Thời Báo Kinh Tế

Subscribe to Thời Báo Kinh Tế feed Thời Báo Kinh Tế
VnEconomy - Góc nhìn toàn cảnh về nền kinh tế Việt Nam
Updated: 51 min 55 sec ago

Cần cơ chế linh hoạt giải phóng nguồn vốn cho chương trình mục tiêu quốc gia

Fri, 12/05/2025 - 14:25
Song song với việc phân cấp, phân quyền, tăng tính chủ động cho địa phương cần cơ chế linh hoạt giải phóng nguồn vốn bị "đóng cứng" với các dự án chưa thể triển khai. Từ đó khắc phục các điểm nghẽn, bất cập để thực hiện hiệu quả chương trình theo hướng hiện đại, thực chất, bền vững.

Tại phiên thảo luận tại hội trường sáng 5/12, các đại biểu Quốc hội đã góp ý các giải pháp về chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia về nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đến năm 2035.

ĐỀ XUẤT CƠ CHẾ ĐỂ GIẢI PHÓNG NGUỒN VỐN VỚI DỰ ÁN KHÔNG THỂ TRIỂN KHAI

Đại biểu Vương Thị Hương (Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Tuyên Quang) đề cập đến đề xuất kéo dài thời gian thực hiện giải ngân vốn ngân sách nhà nước đối với các chương trình mục tiêu quốc gia (xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi năm 2025 (bao gồm cả vốn của các năm trước được chuyển nguồn sang năm 2025) đến hết ngày 31/12/2026.

Theo đại biểu, đây là giải pháp cần thiết để địa phương tiếp tục hoàn thành những nhiệm vụ còn dở dang, giảm áp lực giải ngân trong bối cảnh nhiều nội dung, dự án bị chậm do yếu tố khách quan. Tuy nhiên, kinh nghiệm thực tiễn giai đoạn trước cho thấy việc chỉ kéo dài thời gian thực hiện giải ngân nguồn vốn là chưa đủ để tháo gỡ những vướng mắc về cơ chế.

Toàn cảnh phiên họp.

Đại biểu phân tích thêm hiện nay nhiều chính sách đã hoàn thành mục tiêu nhưng vẫn còn nguồn vốn. Một số chính sách đã bố trí vốn nhưng không thể triển khai vì không đáp ứng đủ tiêu chí, điều kiện hoặc do chưa có hướng dẫn cụ thể.

Đối với các khoản vốn của các chính sách này dù được kéo dài sang năm 2026 thì khả năng giải ngân vẫn sẽ rất thấp, thậm chí khó giải ngân, dẫn đến lãng phí nguồn lực. Vì vậy, đại biểu Vương Thị Hương kiến nghị có cơ chế linh hoạt hơn để các địa phương chủ động xử lý nguồn vốn không còn khả năng, đối tượng thực hiện theo thiết kế ban đầu.

Cụ thể, đại biểu đề nghị bổ sung quy định “cho phép Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định điều chỉnh dự toán ngân sách nhà nước của các chương trình mục tiêu quốc gia đối với nguồn vốn được phép kéo dài của năm 2025, bao gồm cả phần vốn từ những năm trước chuyển sang”, kèm theo các quy định về nguyên tắc điều chỉnh.

“Cơ chế này sẽ giúp giải phóng nguồn vốn bị đóng cứng ở những dự án không thể triển khai, tăng tính chủ động cho địa phương trong phân bổ, điều chỉnh nguồn lực đối với các dự án, nhiệm vụ có khả năng, điều kiện giải ngân”, đại biểu Vương Thị Hương nêu rõ.

PHÂN QUYỀN CHO ĐỊA PHƯƠNG LỰA CHỌN DANH MỤC DỰ ÁN

Theo đại biểu Hà Sỹ Đồng, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Trị, các vướng mắc giai đoạn 2021-2025 đã được nhận diện đầy đủ, đó là thủ tục phức tạp, nhiều tầng nấc, hướng dẫn chậm, phân cấp chưa rõ.

Đại biểu Hà Sỹ Đồng, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Trị

Đại biểu đề nghị phân quyền mạnh cho địa phương trong lựa chọn danh mục dự án, nhất là dự án nhỏ, kỹ thuật đơn giản; đơn giản hóa quy trình đầu tư, quy định rõ trách nhiệm cá nhân, người đứng đầu và cơ chế đánh giá xử lý chậm trễ. Đồng thời cần có vùng an toàn pháp lý để cán bộ dám nghĩ dám làm, phù hợp với tinh thần chỉ đạo bảo vệ cán bộ năng động và sáng tạo.

Đại biểu Hà Sỹ Huân, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Thái Nguyên, cũng đánh giá cao cơ chế thực hiện chương trình theo hướng "Trung ương quản lý tổng thể và ban hành cơ chế chính sách, hướng dẫn, giám sát, kiểm tra, phân cấp, phân quyền triệt để". Đồng thời, phân bổ nguồn lực cho địa phương theo tinh thần “địa phương quyết, địa phương làm và địa phương chịu trách nhiệm”. Tuy nhiên, cơ chế này cần được làm rõ và triển khai triệt để hơn.

Theo đại biểu, tại Khoản 5, Điều 1 và Điều 3 của dự thảo Nghị quyết đã phân cấp cho Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định phân bổ nguồn lực và tổ chức thực hiện Chương trình.

“Từ thực tiễn, việc phân cấp này thủ tục còn rườm rà, mất nhiều thời gian, làm thiếu tính chủ động cơ sở và khó trong tình trạng đầu tư dàn trải, manh mún, như đã được chỉ ra ở giai đoạn trước.

Các nội dung của chương trình phần lớn đầu tư là hạ tầng kỹ thuật, mô hình phục vụ sinh kế, phục vụ người dân trên địa bàn các xã, thôn. Hiện nay chúng ta thực hiện chính quyền hai cấp, xã đã trực tiếp quản lý địa bàn, nắm rõ đối tượng, điều kiện văn hóa, địa hình, sinh kế của địa phương”, đại biểu phân tích.

Đại biểu đề nghị Quốc hội xem xét điều chỉnh theo hướng cấp xã quyết định tổ chức thực hiện chương trình.

Theo đó, cấp tỉnh giữ vai trò định hướng, kiểm tra, giám sát, hỗ trợ kỹ thuật và thủ tục hành chính, trong đó, trao quyền cho địa phương (Hội đồng nhân dân cấp xã và Ủy ban nhân dân cấp xã) được quyết định danh mục, kế hoạch triển khai thực hiện, mô hình phù hợp theo thứ tự ưu tiên từng giai đoạn.

Ngoài ra, cần xem xét lồng ghép, phối hợp hoặc đồng bộ các hợp phần, các nguồn vốn của chương trình và các dự án trên địa bàn, nhằm tránh việc đầu tư trùng lặp, dàn trải, manh mún, bỏ sót nhiệm vụ.

-Như Nguyệt

Categories: The Latest News

Đề xuất mô hình tòa án giải quyết tranh chấp tại Trung tâm tài chính quốc tế

Fri, 12/05/2025 - 08:49
Các tranh chấp phát sinh tại Trung tâm tài chính thường mang yếu tố quốc tế, liên quan đến các giao dịch đầu tư – kinh doanh phức tạp, giá trị lớn. Vì vậy, cần một tòa án vận hành theo các nguyên tắc của thông lệ quốc tế.

Chiều 4/12, Quốc hội đã nghe tờ trình và báo cáo thẩm tra về dự án Luật Tòa án chuyên biệt tại Trung tâm tài chính quốc tế.

Trình bày tờ trình về dự án luật, Chánh án Toà án nhân dân tối cao Nguyễn Văn Quảng nhấn mạnh sự hình thành Trung tâm tài chính quốc tế đòi hỏi một hệ thống giải quyết tranh chấp tương xứng về chuẩn mực, tốc độ và tính minh bạch. Các tranh chấp phát sinh tại Trung tâm tài chính thường mang yếu tố quốc tế, liên quan đến các giao dịch đầu tư – kinh doanh phức tạp, giá trị lớn; do đó cần một tòa án vận hành theo các nguyên tắc của thông lệ quốc tế.

TÒA ÁN CHUYÊN BIỆT CÓ CƠ CHẾ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG LINH HOẠT

Tòa án chuyên biệt được thiết kế nằm trong hệ thống Tòa án nhân dân nhưng có cơ chế tổ chức và hoạt động linh hoạt hơn, được bổ sung quyền tự chủ về tố tụng, áp dụng các quy tắc tiên tiến nhằm đáp ứng yêu cầu của cộng đồng nhà đầu tư trong và ngoài nước.

Dự thảo luật gồm 5 chương, 43 điều, quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, thẩm quyền xét xử, thủ tục tố tụng, thi hành án, tiêu chuẩn của thẩm phán và thư ký, các bảo đảm cần thiết để tòa án vận hành hiệu quả.

Tòa án chuyên biệt sẽ được đặt tại TP.Hồ Chí Minh, có thẩm quyền giải quyết tranh chấp và yêu cầu phát sinh tại Trung tâm tài chính quốc tế của TP.Hồ Chí Minh và Đà Nẵng. Cơ cấu gồm Tòa sơ thẩm, Tòa phúc thẩm và bộ máy giúp việc.

Các đại biểu tham dự Phiên họp.  Ảnh: Quốc hội.

Thẩm phán có thể được bổ nhiệm từ các nguồn: Thẩm phán Tòa án nhân dân; luật sư, chuyên gia, trọng tài viên, giảng viên luật; người nước ngoài. Với nguồn nhân lực đa dạng này, Tòa án chuyên biệt kỳ vọng có thể tiếp cận và xử lý hiệu quả các tranh chấp mang tính quốc tế.

Theo tờ trình, mô hình tòa án chuyên biệt sẽ vận hành theo các nguyên tắc then chốt. Đó là thẩm phán xét xử độc lập; bảo đảm tranh tụng minh bạch và công bằng; thủ tục linh hoạt, tập trung vào hiệu quả và tốc độ; quyền tự định đoạt của các bên được tôn trọng tối đa.

Ngôn ngữ sử dụng trong phiên tòa là tiếng Anh hoặc tiếng Anh kèm tiếng Việt. Đặc biệt, dự thảo cho phép các bên lựa chọn pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế hoặc điều ước quốc tế khi có yếu tố nước ngoài – một bước đột phá nhằm tạo niềm tin cho nhà đầu tư. Bản án phúc thẩm là quyết định cuối cùng, không giám đốc thẩm, tái thẩm, phù hợp thông lệ của các tòa thương mại quốc tế.

TẠO CƠ CHẾ VƯỢT TRỘI ĐỂ THU HÚT VỐN

Báo cáo thẩm tra dự án luật, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Hoàng Thanh Tùng cho biết về thủ tục tố tụng, Ủy ban cơ bản thống nhất với thiết kế mô hình rút gọn, linh hoạt nhưng đề nghị cụ thể hơn đối với một số quy định như quyết định giải quyết vụ việc; cơ chế giao nộp, trình bày và công bố chứng cứ; chứng cứ chuyên gia; biện pháp khẩn cấp tạm thời; thủ tục phúc thẩm; và thi hành bản án của Tòa án chuyên biệt. 

Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Hoàng Thanh Tùng trình bày báo cáo thẩm tra dự án Luật Tòa án chuyên biệt tại Trung tâm tài chính quốc tế. Ảnh: Quốc hội.

Cho ý kiến về dự án luật tại tổ, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn khẳng định khi đã thành lập Trung tâm tài chính quốc tế thì "luật chơi” phải phù hợp với quốc tế. Các cơ chế, bao gồm cả tòa án chuyên biệt, phải vượt trội để thu hút vốn.

Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà (Đoàn đại biểu Quốc hội TP Hà Nội) cũng đánh giá dự thảo luật thể hiện tư duy pháp lý đầy khát vọng; việc cho phép áp dụng ngôn ngữ tiếng Anh và pháp luật nước ngoài cho thấy Việt Nam thực sự chấp nhận các chuẩn mực quốc tế.

Đại biểu Lê Thanh Phong (Đoàn đại biểu Quốc hội TP. Hồ Chí Minh) gợi ý thay chế độ bổ nhiệm bằng cơ chế tuyển chọn theo hợp đồng để dễ dàng thu hút nhân sự chất lượng cao. Đại biểu Nguyễn Mạnh Cường (Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Trị) đề nghị rà soát các thuật ngữ để đảm bảo tính thống nhất và minh bạch trong tố tụng.

Về thành phần xét xử sơ thẩm, phúc thẩm hiện có hai quan điểm khác nhau.

Quan điểm thứ nhất cho rằng việc xét xử sơ thẩm bằng một Thẩm phán, không có sự tham gia của Hội thẩm nhân dân. Trường hợp vụ việc phức tạp, theo đề nghị của các bên, Chánh án Tòa án quyết định việc xét xử sơ thẩm bằng Hội đồng gồm ba Thẩm phán. Việc xét xử phúc thẩm bằng Hội đồng gồm ba Thẩm phán.

Quan điểm thứ hai cho rằng việc xét xử sơ thẩm bằng một Thẩm phán, không có sự tham gia của Hội thẩm nhân dân. Việc xét xử phúc thẩm bằng Hội đồng gồm ba Thẩm phán.

Tòa án nhân dân tối cao nhất trí theo quan điểm thứ nhất để bảo đảm chất lượng xét xử, tính chuyên môn hóa cao, phù hợp với thông lệ quốc tế. Quy định tranh chấp tại Tòa án chuyên biệt được giải quyết theo hướng rút gọn về thành phần Hội đồng xét xử, về quy trình, thủ tục tố tụng.

-Đỗ Mến

Categories: The Latest News

Luật Báo chí (sửa đổi): Bổ sung các chính sách, nguồn lực phát triển báo chí

Fri, 12/05/2025 - 08:33
Tiếp thu ý kiến các đại biểu Quốc hội, Thường trực Ủy ban và cơ quan chủ trì soạn thảo đã rà soát, chỉnh lý các quy định liên quan đến đầu tư công, cơ chế tự chủ, những quy định về nguồn thu từ hoạt động kinh doanh của cơ quan báo chí.

Sáng 4/12, tiếp tục Phiên họp thứ 52, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về việc giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật Báo chí (sửa đổi).

Báo cáo tóm tắt một số vấn đề lớn trong tiếp thu, giải trình, chỉnh lý dự thảo Luật Báo chí (sửa đổi), Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội Nguyễn Đắc Vinh cho biết ngày 23/10 và 24/11/2025, Quốc hội đã thảo luận, cho ý kiến tại tổ và hội trường về dự án Luật Báo chí (sửa đổi).

Thường trực Ủy ban Văn hóa và Xã hội đã phối hợp tổng hợp ý kiến các đại biểu Quốc hội, tổ chức nhiều cuộc họp với cơ quan chủ trì soạn thảo, cơ quan có liên quan và chuyên gia để nghiên cứu, tiếp thu, giải trình, chỉnh lý dự thảo luật...

Về các loại hình báo chí, Thường trực Ủy ban và cơ quan chủ trì soạn thảo đã chỉnh lý tên gọi loại hình “báo nói, báo hình” thành “phát thanh, truyền hình”.

Về cơ quan báo chí chủ lực đa phương tiện (Điều 15), Thường trực Ủy ban và cơ quan chủ trì soạn thảo đã thống nhất, chỉnh lý cụm từ "cơ quan truyền thông chủ lực đa phương tiện" thành "cơ quan báo chí chủ lực đa phương tiện" để bảo đảm tính chính xác và phù hợp với phạm vi điều chỉnh của dự án Luật.

Các nội dung liên quan đến "kinh tế báo chí", Thường trực Ủy ban và cơ quan chủ trì soạn thảo đã rà soát, chỉnh lý các quy định liên quan đến đầu tư công, cơ chế tự chủ, những quy định về nguồn thu từ hoạt động kinh doanh của cơ quan báo chí tại Điều 9, Điều 20, Điều 23 dự thảo Luật.

Ngoài ra, Thường trực Ủy ban và cơ quan chủ trì soạn thảo đã rà soát, chỉnh lý Điều 29 dự thảo Luật theo hướng quy định biện pháp quản lý nhà nước đối với hoạt động báo chí trên không gian mạng tương tự như đối với bốn loại hình báo chí truyền thống, đồng thời tích hợp dịch vụ trực tuyến, bảo đảm nguyên vẹn nội dung thông tin đã đăng, phát trên nền tảng số báo chí quốc gia.

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn phát biểu. Ảnh: TTXVN.

Tại phiên họp, nhiều ý kiến đề nghị tiếp tục rà soát kỹ lưỡng, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật, đặc biệt là bảo đảm đồng bộ với dự án Luật Trí tuệ nhân tạo. 

Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Nguyễn Thanh Hải cho biết Ủy ban đã có đề nghị cần bổ sung các nội dung liên quan tới việc ứng dụng, sử dụng trí tuệ nhân tạo trong nghiên cứu khoa học, giáo dục đào tạo và trong báo chí truyền thông.

Tuy nhiên, hiện nay Chính phủ đang tiếp thu theo hướng các nội dung sử dụng AI trong các lĩnh vực chuyên ngành sẽ được quy định ở trong các luật chuyên ngành. Chủ nhiệm Nguyễn Thanh Hải đề nghị cân nhắc bổ sung một điều mang tính "khung" để bảo đảm sự đồng bộ và phối hợp giữa các luật khi đưa vào áp dụng trong thực tiễn.

Cho ý kiến về dự án luật này, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh cần quan tâm rà soát, hoàn chỉnh quy định về: chính sách để phát triển báo chí; quản lý báo chí trên không gian mạng và vấn đề trí tuệ nhân tạo (AI); bảo vệ an toàn tác nghiệp của nhà báo; điều kiện cấp phép và quản lý đối với cộng tác viên; định nghĩa và địa vị pháp lý.

