Thời Báo Kinh Tế
Phát huy đại đoàn kết toàn dân tộc – động lực phát triển trong kỷ nguyên mới
Tại phiên thảo luận, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, Phó Chủ tịch – Tổng Thư ký Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Hà Thị Nga thay mặt Đảng bộ MTTQ, các đoàn thể Trung ương trình bày tham luận với chủ đề “Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc – nền tảng và động lực quan trọng thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới”.
CỦNG CỐ ĐỒNG THUẬN XÃ HỘI, LAN TỎA SỨC MẠNH ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC
Theo bà Hà Thị Nga, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn kế thừa, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc; kiên định quan điểm “dân là gốc”, gắn bó mật thiết với nhân dân, tăng cường sự đồng thuận giữa các giai tầng xã hội, các dân tộc, tôn giáo và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Qua đó, khối đại đoàn kết toàn dân tộc không ngừng được củng cố, thống nhất về ý chí và hành động.
Nhiệm kỳ qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành, triển khai đồng bộ nhiều chủ trương, chính sách quan trọng, tạo nền tảng vững chắc để phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Trên cơ sở đó, sự đồng thuận xã hội ngày càng được mở rộng, niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước tiếp tục được củng cố; tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái và trách nhiệm cộng đồng lan tỏa sâu rộng trong toàn xã hội.
Tổng Bí thư Tô Lâm với đoàn đại biểu đảng bộ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương dự Đại hội XIV của Đảng. Ảnh: TTXVNTrong bối cảnh đó, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã đổi mới mạnh mẽ nội dung và phương thức hoạt động, triển khai hiệu quả các phong trào thi đua yêu nước và các cuộc vận động lớn. Nhiều phong trào, cuộc vận động đã đi vào chiều sâu, tạo sức lan tỏa rộng khắp, qua đó khẳng định vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc trong tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.
Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên ngày càng phát huy tốt vai trò đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân. Thông qua các hoạt động giám sát, phản biện xã hội, tiếp xúc cử tri và đối thoại trực tiếp, Mặt trận Tổ quốc tập trung vào những vấn đề thiết thực, gắn với đời sống dân sinh; kịp thời tổng hợp, phản ánh ý kiến, kiến nghị của nhân dân tới các cơ quan có thẩm quyền.
Qua các kênh giám sát của Mặt trận Tổ quốc, nhân dân tích cực tham gia góp ý xây dựng Đảng, chính quyền; phản ánh những bất cập trong quản lý, điều hành và thực thi công vụ; cung cấp thông tin giúp các cơ quan chức năng xử lý nhiều vụ việc cụ thể. Những hoạt động này góp phần tạo chuyển biến tích cực trong công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, củng cố niềm tin của nhân dân.
Cùng với đó, tổ chức bộ máy của hệ thống Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội đã được sắp xếp theo hướng tinh gọn, hoạt động ngày càng thông suốt, hiệu quả. Đây là nền tảng quan trọng để tổ chức thành công Đại hội Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội các cấp, tiến tới Đại hội toàn quốc nhiệm kỳ 2026 – 2031.
BIẾN TINH THẦN ĐOÀN KẾT THÀNH HÀNH ĐỘNG CỤ THỂ TRONG KỶ NGUYÊN MỚI
Bà Hà Thị Nga nhấn mạnh khi đất nước bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên của tri thức, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng – việc phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc càng mang ý nghĩa chiến lược. Đây là động lực quan trọng để đất nước vượt qua thách thức, nắm bắt cơ hội, phát triển nhanh và bền vững trong bối cảnh thế giới nhiều biến động.
Trên tinh thần đó, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đề nghị Đảng, Nhà nước có bước đột phá toàn diện về nhận thức, chủ trương, cơ chế chính sách và tổ chức thực hiện; biến tinh thần đoàn kết thành hành động cụ thể, hiệu quả. Đồng thời, cần tăng cường cơ chế thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch, bảo đảm nhân dân tham gia ý kiến, giám sát và phản biện xã hội một cách thực chất.
Mặt trận Tổ quốc cũng đề nghị các cấp chính quyền, các ngành, các cấp thực hiện đầy đủ trách nhiệm giải trình đối với kiến nghị của nhân dân. Khi cơ chế lắng nghe, phản hồi và giải quyết kiến nghị được vận hành đồng bộ, đại đoàn kết toàn dân tộc sẽ tiếp tục được củng cố, trở thành nguồn lực quan trọng thúc đẩy phát triển đất nước.
Để thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng XIV, thời gian tới, Đảng bộ Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể Trung ương xác định Mặt trận Tổ quốc phải phát huy cao độ vai trò là liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.
Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, toàn diện nội dung, phương thức và cơ chế hoạt động; lấy các vấn đề dân sinh, dân chủ, dân quyền làm trọng tâm. Cùng với đó là nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội ở Trung ương và cơ sở; kiện toàn, vận hành hệ thống tổ chức theo mô hình mới, cơ chế tổ chức theo hướng “một việc – một đầu mối – một thời hạn – một kết quả”.
Theo tham luận, việc nâng cao chất lượng giám sát và phản biện xã hội tiếp tục là nhiệm vụ trọng tâm. Hằng năm, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cần xác định cụ thể và chủ trì thực hiện các chương trình giám sát, phản biện xã hội trên phạm vi toàn quốc đối với những vấn đề thiết thực, các dự thảo luật và văn bản quy phạm pháp luật quan trọng, bảo đảm hiệu quả và thực chất.
Các phong trào, cuộc vận động do Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên chủ trì cần xác định rõ mục tiêu, trách nhiệm, thời hạn và tiêu chí đánh giá kết quả; gắn với nhiệm vụ chính trị, phù hợp với điều kiện thực tiễn. Đồng thời, Mặt trận Tổ quốc tiếp tục mở rộng đối ngoại nhân dân, lan tỏa tinh thần đoàn kết, hình ảnh đất nước và con người Việt Nam, góp phần củng cố môi trường hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững.
Bà Hà Thị Nga khẳng định Mặt trận Tổ quốc phải thực sự là sợi dây kết nối giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân; là nơi biến chủ trương đúng thành hành động đúng và kết quả cụ thể; tiếp tục là trung tâm khơi dậy mạnh mẽ khát vọng phát triển, tinh thần đổi mới sáng tạo trong các tầng lớp nhân dân, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
-Hà Lê
Chính phủ kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động quyết liệt, phục vụ Nhân dân
Sáng 21/1, trình bày tham luận với chủ đề “Xây dựng Chính phủ kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động quyết liệt, phục vụ Nhân dân” tại Đại hội XIV, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà khẳng định nhiệm kỳ 2021–2025 là giai đoạn đặc biệt khó khăn, chưa từng có tiền lệ. Đất nước đồng thời phải đối mặt với nhiều cú sốc lớn từ bên ngoài, thách thức nội tại kéo dài, yêu cầu phát triển nhanh và bền vững trong bối cảnh biến động nhanh, phức tạp.
KIẾN TẠO NỀN TẢNG PHÁT TRIỂN NHANH VÀ BỀN VỮNG
Trong hoàn cảnh đó, dưới sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng, Chính phủ đã kiên định phương châm xuyên suốt trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành: kiến tạo – liêm chính – hành động quyết liệt – phục vụ Nhân dân.
Theo Phó Thủ tướng, kiến tạo là để xây dựng tầm nhìn chiến lược, hoàn thiện thể chế, dẫn dắt và mở đường, khơi thông và huy động mọi nguồn lực cho phát triển. Liêm chính nhằm tạo lập nền tảng giá trị, giữ vững niềm tin. Hành động quyết liệt để chuyển hóa chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước thành kết quả cụ thể mà Nhân dân có thể cảm nhận, thụ hưởng. Phục vụ Nhân dân là mục tiêu tối thượng, bảo đảm ý Đảng hòa quyện với lòng dân.
Những phương châm này được thể hiện rõ nét trong toàn bộ hoạt động của Chính phủ trên các lĩnh vực, với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự đồng thuận, ủng hộ của Nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp, góp phần giúp đất nước vượt qua khó khăn, thách thức, đạt được nhiều kết quả quan trọng.
Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà phát biểu tham luận.Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà cho biết nhiệm kỳ 2021–2025 đã tạo lập nền tảng quan trọng cho phát triển kinh tế – xã hội ổn định, nhanh và bền vững. Chính phủ hoàn thành 22/26 chỉ tiêu chủ yếu, trong đó vượt toàn bộ các chỉ tiêu về xã hội. Kinh tế vĩ mô được giữ vững ổn định, lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm.
Đáng chú ý, tăng trưởng GDP năm 2025 đạt 8,02%, bình quân 5 năm đạt khoảng 6,3%, thuộc nhóm cao trong khu vực và trên thế giới, đưa Việt Nam vào nhóm các quốc gia có thu nhập trung bình cao. Các động lực tăng trưởng tiếp tục được củng cố, năng lực chống chịu và tính tự chủ của nền kinh tế được nâng lên.
Cùng với phát triển kinh tế, các lĩnh vực văn hóa, xã hội đạt nhiều kết quả tích cực. An sinh xã hội được bảo đảm, đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân từng bước được cải thiện, chất lượng cuộc sống được nâng cao. Việt Nam trở thành hình mẫu thành công trong thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ về giảm nghèo. Chỉ số hạnh phúc năm 2025 xếp hạng 46/143 quốc gia, tăng 37 bậc so với năm 2020.
Trong nhiệm kỳ, Chính phủ đã triển khai quyết liệt ba đột phá chiến lược, tạo động lực thúc đẩy phát triển đất nước. Đặc biệt, quán triệt chủ trương của Đảng, Chính phủ đã chỉ đạo triển khai khẩn trương, quyết liệt và hiệu quả cuộc cách mạng sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh gọn bộ máy và xây dựng chính quyền địa phương hai cấp. Đây được xác định là bước đi có ý nghĩa nền tảng, mở ra không gian phát triển mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia, hướng tới xây dựng bộ máy Nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, phục vụ Nhân dân tốt hơn.
Bên cạnh đó, cải cách hành chính tiếp tục được đẩy mạnh, nền quản trị quốc gia từng bước được hiện đại hóa. Chính phủ tăng cường phân cấp, phân quyền, chuyển mạnh từ quản lý bằng mệnh lệnh hành chính sang quản trị dựa trên dữ liệu, công nghệ và kết quả phục vụ.
Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được thúc đẩy theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị. Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu năm 2025 của Việt Nam xếp thứ 44/139 quốc gia và vùng lãnh thổ.
SÁU NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM TRONG GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN
Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh và đối ngoại, Chính phủ chú trọng xây dựng, duy trì môi trường hòa bình, ổn định, thuận lợi cho phát triển. Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực được triển khai đồng bộ, quyết liệt, với tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”, góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp và bạn bè quốc tế.
Quán triệt tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà cho biết đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với những chuyển động mang tính bước ngoặt lịch sử. Trong bối cảnh đó, Chính phủ tiếp tục nỗ lực thực hiện sứ mệnh “kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động quyết liệt, phục vụ Nhân dân”, tập trung vào sáu nhiệm vụ trọng tâm.
Đoàn Chủ tịch điều hành Đại hội XIV của Đảng.Thứ nhất, tiếp tục đột phá trong xây dựng và hoàn thiện thể chế, giải phóng mọi nguồn lực cho phát triển, coi đây là “đột phá của đột phá”, lợi thế cạnh tranh quốc gia. Thể chế phải thực sự chuyển từ trạng thái quản lý sang kiến tạo phục vụ phát triển, giảm chi phí tuân thủ cho người dân và doanh nghiệp, tạo môi trường pháp lý thông thoáng, ổn định, có tính dự báo cao.
Trọng tâm là thể chế hóa đầy đủ, kịp thời Nghị quyết Đại hội XIV và các nghị quyết chuyên đề của Bộ Chính trị, gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế.
Thứ hai, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng. Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực chính; nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố cốt lõi.
Chính phủ tập trung xây dựng tự chủ chiến lược, phát triển các ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp mũi nhọn; thúc đẩy kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế tri thức; khai thác hiệu quả các không gian phát triển mới, mô hình sản xuất, kinh doanh mới; phát huy vai trò của kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và đầu tư nước ngoài.
Thứ ba, phát triển hệ thống hạ tầng chiến lược đồng bộ, hiện đại, kiến tạo không gian phát triển mới. Chính phủ tập trung khơi thông, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực xã hội; đổi mới phương pháp, nâng cao hiệu quả đầu tư; tăng cường hợp tác công – tư; hoàn thiện cơ chế, chính sách huy động và sử dụng nguồn lực cho đầu tư kết cấu hạ tầng, góp phần giảm chi phí đầu vào, nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam.
Thứ tư, chú trọng phát triển văn hóa, xã hội, tạo nền tảng cho phát triển nhanh và bền vững. Các chính sách xã hội tiếp tục được hoàn thiện theo hướng lấy con người và hạnh phúc của Nhân dân làm trung tâm, bảo đảm công bằng, bao trùm và bền vững, gắn chặt với phát triển kinh tế, tiến bộ và công bằng xã hội, thực hiện nhất quán mục tiêu “không để ai bị bỏ lại phía sau”.
Thứ năm, đổi mới, hiện đại hóa nền quản trị quốc gia, lấy hiệu quả phục vụ và sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp làm thước đo. Chính phủ đẩy mạnh xây dựng Chính phủ số, xã hội số, công dân số trên nền tảng dữ liệu số thống nhất, đồng bộ, thông suốt.
Phân cấp, phân quyền được thực hiện gắn với phân bổ nguồn lực và tăng cường kiểm tra, giám sát, theo phương châm “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”, đồng thời tập trung nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp.
Song song với đó là xây dựng văn hóa liêm chính, kỷ luật, kỷ cương; phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, lấy danh dự và hiệu quả phục vụ Nhân dân làm giá trị cốt lõi.
Thứ sáu, củng cố và tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền quốc gia, bảo đảm cuộc sống bình yên, hạnh phúc của Nhân dân. Chính phủ tiếp tục chủ động ứng phó mọi tình huống, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân gắn với thế trận lòng dân vững chắc, giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội.
Nhấn mạnh tinh thần của Đại hội XIV là “niềm tin và khát vọng, đột phá và hành động, kỷ luật và sáng tạo, đoàn kết và phát triển”, Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà khẳng định đây là động lực quan trọng để Chính phủ tiếp tục phát huy sứ mệnh kiến tạo phát triển, lấy liêm chính làm nền tảng, hành động quyết liệt làm cam kết, phục vụ Nhân dân làm mục tiêu tối thượng, cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân sớm đưa Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng vào cuộc sống.
-Hà Lê
Đề xuất các giải pháp chiến lược bảo đảm tăng trưởng kinh tế hai con số giai đoạn 2026–2030
Sáng 21/1, thay mặt Đảng bộ Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Anh Tuấn trình bày tham luận tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, tập trung phân tích các giải pháp chiến lược nhằm bảo đảm tăng trưởng kinh tế ở mức hai con số trong giai đoạn 2026–2030.
DƯ ĐỊA, TIỀM NĂNG CHO TĂNG TRƯỞNG ĐỘT PHÁ
Ban Chính sách, chiến lược Trung ương bày tỏ sự nhất trí cao với dự thảo các văn kiện trình Đại hội, đặc biệt là các mục tiêu phát triển đất nước, trong đó có mục tiêu tăng trưởng kinh tế trên 10%. Theo ông Nguyễn Anh Tuấn, yêu cầu tăng trưởng cao và bền vững trong giai đoạn tới mang tính cấp bách, không thể chậm trễ để hoàn thành các mục tiêu chiến lược phát triển đất nước đến năm 2030 và tầm nhìn 2045.
Phân tích cơ sở thực tiễn cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 10% trở lên, ông Nguyễn Anh Tuấn cho rằng trên nền tảng đã được xây dựng trong những năm qua cùng khát vọng vươn lên mạnh mẽ của dân tộc, Việt Nam có đủ điều kiện, tiềm năng, dư địa và sự tự tin để thực hiện mục tiêu này.
Ông Nguyễn Anh Tuấn, Phó Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, trình bày tham luận tại Đại hội XIV. Ảnh: TTXVNTheo đánh giá của Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, hiệu quả chung của nền kinh tế hiện vẫn còn dư địa cải thiện. Nếu khai thác tốt các tiềm năng, thế mạnh, đồng thời khắc phục hiệu quả các điểm nghẽn và khơi thông các nguồn lực, nền kinh tế có thể tạo ra bước tăng trưởng đột phá.
Các khu vực kinh tế đều cho thấy còn nhiều dư địa phát triển, trong khi nhiều nguồn lực, động lực tăng trưởng mới chưa được khai thác, phát huy một cách đầy đủ và mạnh mẽ.
Bối cảnh trong nước và quốc tế thời gian tới tiếp tục đặt ra không ít thách thức, song cũng mở ra nhiều cơ hội thuận lợi để Việt Nam thu hẹp khoảng cách phát triển và vươn lên. Trên cơ sở đó, Ban Chính sách, chiến lược Trung ương đề xuất một hệ giải pháp chiến lược nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đạt mức hai con số trong giai đoạn 2026–2030.
NĂM NHÓM GIẢI PHÁP CHIẾN LƯỢC CHO TĂNG TRƯỞNG HAI CON SỐ
Thứ nhất, bảo đảm duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế, giữ vững tự chủ chiến lược, tạo nền tảng cho tăng trưởng nhanh và bền vững trong ngắn hạn và dài hạn. Cùng với đó, thúc đẩy mạnh mẽ và làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống, đồng thời kiến tạo và khai thác hiệu quả các động lực tăng trưởng mới.
Thứ hai, tiếp tục đẩy nhanh cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chủ yếu. Trọng tâm là phát triển các ngành kinh tế dữ liệu, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; khai thác hiệu quả không gian kinh tế biển, không gian kinh tế tầm thấp, không gian vũ trụ và không gian trong lòng đất.
Các đại biểu tham dự Đại hội XIV, sáng 21-1. Ảnh: Lê ThoaĐồng thời, phát huy cao nhất vai trò của các khu vực kinh tế, nhất là khu vực kinh tế tư nhân; nâng cao hiệu quả kinh tế Nhà nước; phát triển kinh tế tập thể hiệu quả, bền vững; tiếp tục nâng cao chất lượng thu hút và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài theo các chuẩn mực mới. Vai trò dẫn dắt tăng trưởng của các vùng động lực, hành lang kinh tế và các cực tăng trưởng cũng được nhấn mạnh.
