Thời Báo Kinh Tế

Subscribe to Thời Báo Kinh Tế feed Thời Báo Kinh Tế
VnEconomy - Góc nhìn toàn cảnh về nền kinh tế Việt Nam
Updated: 51 min 59 sec ago

Phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị tổng kết công tác năm 2025, triển khai công tác năm 2026 của Chính phủ và chính quyền địa phương

Thu, 01/08/2026 - 16:56
Sáng ngày 8/1/2026, Tổng Bí thư Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị tổng kết công tác năm 2025, triển khai công tác năm 2026 của Chính phủ và chính quyền địa phương. Hội nghị được tổ chức trực tiếp tại Trụ sở Chính phủ kết hợp trực tuyến với điểm cầu 34 tỉnh, thành phố trong cả nước. Tạp chí Kinh tế Việt Nam-VnEconomy trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm.

Thưa các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương,

Thưa các đồng chí lãnh đạo các tỉnh, thành phố tại các điểm cầu,

Thưa toàn thể các đồng chí.

Trong không khí phấn khởi của những ngày đầu năm mới 2026, hướng tới Đại hội lần thứ XIV của Đảng và chuẩn bị đón Tết cổ truyền Bính Ngọ, tôi rất vui mừng dự Hội nghị trực tuyến Chính phủ với các địa phương. Đây là hội nghị vừa tổng kết đánh giá kết quả năm 2025, vừa nhìn lại chặng đường 5 năm 2021-2025 - giai đoạn khó khăn, thách thức nhưng đất nước ta đạt nhiều thành tựu và dấu ấn quan trọng. Trên cơ sở đó, chúng ta cùng khơi dậy quyết tâm, tự tin bước vào kỷ nguyên xây dựng đất nước giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.

Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, tôi xin gửi tới các đồng chí lãnh đạo, các quý vị đại biểu cùng toàn thể đồng bào, đồng chí cả nước lời chào thân ái, lời thăm hỏi chân tình và những lời chúc mừng tốt đẹp nhất.

Chúng ta đã xem những thước phim về tình hình kinh tế - xã hội năm 2025 và giai đoạn 2021-2025 của đất nước, nghe những phát biểu thẳng thắn, tâm huyết, trách nhiệm của đồng chí Thủ tướng, các đồng chí lãnh đạo Chính phủ, lãnh đạo ban, bộ, ngành Trung ương, địa phương. Tại hội nghị này, tôi xin nêu một số vấn đề có tính khái quát, định hướng để các đồng chí cùng nghiên cứu.

I. NHÌN LẠI NĂM 2025 VÀ 5 NĂM 2021-2025

Bối cảnh giai đoạn 2021-2025 có rất nhiều đặc biệt, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, trực tiếp và thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư; sự đồng hành của Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; sự tham gia tích cực của người dân, doanh nghiệp, sự ủng hộ của bạn bè quốc tế, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo, điều hành quyết liệt, linh hoạt, hiệu quả trên các lĩnh vực. Nhiều quyết sách mang tính “xoay chuyển tình thế, chuyển đổi trạng thái, thích ứng với hoàn cảnh” đã góp phần “biến nguy thành cơ”, nhiều nghị quyết chiến lược về các lĩnh vực then chốt như khoa học - công nghệ, thể chế - pháp luật, hội nhập quốc tế, kinh tế tư nhân, kinh tế Nhà nước, văn hóa, thu hút FDI, tạo tiền đề cho phát triển nhanh và bền vững cả trước mắt và lâu dài. Nhờ đó, năm 2025, chúng ta đã hoàn thành thắng lợi, đạt và vượt 15/15 chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu; giai đoạn 2021-2025, ước đạt và vượt 22/26 chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu, xấp xỉ đạt 2/26 chỉ tiêu, còn 2 chỉ tiêu nữa cần tiếp tục phấn đấu. Tôi ghi nhận 8 kết quả nổi bật sau:

Thứ nhất, kinh tế vĩ mô được giữ ổn định trong bối cảnh thế giới nhiều biến động, thể hiện rõ sức chống chịu của nền kinh tế. Giai đoạn 2021-2025, lạm phát duy trì dưới 3,6% (riêng năm 2025 khoảng 3,3%); các cân đối lớn được bảo đảm; nợ công và bội chi ngân sách duy trì trong ngưỡng an toàn, củng cố ổn định trung hạn. Tăng trưởng GDP năm 2025 đạt 8,02%, bình quân giai đoạn đạt 6,3%, thuộc nhóm cao của khu vực và trên thế giới. Quy mô nền kinh tế tăng từ 346 tỷ USD (2020) lên 514 tỷ USD (2025), xếp thứ 32 thế giới; GDP bình quân đầu người đạt hơn 5.000 USD, đưa Việt Nam vào nhóm các nước thu nhập trung bình cao (hoàn thành một trong những cột mốc lớn mà Đại hội XIII của Đảng đã đặt ra). Duy trì 10 năm xuất siêu liên tiếp (năm 2025 xuất siêu trên 21 tỷ USD). Bội chi, nợ công trong giới hạn an toàn (nợ công năm 2025 giảm còn khoảng 36% GDP, giới hạn cho phép là 60% GDP). Du lịch phục hồi mạnh, năm 2025 đón trên 21,5 triệu lượt khách quốc tế.

Khu vực doanh nghiệp Nhà nước tiếp tục giữ vai trò then chốt; kinh tế tư nhân vươn lên rõ nét, là “một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia” như tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị. FDI tiếp tục là điểm sáng, với 185 tỷ USD đăng ký giai đoạn 2021–2025, giải ngân năm 2025 đạt 27,62 tỷ USD, cao nhất trong 5 năm, phản ánh niềm tin của nhà đầu tư quốc tế, đồng thời đặt ra yêu cầu nâng cao chất lượng và hiệu quả lan tỏa của sự tăng trưởng. (Tuy nhiên, các kết quả trên chủ yếu phản ánh ổn định và mở rộng quy mô; thách thức lớn của giai đoạn tới là chuyển sang tăng trưởng dựa nhiều hơn vào năng suất, chất lượng và hiệu quả phân bổ nguồn lực).

Tổng Bí thư Tô Lâm chỉ rõ 8 kết quả nổi bật trong thời gian qua - Ảnh VGP

Thứ hai, các đột phá chiến lược được triển khai đồng thời trên ba trụ cột: Thể chế và tổ chức bộ máy, kết cấu hạ tầng, nguồn nhân lực, tạo chuyển biến nền tảng đối với mô hình phát triển. Tư duy từ “quản lý” sang “kiến tạo phát triển” từng bước được cụ thể hóa, nhất là sau khi Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị được ban hành, góp phần tháo gỡ nhiều điểm nghẽn kéo dài, khơi thông nguồn lực và cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh. Cải cách tổ chức bộ máy và mô hình chính quyền địa phương 2 cấp gắn với phân cấp, phân quyền được đẩy mạnh, tạo chuyển dịch quan trọng trong phương thức quản trị theo hướng trao quyền đi đôi với trách nhiệm, phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo, giúp bộ máy tinh gọn hơn, điều hành ở địa phương chủ động hơn, chi phí tuân thủ giảm dần.

Trong lĩnh vực hạ tầng, đã tập trung hơn vào tính đồng bộ, liên kết các công trình chiến lược mở rộng không gian phát triển và nâng cao giá trị sử dụng đất (như hạ tầng đường cao tốc, sân bay, bến cảng, đường sắt tốc độ cao, đường sắt đô thị, trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do…) cho thấy tư duy phát triển đã hướng tới tạo nền tảng cho tăng trưởng dài hạn, với sự tham gia ngày càng lớn của khu vực kinh tế tư nhân. Cùng với đó, hạ tầng xã hội và hạ tầng số được đầu tư đồng bộ hơn, thúc đẩy chuyển đổi số và nâng cao chất lượng dịch vụ công. Về dài hạn, nguồn nhân lực được đặt vào vị trí trung tâm, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ then chốt và ngành nghề mới; năng suất lao động có cải thiện bước đầu, (song thách thức vẫn là gắn chặt hơn đào tạo với nhu cầu thực tế của nền kinh tế và yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng).

Thứ ba, các lĩnh vực văn hóa, xã hội và môi trường có chuyển biến rõ rệt cả về nhận thức và hành động, trực tiếp nâng cao chất lượng sống của nhân dân và củng cố nền tảng cho phát triển bền vững. Công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, di sản được tiếp cận theo hướng chủ động, sáng tạo hơn, gắn với phát triển công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo. Nhiều di sản, tư liệu được UNESCO vinh danh; các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể thao quy mô lớn, chuyên nghiệp góp phần hình thành các sản phẩm, dịch vụ có giá trị gia tăng cao và sức lan tỏa xã hội rộng, đồng thời tăng cường sức mạnh mềm quốc gia. Các sự kiện chính trị - lịch sử trọng đại được tổ chức trang trọng, hiệu quả, không chỉ mang ý nghĩa kỷ niệm mà còn khơi dậy tinh thần yêu nước, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và đặc biệt là niềm tin của toàn xã hội. Theo đánh giá quốc tế, chỉ số phát triển con người tiếp tục cải thiện, chỉ số hạnh phúc tăng mạnh (37 bậc, từ xếp hạng 83 năm 2000 lên 46 năm 2025), phản ánh tiến bộ thực chất về chất lượng cuộc sống chứ không chỉ về thu nhập.

Chính sách an sinh xã hội được triển khai toàn diện, nhất quán với mức chi cao (17% tổng chi ngân sách) để “không để ai bị bỏ lại phía sau”; hoàn thành sớm mục tiêu xóa nhà tạm, phát triển mạnh nhà ở xã hội (334 nghìn căn nhà, nhà ở xã hội, hơn 100 nghìn căn hộ trong năm 2025), tỷ lệ nghèo đa chiều giảm nhanh (chỉ còn 1,3%), khẳng định ưu tiên xuyên suốt của Nhà nước đối với con người, đặc biệt là người yếu thế và công bằng xã hội. Trong giáo dục và y tế, nhiều chủ trương có ý nghĩa lâu dài được triển khai, từ miễn, hỗ trợ học phí phổ thông, xây dựng thêm nhiều trường học, tăng đầu tư cho giáo dục vùng khó khăn, biên giới, đến việc củng cố hệ thống y tế, vừa giải quyết các tồn đọng kéo dài, vừa chuẩn bị nền tảng cho nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân toàn diện. Bảo vệ môi trường, quản lý tài nguyên và thích ứng với biến đổi khí hậu được coi trọng hơn trong quản lý, điều hành. Trước thiên tai ngày càng cực đoan, sự chỉ đạo thống nhất từ Trung ương đến cơ sở và huy động cả ngân sách nhà nước và nguồn lực xã hội đã giúp giảm thiểu thiệt hại, sớm ổn định đời sống và khôi phục sản xuất, thể hiện rõ vai trò kiến tạo, trách nhiệm và tính nhân văn của Nhà nước, của Chính phủ.

Thứ tư, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được triển khai quyết liệt, từng bước trở thành trụ cột mới của mô hình phát triển của đất nước. Các chính sách hỗ trợ cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được triển khai đồng bộ, bài bản hơn. Hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia và hệ sinh thái khởi nghiệp được định hình rõ hơn, với sự gắn kết chặt chẽ giữa Nhà nước, doanh nghiệp và các cơ sở nghiên cứu. Việc Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia và Trung tâm Dữ liệu quốc gia đi vào hoạt động thể hiện cách tiếp cận mới trong tổ chức, huy động, điều phối nguồn lực đổi mới sáng tạo ở tầm quốc gia; đồng thời hình thành một số tổ chức khoa học, công nghệ đạt chuẩn quốc tế và thúc đẩy các dự án, hợp tác trong lĩnh vực công nghệ mới, công nghệ lõi.

Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu năm 2025 xếp hạng 44/139. Chuyển đổi số gắn với cải cách hành chính được đẩy mạnh theo hướng lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm; xây dựng Chính phủ số, công dân số, xã hội số từng bước đi vào thực chất. Đề án 06 tạo thay đổi mang tính căn bản trong cung cấp dịch vụ công, giúp tiết kiệm khoảng 3.000 tỷ đồng chi phí xã hội mỗi năm; chỉ số Chính phủ điện tử tăng 15 bậc so với năm 2020, xếp 71/193, cho thấy tiến bộ rõ rệt về quản trị số. (Tuy vậy, kết quả mới ở giai đoạn đầu; chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo chưa lan tỏa đồng đều. Thách thức thời gian tới là chuyển từ triển khai rộng sang nâng cao hiệu quả và chiều sâu, để khoa học, công nghệ và chuyển đổi số thực sự trở thành động lực chủ yếu nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh và chất lượng tăng trưởng).

Thứ năm, tiềm lực quốc phòng, an ninh tiếp tục được củng cố toàn diện, tạo nền tảng vững chắc cho ổn định chính trị và phát triển đất nước trong bối cảnh môi trường an ninh khu vực, quốc tế có rất nhiều biến động. An ninh chính trị được giữ vững; thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân và “thế trận lòng dân” được tăng cường, thể hiện sự gắn kết chặt chẽ giữa nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc và củng cố niềm tin xã hội. Việc xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại được triển khai có trọng tâm; nguồn lực đầu tư cho quốc phòng, an ninh được tăng cường, ưu tiên các lĩnh vực chiến lược, lâu dài, cho thấy sự chủ động chuẩn bị từ sớm, từ xa. Trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm; năm 2025, tội phạm về trật tự xã hội giảm trên 24%. Công tác bảo đảm an toàn giao thông, phòng chống cháy nổ được triển khai đồng bộ, góp phần tạo môi trường sống và kinh doanh an toàn. Đối ngoại quốc phòng, an ninh được đẩy mạnh theo hướng chủ động, thực chất, phục vụ mục tiêu bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ vững môi trường hòa bình cho phát triển. Lực lượng vũ trang tiếp tục phát huy vai trò xung kích trong phòng, chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn và thực hiện tốt nhiệm vụ gìn giữ hòa bình quốc tế, qua đó nâng cao uy tín, vị thế của Việt Nam.

Thứ sáu, công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế tiếp tục là điểm sáng, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và mở rộng không gian phát triển cho đất nước. Quan hệ với các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện được mở rộng và đi vào chiều sâu, gắn kết chặt chẽ giữa chính trị, kinh tế, quốc phòng - an ninh và giao lưu văn hóa. Ngoại giao kinh tế được triển khai chủ động, thực chất, trực tiếp phục vụ phát triển; riêng năm 2025, ký kết gần 350 thỏa thuận và cam kết hợp tác, qua đó thu hút nguồn lực, mở rộng thị trường và nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế. Vai trò, vị thế và trách nhiệm quốc tế của Việt Nam tiếp tục được khẳng định trong các cơ chế đa phương khu vực và toàn cầu, góp phần nâng cao uy tín và khả năng tham gia định hình luật chơi. Mạng lưới đối ngoại ngày càng rộng mở và cân bằng, quan hệ ngoại giao với 195 quốc gia, trong đó có 42 đối tác toàn diện và chiến lược, phản ánh rõ đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước trong bối cảnh mới.

Thứ bảy, công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị tiếp tục được đẩy mạnh theo hướng kiên định, kế thừa và đổi mới, trực tiếp nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và hiệu lực vận hành của Nhà nước. Việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy năm 2025 không chỉ giảm đầu mối, khắc phục chồng chéo, mà quan trọng hơn là nâng cao hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả quản trị, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới. Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực tiếp tục là điểm sáng, được triển khai quyết liệt, đồng bộ, với tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”, qua đó củng cố kỷ cương, kỷ luật và niềm tin xã hội. Đáng chú ý, phòng, chống tham nhũng ngày càng gắn với xử lý các điểm nghẽn cơ cấu của nền kinh tế, khắc phục những bất cập trong công tác quản lý, nhất là trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng, tài nguyên và các dự án đầu tư lớn. Việc xử lý 5 ngân hàng yếu kém, tháo gỡ các dự án thua lỗ kéo dài và nhiều dự án năng lượng trọng điểm cho thấy cách tiếp cận chuyển từ xử lý vi phạm đơn lẻ sang khơi thông nguồn lực cho phát triển. Kết quả cụ thể là gần 1.200 dự án với tổng giá trị khoảng 675 nghìn tỷ đồng đã được tháo gỡ, đưa trở lại hoạt động; gần 3.000 dự án tồn đọng đang được rà soát, phân loại để xử lý căn cơ, tránh thất thoát, lãng phí và kéo dài tình trạng nguồn lực bị đóng băng.

Thứ tám, chủ trì, phối hợp với các cơ quan xây dựng các chủ trương, quyết sách lớn của Trung ương, Bộ Chính trị, Quốc hội như các báo cáo, đề xuất Trung ương, Quốc hội về phát triển kinh tế - xã hội hằng năm và 5 năm; các Nghị quyết chiến lược, trụ cột của Bộ Chính trị và các Nghị quyết của Quốc hội về các cơ chế, chính sách đặc thù để thực hiện các nghị quyết của Bộ Chính trị; các quyết sách lớn về xây dựng đường sắt cao tốc Bắc - Nam, đường sắt kết nối với Trung Quốc, đường sắt đô thị tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh...

Trên cơ sở những nhận định khách quan và các số liệu cụ thể, có thể kiểm chứng, có thể khẳng định rằng giữa những bất định trên toàn cầu, trong bối cảnh khó khăn, thách thức nhiều hơn thời cơ, thuận lợi, nhưng chúng ta không những giữ được ổn định, trong đó có ổn định kinh tế vĩ mô, mà đã đạt được thành tựu khá toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, góp phần củng cố, tăng cường niềm tin, đời sống tinh thần, vật chất của nhân dân và nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, tạo đà, tạo lực, tạo thế, tạo nền tảng cho những năm tiếp theo, trong đó có mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế 2 con số trong giai đoạn tới.

Thay mặt lãnh đạo Đảng và Nhà nước, tôi nhiệt liệt hoan nghênh, ghi nhận, chúc mừng, biểu dương Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể, cộng đồng doanh nghiệp, cán bộ, đảng viên, đồng bào, chiến sĩ cả nước và kiều bào ta ở nước ngoài về những nỗ lực phấn đấu và những kết quả, thành tích đã đạt được trong năm 2025 và đặc biệt là trong giai đoạn 2021-2025.

Thưa toàn thể các đồng chí!

Bên cạnh những kết quả đạt được, với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, cần nghiêm túc nhìn nhận rằng những tồn tại, hạn chế và thách thức còn nhiều, có mặt kéo dài, có mặt mới phát sinh, phản ánh các nút thắt cơ cấu trong mô hình phát triển và hệ thống quản trị quốc gia. Tôi xin nêu 8 hạn chế cơ bản như sau:

Thứ nhất, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định nhưng rủi ro vẫn tiềm ẩn trong bối cảnh dư địa chính sách tài khóa - tiền tệ thu hẹp. Một số thị trường then chốt như bất động sản, trái phiếu doanh nghiệp, thị trường tài sản còn vận hành thiếu thông suốt, còn tâm lý phòng thủ, đầu cơ.

Thứ hai, tăng trưởng vẫn dựa nhiều vào mở rộng đầu vào, đặc biệt là đầu tư và khai thác đất đai, trong khi năng suất lao động, năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) và hàm lượng công nghệ cải thiện chậm. Liên kết giữa khu vực FDI và doanh nghiệp trong nước còn yếu; công nghiệp hỗ trợ phát triển chậm; đổi mới sáng tạo chưa lan tỏa đồng đều. Vì vậy, một số địa phương đạt tăng trưởng cao nhưng thiếu bền vững, vẫn phụ thuộc vào những dự án đơn lẻ và nguồn lực ngắn hạn, thậm chí một số địa phương vẫn còn lúng túng trong mục tiêu tăng trưởng.

