The Latest News
Chính sách nhà ở xã hội cần thiết kế phù hợp với từng nhóm người có công
Tại hội thảo “Chính sách về Nhà ở xã hội đối với người có công” do Hiệp hội Doanh nghiệp của Thương binh và Người khuyết tật Việt Nam phối hợp với Tạp chí điện tử Hòa Nhập tổ chức, các chuyên gia nhận định những năm gần đây, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chương trình hỗ trợ nhà ở cho người có công. Trong đó, nhà ở xã hội được xác định là một giải pháp trọng tâm. Luật Nhà ở 2023 và các văn bản hướng dẫn cũng mở rộng đối tượng thụ hưởng, đơn giản hóa điều kiện, đồng thời tăng cường trách nhiệm của địa phương trong bố trí quỹ đất và tổ chức thực hiện.
Tuy nhiên, cùng với những chuyển động tích cực về mặt chính sách, quá trình triển khai vẫn đặt ra không ít vấn đề cần tiếp tục được nhìn nhận và tháo gỡ.
NỀN TẢNG GIÚP ỔN ĐỊNH CUỘC SỐNG
Thực tế triển khai cho thấy số lượng dự án nhà ở xã hội dành riêng cho người có công còn khiêm tốn; thủ tục đầu tư kéo dài; nguồn vốn ưu đãi khó tiếp cận; nhiều địa phương lúng túng khi xác định mô hình phù hợp…, vì thế, khoảng cách giữa chính sách và đời sống vẫn chưa được thu hẹp như kỳ vọng.
Phát biểu tại hội nghị, ông Nguyễn Văn Quỳnh, Phó Chủ tịch thường trực Hiệp hội Doanh nghiệp của thương binh và người khuyết tật Việt Nam đánh giá hiện nay, chủ trương của Trung ương đã rất mở, thoáng, doanh nghiệp cũng quyết tâm, nhưng thực tế khi xuống đến khâu thực thi cơ sở thì lại gặp khó khăn, khiến kết quả chưa đạt như kỳ vọng.
Chăm lo nhà ở cho người có công là trách nhiệm và nghĩa vụ của Nhà nước, của toàn xã hội đối với những người đã hy sinh, cống hiến cho đất nước. Ông Trần Hồng Quảng, Hiệp hội Doanh nghiệp của thương binh và người khuyết tật Việt Nam.Đồng quan điểm, TS. Phạm Gia Yên, Nguyên Chánh Thanh tra Bộ Xây dựng cho rằng những vướng mắc lớn nhất hiện nay không nằm ở thiếu chủ trương, mà ở khâu tổ chức thực hiện. Chính sách dù đúng và nhân văn đến đâu, nếu thủ tục rườm rà, phân cấp không rõ ràng, trách nhiệm không gắn với người đứng đầu thì rất khó phát huy hiệu quả.
Ông cũng chỉ ra rằng nhiều dự án nhà ở xã hội bị kéo dài do quy trình lựa chọn chủ đầu tư, xác định giá đất, thẩm định thiết kế còn chồng chéo. TS. Phạm Gia Yên ủng hộ các cơ chế mới như: chỉ định nhà đầu tư đủ năng lực, cho phép liên doanh, liên kết linh hoạt hơn, đồng thời tăng cường hậu kiểm thay vì tiền kiểm quá nặng nề. Tuy nhiên, theo ông, nhà ở xã hội cho người có công không nên chỉ nhấn mạnh yếu tố giá rẻ, mà phải đặt chất lượng sống làm tiêu chí trung tâm, nhất là với các đối tượng là thương binh nặng, người cao tuổi, người khuyết tật.
Bên cạnh đó, từ phía doanh nghiệp, nhiều ý kiến nhận xét mức lợi nhuận thấp trong khi rủi ro pháp lý cao đang khiến không ít nhà đầu tư e dè với nhà ở xã hội. Ngay cả các doanh nghiệp của thương binh, người khuyết tật – lực lượng rất phù hợp để tham gia lĩnh vực này cũng gặp khó trong tiếp cận đất đai và tín dụng.
PHÙ HỢP VỚI ĐIỀU KIỆN THỰC TẾ
Theo ông Trần Hồng Quảng, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp của thương binh và người khuyết tật Việt Nam, nhà ở không chỉ là nơi cư trú mà còn là nền tảng để người có công ổn định cuộc sống, tiếp tục lao động, sản xuất và hòa nhập xã hội. “Chăm lo nhà ở cho người có công không phải là sự hỗ trợ mang tính ban phát, mà là trách nhiệm và nghĩa vụ của Nhà nước, của toàn xã hội đối với những người đã hy sinh, cống hiến cho đất nước”, ông Quảng khẳng định.
Ông Trần Hồng Quảng, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp của thương binh và người khuyết tật Việt Nam. Ảnh: TCĐTHNÔng cho rằng chính sách nhà ở xã hội hiện nay cần được thiết kế linh hoạt hơn, phù hợp với điều kiện thực tế của từng nhóm người có công. Bên cạnh việc xây dựng các khu nhà ở xã hội tập trung, Nhà nước cần có cơ chế hỗ trợ cải tạo, xây mới nhà ở trên chính đất ở hiện có, nhất là tại khu vực nông thôn và vùng ven đô – nơi nhiều gia đình người có công đang sinh sống.
Đồng quan điểm, TS. Phạm Gia Yên đánh giá hoàn thiện chính sách nhà ở xã hội cho người có công là bài toán tổng hợp, đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa Trung ương và địa phương, giữa Nhà nước – doanh nghiệp – xã hội. Luật Nhà ở mới đã mở ra cơ hội nhưng cần quyết tâm và năng lực thực thi.
Đối với nhà ở xã hội dành cho người có công, phải có cơ chế phù hợp, phát huy vai trò của các tổ chức đại diện, đồng thời bảo đảm việc đầu tư, xây dựng đúng đối tượng, đúng mục tiêu chính sách. Chỉ khi chính sách sát với thực tiễn cuộc sống của người có công, được triển khai minh bạch, thực chất và có trách nhiệm, thì những căn nhà xã hội mới thực sự trở thành mái ấm đúng nghĩa – nơi thể hiện trọn vẹn đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc.
Ông kỳ vọng với sự chỉ đạo quyết liệt của Đảng, Nhà nước, trong giai đoạn 2026 - 2030, các dự án nhà ở xã hội sẽ được triển khai bài bản, hiệu quả hơn, từng bước đáp ứng yêu cầu an sinh xã hội một cách căn cơ, thực chất.
-Thanh Xuân
Ninh Bình: Khởi công dự án hơn 1.000 tỷ đồng tại Khu Đại học Nam Cao
Khu Đại học Nam Cao được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1748/QĐ-TTg ngày 27/9/2013, với diện tích khoảng 754 ha, quy mô đào tạo bình quân khoảng 50.000 sinh viên, nhằm đáp ứng nhu cầu nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực cho vùng đồng bằng sông Hồng và vùng Thủ đô Hà Nội.
Các đại biểu tham dự buổi lễ. Ảnh: Lê DũngDự án xây dựng cơ sở đào tạo của Học viện Ngân hàng đã được UBND tỉnh Hà Nam (trước đây) phê duyệt chủ trương đầu tư và được UBND tỉnh Ninh Bình phê duyệt dự án. Dự án có diện tích khoảng 21,36 ha, gồm các hạng mục chính như nhà hiệu bộ, giảng đường, thư viện và trung tâm công nghệ thông tin, hội trường, ký túc xá sinh viên, nhà đa năng, cùng hệ thống hạ tầng kỹ thuật, cảnh quan, khu giáo dục thể chất và quốc phòng.
Mục tiêu của dự án là xây dựng cơ sở đào tạo Học viện Ngân hàng tại Ninh Bình đạt chuẩn quốc gia và quốc tế, đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng, với quy mô khoảng 6.500 sinh viên. Thời gian thực hiện dự án từ năm 2025 đến năm 2028.
Phối cảnh dự ánĐến nay, Ban Quản lý Khu Đại học Nam Cao và Khu Công nghệ cao tỉnh đã hoàn thành các thủ tục theo quy định, lựa chọn xong nhà thầu thi công xây dựng và tư vấn giám sát. Dự án đủ điều kiện để triển khai thi công.
Phát biểu tại lễ khởi công, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh Ninh Bình Lê Xuân Huy yêu cầu chủ đầu tư đẩy nhanh tiến độ, chỉ đạo nhà thầu huy động tối đa nhân lực, thiết bị để thi công đúng thiết kế, bảo đảm chất lượng và tuyệt đối an toàn. Các sở, ban, ngành, phường Hà Nam và đơn vị liên quan được đề nghị phối hợp chặt chẽ trong quá trình triển khai; các nhà thầu tập trung nguồn lực, bảo đảm tiến độ, an toàn, vệ sinh môi trường và giao thông khu vực.
Lãnh đạo tỉnh cũng đề nghị Học viện Ngân hàng chủ động phối hợp với chủ đầu tư trong tổ chức không gian, công năng sử dụng công trình; sớm xây dựng kế hoạch đào tạo để khai thác hiệu quả cơ sở sau khi dự án hoàn thành, tránh lãng phí nguồn lực đầu tư.
-Nguyễn Thuấn
Chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam: Từ chính sách tới thực tiễn
Trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế Việt Nam năm 2025, triển vọng năm 2026, sáng ngày 16/12/2025 đã diễn ra phiên chuyên đề Kinh tế tuần hoàn “Thúc đẩy chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao và phát triển bền vững”.
Tại phiên chuyên đề, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Lê Công Thành đã có bài phát biểu đề dẫn “Chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam: Từ chính sách tới thực tiễn”. Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy xin đăng tải nội dung bài phát biểu của Thứ trưởng Lê Công Thành.
Trong bối cảnh đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển mới, việc hợp nhất Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn với Bộ Tài nguyên và Môi trường theo Nghị định số 35/2025/NĐ-CP của Chính phủ là một bước điều chỉnh hết sức quan trọng trong tổ chức bộ máy. Sự thay đổi này không chỉ nhằm tinh gọn hệ thống quản lý, mà còn thể hiện định hướng chuyển từ cách tiếp cận quản lý theo ngành sang phương thức quản trị tổng hợp theo không gian sinh thái, gắn kết giữa đất, nước, rừng, biển, khoáng sản và khí hậu.
Đây sẽ là nền tảng để tăng cường hiệu quả phối hợp chính sách và thúc đẩy mục tiêu phát triển kinh tế xanh, sinh thái và bền vững, hướng tới sự hài hòa giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của phát triển kinh tế xanh, tuần hoàn, Việt Nam đã xây dựng được định hướng khá toàn diện trên các cấp độ. Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050 cùng với Luật Bảo vệ môi trường đã đặt nền móng vững chắc cho tiến trình này. Chính phủ đã ban hành Nghị định số 08/2022/NĐ-CP và sau đó là Nghị định số 05/2025/NĐ-CP, cụ thể hóa nhiều quy định về kinh tế tuần hoàn, quản lý chất thải, mua sắm xanh và phát triển ngành công nghiệp môi trường.
KIẾN TẠO THỂ CHẾ CHO CHUYỂN ĐỔI XANH
Chúng ta cũng đã có những bước tiến mạnh mẽ trong việc hoàn thiện hành lang pháp lý về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính. Nghị định số 06/2022/NĐ-CP và mới đây là Nghị định số 119/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung đã quy định rõ về phát triển thị trường carbon, tạo cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ carbon trong nước và quốc tế.
Bên cạnh đó, Đề án Thành lập và phát triển thị trường carbon tại Việt Nam được phê duyệt tại Quyết định số 232/QĐ-TTg đã lồng ghép kinh tế xanh vào quá trình hoàn thiện các luật liên quan như Luật Tài nguyên nước, Luật Đất đai 2024. Đây là những tiền đề pháp lý quan trọng để hình thành và vận hành thị trường carbon tại Việt Nam phù hợp theo thông lệ quốc tế.
Một dấu mốc quan trọng khác là việc ban hành Tiêu chí môi trường và việc xác nhận dự án đầu tư thuộc danh mục phân loại xanh tại Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Theo đó, 45 loại hình dự án đầu tư được phân loại thành 7 nhóm, bao quát từ năng lượng, giao thông, nông nghiệp đến xử lý chất thải. Quyết định này có ý nghĩa đặc biệt trong việc định hướng và điều phối dòng vốn vào các dự án thân thiện với môi trường, tạo khung tham chiếu quan trọng cho các tổ chức tín dụng, nhà đầu tư và cơ quan quản lý.
Chuyển đổi xanh và kinh tế tuần hoàn không chỉ là xu hướng tất yếu mà còn là con đường duy nhất để chúng ta phát triển bền vững, bảo đảm hài hòa giữa lợi ích kinh tế và các giá trị sinh thái.Việt Nam là một trong những quốc gia tiên phong tại ASEAN ban hành Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện kinh tế tuần hoàn đến năm 2035 tại Quyết định số 222/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Kế hoạch này xác định rõ 10 nhóm ngành, lĩnh vực ưu tiên, đưa ra các nhiệm vụ và giải pháp cụ thể để hiện thực hóa mô hình kinh tế tuần hoàn.
Song song với đó, trong lĩnh vực nông nghiệp, Thủ tướng Chính phủ cũng đã phê duyệt Đề án phát triển khoa học và ứng dụng, chuyển giao công nghệ thúc đẩy kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp đến năm 2030 tại Quyết định số 540/QĐ-TTg. Các văn bản này cho thấy sự vào cuộc quyết liệt, đồng bộ của hệ thống chính trị trong việc kiến tạo thể chế cho chuyển đổi xanh.
Từ những định hướng chính sách đúng đắn, thực tiễn tại Việt Nam đã ghi nhận những tín hiệu tích cực. Xu hướng xanh hóa sản xuất và tiêu dùng đang lan tỏa mạnh mẽ, trở thành động lực chủ đạo thúc đẩy chuyển đổi xanh của nền kinh tế.
Trong nông nghiệp, chúng ta đang chứng kiến sự chuyển mình mạnh mẽ sang nông nghiệp sinh thái, giảm phát thải. Nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã đã ứng dụng công nghệ cao, nhà kính, hệ thống cảm biến tự động để kiểm soát môi trường, nâng cao năng suất và chất lượng nông sản. Trong chăn nuôi, mô hình kinh tế tuần hoàn xử lý chất thải thành năng lượng, phân bón hữu cơ đang đem lại hiệu quả kinh tế cao và giảm thiểu ô nhiễm. Trong thủy sản, kinh tế biển đã có nhiều mô hình kinh tế tuần hoàn biển mang lại hiệu quả rất lớn về kinh tế và giúp bảo vệ môi trường.
TÍN HIỆU TÍCH CỰC VÀ SỰ CHUYỂN MÌNH TRONG CÁC NGÀNH
Trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng, các khu công nghiệp sinh thái, khu công nghiệp tuần hoàn đang dần được hình thành, với các sáng kiến áp dụng kinh tế tuần hoàn trong ngành nhựa, dệt may, vật liệu xây dựng. Các hệ thống Chứng nhận Công trình Xanh như Lotus, LEED, EDGE đã dần trở thành tiêu chuẩn phổ biến.
Triển khai các chính sách của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, xu hướng tiêu dùng xanh giảm chất thải nhựa, sử dụng sản phẩm thân thiện môi trường đang được người dân quan tâm và hưởng ứng. Nhiều siêu thị, trung tâm thương mại đã thí điểm các mô hình giảm thiểu rác thải nhựa.
Đặc biệt, chính sách mua sắm công xanh đã bắt đầu được áp dụng tại một số bộ, ngành và địa phương đối với các dự án sử dụng ngân sách nhà nước. Tại nhiều khu dân cư, các mô hình phân loại, thu gom và xử lý chất thải theo hướng tuần hoàn đang được cộng đồng chung tay thực hiện hiệu quả.
Thị trường tài chính xanh cũng đang có những bước phát triển khởi sắc. Tín dụng xanh tại Việt Nam đã tăng trưởng mạnh với tốc độ bình quân hơn 21,2%/năm trong giai đoạn vừa qua. Đến 31/12/2024, dư nợ tín dụng phục vụ mục tiêu bảo vệ môi trường đạt trên 4,28 triệu tỷ đồng, chiếm trên 27,4% tổng dư nợ toàn nền kinh tế. Trong đó, dư nợ tín dụng xanh đạt 680.000 tỷ đồng, tăng 9,37% so với cuối năm 2023, tập trung chủ yếu vào các ngành năng lượng tái tạo, năng lượng sạch (chiếm hơn 41%) và nông nghiệp xanh (trên 29%).
kinh tế tuần hoàn trong các ngành/lĩnh vực. Ảnh minh họa" /> Sự chuyển mình ứng dụng kinh tế tuần hoàn trong các ngành/lĩnh vực. Ảnh minh họaĐối với thị trường trái phiếu xanh, từ năm 2016 đến năm 2024, tổng giá trị phát hành đạt khoảng 33,5 nghìn tỷ đồng. Những con số này cho thấy sự gia tăng đáng kể trong kỳ vọng và nhu cầu vốn xanh của hệ thống ngân hàng và doanh nghiệp.
Bên cạnh những kết quả đáng khích lệ, chúng ta cũng cần thẳng thắn nhìn nhận rằng quá trình chuyển đổi xanh tại Việt Nam vẫn đang đối mặt với nhiều thách thức. Sản xuất đang chuyển đổi theo hướng xanh hóa, bền vững hơn nhưng hiện nay vẫn còn nhiều khó khăn. Doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ nông dân còn thói quen canh tác sản xuất nông nghiệp cũ, tỷ lệ canh tác theo tiêu chuẩn bền vững quốc tế còn thấp.
Cơ cấu đầu tư xanh hiện nay chưa cân đối, chủ yếu tập trung vào năng lượng và nông nghiệp, trong khi các lĩnh vực quan trọng khác như quản lý chất thải, bảo tồn đa dạng sinh học hay các ngành công nghiệp chuyển đổi (thép, xi măng) vẫn còn hạn chế.
Về mặt cơ chế, mặc dù khung pháp lý đã cơ bản được hình thành, nhưng chúng ta vẫn thiếu các hành lang pháp lý cụ thể để vận hành các thị trường và công cụ tài chính mới. Thị trường tín chỉ carbon chưa thực sự được hình thành và vận hành đồng bộ. Các cơ chế tạo nguồn lực mới như tín chỉ đa dạng sinh học, tín chỉ nhựa, quỹ đầu tư xanh hay bảo hiểm xanh vẫn chưa có đầy đủ khung khổ pháp lý để đi vào hoạt động.
Đầu tư xanh từ khu vực nhà nước còn thiếu tính hệ thống và chiến lược để dẫn dắt dòng vốn đầu tư tư nhân, trong khi nhận thức và kiến thức của một bộ phận người dân và doanh nghiệp về kinh tế xanh vẫn còn những hạn chế nhất định.
ĐỘNG LỰC THÚC ĐẨY CHUYỂN ĐỔI XANH, KINH TẾ TUẦN HOÀN
Để khắc phục những hạn chế nêu trên và thúc đẩy mạnh mẽ tiến trình chuyển đổi xanh, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, ngành Nông nghiệp và Môi trường xác định tập trung vào các đột phá chiến lược làm động lực cho giai đoạn tới.
Thứ nhất, tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường là trung tâm xuyên suốt trong tư duy, tầm nhìn và định hướng phát triển bền vững của đất nước.
Thứ hai, tiếp tục thúc đẩy mạnh mẽ mô hình kinh tế tuần hoàn, coi chất thải là tài nguyên và được quản lý trên môi trường số. Thực hiện chuyển đổi xanh thông qua các cơ chế, chính sách khuyến khích nghiên cứu, phát triển công nghệ thân thiện với môi trường, công nghiệp môi trường, dịch vụ môi trường, mua sắm xanh, năng lượng tái tạo; chủ động xây dựng thể chế để thúc đẩy phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn.
Việt Nam là một trong những quốc gia tiên phong tại ASEAN ban hành Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện kinh tế tuần hoàn đến năm 2035 tại Quyết định số 222/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Kế hoạch này xác định rõ 10 nhóm ngành, lĩnh vực ưu tiên, đưa ra các nhiệm vụ và giải pháp cụ thể để hiện thực hóa mô hình kinh tế tuần hoàn. Song song với đó, trong lĩnh vực nông nghiệp, Thủ tướng Chính phủ cũng đã phê duyệt Đề án phát triển khoa học và ứng dụng, chuyển giao công nghệ thúc đẩy kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp đến năm 2030 tại Quyết định số 540/QĐ-TTg.Thứ ba, tiếp tục tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả, phát triển nông nghiệp xanh, nông nghiệp đa giá trị gắn với bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Thứ tư, đột phá về đầu tư hạ tầng phục vụ nền nông nghiệp sinh thái và kinh tế xanh. Ngành sẽ ưu tiên đầu tư các hệ thống thủy lợi đa mục tiêu, các công trình ứng phó biến đổi khí hậu; đồng thời, phát triển các khu nông nghiệp sinh thái, khu công nghiệp carbon thấp và hệ thống logistics bền vững. Mọi hoạt động đầu tư sẽ hướng tới vòng tuần hoàn khép kín, giảm thiểu rác thải và tận dụng tối đa tài nguyên tái tạo.
Thứ năm, đột phá về thể chế và chính sách. Ngành sẽ hoàn thiện các văn bản dưới luật, hướng dẫn áp dụng các biện pháp ưu đãi, hỗ trợ đầu tư xanh và công nghệ xanh. Đồng thời, rà soát để loại bỏ các rào cản hành chính, tạo lập hành lang pháp lý cho các thị trường mới như thị trường carbon, tín chỉ đa dạng sinh học, nhằm khơi thông mọi nguồn lực cho phát triển.
Chuyển đổi xanh và kinh tế tuần hoàn không chỉ là xu hướng tất yếu mà còn là con đường duy nhất để chúng ta phát triển bền vững, bảo đảm hài hòa giữa lợi ích kinh tế và các giá trị sinh thái. Với sự đồng lòng của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và người dân, chúng tôi tin tưởng rằng chúng ta sẽ thực hiện thành công mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển xanh, thịnh vượng và bền vững.
(*) Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 51-52-2025 phát hành ngày 22-29/12/2025. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
https://vneconomy.vn/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-5152-2025.htm
-Lê Công Thành (*)
Kinh tế tuần hoàn kiến tạo không gian phát triển mới cho Việt Nam
Trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế Việt Nam năm 2025, triển vọng năm 2026 với chủ đề “Kinh tế Việt Nam phát triển nhanh, bền vững, chuyển đổi xanh trong kỷ nguyên số”, sáng ngày 16/12/2025 đã diễn ra phiên chuyên đề Kinh tế tuần hoàn “Thúc đẩy chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao và phát triển bền vững”.
Tại phiên chuyên đề, ông Phạm Đại Dương, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, đã dự và phát biểu khai mạc.
Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy xin đăng tải nội dung bài phát biểu khai mạc của Phó Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương Phạm Đại Dương.
CHUYỂN ĐỔI SỐ VÀ XANH KHÔNG CÒN LÀ LỰA CHỌN, MÀ LÀ YÊU CẦU BẮT BUỘC
Được sự đồng ý của Thủ tướng Chính phủ, trong Chương trình của Diễn đàn Kinh tế Việt Nam năm nay, chúng tôi tổ chức 1 phiên toàn thể và 2 phiên chuyên đề. Trong đó, phiên chuyên đề số 2 do Ban Chính sách, chiến lược Trung ương phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường và Hội Khoa học kinh tế Việt Nam tổ chức, với chủ đề về kinh tế tuần hoàn “Thúc đẩy chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao và phát triển bền vững”.
Để hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược 100 năm mà Đảng ta đã đặt ra là đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao, Việt Nam cần phải có bước đột phá trong đổi mới mô hình tăng trưởng, phải đạt được tăng trưởng “hai con số” trong giai đoạn 2026-2030 và các năm tiếp theo.
Mô hình tăng trưởng mới này phải đảm bảo các yếu tố cốt lõi: bền vững, toàn diện và bao trùm, không chỉ tập trung vào tốc độ, mà còn nhấn mạnh vào tính bền vững, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh. Mô hình này được định hình bởi việc thực thi đồng bộ bốn chuyển đổi mang tính cách mạng.
Đó là, chuyển đổi số để kiến tạo nền kinh tế số, xã hội số, công dân số; chuyển đổi xanh để phát triển bền vững, chất lượng cao, hài hòa với thiên nhiên, thích ứng với biến đổi khí hậu; chuyển đổi năng lượng để bảo đảm an ninh năng lượng và cam kết quốc tế mạnh mẽ về NetZero vào năm 2050; chuyển đổi cơ cấu, chất lượng nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế tri thức, thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất lao động và sức cạnh tranh.
Toàn cảnh phiên chuyên đề Kinh tế tuần hoàn “Thúc đẩy chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao và phát triển bền vững”.Chuyển đổi số và chuyển đổi xanh là hai yếu tố căn bản cấu thành một xu thế tất yếu, không thể đảo ngược. Đây không còn là lựa chọn, mà là yêu cầu bắt buộc của thực tiễn.
Trong đó, chuyển đổi số tạo ra “tốc độ” và “sự thông minh”; giúp chúng ta vượt qua giới hạn vật lý, tăng năng suất lao động, tạo ra các ngành kinh tế số có giá trị gia tăng siêu tốc.
Chuyển đổi xanh tạo ra sự “bền vững” và “tính nhân văn”; đảm bảo tính bền vững, bảo vệ môi trường, bảo đảm an sinh, không để chúng ta phải đánh đổi tương lai, môi trường xã hội để lấy lợi ích tăng trưởng đơn thuần trong ngắn hạn.
Tuy nhiên, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh không phải là hai quá trình đơn lẻ, độc lập, mà có sự gắn kết chặt chẽ, hòa quyện với nhau, hay thường được gọi là “chuyển đổi kép”.
Tại Diễn đàn Kinh tế mùa Thu tổ chức vào cuối tháng 11 vừa qua tại TP.Hồ Chí Minh với chủ đề “Chuyển đổi xanh trong kỷ nguyên số”, Thủ tướng Chính phủ đã có bài phát biểu quan trọng, trong đó chỉ ra rằng sự đan xen, cộng hưởng của chuyển đổi số và chuyển đổi xanh là động lực của tăng trưởng toàn cầu trong nhiều thập kỷ tới. Đồng thời, khẳng định đây là cơ hội để các quốc gia, trong đó có Việt Nam, tái cấu trúc nền kinh tế, bứt phá vươn lên trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Kinh tế tuần hoàn với vai trò là một động lực của chuyển đổi xanh trong kỷ nguyên số, gắn liền với phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, được xác định là một trụ cột chiến lược của mô hình tăng trưởng mới và là chìa khóa chiến lược để Việt Nam tận dụng cơ hội bứt phá vươn lên.
NHẬN DIỆN CÁC ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG MỚI HƯỚNG ĐẾN GIẢM PHÁT THẢI
Kinh tế tuần hoàn biến chất thải thành tài nguyên thứ cấp, mở ra các ngành công nghiệp tái chế, công nghiệp sinh thái và năng lượng tái tạo có giá trị gia tăng cao, không chỉ giúp giảm chi phí đầu vào, mà còn thu hút các dòng vốn xanh chất lượng cao, kiến tạo một không gian phát triển mới cho Việt Nam, để chúng ta có thể đạt được tốc độ tăng trưởng “hai con số”. Đồng thời, duy trì, bảo đảm tốc độ trở nên vững chắc và bền vững.
Với ý nghĩa đó, phiên chuyên đề Kinh tế tuần hoàn “Thúc đẩy chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao và phát triển bền vững”, là một chủ đề thiết thực, mang tính tư duy chiến lược cao, hướng đến 5 mục tiêu.
Thứ nhất, cần nhận diện động lực tăng trưởng mới dựa trên mô hình kinh tế xanh- kinh tế tuần hoàn, hướng đến giảm phát thải, tăng hiệu quả sử dụng tài nguyên và nâng cao khả năng thích ứng của nền kinh tế trong bối cảnh rủi ro biến đổi khí hậu gia tăng.
Thứ hai, đưa ra các giải pháp nâng cao năng lực điều hành kinh tế năm 2026 nhằm duy trì ổn định vĩ mô, đồng thời thúc đẩy chuyển đổi xanh, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư công nghệ sạch, tiết kiệm năng lượng.
Thứ ba, tham vấn phục vụ xây dựng kịch bản tăng trưởng giai đoạn 2026-2030 gắn với xu hướng chuyển đổi xanh toàn cầu và việc thực hiện các cam kết về khí hậu quốc tế, yêu cầu chuyển dịch năng lượng, phát triển hạ tầng bền vững và cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng phát thải thấp.
Thứ tư, thúc đẩy hệ thống các giải pháp chiến lược toàn diện, nhằm hoàn thiện thể chế, pháp luật cho kinh tế xanh- kinh tế tuần hoàn, thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế xanh trọng điểm như năng lượng tái tạo, kinh tế tuần hoàn trong sản xuất- tiêu dùng, công nghiệp sinh thái, nông nghiệp carbon thấp.
Thứ năm, hướng đến mục tiêu dài hạn là xây dựng nền kinh tế tăng trưởng nhanh trên cơ sở phát thải thấp, tuần hoàn, sử dụng hiệu quả tài nguyên, tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững, nâng cao sức cạnh tranh và khả năng hội nhập sâu trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Tôi tin tưởng rằng với trí tuệ, bản lĩnh và tinh thần trách nhiệm cao của tất cả đại biểu, phiên chuyên đề sẽ thành công tốt đẹp, đóng góp những kiến nghị có giá trị cho sự nghiệp phát triển nhanh và bền vững của đất nước, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược 100 năm, hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới- kỷ nguyên phát triển, thịnh vượng, hùng cường của dân tộc Việt Nam.