Thứ ba, khai thác hiệu quả hơn các thị trường quốc tế, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, đồng thời đẩy mạnh phát triển thị trường nội địa để thực sự trở thành động lực tăng trưởng bền vững. Tái cấu trúc chiến lược xuất khẩu theo hướng chuyển từ cạnh tranh bằng giá rẻ sang xuất khẩu dựa trên thương hiệu, tiêu chuẩn cao và sản phẩm có hàm lượng công nghệ, giá trị gia tăng lớn; tận dụng sâu các lợi thế từ các hiệp định thương mại tự do (FTA) và các thị trường mới nổi.
Thứ tư, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, nhất là nguồn vốn, thông qua ba kênh chủ yếu: đầu tư công, đầu tư tư nhân trong nước và đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Theo đó, thúc đẩy đầu tư tư nhân, phát triển thị trường vốn đa dạng để huy động nguồn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế; khuyến khích phát triển các mô hình quỹ đầu tư mạo hiểm, công ty công nghệ tài chính nhằm khơi thông dòng vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp khởi nghiệp; tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài có chọn lọc, ưu tiên các dự án công nghệ cao, tiết kiệm năng lượng.
Thứ năm, đẩy mạnh các đột phá về thể chế kinh tế, phát triển nguồn nhân lực, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và hệ thống kết cấu hạ tầng, coi đây là nền tảng vững chắc cho tăng trưởng nhanh và bền vững trong giai đoạn tới.
Nhấn mạnh yêu cầu triển khai đồng bộ các giải pháp trên, Phó Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Anh Tuấn cho rằng cần xác định rõ trọng tâm, trọng điểm, tập trung xử lý hiệu quả các nút thắt, điểm nghẽn của tăng trưởng, đồng thời kích thích và phát huy mạnh mẽ các động lực có tính lan tỏa đối với toàn nền kinh tế.
Trên cơ sở đó, xác lập và triển khai mô hình tăng trưởng mới dựa chủ yếu vào nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế, với nền tảng là khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, bảo đảm sử dụng hiệu quả các nguồn lực.
Nhận thức rõ yêu cầu, đòi hỏi từ thực tiễn phát triển đất nước trong giai đoạn mới, ông Nguyễn Anh Tuấn khẳng định Ban Chính sách, chiến lược Trung ương sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, địa phương để tham mưu kịp thời trong hoạch định đường lối, chủ trương và chính sách chiến lược, các biện pháp lớn, quan trọng về kinh tế – xã hội, góp phần thực hiện thành công Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững.
-Lý Hà
Kiện toàn Ban Chỉ đạo thực hiện thí điểm cơ chế, chính sách đặc thù phát triển TP.Hồ Chí Minh
Thủ tướng Phạm Minh Chính vừa ký Quyết định số 138/QĐ-TTg về việc kiện toàn Ban Chỉ đạo thực hiện các nghị quyết của Quốc hội liên quan đến thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển TP. Hồ Chí Minh.
Quyết định nêu rõ, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính làm Trưởng Ban Chỉ đạo; Phó Trưởng Ban Thường trực là Bí thư Thành ủy TP. Hồ Chí Minh Trần Lưu Quang; Phó Trưởng Ban là Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng.
Thành viên Ban Chỉ đạo gồm: Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Trần Văn Sơn; Chủ tịch UBND TP. Hồ Chí Minh Nguyễn Văn Được; Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Mạnh Hùng; Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Tâm; Thứ trưởng Bộ Nội vụ Trương Hải Long; Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú; Thứ trưởng Bộ Xây dựng Bùi Xuân Dũng; Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Lê Công Thành; Thứ trưởng Bộ Công Thương Phan Thị Thắng.
Theo Quyết định, Ban Chỉ đạo là tổ chức phối hợp liên ngành, giúp Thủ tướng nghiên cứu, chỉ đạo và phối hợp giải quyết các công việc quan trọng, mang tính liên ngành trong quá trình tổ chức thực hiện Nghị quyết số 98/2023/QH15 của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển TP. Hồ Chí Minh và Nghị quyết số 260/2025/QH15 của Quốc hội về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 98/2023/QH15.
Ban Chỉ đạo có nhiệm vụ giúp Thủ tướng đôn đốc các bộ, ngành, cơ quan liên quan tổ chức thực hiện Nghị quyết số 98 và Nghị quyết số 260; đồng thời nghiên cứu, đề xuất với Thủ tướng phương hướng, giải pháp nhằm giải quyết các vấn đề quan trọng, liên ngành phát sinh trong quá trình triển khai hai nghị quyết này.
Cùng với đó, Ban Chỉ đạo có trách nhiệm chỉ đạo và phối hợp giữa các bộ, cơ quan, tổ chức liên quan trong việc xử lý các vấn đề quan trọng, mang tính liên ngành về triển khai Nghị quyết số 98 và Nghị quyết số 260; bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả trong công tác tham mưu, đề xuất các giải pháp thực hiện hai nghị quyết. Kịp thời báo cáo những khó khăn, vướng mắc vượt thẩm quyền và đề xuất các giải pháp trình cấp có thẩm quyền xem xét, xử lý các bất cập phát sinh trong thực tiễn (nếu có).
Ngoài ra, Ban Chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ cụ thể khác do Thủ tướng giao liên quan đến việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 98 và Nghị quyết số 260 của Quốc hội.
-Thanh Thủy
Tinh gọn bộ máy – chìa khóa chiến lược đưa đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình
Tại phiên thảo luận các dự thảo văn kiện của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, Phó Trưởng ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Thanh Bình, trình bày tham luận về xây dựng, hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, tổng kết thực tiễn.
KẾT QUẢ ĐỘT PHÁ TỪ CUỘC CÁCH MẠNG TINH GỌN BỘ MÁY
Theo Phó Trưởng ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Thanh Bình, việc sắp xếp tổ chức bộ máy được triển khai đồng bộ từ Trung ương đến địa phương, đạt nhiều kết quả mang tính đột phá. Hệ thống tổ chức các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội được tổ chức lại theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; kết thúc hoạt động mô hình Đảng đoàn, Ban cán sự Đảng từ Trung ương đến địa phương.
Cụ thể, đã giảm 4 cơ quan Đảng Trung ương, 5 cơ quan Quốc hội, 5 bộ, 3 cơ quan thuộc Chính phủ, 13 tổng cục và tương đương, gần 1.500 đầu mối cấp vụ và hơn 4.800 đầu mối cấp phòng; Giảm 29 tỉnh, thành phố, không tổ chức mô hình cấp huyện và giảm gần 700 huyện. Điều chỉnh sáp nhập từ hơn 10.000 xuống còn 3.321 xã, phường (giảm khoảng 6.700 xã, phường).
Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Thanh Bình tham luận tại Đại hội.Tinh giản gần 150.000 cán bộ, công chức, viên chức, người lao động thông qua chính sách hỗ trợ vượt trội. Đã sắp xếp tổ chức bộ máy theo mô hình mới, tổ chức lại hệ thống Quân đội, Công an ở địa phương, Tòa án, Viện kiểm sát, Thanh tra, các cơ quan, đơn vị quản lý theo ngành dọc. Sắp xếp tổ chức Đảng và các tổ chức chính trị-xã hội, các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ ở địa phương đồng bộ với tổ chức hành chính.
Về hệ thống các quy định, đã ban hành kịp thời đồng bộ các chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, quy định của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể như các nghị quyết, kết luận, quy định, quyết định và hơn 70 văn bản chỉ đạo các loại của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng đã ban hành các luật, nghị quyết có liên quan trực tiếp về sắp xếp tổ chức bộ máy, đơn vị hành chính trong năm 2025.
Hệ thống các văn bản mới ban hành cơ bản bảo đảm đầy đủ cơ sở chính trị, pháp lý để thực hiện sắp xếp kịp thời, bảo đảm không trùng giẫm, rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm, theo hướng đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho các cấp cơ sở; bảo đảm giữ vững ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, không để xảy ra các vấn đề phức tạp trước, trong và sau khi thực hiện sáp nhập, vận hành tổ chức bộ máy mới.
Tổng kết hơn 1 năm thực hiện cuộc cách mạng sắp xếp tổ chức bộ máy, nhất là giai đoạn nước rút trong vòng 6 tháng, từ tháng 7/2025 đến nay, Phó Trưởng ban Tổ chức Trung ương khẳng định đây là một chủ trương rất đúng, rất trúng, có ý nghĩa lịch sử, được cán bộ, đảng viên, nhân dân đồng tình ủng hộ, dư luận quốc tế đánh giá cao.
Việc sắp xếp tinh gọn không chỉ giảm số lượng về tổ chức, đơn vị, giảm biên chế, giảm kinh phí chi thường xuyên mà quan trọng hơn là đã nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy, giảm tầng nấc trung gian, phân cấp phân quyền được đẩy mạnh theo hướng gần dân, sát dân, phục vụ nhân dân tốt hơn; đã mở ra không gian, khơi thông nguồn lực, tạo dư địa để phát triển kinh tế-xã hội cho giai đoạn tiếp theo.
Từ thực tiễn đó, tham luận rút ra nhiều bài học kinh nghiệm, trong đó nhấn mạnh vai trò lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và cấp ủy các cấp, đặc biệt là vai trò của đồng chí Tổng Bí thư trong chỉ đạo định hướng, thúc đẩy truyền cảm hứng và thật sự là một "tổng công trình sư" của cuộc cách mạng.
Kiên định, giữ vững các nguyên tắc của Đảng, thực hiện nghiêm các quy định pháp luật, kịp thời thể chế hóa, cụ thể hóa các chủ trương của Đảng, tập trung giải quyết những nút thắt, vướng mắc, có sự chuẩn bị kỹ lưỡng về nguồn lực để thực hiện.
Làm tốt công tác dự báo trên cơ sở tổng kết thực tiễn, bám sát bối cảnh trong nước, quốc tế, nhất là dự báo về những khó khăn, thách thức; có chiến lược định hướng, tầm nhìn dài hạn, có kế hoạch thực hiện cụ thể, khả thi, đồng bộ, bảo đảm ổn định chính trị-xã hội.
Thống nhất trong nhận thức và hành động, đoàn kết cao trong toàn hệ thống chính trị; tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám vượt qua khó khăn, thách thức của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, qua đó phát huy trách nhiệm, nỗ lực vượt lên chính mình.
Công tác tổ chức triển khai thực hiện được nghiêm túc, quyết liệt với tinh thần trách nhiệm cao nhất, có sự chủ động, linh hoạt trong sáng tạo, triển khai từ trên xuống dưới, Trung ương làm gương, địa phương hưởng ứng; không chủ quan nóng vội nhưng cũng không cầu toàn với phương châm vừa làm vừa rút kinh nghiệm, kịp thời chuyển đổi trạng thái từ “vừa chạy vừa xếp hàng” sang “thẳng hàng lối thông, đồng lòng cùng tiến”. Tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số. Đây là bài học kinh nghiệm có ý nghĩa hết sức quan trọng trong xu hướng phát triển mới, qua đó khắc phục được khâu yếu về tổ chức thực hiện trước đây.
Sự chủ động kịp thời định hướng thông tin tuyên truyền, công khai minh bạch đầy đủ các chủ trương, đường lối, chính sách mới; làm tốt công tác chính trị tư tưởng, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân, tạo sự thống nhất cao trong Đảng và sự đồng thuận trong xã hội; hạn chế tối đa các khoảng trống về thông tin để các thế lực thù địch, các phần tử xấu lợi dụng xuyên tạc, chống phá, chia rẽ nội bộ.
Qua đây, Phó Trưởng ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Thanh Bình nhấn mạnh nhiệm vụ đặt ra trong thời gian tới hết sức quan trọng; đồng thời cho rằng cần tập trung vào một số nhiệm vụ trọng tâm.
Trước hết, tiếp tục hoàn thiện đồng bộ thể chế, quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước phù hợp với mô hình tổ chức mới, xác định rõ chức năng nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức trong từng cơ quan đơn vị, bảo đảm hoạt động thông suốt, đồng bộ, nhịp nhàng.
Đẩy mạnh và thực hiện hiệu quả phân cấp phân quyền giữa Trung ương và địa phương theo hướng nâng cao năng lực tự chủ, tự chịu trách nhiệm của địa phương.
Vận hành tổ chức bộ máy mới thông suốt, đồng bộ, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; kịp thời sơ kết, tổng kết tháo gỡ khó khăn vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện. Tiếp tục sắp xếp tinh gọn tổ chức bên trong của các cơ quan đơn vị, đẩy mạnh chuyển đổi số, quản lý và sử dụng trụ sở, tài sản sau sắp xếp phù hợp với thực tế, tránh lãng phí. Tập trung sắp xếp các đơn vị sự nghiệp công lập, trường học, cơ sở giáo dục, y tế, doanh nghiệp nhà nước theo đúng định hướng của Trung ương.
Hoàn thiện các quy định về công tác cán bộ, đồng thời đẩy mạnh giáo dục chính trị tư tưởng, đổi mới nhận thức, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cơ sở. Hoàn thiện cơ chế chính sách thu hút, trọng dụng và phát huy người có tài năng; rà soát xây dựng hoàn thiện vị trí việc làm và giao biên chế phù hợp cho giai đoạn 2026-2031.
Phó Trưởng ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Thanh Bình bày tỏ tin tưởng, nhiệm kỳ Đại hội XIV với quyết tâm nỗ lực của cả hệ thống chính trị, chắc chắn tổ chức bộ máy theo mô hình mới sẽ tiếp tục hoàn thiện và triển khai vận hành hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới, đặc biệt trước yêu cầu nhiệm vụ thời kỳ phát triển mới, hướng tới hiện thực hóa hai mục tiêu 100 năm.
-Hà Lê
Thủ tướng yêu cầu khẩn trương rà soát, đầu tư hoàn chỉnh các tuyến cao tốc đầu tư phân kỳ
Theo Công điện, thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về phát triển kết cấu hạ tầng, thời gian qua Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo quyết liệt việc đầu tư xây dựng hệ thống đường bộ cao tốc.
Đến nay, cả nước đã đưa vào khai thác gần 3.345 km tuyến chính cao tốc và 458 km nút giao, đường dẫn, vượt mục tiêu đề ra. Riêng trong năm 2025, thêm 1.491 km cao tốc được hoàn thành, đặc biệt là cơ bản thông xe toàn tuyến cao tốc Bắc – Nam từ Cao Bằng đến Cà Mau.
Thủ tướng Chính phủ ghi nhận và biểu dương sự nỗ lực của các bộ, ngành, địa phương, các ban quản lý dự án, đơn vị tư vấn, nhà thầu và người lao động trong quá trình triển khai các dự án cao tốc, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội các vùng, miền.
Công điện cũng nêu rõ, trong giai đoạn trước, nhằm sớm nối thông các tuyến cao tốc và trong bối cảnh nguồn lực đầu tư còn hạn chế, nhiều dự án đã được phê duyệt và xây dựng theo quy mô phân kỳ, với số làn xe, bề rộng nền đường và tốc độ khai thác chưa đạt tiêu chuẩn cao tốc hoàn chỉnh. Trước tháng 11/2024, khi chưa ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, một số đoạn, tuyến cao tốc được đầu tư với quy mô 2 làn xe hoặc 4 làn xe nhưng chưa có làn dừng xe khẩn cấp liên tục.
Việc sớm đưa các tuyến cao tốc này vào khai thác đã góp phần cải thiện kết nối giao thông và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn vận hành cho thấy một số tuyến cao tốc đầu tư phân kỳ còn bộc lộ hạn chế, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn giao thông, ùn tắc và tai nạn, đặc biệt trong điều kiện lưu lượng phương tiện tăng nhanh.
Từ thực tiễn đó, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo điều chỉnh, đầu tư hoàn chỉnh nhiều tuyến cao tốc; đồng thời giao Bộ Xây dựng phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ xây dựng và ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về đường bộ cao tốc. Quy chuẩn này quy định tối thiểu 4 làn xe chạy, có làn dừng xe khẩn cấp bố trí liên tục, cùng các công trình hạ tầng đồng bộ như đường gom, trạm dừng nghỉ, trung tâm quản lý, điều hành giao thông và các công trình kiểm soát tải trọng.
Ngày 15/11/2024, Bộ Xây dựng đã ban hành Thông tư số 57/2024/TT-BGTVT, ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về đường bộ cao tốc QCVN 117:2024/BGTVT, có hiệu lực từ ngày 1/1/2025. Từ thời điểm này, các dự án cao tốc mới đều phải tuân thủ quy chuẩn, bảo đảm yêu cầu về an toàn và hiệu quả khai thác.
Đối với các dự án cao tốc được lập và phê duyệt trước ngày 1/1/2025, Thủ tướng yêu cầu Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với các địa phương rà soát, đề xuất phương án đầu tư nâng cấp, hoàn thiện để đạt quy mô cao tốc theo quy chuẩn quốc gia; đồng thời bổ sung đầy đủ, đồng bộ các công trình hạ tầng kỹ thuật trên tuyến. Kết quả rà soát phải báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 15/2/2026.
Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được giao khẩn trương nghiên cứu, đề xuất phương án nâng cấp các tuyến cao tốc do địa phương làm cơ quan chủ quản, gửi Bộ Xây dựng trước ngày 10/2/2026 để tổng hợp. Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Xây dựng và các địa phương đề xuất phương án bố trí nguồn vốn sớm triển khai đầu tư hoàn thiện các tuyến cao tốc đầu tư phân kỳ.
Bộ Công an được giao tăng cường công tác tuyên truyền, kiểm tra, kiểm soát, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm trật tự, an toàn giao thông; đồng thời phối hợp với Bộ Xây dựng rà soát các điểm đen, điểm tiềm ẩn tai nạn giao thông trên các tuyến cao tốc đầu tư phân kỳ để kịp thời khắc phục.
Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà trực tiếp chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương triển khai Công điện; Văn phòng Chính phủ theo dõi, đôn đốc và tổng hợp tình hình thực hiện, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
-Minh Kiệt
Sự lãnh đạo toàn diện của Đảng – nhân tố quyết định thành công công tác chính trị, tư tưởng trong kỷ nguyên mới
Tham luận tập trung làm rõ vai trò đặc biệt quan trọng của công tác chính trị, tư tưởng trong toàn bộ hoạt động của Đảng; nhấn mạnh yêu cầu tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với lĩnh vực then chốt này trong bối cảnh mới của đất nước và thế giới.
CÔNG TÁC CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG – TRỤ CỘT XÂY DỰNG NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG
Mở đầu tham luận, đồng chí Lại Xuân Môn khẳng định Chủ tịch Hồ Chí Minh – người sáng lập, rèn luyện Đảng ta – luôn đặc biệt coi trọng công tác chính trị, tư tưởng, xem đây là công việc quan trọng bậc nhất của Đảng, có ý nghĩa quyết định đối với thành công của sự nghiệp cách mạng.