Thứ ba, giải ngân vốn đầu tư công chậm, hiệu quả chưa cao (thể hiện hệ số ICOR cao lên đến gần 6, trong khi các nước công nghiệp hóa thành công chỉ khoảng 3); tình trạng lãng phí trong quản lý đất đai, tài nguyên và tài sản công còn lớn. Nhiều dự án kéo dài, đội vốn, hiệu quả thấp, phản ánh hạn chế trong chuẩn bị dự án, lựa chọn ưu tiên và cơ chế chịu trách nhiệm. Nhiều dự án có vốn nhưng không triển khai được do vướng mặt bằng, điều chỉnh quy hoạch, thay đổi thiết kế. Việc huy động nguồn lực tư nhân còn gặp rào cản do môi trường pháp lý còn rủi ro và chi phí tuân thủ cao.

Thứ tư, hệ thống pháp luật còn chồng chéo, thiếu đồng bộ, mặc dù chúng ta đã rất nỗ lực. Thủ tục hành chính, nhất là trong các lĩnh vực đất đai, đầu tư, xây dựng, môi trường, còn rườm rà, kéo dài, làm tăng chi phí và rủi ro cho doanh nghiệp. Có những dự án mất nhiều năm mới xong các khâu thủ tục, trong khi mỗi khâu do một cơ quan phụ trách và không có cơ chế chịu trách nhiệm tổng thể. Đáng chú ý, một số quy định chưa theo kịp thực tiễn, làm méo mó tín hiệu giá và gia tăng rủi ro cho doanh nghiệp (đơn cử cơ chế công bố giá vật liệu xây dựng chậm và không sát thị trường khiến nhà thầu dễ thua lỗ hoặc vướng quyết toán và thanh tra. Điều này phản ánh sự bị động trong thiết kế thể chế, quản lý nhà nước, vận hành thị trường chưa phù hợp với nguyên tắc thị trường). Năng lực tổ chức thực thi chính sách chưa đồng đều, vẫn còn tình trạng né tránh, đùn đẩy, sợ trách nhiệm ở một bộ phận cán bộ. Việc chậm tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế và vận hành thị trường có nguy cơ làm suy giảm động lực đầu tư dài hạn và kìm hãm sự phục hồi bền vững của nền kinh tế.

Thứ năm, việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy và triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp ở một số nơi còn lúng túng, thiếu đồng bộ, phát sinh độ trễ trong điều hành, gây khó khăn cho người dân, doanh nghiệp. Phân cấp, phân quyền chưa đi đôi với phân bổ nguồn lực và nâng cao năng lực cán bộ, tạo khoảng cách giữa thẩm quyền được giao và khả năng thực thi trên thực tế.

Thứ sáu, còn thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt trong các ngành mũi nhọn như công nghệ cao, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, hạ tầng chiến lược. Chất lượng đào tạo và sự gắn kết giữa đào tạo với nhu cầu thị trường lao động còn khoảng cách đáng kể, làm gia tăng tình trạng vừa thiếu vừa thừa lao động.

Thứ bảy, ô nhiễm môi trường, ùn tắc giao thông và quá tải hạ tầng tại các đô thị lớn chưa được xử lý căn cơ. Thích ứng với biến đổi khí hậu còn bị động ở một số địa bàn, công tác quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường chưa theo kịp tốc độ đô thị hóa và công nghiệp hóa, làm gia tăng rủi ro phát triển thiếu bền vững.

Thứ tám, an ninh trật tự ở một số địa bàn còn tiềm ẩn yếu tố phức tạp; tội phạm công nghệ cao, lừa đảo xuyên biên giới và an ninh mạng gia tăng, đặt ra thách thức mới cho công tác quản lý nhà nước và bảo vệ xã hội trong môi trường số.

Những tồn tại, hạn chế nêu trên cho thấy thách thức cốt lõi của giai đoạn tới không phải là thiếu nguồn lực hay bất ổn bên ngoài, mà chủ yếu ở chất lượng thể chế, năng lực thực thi và sức sống của mô hình phát triển. Đây vừa là sức ép, vừa là động lực cải cách, nếu được nhận diện đúng và hành động quyết liệt. Giai đoạn mới đòi hỏi chuyển mạnh từ tạo nền tảng sang tăng tốc về chất lượng và quy mô, từ xử lý tình huống sang cải cách căn cơ, từ điều hành ngắn hạn sang kiến tạo động lực dài hạn; chỉ như vậy mới có thể khơi thông niềm tin thị trường, giải phóng nguồn lực xã hội và đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển nhanh, bền vững và cạnh tranh cao hơn, gay gắt hơn.

II. VỀ PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ NĂM 2026

Năm 2026 đánh dấu khởi đầu một giai đoạn phát triển mới, gắn với triển khai Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2026-2030. Đây là năm rất quan trọng định hình mô hình phát triển và quỹ đạo tăng trưởng dài hạn của đất nước. Mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên là rất thách thức. Trong bối cảnh các động lực tăng trưởng truyền thống suy giảm, những hạn chế về năng suất, chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh bộc lộ rõ, cách làm cũ không còn đáp ứng yêu cầu mới. Vì vậy, giai đoạn tới đòi hỏi đổi mới căn bản tư duy phát triển, phương thức quản trị và phân bổ nguồn lực, phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, với cải cách đủ sâu, đủ mạnh, đủ quyết liệt.

Tổng Bí thư Tô Lâm định hướng 7 nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới - Ảnh VGP

Trên tinh thần đó, chúng ta vừa phải giải quyết hiệu quả các vấn đề trước mắt để tạo đà tăng trưởng, vừa thực hiện các cải cách chiến lược, dài hạn để chuyển đổi mô hình phát triển. Tôi nhấn mạnh 7 phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm thời gian tới, như sau:

Thứ nhất, tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn, bất cập của thể chế để khơi thông nguồn lực đang bị ách tắc.

Cần chuyển mạnh và thực chất từ tư duy “quản lý” sang “kiến tạo phát triển”, bảo đảm mỗi việc có một đầu mối chịu trách nhiệm, chấm dứt đùn đẩy, né tránh; nếu chậm tháo gỡ sẽ kìm hãm tăng trưởng ngay từ đầu nhiệm kỳ. Song song với đó, là quyết tâm giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn; điều hành tài khóa - tiền tệ phối hợp chặt chẽ, linh hoạt, kỹ trị dựa trên nguyên tắc thị trường, tránh lạm dụng biện pháp hành chính. Điều hành lãi suất, tỷ giá phù hợp; tái cơ cấu tín dụng vào sản xuất kinh doanh và lĩnh vực ưu tiên, hạn chế đầu cơ và hoạt động phi sản xuất.

Tiếp tục cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, kinh doanh; mở rộng phân cấp, phân quyền, rà soát để cắt giảm các thủ tục, tạo không gian quyết định và chịu trách nhiệm lớn hơn cho cán bộ, công chức, đồng thời giảm thời gian và chi phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp. Dứt khoát từ bỏ tư duy “không quản được thì cấm”, bảo vệ nghiêm ngặt quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh, tuyệt đối không được lợi dung thanh tra, kiểm tra, điều tra để sách nhiễu người dân, doanh nghiệp.

Cần đặc biệt bảo đảm tính ổn định, nhất quán và khả năng dự báo của chính sách, hạn chế tối đa thay đổi đột ngột, hồi tố hoặc thiếu thống nhất trong thực thi. Khuyến khích thử nghiệm cơ chế, mô hình mới (như thị trường dữ liệu, tài sản mã hóa); cắt giảm thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu số, không yêu cầu người dân, doanh nghiệp cung cấp lại giấy tờ đã được số hóa. Cùng với đó, chủ động, đổi mới công tác thông tin, tuyên truyền và dân vận, phát huy các phong trào thi đua yêu nước, tăng cường đồng thuận xã hội.

Ổn định và làm lành mạnh các thị trường trọng yếu của nền kinh tế, tôn trọng đầy đủ các quy luật của kinh tế thị trường cạnh tranh, quy luật cung - cầu, quy luật giá cả… Đặc biệt chú trọng ổn định các thị trường có tác động hệ thống như bất động sản (trọng tâm là quy hoạch và pháp lý), trái phiếu doanh nghiệp, thị trường tín dụng, thị trường vốn, thị trường tài sản (vàng, ngoại tệ…), bảo đảm thị trường hoạt động thông suốt, minh bạch, an toàn, qua đó phòng ngừa rủi ro lan truyền và củng cố niềm tin của nhà đầu tư, doanh nghiệp và người dân.

Đồng thời, phát triển thị trường vốn trung và dài hạn có chiều sâu, song song với cơ cấu lại thị trường tín dụng theo hướng bền vững, xử lý tận gốc các yếu kém của tổ chức tín dụng, tình trạng sở hữu chéo, sở hữu ngầm, cho vay quan hệ. Nghiên cứu cơ chế giải thể có kiểm soát đối với ngân hàng yếu kém, cho phép thành lập ngân hàng mới, tổ chức tài chính vi mô, nhằm nâng cao tính cạnh tranh, an toàn và đa dạng của hệ thống tài chính.

Thứ hai, chuyển đổi căn bản mô hình tăng trưởng dựa vào năng suất và đổi mới sáng tạo.

Giai đoạn tới phải đặt nâng cao năng suất, chất lượng nguồn nhân lực, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo vào trung tâm chiến lược phát triển, coi đây là điều kiện then chốt để vượt bẫy thu nhập trung bình và duy trì tăng trưởng cao, bền vững. Cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng xanh, số, tuần hoàn; lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực tăng trưởng mới và là nhân tố để làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống. Cơ chế khuyến khích ứng dụng công nghệ phải dựa vào kết quả, không hỗ trợ dàn đều.

Tập trung phát triển các ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp mũi nhọn, nội hàm hóa chiến lược “Make in Vietnam”, khai thác hiệu quả các không gian phát triển mới như kinh tế biển, kinh tế đại dương xanh, kinh tế không gian (trên không và dưới lòng đất), kinh tế chia sẻ…; thu hút FDI có chọn lọc, gắn với chuyển giao, học hỏi và tiếp thu công nghệ, nâng cao năng lực nội sinh về công nghệ. Đẩy mạnh xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia “đúng, đủ, sạch, sống”, phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số. Đồng thời, tạo môi trường thuận lợi hơn nữa để kinh tế tư nhân bứt phá, hình thành các tập đoàn tư nhân lớn, đủ năng lực tham gia hạ tầng trọng điểm, công nghệ cao và các lĩnh vực chiến lược.

Thứ ba, xây dựng hệ thống hạ tầng chiến lược hiện đại, đồng bộ, tạo nền tảng cho năng lực cạnh tranh quốc gia.

Giai đoạn tới, cần tập trung nguồn lực cho các dự án hạ tầng chiến lược, mang tính đột phá, đặc biệt là giao thông trục quốc gia, đường sắt, cảng hàng không, cảng biển, năng lượng và hạ tầng số. Năm 2026 phải tạo chuyển biến rõ rệt về tiến độ, trong đó khởi công các hạng mục then chốt của đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam, đẩy nhanh tuyến Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, đường sắt đô thị Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, các cao tốc liên kết vùng, liên kết các địa phương sau hợp nhất, bảo đảm tiến độ Cảng hàng không quốc tế Long Thành và Gia Bình.

Cùng với đó, bảo đảm an ninh năng lượng, nhất là năng lượng sạch, tuyệt đối không để thiếu điện; khẩn trương triển khai các dự án năng lượng quan trọng, trong đó có Nhà máy điện hạt nhân. Đồng thời, đẩy mạnh hạ tầng số thế hệ mới, phủ rộng 5G, nghiên cứu 6G, phát triển trung tâm dữ liệu và từng bước tham gia sâu vào chuỗi giá trị công nghệ cao, phấn đấu khởi công dự án sản xuất chíp bán dẫn. Cần xác định lộ trình để Việt Nam gia nhập nhóm quốc gia dẫn đầu về chất lượng hạ tầng viễn thông và độ phủ sóng 5G, 6 G.

Đổi mới mạnh mẽ cách thức triển khai đầu tư công theo hướng dẫn dắt phát triển, lan tỏa và kích hoạt kéo theo nguồn lực tư nhân, qua đó phấn đấu giảm ICOR xuống 4 trong giai đoạn tới.

Thứ tư, nâng cao năng lực thực thi của bộ máy trong điều kiện phân cấp, phân quyền mạnh mẽ. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và nâng mặt bằng kỹ năng của toàn xã hội.

Cần gắn chặt thẩm quyền với nguồn lực và trách nhiệm giải trình, bảo đảm sự thông suốt trong điều hành từ Trung ương đến cơ sở. Tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; nâng cao trách nhiệm người đứng đầu, siết chặt kỷ cương, kỷ luật hành chính, chấm dứt tình trạng né tránh, sợ trách nhiệm; hoàn thiện cơ chế đánh giá cán bộ, thay thế cán bộ, trọng dụng cán bộ có năng lực tốt. Thực hiện nghiêm Kết luận 226 của Ban Bí thư về việc chấn chỉnh lề lối làm việc, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị; đồng thời tháo gỡ các vướng mắc trong vận hành chính quyền địa phương hai cấp, tập trung nâng cao năng lực cán bộ, đảng viên cấp cơ sở, đặc biệt là xã, phường, đặc khu; nên lấy năm 2026 là “năm nâng cao chất lượng cán bộ cơ sở”. Có giải pháp khai thác tài sản công đang bị lãng phí, và xử lý trụ sở công dôi dư sau sắp xếp, qua đó nâng cao tính chủ động, tự chủ và hiệu quả quản trị của bộ máy nhà nước.

Cần triển khai chiến lược giáo dục - đào tạo gắn chặt với nhu cầu thị trường lao động và các ngành công nghệ, công nghiệp mũi nhọn; đồng thời nâng cao kỹ năng nền tảng, đặc biệt là kỹ năng số, cho lực lượng lao động. Tập trung nâng cao năng suất lao động theo tinh thần Nghị quyết 71 của Bộ Chính trị, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động, tăng tỷ lệ lao động phi nông nghiệp; đẩy mạnh đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học, từng bước đưa trí tuệ nhân tạo và rô-bốt vào giáo dục phổ thông; đồng thời có cơ chế đột phá phát triển các đại học quốc gia, cơ sở giáo dục đại học xuất sắc và các chương trình nghiên cứu công nghệ chiến lược, tạo nền tảng nhân lực cho phát triển dài hạn.

Thứ năm, chú trọng phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, xã hội, nâng cao đời sống nhân dân và bảo đảm an sinh xã hội.

Tiếp tục bảo tồn, tôn tạo và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc; đồng thời phát triển công nghiệp văn hóa với trọng tâm là điện ảnh, du lịch văn hóa và nghệ thuật biểu diễn, coi đây là một mũi nhọn kinh tế mới. Triển khai hiệu quả các giải pháp đột phá về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân theo tinh thần Nghị quyết 72 của Bộ Chính trị. Phấn đấu hoàn thành trên 110 nghìn căn nhà ở xã hội trong năm 2026, về đích sớm mục tiêu 1 triệu căn vào năm 2028; hoàn thành 248 trường liên cấp tại các xã biên giới.

Thứ sáu, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường.

Tập trung nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo và ứng phó thiên tai, nhất là lũ ống, lũ quét, sạt lở đất và các hiện tượng thời tiết cực đoan. Đẩy nhanh xây dựng, hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai, bất động sản, góp phần quản lý hiệu quả tài nguyên và phát triển thị trường minh bạch. Xử lý căn cơ ô nhiễm môi trường, nhất là tại các đô thị lớn; triển khai hiệu quả các chương trình thích ứng biến đổi khí hậu vùng Đồng bằng sông Cửu Long và phòng, chống lũ lụt, sạt lở, khô hạn tại miền Trung, Tây Nguyên và miền Bắc. Đồng thời, khai thác hiệu quả tài nguyên đất hiếm, phục vụ phát triển các ngành công nghiệp mới gắn với bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.

Thứ bảy, củng cố vững chắc quốc phòng, an ninh, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội; kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, tạo môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển đất nước.

Tiếp tục xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, thế trận phòng thủ quân khu, khu vực vững chắc; phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh tự chủ, lưỡng dụng, hiện đại, nâng cao sức mạnh tổng hợp của lực lượng vũ trang. Bảo đảm an ninh, an toàn tuyệt đối các sự kiện chính trị trọng đại, nhất là Đại hội lần thứ XIV của Đảng và bầu cử Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031; tăng cường bảo vệ bí mật nhà nước, đặc biệt trên không gian mạng và trong chuyển đổi số. Đồng thời, đẩy mạnh ngoại giao kinh tế, ngoại giao công nghệ, kết hợp chặt chẽ quốc phòng - an ninh với phát triển kinh tế; chuẩn bị tốt để tổ chức thành công Hội nghị APEC 2027. Tiếp tục làm tốt công tác bảo hộ công dân, thúc đẩy ngoại giao văn hóa, ngoại giao nhân dân, ngoại giao khoa học và công nghệ, qua đó nâng cao vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam.

Thưa toàn thể các đồng chí!

Những năm qua, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đã đoàn kết, nỗ lực vượt qua khó khăn, thách thức và đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Thực tiễn chứng minh, càng khó khăn, ý chí, bản lĩnh và tinh thần đoàn kết của dân tộc ta càng được tôi luyện và phát huy. Có thể khẳng định, đến thời điểm này, đất nước đã hội tụ đủ thế và lực, đủ ý chí và quyết tâm để bước vào kỷ nguyên phát triển giàu mạnh, thịnh vượng của dân tộc.

Vận hội mới đang mở ra, nhưng thời cơ chỉ trở thành hiện thực bằng nỗ lực và hành động. Tôi tin tưởng rằng Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương sẽ cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tiếp tục đoàn kết, đồng lòng, hành động quyết liệt với trách nhiệm cao nhất, hoàn thành thắng lợi các mục tiêu và nhiệm vụ năm 2026 và những năm tiếp theo.

Nhân dịp năm mới 2026 và chuẩn bị đón Xuân Bính Ngọ, thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, tôi chúc các đồng chí lãnh đạo, quý vị đại biểu cùng toàn thể đồng bào, đồng chí, chiến sĩ cả nước năm mới dồi dào sức khỏe, hạnh phúc, an khang, thịnh vượng và giành được nhiều thắng lợi mới.

Xin trân trọng cảm ơn!

-

Categories: The Latest News

Tổng Bí thư: Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực căn cốt cho mô hình phát triển mới

Thu, 01/08/2026 - 13:53
Làm việc với Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu cấp bách chuyển đổi mô hình phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đồng thời xác lập mô hình tăng trưởng mới nhằm hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số, bền vững và dài hạn...

Sáng ngày 7/1/2026, tại Hà Nội, Tổng Bí thư Tô Lâm làm việc với Ban Chính sách, chiến lược Trung ương về định hướng xây dựng hai nghị quyết quan trọng của Trung ương: Nghị quyết về đổi mới mô hình phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; Nghị quyết về các giải pháp chiến lược nhằm thúc đẩy tăng trưởng hai con số gắn với xác lập mô hình tăng trưởng mới.

Tổng Bí thư Tô Lâm và các đại biểu - Ảnh: TTXVN

Tại buổi làm việc, Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị đã trình bày báo cáo tóm tắt kết quả nghiên cứu nội dung xây dựng hai nghị quyết. Nhiều ý kiến đã tập trung phân tích bối cảnh, yêu cầu thực tiễn và đề xuất các giải pháp lớn cho giai đoạn phát triển mới.

Phát biểu kết luận, Tổng Bí thư nhấn mạnh yêu cầu quan trọng và cấp bách của việc chuyển đổi mô hình phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ và thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số gắn với xác lập mô hình tăng trưởng mới.

Kết quả nghiên cứu bước đầu của Ban Chính sách, chiến lược Trung ương được đánh giá là khá toàn diện, đề xuất được những chủ trương, giải pháp lớn, tạo nền tảng để tiếp tục hoàn thiện các dự thảo nghị quyết trình Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương.

Tổng Bí thư đề nghị Ban Chính sách, chiến lược Trung ương nghiên cứu tiếp thu đầy đủ các ý kiến để tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hai dự thảo nghị quyết quan trọng để trình Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương theo quy định.