(*) Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 51-52-2025 phát hành ngày 22-29/12/2025. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
https://vneconomy.vn/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-5152-2025.htm
-Phạm Đại Dương (*)
Khơi thông nguồn lực hỗ trợ các dự án phát triển xanh
Là lãnh đạo của đơn vị đã tham gia xây dựng bộ phân loại xanh cho một số quốc gia khu vực ASEAN và châu Âu, ông đánh giá thế nào về bộ tiêu chí này khi ra đời ở Việt Nam?
Từ nhiều năm qua, thị trường đã “chờ đợi” bộ tiêu chí này ra đời. Thực tế, những tổ chức muốn phát hành trái phiếu xanh đều phải tham chiếu sang các chuẩn mực của châu Âu hoặc các nước khu vực.
Là đơn vị đang tư vấn cho các doanh nghiệp và ngân hàng ứng dụng, chúng tôi nhận thấy mặc dù bộ tiêu chí phân loại xanh của Việt Nam ra đời sau một số nước trong khu vực nhưng PwC đánh giá cao tính thực tiễn, ứng dụng. Bộ tiêu chí này có những yếu tố cốt lõi của bộ tiêu chí phân loại xanh ở châu Âu cũng như ở khu vực nhưng có điều chỉnh các ngưỡng để đảm bảo phù hợp và áp dụng được cho các doanh nghiệp ở Việt Nam.
Ví dụ như bộ tiêu chí phân loại xanh ở Malaysia khi ban hành chỉ mang tính nguyên tắc, định tính, nhưng bộ tiêu chí phân loại xanh của Việt Nam đã mang tính định lượng rõ ràng hơn. Vì vậy, bộ tiêu chí khi ra đời được chào đón và sẽ hỗ trợ hiệu quả thị trường Việt Nam. Với sự ra đời của bộ tiêu chí này, thị trường có định nghĩa, chuẩn mực chung thế nào là xanh và để đạt được mục tiêu xanh cần phải làm gì.
Bộ tiêu chí này sẽ góp phần như thế nào trong thúc đẩy, khơi thông nguồn tài chính xanh và đầu tư hỗ trợ các dự án hướng tới mục tiêu phát triển bền vững, thưa ông?
Qua các kỳ hội nghị COP, chính phủ các quốc gia đã đưa ra các cam kết cho tài chính xanh, tài chính bền vững. Ở thị trường Việt Nam cũng đã được cam kết nhiều hỗ trợ tài chính. Tuy nhiên, khi làm việc với các quỹ, ngân hàng nước ngoài và kể cả các ngân hàng trong nước, PwC nhận thấy các ngân hàng sẵn sàng giải ngân, tài trợ nhưng điều quan ngại lớn nhất của họ là việc không có các tiêu chí xanh rõ ràng từ phía doanh nghiệp để có thể triển khai.
Vì vậy, với sự ra đời của bộ tiêu chí này, có định nghĩa và chuẩn mực thế nào là xanh, bền vững, từ nay thị trường tài chính xanh, bền vững ở Việt Nam sẽ phát triển bùng nổ hơn. Không những thế, ngay cả với các dự án chuyển đổi sang xanh sẽ được đánh giá theo tiêu chí. Đó sẽ là căn cứ để các ngân hàng, tổ chức tài chính giải ngân, khơi thông nguồn vốn hỗ trợ cho các dự án xanh.
Mặc dù khi chưa có tiêu chí, các ngân hàng vẫn triển khai giải ngân nhưng họ sử dụng các bộ tiêu chí phân loại phù hợp, thậm chí có những ngân hàng tham khảo bộ tiêu chí phân loại của châu Âu hoặc các nước ASEAN và điều chỉnh theo quan điểm của đơn vị mình. Với bộ tiêu chí phân loại xanh là một chính sách hỗ trợ rất lớn với thị trường khơi thông nguồn vốn xanh.
Như vậy, chúng ta đã có các cơ chế chính sách giúp khơi thông nguồn vốn cho các dự án phát triển xanh. Theo ông, đâu là yếu tố quan trọng, cốt lõi để khai thác hiệu quả chính sách này, thúc đẩy phát triển các dự án xanh ở Việt Nam?
Tôi cho rằng vấn đề quan trọng nhất hiện nay nằm ở phía các tổ chức tài chính. Với bộ tiêu chí phân loại xanh này, các tổ chức tài chính sẽ có cơ sở vững chắc để đưa ra các tiêu chí, tiêu chuẩn phân loại để tiến hành giải ngân.
Thực tế hiện nay, các tổ chức như WB, IFC, ADB… đang có nhiều chương trình hỗ trợ Việt Nam thông qua các tổ chức tài chính. Từ bộ tiêu chí phân loại xanh, các tổ chức tài chính, ngân hàng phải phân loại ưu đãi, tài trợ cho dự án nào.
Các doanh nghiệp cũng cần phải nắm được thông tin về các bộ tiêu chí đó để tiến hành thu thập, chuẩn bị cung cấp thông tin, từ đó có thể tham gia vào các chương trình hỗ trợ này.
Thưa ông, bắt đầu từ 1/1/2026, Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của EU chính thức vận hành đầy đủ, buộc các nhà nhập khẩu phải trả chi phí cho lượng phát thải carbon. Cơ chế này tác động trực tiếp tới các ngành như sắt thép, xi măng, nhôm, phân bón… Theo ông, cơ chế này sẽ tác động thế nào tới các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sang thị trường châu Âu?
Đây không phải là các yêu cầu mới của EU với các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp đang trực tiếp tham gia xuất khẩu sang các thị trường này.
Theo tôi, việc các chính sách này được áp dụng đầy đủ, chính thức sẽ không gây khó khăn mà ngược lại còn tạo lợi thế cho các doanh nghiệp. Để đáp ứng các yêu cầu tiêu chuẩn xanh, các doanh nghiệp đã phải chuẩn bị sẵn sàng từ trước và đây sẽ là lợi thế cho các doanh nghiệp khi EU áp dụng đầy đủ và chính thức.
Trong bối cảnh xu hướng, yêu cầu về môi trường, tiêu chuẩn xanh ngày càng khắt khe, ông nhận thấy mức độ chuyển đổi xanh, bền vững trong các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay ra sao?
Hiện nay, trên thị trường toàn cầu đang có bước chuyển đổi mạnh mẽ, đặc biệt là thị trường châu Âu. Còn ở Việt Nam, những năm qua, các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp tham gia xuất khẩu đã có những hành động cụ thể để đáp ứng các yêu cầu xanh của thị trường.
Đến nay, cùng với các chính sách hỗ trợ của Nhà nước được ban hành cũng như định hướng, yêu cầu mới của thị trường, tôi cho rằng xu thế chuyển đổi xanh ở Việt Nam sẽ phát triển mạnh mẽ hơn nữa.
Nếu như trước kia, các doanh nghiệp coi chuyển đổi xanh là yếu tố tự nguyện thì trong khoảng vài năm trở lại đây, ngày càng có nhiều doanh nghiệp xác định xanh là yêu cầu bắt buộc để phát triển bền vững. Thậm chí có những doanh nghiệp đã đưa chuyển đổi xanh thành yếu tố sống còn với hoạt động sản xuất kinh doanh, để đảm bảo duy trì tính cạnh tranh trên thị trường.
PwC nhận thấy trước xu thế, yêu cầu đòi hỏi của thị trường toàn cầu cũng như khu vực, ngày càng có nhiều doanh nghiệp đưa ra các mục tiêu phát triển bền vững một cách chi tiết hơn, gắn sát với thực tế hoạt động sản xuất, kinh doanh, định hướng phát triển của mình hơn.
Dù khung pháp lý đã được hoàn thiện đáng kể, việc áp dụng các tiêu chí tăng trưởng xanh cho mọi doanh nghiệp có thể gây khó khăn, đặc biệt với các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME). Kinh nghiệm từ các thị trường tiên tiến trong triển khai phát triển bền vững và ESG (môi trường, xã hội, quản trị) cho thấy cần phân loại doanh nghiệp theo quy mô, với tiêu chí đơn giản hóa hơn dành cho SME. Sau khi ban hành chính sách quốc gia, cơ quan quản lý cần kèm theo hướng dẫn chi tiết cho từng ngành nghề, lĩnh vực để tạo điều kiện thuận lợi.
Từ góc nhìn của doanh nghiệp, qua các hoạt động tiếp xúc và tư vấn, PwC nhận thấy rằng vẫn tồn tại một số vướng mắc trong thực thi. Nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, vẫn coi phát triển bền vững là hoạt động tự nguyện hơn là yêu cầu bắt buộc. Họ lo ngại rằng việc triển khai sẽ phát sinh chi phí lớn, trở thành rào cản chính.
Ngay cả khi vượt qua nhận thức này, doanh nghiệp thường gặp vấn đề về nguồn lực, bao gồm chi phí đầu tư ban đầu và thiếu nhân lực chuyên môn. Bên cạnh đó, không chỉ SME mà các tổ chức lớn cũng đang vật lộn với dữ liệu và thông tin. Hành trình thực hiện ESG đòi hỏi thu thập khối lượng dữ liệu khổng lồ, nhưng nhiều doanh nghiệp không biết bắt đầu từ đâu, dẫn đến khó khăn trong xây dựng báo cáo, hoạch định chiến lược và triển khai thực tế.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 51-52-2025 phát hành ngày 22-29/12/2025. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://vneconomy.vn/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-5152-2025.htm
-
Nguồn lực thúc đẩy chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn
“Chúng ta đã có một phiên chuyên đề về thúc đẩy chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn, hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng bền vững rất thành công. Phiên chuyên đề đã khẳng định được ý nghĩa đặc biệt quan trọng của kinh tế tuần hoàn, nhấn mạnh đây là con đường bắt buộc phải đi, để đạt được các mục tiêu tăng trưởng cao, đồng thời đảm bảo các mục tiêu phát triển bền vững. Trước đây, hai mục tiêu này mâu thuẫn với nhau, nhưng bối cảnh mới cho thấy chúng ta có thể làm được điều đó.
Qua trao đổi, thảo luận, trước hết, chúng ta đã nhìn nhận được thực trạng của thực hiện kinh tế tuần hoàn. Mặc dù ở giai đoạn ban đầu nhưng có thể thấy trong nhiều lĩnh vực đã có những mô hình tốt. Triển khai thực hiện kinh tế tuần toàn đã có một số kết quả rất đáng khích lệ.
Kinh tế tuần hoàn không chỉ là con đường để đảm bảo các mục tiêu về môi trường, mà có thể tạo ra các động lực mới cho tăng trưởng. Động lực mới từ chuyển đổi xanh còn rất nhiều dư địa, từ năng lượng tái tạo, thị trường carbon, các công cụ tài chính mới và gắn với chuyển đổi kép. Chuyển đổi xanh nhưng không tách rời khỏi chuyển đổi số, mà luôn phải đi cùng với nhau, đã chuyển đổi xanh phải có chuyển đổi số và ngược lại.
Cùng với đó, tuy thể chế là điểm nghẽn của điểm nghẽn, nhưng đột phá cũng phải là thể chế. Mặc dù khung khổ pháp lý về kinh tế tuần hoàn khá đầy đủ, nhưng mới dừng lại ở các chiến lược và khung. Qua chia sẻ của các doanh nghiệp và địa phương cho thấy còn nhiều vướng mắc. Vì vậy, dư địa cho hoàn thiện cơ chế chính sách còn rất nhiều, rất cần cụ thể để có điều kiện khuyến khích được các doanh nghiệp, hộ gia đình, chủ thể tham gia.
Cần thống nhất rằng chuyển đổi số, chuyển đổi xanh phải có công nghệ. Chúng ta phải có công nghệ xanh, hiện đại, thân thiện môi trường, nền tảng công nghệ phải thích ứng được với điều kiện mới để giải quyết những bài toán rất phức tạp về xanh hóa. Mặt khác, trong bối cảnh mới, ứng dụng khoa học, công nghệ mới không thể tách rời đổi mới sáng tạo.
Đối với các chủ thể, có 3 chủ thể quan trọng là cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp và người dân. Cơ quan quản lý nhà nước phải vào cuộc, doanh nghiệp cũng vậy nhưng phải nhân rộng hơn, còn người dân phải nâng cao nhận thức, tham gia trực tiếp bằng ý thức xã hội của mình, tạo ra nếp sống, lối sống, văn hóa sống xanh.
Những vấn đề liên quan đến tài chính cũng không thể tách rời. Hiện nay tài chính, kinh phí đầu tư cho khoa học, công nghệ, chuyển đổi xanh còn khiêm tốn, trong khi yêu cầu rất lớn. Những giải pháp về tài chính, trong đó chia sẻ kinh nghiệm của các ngân hàng, tổ chức tài chính rất quan trọng. Chúng ta cần nhiều hơn các công cụ tài chính, không chỉ là thuế, phí, mà cả công cụ tài chính xanh nói chung và các sản phẩm mới có tính đột phá.
Hợp tác quốc tế cũng còn rất nhiều dư địa. Các nước phát triển cam kết giúp đỡ các nước đang phát triển rất nhiều, nhưng nếu chúng ta không chú ý thì không chớp được cơ hội này. Cơ hội tài chính đối với các nước đang phát triển là rất cần thiết.
Như vậy, hợp tác quốc tế sẽ tiếp tục là một trong những kênh quan trọng để chúng ra vừa có ý tưởng mới, chia sẻ những kinh nghiệm, bài học quốc tế tốt, vừa giúp có thêm kênh huy động tài chính để đáp ứng yêu cầu chuyển đổi xanh”.
“Những năm gần đây, Đảng, Chính phủ quan tâm xây dựng ban hành các văn bản chính sách pháp luật về kinh tế tuần hoàn, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững nền kinh tế. Nhằm thúc đẩy doanh nghiệp áp dụng kinh tế tuần hoàn đáp ứng yêu cầu thực tiễn về chuyển đổi xanh, phù hợp các cam kết quy định, chính sách trong nước và quốc tế, Bộ Công Thương sẽ ưu tiên triển khai ba nhiệm vụ trọng tâm về kinh tế tuần hoàn.
Thứ nhất, đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu, ứng dụng công nghệ, giải pháp thúc đẩy kinh tế tuần hoàn trong các ngành, lĩnh vực có tiềm năng. Hoạt động ứng dụng công nghệ, đổi mới mô hình kinh doanh bền vững, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam đang có những dấu hiệu khởi sắc. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, ứng dụng công nghệ và giải pháp kỹ thuật, mô hình bền vững vẫn đang là thách thức lớn của nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) do hạn chế nguồn lực đầu tư và triển khai.
Trên cơ sở các định hướng ưu tiên lớn về khoa học công nghệ gắn với thực tiễn thực hiện kinh tế tuần hoàn, Bộ Công Thương hiện đang nghiên cứu xây dựng các nhiệm vụ ưu tiên về đổi mới sáng tạo, ứng dụng khoa học, công nghệ thúc đẩy kinh tế tuần hoàn trong ngành.
Đối với việc áp dụng các mô hình bền vững về kinh tế tuần hoàn tại các doanh nghiệp dù có tiềm năng và lợi ích, song thực tế còn nhiều thách thức do nguồn lực hạn chế. Bộ Công Thương sẽ tiếp tục đẩy mạnh ưu tiên triển khai các mô hình kinh tế tuần hoàn tại các Chương trình hiện hành về sản xuất và tiêu dùng bền vững, sử dụng nguồn lực tiết kiệm và hiệu quả,…
Thứ hai, thúc đẩy xúc tiến thương mại bền vững; tăng cường đào tạo truyền thông, khuyến khích các doanh nghiệp thực hành tốt mô hình kinh tế tuần hoàn, các sản phẩm đạt chứng nhận bền vững, tuần hoàn.
Những năm gần đây, Bộ Công Thương chú trọng tổ chức hoạt động xúc tiến thương mại bền vững, qua đó chúng tôi nhận thấy rõ hơn nhu cầu của doanh nghiệp Việt Nam trong liên kết hợp tác với các bên nhằm nâng cao hiểu biết thị trường sản phẩm công nghệ, đồng thời quảng bá hình ảnh thương hiệu và thúc đẩy mở rộng thị trường các sản phẩm, công nghệ đạt tiêu chuẩn chứng nhận xanh.
Đối với các doanh nghiệp quan tâm, áp dụng thành công các mô hình, giải pháp bền vững góp phần sử dụng hiệu quả năng lượng, nguyên vật liệu, hóa chất thân thiện môi trường, năng lượng tái tạo, giảm thiểu ô nhiễm và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cần được khuyến khích. Các điển hình tốt về sản xuất thương mại và tiêu dùng bền vững nhằm tạo ra các sản phẩm đạt chứng nhận xanh, tuần hoàn như vậy cần được tuyên truyền, chứng nhận trao giải.
Theo đó, Bộ Công Thương sẽ tiếp tục đẩy mạnh xây dựng và triển khai các nhiệm vụ, hoạt động xúc tiến thương mại bền vững và truyền thông nhằm khuyến khích các doanh nghiệp, người tiêu dùng thực hành tốt về kinh tế tuần hoàn và sản xuất tiêu dùng bền vững.
Thứ ba, tăng cường hợp tác với các bộ, ngành, địa phương; các quốc gia, tổ chức quốc tế và trong nước nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và các bên liên quan. Chúng tôi nhận thấy, nhằm thúc đẩy lĩnh vực kinh tế tuần hoàn- một lĩnh vực khá rộng gắn liền với các vấn đề nguyên vật liệu năng lượng và chất thải theo cách tiếp cận chuỗi, có tính liên ngành. Do đó, việc hợp tác giữa Bộ Công Thương với các tổ chức quốc tế và các bộ, ngành, địa phương là hết sức cần thiết.
Bên cạnh đó, nhằm hỗ trợ doanh nghiệp áp dụng kinh tế tuần hoàn trong các lĩnh vực ngành Công Thương, Bộ dự kiến tổ chức triển khai hai hoạt động cụ thể.
Thứ nhất, triển khai Kế hoạch thực hiện kinh tế tuần hoàn của ngành Công Thương, trong đó ưu tiên tập trung các nhiệm vụ: về các hoạt động nghiên cứu xây dựng chính sách; tăng cường tuyên truyền, đào tạo nâng cao nhận thức, đặc biệt là các quy định tiêu chuẩn xanh về kinh tế tuần hoàn; tăng cường các hoạt động xúc tiến thương mại; thúc đẩy áp dụng thí điểm các mô hình kinh tế tuần hoàn.
Thứ hai, đẩy mạnh các hoạt động hợp tác kinh tế tuần hoàn với các cơ quan, tổ chức, quốc gia, đặc biệt là các nước dẫn đầu thực hiện kinh tế tuần hoàn và có tác động đến hoạt động thương mại xuất khẩu theo hướng bền vững.
Thực hiện kinh tế tuần hoàn không còn là xu hướng mà đã và đang đi vào thực tiễn, không phải là con đường duy nhất nhưng là con đường ngày càng nhiều quốc gia khu vực, doanh nghiệp lựa chọn nhằm để đạt các mục tiêu Phát triển bền vững SDG của Liên hợp quốc ở góc độ doanh nghiệp, ngành và toàn nền kinh tế”.
“Chiến lược của Vietinbank là hướng tới phát triển an toàn, hiệu quả và bền vững. Chúng tôi cũng xác định chuyển đổi xanh và chuyển đổi số là hai chiến lược quan trọng giúp Vietinbank đạt được mục tiêu này.
Về tài chính xanh, trong bối cảnh đất nước đặt ra mục tiêu tăng trưởng xanh thì tài chính chính đóng vai trò quan trọng trong thu hút nguồn vốn và điều hướng nguồn vốn này đến những hoạt động thân thiện môi trường, góp phần giúp các doanh nghiệp chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.
Với vai trò là ngân hàng thương mại Nhà nước lớn và chủ lực của nền kinh tế, chúng tôi đã và đang cung cấp các sản phẩm tài chính xanh toàn diện cho khách hàng.
Các sản phẩm tài chính xanh của chúng tôi tập trung vào 3 nhóm.
Thứ nhất, về các sản phẩm cho vay, chúng tôi nỗ lực đơn giản hóa các thủ tục, chuyển đổi số, góp phần tạo sự thuận tiện trong khâu tiếp cận vốn của doanh nghiệp.
Theo hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước và thông lệ thị trường, chúng tôi cũng đưa tiêu chí xanh và bền vững trong tiêu chí thẩm định để cấp tín dụng. Như vậy, các doanh nghiệp đạt những tiêu chí xanh rõ ràng sẽ được ưu tiên cấp tín dụng hơn so với những doanh nghiệp chưa đạt được những chứng chỉ xanh.
Dư nợ trong lĩnh vực xanh của Vietinbank hiện nay tập trung chủ yếu trong các ngành như năng lượng tái tạo, liên quan đến nông, lâm nghiệp xanh, xử lý rác thải, nước sạch… Đến nay, bằng các nỗ lực, chúng tôi cũng có những gói ưu đãi lãi suất cho khách hàng, cùng nhiều chương trình khác. Vietinbank cũng tham gia tổ dự thảo nghị định hỗ trợ lãi suất 2%/năm từ ngân sách nhà nước cho doanh nghiệp tư nhân, hộ kinh doanh và cá nhân thực hiện các dự án xanh, tuần hoàn…
Thứ hai, về các sản phẩm huy động vốn, Vietinbank cũng là ngân hàng tiên phong nhờ sợ trợ giúp của ngân hàng đối tác lớn ở Nhật Bản. Chúng tôi cũng phát triển sản phẩm tiền gửi xanh nhằm kết nối người gửi tiền với người cho vay xanh. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng nỗ lực làm việc với các tổ chức quốc tế để triển khai tìm kiếm những nguồn vốn huy động song phương, cũng như phát hành trái phiếu xanh để đa dạng hóa cơ cấu nguồn vốn huy động, tăng nguồn lực cho vay xanh của ngân hàng.
Thứ ba, nhóm giải pháp hỗ trợ kỹ thuật và nâng cao năng lực. Chúng tôi cũng nỗ lực tổ chức các hội thảo, chương trình đào tạo, hỗ trợ các doanh nghiệp nâng cao nhận thức, xây dựng lộ trình chuyển đổi, tìm kiếm cơ hội mở rộng thị trường xuất khẩu, tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu.
Về các nỗ lực xây dựng hạ tầng, Vietinbank cũng triển khai đồng bộ trên các lĩnh vực, từ xây dựng chiến lược, hoàn thiện mô hình tổ chức, xây dựng hệ thống văn bản chính sách, công nghệ dữ liệu. Đây là yếu tố rất quan trọng quyết định thành công trong các chiến lược của ngân hàng”.
“Tại Việt Nam, Na Uy đang hợp tác chặt chẽ với các đối tác thông qua Dự án “Biến rác thải nhựa đại dương thành cơ hội trong nền kinh tế tuần hoàn” (OPTOCE).
Việt Nam đang đối mặt với một thách thức lớn, đó là mức sử dụng nhựa hiện nay đã cao gấp mười lần so với năm 1990, với hơn 3,5 triệu tấn rác thải nhựa được tạo ra mỗi năm nhưng chỉ khoảng 20% được tái chế. Nếu xu hướng này tiếp diễn, lượng rác thải nhựa ra biển có thể tăng gấp đôi vào năm 2030.
Ngành xi măng có quy mô đủ lớn để xử lý phần lớn lượng chất thải không thể tái chế này. Các thử nghiệm tại Việt Nam cho thấy đồng xử lý là an toàn và sẵn sàng để mở rộng quy mô.
Cần nhấn mạnh rằng đồng xử lý không nhằm thay thế tất cả các giải pháp quản lý chất thải khác. Ngược lại, nó bổ trợ cho các giải pháp đó, đặc biệt đối với các loại chất thải khô, dễ cháy như nhựa giá trị thấp, vải cũ và các vật liệu không thể tái chế. Những loại này là nhiên liệu phù hợp cho lò nung xi măng và có thể thay thế than. Trong khi đó, rác sinh hoạt có hàm lượng chất hữu cơ cao, hoặc ẩm phù hợp hơn với các phương pháp xử lý khác.
Đồng xử lý thực sự là một giải pháp “ba bên cùng có lợi”. Đối với môi trường, đồng xử lý cho phép tiêu hủy an toàn chất thải không thể tái chế trong lò nung xi măng, nơi nhiệt độ cực cao đảm bảo sự phân hủy hoàn toàn các chất gây ô nhiễm. Không giống như các phương pháp chuyển đổi chất thải thành năng lượng (WtE) truyền thống, đồng xử lý không tạo ra tro dư, vì chất thải trở thành một phần của sản phẩm xi măng cuối cùng.
Đối với kinh tế, phương pháp này có thể tiết kiệm chi phí cho cả ngành công nghiệp và chính quyền địa phương. Các doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí thông qua thay thế nhiên liệu hóa thạch đắt tiền bằng các nhiên liệu có nguồn gốc từ chất thải. Các lò nung xi măng đã có sẵn, hoạt động 24/7. Sử dụng các lò này, cộng đồng tránh được chi phí vốn đáng kể liên quan đến việc xây dựng các cơ sở xử lý chất thải mới.
Đối với khí hậu, từ việc thay thế nhiên liệu hóa thạch bằng chất thải, đồng xử lý làm giảm đáng kể lượng khí thải nhà kính. Tại Na Uy và trên khắp châu Âu, phương pháp này đã cho phép thay thế tới 75% nhiên liệu truyền thống được sử dụng trong sản xuất xi măng bằng chất thải. Ấn Độ và Trung Quốc đã chứng minh việc đồng xử lý có thể được mở rộng quy mô một cách hiệu quả, dẫn đến giảm đáng kể sử dụng nhiên liệu hóa thạch, giảm phát thải khí nhà kính và giảm áp lực lên các bãi chôn lấp.
Như vậy, bằng cách hợp tác, chúng ta có thể biến rác thải nhựa từ gánh nặng thành nguồn tài nguyên, hỗ trợ tăng trưởng nhanh và bền vững cho thế hệ mai sau. Na Uy sẵn sàng tiếp tục hỗ trợ Việt Nam thông qua xây dựng chính sách, huy động đầu tư và chia sẻ kinh nghiệm tốt nhất”.
“Một lý thuyết được nhiều tổ chức quốc tế thừa nhận rằng nếu một nền kinh tế phát triển dựa chủ yếu vào khai thác tài nguyên thiên nhiên, thì sự suy thoái đa dạng sinh học sẽ diễn ra song hành với tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, khi một nền kinh tế phát triển theo định hướng kinh tế tuần hoàn, xu hướng mất mát đa dạng sinh học có thể được đảo chiều.
Với kinh nghiệm quốc tế, nhiều mô hình thành công đã chứng minh điều đó, như chương trình phục hồi rừng gắn với sinh kế tại Indonesia, mô hình du lịch sinh thái tại châu Phi, hay các hệ thống chứng chỉ bền vững cho nông - lâm sản tại Nam Mỹ.
Trong hơn 30 năm hợp tác với Chính phủ Việt Nam, WWF đã phối hợp triển khai nhiều chương trình nhằm bảo tồn đa dạng sinh học và tài nguyên thiên nhiên. Chúng tôi coi tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học là một “nguồn vốn dự trữ” cho phát triển trong tương lai. Bảo tồn tốt chính là đầu tư cho phát triển dài hạn. Bên cạnh bảo tồn, WWF thúc đẩy phục hồi hệ sinh thái gắn với sinh kế bền vững, trong đó du lịch sinh thái là hướng đi quan trọng. Du lịch sinh thái không chỉ tạo sinh kế cho cộng đồng địa phương mà còn tái đầu tư cho bảo tồn.
Một lĩnh vực then chốt khác là phục hồi rừng và phát triển các chứng chỉ rừng bền vững. WWF đã hỗ trợ doanh nghiệp và hộ gia đình đạt các chứng chỉ quản lý rừng bền vững, qua đó tăng giá trị kinh tế từ rừng khoảng 30% so với mô hình trồng rừng thông thường. Đây cũng là giải pháp góp phần giảm thiểu rủi ro thiên tai, lũ lụt ở miền Trung, hạn chế tác động lan truyền xuống Đồng bằng sông Cửu Long.
Trong lĩnh vực kinh tế rừng, chúng tôi hỗ trợ các cộng đồng và doanh nghiệp nhỏ phát triển mô hình kinh tế dưới tán rừng, như trồng sâm Ngọc Linh, nấm, dược liệu. Đây là mô hình kinh tế tuần hoàn, tận dụng hợp lý tài nguyên rừng mà không làm suy thoái hệ sinh thái.
Tại đồng bằng sông Cửu Long, WWF hỗ trợ các mô hình nông nghiệp phát thải thấp như lúa - tôm, phục hồi rừng ngập mặn, sử dụng phụ phẩm nông nghiệp theo hướng tuần hoàn. Ví dụ, rơm rạ sau thu hoạch được tái sử dụng để sản xuất nấm rơm, tạo thành chuỗi giá trị bền vững.
Trong công nghiệp, WWF phối hợp với các doanh nghiệp dệt may tại Tây Ninh và nhiều địa phương, hỗ trợ hơn 400 doanh nghiệp cải thiện hiệu quả sử dụng nước. Nhiều doanh nghiệp đã tiết kiệm hơn 30% lượng nước sử dụng, giảm tiêu thụ năng lượng.
WWF cũng triển khai các chương trình hỗ trợ cộng đồng, thúc đẩy khai thác thủy sản bền vững, chống khai thác IUU và phát triển các chứng chỉ thủy sản bền vững.