Trung thành và vận dụng sáng tạo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong suốt 95 năm qua, đặc biệt là 40 năm khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới, Đảng ta luôn xác định công tác chính trị, tư tưởng là bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng trong toàn bộ hoạt động của Đảng; là lĩnh vực trọng yếu trong xây dựng, bồi đắp nền tảng tư tưởng của Đảng và nền tảng chính trị của chế độ.
Đồng chí Lại Xuân Môn, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, tham luận về vấn đề “Công tác chính trị, tư tưởng trong kỷ nguyên mới”. Ảnh: TTXVNDưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, công tác chính trị, tư tưởng đã đạt được những thành tựu to lớn, quan trọng; góp phần cổ vũ, lan tỏa các giá trị tích cực; tạo sự thống nhất về tư tưởng, sự đồng thuận trong hệ thống chính trị và xã hội; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc gắn với sức mạnh thời đại.
Những kết quả đó đã đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời giữ vai trò quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng.
Bước vào kỷ nguyên mới, đất nước đặt ra mục tiêu phát triển bứt phá toàn diện, hướng tới xây dựng một nước xã hội chủ nghĩa hòa bình, độc lập, dân chủ, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, sánh vai cùng các cường quốc năm châu. Quá trình này diễn ra trong bối cảnh vừa có nhiều thuận lợi, thời cơ lớn, vừa phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức gay gắt.
Toàn cầu hóa sâu rộng cùng với sự bùng nổ của khoa học – công nghệ, đặc biệt là công nghệ số, mạng xã hội và các nền tảng truyền thông số, đã làm cho cuộc đấu tranh trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng ngày càng phức tạp, quyết liệt, khó kiểm soát, thường xuyên tác động đến tư tưởng, tâm lý và dư luận xã hội trong và ngoài nước. Trong bối cảnh đó, công tác chính trị, tư tưởng càng có vai trò đặc biệt quan trọng và phải đáp ứng những yêu cầu rất cao.
Theo Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, trong Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV, từ tư tưởng chủ đạo của Đại hội, những bài học kinh nghiệm qua 40 năm đổi mới đến các quan điểm chỉ đạo và định hướng tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, đều thể hiện rõ tầm quan trọng đặc biệt và các nhiệm vụ trọng yếu của công tác chính trị, tư tưởng trong giai đoạn mới.
Nhấn mạnh sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng là nhân tố quyết định sức mạnh và thành công của công tác chính trị, tư tưởng, đồng chí Lại Xuân Môn nêu rõ yêu cầu trước hết là nâng cao nhận thức và tăng cường hơn nữa vai trò lãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực này.
Theo đó, các tổ chức đảng, cấp ủy, trực tiếp là bí thư cấp ủy, từ Trung ương đến cơ sở, cần đặt công tác chính trị, tư tưởng là nhiệm vụ trọng tâm; thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác với những giải pháp cụ thể, thiết thực.
Công tác chính trị, tư tưởng cần gắn bó chặt chẽ với việc triển khai quyết liệt công cuộc kiến tạo kỷ nguyên phát triển mới của đất nước; đi trước mở đường, giữ vai trò chủ công trong xây dựng quyết tâm chính trị cao nhất, sự thống nhất tư tưởng cao nhất và hành động quyết liệt nhất của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân.
Thông qua đó, công tác tư tưởng góp phần phát huy dân chủ, cổ vũ tinh thần tiên phong, đổi mới sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung; thúc đẩy tinh thần yêu nước; khơi dậy nhiệt huyết lao động, sản xuất, các giá trị tự tôn, tự trọng, tự tin, tự chủ, tự lực, tự cường, tiềm năng sáng tạo và khát vọng cống hiến của Nhân dân.
Công tác chính trị, tư tưởng phải thấm sâu vào từng lĩnh vực, địa bàn; gắn chặt với từng chương trình, kế hoạch, đề án, dự án, công trình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh; trở thành sức mạnh nội sinh của phát triển nhanh và bền vững, góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển cao, không ngừng nâng cao đời sống của Nhân dân.
Bên cạnh đó, công tác chính trị, tư tưởng cần góp phần trực tiếp vào xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh; nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; bồi đắp bản lĩnh chính trị, nâng tầm trí tuệ, xây dựng văn hóa, đạo đức của Đảng; nâng cao chất lượng tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, làm cơ sở khoa học cho hoạch định và tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Trong bối cảnh môi trường thông tin, truyền thông số phát triển mạnh mẽ, công tác chính trị, tư tưởng cũng được yêu cầu đề cao kỷ luật, nâng cao sức chiến đấu; chủ động bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, nền tảng chính trị của chế độ; kịp thời đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; bảo vệ vững chắc trận địa chính trị, tư tưởng trong không gian mạng.
Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong kỷ nguyên mới, đồng chí Lại Xuân Môn nhấn mạnh cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác chính trị, tư tưởng; ứng dụng các thành tựu của công nghệ số, nền tảng truyền thông số; đồng thời chú trọng xây dựng tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công tác này đủ bản lĩnh, phẩm chất, năng lực và uy tín.
Trên cơ sở đó, đồng chí kiến nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV ban hành Quy định về công tác chính trị, tư tưởng của Đảng trong giai đoạn mới, tạo cơ sở chính trị và tổ chức để công tác chính trị, tư tưởng tiếp tục phát huy vai trò then chốt trong toàn bộ hoạt động của Đảng.
-Lý Hà
Điện Biên: Chuyển đổi số để người dân vùng cao không bị bỏ lại phía sau
Giai đoạn 2021–2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển của Điện Biên, khi giảm nghèo được đặt trong tổng thể tái cơ cấu kinh tế, nâng cao năng lực quản trị và ứng dụng khoa học – công nghệ. Nghị quyết số 17-NQ/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh ban hành cuối năm 2021 đã xác lập rõ định hướng phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, gắn giảm nghèo bền vững với xây dựng hạ tầng, đào tạo nghề và chuyển đổi số.
KINH TẾ SỐ MỞ ĐƯỜNG CHO SINH KẾ VÙNG SÂU, VÙNG XA
Theo báo cáo của tỉnh, trong giai đoạn này, Điện Biên được Trung ương phân bổ hơn 2.063 tỷ đồng để thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững. Nguồn lực không chỉ tập trung hỗ trợ trực tiếp, mà được phân bổ theo các dự án có tính dài hạn, hướng đến thay đổi phương thức sản xuất, quản lý và kết nối thị trường.
Cách tiếp cận mới thể hiện rõ ở việc triển khai 7 dự án trọng điểm, hơn 200 mô hình sinh kế phù hợp theo vùng, theo nhóm dân tộc, gắn với đào tạo kỹ thuật, tín dụng ưu đãi và từng bước ứng dụng công nghệ. Người dân không còn là đối tượng thụ hưởng đơn thuần, mà trở thành chủ thể tham gia vào chuỗi sản xuất – tiêu thụ, từng bước tiếp cận kinh tế hàng hóa.
Tại nhiều địa bàn khó khăn như Mường Nhé, Sín Thầu, Tủa Chùa, chuyển đổi sinh kế đang diễn ra song hành với việc thay đổi tư duy sản xuất. Việc phát triển các vùng cây trồng chủ lực như cao su, quế, mắc ca, cà phê, dược liệu không chỉ dừng ở khâu trồng trọt, mà được gắn với quản lý vùng nguyên liệu, truy xuất nguồn gốc và liên kết tiêu thụ.
Nhiều sản phẩm đặc trưng của Điện Biên như cà phê Mường Ảng, chè Tủa Chùa, gạo nếp nương, thịt trâu sấy đã đạt chứng nhận OCOP, từng bước tiếp cận các kênh phân phối hiện đại. Việc ứng dụng tem QR, quản lý dữ liệu vùng trồng và xây dựng sàn thương mại điện tử cho nông sản chủ lực đang mở ra hướng đi mới, giúp sản phẩm vùng cao tiếp cận thị trường rộng lớn hơn, giảm phụ thuộc vào thương lái truyền thống.
Chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm 2025 toàn tỉnh đã triển khai khoảng 110 dự án sản xuất theo chuỗi giá trị và 338 dự án cộng đồng. Các mô hình này được thiết kế theo hướng tăng hàm lượng kỹ thuật, có sự tham gia của hợp tác xã và doanh nghiệp, từng bước hình thành nền tảng kinh tế số ở khu vực nông thôn miền núi.
Song song với phát triển kinh tế số, Điện Biên xác định xây dựng chính quyền số là điều kiện để vùng sâu, vùng xa không bị “đứt gãy” trong tiếp cận dịch vụ công. Việc số hóa dữ liệu dân cư, đất đai, tín dụng chính sách, y tế và giáo dục giúp người dân giảm chi phí tiếp cận, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.
KHÔNG ĐỂ KHOẢNG CÁCH NỚI RỘNG, ĐỘNG LỰC MỚI CHO GIAI ĐOẠN 2026 – 2030
Giai đoạn 2021–2025, tỉnh đã triển khai 862 dự án hạ tầng giao thông, y tế, giáo dục, điện, thủy lợi; tín dụng chính sách được mở rộng đến tận thôn bản với hơn 395.000 lượt hộ nghèo và cận nghèo được vay vốn ưu đãi. Việc kết nối hạ tầng vật chất với hạ tầng số đang tạo điều kiện để các chính sách an sinh, hỗ trợ sinh kế được triển khai nhanh hơn, minh bạch hơn.
Đào tạo nghề và tạo việc làm tiếp tục là trụ cột quan trọng. Riêng năm 2024, Điện Biên giải quyết việc làm mới cho hơn 11.000 lao động, tuyển sinh đào tạo nghề cho gần 11.000 học viên, chủ yếu là con em đồng bào dân tộc thiểu số. Đây là lực lượng được kỳ vọng sẽ trở thành “hạt nhân số” tại cộng đồng, từng bước lan tỏa kỹ năng mới vào sản xuất và dịch vụ.
Theo báo đến năm 2025, tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm còn 17,66%, bình quân giảm gần 4%/năm; riêng các địa bàn đặc biệt khó khăn giảm hơn 5,5%/năm.
Dù vậy, tỉnh cũng thẳng thắn nhìn nhận những thách thức còn tồn tại. Dù tốc độ tăng trưởng kinh tế GRDP của tỉnh năm 2025 đạt 7,34% nhưng thu hút vốn ngoài ngân sách và năng lực hành chính ở một số địa bàn còn hạn chế. Khoảng cách giữa các xã vùng cao và vùng thấp vẫn lớn, trong khi thiên tai và biến động thị trường tiếp tục tạo áp lực lên sinh kế người dân.
Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số được xác định là công cụ để thu hẹp khoảng cách phát triển. Từ quản lý đất đai, rừng, thủy lợi đến cấp mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc và kết nối tiêu thụ, việc ứng dụng công nghệ giúp giảm rủi ro, nâng cao giá trị và tăng khả năng chống chịu của kinh tế vùng cao.
Theo lãnh đạo tỉnh Điện Biên, giai đoạn tới sẽ tập trung phát triển nông nghiệp theo hướng quy mô, ứng dụng khoa học – công nghệ và chuyển đổi số toàn diện. Tỉnh đặt mục tiêu đến năm 2030, tổng giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt trên 3.000 tỷ đồng; mở rộng diện tích mắc ca, cà phê; nâng tỷ lệ che phủ rừng lên 47% và có 60% số xã đạt chuẩn nông thôn mới.
Đối với các sản phẩm chủ lực, Điện Biên sẽ đẩy mạnh công nghệ nhân giống, bảo tồn nguồn gene, hoàn thiện chứng nhận hữu cơ và áp dụng tem điện tử truy xuất nguồn gốc. Các mô hình nhà màng, canh tác thông minh, tưới tiết kiệm, lúa thông minh sẽ được nhân rộng theo phương thức “cầm tay chỉ việc”, gắn với đào tạo kỹ năng số cho nông dân.
Cùng với đó, việc xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai, phân loại rừng, số hóa thông tin sản xuất và kết nối doanh nghiệp chế biến lớn được kỳ vọng sẽ hình thành các chuỗi giá trị bền vững, giúp người dân vùng sâu, vùng xa tham gia trực tiếp vào nền kinh tế số.
-Minh Hiếu
Danh mục thông tin mật quốc gia trong lĩnh vực khoa học và công nghệ
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính vừa ký Quyết định số 137/QĐ-TTg về việc ban hành Danh mục bí mật nhà nước trong lĩnh vực khoa học và công nghệ.
Ở cấp độ Tuyệt mật, thông tin bao gồm các nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đặc biệt, hoặc các chương trình quốc gia phục vụ trực tiếp cho quốc phòng, an ninh. Những thông tin này có ý nghĩa quyết định đến khả năng tác chiến phòng thủ và bảo vệ Tổ quốc.
Các tài liệu liên quan bao gồm chương trình, thuyết minh, báo cáo tiến độ, báo cáo tổng hợp, báo cáo kết quả, sản phẩm, báo cáo thẩm định, quyết định phê duyệt, hợp đồng giao nhiệm vụ và các văn bản khác liên quan đến quá trình xây dựng, phê duyệt, tổ chức triển khai, đánh giá kết quả và hiệu quả.
Cấp độ Tối mật bao gồm thông tin về các nhiệm vụ và chương trình có tác động trực tiếp đến quốc phòng, an ninh và bảo vệ chủ quyền quốc gia, ngoại trừ những nội dung thuộc cấp độ Tuyệt mật. Các tài liệu tương tự như ở cấp độ Tuyệt mật cũng được bảo vệ ở cấp độ này.
Cấp độ Mật bao gồm báo cáo, tờ trình, văn bản xin ý kiến về chủ trương, chính sách mới liên quan đến hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phục vụ quốc phòng, an ninh. Ngoài ra, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình phối hợp hoạt động giữa Bộ Khoa học và Công nghệ với Bộ Quốc phòng và Bộ Công an cũng thuộc cấp độ này.
Thông tin về nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo hoặc chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia, chương trình của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung ương và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có nội dung về quốc phòng, an ninh, chủ quyền lãnh thổ, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc, kinh tế - xã hội, y tế đặc biệt quan trọng ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia dân tộc cũng được bảo vệ.
Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký (19/01/2026) và thay thế Quyết định số 1294/QĐ-TTg ngày 24/8/2020 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành danh mục bí mật nhà nước trong lĩnh vực khoa học và công nghệ và khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 1 Quyết định số 2238/QĐ-TTg ngày 29/12/2020 của Thủ tướng Chính phủ ban hành danh mục bí mật nhà nước trong lĩnh vực thông tin và truyền thông.
-Hạ Chi
Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan: Chăm sóc sức khỏe nhân dân toàn diện, từ sớm, từ xa và ngay từ cơ sở
Thưa Bộ trưởng, Nghị quyết 72-NQ/TW chuyển trọng tâm từ khám bệnh, chữa bệnh sang chăm sóc sức khỏe toàn diện, Bộ triển khai định hướng này như thế nào?
Thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, cơ chế, chính sách quan trọng nhằm thúc đẩy phát triển ngành y tế. Trong đó, Nghị quyết số 72-NQ/TW do Bộ Chính trị ban hành là văn bản định hướng mang tính đột phá, tạo cơ sở cho sự nghiệp chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe Nhân dân.
Nghị quyết 72-NQ/TW được tiếp cận trên cơ sở lấy sức khỏe người dân là vốn quý nhất và là trọng tâm cho sự phục vụ, triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp trong lĩnh vực y tế. Đồng thời, Nghị quyết cũng thể hiện rõ tinh thần tháo gỡ những “điểm nghẽn” trong lĩnh vực y tế mà thời gian dài vừa qua chưa được giải quyết một cách căn cơ.
Nghị quyết 72-NQ/TW đã đề cập đến các nội dung chuyển đổi trong công tác y tế, theo hướng thay vì tập trung chủ yếu vào khám bệnh, chữa bệnh chuyển sang chăm sóc sức khỏe toàn diện; nâng cao vai trò, tầm quan trọng của công tác phòng bệnh; chăm sóc sức khỏe của người dân từ sớm, từ xa.
Công tác chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe của nhân dân sẽ gắn chặt với quản lý, chăm sóc sức khỏe toàn diện theo vòng đời. Đây là định hướng thay đổi rất lớn trong quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ của ngành y tế trong thời gian tới.
Với cách tiếp cận tập trung tháo gỡ các “điểm nghẽn”, Bộ Y tế đã báo cáo, đề xuất để Chính phủ ban hành Nghị quyết 282/NQ-CP về chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân và kế hoạch triển khai cụ thể, rõ việc, rõ tiến độ.
Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan kiểm tra công tác truyền thông giáo dục sức khỏe tại Trạm Y tế xã Sam Mứn - tỉnh Điện Biên.Có thể khẳng định, sau ba tháng triển khai Nghị quyết số 72-NQ/TW, dưới sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt của Chính phủ và sự phối hợp chặt chẽ của các bộ, ngành, công tác tổ chức thực hiện đã được thúc đẩy mạnh mẽ, tạo chuyển biến bước đầu.
Đáng chú ý, các địa phương đã có chuyển động rõ nét trong quá trình xây dựng nghị quyết, chương trình, kế hoạch nhằm cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị; qua đó hình thành các đề án, giải pháp và chính sách thiết thực, phù hợp với điều kiện thực tiễn của từng địa bàn.
Một trong các “điểm nghẽn” được xác định là thể chế. Bộ Y tế sẽ tập trung tháo gỡ nội dung này theo hướng nào, thưa Bộ trưởng?
Nghị quyết số 72-NQ/TW đặt ra yêu cầu tập trung tháo gỡ “điểm nghẽn” thứ hai là thể chế. Thực tiễn thời gian qua cho thấy, những bất cập về thể chế đã tạo ra nhiều nút thắt trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ của ngành y tế.
Vì vậy, các vấn đề còn vướng mắc, cũng như định hướng phát triển ngành y tế trong chặng đường tới sẽ được tập trung giải quyết thông qua việc hoàn thiện thể chế, chính sách và cơ chế huy động, phân bổ nguồn lực. Tinh thần xuyên suốt là khi ban hành chính sách phải bảo đảm sự tham gia, phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước và các chủ thể liên quan; đồng thời kết hợp hiệu quả nguồn lực công – tư, phát huy vai trò của người dân trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân. Cách tiếp cận này nhằm xác lập rõ trách nhiệm của hệ thống chính trị và toàn xã hội đối với công tác chăm sóc sức khỏe, đồng thời tạo điều kiện để chính sách đi vào cuộc sống một cách thực chất, hiệu quả.