Chủ tịch Quốc hội thống nhất cao việc sửa đổi quy định cụ thể, khả thi về các chính sách hỗ trợ báo chí, ưu đãi về thuế cho báo chí được quy định tại Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp. Theo đó, các cơ quan báo chí được hưởng mức thuế suất 10%, thay vì như trước đây chỉ có báo chí in được hưởng mức thuế suất này, các loại hình báo chí khác phải chịu mức thuế suất 20%.

Chủ tịch Quốc hội cũng ghi nhận, để bảo đảm quyền tác giả, quyền liên quan, dự thảo luật đã bổ sung khoản 2 Điều 39 theo hướng “cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng tác phẩm báo chí phải thỏa thuận với cơ quan báo chí theo quy định của pháp luật”.

Chủ tịch Quốc hội đề nghị các cơ quan phải rà soát kỹ lưỡng, toàn diện dự thảo luật với các luật hiện hành cũng như dự án Luật đang được sửa đổi, bổ sung có liên quan, để bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất trong các quy định liên quan đến báo chí, khoa học công nghệ, chuyển đổi số, an ninh thông tin, quảng cáo và sở hữu trí tuệ.

-Đỗ Như

Categories: The Latest News

Dự kiến giới thiệu 217 người từ các cơ quan Trung ương ứng cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI

Thu, 12/04/2025 - 15:40
Sáng 4/12, Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức Hội nghị hiệp thương lần thứ nhất để thảo luận về cơ cấu, thành phần, số lượng người của các cơ quan, tổ chức, đơn vị ở Trung ương được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI.

Phát biểu khai mạc Hội nghị, bà Bùi Thị Minh Hoài, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia nhấn mạnh việc tổ chức Hội nghị hiệp thương, giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân là công việc quan trọng trong quá trình tổ chức bầu cử.

“Theo quy định, để bảo đảm dân chủ, lựa chọn được những người tiêu biểu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, hội nghị hiệp thương sẽ được tiến hành ba lần.

Hội nghị hiệp thương lần thứ nhất ở mỗi cấp được tổ chức trong khoảng thời gian từ ngày 01/12/2025 đến ngày 10/12/2025; Hiệp thương lần 2 trong khoảng thời gian từ ngày 02/02/2026 đến ngày 03/02/2026. Hiệp thương lần 3 trong khoảng thời gian từ ngày 09/02/2026 đến ngày 20/02/2026.”, Chủ tịch Bùi Thị Minh Hoài nêu rõ.

Bà Bùi Thị Minh Hoài, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia phát biểu tại hội nghị. Ảnh: Mặt trận.

Tại Hội nghị, ông Nguyễn Hữu Đông, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Công tác đại biểu Quốc hội, Phó Trưởng ban Tổ chức Trung ương, trình bày Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về dự kiến số lượng người của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân, cơ quan Nhà nước ở Trung ương được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI.

Bà Nguyễn Thị Thu Hà, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch - Tổng Thư ký Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Chỉ đạo công tác bầu cử của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trình bày tờ trình của Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về dự kiến số lượng người của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân, cơ quan Nhà nước ở Trung ương được giới thiệu ứng cử làm đại biểu Quốc hội khóa XVI.

Đại biểu tham dự đã biểu quyết nhất trí về dự kiến tổng số đại biểu được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI của các cơ quan, tổ chức, đơn vị ở Trung ương là 217 đại biểu. Ảnh: Mặt trận.

Từ ý kiến của đại biểu tham dự Hội nghị, bà Nguyễn Thị Thanh, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội, Ủy viên Hội đồng Bầu cử Quốc gia, đã làm rõ hơn các nội dung liên quan đến cơ cấu, thành phần, số lượng người của các cơ quan, tổ chức, đơn vị ở Trung ương được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI.

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh nêu rõ việc lựa chọn bầu ra những đại biểu tiêu biểu, đại diện ý trí, nguyện vọng, trí tuệ của nhân dân tham gia Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp là nhiệm vụ trọng tâm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong năm 2026.

Tại Hội nghị, các đại biểu đã thảo luận, biểu quyết nhất trí về dự kiến tổng số đại biểu được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI của các cơ quan, tổ chức, đơn vị ở Trung ương là 217 đại biểu.

Hội nghị cũng đồng thuận về dự kiến cơ cấu, thành phần như Nghị quyết số 1897/NQ-UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; đồng thuận về dự kiến số lượng người của tổ chức chính trị, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, xã hội nghề nghiệp, lực lượng vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước ở Trung ương được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa 16.

Theo Chủ tịch Bùi Thị Minh Hoài, sau Hội nghị này, Đoàn Chủ tịch, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam sẽ hoàn thiện, ban hành các văn bản gồm Biên bản Hội nghị hiệp thương lần thứ nhất; Thông báo công việc bầu cử sau hội nghị hiệp thương lần thứ nhất; Báo cáo kết quả Hiệp thương lần thứ nhất gửi Hội đồng bầu cử Quốc gia và các cơ quan liên quan theo quy định.

-Như Nguyệt

Categories: The Latest News

Tổng Bí thư Tô Lâm: Quân đội hành động theo phương châm “5 vững” thành thước đo kết quả

Thu, 12/04/2025 - 13:45
Tổng Bí thư Tô Lâm mong muốn mỗi cán bộ, chiến sĩ khắc ghi khẩu hiệu: chính trị vững - kỷ luật vững - công nghệ vững - nghệ thuật quân sự vững - đời sống bộ đội vững, biến "5 vững" thành hành động hằng ngày, tiêu chí rèn luyện, thước đo kết quả xây dựng quân đội trong tình hình mới.

Sáng 4/12 tại Hà Nội, Quân ủy Trung ương nhiệm kỳ 2020 – 2025 tổ chức Hội nghị lần thứ 15 đánh giá kết quả lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ công tác quân sự, quốc phòng năm 2025 và phương hướng nhiệm vụ năm 2026. Tổng Bí thư Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương chủ trì hội nghị.

Tổng Bí thư Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương chủ trì hội nghị. Ảnh: QĐND

Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng điều hành hội nghị. Tham dự có Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, lãnh đạo các ban Đảng, các Ủy viên Quân ủy Trung ương và lãnh đạo Bộ Quốc phòng.

Năm 2025, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng thực hiện tốt chức năng tham mưu chiến lược về quân sự, quốc phòng; giữ vững thế chủ động, xử lý linh hoạt các tình huống; triển khai nhiều giải pháp nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội; đẩy mạnh xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị; nâng cao chất lượng huấn luyện, giáo dục, đào tạo; điều chỉnh tổ chức lực lượng theo hướng tinh, gọn, mạnh; thực hiện hiệu quả các mặt công tác hậu cần, kỹ thuật, công nghiệp quốc phòng. Hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng đạt nhiều dấu ấn; công tác xây dựng Đảng bộ Quân đội đạt kết quả quan trọng.

Kết luận hội nghị, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh toàn quân đã hoàn thành tốt nhiệm vụ năm 2025, trong đó nhiều nhiệm vụ hoàn thành xuất sắc. Năm 2026 – năm đầu triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng – khối lượng công việc rất lớn, gắn với tổ chức bầu cử Quốc hội khóa XVI và HĐND các cấp; là năm đầu thực hiện chủ trương xây dựng Quân đội hiện đại, nền quốc phòng toàn dân hiện đại.

Tổng Bí thư yêu cầu quán triệt, triển khai hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIV và các nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị; phát huy vai trò nòng cốt của Quân đội trong tham mưu chiến lược, xây dựng nền quốc phòng toàn dân; nâng cao năng lực dự báo, tham mưu đối sách; tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, chiến lược, đề án về quân sự, quốc phòng; tăng cường phối hợp giữa Bộ Quốc phòng với các ban, bộ, ngành, địa phương.

Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng được yêu cầu lãnh đạo tốt công tác tư tưởng trong Quân đội; xây dựng bản lĩnh chính trị, tinh thần vững chắc cho bộ đội; nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu; bổ sung và triển khai “Bộ tiêu chí xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện đại”; đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; tăng cường bảo đảm hậu cần, kỹ thuật; nâng cao đời sống bộ đội.

Tổng Bí thư đề nghị tiếp tục mở rộng và nâng tầm hội nhập quốc tế, đối ngoại quốc phòng; tạo lập cân bằng chiến lược với các đối tác lớn; tham gia hiệu quả các hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, hỗ trợ nhân đạo, cứu trợ thảm họa.

Về công tác xây dựng Đảng bộ Quân đội, Tổng Bí thư yêu cầu triển khai đồng bộ các giải pháp xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh; thực hiện tốt công tác cán bộ; xây dựng đội ngũ cán bộ Quân đội hiện đại; quán triệt các quy định của Bộ Chính trị và chuẩn bị tốt cho Đại hội XIV của Đảng.

Để toàn quân vững vàng bước vào kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc, Tổng Bí thư Tô Lâm đề nghị hành động theo phương châm 5 vững (đó là “chính trị vững - kỷ luật vững - công nghệ vững - nghệ thuật quân sự vững - đời sống bộ đội vững”). Tổng Bí thư Tô Lâm mong muốn mỗi cán bộ, chiến sĩ khắc ghi khẩu hiệu này, biến "5 vững" thành hành động hằng ngày, thành tiêu chí rèn luyện, thành thước đo kết quả xây dựng quân đội trong tình hình mới; tin tưởng năm 2026, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng sẽ lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và công tác xây dựng Đảng bộ, tạo tiền đề vững chắc để hiện thực hóa các mục tiêu, chủ trương, quyết sách mà Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XII đã đề ra.

-Dũng Hiếu

Categories: The Latest News

Tổng Bí thư: Không để bất kỳ người khuyết tật nào bị bỏ lại phía sau

Thu, 12/04/2025 - 13:06
Tổng Bí thư Tô Lâm yêu cầu tiếp tục hoàn thiện chính sách, xóa bỏ rào cản và mở rộng cơ hội cho hơn 8 triệu người khuyết tật trên cả nước, hướng tới mục tiêu không để ai bị bỏ lại phía sau trong tiến trình phát triển.

Chiều 3/12, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm chủ trì buổi làm việc về tình hình triển khai chủ trương, chính sách đối với người khuyết tật.

Tham dự có Phó Thủ tướng Lê Thành Long; Chánh Văn phòng Trung ương Đảng Phạm Gia Túc; Phó Chánh Văn phòng Trung ương Đảng Lâm Thị Phương Thanh; Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa – Xã hội Nguyễn Đắc Vinh; Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan cùng đại diện các ban, bộ, ngành liên quan.

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ YÊU CẦU NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỖ TRỢ

Theo báo cáo của Bộ Y tế, Việt Nam hiện có hơn 8 triệu người khuyết tật. Nhóm người khuyết tật đặc biệt nặng và nặng đang thụ hưởng các chính sách trợ cấp xã hội hàng tháng, thẻ bảo hiểm y tế và hỗ trợ giáo dục. Cả nước có 165 cơ sở trợ giúp xã hội, gồm 104 cơ sở công lập và 61 cơ sở ngoài công lập, đang chăm sóc khoảng 25.000 người khuyết tật, người tâm thần; đồng thời quản lý khoảng 80.000 trường hợp tại cộng đồng.

Các bộ, ngành và địa phương đã xây dựng nhiều chương trình, kế hoạch triển khai mục tiêu đến năm 2030, trong đó gồm: bảo đảm 100% người khuyết tật đặc biệt nặng và nặng được trợ cấp và cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí; 90% người khuyết tật được tiếp cận dịch vụ y tế; 80% trẻ em từ sơ sinh đến 6 tuổi được sàng lọc, phát hiện sớm khuyết tật bẩm sinh và can thiệp kịp thời; 90% trẻ khuyết tật trong độ tuổi đến trường tiếp cận giáo dục. Bên cạnh đó, các công trình xây dựng mới và 50% công trình cũ phải bảo đảm điều kiện tiếp cận.

Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu tại buổi làm việc. Ảnh: Đăng Khoa

Tuy nhiên, khảo sát thực tế cho thấy nhiều vấn đề còn tồn tại. Hạ tầng giao thông chưa phù hợp với việc di chuyển và sử dụng thiết bị hỗ trợ của người khuyết tật.

Nhiều công trình xây dựng trước đây chưa đáp ứng tiêu chuẩn tiếp cận. Số lượng người được chăm sóc tại cơ sở trợ giúp xã hội còn hạn chế. Mạng lưới trường chuyên biệt, trung tâm hỗ trợ giáo dục hòa nhập còn thiếu, nhất là tại vùng sâu, vùng xa.

Người khuyết tật vẫn gặp khó khăn trong tìm kiếm việc làm, tạo sinh kế và cạnh tranh trên thị trường lao động. Việc tiếp cận hoạt động văn hóa, giải trí, thể thao ở cơ sở còn hạn chế; đặc biệt là nhóm sống tại nông thôn và miền núi. Đây là những vướng mắc lớn cần được nhận diện, xử lý căn cơ trong giai đoạn tới.

Phát biểu tại buổi làm việc, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh việc chăm lo người khuyết tật là yêu cầu của một xã hội văn minh, hiện đại và hội nhập. Những năm qua, nhiều chủ trương, chính sách về phục hồi chức năng, giáo dục hòa nhập, tạo việc làm… đã được triển khai và mang lại hiệu quả thiết thực. Nhiều người khuyết tật đã nỗ lực học tập, lao động, đóng góp cho cộng đồng.

Tuy vậy, phần lớn người khuyết tật vẫn phải đối mặt với khó khăn trong đời sống hằng ngày; phụ nữ và trẻ em khuyết tật còn có nguy cơ bị bạo lực, bỏ rơi hoặc phân biệt đối xử. Tổng Bí thư yêu cầu phải đặt mục tiêu rõ ràng: không để bất kỳ người khuyết tật nào bị bỏ lại phía sau; mọi người đều có cơ hội sống tốt hơn qua từng ngày.

HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH THEO HƯỚNG XÃ HỘI HÒA NHẬP, TĂNG CƯỜNG TRÁCH NHIỆM CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ

Tổng Bí thư khẳng định hỗ trợ người khuyết tật không chỉ là chính sách an sinh mà còn là yêu cầu phát triển bền vững và trách nhiệm của cả hệ thống chính trị; Đồng thời, yêu cầu làm rõ và hoàn thiện các giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận và phục hồi chức năng cho người khuyết tật. Chính sách hiện nay cần được đổi mới theo hướng tiếp cận xã hội hòa nhập, thay vì chỉ tập trung vào hỗ trợ y tế truyền thống.

Theo đó, khuyết tật là vấn đề liên quan đến các rào cản xã hội cản trở việc tham gia kinh tế – văn hóa của người khuyết tật; vì vậy, chính sách phải hướng tới loại bỏ rào cản, mở rộng cơ hội và trao quyền để họ trở thành chủ thể của quá trình phát triển.

Các đại biểu dự buổi làm việc. Ảnh: Đăng Khoa

Trên tinh thần đó, chính sách cần được thiết kế liên ngành, toàn diện, bao gồm giáo dục hòa nhập, đào tạo nghề, ưu đãi trong tuyển dụng, hạ tầng giao thông thân thiện, công trình công cộng dễ tiếp cận và chuyển đổi số nhằm giúp người khuyết tật tiếp cận dịch vụ công trực tuyến và công nghệ hỗ trợ.

Chính sách an sinh xã hội phải bảo đảm mức sống tối thiểu, hỗ trợ sinh kế, nhà ở và trợ giúp pháp lý. Công tác truyền thông cần đẩy mạnh nhằm xóa bỏ kỳ thị, thúc đẩy mô hình xã hội không rào cản. Tổng Bí thư đề nghị tăng cường vai trò của khu vực tư nhân, tổ chức xã hội và cộng đồng trong hỗ trợ người khuyết tật, tạo việc làm và phát triển dịch vụ thân thiện.

Tổng Bí thư yêu cầu rà soát mục tiêu đến năm 2030, mở rộng dịch vụ phục hồi chức năng tại cơ sở, bảo đảm theo dõi sức khỏe định kỳ cho người khuyết tật. Đối với trẻ em khuyết tật, Tổng Bí thư nhấn mạnh yêu cầu phát hiện sớm và bảo đảm mọi trẻ đều được đến trường. Ông nêu rõ: địa phương nào có trẻ khuyết tật phải ở nhà thì chính quyền địa phương đó phải chịu trách nhiệm.

Các đại biểu dự buổi làm việc.  Ảnh: Đăng Khoa

Bộ Giáo dục và Đào tạo được giao rà soát hệ thống trung tâm hỗ trợ giáo dục hòa nhập, ưu tiên phát triển tại các địa phương còn thiếu; đồng thời chú trọng đào tạo giáo viên chuyên môn để hỗ trợ trẻ khiếm thị, khiếm thính và các nhóm trẻ có rối loạn phát triển.

Tổng Bí thư cũng đề nghị các cơ quan chức năng thúc đẩy giải pháp mở rộng cơ hội việc làm, sinh kế cho người khuyết tật; triển khai hạ tầng giao thông và công trình công cộng thân thiện; tăng cường ứng dụng công nghệ trợ giúp, chuyển đổi số để nâng cao chất lượng cuộc sống.

Tổng Bí thư lưu ý cần có giải pháp phòng ngừa và phát hiện kịp thời các trường hợp bạo lực, bỏ rơi và phân biệt đối xử đối với người khuyết tật; xây dựng cơ chế báo cáo thân thiện tại cơ sở, đặc biệt chú trọng nhóm phụ nữ và trẻ em – những đối tượng dễ tổn thương nhất.