Tổng Bí thư nêu rõ việc xây dựng hai nghị quyết phải bám sát và thể chế hóa đầy đủ các quan điểm, mục tiêu trong dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng; có tầm nhìn xa, bao quát, không bị chi phối bởi tư duy nhiệm kỳ hay lợi ích ngắn hạn; xuất phát từ thực tiễn Việt Nam, bảo đảm tính khả thi, tính hành động cao và có sức hiệu triệu, tạo đồng thuận trong toàn Đảng, hệ thống chính trị và xã hội.

Về định hướng lớn, Tổng Bí thư yêu cầu chuyển đổi mạnh mẽ tư duy phát triển, từ chiều rộng sang chiều sâu; từ dựa vào tài nguyên, lao động giản đơn sang dựa vào tri thức, công nghệ và năng suất; từ quản lý sang kiến tạo phát triển; từ Nhà nước “làm thay” sang “tạo điều kiện” cho xã hội và doanh nghiệp sáng tạo. Các thành phần kinh tế cần được phát huy đầy đủ vai trò, trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò dẫn dắt, kiến tạo, mở đường; kinh tế tư nhân là động lực quan trọng của nền kinh tế quốc gia.

Tổng Bí thư lưu ý phải nhận thức đúng mối quan hệ giữa ổn định và phát triển. Phát triển nhanh nhưng phải bền vững, gắn với tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường; tăng trưởng cao phải trên nền tảng ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm các cân đối lớn.

Khẳng định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chủ yếu của mô hình phát triển mới, Tổng Bí thư nhấn mạnh con người là trung tâm, là chủ thể và mục tiêu của phát triển. Phát triển khoa học – công nghệ phải gắn với phát triển con người Việt Nam toàn diện, có tri thức, bản lĩnh, đạo đức và khát vọng cống hiến.

Về tổ chức thực hiện, Tổng Bí thư đề nghị Ban Chính sách, chiến lược Trung ương tiếp tục chủ trì, phối hợp các cơ quan liên quan, khẩn trương hoàn thiện hai dự thảo nghị quyết theo đúng lộ trình, huy động trí tuệ của đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học trong và ngoài nước, tham mưu cho Trung ương những quyết sách đột phá, tạo nền tảng cho phát triển đất nước trong giai đoạn tới.

-Hà Lê

Categories: The Latest News

Thủ tướng yêu cầu hoàn thành “Chiến dịch Quang Trung” trước ngày 15/1/2026

Thu, 01/08/2026 - 13:52
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính yêu cầu huy động toàn bộ hệ thống chính trị, hoàn thành việc xây dựng, sửa chữa nhà ở cho các hộ dân miền Trung bị thiệt hại do bão, lũ trước ngày 15/1/2026, bảo đảm không còn người dân nào thiếu nhà ở ổn định để đón Tết Nguyên đán...

Ngày 7/1, tại trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính chủ trì Hội nghị trực tuyến với các tỉnh, thành phố miền Trung về tình hình triển khai “Chiến dịch Quang Trung” xây dựng lại, sửa chữa nhà ở cho các hộ dân có nhà bị thiệt hại do bão, lũ. Hội nghị được kết nối trực tuyến tới 8 tỉnh, thành phố miền Trung, với sự tham dự của Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà; lãnh đạo các bộ, ngành Trung ương; Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; lãnh đạo các địa phương và một số tập đoàn kinh tế.

Theo báo cáo tại hội nghị, do ảnh hưởng của bão, lũ cuối năm 2025, tại các tỉnh, thành phố từ Quảng Trị đến Lâm Đồng có 1.597 nhà dân bị sập, cuốn trôi phải xây lại và 34.759 nhà bị hư hỏng cần sửa chữa. Với mục tiêu bảo đảm mỗi hộ dân đều có nhà ở để đón Tết Nguyên đán, Thủ tướng Chính phủ đã phát động “Chiến dịch Quang Trung” nhằm khẩn trương khắc phục hậu quả thiên tai, ổn định đời sống người dân.

Tại cuộc họp kiểm điểm ngày 30/12/2025, toàn bộ 34.759 nhà bị hư hỏng đã được sửa chữa, đạt 100% mục tiêu đề ra. Trên cơ sở đó, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo tiếp tục đẩy nhanh tiến độ xây dựng nhà mới, phấn đấu hoàn thành trước ngày 15/1/2026, đồng thời lập thành tích chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, đến nay các địa phương đã hoàn thành xây mới 1.046/1.597 căn nhà, đạt 65,5%. Số nhà còn lại đều đã được khởi công, tiến độ thi công đạt từ 60% đến trên 80% khối lượng. Hạ tầng điện, nước, sóng viễn thông tại các khu vực bị ảnh hưởng đã được khôi phục đầy đủ; các địa phương không ghi nhận khó khăn, vướng mắc lớn về kinh phí, nhân lực và vật liệu xây dựng.

Phần lớn các địa phương cam kết hoàn thành xây dựng nhà ở cho người dân trước hoặc trong ngày 15/1/2026. Một số ít hộ gia đình tại Lâm Đồng, Đắk Lắk có nhu cầu xây dựng nhà với quy mô lớn hơn nên tiến độ chậm hơn, song vẫn bảo đảm hoàn thành trước Tết Nguyên đán và trước Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

Báo cáo tại hội nghị, đại diện Bộ Quốc phòng cho biết đã điều động 249.497 lượt cán bộ, chiến sĩ và dân quân tự vệ, cùng 8.935 lượt phương tiện phối hợp với các địa phương hỗ trợ xây mới 619 căn nhà bị sập, cuốn trôi và sửa chữa 363 căn nhà bị hư hỏng; đồng thời hỗ trợ tiền mặt và nhiều vật dụng sinh hoạt thiết yếu cho người dân.

Bộ Công an huy động hơn 11.000 lượt cán bộ, chiến sĩ tham gia khắc phục hậu quả thiên tai; hỗ trợ 50 triệu đồng/căn nhà xây dựng mới tại các địa phương, riêng tỉnh Hà Tĩnh hỗ trợ 100 triệu đồng/căn; tổng giá trị nguồn lực hỗ trợ trên 120 tỷ đồng; đồng thời trực tiếp chủ trì xây dựng mới 420 căn nhà bị sập đổ hoàn toàn.

Kết luận hội nghị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính ghi nhận, biểu dương và đánh giá cao sự vào cuộc tích cực, quyết liệt của các bộ, ngành, địa phương, đặc biệt là vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu trong triển khai hiệu quả “Chiến dịch Quang Trung”. Thủ tướng bày tỏ vui mừng khi toàn bộ 34.759 hộ dân có nhà phải sửa chữa đã ổn định sinh hoạt bình thường, hạ tầng điện, nước, viễn thông được khôi phục đầy đủ.

Thủ tướng Phạm Minh Chính phát biểu tại Hội nghị. Ảnh: VGP.

Với mục tiêu đến ngày 15/1/2026 không còn người dân nào không có nhà ở, Thủ tướng đề nghị các địa phương tiếp tục huy động tối đa lực lượng, nhất là Quân đội, Công an và các đoàn thể chính trị – xã hội, triển khai theo tinh thần “thần tốc, thần tốc hơn nữa”, “thi công 3 ca, 4 kíp”, “làm ngày, làm đêm”, bảo đảm hoàn thành đúng tiến độ, vì đời sống và hạnh phúc của nhân dân.

Cùng với việc xây dựng nhà ở, người đứng đầu Chính phủ yêu cầu các địa phương khẩn trương khôi phục đồng bộ hạ tầng điện, nước, sóng viễn thông, giao thông và vệ sinh môi trường; rà soát nhu cầu thiết yếu của người dân để huy động các nguồn lực hỗ trợ, bảo đảm người dân có điều kiện sinh hoạt ổn định, đón Tết Nguyên đán an toàn, đầm ấm.

Thủ tướng thống nhất chủ trương hỗ trợ 34.759 hộ dân tại 8 tỉnh, thành phố miền Trung có nhà phải sửa chữa, mỗi hộ 5 triệu đồng; hỗ trợ gần 5.000 hộ có nhà bị sập, cuốn trôi phải xây mới trên toàn quốc từ đầu năm đến nay, mỗi hộ 10 triệu đồng. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được giao phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường, các địa phương tổ chức triển khai, bảo đảm công khai, minh bạch, đúng đối tượng, chống lãng phí, tiêu cực.

Ngoài phạm vi “Chiến dịch Quang Trung”, Thủ tướng yêu cầu các tỉnh, thành phố trên cả nước tiếp tục rà soát các hộ dân chịu thiệt hại về nhà ở do thiên tai, bão lũ thời gian qua; trên tinh thần tương thân tương ái, chủ động cân đối ngân sách và huy động nguồn lực xã hội để hỗ trợ kịp thời các nhu cầu sinh hoạt thiết yếu, bảo đảm mọi người dân đều được ổn định đời sống và hưởng thụ không khí Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

-Minh Kiệt

Categories: The Latest News

Thủ tướng yêu cầu đẩy nhanh tiến độ dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 1

Thu, 01/08/2026 - 07:38
Sớm hoàn tất đàm phán, lựa chọn công nghệ tiên tiến cho các nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận là bước đi chiến lược nhằm bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia, tạo động lực phát triển kinh tế và nâng cao đời sống nhân dân trong giai đoạn mới…

Chủ trì phiên họp thứ tư của Ban Chỉ đạo xây dựng nhà máy điện hạt nhân vào tối ngày 7/1/2026, Thủ tướng Phạm Minh Chính, Trưởng Ban Chỉ đạo yêu cầu sớm hoàn thành đàm phán với phía Nga về hợp tác đầu tư xây dựng nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và đề xuất phương án lựa chọn đối tác có công nghệ nguồn tiên tiến phù hợp với tình hình mới để hợp tác đầu tư xây dựng nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 2.

Cùng dự phiên họp có Phó Thủ tướng Chính phủ Bùi Thanh Sơn, Phó Trưởng Ban Chỉ đạo; Quyền Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng; lãnh đạo các bộ ngành, cơ quan thuộc Chính phủ và Quốc hội, các địa phương, tập đoàn kinh tế nhà nước.

GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA

Cuộc họp diễn ra trong bối cảnh Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, với yêu cầu đặt ra năng lượng phải đi trước một bước, đáp ứng đầy đủ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và nâng cao đời sống nhân dân; trong đó tiếp tục chỉ đạo khẩn trương triển khai các dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2 với các đối tác phù hợp, bảo đảm lợi ích cao nhất của Việt Nam, có tính đến thỏa thuận trước đây, đưa vào vận hành trong giai đoạn 2030-2035.

Thủ tướng Phạm Minh Chính, Trưởng Ban Chỉ đạo xây dựng nhà máy điện hạt nhân chủ trì phiên họp. Ảnh: VGP.

Về phân công trách nhiệm đầu tư, Thủ tướng Chính phủ giao Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) làm chủ đầu tư nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1; Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) thực hiện nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 2, với mục tiêu phấn đấu hoàn thành công tác đầu tư xây dựng để bảo đảm cung ứng điện cho giai đoạn sau năm 2031.

Tại phiên họp thứ tư, các báo cáo cho thấy sự nỗ lực lớn từ các bộ, cơ quan khi hoàn thành 12 trên tổng số 15 nhiệm vụ được giao từ kỳ họp thứ ba, đạt tỷ lệ 80%. Những kết quả quan quan trọng bao gồm việc ban hành Nghị quyết 66.8/2025/NQ-CP ngày 26/11/2025 về việc tách nội dung bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thuộc dự án điện hạt nhân đã được Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư thành dự án độc lập; trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội bổ sung cơ chế chính sách đặc biệt để đầu tư xây dựng nhà máy; đã ban hành các văn bản quy định chi tiết của Luật Năng lượng nguyên tử...Tuy nhiên, còn 3 nhiệm vụ đang triển khai, chiếm 20%.

Đại diện các bộ, ngành báo cáo tại phiên họp. Ảnh: VGP.

Phát biểu kết luận phiên họp, Thủ tướng Phạm Minh Chính đánh giá cao các bộ, cơ quan, nhất là Bộ Công Thương đã tích cực triển khai công việc được giao, chủ động phối hợp với các đơn vị liên quan kịp thời giải quyết ngay các khó khăn, vướng mắc để thúc đẩy tiến độ triển khai các công việc, trong đó có việc hoàn thành 12 nhiệm vụ/15 nhiệm vụ sau phiên họp thứ ba; cơ bản hoàn thành công tác xây dựng thể chế; thúc đẩy đàm phán hiệp định hợp tác với phía Nga; đàm phán vay vốn; triển khai một số công việc giải phóng mặt bằng…

Tuy nhiên, tiến độ công việc chưa được như mong muốn, có nhiều vướng mắc phải tháo gỡ ngay như công tác đàm phán hiệp định hợp tác còn chậm, phụ thuộc nhiều vào các đối tác nước ngoài; bố trí vốn cho giải phóng mặt bằng.

HOÀN THÀNH CÁC NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM TRONG THÁNG 1/2026

Để đẩy nhanh tiến độ, Thủ tướng giao Bộ Công Thương chủ động phối hợp với Bộ Ngoại giao, các bộ, cơ quan theo chức năng nhiệm vụ, xây dựng phương án đàm phán đối với các nội dung còn chưa thống nhất để trao đổi, đàm phán với phía Nga về hợp tác đầu tư xây dựng nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1, kịp thời báo cáo cấp thẩm quyền các vấn đề vướng mắc phát sinh để bảo đảm hoàn thành trong tháng 01/2026.

Đối với nhà máy Ninh Thuận 2, Petrovietnam, Bộ Công Thương, Bộ Ngoại giao phối hợp nghiên cứu, đề xuất phương án lựa chọn đối tác có công nghệ nguồn tiên tiến phù hợp, báo cáo cấp thẩm quyền xem xét, quyết định.

Bộ Công Thương chủ động theo dõi, đôn đốc các bộ, cơ quan liên quan triển khai các nhiệm vụ được giao tại Nghị quyết số 249/NQ-CP ngày 22/8/2025 của Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai Nghị quyết số 189/2025/QH15 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc biệt đầu tư xây dựng dự án điện hạt nhân Ninh Thuận, bảo đảm hiệu quả, chất lượng, theo đúng tiến độ đã đề ra. Đồng thời, hoàn thiện các thủ tục, hồ sơ của Chính phủ, bảo đảm đúng quy định của pháp luật liên quan, trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua Nghị quyết về bổ sung một số cơ chế, chính sách đặc biệt đầu tư xây dựng dự án điện hạt nhân Ninh Thuận.

Thủ tướng Phạm Minh Chính phát biểu chỉ đạo tại phiên họp. Ảnh: VGP.

Đối với các bộ, ngành khác, Thủ tướng cũng giao nhiệm vụ với thời hạn hoàn thành cụ thể.

Theo đó, Bộ Khoa học và Công nghệ khẩn trương hoàn thiện hồ sơ, trình cấp thẩm quyền ban hành Danh mục bí mật nhà nước thuộc lĩnh vực khoa học và công nghệ, đồng thời tiếp tục ban hành các quy chuẩn, tiêu chuẩn cần thiết trong tháng 01/2026.

Bộ Tài chính khẩn trương phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan, EVN, Petrovietnam chủ động tổ chức đàm phán với các đối tác về hiệp định/thỏa thuận cung cấp tín dụng cho dự án nhà máy Ninh Thuận 1, nhà máy Ninh Thuận 2, bảo đảm đồng bộ với hiệp định hợp tác đầu tư xây dựng nhà máy.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường khẩn trương phối hợp với UBND tỉnh Khánh Hòa và các bộ, cơ quan liên quan báo cáo Thủ tướng Chính phủ về việc bãi bỏ Quyết định số 1504/QĐ-TTg ngày 28/8/2013 của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế, chính sách bồi thường, hỗ trợ di dân, tái định cư cho các nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận, trước ngày 15/01/2026.

Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai đào tạo nhân lực phục vụ phát triển điện hạt nhân; trong tháng 1/2026, EVN, Petrovietnam cung cấp yêu cầu về nhân lực cho 2 nhà máy.

Thủ tướng giao UBND tỉnh Khánh Hòa chủ động hoàn tất công tác chuẩn bị đầu tư để triển khai ngay dự án di dân, tái định cư, giải phóng mặt bằng cho 2 nhà máy. Tập trung triển khai công tác bồi thường, tái định cư, sớm di dời các hộ dân bảo đảm hoàn thành công tác giải phóng mặt bằng để bàn giao cho chủ đầu tư trong quý 1/2026; tăng cường kiểm tra, giám sát, không để xảy ra tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, bảo đảm người dân ra nơi ở mới phải có cuộc sống ổn định với nguyên tắc tốt hơn hoặc bằng nơi ở cũ.

 EVN và Petrovietnam tiếp tục thúc đẩy các công việc để triển khai các dự án nhà máy điện hạt nhân; phối hợp chặt chẽ với UBND tỉnh Khánh Hòa làm tốt công tác giải phóng mặt bằng, di dân tái định cư.

Chính phủ-Huyền Vy

Categories: The Latest News

Nâng cao năng lực tài chính của tổ chức bảo hiểm tiền gửi

Thu, 01/08/2026 - 07:34
Luật Bảo hiểm tiền gửi bổ sung nhiều quy định nhằm tạo hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng để tổ chức bảo hiểm tiền gửi nâng cao năng lực tài chính và tham gia hiệu quả vào quá trình cơ cấu lại tổ chức tín dụng.

Ngày 7/1, Văn phòng Chủ tịch nước đã tổ chức họp báo công bố lệnh của Chủ tịch nước về 12 luật đã được Quốc hội Khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10, trong đó có Luật Bảo hiểm tiền gửi.

Theo Phó thống đốc Ngân hàng Nhà nước Đoàn Thái Sơn, Luật Bảo hiểm tiền gửi có hiệu lực thi hành từ ngày 1/5/2026.

Việc xây dựng luật nhằm tạo hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng để tổ chức bảo hiểm tiền gửi nâng cao năng lực tài chính và tham gia hiệu quả vào quá trình cơ cấu lại tổ chức tín dụng.

Qua đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền, đảm bảo duy trì sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng; an ninh trật tự, an toàn xã hội theo định hướng tại Chiến lược phát triển Bảo hiểm tiền gửi và Chiến lược ngành ngân hàng.

Luật Bảo hiểm tiền gửi gồm 8 chương, 41 điều; quy định về quyền, nghĩa vụ của người được bảo hiểm tiền gửi, tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi, tổ chức bảo hiểm tiền gửi.

Đặc biệt, luật quy định việc tổ chức bảo hiểm tiền gửi tham gia xử lý tổ chức tín dụng được can thiệp sớm, kiểm soát đặc biệt, tham gia xử lý sự cố, khủng hoảng trong hoạt động của tổ chức tín dụng.

Theo đó, tổ chức bảo hiểm tiền gửi thực hiện cho vay đặc biệt tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi trong trường hợp: (i) được can thiệp sớm và bị rút tiền hàng loạt, được kiểm soát đặc biệt và bị rút tiền hàng loạt; (ii) để thực hiện phương án phục hồi, phương án chuyển giao bắt buộc. Tổ chức bảo hiểm tiền gửi tự quyết định việc cho vay đặc biệt, bao gồm cả việc cho vay có/không có tài sản bảo đảm, có/không có lãi.

Luật Bảo hiểm tiền gửi cũng bổ sung quy định để đảm bảo an toàn hệ thống, trật tự an toàn xã hội theo quy định tại khoản 4 Điều 162 Luật các Tổ chức tín dụng, NHNN báo cáo Chính phủ quyết định việc yêu cầu tổ chức bảo hiểm tiền gửi chi trả trong trường hợp tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt bị mất hoặc có nguy cơ mất khả năng chi trả.

Quy định này tạo cơ sở để tổ chức bảo hiểm tiền gửi có thể chi trả sớm hơn cho người gửi tiền, thực hiện tốt hơn chức năng bảo vệ quyền lợi người gửi tiền.

Bên cạnh đó, tổ chức bảo hiểm tiền gửi được NHNN cho vay đặc biệt với lãi suất 0%, không có tài sản bảo đảm trong trường hợp quy định tại Điều 21 của Luật này và khi số tiền trong quỹ dự phòng nghiệp vụ không đủ để trả tiền bảo hiểm; đồng thời giao tổ chức bảo hiểm tiền gửi xây dựng phương án tăng phí bảo hiểm tiền gửi và quy định cụ thể nguồn để ưu tiên hoàn trả nợ vay đặc biệt cho NHNN.

