Thời Báo Kinh Tế

Subscribe to Thời Báo Kinh Tế feed Thời Báo Kinh Tế
VnEconomy - Góc nhìn toàn cảnh về nền kinh tế Việt Nam
Updated: 1 hour 12 min ago

Thủ tướng yêu cầu tiếp tục khơi thông nguồn lực đất đai, tháo gỡ dứt điểm các dự án tồn đọng

Tue, 12/30/2025 - 18:20
Ngày 30/12, Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì Hội nghị quán triệt triển khai các nghị quyết của Quốc hội về tháo gỡ vướng mắc đối với các dự án, đất đai trong kết luận thanh tra, kiểm tra, bản án và Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi...

Hội nghị được tổ chức trực tiếp tại Trụ sở Chính phủ và trực tuyến tới 34 tỉnh, thành phố. Tham dự có các Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Hòa Bình; các Phó Thủ tướng Chính phủ; lãnh đạo các bộ, ngành Trung ương và địa phương.

Theo báo cáo tại Hội nghị, trước thực trạng nhiều dự án trên cả nước bị đình trệ, kéo dài, gây lãng phí lớn về nguồn lực đất đai và vốn đầu tư, Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 77-KL/TW về phương án tháo gỡ khó khăn, vướng mắc liên quan đến các dự án, đất đai trong kết luận thanh tra, kiểm tra, bản án tại một số địa phương. Trên cơ sở đó, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 170/2024/QH15, Chính phủ ban hành các nghị định hướng dẫn để tổ chức thực hiện.

Sau thời gian triển khai Kết luận 77 và Nghị quyết 170, nhiều kết quả tích cực đã được ghi nhận. Đến nay, cả nước đã tháo gỡ hoặc có định hướng tháo gỡ đối với 5.203 dự án, trong đó có 3.289 dự án, đất đai với tổng mức đầu tư khoảng 1,67 triệu tỷ đồng và khoảng 70.000 ha đất đã được đưa vào khai thác. Đây được đánh giá là tiền đề quan trọng để giải phóng nguồn lực rất lớn đang bị “đóng băng” trong các dự án tồn đọng, vướng mắc.

Các ý kiến tại hội nghị thống nhất nhận định, Kết luận 77 của Bộ Chính trị và Nghị quyết 170 của Quốc hội là công cụ quan trọng, hiệu quả, góp phần khơi thông nguồn lực đất đai cho phát triển kinh tế – xã hội, tạo dư địa tăng trưởng, hạn chế thất thoát, lãng phí tài nguyên, đồng thời củng cố kỷ luật, kỷ cương pháp luật và niềm tin của doanh nghiệp, nhà đầu tư. Nhiều địa phương kiến nghị tiếp tục áp dụng linh hoạt các cơ chế theo Nghị quyết 170, đặc biệt là việc điều chỉnh thời hạn sử dụng đất, kết hợp tăng cường thanh tra, kiểm tra để kịp thời xử lý phát sinh.

Hội nghị cũng đánh giá kết quả triển khai các Chương trình mục tiêu quốc gia. Theo đó, Chương trình xây dựng nông thôn mới có 4/7 chỉ tiêu vượt và 3/7 chỉ tiêu cơ bản hoàn thành; Chương trình giảm nghèo bền vững có 4/5 chỉ tiêu đạt và vượt; Chương trình phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi có 6/9 chỉ tiêu đạt, vượt. Các đại biểu đồng thuận với chủ trương tích hợp ba Chương trình mục tiêu quốc gia trong giai đoạn tới nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư và tránh trùng lặp đối tượng thụ hưởng.

Kết luận hội nghị, Thủ tướng Phạm Minh Chính cho biết hiện cả nước vẫn còn 2.991 dự án tồn đọng, kéo dài, với tổng quy mô hơn 153.000 ha đất và tổng mức đầu tư khoảng 2,46 triệu tỷ đồng cần tiếp tục tháo gỡ. Thủ tướng yêu cầu các địa phương rà soát đầy đủ các dự án còn vướng mắc, chủ động đề xuất giải pháp xử lý trên cơ sở Kết luận 77 của Bộ Chính trị và Nghị quyết 170 của Quốc hội, bảo đảm không để thất thoát, lãng phí nguồn lực đất đai của Nhà nước, người dân và doanh nghiệp.

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính phát biểu tại Hội nghị. Ảnh: VGP

Thủ tướng nhấn mạnh việc tháo gỡ khó khăn cho các dự án là nhiệm vụ phức tạp, cần thực hiện theo tinh thần “vừa làm vừa rút kinh nghiệm, mở rộng dần, không cầu toàn, không nóng vội, không bỏ lỡ cơ hội”.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường được giao chủ trì xây dựng quy định hướng dẫn thực hiện Nghị quyết 170; Bộ Tài chính phối hợp với Thanh tra Chính phủ rà soát, tổng hợp, trình Chính phủ danh mục các dự án, đất đai đủ điều kiện áp dụng cơ chế đặc thù để các địa phương triển khai ngay.

Đối với các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026–2030, Thủ tướng yêu cầu xây dựng báo cáo nghiên cứu khả thi và ban hành quyết định đầu tư ngay trong tháng 1/2026, trên cơ sở phân cấp, phân quyền mạnh cho địa phương; Trung ương giao tổng mức vốn, địa phương quyết định nội dung đầu tư cụ thể. Việc triển khai phải bảo đảm ưu tiên vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, minh bạch, tránh dàn trải, trùng lặp đối tượng, gắn với trách nhiệm người đứng đầu và tăng cường giám sát của cộng đồng.

Thủ tướng tin tưởng, với sự vào cuộc đồng bộ, quyết liệt của cả hệ thống chính trị, việc triển khai các Nghị quyết của Quốc hội về tháo gỡ dự án tồn đọng và Chương trình mục tiêu quốc gia sẽ tiếp tục khơi thông nguồn lực, tạo động lực mới cho tăng trưởng và phát triển bền vững của đất nước trong giai đoạn tới.

-Minh Kiệt

Categories: The Latest News

Luật Công chứng (sửa đổi): Đề xuất giảm bớt số lượng giao dịch phải công chứng, chứng thực

Tue, 12/30/2025 - 15:37
Bộ Tư pháp đề xuất giảm bớt số lượng giao dịch phải công chứng, chứng thực. Theo đó, chuyển một số loại giao dịch từ “phải công chứng” sang “công chứng tự nguyện, theo yêu cầu”.

Bộ Tư pháp vừa đăng tải tài liệu thẩm định dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.

Theo Bộ Tư pháp, việc xây dựng dự án luật nhằm thúc đẩy tạo lập dữ liệu phục vụ chuyển đổi số toàn diện, hướng tới việc xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung, xuyên suốt từ trung ương đến địa phương. Đồng thời cải cách tối đa thủ tục hành chính, giảm chi phí, tạo thuận lợi cao nhất cho người dân, doanh nghiệp.

Trên cơ sở kết quả rà soát, Bộ Tư pháp đề xuất giảm bớt số lượng giao dịch phải công chứng, chứng thực. Theo đó, chuyển một số loại giao dịch từ “phải công chứng” sang “công chứng tự nguyện, theo yêu cầu”. Những loại giao dịch được chuyển sang công chứng tự nguyện, theo yêu cầu khi đáp ứng 3 tiêu chí:

Thứ nhất, đã có cơ chế thay thế để các bên tự chịu trách nhiệm về tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng hoặc đã có cơ chế để cơ quan Nhà nước xác nhận, kiểm soát giá trị pháp lý, tính hợp pháp của văn bản, giao dịch. Ví dụ: đối với việc ủy quyền của tổ chức thì khi tổ chức thực hiện ủy quyền đã có con dấu của tổ chức xác nhận vào văn bản ủy quyền nên không cần thực hiện công chứng, chứng thực.

Thứ hai, giao dịch ít ảnh hưởng đến bên thứ ba.

Thứ ba, giao dịch đơn giản, có thể xử lý thông qua việc kết nối, chia sẻ dữ liệu.

Theo đó, Bộ Tư pháp đề xuất 2 phương án thu hẹp phạm vi giao dịch phải công chứng.

Phương án 1: cơ bản kế thừa hướng quy định nguyên tắc như Luật Công chứng năm 2024; tuy nhiên chỉnh lý theo hướng giao dịch phải công chứng được quy định trong văn bản luật, không bao gồm giao dịch được quy định trong văn bản nghị định.

Theo rà soát của Bộ Tư pháp, việc chỉnh lý Điều 3 theo hướng này sẽ giúp giảm bớt ít nhất là 06 loại giao dịch phải công chứng hiện đang được quy định trong các Nghị định mà không ảnh hưởng đến thẩm quyền và trách nhiệm xác định giao dịch phải công chứng tại các văn bản luật hiện hành và văn bản luật sẽ được ban hành trong thời gian tới.

Với phương án này, “Giao dịch phải công chứng là giao dịch quan trọng, đòi hỏi mức độ an toàn pháp lý cao mà luật quy định phải công chứng.

Bộ Tư pháp có trách nhiệm rà soát, cập nhật, đăng tải các giao dịch phải công chứng, chứng thực trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp”.

Phương án 2: quy định cụ thể về các giao dịch phải công chứng ngay trong Luật Công chứng, đồng thời có quy định mở trong trường hợp các luật khác có quy định mới về giao dịch phải công chứng. Đối với những giao dịch không được liệt kê thì thuộc trường hợp công chứng tự nguyện, theo yêu cầu.

Với phương án này, dự thảo quy định 8 loại giao dịch phải công chứng gồm:

- Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, tài sản gắn liền với đất, tài sản gắn liền với đất và quyền thuê theo hợp đồng thuê đất giữa các cá nhân hoặc giữa các cá nhân với tổ chức không hoạt động kinh doanh bất động sản hoặc giữa các tổ chức không hoạt động kinh doanh bất động sản; hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, tài sản gắn liền với đất;

- Hợp đồng cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất; hợp đồng hợp tác kinh doanh bằng quyền sử dụng đất; văn bản chấp thuận của người sử dụng đất đồng ý cho xây dựng nhà ở và công trình xây dựng; văn bản thỏa thuận của các thành viên có chung quyền sử dụng đất đồng ý đưa quyền sử dụng đất vào doanh nghiệp;

- Hợp đồng mua bán, thuê mua, tặng cho, đổi, góp vốn, thế chấp bằng nhà ở giữa các cá nhân hoặc giữa các cá nhân với tổ chức không hoạt động kinh doanh bất động sản hoặc giữa các tổ chức không hoạt động kinh doanh bất động sản;

- Hợp đồng chuyển nhượng hợp đồng kinh doanh bất động sản, hợp đồng mua bán, thuê mua nhà ở, công trình xây dựng, phần diện tích sàn xây dựng trong công trình xây dựng mà các bên tham gia giao dịch là các cá nhân, cá nhân với tổ chức không hoạt động kinh doanh bất động sản hoặc giữa các tổ chức không hoạt động kinh doanh bất động sản;

- Văn bản về thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, tài sản gắn liền với đất; văn bản thừa kế về nhà ở;

- Văn bản lựa chọn người giám hộ; văn bản thỏa thuận về việc mang thai hộ;

-Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ.

- Các loại giao dịch khác được luật quy định phải công chứng.

6 loại giao dịch dự kiến không bắt buộc phải công chứng, chứng thực trong các nghị định gồm:

 (1) Văn bản ủy quyền của người có tên trong hợp đồng thuê nhà ở đã xuất cảnh ra nước ngoài cho các thành viên khác đứng tên mua nhà ở trong Hồ sơ đề nghị bán nhà ở cũ thuộc tài sản công (Khoản 1 Điều 75 của Nghị định số 95/2024/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Nhà ở);

(2) Hợp đồng chuyển nhượng hợp đồng kinh doanh bất động sản (Các điểm a, b, c khoản 2 Điều 13 của Nghị định số 96/2024/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Kinh doanh bất động sản);

(3) Văn bản thỏa thuận của các thành viên có chung quyền sử dụng đất đồng ý đưa quyền sử dụng đất vào doanh nghiệp (Điểm b khoản 7 Điều 30 của Nghị định số 101/2024/NĐ-CP  quy định về điều tra cơ bản đất đai; đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất và Hệ thống thông tin đất đai);

(4) Văn bản ủy quyền giải quyết việc thi hành án liên quan đến tài sản khi người phải thi hành án xuất cảnh (Điểm a, điểm b khoản 2 Điều 51 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự);

(5) Văn bản ủy quyền thực hiện quyền khiếu nại (Khoản 3 Điều 5 Nghị định 124/2020/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Khiếu nại);

(6) Hợp đồng chuyển nhượng Văn phòng Thừa phát lại (Điểm b khoản 3 Điều 28 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP quy định về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại).

-Đỗ Mến

Categories: The Latest News

“Chiến dịch Quang Trung” về đích giai đoạn 1, 100% nhà hư hỏng được sửa chữa

Tue, 12/30/2025 - 15:37
Sau hơn một tháng phát động, “Chiến dịch Quang Trung” xây dựng, sửa chữa nhà ở cho người dân miền Trung bị thiệt hại do bão, lũ đã cơ bản hoàn thành giai đoạn 1. Toàn bộ nhà hư hỏng được sửa chữa, các nhà phải xây mới đều khởi công, bảo đảm mục tiêu để người dân sớm ổn định cuộc sống, đón Tết.

Sáng 30/12, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính chủ trì Hội nghị sơ kết “Chiến dịch Quang Trung” thần tốc xây dựng lại, sửa chữa nhà ở cho các hộ dân có nhà bị thiệt hại do bão, lũ tại khu vực miền Trung.

Hội nghị được tổ chức trực tiếp tại Trụ sở Chính phủ, trực tuyến với điểm cầu các tỉnh, thành phố Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk, Khánh Hòa, Lâm Đồng. Dự cuộc họp có Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà; Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Hà Thị Nga; lãnh đạo các bộ, ngành, cơ quan Trung ương; lãnh đạo các tỉnh, thành phố khu vực miền Trung có nhiều hộ dân có nhà bị thiệt hại do bão, lũ.

Các đại biểu tham dự Hội nghị - Ảnh: VGP

Do bão, lũ cuối năm 2025, tại các tỉnh, thành phố từ Quảng Trị đến Lâm Đồng có 1.597 nhà dân bị sập, cuốn trôi phải xây lại và 34.759 nhà bị hư hỏng phải sửa chữa. Để Tết này mỗi hộ dân đều có nhà đón Tết, Thủ tướng Chính phủ đã phát động “Chiến dịch Quang Trung”, với mục tiêu đến ngày 31/12/2025 hoàn thành sửa chữa tất cả nhà cho người dân có nhà phải sửa chữa và đến ngày 31/1/2026 hoàn thành xây mới toàn bộ nhà cho hộ dân phải xây dựng lại.

Hưởng ứng phát động của Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và nhân dân đã vào cuộc thần tốc. Do đó, chỉ sau hơn 1 tháng phát động, đến ngày 30/12, tại các tỉnh đã hoàn thành sửa chữa 34.759 nhà, đạt 100% mục tiêu đề ra. Cùng với đó đã khởi công xây mới 1.597 ngôi nhà, đạt 100%; trong đó đã hoàn thành 671 nhà, đạt 42%, số nhà đang xây sẽ được hoàn thành trong tháng 1/2026.

Tại hội nghị, lãnh đạo các bộ, ngành, địa phương đánh giá “Chiến dịch Quang Trung” có ý nghĩa nhân văn, nhân đạo cao cả và được mọi chủ thể tham gia với tất cả tinh thần, trách nhiệm, tình cảm đối với người dân bị thiệt hại do thiên tai. Hiện nay, đã hoàn thành mục tiêu giai đoạn 1 của Chiến dịch. Lãnh đạo các bộ, ngành, địa phương cam kết tiếp tục thúc đẩy để hoàn thành đạt và vượt toàn bộ mục tiêu của Chiến dịch và kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao để mọi người dân đều có nhà đón Tết cổ truyền của dân tộc.

Kết luận hội nghị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính nhấn mạnh “Chiến dịch Quang Trung” là chiến dịch không có tiếng súng nhưng phải chiến thắng. Chỉ sau 1 tháng phát động, đến nay đã cơ bản hoàn thành giai đoạn 1 với 100% nhà hư hỏng được sửa chữa; 100% số nhà phải xây mới đã được khởi công và hoàn thành 42%, cam kết sẽ hoàn thành toàn bộ trước ngày 25/1/2026.

Thủ tướng Chính phủ đánh giá cao, biểu dương Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các bộ, ngành, tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp, đặc biệt là cấp ủy, chính quyền 8 tỉnh, thành phố khu vực miền Trung đã vào cuộc tích cực, với tinh thần, trách nhiệm cao nhất để “Chiến dịch Quang Trung” đạt mục tiêu ban đầu.

Theo Thủ tướng việc triển khai “Chiến dịch Quang Trung” hiện không có khó khăn, vướng mắc đáng kể, nên với tinh thần “thừa thắng xông lên” cho nên các tỉnh, thành phố, nhất là các tỉnh Đắk Lắk, Gia Lai huy động tổng lực, cả hệ thống chính trị, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị, xã hội, doanh nghiệp, nhân dân, nhất là lực lượng Công an, Quân đội, dân quân tự vệ, Đoàn thanh niên... vào cuộc, chung tay, góp sức, phấn đấu đến ngày 15/1/2026 hoàn thành toàn bộ “Chiến dịch Quang Trung”, lập thành tích chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV.

Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo cùng với thúc đẩy “Chiến dịch Quang Trung”, cấp ủy, chính quyền địa phương tiếp tục rà soát, hỗ trợ người dân nếu có các khó khăn trong cuộc sống như thiếu thốn đồ dùng sinh hoạt cơ bản; mua sắm giống cây con, vật tư nông nghiệp để hỗ trợ người dân tái đàn, khôi phục trồng trọt, nuôi trồng thủy sản… khôi phục sản xuất; bảo đảm vệ sinh môi trường; sửa chữa, khôi phục hoạt động các trường học, trạm xá. Các địa phương chủ động giải quyết, nếu vượt thẩm quyền thì báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giải quyết.

Yêu cầu việc hỗ trợ người dân chủ yếu bằng tài chính, đảm bảo công khai, minh bạch, chống lãng phí, tiêu cực, Thủ tướng Phạm Minh Chính lưu ý các cơ quan truyền thông tiếp tục thông tin cổ vũ, động viên và phổ biến cách làm hay, hiệu quả; đồng thời phản ánh tinh thần phấn khởi của người dân, tạo động lực, truyền cảm hứng để cả dân tộc sẵn sàng triển khai hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.

-Hà Lê

Categories: The Latest News

Tổng Bí thư Tô Lâm: Gắn công tác nghiên cứu lý luận, đào tạo cán bộ với thực tiễn phát triển

Tue, 12/30/2025 - 15:36
Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị tổng kết công tác năm 2025, triển khai nhiệm vụ năm 2026 của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Tô Lâm yêu cầu gắn công tác nghiên cứu lý luận, đào tạo cán bộ với thực tiễn phát triển đất nước.

Sáng 30/12, tại Hà Nội, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức Hội nghị tổng kết công tác năm 2025 và triển khai nhiệm vụ năm 2026 theo hình thức trực tiếp tại trung tâm Học viện, kết hợp trực tuyến tới các điểm cầu tại các học viện trực thuộc.

Tổng Bí thư Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị. Dự Hội nghị có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Phan Đình Trạc, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Nội chính Trung ương; Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Xuân Thắng, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương; Nguyễn Duy Ngọc, Bí thư Thành ủy Hà Nội; cùng lãnh đạo, nguyên lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương, hệ thống Học viện và các trường chính trị địa phương.