Đồng thời, Tổng Bí thư cũng cầu tiếp tục truyền thông nâng cao nhận thức xã hội; đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến người khuyết tật; loại bỏ những rào cản khiến họ khó tiếp cận quyền lợi. Các cơ quan được giao nhiệm vụ phải phân tích đầy đủ các vướng mắc trong chính sách, làm rõ nội dung chồng chéo, đề xuất giải pháp mới phù hợp với điều kiện thực tế.

Tổng Bí thư giao Văn phòng Trung ương Đảng thông báo kết luận cuộc làm việc; Đảng ủy Chính phủ chỉ đạo Bộ Y tế và các bộ, ngành tiếp tục nghiên cứu, tham vấn rộng rãi, xây dựng đề án, kế hoạch và hành động cụ thể, báo cáo Ban Bí thư xem xét.

Tổng Bí thư khẳng định quan điểm chung: cần tạo bước chuyển mới, hành động mạnh mẽ hơn để nâng cao chất lượng cuộc sống người khuyết tật, bảo đảm mọi người đều có cơ hội sống an toàn, học tập, làm việc, hòa nhập và phát triển như các công dân khác.

-Hà Lê

Categories: The Latest News

Hoàn thiện thể chế pháp luật, điều hành kinh tế đa mục tiêu, tạo cơ sở phát triển nhanh và bền vững

Thu, 12/04/2025 - 11:52
Nêu bật các kết quả Chính phủ, Quốc hội đã đạt được trong nhiệm kỳ 2021-2026, nhiều đại biểu Quốc hội tiếp tục kiến nghị các giải pháp như hoàn thiện thể chế pháp luật để vận hành tối ưu mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; điều hành kinh tế đa mục tiêu, tiếp cận theo cụm chính sách…

Sáng 4/12, Quốc hội thảo luận tại hội trường về các Báo cáo công tác nhiệm kỳ 2021-2026 của Chủ tịch nước, Chính phủ; dự thảo Báo cáo công tác nhiệm kỳ khóa XV của Quốc hội; các Báo cáo công tác nhiệm kỳ khóa XV của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Kiểm toán Nhà nước; các Báo cáo công tác nhiệm kỳ 2021-2026 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Các đại biểu Quốc hội khẳng định báo cáo của Chính phủ và Quốc hội đã đánh giá toàn diện, khách quan bức tranh phát triển đất nước trong 5 năm qua; nêu bật kết quả đạt được là rất nổi bật.

KHAI THÁC DƯ ĐỊA TĂNG TRƯỞNG TỪ CUỘC CÁCH MẠNG CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH

Đại biểu Ngô Trung Thành, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đắk Lắk nhấn mạnh nhiệm kỳ khóa XV diễn ra trong bối cảnh dịch bệnh Covid, tạo ra thách thức lớn. Quốc hội có quyết sách lịch sử, chưa có tiền lệ với việc ban hành nghị quyết 30, trao quyền mạnh mẽ cho Chính phủ; đồng thời ban hành nhiều luật, nghị quyết khác đáp ứng yêu cầu bức thiết.

Chính phủ rất chủ động, sáng suốt, linh hoạt, triển khai kịp thời các giải pháp phòng chống dịch, đảm bảo ổn định đời sống nhân dân, phục hồi và phát triển kinh tế.

Đại biểu cũng nhắc đến dấn ấn trong việc vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, nhấn mạnh “tư duy cải cách, tầm nhìn thời đại”.

Toàn cảnh phiên họp.  Ảnh: Quốc hội.

Trong bối cảnh đất nước vào giai đoạn phát triển mới, đại biểu Ngô Trung Thành kiến nghị cần khẩn trương rà soát, hoàn thiện thể chế pháp luật để vận hành tối ưu mô hình chính quyền địa phương 2 cấp nhằm khai thác tối đa dư địa tăng trưởng từ cuộc cách mạng cải cách hành chính.

Đồng thời xây dựng đội ngũ cán bộ có trách nhiệm, bản lĩnh, chuyên nghiệp, tinh thông công nghệ, tư duy đổi mới và tạo dư địa để “cán bộ tự tin, dám hành động, mạnh dạn hành động vì mục tiêu chung”.

Còn đại biểu Nguyễn Tâm Hùng, Đoàn đại biểu Quốc hội TP.HCM kiến nghị Chính phủ tiếp tục đẩy mạnh hoàn thiện cơ chế điều hành kinh tế đa mục tiêu, tiếp cận theo cụm chính sách, thay vì từng đạo luật đơn lẻ; triển khai thực hiện mạnh mẽ cơ chế thử nghiệm có kiểm soát chính sách để thử nghiệm các mô hình kinh tế mới, tạo cơ sở phát triển nhanh và bền vững.

ĐÁNH GIÁ CÁC CHÍNH SÁCH ĐẶC THÙ, “TRÁNH TẠO KHOẢNG TRỐNG PHÁP LUẬT”

Đại biểu Tô Ái Vang, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Cần Thơ cho biết Quốc hội đã kịp thời cụ thể hóa, thể hiện sự đồng hành với Chính phủ thông qua công tác lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, đáp ứng kịp thời yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. “Nổi bật nhất là tư duy đổi mới về công tác lập pháp, trang bị và tăng cường ứng dụng công nghệ thích ứng với sự phát triển của Quốc hội số”, đại biểu nêu rõ.

Đề cập kết quả đạt đươc trong hoạt động quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, đại biểu Tô Ái Vang kiến nghị dự thảo báo cáo cần xem xét bổ sung kết quả, đánh giá tác động từ việc Quốc hội khóa XV thông qua cơ chế chính sách đặc thù trong lĩnh vực đường sắt và các lĩnh vực khác; ban hành 8 cơ chế chính sách đặc thù cho các chương trình mục tiêu quốc gia và thí điểm một số cơ chế chính sách đặc thù phát triển 10 tỉnh, thành phố.

Giao Chính phủ thực hiện rà soát, tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện các nghị quyết thí điểm về cơ chế chính sách đặc thù đã được Quốc hội ban hành.

“Cần làm rõ cơ chế nào thực sự mang lại hiệu quả, tạo ra đột phá, cơ chế chính sách nào chưa phát huy và nguyên nhân vì sao. Bởi vì nghị quyết thí điểm có thời hạn trong 3- 5 năm, nên việc tổng kết kịp thời là cần thiết, để có định hướng kịp thời trong giai đoạn tiếp theo, tránh tạo ra khoảng trống pháp lý, lãng phí nguồn lực. Điều này cũng thể hiện nguyên tắc thận trọng trong xây dựng pháp luật”, đại biểu Tô Ái Vang kiến nghị.

ỔN ĐỊNH PHÁP LUẬT, ĐẢM BẢO TÍNH DỰ BÁO

Góp ý về dự thảo báo cáo của Quốc hội, đại biểu Dương Khắc Mai – Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Lâm Đồng kiến nghị cần chuyển mạnh sang yêu cầu ổn định pháp luật, đảm bảo tính dự báo, tính khả thi, chi phí tuân thủ hợp lý.

Đại biểu Dương Khắc Mai – Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Lâm Đồng. Ảnh: Quốc hội.

“Báo cáo nên nhấn mạnh rõ hơn yêu cầu hạn chế tối đa tình trạng luật vừa ban hành nhưng cần được sửa đổi. Đồng thời tăng cường giám sát từ sớm đối với chất lượng chính sách ngay từ khâu đầu xây dựng luật”, đại biểu Dương Khắc Mai cho biết.

Theo đại biểu, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế để theo dõi, đôn đốc, tái giám sát việc thực hiện các kết luận, kiến nghị sau giám sát; phải nhấn mạnh rõ hơn nội dung này trong phần định hướng nhiệm kỳ tới, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm trong hoạt động giám sát của Quốc hội.

Về mối quan hệ giữa chính sách và năng lực thực thi của địa phương, đại biểu cho rằng Quốc hội khóa XV đã ban hành nhiều nghị quyết, chính sách lớn về ngân sách, đầu tư công, phục hồi kinh tế sau đại dịch và thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính. Song thực tiễn cho thấy năng lực tổ chức thực hiện giữa các địa phương còn chênh lệch.

Vì vậy, báo cáo cần nhấn mạng rõ hơn yêu cầu gắn kết chặt chẽ giữa quyết sách của Quốc hội và điều kiện đảm bảo thực hiện, tránh tình trạng chính sách đúng, nhưng triển khai chậm, hiệu quả không cao.

-Đỗ Mến

Categories: The Latest News

Xây dựng hạ tầng thiết yếu, tạo sinh kế bền vững, có cơ chế đặc thù để giảm nghèo đa chiều

Thu, 12/04/2025 - 09:57
Đại biểu Quốc hội cho rằng cần đánh giá thực chất hơn chỉ tiêu giảm nghèo đa chiều; tập trung nguồn lực trọng tâm xây dựng hạ tầng thiết yếu, tạo sinh kế bền vững và có cơ chế đặc thù đủ mạnh để triển khai thực hiện chương trình.

Chiều 3/12, Quốc hội thảo luận tại tổ về chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia về nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đến năm 2035.

Nhiều ý kiến đại biểu Quốc hội cho rằng việc tích hợp 3 chương trình là một chủ trương lớn mang tính đột phá, đòi hỏi sự đảm bảo chặt chẽ về pháp lý.

ĐỀ XUẤT CÓ CÁC BỘ TIÊU CHÍ RÕ RÀNG

Về nguồn lực và cơ chế đối ứng, giai đoạn 2026-2030 dự kiến tổng mức vốn của chương trình là 1,23 triệu tỷ đồng, trong đó ngân sách địa phương chiếm 33% vốn.

Đại biểu Lê Thị Thanh Lam (Đoàn đại biểu Quốc hội TP Cần Thơ) cho rằng cơ cấu này thể hiện tinh thần phân cấp và tăng tính chủ động của địa phương. Tuy nhiên, đại biểu băn khoăn đối với các địa phương khó khăn, đặc biệt vùng dân tộc thiểu số, miền núi có khả năng cân đối ngân sách còn hạn chế. Nếu áp dụng mức đối ứng cao một cách cứng nhắc sẽ gây áp lực lớn, làm giảm tính khả thi, dễ dẫn tới triển khai hình thức, không đạt mục tiêu đề ra.

Do đó, đại biểu Lê Thị Thanh Lam kiến nghị bộ tiêu chí nông thôn mới và giảm nghèo bền vững giai đoạn 2026 - 2030 cần được thiết kế theo hướng đánh giá thực chất, linh hoạt theo vùng miền; giảm tỷ trọng các tiêu chí hình thức, tăng tỷ trọng các tiêu chí về sinh kế, dịch vụ cơ bản, giảm nghèo đa chiều; bổ sung tiêu chí về công khai, minh bạch, sự tham gia của người dân và chuyển đổi số ở cấp xã.

Đại biểu Lê Thị Thanh Lam, Đoàn đại biểu Quốc hội TP. Cần Thơ.

Từ đó điều chỉnh cơ cấu nguồn vốn theo hướng phân tầng. Địa phương có khả năng tự cân đối thực hiện đối ứng theo chuẩn chung. Địa phương khó khăn giảm tỷ lệ đối ứng, tăng hỗ trợ từ ngân sách trung ương. Địa phương đặc biệt khó khăn áp dụng mức hỗ trợ cao hơn.

Đại biểu Nguyễn Việt Thắng – Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh An Giang cho rằng trong thực tế đã chỉ ra việc đầu tư các chương trình riêng lẻ còn dài trải, manh mún, chồng lấn các nhiệm vụ với nhau nên việc lồng ghép 3 chương trình sẽ góp phần thực hiện hiệu quả hơn.

Về phân bổ nguồn vốn, đại biểu Nguyễn Việt Thắng thống với việc tập trung ưu tiên phân bổ vốn nhằm tạo chuyển biến rõ nét cho chương trình. Đại biểu đề nghị rà soát kỹ lưỡng việc phân bổ nguồn vốn sau khi các địa phương sắp xếp chính quyền địa phương 2 cấp vì ngoài vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn có các xã nghèo, xã đặc biệt khó khăn.

Mặt khác, hiện nay, Chính phủ chưa ban hành các quy định về chuẩn nghèo đa chiều và tiêu chí quy định về xã nghèo giai đoạn 2026 - 2030. Do đó, để đảm bảo công bằng và thực hiện phương châm “không để ai bị bỏ lại phía sau”, đại biểu Nguyễn Việt Thắng đề nghị Chính phủ rà soát lại quy định vùng nghèo, vùng khó khăn để chương trình đầu tư phù hợp và khả thi hơn.

NÂNG CAO ĐỜI SỐNG, THU NHẬP ĐỂ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG 

Theo đại biểu Ma thị Thúy – Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Tuyên Quang, việc tích hợp 3 chương trình mục tiêu quốc gia sẽ giúp cho việc đầu tư, quy hoạch, kế hoạch thực hiện tập trung, thống nhất, hạn chế tình trạng đầu tư dàn trải, chồng chéo về đối tượng thụ hưởng, đầu mối quản lý… trong giai đoạn trước. Các chương trình có cùng mục tiêu là nâng cao đời sống, thu nhập, giảm nghèo bền vững các vùng khó khăn.

Đại biểu kiến nghị Chính phủ cần đánh giá thực chất hơn chỉ tiêu giảm nghèo đa chiều và không nên giao chỉ tiêu giảm nghèo hằng năm.

Đại biểu Ma thị Thúy – Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Tuyên Quang.

Về chỉ tiêu phấn đấu 100% số xã thoát nghèo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số không còn xã, thôn đặc biệt khó khăn, đại biểu Ma Thị Thúy cho rằng đây là thách thức lớn. Do đó cần tập trung nguồn lực trọng tâm xây dựng hạ tầng thiết yếu, tạo sinh kế bền vững và có cơ chế đặc thù đủ mạnh để triển khai thực hiện.

Còn theo đại biểu Nguyễn Tuấn Anh, Đoàn đại biểu Quốc hội TP. Cần Thơ,  thời gian qua, thời tiết diễn biến cực đoan với mưa lớn, lũ lụt và sạt lở nghiêm trọng tại nhiều khu vực miền núi. Trước thực tế đó, cần nghiên cứu bổ sung vào chương trình mục tiêu quốc gia phương án di dời dân cư khỏi vùng có nguy cơ sạt lở từ sớm; đồng thời xây dựng mô hình ổn định đời sống bền vững cho các hộ dân sau khi được bố trí tái định cư.

Bên cạnh đó, đại biểu cũng chỉ rõ các chính sách xóa nhà tạm, nhà dột nát và xây dựng trường học ở miền núi thời gian qua đã được triển khai mạnh mẽ trên phạm vi cả nước. Vì vậy, cần sớm tổng kết, cập nhật số liệu cụ thể về kết quả thực hiện những chính sách này; đặc biệt tại các vùng núi, để làm cơ sở xây dựng dự toán phù hợp, sát thực tế và nâng cao hiệu quả triển khai trong thời gian tới.

Đại biểu Nguyễn Tuấn Anh cũng đề nghị nghiên cứu, bổ sung nội dung chi tiết về hợp tác quốc tế, cơ chế, chính sách thu hút các nguồn tài trợ, dự án đầu tư nước ngoài cho xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; nhất là hợp tác quốc tế trong việc đầu tư, xây dựng hạ tầng và dịch vụ cho đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, phát triển các mô hình phát triển kinh tế cộng đồng, sản phẩm OCOP…

-Đỗ Như

Categories: The Latest News

Chính phủ đề xuất 4 nhóm giải pháp thu hút vốn đầu tư cho TP. Hồ Chí Minh

Thu, 12/04/2025 - 07:45
Chính phủ trình đề xuất mở rộng ưu đãi cho khu thương mại tự do nhằm tạo dư địa thu hút dòng vốn đầu tư chất lượng cao vào TP.Hồ Chí Minh. Việc hoàn thiện cơ chế đặc thù sẽ giúp nâng năng lực cạnh tranh của đô thị đặc biệt, đồng thời mở ra không gian phát triển mới cho các hoạt động chiến lược…

Chiều ngày 3/12, tiếp tục Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV, các đại biểu Quốc hội nghe Tờ trình của Chính phủ và Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế và Tài chính về Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị quyết số 98/2023/QH15 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển TP.Hồ Chí Minh.

Trình bày Tờ trình của Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ Bùi Thanh Sơn cho biết TP. Hồ Chí Minh cần nguồn lực khoảng 1,8 triệu tỷ đồng để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 5 năm tới, trong khi khả năng hiện có mới chỉ đáp ứng khoảng 30% nhu cầu vốn.

“Việc bổ sung các giải pháp đột phá ngoài luật vào Nghị quyết số 98/2023/QH15 là cần thiết để thu hút nguồn lực đầu tư và thúc đẩy phát triển, hướng tới xây dựng TP. Hồ Chí Minh thành siêu đô thị lớn nhất tại Đông Nam Á”, Phó Thủ tướng Chính phủ nhấn mạnh.

Theo đó, Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung 6 điều hiện hành; đồng thời bổ sung một điều mới là Điều 7a tập trung vào bốn nhóm chính sách:

Thứ nhất,  Dự thảo cho phép Hội đồng nhân dân Thành phố sử dụng ngân sách địa phương để bồi thường, hỗ trợ tái định cư, tạo quỹ đất đối giá hoặc thanh toán cho nhà đầu tư theo hợp đồng BT (xây dựng - chuyển giao).

Thứ hai, cho phép Thành phố sử dụng 100% khoản thu từ quỹ đất phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD) để đầu tư trực tiếp cho dự án đường sắt địa phương và các dự án giao thông thuộc tuyến TOD.

Thứ ba, phân cấp cho Ủy ban nhân dân Thành phố được quyết định việc đầu tư xây dựng kết hợp nhà ở, thương mại dịch vụ tại các khu ga, khu bảo dưỡng tàu và vùng phụ cận . Đồng thời, quyết định các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật và chỉ tiêu sử dụng đất quy hoạch tại những khu vực này khác với quy chuẩn kỹ thuật quốc gia.