Ngoài ra, trường hợp phát sinh sự cố, khủng hoảng có nguy cơ gây mất an toàn hệ thống tổ chức tín dụng, tổ chức bảo hiểm tiền gửi tham gia xử lý sự cố, khủng hoảng theo quy định tại luật này. Chính phủ quyết định các biện pháp khác để tổ chức bảo hiểm tiền gửi tham gia xử lý sự cố, khủng hoảng.

Về tổ chức bảo hiểm tiền gửi, luật điều chỉnh các quy định về mô hình tổ chức, hoạt động, nguồn vốn hoạt động, chế độ tài chính, hạch toán, kế toán của tổ chức bảo hiểm tiền gửi.

Về hoạt động đầu tư của tổ chức bảo hiểm tiền gửi, luật quy định các hình thức đầu tư, bao gồm: mua, bán trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi được phát hành bởi ngân hàng thương mại do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, ngân hàng thương mại cổ phần do doanh nghiệp nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ; gửi tiền tại các ngân hàng thương mại nêu trên; hoạt động đầu tư khác theo quy định của Chính phủ…

Hiện Thủ tướng Chính phủ đã giao NHNN, Bộ Tài chính chủ trì xây dựng 1 Nghị định và 5 Thông tư quy định chi tiết để tổ chức thi hành luật này.

-Đỗ Mến

Categories: The Latest News

Thông báo về Đại hội Đảng tới các Cơ quan đại diện ngoại giao, Tổ chức quốc tế

Wed, 01/07/2026 - 23:00
Chiều 7/1 tại Hà Nội, lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam đã thông báo chính thức về Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam tới các cơ quan đại diện ngoại giao nước ngoài và các tổ chức quốc tế tại Việt Nam, khẳng định ý nghĩa đặc biệt của Đại hội, định hướng phát triển đất nước và đường lối đối ngoại nhất quán trong giai đoạn mới.

Được sự ủy quyền của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đồng chí Lê Hoài Trung, Bí thư Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, cùng các đồng chí Nguyễn Thanh Bình, Phó Trưởng ban Tổ chức Trung ương; Phan Xuân Thủy, Phó Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, đã đồng chủ trì buổi Thông báo về Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XIV tới các cơ quan đại diện ngoại giao nước ngoài và các tổ chức quốc tế tại Việt Nam. Tham dự buổi thông báo có đại diện lãnh đạo nhiều ban, bộ, ngành ở Trung ương.

Đại biểu đại diện các cơ quan ngoại giao, các Tổ chức quốc tế tham dự. Ảnh: TTXVN

Phát biểu tại buổi thông báo, đồng chí Lê Hoài Trung nhấn mạnh trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực diễn biến nhanh chóng, phức tạp, với cơ hội và thách thức đan xen, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV mang ý nghĩa bước ngoặt, là dấu mốc đặc biệt quan trọng trong tiến trình phát triển của đất nước. Đây là dịp để tổng kết 40 năm thực hiện công cuộc Đổi mới và đánh giá 5 năm triển khai Nghị quyết Đại hội XIII, từ đó xác định mục tiêu, phương hướng phát triển toàn diện trong kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam.

Với ý nghĩa đó, Đại hội XIV được Ban Chấp hành Trung ương, trực tiếp là Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Tổng Bí thư Tô Lâm chỉ đạo chặt chẽ, toàn diện trên tất cả các mặt. Việc thông báo sớm, đầy đủ tới cộng đồng ngoại giao và các tổ chức quốc tế thể hiện tinh thần chủ động, minh bạch và nhất quán của Việt Nam trong đối ngoại, đồng thời góp phần tăng cường hiểu biết, tin cậy và hợp tác với các đối tác quốc tế.

Đồng chí Lê Hoài Trung đã giới thiệu chủ đề Đại hội XIV: “Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030; tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, vì hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên xã hội chủ nghĩa”. Chủ đề này thể hiện rõ quyết tâm tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc Đổi mới, hướng tới các mốc phát triển quan trọng của đất nước trong những thập niên tới.

Thông tin về công tác chuẩn bị văn kiện Đại hội, đồng chí Lê Hoài Trung cho biết Báo cáo chính trị được xây dựng theo cách tiếp cận mới, lần đầu tích hợp nội dung của ba báo cáo lớn, qua đó phản ánh tư duy đổi mới, toàn diện và thống nhất. Văn kiện được chuẩn bị công phu, lấy ý kiến rộng rãi trong toàn Đảng, toàn dân, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Công tác nhân sự Đại hội – nhiệm vụ có ý nghĩa đặc biệt hệ trọng – được triển khai thận trọng, chặt chẽ, bảo đảm là điều kiện tiên quyết để hiện thực hóa tầm nhìn và khát vọng phát triển.

Tại buổi thông báo, lãnh đạo Bộ Ngoại giao cũng thông tin về những kết quả nổi bật của nhiệm kỳ Đại hội XIII và 40 năm Đổi mới. Giai đoạn 2021–2025, tăng trưởng kinh tế đạt bình quân khoảng 6,3%/năm, thuộc nhóm cao trong khu vực và thế giới; chất lượng tăng trưởng được cải thiện, gắn kết chặt chẽ hơn với tiến bộ và công bằng xã hội. Quốc phòng, an ninh được củng cố; công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng đạt nhiều kết quả quan trọng; việc sắp xếp tổ chức bộ máy theo hướng tinh, gọn, mạnh tạo ra những chuyển biến mang tính đột phá.

Về định hướng thời gian tới, dự thảo Báo cáo chính trị và Chương trình hành động xác định tập trung vào ba đột phá chiến lược và sáu nhiệm vụ trọng tâm, nhằm đưa đất nước tiến mạnh trong kỷ nguyên phát triển mới. Đường lối đối ngoại tiếp tục kế thừa tinh thần độc lập, tự chủ của thời kỳ Đổi mới, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu tăng cường quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế. Việt Nam kiên định chủ trương là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.

Đồng chí Lê Hoài Trung cho biết công tác tổ chức Đại hội đến nay được chuẩn bị chu đáo, bảo đảm an ninh, an toàn và tuân thủ các quy định của Đảng. Đại hội XIV dự kiến diễn ra từ ngày 19 đến 25/1/2026. Nhân dịp này, lãnh đạo Việt Nam trân trọng mời đại diện các cơ quan đại diện ngoại giao nước ngoài và các tổ chức quốc tế tại Việt Nam tham dự phiên khai mạc và bế mạc Đại hội.

Tại buổi thông báo, nhiều đại sứ, trưởng cơ quan ngoại giao và đại diện tổ chức quốc tế đánh giá cao những thành tựu phát triển của Việt Nam, bày tỏ tin tưởng Đại hội XIV sẽ đề ra những định hướng chiến lược đúng đắn cho giai đoạn phát triển tiếp theo. Lãnh đạo Bộ Ngoại giao khẳng định Việt Nam mong muốn tiếp tục nhận được sự đồng hành, hợp tác và ủng hộ của cộng đồng quốc tế trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc.

-Dũng Hiếu

Categories: The Latest News

Tập trung cao độ, bảo đảm tiến độ, chất lượng chuẩn bị Đại hội XIV của Đảng

Wed, 01/07/2026 - 23:00
Chiều 7/1, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú chủ trì làm việc với Văn phòng Trung ương Đảng và các cơ quan liên quan về công tác chuẩn bị Đại hội XIV. Cuộc làm việc tập trung rà soát tiến độ, yêu cầu bảo đảm chất lượng toàn diện các nhiệm vụ, từ nhân sự, văn kiện, tuyên truyền đến an ninh, hậu cần, hướng tới tổ chức thành công Đại hội.

Sau khi nghe báo cáo, các ý kiến phát biểu, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú biểu dương các cơ quan, đơn vị đã phát huy tinh thần trách nhiệm nỗ lực hoàn thành tốt nhiệm vụ theo đúng kế hoạch. Công tác chuẩn bị đã được triển khai chu đáo, khoa học, hiệu quả.  Đến ngày 7/1/2026, các cơ quan chức năng đã cơ bản hoàn thành những nhóm nhiệm vụ lớn theo đúng tiến độ.

Đồng chí Trần Cẩm Tú, Uỷ viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, Trưởng Tiểu ban Tổ chức phục vụ Đại hội XIV phát biểu chỉ đạo buổi làm việc - Ảnh: TTXVN

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng không chỉ là sự kiện chính trị trọng đại, mà còn là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, là sự kiện có ý nghĩa dấu mốc mở ra kỷ nguyên phát triển mới của đất nước. Thường trực Ban Bí thư đề nghị đẩy mạnh công tác tuyên truyền về Đại hội XIV của Đảng tới cơ sở, xã, phường, đặc khu nhằm tạo sự thống nhất cao về tư tưởng, hành động trong toàn hệ thống chính trị, khơi dậy niềm tin, lòng tự hào, tạo không khí phấn khởi, đồng thuận trong toàn xã hội, lan tỏa mạnh mẽ thông điệp về tầm nhìn của Đảng, thành tựu của đất nước và khát vọng phát triển của dân tộc; Đồng thời, yêu cầu tăng cường công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thông tin xấu độc, nhất là trên không gian mạng, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Tiểu ban nhân sự và Ban Tổ chức Trung ương tiếp tục rà soát hoàn thiện hồ sơ nhân sự Đại hội, các tài liệu liên quan và phối hợp hoàn thiện báo cáo thẩm tra tư cách đại biểu tham dự Đại hội. Bộ Công an, Bộ Quốc phòng tích cực triển khai phương án tổng thể bảo đảm an ninh, an toàn tuyệt đối trước, trong và sau Đại hội, các hoạt động chào mừng thành công Đại hội.

Đồng chí Trần Cẩm Tú nhấn mạnh Văn phòng Trung ương Đảng cần bao quát, nắm chắc tình hình triển khai các nhóm nhiệm vụ, chủ động rà soát, đôn đốc, kịp thời phát hiện, báo cáo, đề xuất xử lý các vấn đề phát sinh. Các cơ quan, đơn vị tích cực chủ động phối hợp chặt chẽ, khoa học bảo đảm thực hiện hiệu quả mọi công việc, góp phần vào thành công của Đại hội XIV của Đảng.

Cùng với đó, Văn phòng Trung ương Đảng chủ động đôn đốc việc chuẩn bị các nội dung: Chỉ thị của Bộ Chính trị về việc nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Chương trình làm việc toàn khóa, Chương trình hành động, Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XIV, hai nghị quyết quan trọng của Trung ương triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng… để trình Hội nghị Trung ương lần thứ hai, khóa XIV.

Tại không gian bên ngoài Hội trường chính tại Trung tâm Hội nghị quốc gia, cùng với trưng bày sách, ảnh các kỳ Đại hội, Thường trực Ban Bí thư đề nghị Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch khẩn trương cùng các cơ quan hữu quan cụ thể hoá phương án, thẩm định để tổ chức triển lãm trưng bày, giới thiệu những thành tựu nổi bật của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong 40 năm đổi mới, phát triển đất nước và trong nhiệm kỳ, bằng những sản phẩm tiêu biểu, đặc sắc; chuẩn bị khai trương Trung tâm báo chí đúng thời gian theo kế hoạch.

Thường trực Ban Bí thư đề nghị các Tiểu ban tăng cường phối hợp, trao đổi trong triển khai các nhiệm vụ còn lại. Công tác an ninh, an toàn, phòng, chống cháy nổ tiếp tục được triển khai đảm bảo khoa học, kỹ lưỡng, bài bản. Các cơ quan hữu quan tập trung cao độ, nỗ lực hoàn thành dứt điểm những nhiệm vụ quan trọng theo kế hoạch trước ngày 15/1 và tiếp tục triển khai nghiêm túc, khoa học, chặt chẽ đối với những nhóm nhiệm vụ thực hiện trước, trong và sau Đại hội theo đúng chương trình, kế hoạch.

Nhấn mạnh từ nay đến ngày khai mạc Đại hội còn khoảng hơn 10 ngày, Thường trực Ban Bí thư đề nghị các cơ quan bám sát, bao quát, nắm chắc tình hình, đôn đốc hoàn thành thật tốt các nhiệm vụ; kiểm tra, rà soát thường xuyên. Trước và trong thời gian diễn ra Đại hội, Tiểu ban Văn kiện, Tiểu ban Điều lệ Đảng và các Ban Đảng Trung ương bám sát các nội dung thảo luận để tiếp thu, khẩn trương hoàn thiện các văn kiện theo đúng tinh thần của Đại hội XIV của Đảng.

-Hà Lê

Categories: The Latest News

Thủ tướng yêu cầu tăng tốc các dự án hạ tầng trọng điểm tại Cần Thơ, An Giang và Cà Mau

Wed, 01/07/2026 - 22:06
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính yêu cầu các bộ, ngành và địa phương huy động tối đa nguồn lực, tháo gỡ dứt điểm các vướng mắc về mặt bằng, vật liệu và tổ chức thi công, bảo đảm tiến độ các dự án giao thông trọng điểm tại Cần Thơ, An Giang và Cà Mau, coi đây là nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng đối với phát triển vùng Đồng bằng sông Cửu Long...

Văn phòng Chính phủ vừa ban hành Thông báo số 8/TB-VPCP ngày 6/1/2026 kết luận của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tại buổi họp về tình hình triển khai một số dự án trọng điểm trên địa bàn thành phố Cần Thơ và các tỉnh An Giang, Cà Mau.

NHIỆM VỤ CHIẾN LƯỢC, PHẢI LÀM BẰNG QUYẾT TÂM CAO NHẤT

Theo Thông báo, Thủ tướng nhấn mạnh việc phát triển kết cấu hạ tầng giao thông trọng điểm tại thành phố Cần Thơ, các tỉnh Cà Mau và An Giang nói riêng, cũng như toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long nói chung, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, mang tính chiến lược lâu dài, vừa phục vụ phát triển kinh tế – xã hội, vừa bảo đảm quốc phòng, an ninh khu vực địa đầu cực Nam của Tổ quốc. Đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ, quyết liệt của tất cả các bộ, ngành, địa phương liên quan.

Đối với các dự án cao tốc Cà Mau – Cái Nước – Đất Mũi, đường ra đảo Hòn Khoai và dự án cải tạo hạ tầng đảo Thổ Chu, Thủ tướng hoan nghênh và biểu dương Bộ Quốc phòng và tỉnh Cà Mau đã triển khai quyết liệt, bảo đảm tiến độ đề ra. Thủ tướng đồng thời ghi nhận, đánh giá cao sự đồng thuận, ủng hộ của người dân trong việc bàn giao mặt bằng, tạo điều kiện để các dự án được triển khai.

Thủ tướng yêu cầu UBND tỉnh Cà Mau tiếp tục thực hiện tốt công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; bảo đảm đời sống, sinh kế của người dân trong vùng dự án, với yêu cầu nơi ở mới tối thiểu phải bằng và phấn đấu tốt hơn nơi ở cũ. UBND tỉnh An Giang được giao hoàn thiện thủ tục bàn giao diện tích rừng cho Quân khu 9 để phục vụ thi công các dự án cải tạo hạ tầng đảo Thổ Chu, hoàn thành trước ngày 15/1/2026.

Liên quan đến vật liệu xây dựng, Thủ tướng yêu cầu các tỉnh Vĩnh Long và Đồng Tháp khẩn trương hoàn tất thủ tục cấp phép khai thác mỏ cát theo đề nghị của nhà thầu, bảo đảm tiến độ thi công. Bộ Nông nghiệp và Môi trường được giao chủ trì hướng dẫn An Giang cấp phép trực tiếp mỏ cát, đá cho nhà thầu; trường hợp cần thiết phải có nghị quyết của Chính phủ hoặc ý kiến cấp có thẩm quyền thì kịp thời báo cáo trước ngày 15/1/2026.

Về tổ chức thi công, Thủ tướng yêu cầu Bộ Quốc phòng chỉ đạo huy động tối đa lực lượng, thiết bị, tăng ca, tăng kíp, tăng mũi thi công cả trên biển và đất liền; đồng thời nghiên cứu phương án thiết kế tại các vị trí cầu lớn như cầu Cửa Lớn, cầu ra đảo Hòn Khoai theo hướng tạo điểm nhấn cảnh quan, kiến trúc, hình thành công trình có giá trị du lịch đặc thù của khu vực.

THÔNG XE CAO TỐC CHÂU ĐỐC - CẦN THƠ - SÓC TRĂNG TRƯỚC 30/6/2026

Đối với dự án cao tốc Châu Đốc – Cần Thơ – Sóc Trăng đoạn qua địa bàn thành phố Cần Thơ, Thủ tướng Chính phủ nhấn mạnh đây là tuyến cao tốc trục ngang quan trọng của vùng Đồng bằng sông Cửu Long, đi qua thành phố Cần Thơ và tỉnh An Giang. Trong đó, đoạn tuyến qua tỉnh An Giang đã bảo đảm tiến độ, thông xe kỹ thuật vào ngày 19/12/2025; tuy nhiên, đoạn tuyến qua địa bàn thành phố Cần Thơ hiện còn chậm, chưa đáp ứng yêu cầu.

Để bảo đảm dự án được đưa vào vận hành, khai thác đồng bộ với đoạn tuyến đã hoàn thành, Thủ tướng yêu cầu Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ tập trung chỉ đạo các chủ đầu tư, ban quản lý dự án và các đơn vị liên quan rà soát, xây dựng lại tiến độ chi tiết; xác định rõ các hạng mục là đường găng tiến độ để tập trung chỉ đạo, tổ chức thực hiện.

Thành phố Cần Thơ phải rà soát toàn bộ nguồn nguyên vật liệu có khả năng cung cấp cho dự án, bảo đảm không để tái diễn tình trạng thiếu vật liệu như thời gian vừa qua; tranh thủ điều kiện thời tiết thuận lợi, huy động tối đa nhân lực, thiết bị, tăng ca, tăng kíp, tăng mũi thi công, bảo đảm tiến độ, chất lượng, an toàn lao động và vệ sinh môi trường, phấn đấu thông xe kỹ thuật trước ngày 30/6/2026.

Thủ tướng đồng thời yêu cầu chủ động rà soát việc phân chia các gói thầu, tuyệt đối không chia nhỏ gói thầu gây khó khăn cho tổ chức thi công; kịp thời điều chỉnh, khắc phục các tồn tại, không để xảy ra tham nhũng, tiêu cực, lãng phí; tổ chức thanh tra việc triển khai dự án chậm tiến độ, làm rõ nguyên nhân, đề xuất giải pháp khắc phục và báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong tháng 1/2026. Công tác tái định cư cho người dân bị ảnh hưởng bởi dự án tiếp tục phải được quan tâm, bảo đảm nơi ở mới tối thiểu bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ.

Đối với dự án cao tốc Bắc – Nam phía Đông đoạn Hậu Giang – Cà Mau, Thủ tướng giao Bộ Xây dựng tập trung chỉ đạo các chủ đầu tư, ban quản lý dự án, nhà thầu và các đơn vị liên quan huy động tối đa lực lượng, thiết bị, tăng ca, tăng kíp, tăng mũi thi công để đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện toàn bộ dự án; bảo đảm hoàn thành, đưa vào khai thác, vận hành đồng bộ trước ngày 31/01/2026.

Bộ Xây dựng được yêu cầu báo cáo Thủ tướng Chính phủ các giải pháp khắc phục vướng mắc và phương án tổ chức thi công cụ thể nhằm đẩy nhanh tiến độ dự án cao tốc Hậu Giang – Cà Mau trước ngày 08/01/2026.

-Minh Kiệt

Categories: The Latest News

Chủ tịch nước Lương Cường trao quyết định bổ nhiệm Phó Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao

Wed, 01/07/2026 - 18:50
Sáng 7/1, tại Phủ Chủ tịch, Chủ tịch nước Lương Cường chủ trì buổi lễ trao quyết định bổ nhiệm Phó Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao đối với các Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao Lê Tiến và Nguyễn Biên Thùy.