PHÁT HUY VAI TRÒ TRUNG TÂM TRONG NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN VÀ TỔNG KẾT THỰC TIỄN

Phát biểu tại Hội nghị, Tổng Bí thư Tô Lâm ghi nhận và đánh giá cao những nỗ lực, tinh thần trách nhiệm và sự cống hiến bền bỉ của toàn hệ thống Học viện trong năm 2025 – năm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong tổng kết 40 năm Đổi mới, chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và định hình những nền tảng chiến lược cho giai đoạn phát triển mới của đất nước.

Theo Tổng Bí thư, Hội nghị không chỉ là dịp tổng kết một năm công tác, mà còn là thời điểm để rà soát, hiệu chỉnh tư duy, chuẩn bị về trí tuệ, đội ngũ và phương pháp hành động cho chặng đường phát triển sắp tới.

Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu chỉ đạo hội nghị. Ảnh: Nhân Dân

Nhắc lại lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”, Tổng Bí thư khẳng định đây là chân lý xuyên suốt của cách mạng Việt Nam. Trải qua 75 năm xây dựng và phát triển, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh luôn giữ vững vị thế Trường Đảng Trung ương, là nơi kết tinh trí tuệ, bản lĩnh chính trị và tinh hoa lý luận của Đảng; đồng thời là trung tâm nghiên cứu lý luận chính trị hàng đầu của đất nước và là địa chỉ tin cậy trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược.

Trong bối cảnh tình hình thế giới và trong nước năm 2025 có nhiều biến động nhanh, phức tạp, đan xen giữa thời cơ và thách thức, Tổng Bí thư cho rằng Học viện đã thể hiện rõ bản lĩnh chính trị vững vàng, tư duy đổi mới và tinh thần trách nhiệm cao trước Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Trên cơ sở báo cáo của Học viện và các ý kiến tại Hội nghị, Tổng Bí thư nhận thấy trong năm 2025, Học viện đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, toàn diện và nổi bật trên cả ba trụ cột: nghiên cứu lý luận – tổng kết thực tiễn; tham mưu, tư vấn phục vụ hoạch định và tổ chức thực thi các quyết sách chiến lược của Đảng, Nhà nước; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ.

Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh và Hội đồng Lý luận Trung ương tiếp tục khẳng định vai trò trung tâm, nòng cốt trong việc kết nối, tích hợp và phát huy đội ngũ các nhà khoa học, giáo sư, chuyên gia nghiên cứu lý luận.

Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Thắng phát biểu tại hội nghị. Ảnh: Nhân Dân

Việc triển khai sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy theo các chủ trương của Trung ương được thực hiện nghiêm túc, góp phần tinh gọn tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động; đồng thời mở rộng không gian phát triển, từng bước tái cấu trúc mô hình quản trị đào tạo và nghiên cứu trong toàn hệ thống Học viện.

Tổng Bí thư đánh giá cao vai trò chủ động, trách nhiệm của Học viện và Hội đồng Lý luận Trung ương trong việc tham gia chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, nổi bật là việc tham gia thường trực Tổ Biên tập Văn kiện và Tổ Biên tập Tổng kết 40 năm Đổi mới.

Đây là những đóng góp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, góp phần hình thành các dự thảo văn kiện mang tầm vóc lịch sử, kết tinh trí tuệ lý luận, kinh nghiệm thực tiễn và khát vọng phát triển của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân.

GẮN ĐÀO TẠO THỰC TIỄN, ĐÁP ỨNG YÊU CẦU GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN

Bên cạnh đó, Tổng Bí thư biểu dương tinh thần chủ động, sáng tạo của đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý đào tạo trong việc đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng, đáp ứng yêu cầu nâng cao năng lực cán bộ trong bối cảnh triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp.

Việc Học viện mở rộng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược cho một số đảng cộng sản, đảng cầm quyền được đánh giá là góp phần làm sâu sắc hơn hoạt động đối ngoại Đảng, khẳng định vai trò của Học viện trong bối cảnh mới.

Tổng Bí thư Tô Lâm và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các đại biểu tham dự hội nghị. Ảnh: Nhân Dân.

Đồng tình với các bài học kinh nghiệm được nêu trong báo cáo tổng kết, Tổng Bí thư nhấn mạnh yêu cầu kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng, trung thành với Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời gắn chặt con đường đi lên chủ nghĩa xã hội với đổi mới mạnh mẽ về tư duy và phương pháp hành động.

Theo Tổng Bí thư, lý luận chỉ thực sự có sức sống khi được nuôi dưỡng từ thực tiễn sinh động và quay trở lại dẫn dắt thực tiễn; coi thực tiễn là nguồn dữ liệu mở để tổng kết, khái quát và dự báo. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chỉ phát huy đầy đủ giá trị khi xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của Đảng, của đất nước và của chính người học, lấy hiệu quả thực thi sau đào tạo làm thước đo cao nhất.

Bước sang năm 2026, Tổng Bí thư cho rằng nhiệm vụ đặt ra đối với Học viện là hết sức nặng nề nhưng cũng rất vẻ vang, trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân, toàn quân hướng tới Đại hội XIV của Đảng với khát vọng mở ra giai đoạn phát triển mới.

Tổng Bí thư đề nghị Học viện phát huy vai trò nòng cốt trong triển khai các đề án lớn mà Hội nghị Trung ương lần thứ 15 đã xác định, gồm tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam và tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991. Đây là những công trình có tầm vóc đặc biệt, đòi hỏi tư duy lý luận sâu sắc, phương pháp liên ngành và tầm nhìn dài hạn.

Cùng với đó, Học viện cần tiếp tục đổi mới căn bản công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo hướng thiết thực, hiệu quả, hiện đại, gắn chặt với yêu cầu tổ chức thực thi các quyết sách chiến lược của Đảng. Mục tiêu không chỉ là trang bị kiến thức, mà là hình thành năng lực quản trị hiện đại, từ xây dựng chính sách, điều phối liên ngành, quản trị rủi ro, chuyển đổi số đến tạo đồng thuận xã hội và huy động nguồn lực.

Tổng Bí thư yêu cầu Học viện đẩy mạnh chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo một cách bài bản, có chọn lọc; đổi mới quản trị nội bộ theo hướng minh bạch, hiện đại, hiệu quả; đặc biệt coi trọng liêm chính học thuật, tính Đảng, tính khoa học và tính thực tiễn trong mọi hoạt động nghiên cứu, đào tạo.

Tổng Bí thư Tô Lâm trao Huân chương Lao động hạng Nhất tặng Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Ảnh: Nhân Dân.

Bên cạnh đó, Học viện cần dành sự quan tâm đặc biệt cho hệ thống các trường chính trị địa phương; tăng cường liên kết, chia sẻ chương trình, phương pháp đào tạo và hạ tầng số; nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, gắn đào tạo với thực tiễn địa phương và yêu cầu quản trị hiện đại.

Tổng Bí thư cũng nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh hợp tác quốc tế theo hướng thiết thực, hiệu quả; phát huy ngoại giao học thuật, nâng cao vị thế học thuật của Học viện và uy tín của Đảng ta trên trường quốc tế; đồng thời chú trọng phát hiện, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ trẻ, chuyên gia trẻ, nhân tài, xây dựng cơ chế thu hút, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ phù hợp.

Nhân dịp này, thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Tổng Bí thư Tô Lâm đã trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhất cho Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh vì thành tích xuất sắc trong thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

-Hà Lê

Categories: The Latest News

Phó Thủ tướng yêu cầu giao thẩm quyền quản lý đất đai phải triệt để

Tue, 12/30/2025 - 13:58
Trong lĩnh vực quản lý đất đai, Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà nhấn mạnh phân cấp nội dung nào thì phân cấp triệt để, cơ quan được giao thẩm quyền phải chịu trách nhiệm từ đầu đến cuối, không làm nửa vời…

Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà vừa chủ trì cuộc họp với các bộ, ngành, hiệp hội doanh nghiệp bất động sản để nghe báo cáo cho ý kiến hoàn thiện dự thảo các nghị định hướng dẫn triển khai thực hiện Nghị quyết số 254/2025/QH15 của Quốc hội quy định một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai; tính tiền sử dụng đất, tiền thuê đất…

TIẾP THU NHIỀU NỘI DUNG VỀ GIÁ ĐẤT, THU HỒI ĐẤT

Tại cuộc họp, Bộ Nông nghiệp và Môi trường trình bày một số nội dung của Dự thảo Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Nghị quyết 254 đã được tiếp thu, giải trình theo ý kiến của Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà, lãnh đạo các bộ, ngành sau cuộc họp chiều 25/12.

Theo đó, phạm vi điều chỉnh bao gồm: Thu hồi đất đối với các dự án đã thỏa thuận được trên 75% diện tích đất và trên 75% số người sử dụng đất và quy định chuyển tiếp; các trường hợp không được bồi thường về đất; căn cứ thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất đối với quỹ đất thanh toán dự án Xây dựng – chuyển giao (BT) và quy định chuyển tiếp; quy định về bảng giá đất, hệ số điều chỉnh giá đất; các trường hợp sử dụng đất kết hợp đa mục đích khác.

Đáng chú ý, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề xuất phương án giao thẩm quyền về cấp tỉnh, để địa phương chủ động phân cấp phù hợp thực tiễn.

Thông tin về từng nội dung cụ thể, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết liên quan đến giá đất, Bộ đã tiếp thu ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng và ý kiến chuyên gia, đồng thời, tiếp tục lấy ý kiến các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp thẩm định giá. Dự thảo Nghị định vẫn áp dụng phương pháp định giá đất theo quy định. Trong đó, đề xuất sử dụng bảng giá đất và hệ số điều chỉnh giá đất. Riêng trường hợp không áp dụng được bảng giá đất và hệ số điều chỉnh, Bộ báo cáo phương án xác định giá đất cụ thể, phù hợp với tinh thần Nghị quyết 254.

Ngoài ra, đối với quy định giao đất thực hiện hợp đồng dự án BT, Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhận định Nghị định số 257/2025/NĐ-CP quy định rất chi tiết việc thực hiện dự án áp dụng loại hợp đồng BT về thời điểm, phương thức thanh toán quỹ đất. Vì vậy, không cần bổ sung thêm căn cứ mới. Việc thực hiện sẽ theo đúng hợp đồng BT và quy định hiện hành. Nghị quyết 254 chỉ áp dụng đối với các dự án hợp đồng BT ký từ ngày 1/7/2025 trở về sau.

Mặt khác, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã rà soát, tiếp thu ý kiến đóng góp cho quy định thu hồi phần diện tích đất thoả thuận còn lại đối với dự án mà chủ đầu tư đã thỏa thuận đạt 75% diện tích, 75% số người sử dụng đất. Theo đó, tỉ lệ 75% chỉ tính đối với phần diện tích có người sử dụng đất đã thỏa thuận, không tính phần đất Nhà nước. Đồng thời, cách tính số người sử dụng đất được quy định chặt chẽ như sau: Hộ gia đình tính là một chủ thể nhưng phải có sự đồng thuận của cả vợ và chồng. Trường hợp nhiều người cùng sử dụng một thửa đất thì tất cả người sử dụng đất phải đồng thuận mới được tính.

Về chi phí đầu tư hạ tầng trong xác định nghĩa vụ tài chính đất đai, Bộ Nông nghiệp và Môi trường và Bộ Xây dựng thống nhất thực hiện theo quy định của pháp luật xây dựng. Việc xác định giá đất cụ thể tiếp tục thực hiện theo quy định hiện hành, không thay đổi. Đối với đấu giá, đấu thầu dự án có sử dụng đất được miễn tiền thuê đất trong thời gian xây dựng cơ bản, Bộ phối hợp với Bộ Tài chính rà soát và thống nhất quy định hiện hành đã cho phép, không làm phát sinh cách hiểu khác.

Trên cơ sở các nội dung Bộ Nông nghiệp và Môi trường trình bày, các địa phương và hiệp hội cũng nêu quan điểm, kiến nghị từ thực tiễn triển khai.

Cụ thể, lãnh đạo Thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh thống nhất đề nghị giao thẩm quyền cho cấp tỉnh, sau đó, tùy điều kiện và năng lực từng xã, phường để tiếp tục phân cấp, ủy quyền, bảo đảm phân cấp triệt để những nội dung cấp cơ sở làm được. Riêng Hà Nội còn đề nghị giữ các phương pháp xác định giá đất theo Luật Đất đai. Trong khi đại diện Hiệp hội Bất động sản Việt Nam kiến nghị cần làm rõ tiêu chí “không phù hợp” đối với các trường hợp không áp dụng bảng giá đất.

KHÔNG SỬ DỤNG TIÊU CHÍ ĐỊNH TÍNH 

Kết luận cuộc họp, Phó Thủ tướng yêu cầu quán triệt tinh thần chỉ đạo: Phân cấp phải gắn với điều kiện thực thi ở cơ sở và có sự đồng thuận, thống nhất. Theo ý kiến các địa phương, Nghị định sẽ phân cấp cho cấp tỉnh đối với một số thẩm quyền như giao đất, định giá đất, đăng ký và các nội dung liên quan, đồng thời, tiếp tục rà soát, xác định rõ thẩm quyền thuộc HĐND, UBND, bảo đảm đúng Luật Tổ chức chính quyền địa phương và quy định pháp luật, phân biệt rành mạch giữa thẩm quyền chung và thẩm quyền riêng.

“Phân cấp nội dung nào thì phải phân cấp triệt để, cơ quan được giao thẩm quyền phải chịu trách nhiệm từ đầu đến cuối, không làm nửa vời”, Phó Thủ tướng nói.

Về quy định áp dụng bảng giá đất, Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà yêu cầu phải định lượng rõ ràng, không sử dụng tiêu chí định tính, bởi nếu chỉ dừng ở mức định tính thì khi triển khai tại địa phương sẽ không thực hiện được. Ngoài ra, trong xác định giá đất, chỉ đưa vào Nghị định những nội dung có cơ sở khoa học, cơ sở pháp lý, phương pháp rõ ràng và dữ liệu đầy đủ. Theo đó, nơi có đủ dữ liệu thì áp dụng bảng giá đất và hệ số điều chỉnh; nơi không có dữ liệu, không áp dụng được hệ số thì phải xác định giá đất cụ thể theo các phương pháp đã được Luật Đất đai 2024 quy định, không tự ý đưa ra hệ số hay phương pháp mới khi chưa có căn cứ, chưa có quy chuẩn và dữ liệu đầy đủ.

Đối với đấu thầu, đấu giá đất, Phó Thủ tướng yêu cầu làm rõ quy định về giá khởi điểm, tránh để địa phương và doanh nghiệp mất nhiều thời gian tính toán. Mặt khác, nghiên cứu bổ sung trường hợp áp dụng bảng giá đất nếu có ý kiến từ thực tiễn.

Riêng quy định thu hồi phần diện tích đất thỏa thuận còn lại đối với các dự án mà chủ đầu tư đã thỏa thuận đạt 75% diện tích và 75% số người sử dụng đất, Phó Thủ tướng thống nhất cách tính, quyền sử dụng đất chung phải có sự đồng thuận của tất cả những người có quyền, đối với hộ gia đình phải có sự đồng ý của cả vợ và chồng, nhằm hạn chế tranh chấp, khiếu kiện. Trường hợp nhà đầu tư tự thỏa thuận nhưng không đạt 100%, Nhà nước sẽ thu hồi phần diện tích còn lại, đồng thời yêu cầu tính toán hài hòa giữa cơ chế doanh nghiệp chi trả và cơ chế Nhà nước chi trả, bảo đảm người dân không bị thiệt và chi phí được tính đúng vào tổng mức đầu tư.

Tuy nhiên, nhà đầu tư muốn được Nhà nước thu hồi đất phải đáp ứng đầy đủ điều kiện theo pháp luật về đầu tư, kinh doanh bất động sản, tài chính và đất đai, không thu hồi đất cho chủ thể không có năng lực, không có dự án cụ thể.

Liên quan đến trình tự, thủ tục xác định chi phí hạ tầng, Phó Thủ tướng thống nhất phương án một đầu mối, giao Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổng hợp thông tin từ các cơ quan liên quan và chuyển một lần sang cơ quan thuế, bảo đảm không chồng chéo, không kéo dài thời gian xử lý. Phó Thủ tướng nhấn mạnh: cơ quan nào thực hiện nội dung nào thì chịu trách nhiệm về nội dung đó theo quy định pháp luật.

Về quy định thực hiện dự án hợp đồng BT, Phó Thủ tướng yêu cầu làm rõ nguyên tắc không hồi tố, không áp dụng ngược đối với các hợp đồng ký trước thời điểm 1/7/2025. Các quy định phải thống nhất với Luật Đất đai 2024 và Nghị định 257; ghi rõ không áp dụng hồi tố đối với các hợp đồng ký trước thời điểm luật và nghị quyết có hiệu lực, tránh phát sinh rủi ro pháp lý.

-Thanh Xuân

Categories: The Latest News

Đột phá vốn và năng suất để bứt phá tăng trưởng hai con số

Tue, 12/30/2025 - 12:58
Vượt qua “những cơn gió ngược” năm 2025 với mức tăng trưởng GDP dự kiến đạt 8,01%, Việt Nam đang đứng trước ngưỡng cửa của giai đoạn 2026-2030 với mục tiêu tăng trưởng hai con số. Nền kinh tế cần một “cú hích” khổng lồ về vốn và một sự cải thiện mạnh mẽ về năng suất.

Năm 2025, sự lãnh đạo sâu sát của Đảng cùng sự điều hành quyết liệt, chủ động từ Chính phủ, kinh tế Việt Nam đã vượt qua những “cơn gió ngược” trước bối cảnh kinh tế thế giới phục hồi chậm, phân mảnh thương mại gia tăng, xung đột địa chính trị kéo dài, rủi ro tài chính – tiền tệ toàn cầu hiện hữu và trước những ảnh hưởng nghiêm trọng từ thiên tai, bão lũ.

Nhiều quyết sách quan trọng đã được đưa ra. Bộ Chính trị đã ban hành 7 nghị quyết lớn, quan trọng, Quốc hội đã thông qua 47 luật, 8 nghị quyết ngay tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV, Chính phủ đã ban hành và trình ban hành một loạt các dự án luật và các văn bản quy phạm pháp luật, đánh dấu một bước đột phá về thế chế, chính sách và khung khổ pháp luật.

Một dấu mốc quan trọng nữa là công cuộc “sắp xếp lại giang sơn” và nỗ lực đổi mới mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, nỗ lực thúc đẩy phát triển mạnh mẽ cơ sở hạ tầng với hàng loạt các dự án chiến lược quy mô lớn, quan trọng, có tính lan tỏa và định hình cho tương lai được triển khai.

Nhờ đó, tăng trưởng GDP năm 2025 ước đạt khoảng 8,01% (theo tính toán của Nhóm nghiên cứu Ban Chính sách, chiến lược Trung ương với các số liệu đến thời điểm hiện tại), thuộc nhóm cao trong khu vực và trên thế giới.

Công nghiệp tiếp tục giữ vai trò động lực, dẫn dắt tăng trưởng kinh tế với mức tăng đạt khoảng 9,1%, đóng góp 2,72 điểm phần trăm vào tăng trưởng GDP. Đặc biệt, công nghiệp chế biến, chế tạo phục hồi mạnh, tăng trưởng khoảng 9,74%, đóng góp khoảng 2,3 điểm phần trăm vào tăng trưởng GDP, nhờ sự phục hồi của các ngành xuất khẩu chủ lực và sự gia tăng dòng vốn FDI chất lượng cao.