Thứ tư, mở rộng phạm vi áp dụng thủ tục đầu tư đặc biệt cho các dự án trong các khu chức năng, nhằm rút ngắn thời gian thực hiện.

Phó Thủ tướng Chính phủ Bùi Thanh Sơn 

Các ưu đãi dành cho khu vực này bao gồm giao đất, cho thuê đất không qua đấu giá, ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp 10% trong 20 năm, miễn 4 năm, giảm 50% trong 9 năm; giảm 50% thuế thu nhập cá nhân cho chuyên gia và nhà khoa học trong 10 năm; cho phép doanh nghiệp niêm yết, định giá và thanh toán bằng ngoại tệ.

Đối với mô hình khu thương mại tự do, Điều 7a được bổ sung để thiết lập khung pháp lý đầy đủ, tương tự với cơ chế đang áp dụng tại Hải Phòng và Đà Nẵng.

Theo đó, Ủy ban nhân dân Thành phố được trao thẩm quyền quyết định thành lập, mở rộng hoặc điều chỉnh ranh giới khu thương mại tự do, Phó Thủ tướng Chính phủ Bùi Thanh Sơn cho biết.

Song song đó, Dự thảo cũng mở rộng thẩm quyền thu hồi đất cho các dự án phục vụ phát triển kinh tế xã hội, lợi ích quốc gia và công cộng, bao gồm các dự án trong khu thương mại tự do và dự án thu hút nhà đầu tư chiến lược tại Côn Đảo

Liên quan tới thu hút nhà đầu tư chiến lược,  phạm vi ngành nghề ưu tiên được mở rộng, chú trọng những lĩnh vực có tác động lan tỏa lớn như hạ tầng, đô thị, du lịch, văn hóa – thể thao, y tế, năng lượng sạch, logistics và bảo vệ môi trường, trong đó có cả các dự án tại Côn Đảo.

Ngoài ra, các dự án hạ tầng tại địa bàn đặc biệt khó khăn được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp và ưu đãi cho hoạt động nghiên cứu, phát triển. Đồng thời, dự thảo cho phép cơ quan có thẩm quyền đồng thời chấp thuận chủ trương đầu tư và nhà đầu tư nếu chỉ có một nhà đầu tư đáp ứng điều kiện.

Thẩm tra dự thảo Nghị quyết, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi cho biết cơ quan thẩm tra cơ bản đồng thuận với chủ trương sửa đổi nhưng vẫn lưu ý một số nội dung cần được làm rõ trước khi hoàn thiện.

Theo đánh giá của Ủy ban, phạm vi sửa đổi trong dự thảo hiện còn khá rộng, dàn trải và có những nội dung trùng lặp với hệ thống pháp luật hiện hành hoặc các dự thảo văn bản pháp luật khác.

Bên cạnh đó, nhiều nội dung có tác động trực tiếp đến ngân sách nhà nước, quản lý đất đai, tài sản công và đời sống người dân. Vì vậy, cơ quan chủ trì soạn thảo cần rà soát, đánh giá kỹ lưỡng hơn nhằm bảo đảm tính khả thi và phù hợp, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính nhấn mạnh.

Về thanh toán dự án thực hiện theo hợp đồng BT, đa số ý kiến cho rằng quy định bổ sung đối với việc thanh toán cho nhà đầu tư dự án đường sắt theo loại hợp đồng này đang thu hẹp phạm vi áp dụng hoặc trùng với pháp luật hiện hành, từ đó có thể hạn chế sự chủ động của địa phương. Do đó, đề nghị cơ quan soạn thảo giải trình rõ cơ sở thay đổi này.

Liên quan đến sử dụng đất kết hợp, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi cho biết pháp luật đất đai hiện hành chưa cho phép kết hợp mục đích đất công cộng với đất ở. Do đó, cần rà soát và đề xuất sửa đổi mang tính áp dụng chung trên phạm vi cả nước nhằm bảo đảm sự đồng bộ của hệ thống pháp luật.

Đối với chính sách thu hồi đất, Ủy ban nhận định đây là vấn đề nhạy cảm, liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất. Việc bổ sung thêm các trường hợp thu hồi đất ngoài quy định của Luật Đất đai cần được cân nhắc kỹ lưỡng để hạn chế phát sinh vướng mắc trong quá trình triển khai.

Riêng đề xuất thành lập khu thương mại tự do, Ủy ban Kinh tế và Tài chính cùng Thường trực các cơ quan của Quốc hội bày tỏ sự đồng thuận, đồng thời nhất trí áp dụng các cơ chế và chính sách tương tự mô hình khu thương mại tự do đang được vận hành tại Hải Phòng.

-Lan Nhi

Categories: The Latest News

Việt Nam – Lào củng cố hợp tác toàn diện, mở rộng kết nối chiến lược sau Kỳ họp Ủy ban liên Chính phủ lần thứ 48

Wed, 12/03/2025 - 19:40
Kỳ họp lần thứ 48 Ủy ban liên Chính phủ Việt Nam – Lào khép lại với nhiều kết quả thực chất, tạo xung lực mới cho hợp tác toàn diện trên các lĩnh vực từ chính trị, quốc phòng – an ninh đến kinh tế, hạ tầng, giáo dục, mở rộng kết nối chiến lược giữa hai nền kinh tế.

Ngày 3/12 tại thủ đô Viêng Chăn, ngay sau khi kết thúc Kỳ họp lần thứ 48 Ủy ban liên Chính phủ về hợp tác song phương Việt Nam – Lào do Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và Thủ tướng Lào Sonexay Siphandone đồng chủ trì, cuộc họp báo về kết quả kỳ họp đã được tổ chức. Phó Thủ tướng Lào Saleumxay Kommasith và Bộ trưởng Bộ Tài chính Việt Nam Nguyễn Văn Thắng đồng chủ trì cuộc họp báo.

QUAN HỆ CHÍNH TRỊ - QUỐC PHÒNG CỦNG CỐ VỮNG CHẮC

Phát biểu tại họp báo, Phó Thủ tướng Saleumxay Kommasith chúc mừng thành công của kỳ họp, khẳng định cuộc họp đã đạt nhiều kết quả quan trọng và thiết thực đối với hợp tác hai nước. Hai bên đánh giá cao việc triển khai các thỏa thuận giai đoạn 2021–2025, mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước.

Theo Phó Thủ tướng Lào, quan hệ chính trị và đối ngoại giữa hai nước tiếp tục phát triển mạnh mẽ, ổn định, toàn diện; trao đổi đoàn và tiếp xúc cấp cao duy trì thường xuyên, củng cố lòng tin chính trị và nền tảng cho quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào.

Hai bên phối hợp hiệu quả tại ASEAN và các diễn đàn khu vực, quốc tế. Hợp tác quốc phòng – an ninh tiếp tục tăng cường theo hướng chặt chẽ, tin cậy; hợp tác kinh tế cải thiện, với kim ngạch thương mại song phương ước đạt khoảng 3 tỷ USD trong năm 2025.

Chủ tịch Ủy ban hợp tác Việt Nam - Lào Nguyễn Văn Thắng và Chủ tịch Ủy ban hợp tác Lào - Việt Nam Saleumxay Kommasith trao đổi văn kiện hợp tác đã ký kết. Ảnh: TTXVN

Về đầu tư, đến nay Việt Nam có 276 dự án tại Lào với tổng vốn đăng ký 6,21 tỷ USD, đứng đầu trong số 85 quốc gia và vùng lãnh thổ mà Việt Nam đầu tư ra nước ngoài. Nhiều dự án hoạt động hiệu quả, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế – xã hội của Lào, tạo việc làm và nguồn thu ngân sách, nhất là trong các lĩnh vực viễn thông, ngân hàng, cao su, nông nghiệp, chế biến thực phẩm, sữa. Mười tháng đầu năm 2025, vốn đăng ký mới của doanh nghiệp Việt Nam tại Lào đạt 566,1 triệu USD, tập trung vào các dự án năng lượng sạch, khai khoáng và nông nghiệp.

Đáng chú ý, các dự án điện gió như Trường Sơn, Savanh 1 đang được xúc tiến tích cực. Hai bên cũng đẩy mạnh hợp tác hạ tầng với các dự án trọng điểm gồm cảng Vũng Áng 1, 2, 3; tuyến đường sắt Lào – Việt Nam; đường cao tốc Viêng Chăn – Hà Nội, nhằm tăng cường lưu thông hàng hóa và kết nối khu vực.

Hợp tác văn hóa – xã hội tiếp tục được mở rộng, nhất là trong giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực. Hai bên thống nhất nâng cao chất lượng tuyển chọn sinh viên Lào sang học tại Việt Nam. Năm 2026, Việt Nam sẽ cấp 1.300 suất học bổng cho cán bộ, sinh viên, học sinh Lào. Hợp tác giữa các bộ, ngành, địa phương hai nước ngày càng chặt chẽ, hiệu quả.

ĐỘNG LỰC MỚI TRONG HỢP TÁC KINH TẾ - THƯƠNG MẠI VÀ HẠ TẦNG

Tại Kỳ họp, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và Thủ tướng Lào Sonexay Siphandone đã chứng kiến lễ ký và trao 4 văn kiện hợp tác: Hiệp định hợp tác Việt Nam – Lào giai đoạn 2026–2030; Thỏa thuận hợp tác Việt Nam – Lào năm 2026; Biên bản Kỳ họp lần thứ 48; và Kế hoạch hợp tác giữa Bộ Giáo dục và Thể thao Lào với Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam. Các văn kiện này được kỳ vọng góp phần nâng tầm quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện giữa hai nước.

Nhân dịp này, Phó Thủ tướng Saleumxay Kommasith bày tỏ lòng biết ơn đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đã luôn đồng hành, hỗ trợ Lào trong đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước; khẳng định Lào luôn coi trọng và ưu tiên cao nhất quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào.

Bộ trưởng Bộ Tài chính Việt Nam Nguyễn Văn Thắng cho biết Kỳ họp lần này có sự tham gia của hơn 25 bộ, ngành và địa phương hai nước. Hai bên đã đánh giá kết quả hợp tác giai đoạn 2021–2025 và năm 2025; thống nhất cụ thể hóa chỉ đạo của lãnh đạo cấp cao trong Thỏa thuận kế hoạch hợp tác năm 2026 để triển khai ngay từ đầu năm trên các lĩnh vực chính trị, đối ngoại, quốc phòng – an ninh, đầu tư, thương mại.

Hai bên sẽ tăng cường kết nối bổ trợ giữa hai nền kinh tế trong giao thông – vận tải, năng lượng, viễn thông, du lịch; đồng thời có giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư, tháo gỡ vướng mắc tại các dự án của doanh nghiệp mỗi nước, khắc phục tình trạng chậm trễ trong triển khai.

Mục tiêu là tạo thuận lợi cho giao thương, thúc đẩy kim ngạch thương mại hai chiều, đồng thời tạo chuyển biến mới trong hợp tác kinh tế, giáo dục, y tế, khoa học kỹ thuật, hạ tầng kinh tế – xã hội, đặc biệt là hệ thống hạ tầng mang tính kết nối.

Hai bên đánh giá cao kết quả hợp tác toàn diện năm 2025; triển khai hiệu quả các thỏa thuận cấp cao; quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện tiếp tục phát triển theo chiều sâu, gắn bó tin cậy. Hợp tác quốc phòng – an ninh giữ vai trò nòng cốt trong việc bảo đảm ổn định, trật tự, an toàn xã hội của mỗi nước.

Trong bối cảnh kinh tế thế giới và khu vực gặp nhiều khó khăn, tổng kim ngạch thương mại 10 tháng đầu năm 2025 giữa Việt Nam và Lào vẫn vượt 2,6 tỷ USD, tăng 50,4% so với cùng kỳ năm 2024.

Về định hướng hợp tác thời gian tới, hai bên thống nhất triển khai các nội dung trong Tuyên bố chung và các thỏa thuận ký tại Kỳ họp lần thứ 48; thúc đẩy hợp tác chính trị, quốc phòng – an ninh; tạo đột phá trong kinh tế, thương mại và đầu tư.

Hai bên đặt mục tiêu nâng kim ngạch thương mại lên 5 tỷ USD trong thời gian gần nhất, hướng tới 10 tỷ USD trong giai đoạn tiếp theo; đồng thời phát triển các dự án mới hiệu quả, khai thác tối đa tiềm năng của mỗi nước.

-Hà Lê

Categories: The Latest News

Kỳ họp lần thứ 48 Ủy ban Liên Chính phủ Việt Nam – Lào: Mở ra định hướng hợp tác chiến lược 2026-2030

Wed, 12/03/2025 - 17:05
Kỳ họp lần thứ 48 Ủy ban Liên Chính phủ Việt Nam – Lào tại Viêng Chăn tạo dấu mốc quan trọng trong việc rà soát hợp tác giai đoạn 2021-2025 và định hướng hợp tác chiến lược 2026-2030, mở ra bước phát triển mới cho quan hệ “hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện” giữa hai nước.

Sáng 3/12 tại Viêng Chăn, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và Thủ tướng Lào Sonexay Siphandone đồng chủ trì Kỳ họp lần thứ 48 Ủy ban Liên Chính phủ về hợp tác song phương Việt Nam – Lào.

Kỳ họp nhằm đánh giá toàn diện việc triển khai các thỏa thuận trong khuôn khổ Kế hoạch hợp tác giai đoạn 2021-2025 và năm 2025; đồng thời thống nhất phương hướng hợp tác giai đoạn 2026-2030 và năm 2026, cụ thể hóa kết quả Cuộc họp cấp cao giữa hai Đảng.

RÀ SOÁT HỢP TÁC VÀ CỦNG CỐ NỀN TẢNG CHIẾN LƯỢC

Thủ tướng Sonexay Siphandone nhiệt liệt chào mừng đoàn Việt Nam, nhấn mạnh chuyến công tác của Thủ tướng Phạm Minh Chính diễn ra đúng dịp Lào kỷ niệm 50 năm Quốc khánh, mang ý nghĩa quan trọng trong triển khai các thỏa thuận cấp cao và hiện thực hóa quan hệ “gắn kết chiến lược”.

Thủ tướng Phạm Minh Chính cảm ơn sự đón tiếp trọng thị, đồng thời chúc mừng những thành tựu quan trọng mà Lào đạt được sau 50 năm lập nước và 40 năm đổi mới.

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và Thủ tướng Chính phủ Lào Sonexay Siphandone đồng chủ trì Kỳ họp lần thứ 48 Uỷ ban Liên Chính phủ về hợp tác song phương Việt Nam – Lào - Ảnh: VGP

Hai Thủ tướng bày tỏ vui mừng trước thành tựu mà hai nước đạt được thời gian qua; tin tưởng công cuộc đổi mới, phát triển, bảo vệ Tổ quốc của mỗi nước sẽ tiếp tục tạo dấu ấn mới; quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt Nam – Lào ngày càng đi vào chiều sâu.

Tại kỳ họp, sau khi nghe báo cáo rà soát các lĩnh vực hợp tác giai đoạn 2021-2025 và phương hướng 2026-2030, lãnh đạo hai Chính phủ và các bộ, ngành đã trao đổi, thống nhất nhiều biện pháp để triển khai thỏa thuận với các chương trình, dự án cụ thể.

Thủ tướng Phạm Minh Chính ghi nhận kết quả đạt được trong bối cảnh nhiều khó khăn, nhờ sự chỉ đạo của Bộ Chính trị hai nước và nỗ lực của các cấp, ngành, địa phương. Phạm Minh Chính chỉ rõ các đầu việc tốt, đó là: hợp tác chính trị ở mức cao nhất; quốc phòng – an ninh giữ vai trò trụ cột; kinh tế – thương mại tăng trưởng mạnh; hợp tác tài chính có đột phá; tiến triển tích cực trong năng lượng; hiệu quả của viện trợ; hoạt động của tổ chuyên gia Lào – Việt; hợp tác giáo dục – đào tạo, văn hóa – du lịch tăng mạnh; và việc tháo gỡ các vướng mắc tại dự án.

TĂNG CƯỜNG TRỤ CỘT QUỐC PHÒNG – AN NINH VÀ HỢP TÁC KINH TẾ

Hai Thủ tướng thống nhất rằng trên nền tảng quan hệ chính trị – ngoại giao tin cậy, hợp tác quốc phòng và an ninh giữa hai nước tiếp tục chặt chẽ, đóng góp quan trọng vào ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội; xây dựng tuyến biên giới Việt Nam – Lào hòa bình, hữu nghị, ổn định và phát triển. Hai bên phối hợp hiệu quả trong phòng, chống tội phạm, nhất là tội phạm xuyên quốc gia.

Về kinh tế, thương mại, đầu tư, hợp tác hai nước ghi nhận nhiều bước tiến. Đến tháng 4/2025, Việt Nam có 267 dự án đầu tư tại Lào với tổng vốn đăng ký 5,63 tỷ USD. Trong 10 tháng năm 2025, Việt Nam đầu tư sang Lào 566,1 triệu USD, tập trung vào năng lượng sạch, khai khoáng và nông nghiệp.

Thủ tướng Phạm Minh Chính cảm ơn sự đón tiếp trọng thị, chu đáo, nồng hậu và thắm tình đoàn kết anh em mà Thủ tướng Sonexay Siphandone và Chính phủ Lào đã dành cho đoàn Đại biểu Việt Nam - Ảnh: VGP

Nhiều dự án hoạt động hiệu quả, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế – xã hội, tạo việc làm và tăng thu ngân sách cho Lào, nhất là viễn thông, ngân hàng, chế biến cao su, nông sản, thực phẩm.