Đối với Bộ Y tế, thời gian tới, chúng tôi tiếp tục rà soát, hoàn thiện các quy định, cơ chế nhằm tháo gỡ các “điểm nghẽn”, bảo đảm triển khai đồng bộ các giải pháp đã nêu trong Nghị quyết số 72-NQ/TW. Bộ Y tế đã đăng ký chương trình xây dựng luật giai đoạn 5 năm tới và các năm tiếp theo; trong đó, nâng cao chất lượng xây dựng thể chế được xác định là một nhiệm vụ trọng tâm, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn và khắc phục những khoảng trống trong quá trình tổ chức thực hiện các nhiệm vụ chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân.
Cùng với việc hoàn thiện thể chế, yêu cầu đặt ra là phải bảo đảm tính phù hợp, khả thi và hiệu quả triển khai. Theo đó, xây dựng và ban hành chính sách cần gắn chặt với cơ chế thực thi và sự tham gia của các chủ thể liên quan; bảo đảm rõ ràng, minh bạch trong thực tiễn; huy động được sự vào cuộc của các cấp, các ngành và toàn xã hội trong chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe người dân. Đây cũng là cơ sở để ngành y tế triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp trong thời gian tới, đúng tinh thần Nghị quyết số 72-NQ/TW.
Xin Bộ trưởng cho biết, trong huy động nguồn lực, kết hợp nguồn lực Nhà nước, quỹ bảo hiểm y tế, khu vực tư và sự tham gia của người dân, trọng tâm triển khai sẽ là gì?
Nghị quyết số 72-NQ/TW đã đưa ra những giải pháp mang tính đột phá về huy động nguồn lực, bao gồm cả nguồn lực công và nguồn lực tư; đồng thời nhấn mạnh vai trò, trách nhiệm và sự tham gia của người dân trong quá trình tổ chức thực hiện các giải pháp chăm sóc sức khỏe.
Theo đó, để phát huy hiệu quả các nguồn lực cho lĩnh vực y tế, bên cạnh nguồn lực của Nhà nước, trọng tâm là triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia trong mười năm tới với các giải pháp cụ thể, bảo đảm hiệu quả cao nhất. Cùng với đó, cần huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực khác, trong đó có việc quản lý, sử dụng quỹ bảo hiểm y tế gắn với mục tiêu bảo hiểm y tế toàn dân; phát huy vai trò của đội ngũ làm công tác y tế trong khu vực tư nhân; và tăng cường sự tham gia của người dân trong tự chăm sóc, bảo vệ sức khỏe của mình.
Việc đổi mới cơ chế và bảo đảm nguồn lực cho công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân thời gian tới đòi hỏi các giải pháp cụ thể nhằm huy động tổng hợp mọi nguồn lực. Cách tiếp cận nhất quán là tăng cường phối hợp, phát huy sự tham gia của các cấp, các ngành và các chủ thể liên quan; đồng thời thể chế hóa bằng các chính sách rõ ràng, minh bạch, tạo cơ sở triển khai hiệu quả trong thực tiễn.
Xin Bộ trưởng cho biết việc thể chế hóa chủ trương của Nghị quyết 72-NQ/TW đã và đang được triển khai ra sao, nhất là qua các văn bản trình tại kỳ họp thứ 10 của Quốc hội?
Để triển khai thực hiện Nghị quyết 72-NQ/TW, trong thời gian qua, bên cạnh việc tích cực trình Chính phủ và Chính phủ đã ban hành các chương trình hành động, kế hoạch triển khai rất cụ thể như tôi đã nói ở trên, Bộ Y tế đã tham mưu trong kỳ họp thứ XIV của Quốc hội nhiều văn bản rất quan trọng để cụ thể hóa các nội dung này.
Thứ nhất, xây dựng Nghị quyết của Quốc hội về các giải pháp đặc thù, đột phá trong lĩnh vực chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân;
Thứ hai, trình Quốc hội thông qua Luật Phòng bệnh và Luật Dân số; trong đó Luật Phòng bệnh có những cơ chế, chính sách để thể chế hóa những nội dung người dân rất quan tâm trong Nghị quyết 72-NQ/TW, như chăm sóc sức khỏe nhân dân theo vòng đời; phòng bệnh được tập trung là giải pháp ban đầu trong công tác chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân với các chính sách cụ thể. Đây là cơ sở quan trọng để Bộ Y tế phối hợp với các bộ, ban, ngành xây dựng kế hoạch triển khai cụ thể trong thời gian tới.
Thứ ba, Bộ Y tế đã tham mưu trình Chương trình mục tiêu quốc gia về y tế phát triển và chính sách dân số trong mười năm tới, bảo đảm nguồn lực triển khai thực hiện các chủ trương; khi thể chế, chính sách ban hành ra có nguồn lực để triển khai thực hiện.
Chúng tôi cho rằng đây là sự cố gắng rất lớn, và người dân cũng rất mong đợi các giải pháp cụ thể triển khai trong thời gian tới. Qua đó sẽ góp phần chăm sóc sức khỏe người dân toàn diện vì một Việt Nam khỏe mạnh.
Đồng thời, với ba cách tiếp cận từ thay đổi tư duy và nhận thức, từ giải pháp nghị quyết và chính sách cụ thể đến bảo đảm phân bổ nguồn lực triển khai, việc thực hiện đã và đang được triển khai đồng bộ từ Trung ương đến địa phương.
Với nhân lực và chuyển đổi số, Bộ trưởng đặt trọng tâm như thế nào để đáp ứng yêu cầu chăm sóc sức khoẻ người dân toàn diện, từ sớm, từ xa và ngay tại cơ sở?
Một “điểm nghẽn” được Nghị quyết 72-NQ/TW nêu rõ là tháo gỡ khó khăn về nguồn nhân lực để bảo đảm triển khai thực hiện cơ chế, chính sách y tế.
Chúng ta phải chú trọng công tác đào tạo đội ngũ cán bộ, nhân viên ngành y tế; coi đào tạo nhân viên y tế là một nghề đặc thù. Vì vậy, những vấn đề tháo gỡ cơ chế, chính sách về đào tạo đặc thù cho ngành y tế đã được thể hiện rõ trong quan điểm của Nghị quyết của Bộ Chính trị.
Đồng thời, việc chăm sóc đội ngũ nhân lực ngành y tế, nhất là nhân lực tại y tế cơ sở, y tế dự phòng và các lĩnh vực cần hỗ trợ để phát triển, cũng được Nghị quyết 72-NQ/TW đưa ra những chủ trương để làm cơ sở cụ thể hóa bằng văn bản quy phạm pháp luật và các giải pháp triển khai trong thực tiễn thời gian tới.
Một nhiệm vụ quan trọng khác là tạo cơ chế để hệ thống y tế cơ sở có sự phát triển. Để triển khai mục tiêu chăm sóc sức khỏe người dân từ sớm, từ xa và ngay tại cơ sở, thời gian vừa qua Bộ Y tế đã hoàn thành các nhiệm vụ liên quan đến triển khai chăm sóc y tế cho người dân tại tuyến cơ sở. Qua quá trình triển khai thực hiện, đã tạo được sự đồng tình, ủng hộ rất lớn, kể cả thay đổi về hình thức, cũng như tăng cường chức năng, nhiệm vụ của y tế cơ sở.
Các địa phương cũng ủng hộ và triển khai với nhiều giải pháp. Ví dụ như Hà Nội, Quảng Ninh, Thành phố Hồ Chí Minh và nhiều tỉnh, thành phố khác đã có giải pháp để triển khai nhiệm vụ nêu trong Nghị quyết 72-NQ/TW bằng những hoạt động rất cụ thể và được nhân dân đồng tình ủng hộ.
Cùng với đó, nhiệm vụ nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực khối y tế cũng được đặt ra. Nghị quyết 72-NQ/TW đưa ra các định hướng, và Bộ Y tế đã phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật về đào tạo, trong đó có nội dung liên quan đến định hướng phát triển đào tạo nhân lực của ngành y tế.
Bên cạnh đó, với cơ chế về chế độ, chính sách đối với cán bộ, nhân viên ngành y tế và các chính sách sử dụng nhân lực tại các tuyến cơ sở, thời gian tới sẽ có nhiều giải pháp được xây dựng, đưa ra để thu hút đội ngũ cán bộ, nhân viên ngành y tế nói chung; trong đó tập trung cho các lĩnh vực cần ưu tiên như y tế dự phòng, đội ngũ cán bộ, nhân viên y tế công tác ở xã, phường - là nơi trực tiếp chăm sóc người dân ngay tại cơ sở.
Một giải pháp tiếp theo là tăng cường hợp tác quốc tế, ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số trong lĩnh vực y tế. Đây là thế mạnh mà Bộ đã tập trung triển khai trong thời gian vừa qua.
Hiện nay, việc xây dựng và áp dụng bệnh án điện tử, sổ sức khỏe điện tử; xây dựng cơ sở dữ liệu cho ngành y tế; ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong nghiên cứu khoa học; chuyển đổi số trong ngành y tế để thuận lợi hơn, phù hợp hơn và tiếp cận khoa học công nghệ nhằm tăng cường chăm sóc sức khỏe nhân dân đang được Bộ Y tế xây dựng và triển khai rất quyết liệt với các giải pháp cụ thể.
Với tinh thần đó, việc sử dụng nguồn lực trong nước, đồng thời tiếp thu tiến bộ khoa học kỹ thuật của thế giới, sẽ tạo bước đi phát triển mạnh mẽ hơn trong thực hiện các giải pháp cụ thể, hỗ trợ công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân.
-
Công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực phải tiếp tục đổi mới tư duy, nhận thức, cách nghĩ, cách làm
Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII trình Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực được triển khai quyết liệt, kiên trì, đồng bộ, toàn diện, đạt nhiều kết quả rất quan trọng, niềm tin của Nhân dân được củng cố, kỷ cương được tăng cường.
Văn kiện Đại hội XIV cũng tiếp tục đề cao tinh thần nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu; nhấn mạnh yêu cầu giữ gìn kỷ luật của Đảng, kỷ cương phép nước; kiên trì phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; xây dựng xã hội kỷ cương, lành mạnh, văn minh, an ninh, an sinh, an toàn, phát triển.
Nhân dịp Đại hội XIV của Đảng, đồng chí Lê Minh Trí, Bí thư Trung ương Đảng, Phó trưởng Ban thường trực Ban Nội chính Trung ương đã có cuộc trao đổi với báo chí về kết quả nổi bật trong công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng cũng như các yêu cầu, nhiệm vụ công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong giai đoạn tới.
Thưa đồng chí Lê Minh Trí, xin đồng chí cho biết kết quả nổi bật trong công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng?
Trong nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực dưới sự lãnh đạo của Đảng mà trực tiếp là Bộ Chính trị và Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực do Tổng Bí thư đứng đầu tiếp tục được lãnh đạo, chỉ đạo kiên quyết, kiên trì, toàn diện, bài bản, có bước đột phá lớn, đạt được nhiều kết quả quan trọng.
Tham nhũng, lãng phí, tiêu cực từng bước được kiềm chế, ngăn chặn, đẩy lùi, góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh. Có thể thấy, công cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực được Nhân dân tin tưởng, đồng tình ủng hộ và đã trở thành một phong trào mạnh mẽ; đến nay không chỉ ở cấp Trung ương mà nhiều địa phương cũng làm tốt.
Kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và kiểm soát quyền lực ngày càng được tăng cường, đã xử lý đồng bộ cả kỷ luật Đảng, kỷ luật hành chính Nhà nước, xử lý hình sự. Đã phát hiện, xử lý nhiều vụ án, vụ việc tham nhũng, lãng phí, tiêu cực có quy mô rất lớn cả về số đối tượng vi phạm, hậu quả thiệt hại và tính chất đặc biệt nghiêm trọng, chưa có tiền lệ, có tổ chức đan xen theo kiểu “hệ sinh thái”, hoạt động khép kín trong Ngân hàng, công ty chứng khoán, định giá, công chứng tư với hệ thống hàng trăm công ty con ở trong và ngoài nước nhằm thao túng cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp, đấu giá, đấu thầu, tác động vào cơ chế phân bổ ngân sách, nguồn lực đầu tư công và lợi dụng tình hình dịch bệnh để tham nhũng, tiêu cực.
Kết quả thu hồi tài sản Nhà nước bị chiếm đoạt, bị thất thoát ngày càng tốt hơn, nhanh hơn. Và công tác phối hợp của cơ quan kiểm tra Đảng với các cơ quan tố tụng và giữa các cơ quan tố tụng cả cấp Trung ương và địa phương ngày càng chặt chẽ tốt hơn, góp phần nâng cao hiệu quả cuộc đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực là điểm nhấn đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong nhiệm kỳ qua.
Vậy đâu là các yêu cầu, nhiệm vụ công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực nhiệm kỳ Đại hội XIV và thời gian tới, thưa đồng chí?
Thời gian tới, công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực phải thực hiện được những mục tiêu, yêu cầu mà Đại hội XIV đặt ra mà trước hết phải tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, phát huy vai trò, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức Đảng và người đứng đầu các cấp, các ngành; giữ vững kỷ luật, kỷ cương, đảm bảo vừa xử lý nghiêm minh, vừa nhân văn, thuyết phục và phải đáp ứng được yêu cầu quan trọng nhất là phục vụ phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo tăng trưởng 2 con số của nền kinh tế trong nhiều năm tới.
Để làm được điều đó, công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực phải tiếp tục đổi mới tư duy, nhận thức, cách nghĩ, cách làm; phải gắn với tiếp tục hoàn thiện thể chế, hệ thống pháp luật đảm bảo tính đồng nhất, đồng bộ, bám sát thực tiễn, yêu cầu của Nghị quyết số 66 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật và phải tập trung nghiên cứu, xác định các điều kiện, tiêu chí cụ thể, cách làm để thực thi hiệu quả những quan điểm, yêu cầu của Nghị quyết 68 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân nhằm phát huy nguồn lực to lớn này để phát triển kinh tế - xã hội, phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, nhất là những dự án đầu tư có liên quan đến đất đai nhằm khơi thông nguồn lực. Phải kịp thời bịt những lỗ hổng, sơ hở trong quy định pháp luật, không để kẻ xấu lợi dụng, tham nhũng và sửa đổi, bổ sung kịp thời những quy định pháp luật gây cản trở hoặc không khả thi trong thực tiễn, tháo gỡ những điểm nghẽn trong cơ cấu của nền kinh tế tạo hành lang pháp lý và động lực phát triển đất nước nhanh và bền vững.
Bên cạnh đó, phải tăng cường các biện pháp phòng ngừa trong công tác này và nhất là phòng chống lãng phí trong tình hình hiện nay. Trong đó coi trọng việc triển khai chế định Viện kiểm sát nhân dân khởi kiện vụ án dân sự, vụ án hành chính để bảo vệ lợi ích công, lợi ích Nhà nước; khuyến khích chủ động khắc phục hậu quả, hợp tác trong xử lý sai phạm và coi đây là tiêu chí, điều kiện để xem xét hình thức, mức độ xử lý phù hợp; tăng phòng ngừa, xử lý sớm vi phạm, giảm xử lý hình sự, góp phần thu hồi tài sản thất thoát, thiệt hại tốt hơn.
Tăng cường tính công khai, minh bạch trong đời sống xã hội, xây dựng lộ trình phù hợp để hoàn thiện hệ thống thanh toán không dùng tiền mặt và mở rộng diện đối tượng kiểm soát tài sản trong toàn xã hội.
Tiếp tục hoàn thiện các thiết chế phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực để bảo đảm không chồng chéo chức năng, nhiệm vụ, hoạt động thật sự hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả từ Trung ương tới địa phương.
Đồng thời, nghiên cứu, xây dựng và ban hành chính sách, pháp luật quy định khuyến khích và bảo vệ người đổi mới sáng tạo, kiến tạo phát triển, có quy định, hành lang pháp lý an toàn, hạn chế rủi ro đối với người thực hiện và có chế tài với người cố tình né trách nhiệm, không thực hiện chức trách, nhiệm vụ.
Làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm, xây dựng văn hóa liêm chính, không tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Đồng thời phải làm tốt công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực ngay trong các cơ quan trực tiếp làm công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực để xứng đáng là cơ quan “liêm chính của liêm chính”.
-
Thông cáo báo chí Phiên khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng
Dự Đại hội có 1.586 đại biểu thay mặt cho hơn 5,6 triệu đảng viên toàn Đảng. Trong đó, đại biểu đương nhiên là 163 đồng chí (chiếm tỷ lệ 10,28%); đại biểu được bầu là 353 đồng chí (chiếm tỷ lệ 22,25%); đại biểu được chỉ định là 1.070 đồng chí (chiếm tỷ lệ 67,47%).
Đại biểu nam có 1.285 đồng chí, chiếm 81,02%; đại biểu nữ có 301 đồng chí, chiếm tỷ lệ 18,98%. Đại biểu là người dân tộc thiểu số có 167 đồng chí, chiếm tỷ lệ 10,53%.
Có 1 đại biểu là Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, chiếm 0,06%; 10 đại biểu là Nhà giáo ưu tú, chiếm 0,63%; 10 đại biểu là Thầy thuốc nhân dân, Thầy thuốc ưu tú, chiếm 0,63%; 3 đại biểu là Nghệ sĩ nhân dân, Nghệ sĩ ưu tú, chiếm 0,19%.
Tham dự Đại hội có các đại biểu khách mời: 205 đại biểu là khách mời trong nước, bao gồm 128 đồng chí nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng (chính thức và dự khuyết) từ khoá IV đến khoá VIII; 16 đồng chí Phó Chủ nhiệm, Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương đang công tác không là Ủy viên Trung ương Đảng khoá XIII; 41 đồng chí phó trưởng các ban của Đảng ở Trung ương, bí thư, phó bí thư, chủ tịch hội đồng nhân dân, chủ tịch uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố, các đảng uỷ trực thuộc Trung ương nghỉ hưu trước tuổi và nghỉ hưu đúng tuổi trong năm 2025 do hợp nhất, sáp nhập và không đủ tuổi tái cử; 20 đại biểu là Mẹ Việt Nam Anh hùng, nhân sĩ, trí thức, văn nghệ sĩ, chức sắc tôn giáo tiêu biểu, thanh niên tiêu biểu.
Tham dự Đại hội có 111 vị đại sứ, đại biện các nước và trưởng đại diện các đoàn ngoại giao, các tổ chức quốc tế tại Việt Nam.