Khu vực dịch vụ tăng tốc rõ nét với tăng trưởng đạt khoảng 8,05%, đóng góp 3,56 điểm phần trăm vào tăng trưởng GDP, nhiều ngành đạt mức tăng trưởng hai con số, phản ánh sự phục hồi của cầu nội địa, du lịch, thương mại và các dịch vụ giá trị gia tăng cao.

 Lĩnh vực xây dựng tăng trưởng cao, đạt khoảng 11%, đóng góp 0,73 điểm phần trăm, nhờ đầu tư công và các dự án hạ tầng chiến lược quy mô lớn được đẩy mạnh. Nông nghiệp tiếp tục là trụ đỡ ổn định, tăng trưởng tích cực, đạt khoảng 3,92%, trong bối cảnh chịu tác động của nhiều đợt thiên tai, bão lũ.

Một điểm rất tích cực của năm 2025 là sự phục hồi đồng bộ của các yếu tố tăng trưởng phía cầu. Theo tính toán của Nhóm nghiên cứu, tiêu dùng, xuất nhập khẩu, tích lũy tài sản cố định đều đạt được mức tăng trưởng rất ấn tượng so với các giai đoạn trước. Trong đó, tiêu dùng cuối cùng dự kiến đạt tốc độ tăng trưởng khoảng 8,07%, đóng góp 5,13 điểm phần trăm vào tăng trưởng GDP. Thu nhập cải thiện, lạm phát được kiểm soát tạo nền tảng cho sức mua trong nước.

Xuất nhập khẩu đạt tốc độ tăng trưởng cao dù chịu nhiều áp lực từ các chính sách thuế quan thương mại, quy mô thương mại đạt mức kỷ lục gần 900 tỷ USD, đưa Việt Nam tiếp tục nằm trong nhóm 20 nền kinh tế thương mại hàng đầu thế giới. Tích lũy tài sản tăng mạnh cùng với dòng vốn đầu đầu tư lớn. Tốc độ tăng trưởng tích lũy tài sản 2025 đạt khoảng 8,5%, đóng góp 3,06 điểm phần trăm trong tăng trưởng GDP.

Tổng vốn đầu tư phát triển tăng mạnh, ước khoảng 13,5%. Trong đó, đầu tư công giữ vai trò dẫn dắt, quy mô vốn đầu tư công thực hiện dự kiến đạt mức rất cao, khoảng gần 900 nghìn tỷ đồng, tăng 28,6% so với năm 2024, tập trung vào các dự án hạ tầng chiến lược như cao tốc Bắc – Nam, sân bay Long Thành, các cảng biển và hạ tầng năng lượng. Tính toán của Nhóm nghiên cứu Ban Chính sách, chiến lược Trung ương cho thấy với mức đầu tư công tăng cao năm 2025 giúp tăng trưởng kinh tế gia tăng thêm khoảng 0,587 điểm phần trăm so với kịch bản cơ sở.

Đầu tư tư nhân phục hồi mạnh, tăng khoảng 9,2% so với năm 2024 (mức cao nhất trong 5 năm qua), phản ánh tiềm lực và niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp đang cải thiện. FDI liên tục tạo các kỷ lục, giải ngân đạt mức cao, chất lượng dòng vốn tốt hơn với khoảng 70% số vốn đăng ký mới tập trung vào lĩnh vực công nghệ cao, chip, bán dẫn, công nghệ mới và năng lượng tái tạo.

Năng suất lao động cải thiện mạnh, đóng góp khoảng 6,9 điểm phần trăm vào tăng trưởng GDP. Đặc biệt, năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) tăng cao, đạt tốc độ tăng khoảng 3,76%, đóng góp gần 47% vào tăng trưởng năm 2025 – mức cao so với giai đoạn trước, phản ánh sự chuyển dịch tích cực của mô hình tăng trưởng, với năng suất, hiệu quả gia tăng rõ nét.

Ổn định kinh tế vĩ mô tiếp tục được giữ vững. Lạm phát bình quân năm 2025 được kiểm soát ở mức 3,2–3,5%, nhờ sự điều hành linh hoạt, phù hợp, cùng với sự hỗ trợ của xu hướng giảm giá dầu và giảm các áp lực lạm phát toàn cầu. Nợ công giảm về khoảng 35–36% GDP, thấp hơn đáng kể so với trần cho phép, củng cố an ninh tài chính quốc gia. Tuy nhiên, tỷ giá USD/VND chịu áp lực khá lớn trong bối cảnh chênh lệch lãi suất quốc tế. Dư nợ tín dụng ở mức cao, dự kiến tiệm cận mức 145-148% GDP.

Trên cơ sở các đánh giá, dự báo của các tổ chức kinh tế toàn cầu, Nhóm nghiên cứu Ban Chính sách, chiến lược Trung ương xây dựng ba kịch bản dự báo tăng trưởng kinh tế, thương mại và đầu tư toàn cầu, gồm: kịch bản kém thuận lợi, kịch bản thuận lợi và kịch bản rất thuận lợi. Ở cả ba kịch bản, dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới có thể tăng nhẹ, đạt mức 2,9-3,3%/năm, song chưa vững chắc, đà phục hồi diễn ra chậm chạp.

Cường độ của các rủi ro địa chính trị, xu hướng bảo hộ thương mại và quá trình tái định hình chuỗi cung ứng toàn cầu sẽ tiếp tục gây sức ép lên triển vọng thương mại và đầu tư toàn cầu. Áp lực nợ công và lạm phát toàn cầu ngày càng rõ nét. Bên cạnh đó, một số xu hướng mới đang hình thành và tác động đến kinh tế toàn cầu, như xu hướng hình thành các FTA và các cơ chế hợp tác khu vực mới và xu hướng tăng mạnh đầu tư phát triển và kiểm soát, chống thất thoát công nghệ chiến lược ở một số quốc gia.

Kinh tế Việt Nam, theo đó, đứng trước nhiều cơ hội và thách thức đan xen. Trong đó, Việt Nam có cơ hội lớn để đón nhận làn sóng dịch chuyển đầu tư chất lượng cao, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ, năng lượng xanh, kinh tế số và công nghiệp hỗ trợ. Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ tạo cơ hội cho Việt Nam “bắt nhịp” bứt phá phát triển.

Cạnh tranh chiến lược thúc đẩy các quốc gia tìm kiếm đối tác mới, tạo điều kiện cho Việt Nam tham gia sâu hơn vào các chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu, không chỉ lắp ráp mà còn ở các khâu có giá trị cao hơn như RD, thiết kế, marketing.  Vấn đề then chốt là khả năng tận dụng các cơ hội đó, thông qua cải cách thể chế, nâng cao năng lực cạnh tranh và chất lượng nguồn nhân lực.

Tuy nhiên, Nhóm nghiên cứu cũng nhận diện và chỉ ra một số thách thức rất lớn đối với Việt Nam. Đó là, mô hình tăng trưởng của chúng ta mặc dù đã có nhiều đổi mới nhưng nhìn chung vẫn chưa giải quyết được sự thay đổi căn bản. Mô hình tăng trưởng thương mại theo chiều rộng khiến Việt Nam chịu nhiều áp lực rủi ro cao từ rào cản thuế quan của các nước. Việt Nam cũng là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nghiêm trọng từ biến đổi khí hậu.

Bên cạnh đó, nguy cơ “bị bỏ lại phía sau” nếu quá trình “bắt nhịp”, “đón bắt” các công nghệ không thành công. Để thực hiện mục tiêu tăng trưởng cao, nhu cầu huy động nguồn lực tài chính là rất lớn. Trong khi Việt Nam vẫn tiếp tục đối mặt với một số vấn đề mang tính cấu trúc, nội tại của nền kinh tế.

Trên cơ sở phân tích, đánh giá đầy đủ các yếu tố tác động, các điều kiện nền tảng cho tăng trưởng và phát triến kinh tế, Nhóm Nghiên cứu Ban Chính sách, chiến lược Trung ương đưa ra ba kịch bản tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2026- 2030, gồm:

(1) Kịch bản cơ sở, giả định duy trì xu hướng phát triển hiện tại, chưa tạo được đột phá mạnh mẽ về thể chế, năng suất và các điều kiện về nguồn lực phát triển. Dự báo tăng trưởng GDP đạt khoảng 7,5%/năm, lạm phát ở mức dưới 4%; quy mô GDP đến năm 2030 đạt khoảng 21,9 triệu tỷ đồng, GDP bình quân đầu người dự báo đạt mức 7.500 USD.

(2) Kịch bản chuyển tiếp, giả định có sự cải thiện rõ nét hơn các điều kiện phát triển, huy động nguồn lực cho đầu tư tăng trưởng tăng cao, công nghiệp chế biến, chế tạo, dịch vụ chất lượng cao và chuyển đổi số tăng mạnh. Theo đó, tốc độ tăng trưởng GDP có thể đạt khoảng 8,5%/năm, lạm phát duy trì khoảng 4%; quy mô GDP đến năm 2030 ước đạt khoảng 23,1 triệu tỷ đồng; GDP bình quân đầu người ước đạt 7.800 USD.

(3) Kịch bản mục tiêu, yêu cầu tăng trưởng hai con số, khoảng 10%/năm; lạm phát dự kiến ở mức 4-4,5%; quy mô GDP đến năm 2030 ước đạt 24,6 triệu tỷ đồng; GDP bình quân đầu người dự báo đạt mức 8.500 USD. Điều kiện tiên quyết ở kịch bản này là sự bứt phá về mọi mặt: cải cách thể chế, vốn đầu tư, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và năng suất.

Để đạt được mục tiêu tăng trưởng hai con số, đòi hỏi sự cải thiện mạnh mẽ ở cả ba khu vực. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản cần duy trì mức tăng trưởng khá cao, 3,5%/năm so với mức tăng trưởng cơ sở khoảng 3%/năm. Đây là áp lực rất là lớn trong thời gian tới đối với lĩnh vực nông nghiệp. Khu vực công nghiệp – xây dựng cần tăng trưởng mạnh, khoảng 12,4%/năm, trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo bứt phá, tăng trưởng khoảng 12,9%/năm và lĩnh vực xây dựng tăng trưởng đột phá ở mức 12,5%/năm nhờ đẩy mạnh đầu tư công - so với mức tăng trưởng cơ sở lần lượt là 8,7%/năm; 9,3%/năm và 8,5%/năm. Khu vực dịch vụ được thúc đẩy mạnh mẽ bởi các dịch vụ chất lượng cao và các dịch vụ giá trị gia tăng cao, với tốc độ tăng trưởng đạt 9,5%/năm so với mức cơ sở khoảng 7,5%/năm.

Sử dụng các công cụ định lượng và phân tích dữ liệu Bảng I/O, Nhóm Nghiên cứu xác định 17 ngành, lĩnh vực động lực/ưu tiên (chiếm trên 70% GDP toàn nền kinh tế), dựa trên hai nhóm tiêu chí: (1) Ngành có mức độ lan tỏa đến giá trị gia tăng toàn nền kinh tế cao; (2) Ngành có quy mô lớn, ảnh hưởng mạnh đến tăng trưởng kinh tế (theo xu hướng hiện nay). Trên cơ sở đó, chia thành bốn nhóm ngành, tương ứng với bốn nhóm định hướng phát triển, gồm:

Nhóm ngành dẫn dắt: gồm các ngành, lĩnh vực có độ lan tỏa cao, quy mô lớn, như tài chính - ngân hàng; năng lượng; bán buôn, bán lẻ; vận tải, kho bãi và logistics; nông, lâm, thủy sản.

Nhóm ngành cần thúc đẩy: gồm các ngành có độ lan tỏa mạnh, nhưng quy mô nhỏ, có triển vọng tăng trưởng mạnh, đó là RD và hoạt động khoa học, công nghệ; du lịch và lưu trú; dịch vụ ăn uống; bất động sản.

Nhóm ngành cần nâng cấp chất lượng và vị thế trong chuỗi giá trị: trong đó đặc biệt bao gồm nhóm ngành công nghệ số như điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học, viễn thông; xây dựng; sản xuất kim loại và sản phẩm kim loại. Những ngành này hiện nay có đóng góp lớn trong GDP. Một số ngành xuất khẩu cao nhưng nhập khẩu rất lớn, giá trị gia tăng đóng góp trong nước còn thấp, đòi hỏi phải nâng cao chất lượng, gia tăng vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Nhóm ngành nền tảng, tạo việc làm: gồm nhóm ngành sản xuất, chế biến thực phẩm; dệt may; da giày và sản phẩm liên quan; sản xuất hóa chất, sản phẩm hóa chất. Mặc dù độ lan tỏa tới giá trị gia tăng toàn nền kinh tế còn hạn chế, song đây là nhóm ngành có khả năng giải quyết vấn đề căn cốt về việc làm trong tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026 – 2030.

Tính toán chi tiết của Nhóm nghiên cứu cho thấy các ngành động lực nêu trên phải có các điều chỉnh rất lớn, tăng trưởng rất thực chất mới có thể đóng góp, thúc đẩy mức tăng trưởng chung 10%/năm của cả nước. Trong đó, lĩnh vực bán buôn, bán lẻ phải điều chỉnh tăng trưởng tới 3,2 điểm phần trăm so với kịch bản cơ sở, từ mức 7,6%/năm (kịch bản cơ sở) lên 10,8% (kịch bản mục tiêu), tương ứng mức điều chỉnh 3,4 điểm phần trăm so với tăng trưởng bình quân giai đoạn 2021-2025 (7,4%/năm); đạt mức đóng góp 1,03 điểm phần trăm trong tăng trưởng GDP toàn nền kinh tế.

Lĩnh vực năng lượng với mức điều chỉnh 3,7 điểm phần trăm so với kịch bản cơ sở. Lĩnh vực vận tải, kho bãi và logistics với mức điều chỉnh 2 điểm phần trăm so với kịch bản cơ sở. Lĩnh vực điện tử, máy tính, sản phẩm quang học điều chỉnh mạnh với mức tăng thêm 4 điểm phần trăm so với kịch bản cơ sở và 4,4 điểm phần trăm so với mức tăng trưởng khá cao hiện nay (10,6%/năm),…

Kinh nghiệm thực tiễn từ các quốc gia trong giai đoạn tăng trưởng cao chỉ ra rằng nhu cầu về vốn để duy trì đà phát triển là vô cùng lớn.

Để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức 10%/năm, đồng thời giảm mạnh hệ số ICOR từ 6,5 xuống 4,7 – tương ứng với sự gia tăng đột phá hiệu quả sử dụng vốn, kết quả tính toán cho thấy, tổng nhu cầu vốn đầu tư phát triển trong 5 năm tới khoảng 1.463 tỷ USD (tương đương 38,6 triệu tỷ đồng – gấp khoảng 2,1 lần giai đoạn 2021-2025), chiếm khoảng 40,01% GDP, trung bình mỗi năm cần khoảng 292,6 tỷ USD.

Cơ cấu nguồn vốn được định hướng phân bổ dựa trên các trụ cột chính: Đầu tư từ khu vực nhà nước chiếm khoảng 29%, trong đó, đầu tư công là 22,2% (khoảng 8,58 triệu tỷ đồng); đầu tư từ khu vực FDI khoảng 218 tỷ USD, chiếm khoảng 15,0% - là một yêu cầu khá thách thức trong bối cảnh hiện nay; đầu tư từ khu vực tư nhân phải đảm đương tới 56,0% tổng nhu cầu vốn đầu tư phát triển.

Xem xét các kênh cung ứng vốn cho nền kinh tế cho thấy vốn tín dụng ngân hàng hiện vẫn là kênh dẫn vốn lớn nhất, chiếm tỷ trọng từ 48-50%; tiếp sau là đầu tư công (16-18%); FDI (15-16%); trái phiếu doanh nghiệp và IPO (12-13%) và cuối cùng là vốn tự có của doanh nghiệp tư nhân và nguồn khác (khoảng 4-5%). Có thể thấy mô hình dẫn vốn dựa vào hệ thống ngân hàng (bank-based) khá rõ. Kênh dẫn vốn qua thị trường vốn còn quá khiêm tốn, chưa thực hiện tốt vai trò kênh dẫn vốn dài hạn của nền kinh tế.

Tính toán của Nhóm nghiên cứu cho thấy hệ số tương quan giữa dư nợ tín dụng và tổng vốn đầu tư phát triển khá lớn, lên tới 4,5-5. Giả định, tương quan này vẫn tiếp diễn trong 2026-2030, với mục tiêu tăng trưởng 10%/năm, nhu cầu vốn đầu tư tương đương 40% GDP, khi đó nhu cầu vốn tín dụng tăng mạnh, dẫn tới dư nợ tín dụng có thể lên đến 180-200%GDP – ẩn chứa nhiều rủi ro, gây áp lực mạnh lên hệ thống ngân hàng và ổn định kinh tế vĩ mô.

Theo đó, yêu cầu đặt ra là cần có sự kiểm soát chặt chẽ dòng vốn tín dụng nhằm gia tăng tỷ lệ vốn sử dụng vào sản xuất hay gia tăng tỷ lệ tạo lập tài sản cố định; đồng thời, định hướng các chính sách, giải pháp chiến lược để kích thích khu vực doanh nghiệp, nhà đầu tư huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán và các quỹ nhằm giảm áp lực với tín dụng ngân hàng.

Một vấn đề cốt lõi cần được xem xét kỹ lưỡng đó là khả năng hấp thụ vốn thực tế của nền kinh tế. Mặc dù dự thảo Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết về tăng trưởng hai con số đặt mục tiêu tổng vốn đầu tư toàn xã hội ở mức 40% GDP, nhưng các tính toán định lượng cho thấy hiệu quả chuyển đổi vốn còn hạn chế. Tính toán ban đầu của Nhóm nghiên cứu cho thấy để đạt được mục tiêu tăng trưởng như kỳ vọng, tổng vốn đầu tư toàn xã hội cần huy động phải ở mức cao hơn, cần khoảng 47% GDP thay vì 40% như dự kiến hiện nay. Điều này đặt ra yêu cầu cấp bách về việc phải tính toán chính xác tỷ lệ vốn thực sự hấp thụ vào sản xuất để tạo ra tăng trưởng thực chất.

Bên cạnh nguồn lực tài chính, mục tiêu tăng trưởng 10%/năm còn phụ thuộc chặt chẽ vào việc nâng cao năng suất nội tại. Trong bối cảnh tốc độ tăng trưởng lao động đang có xu hướng chậm lại, áp lực đóng góp từ các nhân tố tổng hợp (TFP) là rất lớn. Kết quả tính toán của Nhóm nghiên cứu chỉ ra rằng để đủ sức hiện thực hóa mục tiêu 10%/năm, đóng góp của TFP phải đạt trên 57% và năng suất lao động xã hội phải tăng trưởng mạnh mẽ trên mức 8,7% mỗi năm.

Nhằm tháo gỡ những nút thắt lớn nhất, khơi thông các điểm nghẽn cho quá trịnh hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số, Nhóm nghiên cứu Ban Chính sách, chiến lược Trung ương đề xuất bốn nhóm giải pháp chính.

Thứ nhất, đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô trong mọi tình huống, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn là một yêu cầu quan trọng. Đánh giá các kịch bản lạm phát cho thấy lạm phát và kỳ vọng lạm phát ổn định ở mức thấp là một điều kiện quan trọng để duy trì tăng trưởng nhanh và bền vững trong giai đoạn 2026-2030.

Kịch bản thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế 10%/năm đòi hỏi lạm phát duy trì ổn định khoảng 4%/năm. Nếu lạm phát cao sẽ làm giảm ý nghĩa của tăng trưởng kinh tế và người dân không được hưởng thành quả tương xứng từ tăng trưởng kinh tế. Ổn định lạm phát sẽ tạo điều kiện cho các cải cách thể chế kinh tế và giúp tín hiệu phân bổ nguồn lực trên thị trường ít bị “méo mó”, đồng thời thúc đẩy phát triển dịch vụ tài chính – ngân hàng.