Kim ngạch thương mại hai nước 10 tháng năm 2025 đạt 2,6 tỷ USD, tăng 50,4% so với cùng kỳ 2024, Việt Nam nhập siêu 626,2 triệu USD. Các lĩnh vực giáo dục – đào tạo, khoa học – công nghệ, văn hóa, du lịch, giao lưu nhân dân, hợp tác địa phương… tiếp tục được tăng cường. Hai nước phối hợp chặt chẽ tại các diễn đàn khu vực, nhất là trong ASEAN.

Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh yêu cầu tạo đà, tạo lực mới để đưa quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào lên tầm cao mới, trở thành hình mẫu trong quan hệ quốc tế.

Hai Thủ tướng thống nhất triển khai ngay nội hàm quan hệ mới “Hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện, gắn kết chiến lược” với năm trụ cột: chính trị là sống còn; quốc phòng – an ninh và kinh tế là then chốt; khoa học – công nghệ, giáo dục – đào tạo là đột phá; hợp tác doanh nghiệp và nhân dân là nền tảng; hợp tác địa phương là đòn bẩy.

Thủ tướng Phạm Minh Chính và Thủ tướng Sonexay Siphandone bày tỏ vui mừng trước thành tựu to lớn, toàn diện mà hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước đã đạt được trong thời gian qua - Ảnh: VGP

Thủ tướng Sonexay Siphandone cam kết chỉ đạo Phân ban Lào – Việt tạo bước đột phá trong thực hiện thỏa thuận; khuyến khích doanh nghiệp Việt Nam đầu tư các dự án quy mô lớn; thúc đẩy kết nối hạ tầng, năng lượng; triển khai đường bộ cao tốc Viêng Chăn – Hà Nội và dự án khai thác muối mỏ kali; nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực; thúc đẩy xây dựng Đại học Lào – Việt.

NĂM 2026: THÚC ĐẨY KẾT NỐI, NÂNG TẦM HỢP TÁC TOÀN DIỆN

Hai Thủ tướng nhất trí nâng mức độ tin cậy chiến lược; tăng cường hợp tác quốc phòng – an ninh; tạo bước chuyển mạnh mẽ trong hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư và phát triển hạ tầng. Hai bên sẽ ưu tiên thúc đẩy kết nối hai nền kinh tế, bảo đảm an ninh kinh tế và năng lượng; tháo gỡ rào cản để các chương trình và dự án đạt hiệu quả cao.

Trong năm 2026, hai bên tập trung triển khai hiệu quả các Tuyên bố chung và Thỏa thuận ký kết tại Kỳ họp 48. Hai nước tăng cường các cơ chế hợp tác; tổ chức hiệu quả các chuyến thăm và tiếp xúc cấp cao; duy trì tính linh hoạt trong phối hợp giữa các cấp, ngành, địa phương. Hợp tác quốc phòng – an ninh tiếp tục được ưu tiên, gắn với xây dựng tuyến biên giới hòa bình, ổn định.

Về kinh tế, hai bên thúc đẩy tiếp xúc giữa lãnh đạo Chính phủ Lào và doanh nghiệp Việt Nam; rà soát các dự án đầu tư; nghiên cứu triển khai các dự án lớn như Đại học Lào – Việt, Trung tâm Triển lãm. Lào cam kết tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp Việt Nam, điều chỉnh quy định về đầu tư thủy điện, khai khoáng; thúc đẩy tăng kim ngạch thương mại năm 2026 từ 10-15% so với 2025, hướng tới mục tiêu 5 tỷ USD và xa hơn là 10 tỷ USD/năm. Hai nước đặc biệt coi trọng hợp tác nông nghiệp và phát triển nông thôn.

Trong giáo dục – đào tạo, Việt Nam tiếp tục dành 1.300 suất học bổng cho Lào; cử giáo viên sang giảng dạy tiếng Việt; tăng cường trao đổi chuyên gia, nâng chất lượng đào tạo nguồn nhân lực.

Hai Thủ tướng khẳng định sẽ chỉ đạo quyết liệt để bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp phối hợp triển khai các thỏa thuận; tạo điều kiện tối đa cho hợp tác đầu tư – kinh doanh. Thành công của Kỳ họp được kỳ vọng tạo động lực mới, đưa quan hệ Việt Nam – Lào phát triển sâu sắc, thực chất, hiệu quả hơn nữa.

Tại kỳ họp, hai bên ký kết các văn kiện quan trọng gồm: Hiệp định hợp tác Chính phủ Việt Nam – Lào giai đoạn 2026-2030; Thỏa thuận Kế hoạch hợp tác năm 2026; Biên bản Kỳ họp 48 Ủy ban Liên Chính phủ; và Kế hoạch hợp tác 2026 giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo hai nước.

-Hà Lê

Categories: The Latest News

Trình Quốc hội xem xét việc tích hợp 3 Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2035

Wed, 12/03/2025 - 15:52
Chiều 3/12, Quốc hội nghe tờ trình và báo cáo thẩm tra về chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế -xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035.

Theo Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng, chương trình thực hiện trên phạm vi toàn quốc, ưu tiên vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Thời gian thực hiện là 10 năm, chia làm 2 giai đoạn là giai đoạn 2026-2032 và giai đoạn 2032-2035.

TẬP TRUNG ĐẦU TƯ GIÚP VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ VƯƠN LÊN THOÁT NGHÈO BỀN VỮNG

Dự kiến tổng vốn tối thiểu thực hiện chương trình là 1,23 triệu tỷ đồng. Trong đó, vốn ngân sách địa phương các cấp (tỉnh, xã) là 400.000 tỷ đồng, chiếm 33%; vốn ngân sách trung ương hỗ trợ trực tiếp khoảng 100.000 tỷ, chiếm 8%; vốn doanh nghiệp và huy động đóng góp của cộng đồng và người dân khoảng 348.000 tỷ đồng chiếm 28%...

Theo Bộ trưởng Trần Đức Thắng, việc hợp nhất 3 chương trình có ý nghĩa quan trọng; giúp tập trung hơn vào vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi trong thời gian tới.

Đặc biệt, vùng lõi nghèo hiện nay chủ yếu là vùng sinh sống của đồng bào dân tộc thiểu số. Chương trình giảm nghèo trước đây thực hiện trên địa bàn cả nước, nay ở Chương trình này cần được tập trung đầu tư mạnh vào vùng này để giúp vùng đồng bào dân tộc thiểu số có cuộc sống tốt hơn, vươn lên thoát nghèo bền vững.

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng trình bày tờ trình trước Quốc hội.

Chương trình tích hợp bảo đảm nguyên tắc “rõ chính sách, rõ địa bàn, rõ đối tượng thụ hưởng, rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm”. Đồng thời, phân cấp, phân quyền triệt để đi đôi với phân bổ nguồn lực cho chính quyền địa phương theo tinh thần “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”…

Bộ trưởng Trần Đức Thắng cho biết chương trình hướng tới mục tiêu thực hiện giảm nghèo đa chiều, bao trùm và bền vững, bảo đảm an sinh xã hội, bình đẳng giới, nâng cao thu nhập, chất lượng sống và khả năng tiếp cận dịch vụ cơ bản cho người dân; phát triển toàn diện khu vực vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; xây dựng nông thôn mới hiện đại, thực chất, gắn với đô thị hóa và thích ứng biến đổi khí hậu.

Đặc biệt, về mục tiêu giảm nghèo, chương trình phấn đấu đến năm 2030, tỷ lệ nghèo đa chiều cả nước duy trì mức giảm từ 1 đến 1,5%/năm, phấn đấu tỷ lệ hộ nghèo đa chiều vùng dân tộc thiểu số và miền núi  xuống dưới 10%, tỷ lệ nghèo đa chiều ở xã nghèo giảm ít nhất 3%/năm. Đến năm 2035, tỷ lệ nghèo đa chiều cả nước duy trì mức giảm từ 1 đến 1,5%/năm theo chuẩn nghèo giai đoạn 2031-2035.

Theo Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường, chương trình gồm 2 phần, trong đó hợp phần thứ nhất là những nội dung chung nhằm xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Hợp phần thứ hai là các nội dung đặc thù phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

XEM XÉT KÉO DÀI THỜI GIAN GIẢI NGÂN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

Báo cáo thẩm tra dự án luật, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội Lâm Văn Mẫn đề nghị Chính phủ tiếp tục rà soát kỹ lưỡng đối với các mục tiêu cụ thể để không trùng lặp.

Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Lâm Văn Mẫn trình bày báo cáo thẩm tra. 

Các chỉ tiêu đưa ra phải có cơ sở, logic, có tính khả thi, phù hợp với bối cảnh mới của đất nước; thể hiện sự rõ tập trung, ưu tiên cho vùng khó khăn, lõi nghèo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi nhằm rút ngắn dần khoảng cách phát triển giữa các vùng.

Về cấu trúc chương trình, Hội đồng Dân tộc đề nghị Trung ương chỉ nên quy định khung, giao chỉ tiêu; còn các hoạt động cụ thể, chi tiết nên giao cho địa phương lựa chọn, quyết định đầu tư để phù hợp với tình hình thực tiễn của địa phương.

Hội đồng Dân tộc cũng nhấn mạnh việc lựa chọn nội dung, chính sách thực sự có tính chất mục tiêu, để tập trung nguồn lực đầu tư trọng tâm, trọng điểm như: hạ tầng dân sinh, phát triển sản xuất gắn với phát triển nông, lâm nghiệp; khoa học, công nghệ, chuyền đổi số; bảo vệ và phát triển rừng, môi trường sinh thái…

Bên cạnh đó, Hội đồng Dân tộc cơ bản thống nhất với đề xuất của Chính phủ về tổng vốn và phương án bổ sung vốn cho Chương trình. Song, đề nghị Chính phủ cân nhắc, tính toán lại cơ cấu, tỷ lệ vốn đối ứng cho phù hợp với tình hình thực tiễn của các địa phương, nhất là các tỉnh khó khăn, vùng dân tộc thiểu số và miền núi. 

Hội đồng Dân tộc cũng đề nghị Quốc hội xem xét kiến nghị của Chính phủ, trong đó cho phép kéo dài thời gian thực hiện giải ngân vốn ngân sách nhà nước đối với các chương trình mục tiêu quốc gia (xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi năm 2025 (bao gồm cả vốn của các năm trước được chuyển nguồn sang năm 2025) đến hết ngày 31/12/2026, đồng thời đưa nội dung này vào Nghị quyết Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV.

-Như Nguyệt

Categories: The Latest News

Xử lý nghiêm tội phạm liên quan đến quy hoạch, quản lý, sử dụng đất đai

Wed, 12/03/2025 - 14:46
Các Tòa án đã giải quyết đạt tỷ lệ 96,71% về số vụ và 92,82% về số bị cáo phạm các tội liên quan đến quy hoạch, quản lý và sử dụng đất đai; vượt 8,71% so với chỉ tiêu Quốc hội giao.

Sáng 3/12, tiếp tục Kỳ họp thứ 10, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Nguyễn Văn Quảng trình bày Báo cáo về việc thực hiện một số nghị quyết của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XIV và khóa XV về giám sát chuyên đề, chất vấn.

Theo Chánh án Nguyễn Văn Quảng, Tòa án nhân dân tối cao đã chỉ đạo các Tòa án đổi mới việc tổ chức phiên tòa; tăng cường tranh tụng; khẩn trương đưa ra xét xử kịp thời, nghiêm mọi hành vi phạm tội; trong đó có các tội phạm liên quan đến quy hoạch, quản lý và sử dụng đất đai tại đô thị. 

Các Tòa án đã giải quyết đạt tỷ lệ 96,71% về số vụ và 92,82% về số bị cáo phạm các tội liên quan đến quy hoạch, quản lý và sử dụng đất đai; vượt 8,71% so với chỉ tiêu Quốc hội giao. Chất lượng giải quyết, xét xử được bảo đảm; 100% vụ án được xét xử đúng thời hạn luật định.

Bên cạnh đó, các Tòa án đã chú trọng bảo vệ quyền lợi của người lao động bị ảnh hưởng do doanh nghiệp trốn đóng bảo hiểm; tạo điều kiện cho người lao động trình bày các yêu cầu về quyền lợi đã bị xâm hại, đảm bảo công bằng, dân chủ.

Công tác xét xử được thực hiện nghiêm túc, bảo đảm nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Các Tòa án đã giải quyết đạt tỷ lệ 92,31% về số vụ và 82,65% về số bị cáo liên quan đến trốn đóng bảo hiểm xã hội và các hành vi gian lận, trục lợi khác.

Quốc hội nghe Báo cáo về việc thực hiện một số nghị quyết của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XIV và khóa XV về giám sát chuyên đề, chất vấn. Ảnh: Quốc hội.

Ngoài ra, các Tòa án đã chú trọng công tác hòa giải, đối thoại, hạn chế việc để các vụ án quá thời hạn giải quyết theo quy định; tăng cường phối hợp với các cơ quan liên quan nhằm giải quyết vụ án kịp thời.

Việc xét xử các vụ án hình sự đảm bảo nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; chưa phát hiện trường hợp nào kết án oan người không có tội. Tỷ lệ các bản án, quyết định bị hủy, sửa do nguyên nhân chủ quan hàng năm đều đáp ứng yêu cầu Nghị quyết của Quốc hội.

Tuy nhiên, Chánh án Nguyễn Văn Quảng cũng cho biết việc triển khai thực hiện các yêu cầu mà Nghị quyết của Quốc hội đề ra còn một số tồn tại, hạn chế như tỷ lệ các bản án, quyết định giải quyết các vụ án hành chính bị hủy, sửa còn chưa đạt chỉ tiêu của Quốc hội đề ra; số lượng biên chế chưa đáp ứng yêu cầu; chế độ chính sách, cơ sở vật chất, điều kiện làm việc của các Tòa án còn nhiều khó khăn...

Để đáp ứng yêu cầu Nghị quyết Quốc hội đề ra, Tòa án nhân dân tối cao xác định tiếp tục thực hiện tốt các giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ và nâng cao chất lượng giải quyết, xét xử các loại vụ việc.

Tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, tinh thần trách nhiệm, bản lĩnh chính trị và đạo đức nghề nghiệp cho cán bộ, công chức. Rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan để bảo đảm hoạt động hiệu quả…

Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao Nguyễn Huy Tiến trình bày báo cáo. Ảnh: Quốc hội.

Cũng trong sáng nay, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao Nguyễn Huy Tiến trình bày báo cáo tóm tắt Kết quả thực hiện một số nghị quyết của Quốc hội về giám sát chuyên đề và chất vấn.

Theo Viện trưởng Nguyễn Huy Tiến, Viện Kiểm sát nhân dân các cấp đã tích cực, chủ động phối hợp với cơ quan điều tra xác minh, giải quyết 328 nguồn tin về tội phạm; thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra 211 vụ/798 bị can; đã truy tố và kiểm sát xét xử 141 vụ/655 bị cáo về tội liên quan đến quy hoạch, quản lý, sử dụng đất đai tại đô thị. Đồng thời, tăng cường các biện pháp đảm bảo thu hồi tài sản; đẩy mạnh tuyên truyền pháp luật về đất đai.

Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đã chủ trì, phối hợp với Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao và Bảo hiểm xã hội Việt Nam khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đối với hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp. Theo đó, Viện kiểm sát đã thụ lý, giải quyết 41 vụ/223 bị can; đã truy tố, xét xử 38 vụ/215 bị cáo.

Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Quốc hội chỉ đạo rà soát sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật trong các lĩnh vực quản lý Nhà nước như đất đai, bảo hiểm,… bảo đảm chặt chẽ, đồng bộ; đồng thời, tăng cường giải thích, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật.

-Đỗ Mến

Categories: The Latest News

Tinh giản biên chế: 146,8 nghìn người nghỉ việc theo chế độ

Wed, 12/03/2025 - 14:43
Giai đoạn năm 2022 - 2026, biên chế công chức giảm trên 5%, biên chế sự nghiệp hưởng lương từ ngân sách giảm trên 15%; đến nay có 146,8 nghìn người nghỉ việc theo chính sách, chế độ khi sắp xếp tổ chức bộ máy, đơn vị hành chính các cấp.

Sáng 3/12, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Hoà Bình đã trình bày Báo cáo về kết quả thực hiện 16 Nghị quyết của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XIV và khóa XV về giám sát chuyên đề, chất vấn.

VIỆC SẮP XẾP, TỔ CHỨC BỘ MÁY ĐẠT NHIỀU KẾT QUẢ TÍCH CỰC

Theo Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Hoà Bình, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã tập trung hoàn thiện hệ thống pháp luật, thiết lập cơ sở pháp lý vững chắc để tiếp tục đổi mới tổ chức, hoạt động của Chính phủ, chính quyền địa phương.

Việc thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy các bộ, ngành trung ương đạt nhiều kết quả tích cực. Đồng thời hoàn thiện mô hình tổ chức bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực. Việc triển khai sắp xếp tổ chức các cơ quan chuyên môn ở địa phương bảo đảm tương đồng với việc sắp xếp các bộ, ngành ở Trung ương.

Chính phủ đã ban hành các văn bản quy định về phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền, hướng dẫn để chính quyền địa phương 2 cấp sớm hoạt động ổn định, thống nhất, đáp ứng yêu cầu của người dân và xã hội.

Việc tinh giản biên chế đạt kết quả tích cực, giai đoạn năm 2022 - 2026, biên chế công chức giảm trên 05%, biên chế sự nghiệp hưởng lương từ ngân sách giảm trên 15%.

“Đến nay có 146,8 nghìn người nghỉ việc theo chính sách, chế độ đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và lực lượng vũ trang trong thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy, đơn vị hành chính các cấp”, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Hoà Bình cho biết.