Một nội dung khác là giảm thiểu rác thải nhựa. WWF đang hỗ trợ 10 thành phố Việt Nam hướng tới mục tiêu “thành phố không rác thải nhựa”, tham gia mạng lưới toàn cầu các đô thị cam kết giảm ô nhiễm nhựa.
Từ thực tiễn triển khai, WWF kiến nghị: cần cơ chế để nhân rộng các mô hình kinh tế tuần hoàn, không chỉ trong các tập đoàn lớn mà cả ở hộ gia đình và doanh nghiệp nhỏ. Cùng với đó, cần tăng cường năng lực và ứng dụng khoa học công nghệ, bởi đây không chỉ là vấn đề kỹ thuật mà là xu thế tất yếu của thời đại.
WWF mong muốn tiếp tục đồng hành cùng Chính phủ, chính quyền địa phương và cộng đồng doanh nghiệp để thúc đẩy một nền kinh tế tuần hoàn hoàn chỉnh, gắn với bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững tại Việt Nam”.
“Theo đánh giá, Việt Nam là một trong những quốc gia dễ bị tổn thương nhất trên thế giới bởi biến đổi khí hậu. Trong năm 2025, Việt Nam đã chịu tổn thất 100.000 tỷ đồng liên quan đến các thảm họa tự nhiên, biến đổi khí hậu.
Theo ước tính của Ngân hàng Thế giới (WB), đến năm 2030, nếu không có các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu, chúng ta sẽ giảm 9,1% GDP so với mức cơ sở và đến năm 2050, sẽ tăng lên 12,5%.
Nếu không triển khai các biện pháp thích ứng, tăng trưởng GDP thực của Việt Nam trong giai đoạn 2025-2050 có thể giảm trung bình 0,33 điểm phần trăm hằng năm, ảnh hưởng đến mục tiêu trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045.
Vì vậy, các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu, các giải pháp kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh chắc chắn là con đường tất yếu của Việt Nam trong thời gian tới.
Năm 2025 đánh dấu thời điểm then chốt khi các chính sách vĩ mô như Quyết định 222/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện kinh tế tuần hoàn và Quyết định 21/2025/QĐ-TTg về Danh mục phân loại xanh đi vào thực tiễn cuộc sống.
Cũng trong năm 2025, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân. Quốc hội đã có Nghị quyết số 198/2025/QH15 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân trong đó nêu rõ: doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh được Nhà nước hỗ trợ lãi suất 2%/năm khi vay vốn để thực hiện các dự án xanh, tuần hoàn và áp dụng khung tiêu chuẩn ESG.
Trong các Hiệp định FTA thế hệ mới, yêu cầu phát triển bền vững liên quan đến môi trường và yêu cầu phát triển bao trùm liên quan đến xã hội đều là các yếu tố bắt buộc.
Từ đầu năm 2024, Liên minh châu Âu đã yêu cầu báo cáo Phát triển Bền vững của doanh nghiệp (CSRD). Liên minh châu Âu cũng yêu cầu báo cáo về CSDDD - yêu cầu thẩm định trên toàn chuỗi cung ứng.
Đây là những thách thức lớn với các doanh nghiệp Việt Nam, doanh nghiệp xuất khẩu cũng như doanh nghiệp FDI ở Việt Nam trong thời gian tới nếu không có bước chuẩn bị cần thiết để chuyển sang nền kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh và thực hiện các báo cáo về ESG.
Tại Hội nghị Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu ở Copenhagen năm 2009, các nước phát triển đã cam kết hỗ trợ 100 tỷ USD mỗi năm cho các nước đang phát triển. Còn Thỏa thuận Paris năm 2015, các nước phát triển đã tái cam kết hỗ trợ 100 tỷ USD đến năm 2020. Tại Hội nghị COP29, các nước phát triển đã nâng mức hỗ trợ lên 300 tỷ USD mỗi năm và cam kết sẽ nâng lên 1.300 tỷ USD mỗi năm vào năm 2035.
Có thể thấy, các cam kết của thế giới liên quan đến giảm phát thải, kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh rất lớn, nhưng đó vẫn là mức rất nhỏ. Theo ước tính của OECD, thế giới cần 100 nghìn tỷ USD để chuyển sang nền kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh và kinh tế carbon thấp. Do đó, mức hỗ trợ 100 tỷ USD mới chỉ tương đương 0,1% và tới năm 2035, nếu nâng lên 1.300 tỷ USD thì mới chỉ đạt khoảng 1,3% toàn cầu.
Trong thời gian qua, tài chính xanh toàn cầu đã thu hút 1.900 tỷ USD và 1.700 tỷ USD tập trung vào 3 lĩnh vực chính là năng lượng, xây dựng và giao thông vận tải.
Ở Việt Nam, đến tháng 9/2025 đã huy động được 744 nghìn tỷ đồng liên quan đến tín dụng xanh, tương đương 6,44% GDP của Việt Nam, là mức tương ứng của tài chính xanh trên toàn cầu.
Có thể nói đây là cơ hội để Việt Nam có thể huy động nguồn lực tài chính xanh, hỗ trợ quá trình chuyển đổi xanh, chuyển đổi sang nền kinh tế tuần hoàn, kinh tế carbon thấp.
Theo Thỏa thuận Paris, chúng ta cần có 3 yêu cầu cơ bản về: tài chính xanh, công nghệ xanh và tăng cường năng lực xanh.
Tại Việt Nam, trong các kế hoạch chiến lược đã đưa ra các giải pháp: thể chế để chuyển đổi xanh, chuyển đổi tuần hoàn; tài lực, nhân lực; hạ tầng xanh, tài chính xanh, công nghệ xanh, năng lực xanh; tuyên truyền nâng cao nhận thức…”.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 51-52-2025 phát hành ngày 22-29/12/2025. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://vneconomy.vn/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-5152-2025.htm
-
Hiến kế “chuyển đổi kép” và khơi thông dòng vốn để bứt phá
“Tốc độ tăng trưởng GRDP của Thủ đô năm 2025 ước đạt khoảng 8,5%. Đây là mức tăng trưởng cao so với năm trước, đặc biệt trong bối cảnh năm 2025 tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức từ tình hình kinh tế trong nước và quốc tế.
Cùng với tăng trưởng kinh tế, các chỉ tiêu vĩ mô khác của Hà Nội cũng ghi nhận kết quả tích cực. Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đến nay ước đạt khoảng 650 nghìn tỷ đồng, mức cao nhất từ trước đến nay. Kết quả này phản ánh nỗ lực lớn của thành phố trong việc phục hồi sản xuất kinh doanh, mở rộng cơ sở thu và cải thiện hiệu quả quản lý ngân sách.
Bên cạnh đó, công tác giải ngân, đặc biệt là giải ngân vốn đầu tư công, được xác định là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Thủ đô trong năm 2025. Nhiều dự án hạ tầng, chỉnh trang đô thị và các công trình trọng điểm được tập trung tháo gỡ vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ triển khai, qua đó tạo hiệu ứng lan tỏa đối với các ngành, lĩnh vực kinh tế khác không chỉ với Thủ đô mà các tỉnh, thành phố lân cận.
Trong những tháng cuối năm, thành phố tiếp tục tập trung nguồn lực cho các ngành dịch vụ, trong đó du lịch được xác định là điểm sáng. Năm 2025, tổng lượng khách du lịch đến Hà Nội ước đạt trên 33 triệu lượt, trong đó có khoảng 7–8 triệu lượt khách quốc tế. Kết quả này cho thấy sự phục hồi rõ nét của ngành du lịch, đồng thời góp phần quan trọng vào tăng trưởng chung của kinh tế Thủ đô.
Một trong những yếu tố tạo nền tảng quan trọng cho quá trình phát triển của Hà Nội thời gian qua là việc Quốc hội đã thông qua nhiều luật, nghị quyết tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho hoạt động sản xuất kinh doanh, trong đó có các cơ chế, chính sách dành riêng cho Thủ đô.
Đáng chú ý, Nghị quyết số 258/2025/QH15 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù để thực hiện các dự án lớn, quan trọng trên địa bàn Thủ đô đã tạo ra khuôn khổ pháp lý mới, giúp thành phố có thêm dư địa khai thông nguồn lực cho đầu tư và phát triển. Nghị quyết này tập trung tháo gỡ các rào cản vốn được xem là điểm nghẽn trong quá trình triển khai các dự án mang tính động lực, như công tác quy hoạch, giao đất, cơ chế bồi thường, giải phóng mặt bằng và tổ chức thực hiện dự án.
Các nhóm chính sách này sẽ giúp thành phố chủ động hơn trong việc chuẩn bị và triển khai các dự án lớn, trong đó có nhiều dự án dự kiến khởi công trong dịp 19/12/2025, với quy mô đầu tư rất lớn, có những dự án lên tới cả triệu tỷ đồng.
Việc triển khai đồng bộ các dự án trọng điểm, đặc biệt là các dự án quy mô lớn, sẽ tạo xung lực mới cho phát triển kinh tế Thủ đô. Trên cơ sở đó, Hà Nội sẽ tiếp tục tập trung chỉnh trang, tái thiết các khu đô thị hiện hữu, qua đó lan tỏa động lực tăng trưởng sang các địa phương lân cận và các lĩnh vực kinh tế khác.
Với những nền tảng và động lực đang được củng cố, Hà Nội đặt mục tiêu tạo đà cho giai đoạn phát triển mới với tốc độ tăng trưởng cao hơn, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố đã đề ra”.
“Trong hơn 80 năm qua, ngành Nông nghiệp và Môi trường đã đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, giữ vai trò bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, ổn định xã hội, đồng thời là nền tảng cho nhiều ngành kinh tế và thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững, cam kết quốc tế của Việt Nam.
Từ một quốc gia phải nhập khẩu hàng triệu tấn lương thực mỗi năm, Việt Nam hiện đã trở thành một trong những cường quốc sản xuất và xuất khẩu nông, lâm, thủy sản. Nhiều mặt hàng như lúa gạo, cà phê, điều, trái cây nằm trong nhóm dẫn đầu thế giới, với sản phẩm nông nghiệp Việt Nam đã có mặt tại gần 200 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Trong 11 tháng năm 2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu nông, lâm, thủy sản đạt trên 64 tỷ USD, tăng gần 13% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất siêu đạt 19,55 tỷ USD, tăng 19%. Ước tính cả năm 2025, kim ngạch xuất nhập khẩu toàn ngành đạt khoảng 70 tỷ USD, xuất siêu khoảng 21 tỷ USD, vượt mục tiêu đề ra.
Mặc dù đối mặt nhiều khó khăn do biến đổi khí hậu, thiên tai và biến động thị trường thế giới, ngành nông nghiệp vẫn duy trì mức tăng trưởng khoảng 4% trong nhiều năm qua, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng chung của nền kinh tế. Riêng năm 2025, lĩnh vực này dự kiến đóng góp khoảng 5,5% vào tăng trưởng GDP cả nước.
Cùng với đó, diện mạo nông thôn và đời sống người dân tiếp tục được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 1,93%, độ che phủ rừng đạt 42,03%. Các lĩnh vực quản lý tài nguyên và môi trường như đất đai, khoáng sản, tài nguyên nước, rừng, biển, khí tượng thủy văn cũng có bước phát triển mạnh, đóng góp ngày càng rõ nét cho nền kinh tế.
Mặc dù đạt được nhiều kết quả tích cực, song thời gian tới ngành cũng sẽ phải đối mặt với không ít thách thức, đó là tăng trưởng chưa thực sự ổn định, giá trị gia tăng còn thấp, thu nhập của người dân nông thôn trực tiếp sản xuất nông nghiệp còn hạn chế, trong khi tác động của biến đổi khí hậu ngày càng rõ nét. Ngoài ra, bất ổn địa chính trị và xu hướng bảo hộ thương mại, rào cản kỹ thuật tại nhiều thị trường xuất khẩu đòi hỏi nông sản Việt Nam phải chuyển mạnh sang hướng xanh hơn, sạch hơn và minh bạch hơn.
Để góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số của nền kinh tế giai đoạn 2026–2030, ngành Nông nghiệp và Môi trường đặt mục tiêu duy trì tốc độ tăng trưởng khoảng 3,5% mỗi năm trong 5 năm tới. Trong đó, trọng tâm là bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, không để xảy ra thiếu đói cục bộ, đồng thời hướng tới mục tiêu kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản đạt 100 tỷ USD.
Ngành cũng sẽ đẩy mạnh chuyển đổi mô hình sản xuất theo hướng xanh, sạch, an toàn thực phẩm, phát triển nông nghiệp tuần hoàn, giảm phát thải, tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, chế biến sâu nhằm nâng cao năng suất và giá trị gia tăng. Song song với đó là chủ động phòng, chống thiên tai, giảm thiểu tác động bất lợi của thời tiết cực đoan tới sản xuất và đời sống người dân.
Trong quản lý tài nguyên, sẽ thúc đẩy việc sử dụng hiệu quả đất đai, khoáng sản thông qua tăng cường giám sát bằng công nghệ số, viễn thám và trí tuệ nhân tạo; đồng thời, đẩy mạnh phục hồi rừng tự nhiên và hệ sinh thái rừng ngập mặn để bảo đảm đa dạng sinh học.
Về môi trường, ngành đặt mục tiêu triển khai quyết liệt các giải pháp giảm ô nhiễm, phát triển bền vững theo xu hướng toàn cầu. Đáng chú ý, ngay đầu năm 2026, Việt Nam phấn đấu hình thành thị trường tín chỉ carbon, trước mắt là thị trường trong nước, sau đó từng bước kết nối với thị trường quốc tế, phù hợp với các cam kết và lợi ích quốc gia.
Đặc biệt, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách phát triển, bám sát các kết luận, chỉ đạo của Trung ương, Bộ Chính trị và Chính phủ. Trong kỳ họp thứ 10 vừa qua, Quốc hội đã thông qua việc sửa đổi đồng loạt 17 luật do Bộ chủ trì, bước đầu tháo gỡ nhiều điểm nghẽn, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân trong sản xuất, kinh doanh.
Chuyển đổi xanh, phát triển bền vững và kinh tế tuần hoàn không chỉ là yêu cầu bắt buộc mà còn là hướng đi chiến lược để ngành Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục đóng góp hiệu quả cho tăng trưởng kinh tế đất nước trong giai đoạn tới”.
“Theo tôi, để đạt được mục tiêu tăng trưởng hai con số, Việt Nam có thể tham khảo chiến lược 4S.
Chữ S thứ nhất là Scale (Quy mô). Chúng tôi khuyến nghị Việt Nam nên thúc đẩy phát triển hơn nữa cơ sở hạ tầng. Chẳng hạn, về hạ tầng logistics, cần xây dựng hiệu quả hệ thống cảng biển, hàng không,... đảm bảo chất lượng đồng bộ toàn bộ hệ thống.
Chúng tôi đánh giá cao việc Chính phủ Việt Nam đã rất tích cực cải cách hành chính thời gian qua. Nếu được đề xuất thêm, chúng tôi mong muốn Chính phủ cân nhắc việc thiết lập “luồng xanh”, tạo điều kiện thuận lợi thủ tục hải quan, thủ tục xuất nhập khẩu, cấp phép đầu tư,... Như vậy, sẽ giúp Việt Nam tăng cường tính cạnh tranh trên thị trường toàn cầu.
Chữ S thứ hai là “School”(Trường học), đầu tư vào giáo dục cũng chính là đầu tư vào đổi mới sáng tạo. Đối với vấn đề này, chúng tôi thấy rằng Việt Nam cũng đang dành rất nhiều sự quan tâm.
Chữ S thứ ba là “Smart” (Thông minh), chúng ta phải đầu tư vào công nghệ để nâng cao hiệu quả hoạt động. Dĩ nhiên, đây đều là những lĩnh vực đòi hỏi nhiều thời gian, nỗ lực và vốn.
Chữ S cuối cùng là “Sustainable” (Bền vững). Đối với mục tiêu này, Việt Nam có thể thiết lập các ưu đãi thuế, các chính sách hỗ trợ,... để giúp doanh nghiệp dễ dàng tham gia, từ đó đóng góp vào quá trình tăng trưởng của Việt Nam”.
“Trong suốt 34 năm Heineken có mặt tại thị trường Việt Nam, chúng tôi đã chứng kiến tinh thần doanh nhân mạnh mẽ của đất nước. Việt Nam không chỉ là một trong những thị trường chủ chốt của Tập đoàn, mà còn là điểm đến hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài khác.
Heineken đang nhìn thấy những cơ hội rất lớn để tiếp tục đầu tư, mở rộng công suất theo hướng bền vững, đồng thời thúc đẩy kế hoạch xuất khẩu từ Việt Nam. Việt Nam đang tạo ra môi trường đầu tư ngày càng ổn định, bền vững và thuận lợi, với nhiều lợi thế để thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài. Với tư cách là nhà đầu tư dài hạn, Heineken coi Việt Nam là một trong những điểm đến FDI hấp dẫn nhất trong khu vực.
Tuy nhiên, trong một môi trường đầu tư ổn định, việc thực thi chính sách cần bảo đảm tính tương xứng và hợp lý, ví dụ, tăng cường áp dụng công nghệ truy xuất nguồn gốc, thực thi nhất quán các tiêu chuẩn quốc tế,... Chính điều này cũng sẽ giúp người tiêu dùng Việt Nam được tiếp cận các sản phẩm an toàn, chất lượng cao.
Liên quan đến thuế tiêu thụ đặc biệt, chúng tôi đồng tình đây là công cụ chính sách quan trọng để bảo vệ sức khỏe cộng đồng và nâng cao nguồn thu ngân sách. Tuy nhiên, theo quan sát của chúng tôi từ kinh nghiệm tại nhiều quốc gia phát triển cho thấy, thuế tiêu thụ đặc biệt sẽ phát huy hiệu quả tốt nhất khi được xây dựng trên cơ sở đa yếu tố, nhất là cần dựa trên tình hình thực tiễn. Do đó, chúng tôi cũng kiến nghị Chính phủ theo đuổi lộ trình áp dụng từ từ, phù hợp với thông lệ quốc tế, nhằm đạt các mục tiêu về sức khỏe cộng đồng, đồng thời vẫn duy trì niềm tin của nhà đầu tư.
Về phát triển bền vững và chuyển đổi xanh, Heineken đã cam kết đảm bảo thực hiện trách nhiệm trong suốt nhiều năm hoạt động tại Việt Nam. Trên cơ sở đó, chúng tôi đề xuất hai khuyến nghị cụ thể.
Thứ nhất, về năng lượng tái tạo, chúng tôi hoan nghênh việc Việt Nam phê duyệt cơ chế Mua bán điện trực tiếp (DPPA) từ tháng 7/2024. Tuy nhiên, chúng tôi hy vọng sẽ sớm có thêm các quy định, hướng dẫn cụ thể, rõ ràng để hoạt động thỏa thuận mua bán được diễn ra thuận lợi.
Thứ hai, nâng cao hiệu quả sử dụng nước cũng là vấn đề quan trọng của phát triển kinh tế bền vững và kinh tế tuần hoàn. Với vị trí quan trọng của Việt Nam trong Tập đoàn, Heineken đã không ngừng cải thiện hiệu quả và tăng cường an ninh nguồn nước. Thực tế, các nhà máy tại Việt Nam hiện là những nhà máy có hiệu quả sử dụng nước cao nhất trong toàn hệ thống Heineken toàn cầu.
Doanh nghiệp cũng đã đầu tư vào công nghệ xử lý nước thải tiên tiến, đưa nước sau xử lý đạt tiêu chuẩn loại A, đồng thời đảm bảo tái sử dụng nước,… Tuy nhiên, nếu chưa có khung quy định rõ ràng để hỗ trợ, cho phép và khuyến khích tái sử dụng nước an toàn, thì cả doanh nghiệp và Việt Nam đều chưa thể khai thác hết lợi ích từ những khoản đầu tư này.
Tại châu Âu, tái sử dụng nước đã trở thành tiêu chuẩn, nhờ các khuôn khổ rõ ràng và chính sách hỗ trợ, doanh nghiệp trong khu vực đã tích cực tuân thủ yêu cầu tuần hoàn nước, từ đó góp phần bảo đảm an ninh nguồn nước và nâng cao hiệu quả sử dụng nước trong công nghiệp”.
“Với quy mô doanh thu hiện nay trên 1 triệu tỷ đồng, PVN đang đối diện với áp lực lớn trong việc duy trì đà tăng trưởng hai con số. Để giải quyết bài toán này, Tập đoàn xác định đổi mới công tác đầu tư là động lực then chốt, tập trung vào hai hướng chiến lược:
Thứ nhất, đầu tư tập trung theo mô hình trung tâm công nghiệp năng lượng theo hướng sinh thái, nhằm phát huy được quy mô đầu tư, tạo ra hiệu quả kinh doanh, cũng như phát huy chuỗi giá trị của ngành để tạo ra những tối ưu về mặt công nghệ, về dòng chảy năng lượng và các giá trị mới.
Thứ hai, mở rộng đầu tư ra nước ngoài theo hướng linh hoạt các hình thức đầu tư, đặc biệt là chú trọng vào hình thức MA (mua bán - sáp nhập) để nhanh chóng hiện thực hóa doanh thu và tạo ra sự tăng trưởng nhanh nhưng bền vững.
Để thực hiện định hướng trên, PVN có hai kiến nghị:
Về quy hoạch, Chính phủ cần rà soát, định hướng đầu tư tập trung vào các cụm năng lượng lớn và tạo cơ chế đột phá cho các mô hình sinh thái. Điều này sẽ tạo tiền đề “làm mồi” thu hút các doanh nghiệp lớn và đối tác chiến lược tham gia các dự án quy mô, bền vững. Hiện, PVN đang tích cực phối hợp với một số địa phương về vấn đề này.
Về cơ chế, bên cạnh Luật số 68/2025/QH15 đã ban hành, cần sớm có các nghị định hướng dẫn theo hướng tăng cường phân cấp mạnh mẽ hơn cho doanh nghiệp nhà nước, cho chủ sở hữu, đại diện cơ quan chủ sở hữu cũng như Hội đồng thành viên của các tập đoàn nhà nước. Việc này giúp doanh nghiệp có thể quyết định mạnh mẽ hơn, nhanh chóng hơn để tận dụng các cơ hội đầu tư, đặc biệt là đầu tư ra nước ngoài, nhằm thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững trong thời gian tới”.
“Việc xác định mô hình tăng trưởng mới dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là định hướng chiến lược quan trọng mà Việt Nam cần kiên định thúc đẩy. Trong đó, chuyển đổi kép (chuyển đổi số và chuyển đổi xanh) chính là động lực then chốt cho sự phát triển kinh tế giai đoạn mới.
Trên tinh thần đó, tôi xin đề xuất ba kiến nghị cụ thể như sau:
Thứ nhất, về phát huy vai trò dẫn dắt của kinh tế tư nhân trong hạ tầng số và AI. Nghị quyết số 68-NQ/TW (tháng 5/2025) đã xác định rõ vai trò của kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân. Thực tế, khi Chiến lược phát triển AI được công bố ngày 11/09/2024, đã tạo ra một làn sóng mạnh mẽ trong cả nước về nhận thức và việc lấy AI làm chiến lược chuyển đổi. Khối tư nhân đã có sự chuẩn bị nền tảng từ hàng chục năm nay, nên khi công bố chiến lược đó, xã hội đã đón nhận ngay lập tức.
Tôi khẳng định trong lĩnh vực này, kinh tế tư nhân hoàn toàn có khả năng đóng vai trò dẫn dắt. Chính phủ cần tập trung đầu tư cho các doanh nghiệp đầu tàu; CMC sẵn sàng là một trong 5 doanh nghiệp dẫn dắt về AI. Đối với hạ tầng số và hạ tầng AI, Chính phủ hoàn toàn có thể tin tưởng vào năng lực đầu tư của khối tư nhân bên cạnh các doanh nghiệp nhà nước.
Thứ hai, về nâng cao năng lực cạnh tranh của chính sách kinh tế số. Qua khảo sát thực tế và xúc tiến đầu tư tại Singapore, nhận thấy chính sách kinh tế số của Việt Nam hiện chưa đủ sức cạnh tranh so với các nước trong khu vực như Singapore hay Thái Lan. Đây là lý do nhóm GAFA (4 công ty công nghệ toàn cầu) vẫn chưa chọn Việt Nam làm địa điểm đầu tư trọng điểm.
Tôi kiến nghị Chính phủ lập bảng so sánh chi tiết chính sách kinh tế số giữa Việt Nam với Singapore và Malaysia xem chúng ta có điểm gì khác biệt hoặc chưa bằng. Chúng ta phải xây dựng chính sách, ít nhất là cạnh tranh được, thậm chí phải tốt hơn các nước khác, thì mới có thể thu hút đầu tư.
Thứ ba, về mô hình Trung tâm Đổi mới sáng tạo và cơ chế giao nhiệm vụ. Hiện nay, khối tư nhân đang chiếm tỷ trọng lớn, đồng thời các viện nghiên cứu và trường đại học tư nhân cũng đang phát triển mạnh. CMC đang cùng Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh và Đà Nẵng xây dựng Trung tâm Đổi mới sáng tạo theo mô hình kết hợp “3 nhà”: Doanh nghiệp tư nhân – Trường đại học – Nhà nước. Đây là mô hình chúng tôi học tập từ Singapore và Hàn Quốc, là những nơi có chính sách ưu đãi đặc biệt cho loại hình này.
Chúng tôi mong muốn Nhà nước tin tưởng giao nhiệm vụ. Ví dụ, Singapore dù diện tích nhỏ vẫn dành 200 ha cho đô thị khoa học, công nghệ đổi mới sáng tạo. Với quỹ đất tại TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam hoàn toàn có thể xây dựng những đô thị quy mô hàng nghìn ha. Với tư cách là doanh nghiệp tư nhân, chúng tôi hoàn toàn có thể thực hiện được các nhiệm vụ này”.
“Với quy mô 46 tỷ USD và vị thế đứng thứ hai thế giới, ngành dệt may Việt Nam hiện khó có thể đạt mục tiêu tăng trưởng 10% nếu chỉ dựa vào mở rộng quy mô (tăng trưởng theo chiều rộng). Nguyên nhân là nhu cầu thế giới hiện chỉ tăng khoảng 3%, do đó dệt may Việt Nam tối đa cũng chỉ có thể tăng 3-5% theo hướng này.
Vì vậy, ngành đang chuyển hướng sang tăng trưởng theo chiều sâu, cụ thể là tăng thặng dư thương mại trên 10%. Năm nay, thặng dư xuất khẩu dự kiến đạt 22 tỷ USD; để đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng chung 10%, con số này cần đạt trên 24 tỷ USD vào năm 2026.
Để hiện thực hóa mục tiêu trên, cần thực hiện đồng bộ hai nhóm giải pháp:
Thứ nhất, phải có chính sách mua nguyên vật liệu trong nước thuận lợi hơn so với nhập khẩu nguyên vật liệu. Hiện nay, việc nhập khẩu nguyên vật liệu thuận lợi hơn cho doanh nghiệp vì không phải đóng thuế VAT và các thủ tục xuất khẩu cũng rất dễ dàng. Trong khi đó, nếu muốn mua nguyên vật liệu trong nước thì doanh nghiệp phải ứng thuế VAT, thuế mua hàng, thủ tục khá phức tạp. Chính vì vậy, cần thiết kế chính sách thuế riêng biệt cho các mặt hàng mua trong nội địa để phục vụ xuất khẩu. Ví dụ, trong quá khứ Việt Nam đã có ưu tiên giảm thuế doanh thu 50% cho doanh nghiệp.
Thứ hai, để đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng GDP thì doanh nghiệp phải tăng lương cho người lao động 10%. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp sẽ phải chuyển đổi mô hình theo hướng tự động hóa để không tăng số lượng công nhân mà tăng năng suất lao động.
Vì vậy, chúng tôi kiến nghị, cần có cơ chế giảm trừ một phần thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các đơn vị tăng lương trên 10% cho người lao động. Khi có những chính sách này thì các doanh nghiệp sử dụng lao động với số lượng lớn (thường là doanh nghiệp có kim ngạch xuất khẩu cao) có thể tăng cường mua nguyên phụ liệu nội địa và tăng lương cho người lao động. Nếu thặng dư xuất khẩu và tiền lương tăng trên 10%, thì ngành dệt may mới thực sự đóng góp hiệu quả vào tăng trưởng kinh tế đất nước”.
“VinaCapital đã đầu tư tại Việt Nam hơn 20 năm, với phần lớn các khoản đầu tư tập trung vào khu vực kinh tế tư nhân. Có hai trụ cột là yếu tố quan trọng để tạo ra đột phá tăng trưởng kinh tế mới, qua đó giúp Việt Nam hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai chữ số.
Thứ nhất, trụ cột quan trọng nhất là công nghệ, động lực cho đột phá tăng trưởng trong giai đoạn tới.
Thứ hai, Trung tâm Tài chính quốc tế (IFC), gắn với huy động thêm nguồn vốn cho phát triển.
Hai trụ cột này sẽ song hành và bổ trợ lẫn nhau, trở thành đồng tác nhân thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam. Công nghệ sẽ đóng vai trò nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế, trong khi IFC sẽ giúp huy động dòng vốn toàn cầu dài hạn vào các lĩnh vực ưu tiên, đồng thời kết nối Việt Nam sâu hơn với hệ thống tài chính quốc tế.
Về công nghệ, Việt Nam cần xây dựng một mạng lưới hạ tầng thông minh, hướng tới một nền kinh tế công nghệ, trong đó hạ tầng AI phải được coi là nền tảng. Hiện nay, VinaCapital đang hợp tác với các nhà đầu tư đến từ UAE để triển khai một trung tâm dữ liệu AI quy mô lớn tại TP. Hồ Chí Minh. Bởi các trung tâm dữ liệu siêu quy mô (hyperscale) sẽ là nền móng để góp phần phát triển công nghệ và trung tâm tài chính.