Phối hợp đồng bộ, hiệu quả giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ trên cơ sở “phân vai” cụ thể hơn.

Theo đó, chính sách tài khóa tập trung vào thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thông qua thúc đẩy giải ngân đầu tư công vào các lĩnh vực trọng điểm, có tính lan tỏa cao, các dự án chiến lược, liên kết vùng; tăng chi chuyển giao hỗ trợ tiêu dùng của người dân; giảm thuế hỗ trợ cho các ngành gắn với chuyển đổi số, chuyển đổi xanh; hỗ trợ tiêu dùng của hộ gia đình.

Chính sách tiền tệ linh hoạt, chặt chẽ, tập trung vào ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và phối hợp hiệu quả với chính sách tài khóa. Thực hiện truyền thông chính sách về ổn định lạm phát và ổn định tỷ giá; điều tiết cung tiền hợp lý gắn với mặt bằng lãi suất phù hợp, bảo đảm lãi suất thực dương ít nhất 1%/năm. Duy trì tăng trưởng tín dụng hợp lý (khoảng 15-18%) gắn với phân bổ tín dụng tập trung vào các ngành sản xuất; thử nghiệm có kiểm soát các cơ chế tín dụng cho các lĩnh vực mới (tín dụng xanh, tín dụng dựa trên quyền sở hữu trí tuệ); rà soát và tăng cường tính độc lập tương đối của Ngân hàng Nhà nước,...

Thứ hai, thay đổi mạnh mẽ cách thức huy động nguồn lực tài chính cho nền kinh tế. (1) Thúc đẩy huy động tài chính trên thị trường vốn, thông qua phát hành trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu chính phủ và cổ phiếu, nhằm cân bằng với vai trò huy động vốn dài hạn qua hệ thống ngân hàng (bank-based) hiện nay, với một số yêu cầu cụ thể: nâng hạng tín nhiệm quốc gia (lên mức Investment Grade) - rất quan trọng với huy động vốn quốc gia và thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Đa dạng sản phẩm, đặc biệt là các sản phẩm mới (cố phiếu doanh nghiệp công nghệ số; doanh nghiệp dịch vụ (du lịch, giải trí, truyền thông). Thực hiện mục tiêu nâng hạng thị trường mới nổi MSCI. Có khung khổ quy định, cở mở hơn về tài sản đảm bảo trong phát hành TPDN.

(2) Phát triển ngành quỹ trên cơ sở có sự thay đổi tư duy, nhìn nhận đúng vai trò của ngành quỹ đối với thị trường vốn và nền kinh tế. Bổ sung, xây dựng, điều chỉnh quy định pháp luật liên quan, tạo khung khổ thể chế để phát triển ngành quỹ. Phát triển một số loại hình quỹ phổ biến như: các quỹ mở, quỹ hưu trí tự nguyện, quỹ hạ tầng, quỹ thúc đẩy kinh tế tư nhân/quỹ phát triển doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, các quỹ đầu tư quốc gia, quỹ chuyển đổi xanh...

(3) Thực hiện huy động vốn thông qua một số kênh huy động mới, như: thí điểm thị trường carbon; trung tâm tài chính quốc tế; thị trường tài sản mã hóa. Có tư duy mở hơn đối với các định chế cho vay tổng hợp – cấp tín dụng dưới dạng kênh huy động vốn trung, dài hạn.

Thứ ba, tháo gỡ vướng mắc về chính sách. Trong đó, (1) cần đơn giản hóa các thủ tục, đảm bảo hỗ trợ nhanh, gọn cho doanh nghiệp. Đặc biệt, (2) cần sớm thể chế hóa các chính sách để tháo gỡ khó khăn cho các dự án tồn đọng, chậm triển khai ở các địa phương. Hiện nay Bộ Chính trị đã có Kết luận 182-KL/TW nhưng ở các địa phương vẫn còn rất vướng. (3) Gỡ vướng cho các quỹ khoa học địa phương. Hiện nay các quỹ khoa học địa phương đến tháng 11/2025 mới chỉ giải ngân khoảng 585 tỷ đồng, con số quá thấp so với yêu cầu; quỹ đầu tư cũng chưa phát huy hiệu quả.

Mô hình quỹ khoa học, công nghệ của các địa phương phải có sự thay đổi, cải tiến thì mới đưa được nguồn vốn hiện có vào trong khoa học, công nghệ của các địa phương. Vận hành mô hình quỹ khoa học, công nghệ phải có đổi mới về tư duy và chính sách đột phá, có cơ chế PPP mới trong khoa học, công nghệ.

Thứ tư, làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống, kích thích các động lực tăng trưởng mới. (1) Thay đổi chiến lược và mô hình xuất khẩu. Thực hiện tiến quân vào thị trường bằng các chương trình “Go globle” cụ thể, đồng thời thay đổi phương thức hỗ trợ doanh nghiệp trong xuất khẩu, thông qua hỗ trợ thị trường, logistic, bảo hiểm, tư vấn và hỗ trợ kết nối với các tập đoàn đa quốc gia.

(2) Lựa chọn các dự án lớn, động lực của các địa phương. (3) Có chiến lược phát triển phù hợp với các ngành kinh tế động lực, trong đó, thúc đẩy phát triển các ngành các ngành dẫn dắt, các ngành có khả năng lan tỏa cao, như du lịch, RD, logistics, năng lượng, tài chính - ngân hàng. Nâng cấp chất lượng, giá trị gia tăng các ngành điện tử, công nghiệp công nghệ số; dệt may, da giày; chế biến thực phẩm... Trong giai đoạn đầu tăng trưởng cao, cho phép thúc đẩy các ngành trong lĩnh vực xây dựng, bất động sản.

(4) Thúc đẩy phát triển các mô hình kinh tế mới, các ngành kinh tế mới. Trong đó, hoàn thiện cơ chế thử nghiệm để hỗ trợ phát triển các ngành kinh tế mới như kinh tế không gian vũ trụ, kinh tế tầm thấp,... các mô hình kinh tế mới, kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn. Xây dựng cơ chế, chính sách khai thác không gian vũ trụ, không gian ngầm, không gian biển. Phát triển công nghiệp đường sắt, công nghiệp ứng dụng năng lượng nguyên tử, lượng tử.

Xây dựng các chương trình, đề án nghiên cứu khoa học có tính đột phá đối với 11 nhóm công nghệ chiến lược; xây dựng các cơ sở nghiên cứu và phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao như điện tử, chíp bán dẫn, trí tuệ nhân tạo.

(5) Các giải pháp khác: khai thác tốt không gian tăng trưởng mới; phát triển mạnh thị trường trong nước, kích cầu tiêu dùng thông các hội chợ quy mô lớn về thương mại, công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ; phát huy vai trò các khu thương mại tự do, Trung tâm tài chính quốc tế trong thu hút vốn đầu tư, công nghệ.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 51-52-2025 phát hành ngày 22-29/12/2025. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:

Link: https://vneconomy.vn/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-5152-2025.htm

-

Categories: The Latest News

Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2025 (VEPF): Định hình mô hình tăng trưởng mới

Tue, 12/30/2025 - 12:56
Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2025 (VEPF) không chỉ đánh dấu mốc quan trọng khi nền kinh tế dự kiến cán đích với mức tăng trưởng trên 8%, mà còn đặt ra một bài toán chiến lược đầy thách thức cho giai đoạn 2026–2030: Làm thế nào để đạt và duy trì tốc độ tăng trưởng hai con số? Tạp chí Kinh tế Việt Nam / VnEconomy xin lược trích ý kiến phát biểu của ông Nguyễn Thanh Nghị, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương tại Diễn đàn VEPF vừa diễn ra.

Năm 2025 khép lại trong bối cảnh bức tranh kinh tế toàn cầu đan xen những khó khăn và thuận lợi, trong đó khó khăn được đánh giá là lớn hơn thuận lợi. Diễn biến phức tạp của tình hình địa chính trị tại nhiều khu vực, cùng xu hướng gia tăng các chính sách bảo hộ thương mại tại một số quốc gia đã ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động thương mại, đầu tư và chuỗi cung ứng toàn cầu, qua đó tác động đến nền kinh tế nước ta.

Với một nền kinh tế có độ mở lớn, Việt Nam tiếp tục đối mặt với nhiều thách thức. Đó là năng lực và khả năng thích ứng của doanh nghiệp trong chuỗi giá trị còn hạn chế, trong khi các tác động của biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và các hiện tượng thời tiết cực đoan ngày càng rõ nét, ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất, kinh doanh, đời sống kinh tế – xã hội và sinh kế của người dân.

Trong bối cảnh đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự ủng hộ của Quốc hội và sự chỉ đạo, điều hành chủ động, quyết liệt, linh hoạt và hiệu quả của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, kinh tế – xã hội Việt Nam tiếp tục đạt được những kết quả nổi bật. Tăng trưởng kinh tế được thúc đẩy mạnh mẽ, dự kiến cả năm 2025 đạt trên 8%, đưa Việt Nam vào nhóm các nền kinh tế tăng trưởng nhanh trên thế giới. Cùng với đó, ổn định kinh tế vĩ mô được giữ vững, lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm.

Các chính sách phát triển kinh tế gắn với an sinh xã hội tiếp tục được triển khai, góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Những kết quả này phản ánh nỗ lực đồng bộ của hệ thống chính trị, sự sáng tạo và thích ứng của cộng đồng doanh nghiệp, cùng với sự đồng thuận, ủng hộ của các tầng lớp nhân dân trong quá trình thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội.

Dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng xác định mục tiêu phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2026–2030 từ 10%/năm trở lên. Trong bối cảnh hiện nay, việc hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng năm 2026 và giai đoạn 2026–2030 đặt ra yêu cầu rất cao, đòi hỏi phải định hình lại tư duy phát triển, xác lập mô hình tăng trưởng mới; đồng thời, tạo lập các động lực tăng trưởng mới gắn với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh.

Trên cơ sở đó, việc tổ chức triển khai các giải pháp cần được thực hiện một cách quyết liệt, hiệu quả, nhằm phát huy tối đa các động lực tăng trưởng truyền thống như đầu tư, xuất khẩu và tiêu dùng; đồng thời, làm mới và nâng cao chất lượng các động lực này trong bối cảnh mới.

Thực hiện chỉ đạo của Bộ Chính trị, với sự quan tâm chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và Lãnh đạo Quốc hội, Đảng ủy Chính phủ và Ban Chính sách, chiến lược Trung ương đã đồng chủ trì tổ chức Diễn đàn cấp cao Kinh tế Việt Nam với chủ đề “Kinh tế Việt Nam phát triển nhanh, bền vững, chuyển đổi xanh trong kỷ nguyên số”. Diễn đàn được tổ chức với quy mô gồm một phiên toàn thể cấp cao và hai phiên chuyên đề, kết hợp hình thức tham dự trực tiếp và trực tuyến tại điểm cầu của 34 tỉnh, thành phố.

Các nội dung thảo luận tại Diễn đàn tập trung vào một số trụ cột chính sách lớn, gắn với yêu cầu phát triển nhanh, bền vững và chuyển đổi mô hình tăng trưởng trong giai đoạn 2026–2030.

Thứ nhất, nhấn mạnh yêu cầu nhận diện các lĩnh vực, quy định cần ưu tiên thể chế hóa trong thời gian tới, nhằm hiện đại hóa quản trị quốc gia gắn với nâng cao hiệu quả thực thi. Trong giai đoạn 2026–2030, thể chế được xác định là nguồn lực chủ đạo, có vai trò mở đường cho việc huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong mô hình tăng trưởng mới. Việc hoàn thiện thể chế không chỉ nhằm tháo gỡ các rào cản, điểm nghẽn hiện hữu, mà còn tạo lập khuôn khổ pháp lý thuận lợi cho các mô hình kinh tế mới phát triển.

Thứ hai, tập trung lắng nghe các kiến nghị cụ thể, thực chất liên quan đến việc nâng cao năng lực tự chủ và khả năng vươn lên của doanh nghiệp tư nhân trong nước. Các nội dung thảo luận hướng tới việc tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ mới nổi và công nghệ chiến lược. Mục tiêu đặt ra là từng bước hình thành các doanh nghiệp, thương hiệu và sản phẩm Việt Nam có vị thế trên bản đồ công nghệ và chuỗi giá trị toàn cầu.

Thứ ba, thảo luận các giải pháp nhằm bảo đảm tăng trưởng nhanh đi đôi với bền vững và ổn định kinh tế vĩ mô. Trong đó, các cơ chế, chính sách đột phá, vượt trội, có tính “thân thiện” với phát triển được xem là điều kiện cần thiết để thúc đẩy các mô hình kinh tế mới và các dự án trọng điểm trong các lĩnh vực như kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế không gian tầm thấp và kinh tế dữ liệu. Việc xây dựng các chính sách phù hợp được kỳ vọng sẽ tạo động lực mới cho tăng trưởng, đồng thời nâng cao chất lượng và sức chống chịu của nền kinh tế.

Thứ tư, nhận diện các hành động chiến lược để các địa phương khai thác hiệu quả không gian phát triển mới. Việc thực hiện phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm giải trình, cùng với việc tận dụng các cơ chế thử nghiệm, cơ chế đặc thù, được xem là yếu tố quan trọng để củng cố vai trò của các cực tăng trưởng và thúc đẩy phát triển vùng thông qua đầu tư hạ tầng kết nối liên vùng và nội vùng.

Thứ năm, trao đổi về việc thúc đẩy các quan hệ đối tác nhiều bên vì sự phát triển và thịnh vượng của Việt Nam. Trong đó, các giải pháp “làm mới” quan hệ đối tác với các đối tác phát triển, thúc đẩy quan hệ đối tác công – tư, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp và các viện nghiên cứu, cũng như hợp tác giữa các khu vực doanh nghiệp được đặt trong phương châm “cùng đồng hành, cùng sáng tạo, cùng phát triển”.

Bên cạnh các nội dung trên, Diễn đàn cũng thảo luận sâu về bối cảnh, các kịch bản phát triển và yêu cầu định hướng giải pháp nhằm thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số trong năm 2026 và giai đoạn 2026–2030. Các nội dung trao đổi cho thấy việc đạt được mục tiêu này là một nhiệm vụ thách thức, song có cơ sở khả thi từ những thời cơ và thuận lợi mới, cùng với quyết tâm chính trị và nỗ lực của toàn hệ thống.

Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững, Việt Nam cần xây dựng chiến lược và kế hoạch hành động tổng thể, huy động và sử dụng hiệu quả tất cả các nguồn lực. Trong đó, việc phát triển thị trường vốn theo hướng cân bằng, toàn diện, hội nhập và hiện đại theo chuẩn mực quốc tế được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, nhằm đáp ứng nhu cầu huy động nguồn lực tài chính với quy mô lớn cho giai đoạn phát triển tới.

Cùng với đó, việc tiếp tục thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Đảng được nhấn mạnh nhằm bảo đảm thể chế thực sự trở thành nguồn lực chủ đạo cho phát triển. Trên cơ sở đó, các nút thắt, điểm nghẽn trong quá trình phát triển được tháo gỡ, tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận và hiện thực hóa các mô hình kinh tế mới, từ kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn đến kinh tế số, kinh tế dữ liệu và các lĩnh vực mới nổi khác.

Diễn đàn cũng đề cập đến yêu cầu tiếp tục làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống, bao gồm đầu tư, xuất khẩu và tiêu dùng, đồng thời kết hợp chặt chẽ với việc tạo lập các động lực tăng trưởng mới dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Việc khai thác cân bằng và hiệu quả các động lực này, trong một môi trường thể chế kiến tạo, được xem là điều kiện quan trọng để bảo đảm tăng trưởng nhanh và bền vững trong dài hạn.

Trong bối cảnh đó, vai trò của các địa phương được đặt ra rõ nét hơn, với yêu cầu xây dựng quy hoạch và các giải pháp triển khai đồng bộ nhằm khai thác hiệu quả các không gian phát triển mới, các cực tăng trưởng. Đồng thời, sự đồng hành và hợp tác hiệu quả của các đối tác quốc tế, đặc biệt trong các lĩnh vực chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển kinh tế tuần hoàn, tiếp tục được xem là yếu tố quan trọng giúp Việt Nam tiệm cận và áp dụng các thông lệ quốc tế tốt hơn.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 51-52-2025 phát hành ngày 22-29/12/2025. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:

Link: https://vneconomy.vn/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-5152-2025.htm

-

Categories: The Latest News

Kinh tế Việt Nam: Sức chống chịu kiên cường, sẵn sàng cho kỷ nguyên tăng trưởng mới

Tue, 12/30/2025 - 12:55
Trong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, căng thẳng và khó đoán định, Việt Nam vẫn kiên định thực hiện hai mục tiêu lớn: Đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước, trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao...

Trên cơ sở xác định rõ xu thế tất yếu, không thể đảo ngược của chuyển đổi xanh trong kỷ nguyên số, Việt Nam xác định rõ “chuyển đổi kép: xanh hóa và số hóa” là yêu cầu khách quan, là lựa chọn chiến lược, là ưu tiên đầu tư phát triển; vừa là nền tảng, vừa tạo động lực thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững của đất nước nói chung và nền kinh tế nói riêng.

Đảng, Nhà nước, Chính phủ Việt Nam luôn đặc biệt quan tâm và ban hành nhiều chủ trương, cơ chế, chính sách để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững dựa trên cơ sở nền tảng "chuyển đổi kép: xanh hóa và số hóa".

Nghị quyết Đại hội XIII xác định rõ: "Tiếp tục phát triển nhanh và bền vững đất nước"; "đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số trên nền tảng khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo"; "xây dựng nền kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, thân thiện với môi trường".

Bộ Chính trị đã tiếp tục ban hành và cụ thể hóa các quyết sách quan trọng trong các lĩnh vực trụ cột, chiến lược, gồm các Nghị quyết số: 57, 59, 66, 68, 70, 71, 72; đang xây dựng và chuẩn bị ban hành các nghị quyết về kinh tế nhà nước, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và văn hóa.

Song song với việc thông qua các đạo luật, Việt Nam còn ban hành các nghị quyết để kịp thời thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, với phương châm “không cầu toàn, không nóng vội nhưng không bỏ lỡ cơ hội”. Đây là sự đổi mới về tư duy, cách làm.

Đặc biệt, Nghị quyết số 57-NQ/TW nhấn mạnh phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu; thúc đẩy chuyển đổi số, nghiên cứu, chuyển giao công nghệ xanh, công nghệ phát thải thấp; kiến tạo phát triển các mô hình kinh tế mới, kinh tế số, kinh tế xanh; chuyển dịch mạnh mẽ từ năng lượng hóa thạch sang năng lượng tái tạo (gió, mặt trời, hydro xanh); phát triển hệ sinh thái công nghiệp năng lượng sạch,…

Tình hình thế giới, khu vực diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường, trong đó có những vấn đề chưa có tiền lệ, vượt dự báo như cạnh tranh chiến lược, xung đột quân sự, xu hướng đầu tư, thương mại toàn cầu tăng trưởng chậm lại, thiên tai và biến đổi khí hậu ảnh hưởng nặng nề đến các nước. Nhìn chung, khó khăn thách thức nhiều hơn cơ hội.

Đối với Việt Nam, nhờ sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, tình hình kinh tế - xã hội đất nước đạt nhiều kết quả nổi bật, khá toàn diện, cao hơn năm 2024 trên tất cả các lĩnh vực, như Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhận định: "Bức tranh kinh tế - xã hội đất nước năm 2025 với gam màu sáng là chủ đạo".