Trình bày nội dung thẩm tra của các cơ quan của Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Dân nguyện và Giám sát Dương Thanh Bình cho rằng việc sắp xếp tổ chức bộ máy đã hoàn thành, bảo đảm hoạt động thông suốt, hiệu lực, hiệu quả. Chế độ, chính sách đối với công chức, viên chức được quan tâm.

Các đại biểu Quốc hội tham dự phiên họp. Ảnh: Quốc hội.

Tuy nhiên, theo ông Dương Thanh Bình, việc sắp xếp tổ chức bộ máy còn gặp vướng mắc. Việc bố trí cán bộ chịu tác động của việc sắp xếp tổ chức bộ máy còn chậm.

BẢO ĐẢM CÔNG TÁC THANH TRA CÓ TRỌNG TÂM, TRỌNG ĐIỂM

Cũng theo Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Hoà Bình, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thường xuyên chỉ đạo quán triệt, triển khai thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội về giám sát chuyên đề, chất vấn trong lĩnh vực thanh tra.

Tập trung xây dựng định hướng chương trình, kế hoạch thanh tra hằng năm bảo đảm có trọng tâm, trọng điểm, đồng thời tăng cường thanh tra trong các lĩnh vực nhạy cảm như xây dựng, đất đai, đầu tư, tài chính, tài sản công...

Qua thanh tra đã kiến nghị xử lý tài chính, thu hồi tài sản cho Nhà nước và chuyển nhiều vụ việc sang cơ quan điều tra; công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực được triển khai đồng bộ.

Bên cạnh đó, Chính phủ xây dựng, trình Quốc hội thông qua Nghị quyết số 70/2024/QH15 về cơ chế, chính sách đặc thù để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đối với các dự án, đất đai trong kết luận thanh tra, kiểm tra, bản án tại một số tỉnh, thành phố.

Đồng thời, tập trung chỉ đạo các bộ, cơ quan liên quan, các địa phương khẩn trương hoàn thành việc giải quyết các khó khăn, vướng mắc đối với các dự án và đạt kết quả tích cực; đã hoàn thành việc xử lý đối với 1.759/2.161 dự án, cơ sở nhà đất, đạt 81.39%.

Chủ nhiệm Ủy ban Dân nguyện và Giám sát Dương Thanh Bình cho biết chính sách, pháp luật về công tác thanh tra được rà soát, hoàn thiện; tổ chức bộ máy các cơ quan thanh tra được sắp xếp, kiện toàn; việc thực hiện kết luận thanh tra có những chuyển biến tích cực; các vụ việc khiếu nại, tố cáo kéo dài, vượt cấp được rà soát, giải quyết, đạt kết quả cao.

Tuy nhiên, việc thực hiện một số kết luận thanh tra còn chưa hiệu quả; vẫn còn một số vụ việc khiếu nại, tố cáo phức tạp chưa được giải quyết; việc tiếp công dân trực tuyến chưa được triển khai rộng rãi tại các địa phương.

Từ đầu năm 2025, các địa phương đã giảm 710 cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (tương ứng giảm 60,4%), giảm 8.289 cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện (giảm 100%).

Thực hiện quy định hiện hành, trên cả nước đã thành lập 466 cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (gồm 12 cơ quan chuyên môn được tổ chức thống nhất ở 34 tỉnh, thành phố và 58 cơ quan chuyên môn đặc thù ở một số địa phương); 9.916 phòng chuyên môn cấp xã được thành lập tại các xã, phường, đặc khu.

-Đỗ Như

Categories: The Latest News

Chính phủ tập trung chỉ đạo rà soát, hoàn thiện khung pháp lý, ổn định kinh tế vĩ mô để thúc đẩy tăng trưởng

Wed, 12/03/2025 - 11:22
Sáng 3/12, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 10, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Hoà Bình trình bày Báo cáo về kết quả thực hiện 16 Nghị quyết của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XIV và khóa XV về giám sát chuyên đề, chất vấn.

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Hoà Bình cho biết trong lĩnh vực tài chính, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã tập trung chỉ đạo rà soát 12 luật và trình Quốc hội thông qua 8 luật về Ngân sách nhà nước, giá, quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp và một số luật thuế chuyên ngành; phê duyệt 108/111 quy hoạch quốc gia và tiếp tục xử lý khó khăn, vướng mắc trong công tác quy hoạch gắn với sắp xếp đơn vị hành chính, tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp.

Kiểm soát chặt chẽ công tác lập dự toán, phân bổ, quản lý sử dụng ngân sách nhà nước, tài sản công. Tập trung rà soát, tổng hợp, phân loại, xây dựng phương án và quyết liệt tháo gỡ vướng mắc cho các dự án tồn đọng kéo dài. Đẩy mạnh hiện đại hóa công tác quản lý thuế, quyết liệt xử lý nợ đọng thuế.

Tập trung hoàn thiện khung khổ pháp lý; thực hiện các giải pháp thúc đẩy phục hồi của thị trường trái phiếu doanh nghiệp; xếp hạng tín nhiệm quốc gia được duy trì ở mức tích cực. Tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại các doanh nghiệp nhà nước. Triển khai tích cực, hiệu quả các cơ chế, chính sách, giải pháp về tài khoá, tiền tệ hỗ trợ Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội; thể chế hóa một số cơ chế, chính sách đặc thù phù hợp.

Quang cảnh phiên họp. Ảnh: Quốc hội.

Theo Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Hoà Bình, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã tập trung chỉ đạo điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả; phối hợp chặt chẽ, đồng bộ với chính sách tài khoá mở rộng hợp lý, có trọng tâm, trọng điểm nhằm góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế.

Tiếp tục rà soát, sửa đổi, hoàn thiện hành lang pháp lý cho các hoạt động ngân hàng, bảo đảm chặt chẽ, hiệu quả, hạn chế rủi ro; thực hiện chuyển giao bắt buộc đối với 3 ngân hàng mua bắt buộc và Ngân hàng Đông Á. Đến cuối tháng 10/2025, tỷ lệ nợ xấu nội bảng được kiểm soát ở mức 1,64%.

Tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống được cải thiện, bảo đảm đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng cho nền kinh tế. Chuyển đổi số trong ngành Ngân hàng, thanh toán không dùng tiền mặt đạt nhiều kết quả tích cực. Triển khai đồng bộ các giải pháp tăng cường quản lý thị trường vàng.

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Hoà Bình cũng nhấn mạnh về lĩnh vực công thương, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành các quyết định về điều chỉnh Quy hoạch điện VIII và kế hoạch thực hiện; cơ chế mua bán điện giữa đơn vị phát điện từ năng lượng tái tạo với khách hàng sử dụng điện; chính sách khuyến khích phát triển nguồn điện áp mái nhà dân, cơ quan, công sở, khu công nghiệp tự sản, tự tiêu.

Các đại biểu tham dự phiên họp. Ảnh: Quốc hội. 

Về lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Kế hoạch cụ thể và chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả nhiều nhiệm vụ, giải pháp, chương trình, đề án liên quan, tạo chuyển biến tích cực.

Về lĩnh vực xây dựng và giao thông vận tải, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tập trung ưu tiên đầu tư các dự án hạ tầng chiến lược, đặc biệt là cao tốc Bắc - Nam phía Đông, các vành đai Hà Nội, TP.HCM và sân bay Long Thành; đưa vào khai thác 2.476 km đường cao tốc, phấn đấu vượt 3.000 km vào cuối năm 2025 và cơ bản thông tuyến đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Đông; đã đưa vào khai thác khoảng 1.397km đường bộ ven biển, phấn đấu hoàn thành vượt 1.700km vào cuối năm 2025.

Về lĩnh vực nội vụ, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo triển khai thực hiện quyết liệt, hiệu quả, cơ bản đáp ứng yêu cầu và đang tiếp tục tập trung triển khai; trong đó, tập trung hoàn thiện hệ thống pháp luật, thiết lập cơ sở pháp lý vững chắc để tiếp tục đổi mới tổ chức, hoạt động của Chính phủ, chính quyền địa phương.

Về công tác dân tộc và các chương trình mục tiêu quốc gia, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương tập trung triển khai 12 nhóm nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, trong đó đã sửa đổi, ban hành nhiều chính sách hỗ trợ vùng đồng bào dân tộc thiểu số về đất ở, đất sản xuất, an sinh xã hội và điều chỉnh phân định các khu vực, xã thôn đặc biệt khó khăn phù hợp thực tế. 

-Như Nguyệt

Categories: The Latest News

Tăng cường kiểm toán chuyên đề, tập trung vào những vấn đề “nóng” cử tri quan tâm

Wed, 12/03/2025 - 11:08
Kiểm toán Nhà nước đã tập trung kiểm toán những vấn đề “nóng” được dư luận xã hội, cử tri quan tâm, những lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro cao, dễ phát sinh tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Sáng 3/12, Tổng Kiểm toán Nhà nước Ngô Văn Tuấn trình bày trước Quốc hội về Báo cáo tóm tắt kết quả việc thực hiện nghị quyết của Quốc hội khóa XIV và khóa XV về giám sát chuyên đề và chất vấn.

Theo ông Ngô Văn Tuấn, Kiểm toán Nhà nước đã nghiêm túc quán triệt, phổ biến và triển khai đồng bộ các giải pháp để tổ chức thực hiện các nhiệm vụ được giao.

TẬP TRUNG KIỂM TOÁN NHỮNG LĨNH VỰC TIỀM ẨN RỦI RO CAO

Báo cáo cho thấy Kiểm toán Nhà nước đã đẩy mạnh cải cách hành chính, đổi mới phương pháp và cách thức tổ chức kiểm toán; ứng dụng công nghệ thông tin trong mọi hoạt động; đặc biệt là sử dụng trí tuệ nhân tạo và phân tích dữ liệu lớn trong công tác kiểm toán.  

Thực hiện nghiêm việc công khai kết quả kiểm toán, danh sách tổ chức, cá nhân chậm hoặc chưa thực hiện kiến nghị kiểm toán; kịp thời đôn đốc, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện kiến nghị kiểm toán.

Kiểm toán Nhà nước cũng phối hợp với Thanh tra Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương trong xử lý chồng chéo giữa hoạt động thanh tra và kiểm toán; cung cấp kịp thời các báo cáo kiểm toán phục vụ công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, điều tra của Quốc hội và các cơ quan có thẩm quyền.

Tổng Kiểm toán Nhà nước Ngô Văn Tuấn trình bày Báo cáo tóm tắt về việc thực hiện một số nghị quyết của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XIV và khóa XV về giám sát chuyên đề, chất vấn. Ảnh: Quốc hội.

Ngoài ra, Kiểm toán Nhà nước tập trung kiểm toán những vấn đề “nóng” được dư luận xã hội, cử tri quan tâm, những lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro cao, dễ phát sinh tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Đồng thời, để tăng cường kiểm toán các nội dung liên quan đến quy hoạch, quản lý và sử dụng đất tại đô thị, Kiểm toán Nhà nước đã lựa chọn các chủ đề kiểm toán tập trung đánh giá công tác quy hoạch, cấp phép xây dựng; việc quản lý, sử dụng nguồn thu từ đất; việc quản lý, sử dụng, sắp xếp lại và xử lý nhà, đất ...

Đặc biệt, Kiểm toán Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn, chỉ đạo thực hiện; yêu cầu qua mỗi cuộc kiểm toán phải xác định rõ hành vi, biểu hiện gây lãng phí, chỉ rõ nguyên nhân chủ quan, khách quan và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có liên quan; đồng thời kiến nghị biện pháp xử lý, khắc phục hậu quả.

VẪN CÒN TÌNH TRẠNG CƠ SỞ NHÀ, ĐẤT BỊ BỎ HOANG

Bên cạnh kết quả đạt được, Tổng Kiểm toán Nhà nước Ngô Văn Tuấn cũng chỉ ra một số tồn tại, hạn chế.

Đặc biệt, trong chi thường xuyên, việc phân bổ dự toán còn chậm, nhiều lần, chưa sát thực tế. Có trường hợp phân bổ khi chưa đủ điều kiện, dẫn đến không giải ngân được, phải hủy dự toán. Có nơi phân bổ vượt định mức; sử dụng kinh phí không đúng mục đích…

Còn trong chi đầu tư phát triển vẫn còn tình trạng bố trí vốn khi chưa đủ điều kiện, không nằm trong kế hoạch đầu tư công trung hạn, phân bổ vượt khả năng thực hiện, hoặc vượt nhu cầu thực tế; tỷ lệ giải ngân thấp, phải điều chỉnh, hủy bỏ kế hoạch vốn; nhiều dự án thiết kế chưa tiết kiệm; thực hiện chậm tiến độ, chậm đưa vào sử dụng làm giảm hiệu quả đầu tư, gây lãng phí nguồn lực.

Các đại biểu tham dự phiên họp. Ảnh: Quốc hội.

Ông Ngô Văn Tuấn cũng cho biết vẫn còn tình trạng cơ sở nhà, đất bị bỏ hoang, sử dụng không đúng mục đích hoặc kém hiệu quả; chậm thực hiện phương án sắp xếp lại, xử lý nhà, đất. Tình trạng lấn chiếm, tranh chấp đất đai, liên doanh, liên kết, cho thuê, cho mượn tài sản không đúng quy định vẫn xảy ra ở nhiều nơi.

Mặt khác, vẫn còn hiện tượng giao đất, cho thuê đất không đúng quy định; sử dụng đất khi chưa có quyết định hoặc hợp đồng thuê đất; chưa kê khai, nộp tiền thuê đất, chưa điều chỉnh đơn giá thuê đất, khi hết thời kỳ ổn định; xác định giá đất, vị trí thửa đất chưa phù hợp; miễn, giảm tiền thuê đất khi chưa đủ hồ sơ, sai đối tượng.

“Kiểm toán Nhà nước đặc biệt chú trọng kiểm soát việc thực thi công vụ, đạo đức nghề nghiệp và quy tắc ứng xử của kiểm toán viên nhà nước nhằm đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong ngành. Tất cả các cuộc kiểm toán đều được kiểm soát chất lượng 100%; đồng thời tổ chức nhiều cuộc thanh tra, kiểm soát trực tiếp tại các đoàn kiểm toán”, ông Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh.

Theo ông Ngô Văn Tuấn, thời gian tới, Kiểm toán Nhà nước tiếp tục đẩy mạnh đổi mới toàn diện về nội dung và phương pháp kiểm toán; chú trọng phát hiện những bất cập của cơ chế, chính sách để kiến nghị hoàn thiện.

Thảo luận tại hội trường, đại biểu Nguyễn Tâm Hùng, Đoàn đại biểu Quốc hội TP.HCM nhấn mạnh báo cáo cho thấy nỗ lực lớn của Kiểm toán Nhà nước trong tăng cường kỷ luật, phòng chống tham nhũng.

Trong năm 2024-2025, Kiểm toán Nhà nước đã chủ động chuyển 7 vụ việc cho cơ quan điều tra, thể hiện rõ tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”. Tuy nhiên, báo cáo cho thấy công tác quản lý sử dụng đất đai, tài sản công còn tồn tại phổ biến, lặp lại qua nhiều năm; hiệu lực kiểm toán chưa tương xứng; tính răn đe của kết quả kiểm toán chưa đủ mạnh.

Từ đó, đại biểu Nguyễn Tâm Hùng kiến nghị cần hoàn thiện pháp luật về kiểm toán Nhà nước; tăng chế tài đối với các đơn vị chậm thực hiện hoặc không thực hiện kết luận kiểm toán; nâng cao hiệu quả phối hợp giữa Kiểm toán Nhà nước, thanh tra, kiểm tra trong chia sẻ dữ liệu…

-Đỗ Mến

Categories: The Latest News

Tổng Bí thư Tô Lâm và Phu nhân kết thúc tốt đẹp chuyến thăm cấp Nhà nước tới Lào

Wed, 12/03/2025 - 10:20
Nhân chuyến thăm, hai bên đã ký một số văn kiện hợp tác quan trọng, tạo hành lang pháp lý, mở ra những định hướng hợp tác mới, phù hợp với yêu cầu phát triển của mỗi nước và lợi ích chung của hai dân tộc, tiếp tục làm sâu sắc hơn mối quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào trong tình hình mới...

Tối 2/12, Tổng Bí thư Tô Lâm và Phu nhân Ngô Phương Ly cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã rời sân bay quốc tế Wattay ở thủ đô Viêng Chăn của Lào, kết thúc tốt đẹp chuyến thăm cấp Nhà nước tới Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, dự Lễ kỷ niệm 50 năm Quốc khánh nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào và đồng chủ trì Cuộc gặp cấp cao giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào theo lời mời của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Chủ tịch nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào Thongloun Sisoulith và Phu nhân từ ngày 1 đến 2/12/2025.

Trong khuôn khổ chuyến thăm, Tổng Bí thư Tô Lâm đã có cuộc hội đàm với Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào Thongloun Sisoulith; hội kiến Thủ tướng Sonexay Siphandone, Chủ tịch Quốc hội Saysomphone Phomvihane; thăm các đồng chí nguyên Lãnh đạo cấp cao của Lào; dự Lễ kỷ niệm 50 năm Quốc khánh; đặt vòng hoa tại Đài tưởng niệm các chiến sỹ vô danh; phát biểu chính sách tại Học viện Chính trị và Hành chính Quốc gia Lào; dự lễ khánh thành Công viên Hữu nghị Lào - Việt Nam và một số hoạt động khác; đồng chủ trì Cuộc gặp cấp cao giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào…

Nhân chuyến thăm, hai bên đã ký một số văn kiện hợp tác quan trọng, tạo hành lang pháp lý, mở ra những định hướng hợp tác mới, phù hợp với yêu cầu phát triển của mỗi nước và lợi ích chung của hai dân tộc, tiếp tục làm sâu sắc hơn mối quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào trong tình hình mới.