Nếu Việt Nam làm chủ AI và hạ tầng điện toán đám mây, những lợi ích có được là rất lớn, từ giảm chi phí, nâng cao hiệu quả, năng lực đổi mới sáng tạo và khả năng cạnh tranh, cho tới tăng cường mức độ an toàn và an ninh. Đây cũng là nền tảng căn bản để hình thành trung tâm AI, tạo chất xúc tác phát triển cho các công nghệ khác.
Những điều này cũng kéo theo vấn đề tiếp theo là nguồn vốn. Hiện nay, nhiều ước tính cho rằng Việt Nam cần khoảng 300 – 400 tỷ USD mỗi năm để duy trì tốc độ tăng trưởng cao. Câu hỏi then chốt là: Nguồn vốn này sẽ đến từ đâu?
Chúng tôi cho rằng việc huy động nguồn vốn từ trong nước, nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp nội địa là rất quan trọng. Trong cuộc diện kiến với lãnh đạo nhà nước, chúng tôi cũng đã đề xuất xây dựng các quỹ phát triển để hỗ trợ trực tiếp các doanh nghiệp Việt Nam mở rộng và phát triển.
Tuy nhiên, do nguồn vốn trong nước chưa đáp ứng đủ nhu cầu, Việt Nam cần thu hút thêm dòng vốn quốc tế. Một thực tế bất lợi là chi phí vốn tại Việt Nam (bao gồm cả vốn vay và vốn chủ sở hữu) hiện đang cao gấp đôi so với Thái Lan và Malaysia. Đơn cử, để vay vốn mở rộng hoạt động, doanh nghiệp Việt Nam phải chịu lãi suất trung bình khoảng 8%, trong khi con số này tại hai quốc gia láng giềng chỉ bằng một nửa. Mức chi phí vốn đắt đỏ này tạo ra rào cản lớn, khiến doanh nghiệp Việt Nam bị thua thiệt trong cạnh tranh.
Vì vậy, cần “kéo giảm” chi phí vốn, cả vốn cổ phần lẫn vốn vay. Về vốn cổ phần, cần tăng cường hoạt động các quỹ nội địa, đa dạng hóa các sản phẩm tài chính, qua đó giảm chi phí vốn cho doanh nghiệp. Ở bình diện quốc tế, chúng tôi kỳ vọng IFC sẽ đóng vai trò then chốt, giúp đưa dòng vốn quốc tế vào Việt Nam cho phát triển hạ tầng và tài trợ các dự án quy mô lớn.
Thị trường IFC có hai trụ cột. Một là, thị trường tài chính truyền thống, nơi các ngân hàng quốc tế, các nhà quản lý tài sản cho vay và đầu tư vào các dự án tại Việt Nam.
Hai là, sàn giao dịch. Ở mảng này, chúng ta cần tạo ra một mô hình mà chưa nơi nào khác ở châu Á làm, vì Việt Nam không thể và cũng không nên cạnh tranh trực diện với Hồng Kông hay Singapore.
Do đó, chúng ta nên có sàn giao dịch hàng hóa để nông dân Việt Nam có thể bán trực tiếp ra thị trường quốc tế. Bên cạnh đó, tạo sàn giao dịch cho các loại tài sản mới, như tài sản số, cũng là hướng đi mới để Việt Nam có thêm “đường ống” hút ròng vốn từ nước ngoài”.
“Hiện nay, ngành bán lẻ tại Việt Nam mới chỉ đóng góp khoảng 13% vào GDP. Khi so sánh với Thái Lan – nơi ngành này chiếm tới 55-60% quy mô kinh tế, có thể thấy thị trường bán lẻ Việt Nam vẫn còn rất nhiều dư địa để phát triển.
Bên cạnh việc tuân thủ nghiêm ngặt các quy định địa phương và quy chuẩn an toàn, ngành bán lẻ còn đóng vai trò là một công cụ hiệu quả để nâng cao chất lượng đời sống và xã hội của một quốc gia. Đây là môi trường mang lại cơ hội thăng tiến rộng mở cho người lao động; một nhân viên thu ngân, nếu làm việc chăm chỉ và quyết tâm, hoàn toàn có thể vươn lên trở thành CEO của doanh nghiệp trong tương lai.
Tuy nhiên, rào cản lớn nhất mà các doanh nghiệp như Central Retail gặp phải tại Việt Nam là khó khăn trong việc mua bất động sản phục vụ hoạt động kinh doanh. Quá trình này diễn ra rất phức tạp do nhiều nguyên nhân, chủ yếu xuất phát từ khả năng tiếp cận đất phục vụ mục đích thương mại. Mặc dù, Việt Nam sở hữu quỹ đất nông nghiệp và công nghiệp dồi dào, nhưng thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng sang đất thương mại dịch vụ lại là một quá trình "dài hơi", thường kéo dài hàng tháng đến hàng năm.
Central Retail kỳ vọng chính quyền các địa phương sẽ chủ động hơn trong việc thay đổi và điều chỉnh quy hoạch tổng thể. Việc xúc tiến các dự án bán lẻ không chỉ mang lại lợi ích cho nhà vận hành, mà còn tạo ra doanh thu và công việc cho các doanh nghiệp xây dựng, phát triển bất động sản.
Một thách thức quan trọng khác đối với doanh nghiệp bán lẻ nói chung và doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài tại Việt Nam nói riêng, là quy trình xin giấy phép khi mở thêm các cơ sở kinh doanh bán lẻ. Việc tạo cơ chế công bằng, xếp doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài tương đương với các nhà bán lẻ nội địa trong quá trình xin giấy phép sẽ là động lực lớn để hỗ trợ các khoản đầu tư.
Về kế hoạch phát triển, Central Retail dự kiến đầu tư khoảng 1,5 tỷ USD vào Việt Nam trong vòng 5 năm tới. Doanh nghiệp mong muốn và sẵn sàng đầu tư nhiều hơn thế, nhưng nếu không có quỹ đất để xây dựng cơ sở và phải chờ đợi giấy phép trong thời gian quá dài, việc hiện thực hóa các khoản đầu tư này tại Việt Nam sẽ gặp rất nhiều trở ngại”.
“Việt Nam có cơ hội để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai chữ số trong giai đoạn tới. Chúng tôi đề xuất mười khuyến nghị cụ thể, chia thành hai nhóm chiến lược.
Nhóm thứ nhất, tập trung vào việc nắm bắt động lực và mở khóa các cơ hội ngay lập tức trong nước và toàn cầu, bao gồm sáu hành động ưu tiên để tăng tốc tăng trưởng trong ngắn hạn.
Một, nâng cấp Cục Đầu tư nước ngoài (FIA), cả ở cấp trung ương và địa phương, để thu hút FDI chất lượng cao hơn. Việt Nam đang hưởng lợi từ sự chuyển hướng lớn của thương mại và chuỗi cung ứng toàn cầu. Để tận dụng điều này một cách đầy đủ, một “FIA 2.0” trung ương có thể tăng cường chuyên môn theo ngành phù hợp với các ngành công nghệ mới và đảm nhận một nhiệm vụ mở rộng, bao gồm quản lý cấp phát ưu đãi. Ở cấp địa phương, các tỉnh và thành phố có thể thành lập các đơn vị FIA chịu trách nhiệm chăm sóc nhà đầu tư và hỗ trợ toàn diện.
Hai, mở rộng và phối hợp một mạng lưới Đặc khu rộng lớn hơn, bao gồm các khu vực thương mại tự do, trung tâm tài chính quốc tế và khu kinh tế tự do. Những khu vực này có thể trở thành chất xúc tác mạnh mẽ, cung cấp các ưu đãi cạnh tranh, quy trình hành chính liền mạch và quy mô đủ lớn để cạnh tranh khu vực và toàn cầu.
Ba, củng cố các tổ chức xuất khẩu và cơ chế ưu đãi của Việt Nam. Điều này bao gồm nâng cấp và có thể hợp nhất Cơ quan Xúc tiến Thương mại Việt Nam thành một mô hình tương tự như Cơ quan Xúc tiến Thương mại và Đầu tư Hàn Quốc (KOTRA). Các ưu đãi bổ sung có thể đơn giản hóa thủ tục hải quan, logistics và tài chính xuyên biên giới. Trao quyền cho các ngân hàng Việt Nam với các công cụ tương tự sẽ giúp các doanh nghiệp trong nước mở rộng ra toàn cầu.
Bốn, khởi động các chương trình quốc gia để mở rộng nền kinh tế trong nước, hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua các yếu tố hỗ trợ có mục tiêu và nuôi dưỡng các doanh nghiệp hàng đầu quốc gia, có thể tạo ra hiệu ứng lan tỏa trong hệ sinh thái của họ.
Năm, tăng tốc thực hiện các cơ sở hạ tầng quan trọng trong giao thông và năng lượng.
Sáu, đảm bảo tiếp cận tài chính đủ và ổn định, huy động vốn trong nước, ngân sách chính phủ và các tổ chức tài chính quốc tế như những công cụ chính.
Nhóm thứ hai, tập trung vào những khoản đầu tư lớn, xây dựng nền tảng cho 3 đến 10 năm tới, bao gồm bốn ưu tiên hành động.
Bảy, phát triển ba đến bốn lĩnh vực mới có khả năng cạnh tranh toàn cầu, có thể trở thành động lực tăng trưởng tiếp theo của Việt Nam như điện tử và bán dẫn, nông nghiệp, dịch vụ số và kinh tế xanh.
Tám, chuyển đổi sang nền kinh tế dựa trên đổi mới và công nghệ, trở thành nền kinh tế ưu tiên số hóa và trí tuệ nhân tạo (AI).
Chín, xây dựng lực lượng lao động STEM. Đây là một trong những lợi thế cạnh tranh dài hạn quan trọng nhất mà Việt Nam có thể tạo ra và là yếu tố thiết yếu cho sự thành công trong tất cả các ngành công nghiệp tương lai.
Mười, về việc thực thi. Hiện nay, Việt Nam có hơn 40 ủy ban quốc gia và nhiều luật mới, phản ánh định hướng chính sách rõ ràng. Làm thế nào để thực thi nhanh chóng, trên quy mô lớn và sử dụng nguồn lực hiệu quả. Chúng tôi khuyến nghị xem xét cấu trúc thực thi ba cấp đơn giản: cấp cao nhất là Ủy ban Quốc gia; cấp dưới là một tập hợp các ủy ban quốc gia được thu gọn, có thể sáp nhập các cơ quan chỉ đạo hiện có; cấp dưới nữa là một tập hợp các chương trình hoặc dự án, mỗi chương trình hoặc dự án có một người lãnh đạo được chỉ định, các nhóm liên bộ, mục tiêu rõ ràng và thời hạn xác định”.
“Với vai trò là đơn vị đang hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp, chúng tôi đã từ đơn vị cơ khí sản xuất nhỏ trở thành doanh nghiệp chế tạo sản xuất được các sản phẩm cơ khí, công nghiệp nặng chủ lực như: đóng và sửa chữa tàu biển, đóng mới các giàn khoan, module, cẩu cảng, các công trình điện gió ngoài khơi; sản xuất chế tạo các thiết bị hàng không, cẩu phục vụ cảng biển, thiết bị khuôn mẫu, thiết bị cho ngành giao thông, khai khoáng điện năng lượng; sản xuất chế tạo các thiết bị phục vụ năng lượng tái tạo, điện gió, điện mặt trời, hydro; thi công các công trình xây dựng nhà máy lọc hóa dầu, giao thông metro, cao tốc, sân bay, bến cảng, sân vận động, bảo tàng, công trình kiến trúc, nhà máy điện nguyên tử, lọc hóa dầu.
Chúng tôi đã và đang và sẽ cam kết: tăng vai trò nội địa hóa nhằm tăng giá trị gia tăng 50 – 60 – 70 – 80% theo giai đoạn; dẫn dắt các doanh nghiệp vừa và nhỏ sản xuất công nghiệp phụ trợ như chế tạo máy – gia công cơ khí – sản xuất nguyên liệu – dịch vụ logistic tạo ra hệ sinh thái tuần hoàn; tăng vai trò chủ động làm chủ công nghệ - đồng bộ dữ liệu nhằm giảm chi phí, tăng năng lực cạnh tranh; phục vụ giảm chi phí đầu tư cho các dự án trong nước – thời gian giảm; xây dựng thương hiệu Việt Nam trên trường quốc tế, xuất khẩu sản phẩm hội nhập sâu vào nền kinh tế.
Chúng tôi có 5 đề xuất với Chính phủ và Ban Chính sách, chiến lược Trung ương.
Một là, hỗ trợ các doanh nghiệp dẫn dắt tiên phong phát triển kéo theo hệ sinh thái doanh nghiệp phụ trợ có các khu công nghiệp – khu cảng chuyên dụng phục vụ sản xuất và xuất khẩu.
Hai là, các dự án đầu tư của Chính phủ cần quy định rõ tỷ lệ phần trăm nội địa hóa để doanh nghiệp trong nước có cơ hội phát triển.
Ba là, có các chính sách thương mại, hàng rào kỹ thuật bảo vệ các doanh nghiệp trong nước để giữ thị trường cho các doanh nghiệp trong nước phát triển và bắt kịp.
Bốn là, giảm và bỏ những điều kiện không cần thiết trong đấu thầu cho doanh nghiệp trong nước.
Năm là, xây dựng đề án cụ thể, có thông tư nghị định, luật đấu thầu để hướng dẫn cơ quan chủ quản mới thực thi được”.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 51-52-2025 phát hành ngày 22-29/12/2025. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://vneconomy.vn/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-5152-2025.htm
-
Hiến kế “chuyển đổi kép” và khơi thông dòng vốn để bứt phá
“Tốc độ tăng trưởng GRDP của Thủ đô năm 2025 ước đạt khoảng 8,5%. Đây là mức tăng trưởng cao so với năm trước, đặc biệt trong bối cảnh năm 2025 tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức từ tình hình kinh tế trong nước và quốc tế.
Cùng với tăng trưởng kinh tế, các chỉ tiêu vĩ mô khác của Hà Nội cũng ghi nhận kết quả tích cực. Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đến nay ước đạt khoảng 650 nghìn tỷ đồng, mức cao nhất từ trước đến nay. Kết quả này phản ánh nỗ lực lớn của thành phố trong việc phục hồi sản xuất kinh doanh, mở rộng cơ sở thu và cải thiện hiệu quả quản lý ngân sách.
Bên cạnh đó, công tác giải ngân, đặc biệt là giải ngân vốn đầu tư công, được xác định là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Thủ đô trong năm 2025. Nhiều dự án hạ tầng, chỉnh trang đô thị và các công trình trọng điểm được tập trung tháo gỡ vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ triển khai, qua đó tạo hiệu ứng lan tỏa đối với các ngành, lĩnh vực kinh tế khác không chỉ với Thủ đô mà các tỉnh, thành phố lân cận.
Trong những tháng cuối năm, thành phố tiếp tục tập trung nguồn lực cho các ngành dịch vụ, trong đó du lịch được xác định là điểm sáng. Năm 2025, tổng lượng khách du lịch đến Hà Nội ước đạt trên 33 triệu lượt, trong đó có khoảng 7–8 triệu lượt khách quốc tế. Kết quả này cho thấy sự phục hồi rõ nét của ngành du lịch, đồng thời góp phần quan trọng vào tăng trưởng chung của kinh tế Thủ đô.
Một trong những yếu tố tạo nền tảng quan trọng cho quá trình phát triển của Hà Nội thời gian qua là việc Quốc hội đã thông qua nhiều luật, nghị quyết tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho hoạt động sản xuất kinh doanh, trong đó có các cơ chế, chính sách dành riêng cho Thủ đô.
Đáng chú ý, Nghị quyết số 258/2025/QH15 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù để thực hiện các dự án lớn, quan trọng trên địa bàn Thủ đô đã tạo ra khuôn khổ pháp lý mới, giúp thành phố có thêm dư địa khai thông nguồn lực cho đầu tư và phát triển. Nghị quyết này tập trung tháo gỡ các rào cản vốn được xem là điểm nghẽn trong quá trình triển khai các dự án mang tính động lực, như công tác quy hoạch, giao đất, cơ chế bồi thường, giải phóng mặt bằng và tổ chức thực hiện dự án.
Các nhóm chính sách này sẽ giúp thành phố chủ động hơn trong việc chuẩn bị và triển khai các dự án lớn, trong đó có nhiều dự án dự kiến khởi công trong dịp 19/12/2025, với quy mô đầu tư rất lớn, có những dự án lên tới cả triệu tỷ đồng.
Việc triển khai đồng bộ các dự án trọng điểm, đặc biệt là các dự án quy mô lớn, sẽ tạo xung lực mới cho phát triển kinh tế Thủ đô. Trên cơ sở đó, Hà Nội sẽ tiếp tục tập trung chỉnh trang, tái thiết các khu đô thị hiện hữu, qua đó lan tỏa động lực tăng trưởng sang các địa phương lân cận và các lĩnh vực kinh tế khác.
Với những nền tảng và động lực đang được củng cố, Hà Nội đặt mục tiêu tạo đà cho giai đoạn phát triển mới với tốc độ tăng trưởng cao hơn, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố đã đề ra”.
“Trong hơn 80 năm qua, ngành Nông nghiệp và Môi trường đã đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, giữ vai trò bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, ổn định xã hội, đồng thời là nền tảng cho nhiều ngành kinh tế và thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững, cam kết quốc tế của Việt Nam.
Từ một quốc gia phải nhập khẩu hàng triệu tấn lương thực mỗi năm, Việt Nam hiện đã trở thành một trong những cường quốc sản xuất và xuất khẩu nông, lâm, thủy sản. Nhiều mặt hàng như lúa gạo, cà phê, điều, trái cây nằm trong nhóm dẫn đầu thế giới, với sản phẩm nông nghiệp Việt Nam đã có mặt tại gần 200 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Trong 11 tháng năm 2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu nông, lâm, thủy sản đạt trên 64 tỷ USD, tăng gần 13% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất siêu đạt 19,55 tỷ USD, tăng 19%. Ước tính cả năm 2025, kim ngạch xuất nhập khẩu toàn ngành đạt khoảng 70 tỷ USD, xuất siêu khoảng 21 tỷ USD, vượt mục tiêu đề ra.
Mặc dù đối mặt nhiều khó khăn do biến đổi khí hậu, thiên tai và biến động thị trường thế giới, ngành nông nghiệp vẫn duy trì mức tăng trưởng khoảng 4% trong nhiều năm qua, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng chung của nền kinh tế. Riêng năm 2025, lĩnh vực này dự kiến đóng góp khoảng 5,5% vào tăng trưởng GDP cả nước.
Cùng với đó, diện mạo nông thôn và đời sống người dân tiếp tục được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 1,93%, độ che phủ rừng đạt 42,03%. Các lĩnh vực quản lý tài nguyên và môi trường như đất đai, khoáng sản, tài nguyên nước, rừng, biển, khí tượng thủy văn cũng có bước phát triển mạnh, đóng góp ngày càng rõ nét cho nền kinh tế.
Mặc dù đạt được nhiều kết quả tích cực, song thời gian tới ngành cũng sẽ phải đối mặt với không ít thách thức, đó là tăng trưởng chưa thực sự ổn định, giá trị gia tăng còn thấp, thu nhập của người dân nông thôn trực tiếp sản xuất nông nghiệp còn hạn chế, trong khi tác động của biến đổi khí hậu ngày càng rõ nét. Ngoài ra, bất ổn địa chính trị và xu hướng bảo hộ thương mại, rào cản kỹ thuật tại nhiều thị trường xuất khẩu đòi hỏi nông sản Việt Nam phải chuyển mạnh sang hướng xanh hơn, sạch hơn và minh bạch hơn.
Để góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số của nền kinh tế giai đoạn 2026–2030, ngành Nông nghiệp và Môi trường đặt mục tiêu duy trì tốc độ tăng trưởng khoảng 3,5% mỗi năm trong 5 năm tới. Trong đó, trọng tâm là bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, không để xảy ra thiếu đói cục bộ, đồng thời hướng tới mục tiêu kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản đạt 100 tỷ USD.
Ngành cũng sẽ đẩy mạnh chuyển đổi mô hình sản xuất theo hướng xanh, sạch, an toàn thực phẩm, phát triển nông nghiệp tuần hoàn, giảm phát thải, tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, chế biến sâu nhằm nâng cao năng suất và giá trị gia tăng. Song song với đó là chủ động phòng, chống thiên tai, giảm thiểu tác động bất lợi của thời tiết cực đoan tới sản xuất và đời sống người dân.
Trong quản lý tài nguyên, sẽ thúc đẩy việc sử dụng hiệu quả đất đai, khoáng sản thông qua tăng cường giám sát bằng công nghệ số, viễn thám và trí tuệ nhân tạo; đồng thời, đẩy mạnh phục hồi rừng tự nhiên và hệ sinh thái rừng ngập mặn để bảo đảm đa dạng sinh học.
Về môi trường, ngành đặt mục tiêu triển khai quyết liệt các giải pháp giảm ô nhiễm, phát triển bền vững theo xu hướng toàn cầu. Đáng chú ý, ngay đầu năm 2026, Việt Nam phấn đấu hình thành thị trường tín chỉ carbon, trước mắt là thị trường trong nước, sau đó từng bước kết nối với thị trường quốc tế, phù hợp với các cam kết và lợi ích quốc gia.
Đặc biệt, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách phát triển, bám sát các kết luận, chỉ đạo của Trung ương, Bộ Chính trị và Chính phủ. Trong kỳ họp thứ 10 vừa qua, Quốc hội đã thông qua việc sửa đổi đồng loạt 17 luật do Bộ chủ trì, bước đầu tháo gỡ nhiều điểm nghẽn, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân trong sản xuất, kinh doanh.
Chuyển đổi xanh, phát triển bền vững và kinh tế tuần hoàn không chỉ là yêu cầu bắt buộc mà còn là hướng đi chiến lược để ngành Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục đóng góp hiệu quả cho tăng trưởng kinh tế đất nước trong giai đoạn tới”.
“Theo tôi, để đạt được mục tiêu tăng trưởng hai con số, Việt Nam có thể tham khảo chiến lược 4S.
Chữ S thứ nhất là Scale (Quy mô). Chúng tôi khuyến nghị Việt Nam nên thúc đẩy phát triển hơn nữa cơ sở hạ tầng. Chẳng hạn, về hạ tầng logistics, cần xây dựng hiệu quả hệ thống cảng biển, hàng không,... đảm bảo chất lượng đồng bộ toàn bộ hệ thống.
Chúng tôi đánh giá cao việc Chính phủ Việt Nam đã rất tích cực cải cách hành chính thời gian qua. Nếu được đề xuất thêm, chúng tôi mong muốn Chính phủ cân nhắc việc thiết lập “luồng xanh”, tạo điều kiện thuận lợi thủ tục hải quan, thủ tục xuất nhập khẩu, cấp phép đầu tư,... Như vậy, sẽ giúp Việt Nam tăng cường tính cạnh tranh trên thị trường toàn cầu.
Chữ S thứ hai là “School”(Trường học), đầu tư vào giáo dục cũng chính là đầu tư vào đổi mới sáng tạo. Đối với vấn đề này, chúng tôi thấy rằng Việt Nam cũng đang dành rất nhiều sự quan tâm.
Chữ S thứ ba là “Smart” (Thông minh), chúng ta phải đầu tư vào công nghệ để nâng cao hiệu quả hoạt động. Dĩ nhiên, đây đều là những lĩnh vực đòi hỏi nhiều thời gian, nỗ lực và vốn.
Chữ S cuối cùng là “Sustainable” (Bền vững). Đối với mục tiêu này, Việt Nam có thể thiết lập các ưu đãi thuế, các chính sách hỗ trợ,... để giúp doanh nghiệp dễ dàng tham gia, từ đó đóng góp vào quá trình tăng trưởng của Việt Nam”.
“Trong suốt 34 năm Heineken có mặt tại thị trường Việt Nam, chúng tôi đã chứng kiến tinh thần doanh nhân mạnh mẽ của đất nước. Việt Nam không chỉ là một trong những thị trường chủ chốt của Tập đoàn, mà còn là điểm đến hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài khác.
Heineken đang nhìn thấy những cơ hội rất lớn để tiếp tục đầu tư, mở rộng công suất theo hướng bền vững, đồng thời thúc đẩy kế hoạch xuất khẩu từ Việt Nam. Việt Nam đang tạo ra môi trường đầu tư ngày càng ổn định, bền vững và thuận lợi, với nhiều lợi thế để thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài. Với tư cách là nhà đầu tư dài hạn, Heineken coi Việt Nam là một trong những điểm đến FDI hấp dẫn nhất trong khu vực.
Tuy nhiên, trong một môi trường đầu tư ổn định, việc thực thi chính sách cần bảo đảm tính tương xứng và hợp lý, ví dụ, tăng cường áp dụng công nghệ truy xuất nguồn gốc, thực thi nhất quán các tiêu chuẩn quốc tế,... Chính điều này cũng sẽ giúp người tiêu dùng Việt Nam được tiếp cận các sản phẩm an toàn, chất lượng cao.
Liên quan đến thuế tiêu thụ đặc biệt, chúng tôi đồng tình đây là công cụ chính sách quan trọng để bảo vệ sức khỏe cộng đồng và nâng cao nguồn thu ngân sách. Tuy nhiên, theo quan sát của chúng tôi từ kinh nghiệm tại nhiều quốc gia phát triển cho thấy, thuế tiêu thụ đặc biệt sẽ phát huy hiệu quả tốt nhất khi được xây dựng trên cơ sở đa yếu tố, nhất là cần dựa trên tình hình thực tiễn. Do đó, chúng tôi cũng kiến nghị Chính phủ theo đuổi lộ trình áp dụng từ từ, phù hợp với thông lệ quốc tế, nhằm đạt các mục tiêu về sức khỏe cộng đồng, đồng thời vẫn duy trì niềm tin của nhà đầu tư.
Về phát triển bền vững và chuyển đổi xanh, Heineken đã cam kết đảm bảo thực hiện trách nhiệm trong suốt nhiều năm hoạt động tại Việt Nam. Trên cơ sở đó, chúng tôi đề xuất hai khuyến nghị cụ thể.
Thứ nhất, về năng lượng tái tạo, chúng tôi hoan nghênh việc Việt Nam phê duyệt cơ chế Mua bán điện trực tiếp (DPPA) từ tháng 7/2024. Tuy nhiên, chúng tôi hy vọng sẽ sớm có thêm các quy định, hướng dẫn cụ thể, rõ ràng để hoạt động thỏa thuận mua bán được diễn ra thuận lợi.
Thứ hai, nâng cao hiệu quả sử dụng nước cũng là vấn đề quan trọng của phát triển kinh tế bền vững và kinh tế tuần hoàn. Với vị trí quan trọng của Việt Nam trong Tập đoàn, Heineken đã không ngừng cải thiện hiệu quả và tăng cường an ninh nguồn nước. Thực tế, các nhà máy tại Việt Nam hiện là những nhà máy có hiệu quả sử dụng nước cao nhất trong toàn hệ thống Heineken toàn cầu.
Doanh nghiệp cũng đã đầu tư vào công nghệ xử lý nước thải tiên tiến, đưa nước sau xử lý đạt tiêu chuẩn loại A, đồng thời đảm bảo tái sử dụng nước,… Tuy nhiên, nếu chưa có khung quy định rõ ràng để hỗ trợ, cho phép và khuyến khích tái sử dụng nước an toàn, thì cả doanh nghiệp và Việt Nam đều chưa thể khai thác hết lợi ích từ những khoản đầu tư này.
Tại châu Âu, tái sử dụng nước đã trở thành tiêu chuẩn, nhờ các khuôn khổ rõ ràng và chính sách hỗ trợ, doanh nghiệp trong khu vực đã tích cực tuân thủ yêu cầu tuần hoàn nước, từ đó góp phần bảo đảm an ninh nguồn nước và nâng cao hiệu quả sử dụng nước trong công nghiệp”.
“Với quy mô doanh thu hiện nay trên 1 triệu tỷ đồng, PVN đang đối diện với áp lực lớn trong việc duy trì đà tăng trưởng hai con số. Để giải quyết bài toán này, Tập đoàn xác định đổi mới công tác đầu tư là động lực then chốt, tập trung vào hai hướng chiến lược:
Thứ nhất, đầu tư tập trung theo mô hình trung tâm công nghiệp năng lượng theo hướng sinh thái, nhằm phát huy được quy mô đầu tư, tạo ra hiệu quả kinh doanh, cũng như phát huy chuỗi giá trị của ngành để tạo ra những tối ưu về mặt công nghệ, về dòng chảy năng lượng và các giá trị mới.
Thứ hai, mở rộng đầu tư ra nước ngoài theo hướng linh hoạt các hình thức đầu tư, đặc biệt là chú trọng vào hình thức MA (mua bán - sáp nhập) để nhanh chóng hiện thực hóa doanh thu và tạo ra sự tăng trưởng nhanh nhưng bền vững.
Để thực hiện định hướng trên, PVN có hai kiến nghị:
Về quy hoạch, Chính phủ cần rà soát, định hướng đầu tư tập trung vào các cụm năng lượng lớn và tạo cơ chế đột phá cho các mô hình sinh thái. Điều này sẽ tạo tiền đề “làm mồi” thu hút các doanh nghiệp lớn và đối tác chiến lược tham gia các dự án quy mô, bền vững. Hiện, PVN đang tích cực phối hợp với một số địa phương về vấn đề này.