Nổi bật là kinh tế Việt Nam thể hiện sức chống chịu kiên cường và đạt tốc độ tăng trưởng thuộc nhóm cao hàng đầu khu vực, thế giới. GDP năm 2025 dự kiến tăng trên 8%, đưa quy mô nền kinh tế lên khoảng 510 tỷ USD, xếp thứ 32 thế giới; thu nhập bình quân đầu người khoảng 5.000 USD, đưa Việt Nam bước vào nhóm thu nhập trung bình cao.

Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn được bảo đảm; nợ công, bội chi ngân sách nhà nước được kiểm soát tốt, thấp hơn nhiều giới hạn cho phép. Chính phủ quan niệm đầu tư là có thể phải đi vay, nhưng quan trọng là phải có hiệu quả và có khả năng trả nợ.

Việt Nam kiểm soát tốt lạm phát trong cả giai đoạn 2021-2025, trong bối cảnh lạm phát toàn cầu neo ở mức cao. Thu ngân sách nhà nước ước vượt khoảng 25% so với dự toán, tương đương khoảng hơn 500 nghìn tỷ đồng; quy mô thương mại năm 2025 dự kiến đạt kỷ lục trên 900 tỷ USD…

Ba đột phá chiến lược được triển khai quyết liệt, hiệu quả, theo hướng “thể chế thông thoáng, hạ tầng thông suốt, quản trị và nguồn nhân lực thông minh”. Hiện tại, kết quả từ nỗ lực trên được thể hiện thông qua các công trình như hệ thống đường cao tốc tạo thành hành lang kinh tế quan trọng, bến cảng, sân bay, hạ tầng số được đầu tư. Việt Nam cũng cương quyết không để thiếu điện, đảm bảo niềm tin của nhà đầu tư.

Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia được triển khai quyết liệt, đạt kết quả bước đầu quan trọng. Hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo có bước phát triển mạnh mẽ; Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia và Trung tâm dữ liệu quốc gia đi vào hoạt động hiệu quả. Tỷ trọng kinh tế số năm 2025 đạt khoảng 20% GDP. Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu của Việt Nam năm 2025 xếp hạng 44/139 quốc gia, vùng lãnh thổ.

Triển khai quyết liệt, hiệu quả việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy của Chính phủ và tổ chức chính quyền địa phương hai cấp gắn với đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, phân bổ nguồn lực, nâng cao năng lực thực thi và tăng cường giám sát, kiểm tra.

Các lĩnh vực văn hóa, xã hội phát triển; đời sống vật chất, tinh thần của người dân tiếp tục được nâng lên. Giai đoạn 2021-2025, chi khoảng 1,1 triệu tỷ đồng cho an sinh xã hội, chiếm 17% tổng chi ngân sách nhà nước. Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm từ 4,4% năm 2021 xuống còn 1,3% năm 2025. Cơ bản hoàn thành xóa nhà tạm, nhà dột nát trên cả nước. Triển khai tích cực xây dựng 1 triệu căn hộ cho người thu nhập thấp.

Chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được củng cố, tăng cường; trật tự an toàn xã hội được bảo đảm. Đối ngoại và hội nhập quốc tế là điểm sáng, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển đất nước.

Nhiệm kỳ này đã chứng tỏ kinh tế Việt Nam đủ sức chống chịu với các cú sốc từ bên ngoài như đại dịch Covid-19 và hậu quả; chiến tranh, xung đột, đứt gãy các chuỗi cung ứng; chính sách tiền tệ thắt chặt của các nước; chính sách thuế quan phức tạp; tăng trưởng toàn cầu giảm, lạm phát toàn cầu tăng. Đây là những "cơn gió ngược" mà Việt Nam đã vượt qua để đạt được những thành quả như trên.

Trong năm 2026, khái quát tình hình thế giới: chính trị phân cực, kinh tế phân tách, thể chế phân mảnh, phát triển phân hóa.

Đối với Việt Nam, sau gần 40 năm Đổi mới và hội nhập, cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước được nâng lên, là nền tảng quan trọng để đất nước vươn mình trong kỷ nguyên phát triển mới. Việt Nam xác định rõ thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen, nhưng khó khăn, thách thức nhiều hơn.

Tình hình thế giới tiềm ẩn nhiều rủi ro, trong khi nền kinh tế Việt Nam có độ mở lớn; chất lượng tăng trưởng còn hạn chế, còn dựa vào thâm dụng lao động giá rẻ, tài nguyên và vốn; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo chưa thực sự là động lực của tăng trưởng và cần thời gian để phát huy hiệu quả hơn; thể chế, chính sách vẫn còn vướng mắc, cần tiếp tục hoàn thiện xử lý các "điểm nghẽn"; Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng lớn nhất bởi tác động của các thảm họa thiên tai, biến đổi khí hậu. Riêng các cơn bão lũ liên tiếp vừa qua đã gây thiệt hại khoảng 100 nghìn tỷ đồng.

Nông nghiệp đã giúp Việt Nam thoát đói nghèo sau cuộc chiến tranh tàn khốc; công nghiệp đã giúp Việt Nam có thu nhập trung bình cao. Thời gian tới, Việt Nam xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh sẽ đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững, trở thành nước phát triển có thu nhập cao.

Về mục tiêu chiến lược, Việt Nam kiên định, nhất quán tập trung thực hiện hai mục tiêu chiến lược 100 năm, phấn đấu đến năm 2030, trở thành một nước đang phát triển công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; năm 2045 là nước phát triển, thu nhập cao.

Để đạt được hai mục tiêu chiến lược nêu trên, Việt Nam xác định rõ ổn định là pháo đài bất khả xâm phạm; phát triển nhanh, bền vững là động cơ vĩnh cửu, không có điểm dừng; giàu mạnh, ấm no, hạnh phúc của người dân là mục tiêu cao nhất; không hy sinh tiến bộ, công bằng, an sinh xã hội, môi trường để chạy theo tăng trưởng đơn thuần.

Theo đó, thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững trên nền tảng "chuyển đổi kép: xanh hóa và số hóa", phấn đấu tăng trưởng đạt hai con số gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế; chú trọng nâng cao khả năng chống chịu, sức cạnh tranh của nền kinh tế; nâng cao năng lực phân tích, dự báo, chủ động ứng phó linh hoạt, kịp thời, hiệu quả với các biến động bên ngoài.

Đẩy mạnh thực hiện đột phá chiến lược về thể chế, biến điểm nghẽn của điểm nghẽn trở thành lợi thế cạnh tranh quốc gia, giảm chi phí tuân thủ cho người dân và doanh nghiệp. Đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao; ưu tiên các ngành mũi nhọn về khoa học, công nghệ, quản trị thông minh, khoa học cơ bản và các lĩnh vực ưu tiên, mới nổi. Tập trung xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng chiến lược thông suốt đồng bộ, hiện đại; qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho chuyển đổi số, chuyển đổi xanh.

Làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống và thúc đẩy mạnh mẽ các động lực tăng trưởng mới. Trong đó, tập trung triển khai quyết liệt Nghị quyết số 57-NQ/TW; đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh; chú trọng phát triển các ngành công nghiệp bán dẫn, AI, năng lượng sạch, trung tâm dữ liệu; xây dựng trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do…

Xây dựng các chương trình, đề án nghiên cứu khoa học có tính đột phá đối với 11 nhóm công nghệ chiến lược; xây dựng đồng bộ cơ sở dữ liệu về đất đai, khoáng sản, đưa dữ liệu thành tài nguyên; xây dựng các cơ sở nghiên cứu và phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao như điện tử, chíp bán dẫn, trí tuệ nhân tạo…

Khai thác tốt các không gian phát triển mới thông qua các dự án hạ tầng kết nối liên vùng, phát huy vai trò các mô hình kinh tế mới, khu thương mại tự do, trung tâm tài chính quốc tế trong thu hút vốn đầu tư, công nghệ...

Thúc đẩy, tạo đột phá cho các động lực tăng trưởng mới thông qua hoàn thiện cơ chế thử nghiệm để hỗ trợ phát triển kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn. Xây dựng cơ chế, chính sách phát triển doanh nghiệp công nghệ số; cơ chế khai thác không gian vũ trụ, không gian ngầm, không gian biển; phát triển công nghiệp đường sắt, công nghiệp ứng dụng năng lượng nguyên tử, lượng tử...

Tiếp tục đa dạng hóa các hình thức huy động nguồn lực; thúc đẩy xã hội hóa, thu hút mạnh mẽ nguồn lực đầu tư ngoài nhà nước. Ưu tiên thu hút FDI có chọn lọc, tái cấu trúc xuất khẩu gắn liền với cơ cấu nền kinh tế, sản xuất xanh, tuần hoàn, kết nối với đầu tư trong nước.

Lịch sử dân tộc Việt Nam đã chứng minh, truyền thống của người Việt Nam là càng áp lực lại càng nỗ lực, càng trong gian nan, bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam càng tỏa sáng; để phát triển nhanh, bền vững, phát triển xanh, phát triển số, phải tiếp tục phát huy tinh thần "chỉ bàn làm, không bàn lùi", coi trọng trí tuệ, tiết kiệm thời gian, lựa chọn ưu tiên phù hợp.

Mục tiêu tăng trưởng hai con số của Việt Nam là có nền tảng, có dư địa và khả thi. Với quyết tâm chính trị rất cao, nỗ lực rất lớn, hành động rất quyết liệt, Việt Nam rất mong tiếp tục nhận được sự đồng hành, ủng hộ, hỗ trợ của bạn bè, đối tác quốc tế trong thực hiện khát vọng lớn lao này; qua đó biến khát vọng và niềm tin thành hành động, thành các dự án, sản phẩm cụ thể với hiệu quả đo lường được, cân đong đo đếm được, mang lại hạnh phúc ấm no cho người dân Việt Nam.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 51-52-2025 phát hành ngày 22-29/12/2025. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:

Link: https://vneconomy.vn/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-5152-2025.htm

-

Categories: The Latest News

Thủ tướng Phạm Minh Chính: Đẩy mạnh triển khai chiến lược đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới

Tue, 12/30/2025 - 11:13
Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh phát huy vai trò ngoại giao toàn diện, nâng cao vị thế đất nước trong bối cảnh quốc tế biến động mạnh...

Chiều 29/12, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dự Hội nghị tổng kết công tác năm 2025 và triển khai phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm năm 2026 của ngành Ngoại giao.

Hội nghị tập trung đánh giá công tác đối ngoại của Bộ Ngoại giao trong năm 2025 và nhiệm kỳ 2021 – 2025; xác định những định hướng lớn trong năm 2026 và thời gian tới để triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng, nhất là cụ thể hóa quan điểm, chỉ đạo mới về vai trò “trọng yếu, thường xuyên” của đối ngoại và hội nhập quốc tế.

NHIỀU THÀNH TỰU QUAN TRỌNG TRONG BỐI CẢNH QUỐC TẾ NHIỀU BIẾN ĐỘNG

Hội nghị đánh giá, năm 2025, ngành Ngoại giao đã triển khai nhiệm vụ trong bối cảnh quốc tế nhiều biến động, khó khăn hơn, nhưng dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo và tham gia trực tiếp, sâu sát, quyết liệt của Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, sự chỉ đạo sát sao của Thủ tướng Chính phủ và sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, sự quyết tâm đồng lòng của các lực lượng đối ngoại, công tác đối ngoại năm 2025 tiếp được triển khai đồng bộ, hiệu quả, khép lại nhiệm kỳ Đại hội XIII với nhiều thành tựu có ý nghĩa lịch sử.

Công tác đối ngoại đạt nhiều kết quả nổi bật, trong đó các quyết sách, định hướng chiến lược về nâng tầm, nâng cấp quan hệ với các đối tác chủ chốt, củng cố quan hệ với các nước láng giềng, tăng cường quan hệ với các nước lớn, đối tác quan trọng và bạn bè truyền thống, ứng phó kịp thời với các vấn đề mới nổi lên đã góp phần kiến tạo và giữ vững cục diện đối ngoại thuận lợi, ổn định, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.

Các hoạt động đối ngoại, đặc biệt là ngoại giao cấp cao được triển khai sôi động, rộng khắp, đạt được những kết quả quan trọng. Trong năm 2025, các đồng chí Lãnh đạo chủ chốt đã thực hiện 75 hoạt động đối ngoại, tăng gần gấp 1,5 lần so với năm 2024, tạo định hướng chiến lược cho quan hệ với các đối tác.

Công tác ngoại giao phục vụ phát triển, ngoại giao kinh tế với phương châm “lấy người dân, địa phương và doanh nghiệp là trung tâm phục vụ” đã đem lại nhiều kết quả thực chất; đặc biệt đóng góp tích cực vào chuyển dịch mô hình tăng trưởng, tranh thủ các động lực mới cho tăng trưởng như khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, FDI và ODA chất lượng cao.

Thủ tướng Phạm Minh Chính chỉ đạo Hội nghị tổng kết công tác ngành ngoại giao năm 2025 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2026. Ảnh: TTXVN.

Công tác xây dựng Ngành, xây dựng Đảng đạt được nhiều kết quả quan trọng, có ý nghĩa lịch sử của Ngành, với việc thực hiện giảm 17 trên tổng số 40 đầu mối, mở thêm mới 5 cơ quan đại diện, nâng số Cơ quan đại diện lên 99 cơ quan; tham mưu, trình Chính phủ ban hành Nghị quyết về Kế hoạch xây dựng và phát triển ngành Ngoại giao đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và xây dựng Nghị quyết số 250/2025/QH15 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế.

Bộ và ngành Ngoại giao xác định, năm 2026 và giai đoạn 2025 - 2030 tới đặt ra cho Ngành những nhiệm vụ hết sức to lớn và vẻ vang. Phát huy truyền thống 80 năm của ngoại giao cách mạng Việt Nam, toàn Ngành quyết tâm đổi mới mạnh mẽ công tác tạo động lực thực chất, khơi dậy sức sáng tạo, thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc mà Đảng và nhân dân giao phó.

Trong đó, Bộ và ngành Ngoại giao triển khai ngay, cụ thể hóa đường lối đối ngoại mà Đại hội XIV của Đảng đề ra; củng cố môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa trong bối cảnh có nhiều biến động; đóng góp vào tạo đột phá trong phát triển kinh tế, phục vụ mục tiêu tăng trưởng hai con số và bền vững trong năm 2026; đóng góp cho các vấn đề chung của thế giới và giải quyết các vấn đề chung của thế giới. 

Phát biểu tại hội nghị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính nhấn mạnh, năm 2025 nói riêng và giai đoạn 2021-2025 nói chung, thế giới trải qua những thay đổi mang tính “thời đại” từ dịch bệnh, thiên tai, chiến tranh, cạnh tranh chiến lược, an ninh phi truyền thống, chính sách kinh tế…

Những yếu tố bất ngờ, bất thường, bất lợi, bất định đã ảnh hưởng tới sự phát triển đất nước, trong đó có công tác đối ngoại. Tuy nhiên, Việt Nam đã vượt qua “những cơn gió ngược” để đạt được những thành tựu quan trọng. Trong đó, kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát, tăng trưởng được thúc đẩy, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm; nợ công, nợ chính phủ, nợ nước ngoài được kiểm soát tốt và thấp hơn nhiều ngưỡng cho phép; quốc phòng, an ninh được giữ vững; văn hóa - xã hội được chú trọng; đời sống người dân không ngừng được nâng lên.

Thủ tướng Chính phủ tóm tắt thành tựu ngoại giao bằng 24 từ khóa: “bộ máy tinh gọn, thích ứng kịp thời, sáng tạo hiệu quả, hợp tác mở rộng, vị thế nâng cao, kiến tạo phát triển”.

Đưa ra các dẫn chứng cụ thể để chứng minh cho mệnh đề trên, thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính hoan nghênh, đánh giá cao và nhiệt liệt biểu dương, chúc mừng những thành tích, kết quả quan trọng mà ngành Ngoại giao đã đạt được trong năm 2025 và nhiệm kỳ qua; đồng thời chỉ rõ một số hạn chế như: chưa thực sự khai thác hết tiềm năng của các khuôn khổ quan hệ; công tác phối hợp giữa một số bộ, ngành, địa phương còn chậm, chưa đáp ứng với yêu cầu mới, nhất là các lĩnh vực hợp tác mới như chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, khoa học, công nghệ, đổi mới, sáng tạo…

TẬP TRUNG GIẢI QUYẾT 3 VẤN ĐỀ LỚN

Nêu 3 bài học kinh nghiệm quan trọng trong công tác đối ngoại, Thủ tướng Chính phủ nhấn mạnh phải kiên trì, kiên định về đường lối; tính mềm dẻo, linh hoạt với phương châm “đoàn kết để có sức mạnh, hợp tác để có lợi ích, đối thoại để củng cố niềm tin”; phải hiểu sâu, nắm chắc tình hình; cán bộ ngoại giao phải nhạy bén về chính trị, nhạy cảm về kinh tế, sâu sắc về khoa học công nghệ, có tâm – đức – tài.

Phân tích, dự báo tình hình thời gian tới, Thủ tướng Chính phủ khái quát 3 vấn đề lớn nổi lên gồm sự điều chỉnh chính sách của các nước rất nhanh, mạnh và quyết liệt; xung đột, bất ổn diễn ra ngày càng nhiều, tác động ngày càng lớn, nguy cơ va chạm có thể xảy ra tại các điểm nóng; xuất hiện những xu hướng, trào lưu mới về chính trị, an ninh, kinh tế, khoa học công nghệ, tác động đa chiều, sâu rộng đến nền kinh tế trong nước.

Thủ tướng Chính phủ lưu ý, trong bối cảnh tình hình nêu trên, Đảng và Nhà nước đặt kỳ vọng rất lớn vào công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế sẽ phát huy vai trò “tiên phong, trọng yếu, thường xuyên”, “đẩy mạnh triển khai chiến lược đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới” như Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ đạo; tiếp tục là trụ cột quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc theo đúng tinh thần Nghị quyết 59-NQ/TW của Bộ Chính trị.

Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung tham dự Hội nghị tổng kết công tác ngành Ngoại giao năm 2025 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2026. Ảnh: TTXVN.

Yêu cầu Bộ và ngành Ngoại giao phải quán triệt phương châm với 24 từ khóa: “tham mưu chính xác, thích ứng linh hoạt, xoay chuyển kịp thời, chuyển đổi hiệu quả, trách nhiệm cộng đồng, ổn định phát triển”, Thủ tướng Phạm Minh Chính chỉ đạo tập trung thực hiện hiệu quả 3 nội dung trọng tâm.

Trong đó, phải củng cố vững chắc vành đai an ninh - phát triển của đất nước, giữ thế chủ động chiến lược cho các tình huống phức tạp, bất ngờ và những biến động của tình hình thế giới; tiếp tục đưa quan hệ với các đối tác ưu tiên, chủ chốt đi vào chiều sâu, ổn định, bền vững, đặc biệt, đẩy mạnh quan hệ với các nước láng giềng, nước lớn, đối tác chiến lược, đối tác toàn diện, bạn bè truyền thống và các đối tác quan trọng khác.

Ngành nâng tầm “sứ mệnh quốc tế”, đóng góp của Việt Nam cho hòa bình, phát triển và giải quyết những vấn đề chung của khu vực và thế giới, góp phần xây dựng và bảo vệ trật tự quốc tế công bằng, bình đẳng, dựa trên luật pháp quốc tế.