Tại các cuộc tiếp xúc, lãnh đạo hai nước đã trao đổi sâu rộng về tình hình mỗi nước. Hai bên nhất trí phát huy hiệu quả các cơ chế hợp tác, đưa quan hệ hai Đảng, hai nước vào chiều sâu thông qua các cơ chế hợp tác hiện có cũng như các chuyến thăm, trao đổi cấp cao dưới các hình thức linh hoạt, thông tin về nền tảng tư tưởng, chính sách chiến lược, trao đổi lý luận, nhất là những vấn đề mới; phối hợp chặt chẽ và hỗ trợ tổ chức tốt các sự kiện quan trọng ở hai nước, trước mắt là Đại hội Đảng của mỗi nước, qua đó tiếp tục khẳng định tầm cao mới của quan hệ chính trị Việt Nam - Lào.

Hai bên nhất trí tiếp tục đẩy mạnh và đổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền, giáo dục về lịch sử truyền thống quan hệ đoàn kết đặc biệt Việt Nam - Lào cho cán bộ, Đảng viên, Nhân dân và thế hệ trẻ hai nước; khơi dậy niềm tự hào, trách nhiệm và ý thức gìn giữ, phát huy mối quan hệ thuỷ chung, trong sáng, gắn kết chiến lược giữa hai Đảng, hai dân tộc.

Trên cơ sở kế thừa và phát huy truyền thống quan hệ đoàn kết đặc biệt, hai bên nhất trí làm sâu sắc hơn quan hệ song phương bằng việc bổ sung nội hàm mới: “Hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện, gắn kết chiến lược”. Đây là sự khẳng định tầm nhìn chung, lợi ích chiến lược đan xen và định hướng đồng hành lâu dài vì mục tiêu phát triển bền vững, tự cường và thịnh vượng chung của hai dân tộc.

Hai bên cũng nhất trí tăng cường kết nối mạnh mẽ về kinh tế, hạ tầng, ngân hàng - tài chính, du lịch; đẩy mạnh thực hiện các hiệp định Hỗ trợ nhau xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, tăng cường trao đổi kinh nghiệm quản lý kinh tế vĩ mô, cải cách thể chế; phối hợp chặt chẽ để giải quyết các điểm nghẽn, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam triển khai hiệu quả và mở rộng các dự án đầu tư tại Lào.

Hai bên thống nhất thúc đẩy mạnh mẽ, tạo đột phá trong hợp tác kinh tế, văn hoá, khoa học - kỹ thuật; nhất trí thúc đẩy kết nối về giao thông vận tải, năng lượng điện, viễn thông, du lịch; tiếp tục nâng cao chất lượng về giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, trong đó chú trọng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao; đẩy mạnh giao lưu nhân dân và giữa các địa phương, coi đây là trụ cột chiến lược góp phần thắt chặt tình cảm gắn bó, củng cố nền tảng đoàn kết bền vững lâu dài giữa hai dân tộc.

Chuyến thăm Lào lần này của Tổng Bí thư Tô Lâm một lần nữa khẳng định đường lối đối ngoại nhất quán của Việt Nam luôn dành ưu tiên cao nhất cho mối quan hệ đoàn kết đặc biệt với Lào. Đây cũng là dịp để hai nước cùng nhau khẳng định quyết tâm xây dựng tầm nhìn mới, đưa quan hệ Việt Nam - Lào lên tầm cao phát triển mới với mức độ tin cậy ngày càng sâu sắc, mở ra những đột phá mạnh mẽ trong hợp tác trên tất cả các lĩnh vực.

-Việt An

Categories: The Latest News

Hà Nội - Moskva tăng tốc hợp tác kinh tế, mở rộng dòng vốn đầu tư công nghệ cao

Wed, 12/03/2025 - 10:11
Diễn đàn Doanh nghiệp Hà Nội - Moskva diễn ra ngày 1/12 tại Hà Nội, thuộc chương trình “Những ngày Moskva tại Hà Nội” và nhân dịp kỷ niệm 75 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Liên bang Nga. Với tinh thần “hữu nghị truyền thống - hợp tác thực chất - phát triển bền vững”, sự kiện tạo xung lực mới thúc đẩy thương mại, đầu tư và mở rộng liên kết kinh tế giữa hai thủ đô.

Theo số liệu mới nhất, kim ngạch thương mại Việt - Nga năm 2024 đạt 4,59 tỷ USD, tăng 26% so với năm 2023. Những chuyển biến tích cực này cho thấy hai nền kinh tế sở hữu khả năng thích ứng tốt và tính bổ trợ cao, đặc biệt trong lĩnh vực công nghiệp - công nghệ và Logistics.

HÀ NỘI ƯU TIÊN THU HÚT DỰ ÁN CÔNG NGHỆ CAO TỪ NGA

Phát biểu tại diễn đàn, Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Nguyễn Mạnh Quyền khẳng định Hà Nội luôn coi trọng và sẵn sàng tạo điều kiện thuận lợi nhất cho doanh nghiệp Nga đầu tư, kinh doanh tại Thủ đô. Thành phố là trung tâm chính trị – hành chính quốc gia, một trong hai đầu tàu kinh tế lớn nhất cả nước với môi trường đầu tư minh bạch, hạ tầng đồng bộ và lực lượng lao động trẻ.

Hiện Hà Nội đã tiếp nhận 167,5 triệu USD vốn FDI từ Nga, tập trung vào công nghiệp chế biến - chế tạo, công nghệ thông tin, dịch vụ lưu trú - thương mại và xây dựng. Tuy chưa tương xứng tiềm năng, đây đang là bước khởi đầu thuận lợi cho giai đoạn hợp tác mới.

Thành phố ưu tiên thu hút công nghệ cao, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo, gồm thiết bị điện tử thông minh, cơ khí chính xác, tự động hóa, công nghệ sinh học, an ninh mạng và dữ liệu số - những lĩnh vực Nga có thế mạnh.

Bên cạnh đó, Hà Nội đề xuất khôi phục và mở thêm đường bay thẳng Hà Nội - Moskva, cải thiện thủ tục xuất nhập khẩu và du lịch, qua đó tăng cường kết nối thương mại - nhân lực - đầu tư hai chiều. Thành phố cũng đặc biệt khuyến khích dự án đầu tư xanh, thân thiện môi trường, có cam kết chuyển giao công nghệ và phát triển nhân lực, phù hợp định hướng phát triển bền vững.

“Hà Nội cam kết hành động với quyết tâm chính trị cao nhất để đồng hành cùng doanh nghiệp Nga trong suốt quá trình hoạt động tại Thủ đô” - ông Nguyễn Mạnh Quyền nhấn mạnh.

MOSKVA KỲ VỌNG MỞ RỘNG HỢP TÁC THƯƠNG MẠI - CÔNG NGHỆ - LOGISTICS

Ông Sergey Cheremin - Bộ trưởng Chính quyền Moskva, Cục trưởng Cục Kinh tế đối ngoại và Quan hệ quốc tế Moskva - nhận định hợp tác giữa hai thủ đô đã phát triển từ truyền thống sang chiều sâu kinh tế - công nghệ, trở thành một trong những mô hình hợp tác liên khu vực hiệu quả nhất của Nga.

Moskva hiện nằm trong tốp đầu châu Âu về thu hút vốn đầu tư với tổng vốn nước ngoài đạt 250 tỷ USD, đồng thời dẫn đầu cả nước về môi trường đầu tư trong 7 năm liên tiếp. Thành phố sở hữu hạ tầng logistics hiện đại, nguồn nhân lực trình độ cao và thế mạnh trong các lĩnh vực hàng không vũ trụ, chế tạo, công nghệ y tế và số hóa đô thị.

Năm 2024, kim ngạch thương mại Moskva - Việt Nam tăng gần 30%, đạt 2,5 tỷ USD, phản ánh xu hướng mở rộng mạnh mẽ thị trường và chuỗi cung ứng. Ngoài thương mại hàng hóa, Moskva mong muốn hợp tác sâu hơn về logistics, cảng hàng không, công nghệ cao và chuyển đổi số - phù hợp với định hướng phát triển kinh tế đô thị của Hà Nội.

Quang cảnh Diễn đàn Doanh nghiệp Nga- Việt

THÚC ĐẨY KẾT NỐI CHÍNH QUYỀN - DOANH NGHIỆP, KỲ VỌNG BỨT PHÁ 2025–2030

Đại diện Đại sứ quán Liên bang Nga tại Việt Nam - Tham tán Công sứ Ivan Nesterov - khẳng định Việt Nam luôn giữ vị trí ưu tiên trong chiến lược mở rộng hợp tác của Nga tại châu Á - Thái Bình Dương. Thương mại hai chiều năm qua tăng hơn 20%, minh chứng cho độ tin cậy chính trị và tốc độ phục hồi kinh tế của hai bên.

Tham tán Ivan Nesterov cho biết Nga kỳ vọng mở rộng hợp tác với Hà Nội trong nhiều lĩnh vực trọng điểm như năng lượng, nhất là chuyển đổi năng lượng và hạt nhân dân dụng; khoa học - công nghệ gắn với đào tạo nhân lực chất lượng cao; sản xuất công nghiệp, trong đó có các dòng xe thương hiệu GAZ; đồng thời phát triển các tuyến logistics mới nhằm giảm chi phí và rủi ro vận chuyển, nâng cao hiệu quả thương mại hai chiều. Hai nước cũng đang tăng cường thanh toán bằng đồng nội tệ, coi đây là bước đi chiến lược để nâng cao tính tự chủ thương mại.

Về phía Hà Nội, các sở, ngành và Trung tâm Xúc tiến Đầu tư - Hỗ trợ doanh nghiệp sẽ đồng hành cùng nhà đầu tư Nga, hỗ trợ thủ tục đầu tư - thuế - tài chính và tổ chức kết nối chuyên đề theo ngành hàng, nâng cao khả năng tiếp cận thị trường.

Với nền tảng 75 năm quan hệ hợp tác tin cậy, cùng định hướng lấy công nghệ và đổi mới sáng tạo làm trọng tâm, hợp tác Hà Nội - Moskva được kỳ vọng bước sang giai đoạn phát triển mới, thực chất và hiệu quả hơn, đóng góp tích cực vào ổn định và thịnh vượng khu vực.

Tác giả-Trọng Hoàng

Categories: The Latest News

Tuyên bố chung Việt Nam-Brunei Darussalam

Tue, 12/02/2025 - 23:32
VnEconomy trân trọng giới thiệu toàn văn Tuyên bố chung Việt Nam-Brunei Darussalam...

Nhận lời mời của Ngài Lương Cường, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Ngài Haji Hassanal Bolkiah Mu'izzaddin Waddaulah, Quốc vương Brunei Darussalam đã thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam từ ngày 30 tháng 11 đến ngày 2 tháng 12 năm 2025.

Trong chuyến thăm, Quốc vương đã dự lễ đón chính thức, hội đàm với Chủ tịch nước Lương Cường, có cuộc gặp với Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Tô Lâm và các cuộc hội kiến với Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn.

Lãnh đạo hai nước ghi nhận những phát triển kinh tế-xã hội ở cả hai nước và bày tỏ vui mừng trước những bước phát triển thực chất và tích cực trong quan hệ song phương kể từ khi nâng cấp quan hệ lên Đối tác Toàn diện năm 2019. Lãnh đạo hai nước nhấn mạnh tầm quan trọng của Chương trình Hành động triển khai quan hệ Đối tác Toàn diện Việt Nam-Brunei Darussalam giai đoạn 2023-2027 và nhất trí phối hợp chặt chẽ nhằm triển khai toàn diện, hiệu quả Chương trình Hành động.

Lãnh đạo hai nước khẳng định cam kết tăng cường hơn nữa hợp tác trên tất cả các lĩnh vực, bao gồm chính trị, quốc phòng - an ninh, thương mại - đầu tư, năng lượng, giáo dục, văn hóa - xã hội, giao lưu nhân dân, và các lĩnh vực khác cùng quan tâm, cũng như hợp tác trong các khuôn khổ đa phương.

HỢP TÁC CHÍNH TRỊ

Lãnh đạo hai nước ghi nhận tầm quan trọng của việc duy trì trao đổi đoàn và tiếp xúc cấp cao trên tất cả các kênh Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội, nhân dân và các địa phương nhằm củng cố tin cậy chính trị và hiểu biết lẫn nhau. Lãnh đạo hai nước nhất trí tổ chức các hoạt động kỷ niệm 35 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam-Brunei Darussalam vào năm 2027. Hai bên công nhận hiệu quả của cơ chế Ủy ban Hỗn hợp về Hợp tác song phương (JCBC) do Bộ trưởng Ngoại giao hai nước đồng chủ trì, cũng như các cơ chế đối thoại và hợp tác chuyên ngành hiện có.

HỢP TÁC QUỐC PHÒNG, AN NINH

Lãnh đạo hai nước ghi nhận kết quả hợp tác tích cực giữa Bộ Quốc phòng và Quân đội hai nước trên các lĩnh vực: triển khai Bản ghi nhớ về Hợp tác Quốc phòng năm 2005 và Bản ghi nhớ về Hợp tác Hải quân năm 2013; thiết lập và duy trì hiệu quả các cơ chế hợp tác giữa các lực lượng quốc phòng của hai nước bao gồm Nhóm làm việc chung về hợp tác quốc phòng; nâng cao năng lực chuyên môn cho cán bộ và quân nhân hai nước thông qua đào tạo và các khóa học chung; thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực an ninh, an toàn hàng hải, công nghiệp quốc phòng, an ninh mạng, chống khủng bố, trao đổi thông tin tình báo; tìm kiếm hợp tác giữa Cảnh sát biển Việt Nam và các cơ quan thực thi pháp luật trên biển của Brunei.

Lãnh đạo hai nước cam kết tiếp tục phối hợp chặt chẽ và ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn quốc phòng đa phương, nhất là trong khuôn khổ ASEAN như Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN (ADMM) và ASEAN mở rộng (ADMM+), Hội nghị Tư lệnh Lực lượng Quốc phòng ASEAN (ACDFM) và Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF).

Lãnh đạo hai nước cũng nhất trí thúc đẩy hợp tác biển giữa các bên, thông qua đối thoại và chia sẻ kinh nghiệm, thông tin, cũng như giải quyết các thách thức an ninh trên biển phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS), nhằm đảm bảo an ninh và an toàn trên biển.

Lãnh đạo hai nước tái khẳng định tầm quan trọng của hợp tác trong lĩnh vực an ninh thông qua chia sẻ thông tin và kinh nghiệm phòng chống tội phạm xuyên quốc gia có tổ chức như buôn lậu ma túy, mua bán người, đưa người di cư trái phép, khủng bố, tội phạm mạng và rửa tiền. Hai bên bày tỏ hài lòng về hợp tác khu vực trong khuôn khổ Hội nghị Bộ trưởng ASEAN về phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia (AMMTC), Hội nghị Tư lệnh Cảnh sát các nước ASEAN (ASEANPOL) và Hội nghị Cộng đồng Tình báo ASEAN (AICC).

Lãnh đạo hai nước hoan nghênh hợp tác an ninh đạt tiến triển mới trong khuôn khổ song phương và ASEAN. Lãnh đạo hai nước cũng hoan nghênh việc tổ chức Lễ mở ký Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm mạng tại Hà Nội và nhất trí điều chỉnh các thủ tục nội bộ để phê chuẩn Công ước, góp phần sớm đưa Công ước có hiệu lực.

HỢP TÁC KINH TẾ

Về thương mại, lãnh đạo hai nước hài lòng việc hoàn thành trước thời hạn mục tiêu kim ngạch thương mại song phương đạt 500 triệu USD năm 2025, và nhất trí phối hợp chặt chẽ để tăng gấp đôi kim ngạch thương mại hai chiều đến năm 2035 trên cơ sở đa dạng hóa sản phẩm xuất nhập khẩu và hướng tới cân bằng cán cân thương mại.

Lãnh đạo hai nước nhất trí thúc đẩy xúc tiến thương mại và khuyến khích các doanh nghiệp và hiệp hội doanh nghiệp hai nước đẩy mạnh trao đổi, bao gồm tăng cường liên kết và hợp tác trong các sản phẩm nông lâm thủy sản. Lãnh đạo hai nước cũng nhất trí tìm kiếm các biện pháp tạo thuận lợi cho thương mại song phương, bao gồm cải thiện thủ tục hải quan và tận dụng các FTA mà hai bên là thành viên. 

Về đầu tư, Việt Nam tái khẳng định cam kết tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư từ Brunei Darussalam thông qua Cơ quan Đầu tư Brunei (BIA), các tổ chức và nhà đầu tư Brunei khác vào các dự án phát triển Trung tâm Tài chính quốc tế. Brunei Darussalam hoan nghênh và mở rộng hỗ trợ cho các nhà đầu tư Việt Nam mở rộng hoạt động kinh doanh tại Brunei Darussalam, đặc biệt là trong các lĩnh vực gắn với các mục tiêu và ưu tiên của Tầm nhìn phát triển đất nước đến năm 2023 (Wawasan 2035).

Về kinh tế số, lãnh đạo hai nước nhất trí thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực mới như kinh tế số, chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn thông qua việc chia sẻ thực tiễn thành công, tăng cường năng lực, khuyến khích hợp tác giữa các cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp có liên quan và thành lập các cơ chế hợp tác nghiên cứu giữa các viện và trường đại học.