Trong phiên khai mạc, đồng chí Phạm Minh Chính, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thay mặt Đoàn Chủ tịch điều hành phiên khai mạc Đại hội.
Đồng chí Lương Cường, Uỷ viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thay mặt Đoàn Chủ tịch trình bày Diễn văn khai mạc Đại hội.
Đồng chí Tô Lâm, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá XIII trình bày Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII về các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng.
Đồng chí Bùi Thị Quỳnh Vân, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương thay mặt Đoàn Thư ký trình bày Thông báo về điện mừng của các chính đảng, tổ chức, bạn bè quốc tế và kiều bào ta gửi Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam với số lượng 559 thư, điện chúc mừng, trong đó có 109 chính đảng, 6 tổ chức quốc tế và khu vực, 16 cá nhân, 122 tổ chức nhân dân và 306 hội đoàn người Việt Nam ở nước ngoài.
Đồng chí Phạm Minh Chính, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thay mặt Đoàn Chủ tịch và toàn thể Đại hội phát biểu ý kiến bày tỏ sự trân trọng, cảm ơn tình cảm hữu nghị, sự hợp tác, quan tâm, cổ vũ, ủng hộ và giúp đỡ quý báu của các chính đảng, các tổ chức và bạn bè quốc tế đã dành cho Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhân dân ta; khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại đã đề ra, tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước, các chính đảng, các tổ chức và bạn bè quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.
Đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng khoá XIII trình bày Báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII. Buổi chiều ngày 20/01/2026, các đại biểu làm việc tại Đoàn, thảo luận các văn kiện Đại hội.
-Hà Lê
Văn kiện Đại hội XIV: Tầm nhìn chiến lược và yêu cầu hành động trong giai đoạn phát triển mới
Tại phiên khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng Tiểu ban Văn kiện đã trình bày Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về các văn kiện trình Đại hội.
Báo cáo tập trung làm rõ những nội dung trọng tâm và các điểm mới của hệ thống văn kiện, tạo cơ sở để Đại hội thảo luận và quyết định những định hướng lớn cho chặng đường phát triển tiếp theo của đất nước.
Hệ thống dự thảo các văn kiện trình Đại hội gồm: Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII; Dự thảo Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam; Dự thảo Báo cáo tổng kết 15 năm thi hành Điều lệ Đảng (2011–2025) và định hướng sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng. Trong đó, Dự thảo Báo cáo chính trị được xây dựng theo hướng tích hợp đồng bộ ba báo cáo lớn, tạo thành một chỉnh thể thống nhất, toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm, ngắn gọn và thuận lợi cho tổ chức thực hiện.
DẤU ẤN NHIỆM KỲ ĐẠI HỘI XIII VÀ NHỮNG BÀI HỌC LỚN CỦA 40 NĂM ĐỔI MỚIBáo cáo chính trị nhấn mạnh dấu ấn nổi bật của nhiệm kỳ Đại hội XIII trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực diễn biến nhanh, phức tạp, nhiều yếu tố khó lường. Chỉ trong một tháng, gần 5 triệu lượt cán bộ, đảng viên và nhân dân đã tham gia đóng góp hơn 14 triệu lượt ý kiến cho các dự thảo văn kiện.
Quá trình tổng hợp, tiếp thu được thực hiện nghiêm túc, khoa học, góp phần hình thành Báo cáo chính trị thể hiện sự kết tinh trí tuệ, ý chí và sức mạnh của toàn Đảng, toàn dân.
Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng Tiểu ban Văn kiện, đã trình bày Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về các văn kiện trình Đại hội. Ảnh: TTXVNKết quả toàn diện của nhiệm kỳ Đại hội XIII tiếp tục khẳng định vai trò lãnh đạo và uy tín của Đảng. Niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ không ngừng được củng cố, tạo nền tảng quan trọng để đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với khí thế, quyết tâm và khát vọng lớn hơn.
Nhìn lại chặng đường 40 năm đổi mới, Báo cáo chính trị khẳng định đường lối đổi mới của Đảng là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại. Đường lối đó nhất quán xác định Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của sự nghiệp cách mạng; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; đồng thời xây dựng và hoàn thiện ba trụ cột nền tảng gồm kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Từ thực tiễn lãnh đạo cách mạng qua bốn thập kỷ đổi mới, Báo cáo đúc kết năm bài học kinh nghiệm lớn. Trong đó, nổi bật là yêu cầu kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; giữ vững vai trò lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; quán triệt sâu sắc quan điểm “Dân là gốc”; bám sát thực tiễn, nâng cao chất lượng thể chế và hiệu lực tổ chức thực hiện; không ngừng đổi mới tư duy, nhất là tư duy chiến lược, bảo đảm sự nhất quán về mục tiêu và linh hoạt trong sách lược.
MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN VÀ CÁC QUYẾT SÁCH CHIẾN LƯỢC CHO GIAI ĐOẠN 2026-2030Trên cơ sở phương châm hành động “Đoàn kết – Dân chủ – Kỷ cương – Đột phá – Phát triển”, Báo cáo chính trị xác định mục tiêu tổng quát của giai đoạn tới là giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phát triển nhanh và bền vững đất nước; cải thiện toàn diện đời sống Nhân dân; nâng cao năng lực tự chủ, tự cường; từng bước hiện thực hóa khát vọng phát triển trong kỷ nguyên mới của dân tộc.
Các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước và đại biểu thực hiện nghi lễ chào cờ. Ảnh: TTXVNTheo đó, đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; GDP bình quân đầu người đạt khoảng 8.500 USD/năm; tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2026–2030 đạt từ 10%/năm trở lên. Tầm nhìn đến năm 2045 là xây dựng Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao, xã hội chủ nghĩa, hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh và hạnh phúc.
Để hiện thực hóa các mục tiêu đó, Báo cáo chính trị xác định 12 định hướng lớn, 6 nhiệm vụ trọng tâm và 3 đột phá chiến lược. Các nhiệm vụ và giải pháp được cụ thể hóa trong chương trình hành động với tinh thần triển khai nhanh, quyết liệt, đo lường bằng kết quả thực chất.
Tám nội dung cốt lõi được nhấn mạnh gồm: hoàn thiện thể chế và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; xác lập mô hình tăng trưởng mới dựa trên kinh tế tri thức, kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn; phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; xây dựng và phát huy giá trị văn hóa, con người Việt Nam; củng cố quốc phòng, an ninh và đối ngoại; xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; phát triển xã hội lành mạnh, kỷ cương, văn minh; củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Ba đột phá chiến lược gồm: thể chế và thực thi, nguồn nhân lực và hạ tầng đồng bộ, hiện đại tiếp tục được xác định là những đòn bẩy then chốt. Bước vào nhiệm kỳ Đại hội XIV, yêu cầu đặt ra là phải triển khai các đột phá này với cường độ cao hơn, tiến độ nhanh hơn và hiệu quả rõ nét hơn.
“DÂN LÀ GỐC” – THƯỚC ĐO CAO NHẤT CỦA HIỆU QUẢ THỰC THITheo Báo cáo chính trị, tư tưởng xuyên suốt trong Văn kiện là “Dân là gốc”. Nhân dân giữ vai trò trung tâm, là chủ thể, mục tiêu, động lực và nguồn lực của phát triển. Mọi đường lối, chính sách phải hướng tới nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân; bảo đảm quyền làm chủ; tôn trọng, lắng nghe và dựa vào Nhân dân. Đảng phải gắn bó mật thiết, tận tâm phục vụ, chịu sự giám sát và chịu trách nhiệm trước Nhân dân về mọi quyết định.
Quang cảnh phiên khai mạc Đại hội XIV của Đảng. Ảnh: TTXVN.Niềm tin của Nhân dân được tạo dựng từ việc làm, từ sự liêm chính của cán bộ, hiệu quả của bộ máy, sự công bằng trong thụ hưởng và kết quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, giải quyết kịp thời các bức xúc chính đáng của người dân và doanh nghiệp. Trong giai đoạn mới, yêu cầu đặt ra là chăm lo xây dựng thế trận lòng dân, bởi đây là nền tảng của quốc phòng, an ninh và điều kiện để cải cách đi tới cùng.
Văn kiện chỉ rõ hạn chế lớn là nhiều chủ trương đúng nhưng tổ chức thực hiện chưa đạt yêu cầu, vì vậy nhấn mạnh yêu cầu hành động và trách nhiệm của từng cấp, từng ngành, từng cán bộ; khắc phục tình trạng nói nhiều làm ít, thiếu kiểm tra, giám sát, triển khai chậm và hiệu quả thấp.
Để chuyển quyết tâm thành kết quả, cần tập trung vào năm nhóm việc: cụ thể hóa mục tiêu và trách nhiệm; tăng cường kiểm tra, giám sát, khen thưởng và xử lý kịp thời; huy động, sử dụng hiệu quả nguồn lực, chống lãng phí; xây dựng văn hóa công vụ liêm chính, lấy sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp làm thước đo; và làm tốt công tác thông tin, truyền thông để tạo đồng thuận xã hội.
Việc tổ chức thực hiện phải gắn với kỷ luật, kiểm soát quyền lực, minh định trách nhiệm, xử lý sai phạm và ghi nhận, bảo vệ những nỗ lực vì dân, vì nước. Trên nền tảng truyền thống, thành quả đổi mới, sức mạnh đại đoàn kết và thế trận lòng dân, đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu tạo chuyển biến thực chất và phát triển bứt phá.
-Hà Lê
Khai mạc trọng thể Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam
Đại hội có chủ đề: Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030; tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, vì hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Đoàn Chủ tịch Đại hội gồm 16 đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị khóa XIII: Tổng Bí thư Tô Lâm, Chủ tịch Đoàn Chủ tịch; Chủ tịch nước Lương Cường; Bí thư Đảng ủy Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính; Bí thư Đảng ủy Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn; Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương Trần Cẩm Tú; Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Lê Minh Hưng; Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Nội chính Trung ương Phan Đình Trạc; Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương Nguyễn Xuân Thắng; Bí thư Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Bùi Thị Minh Hoài; Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Hòa Bình; Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Quốc hội, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Đỗ Văn Chiến; Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Đại tướng Phan Văn Giang; Bí thư Đảng ủy Công an Trung ương, Bộ trưởng Bộ Công an, Đại tướng Lương Tam Quang; Thường trực Tiểu ban Văn kiện Đại hội XIV của Đảng Nguyễn Văn Nên; Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, Đại tướng Nguyễn Trọng Nghĩa; Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Duy Ngọc. Dự phiên khai mạc trọng thể có các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đồng chí lão thành cách mạng, các Mẹ Việt Nam Anh hùng, các nhân sĩ, trí thức, văn nghệ sĩ, chức sắc tôn giáo và đại diện thế hệ trẻ tiêu biểu.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng khai mạc trọng thể tại Trung tâm Hội nghị quốc gia (Hà Nội).Các vị Đại sứ, đại diện các nước, Trưởng đại diện các tổ chức quốc tế thường trú và không thường trú tại Việt Nam đã dự phiên khai mạc Đại hội.
Tham dự Đại hội có 1.586 đại biểu, đại diện cho hơn 5,6 triệu đảng viên trong cả nước.
Đông đảo phóng viên các cơ quan thông tấn, báo chí trong nước và nước ngoài tới đưa tin về Đại hội.
Đồng chí Phạm Minh Chính, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ điều hành Phiên khai mạc Đại hội.
Đồng chí Phạm Minh Chính, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ điều hành Phiên khai mạc Đại hội.Đọc diễn văn, tuyên bố khai mạc Đại hội, đồng chí Lương Cường, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước, khẳng định Đại hội lần thứ XIV của Đảng là sự kiện chính trị trọng đại của đất nước, mang ý nghĩa bước ngoặt lịch sử, hướng tới kỷ niệm 100 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930 – 3/2/2030), tập trung cao độ ý chí, nguyện vọng và quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong việc xác định tầm nhìn, mục tiêu và định hướng phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Sau 40 năm thực hiện đường lối Đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện, có ý nghĩa lịch sử. Quy mô và tiềm lực nền kinh tế được nâng lên; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện; uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được củng cố. Tuy nhiên, Chủ tịch nước cũng chỉ rõ đất nước vẫn đang đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức và hạn chế. Tăng trưởng vẫn dưới mức tiềm năng, chưa thật bền vững; năng suất lao động chưa cao, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn hạn chế; đời sống một bộ phận nhân dân còn khó khăn; biến đổi khí hậu, thảm họa thiên nhiên, dịch bệnh, an ninh mạng và các thách thức phi truyền thống còn tác động phức tạp rất phức tạp kéo theo nhiều hệ lụy.
Trong bối cảnh đó, Đại hội XIV có trách nhiệm lịch sử rất to lớn. Không chỉ đề ra mục tiêu, định hướng cho nhiệm vụ cho nhiệm kỳ 2026–2030, Đại hội còn quyết định những vấn đề mang tầm chiến lược đối với tương lai và vận mệnh dân tộc trong nhiều thập niên tới, nhằm tiếp tục khơi dậy mạnh mẽ khát vọng phát triển, niềm tự hào, ý chí tự cường dân tộc, khơi thông mọi nguồn lực, mọi động lực phát triển, phát huy sức mạnh nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh của thời đại; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Đồng chí Lương Cường, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước đọc diễn văn, tuyên bố khai mạc Đại hội.Chủ tịch nước khẳng định Đại hội XIV là Đại hội khởi đầu cho kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc, với phương châm “Đoàn kết – Dân chủ – Kỷ cương – Đột phá – Phát triển”, thể hiện rõ yêu cầu vừa giữ vững những nguyên tắc căn bản của Đảng, vừa thúc đẩy đổi mới mạnh mẽ về tư duy và hành động, nhằm xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Tại phiên khai mạc, đồng chí Tô Lâm, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng, trình bày Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về các văn kiện Đại hội XIV. Tổng Bí thư nhấn mạnh Đại hội XIV là dấu mốc mở ra chặng đường phát triển mới của đất nước trong bối cảnh cục diện thế giới và khu vực có nhiều thay đổi, đặt ra những yêu cầu mới về tự chủ chiến lược, tự lực, tự cường và năng lực thích ứng. Đại hội là Đại hội của khát vọng vươn lên, của niềm tin kiên định vào con đường mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam đã lựa chọn.
Đại hội diễn ra trong thời điểm có ý nghĩa lịch sử đặc biệt, khi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân hướng tới hai mốc son chiến lược: 100 năm đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam (1930–2030) và 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1945–2045). Từ đó, yêu cầu đặt ra là phải nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng tình hình; kiên quyết đổi mới tư duy, hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực quản trị quốc gia; hành động mạnh mẽ, quyết liệt, đột phá và hiệu quả.
Đồng chí Tô Lâm, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đọc Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về các văn kiện Đại hội XIV của Đảng.Tổng Bí thư cho biết, hệ thống dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV gồm bốn nội dung lớn: Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII; Dự thảo Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua; Dự thảo Báo cáo tổng kết 15 năm thi hành Điều lệ Đảng (2011–2025) và đề xuất định, hướng sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng; cùng Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV. Trong đó, Dự thảo Báo cáo chính trị được xây dựng theo hướng tích hợp đồng bộ các báo cáo về chính trị, kinh tế – xã hội và công tác xây dựng Đảng, tạo thành một chỉnh thể thống nhất, toàn diện, rõ trọng tâm, trọng điểm, ngắn gọn, dễ hiểu và dễ triển khai.
Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV được xác định là đột phá quan trọng, chỉ rõ “chủ thể, lộ trình, nguồn lực và đích đến”, nhằm bảo đảm các quyết sách của Đại hội được triển khai đồng bộ, hiệu quả trong thực tiễn. Trên cơ sở đó, Bộ Chính trị, được sự ủy quyền của Hội nghị Trung ương 15 khóa XIII, đề xuất Đại hội cho chủ trương tổng kết 100 năm sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với cách mạng Việt Nam (1930–2030) và định hướng phát triển đất nước trong 100 năm tiếp theo (2030–2130), đồng thời tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Quá trình chuẩn bị các văn kiện Đại hội được tiến hành công phu, nghiêm túc, chặt chẽ và khoa học, kế thừa những giá trị, kinh nghiệm của các kỳ đại hội trước, đồng thời thể hiện rõ sự đổi mới mạnh mẽ trong tư duy phát triển, bám sát thực tiễn và tôn trọng các quy luật khách quan. Từng nhận định, mục tiêu và giải pháp đều được xây dựng trên cơ sở tổng kết thực tiễn sâu sắc, gắn với yêu cầu hành động cụ thể, bảo đảm tính khả thi trong tổ chức thực hiện.
Trong suốt quá trình hoàn thiện văn kiện, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị và Ban Bí thư đặc biệt coi trọng việc phát huy trí tuệ tập thể, mở rộng dân chủ, lắng nghe ý kiến của cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân, đội ngũ trí thức, nhà khoa học, doanh nhân, văn nghệ sĩ, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang và đồng bào Việt Nam ở trong và ngoài nước. Đây được xem là nền tảng quan trọng để các quyết sách của Đại hội XIV phản ánh đầy đủ ý chí, nguyện vọng và lợi ích chính đáng của nhân dân, tạo sự đồng thuận xã hội cao trong quá trình triển khai.
Với ý nghĩa và tầm vóc của một dấu mốc lịch sử, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam được kỳ vọng sẽ mở ra chặng đường phát triển mới, tạo động lực mạnh mẽ để đất nước bứt phá, hiện thực hóa khát vọng xây dựng một Việt Nam hùng cường, phồn vinh, văn minh và hạnh phúc trong kỷ nguyên mới.
Thay mặt Đoàn thư ký Đại hội, đồng chí Bùi Thị Quỳnh Vân, Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIII, Phó trưởng Ban Tổ chức Trung ương, thông báo về thư, điện mừng của các chính đảng, tổ chức, bạn bè quốc tế, hội đoàn người Việt Nam ở nước ngoài gửi tới chúc mừng Đại hội lần thứ XIV của Đảng, bày tỏ tình cảm hữu nghị, hợp tác và thể hiện sự quan tâm sâu sắc đối với sự kiện chính trị quan trọng của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam.
Tính đến ngày 19/1/2026, Đại hội nhận được 559 thư, điện mừng từ 109 chính đảng, 6 tổ chức quốc tế và khu vực, 16 cá nhân, 122 tổ chức nhân dân và 306 hội đoàn người Việt Nam ở nước ngoài. Đây là nguồn cổ vũ, động viên to lớn đối với công cuộc đổi mới của nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, cũng là biểu hiện sinh động của quan hệ hợp tác, hữu nghị ngày càng sâu sắc giữa Đảng ta với các chính đảng, tổ chức, bạn bè quốc tế và kiều bào ở nước ngoài.