Thủ tướng chỉ đạo tiếp tục mở rộng không gian phát triển, kiến tạo cơ hội đột phá, tranh thủ tối đa các nguồn lực và điều kiện thuận lợi bên ngoài để tăng trưởng nhanh, bền vững; phát huy sức mạnh mềm quốc gia, lan tỏa hình ảnh Việt Nam “độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển, phồn vinh, hạnh phúc” tương xứng với tầm vóc, thế và lực của đất nước trong kỷ nguyên mới; xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại, chuyên nghiệp; triển khai đồng bộ, hiệu quả các hoạt động trên cả ba trụ cột đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại Nhân dân.

Cho rằng, công tác đối ngoại là nhiệm vụ hết sức khó khăn, vất vả nhưng cũng rất vẻ vang và đáng tự hào, Thủ tướng Phạm Minh Chính mong muốn cán bộ ngoại giao phải phát huy cao nhất tinh thần 24 chữ: “Trung thành, tận tụy; tự tin, sáng tạo; bản lĩnh, linh hoạt; đàm phán thuyết phục; hiệu quả hàng đầu; Tổ quốc trên hết”; tin tưởng, phát huy bề dày truyền thống vẻ vang 80 năm qua, ngành Ngoại giao Việt Nam sẽ tiếp tục gặt hái nhiều thành tựu rực rỡ hơn nữa, góp phần phát triển đất nước ta ngày càng giàu mạnh, văn minh, phồn vinh, thịnh vượng, Nhân dân ngày càng được ấm no, hạnh phúc; với kết quả, thành tựu năm sau cao hơn năm trước, nhiệm kỳ sau cao hơn nhiệm kỳ trước, kỷ nguyên mới tốt hơn kỷ nguyên vừa qua.

-Việt An

Categories: The Latest News

"Không có chính sách tốt, không thể giữ chân nhân tài"

Tue, 12/30/2025 - 09:50
Lãnh đạo Chính phủ giao Bộ Nội vụ cần tham mưu xây dựng, ban hành các cơ chế, chính sách để tiếp tục thu hút, giữ chân và sử dụng nhân tài. Bởi nếu không có chính sách tốt không thể giữ chân được đội ngũ này, dẫn đến lãng phí nguồn lực rất lớn cho phát triển...

Dự và phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị tổng kết năm 2025 và triển khai nhiệm vụ công tác năm 2026 của ngành Nội vụ chiều 29/12, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Hòa Bình nêu rõ, năm 2026 là một năm có ý nghĩa quan trọng, năm khởi đầu của một nhiệm kỳ mới và cũng là năm khởi đầu cho một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên tăng tốc, bứt phá, phát triển với nhiều yêu cầu đòi hỏi rất cao.

Theo Phó Thủ tướng, chúng ta đã có sự chuẩn bị chu đáo, kỹ lưỡng về hành trang cho kỷ nguyên mới, trong đó có việc tinh gọn, sắp xếp lại bộ máy trong hệ thống chính trị để đáp ứng cho các yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra. Bộ máy mới trong tình hình mới có đáp ứng được các yêu cầu hay không, điều này phụ thuộc rất lớn vào Bộ Nội vụ.

Trên tinh thần đó, Phó Thủ tướng đề nghị ngành Nội vụ tiếp tục có những đóng góp tích cực, thiết thực hơn trong công tác tổ chức vận hành bộ máy chính quyền mới, nhất là chính quyền địa phương 2 cấp, bảo đảm vận hành ngày càng tốt hơn, trơn tru hơn. Bộ máy chính quyền 2 cấp phải phục vụ nhân dân tốt hơn, sự hài lòng của người dân chính là thước đo hiệu quả của chính quyền 2 cấp.

Đồng thời, ngành cần nhanh chóng khắc phục được những tồn tại hạn chế đã được chỉ ra trong vận hành chính quyền địa phương 2 cấp, bởi trong thời gian ngắn, rất gấp gáp, chúng ta phải bố trí đội ngũ, lực lượng, xây dựng cơ chế, chính sách, nên đâu đó còn có những điều bất hợp lý, nhất là trong vấn đề về phân cấp, phân quyền… Những bất cập này cần phải tiếp tục được rà soát, xử lý và hoàn thiện.

Trong tổ chức bộ máy cũng có những nội dung cần đánh giá tổng thể lại để triển khai tổ chức bộ máy cho hợp lý và theo hướng ngày một tốt hơn.

Một nội dung quan trọng nữa được lãnh đạo Chính phủ đề cập là địa vị pháp lý của chính quyền cấp xã hiện nay khác hẳn với xã trước đây. Bên cạnh yêu cầu gần dân, sát dân, cấp xã có thêm trọng trách quản trị kinh tế - xã hội của địa phương. Vì vậy, năng lực của cấp xã cần nâng lên và hoạt động ngày càng tốt hơn.

Liên quan đến việc triển khai thực hiện nhiệm vụ bầu cử đại biểu Hội đồng dân dân các cấp và bầu cử đại biểu Quốc hội nhiệm kỳ 2026-2031, Phó Thủ tướng nhấn mạnh đây là nhiệm vụ lớn của toàn hệ thống chính trị, song cũng là nhiệm vụ quan trọng của ngành.

Vì vậy, ngành Nội vụ cần triển khai quyết liệt, hiệu quả các yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra đối với công tác này, góp phần bảo đảm cho cuộc bầu cử diễn ra thành công tốt đẹp, lựa chọn được những đại biểu thực sự tâm huyết, đủ đức, đủ tài, đủ tâm, đủ tầm, đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân tại Hội đồng nhân dân các cấp và tại Quốc hội.

Cùng với đó là tiếp tục chú trọng thực hiện đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, nhất là cải cách về thủ tục hành chính; xây dựng nền hành chính tinh gọn; hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả.

Hội nghị tổng kết công tác năm 2025 và triển khai nhiệm vụ công tác năm 2026 của ngành Nội vụ. 

Bộ Nội vụ cũng cần tham mưu xây dựng, ban hành các cơ chế, chính sách để tiếp tục thu hút, giữ chân và sử dụng nhân tài, bởi nếu không có chính sách tốt không thể giữ chân được nhân tài; năng lực của người lao động Việt Nam được thế giới nhìn nhận, đánh giá rất cao, có thể đáp ứng được ở các lĩnh vực mà nhiều quốc gia tiên tiến trên thế giới khan hiếm. Vì vậy, nếu không thu hút, giữ chân và sử dụng được nhân tài, chúng ta sẽ để lãng phí đi nguồn lực rất lớn cho phát triển.

Bên cạnh đó, Bộ Nội vụ cần đặc biệt quan tâm đến tham mưu cho Chính phủ ban hành các cơ chế, chính sách về đánh giá năng lực cán bộ cho thật chính xác, khoa học, khách quan.

Phó Thủ tướng lưu ý, cần nhận thức rõ quan điểm rằng chỉ có thể bố trí, sắp xếp cán bộ hợp lý trên cơ sở có đánh giá tốt, đánh giá đúng về thực trạng và năng lực của cán bộ; người được sử dụng, người được đề bạt phải thực sự có năng lực tốt. “Làm sao để người tài, để cán bộ được đề bạt tâm phục, khẩu phục, tránh để những người không làm gì, không va chạm, chỉ ngồi chờ, lo quan hệ tốt thì vượt lên trong khi người cống hiến lại không được ghi nhận”, Phó Thủ tướng nhấn mạnh.

Bộ phải làm tốt công tác tham mưu trong lĩnh vực này để có chính sách khoa học trong đánh giá cán bộ, mục tiêu đề ra là phải đánh giá cho thật chính xác năng lực của cán bộ.

-Phúc Minh

Categories: The Latest News

Ngành y tế cần huy động sự tham gia thực chất hơn của khu vực tư nhân

Tue, 12/30/2025 - 09:49
Dự hội nghị tổng kết công tác y tế, Phó Thủ tướng Lê Thành Long đề nghị ngành cần có cơ chế, giải pháp hiệu quả huy động sự tham gia thực chất, hiệu quả hơn nữa của khu vực kinh tế tư nhân, các nguồn lực xã hội, y tế tư nhân vào công tác chăm sóc sức khỏe...

Chiều 29/12, Bộ Y tế tổ chức Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác y tế năm 2025; tổng kết nhiệm kỳ 5 năm 2021–2025; định hướng công tác nhiệm kỳ 2026–2030 và triển khai nhiệm vụ trọng tâm năm 2026. Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Thành Long dự và phát biểu chỉ đạo tại hội nghị.

ĐỘT PHÁ TRONG XÂY DỰNG THỂ CHẾ

Thông tin tại hội nghị, Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan cho biết trong nhiệm kỳ 2021- 2025, các chỉ tiêu chủ yếu của ngành đều đạt và vượt kế hoạch, khẳng định sự phát triển cả về quy mô, chất lượng và hiệu quả của hệ thống y tế.

Công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế là khâu đột phá. Từ đầu nhiệm kỳ đến nay, đã có 5 Luật chủ chốt của ngành Y tế đã được ban hành, đó là: Luật Khám bệnh, chữa bệnh sửa đổi năm 2023, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dược 2024, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế 2024, và năm 2025 là Luật Phòng bệnh, Luật Dân số.

Cùng với đó là hàng chục Nghị định, gần 200 Thông tư, nhiều kế hoạch, chiến lược phát triển của Ngành định hướng giai đoạn 2045, 2050 được xây dựng và trình cấp có thẩm quyền ban hành, đã tháo gỡ nhiều khó khăn, vướng mắc trong hoạt động của ngành Y tế. Lĩnh vực khám bệnh, chữa bệnh tiếp tục phát triển theo hướng chuyên sâu, hiện đại. Công tác phòng bệnh, y tế dự phòng và chăm sóc sức khỏe ban đầu tiếp tục được củng cố vững chắc. 

Ngành Y tế đã khống chế thành công, hiệu quả đại dịch Covid-19; các dịch bệnh truyền nhiễm cơ bản được kiểm soát; công tác bảo trợ xã hội được mở rộng, góp phần bảo đảm an sinh xã hội và công bằng trong chăm sóc sức khỏe…

Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan. Ảnh: Trần Minh.

Phát biểu tại hội nghị, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Thành Long cho rằng trong nhiệm kỳ 2021 – 2025, ngành Y tế đã vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, đạt được những thành tựu quan trọng, mang tính chiến lược, trong đó vượt 4/4 chỉ tiêu chủ yếu của Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025; ước đạt 3/3 chỉ tiêu chủ yếu của Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2025; ước đạt và vượt 8/9 chỉ tiêu cụ thể của ngành, lĩnh vực được Chính phủ giao năm 2025.

Ngành đã huy động mọi nguồn lực, cùng toàn hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân triển khai hiệu quả các biện pháp để ứng phó, kiểm soát tốt đại dịch Covid-19 trên toàn quốc, tạo điều kiện thuận lợi để nước ta phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội.

Công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế được đẩy mạnh toàn diện. Ngành Y tế đã tập trung vừa xử lý những công việc cụ thể, tồn đọng từ nhiều năm trước, vừa tham mưu ban hành nhiều chủ trương, chính sách quan trọng, đặt nền móng cho phát triển lâu dài với tư duy và quan điểm phát triển mới.

Đặc biệt, đã tham mưu ban hành Nghị quyết số 72 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân; Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột phá cho công tác y tế; chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia về chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển; cùng nhiều luật, nghị quyết, nghị định, quyết định…

Nhiều "điểm nghẽn", "nút thắt" trong mua sắm, đấu thầu, quản lý giá dịch vụ y tế, thanh toán bảo hiểm y tế được tháo gỡ. Đặc biệt, đã tập trung cao độ, quyết liệt tháo gỡ, xử lý dứt điểm những tồn tại, vướng mắc tại Dự án đầu tư xây dựng Cơ sở 2 Bệnh viện Bạch Mai và Dự án đầu tư xây dựng Cơ sở 2 Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, hoàn thiện và khánh thành công trình xây dựng ngày 19/12/2025 vừa qua theo đúng tiến độ đề ra…

SỚM ĐƯA CÁC BỆNH VIỆN ĐI VÀO HOẠT ĐỘNG HIỆU QUẢ

Theo Phó Thủ tướng Lê Thành Long, bối cảnh và mục tiêu phát triển mới đặt ra cho ngành Y tế những nhiệm vụ và thách thức mới, đòi hỏi toàn ngành tiếp tục nỗ lực, phấn đấu để tạo đột phá trong công tác tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân.

Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Thành Long phát biểu tại hội nghị. Ảnh: Trần Minh.

Phó Thủ tướng nêu rõ, ngành Y tế cần tổ chức triển khai hiệu quả các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về y tế, đặc biệt là Nghị quyết số 72 của Bộ Chính trị và Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 72; Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế đặc biệt, tạo đột phá cho ngành Y tế, một số nội dung có liên quan đến Bộ, ngành Y tế được nêu trong các nghị quyết khác của Bộ Chính trị như Nghị quyết 57, Nghị quyết 59, Nghị quyết 68…

Đồng thời, tập trung xây dựng các dự án luật quan trọng, đảm bảo chất lượng, hiệu quả; trình ban hành các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các Luật mới được Quốc hội thông qua. Đặc biệt, có cơ chế, giải pháp hiệu quả huy động sự tham gia thực chất, hiệu quả hơn nữa của khu vực kinh tế tư nhân, các nguồn lực xã hội y tế tư nhân…

Cùng với đó, không ngừng nâng cao y đức của từng cán bộ, công chức, viên chức, y bác sĩ, nhân viên y tế. Tập trung kiện toàn, sắp xếp tổ chức bộ máy hệ thống y tế; nhất là trạm y tế xã phường. Điều chỉnh Quy hoạch mạng lưới cơ sở y tế, cơ sở trợ giúp xã hội phù hợp với sắp xếp đơn vị hành chính, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.

Trước mắt, Phó Thủ tướng đề nghị Bộ Y tế tiếp tục tập trung cao độ, phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, cơ quan, địa phương liên quan để hoàn thành các hạng mục còn lại và các điều kiện cần thiết khác của công trình cơ sở 2 Bệnh viện Bạch Mai, và cơ sở 2 Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức. Đồng thời thúc đẩy tiến độ triển khai dự án đầu tư xây dựng cơ sở 2 Bệnh viện Lão Khoa tại Ninh Bình để sớm đưa các bệnh viện đi vào hoạt động, phục vụ nhu cầu khám, chữa bệnh của nhân dân.

-Nhật Dương

Categories: The Latest News

Thủ tướng: Giữ vững ổn định vĩ mô, phấn đấu tăng trưởng hai con số từ năm 2026

Tue, 12/30/2025 - 09:14
Phiên họp lần thứ nhất của Ban Chỉ đạo của Chính phủ về quản lý, điều hành kinh tế vĩ mô tập trung đánh giá kết quả điều hành giai đoạn 2021–2025, nhận diện thách thức năm 2026 và xác định các nhiệm vụ trọng tâm nhằm giữ vững ổn định vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững.

Chiều 29/12, tại trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Phạm Minh Chính, Trưởng Ban Chỉ đạo của Chính phủ về quản lý, điều hành kinh tế vĩ mô, chủ trì Phiên họp lần thứ nhất của Ban Chỉ đạo.

Cùng dự có Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Thị Hồng, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Trần Văn Sơn, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng, cùng lãnh đạo các bộ, ngành là thành viên Ban Chỉ đạo.

Ban Chỉ đạo được thành lập theo Quyết định số 2748/QĐ-TTg ngày 18/12/2025, là tổ chức phối hợp liên ngành giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nghiên cứu, chỉ đạo, phối hợp xử lý các vấn đề quan trọng trong quản lý, điều hành kinh tế vĩ mô trên phạm vi cả nước. Ban Chỉ đạo có chức năng tư vấn, khuyến nghị, đề xuất phương hướng, giải pháp và đôn đốc các bộ, ngành, địa phương tổ chức thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ được giao.

VƯỢT “GIÓ NGƯỢC”, KINH TẾ VIỆT NAM DUY TRÌ ĐÀ PHỤC HỒI TÍCH CỰC

Tại phiên họp, các đại biểu đã nghe công bố Quyết định thành lập và Quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo; thảo luận báo cáo về chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ do Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước trình bày; đồng thời cho ý kiến về kế hoạch hoạt động và các nhiệm vụ trọng tâm của Ban Chỉ đạo trong năm 2026.

Thủ tướng Phạm Minh Chính, Trưởng Ban Chỉ đạo của Chính phủ về quản lý, điều hành kinh tế vĩ mô đã chủ trì Phiên họp lần thứ nhất của Ban Chỉ đạo - Ảnh: VGP

Các thành viên Ban Chỉ đạo nhận định, giai đoạn 2021–2025, đặc biệt là năm 2025, kinh tế thế giới biến động nhanh, phức tạp, xung đột địa chính trị leo thang, chuỗi cung ứng đứt gãy cục bộ, trong khi thiên tai, mưa lũ diễn ra liên tiếp trong nước. Những yếu tố này tác động trực tiếp, đa chiều đến nền kinh tế Việt Nam có độ mở lớn.

Trong bối cảnh đó, kinh tế – xã hội Việt Nam vẫn duy trì xu hướng phục hồi và phát triển tích cực, tháng sau tốt hơn tháng trước, quý sau tốt hơn quý trước, năm sau cao hơn năm trước; nhiều chỉ tiêu chủ yếu đạt và vượt mục tiêu đề ra. Nền kinh tế thể hiện sức chống chịu và khả năng thích ứng cao, tạo nền tảng và niềm tin cho giai đoạn phát triển tiếp theo.

Năm 2025, Việt Nam tiếp tục giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát; tăng trưởng GDP cả năm ước đạt khoảng 8%. Các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm, có thặng dư; nợ công, nợ Chính phủ và nợ nước ngoài được kiểm soát trong giới hạn cho phép.

Đáng chú ý, số doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường đạt mức kỷ lục, gần 300 nghìn doanh nghiệp. Chính sách tiền tệ được điều hành cơ bản phù hợp với tình hình, hỗ trợ tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô. Huy động vốn cho đầu tư phát triển vượt kế hoạch; tiềm lực tài chính quốc gia tiếp tục được củng cố.

Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng phát biểu tại phiên họp - Ảnh: VGP

Thu ngân sách nhà nước vượt dự kiến, tăng gần 33%, với cơ cấu thu bền vững, chủ yếu từ thuế, trong khi vẫn thực hiện miễn, giảm, gia hạn thuế, phí, lệ phí và tiền thuê đất với quy mô gần 242.000 tỷ đồng để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân. Công tác an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh tiếp tục được bảo đảm.

PHỐI HỢP TÀI KHÓA – TIỀN TỆ, HƯỚNG DÒNG VỐN VÀO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG

Phát biểu kết luận phiên họp, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh việc thành lập Ban Chỉ đạo là nhằm có thêm công cụ và cơ chế để điều hành kinh tế vĩ mô bài bản, chủ động và phối hợp chặt chẽ hơn giữa các chính sách, trong bối cảnh tình hình quốc tế, khu vực còn nhiều bất định và yêu cầu phát triển giai đoạn mới ngày càng cao.

Thủ tướng đề nghị các thành viên Ban Chỉ đạo bám sát diễn biến trong nước và quốc tế, chủ động nghiên cứu, đề xuất các nhiệm vụ, giải pháp lớn, đồng thời tổ chức thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các nhiệm vụ được giao.

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Thị Hồng phát biểu tại phiên họp - Ảnh: VGP

Về định hướng năm 2026, với mục tiêu tăng trưởng hai con số, Thủ tướng yêu cầu tiếp tục ưu tiên giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng nhanh nhưng bền vững; bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế; kiểm soát nợ công, nợ Chính phủ và nợ nước ngoài theo nghị quyết của Quốc hội.