Về hợp tác Halal, lãnh đạo hai nước nhận thấy tiềm năng hợp tác to lớn trong ngành công nghiệp Halal, bao gồm thúc đẩy hợp tác giữa các cơ quan chứng nhận Halal của hai nước, hướng tới việc công nhận lẫn nhau chứng nhận Halal. Việt Nam khuyến khích các doanh nghiệp Brunei đầu tư xây dựng khu công nghiệp Halal, phát triển các dự án sản xuất thực phẩm và sản phẩm Halal tại Việt Nam. Brunei Darussalam khuyến khích các doanh nghiệp và địa phương Việt Nam hợp tác với các đối tác Brunei trong hoạt động sản xuất và chế biến thực phẩm đáp ứng tiêu chuẩn Halal cho thị trường nội địa hai nước và xuất khẩu sang nước thứ ba. 

Về nông nghiệp và thủy sản, lãnh đạo hai nước nhất trí tăng cường hợp tác nông nghiệp, thủy sản và an ninh lương thực bằng việc khuyến khích các doanh nghiệp, trường đại học và cơ sở nghiên cứu đẩy mạnh trao đổi, nghiên cứu hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp, thủy sản và an ninh lương thực. Brunei Darussalam cam kết tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam mở rộng đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, thủy sản và an ninh lương thực bằng cách tăng cường hợp tác với các doanh nghiệp và đối tác trên cơ sở cùng có lợi, hướng tới việc đảm bảo sự phục hồi của chuỗi cung ứng lương thực khu vực. 

Tổng Bí thư Tô Lâm tiếp Quốc vương Brunei Haji Hassanal Bolkiah. Ảnh: TTXVN.

Lãnh đạo hai nước nhất trí tăng cường trao đổi thông tin và hợp tác để giải quyết vấn đề khai thác thủy sản trái phép, không báo cáo và không theo quy định (IUU). Brunei Darussalam ghi nhận và đánh giá cao những nỗ lực của Việt Nam trong việc tăng cường quản lý nghề cá và các hoạt động bền vững, và mong đợi những diễn biến tích cực tại Việt Nam trong quá trình hợp tác với Ủy ban châu Âu.

HỢP TÁC NĂNG LƯỢNG

Lãnh đạo hai nước hoan nghênh các công ty năng lượng của hai bên hợp tác trên cơ sở thương mại trong lĩnh vực dầu khí, phù hợp với luật pháp quốc tế và các nguyên tắc tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng và cùng có lợi. Lãnh đạo hai nước hoan nghênh các doanh nghiệp hai bên, đặc biệt là Tập đoàn Công nghiệp-Năng lượng Quốc gia Việt Nam (PVN) và Công ty Dịch vụ và Thương mại Năng lượng Brunei (BEST) tăng cường tham gia và đẩy mạnh hợp tác thương mại và dịch vụ dầu khí, trong các dự án trung nguồn và hạ nguồn; khuyến khích tiềm năng hợp tác trên nhiều lĩnh vực khác nhau của ngành công nghiệp dầu khí và hoan nghênh các cơ quan liên quan tiếp tục tiến hành trao đổi. 

Brunei Darussalam đánh giá cao đóng góp tích cực của Tổng Công ty Cổ phần Khoan và Dịch vụ khoan Dầu khí (PV Drilling) trong việc cung cấp dịch vụ khoan cho ngành dầu khí của Brunei Darussalam, đặc biệt trong lĩnh vực thượng nguồn. Hai bên khuyến khích PV Drilling và các đối tác tại Brunei Darussalam tiếp tục mở rộng hợp tác trong việc cung cấp khoan và giếng khoan, và khẳng định sự ủng hộ của hai bên trong việc tạo điều kiện thuận lợi cho các quá trình khi cần thiết.

Lãnh đạo hai nước nhất trí tăng cường hơn nữa hợp tác mở rộng sang lĩnh vực chuyển đổi năng lượng, thông qua trao đổi chuyên gia, đào tạo và nâng cao năng lực, tăng cường hợp tác kinh doanh và đầu tư, cũng như cân nhắc lẫn nhau các dịch vụ và cơ hội giữa hai nước.

GIAO LƯU NHÂN DÂN

Lãnh đạo hai nước nhất trí tăng cường hợp tác giữa các cơ sở giáo dục thông qua trao đổi sinh viên và giáo viên, các chương trình nghiên cứu và đào tạo chung, các hoạt động văn hóa và thực tập. Lãnh đạo hai nước cũng hoan nghênh các khóa học tiếng Việt tại trường Đại học Brunei Darussalam (UBD) hướng tới việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau và quan hệ giữa người với người mạnh mẽ hơn.

Lãnh đạo hai nước cũng nhất trí thúc đẩy liên kết thông qua các hoạt động thể thao và văn hóa, các sự kiện du lịch khu vực và quốc tế và các hoạt động quảng bá. Lãnh đạo hai nước nhất trí về tiềm năng tăng cường kết nối hàng không, góp phần vào mục tiêu chung đẩy mạnh hợp tác thực chất và làm sâu sắc hơn giao lưu nhân dân.

Lãnh đạo hai nước nhất trí thúc đẩy hợp tác trên kênh nghị viện và tiếp tục phối hợp chặt chẽ tại các diễn đàn liên nghị viện đa phương, nhất là về các vấn đề khu vực và quốc tế cùng quan tâm. Hai bên xem xét thành lập Hội Hữu nghị Việt Nam-Brunei Darussalam và Hội Hữu nghị Brunei Darussalam-Việt Nam khi đủ điều kiện.

CÁC VẤN ĐỀ KHU VỰC VÀ QUỐC TẾ

Lãnh đạo hai nước nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì chủ nghĩa đa phương và trật tự quốc tế dựa trên luật lệ trên các nguyên tắc quy định trong Hiến chương Liên hợp quốc và trên cơ sở luật pháp quốc tế nhằm duy trì hòa bình, an ninh và thịnh vượng, cũng như phát triển bền vững. Về vấn đề này, Lãnh đạo hai nước bày tỏ hài lòng trước sự hợp tác tốt đẹp và tham vấn chặt chẽ giữa hai nước tại các diễn đàn khu vực và quốc tế, nhất là trong ASEAN và các cơ chế do ASEAN dẫn dắt, Liên hợp quốc, Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC) và Phong trào Không liên kết (NAM). 

Lãnh đạo hai nước nhất trí thúc đẩy hợp tác nhằm đạt được các kết quả có lợi từ việc tham gia các hiệp định thương mại tự do như Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP), Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định Thương mại Hàng hóa ASEAN (ATIGA).

Lãnh đạo hai nước nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tăng cường vai trò trung tâm và thống nhất của ASEAN, cam kết tăng cường phối hợp thúc đẩy tiến trình xây dựng Cộng đồng ASEAN, triển khai hiệu quả Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2045 và các kế hoạch chiến lược, mở rộng và làm sâu sắc hợp tác ASEAN và giữa ASEAN với các đối tác, đặc biệt trong các lĩnh vực thuộc quan tâm chung như thương mại, đầu tư, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, khoa học công nghệ, ứng phó biến đổi khí hậu, kết nối, an ninh lương thực, nguồn nước và năng lượng.

Lãnh đạo hai nước nhấn mạnh vai trò quan trọng và bổ trợ của phát triển tiểu vùng đối với tiến trình hội nhập khu vực và xây dựng Cộng đồng ASEAN, đặc biệt trong lĩnh vực tăng cường hội nhập kinh tế và thu hẹp khoảng cách phát triển. Lãnh đạo hai nước cam kết thúc đẩy phát triển bền vững, bao trùm và đồng đều trong Cộng đồng ASEAN thông qua gắn kết tăng trưởng tiểu vùng với phát triển chung của ASEAN và tăng cường quan hệ giữa ASEAN với các khuôn khổ hợp tác tiểu vùng.

Lãnh đạo hai nước nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tuân thủ luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS) đặt ra khuôn khổ pháp lý trong đó mọi hoạt động trên đại dương và biển phải được thực hiện. Hai bên tái khẳng định việc duy trì hòa bình, an ninh, ổn định, an toàn và tự do hàng hải và hàng không trên Biển Đông và nhận ra lợi ích của việc có Biển Đông như một vùng biển hòa bình, ổn định và thịnh vượng. Lãnh đạo hai nước nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tự kiềm chế và phi quân sự hóa, và kiềm chế các hành động có thể làm phức tạp thêm tình hình và leo thang căng thẳng tại Biển Đông. Hai bên cam kết ủng hộ giải quyết hòa bình các tranh chấp, trong đó có việc tôn trọng đầy đủ các tiến trình ngoại giao và pháp lý, không đe dọa hoặc sử dụng vũ lực, phù hợp với luật pháp quốc tế, bao gồm UNCLOS 1982.

Thủ tướng Phạm Minh Chính hội kiến Quốc vương Brunei Darussalam Haji Hassanal Bolkiah. Ảnh: TTXVN.

Lãnh đạo hai nước nhấn mạnh tầm quan trọng tất cả các quốc gia liên quan trong việc thúc đẩy một môi trường yên bình, hòa bình và thuận lợi, với mục đích xây dựng lòng tin và tăng cường sự tin cậy lẫn nhau tại khu vực. Về việc này, Lãnh đạo hai nước tái khẳng định tầm quan trọng của việc thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố năm 2002 về Ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), và mong đợi sớm đạt được một Bộ Quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC) hiệu lực, thực chất phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982.

Trong khuôn khổ chuyến thăm, hai bên đã ký kết các văn kiện sau:

- Bản ghi nhớ (MOU) giữa Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Vương quốc Brunei Darussalam về Hợp tác biển.

- MOU giữa Bộ Nông nghiệp và Môi trường nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Tài nguyên Cơ bản và Du lịch Vương quốc Brunei Darussalam về Hợp tác sử dụng đường dây nóng để trao đổi thông tin về khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định.

- MOU giữa Bộ Nông nghiệp và Môi trường nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Tài nguyên Cơ bản và Du lịch Vương quốc Brunei Darussalam về Hợp tác trong lĩnh vực thủy sản.

Lãnh đạo hai nước bày tỏ hài lòng về cuộc trao đổi cởi mở, thẳng thắn trên tinh thần hữu nghị và hiểu biết lẫn nhau và mong muốn tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực hai bên cùng quan tâm. Quốc vương cảm ơn sự đón tiếp nồng nhiệt và chu đáo mà các Lãnh đạo và nhân dân Việt Nam đã dành cho đoàn Brunei Darussalam trong suốt chuyến thăm và trân trọng mời các Lãnh đạo Việt Nam sang thăm Brunei Darussalam vào thời gian thích hợp.

-

Categories: The Latest News

Tuyên bố chung Việt Nam – Lào: Gắn kết chiến lược, nâng tầm hợp tác toàn diện

Tue, 12/02/2025 - 23:29
Chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng Bí thư Tô Lâm tới Lào và Tuyên bố chung Việt Nam – Lào khẳng định tầm cao mới của quan hệ “hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện, gắn kết chiến lược”, mở ra định hướng đồng hành lâu dài vì ổn định và phát triển bền vững.

Trong khuôn khổ chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Tô Lâm và Phu nhân cùng Đoàn đại biểu cấp cao Đảng, Nhà nước Việt Nam tới Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, dự Lễ kỷ niệm 50 năm Quốc khánh Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào và đồng chủ trì Cuộc gặp cấp cao giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào tại thủ đô Viêng Chăn, hai bên đã ra tuyên bố chung.

LÀM SÂU SẮC QUAN HỆ “HỮU NGHỊ VĨ ĐẠI, ĐOÀN KẾT ĐẶC BIỆT, HỢP TÁC TOÀN DIỆN, GẮN KẾT CHIẾN LƯỢC”

Trong bầu không khí hữu nghị, đoàn kết đặc biệt và tin cậy sâu sắc, lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai Nhà nước đã trao đổi toàn diện về tình hình mỗi nước, quan hệ song phương và các vấn đề khu vực, quốc tế cùng quan tâm.

Hai bên đánh giá cao những thành tựu phát triển của mỗi nước, nhấn mạnh vai trò của việc chia sẻ kinh nghiệm, tham khảo các chính sách đột phá trong công tác xây dựng Đảng, phòng chống tham nhũng, phát triển kinh tế, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, đào tạo nhân lực và hoàn thiện tổ chức bộ máy.

Tổng Bí thư Tô Lâm và các đại biểu Việt Nam tại cuộc gặp cấp cao giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào. Ảnh: TTXVN

Hai bên đánh giá cao việc thời gian qua đã duy trì thường xuyên các chuyến thăm, các cuộc gặp gỡ, tiếp xúc giữa lãnh đạo cấp cao, bằng nhiều hình thức linh hoạt, đổi mới; phát huy tốt và vận hành hiệu quả các cơ chế hợp tác hiện có, đồng thời chủ động thiết lập, hoàn thiện nhiều cơ chế đặc thù, cơ chế tham vấn chính sách chiến lược, phối hợp cử Tổ chuyên gia của Việt Nam sang Lào trao đổi kinh nghiệm nhằm kịp thời tháo gỡ khó khăn; phối hợp định hướng trong những vấn đề lớn liên quan đến an ninh, phát triển và hội nhập của mỗi nước, đã góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả hợp tác ở tất cả các cấp, các lĩnh vực.

Hai bên khẳng định nhất quán gìn giữ và phát huy mối quan hệ đặc biệt do Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch Kaysone Phomvihane và Chủ tịch Souphanouvong đặt nền móng; xác định gắn kết chiến lược là động lực quan trọng đưa hợp tác đi vào chiều sâu, đặc biệt trong tầm nhìn phát triển, chiến lược quốc gia, cơ sở hạ tầng, giáo dục – đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.

Hai bên tái khẳng định quan hệ Việt Nam – Lào luôn là ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của mỗi nước; là điểm tựa chiến lược cho ổn định, phát triển và hội nhập; là mối quan hệ mẫu mực và là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng ở mỗi quốc gia. Hai bên thống nhất hướng tới các mục tiêu phát triển dài hạn, bao gồm phấn đấu đến năm 2045 Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao và đến năm 2055 Lào trở thành nước có thu nhập trung bình cao.

TĂNG CƯỜNG HỢP TÁC QUỐC PHÒNG – AN NINH VÀ ĐỘT PHÁ CHIẾN LƯỢC TRONG KINH TẾ, HẠ TẦNG

Hai bên tiếp tục nhấn mạnh vai trò trụ cột của hợp tác quốc phòng – an ninh, thống nhất phối hợp chặt chẽ bảo đảm an ninh chính trị, trật tự xã hội, bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của mỗi nước.

Hai bên cam kết triển khai hiệu quả các hiệp định, nghị định thư hợp tác; xây dựng tuyến biên giới hòa bình, ổn định, hữu nghị; phối hợp phòng chống tội phạm xuyên biên giới, đặc biệt là ma túy và tội phạm mạng. Hai bên cũng tiếp tục phối hợp tìm kiếm, quy tập và hồi hương hài cốt quân tình nguyện, chuyên gia Việt Nam hy sinh tại Lào.

Toàn cảnh Cuộc gặp cấp cao giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào.

Về hợp tác kinh tế, hai bên thống nhất tạo bước chuyển mang tính đột phá chiến lược, đưa kinh tế – thương mại – đầu tư trở thành trụ cột gắn kết chiến lược mới. Việc đưa Cảng số 3 – Cảng quốc tế Lào – Việt vào sử dụng là biểu tượng quan trọng của kết nối không gian phát triển, gắn với tầm nhìn “đưa Lào ra biển”. Hai bên quyết tâm đẩy nhanh các dự án chiến lược như đường sắt Viêng Chăn – Vũng Áng, các dự án truyền tải điện, hợp tác năng lượng – khoáng sản và nghiên cứu xây dựng kho xăng dầu chiến lược tại biên giới.

Hai bên nhất trí ưu tiên xây dựng tuyến cao tốc Hà Nội – Viêng Chăn; phía Việt Nam sẽ khởi công đoạn Vinh – Thanh Thủy từ đầu năm 2026, phía Lào triển khai tuyến Viêng Chăn – Thanh Thủy, hướng tới thông tuyến hoàn chỉnh trong thời gian sớm nhất.

Ngoài ra, hai bên đồng thuận tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, năng lượng tái tạo, logistics, viễn thông, du lịch; thúc đẩy mô hình Khu công nghiệp Việt Nam – Lào và kinh tế cửa khẩu trên hành lang Đông – Tây; phấn đấu nâng kim ngạch thương mại song phương lên 5 tỷ USD trong thời gian tới.

Về giáo dục – đào tạo, hai bên coi trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; tiếp tục triển khai Nghị định thư hợp tác đào tạo 2022–2027 và Đề án hợp tác giáo dục 2021–2030; thúc đẩy dạy và học tiếng Việt tại Lào, nghiên cứu đưa tiếng Lào vào các cơ sở giáo dục của Việt Nam; mở rộng các chương trình tập huấn, bồi dưỡng cán bộ cấp chiến lược.

Hai bên cũng nhất trí tăng cường hợp tác văn hóa, truyền thông, giao lưu nhân dân, tổ chức các hoạt động hướng tới Năm đoàn kết Việt Nam – Lào 2027; phối hợp bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử gắn với quan hệ đặc biệt giữa hai dân tộc.

Trong thời gian chuyến thăm, Tổng Bí thư Tô Lâm đã có cuộc hội đàm với Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào Thongloun Sisoulith; hội kiến với Thủ tướng Chính phủ Lào Sonexay Siphandone, Chủ tịch Quốc hội Lào Xaysomphone Phomvihane; dự Lễ kỷ niệm 50 năm Quốc khánh nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào; đồng chủ trì Cuộc gặp cấp cao giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào; đặt vòng hoa tại Đài tưởng niệm Liệt sĩ vô danh; tham dự Lễ khánh thành Công viên hữu nghị Lào - Việt Nam; thăm các đồng chí nguyên Lãnh đạo cấp cao Đảng, Nhà nước Lào; phát biểu chính sách tại Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Lào và tham gia một số hoạt động khác tại Lào.

-Hà Lê

Categories: The Latest News

Pages