Trao quyết định và phát biểu tại buổi lễ, Chủ tịch nước chúc mừng hai Phó Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao được bổ nhiệm và khẳng định đây là sự ghi nhận, đánh giá cao của Đảng, Nhà nước, nhân dân và ngành Tòa án; đồng thời, là niềm vinh dự lớn lao cũng như trách nhiệm to lớn đối với hai Thẩm phán.

Chủ tịch nước khẳng định hai Phó Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao được bổ nhiệm đều là những cán bộ được đào tạo cơ bản, hệ thống, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, trưởng thành từ cơ sở, có nhiều kinh nghiệm thực tiễn trong lĩnh vực tư pháp.

Để hoàn thành tốt nhiệm vụ ở cương vị công tác mới, Chủ tịch nước đề nghị hai phó chánh án tuân thủ nghiêm sự lãnh đạo của Đảng, thực hiện đúng các nguyên tắc và quy định của Hiến pháp và pháp luật, cùng tập thể lãnh đạo Tòa án nhân dân Tối cao, lãnh đạo ngành Tòa án thực hiện mục tiêu cao nhất.

Đó là bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; thực hiện thắng lợi mục tiêu "xây dựng nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân".

Chủ tịch nước lưu ý hai phó chánh án cần không ngừng học tập, tu dưỡng, rèn luyện, giữ gìn phẩm chất đạo đức cách mạng trong sáng, lối sống trong sạch, lành mạnh, trách nhiệm, tận tụy, gương mẫu, nâng cao năng lực công tác, cùng với tập thể cấp ủy, lãnh đạo Tòa án nhân dân Tối cao, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao giữ vững, phát huy các thành tựu và truyền thống vẻ vang của ngành Tòa án nhân dân đã đạt được trong 80 năm qua.

Cùng với đó, không ngừng đổi mới trong việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng về cải cách tư pháp, về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; hoàn thiện hệ thống pháp luật,; góp phần kiến tạo và thúc đẩy phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên phát triển giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc của dân tộc Việt Nam.

Ngoài ra, cần tiếp tục nỗ lực, đoàn kết và thống nhất cao cùng tập thể lãnh đạo Tòa án nhân dân Tối cao tập trung lãnh đạo ngành Tòa án làm tốt công tác xây dựng Đảng gắn với công tác xây dựng ngành, tinh gọn tổ chức bộ máy đảm bảo hoạt động thực sự hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với mô hình Tòa án 3 cấp; tăng cường kỷ luật, kỷ cương, xây dựng đội ngũ cán bộ Thẩm phán vững mạnh, chuyên nghiệp, liêm chính để làm cơ sở, nền tảng vững chắc cho việc thực hiện nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động xét xử của Tòa án các cấp.

-Như Nguyệt

Categories: The Latest News

Thúc đẩy kinh tế báo chí, xây dựng nền báo chí chuyên nghiệp, nhân văn, hiện đại

Wed, 01/07/2026 - 15:45
Luật Báo chí năm 2025 bổ sung nhiều quy định mới, nhằm hướng tới mục tiêu xây dựng nền báo chí chuyên nghiệp, nhân văn và hiện đại; thúc đẩy kinh tế báo chí.

Sáng 7/1, Văn phòng Chủ tịch nước tổ chức họp báo công bố lệnh của Chủ tịch nước về 12 luật đã được Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV thông qua.

QUY ĐỊNH “CƠ QUÁN BÁO CHÍ CHỦ LỰC ĐA PHƯƠNG TIỆN”

Thứ trưởng Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch Trịnh Thị Thủy cho biết Luật Báo chí năm 2025 gồm 4 chương, 51 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2026.

Luật bổ sung quy định về vị trí của báo chí; quyền yêu cầu cải chính trên báo chí của công dân… Đặc biệt, luật bổ sung quy định các nguyên tắc về mô hình hoạt động, kinh tế báo chí, mở rộng không gian hoạt động của báo chí để phát triển báo chí trong bối cảnh sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị; đáp ứng yêu cầu thông tin, tuyên truyền trong kỷ nguyên mới.

Theo đó, “cơ quan báo chí chủ lực đa phương tiện” có nhiều loại hình báo chí, cơ quan báo chí trực thuộc; có cơ chế đặc thù về tài chính; được thành lập phù hợp với Chiến lược phát triển và quản lý hệ thông báo chí được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Còn “cơ quan báo và phát thanh, truyền hình thuộc tỉnh ủy, thành ủy”, có nhiều loại hình báo chí, sản phẩm báo chí.

Luật bổ sung quy định về nguồn thu mới của cơ quan báo chí; quy định các phương thức Nhà nước giao nhiệm vụ, đặt hàng, đấu thầu và hỗ trợ cước vận chuyển, chi phí đăng tải, truyền dẫn, phát sóng để báo chí phục vụ nhiệm vụ chính trị, an ninh, quốc phòng, văn hóa, truyền thông chính sách…

Bên cạnh đó, luật sửa đổi quy định tên gọi 4 loại hình báo chí (gồm: báo chí in, báo chí điện từ, phát thanh, truyền hình). Bổ sung các khái niệm tạp chí để phân biệt rõ báo, tạp chí; xuất bản báo chí trên không gian mạng... Bổ sung điều kiện xét cấp thẻ nhà báo lần đầu phải qua lớp bồi dưỡng nghiệp vụ báo chí, đạo đức nghề nghiệp.

TRIỂN KHAI CÁC GIẢI PHÁP QUYẾT LIỆT ĐỂ "NẮN DÒNG" QUẢNG CÁO

Tại họp báo, ông Lê Văn Hiếu, Phó Cục trưởng Cục Báo chí (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), cho biết việc sửa đổi luật lần này nhằm hướng tới mục tiêu xây dựng nền báo chí chuyên nghiệp, nhân văn và hiện đại; thúc đẩy kinh tế báo chí.

Luật Báo chí sửa đổi quy định rõ các hình thức Nhà nước đặt hàng, giao nhiệm vụ và đấu thầu để cơ quan báo chí thực hiện nhiệm vụ chính trị, tuyên truyền thiết yếu, truyền thông chính sách và thông tin đối ngoại.

Ngoài ra, thay vì chỉ giới hạn ở tên miền hay bản in như trước đây, luật đã công nhận các tài khoản, kênh nội dung của cơ quan báo chí trên mạng xã hội là sản phẩm báo chí, tạo cơ sở pháp lý để thực hiện cơ chế đặt hàng đối với loại hình này.

Đặc biệt, Điều 29 quy định cơ quan báo chí được phép tích hợp các dịch vụ công, thương mại điện tử, tài chính, giáo dục, y tế trên không gian mạng. Quy định này nhằm tạo cơ chế minh bạch giúp các tòa soạn đa dạng hóa và phát triển nguồn thu hợp pháp.

Theo Phó Cục trưởng Cục Báo chí, vấn đề bảo vệ bản quyền trên không gian mạng sẽ được triển khai quyết liệt hơn. Hiện nay, trên các nền tảng xuyên biên giới, dòng tiền quảng cáo có thể đang “chảy “vào cả những nội dung hoặc kênh vi phạm.

“Do đó, chúng tôi sẽ sử dụng các biện pháp kỹ thuật để nắn dòng quảng cáo này đưa một phần nguồn thu về cho các cơ quan báo chí chính thống", ông Lê Văn Hiếu cho biết thêm.

Theo ông Lê Văn Hiếu, cơ quan quản lý sẽ tiếp tục làm việc với Bộ Tài chính để điều chỉnh các chính sách về thuế và quảng cáo nhằm tạo điều kiện tốt hơn cho báo chí.

Liên quan đến liên kết sản xuất nội dung, đại diện Cục Báo chí cho biết Điều 23 quy định cơ quan báo chí hợp tác với các đối tác nhằm huy động nguồn lực xã hội hóa, nâng cao chất lượng sản phẩm phục vụ bạn đọc.

Hoạt động liên kết được thực hiện ở hầu hết các lĩnh vực, trừ nội dung về chính trị - xã hội, quốc phòng - an ninh và đối ngoại. Nguyên tắc là người đứng đầu cơ quan báo chí phải chịu trách nhiệm về nội dung.

Ông Lê Văn Hiếu cũng cho biết Chính phủ sẽ sớm ban hành Nghị định hướng dẫn chi tiết về điều kiện, hình thức cũng như quyền và nghĩa vụ các bên, đảm bảo hoạt động liên kết vừa hiệu quả, vừa tuân thủ đúng tôn chỉ, mục đích.

-Đỗ Mến

Categories: The Latest News

Công bố 12 luật, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý trong giai đoạn mới

Wed, 01/07/2026 - 11:21
Ngày 7/1, Văn phòng Chủ tịch nước họp báo công bố lệnh của Chủ tịch nước về 12 luật đã được Quốc hội khóa XV thông qua, tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý trong giai đoạn mới.

Các luật này gồm: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục; Luật Giáo dục nghề nghiệp; Luật Giáo dục đại học;

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiếp công dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo; Luật Phục hồi, phá sản; Luật Tòa án chuyên biệt tại Trung tâm tài chính quốc tế; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điều ước quốc tế;

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Địa chất và khoáng sản; Luật Báo chí; Luật Bảo hiểm tiền gửi.

THÁO GỠ CÁC “ĐIỂM NGHẼN” PHÁP LÝ VỀ KHOÁNG SẢN

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng cho biết việc xây dựng, ban hành dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Địa chất và khoáng sản nhằm cắt giảm điều kiện đầu tư kinh doanh và tháo gỡ các “điểm nghẽn” pháp lý phát sinh từ thực tiễn quản lý, góp phần tạo nền tảng cho tăng trưởng kinh tế bền vững.

Luật tập trung vào 5 nhóm chính sách bao gồm:

Nhóm chính sách thứ nhất là rà soát để sửa đổi, bổ sung quy định trong cấp phép hoạt động khoáng sản nhóm III, nhóm IV để cung cấp vật liệu xây dựng cho dự án đầu tư công theo quy định của pháp luật về đầu tư công; dự án đầu tư thực hiện theo phương thức đối tác công tư (PPP) theo quy định của pháp luật về đầu tư theo phương thức đối tác công tư; các công trình, dự án trọng diểm, quan trọng quốc gia…

Nhóm chính sách thứ hai là sửa đổi, bổ sung một số nội dung liên quan đến tiêu chí khoanh định khu vực không đấu giá quyền khai thác khoáng sản để bảo đảm nguyên liệu, vật liệu cho các công trình, dự án đầu tư quan trọng, cấp bách, khẩn cấp…

Nhóm chính sách thứ ba là cho phép cơ quan quản lý nhà nước cấp giấy phép thăm dò xuống sâu, mở rộng đối với tổ chức, cá nhân đang khai thác khoáng sản hợp pháp mà không phải điều chỉnh, bổ sung quy hoạch khoáng sản trước khi cấp giấy phép thăm dò…

Nhóm chính sách thứ tư là bổ sung các quy định về quản lý đất hiếm.

Nhóm chính sách thứ năm là bổ sung quy định về quyền ưu tiên nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy phép khai thác khoáng sản đối với tài nguyên, trữ lượng khoáng sản đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận.

QUYẾT ĐỊNH MỘT BỘ SÁCH GIÁO KHOA TOÀN QUỐC

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025 là dấu mốc quan trọng, tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho sự phát triển của hệ thống giáo dục quốc dân trong giai đoạn mới.

Luật mới đã hình thành một nền tảng chính sách vừa hiện đại, vừa linh hoạt, hướng tới mục tiêu xây dựng hệ thống giáo dục mở, thực học, thực chất và hội nhập quốc tế.

Đáng chú ý, luật đã thể chế hóa các định hướng lớn của Đảng về phát triển giáo dục trong thời kỳ mới như: xác định giáo dục trung học cơ sở là giáo dục bắt buộc và thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ từ 3 đến 6 tuổi; thể hiện cam kết của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền tiếp cận giáo dục căn bản, công bằng và có chất lượng cho mọi trẻ em;

Quy định về hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong giáo dục, trong đó Nhà nước có chính sách khuyến khích ứng dụng công nghệ, trí tuệ nhân tạo có kiểm soát, thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện và xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về giáo dục và đào tạo.

Quy định Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định một bộ sách giáo khoa giáo dục phổ thông thống nhất toàn quốc và Chính phủ quy định lộ trình miễn phí sách giáo khoa (khoản 8 Điều 1 sửa đổi, bổ sung Điều 32), bảo đảm tính chuẩn mực, ổn định và công bằng trong tiếp cận sách giáo khoa…

Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Nguyễn Văn Tiến trả lời họp báo. HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP, HỢP TÁC XÃ GẶP KHÓ KHĂN

Tại họp báo, Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Nguyễn Văn Tiến cho biết Luật Phục hồi, phá sản gồm 88 điều, 08 chương quy định về nguyên tắc, trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc phục hồi, phá sản doanh nghiệp và hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; nhiệm vụ, quyền hạn của người tiến hành thủ tục phục hồi, phá sản; quyền, nghĩa vụ của người tham gia thủ tục phục hồi, phá sản.

Đặc biệt, luật nhấn mạnh vai trò của Nhà nước trong việc hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã gặp khó khăn trong kinh doanh thông qua thuế, phí, tín dụng, lãi suất, đất đai, công nghệ, chuyển đổi số và các biện pháp hỗ trợ khác.

Quy định này nhằm giúp doanh nghiệp, hợp tác xã phục hồi hoạt động kinh doanh hoặc rút lui khỏi thị trường một cách có trật tự, góp phần cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, lành mạnh hóa nền kinh tế.

Theo Phó Chánh án Nguyễn Văn Tiến, nhằm khắc phục những vướng mắc, khó khăn của Luật Phá sản 2014, phát huy hiệu quả của thủ tục phục hồi, luật quy định thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh độc lập với thủ tục phá sản, ưu tiên áp dụng phục hồi để tạo cơ hội và nâng cao hiệu quả phục hồi doanh nghiệp, hợp tác xã, kịp thời hỗ trợ sản xuất kinh doanh, thúc đẩy phát triển kinh tế.

Cụ thể, doanh nghiệp, hợp tác xã có nguy cơ mất khả năng thanh toán hoặc đã mất khả năng thanh toán có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phục hồi kèm phương án phục hồi hoạt động kinh doanh; danh sách chủ nợ, người mắc nợ và tài liệu, chứng cứ kèm theo để chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp để Tòa án xem xét, quyết định...

-Đỗ Mến

Categories: The Latest News

Tăng tốc triển khai các dự án đường sắt trọng điểm quốc gia

Wed, 01/07/2026 - 11:20
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính nhấn mạnh yêu cầu tập trung cao độ nguồn lực, tổ chức triển khai quyết liệt, phân công rõ trách nhiệm để bảo đảm tiến độ các dự án đường sắt trọng điểm quốc gia, trong đó có đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam và tuyến Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng…

Chiều 6/1, tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Trưởng Ban Chỉ đạo các công trình trọng điểm, dự án quan trọng quốc gia lĩnh vực đường sắt, chủ trì phiên họp thứ 5 của Ban Chỉ đạo nhằm rà soát tiến độ và xác định nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới.

HOÀN THIỆN THỂ CHẾ, KHỞI ĐỘNG CÁC DỰ ÁN LỚN

Theo các báo cáo và ý kiến tại phiên họp, sau phiên họp thứ 4 của Ban Chỉ đạo, Thủ tướng Chính phủ và Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà đã tổ chức 6 cuộc họp và ban hành 6 văn bản chỉ đạo, giao nhiệm vụ cụ thể cho các bộ, ngành, địa phương liên quan đến xây dựng quy chuẩn, tiêu chuẩn đường sắt; công tác giải phóng mặt bằng; huy động nguồn vốn; cũng như triển khai các dự án đường sắt đô thị, tuyến Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng và dự án đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam.

Kết luận phiên họp, Thủ tướng đánh giá Bộ Xây dựng cùng các bộ, ngành, địa phương đã chủ động, nỗ lực triển khai các nhiệm vụ và đạt nhiều kết quả quan trọng. Trong đó, hệ thống thể chế, chính sách từng bước được hoàn thiện với việc xây dựng, trình ban hành Luật Đường sắt (sửa đổi), Luật Xây dựng (sửa đổi) cùng các nghị định, nghị quyết của Quốc hội và Chính phủ, tạo hành lang pháp lý cơ bản cho triển khai các dự án đường sắt quy mô lớn.

Đáng chú ý, chủ trương đầu tư hai dự án quan trọng là đường sắt tốc độ cao trục Bắc – Nam và tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng đã được phê duyệt. Công tác tổ chức, điều hành đi vào nền nếp với việc thành lập Ban Chỉ đạo và giao 75 nhiệm vụ cụ thể; trong đó, 38/47 nhiệm vụ được giao sau phiên họp thứ tư đã hoàn thành.

Một số kết quả cụ thể đã được ghi nhận như khởi công dự án thành phần 1 tuyến Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng đúng dịp kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám; triển khai xây dựng các khu tái định cư; bố trí vốn giải phóng mặt bằng cho nhiều địa phương thuộc hai dự án đường sắt lớn.

Đồng thời, hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật cho đường sắt tốc độ cao đã được ban hành; Đề án đào tạo nguồn nhân lực quy mô lớn, dài hạn được phê duyệt và triển khai, bước đầu hình thành đội ngũ khoảng 450 nhân lực có trình độ từ kỹ sư trở lên. Công tác đối ngoại, hợp tác quốc tế cũng được thúc đẩy, đặc biệt là cơ chế phối hợp với phía Trung Quốc thông qua Ủy ban liên hợp phục vụ các dự án kết nối.

PHÂN CÔNG “6 RÕ”, TẬP TRUNG NGUỒN LỰC CHO GIAI ĐOẠN QUYẾT ĐỊNH

Nhấn mạnh giai đoạn tới là thời điểm có ý nghĩa quyết định, Thủ tướng yêu cầu Ban Chỉ đạo và các bộ, ngành, địa phương chủ động triển khai nhiệm vụ theo đúng chức năng, thẩm quyền; việc gì thuộc trách nhiệm của cấp nào thì cấp đó phải trực tiếp thực hiện, không đùn đẩy.

Thủ tướng quán triệt tinh thần “quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, hiệu quả”, làm việc nào dứt việc đó; đồng thời thực hiện nghiêm nguyên tắc phân công “6 rõ”: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền. Mỗi nhiệm vụ phải được theo dõi sát, đánh giá định kỳ, kịp thời biểu dương, khen thưởng hoặc xử lý trách nhiệm.

Cùng với đó là yêu cầu thực hiện “3 tập trung”: tập trung lãnh đạo, tập trung lực lượng, tập trung nguồn lực cho các dự án đường sắt trọng điểm; người đứng đầu trực tiếp chỉ đạo, chịu trách nhiệm. Việc triển khai phải bảo đảm “3 có” gồm lợi ích của Nhà nước, người dân và doanh nghiệp; đồng thời “2 không” là không tham nhũng, tiêu cực, không để thất thoát, lãng phí tài sản, công sức và tiền bạc của nhân dân.

Thủ tướng Phạm Minh Chính phát biểu chỉ đạo. Ảnh: VGP

Về nhiệm vụ cụ thể, đối với dự án đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam, Thủ tướng giao Bộ Xây dựng chủ trì lựa chọn công nghệ phù hợp nhất theo chỉ đạo của Bộ Chính trị, trình Thường trực Chính phủ trước ngày 15/1; đồng thời chỉ định tư vấn đủ năng lực lập báo cáo nghiên cứu khả thi, nghiên cứu đề xuất hình thức đầu tư để báo cáo Ban Chỉ đạo tại phiên họp tới. Các địa phương và Tập đoàn Điện lực Việt Nam tiếp tục đẩy nhanh giải phóng mặt bằng, di dời hạ tầng kỹ thuật theo nghị quyết của Quốc hội; các tập đoàn Viettel, VNPT triển khai nhiệm vụ về hệ thống điều khiển, công nghệ.