Chính sách tiền tệ được yêu cầu điều hành chủ động, linh hoạt, phù hợp và hiệu quả; căn cứ tình hình cụ thể để điều hành room tín dụng theo thẩm quyền; kiểm soát tỷ giá, lãi suất phù hợp; hướng dòng vốn vào các động lực tăng trưởng và lĩnh vực ưu tiên; khẩn trương đưa sàn giao dịch vàng quốc gia vào hoạt động.

Song song đó, tiếp tục thực hiện chính sách tài khóa mở rộng có trọng tâm, trọng điểm; nghiên cứu phát hành trái phiếu công trình; triển khai các chính sách thuế phù hợp; khai thác tối đa dư địa chính sách tài khóa để hỗ trợ chính sách tiền tệ.

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng phát biểu tại phiên họp - Ảnh: VGP

Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành phát huy tính chủ động, sáng tạo trong thực thi nhiệm vụ; khẩn trương ban hành các văn bản hướng dẫn luật, nghị quyết để khơi thông nguồn lực, tháo gỡ các nút thắt về thể chế; đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công và phân bổ vốn đầu tư công trung hạn cho dưới 3.000 dự án.

Đối với thị trường và giá cả, Bộ Xây dựng được giao thúc đẩy phát triển thị trường bất động sản lành mạnh, công khai, minh bạch; đẩy mạnh phát triển nhà ở xã hội; khẩn trương thành lập trung tâm giao dịch bất động sản và quyền sử dụng đất do Nhà nước quản lý. Ngân hàng Nhà nước triển khai hiệu quả gói tín dụng hỗ trợ người dưới 35 tuổi mua nhà.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường tập trung đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh nông nghiệp; bảo đảm nguồn cung lương thực, thực phẩm; trình ban hành các nghị định liên quan đến đất đai trước ngày 31/12. Bộ Công Thương quản lý chặt giá cả, thị trường, nhất là dịp Tết; bảo đảm nguồn cung điện, xăng dầu; thúc đẩy tiêu dùng trong nước; tăng cường phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, hàng kém chất lượng.

Cùng với đó, các bộ, ngành đẩy mạnh xuất khẩu, khai thác hiệu quả thị trường truyền thống, mở rộng thị trường mới, đẩy nhanh đàm phán và ký kết các hiệp định thương mại tự do; Bộ Tài chính khẩn trương đưa vào vận hành cơ chế một cửa quốc gia về đầu tư.

-Lý Hà

Categories: The Latest News

Tổng Bí thư Tô Lâm: Dữ liệu trở thành một nguồn lực chiến lược, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng

Mon, 12/29/2025 - 21:54
Dữ liệu đã trở thành một nguồn lực chiến lược, một loại tài nguyên mới, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với năng lực quản trị quốc gia, sức cạnh tranh của nền kinh tế và chất lượng đời sống của nhân dân…

Chiều 29/12, Tổng Bí thư Tô Lâm đã đến thăm, làm việc tại Trung tâm Dữ liệu Quốc gia (Trung tâm), Bộ Công an, Khu công nghệ cao Hòa Lạc, xã Hòa Lạc, TP Hà Nội. Tham gia Đoàn công tác của đồng chí Tổng Bí thư có các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng: Nguyễn Chí Dũng, Phó Thủ tướng Chính phủ; Phạm Gia Túc, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng; Nguyễn Thanh Nghị, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương; Nguyễn Văn Thắng, Bộ trưởng Bộ Tài chính.

Về phía Bộ Công an có Đại tướng Lương Tam Quang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an; Thượng tướng Nguyễn Văn Long, Thứ trưởng Bộ Công an, lãnh đạo một số cục chức năng thuộc Bộ Công an và đại diện các đơn vị nhà thầu…

Trước giờ làm việc, Tổng Bí thư Tô Lâm, Bộ trưởng Lương Tam Quang và các đồng chí lãnh đạo đã thành kính dâng hương tại Nhà thờ Bác Hồ trong khuôn viên của Trung tâm; đồng thời, tham quan hệ thống máy chủ, phòng IOC, hệ thống bảo đảm an ninh, an toàn thông tin và các hạng mục kỹ thuật trọng yếu của Trung tâm.

“BỘ NÃO” VÀ “TRÁI TIM” CỦA QUÁ TRÌNH CHUYỂN ĐỔI SỐ QUỐC GIA

Phát biểu chào mừng, Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Cương, Giám đốc Trung tâm Dữ liệu quốc gia, bày tỏ niềm vinh dự, tự hào được đón Tổng Bí thư Tô Lâm đến thăm và làm việc tại trung tâm.

"Sự hiện diện của Tổng Bí thư là nguồn cổ vũ, động viên to lớn, thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng đối với công cuộc chuyển đổi số quốc gia, xây dựng hạ tầng dữ liệu - nền tảng cốt lõi để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình phát triển thịnh vượng của dân tộc", Thiếu tướng Cương khẳng định.

Trung tâm Dữ liệu Quốc gia được thành lập và chính thức ra mắt vào ngày 25/2/2025. Đây là bước đột phá quan trọng, đưa Việt Nam lần đầu tiên có một đơn vị chuyên trách thực hiện chức năng quản lý, điều phối Nhà nước về dữ liệu. Trung tâm được xác định đóng vai trò then chốt, là “bộ não” và “trái tim” của quá trình chuyển đổi số quốc gia.

Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Cương cho biết 6 kết quả nổi bật của Trung tâm trong năm 2025, cụ thể: Công tác đầu tư xây dựng hạ tầng Trung tâm đã được triển khai với tinh thần khẩn trương, làm việc liên tục “24/7”, “3 ca, 4 kíp”, không kể ngày đêm hay ngày nghỉ và đã tổ chức khai trương vào ngày 18/8/2025, vượt tiến độ 3 tháng.

Về hoàn thiện hành lang pháp lý (trụ cột thể chế), Trung tâm đã tham mưu ban hành 4 nghị định và 4 quyết định hướng dẫn thi hành, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho việc quản trị và khai thác dữ liệu. Về tạo lập và tích hợp dữ liệu quốc gia, đã hoàn thành đồng bộ lượng lớn dữ liệu về kho dữ liệu tổng hợp, bao gồm 157 triệu dữ liệu từ 16 Cơ sở dữ liệu quốc gia/chuyên ngành. Đây là nguồn nguyên liệu quý giá phục vụ quản lý Nhà nước và phát triển kinh tế - xã hội.

Tổng Bí thư Tô Lâm cùng các đại biểu kiểm tra công tác tại Trung tâm.

Về cải cách hành chính và dịch vụ công, Trung tâm phối hợp với Văn phòng Chính phủ tái cấu trúc quy trình cho 82 nhóm thủ tục hành chính. Cổng Dịch vụ công quốc gia đang được dịch chuyển và vận hành tập trung tại Trung tâm theo hướng trở thành “điểm một cửa số tập trung duy nhất”, giúp đơn giản hóa thủ tục dựa trên dữ liệu sẵn có, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm.

Về bảo đảm an ninh, an toàn tuyệt đối, Trung tâm Dữ liệu quốc gia số 1 đã được phê duyệt là công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia, đã triển khai hệ thống an ninh vật lý 10 lớp hiện đại và hệ thống giám sát an ninh mạng (SOC/SIEM) 24/7 để bảo vệ chủ quyền dữ liệu số của quốc gia.

Về thúc đẩy đổi mới sáng tạo, đã ra mắt Trung tâm Sáng tạo, khai thác dữ liệu và nghiên cứu các nền tảng chiến lược và sẵn sàng triển khai trong năm 2026 như: Sàn dữ liệu, Công nghệ chuỗi khối, Trợ lý ảo quốc gia…

Bên cạnh những kết quả đạt được, Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Cương đã báo cáo Tổng Bí thư về một số khó khăn, thách thức và “điểm nghẽn” tại Trung tâm như: làm chủ công nghệ lõi, đặc biệt là công nghệ có quyền đối với đám mây (Cloud); công nghệ chuỗi khối (Blockchain); trí tuệ nhân tạo (AI); mô hình ngôn ngữ lớn (LLM)…

Đối với “điểm nghẽn” về thúc đẩy đổi mới sáng tạo, khai thác dữ liệu với cơ chế đột phá trong việc xây dựng Trung tâm trở thành nơi ươm tạo quốc gia về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, đặc biệt là trong lĩnh vực dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, hình thành nền kinh tế dữ liệu trong đó tập trung là sàn dữ liệu, hiện chưa có bài toán tổng thể về quản lý định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc hàng hóa ở quy mô quốc gia.

Một trong những "điểm nghẽn" lớn hiện nay trong công tác quản lý Nhà nước về dữ liệu, phòng, chống tội phạm và bảo đảm an ninh, chủ quyền dữ liệu là chưa hình thành được một hệ lực lượng xuyên suốt, thống nhất, chính quy và tinh nhuệ để tổ chức thực thi hiệu quả trên phạm vi toàn quốc. Cùng với đó là “điểm nghẽn” về pháp lý và định mức đơn giá. Hiện tại, Việt Nam chưa có hệ thống định mức, đơn giá xây dựng chuyên biệt cho các hạng mục đặc thù của Trung tâm dữ liệu hiện đại…

Tại buổi làm việc, Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Cương đã kiến nghị, đề xuất với Tổng Bí thư và Đoàn công tác giao Trung tâm Dữ liệu Quốc gia tập trung nghiên cứu, làm chủ các công nghệ lõi, có chủ quyền, gồm điện toán đám mây, chuỗi khối quốc gia, sàn dữ liệu, trí tuệ nhân tạo…, triển khai trên nền tảng dữ liệu quốc gia, bảo đảm hiệu quả, an toàn và bền vững.

Giao Trung tâm Dữ liệu Quốc gia khẩn trương hình thành và phát triển nền kinh tế dữ liệu; đồng thời, xây dựng Vườn ươm Dữ liệu Quốc gia và Quỹ Đầu tư mạo hiểm Dữ liệu Quốc gia, tạo động lực thu hút nguồn lực xã hội, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp và khai thác hiệu quả giá trị dữ liệu quốc gia; khẩn trương triển khai Trung tâm Dữ liệu Quốc gia số 2, số 3 để bảo đảm hạ tầng phục vụ chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo quốc gia theo đúng lộ trình đề ra; quyết liệt chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương, các đơn vị thuộc hệ thống chính trị khẩn trương xây dựng, triển khai Cơ sở Dữ liệu Quốc gia, Cơ sở Dữ liệu chuyên ngành và kết nối, đồng bộ dữ liệu về Trung tâm Dữ liệu Quốc gia.

Khẩn trương hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và hoạt động của Trung tâm Dữ liệu Quốc gia theo hướng là cơ quan thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về dữ liệu, công tác nghiệp vụ Công an, phòng chống tội phạm, bảo vệ được cơ sở dữ liệu trọng yếu quốc gia, bảo đảm an ninh, chủ quyền dữ liệu, đồng thời phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.

DỮ LIỆU LÀ TÀI NGUYÊN RẤT LỚN, VÔ TẬN, CÀNG KHAI THÁC CÀNG TẠO RA NHIỀU GIÁ TRỊ

Phát biểu tại buổi làm việc, Tổng Bí thư Tô Lâm ghi nhận và đánh giá cao những đóng góp to lớn của Bộ Công an, cán bộ, chiến sỹ Trung tâm và các bộ, ngành, đơn vị chức năng đã đưa Trung tâm vào hoạt động vượt kế hoạch. Tổng Bí thư nhấn mạnh, từ một chủ trương lớn, mới và khó, Trung tâm Dữ liệu Quốc gia đã được triển khai xây dựng với tinh thần chủ động, quyết liệt, sáng tạo, thần tốc, vượt qua nhiều khó khăn về thể chế, công nghệ, tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực và các điều kiện triển khai thực tế.

Quá trình xây dựng Trung tâm cho thấy quyết tâm chính trị cao, tư duy đổi mới, cách làm mạnh mẽ và năng lực tổ chức thực hiện hiệu quả, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung của đất nước; cũng cho thấy sự phối hợp chặt chẽ, trách nhiệm giữa Bộ Công an với các bộ, ngành liên quan; sự nỗ lực, cố gắng của các doanh nghiệp tham gia xây dựng, góp phần bảo đảm tiến độ và chất lượng các công việc, đưa Trung tâm vào hoạt động theo đúng kế hoạch.

Việc hoàn thành xây dựng và đưa vào vận hành Trung tâm Dữ liệu Quốc gia số 1 đã đặt nền móng quan trọng cho hạ tầng dữ liệu của quốc gia, sẽ góp phần thúc đẩy mạnh mẽ chuyển đổi số quốc gia trong thời gian tới.

Tổng Bí thư Tô Lâm cho biết tài nguyên dữ liệu là tài nguyên rất lớn, vô tận, càng khai thác càng tạo ra nhiều giá trị, không như tài nguyên thiên nhiên càng khai thác thì càng cạn kiệt. Nếu chúng ta biết khai thác, biết sử dụng, đây là nguồn tài nguyên vô tận để phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội, phục vụ văn minh xã hội, phục vụ con người, cho công tác quản lý. Ai làm chủ về dữ liệu thì người đó giàu có nhất. Việc đầu tư vào dữ liệu sẽ mang lại những hiệu quả rất lớn không chỉ về kinh tế - xã hội, mà còn đóng góp đặc biệt quan trọng vào công tác đảm bảo an ninh, quốc phòng.

Theo Tổng Bí thư, chúng ta đang bước vào một giai đoạn phát triển mới của đất nước. Để hiện thực hoá 2 mục tiêu 100 năm đã đề ra, không còn con đường nào khác là phải tăng tốc, bứt phá mạnh mẽ và phát triển bền vững dựa trên động lực chủ yếu là khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

“Trong phương thức phát triển mới này, dữ liệu đã trở thành một nguồn lực chiến lược, một loại tài nguyên mới, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với năng lực quản trị quốc gia, sức cạnh tranh của nền kinh tế và chất lượng đời sống của nhân dân”, Tổng Bí thư nhấn mạnh.

Trung tâm Dữ liệu Quốc gia vừa là nơi lưu trữ dữ liệu, vừa là công cụ để phân tích, khai thác biến dữ liệu thành sản phẩm, dịch vụ phục vụ nhu cầu xã hội.

Tổng Bí thư Tô Lâm và các đại biểu tham dự buổi làm việc.

Đánh giá kết quả xây dựng Trung tâm Dữ liệu Quốc gia số 1 vừa qua mới chỉ là bước đầu, Tổng Bí thư nhấn mạnh, phần lõi quan trọng nhất là dữ liệu và các ứng dụng cụ thể còn hết sức sơ khai. Việc xây dựng vỏ trạm, thu thập dữ liệu và lưu trữ dữ liệu mới chỉ là điều kiện cần. Điều quan trọng hơn là phải khai thác, phân tích và sáng tạo giá trị từ dữ liệu, biến dữ liệu thành tri thức, thành quyết sách đúng, thành sản phẩm, dịch vụ cụ thể, thiết thực cho xã hội, cho người dân.

Chỉ ra 3 “điểm nghẽn” của Trung tâm, Tổng Bí thư nhấn mạnh: Để tiếp tục duy trì giá trị của Trung tâm cần phải đẩy mạnh chuyển đổi từ giai đoạn xây dựng sang giai đoạn khai thác, tạo ra các giá trị. Cụ thể, phải xây dựng Trung tâm thực sự trở thành "trái tim" của nền kinh tế dữ liệu, của xã hội dữ liệu và là "bộ não" phục vụ trực tiếp, hiệu quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo điều hành của Đảng, Nhà nước và hoạt động của toàn xã hội, là “trái tim” và “bộ não” của chuyển đổi số.

Tổng Bí thư lưu ý, trên cơ sở kết quả xây dựng, hoàn thiện Trung tâm Dữ liệu Quốc gia số 1, đây là công việc quốc gia, là trách nhiệm chung của cả hệ thống chính trị chứ không phải của riêng một cơ quan hay của một bộ, ngành nào. Bộ Công an được giao nhiệm vụ quản lý Nhà nước về dữ liệu để giúp cho Chính phủ quản lý, vận hành được Trung tâm này nhưng phải kết nối, lan tỏa. Phải hình thành cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia trong Quý I năm 2026 theo như kế hoạch của Trung tâm; kết nối với các kho dữ liệu có liên quan, phải đảm bảo tất cả các dữ liệu tích hợp tuân thủ đúng nguyên tắc "đúng, đủ, sạch, sống", thống nhất, kết nối và dùng chung. Khắc phục triệt để tình trạng phân tán, cát cứ dữ liệu…

Đồng thời, đẩy nhanh khai thác dữ liệu, sáng tạo giá trị từ dữ liệu, ứng dụng ngay dữ liệu để triển khai Cổng dịch vụ công quốc gia trở thành một địa chỉ, một cửa sổ duy nhất trên nền tảng Trung tâm Dữ liệu quốc gia; đảm bảo phấn đấu 100% tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến toàn trình trong tổng số dịch vụ công trực tuyến, tạo thuận lợi tối đa cho người dân và doanh nghiệp, minh bạch, công khai và tự làm được trên môi trường số.

Cùng với đó, Tổng Bí thư cũng lưu ý đến công tác xây dựng đội ngũ cán bộ Trung tâm vừa giỏi về chuyên môn, vừa vững vàng về bản lĩnh chính trị, trong sáng về đạo đức nghề nghiệp, có tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Ngoài ra, cần có cơ chế, chính sách đặc thù để thu hút, trọng dụng nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là nhân sự vận hành tại các vị trí trọng yếu, cốt lõi như Tổng công trình sư, Kiến trúc sư trưởng; tăng cường hợp tác quốc tế với các tập đoàn lớn để chuyển giao công nghệ cốt lõi và xây dựng kế hoạch đào tạo cán bộ...

Phát biểu tại buổi làm việc, thay mặt Đảng ủy Công an Trung ương, lãnh đạo Bộ Công an và toàn thể cán bộ chiến sỹ Trung tâm, Bộ trưởng Lương Tam Quang chân thành cảm ơn và nghiêm túc tiếp thu chỉ đạo định hướng của đồng chí Tổng Bí thư, hứa sẽ khẩn trương cụ thể hóa, quán triệt triển khai có hiệu quả.

Bộ trưởng Lương Tam Quang nêu rõ, nhận thức sâu sắc sự tin cậy của Đảng, trách nhiệm vẻ vang của lực lượng công an nhân dân trong thực hiện Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị, lực lượng công an nhân dân, cán bộ, chiến sỹ Trung tâm xin hứa với đồng chí Tổng Bí thư sẽ phát huy cao độ tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới sáng tạo, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, gương mẫu đi đầu thực hiện phương châm hành động của năm 2026 là "năm hành động đột phá, lan tỏa kết quả" với những kết quả sản phẩm cụ thể.

Phấn đấu sớm làm chủ về công nghệ lõi, công nghệ chiến lược như AI, Blockchain, Cloud. Tập trung tháo gỡ khó khăn về nguồn nhân lực, thu hút các chuyên gia đầu ngành, các Tổng công trình sư, Kiến trúc sư trưởng về làm việc. Triển khai 5 nền tảng số quốc gia còn lại, đặc biệt là 5 định hướng lớn mà đồng chí Tổng Bí thư đã phát biểu chỉ đạo để đảm bảo tính đồng bộ của hệ sinh thái dữ liệu…

-Nam Anh

Categories: The Latest News

Khẩn trương hoàn thiện Trung tâm Báo chí, sẵn sàng cho Đại hội XIV của Đảng

Mon, 12/29/2025 - 20:01
Các nhiệm vụ chuẩn bị bước vào giai đoạn cao điểm và được yêu cầu triển khai quyết liệt, đồng bộ, bảo đảm Trung tâm Báo chí vận hành thông suốt, phục vụ hiệu quả công tác thông tin, tuyên truyền về Đại hội XIV của Đảng.