-Lý Hà
Sửa đổi Luật Hộ tịch nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người dân
Chiều 19/1, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Ngọc chủ trì họp Tổ soạn thảo và Tổ giúp việc dự án Luật Hộ tịch (sửa đổi).
Theo dự thảo tờ trình, dự án Luật Hộ tịch sửa đổi, bổ sung, lược bỏ 71/77 điều của Luật Hộ tịch năm 2014 nhằm thực hiện chủ trương sắp xếp, tổ chức bộ máy theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.
Đồng thời cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính; bảo đảm quyền nhân thân, quyền công dân của cá nhân, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người dân.
Mặt khác, nâng cấp, phát triển Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử đáp ứng nhu cầu chuyển đổi số quốc gia; chuyên nghiệp hóa đội ngũ công chức hộ tịch bảo đảm tiêu chuẩn, năng lực phù hợp với vị trí việc làm; nâng cao chất lượng, hiệu quả thực thi nhiệm vụ quản lý nhà nước về hộ tịch.
Cụ thể, dự thảo sửa đổi các quy định về phân quyền đăng ký hộ tịch; thủ tục đăng ký hộ tịch tại UBND cấp xã theo hướng đơn giản hóa thủ tục hành chính; thực hiện đăng ký hộ tịch không phụ thuộc vào nơi cư trú, ưu tiên khai thác, sử dụng dữ liệu điện tử.
Dự kiến sẽ cắt giảm các giấy tờ không cần thiết hoặc đã có thông tin trong cơ sở dữ liệu. Cơ quan đăng ký hộ tịch phải chủ động khai thác, tra cứu thông tin qua các cơ sở dữ liệu; không yêu cầu người dân phải nộp, xuất trình khi thực hiện đăng ký hộ tịch .
Phương thức nộp, tiếp nhận, trả kết quả đăng ký hộ tịch theo hướng linh hoạt, thuận lợi hơn. Người dân có quyền lựa chọn nộp hồ sơ đăng ký hộ tịch theo phương thức trực tiếp hoặc gửi qua hệ thống bưu chính hoặc nộp hồ sơ trực tuyến.
Tuy nhiên, ngoại trừ thủ tục đăng ký kết hôn, đăng ký nhận cha, mẹ, con, đăng ký giám hộ - là các việc hộ tịch cần xác định trực tiếp các bên còn sống, đủ năng lực hành vi dân sự hoặc đủ khả năng thực hiện trách nhiệm giám hộ tại thời điểm xác lập việc đăng ký.
Theo dự thảo, đăng ký khai sinh chủ động đối với các trường hợp sinh mà người thân thích đã cung cấp đủ nội dung đăng ký khai sinh; đăng ký khai tử với các trường hợp tử vong tại cơ sở khám, chữa bệnh; dữ liệu khai sinh, khai tử được kết nối, chia sẻ tự động tới hệ thống đăng ký, quản lý hộ tịch điện tử…
Góp ý tại buổi làm việc, đại diện Bộ Công an đề nghị nghiên cứu bổ sung nội dung quy định khai sinh tự nhiên cho trẻ em kể cả khi chưa xác định được quốc tịch của cha hoặc mẹ nhằm bảo đảm quyền của trẻ em.
Một số chuyên gia cho rằng cần tăng cường, hoàn thiện, củng cố đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác hộ tịch; bổ sung thêm cụm từ “người gốc Việt Nam” vào phần giải thích từ ngữ; bổ sung thêm nhóm “người câm điếc” vào diện thực hiện việc đăng ký hộ tịch, khai thác thông tin hộ tịch từ Sổ hộ tịch, Cơ sở dữ liệu hộ tịch thông qua người đại diện…
Kết luận buổi làm việc, Thứ trưởng Nguyễn Thanh Ngọc nhấn mạnh cần thống nhất nguyên tắc, chỉ đưa vào luật những vấn đề mang tính chất khung, nguyên tắc và ổn định, lâu dài.
Sau sắp xếp, từ 01/7/2025, cả nước có 3.321 đơn vị hành chính cấp xã vận hành theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Qua rà soát, tính đến ngày 15/10/2025 có hơn 8.000 công chức làm công tác hộ tịch tại địa phương.
-Đỗ Mến
Xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam hiện đại, lớn mạnh trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc
Kính thưa đồng chí, trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế và hội nhập quốc tế hiện nay, đồng chí đánh giá như thế nào về vai trò, vị trí và sự phát triển của giai cấp công nhân Việt Nam sau 40 năm đổi mới?
Kể từ khi ra đời đến nay, đặc biệt là trong 40 năm đổi mới vừa qua, giai cấp công nhân nước ta luôn khẳng định sứ mệnh lịch sử, vai trò và vị trí của mình là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong của mình là Đảng Cộng sản Việt Nam. Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, giai cấp công nhân tiếp tục giữ vai trò nòng cốt, trực tiếp duy trì và phát triển sản xuất, tạo ra phần lớn của cải vật chất, đóng góp chủ yếu vào ngân sách nhà nước.
Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, cả nước hiện có khoảng 17,5 triệu lao động trong lĩnh vực công nghiệp – xây dựng và 21,2 triệu lao động trong khu vực dịch vụ, chiếm khoảng 39% dân số và 73,6% lực lượng lao động xã hội. Chất lượng và trình độ tay nghề từng bước được nâng lên; tỉ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 64,5% năm 2020 lên 70% năm 2025, trong đó tỉ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ tăng từ 24,1% năm 2020 lên khoảng 29,2% năm 2025. Đặc biệt, đã có một lớp công nhân trẻ, làm chủ khoa học – công nghệ đang hình thành, thể hiện sức bật mới của giai cấp công nhân Việt Nam trong kỷ nguyên số.
Theo ghi nhận của các cấp Công đoàn, trong thời gian qua, đời sống vật chất và tinh thần của công nhân được cải thiện. Việc làm cơ bản ổn định; thu nhập và tiền lương được nâng lên; môi trường làm việc không ngừng được cải thiện; quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ, số vụ tranh chấp và ngừng việc tập thể giảm mạnh. Quy chế dân chủ ở cơ sở được mở rộng; chính sách an sinh và phúc lợi xã hội ngày càng phát triển.
Với vai trò là tổ chức đại diện lớn nhất của người lao động, Công đoàn Việt Nam đã triển khai những giải pháp trọng tâm nào?
Là “tổ chức đại diện lớn nhất, trung tâm tập hợp, đoàn kết giai cấp công nhân và người lao động cả nước”, Công đoàn Việt Nam đã triển khai nhiều giải pháp tham gia cùng cả hệ thống chính trị xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam hiện đại, lớn mạnh, là lực lượng tiên phong trong thực hiện nhiệm vụ phát triển nhanh và bền vững đất nước.
Một là, tăng cường công tác bồi dưỡng, giáo dục, nâng cao trình độ chính trị, pháp luật, ý thức giai cấp, tinh thần dân tộc cho giai cấp công nhân. Công đoàn đã chủ động, linh hoạt lựa chọn nhiều hình thức, trong đó ứng dụng công nghệ số để đổi mới phương thức tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật; biên soạn và phát hành lượng lớn tài liệu phục vụ giáo dục chính trị, tư tưởng. Các hoạt động tư vấn, hỗ trợ pháp lý, công đoàn đã nâng cao nhận thức pháp luật. năng lực tự bảo vệ quyền lợi của người lao động, góp phần xây dựng mối quan hệ hài hòa, ổn định và tiến bộ trong doanh nghiệp.
Việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được thực hiện thường xuyên. Các hoạt động văn hóa và mạng lưới tuyên truyền viên phát huy hiệu quả. Các mô hình thiết chế văn hóa, tổ tự quản tại khu nhà trọ, hoạt động chăm lo đời sống tinh thần tiếp tục được nhân rộng. Hàng năm, có trên 80% đoàn viên, người lao động được học tập, quán triệt chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước và các quy định của cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp.
Hai là, tích cực tham gia đào tạo, nâng cao trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp, nâng cao năng suất lao động cho công nhân lao động. Công tác vận động đoàn viên, người lao động học tập suốt đời có nhiều mô hình hiệu quả được nhân rộng; chủ động đề xuất với chính quyền, thương lượng với người sử dụng lao động tạo điều kiện cho công nhân tham gia học tập, nâng cao tay nghề. Các cấp công đoàn đã chủ động phối hợp tổ chức nhiều hoạt động như: xây dựng quỹ khuyến học, điểm học tập; phối hợp tổ chức các lớp đào tạo, đào tạo lại; khuyến khích mô hình kèm cặp giữa công nhân bậc cao và công nhân mới.
Ba là, tạo dựng môi trường để công nhân rèn luyện và trưởng thành thông qua các phong trào thi đua yêu nước và các cuộc vận động rộng khắp cả nước. Phong trào thi đua yêu nước, “Lao động giỏi, Lao động sáng tạo” đã có hàng triệu sáng kiến, giá trị làm lợi hàng trăm nghìn tỷ đồng đã khơi dậy mạnh mẽ tinh thần sáng tạo, ý thức kỷ luật và trách nhiệm xã hội của công nhân, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả lao động trên phạm vi cả nước. Tỷ lệ khen thưởng cho công nhân lao động trực tiếp, người không giữ chức vụ lãnh đạo đạt 35,5%, vượt chỉ tiêu đề ra, thể hiện rõ định hướng lấy đoàn viên, người lao động làm trung tâm, hướng mạnh khen thưởng về cơ sở, nơi trực tiếp tổ chức và hưởng ứng các phong trào thi đua.
Bốn là, Công đoàn Việt Nam tiếp tục khẳng định vai trò đại diện, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động. Các cấp công đoàn đã tham gia góp ý hàng nghìn văn bản quy phạm pháp luật; tham gia hiệu quả Hội đồng Tiền lương quốc gia, đề xuất điều chỉnh tiền lương tối thiểu; phản ánh tâm tư, nguyện vọng của công nhân, người lao động với các cấp ủy và chính quyền; đồng thời nâng cao chất lượng đối thoại và thương lượng tập thể. Kết quả, đã có 80,42% bản thỏa ước lao động tập thể được ký kết với nhiều điều khoản có lợi hơn cho người lao động như tiền lương, tiền thưởng, định mức lao động, an toàn, vệ sinh lao động, điều kiện làm việc, bữa ăn giữa ca...
Các chính sách phúc lợi đoàn viên trở thành điểm tựa thiết thực cho hàng triệu người lao động. Chương trình “Mái ấm Công đoàn”, “Tết Sum vầy”, “Tháng Công nhân” được triển khai sâu rộng; đã hình thành và triển khai một số mô hình mới về chăm lo, thu được kết quả tích cực, tiêu biểu như “Bữa cơm công đoàn. Qua 2 năm tổ chức (2024, 2025), đã có hơn 20 nghìn công đoàn cơ sở tổ chức “Bữa cơm Công đoàn” với sự tham dự của hơn 5 triệu đoàn viên. Có gần 23 triệu lượt đoàn viên, người lao động được chăm lo trong dịp Tết Nguyên đán với tổng số tiền gần 15 nghìn tỷ đồng.
Năm là, Công đoàn Việt Nam tăng cường phối hợp với các cấp, các ngành trong xây dựng giai cấp công nhân hiện đại, lớn mạnh; phát huy vai trò nòng cốt của giai cấp công nhân trong liên minh với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, đồng thời thúc đẩy quá trình “trí thức hóa” công nhân. Qua đó, nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp và tư duy sáng tạo của công nhân, góp phần xây dựng lực lượng lao động hiện đại, năng động, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Giai đoạn 2023-2025, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã trao 1.457 Bằng lao động sáng tạo cho các cá nhân tiêu biểu, xuất sắc.
Theo nhận định của đồng chí, đâu là những thách thức lớn hiện nay đối với tổ chức Công đoàn và công nhân?
Bên cạnh những kết quả quan trọng đạt được, thực tiễn cho thấy, nhiệm vụ xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam vẫn đứng trước nhiều thách thức, đó là:
Thứ nhất, sự phát triển của giai cấp công nhân chưa theo kịp yêu cầu của mô hình tăng trưởng và chiến lược phát triển đất nước. Chất lượng nguồn nhân lực công nhân còn hạn chế; cơ cấu lao động kỹ thuật mất cân đối, thiếu hụt lực lượng công nhân lành nghề, công nhân kỹ thuật cao và công nhân có năng lực làm chủ công nghệ hiện đại. Lực lượng công nhân trẻ đông nhưng thiếu ổn định, tuổi nghề ngắn, nguy cơ dịch chuyển sang khu vực phi chính thức ngày càng nhiều, làm suy giảm tính bền vững của giai cấp công nhân trong dài hạn.
Thứ hai, những bất cập kéo dài trong phân phối lợi ích và bảo đảm an sinh xã hội làm suy giảm động lực phấn đấu của công nhân. Việc làm chưa bền vững; tiền lương tối thiểu chưa đủ sống; chênh lệch thu nhập giữa các nhóm lao động và giữa các khu vực còn lớn. Hệ thống phúc lợi xã hội, nhất là nhà ở, nhà gửi trẻ, cơ sở y tế và nơi học tập, sinh hoạt văn hóa tinh thần còn thiếu, làm gia tăng phân hóa trong nội bộ giai cấp công nhân và tiềm ẩn nguy cơ mất ổn định trong quan hệ lao động.
Thứ ba, mô hình quản trị nhân lực chậm đổi mới, chưa phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững. Cường độ lao động cao, thời giờ làm việc kéo dài vẫn phổ biến, trong khi việc đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất và chất lượng nguồn nhân lực chưa tương xứng. Điều này hạn chế khả năng tái tạo sức lao động, học tập nâng cao kỹ năng và chăm lo đời sống toàn diện của công nhân, ảnh hưởng lâu dài đến sức cạnh tranh quốc gia.
Thứ tư, công tác tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận về giai cấp công nhân chưa đáp ứng yêu cầu của bối cảnh mới. Nhiều vấn đề mới nảy sinh chưa được luận giải đầy đủ; chưa hình thành được các chủ trương, chính sách đột phá trong xây dựng giai cấp công nhân.
Thứ năm, ý thức giai cấp, bản lĩnh chính trị và hiểu biết pháp luật của một bộ phận công nhân còn hạn chế; công tác phát hiện, bồi dưỡng công nhân ưu tú để đào tạo, bố trí vào hệ thống chính trị còn bất cập. Hoạt động công đoàn, nhất là ở doanh nghiệp ngoài nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn nhiều khó khăn; việc pháp luật cho phép thành lập tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp có nguy cơ bị lợi dụng để chia rẽ giai cấp công nhân đặt ra những thách thức mới đối với sự lãnh đạo của Đảng.
Thưa đồng chí, để xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam hiện đại, lớn mạnh, Tổng LĐLĐVN sẽ đề xuất với Trung ương Đảng và Đại hội một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm nào?
Để xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam hiện đại, lớn mạnh, Tổng LĐLĐVN đề xuất với Trung ương Đảng và Đại hội 5 nội dung chính.
Một là, ban hành chiến lược xây dựng giai cấp công nhân gắn với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, cụ thể hóa định hướng xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam hiện đại, lớn mạnh, gắn với sự phát triển của khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo. Chú trọng nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động để giai cấp công nhân Việt Nam thích ứng, phát triển, làm chủ tri thức, công nghệ, hội nhập quốc tế và phát huy sáng kiến, đổi mới sáng tạo trong kỷ nguyên phát triển mới.
Hai là, đảm bảo phân phối hài hòa lợi ích giữa người lao động, người sử dụng lao động và xã hội mà nền tảng là ban hành quy định về mức sống tối thiểu thay cho tiền lương tối thiểu. Cần mở rộng hệ thống phúc lợi và an sinh xã hội, quan tâm tới bảo hiểm xã hội, nhà ở, nhà trẻ, mẫu giáo, y tế, giáo dục và đời sống văn hóa tinh thần của công nhân; thúc đẩy trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, khuyến khích chia sẻ lợi ích công bằng, tạo việc làm bền vững, tiền lương đủ sống và đầu tư cho phát triển con người.
Ba là, nghiên cứu giảm thời giờ làm việc, nâng cao chất lượng cuộc sống của người lao động, gắn với nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh quốc gia. Đây là nhu cầu chính đáng giúp công nhân tái tạo sức lao động, chăm lo đời sống tinh thần, chăm sóc gia đình, con cái, đồng thời có thêm điều kiện học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, thúc đẩy năng suất, chất lượng nguồn nhân lực và sức cạnh tranh của nền kinh tế, qua đó khẳng định vai trò tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Bốn là, chú trọng hơn nữa công tác nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn về xây dựng giai cấp công nhân. Chỉ đạo toàn hệ thống chính trị tổng kết 20 năm triển khai Nghị quyết số 20-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về “Tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, trên cơ sở đó hình thành chủ trương mới lãnh đạo xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam hiện đại, lớn mạnh, trong trong kỷ nguyên phát triển mới.
Năm là, đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự phối hợp, ủng hộ của Nhà nước và hệ thống chính trị để phát huy vai trò của Công đoàn Việt Nam trong xây dựng giai cấp công nhân hiện đại, lớn mạnh. Hoàn thiện cơ chế, chủ động đấu tranh, ngăn chặn việc lợi dụng quyền thành lập tổ chức của người lao động để chia rẽ giai cấp công nhân, xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước và Công đoàn. Quan tâm thúc đẩy kết nạp đoàn viên công đoàn ưu tú vào Đảng, nhất là tại các doanh nghiệp chưa có tổ chức cơ sở đảng.
Với niềm tin tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng và thành công tốt đẹp của Đại hội XIV, giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn Việt Nam nguyện đoàn kết một lòng, phát huy truyền thống vẻ vang, tinh thần tiên phong cách mạng, vững bước tiến lên dưới lá cờ vinh quang của Đảng Cộng sản Việt Nam, quyết tâm nỗ lực không ngừng, chủ động, sáng tạo sớm đưa Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng vào cuộc sống; cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân chung sức, đồng lòng hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
-
Động lực đưa Cà Mau phát triển nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới
Trong không khí phấn khởi, tin tưởng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang hướng về Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng - sự kiện chính trị trọng đại, dấu mốc lịch sử mở ra kỷ nguyên phát triển vươn mình của dân tộc, hôm nay (ngày 20/1), tại Thủ đô Hà Nội, Đại hội bước vào ngày làm việc thứ hai với những nội dung nghị sự quan trọng.
