vị ngành Hàng không tăng cường nhân lực hỗ trợ đón/trả hàng hóa cho khách hàng trong dịp Tết Nguyên đán, đồng triển khai lực lượng an ninh hàng không điều phối, hướng dẫn khách hàng đậu đỗ phương tiện đón/trả hàng đúng vị trí, tránh ùn tắc trong khung giờ cao điểm. Đồng thời duy trì trực Trung tâm Điều phối khai thác (AOCC) tiếp nhận thông tin, chủ trì phối hợp, xử lý ngay các sự cố, sự vụ phát sinh bảo đảm an toàn khai thác, nâng cao chất lượng dịch vụ giai đoạn cao điểm. Đề nghị các đơn vị tham gia trực tại AOCC vào các ngày cao điểm để phối hợp phục vụ bay an toàn, điều hòa, hiệu quả.

Đánh giá về năng lực phục vụ bay cao điểm Tết Dương lịch, Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026, ông Tô Ngọc Hải, Phó Giám đốc Cảng hàng không quốc tế Đà Nẵng khẳng định ngành Hàng không và các đơn vị  liên quan của sân bay Quốc tế Đà Nẵng đảm bảo sẵn sàng đáp ứng tố nhất các yêu cầu phục vụ mặt đất cao điểm lễ Tết dương lịch và Âm lịch 2026.

Cảng hàng không Quốc tế Đà Nẵng-Ngô Anh Văn

Categories: The Latest News

Pages