Về cơ chế, bên cạnh Luật số 68/2025/QH15 đã ban hành, cần sớm có các nghị định hướng dẫn theo hướng tăng cường phân cấp mạnh mẽ hơn cho doanh nghiệp nhà nước, cho chủ sở hữu, đại diện cơ quan chủ sở hữu cũng như Hội đồng thành viên của các tập đoàn nhà nước. Việc này giúp doanh nghiệp có thể quyết định mạnh mẽ hơn, nhanh chóng hơn để tận dụng các cơ hội đầu tư, đặc biệt là đầu tư ra nước ngoài, nhằm thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững trong thời gian tới”.
“Việc xác định mô hình tăng trưởng mới dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là định hướng chiến lược quan trọng mà Việt Nam cần kiên định thúc đẩy. Trong đó, chuyển đổi kép (chuyển đổi số và chuyển đổi xanh) chính là động lực then chốt cho sự phát triển kinh tế giai đoạn mới.
Trên tinh thần đó, tôi xin đề xuất ba kiến nghị cụ thể như sau:
Thứ nhất, về phát huy vai trò dẫn dắt của kinh tế tư nhân trong hạ tầng số và AI. Nghị quyết số 68-NQ/TW (tháng 5/2025) đã xác định rõ vai trò của kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân. Thực tế, khi Chiến lược phát triển AI được công bố ngày 11/09/2024, đã tạo ra một làn sóng mạnh mẽ trong cả nước về nhận thức và việc lấy AI làm chiến lược chuyển đổi. Khối tư nhân đã có sự chuẩn bị nền tảng từ hàng chục năm nay, nên khi công bố chiến lược đó, xã hội đã đón nhận ngay lập tức.
Tôi khẳng định trong lĩnh vực này, kinh tế tư nhân hoàn toàn có khả năng đóng vai trò dẫn dắt. Chính phủ cần tập trung đầu tư cho các doanh nghiệp đầu tàu; CMC sẵn sàng là một trong 5 doanh nghiệp dẫn dắt về AI. Đối với hạ tầng số và hạ tầng AI, Chính phủ hoàn toàn có thể tin tưởng vào năng lực đầu tư của khối tư nhân bên cạnh các doanh nghiệp nhà nước.
Thứ hai, về nâng cao năng lực cạnh tranh của chính sách kinh tế số. Qua khảo sát thực tế và xúc tiến đầu tư tại Singapore, nhận thấy chính sách kinh tế số của Việt Nam hiện chưa đủ sức cạnh tranh so với các nước trong khu vực như Singapore hay Thái Lan. Đây là lý do nhóm GAFA (4 công ty công nghệ toàn cầu) vẫn chưa chọn Việt Nam làm địa điểm đầu tư trọng điểm.
Tôi kiến nghị Chính phủ lập bảng so sánh chi tiết chính sách kinh tế số giữa Việt Nam với Singapore và Malaysia xem chúng ta có điểm gì khác biệt hoặc chưa bằng. Chúng ta phải xây dựng chính sách, ít nhất là cạnh tranh được, thậm chí phải tốt hơn các nước khác, thì mới có thể thu hút đầu tư.
Thứ ba, về mô hình Trung tâm Đổi mới sáng tạo và cơ chế giao nhiệm vụ. Hiện nay, khối tư nhân đang chiếm tỷ trọng lớn, đồng thời các viện nghiên cứu và trường đại học tư nhân cũng đang phát triển mạnh. CMC đang cùng Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh và Đà Nẵng xây dựng Trung tâm Đổi mới sáng tạo theo mô hình kết hợp “3 nhà”: Doanh nghiệp tư nhân – Trường đại học – Nhà nước. Đây là mô hình chúng tôi học tập từ Singapore và Hàn Quốc, là những nơi có chính sách ưu đãi đặc biệt cho loại hình này.
Chúng tôi mong muốn Nhà nước tin tưởng giao nhiệm vụ. Ví dụ, Singapore dù diện tích nhỏ vẫn dành 200 ha cho đô thị khoa học, công nghệ đổi mới sáng tạo. Với quỹ đất tại TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam hoàn toàn có thể xây dựng những đô thị quy mô hàng nghìn ha. Với tư cách là doanh nghiệp tư nhân, chúng tôi hoàn toàn có thể thực hiện được các nhiệm vụ này”.
“Với quy mô 46 tỷ USD và vị thế đứng thứ hai thế giới, ngành dệt may Việt Nam hiện khó có thể đạt mục tiêu tăng trưởng 10% nếu chỉ dựa vào mở rộng quy mô (tăng trưởng theo chiều rộng). Nguyên nhân là nhu cầu thế giới hiện chỉ tăng khoảng 3%, do đó dệt may Việt Nam tối đa cũng chỉ có thể tăng 3-5% theo hướng này.
Vì vậy, ngành đang chuyển hướng sang tăng trưởng theo chiều sâu, cụ thể là tăng thặng dư thương mại trên 10%. Năm nay, thặng dư xuất khẩu dự kiến đạt 22 tỷ USD; để đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng chung 10%, con số này cần đạt trên 24 tỷ USD vào năm 2026.
Để hiện thực hóa mục tiêu trên, cần thực hiện đồng bộ hai nhóm giải pháp:
Thứ nhất, phải có chính sách mua nguyên vật liệu trong nước thuận lợi hơn so với nhập khẩu nguyên vật liệu. Hiện nay, việc nhập khẩu nguyên vật liệu thuận lợi hơn cho doanh nghiệp vì không phải đóng thuế VAT và các thủ tục xuất khẩu cũng rất dễ dàng. Trong khi đó, nếu muốn mua nguyên vật liệu trong nước thì doanh nghiệp phải ứng thuế VAT, thuế mua hàng, thủ tục khá phức tạp. Chính vì vậy, cần thiết kế chính sách thuế riêng biệt cho các mặt hàng mua trong nội địa để phục vụ xuất khẩu. Ví dụ, trong quá khứ Việt Nam đã có ưu tiên giảm thuế doanh thu 50% cho doanh nghiệp.
Thứ hai, để đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng GDP thì doanh nghiệp phải tăng lương cho người lao động 10%. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp sẽ phải chuyển đổi mô hình theo hướng tự động hóa để không tăng số lượng công nhân mà tăng năng suất lao động.
Vì vậy, chúng tôi kiến nghị, cần có cơ chế giảm trừ một phần thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các đơn vị tăng lương trên 10% cho người lao động. Khi có những chính sách này thì các doanh nghiệp sử dụng lao động với số lượng lớn (thường là doanh nghiệp có kim ngạch xuất khẩu cao) có thể tăng cường mua nguyên phụ liệu nội địa và tăng lương cho người lao động. Nếu thặng dư xuất khẩu và tiền lương tăng trên 10%, thì ngành dệt may mới thực sự đóng góp hiệu quả vào tăng trưởng kinh tế đất nước”.
“VinaCapital đã đầu tư tại Việt Nam hơn 20 năm, với phần lớn các khoản đầu tư tập trung vào khu vực kinh tế tư nhân. Có hai trụ cột là yếu tố quan trọng để tạo ra đột phá tăng trưởng kinh tế mới, qua đó giúp Việt Nam hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai chữ số.
Thứ nhất, trụ cột quan trọng nhất là công nghệ, động lực cho đột phá tăng trưởng trong giai đoạn tới.
Thứ hai, Trung tâm Tài chính quốc tế (IFC), gắn với huy động thêm nguồn vốn cho phát triển.
Hai trụ cột này sẽ song hành và bổ trợ lẫn nhau, trở thành đồng tác nhân thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam. Công nghệ sẽ đóng vai trò nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế, trong khi IFC sẽ giúp huy động dòng vốn toàn cầu dài hạn vào các lĩnh vực ưu tiên, đồng thời kết nối Việt Nam sâu hơn với hệ thống tài chính quốc tế.
Về công nghệ, Việt Nam cần xây dựng một mạng lưới hạ tầng thông minh, hướng tới một nền kinh tế công nghệ, trong đó hạ tầng AI phải được coi là nền tảng. Hiện nay, VinaCapital đang hợp tác với các nhà đầu tư đến từ UAE để triển khai một trung tâm dữ liệu AI quy mô lớn tại TP. Hồ Chí Minh. Bởi các trung tâm dữ liệu siêu quy mô (hyperscale) sẽ là nền móng để góp phần phát triển công nghệ và trung tâm tài chính.
Nếu Việt Nam làm chủ AI và hạ tầng điện toán đám mây, những lợi ích có được là rất lớn, từ giảm chi phí, nâng cao hiệu quả, năng lực đổi mới sáng tạo và khả năng cạnh tranh, cho tới tăng cường mức độ an toàn và an ninh. Đây cũng là nền tảng căn bản để hình thành trung tâm AI, tạo chất xúc tác phát triển cho các công nghệ khác.
Những điều này cũng kéo theo vấn đề tiếp theo là nguồn vốn. Hiện nay, nhiều ước tính cho rằng Việt Nam cần khoảng 300 – 400 tỷ USD mỗi năm để duy trì tốc độ tăng trưởng cao. Câu hỏi then chốt là: Nguồn vốn này sẽ đến từ đâu?
Chúng tôi cho rằng việc huy động nguồn vốn từ trong nước, nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp nội địa là rất quan trọng. Trong cuộc diện kiến với lãnh đạo nhà nước, chúng tôi cũng đã đề xuất xây dựng các quỹ phát triển để hỗ trợ trực tiếp các doanh nghiệp Việt Nam mở rộng và phát triển.
Tuy nhiên, do nguồn vốn trong nước chưa đáp ứng đủ nhu cầu, Việt Nam cần thu hút thêm dòng vốn quốc tế. Một thực tế bất lợi là chi phí vốn tại Việt Nam (bao gồm cả vốn vay và vốn chủ sở hữu) hiện đang cao gấp đôi so với Thái Lan và Malaysia. Đơn cử, để vay vốn mở rộng hoạt động, doanh nghiệp Việt Nam phải chịu lãi suất trung bình khoảng 8%, trong khi con số này tại hai quốc gia láng giềng chỉ bằng một nửa. Mức chi phí vốn đắt đỏ này tạo ra rào cản lớn, khiến doanh nghiệp Việt Nam bị thua thiệt trong cạnh tranh.
Vì vậy, cần “kéo giảm” chi phí vốn, cả vốn cổ phần lẫn vốn vay. Về vốn cổ phần, cần tăng cường hoạt động các quỹ nội địa, đa dạng hóa các sản phẩm tài chính, qua đó giảm chi phí vốn cho doanh nghiệp. Ở bình diện quốc tế, chúng tôi kỳ vọng IFC sẽ đóng vai trò then chốt, giúp đưa dòng vốn quốc tế vào Việt Nam cho phát triển hạ tầng và tài trợ các dự án quy mô lớn.
Thị trường IFC có hai trụ cột. Một là, thị trường tài chính truyền thống, nơi các ngân hàng quốc tế, các nhà quản lý tài sản cho vay và đầu tư vào các dự án tại Việt Nam.
Hai là, sàn giao dịch. Ở mảng này, chúng ta cần tạo ra một mô hình mà chưa nơi nào khác ở châu Á làm, vì Việt Nam không thể và cũng không nên cạnh tranh trực diện với Hồng Kông hay Singapore.
Do đó, chúng ta nên có sàn giao dịch hàng hóa để nông dân Việt Nam có thể bán trực tiếp ra thị trường quốc tế. Bên cạnh đó, tạo sàn giao dịch cho các loại tài sản mới, như tài sản số, cũng là hướng đi mới để Việt Nam có thêm “đường ống” hút ròng vốn từ nước ngoài”.
“Hiện nay, ngành bán lẻ tại Việt Nam mới chỉ đóng góp khoảng 13% vào GDP. Khi so sánh với Thái Lan – nơi ngành này chiếm tới 55-60% quy mô kinh tế, có thể thấy thị trường bán lẻ Việt Nam vẫn còn rất nhiều dư địa để phát triển.
Bên cạnh việc tuân thủ nghiêm ngặt các quy định địa phương và quy chuẩn an toàn, ngành bán lẻ còn đóng vai trò là một công cụ hiệu quả để nâng cao chất lượng đời sống và xã hội của một quốc gia. Đây là môi trường mang lại cơ hội thăng tiến rộng mở cho người lao động; một nhân viên thu ngân, nếu làm việc chăm chỉ và quyết tâm, hoàn toàn có thể vươn lên trở thành CEO của doanh nghiệp trong tương lai.
Tuy nhiên, rào cản lớn nhất mà các doanh nghiệp như Central Retail gặp phải tại Việt Nam là khó khăn trong việc mua bất động sản phục vụ hoạt động kinh doanh. Quá trình này diễn ra rất phức tạp do nhiều nguyên nhân, chủ yếu xuất phát từ khả năng tiếp cận đất phục vụ mục đích thương mại. Mặc dù, Việt Nam sở hữu quỹ đất nông nghiệp và công nghiệp dồi dào, nhưng thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng sang đất thương mại dịch vụ lại là một quá trình "dài hơi", thường kéo dài hàng tháng đến hàng năm.
Central Retail kỳ vọng chính quyền các địa phương sẽ chủ động hơn trong việc thay đổi và điều chỉnh quy hoạch tổng thể. Việc xúc tiến các dự án bán lẻ không chỉ mang lại lợi ích cho nhà vận hành, mà còn tạo ra doanh thu và công việc cho các doanh nghiệp xây dựng, phát triển bất động sản.
Một thách thức quan trọng khác đối với doanh nghiệp bán lẻ nói chung và doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài tại Việt Nam nói riêng, là quy trình xin giấy phép khi mở thêm các cơ sở kinh doanh bán lẻ. Việc tạo cơ chế công bằng, xếp doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài tương đương với các nhà bán lẻ nội địa trong quá trình xin giấy phép sẽ là động lực lớn để hỗ trợ các khoản đầu tư.
Về kế hoạch phát triển, Central Retail dự kiến đầu tư khoảng 1,5 tỷ USD vào Việt Nam trong vòng 5 năm tới. Doanh nghiệp mong muốn và sẵn sàng đầu tư nhiều hơn thế, nhưng nếu không có quỹ đất để xây dựng cơ sở và phải chờ đợi giấy phép trong thời gian quá dài, việc hiện thực hóa các khoản đầu tư này tại Việt Nam sẽ gặp rất nhiều trở ngại”.
“Việt Nam có cơ hội để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai chữ số trong giai đoạn tới. Chúng tôi đề xuất mười khuyến nghị cụ thể, chia thành hai nhóm chiến lược.
Nhóm thứ nhất, tập trung vào việc nắm bắt động lực và mở khóa các cơ hội ngay lập tức trong nước và toàn cầu, bao gồm sáu hành động ưu tiên để tăng tốc tăng trưởng trong ngắn hạn.
Một, nâng cấp Cục Đầu tư nước ngoài (FIA), cả ở cấp trung ương và địa phương, để thu hút FDI chất lượng cao hơn. Việt Nam đang hưởng lợi từ sự chuyển hướng lớn của thương mại và chuỗi cung ứng toàn cầu. Để tận dụng điều này một cách đầy đủ, một “FIA 2.0” trung ương có thể tăng cường chuyên môn theo ngành phù hợp với các ngành công nghệ mới và đảm nhận một nhiệm vụ mở rộng, bao gồm quản lý cấp phát ưu đãi. Ở cấp địa phương, các tỉnh và thành phố có thể thành lập các đơn vị FIA chịu trách nhiệm chăm sóc nhà đầu tư và hỗ trợ toàn diện.
Hai, mở rộng và phối hợp một mạng lưới Đặc khu rộng lớn hơn, bao gồm các khu vực thương mại tự do, trung tâm tài chính quốc tế và khu kinh tế tự do. Những khu vực này có thể trở thành chất xúc tác mạnh mẽ, cung cấp các ưu đãi cạnh tranh, quy trình hành chính liền mạch và quy mô đủ lớn để cạnh tranh khu vực và toàn cầu.
Ba, củng cố các tổ chức xuất khẩu và cơ chế ưu đãi của Việt Nam. Điều này bao gồm nâng cấp và có thể hợp nhất Cơ quan Xúc tiến Thương mại Việt Nam thành một mô hình tương tự như Cơ quan Xúc tiến Thương mại và Đầu tư Hàn Quốc (KOTRA). Các ưu đãi bổ sung có thể đơn giản hóa thủ tục hải quan, logistics và tài chính xuyên biên giới. Trao quyền cho các ngân hàng Việt Nam với các công cụ tương tự sẽ giúp các doanh nghiệp trong nước mở rộng ra toàn cầu.
Bốn, khởi động các chương trình quốc gia để mở rộng nền kinh tế trong nước, hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua các yếu tố hỗ trợ có mục tiêu và nuôi dưỡng các doanh nghiệp hàng đầu quốc gia, có thể tạo ra hiệu ứng lan tỏa trong hệ sinh thái của họ.
Năm, tăng tốc thực hiện các cơ sở hạ tầng quan trọng trong giao thông và năng lượng.
Sáu, đảm bảo tiếp cận tài chính đủ và ổn định, huy động vốn trong nước, ngân sách chính phủ và các tổ chức tài chính quốc tế như những công cụ chính.
Nhóm thứ hai, tập trung vào những khoản đầu tư lớn, xây dựng nền tảng cho 3 đến 10 năm tới, bao gồm bốn ưu tiên hành động.
Bảy, phát triển ba đến bốn lĩnh vực mới có khả năng cạnh tranh toàn cầu, có thể trở thành động lực tăng trưởng tiếp theo của Việt Nam như điện tử và bán dẫn, nông nghiệp, dịch vụ số và kinh tế xanh.
Tám, chuyển đổi sang nền kinh tế dựa trên đổi mới và công nghệ, trở thành nền kinh tế ưu tiên số hóa và trí tuệ nhân tạo (AI).
Chín, xây dựng lực lượng lao động STEM. Đây là một trong những lợi thế cạnh tranh dài hạn quan trọng nhất mà Việt Nam có thể tạo ra và là yếu tố thiết yếu cho sự thành công trong tất cả các ngành công nghiệp tương lai.
Mười, về việc thực thi. Hiện nay, Việt Nam có hơn 40 ủy ban quốc gia và nhiều luật mới, phản ánh định hướng chính sách rõ ràng. Làm thế nào để thực thi nhanh chóng, trên quy mô lớn và sử dụng nguồn lực hiệu quả. Chúng tôi khuyến nghị xem xét cấu trúc thực thi ba cấp đơn giản: cấp cao nhất là Ủy ban Quốc gia; cấp dưới là một tập hợp các ủy ban quốc gia được thu gọn, có thể sáp nhập các cơ quan chỉ đạo hiện có; cấp dưới nữa là một tập hợp các chương trình hoặc dự án, mỗi chương trình hoặc dự án có một người lãnh đạo được chỉ định, các nhóm liên bộ, mục tiêu rõ ràng và thời hạn xác định”.
“Với vai trò là đơn vị đang hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp, chúng tôi đã từ đơn vị cơ khí sản xuất nhỏ trở thành doanh nghiệp chế tạo sản xuất được các sản phẩm cơ khí, công nghiệp nặng chủ lực như: đóng và sửa chữa tàu biển, đóng mới các giàn khoan, module, cẩu cảng, các công trình điện gió ngoài khơi; sản xuất chế tạo các thiết bị hàng không, cẩu phục vụ cảng biển, thiết bị khuôn mẫu, thiết bị cho ngành giao thông, khai khoáng điện năng lượng; sản xuất chế tạo các thiết bị phục vụ năng lượng tái tạo, điện gió, điện mặt trời, hydro; thi công các công trình xây dựng nhà máy lọc hóa dầu, giao thông metro, cao tốc, sân bay, bến cảng, sân vận động, bảo tàng, công trình kiến trúc, nhà máy điện nguyên tử, lọc hóa dầu.
Chúng tôi đã và đang và sẽ cam kết: tăng vai trò nội địa hóa nhằm tăng giá trị gia tăng 50 – 60 – 70 – 80% theo giai đoạn; dẫn dắt các doanh nghiệp vừa và nhỏ sản xuất công nghiệp phụ trợ như chế tạo máy – gia công cơ khí – sản xuất nguyên liệu – dịch vụ logistic tạo ra hệ sinh thái tuần hoàn; tăng vai trò chủ động làm chủ công nghệ - đồng bộ dữ liệu nhằm giảm chi phí, tăng năng lực cạnh tranh; phục vụ giảm chi phí đầu tư cho các dự án trong nước – thời gian giảm; xây dựng thương hiệu Việt Nam trên trường quốc tế, xuất khẩu sản phẩm hội nhập sâu vào nền kinh tế.
Chúng tôi có 5 đề xuất với Chính phủ và Ban Chính sách, chiến lược Trung ương.
Một là, hỗ trợ các doanh nghiệp dẫn dắt tiên phong phát triển kéo theo hệ sinh thái doanh nghiệp phụ trợ có các khu công nghiệp – khu cảng chuyên dụng phục vụ sản xuất và xuất khẩu.
Hai là, các dự án đầu tư của Chính phủ cần quy định rõ tỷ lệ phần trăm nội địa hóa để doanh nghiệp trong nước có cơ hội phát triển.
Ba là, có các chính sách thương mại, hàng rào kỹ thuật bảo vệ các doanh nghiệp trong nước để giữ thị trường cho các doanh nghiệp trong nước phát triển và bắt kịp.
Bốn là, giảm và bỏ những điều kiện không cần thiết trong đấu thầu cho doanh nghiệp trong nước.
Năm là, xây dựng đề án cụ thể, có thông tư nghị định, luật đấu thầu để hướng dẫn cơ quan chủ quản mới thực thi được”.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 51-52-2025 phát hành ngày 22-29/12/2025. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://vneconomy.vn/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-5152-2025.htm
-
BIDV bán nợ của HAGL cho DATC
Công ty Cổ phần Hoàng Anh Gia Lai (mã HAG-HOSE) thông báo thay đổi trái chủ Trái phiếu nhóm A.
Cụ thể: HAG nhận được thông báo của Công ty TNHH Mua bán nợ Việt Nam - Chi nhánh tại Tp. Hồ Chí Minh (DATC) và thông báo của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV).
Theo đó, BIDV đã hoàn tất việc chuyển nhượng toàn bộ Trái phiếu HAGL năm 2016 - Trái phiếu nhóm A, mã trái phiếu HAGLBOND 16.26 cho DATC.
Kể từ ngày 29/12/2025, DATC chính thức kể thừa toàn bộ quyền và lợi ích hợp pháp của trái chủ đối với Trái phiếu HAGL năm 2016 - Trái phiếu nhóm A từ BIDV, và là trái chủ duy nhất của toàn bộ Trái phiếu nhóm A đang lưu hành.
Theo giới thiệu trên website của DATC, DATC chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/01/2004, được công nhận Doanh nghiệp Nhà nước hạng đặc biệt theo Quyết định số 55/2004/QĐ - TTg ngày 06/04/2004 của Thủ tướng Chính phủ với mục tiêu xử lý các khoản nợ tồn đọng và tài sản không cần dùng, chờ thanh lý, vật tư ứ đọng kém, mất phẩm chất (gọi tắt là nợ và tài sản tồn đọng) góp phần lành mạnh hoá tình hình tài chính doanh nghiệp, thúc đẩy quá trình sắp xếp và chuyển đổi các doanh nghiệp nhà nước.
Được biết, lô trái phiếu HAGLBOND16.26 phát hành vào ngày 30/12/2016, tổng giá trị là 6.596 tỷ đồng. Lô này gồm 6.596 trái phiếu, mệnh giá 1 tỷ đồng/trái phiếu, kỳ hạn 10 năm, đáo hạn vào 30/12/2026. Trái chủ là BIDV. Lãi suất áp dụng 9,6%/năm.
Theo dữ liệu trên HNX, lô trái phiếu này có tổng giá trị là 6.596 tỷ đồng, dư nợ gốc tại ngày 30/12/2025 là 3.876 tỷ đồng. Giá trị dư nợ gốc theo thực tế tại cuối ngày thống kê là 1.099 tỷ đồng nợ gốc và lãi.
Đến ngày 30/12/2025, HAG phải thanh toán 280 tỷ nợ gốc và hơn 42 tỷ lãi với lãi suất trả lãi trong kỳ là 7,675%. Tuy nhiên công ty chưa thu xếp được nguồn tiền thanh toán cho số gốc và lãi nêu trên. HAG cho biết về tình hình đàm phán với nhà đầu tư về việc thanh toán gốc, lãi là gia hạn thời gian thanh toán đến ngày đáo hạn Trái phiếu.
Được biết, trên cơ sở cần mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh và nhằm đa dạng nguồn vốn cho các công ty con trong tương lai, HĐQT HAG thông qua chủ trương cho triển khai kế hoạch niêm yết các công ty con thuộc Tập đoàn.
Cụ thể: Kế hoạch niêm yết Công ty TNHH Hưng Thắng Lợi Gia Lai - triển khai năm 2026; kế hoạch niêm yết Công ty cổ phần Gia Súc Lơ Pang - triển khai trong năm 2027.
Đồng thời, Công ty TNHH Hưng Thắng Lợi Gia Lai và Công ty cổ phần Gia Súc Lơ Pang tiến hành tìm kiếm, lựa chọn đơn vị tư vấn để thực hiện việc thẩm định giá trị doanh nghiệp, xây dựng kế hoạch phát hành, lựa chọn sàn giao dịch chứng khoán phù hợp và chuẩn bị lộ trinh niêm yết theo tình hình thực tế, đảm bảo tuân thủ đầy đủ các quy định pháp luật liên quan...
-Hà Anh
Từ năm 2026, tổ chức niêm yết triển khai thực hiện công bố thông tin bằng tiếng Anh
Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM (HOSE) thông báo các Tổ chức niêm yết triển khai thực hiện việc công bố thông tin đồng thời bằng tiếng Anh.
Cụ thể: căn cứ quy định tại Điều 4 Thông tư 68/2024/TT-BTC ngày 18/09/2024 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điều của các Thông tư quy định về giao dịch chứng khoán trên hệ thống giao dịch chứng khoán; bù trừ và thanh toán giao dịch chứng khoán; hoạt động của công ty chứng khoán và công bố thông tin trên thị trường chứng khoán: “b) Tổ chức niêm yết, công ty đại chúng quy mô lớn công bố thông tin bất thường, công bố thông tin theo yêu cầu và công bố thông tin về các hoạt động khác của công ty đại chúng đồng thời bằng tiếng Anh kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026…”.
Để đảm bảo nghĩa vụ công bố thông tin được thực hiện đầy đủ và chính xác theo đúng lộ trình cũng như bảo vệ quyền lợi của cổ đông, HOSE đề nghị các Tổ chức niêm yết thực hiện theo quy định trên kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
Được biết, Thông tư số 68/2024/TT-BTC đã quy định về lộ trình công bố thông tin bằng tiếng Anh của công ty đại chúng như sau:
Tổ chức niêm yết, công ty đại chúng quy mô lớn công bố thông tin định kỳ đồng thời bằng tiếng Anh, kể từ ngày 01/01/2025.
Tổ chức niêm yết, công ty đại chúng quy mô lớn công bố thông tin bất thường, công bố thông tin theo yêu cầu và công bố thông tin về các hoạt động khác của công ty đại chúng đồng thời bằng tiếng Anh, kể từ ngày 01/01/2026.
Công ty đại chúng không thuộc đối tượng quy định tại điểm a, b khoản này công bố thông tin định kỳ đồng thời bằng tiếng Anh, kể từ ngày 01/01/2027.
Công ty đại chúng không thuộc đối tượng quy định tại điểm a, b khoản này công bố thông tin bất thường, công bố thông tin theo yêu cầu và công bố thông tin về các hoạt động khác của công ty đại chúng đồng thời bằng tiếng Anh, kể từ ngày 01/01/2028.
-Hà Anh
Thủ tướng chỉ đạo 6 nhóm nhiệm vụ trọng tâm đưa ngành Nông nghiệp và Môi trường phát triển bền vững
Ngày 31/12/2025, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức Hội nghị tổng kết công tác năm 2025, giai đoạn 2021-2025 và triển khai kế hoạch năm 2026 của ngành Nông nghiệp và Môi trường. Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị.
Cùng dự có Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà; Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng; đại diện lãnh đạo các bộ, ngành Trung ương; địa phương; hiệp hội ngành hàng; doanh nghiệp và các đơn vị trực thuộc Bộ.
NGÀNH NÔNG NGHIỆP: TRỤ ĐỠ CHIẾN LƯỢC TRONG KỶ NGUYÊN MỚIPhát biểu chỉ đạo tại hội nghị tổng kết năm 2025 của ngành Nông nghiệp và Môi trường, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính nhấn mạnh: Tổng Bí thư Tô Lâm đã khẳng định ngành Nông nghiệp và Môi trường có vị trí chiến lược đặc biệt, là trụ cột của nền kinh tế, nền tảng sinh kế và là nhân tố quan trọng trong công cuộc phát triển và chuyển mình của quốc gia trong kỷ nguyên mới. Quan điểm này thể hiện sự nhất quán trong chủ trương của Đảng và Nhà nước. Vì vậy, “đã làm tốt rồi phải làm tốt hơn, đã nỗ lực rồi phải nỗ lực hơn nữa”.
Thủ tướng Phạm Minh Chính: "Bước sang năm 2026, sứ mệnh của ngành trong phát triển nhanh và bền vững càng nặng nề hơn, đòi hỏi tư duy đột phá...". Ảnh Tùng Đinh.Trên tinh thần đó, Thủ tướng nêu sáu nhóm "từ khóa" định hướng cho ngành: Bộ máy tinh gọn; Thể chế đột phá; Chuyển đổi xanh - chuyển đổi số; Phát triển tam nông; Khơi thông tài nguyên; Kiên trì vượt khó.