Để giúp độc giả hiểu rõ hơn về quyết tâm cùng những giải pháp chiến lược của Cà Mau trong việc đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước trong giai đoạn phát triển mới, Báo và phát thanh, truyền hình Cà Mau phỏng vấn đồng chí Nguyễn Hồ Hải, Bí thư Tỉnh uỷ, Trưởng đoàn đại biểu tỉnh Cà Mau dự Đại hội XIV của Đảng.
VnEconomy trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc nội dung cuộc phỏng vấn.
Xin đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ cho biết, để thực hiện thành công Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030, tỉnh Cà Mau có giải pháp gì để huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực?
Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030 là một dấu mốc lịch sử đặc biệt. Đây là nhiệm kỳ đầu tiên sau khi hợp nhất tỉnh (Bạc Liêu và Cà Mau), mở ra không gian phát triển mới với tiềm lực và vị thế mới. Để chuyển hoá những định hướng trong Nghị quyết thành hiện thực, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh xác định việc huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực là yếu tố then chốt, mang tính quyết định.
Thứ nhất, huy động nguồn lực tài chính và đầu tư. Quán triệt quan điểm “vốn Nhà nước là vốn mồi, dẫn dắt và kích hoạt mọi nguồn lực xã hội”, Cà Mau sẽ tập trung đẩy mạnh cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh để thu hút các nhà đầu tư chiến lược, các tập đoàn lớn trong và ngoài nước, đặc biệt là trong các lĩnh vực năng lượng tái tạo, kinh tế biển và hạ tầng logistics.
Tỉnh sẽ đa dạng hoá các hình thức đầu tư, đặc biệt là hợp tác công - tư (PPP) để hoàn thiện hệ thống hạ tầng giao thông, hạ tầng đô thị. Trong sử dụng nguồn lực tài chính, tỉnh quán triệt nguyên tắc “trọng tâm, trọng điểm, không dàn trải”; ưu tiên vốn đầu tư công cho các công trình hạ tầng giao thông kết nối liên vùng, hạ tầng ứng phó biến đổi khí hậu và các dự án an sinh xã hội cấp thiết.
Đồng thời, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, đảm bảo mỗi đồng vốn đầu tư đều mang lại hiệu quả thiết thực cho sự phát triển của tỉnh và đời sống của người dân.
Thứ hai, phát triển nguồn nhân lực, xác định đây là nguồn lực quý giá nhất. Nghị quyết Đại hội lần thứ I, Đảng bộ tỉnh đã xác định “Đột phá phát triển nguồn nhân lực” là một trong ba đột phá chiến lược.
Tỉnh tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có tư duy đổi mới, khát vọng cống hiến và năng lực thực thi công vụ chuyên nghiệp. Đồng thời, thực hiện các chính sách thu hút nhân tài, chuyên gia đầu ngành; liên kết với các cơ sở đào tạo lớn để đào tạo nguồn lao động kỹ thuật cao, đáp ứng trong tình hình mới.
Thứ ba, nguồn lực từ cơ chế và thể chế được xác định là “nguồn lực của nguồn lực”. Cà Mau đã và đang tích cực kiến nghị Trung ương cho phép thí điểm các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm phát huy lợi thế của tỉnh địa đầu cực Nam. Tỉnh tập trung đột phá về thể chế, đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật tại địa phương; tập trung tháo gỡ các “điểm nghẽn” về thủ tục đất đai, giải phóng mặt bằng để đẩy nhanh tiến độ các dự án trọng điểm.
Thứ tư, huy động nguồn lực từ sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân. Trung ương đã xác định quan điểm chỉ đạo phát triển đất nước: “Chính trị dẫn đường, văn hoá soi đường, khoa học định hình, Nhân dân thực thi”. Mọi chủ trương của Đảng chỉ thành công khi có sự đồng thuận và chung sức của Nhân dân, tỉnh sẽ phát huy mạnh mẽ tinh thần tự lực, tự cường, tự hào, tự tin, khơi dậy khát vọng vươn lên của mỗi người dân Cà Mau, tạo thành sức mạnh tổng hợp để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra.
Việc tận dụng và khai thác các tiềm năng, lợi thế của tỉnh để thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh và bền vững được quan tâm thực hiện như thế nào, thưa đồng chí?
Cà Mau sau hợp nhất có diện tích tự nhiên hơn 7.942 km, dân số trên 2,6 triệu người, đặc biệt là bờ biển dài 310 km, có 3 mặt giáp biển, với vùng biển rộng trên 120.000 km.
Để tiềm năng được phát huy tối đa, Nghị quyết Đại hội lần thứ I Đảng bộ tỉnh xác định tập trung vào 4 trụ cột chiến lược: (1) Hoàn thiện hạ tầng giao thông kết nối, nhất là hệ thống cao tốc, sân bay, cảng biển để triển khai thực hiện các khu kinh tế, các khu, cụm công nghiệp có lợi thế; phát triển đồng bộ hạ tầng số. (2) Phát triển kinh tế biển: phát triển mạnh năng lượng tái tạo (nhất là điện gió, hướng đến xuất khẩu điện); nâng cao hiệu quả khai thác biển, gắn với bảo vệ chủ quyền quốc gia; đầu tư và từng bước khai thác hiệu quả cảng biển; phát triển công nghiệp chế biến giá trị gia tăng cao. (3) Phát triển nông nghiệp sạch, công nghệ cao, chủ lực là tôm và lúa; (4) Đẩy mạnh phát triển dịch vụ - du lịch: Dựa trên lợi thế sẵn có và giá trị lịch sử, bản sắc văn hoá đặc sắc của địa phương. Trong đó:
Thứ nhất, về hạ tầng: Đẩy nhanh tiến độ triển khai các công trình, dự án và giải ngân vốn đầu tư công ngay từ đầu nhiệm kỳ, lấy đầu tư công dẫn dắt, kích hoạt đầu tư xã hội, thúc đẩy hợp tác công - tư; đặc biệt là các dự án quan trọng, chiến lược đã có chủ trương, ý kiến chỉ đạo của Trung ương, của tỉnh theo quy hoạch. Rà soát, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc từng dự án; đặt biệt là công trình, dự án trọng tâm, trọng điểm, các chương trình mục tiêu quốc gia. Phát triển mạng lưới giao thông đồng bộ, hiện đại theo hành lang kinh tế động lực (đường bộ, thuỷ, hàng không, cảng biển).
Đầu tư các tuyến đường giao thông đến các khu vực trọng điểm phát triển kinh tế, du lịch, di tích lịch sử - văn hoá, về trung tâm các xã, liên xã, gắn với các trục giao thông chính của tỉnh, tuyến quốc lộ, cao tốc... Xây dựng hạ tầng, công trình thuỷ lợi theo hướng đa mục tiêu, vừa phục vụ sản xuất, giao thông, vận tải đường thuỷ, phòng, chống thiên tai, thích ứng biến đổi khí hậu. Có giải pháp khắc phục tình trạng khan hiếm nguồn vật liệu xây dựng (nhất là cát, đá) để bảo đảm tiến độ thi công các công trình.
Rà soát, điều chỉnh, triển khai thực hiện hiệu quả, đồng bộ các quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị, chương trình phát triển đô thị, đề án nâng loại đô thị. Huy động đa dạng nguồn lực đầu tư công trình, dự án, hạ tầng thiết yếu bảo đảm chống ngập đô thị (tại các phường: An Xuyên, Tân Thành, Lý Văn Lâm, Bạc Liêu, Vĩnh Trạch...); chỉnh trang, di dời nhà ở ven sông; cải tạo, nâng cấp cơ sở hạ tầng thiết yếu tại các đô thị. Phát triển, đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng và tăng tỷ lệ lấp đầy các khu, cụm công nghiệp, gắn với phát triển đô thị; quy hoạch, ưu tiên bố trí quỹ đất, đẩy nhanh tiến độ xây dựng phát triển nhà ở xã hội.
Tiếp tục đầu tư, nâng cấp, phát triển hạ tầng thông tin, truyền thông, hạ tầng số, giáo dục, y tế… đáp ứng yêu cầu phát triển và nhu cầu sáng tạo, văn hóa của Nhân dân. Phát triển cơ sở dữ liệu dùng chung, mạng truyền dữ liệu chuyên dùng; triển khai giải pháp số thống nhất, an toàn, kết nối thông suốt từ tỉnh đến cơ sở. Hình thành, phát triển mạng lưới trung tâm đổi mới sáng tạo; chủ động tìm kiếm công nghệ mới trong và ngoài nước, hợp tác chuyển giao công nghệ, kết quả nghiên cứu khoa học.
Thứ hai, phát triển kinh tế biển trở thành động lực tăng trưởng chính. Xác định biển là không gian sinh tồn và phát triển bền vững, tỉnh tập trung đầu tư hoàn thiện hệ thống cảng biển, đặc biệt là cảng biển Hòn Khoai, để trở thành cửa ngõ giao thương quốc tế. Phát triển mạnh công nghiệp năng lượng tái tạo (điện gió, điện mặt trời, năng lượng hydro xanh), điện khí hoá lỏng (LNG) để Cà Mau không chỉ tự chủ năng lượng mà còn trở thành trung tâm năng lượng sạch của cả nước, hướng đến xuất khẩu điện.
Bên cạnh đó, tỉnh đẩy mạnh kinh tế hàng hải, dịch vụ logistics và khai thác, nuôi trồng thuỷ hải sản theo hướng công nghiệp, công nghệ cao gắn với chế biến sâu, bảo vệ nguồn lợi và môi trường biển.
Thứ ba, lợi thế lớn của Cà Mau là con tôm và rừng ngập mặn. Tỉnh sẽ tập trung phát triển chuỗi giá trị ngành tôm theo hướng quy mô lớn, ứng dụng công nghệ hiện đại, hướng tới thị trường xuất khẩu cao cấp. Khai thác giá trị kinh tế dưới tán rừng như: tôm, cua rừng, các sản phẩm dưới tán rừng, du lịch sinh thái rừng ngập mặn,... theo hướng bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu. Đồng thời đẩy mạnh phát triển các vùng sản xuất lúa - tôm và chuyên lúa theo hướng sinh thái, công nghệ cao, hiệu quả, bền vững. Xây dựng thương hiệu nông sản Cà Mau có uy tín trên thị trường trong nước và quốc tế.
Thứ tư, phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Cà Mau sở hữu những địa danh mang tính biểu tượng quốc gia, cùng với hệ sinh thái rừng ngập mặn đặc sắc, điển hình là Khu Ramsar Mũi Cà Mau rộng gần 42.000 ha. Từ lợi thế này, tỉnh tập trung đầu tư hạ tầng du lịch đồng bộ, đa dạng hoá các loại hình: du lịch sinh thái, du lịch văn hoá - lịch sử, du lịch nghỉ dưỡng biển đảo. Đặc biệt, tỉnh sẽ chú trọng phát triển các sản phẩm du lịch mang đậm bản sắc văn hoá vùng sông nước, biến Cà Mau thành điểm đến không thể bỏ qua trên bản đồ du lịch Việt Nam.
Trong quá trình khai thác tiềm năng, lợi thế, tỉnh kiên trì quan điểm “Phát triển nhanh nhưng phải bền vững”, tuyệt đối không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần. Mọi dự án đầu tư đều phải qua sàng lọc nghiêm ngặt về tác động môi trường. Tỉnh tập trung vào kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn để bảo vệ hệ sinh thái đa dạng sinh học độc đáo của tỉnh cho các thế hệ mai sau.
Xin đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ cho biết thêm, Cà Mau đã có những kế hoạch, giải pháp nào để phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn mới sau hợp nhất tỉnh?
Giai đoạn 2025-2030 là thời kỳ Cà Mau phải bứt phá mạnh mẽ để “vững tin cùng cả nước bước vào kỷ nguyên mới”. Để làm được điều đó, bên cạnh việc huy động nguồn lực và khai thác tiềm năng, Cà Mau sẽ tập trung vào các nhóm giải pháp đột phá sau:
Đầu tiên, nhiệm vụ trọng tâm hiện nay là hoàn thiện và trình cấp thẩm quyền phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Cà Mau thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 ngay trong đầu năm 2026, từ đó tạo cơ sở pháp lý vững chắc để triển khai thực hiện hiệu quả, mở ra không gian phát triển mới cho tỉnh nhà. Sau hợp nhất, việc điều chỉnh quy hoạch là cấp thiết để đảm bảo tính kết nối, đồng bộ và thống nhất trong không gian phát triển. Quy hoạch phải mang tầm nhìn dài hạn nhưng vẫn đảm bảo tính linh hoạt, thích ứng cao với biến đổi khí hậu và nước biển dâng.
Tiếp đến, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, thúc đẩy chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo. Đây là giải pháp “đi tắt đón đầu” để nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh. Tỉnh tập trung xây dựng Chính quyền số để phục vụ người dân và doanh nghiệp tốt hơn; phát triển Kinh tế số, đặc biệt là trong nông nghiệp và du lịch; xây dựng Xã hội số để người dân được thụ hưởng các dịch vụ tiện ích hiện đại. Với Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo vừa được đưa vào vận hành, tỉnh cũng đồng thời ban hành các cơ chế đặc thù nhằm khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp đẩy mạnh ứng dụng công nghệ hiện đại vào quy trình sản xuất, kinh doanh.
Thứ ba, đầu tư hạ tầng giao thông mang tính kết nối liên vùng. Cà Mau đã và đang phối hợp quyết liệt triển khai các dự án giao thông trọng điểm: Đường bộ cao tốc Cà Mau - Đất Mũi (tiếp nối tuyến cao tốc Cần Thơ - Cà Mau đã đưa vào khai thác), các dự án đường bộ cao tốc khác, nâng cấp Cảng hàng không Cà Mau, đường dẫn ra Cảng tổng hợp Hòn Khoai,… để kết nối với các trung tâm kinh tế lớn. Khi hạ tầng giao thông thông suốt, thu hút đầu tư tăng lên, chi phí logistics giảm xuống, tạo lợi thế cạnh tranh rất lớn cho tỉnh.
Thứ tư, chú trọng phát triển văn hoá - xã hội, nâng cao đời sống Nhân dân. Phát triển kinh tế phải đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội. Cà Mau tập trung đầu tư cho giáo dục và y tế theo Nghị quyết 71,72 của Bộ Chính trị, thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững, đặc biệt là trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng sâu, vùng xa, vùng hải đảo. Chú trọng bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá truyền thống của vùng đất và con người Cà Mau, coi văn hoá là nền tảng tinh thần, là sức mạnh nội sinh cho sự phát triển.
Thứ năm, đảm bảo quốc phòng - an ninh và ổn định chính trị. Là tỉnh địa đầu cực Nam Tổ quốc có vị trí chiến lược, Cà Mau luôn đặt nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biên giới biển và giữ gìn an ninh trật tự là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên. Xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc, tạo môi trường hoà bình, ổn định để phát triển kinh tế. Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Tỉnh tập trung đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của các cấp uỷ, tổ chức cơ sở đảng. Xây dựng đội ngũ cán bộ có tâm, có tầm, có sức, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.
Với niềm tin tưởng sâu sắc vào sự lãnh đạo của Đảng và sức mạnh đoàn kết của Nhân dân, Đảng bộ, dân và quân Cà Mau quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ I, đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển chung của cả nước trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
-
Quyết tâm xây dựng Cao Bằng trở thành tỉnh năng động, phát triển nhanh và bền vững
Nhân dịp Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, đồng chí Phan Thăng An, Bí thư Tỉnh uỷ Cao Bằng đã trả lời phỏng vấn báo chí về những nhóm giải pháp trọng tâm nhằm quyết tâm xây dựng Cao Bằng trở thành tỉnh năng động, phát triển nhanh và bền vững.
Đại hội XIV của Đảng xác lập những định hướng lớn cho chặng đường phát triển mới của đất nước. Với Cao Bằng, đâu là quan điểm, mục tiêu cốt lõi mà tỉnh quyết tâm cụ thể hóa để tạo chuyển biến rõ nét về tốc độ, chất lượng và tính bền vững của tăng trưởng?
Đại hội XIV của Đảng đã xác lập những định hướng lớn mang tầm chiến lược cho chặng đường phát triển mới của đất nước. Đối với tăng trưởng, yêu cầu xuyên suốt là đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế trên nền tảng phát triển nhanh và bền vững. Quán triệt sâu sắc tinh thần đó, Đảng bộ tỉnh Cao Bằng xác định quan điểm và mục tiêu phát triển trong giai đoạn tới là: Huy động và phát huy cao nhất mọi nguồn lực, khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế so sánh của tỉnh, tạo đột phá về hạ tầng, thể chế và nguồn nhân lực, phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân khoảng 10%/năm, phát triển nhanh, bền vững, bảo đảm vững chắc quốc phòng - an ninh và nâng cao đời sống Nhân dân.
Quan điểm phát triển đó được cụ thể hóa thống nhất theo năm định hướng lớn:
Thứ nhất, phát triển hạ tầng chiến lược và liên kết vùng làm đòn bẩy tăng trưởng, trong đó trọng tâm là hoàn thành các tuyến giao thông động lực như cao tốc Đồng Đăng - Trà Lĩnh, cao tốc Bắc Kạn - Cao Bằng, hạ tầng cửa khẩu, logistics và hạ tầng đô thị, nhằm mở rộng không gian phát triển, kết nối sâu từ Cao Bằng với vùng Trung du miền núi phía Bắc, vùng đồng bằng Bắc Bộ và thị trường Trung Quốc, xa hơn là các nước ASEAN.
Thứ hai, tái cơ cấu mạnh mẽ nền kinh tế theo hướng xanh và bền vững với các động lực tăng trưởng chủ lực gồm: Phát triển du lịch gắn với Công viên địa chất toàn cầu UNESCO, du lịch xuyên biên giới và các di sản lịch sử - văn hóa của địa phương; phát triển kinh tế cửa khẩu, từng bước đưa Cao Bằng trở thành trung tâm trung chuyển hàng hóa, dịch vụ logistics, giao thương quốc tế trên tuyến biên giới Việt Nam - Trung Quốc; phát triển kinh tế rừng, các sản phẩm đặc hữu, xây dựng vùng nguyên liệu gắn với chế biến sâu và thị trường tiêu thụ; phát triển công nghiệp khai khoáng có kiểm soát, công nghiệp chế biến sâu nông, lâm sản.
Thứ ba, cải thiện đột phá môi trường đầu tư kinh doanh, phát triển khu vực kinh tế tư nhân, coi doanh nghiệp và người dân là trung tâm, là chủ thể của tăng trưởng; đẩy mạnh cải cách hành chính, tháo gỡ điểm nghẽn về đất đai, thủ tục hành chính và khả năng tiếp cận nguồn lực; đẩy mạnh xúc tiến đầu tư, tìm kiếm, thu hút các nhà đầu tư chiến lược, thực hiện những dự án lớn, tạo hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ.