Đối với tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng, Thủ tướng yêu cầu hoàn thành Báo cáo nghiên cứu khả thi dự án thành phần 2, phê duyệt trong tháng 6/2026 để sớm khởi công; Bộ Tài chính chịu trách nhiệm cân đối, bảo đảm nguồn vốn triển khai, kể cả phương án vay vốn khi đủ điều kiện. Thủ tướng đồng ý giao tỉnh Quảng Ninh làm chủ đầu tư tuyến Hải Phòng – Hạ Long – Móng Cái và yêu cầu sớm hoàn thành quy hoạch các tuyến Hà Nội – Lạng Sơn, Hải Phòng – Hạ Long – Móng Cái.

Với các dự án đường sắt đô thị, Thủ tướng đánh giá cao Hà Nội và TP.HCM chủ động triển khai theo thẩm quyền, bảo đảm kết nối, chuyển giao công nghệ; ưu tiên các tuyến kết nối sân bay Tân Sơn Nhất, Long Thành và tuyến Văn Cao – Hòa Lạc. Bộ Xây dựng phối hợp Bộ Khoa học và Công nghệ xây dựng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về đường sắt đô thị; đồng thời chủ trì triển khai Đề án đào tạo, phát triển nguồn nhân lực đường sắt đến năm 2035, định hướng 2045.

Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tiếp tục phối hợp chặt chẽ; đề nghị Kiểm toán Nhà nước tham gia kiểm toán ngay từ đầu các dự án. Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà được giao tiếp tục theo dõi, chỉ đạo sát sao, kịp thời tháo gỡ khó khăn, bảo đảm tiến độ và hiệu quả triển khai các dự án đường sắt trọng điểm quốc gia.

-Minh Kiệt

Categories: The Latest News

Thủ tướng yêu cầu ngành tài chính "dẫn dắt tăng trưởng" trong năm 2026

Tue, 01/06/2026 - 19:06
Năm 2025 so với cùng kỳ 2024, thu ngân sách đạt 2.650,1 nghìn tỷ đồng, tăng 30,3%; chi 2.424,6 nghìn tỷ đồng, tăng 31,5%. Cùng đó, ngành tài chính tham mưu Chính phủ nhiều giải pháp duy trì ổn định vĩ mô. Năm 2026, Thủ tướng yêu cầu ngành tiếp tục đổi mới tư duy và là động lực dẫn dắt tăng trưởng….

Chiều ngày 6/1, tại Hà Nội, Bộ Tài chính tổ chức “Hội nghị tổng kết công tác năm 2025, triển khai nhiệm vụ năm 2026 ngành Tài chính” , Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tham dự và phát biểu chỉ đạo tại hội nghị.

Thủ tướng Phạm Minh Chính khẳng định trong bối cảnh đầy biến động, ngành tài chính đã phát huy vai trò điều phối trung tâm của nền kinh tế, góp phần giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, tạo dư địa cho phát triển và củng cố niềm tin của xã hội.

Thủ tướng Phạm Minh Chính

Trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, tài chính được xác định không chỉ dừng ở vai trò điều tiết vĩ mô, mà phải trở thành một trong những động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng. Theo đó, ngành tài chính cần chủ động hành động, sẵn sàng chịu trách nhiệm; đồng thời tăng cường phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành và địa phương nhằm khơi thông, huy động hiệu quả các nguồn lực cho phát triển”

Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng cho biết năm 2025, bộ đã tập trung xây dựng khối lượng văn bản pháp luật và chính sách, trọng tâm là tháo gỡ các “điểm nghẽn”, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, qua đó kịp thời đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.

Bộ cũng tham mưu cho Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ các kịch bản điều hành kinh tế vĩ mô linh hoạt, hướng tới mục tiêu tăng trưởng từ 8% trở lên, đồng thời kiểm soát lạm phát ở mức thấp.

Ngoài ra, bộ đẩy mạnh cắt giảm thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh, cải thiện môi trường đầu tư – kinh doanh, nhằm khơi thông dòng vốn đầu tư toàn xã hội và tạo động lực cho các khu vực kinh tế phát triển. 

Ngoài ra, hàng loạt giải pháp giảm, gia hạn thuế, phí tiếp tục được bộ triển khai để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân. Công tác quản lý thu được tăng cường gắn với chuyển đổi số, bảo đảm thu đúng, thu đủ; chi thường xuyên tiết kiệm triệt để để dành nguồn lực cho đầu tư phát triển, an sinh xã hội, cũng như củng cố quốc phòng, an ninh.

Số liệu tại hội nghị cho thấy, trong 2025 tổng quy mô các gói miễn, giảm, gia hạn thuế, phí  và tiền thuê đất ước khoảng 250,9 nghìn tỷ đồng. Trong khi duy trì các biện pháp hỗ trợ, bộ cũng thực hiện khoảng 66.000 cuộc thanh tra, kiểm tra, tập trung vào các lĩnh vực quản lý thu, chi ngân sách; quản lý, sử dụng vốn đầu tư; quản lý giá, chứng khoán với tổng kiến nghị xử lý tài chính lên tới khoảng 66 nghìn tỷ đồng.

Riêng trong lĩnh vực hải quan, đã xử lý 19,1 nghìn vụ vi phạm trong lĩnh vực hải quan, với trị giá hàng hóa vi phạm ước tính khoảng 22,8 nghìn tỷ đồng, khởi tố 22 vụ, chuyển cơ quan khác kiến nghị khởi tố 127 vụ vi phạm.

Với việc triển khai đồng bộ các giải pháp nêu trên, lũy kế 12 tháng, thu ngân sách nhà nước ước đạt khoảng 2.650,1 nghìn tỷ đồng, bằng 134,74% so dự toán và tăng 30,3% so với cùng kỳ năm 2024, chủ yếu đến từ (i) thu nội địa đạt 2.279,9 nghìn tỷ đồng, tăng 33,93% so cùng kỳ; (ii) thu ngân sách từ dầu thô đạt 90,13%, giảm 18,24% so cùng kỳ và (iii) thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu, tăng 17,66% so cùng kỳ. 

Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng 

Với kết quả nêu trên, ước tính năm 2025, bội chi ngân sách năm 2025 ước ở mức khoảng 3,6% GDP, giảm 9,5 nghìn tỷ đồng so dự toán. Các chỉ tiêu an toàn nợ công tiếp tục được giữ vững, với tỷ lệ nợ công, nợ Chính phủ và nghĩa vụ trả nợ đều nằm trong giới hạn cho phép của Quốc hội.

Ngược lại, lũy kế chi ngân sách trong 12 tháng ước đạt khoảng 2.424,6 nghìn tỷ đồng, bằng 94,1% dự toán và tăng 31,5% so với cùng kỳ năm 2024.

Trong đó (i) chi đầu tư phát triển ước đạt 95,5% dự toán Quốc hội quyết định; (ii) chi trả nợ lãi đạt 99% dự toán; (iii) chi thường xuyên ước đạt 97,2% dự toán; (iv) nguồn kinh phí thực hiện phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tương đương 76 nghìn tỷ đồng, bảo đảm ở mức 3% tổng chi cùng với các chính sách, chế độ khi thực hiện tổ chức, sắp xếp bộ máy và chính quyền địa phương 2 cấp cũng như phục vụ cho quốc phòng, an ninh và các chính sách an sinh xã hội.

Song song với quản lý ngân sách, công tác huy động và quản lý vốn trên các thị trường tài chính ghi nhận nhiều điểm sáng.

Đáng chú ý, tổ chức xếp hạng thị trường FTSE Russell chính thức công bố thị trường chứng khoánViệt Nam lên thị trường mới nổi thứ cấp, tạo tiền đề thu hút dòng vốn trung và dài hạn.

Theo báo cáo của Bộ Tài chính, khối lượng huy động vốn trên thị trường trái phiếu đạt khoảng 916,7 nghìn tỷ đồng, tăng 19,3% so với năm 2024. Quy mô thị trường trái phiếu đến cuối năm 2025 đạt khoảng 3,93 triệu tỷ đồng, tương đương 30,7% GDP ước tính năm 2025, tăng 7,6% so với cuối năm 2024.

Đối với trái phiếu Chính phủ, Kho bạc Nhà nước đã phát hành hơn 371 nghìn tỷ đồng trái phiếu, mức cao nhất từ trước đến nay, với kỳ hạn bình quân 9,78 năm và lãi suất bình quân 3,26%/năm. Đối với thị trường trái phiếu doanh nghiệp, khối lượng phát hành riêng lẻ năm 2025 đạt 539,2 nghìn tỷ đồng, tăng 23,1% so với năm trước; quy mô thị trường ước khoảng 1,15 triệu tỷ đồng, tương đương 9% GDP

Ở lĩnh vực bảo hiểm, đến hết năm 2025, tổng tài sản toàn thị trường ước đạt hơn 1,11 triệu tỷ đồng, tăng 8,58% so với năm 2024; nguồn vốn đầu tư trở lại nền kinh tế đạt gần 959 nghìn tỷ đồng, tăng 10,31%; chi trả quyền lợi bảo hiểm ước đạt gần 92 nghìn tỷ đồng, tăng 13,52% so với cùng kỳ.

Bước sang năm 2026, Thủ tướng yêu cầu ngành Tài chính tiếp tục đóng vai trò tiên phong trong đổi mới tư duy xây dựng thể chế, khẳng định vị thế là cơ quan tham mưu tổng hợp, điều phối chính sách kinh tế vĩ mô.

Theo đó, đề xuất các giải pháp điều hành chính sách tài khóa theo hướng mở rộng hợp lý, bảo đảm vững chắc an ninh tài chính quốc gia, ưu tiên nguồn lực cho các dự án trọng điểm quốc gia như đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam và các dự án hạ tầng chiến lược.

Trong lĩnh vực đầu tư công, tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, thủ tục để phấn đấu đến hết tháng 1/2026 giải ngân đạt 100% kế hoạch đã giao, trên tinh thân “dự án chờ vốn” thay vì “vốn chờ dự án”, Thủ tướng nhấn mạnh.

Song hành với đầu tư hạ tầng, Thủ tướng yêu cầu xây dựng cơ chế, chính sách thúc đẩy hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp; doanh nghiệp nhỏ và vừa vươn lên thành doanh nghiệp quy mô lớn. Đồng thời, cần hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa nâng cao năng lực cạnh tranh; thúc đẩy kết nối doanh nghiệp Việt Nam với các chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.

Bên cạnh đó, cần sử dụng hiệu quả hơn nguồn lực tài sản công, đồng thời tiếp tục đẩy mạnh phân cấp, phân quyền trong quản lý tài chính, quản lý doanh nghiệp và quản lý tài sản.

Đáng chú ý, Thủ tướng yêu cầu ngành Tài chính tiếp tục đi đầu trong ứng dụng khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Cùng với đó, công tác truyền thông chính sách được xác định là nhiệm vụ phải đi trước một bước.

"Các quyết sách liên quan đến thuế, phí – dù đều cần được chủ động truyền thông, minh bạch thông tin, tạo sự đồng thuận xã hội, qua đó nâng cao hiệu quả thực thi chính sách", Thủ tướng nhấn mạnh

-

Categories: The Latest News

Công bố lệnh của Chủ tịch nước về Luật Thương mại điện tử

Tue, 01/06/2026 - 18:17
Luật Thương mại điện tử với những nội dung mới mang tính đột phá như định vị pháp lý các nền tảng, quản lý livestream bán hàng và thương mại điện tử xuyên biên giới...được kỳ vọng sẽ tạo lập hành lang pháp lý minh bạch, bảo vệ quyền lợi chính đáng của doanh nghiệp và người tiêu dùng trong kỷ nguyên số…

Sáng 6/1/2026, Văn phòng Chủ tịch nước đã công bố lệnh của Chủ tịch nước công bố Luật Thương mại điện tử cùng 11 luật khác vừa được Quốc hội thông qua.

Trước đó, ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Thương mại điện tử. Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/7/2026.

Luật Thương mại điện tử do Bộ Công Thương chủ trì xây dựng, gồm 7 Chương, 41 Điều, quy định về chính sách phát triển thương mại điện tử; nền tảng thương mại điện tử và trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong hoạt động thương mại điện tử; thương mại điện tử có yếu tố nước ngoài; trách nhiệm của tổ chức cung cấp dịch vụ hỗ trợ thương mại điện tử; ứng dụng công nghệ trong quản lý và xử lý vi phạm trong thương mại điện tử.

Luật Thương mại điện tử được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng, với 8 nội dung mới, nổi bật.

Thứ nhất: Định vị pháp lý rõ ràng các mô hình nền tảng thương mại điện tử. Luật lần đầu tiên phân loại cụ thể 4 loại hình nền tảng, bao gồm: nền tảng thương mại điện tử kinh doanh trực tiếp; nền tảng thương mại điện tử trung gian; mạng xã hội hoạt động thương mại điện tử và nền tảng thương mại điện tử tích hợp.

Việc phân loại này là cơ sở quan trọng để xác định chính xác trách nhiệm pháp lý tương ứng của từng chủ thể, phù hợp với vai trò và mức độ can thiệp trong giao dịch.

Thứ hai: Bổ sung quy định về livestream bán hàng và tiếp thị liên kết. Đây là các nội dung hoàn toàn mới nhằm lấp đầy khoảng trống pháp lý. Theo đó, chủ quản nền tảng có trách nhiệm xác thực điện tử danh tính người livestream, thiết lập cơ chế tiếp nhận và giải quyết phản ánh, khiếu nại trong suốt quá trình livestream và lưu trữ dữ liệu hình ảnh, âm thanh theo quy định.

Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân tại lễ công bố.

Người livestream không được cung cấp thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn về chất lượng, công dụng hàng hóa. Đối với hoạt động tiếp thị liên kết, tổ chức cung cấp dịch vụ phải xác thực danh tính người tiếp thị và có trách nhiệm ngăn chặn các liên kết đến hàng hóa, dịch vụ vi phạm pháp luật.

Thứ ba: Tăng cường quản lý hoạt động thương mại điện tử xuyên biên giới. Luật quy định các nền tảng thương mại điện tử nước ngoài có sử dụng tiếng Việt, tên miền “.vn” hoặc đạt ngưỡng giao dịch nhất định tại Việt Nam phải thành lập pháp nhân hoặc chỉ định đại diện theo ủy quyền tại Việt Nam.

Đối với chủ quản nền tảng nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam, Luật quy định nghĩa vụ ký quỹ tại ngân hàng nhằm bảo đảm bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính với Nhà nước, bảo đảm công bằng giữa các chủ thể trong và ngoài nước, phù hợp với thông lệ và cam kết quốc tế.

Thứ tư: Tăng cường bảo vệ người tiêu dùng và minh bạch thông tin trên môi trường số. Luật yêu cầu các nền tảng thương mại điện tử công khai đầy đủ thông tin về chủ sở hữu, chính sách bảo vệ dữ liệu cá nhân, quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia, cũng như các tiêu chí chính của thuật toán ưu tiên hiển thị hàng hóa. Người bán chỉ được phép hoạt động sau khi đã được xác thực danh tính điện tử, góp phần nâng cao niềm tin và mức độ an toàn cho người tiêu dùng.

Thứ năm: Hoàn thiện hệ sinh thái dịch vụ hỗ trợ thương mại điện tử. Luật bổ sung quy định đối với các tổ chức cung cấp dịch vụ hỗ trợ thương mại điện tử, bao gồm dịch vụ hạ tầng kỹ thuật, thanh toán, trung gian thanh toán, logistics và chứng thực hợp đồng điện tử. Các tổ chức này có trách nhiệm bảo đảm an toàn, bảo mật thông tin và phối hợp với chủ quản nền tảng trong phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật.

Thứ sáu: Thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân gắn với đổi mới sáng tạo. Quán triệt quan điểm của Đảng và Nhà nước, Luật được xây dựng theo hướng kiến tạo, lấy doanh nghiệp và người dân làm trung tâm, bảo đảm quyền tự do kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật. Luật tạo lập môi trường pháp lý minh bạch, ổn định và bình đẳng, khuyến khích doanh nghiệp tư nhân, hộ kinh doanh và cá nhân đầu tư, ứng dụng công nghệ, đổi mới mô hình kinh doanh và tham gia sâu vào thương mại điện tử.

Thứ bảy: Định hướng phát triển thương mại điện tử xanh và bền vững. Lần đầu tiên, Luật đưa vào các chính sách khuyến khích đầu tư phát triển hạ tầng thương mại điện tử theo hướng giảm phát thải, sử dụng bao bì thân thiện với môi trường và tối ưu hóa hoạt động logistics, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.

Thứ tám: Quy định các chính sách hỗ trợ đặc thù nhằm bảo đảm tính bao trùm. Nhà nước có chính sách hỗ trợ về kết nối hạ tầng, đào tạo, tiếp cận nền tảng và thực hiện thủ tục hành chính cho các đối tượng như hộ kinh doanh, cá nhân khởi nghiệp sáng tạo, người khuyết tật, đồng bào dân tộc thiểu số và các tổ chức, cá nhân tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn, qua đó mở rộng cơ hội tham gia thương mại điện tử cho toàn xã hội.

Bộ Công Thương-Song Hà

Categories: The Latest News

Công bố 12 luật liên quan lĩnh vực kinh tế với nhiều điểm mới

Tue, 01/06/2026 - 16:24
Sáng 6/1, Văn phòng Chủ tịch nước tổ chức họp báo công bố Lệnh của Chủ tịch nước về 12 luật đã được Kỳ họp thứ 10, Quốc hội XV thông qua với nhiều điểm mới.

12 luật này bao gồm: Luật Thuế thu nhập cá nhân; Luật Quản lý thuế; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng; Luật Tiết kiệm, chống lãng phí; Luật Quy hoạch; Luật Đầu tư; Luật Dự trữ quốc gia; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý nợ công;

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thống kê; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giá; Luật Thương mại điện tử; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm.

PHÂN NHÓM NGƯỜI NỘP THUẾ

Luật Thuế thu nhập cá nhân gồm 4 chương, 29 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2026; riêng các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú áp dụng từ kỳ tính thuế năm 2026.

Về điểm mới, luật quy định mức giảm trừ gia cảnh cho bản thân người nộp thuế là 15,5 triệu đồng/tháng, mức giảm trừ cho mỗi người phụ thuộc từ 6,2 triệu đồng/tháng. Đồng thời, giao Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh này trên cơ sở biến động của giá cả, thu nhập (không còn quy định chỉ số giá tiêu dùng biến động trên 20% mới điều chỉnh) để đảm bảo phù hợp linh hoạt với tình hình kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ.

Luật đã sửa đổi quy định về thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân kinh doanh, điều chỉnh mức doanh thu không phải nộp thuế của hộ, cá nhân kinh doanh từ 200 triệu đồng/năm lên 500 triệu đồng/năm và cho trừ mức này trước khi tính thuế theo tỷ lệ trên doanh thu.

Thứ trưởng Bộ Tài chính Đỗ Thành Trung giới thiệu nội dung các luật tại cuộc họp báo - Ảnh VGP.

Đáng chú ý, luật đã bổ sung phương pháp tính thuế trên thu nhập (doanh thu - chi phí) đối với hộ, cá nhân kinh doanh.

Theo đó, hộ, cá nhân kinh doanh có doanh thu năm trên 500 triệu đồng đến 3 tỷ đồng, áp dụng thuế suất 15% trên thu nhập; hộ, cá nhân kinh doanh có doanh thu năm trên 3 tỷ đồng đến 50 tỷ đồng, áp dụng thuế suất 17% trên thu nhập; hộ, cá nhân kinh doanh có doanh thu năm trên 50 tỷ đồng, áp dụng thuế suất 20% trên thu nhập.

Riêng cá nhân có doanh thu trên 500 triệu đồng/năm đến 3 tỷ đồng được lựa chọn phương pháp tính thuế theo tỷ lệ trên doanh thu hoặc theo thu nhập.