Về tổ chức bộ máy, Thủ tướng ghi nhận ngành đã giảm 25/55 đầu mối (45,5%), giảm 30/80 đơn vị sự nghiệp (37,5%), tiếp tục kiện toàn hệ thống khuyến nông và đẩy mạnh chuyển đổi số. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu được triển khai theo hướng “đúng, đủ, sạch, sống”, kết nối liên thông, dùng chung và gắn với cơ sở dữ liệu VNeID.
Về thể chế, Bộ đã tham mưu ban hành 17 nghị định, 2 nghị quyết; ban hành 66 thông tư; Quốc hội thông qua 2 luật và 1 nghị quyết quan trọng liên quan đến địa chất – khoáng sản, nông nghiệp – môi trường và đất đai. Công tác phân cấp, phân quyền được đẩy mạnh; cắt giảm, đơn giản hóa 265/845 điều kiện kinh doanh (31,3%) và phân cấp 90% thủ tục hành chính.
Về chuyển đổi xanh và chuyển đổi số, ngành đã định hình rõ hướng đi, nổi bật là chương trình 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp ở Đồng bằng sông Cửu Long.
Nông nghiệp duy trì tăng trưởng khoảng 4%, tổng kim ngạch xuất khẩu ước đạt trên 70 tỷ USD, xuất siêu hơn 20 tỷ USD - mức cao nhất trong các ngành. Diện mạo nông thôn tiếp tục đổi mới; hạ tầng được đầu tư; chương trình OCOP phát triển mạnh. Với OCOP". Ghi nhận của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính.Thủ tướng nhấn mạnh 5 nội dung then chốt: Xây dựng thương hiệu; Quy hoạch vùng nguyên liệu; Phát triển doanh nghiệp; Ứng dụng khoa học công nghệ; Hỗ trợ tín dụng ngân hàng.
Quang cảnh hội nghị. Ảnh Chu Khôi.Bên cạnh kết quả đạt được, Thủ tướng chỉ ra những thách thức lớn: biến đổi khí hậu ngày càng cực đoan; yêu cầu chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và kinh tế tuần hoàn; hạn chế về nguồn lực. Do đó, cần huy động hợp tác công - tư, đào tạo nguồn nhân lực có tri thức và đam mê với nông nghiệp, đồng thời đẩy mạnh quản trị thông minh và số hóa.
Việc thích ứng nhanh được xác định là yêu cầu sống còn. Sau thiên tai, cần nhanh chóng tái cấu trúc sản xuất, chuyển đổi cây trồng - vật nuôi phù hợp, cải tạo đồng ruộng, tổ chức lại giống và vật tư theo hướng phân cấp, tránh rườm rà, chậm trễ.
Từ thực tiễn, bài học kinh nghiệm được rút ra là: thực hiện nghiêm chỉ đạo của Đảng và pháp luật của Nhà nước; phối hợp chặt chẽ liên ngành; chủ động thích ứng với biến động; tổ chức thực hiện quyết liệt, rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm.
Bước sang năm 2026, sứ mệnh của ngành trong phát triển nhanh và bền vững càng nặng nề hơn, đòi hỏi tư duy đột phá để tiếp tục làm bệ đỡ cho nền kinh tế, kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô.
Thủ tướng nêu 6 định hướng trọng tâm cho ngành: Quản trị hiện đại; Thể chế khơi thông; Khoa học phát triển; Tam nông thịnh vượng; Tài nguyên bền vững; Môi trường an toàn. Đây chính là nền tảng để ngành Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục đồng hành cùng đất nước trong kỷ nguyên phát triển mới.
TĂNG TỐC BỨT PHÁ, TẠO NỀN TẢNG CHO PHÁT TRIỂN BỀN VỮNGBáo cáo tổng kết năm 2025, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng cho biết toàn ngành thống nhất phương châm hành động: “Kỷ cương trách nhiệm - chủ động kịp thời - tinh gọn hiệu quả - tăng tốc bứt phá”, tập trung hoàn thiện thể chế, cải cách hành chính, thúc đẩy chuyển đổi số, phát triển nông nghiệp xanh - tuần hoàn, tăng cường quản trị tài nguyên, bảo vệ môi trường và chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu.
Nhờ đó, năm 2025 ngành Nông nghiệp và Môi trường đạt và vượt 9/9 chỉ tiêu Chính phủ giao. Tăng trưởng GDP ngành đạt khoảng 3,92%; kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt trên 70 tỷ USD, xuất siêu trên 20 tỷ USD; gần 80% số xã đạt chuẩn nông thôn mới; tỷ lệ che phủ rừng đạt 42,03%; 95% chất thải rắn sinh hoạt đô thị được thu gom, xử lý đạt quy chuẩn; tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm 0,8-1 điểm phần trăm.
Bộ trưởng Trần Đức Thắng: "Tăng trưởng GDP ngành đạt khoảng 3,92%; kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt trên 70 tỷ USD". Ảnh Tùng Đinh.Sản xuất nông nghiệp tiếp tục phát triển theo hướng kinh tế nông nghiệp xanh, giảm phát thải. Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp đã triển khai hơn 312.000 ha tại Đồng bằng sông Cửu Long; sản lượng lương thực đạt 48,09 triệu tấn. Chăn nuôi đạt 8,7 triệu tấn thịt hơi, gần 21,4 tỷ quả trứng; thủy sản đạt 9,78 triệu tấn, xuất khẩu khoảng 11 tỷ USD; gỗ và lâm sản xuất khẩu trên 18 tỷ USD; thu dịch vụ môi trường rừng đạt 3.734,7 tỷ đồng. Toàn ngành duy trì hơn 2.500 chuỗi giá trị, diện tích sản xuất hữu cơ đạt trên 174.000 ha.
Sau hợp nhất, Bộ đã giảm 45,45% đầu mối, sắp xếp lại tổ chức theo hướng tinh gọn, hiệu quả. Công tác hoàn thiện thể chế được đẩy mạnh với 2 luật, 19 nghị định, 4 nghị quyết, 74 thông tư được ban hành; rà soát hơn 1.000 văn bản, phân cấp 381 nhiệm vụ, cắt giảm 208 điều kiện kinh doanh và 73 thủ tục hành chính". Ông Trần Đức Thắng, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường.Chuyển đổi số đạt nhiều kết quả nổi bật: cung cấp 277 dịch vụ công trực tuyến, hợp nhất hạ tầng số, xây dựng trung tâm dữ liệu dùng chung, đồng bộ 61 triệu thửa đất vào cơ sở dữ liệu quốc gia. Khoa học - công nghệ đóng góp với 461 giống mới, 216 tiến bộ kỹ thuật, 34 bằng sáng chế, giúp tăng hiệu quả kinh tế khoảng 30%. Nhiều mô hình nông nghiệp thông minh, tự động hóa cao được triển khai, xuất hiện các cánh đồng “không dấu chân”. Giai đoạn 2021-2025, ngành hỗ trợ khoảng 90.000 hộ nghèo, cận nghèo về nhà ở, triển khai 292 dự án ổn định dân cư.
Trong quản lý tài nguyên, môi trường và khí hậu, Bộ từng bước hiện đại hóa quản trị, tích hợp hệ thống giám sát trên nền tảng số; tăng cường kỷ luật trong quản lý đất đai, nước, khoáng sản, tài nguyên biển; kiểm soát nguồn gây ô nhiễm, bảo vệ sức khỏe cộng đồng, phục hồi hệ sinh thái. Đồng thời, triển khai các nhiệm vụ xây dựng thị trường carbon, chuẩn bị NDC (Đóng góp do quốc gia tự quyết định) giai đoạn 2025–2035; nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo, phòng chống và khắc phục thiên tai.
NĂM 2026: QUẢN TRỊ TOÀN DIỆN – PHÁT TRIỂN BỀN VỮNGBước sang năm 2026, ngành đối mặt với nhiều thách thức từ biến đổi khí hậu, suy giảm tài nguyên, ô nhiễm môi trường và suy thoái đa dạng sinh học. Trước yêu cầu quản lý ngày càng toàn diện và các cam kết quốc tế về giảm phát thải, tăng trưởng xanh, Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác định mục tiêu: tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, nâng cao khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu; phát huy hiệu quả đất đai, nước, rừng và đa dạng sinh học phục vụ phát triển nông nghiệp bền vững và kinh tế - xã hội.
Toàn ngành tập trung thực hiện 7 nhóm nhiệm vụ trọng tâm.
Thứ nhất: Hoàn thiện thể chế, cải cách hành chính, tháo gỡ rào cản, gắn với chuyển đổi số và Đề án 06; tiếp tục cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục, nhất là trong môi trường, đất đai, khoáng sản.
Thứ hai: Cơ cấu lại ngành theo hướng xanh và giá trị cao, phát triển nông nghiệp tuần hoàn, carbon thấp, nâng cao năng suất và hiệu quả.
Thứ ba: Hỗ trợ vận hành mô hình chính quyền 2 cấp, tăng cường năng lực cấp cơ sở trong phòng chống thiên tai, quản lý tài nguyên và hỗ trợ sản xuất.
Thứ tư: Phát triển thị trường trong nước và xuất khẩu, tháo gỡ rào cản kỹ thuật, nâng cao kiểm soát an toàn thực phẩm và quyết liệt gỡ thẻ vàng IUU.
Thứ năm: Quản lý, khai thác hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, huy động nguồn lực từ đất đai, khoáng sản, tạo động lực mới cho sản xuất quy mô lớn.
Thứ sáu: Nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo thiên tai, ứng dụng AI và chuyển đổi số, thiết lập bản đồ rủi ro và hệ thống giám sát thời gian thực.
Thứ bảy: Đẩy mạnh giải ngân đầu tư công trọng điểm, bảo đảm thủ tục, chất lượng và hiệu quả dự án.
-Chu Khôi
Thủ tướng chỉ đạo 6 nhóm nhiệm vụ trọng tâm đưa ngành Nông nghiệp và Môi trường phát triển bền vững
Ngày 31/12/2025, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức Hội nghị tổng kết công tác năm 2025, giai đoạn 2021-2025 và triển khai kế hoạch năm 2026 của ngành Nông nghiệp và Môi trường. Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị.
Cùng dự có Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà; Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng; đại diện lãnh đạo các bộ, ngành Trung ương; địa phương; hiệp hội ngành hàng; doanh nghiệp và các đơn vị trực thuộc Bộ.
NGÀNH NÔNG NGHIỆP: TRỤ ĐỠ CHIẾN LƯỢC TRONG KỶ NGUYÊN MỚIPhát biểu chỉ đạo tại hội nghị tổng kết năm 2025 của ngành Nông nghiệp và Môi trường, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính nhấn mạnh: Tổng Bí thư Tô Lâm đã khẳng định ngành Nông nghiệp và Môi trường có vị trí chiến lược đặc biệt, là trụ cột của nền kinh tế, nền tảng sinh kế và là nhân tố quan trọng trong công cuộc phát triển và chuyển mình của quốc gia trong kỷ nguyên mới. Quan điểm này thể hiện sự nhất quán trong chủ trương của Đảng và Nhà nước. Vì vậy, “đã làm tốt rồi phải làm tốt hơn, đã nỗ lực rồi phải nỗ lực hơn nữa”.
Thủ tướng Phạm Minh Chính: "Bước sang năm 2026, sứ mệnh của ngành trong phát triển nhanh và bền vững càng nặng nề hơn, đòi hỏi tư duy đột phá...". Ảnh Tùng Đinh.Trên tinh thần đó, Thủ tướng nêu sáu nhóm "từ khóa" định hướng cho ngành: Bộ máy tinh gọn; Thể chế đột phá; Chuyển đổi xanh - chuyển đổi số; Phát triển tam nông; Khơi thông tài nguyên; Kiên trì vượt khó.
Về tổ chức bộ máy, Thủ tướng ghi nhận ngành đã giảm 25/55 đầu mối (45,5%), giảm 30/80 đơn vị sự nghiệp (37,5%), tiếp tục kiện toàn hệ thống khuyến nông và đẩy mạnh chuyển đổi số. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu được triển khai theo hướng “đúng, đủ, sạch, sống”, kết nối liên thông, dùng chung và gắn với cơ sở dữ liệu VNeID.
Về thể chế, Bộ đã tham mưu ban hành 17 nghị định, 2 nghị quyết; ban hành 66 thông tư; Quốc hội thông qua 2 luật và 1 nghị quyết quan trọng liên quan đến địa chất – khoáng sản, nông nghiệp – môi trường và đất đai. Công tác phân cấp, phân quyền được đẩy mạnh; cắt giảm, đơn giản hóa 265/845 điều kiện kinh doanh (31,3%) và phân cấp 90% thủ tục hành chính.
Về chuyển đổi xanh và chuyển đổi số, ngành đã định hình rõ hướng đi, nổi bật là chương trình 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp ở Đồng bằng sông Cửu Long.
Nông nghiệp duy trì tăng trưởng khoảng 4%, tổng kim ngạch xuất khẩu ước đạt trên 70 tỷ USD, xuất siêu hơn 20 tỷ USD - mức cao nhất trong các ngành. Diện mạo nông thôn tiếp tục đổi mới; hạ tầng được đầu tư; chương trình OCOP phát triển mạnh. Với OCOP". Ghi nhận của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính.Thủ tướng nhấn mạnh 5 nội dung then chốt: Xây dựng thương hiệu; Quy hoạch vùng nguyên liệu; Phát triển doanh nghiệp; Ứng dụng khoa học công nghệ; Hỗ trợ tín dụng ngân hàng.
Quang cảnh hội nghị. Ảnh Chu Khôi.Bên cạnh kết quả đạt được, Thủ tướng chỉ ra những thách thức lớn: biến đổi khí hậu ngày càng cực đoan; yêu cầu chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và kinh tế tuần hoàn; hạn chế về nguồn lực. Do đó, cần huy động hợp tác công - tư, đào tạo nguồn nhân lực có tri thức và đam mê với nông nghiệp, đồng thời đẩy mạnh quản trị thông minh và số hóa.
Việc thích ứng nhanh được xác định là yêu cầu sống còn. Sau thiên tai, cần nhanh chóng tái cấu trúc sản xuất, chuyển đổi cây trồng - vật nuôi phù hợp, cải tạo đồng ruộng, tổ chức lại giống và vật tư theo hướng phân cấp, tránh rườm rà, chậm trễ.
Từ thực tiễn, bài học kinh nghiệm được rút ra là: thực hiện nghiêm chỉ đạo của Đảng và pháp luật của Nhà nước; phối hợp chặt chẽ liên ngành; chủ động thích ứng với biến động; tổ chức thực hiện quyết liệt, rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm.
Bước sang năm 2026, sứ mệnh của ngành trong phát triển nhanh và bền vững càng nặng nề hơn, đòi hỏi tư duy đột phá để tiếp tục làm bệ đỡ cho nền kinh tế, kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô.
Thủ tướng nêu 6 định hướng trọng tâm cho ngành: Quản trị hiện đại; Thể chế khơi thông; Khoa học phát triển; Tam nông thịnh vượng; Tài nguyên bền vững; Môi trường an toàn. Đây chính là nền tảng để ngành Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục đồng hành cùng đất nước trong kỷ nguyên phát triển mới.
TĂNG TỐC BỨT PHÁ, TẠO NỀN TẢNG CHO PHÁT TRIỂN BỀN VỮNGBáo cáo tổng kết năm 2025, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng cho biết toàn ngành thống nhất phương châm hành động: “Kỷ cương trách nhiệm - chủ động kịp thời - tinh gọn hiệu quả - tăng tốc bứt phá”, tập trung hoàn thiện thể chế, cải cách hành chính, thúc đẩy chuyển đổi số, phát triển nông nghiệp xanh - tuần hoàn, tăng cường quản trị tài nguyên, bảo vệ môi trường và chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu.
Nhờ đó, năm 2025 ngành Nông nghiệp và Môi trường đạt và vượt 9/9 chỉ tiêu Chính phủ giao. Tăng trưởng GDP ngành đạt khoảng 3,92%; kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt trên 70 tỷ USD, xuất siêu trên 20 tỷ USD; gần 80% số xã đạt chuẩn nông thôn mới; tỷ lệ che phủ rừng đạt 42,03%; 95% chất thải rắn sinh hoạt đô thị được thu gom, xử lý đạt quy chuẩn; tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm 0,8-1 điểm phần trăm.
Bộ trưởng Trần Đức Thắng: "Tăng trưởng GDP ngành đạt khoảng 3,92%; kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt trên 70 tỷ USD". Ảnh Tùng Đinh.Sản xuất nông nghiệp tiếp tục phát triển theo hướng kinh tế nông nghiệp xanh, giảm phát thải. Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp đã triển khai hơn 312.000 ha tại Đồng bằng sông Cửu Long; sản lượng lương thực đạt 48,09 triệu tấn. Chăn nuôi đạt 8,7 triệu tấn thịt hơi, gần 21,4 tỷ quả trứng; thủy sản đạt 9,78 triệu tấn, xuất khẩu khoảng 11 tỷ USD; gỗ và lâm sản xuất khẩu trên 18 tỷ USD; thu dịch vụ môi trường rừng đạt 3.734,7 tỷ đồng. Toàn ngành duy trì hơn 2.500 chuỗi giá trị, diện tích sản xuất hữu cơ đạt trên 174.000 ha.
Sau hợp nhất, Bộ đã giảm 45,45% đầu mối, sắp xếp lại tổ chức theo hướng tinh gọn, hiệu quả. Công tác hoàn thiện thể chế được đẩy mạnh với 2 luật, 19 nghị định, 4 nghị quyết, 74 thông tư được ban hành; rà soát hơn 1.000 văn bản, phân cấp 381 nhiệm vụ, cắt giảm 208 điều kiện kinh doanh và 73 thủ tục hành chính". Ông Trần Đức Thắng, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường.Chuyển đổi số đạt nhiều kết quả nổi bật: cung cấp 277 dịch vụ công trực tuyến, hợp nhất hạ tầng số, xây dựng trung tâm dữ liệu dùng chung, đồng bộ 61 triệu thửa đất vào cơ sở dữ liệu quốc gia. Khoa học - công nghệ đóng góp với 461 giống mới, 216 tiến bộ kỹ thuật, 34 bằng sáng chế, giúp tăng hiệu quả kinh tế khoảng 30%. Nhiều mô hình nông nghiệp thông minh, tự động hóa cao được triển khai, xuất hiện các cánh đồng “không dấu chân”. Giai đoạn 2021-2025, ngành hỗ trợ khoảng 90.000 hộ nghèo, cận nghèo về nhà ở, triển khai 292 dự án ổn định dân cư.
Trong quản lý tài nguyên, môi trường và khí hậu, Bộ từng bước hiện đại hóa quản trị, tích hợp hệ thống giám sát trên nền tảng số; tăng cường kỷ luật trong quản lý đất đai, nước, khoáng sản, tài nguyên biển; kiểm soát nguồn gây ô nhiễm, bảo vệ sức khỏe cộng đồng, phục hồi hệ sinh thái. Đồng thời, triển khai các nhiệm vụ xây dựng thị trường carbon, chuẩn bị NDC (Đóng góp do quốc gia tự quyết định) giai đoạn 2025–2035; nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo, phòng chống và khắc phục thiên tai.
NĂM 2026: QUẢN TRỊ TOÀN DIỆN – PHÁT TRIỂN BỀN VỮNGBước sang năm 2026, ngành đối mặt với nhiều thách thức từ biến đổi khí hậu, suy giảm tài nguyên, ô nhiễm môi trường và suy thoái đa dạng sinh học. Trước yêu cầu quản lý ngày càng toàn diện và các cam kết quốc tế về giảm phát thải, tăng trưởng xanh, Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác định mục tiêu: tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, nâng cao khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu; phát huy hiệu quả đất đai, nước, rừng và đa dạng sinh học phục vụ phát triển nông nghiệp bền vững và kinh tế - xã hội.
Toàn ngành tập trung thực hiện 7 nhóm nhiệm vụ trọng tâm.
Thứ nhất: Hoàn thiện thể chế, cải cách hành chính, tháo gỡ rào cản, gắn với chuyển đổi số và Đề án 06; tiếp tục cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục, nhất là trong môi trường, đất đai, khoáng sản.
Thứ hai: Cơ cấu lại ngành theo hướng xanh và giá trị cao, phát triển nông nghiệp tuần hoàn, carbon thấp, nâng cao năng suất và hiệu quả.
Thứ ba: Hỗ trợ vận hành mô hình chính quyền 2 cấp, tăng cường năng lực cấp cơ sở trong phòng chống thiên tai, quản lý tài nguyên và hỗ trợ sản xuất.
Thứ tư: Phát triển thị trường trong nước và xuất khẩu, tháo gỡ rào cản kỹ thuật, nâng cao kiểm soát an toàn thực phẩm và quyết liệt gỡ thẻ vàng IUU.
Thứ năm: Quản lý, khai thác hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, huy động nguồn lực từ đất đai, khoáng sản, tạo động lực mới cho sản xuất quy mô lớn.
Thứ sáu: Nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo thiên tai, ứng dụng AI và chuyển đổi số, thiết lập bản đồ rủi ro và hệ thống giám sát thời gian thực.
Thứ bảy: Đẩy mạnh giải ngân đầu tư công trọng điểm, bảo đảm thủ tục, chất lượng và hiệu quả dự án.
-Chu Khôi
Tập đoàn Nagakawa công bố chiến lược 2026-2030, tầm nhìn 2045
Chiến lược được giới thiệu trong bối cảnh Nagakawa khép lại một chu kỳ tăng trưởng 5 năm liên tục với nhiều dấu ấn quan trọng, đồng thời mở ra giai đoạn phát triển mới với trọng tâm nâng cao chất lượng tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh dài hạn.
TĂNG TRƯỞNG 205% SAU 5 NĂM – NỀN TẢNG CHO CHU KỲ PHÁT TRIỂN TIẾP THEOTheo số liệu đã công bố, trong giai đoạn 2020–2025, doanh thu hợp nhất của Công ty Cổ phẩn Tập đoàn Nagakawa (mã chứng khoán: NAG – HNX) tăng trưởng 205%, tương ứng tốc độ tăng trưởng kép bình quân (CAGR) khoảng 25%/năm. Mức tăng trưởng này đạt được trong bối cảnh thị trường chịu nhiều tác động bất lợi từ dịch bệnh, lạm phát và đứt gãy chuỗi cung ứng.
Đáng chú ý, tăng trưởng của Nagakawa được xây dựng chủ yếu trên nền tảng mở rộng thị phần các ngành hàng cốt lõi, cải thiện hiệu quả vận hành và kiểm soát chi phí, thay vì tăng trưởng ngắn hạn mang tính thời điểm. Với kết quả này, Nagakawa liên tục được ghi nhận trong Top 50 Doanh nghiệp tăng trưởng xuất sắc nhất Việt Nam và Top 500 Doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam.
HIỆN THỰC HÓA CHIẾN LƯỢC NGAY TỪ THỀM NĂM MỚIKhông dừng ở việc công bố định hướng, Nagakawa đã chủ động triển khai các hoạt động chuẩn bị cho giai đoạn 2026–2030 ngay từ cuối năm 2025. Ngày 19/12/2025, Tập đoàn tổ chức Hội nghị Chiến lược Kinh doanh với sự tham gia của các tổng thầu và nhà phân phối lớn kênh truyền thống trên toàn quốc. Hội nghị tập trung rà soát kế hoạch kinh doanh, định hướng phát triển thị trường và củng cố liên kết trong chuỗi phân phối, đặc biệt ở phân khúc điều hòa trung tâm và dự án.
Tổng giám đốc Nguyễn Thị Huyền Thương phát biểu tại Hội nghị Chiến lược kinh doanh 2026-2030 với các Nhà phân phối Chiến lược.Tiếp nối chuỗi hoạt động này, ngày 23/12/2025, Nagakawa ký kết hợp tác chiến lược toàn diện với Điện Máy Xanh (Thế Giới Di Động) – hệ thống bán lẻ điện máy có thị phần lớn nhất Việt Nam. Theo thỏa thuận, hai bên đặt mục tiêu đạt mức tăng trưởng doanh thu bình quân khoảng 30%/năm tại hệ thống Điện Máy Xanh trong giai đoạn đến năm 2030, dựa trên việc mở rộng danh mục sản phẩm, tối ưu tồn kho và khai thác hiệu quả mạng lưới phân phối quy mô toàn quốc.
Từ năm 2026, các dòng sản phẩm điều hòa, gia dụng và thiết bị nhà bếp của Nagakawa sẽ tiếp tục được phân phối rộng rãi trong hệ thống Điện Máy Xanh, đồng thời hai bên phối hợp phát triển các giải pháp trọn bộ cho hộ gia đình, qua đó tạo dư địa tăng trưởng ổn định trong trung và dài hạn.
CEO Nagakawa Nguyễn Thị Huyền Thương và CEO Thế giới di động Đoàn Văn Hiểu Em ký kết hợp tác chiến lược toàn diện. NỀN TẢNG DỰ ÁN VÀ NĂNG LỰC THI CÔNG TẠO NIỀM TIN CHO GIAI ĐOẠN MỚIBước sang năm 2026, Nagakawa bước vào chu kỳ tăng trưởng mới với nền tảng đơn hàng và dự án tích cực. Tập đoàn đã trúng thầu và triển khai nhiều dự án quy mô lớn, trong đó có các công trình trọng điểm cấp quốc gia và hạ tầng công nghiệp quan trọng.
Đáng chú ý, các dự án tiêu biểu như Công trình Hành chính Hải Phòng và Nhà máy Nhiệt điện Thái Bình 2 đã đi vào vận hành ổn định, đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật và tiến độ khắt khe của chủ đầu tư. Việc các dự án điểm này được triển khai hiệu quả tiếp tục khẳng định năng lực thực thi, chất lượng sản phẩm và uy tín thương hiệu của Nagakawa trong lĩnh vực điều hòa trung tâm và giải pháp kỹ thuật, đồng thời tạo nền tảng để mở rộng quy mô dự án trong giai đoạn 2026–2030.
LÃNH ĐẠO KHẲNG ĐỊNH NIỀM TIN VÀO CHU KỲ TĂNG TRƯỞNG MỚIChia sẻ tại sự kiện, bà Nguyễn Thị Huyền Thương, Tổng giám đốc Tập đoàn Nagakawa, cho biết: “Chưa bao giờ tôi cảm nhận rõ ràng niềm tin vào mục tiêu 5 năm như ở thời điểm này. Những nền tảng mà Nagakawa đã xây dựng trong 5 năm qua, cùng với nhịp độ triển khai quyết liệt ngay từ cuối năm 2025, cho phép Nagakawa bước vào giai đoạn phát triển mới với tâm thế chủ động và vững vàng hơn.”
Theo ban lãnh đạo, chiến lược 2026–2030 của Nagakawa được thiết kế theo hướng cân bằng giữa tăng trưởng và kiểm soát rủi ro, ưu tiên hiệu quả dài hạn và tính bền vững của dòng tiền.
Với chiến lược rõ ràng, lộ trình triển khai bài bản và sự đồng hành của các đối tác lớn, Nagakawa đang chủ động bước vào chu kỳ phát triển mới với kỳ vọng tạo ra tăng trưởng bền vững, dòng tiền ổn định và giá trị gia tăng trong trung và dài hạn.
-Thu Ngân
10 hoạt động và sự kiện nổi bật của công tác Mặt trận năm 2025
Thứ nhất, quyết liệt triển khai việc sắp xếp tổ chức bộ máy của Cơ quan Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Theo đó, từ ngày 01/7/2025, sau sắp xếp, Cơ quan Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có 29 ban, đơn vị trực thuộc do Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quyết định thành lập, quy định chức năng, nhiệm vụ, gồm: 09 ban, đơn vị tham mưu, giúp việc chung; 03 đơn vị sự nghiệp thuộc Cơ quan; 07 ban tham mưu, giúp việc của các tổ chức chính trị - xã hội; 10 đơn vị sự nghiệp của các tổ chức chính trị - xã hội.
Thứ hai, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng với các tổ chức chính trị - xã hội triển khai các hoạt động chăm lo cho người nghèo, an sinh xã hội và cứu trợ hiệu quả, đúng đối tượng.
Theo đó, vận động các cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân hưởng ứng lời kêu gọi của Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chung tay ủng hộ đồng bào bị thiệt hại do mưa lũ gây ra; công khai, minh bạch nguồn lực ủng hộ và phân bổ kịp thời tới các địa phương chịu ảnh hưởng bởi mưa lũ.
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động trong hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội để cùng với Đảng, Nhà nước về đích sớm Phong trào thi đua "Cả nước chung tay xóa nhà tạm, nhà dột nát trong năm 2025".
Phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội trong chăm lo cho đoàn viên, hội viên và những người yếu thế trong xã hội.
Ông Nguyễn Đình Khang, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam trao quà cho công nhân có hoàn cảnh khó khăn. Ảnh: Mặt trận.Thứ ba, tổ chức lấy ý kiến góp ý trong hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội đối với dự thảo các văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
Theo số liệu thống kê, tính đến ngày 18/11/2025, đã có 527.764 ý kiến đóng góp trong hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với dự thảo các văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
Thứ tư, tổ chức thành công các hoạt động kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945 - 02/9/2025).
Thứ năm, tham gia đóng góp ý kiến sửa đổi, bổ sung và đề xuất sửa đổi các quy định, văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Không gian triển lãm của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Ảnh: Mặt trận.Thứ sáu, Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc năm 2025 tại các khu dân cư trên cả nước một lần nữa khẳng định tinh thần đại đoàn kết, sự chung sức đồng lòng, ý Đảng hợp lòng dân, dân tin Đảng, góp phần đưa đất nước ngày một phồn vinh, thịnh vượng, hùng cường, nhân dân ngày càng ấm no, hạnh phúc.