Thứ tư, phát triển nguồn nhân lực gắn với chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, lao động kỹ thuật, gắn đào tạo với nhu cầu thị trường, các ngành kinh tế trọng điểm của tỉnh.
Thứ năm, bảo đảm hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường, nâng cao đời sống Nhân dân, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, để mọi người dân đều được tham gia, thụ hưởng thành quả phát triển, tạo nền tảng xã hội vững chắc cho phát triển nhanh và bền vững.
Với các định hướng đó, Cao Bằng quyết tâm tạo chuyển biến rõ nét cả về tốc độ, chất lượng và tính bền vững của tăng trưởng, đóng góp thiết thực vào mục tiêu phát triển chung của đất nước trong giai đoạn mới.
Từ thực tiễn phát triển của một tỉnh miền núi, biên giới còn gặp nhiều khó khăn, đồng chí xác định những khâu đột phá nào là then chốt để Cao Bằng vươn lên trở thành địa phương năng động, khai thác hiệu quả tiềm năng lợi thế, đồng thời bảo đảm quốc phòng - an ninh và an sinh xã hội?
Cao Bằng là tỉnh miền núi, biên giới có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về quốc phòng - an ninh và đối ngoại. Tuy nhiên, xuất phát điểm kinh tế - xã hội của tỉnh thấp, địa hình phức tạp, chia cắt; kết cấu hạ tầng, nhất là giao thông, đô thị, môi trường còn yếu; nguồn lực đầu tư và chất lượng nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Khu vực doanh nghiệp chủ yếu nhỏ, siêu nhỏ, sức cạnh tranh chưa cao. Những hạn chế này làm gia tăng chi phí sản xuất, lưu thông, thu hẹp không gian phát triển, ảnh hưởng trực tiếp đến việc khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế về kinh tế cửa khẩu, du lịch, tài nguyên và vị trí kết nối vùng của tỉnh
Xuất phát từ thực tiễn đó, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Cao Bằng lần thứ XX đã xác định ba khâu đột phá chiến lược, có ý nghĩa then chốt, tạo chuyển biến căn bản trong phát triển của tỉnh:
Một là, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ và nguồn nhân lực chất lượng cao với mục tiêu: Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cấp chiến lược đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn phát triển mới. Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao, nhân lực có tay nghề, kỹ thuật, công nghệ để đáp ứng nhu cầu phát triển các ngành kinh tế trọng điểm của tỉnh.
Hai là, đột phá phát triển hạ tầng giao thông, đô thị và môi trường, với trọng tâm là hoàn thiện các tuyến cao tốc: Đồng Đăng - Trà Lĩnh, Bắc Kạn - Cao Bằng, các tuyến kết nối cao tốc với các cửa khẩu quốc tế, các khu du lịch; đồng thời, phát triển hệ thống đô thị theo hướng đồng bộ, xanh, sạch, hiện đại.
Ba là, thúc đẩy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số: đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, kinh doanh, quản trị; thúc đẩy khởi nghiệp, sáng tạo. Phát triển đồng bộ chính quyền số, công dân số và kinh tế số.
Ba khâu đột phá trên được xác định vừa mang tính cấp bách, vừa có ý nghĩa lâu dài, là những “đòn bẩy” quan trọng giúp Cao Bằng tháo gỡ các điểm nghẽn, khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo động lực phát triển nhanh và bền vững, đồng thời bảo đảm vững chắc quốc phòng - an ninh và an sinh xã hội, nâng cao đời sống Nhân dân.
Trước yêu cầu xây dựng Cao Bằng trở thành tỉnh năng động, phát triển nhanh và bền vững, đồng chí muốn gửi gắm thông điệp gì đến đội ngũ cán bộ, đảng viên và Nhân dân các dân tộc tỉnh nhằm khơi dậy khát vọng phát triển, củng cố niềm tin và tạo đồng thuận trong xã hội trong giai đoạn mới?
Trước yêu cầu và thời cơ phát triển mới, tỉnh ta đang đứng trước những vận hội lớn đan xen không ít thách thức. Để hiện thực hoá mục tiêu “xây dựng Cao Bằng trở thành tỉnh năng động, phát triển nhanh và bền vững”, tôi mong muốn và kêu gọi toàn Đảng bộ, toàn dân, toàn quân, cả hệ thống chính trị phát huy truyền thống quê hương cách mạng, tinh thần đoàn kết, ý chí tự lực, tự cường, khát vọng vươn lên, chung sức, đồng lòng biến tiềm năng thành động lực phát triển thực chất, biến khát vọng thành những hành động cụ thể, hiệu quả.
Mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu cần ý thức rõ trách nhiệm của mình trước Đảng bộ và Nhân dân; thường xuyên rèn luyện bản lĩnh chính trị, đạo đức công vụ, nâng cao năng lực chuyên môn; phải thực sự gương mẫu; không ngừng đổi mới tư duy; gần dân, sát dân; dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; lấy hiệu quả công việc và sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo đánh giá, góp phần xây dựng bộ máy chính quyền liêm chính, kiến tạo, hành động vì sự phát triển của tỉnh. Tôi kỳ vọng mỗi người dân là một tấm gương vươn lên thoát nghèo bền vững, làm giàu chính đáng trên chính mảnh đất quê hương.
Tin tưởng rằng với quyết tâm chính trị cao, rằng Cao Bằng sẽ vươn lên mạnh mẽ năng động trong giai đoạn mới, đặt nền móng vững chắc cho sự phát triển nhanh và bền vững, xứng đáng với niềm tin của Trung ương và kỳ vọng của Nhân dân.
-
Phát huy trí tuệ, đoàn kết, đổi mới - Nền tảng cho giai đoạn phát triển mới của Thành phố Hồ Chí Minh
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng diễn ra vào thời điểm có ý nghĩa đặc biệt: đất nước tròn 40 năm kiên trì đổi mới, vị thế và uy tín quốc tế không ngừng được nâng cao. Đồng thời, bối cảnh thế giới và khu vực biến động nhanh, phức tạp, khó lường, đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.
Đảng Cộng sản Việt Nam - Đại hội XIVTrong bối cảnh đó, Thành phố Hồ Chí Minh nhìn lại nhiệm kỳ vừa qua không chỉ để đánh giá kết quả đạt được, mà quan trọng là để xác lập rõ hơn vai trò, trách nhiệm và phương thức đóng góp của một trung tâm lớn đối với các mục tiêu chiến lược mà Đại hội đang thảo luận và quyết định.
QUYẾT SÁCH ĐÚNG – HÀNH ĐỘNG HIỆU QUẢNhiệm kỳ vừa qua diễn ra trong bối cảnh đặc biệt khó khăn: đại dịch, suy giảm kinh tế toàn cầu, sức ép đô thị hóa ngày càng lớn; các vấn đề hạ tầng, môi trường, dân số, ngập nước đồng thời gia tăng, tạo áp lực chưa từng có. Trong hoàn cảnh đó, điều đáng quý nhất là Thành phố không chùn bước, không để đứt gãy động lực phát triển, giữ vững vai trò đầu tàu.
Điều đáng chú ý không chỉ là những con số tăng trưởng, mà là cách thức Thành phố vượt qua khó khăn: kiên định mục tiêu, thống nhất trong lãnh đạo, quyết liệt trong chỉ đạo và nghiêm túc trong tổ chức thực hiện. Thực tiễn cho thấy, trong những thời điểm thử thách nhất, vai trò lãnh đạo của Đảng bộ Thành phố được thể hiện rõ nét thông qua việc giữ vững nguyên tắc, đề cao kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm của từng cấp, từng cá nhân, nhất là người đứng đầu.
Một chuyển biến quan trọng của Thành phố Hồ Chí Minh trong nhiệm kỳ này là đổi mới tư duy lãnh đạo và điều hành. Thành phố không chỉ tập trung giải quyết vấn đề trước mắt, mà từng bước chuyển sang tư duy kiến tạo phát triển: chủ động hơn trong thiết kế không gian phát triển, tái cấu trúc nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị.
Đây cũng là sự cụ thể hóa yêu cầu xuyên suốt trong các văn kiện của Đảng: phát triển nhanh nhưng bền vững, tăng trưởng gắn với nâng cao chất lượng sống của Nhân dân; đổi mới sáng tạo đi đôi với kỷ cương và trách nhiệm.
Tinh thần mà Đại hội XIII đặt ra là trung tâm trí tuệ, đoàn kết và đổi mới đã dần được cụ thể hóa vào công việc hằng ngày của cả hệ thống chính trị và từng lĩnh vực quản lý của Thành phố.
Cùng với giữ vững kỷ cương trong điều hành, Thành phố Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng thực hiện nghiêm Điều lệ Đảng và các quy định của Trung ương.
Tổng kết 15 năm thi hành Điều lệ Đảng cho thấy: việc không ngừng bổ sung, hoàn thiện hệ thống quy định, hướng dẫn đã góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng; giữ vững kỷ luật, kỷ cương; phát huy dân chủ đi đôi với trách nhiệm; tăng cường đoàn kết, thống nhất trong toàn Đảng.
Đối với Thành phố Hồ Chí Minh, điều đó càng có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, quản lý không gian phát triển rộng lớn, năng động hơn.
Dấu ấn lớn của nhiệm kỳ này là việc Quốc hội ban hành Nghị quyết số 98/2023/QH15 và Nghị quyết số 260/2025/QH15 về cơ chế, chính sách đặc thù cho Thành phố. Điều đó khẳng định một tư duy rất rõ: Thành phố Hồ Chí Minh không chỉ là một địa phương lớn, mà là một cực tăng trưởng của quốc gia. Thành phố không xin đặc quyền, xin ưu ái mà chỉ xin cơ chế để đóng góp nhiều hơn cho sự phát triển.
Đồng thời, đây cũng là yêu cầu rất rõ: Thành phố phải tổ chức thực hiện các cơ chế ấy một cách nghiêm túc, hiệu quả, minh bạch; biến chủ trương đúng thành kết quả cụ thể, đo đếm được trong thực tiễn.
Thành phố xác định rõ: cơ chế chỉ là điều kiện cần; điều kiện đủ là năng lực tổ chức thực hiện. Dám nghĩ, dám làm phải đi liền với biết làm, làm đến nơi đến chốn và chịu trách nhiệm đến cùng. Mọi quyết sách phải được kiểm nghiệm bằng hiệu quả thực tế, bằng sự chuyển biến trong đời sống người dân và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Thành phố.
Trong suốt nhiệm kỳ, Thành phố từng bước chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào bất động sản và dịch vụ truyền thống sang mô hình dựa trên những động lực bền vững hơn: khoa học – công nghệ, kinh tế số, tài chính, logistics, công nghiệp hiện đại và thân thiện môi trường.
Cùng với đó là chuyển từ phát triển đơn lẻ sang phát triển trong không gian kinh tế vùng, gắn kết chặt chẽ hơn với vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long, phù hợp với định hướng lớn của Đảng về phát triển cân bằng, hài hòa giữa các vùng, phát huy lợi thế so sánh và tạo sức mạnh tổng hợp của nền kinh tế.
NƠI HỘI TỤ TRÍ TUỆ - ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNGNhững kết quả đạt được trong nhiệm kỳ Đại hội XIII không phải là đích đến, mà là nền móng để Thành phố Hồ Chí Minh bước vào giai đoạn phát triển cao hơn trong nhiệm kỳ Đại hội XIV của Đảng. Trên hành trình hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045, Thành phố phải vươn lên rõ nét hơn nữa để trở thành trung tâm tài chính, trung tâm đổi mới sáng tạo, trung tâm công nghệ, trung tâm kết nối khu vực và quốc tế.
Thành phố Hồ Chí Minh đặt mục tiêu đến năm 2030 trở thành đô thị văn minh, hiện đại, trung tâm đổi mới sáng tạo năng động, hội nhập sâu rộng; có vị trí nổi trội ở khu vực Đông Nam Á. Tầm nhìn đến năm 2045, Thành phố phấn đấu thuộc nhóm 100 đô thị có chất lượng sống tốt nhất thế giới, là trung tâm kinh tế – tài chính – dịch vụ – giáo dục – y tế của châu Á, điểm đến hấp dẫn toàn cầu; phát triển đặc sắc, bền vững và giàu bản sắc văn hóa.
Để hiện thực hóa mục tiêu đó, nhiệm vụ then chốt, xuyên suốt của Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh là xây dựng Thành phố trở thành trung tâm trí tuệ, đoàn kết và đổi mới – đủ năng lực lãnh đạo Thành phố bước vào giai đoạn phát triển mới nhanh hơn, hiệu quả hơn, bền vững hơn và đóng góp nhiều hơn cho đất nước.
Trí tuệ, đoàn kết và đổi mới không chỉ là khẩu hiệu, mà là cam kết chính trị và chuẩn mực hành động. Mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người dân Thành phố cần chung sức, đồng lòng, biến khát vọng thành hành động, biến mục tiêu thành kết quả; để Thành phố Hồ Chí Minh xứng đáng là nơi hội tụ trí tuệ, là động lực tăng trưởng của cả nước, xây dựng Thành phố văn minh, hiện đại, nghĩa tình.
Đi liền với đó là yêu cầu giữ vững kỷ cương trong lãnh đạo, quản lý; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính theo hướng thực chất; đầu tư hạ tầng chiến lược; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; nuôi dưỡng cộng đồng doanh nghiệp lớn mạnh. Trên hết, mọi chủ trương, chính sách phải kiên định nguyên tắc lấy người dân làm trung tâm, để mọi thành quả phát triển quay trở lại phục vụ đời sống Nhân dân ngày càng tốt hơn, văn minh hơn, hạnh phúc hơn.
Nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng là một nhiệm kỳ mà Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh vượt qua nhiều thử thách, giữ vững vai trò đầu tàu và tạo nền móng quan trọng cho giai đoạn phát triển mới. Trên nền tảng đó, Thành phố Hồ Chí Minh bước vào Đại hội XIV với tâm thế chủ động hơn, tự tin hơn và trách nhiệm lớn hơn trước Đảng, trước Nhân dân và trước tương lai đất nước.
-TRẦN LƯU QUANG, Bí thư Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh
Hoàn thiện chính sách trong lĩnh vực hàng hải và giao thông đường thủy
Chiều 17/1, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh chủ trì Hội đồng thẩm định hồ sơ chính sách Bộ luật Hàng hải và Đường thủy Việt Nam. Cơ quan chủ trì soạn thảo là Bộ Xây dựng.
Theo tờ trình, việc xây dựng chính sách Bộ luật Hàng hải và Đường thủy Việt Nam nhằm thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách trong lĩnh vực hàng hải, giao thông đường thủy nội địa.
Đồng thời, thực hiện cam kết của Việt Nam với cộng đồng quốc tế; thu gọn hệ thống pháp luật chuyên ngành; xử lý dứt điểm tình trạng đan xen giữa 2 lĩnh vực hàng hải và đường thủy nội địa, tạo thuận lợi cho quá trình tra cứu, áp dụng…
Do đó, Bộ Xây dựng đề xuất 6 chính sách, trong đó, chính sách 1 quy định chung về công tác quản lý nhà nước chuyên ngành hàng hải, giao thông đường thủy nội địa.
Chính sách 2 quy định về kết cấu hạ tầng hàng hải, đường thủy nội địa.
Chính sách 3 quy định về quản lý tàu biển, tàu sông, tàu ven biển và các loại phương tiện nổi khác.
Chính sách 4 quy định về nguồn nhân lực hàng hải, đường thủy.
Tổng sản lượng hàng hóa thông qua cảng biển giai đoạn 2015-2023. Số liệu theo báo cáo tổng kết thi hành Luật Hàng hải Việt Nam năm 2015, Luật Giao thông đường thủy nội địa.Chính sách 5 quy định về hoạt động vận tải hàng hải và đường thủy nội địa bao gồm các quy định liên quan đến vận tải quốc tế để phù hợp với quy định Công ước quốc tế; vận tải nội địa; quy định liên quan đến các dịch vụ hỗ trợ vận tải biển; dịch vụ lai dắt tàu biển, tàu sông…
Đặc biệt, chính sách 6 quy định về an toàn, an ninh; tìm kiếm cứu nạn, ứng phó sự cố khẩn cấp trong hoạt động hàng hải, giao thông đường thủy nội địa.
Chính sách này nhằm thiết lập khung pháp lý thống nhất; khắc phục tình trạng phân tán, chồng chéo giữa các văn bản pháp luật hiện hành; tạo cơ sở cho việc phối hợp liên ngành giữa các lực lượng quản lý, ứng cứu và bảo đảm an ninh.
Góp ý tại Hội đồng thẩm định, đại diện Bộ Ngoại giao nhất trí với việc xây dựng Bộ luật Hàng hải và Đường thủy Việt Nam. Tuy nhiên, để đáp ứng nhu cầu phát triển và tình hình phát triển của tàu tự hành, đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo bổ sung quy định chi tiết về tàu tự hành vào chính sách 3 hoàn thiện khung pháp lý tàu biển, tàu sông, tàu ven biển và các loại phương tiện nổi khác....
Đại diện Bộ Quốc phòng cho rằng các giải pháp cần đưa ra cụ thể hơn; đồng thời đề xuất xây dựng cảng biển ứng dụng để vừa đáp ứng yêu cầu quốc phòng, vừa bảo đảm phát triển kinh tế.
Đối với chính sách về dịch vụ tìm kiếm cứu nạn, đại diện Bộ Quốc phòng đề nghị bổ sung theo hướng xã hội hóa, có cơ chế tài chính đặc thù rõ hơn trong phần giải pháp; bổ sung thêm cơ chế, chính sách cho lực lượng tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn.
Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh kết luận phiên họp. Ảnh: MOJ.Kết luận phiên họp, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo hoàn thiện thêm hồ sơ chính sách của bộ luật, bảo đảm thực hiện đúng theo quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Theo Thứ trưởng, các chính sách chưa nêu rõ những đột phá để phát triển kinh tế hàng hải, đường thủy nội địa như chính sách phát triển tàu biển, ngành công nghiệp đóng tàu… Do đó, cần nghiên cứu, xây dựng chính sách đặc thù để phát triển kinh tế hàng hải, đường thủy nội địa, thu hút đầu tư, phát triển kinh tế; đồng thời tăng cường hội nhập trong lĩnh vực hàng hải.
Ngoài ra, cần bổ sung thêm kinh nghiệm quốc tế trong lĩnh vực này nhằm làm rõ hơn các giải pháp; bổ sung nội dung về tổng kết thi hành Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2015, Luật Giao thông đường thủy nội địa 2004.
-Đỗ Như