Cá nhân cho thuê bất động sản, trừ hoạt động kinh doanh lưu trú, nộp thuế thu nhập cá nhân được xác định bằng phần doanh thu năm vượt trên 500 triệu đồng nhân với thuế suất 5%. Ngoài ra, điều chỉnh mức thuế suất từ 2% lên 5% đối với một số khoản thu nhập từ hoạt động cung cấp sản phẩm và dịch vụ nội dung thông tin số về giải trí, trò chơi điện tử…

Luật Quản lý thuế gồm 9 chương, 53 điều. Điểm mới là luật quy định về phân nhóm người nộp thuế; bổ sung nguyên tắc cơ quan thuế quản lý theo phân nhóm người nộp thuế... Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2026. Riêng quy định tại Điều 13 và việc sử dụng hóa đơn điện tử của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh tại Điều 26 của Luật này có hiệu lực từ ngày 1/1/2026.

Còn Luật Thuế giá trị gia tăng có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/1/2026. Luật Thuế giá trị gia tăng được sửa đổi nhằm hoàn thiện quy định về chính sách thuế giá trị gia tăng đối với nông sản, thức ăn chăn nuôi và điều kiện hoàn thuế giá trị gia tăng để tháo gỡ “điểm nghẽn”, giải quyết ngay vấn đề cấp bách, vướng mắc, bất cập phát sinh từ thực tiễn.

Từ đó khuyến khích, tạo động lực phát triển cho doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế.

TĂNG CƯỜNG PHÂN CẤP, PHÂN QUYỀN TRONG HOẠT ĐỘNG QUY HOẠCH

Luật Quy hoạch gồm 6 chương, 58 điều, hoàn thiện quy định về hệ thống quy hoạch, mối quan hệ giữa các loại quy hoạch và xử lý mâu thuẫn giữa các quy hoạch. Tăng cường phân cấp, phân quyền trong hoạt động quy hoạch. Đơn giản hóa quy trình, thủ tục trong hoạt động quy hoạch. Hoàn thiện nội dung quy hoạch. Tháo gỡ khó khăn, vướng mắc liên quan đến đánh giá sự phù hợp của dự án đầu tư với quy hoạch... Đáng chú ý, về lập quy hoạch, luật phân cấp cho Bộ tổ chức lập quy hoạch không gian biển quốc gia, quy hoạch sử dụng đất quốc gia và quy hoạch vùng; phân cấp cho Chính phủ xác định vùng cần lập quy hoạch vùng để rút ngắn thời gian lập quy hoạch vùng.

Về phê duyệt quy hoạch, Chính phủ quy định thẩm quyền phê duyệt quy hoạch ngành để bảo đảm linh hoạt trong chỉ đạo, điều hành của Chính phủ. Phân cấp cho Bộ trưởng phê duyệt quy hoạch chi tiết ngành thuộc phạm vi quản lý; phân cấp cho Chủ tịch UBND cấp tỉnh phê duyệt quy hoạch tỉnh, quy hoạch chi tiết ngành trên địa bàn tỉnh.

Luật Đầu tư gồm 7 chương, 52 điều; bổ sung quy định về cấm kinh doanh thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng và giao Chính phủ quy định xử lý đối với dự án đầu tư sản xuất thiết bị điện tử cho thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng tại Việt Nam chỉ để xuất khẩu đã được đăng ký hoặc chấp thuận, cho phép bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật trước ngày 1/1/2025 để thực hiện Nghị quyết số 173/2024/QH15 ngày 30/11/2024 của Quốc hội.

Luật đã rà soát, cắt giảm 39 ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện không đáp ứng các tiêu chí, điều kiện theo quy định tại Điều 7 Luật Đầu tư và sửa đổi phạm vi của 20 ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện để chuyển mạnh từ cơ chế “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”, bảo đảm quyền tự do đầu tư kinh doanh của doanh nghiệp.

-Đỗ Như

Categories: The Latest News

Dấu ấn lịch sử từ cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên của Việt Nam

Tue, 01/06/2026 - 13:05
Ngày 2/9/1945, sau khi Nhà nước công - nông đầu tiên ở Đông Nam Á ra đời, chính quyền cách mạng Việt Nam phải đối phó với một tình thế hết sức hiểm nghèo, với thù trong, giặc ngoài, trong khi Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chưa được nhà nước nào trên thế giới công nhận.

Ngày 2/9/1945, trước hàng vạn quần chúng nhân dân trong cuộc mit minh tại Quảng trường Ba Đình lịch sử ở thủ đô Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản "Tuyên ngôn Độc lập", trịnh trọng tuyên bố trước toàn thế giới về sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. 

Tuy nhiên, chính phủ lâm thời  nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà khi đó chưa được quốc gia nào trên thế giới công nhận. 

NHÀ NƯỚC VIỆT NAM: TÌNH THẾ HIỂM NGHÈO SAU NGÀY 2/9/1945

Từ ngày 17-7 đến 2-8-1945, tại hội nghị ở Potsdam (Đức), những người đứng đầu ba cường quốc Liên Xô, Anh và Mỹ đã thảo luận và thông qua nhiều quyết định quan trọng liên quan đến Chiến tranh thế giới thứ hai, trong đó có vấn đề Đông Dương. Theo quyết định của hội nghị, quân đội Trung Hoa dân quốc (Quốc dân đảng của Tưởng Giới Thạch) sẽ vào giải giáp quân Nhật tại Việt Nam từ vĩ tuyến 16 trở ra; từ vĩ tuyến 16 trở vào do Bộ tư lệnh tối cao lực lượng Đồng minh khu vực Đông Nam Á dưới sự chỉ huy của Đô đốc Louis Mountbatten (Anh) đảm nhiệm. 

Được quân Anh đồng tình và hỗ trợ, quân Pháp đã núp bóng quân Anh  trở lại xâm lược nước ta lần thứ hai, khởi đầu từ Nam Bộ.

Trong khi đó, ở miền Bắc nước ta, hai mươi vạn quân Tàu Tưởng vào giải giáp quân Nhật cũng gây cho nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ không ít khó khăn, trở ngại, trong đó có việc nâng đỡ, nuôi dưỡng các đảng phái phản động người Việt như "Việt Quốc", "Việt Cách" để phá hoại cách mạng Việt Nam.

Cùng với đó là nạn đói khủng khiếp xảy ra ở miền Bắc Việt Nam từ tháng 10/1944 đến tháng 5/1945 do hậu quả của chính sách nhổ lúa trồng đay của phát xít Nhật, khiến khoảng 2 triệu người dân bị chết, mà Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải tập trung cứu đói cho dân; chưa kể nạn mù chữ với khoảng 95% dân số Việt Nam không biết chữ...

Trong bối cảnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng và Chính phủ lâm thời quyết tâm đối phó với thù trong, giặc ngoài, đồng thời vừa tập trung cứu đói, xoá "giặc dốt" và từng bước xây dựng thể chế nhà nước dân chủ mà chủ trương cực kỳ quan trọng là tổ chức cuộc bầu cử Quốc hội đầu tiên vào ngày 6/1/1946.

CUỘC TỔNG TUYỂN CỬ BẦU QUỐC HỘI ĐẦU TIÊN TRONG MÁU VÀ NƯỚC MẮT

Cuộc họp đầu tiên các Bộ trưởng trong Chính phủ lâm thời sáng ngày 3/9/1945, tại Bắc Bộ phủ (nguyên là Dinh Thống sứ Bắc kỳ), do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ tọa. Người nêu lên 6 vấn đề trong các công việc cấp bách sau ngày độc lập, trong đó vấn đề thứ ba, Người khẳng định: “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nươc ta không có hiến pháp. Chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ, tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc TỔNG TUYỂN CỬ với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai, gái mười tám tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống…”.

Như vậy, Hồ Chí Minh là người đầu tiên trong Chính phủ đề xuất, quyết định ngày bầu cử Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (nay là Cộng hoà XHCN Việt Nam) là ngày 6-01-1946. Năm ngày sau trong phiên họp Chính phủ lâm thời, Bộ trường Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp ký sắc lệnh số 14-SL ngày 8/9/1945 về cuộc Tổng tuyển cử trong cả nước. Lúc này, tờ báo “Việt Nam dân quốc Công báo” là tờ báo đầu tiên đăng nguyên văn Sắc lệnh số 14-SL, trên số báo ra ngày 29/9/1945.

Khi sắc lệnh số 14-SL ban hành, một số tổ chức phản động, như "Việt Quốc", "Việt Cách"…, lấy cớ trong nhân dân còn chưa có ý thức chính trị, chưa biết “bàn chính trị” nên họ tuyên truyền đòi tẩy chay Tổng tuyển cử. Lập tức, tờ báo Cứu Quốc, số 100, ra ngày 24/11/1945 đăng ngay bài “Nói về cuộc Tổng tuyển cử” vạch trần những âm mưu của các đảng phái này, đồng thời vạch rõ “căn cứ vào phong trào đánh Pháp, đuổi Nhật vĩ đại ở khắp nước vừa qua, ta thấy dân chúng đã có ý thức rõ về chính trị một cách khá rốt ráo”. Ở Nam bộ lúc này, tập trung lo kháng chiến với Pháp - Anh, song bài của Chủ tịch UB Kháng chiến Trần Văn Giàu, được báo Cứu Quốc đăng tải, khẳng định: “Thời kỳ kháng chiến, khó Tổng tuyển cử hơn thời bình. Nhưng khó không phải không làm được. Vì ta phải đánh giặc, mà không tin rằng sẽ thắng thì không Tổng tuyển cử được, cũng không Tổng tuyển cử để làm gì… Chính vì kháng chiến mà nhất định phải bầu Quốc hội”.

Để cuộc Tổng tuyển cử thành công, Chính phủ ban hành 4 Sắc lệnh về bầu cử: một là Sắc lệnh số 14-SL ngày 8/9/1945 về mở cuộc Tổng tuyển cử trong cả nước; hai là Sắc  lệnh số 39-SL ngày 26/9/1945 về lập UB Dự thảo thể lệ Tổng tuyển cử; ba là Sắc lệnh 51-SL ngày 17/10/1945 về Thể lệ Tổng tuyển cử gồm 12 khoản, 70 điều, kèm theo Sắc lệnh này là bản ấn định số đại biểu các tỉnh, thành phố sẽ được bầu; thứ 4 là Sắc  lệnh số 71-SL và SL số 72, ngày 02/12/1945 bổ sung cho Sắc lệnh 51-SL về thủ tục ứng cử, bổ sung số đại biểu được bầu trong một số tỉnh thành, nâng tổng số đại biểu cả nước lên 330 người.

NHỮNG LÁ PHIẾU DÂN CHỦ BẦU RA CHÍNH QUYỀN CÔNG - NÔNG ĐẦU TIÊN

Để đi tới cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên này, Chủ tịch Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng trực tiếp gặp, làm việc với “Việt Quốc”, “Việt Cách” theo quan điểm của Đảng ta là kiên quyết đấu tranh chống lại sự phá hoại của họ (hai đảng này được Quốc dân Đảng của Tưởng Giới Thạch nâng đỡ), đồng thời cũng cố gắng nhân nhượng, hòa giải nhằm tạo ra bầu không khí ổn định trước ngày Tổng tuyển cử.

Trung tuần tháng 9/1945, tướng Tiêu Văn của quân đội Tưởng vào gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh đòi Chính phủ lâm thời dàn xếp với “Việt Cách”, để hai người của Việt Cách được giữ ghế cao cấp trong Chính phủ. Thực hiện chủ trương hòa giải, Hội đồng Chính phủ lâm thời đã bàn và Chính phủ để Nguyễn Hải Thần giữ chức Phó Chủ tịch Chính phủ lâm thời.

Sau đó, ngày 23/10/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh và Nguyễn Hải Thần đã ký thỏa ước công nhận hai bên đoàn kết và hợp tác. Nhưng sau đó ít ngày, Nguyễn Hải Thần lại tuyên bỏ xé bỏ thỏa ước trên. Chính phủ lại chủ động tiếp xúc với Việt Cách, nhưng họ vẫn đưa ra những yêu sách ngang ngược như đòi thay đổi Quốc kỳ, lập lại Chính phủ lâm thời, xóa bỏ chế độ Ủy ban Nhân dân…

Lúc này, Đảng Cộng sản Việt Nam đi vào hoạt động bí mật, song để giữ cho những vấn đề đại sự, Đảng tuyên bố tự giải tán nhằm “phá tan tất cả những điều hiểu lầm ở ngoài nước và trong nước có thể trở ngại cho tiền đồ giải phóng của nước nhà” và để một bộ phận dưới danh nghĩa “Hội nghiên cứu Chủ nghĩa Mác ở Đông Dương” để hoạt động. 

Với tất cả bản lĩnh và sự khéo léo trong gạt bỏ thù trong, giặc ngoài ngay trước ngày diễn ra Tổng tuyển cử (ngày 6/01/1946), cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên đã được tổ chức thành công - một cuộc bầu cử thật sự tự do,  dân chủ, là mốc son lịch sử của thể chế dân chủ ở Việt Nam. Cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội, kể cả các vùng đang có chiến sự ở Nam Bộ, tỷ lệ cử tri đi bỏ phiếu trên 89%; nhiều tỉnh đạt số cử tri đi bầu cao: Sa Đéc: 93,54%, Bạc Liêu: 90,77%. v.v.. Đây là thắng lợi to lớn, nhờ sự chuẩn bị công phu, tổ chức chu đáo  từ Bắc vào Nam của Chính phủ lâm thời và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Nhìn chung, các tỉnh, thành trong cả nước có trên 89% tổng số cử tri đã đi bỏ phiếu, phổ biến là 80%, nhiều nơi đạt 95%. Trừ một số nơi phải bầu bổ sung, còn tuyệt đại đa số các địa phương chỉ bầu một lần. Ngay khóa I, Quốc hội đã đại diện cho nhân dân 3 miền, cứ 5 vạn dân có 1 đại biểu (Nam Bộ 73 đại biểu, Trung bộ 108 đại biểu, Bắc bộ 152 đại biểu). Cả nước đã bầu 333 đại biểu cho Quốc hội khóa đầu tiên,  trong đó có 57% số đại biểu thuộc các đảng phái khác nhau; 43% đại biểu không đảng phái; 87% số đại biểu là công nhân, nông dân, chiến sĩ cách mạng; 10 đại biểu nữ, và 34 đại biểu dân tộc thiểu số.

Trong 10 nữ đại biểu Quốc hội khóa đầu tiên trúng cử, là các bà: Nguyễn Thị Thục Viên (đại biểu Hà Nội), Vũ Thị Khôi (đại biểu Bắc Ninh), Trương Thị Mỹ (đại biểu Hà Đông), Lê Phương (đại biểu Hải Dương), Cao Thị Khương (đại biểu Hưng Yên), Tôn Thị Quế (đại biểu Nghệ An), Lê Thị Xuyến (đại biểu Quảng Nam), Trịnh Thị Miếng (đại biểu Gia Định), Nguyễn Thị Thập (đại biểu Mỹ Tho), Ngô Thị Huệ (đại biểu Bạc Liêu). 

Nữ đồng chí Ngô Thị Huệ (phu nhân cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh), một trong 10 đại biểu nữ khóa đầu tiên, khi còn sống, đã kể với chúng tôi: “Tôi nhớ mãi hình ảnh của những bà mẹ mua gánh bán bưng ngoài chợ đã viết tên tôi trên những tấm lá chuối hay giấy gói hàng chuyển cho người khác. Những bà mẹ cổ động mọi người bỏ phiếu cho tôi bằng những dòng chữ nguệch ngoạc. Làm sao tôi có thể quên được những tình cảm người dân nghèo đối với những ứng cử viên của cuộc Tổng tuyển cử Quốc hội đầu tiên đó”

CUỘC TỔNG TUYỂN CỬ ĐẦU TIÊN VÀ DẤU ẤN "LẬP QUỐC"

Quốc hội được tiến hành theo nguyên tắc tập trung dân chủ, tiến bộ, đó là: bầu phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Quốc hội đầu tiên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa họp phiên đầu tiên, cử ra Chính phủ chính thức, ấn định Việt Nam sẽ có một bản Hiến pháp dân chủ.

Quốc hội ra đời trong khói lửa cuộc đấu tranh dân tộc gay gắt, là Quốc hội của độc lập dân tộc, của thống nhất đất nước và đại đoàn kết toàn dân. Quốc hội đã hội tụ các đại biểu từ khắp ba miền Bắc - Trung - Nam, là đại diện cho ý chí Nhân dân cả nước.

Cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên đã đánh dấu bước trưởng thành của Nhà nước Cách mạng Việt Nam, mở ra một thời kỳ mới, thời kỳ đất nước ta có một Quốc hội, một Chính phủ thống nhất, một bản Hiến pháp tiến bộ và một hệ thống chính quyền đầy đủ danh nghĩa về mặt pháp lý đại diện Việt Nam về đối nội, đối ngoại. Cuộc bầu cử là căn cứ để khẳng định Nhà nước Việt Nam có tính chất hợp pháp, dân chủ - nhà nước của Nhân dân, do dân, vì dân.

Thắng lợi của Tổng tuyển cử đầu tiên, như Chủ tịch Hồ Chí Minh sau đó đã nhấn mạnh tại Kỳ họp thứ nhất Quốc hội Khóa I, là: “Kết quả của sự hy sinh, tranh đấu của tổ tiên ta, nó là kết quả của sự đoàn kết anh dũng phấn đấu của toàn thể đồng bào Việt Nam ta, sự đoàn kết của toàn thể đồng bào không kể già, trẻ, lớn, bé, gồm tất cả các tôn giáo, tất cả các dân tộc trên bờ cõi Việt Nam đoàn kết chặt chẽ thành một khối, hy sinh không sợ nguy hiểm tranh đấu lấy nền độc lập cho Tổ quốc”.

-Phạm Bá Nhiễu

Categories: The Latest News

[Interactive]: Toàn cảnh kinh tế Việt Nam quý 4/2025

Tue, 01/06/2026 - 13:00
Khép lại năm 2025, kinh tế Việt Nam ghi nhận nhiều dấu ấn tích cực với đà tăng trưởng ấn tượng. Với mức tăng 8,46% trong quý 4/2025, tăng trưởng GDP cả năm 2025 đạt 8,02%. Cùng với đó, tổng số vốn FDI đăng ký vào Việt Nam trong năm 2025 đạt 38,42 tỷ USD, tăng 0,5% so với năm trước; trong khi tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa lên tới 930,05 tỷ USD, tăng mạnh 18,2% so với năm trước...

-Tạp chí Kinh tế Việt Nam - VnEconomy

Categories: The Latest News

Phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Lễ kỷ niệm cấp quốc gia 80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam

Tue, 01/06/2026 - 12:01
Sáng 6/1, tại Nhà Quốc hội, Tổng Bí thư Tô Lâm cùng các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước dự Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam (6/1/1946-6/1/2026). Tổng Bí thư Tô Lâm có bài phát biểu tại sự kiện. VnEconomy trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm.

Thưa các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,

Thưa các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Quốc hội và các vị đại biểu Quốc hội qua các thời kỳ,

Thưa đồng bào và chiến sĩ,

Thưa toàn thể các đồng chí, quý vị đại biểu và bạn bè quốc tế.

Hôm nay, trong không khí toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang ra sức thi đua lập thành tích chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, chúng ta long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu ra Quốc hội của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Đây không chỉ là dịp để ôn lại một sự kiện lịch sử trọng đại, mà còn là thời khắc có ý nghĩa sâu sắc để nhìn lại chặng đường hình thành và phát triển của nền dân chủ cách mạng Việt Nam, tri ân những thế hệ đi trước đã đặt nền móng cho quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời khẳng định quyết tâm chính trị của toàn Đảng, toàn dân trong việc tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam.

Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, tôi trân trọng gửi tới các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Quốc hội và các vị đại biểu Quốc hội qua các thời kỳ, đồng bào, chiến sĩ và bạn bè quốc tế lời thăm hỏi ân cần và lời chúc mừng tốt đẹp nhất.

Thưa các đồng chí, đồng bào và các bạn,

Cách đây tròn 80 năm, hưởng ứng Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, ngày 6 tháng 1 năm 1946, lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, người Việt Nam từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt giới tính, thành phần xã hội, dân tộc, tôn giáo hay chính kiến, đã trực tiếp cầm lá phiếu để lựa chọn những người đại diện cho mình vào cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất.