Thứ bảy, tổ chức thành công Đại hội đại biểu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp nhiệm kỳ 2025 – 2030, tạo nên dấu mốc đặc biệt khi đã hợp nhất, sắp xếp các tổ chức chính trị - xã hội, các hội quần chúng được Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ trực thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Thứ tám, phát huy vai trò của các cơ quan báo chí và đội ngũ những người làm báo trong việc tham gia các tuyến bài nổi bật, tâm huyết hưởng ứng Giải báo chí do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội phát động.
Thứ chín, triển khai Đề án chuyển đổi số trong hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội nhằm cụ thể hóa Nghị quyết 57-NQ/TW với những điểm nhấn nổi bật, tạo sức chuyển biến mạnh mẽ.
Thứ mười, hoạt động đối ngoại nhân dân được đẩy mạnh thông qua các chương trình giao lưu hữu nghị, trao đổi kinh nghiệm giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội với các tổ chức trên thế giới.
-Đỗ Như
10 hoạt động và sự kiện nổi bật của công tác Mặt trận năm 2025
Thứ nhất, quyết liệt triển khai việc sắp xếp tổ chức bộ máy của Cơ quan Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Theo đó, từ ngày 01/7/2025, sau sắp xếp, Cơ quan Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có 29 ban, đơn vị trực thuộc do Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quyết định thành lập, quy định chức năng, nhiệm vụ, gồm: 09 ban, đơn vị tham mưu, giúp việc chung; 03 đơn vị sự nghiệp thuộc Cơ quan; 07 ban tham mưu, giúp việc của các tổ chức chính trị - xã hội; 10 đơn vị sự nghiệp của các tổ chức chính trị - xã hội.
Thứ hai, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng với các tổ chức chính trị - xã hội triển khai các hoạt động chăm lo cho người nghèo, an sinh xã hội và cứu trợ hiệu quả, đúng đối tượng.
Theo đó, vận động các cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân hưởng ứng lời kêu gọi của Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chung tay ủng hộ đồng bào bị thiệt hại do mưa lũ gây ra; công khai, minh bạch nguồn lực ủng hộ và phân bổ kịp thời tới các địa phương chịu ảnh hưởng bởi mưa lũ.
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động trong hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội để cùng với Đảng, Nhà nước về đích sớm Phong trào thi đua "Cả nước chung tay xóa nhà tạm, nhà dột nát trong năm 2025".
Phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội trong chăm lo cho đoàn viên, hội viên và những người yếu thế trong xã hội.
Ông Nguyễn Đình Khang, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam trao quà cho công nhân có hoàn cảnh khó khăn. Ảnh: Mặt trận.Thứ ba, tổ chức lấy ý kiến góp ý trong hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội đối với dự thảo các văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
Theo số liệu thống kê, tính đến ngày 18/11/2025, đã có 527.764 ý kiến đóng góp trong hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với dự thảo các văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
Thứ tư, tổ chức thành công các hoạt động kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945 - 02/9/2025).
Thứ năm, tham gia đóng góp ý kiến sửa đổi, bổ sung và đề xuất sửa đổi các quy định, văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Không gian triển lãm của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Ảnh: Mặt trận.Thứ sáu, Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc năm 2025 tại các khu dân cư trên cả nước một lần nữa khẳng định tinh thần đại đoàn kết, sự chung sức đồng lòng, ý Đảng hợp lòng dân, dân tin Đảng, góp phần đưa đất nước ngày một phồn vinh, thịnh vượng, hùng cường, nhân dân ngày càng ấm no, hạnh phúc.
Thứ bảy, tổ chức thành công Đại hội đại biểu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp nhiệm kỳ 2025 – 2030, tạo nên dấu mốc đặc biệt khi đã hợp nhất, sắp xếp các tổ chức chính trị - xã hội, các hội quần chúng được Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ trực thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Thứ tám, phát huy vai trò của các cơ quan báo chí và đội ngũ những người làm báo trong việc tham gia các tuyến bài nổi bật, tâm huyết hưởng ứng Giải báo chí do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội phát động.
Thứ chín, triển khai Đề án chuyển đổi số trong hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội nhằm cụ thể hóa Nghị quyết 57-NQ/TW với những điểm nhấn nổi bật, tạo sức chuyển biến mạnh mẽ.
Thứ mười, hoạt động đối ngoại nhân dân được đẩy mạnh thông qua các chương trình giao lưu hữu nghị, trao đổi kinh nghiệm giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội với các tổ chức trên thế giới.
-Đỗ Như
Chính thức công bố 14 luật được Quốc hội khóa XV thông qua
Tại họp báo, Thượng tướng Lê Quốc Hùng, Thứ trưởng Bộ Công an đã giới thiệu về Luật An ninh mạng năm 2025.
KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG CHỒNG CHÉO, PHÂN TÁN TRONG CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬTLuật An ninh mạng năm 2025 gồm 8 chương, 45 điều với nhiều điểm mới như hoàn thiện và thống nhất hệ thống khái niệm làm nền tảng cho quản lý và bảo vệ an ninh mạng, bao gồm an ninh mạng, an ninh thông tin mạng, an ninh dữ liệu và không gian mạng quốc gia.
Việc chuẩn hóa các khái niệm này giúp xác định rõ phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng của Luật, khắc phục tình trạng chồng chéo, phân tán trong các quy định trước đây.
Luật cũng bổ sung, cụ thể hóa các hành vi bị nghiêm cấm gắn với sự phát triển của khoa học, công nghệ và các phương thức hoạt động mới trên không gian mạng… Tăng cường trách nhiệm của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng Internet và các dịch vụ gia tăng trên không gian mạng tại Việt Nam trong việc phối hợp ngăn chặn, loại bỏ thông tin vi phạm pháp luật về an ninh mạng theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền…
Luật Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2025 gồm 05 chương, 28 điều, được xây dựng trên cơ sở kế thừa những quy định còn phù hợp của Luật Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2018 và bổ sung những quy định mới theo yêu cầu phát triển khoa học công nghệ, chuyển đổi số quốc gia và thực tiễn công tác bảo vệ bí mật nhà nước trong triền khai chính quyền địa phương 02 cấp.
Luật quy định khái niệm bí mật nhà nước, mạng LAN độc lập, văn bản điện tử bí mật nhà nước; các hành vi bị nghiêm cấm; sao, chụp tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước…
Văn phòng Chủ tịch nước họp báo công bố các luật, pháp lệnh đã được Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XV thông qua.Luật Dẫn độ bổ sung cơ quan của Việt Nam có thẩm quyền lập yêu cầu dẫn độ bao gồm: Bộ Công an, cơ quan quản lý thi hành án hình sự, cơ quan thi hành án hình sự; bổ sung quy định về xử lý trường hợp nước ngoài từ chối yêu cầu dẫn độ của Việt Nam…
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến an ninh, trật tự với điểm mới là bổ sung quy định xe vận tải nội bộ phải lắp thiết bị giám sát hành trình; xe ô tô kinh doanh vận tải hành khách dưới 08 chỗ (không kể chỗ của người lái xe), xe ô tô kinh doanh vận tải hàng hóa, xe vận tải nội bộ phải lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe; xe ô tô kinh doanh vận tải hành khách từ 08 chỗ trở lên (không kể chỗ của người lái xe) phải lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách…
Luật cũng bỏ quy định xe ô tô kinh doanh vận tải hành khách phải sử dụng thiết bị an toàn phù hợp cho trẻ em khi chở trẻ em trên xe để phù hợp thực tiễn.
Luật Tương trợ tư pháp về hình sự gồm 04 chương, 42 điều bổ sung các hình thức tương trợ cụ thể nhằm bảo đảm phù hợp với thực tiễn, tạo thuận lợi cho quá trình đàm phán Hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự cũng như quá trình thực hiện và đề nghị các hình thức tương trợ này như: tịch thu, trả lại, xử lý vật chứng, tài sản…
ĐỔI MỚI, NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ VIÊN CHỨCCũng tại họp báo, Thứ trưởng Bộ Nội vụ Trương Hải Long cho biết Luật Viên chức năm 2025 được ban hành trong bối cảnh yêu cầu đổi mới công tác cán bộ, nâng cao chất lượng đội ngũ viên chức và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập ngày càng đặt ra cấp thiết.
Theo quy định mới, vị trí việc làm được xác định là căn cứ trung tâm để thực hiện tuyển dụng, bố trí, đánh giá, quy hoạch, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng và thực hiện chế độ, chính sách đối với viên chức. Việc tuyển dụng viên chức được thực hiện thông qua hai hình thức là thi tuyển và xét tuyển; đồng thời bổ sung quy định về tiếp nhận người có kinh nghiệm công tác ở cả khu vực công và khu vực tư vào làm viên chức.
Một điểm mới quan trọng của Luật Viên chức năm 2025 là tạo sự liên thông trong sử dụng nguồn nhân lực giữa khu vực công và khu vực tư. Luật bổ sung cơ chế thu hút, trọng dụng nguồn nhân lực chất lượng cao vào làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập thông qua hình thức tiếp nhận đối với chuyên gia, nhà khoa học, người có tài năng, năng khiếu đặc biệt và người có kinh nghiệm phù hợp.
Luật cũng cho phép ký hợp đồng đối với chuyên gia, nhà khoa học, luật gia, luật sư giỏi, doanh nhân tiêu biểu hoặc người có trình độ chuyên môn cao trong các ngành, lĩnh vực chiến lược, trọng điểm để đảm nhiệm vị trí việc làm quản lý, điều hành, phát triển đơn vị sự nghiệp công lập hoặc vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ.
14 luật và 1 pháp lệnh vừa được thông qua gồm Luật Dẫn độ; Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Lý lịch tư pháp; Luật An ninh mạng; Luật Bảo vệ bí mật nhà nước;
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến an ninh, trật tự; Luật Phòng, chống ma túy; Luật Thi hành án hình sự; Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú; Luật Tương trợ tư pháp về hình sự; Luật Tình trạng khẩn cấp; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công nghiệp quốc phòng, an ninh và động viên công nghiệp; Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân; Luật Viên chức;
Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Cảnh sát môi trường.
-Đỗ Mến
Chính thức công bố 14 luật được Quốc hội khóa XV thông qua
Tại họp báo, Thượng tướng Lê Quốc Hùng, Thứ trưởng Bộ Công an đã giới thiệu về Luật An ninh mạng năm 2025.
KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG CHỒNG CHÉO, PHÂN TÁN TRONG CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬTLuật An ninh mạng năm 2025 gồm 8 chương, 45 điều với nhiều điểm mới như hoàn thiện và thống nhất hệ thống khái niệm làm nền tảng cho quản lý và bảo vệ an ninh mạng, bao gồm an ninh mạng, an ninh thông tin mạng, an ninh dữ liệu và không gian mạng quốc gia.
Việc chuẩn hóa các khái niệm này giúp xác định rõ phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng của Luật, khắc phục tình trạng chồng chéo, phân tán trong các quy định trước đây.
Luật cũng bổ sung, cụ thể hóa các hành vi bị nghiêm cấm gắn với sự phát triển của khoa học, công nghệ và các phương thức hoạt động mới trên không gian mạng… Tăng cường trách nhiệm của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng Internet và các dịch vụ gia tăng trên không gian mạng tại Việt Nam trong việc phối hợp ngăn chặn, loại bỏ thông tin vi phạm pháp luật về an ninh mạng theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền…
Luật Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2025 gồm 05 chương, 28 điều, được xây dựng trên cơ sở kế thừa những quy định còn phù hợp của Luật Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2018 và bổ sung những quy định mới theo yêu cầu phát triển khoa học công nghệ, chuyển đổi số quốc gia và thực tiễn công tác bảo vệ bí mật nhà nước trong triền khai chính quyền địa phương 02 cấp.
Luật quy định khái niệm bí mật nhà nước, mạng LAN độc lập, văn bản điện tử bí mật nhà nước; các hành vi bị nghiêm cấm; sao, chụp tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước…
Văn phòng Chủ tịch nước họp báo công bố các luật, pháp lệnh đã được Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XV thông qua.Luật Dẫn độ bổ sung cơ quan của Việt Nam có thẩm quyền lập yêu cầu dẫn độ bao gồm: Bộ Công an, cơ quan quản lý thi hành án hình sự, cơ quan thi hành án hình sự; bổ sung quy định về xử lý trường hợp nước ngoài từ chối yêu cầu dẫn độ của Việt Nam…
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến an ninh, trật tự với điểm mới là bổ sung quy định xe vận tải nội bộ phải lắp thiết bị giám sát hành trình; xe ô tô kinh doanh vận tải hành khách dưới 08 chỗ (không kể chỗ của người lái xe), xe ô tô kinh doanh vận tải hàng hóa, xe vận tải nội bộ phải lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe; xe ô tô kinh doanh vận tải hành khách từ 08 chỗ trở lên (không kể chỗ của người lái xe) phải lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách…
Luật cũng bỏ quy định xe ô tô kinh doanh vận tải hành khách phải sử dụng thiết bị an toàn phù hợp cho trẻ em khi chở trẻ em trên xe để phù hợp thực tiễn.
Luật Tương trợ tư pháp về hình sự gồm 04 chương, 42 điều bổ sung các hình thức tương trợ cụ thể nhằm bảo đảm phù hợp với thực tiễn, tạo thuận lợi cho quá trình đàm phán Hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự cũng như quá trình thực hiện và đề nghị các hình thức tương trợ này như: tịch thu, trả lại, xử lý vật chứng, tài sản…
ĐỔI MỚI, NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ VIÊN CHỨCCũng tại họp báo, Thứ trưởng Bộ Nội vụ Trương Hải Long cho biết Luật Viên chức năm 2025 được ban hành trong bối cảnh yêu cầu đổi mới công tác cán bộ, nâng cao chất lượng đội ngũ viên chức và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập ngày càng đặt ra cấp thiết.
Theo quy định mới, vị trí việc làm được xác định là căn cứ trung tâm để thực hiện tuyển dụng, bố trí, đánh giá, quy hoạch, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng và thực hiện chế độ, chính sách đối với viên chức. Việc tuyển dụng viên chức được thực hiện thông qua hai hình thức là thi tuyển và xét tuyển; đồng thời bổ sung quy định về tiếp nhận người có kinh nghiệm công tác ở cả khu vực công và khu vực tư vào làm viên chức.
Một điểm mới quan trọng của Luật Viên chức năm 2025 là tạo sự liên thông trong sử dụng nguồn nhân lực giữa khu vực công và khu vực tư. Luật bổ sung cơ chế thu hút, trọng dụng nguồn nhân lực chất lượng cao vào làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập thông qua hình thức tiếp nhận đối với chuyên gia, nhà khoa học, người có tài năng, năng khiếu đặc biệt và người có kinh nghiệm phù hợp.
Luật cũng cho phép ký hợp đồng đối với chuyên gia, nhà khoa học, luật gia, luật sư giỏi, doanh nhân tiêu biểu hoặc người có trình độ chuyên môn cao trong các ngành, lĩnh vực chiến lược, trọng điểm để đảm nhiệm vị trí việc làm quản lý, điều hành, phát triển đơn vị sự nghiệp công lập hoặc vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ.
14 luật và 1 pháp lệnh vừa được thông qua gồm Luật Dẫn độ; Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Lý lịch tư pháp; Luật An ninh mạng; Luật Bảo vệ bí mật nhà nước;
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến an ninh, trật tự; Luật Phòng, chống ma túy; Luật Thi hành án hình sự; Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú; Luật Tương trợ tư pháp về hình sự; Luật Tình trạng khẩn cấp; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công nghiệp quốc phòng, an ninh và động viên công nghiệp; Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân; Luật Viên chức;
Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Cảnh sát môi trường.
-Đỗ Mến
Phát huy trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam vững bước tiến mạnh trong kỷ nguyên phát triển mới
Phóng viên: Kính thưa Tổng Bí thư, nhiệm kỳ 2020–2025, đất nước phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức chưa có tiền lệ, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự nỗ lực, cố gắng của cả hệ thống chính trị, toàn dân, toàn quân, chúng ta đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, khá toàn diện trong triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Xin Tổng Bí thư chia sẻ những thành tựu nổi bật trong thời gian qua?
Tổng Bí thư Tô Lâm: Trước hết, cần khẳng định những kết quả mà đất nước đạt được trong nhiệm kỳ vừa qua là kết tinh của sự lãnh đạo tài tình của Đảng, sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị và trên hết là sự đồng lòng, quyết tâm, bản lĩnh và nghĩa tình của nhân dân ta trong những thời khắc thử thách nhất.
Nhiệm kỳ Đại hội lần thứ XIII của Đảng là quãng thời gian đặc biệt khó khăn. Đại dịch, thiên tai, biến đổi khí hậu, biến động quốc tế, những khó khăn về kinh tế, đứt gãy chuỗi nguồn cung, việc làm, những áp lực tài chính, ngân hàng… đến dồn dập, liên tục, đặt ra cho chúng ta những bài toán hóc búa, đòi hỏi phải có lời giải là những chính sách, đối sách, biện pháp xử lý nhanh chóng, chính xác, quyết đoán. Khó khăn như núi nhưng chúng ta đã vượt qua, về đích. Điều đáng ghi nhận là trong bộn bề gian khó nhưng đất nước vẫn giữ được ổn định, xã hội vẫn giữ được trật tự và niềm tin, các “mạch máu” kinh tế – sản xuất – lưu thông được khôi phục kịp thời, để chúng ta tiếp tục tiến lên.
Tổng Bí thư Tô Lâm tại Đại hội Thi đua yêu nước. Ảnh: TTXVNVề kinh tế, chúng ta đã nỗ lực rất lớn để vừa phục hồi sau đại dịch, vừa giữ vững các cân đối lớn, giữ nền kinh tế không chao đảo trước sóng gió bên ngoài. Nhiều ngành, nhiều địa phương, nhiều doanh nghiệp đã biết cách chèo lái, đổi mới, tìm thị trường, tạo việc làm, giữ nhịp sản xuất. Kết quả là nền kinh tế của chúng ta đã chứng tỏ sức chống chịu, sự bền bỉ, và tinh thần không chịu lùi bước.
Về xã hội, chúng ta luôn bám sát định hướng phát triển không chỉ là tăng trưởng, mà phải là cuộc sống yên ổn và tốt lên của người dân. Trong gian khó, tinh thần tương thân tương ái, “lá lành đùm lá rách”, sự hy sinh thầm lặng, to lớn của lực lượng tuyến đầu, của quân đội, công an, y tế, giáo viên, công nhân… đã để lại nhiều bài học sâu sắc về sức mạnh đoàn kết. Các chính sách an sinh, giảm nghèo, chăm lo cho người yếu thế, vùng khó khăn tiếp tục được triển khai, với mục tiêu rất rõ: không để ai bị bỏ lại phía sau.
Về đối ngoại, chúng ta kiên định đường lối độc lập, tự chủ; làm bạn, làm đối tác tin cậy, là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Trong bối cảnh thế giới phân hóa và cạnh tranh gay gắt, việc giữ được môi trường hòa bình, ổn định, mở rộng quan hệ hợp tác, tranh thủ nguồn lực cho phát triển là thành quả rất đáng trân trọng. Đối ngoại của ta không chỉ để “thêm bạn bớt thù”, mà quan trọng hơn là mở rộng thêm không gian phát triển, nâng cao hơn vị thế đất nước, để cùng phát triển trong hòa bình, hữu nghị, hợp tác, bình đẳng.
Về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, chúng ta kiên trì những điều rất căn cốt: giữ kỷ cương, kỷ luật, giữ liêm chính, làm trong sạch đội ngũ, củng cố niềm tin của nhân dân. Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực tiếp tục được đẩy mạnh, với tinh thần làm đến nơi đến chốn, không né tránh, không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Mục tiêu không chỉ là xử lý sai phạm mà là để cảnh tỉnh, để xây dựng và hoàn thiện cơ chế, để cái đúng được bảo vệ, người tốt được khuyến khích, và cán bộ có thể yên tâm làm việc vì dân, vì nước.
Chiều 25/12/2025, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực họp phiên thứ 29, dưới sự chủ trì của Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo. Ảnh: TTXVNTóm lại, nếu nói ngắn gọn về thành tựu nổi bật của nhiệm kỳ, tôi cho rằng đó là: chúng ta đã vượt qua thử thách bằng ý chí, nghị lực và sự đoàn kết; giữ vững ổn định để phát triển; kiên trì chỉnh đốn, hoàn thiện để đi nhanh hơn và đi chắc hơn. Những thành tựu đạt được là to lớn, đáng trân trọng, nhưng chúng ta vẫn phải khiêm tốn, tỉnh táo, không được “ngủ quên bên vòng nguyệt quế”. Chặng đường phía trước còn nhiều việc lớn, việc khó, muốn đi xa, đi đến đích thì điều quan trọng nhất vẫn là phải giữ vững niềm tin, kỷ cương, đặt lợi ích quốc gia – dân tộc và hạnh phúc của nhân dân lên trên hết.
Phóng viên: Xin Tổng Bí thư đánh giá về công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong nhiệm kỳ qua và định hướng trong nhiệm kỳ tới để xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, lãnh đạo đất nước vững bước trong kỷ nguyên mới?
Tổng Bí thư Tô Lâm: Phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực là một việc rất hệ trọng, đó là giữ gìn uy tín của Đảng, giữ kỷ cương phép nước và quan trọng hơn cả, giữ niềm tin của nhân dân.
Nhìn lại nhiệm kỳ qua, có thể khẳng định “mặt trận chống giặc nội xâm” đã có những chuyển biến rõ rệt, đi vào chiều sâu, bản chất; tiến hành bài bản hơn, quyết liệt hơn, khoa học hơn, ý chí hơn; không chỉ là quyết tâm chính trị, mà đã trở thành hành động thường xuyên của cả hệ thống và nhận được sự đồng tình, ủng hộ của đông đảo nhân dân. Đồng thời, chúng ta cũng đã mở rộng trọng tâm từ chống tham nhũng sang chống cả lãng phí và tiêu cực, bởi lãng phí nhiều khi không ồn ào, nhưng hậu quả thì rất lớn, làm hao mòn nguồn lực quốc gia và làm chậm bước phát triển.
Điều đáng mừng là trong quá trình đó, chúng ta ngày càng nhận thức rõ hơn một chân lý: làm trong sạch bộ máy không làm cản trở phát triển, mà để phát triển lành mạnh và bền vững hơn. Xử lý sai phạm không làm cho hệ thống yếu đi, mà để giữ kỷ luật, giữ phép tắc, để đội ngũ của ta mạnh lên, để người ngay thẳng có chỗ đứng, người làm đúng có điểm tựa; để không còn “sâu, mọt” trong hệ thống chính trị.
Nhưng cũng phải thẳng thắn nhìn nhận: tham nhũng, lãng phí, tiêu cực là “khuyết tật bẩm sinh”, là “giặc nội xâm” ẩn mình trong hệ thống. Có nơi, có lúc chưa tỉnh táo để nhận diện ngày từ đầu; vẫn còn tình trạng né tránh, đùn đẩy, “sợ trách nhiệm”; vẫn còn những kẽ hở của cơ chế; vẫn còn việc quản lý tài sản công, dự án đầu tư, đất đai, đấu thầu… nếu không kiểm soát chặt thì rất dễ phát sinh sai phạm. Nói cách khác, kết quả đã đáng trân trọng, nhưng tuyệt đối không được chủ quan. Cần phải có vaccine, có “thuốc kháng sinh”, có “ y tế dự phòng”, “y tế cộng đồng” để phòng ngừa, phát hiện và ngăn chặn kịp thời, hiệu quả.
Về định hướng trong nhiệm kỳ tới, tôi muốn nhấn mạnh mấy điểm lớn, theo tinh thần vừa kiên quyết, vừa bền bỉ, làm đến đâu chắc đến đó:
Thứ nhất, phải đặt lợi ích quốc gia – dân tộc và lợi ích của nhân dân lên trên hết. Đấu tranh phải kiên quyết, kiên trì, thường xuyên, liên tục; xử lý nghiêm minh nhưng cũng phải thấu tình đạt lý, nhân văn; không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Đồng thời, phải có cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, đổi mới sáng tạo vì lợi ích chung, để người làm đúng không bị thiệt, người làm tốt không bị cô đơn.
Thứ hai, chuyển mạnh sang phòng ngừa, coi phòng ngừa là gốc. Chống là cần, nhưng quan trọng hơn là đừng để cái xấu có đất nảy sinh. Muốn vậy phải tiếp tục hoàn thiện thể chế, quy định, quy trình; làm rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, tăng cường kiểm soát; công khai, minh bạch hơn nữa, nhất là trong những lĩnh vực dễ phát sinh tiêu cực.
Thứ ba, tập trung hoàn thiện pháp luật, bịt kẽ hở, làm “khung chuẩn” cho sự liêm chính. Các quan điểm, chủ trương đúng của Đảng phải được thể chế hóa đầy đủ, đồng bộ thành quy định pháp luật; phân cấp, phân quyền phải đi đôi với kiểm soát quyền lực; giao quyền phải gắn với ràng buộc trách nhiệm, không để “khoảng trống” trở thành “khoảng tối”. Phải có biện pháp tổng thể để mọi đối tượng “không thể”, “không dám”, “không cần” tham ô, tham nhũng, tiêu cực.
Thứ tư, coi chống lãng phí là một mặt trận rất quan trọng. Lãng phí không chỉ là tiền bạc, mà còn là thời gian, cơ hội, nguồn lực, và cả lòng tin. Vì vậy, phải rà soát, xử lý dứt điểm những dự án chậm tiến độ, kéo dài, kém hiệu quả; chấn chỉnh kỷ luật tài chính – ngân sách; nâng chất lượng quản trị công, để từng đồng tiền, từng tấc đất, từng tài sản công thực sự phục vụ phát triển và phục vụ nhân dân. Chúng ta chủ trương ưu tiên dành nguồn lực cho phát triển, đây cũng có một phần “đất” có thể nảy sinh cho lãng phí. Vì vậy chúng ta cần cảnh báo và có biện pháp ngăn chặn không để xảy ra lãng phí.
Thứ năm, phát huy vai trò của tổ chức cơ sở đảng và sự giám sát của nhân dân. Ở đâu tổ chức đảng mạnh, kỷ cương nghiêm, dân biết – dân bàn – dân giám sát tốt, thì ở đó tiêu cực khó nảy nở. Phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực không thể chỉ là việc của cơ quan chức năng; đó phải là một nếp nghĩ, một thói quen ứng xử văn hóa của cả hệ thống, trong đó nêu gương của người đứng đầu là then chốt.
Tôi muốn nhấn mạnh thêm: bước vào giai đoạn phát triển mới, chúng ta cần một bộ máy trong sạch để dân tin, vững mạnh để làm việc, và nhân văn để quy tụ. Làm công tác này phải rất tỉnh táo: kiên quyết với cái sai, nhưng cũng phải tạo môi trường để cái đúng được lan tỏa; xử lý nghiêm để răn đe, nhưng đồng thời hoàn thiện cơ chế để người tốt có điều kiện làm việc, để xã hội vận hành minh bạch, trật tự.
Phóng viên: Trước thềm Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, xin Tổng Bí thư chia sẻ về ý nghĩa của Đại hội lần này, những tư tưởng chủ đạo, tầm nhìn chiến lược, khát vọng phát triển đất nước Việt Nam giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc?
Tổng Bí thư Tô Lâm: Mỗi kỳ Đại hội của Đảng đều là một dấu mốc rất quan trọng, nhưng với Đại hội XIV, ý nghĩa càng sâu sắc hơn, bởi chúng ta bước vào Đại hội trong một bối cảnh thế giới biến động rất nhanh, nhiều bất ổn, khó dự báo; trong khi đất nước sau nhiều thập niên đổi mới đã có cơ đồ, tiềm lực và vị thế mới, đồng thời cũng đứng trước những yêu cầu phát triển mới, cao hơn, quyết liệt hơn. Đây là lúc chúng ta cần nhìn thẳng vào thực tiễn, nhận diện đúng cơ hội và thách thức; tổng kết điều đã làm được, chỉ rõ điều còn vướng và quan trọng nhất là thống nhất ý chí, thống nhất hành động để đi tiếp cho vững vàng.
Tôi nghĩ có ba điểm lớn về tư tưởng chủ đạo và tầm nhìn chiến lược mà Đại hội lần này cần làm rõ và lan tỏa mạnh mẽ.
Điểm thứ nhất là đoàn kết và niềm tin. Đoàn kết không chỉ là một khẩu hiệu hay một lời kêu gọi. Đoàn kết phải trở thành cách ứng xử của cả hệ thống và của mỗi người Việt Nam: đoàn kết trong Đảng, đoàn kết trong nhân dân, đoàn kết giữa ý Đảng và lòng dân; biết đặt việc chung lên trên, biết gác cái riêng lại khi cần. Và cùng với đoàn kết là niềm tin: tin vào con đường mình đã chọn, tin vào sức mạnh của dân tộc, tin rằng điều tốt đẹp sẽ đến nếu chúng ta làm việc bền bỉ và vì nước, vì dân.
Điểm thứ hai là kỷ cương và đột phá. Đất nước muốn đi nhanh thì cần đột phá, nhưng muốn đi xa thì phải có kỷ cương. Vì vậy, phương châm hành động của Đại hội được xác định rất rõ: “Đoàn kết – Dân chủ – Kỷ cương – Đột phá – Phát triển”. Đột phá ở đây không chỉ là làm một số “việc mới” mà là đổi mới tư duy để dám “chạm” vào những điểm nghẽn thật sự: thể chế, bộ máy, chất lượng nguồn nhân lực, năng lực quản trị, kỷ luật công vụ; để đất nước vận hành thông suốt hơn, công bằng hơn, minh bạch hơn, hiệu quả hơn.