Trong hoàn cảnh đất nước vừa giành được độc lập, chính quyền cách mạng còn non trẻ, thù trong giặc ngoài bủa vây, cuộc Tổng tuyển cử vẫn được tổ chức dân chủ, công khai, nghiêm túc và thành công, với tỷ lệ cử tri tham gia lên tới 89%. Kết quả đã bầu được 333 đại biểu Quốc hội, phản ánh sinh động tính đại diện rộng rãi, tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, với sự tham gia của các đảng phái, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, tôn giáo của cả ba miền Bắc – Trung – Nam.

Cuộc Tổng tuyển cử năm 1946 được tổ chức theo những nguyên tắc dân chủ tiến bộ nhất: Phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Sự kiện lịch sử đó đã trở thành mốc son chói lọi, đánh dấu sự phát triển nhảy vọt đầu tiên về thể chế dân chủ của Nhà nước Việt Nam mới, khẳng định một chân lý lớn: Quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.

Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên không chỉ là thành quả của tinh thần yêu nước, ý chí độc lập, tự do của dân tộc, mà còn là minh chứng sinh động cho đường lối cách mạng đúng đắn, sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử xây dựng Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Thưa các vị đại biểu, đồng bào và các bạn,

Từ dấu mốc lịch sử năm 1946, trải qua 80 năm đồng hành cùng dân tộc và 15 nhiệm kỳ hoạt động, Quốc hội Việt Nam không ngừng trưởng thành, lớn mạnh, khẳng định vai trò là trung tâm của đời sống chính trị – pháp lý quốc gia, là thiết chế hiến định giữ vị trí then chốt trong việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Trên lĩnh vực lập hiến, lập pháp, Quốc hội đã ban hành 5 bản Hiến pháp, gắn liền với những bước ngoặt lớn của cách mạng Việt Nam. Mỗi bản Hiến pháp đều phản ánh trình độ phát triển của đất nước, thể hiện tư duy đổi mới không ngừng trong tổ chức và vận hành quyền lực Nhà nước. Đặc biệt, việc Quốc hội khóa XV thông qua Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp đã đánh dấu bước phát triển mới trong lịch sử lập hiến, hiến định mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới của đất nước.

Quốc hội ngày càng thể hiện rõ vai trò đi trước một bước về thể chế, chủ động thể chế hóa kịp thời chủ trương, đường lối của Đảng thành pháp luật; đẩy mạnh đổi mới tư duy lập pháp theo hướng kiến tạo phát triển; ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật, góp phần hình thành khuôn khổ pháp lý đồng bộ, minh bạch, ổn định cho phát triển đất nước.

Hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội không ngừng được đổi mới, đi vào chiều sâu, tập trung vào những vấn đề lớn, bức xúc của đời sống kinh tế – xã hội, gắn chặt với tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân; qua đó, góp phần nâng cao kỷ luật, kỷ cương, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước.

Trong thực hiện chức năng quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, Quốc hội đã thể hiện rõ bản lĩnh chính trị, trí tuệ tập thể và tinh thần trách nhiệm cao trước nhân dân và lịch sử, với nhiều quyết sách kịp thời, đúng đắn về phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, tổ chức bộ máy và nhân sự cấp cao của Nhà nước.

Hoạt động đối ngoại nghị viện được đẩy mạnh toàn diện, chủ động và hiệu quả, góp phần nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, thể hiện rõ hình ảnh một Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.

Xuyên suốt chặng đường 80 năm ấy, Quốc hội luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, lắng nghe tiếng nói của nhân dân, phản ánh trung thực ý chí, nguyện vọng của nhân dân, xứng đáng là hiện thân sinh động của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Thưa các đồng chí, đồng bào và các bạn,

Hướng tới kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng (1930 – 2030), 100 năm thành lập nước (1945 – 2045), Đảng ta đã đặt mục tiêu đến năm 2045, Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, hùng cường, thịnh vượng và hạnh phúc. Đó là khát vọng lớn, là ý chí thống nhất của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta.

Để hiện thực hóa khát vọng đó, vai trò của Quốc hội trong kiến tạo thể chế phát triển có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Không có đột phá về thể chế, pháp luật; không có một Quốc hội bản lĩnh, trí tuệ, hành động quyết liệt và trách nhiệm cao, thì những mục tiêu lớn lao ấy khó có thể trở thành hiện thực.

Trong bối cảnh đó, Quốc hội cần tiếp tục phát huy truyền thống 80 năm vẻ vang, đi trước một bước về thể chế, dũng cảm quyết định những vấn đề khó, những việc mới, những lĩnh vực chưa có tiền lệ; mở đường cho đổi mới sáng tạo, cho phát triển nhanh và bền vững đất nước. Tôi đề nghị Quốc hội cần tiếp tục một số định hướng sau:

Thứ nhất, tiếp tục xây dựng Quốc hội thực sự là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, phát huy dân chủ, pháp quyền, hiện đại, chuyên nghiệp; công khai, minh bạch, hiệu lực, hiệu quả trong tổ chức và hoạt động.

Thứ hai, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy lập pháp, theo hướng kiến tạo và dẫn dắt phát triển. Thúc đẩy đột phá chiến lược, kiến tạo hệ sinh thái phát triển mới; tập trung hoàn thiện, đồng bộ thể chế để phát triển nhanh, bền vững đất nước. Đồng thời, đổi mới căn bản, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động lập pháp, bảo đảm quản trị quốc gia bằng Hiến pháp và pháp luật, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.

Thứ ba, nâng cao chất lượng giám sát, coi giám sát là công cụ kiến tạo, thúc đẩy phát triển, gắn “xây” với “chống”, lấy “xây” là căn bản, lâu dài. Tiếp tục nâng cao chất lượng hoạt động chất vấn, giải trình, giám sát văn bản pháp luật; chú trọng theo dõi, xem xét, đôn đốc việc thực hiện kiến nghị sau giám sát; thực hiện nghiêm việc lấy phiếu tín nhiệm của Quốc hội.

Thứ tư, nâng cao chất lượng quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước dựa trên cơ sở dữ liệu đầy đủ, khoa học, minh bạch.

Thứ năm, đưa hoạt động đối ngoại nghị viện đi vào chiều sâu, góp phần nâng cao hơn nữa vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.

Thưa các đồng chí, đồng bào và các bạn,

Đất nước ta đang đứng trước một thời điểm lịch sử có ý nghĩa bước ngoặt. Trách nhiệm đặt lên vai Quốc hội và từng đại biểu Quốc hội là hết sức nặng nề nhưng cũng vô cùng vẻ vang

Trước thềm cuộc bầu cử Quốc hội khóa XVI, Đảng và nhân dân kỳ vọng các đại biểu Quốc hội sẽ tiếp tục là những người tiêu biểu về trí tuệ, bản lĩnh, đạo đức và tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, đặt lợi ích quốc gia – dân tộc lên trên hết, tiếp nối xứng đáng truyền thống 80 năm vẻ vang của Quốc hội Việt Nam.

Nhân dịp năm mới 2026 và chuẩn bị đón Xuân Bính Ngọ, tôi xin chúc các đồng chí, quý vị đại biểu, đồng bào, chiến sĩ và bạn bè quốc tế mạnh khỏe, hạnh phúc, thành công; chúc Quốc hội Việt Nam tiếp tục phát triển vững mạnh, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Xin trân trọng cảm ơn!

-

Categories: The Latest News

Tổng Bí thư: Quốc hội phải đi trước một bước về thể chế, mở đường cho phát triển nhanh và bền vững

Tue, 01/06/2026 - 11:19
Lễ kỷ niệm cấp quốc gia 80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam là dấu mốc chính trị – lịch sử quan trọng, khẳng định chặng đường hình thành, phát triển của nền dân chủ cách mạng Việt Nam và vai trò trung tâm của Quốc hội trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Sáng 6/1, tại Nhà Quốc hội, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã tổ chức trọng thể Lễ kỷ niệm cấp quốc gia 80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam (6/1/1946 – 6/1/2026). Tổng Bí thư Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo tại Lễ kỷ niệm.

80 NĂM ĐỒNG HÀNH CÙNG DÂN TỘC, KHẲNG ĐỊNH VAI TRÒ TRUNG TÂM CỦA QUỐC HỘI

Phát biểu tại Lễ kỷ niệm, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh đây không chỉ là dịp ôn lại một sự kiện lịch sử trọng đại, mà còn là thời khắc có ý nghĩa sâu sắc để nhìn lại chặng đường hình thành và phát triển của nền dân chủ cách mạng Việt Nam; tri ân những thế hệ đi trước đã đặt nền móng cho quyền làm chủ của nhân dân; đồng thời khẳng định quyết tâm chính trị của toàn Đảng, toàn dân trong việc tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam.

Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu chỉ đạo tại Lễ kỷ niệm. Ảnh: Nhân Dân

Thay mặt Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Tổng Bí thư trân trọng gửi lời thăm hỏi ân cần và lời chúc mừng tốt đẹp tới các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Quốc hội và các vị đại biểu Quốc hội qua các thời kỳ, cùng đồng bào, chiến sĩ cả nước.

Tổng Bí thư nêu rõ, từ dấu mốc lịch sử năm 1946, trải qua 80 năm đồng hành cùng dân tộc và 15 nhiệm kỳ hoạt động, Quốc hội Việt Nam không ngừng trưởng thành, lớn mạnh, khẳng định vai trò là trung tâm của đời sống chính trị – pháp lý quốc gia, là thiết chế hiến định giữ vị trí then chốt trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Trong lĩnh vực lập hiến, lập pháp, Quốc hội đã ban hành 5 bản Hiến pháp, gắn liền với những bước ngoặt lớn của cách mạng Việt Nam. Mỗi bản Hiến pháp phản ánh trình độ phát triển của đất nước, thể hiện tư duy đổi mới không ngừng trong tổ chức và vận hành quyền lực nhà nước.

Đặc biệt, việc Quốc hội khóa XV thông qua Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp đã đánh dấu bước phát triển mới trong lịch sử lập hiến, hiến định mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.

Tổng Bí thư khẳng định Quốc hội ngày càng thể hiện rõ vai trò đi trước một bước về thể chế, chủ động thể chế hóa kịp thời chủ trương, đường lối của Đảng thành pháp luật; đẩy mạnh đổi mới tư duy lập pháp theo hướng kiến tạo phát triển; tăng cường ứng dụng công nghệ số, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật, góp phần hình thành khuôn khổ pháp lý đồng bộ, minh bạch, ổn định cho phát triển đất nước.

Hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội không ngừng được đổi mới, đi vào chiều sâu, tập trung vào những vấn đề lớn, bức xúc của đời sống kinh tế – xã hội, gắn chặt với tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân; qua đó, góp phần nâng cao kỷ luật, kỷ cương, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước.

Các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các đại biểu dự Lễ kỷ niệm. Ảnh: Nhân Dân

Trong thực hiện chức năng quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, Quốc hội đã thể hiện rõ bản lĩnh chính trị, trí tuệ tập thể và tinh thần trách nhiệm cao trước nhân dân và lịch sử, với những quyết sách kịp thời, đúng đắn về phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, tổ chức bộ máy và nhân sự cấp cao của Nhà nước.

Hoạt động đối ngoại nghị viện được đẩy mạnh toàn diện, chủ động và hiệu quả, góp phần nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, thể hiện hình ảnh Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.

KIẾN TẠO THỂ CHẾ CHO MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN ĐẾN NĂM 2045

Tổng Bí thư nhấn mạnh xuyên suốt chặng đường 80 năm, Quốc hội luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, lắng nghe tiếng nói của nhân dân, phản ánh trung thực ý chí, nguyện vọng của nhân dân; xứng đáng là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hiện thân sinh động của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Hướng tới kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng (1930 – 2030), 100 năm thành lập nước (1945 – 2045), Đảng ta đã xác định mục tiêu đến năm 2045, Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, hùng cường, thịnh vượng và hạnh phúc. Đây là khát vọng lớn, là ý chí thống nhất của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân.

Các đại biểu dự Lễ. Ảnh: Nhân Dân

Để hiện thực hóa mục tiêu đó, Tổng Bí thư khẳng định vai trò của Quốc hội trong kiến tạo thể chế phát triển có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Không có đột phá về thể chế, pháp luật; không có một Quốc hội bản lĩnh, trí tuệ, hành động quyết liệt và trách nhiệm cao, thì những mục tiêu lớn khó có thể trở thành hiện thực.

Trong bối cảnh mới, Quốc hội cần tiếp tục phát huy truyền thống 80 năm vẻ vang, đi trước một bước về thể chế; dũng cảm quyết định những vấn đề khó, những việc mới, những lĩnh vực chưa có tiền lệ; mở đường cho đổi mới sáng tạo, cho phát triển nhanh và bền vững đất nước.

Tổng Bí thư đề nghị tiếp tục xây dựng Quốc hội thực sự là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, phát huy dân chủ, pháp quyền, hiện đại, chuyên nghiệp; công khai, minh bạch, hiệu lực, hiệu quả trong tổ chức và hoạt động.

Quốc hội cần đổi mới mạnh mẽ tư duy lập pháp theo hướng kiến tạo và dẫn dắt phát triển; thúc đẩy các đột phá chiến lược; tập trung hoàn thiện, đồng bộ thể chế để phát triển nhanh, bền vững; đồng thời đổi mới căn bản, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động lập pháp, bảo đảm quản trị quốc gia bằng Hiến pháp và pháp luật, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.

Bên cạnh đó, Tổng Bí thư yêu cầu nâng cao chất lượng giám sát, coi giám sát là công cụ kiến tạo, thúc đẩy phát triển; gắn “xây” với “chống”, lấy “xây” là cơ bản, lâu dài; nâng cao chất lượng hoạt động chất vấn, giải trình, giám sát văn bản pháp luật; chú trọng theo dõi, đôn đốc việc thực hiện kiến nghị sau giám sát; thực hiện nghiêm việc lấy phiếu tín nhiệm; nâng cao chất lượng quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước trên cơ sở dữ liệu đầy đủ, khoa học, minh bạch; đưa đối ngoại nghị viện đi vào chiều sâu, góp phần nâng cao hơn nữa vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.

Tổng Bí thư bày tỏ, đất nước đang đứng trước thời điểm lịch sử có ý nghĩa bước ngoặt. Trách nhiệm đặt lên vai Quốc hội và từng đại biểu Quốc hội là hết sức nặng nề nhưng cũng rất vẻ vang. Trước thềm cuộc bầu cử Quốc hội khóa XVI, Đảng và nhân dân kỳ vọng các đại biểu Quốc hội tiếp tục là những người tiêu biểu về trí tuệ, bản lĩnh, đạo đức và tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, đặt lợi ích quốc gia – dân tộc lên trên hết, tiếp nối xứng đáng truyền thống 80 năm vẻ vang của Quốc hội Việt Nam.

Phát biểu đáp từ, thay mặt Quốc hội và Ban Chỉ đạo Kỷ niệm 80 năm Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn khẳng định, những yêu cầu, niềm tin và mong đợi của Tổng Bí thư là các định hướng chiến lược đối với hoạt động của Quốc hội trong thời gian qua và chặng đường sắp tới.

Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh Lễ kỷ niệm là dịp tiếp tục khẳng định niềm tin của Quốc hội, cử tri và nhân dân đối với Đảng Cộng sản Việt Nam; đồng thời thể hiện quyết tâm của các cơ quan của Quốc hội và các đại biểu Quốc hội trong việc kế thừa, phát huy thành tựu của các thế hệ đi trước, tiếp tục đổi mới, đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới.Bottom of Form

-Hà Lê

Categories: The Latest News

Chủ tịch Quốc hội: Quốc hội Việt Nam là nơi kết tinh trí tuệ, ý chí, khát vọng của cả dân tộc

Tue, 01/06/2026 - 11:18
Chủ tịch Quốc hội khẳng định suốt 80 năm qua, với 15 nhiệm kỳ, Quốc hội đều có những đóng góp quan trọng vào sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng, của dân tộc, xứng đáng là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất và là nơi kết tinh trí tuệ, ý chí, khát vọng của cả dân tộc.

Sáng 6/1, tại Nhà Quốc hội, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức trọng thể Lễ kỷ niệm cấp quốc gia 80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam (6/1/1946 - 6/1/2026).

Dự lễ kỷ niệm có đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm; Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính; Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn cùng các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo các bộ, ban, ngành Trung ương và địa phương; các đại biểu Quốc hội; các đại sứ, đại biện, đại diện các đại sứ quán các nước, các tổ chức quốc tế tại Hà Nội…

Trình bày Diễn văn ôn lại truyền thống 80 năm Quốc hội Việt Nam, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn cho biết ngày 6/1/1946 là mốc son chói lọi mở ra thời kỳ phát triển mới của dân tộc Việt Nam. Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử đã khẳng định vững chắc quyền làm chủ của nhân dân, từ thân phận nô lệ đứng lên giành độc lập, tổ chức ra Nhà nước của mình, với đầy đủ cơ sở pháp lý đại diện cho toàn dân ta ở trong nước và quốc tế, là Nhà nước dân chủ đầu tiên ở Đông Nam Á.

Tổng Bí thư Tô Lâm, các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước dự Lễ kỷ niệm. Ảnh: TTXVN.

Chủ tịch Quốc hội khẳng định suốt 80 năm qua, với 15 nhiệm kỳ, trong bất cứ hoàn cảnh nào, Quốc hội đều có những đóng góp quan trọng vào sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng, của dân tộc, xứng đáng là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất và là nơi kết tinh trí tuệ, ý chí, khát vọng của cả dân tộc.

Chủ tịch Quốc hội nêu rõ kế thừa phát huy thành quả của các nhiệm kỳ trước, Quốc hội khóa XV hoạt động trong bối cảnh đầy khó khăn, thách thức, nhưng với bản lĩnh vững vàng, trí tuệ, dân chủ, đoàn kết, đổi mới, đã đạt được kết quả toàn diện trên các lĩnh vực lập hiến, lập pháp, giám sát tối cao, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và ngoại giao nghị viện; góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh; phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị.

Đặc biệt, Quốc hội đã quán triệt sâu sắc chỉ đạo của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm về đổi mới tư duy trong xây dựng pháp luật, chủ động, kịp thời thể chế hóa chủ trương của Đảng, khẳng định vai trò tiên phong, đi trước một bước về thể chế, quyết định những vấn đề khó, những việc chưa có tiền lệ.

Chương trình nghệ thuật đặc biệt chào mừng Lễ kỷ niệm. Ảnh: TTXVN.

Quốc hội đã không ngừng hoàn thiện về tổ chức, đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo. Mỗi đại biểu Quốc hội thấm nhuần sâu sắc lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu: phải ra sức giữ vững nền độc lập cho Tổ quốc, ra sức mưu cầu hạnh phúc cho đồng bào, phải luôn luôn ghi nhớ và thực hành vì lợi nước, quên lợi nhà, vì lợi chung, quên lợi riêng.

Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh nhiệm vụ, yêu cầu của giai đoạn phát triển mới của đất nước đòi hỏi Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, các đại biểu Quốc hội phải cố gắng, nỗ lực, quyết tâm cao hơn nữa; phát huy những kết quả đã đạt được, khắc phục bằng được hạn chế; tiếp tục đổi mới tư duy trong xây dựng pháp luật; nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động; dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước, vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân.

Trước mắt cần tích cực góp phần vào thành công của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031; quyết tâm cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, cả hệ thống chính trị thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước đã đề ra.

“Chúng ta tin tưởng vững chắc rằng, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm; sự đồng thuận, ủng hộ cao của cử tri và nhân dân cả nước, đồng bào ta ở nước ngoài và bạn bè quốc tế; cùng với trí tuệ, bản lĩnh chính trị vững vàng, khát vọng đổi mới và tinh thần phục vụ nhân dân, Quốc hội Việt Nam sẽ tiếp tục nỗ lực phấn đấu, xây dựng Quốc hội xứng đáng là Quốc hội của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, là hiện thân sinh động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tất cả vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, Chủ tịch Quốc hội khẳng định.

-Như Nguyệt

Categories: The Latest News

Pages