Điểm thứ ba là phát triển vì con người và bằng tri thức. Khát vọng “giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc” trước hết phải được đo bằng những điều rất đời thường: người dân có việc làm tốt hơn không, thu nhập có ổn định hơn không; có chỗ ở “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” không; con cái học hành có thuận lợi hơn không, bệnh tật có được chăm sóc tốt hơn không, người già có được nương tựa không, vùng khó khăn có được trợ giúp kịp thời không... Và muốn mọi cái đều “hơn” thì chúng ta phải coi tri thức, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số là động lực then chốt của mô hình tăng trưởng mới; đồng thời phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực xã hội, trong đó kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng.
Tầm nhìn chiến lược của Đại hội cũng gắn với những mốc rất rõ: lựa chọn quyết sách để thực hiện thắng lợi các mục tiêu đến năm 2030 và hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045. Đó là những “mốc son” để phấn đấu, để mỗi ngành, mỗi địa phương, mỗi cơ quan và từng người dân đều thấy mình có phần việc cụ thể trong hành trình chung.
Theo kế hoạch, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng sẽ tổ chức từ ngày 19/01/2026 đến 25/01/2026 tại Thủ đô Hà Nội. Đây là sự kiện chính trị trọng đại của Đảng và Dân tộc ta, là một dấu mốc lịch sử của Đất nước trong thời đại Hồ Chí Minh, đánh dấu sự hội tụ truyền thống ngàn năm Văn hiến của Dân tộc để vươn mình trong kỷ nguyên mới. Cán bộ, Đảng viên và Nhân dân đang rất quan tâm, theo dõi, mong chờ và đặt nhiều kỳ vọng vào sự thành công của Đại hội. Tôi tin tưởng rằng Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng thực sự là nơi hội tụ trí tuệ, bản lĩnh và khát vọng, là Đại hội nói đúng sự thật, bàn đúng việc cần bàn và quyết đúng điều phải quyết.
Phóng viên: Nhân dịp năm mới 2026, Tổng Bí thư có thông điệp gì gửi tới Nhân dân Việt Nam và cộng đồng quốc tế?
Tổng Bí thư Tô Lâm: Nhân dịp năm mới 2026, tôi muốn gửi một thông điệp ngắn gọn, chân thành.
Với Nhân dân Việt Nam, tôi xin bày tỏ lòng tri ân sâu sắc vì sự tin tưởng, vì những hy sinh thầm lặng, vì sự nhẫn nại và nghĩa tình mà đồng bào ta đã dành cho nhau và dành cho đất nước trong những năm nhiều biến động. Tôi mong mỗi gia đình đón năm mới bình an; mỗi người bước vào năm mới với một điều giản dị: làm tốt hơn công việc của mình, đời sống vật chất và tinh thần tốt lên từng ngày. Khi hàng triệu điều “tốt hơn” ấy cộng lại, đất nước sẽ mạnh lên một cách bền vững.
Tôi cũng mong đội ngũ cán bộ, đảng viên ở mọi cấp luôn ghi nhớ: chức vụ càng cao thì trách nhiệm càng lớn; càng có quyền thì càng phải tự ràng buộc mình bằng kỷ luật, liêm chính và sự gương mẫu. Việc gì có lợi cho dân thì hết sức làm; việc gì gây phiền cho dân thì phải hết sức tránh; điều gì sai thì phải sửa, điều gì tốt thì phải bảo vệ.
Với bạn bè và cộng đồng quốc tế, Việt Nam luôn trân trọng thiện chí, tin cậy và hợp tác. Chúng tôi mong muốn cùng các quốc gia, tổ chức và nhân dân trên thế giới xây dựng một môi trường hòa bình, ổn định, hợp tác cùng phát triển; Việt Nam luôn là đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm, cùng chung tay giải quyết những thách thức chung như biến đổi khí hậu, an ninh phi truyền thống, phát triển bao trùm, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo. Chúng tôi tin rằng những điều tốt đẹp nhất luôn bắt đầu từ sự tôn trọng lẫn nhau, từ đối thoại chân thành và từ những hợp tác mang lại lợi ích cho nhân dân các nước và các dân tộc trên thế giới.
Xin chúc đồng bào, chiến sĩ cả nước và bạn bè quốc tế một năm 2026 sức khỏe, bình an, hợp tác và phát triển.
Chúc mừng năm mới 2026.
-
Phát huy trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam vững bước tiến mạnh trong kỷ nguyên phát triển mới
Phóng viên: Kính thưa Tổng Bí thư, nhiệm kỳ 2020–2025, đất nước phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức chưa có tiền lệ, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự nỗ lực, cố gắng của cả hệ thống chính trị, toàn dân, toàn quân, chúng ta đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, khá toàn diện trong triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Xin Tổng Bí thư chia sẻ những thành tựu nổi bật trong thời gian qua?
Tổng Bí thư Tô Lâm: Trước hết, cần khẳng định những kết quả mà đất nước đạt được trong nhiệm kỳ vừa qua là kết tinh của sự lãnh đạo tài tình của Đảng, sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị và trên hết là sự đồng lòng, quyết tâm, bản lĩnh và nghĩa tình của nhân dân ta trong những thời khắc thử thách nhất.
Nhiệm kỳ Đại hội lần thứ XIII của Đảng là quãng thời gian đặc biệt khó khăn. Đại dịch, thiên tai, biến đổi khí hậu, biến động quốc tế, những khó khăn về kinh tế, đứt gãy chuỗi nguồn cung, việc làm, những áp lực tài chính, ngân hàng… đến dồn dập, liên tục, đặt ra cho chúng ta những bài toán hóc búa, đòi hỏi phải có lời giải là những chính sách, đối sách, biện pháp xử lý nhanh chóng, chính xác, quyết đoán. Khó khăn như núi nhưng chúng ta đã vượt qua, về đích. Điều đáng ghi nhận là trong bộn bề gian khó nhưng đất nước vẫn giữ được ổn định, xã hội vẫn giữ được trật tự và niềm tin, các “mạch máu” kinh tế – sản xuất – lưu thông được khôi phục kịp thời, để chúng ta tiếp tục tiến lên.
Tổng Bí thư Tô Lâm tại Đại hội Thi đua yêu nước. Ảnh: TTXVNVề kinh tế, chúng ta đã nỗ lực rất lớn để vừa phục hồi sau đại dịch, vừa giữ vững các cân đối lớn, giữ nền kinh tế không chao đảo trước sóng gió bên ngoài. Nhiều ngành, nhiều địa phương, nhiều doanh nghiệp đã biết cách chèo lái, đổi mới, tìm thị trường, tạo việc làm, giữ nhịp sản xuất. Kết quả là nền kinh tế của chúng ta đã chứng tỏ sức chống chịu, sự bền bỉ, và tinh thần không chịu lùi bước.
Về xã hội, chúng ta luôn bám sát định hướng phát triển không chỉ là tăng trưởng, mà phải là cuộc sống yên ổn và tốt lên của người dân. Trong gian khó, tinh thần tương thân tương ái, “lá lành đùm lá rách”, sự hy sinh thầm lặng, to lớn của lực lượng tuyến đầu, của quân đội, công an, y tế, giáo viên, công nhân… đã để lại nhiều bài học sâu sắc về sức mạnh đoàn kết. Các chính sách an sinh, giảm nghèo, chăm lo cho người yếu thế, vùng khó khăn tiếp tục được triển khai, với mục tiêu rất rõ: không để ai bị bỏ lại phía sau.
Về đối ngoại, chúng ta kiên định đường lối độc lập, tự chủ; làm bạn, làm đối tác tin cậy, là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Trong bối cảnh thế giới phân hóa và cạnh tranh gay gắt, việc giữ được môi trường hòa bình, ổn định, mở rộng quan hệ hợp tác, tranh thủ nguồn lực cho phát triển là thành quả rất đáng trân trọng. Đối ngoại của ta không chỉ để “thêm bạn bớt thù”, mà quan trọng hơn là mở rộng thêm không gian phát triển, nâng cao hơn vị thế đất nước, để cùng phát triển trong hòa bình, hữu nghị, hợp tác, bình đẳng.
Về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, chúng ta kiên trì những điều rất căn cốt: giữ kỷ cương, kỷ luật, giữ liêm chính, làm trong sạch đội ngũ, củng cố niềm tin của nhân dân. Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực tiếp tục được đẩy mạnh, với tinh thần làm đến nơi đến chốn, không né tránh, không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Mục tiêu không chỉ là xử lý sai phạm mà là để cảnh tỉnh, để xây dựng và hoàn thiện cơ chế, để cái đúng được bảo vệ, người tốt được khuyến khích, và cán bộ có thể yên tâm làm việc vì dân, vì nước.
Chiều 25/12/2025, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực họp phiên thứ 29, dưới sự chủ trì của Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo. Ảnh: TTXVNTóm lại, nếu nói ngắn gọn về thành tựu nổi bật của nhiệm kỳ, tôi cho rằng đó là: chúng ta đã vượt qua thử thách bằng ý chí, nghị lực và sự đoàn kết; giữ vững ổn định để phát triển; kiên trì chỉnh đốn, hoàn thiện để đi nhanh hơn và đi chắc hơn. Những thành tựu đạt được là to lớn, đáng trân trọng, nhưng chúng ta vẫn phải khiêm tốn, tỉnh táo, không được “ngủ quên bên vòng nguyệt quế”. Chặng đường phía trước còn nhiều việc lớn, việc khó, muốn đi xa, đi đến đích thì điều quan trọng nhất vẫn là phải giữ vững niềm tin, kỷ cương, đặt lợi ích quốc gia – dân tộc và hạnh phúc của nhân dân lên trên hết.
Phóng viên: Xin Tổng Bí thư đánh giá về công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong nhiệm kỳ qua và định hướng trong nhiệm kỳ tới để xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, lãnh đạo đất nước vững bước trong kỷ nguyên mới?
Tổng Bí thư Tô Lâm: Phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực là một việc rất hệ trọng, đó là giữ gìn uy tín của Đảng, giữ kỷ cương phép nước và quan trọng hơn cả, giữ niềm tin của nhân dân.
Nhìn lại nhiệm kỳ qua, có thể khẳng định “mặt trận chống giặc nội xâm” đã có những chuyển biến rõ rệt, đi vào chiều sâu, bản chất; tiến hành bài bản hơn, quyết liệt hơn, khoa học hơn, ý chí hơn; không chỉ là quyết tâm chính trị, mà đã trở thành hành động thường xuyên của cả hệ thống và nhận được sự đồng tình, ủng hộ của đông đảo nhân dân. Đồng thời, chúng ta cũng đã mở rộng trọng tâm từ chống tham nhũng sang chống cả lãng phí và tiêu cực, bởi lãng phí nhiều khi không ồn ào, nhưng hậu quả thì rất lớn, làm hao mòn nguồn lực quốc gia và làm chậm bước phát triển.
Điều đáng mừng là trong quá trình đó, chúng ta ngày càng nhận thức rõ hơn một chân lý: làm trong sạch bộ máy không làm cản trở phát triển, mà để phát triển lành mạnh và bền vững hơn. Xử lý sai phạm không làm cho hệ thống yếu đi, mà để giữ kỷ luật, giữ phép tắc, để đội ngũ của ta mạnh lên, để người ngay thẳng có chỗ đứng, người làm đúng có điểm tựa; để không còn “sâu, mọt” trong hệ thống chính trị.
Nhưng cũng phải thẳng thắn nhìn nhận: tham nhũng, lãng phí, tiêu cực là “khuyết tật bẩm sinh”, là “giặc nội xâm” ẩn mình trong hệ thống. Có nơi, có lúc chưa tỉnh táo để nhận diện ngày từ đầu; vẫn còn tình trạng né tránh, đùn đẩy, “sợ trách nhiệm”; vẫn còn những kẽ hở của cơ chế; vẫn còn việc quản lý tài sản công, dự án đầu tư, đất đai, đấu thầu… nếu không kiểm soát chặt thì rất dễ phát sinh sai phạm. Nói cách khác, kết quả đã đáng trân trọng, nhưng tuyệt đối không được chủ quan. Cần phải có vaccine, có “thuốc kháng sinh”, có “ y tế dự phòng”, “y tế cộng đồng” để phòng ngừa, phát hiện và ngăn chặn kịp thời, hiệu quả.
Về định hướng trong nhiệm kỳ tới, tôi muốn nhấn mạnh mấy điểm lớn, theo tinh thần vừa kiên quyết, vừa bền bỉ, làm đến đâu chắc đến đó:
Thứ nhất, phải đặt lợi ích quốc gia – dân tộc và lợi ích của nhân dân lên trên hết. Đấu tranh phải kiên quyết, kiên trì, thường xuyên, liên tục; xử lý nghiêm minh nhưng cũng phải thấu tình đạt lý, nhân văn; không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Đồng thời, phải có cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, đổi mới sáng tạo vì lợi ích chung, để người làm đúng không bị thiệt, người làm tốt không bị cô đơn.
Thứ hai, chuyển mạnh sang phòng ngừa, coi phòng ngừa là gốc. Chống là cần, nhưng quan trọng hơn là đừng để cái xấu có đất nảy sinh. Muốn vậy phải tiếp tục hoàn thiện thể chế, quy định, quy trình; làm rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, tăng cường kiểm soát; công khai, minh bạch hơn nữa, nhất là trong những lĩnh vực dễ phát sinh tiêu cực.
Thứ ba, tập trung hoàn thiện pháp luật, bịt kẽ hở, làm “khung chuẩn” cho sự liêm chính. Các quan điểm, chủ trương đúng của Đảng phải được thể chế hóa đầy đủ, đồng bộ thành quy định pháp luật; phân cấp, phân quyền phải đi đôi với kiểm soát quyền lực; giao quyền phải gắn với ràng buộc trách nhiệm, không để “khoảng trống” trở thành “khoảng tối”. Phải có biện pháp tổng thể để mọi đối tượng “không thể”, “không dám”, “không cần” tham ô, tham nhũng, tiêu cực.
Thứ tư, coi chống lãng phí là một mặt trận rất quan trọng. Lãng phí không chỉ là tiền bạc, mà còn là thời gian, cơ hội, nguồn lực, và cả lòng tin. Vì vậy, phải rà soát, xử lý dứt điểm những dự án chậm tiến độ, kéo dài, kém hiệu quả; chấn chỉnh kỷ luật tài chính – ngân sách; nâng chất lượng quản trị công, để từng đồng tiền, từng tấc đất, từng tài sản công thực sự phục vụ phát triển và phục vụ nhân dân. Chúng ta chủ trương ưu tiên dành nguồn lực cho phát triển, đây cũng có một phần “đất” có thể nảy sinh cho lãng phí. Vì vậy chúng ta cần cảnh báo và có biện pháp ngăn chặn không để xảy ra lãng phí.
Thứ năm, phát huy vai trò của tổ chức cơ sở đảng và sự giám sát của nhân dân. Ở đâu tổ chức đảng mạnh, kỷ cương nghiêm, dân biết – dân bàn – dân giám sát tốt, thì ở đó tiêu cực khó nảy nở. Phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực không thể chỉ là việc của cơ quan chức năng; đó phải là một nếp nghĩ, một thói quen ứng xử văn hóa của cả hệ thống, trong đó nêu gương của người đứng đầu là then chốt.
Tôi muốn nhấn mạnh thêm: bước vào giai đoạn phát triển mới, chúng ta cần một bộ máy trong sạch để dân tin, vững mạnh để làm việc, và nhân văn để quy tụ. Làm công tác này phải rất tỉnh táo: kiên quyết với cái sai, nhưng cũng phải tạo môi trường để cái đúng được lan tỏa; xử lý nghiêm để răn đe, nhưng đồng thời hoàn thiện cơ chế để người tốt có điều kiện làm việc, để xã hội vận hành minh bạch, trật tự.
Phóng viên: Trước thềm Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, xin Tổng Bí thư chia sẻ về ý nghĩa của Đại hội lần này, những tư tưởng chủ đạo, tầm nhìn chiến lược, khát vọng phát triển đất nước Việt Nam giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc?
Tổng Bí thư Tô Lâm: Mỗi kỳ Đại hội của Đảng đều là một dấu mốc rất quan trọng, nhưng với Đại hội XIV, ý nghĩa càng sâu sắc hơn, bởi chúng ta bước vào Đại hội trong một bối cảnh thế giới biến động rất nhanh, nhiều bất ổn, khó dự báo; trong khi đất nước sau nhiều thập niên đổi mới đã có cơ đồ, tiềm lực và vị thế mới, đồng thời cũng đứng trước những yêu cầu phát triển mới, cao hơn, quyết liệt hơn. Đây là lúc chúng ta cần nhìn thẳng vào thực tiễn, nhận diện đúng cơ hội và thách thức; tổng kết điều đã làm được, chỉ rõ điều còn vướng và quan trọng nhất là thống nhất ý chí, thống nhất hành động để đi tiếp cho vững vàng.
Tôi nghĩ có ba điểm lớn về tư tưởng chủ đạo và tầm nhìn chiến lược mà Đại hội lần này cần làm rõ và lan tỏa mạnh mẽ.
Điểm thứ nhất là đoàn kết và niềm tin. Đoàn kết không chỉ là một khẩu hiệu hay một lời kêu gọi. Đoàn kết phải trở thành cách ứng xử của cả hệ thống và của mỗi người Việt Nam: đoàn kết trong Đảng, đoàn kết trong nhân dân, đoàn kết giữa ý Đảng và lòng dân; biết đặt việc chung lên trên, biết gác cái riêng lại khi cần. Và cùng với đoàn kết là niềm tin: tin vào con đường mình đã chọn, tin vào sức mạnh của dân tộc, tin rằng điều tốt đẹp sẽ đến nếu chúng ta làm việc bền bỉ và vì nước, vì dân.
Điểm thứ hai là kỷ cương và đột phá. Đất nước muốn đi nhanh thì cần đột phá, nhưng muốn đi xa thì phải có kỷ cương. Vì vậy, phương châm hành động của Đại hội được xác định rất rõ: “Đoàn kết – Dân chủ – Kỷ cương – Đột phá – Phát triển”. Đột phá ở đây không chỉ là làm một số “việc mới” mà là đổi mới tư duy để dám “chạm” vào những điểm nghẽn thật sự: thể chế, bộ máy, chất lượng nguồn nhân lực, năng lực quản trị, kỷ luật công vụ; để đất nước vận hành thông suốt hơn, công bằng hơn, minh bạch hơn, hiệu quả hơn.
Điểm thứ ba là phát triển vì con người và bằng tri thức. Khát vọng “giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc” trước hết phải được đo bằng những điều rất đời thường: người dân có việc làm tốt hơn không, thu nhập có ổn định hơn không; có chỗ ở “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” không; con cái học hành có thuận lợi hơn không, bệnh tật có được chăm sóc tốt hơn không, người già có được nương tựa không, vùng khó khăn có được trợ giúp kịp thời không... Và muốn mọi cái đều “hơn” thì chúng ta phải coi tri thức, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số là động lực then chốt của mô hình tăng trưởng mới; đồng thời phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực xã hội, trong đó kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng.
Tầm nhìn chiến lược của Đại hội cũng gắn với những mốc rất rõ: lựa chọn quyết sách để thực hiện thắng lợi các mục tiêu đến năm 2030 và hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045. Đó là những “mốc son” để phấn đấu, để mỗi ngành, mỗi địa phương, mỗi cơ quan và từng người dân đều thấy mình có phần việc cụ thể trong hành trình chung.
Theo kế hoạch, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng sẽ tổ chức từ ngày 19/01/2026 đến 25/01/2026 tại Thủ đô Hà Nội. Đây là sự kiện chính trị trọng đại của Đảng và Dân tộc ta, là một dấu mốc lịch sử của Đất nước trong thời đại Hồ Chí Minh, đánh dấu sự hội tụ truyền thống ngàn năm Văn hiến của Dân tộc để vươn mình trong kỷ nguyên mới. Cán bộ, Đảng viên và Nhân dân đang rất quan tâm, theo dõi, mong chờ và đặt nhiều kỳ vọng vào sự thành công của Đại hội. Tôi tin tưởng rằng Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng thực sự là nơi hội tụ trí tuệ, bản lĩnh và khát vọng, là Đại hội nói đúng sự thật, bàn đúng việc cần bàn và quyết đúng điều phải quyết.
Phóng viên: Nhân dịp năm mới 2026, Tổng Bí thư có thông điệp gì gửi tới Nhân dân Việt Nam và cộng đồng quốc tế?
Tổng Bí thư Tô Lâm: Nhân dịp năm mới 2026, tôi muốn gửi một thông điệp ngắn gọn, chân thành.
Với Nhân dân Việt Nam, tôi xin bày tỏ lòng tri ân sâu sắc vì sự tin tưởng, vì những hy sinh thầm lặng, vì sự nhẫn nại và nghĩa tình mà đồng bào ta đã dành cho nhau và dành cho đất nước trong những năm nhiều biến động. Tôi mong mỗi gia đình đón năm mới bình an; mỗi người bước vào năm mới với một điều giản dị: làm tốt hơn công việc của mình, đời sống vật chất và tinh thần tốt lên từng ngày. Khi hàng triệu điều “tốt hơn” ấy cộng lại, đất nước sẽ mạnh lên một cách bền vững.
Tôi cũng mong đội ngũ cán bộ, đảng viên ở mọi cấp luôn ghi nhớ: chức vụ càng cao thì trách nhiệm càng lớn; càng có quyền thì càng phải tự ràng buộc mình bằng kỷ luật, liêm chính và sự gương mẫu. Việc gì có lợi cho dân thì hết sức làm; việc gì gây phiền cho dân thì phải hết sức tránh; điều gì sai thì phải sửa, điều gì tốt thì phải bảo vệ.
Với bạn bè và cộng đồng quốc tế, Việt Nam luôn trân trọng thiện chí, tin cậy và hợp tác. Chúng tôi mong muốn cùng các quốc gia, tổ chức và nhân dân trên thế giới xây dựng một môi trường hòa bình, ổn định, hợp tác cùng phát triển; Việt Nam luôn là đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm, cùng chung tay giải quyết những thách thức chung như biến đổi khí hậu, an ninh phi truyền thống, phát triển bao trùm, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo. Chúng tôi tin rằng những điều tốt đẹp nhất luôn bắt đầu từ sự tôn trọng lẫn nhau, từ đối thoại chân thành và từ những hợp tác mang lại lợi ích cho nhân dân các nước và các dân tộc trên thế giới.
Xin chúc đồng bào, chiến sĩ cả nước và bạn bè quốc tế một năm 2026 sức khỏe, bình an, hợp tác và phát triển.
Chúc mừng năm mới 2026.
-
Hàng nghìn tài xế có thể gặp gián đoạn khi qua trạm thu phí không dừng từ đầu năm 2026
Theo Nghị định 119/2024/NĐ-CP của Chính phủ quy định về thanh toán điện tử giao thông đường bộ, chủ phương tiện phải chuyển đổi tài khoản thu phí sang tài khoản giao thông được kết nối với phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt. Nếu không thực hiện, phương tiện sẽ không thể lưu thông qua các trạm thu phí điện tử không dừng (ETC).
NGƯỜI DÂN CẦN MỘT PHƯƠNG THỨC “ĐỠ PHẢI LO” KHI QUA TRẠM THU PHÍChia sẻ về việc chần chừ trong việc liên kết phương thức thanh toán, ông Trần Văn T. (tỉnh Hưng Yên) cho biết: “Nhiều người không thạo công nghệ nên chỉ cần một bước lỗi, là không biết cách xử lý các bước tiếp theo. Các anh em cũng sợ tình trạng lừa đảo mạng, nên khi thấy link hướng dẫn cũng là không dám vào, toàn phải nhờ người quen hoặc ra đến trạm thu phí mới biết làm đúng hay sai”.
Thực tế này phản ánh một tâm lý phổ biến. Không ít tài xế, đặc biệt là người lớn tuổi, lo ngại việc liên kết tài khoản sẽ dẫn đến rủi ro bị trừ tiền ngoài ý muốn, bị lộ thông tin cá nhân hoặc gặp sự cố nhưng không biết nhờ ai hỗ trợ.
Trước tình trạng hình thức lừa đảo trực tuyến ngày càng tinh vi, việc người dân cảnh giác với những thao tác liên quan đến tài chính là điều dễ hiểu.Việc phải thường xuyên kiểm tra số dư, nạp tiền trước mỗi chuyến đi cũng khiến nhiều tài xế cảm thấy bất tiện, nhất là khi phát sinh những chuyến đi ngoài kế hoạch. Trong bối cảnh đó, nhu cầu về một phương thức thanh toán đủ linh hoạt để có “nguồn tiền dự phòng” khi tài khoản không đủ tiền trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết.
Yếu tố bảo mật cũng đóng vai trò then chốt. Người dùng cần biết rõ tiền được trừ khi nào, vì sao bị trừ và có thể tra cứu, đối soát dễ dàng nếu xảy ra sự cố.
NGUY CƠ GIÁN ĐOẠN LƯU THÔNG TỪ ĐẦU NĂM 2026Thực tế cho thấy, dù quá trình chuyển đổi tài khoản thu phí sang tài khoản giao thông đã được triển khai rộng rãi, mức độ hoàn tất liên kết phương thức thanh toán vẫn còn khoảng cách đáng kể. Tính đến ngày 30/9/2025, trong tổng số khoảng 5,8 triệu tài khoản giao thông đã được tạo lập, mới có hơn 3 triệu tài khoản kết nối với phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt. Điều này đồng nghĩa vẫn còn hàng triệu chủ phương tiện có thể gặp khó khăn khi qua trạm thu phí nếu chưa hoàn tất liên kết nguồn tiền.
Nguy cơ này càng rõ nét hơn trong các dịp cao điểm từ 01/01/2026 như Tết Dương lịch và Tết Nguyên đán, khi lưu lượng phương tiện qua các tuyến cao tốc tăng mạnh. Chỉ cần một phương tiện phải dừng lại xử lý sự cố thanh toán cũng có thể gây ảnh hưởng dây chuyền, làm ùn ứ cả đoạn đường phía sau.
Chính vì vậy, các cơ quan quản lý khuyến nghị chủ phương tiện nên chủ động hoàn tất việc liên kết tài khoản giao thông với phương thức thanh toán phù hợp từ sớm, thay vì chờ đến khi phát sinh nhu cầu di chuyển đường dài hoặc vào thời điểm cao điểm giao thông.
Với các chủ phương tiện sử dụng ePass, từ 1/1/2026, để tránh gián đoạn khi lưu thông qua trạm thu phí không dừng, tài xế cần đảm bảo tài khoản giao thông đã được liên kết với một phương thức thanh toán hợp lệ và duy trì đủ số dư khi xe qua trạm. Các phương thức thanh toán hiện nay bao gồm ví điện tử, thẻ tín dụng hoặc tài khoản ngân hàng theo quy định của hệ thống thu phí ETC.
VIETTEL MONEY VÀ EPASS: LỜI GIẢI CHO NHỮNG TRĂN TRỞ RẤT ĐỜI CỦA TÀI XẾTrong bức tranh đó, Viettel Money đang được nhiều chủ phương tiện lựa chọn khi liên kết tài khoản giao thông ePass, bởi ứng dụng này đáp ứng đồng thời các yêu cầu về chi phí, kỹ thuật và trải nghiệm người dùng.
Trước hết, người dùng ePass khi liên kết tài khoản giao thông với Viettel Money không phải trả phí kết nối, phí duy trì hay phí giao dịch khi thanh toán qua trạm thu phí không dừng.
Về mặt kỹ thuật, Viettel Money đáp ứng chuẩn tốc độ xử lý giao dịch dưới 200 mili-giây theo yêu cầu của hệ thống thu phí ETC, bảo đảm phương tiện lưu thông qua trạm không bị gián đoạn.Đáng chú ý, Viettel Money còn phát triển các giải pháp hỗ trợ trực tiếp cho các nhu cầu dự phòng tài chính của khách hàng ePass. Mới nhất là tính năng Nạp tiền tự động, cho phép Viettel Money tự động theo dõi số dư và nạp từ ngân hàng liên kết khi tài khoản xuống dưới hạn mức đã đặt, đảm bảo dòng tiền luôn sẵn sàng cho các giao dịch qua trạm ETC.
Bên cạnh đó, Viettel Money triển khai Ví trả sau dành riêng cho khách hàng ePass - một “nguồn tiền dự phòng” giúp xử lý linh hoạt các tình huống ngoài dự tính. Khi số dư trong Viettel Money không đủ để trả phí qua trạm, hệ thống sẽ tự động “trượt” sang trích tiền từ Ví trả sau để xử lý giao dịch, giúp phương tiện vẫn được phép qua trạm mà không gây gián đoạn lưu thông.
Hiện tại Ví trả sau của Viettel Money không phát sinh bất khoản phí nào trong 3 tháng đầu tiên, kể cả phí mở ví, phí duy trì tài khoản hay phí giao dịch.
Song song với giải pháp công nghệ, hệ thống ePass và Viettel Money cũng triển khai mạng lưới hỗ trợ trực tiếp tại hơn 1.400 điểm dịch vụ trên toàn quốc. Các kênh truyền thông chính thức của Viettel Money cũng thường xuyên cập nhật hướng dẫn, giúp người dùng tránh rơi vào bẫy lừa đảo từ các đường link không rõ nguồn gốc.
-Khánh Huyền