Sáng 29/12/2025, tại Hà Nội, Tiểu ban tổ chức phục vụ Đại hội XIV của Đảng tổ chức Phiên họp lần thứ hai của Trung tâm Báo chí Đại hội. Phiên họp tập trung rà soát tiến độ triển khai các nhiệm vụ từ sau Phiên họp lần thứ nhất, đồng thời xác định các công việc trọng tâm cần hoàn thành trong thời gian tới.

Tại phiên họp, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương Lại Xuân Môn, Giám đốc Trung tâm Báo chí Đại hội XIV của Đảng, biểu dương các cơ quan, đơn vị đã chủ động phối hợp, triển khai nhiệm vụ theo đúng tiến độ, kế hoạch đã đề ra.

 Vụ trưởng Vụ Báo chí-Xuất bản Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương  Tống Văn Thanh trình bày báo cáo tóm tắt tại phiên họp. Ảnh: Nhân Dân

Nhấn mạnh thời gian từ nay đến Đại hội XIV của Đảng không còn nhiều, ông Lại Xuân Môn đề nghị các cơ quan, đơn vị phát huy tinh thần trách nhiệm, tập trung cao độ, triển khai quyết liệt, khẩn trương các nhiệm vụ trên tinh thần “làm ngay, làm khẩn trương”, bảo đảm không để chậm tiến độ bất kỳ khâu nào.

Theo phân công, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương tiếp tục hoàn thiện kế hoạch thông tin, tuyên truyền về Đại hội XIV của Đảng trên các phương tiện thông tin đại chúng trước, trong và sau Đại hội. Trong đó, sớm xây dựng dự kiến danh sách các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Trưởng các Đoàn đại biểu tham gia trả lời phỏng vấn báo chí, trình xin ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị; đồng thời thường xuyên rà soát, đánh giá công tác tuyên truyền để kịp thời đôn đốc, nhắc nhở, lưu ý các cơ quan báo chí.

Bộ Ngoại giao được giao đẩy mạnh công tác tuyên truyền đối ngoại thông qua hệ thống các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, các tổ chức, học giả, báo chí quốc tế và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Bộ Ngoại giao phối hợp chặt chẽ với Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương trong việc mời, hướng dẫn, đón tiếp và kết nối phóng viên nước ngoài đưa tin về Đại hội; đồng thời, chủ trì các công việc liên quan đến dịch thuật, phiên dịch tài liệu của Trung tâm Báo chí và các cuộc họp báo.

Quang cảnh phiên họp. Ảnh: Nhân Dân

Các cơ quan báo chí chính trị chủ lực gồm Báo Nhân Dân, Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam và Thông tấn xã Việt Nam được yêu cầu bám sát sự chỉ đạo, định hướng của Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương; tập trung tối đa nguồn lực cho công tác thông tin, tuyên truyền về Đại hội XIV của Đảng. Việc tuyên truyền phải bảo đảm vai trò đi đầu, thể hiện rõ tinh thần dẫn dắt, tính định hướng trong thông tin, phản ánh nổi bật các nội dung trọng tâm của Đại hội.

Cùng với đó, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương khẩn trương hoàn thành việc lắp đặt trang thiết bị, trang trí khánh tiết phục vụ Trung tâm Báo chí theo phân công; triển khai lắp đặt thiết bị cho các booth tác nghiệp và khu vực làm việc của các cơ quan báo chí chính trị chủ lực. Vụ Báo chí – Xuất bản phối hợp với các đơn vị liên quan của Bộ Công an hoàn thành việc in và cấp phát thẻ cho người, phù hiệu cho các đơn vị chức năng và các cơ quan báo chí tham gia tác nghiệp.

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng Thông tấn xã Việt Nam được giao rà soát, lựa chọn sách, báo và các ấn phẩm phù hợp để phục vụ trưng bày tại Trung tâm Báo chí và khu vực tổ chức Đại hội.

Báo cáo tại phiên họp cho biết từ sau Phiên họp lần thứ nhất, công tác chuẩn bị, tổ chức và vận hành Trung tâm Báo chí Đại hội XIV đã được triển khai đồng bộ. Trước đó, ngày 11/12/2025, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương đã làm việc với lãnh đạo các cơ quan báo chí chính trị chủ lực và các cơ quan báo chí có đông độc giả về nhiệm vụ thông tin, tuyên truyền Đại hội XIV của Đảng. Trên cơ sở đó, Thông báo kết luận đã được ban hành, yêu cầu các cơ quan báo chí mở đợt tuyên truyền cao điểm hướng tới Đại hội.

Công tác tuyên truyền được định hướng làm nổi bật kết quả, thành tựu của Đại hội XIII, đặc biệt là các quyết sách lớn, mang tính đột phá trong nửa cuối nhiệm kỳ; khẳng định tầm vóc chính trị, lịch sử và chiến lược của Đại hội XIV; phản ánh tầm nhìn của Đảng, thành tựu của đất nước, khát vọng phát triển của dân tộc và quyết tâm tiếp tục đổi mới, chỉnh đốn Đảng. Các cơ quan báo chí được yêu cầu đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng các sản phẩm truyền thông số đa dạng, hấp dẫn, có sức lan tỏa rộng.

Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương đã ban hành Công văn số 3415-CV/BTGDVTW ngày 23/12/2025 yêu cầu các cơ quan báo chí mở đợt tuyên truyền cao điểm hướng tới Đại hội XIV. Bộ Ngoại giao cũng có văn bản đề nghị các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài tăng cường công tác thông tin đối ngoại về Đại hội.

Đến nay, Thường trực Trung tâm Báo chí đã hoàn tất việc khảo sát thực tế tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia; thống nhất phương án bố trí khu vực Trung tâm Báo chí; phối hợp với các cơ quan báo chí chính trị chủ lực xác định vị trí booth tác nghiệp; đồng thời, làm việc với Bộ Công an về phương án cấp thẻ, phù hiệu và thẩm định tiêu chuẩn chính trị đối với phóng viên trong và ngoài nước.

Thời gian tới, các nhiệm vụ trọng tâm tiếp tục được triển khai gồm hoàn thiện danh sách phóng viên tác nghiệp tại Đại hội; in và cấp phát thẻ, phù hiệu, sổ tay hướng dẫn phóng viên song ngữ; hoàn chỉnh kế hoạch, kịch bản các cuộc họp báo; hoàn tất lắp đặt trang thiết bị, đường truyền, trang trí khánh tiết và tổ chức tập huấn báo chí, bảo đảm Trung tâm Báo chí Đại hội XIV vận hành hiệu quả, thông suốt, đúng yêu cầu đề ra.

-Hà Lê

Categories: The Latest News

Thủ tướng: Bảo đảm an ninh, trật tự là nền tảng cho phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long

Mon, 12/29/2025 - 18:57
Hội nghị về bảo đảm an ninh, trật tự phục vụ phát triển kinh tế – xã hội vùng Đồng bằng sông Cửu Long nhằm thống nhất nhận thức, xác định mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm, tạo nền tảng an ninh vững chắc cho phát triển nhanh, bền vững toàn vùng...

Sáng ngày 29/12/2025, tại Hà Nội, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính chủ trì Hội nghị “Bảo đảm an ninh, trật tự phục vụ phát triển kinh tế – xã hội vùng Đồng bằng sông Cửu Long”. Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an, Đại tướng Lương Tam Quang đồng chủ trì Hội nghị.

Tham dự Hội nghị có đại diện lãnh đạo các bộ, ban, ngành, cơ quan Trung ương; lãnh đạo các tỉnh, thành phố khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và các địa phương lân cận.

GIỮ VỮNG ỔN ĐỊNH AN NINH, TẠO MÔI TRƯỜNG THUẬN LỢI CHO PHÁT TRIỂN

Phát biểu tại Hội nghị, Bộ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang cho biết thời gian qua, các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo đảm an ninh, trật tự; phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động và các loại tội phạm trên địa bàn Đồng bằng sông Cửu Long đã được quán triệt và triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả.

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và các đại biểu dự Hội nghị về bảo đảm an ninh, trật tự phục vụ phát triển kinh tế - xã hội vùng Đồng bằng sông Cửu Long - Ảnh: VGP

Công tác bảo đảm an ninh, trật tự đã góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường an ninh, an toàn phục vụ đắc lực nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân vùng Đồng bằng sông Cửu Long và khu vực phụ cận.

Tuy nhiên, trên tinh thần không chủ quan, không lơ là, mất cảnh giác, Chính phủ tổ chức Hội nghị nhằm thống nhất nhận thức, xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp tiếp tục thực hiện hiệu quả các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo đảm an ninh, trật tự, phục vụ phát triển nhanh và bền vững vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong giai đoạn tới.

Theo đó, Hội nghị tập trung thảo luận các nhiệm vụ, giải pháp mang tính “đột phá”, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, xử lý các “điểm nghẽn”, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho phát triển kinh tế – xã hội, đồng thời bảo đảm an ninh, trật tự, không để bị động, bất ngờ, không để hình thành các vụ việc phức tạp, “điểm nóng” về an ninh, trật tự trên địa bàn.

Tại Hội nghị, các đại biểu đã đánh giá khái quát tình hình an ninh, trật tự vùng Đồng bằng sông Cửu Long và phụ cận; kết quả đạt được; những hạn chế, khó khăn, nguyên nhân; đồng thời nhận diện các nguy cơ, yếu tố tiềm ẩn có thể gây mất ổn định an ninh, trật tự trong thời gian tới. Trên cơ sở đó, các đại biểu đề xuất quan điểm chỉ đạo, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp bảo đảm an ninh, trật tự gắn với phát triển kinh tế – xã hội của vùng.

Các tham luận tại Hội nghị thống nhất đánh giá, lãnh đạo Đảng, Nhà nước luôn dành sự quan tâm đặc biệt đối với công tác bảo đảm an ninh, trật tự phục vụ phát triển kinh tế – xã hội vùng Đồng bằng sông Cửu Long và khu vực phụ cận.

Bộ trưởng Bộ Công an, Đại tướng Lương Tam Quang phát biểu tại Hội nghị - Ảnh: VGP

Nhiều nghị quyết, kết luận, đề án quan trọng đã được ban hành nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của vùng. Việc tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách này đã tạo chuyển biến rõ nét, góp phần giữ vững ổn định an ninh, trật tự, tạo tiền đề cho phát triển kinh tế – xã hội.

Bên cạnh những kết quả đạt được, các đại biểu cũng chỉ ra một số tồn tại, hạn chế. Việc triển khai chính sách dân tộc, tôn giáo; phát triển kinh tế – xã hội vùng Đồng bằng sông Cửu Long còn những nội dung chưa đạt yêu cầu. An ninh, trật tự tại một số địa bàn, nhất là vùng đồng bào dân tộc Khmer, còn tiềm ẩn yếu tố phức tạp.

Hiệu năng, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị ở một số nơi, đặc biệt là cấp cơ sở, còn khoảng cách so với yêu cầu nhiệm vụ. Đời sống của một bộ phận đồng bào dân tộc còn khó khăn; sự phối hợp giữa các lực lượng trong công tác bảo đảm an ninh, trật tự có lúc, có việc chưa thật sự chặt chẽ, đồng bộ; một số vấn đề tiềm ẩn phức tạp chưa được giải quyết dứt điểm.

Các đại biểu thống nhất tư tưởng, nhận thức và hành động, quyết tâm triển khai đồng bộ, hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp nhằm phát triển kinh tế – xã hội gắn với bảo đảm an ninh, trật tự vùng Đồng bằng sông Cửu Long và phụ cận trong thời gian tới.

BẢO ĐẢM AN NINH, TRẬT TỰ LÀ NHIỆM VỤ CHÍNH TRỊ THƯỜNG XUYÊN, LÂU DÀI

Kết luận Hội nghị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính nhấn mạnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long và phụ cận có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, môi trường sinh thái và đối ngoại; là “cửa ngõ” phía Nam của đất nước, gắn liền với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính khẳng định vùng Đồng bằng sông Cửu Long và phụ cận là địa bàn có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, môi trường sinh thái, đối ngoại - Ảnh: VGP

Thủ tướng khẳng định, Đảng và Nhà nước luôn dành sự quan tâm lớn đối với vùng Đồng bằng sông Cửu Long, thể hiện qua nhiều chủ trương, nghị quyết quan trọng, trong đó có Nghị quyết số 13-NQ/TW của Bộ Chính trị về phương hướng phát triển kinh tế – xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; cùng các nghị quyết, chương trình hành động của Chính phủ nhằm cụ thể hóa và tổ chức thực hiện.

Bên cạnh những kết quả cơ bản đạt được, Thủ tướng chỉ rõ việc thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo; phát triển kinh tế – xã hội vùng Đồng bằng sông Cửu Long còn những tồn tại, hạn chế. Một số chủ trương, chính sách triển khai chưa đạt yêu cầu; đời sống của một bộ phận người dân, nhất là đồng bào dân tộc Khmer, còn khó khăn; công tác phối hợp bảo đảm an ninh, trật tự ở một số địa bàn chưa thật sự chặt chẽ.

Để khắc phục những hạn chế nêu trên, Thủ tướng yêu cầu các bộ, ban, ngành và địa phương xác định bảo đảm an ninh, trật tự là nhiệm vụ chính trị quan trọng, cấp bách, thường xuyên và lâu dài; đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối, toàn diện của Đảng, sự quản lý, điều hành thống nhất của Nhà nước; huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân.

Người đứng đầu cấp ủy, chính quyền địa phương chịu trách nhiệm chính, toàn diện trong công tác bảo đảm an ninh, trật tự trên địa bàn. Việc triển khai nhiệm vụ phải gắn chặt giữa phát triển kinh tế – xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh; thực hiện ngay từ cơ sở theo phương châm “bốn tại chỗ”, dưới sự chỉ đạo thống nhất của cấp ủy, chính quyền và sự phối hợp đồng bộ của các lực lượng chức năng.

Trên tinh thần hành động quyết liệt, Thủ tướng yêu cầu tập trung thực hiện 5 nhóm nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt; đồng thời nhấn mạnh việc triển khai hiệu quả chính sách dân tộc, tôn giáo; đẩy mạnh các chương trình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, tạo việc làm, giải quyết kịp thời mâu thuẫn, bức xúc trong nhân dân.

Thủ tướng cũng yêu cầu nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc trên địa bàn; phát huy bản sắc văn hóa, tín ngưỡng truyền thống; tạo nền tảng vững chắc trong công tác phòng ngừa xã hội, loại trừ các nguyên nhân, điều kiện có thể bị lợi dụng gây mất an ninh, trật tự.

Trước mắt, trong năm 2026, Thủ tướng Chính phủ giao các bộ, ngành, địa phương tập trung hoàn thành 7 nhóm nhiệm vụ lớn, trọng tâm về chăm lo và phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế vùng Đồng bằng sông Cửu Long; kịp thời báo cáo để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện.

-Dũng Hiếu

Categories: The Latest News

Nâng cao hiệu quả công tác cứu trợ và giảm nghèo bền vững

Mon, 12/29/2025 - 14:46
Công tác cứu trợ và giảm nghèo bền vững cần quan tâm đến các giải pháp về tăng cường chuyển đổi số để phân bổ nguồn lực cứu trợ hợp lý, cân đối giữa các địa phương chịu ảnh hưởng bởi thiên tai.

Sáng 29/12, tại Hà Nội, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức Hội nghị - Tọa đàm với chủ đề "Nâng cao hiệu quả công tác giảm nghèo bền vững và cứu trợ: Kinh nghiệm và giải pháp".

Phát biểu đề dẫn, ông Cao Xuân Thạo, Trưởng ban Công tác xã hội Cơ quan Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Việt Nam cho biết thời gian qua, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp đã phối hợp với chính quyền, các ngành chức năng tổ chức vận động cứu trợ quy mô lớn, kịp thời và điều phối, phân bổ nguồn lực hỗ trợ đúng đối tượng, đúng nhu cầu.

Đồng thời triển khai các mô hình, dự án giảm nghèo gắn với sinh kế; thực hiện giám sát việc quản lý, sử dụng các nguồn lực cứu trợ, góp phần bảo đảm công khai, minh bạch.

Trong công tác giảm nghèo, với phương châm “không để ai bị bỏ lại phía sau”, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã triển khai các chương trình, phong trào thiết thực hỗ trợ hộ nghèo, cận nghèo, người yếu thế vươn lên.

"Công tác vận động hỗ trợ người nghèo đã trở thành hoạt động thường xuyên và trọng tâm của các cấp Mặt trận trong cả nước. Quỹ “Vì người nghèo” để chăm lo cho hộ nghèo ở cộng đồng dân cư được tăng cường. Mặt trận đóng vai trò quan trọng trong thực hiện thành công Chương trình quốc gia đặc biệt xóa nhà tạm, nhà dột nát", ông Cao Xuân Thạo khẳng định.

 Đại biểu tham dự. Ảnh: Mặt trận.

Đối với công tác cứu trợ, Mặt trận không chỉ là chủ thể vận động các nguồn lực xã hội, mà còn là đầu mối điều phối, kết nối và giám sát hoạt động cứu trợ.

Thông qua các lời kêu gọi kịp thời, đúng thời điểm, Mặt trận đã khơi dậy mạnh mẽ tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái trong toàn xã hội; huy động sự tham gia tự nguyện, rộng khắp của các tầng lớp nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, tổ chức tôn giáo và người Việt Nam ở nước ngoài.

Hoạt động cứu trợ của Mặt trận bảo đảm hỗ trợ đúng đối tượng, kịp thời nhu cầu thiết yếu của người dân trong lúc khó khăn, hoạn nạn; góp phần quan trọng vào việc ổn định đời sống nhân dân, củng cố niềm tin xã hội.

CẦN NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG TRUNG TÂM ĐIỀU PHỐI CỨU TRỢ TẠI CÁC VÙNG CÓ THIÊN TAI

Tại tọa đàm, ông Trần Sỹ Pha, Trưởng ban Công tác xã hội và Quản lý thảm họa Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam cho rằng trong bối cảnh mới, công tác cứu trợ và giảm nghèo bền vững cần quan tâm đến các giải pháp về tăng cường chuyển đổi số.

Ông Trần Sỹ Pha, Trưởng ban Công tác xã hội và Quản lý thảm họa Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam phát biểu.  Ảnh: Mặt trận.

Điều này nhằm đảm bảo tính minh bạch, nhanh chóng dựa trên dữ liệu thu thập từ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, các Ban Công tác Mặt trận ở địa phương, bản đồ tương tác dân sinh để phân bổ nguồn lực cứu trợ hợp lý, cân đối giữa các địa phương chịu ảnh hưởng bởi thiên tai.

Theo ông Trần Sỹ Pha, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên đẩy mạnh công tác tuyên truyền đến các tổ chức, cá nhân về công tác cứu trợ, khuyến cáo người dân ưu tiên cứu trợ những gì người dân cần trong giai đoạn cứu trợ khẩn cấp, đảm bảo thiết thực, hiệu quả.

"Các địa phương cần nghiên cứu xây dựng các trung tâm điều phối cứu trợ tại các vùng có thiên tai xảy ra trên diện rộng. Những thông tin về nhu cầu cứu trợ của từng địa phương được cập nhật hàng ngày tới trung tâm này. Từ đó thuận tiện cho việc điều phối nguồn lực đáp ứng nhu cầu của người dân ở vùng cần cứu trợ", ông Trần Sỹ Pha đề xuất.

Chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn ở địa phương, ông Trần Văn Lượng, Trưởng ban Tuyên giáo và Công tác xã hội Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Hà Tĩnh cho biết thời gian qua, hệ thống nhà văn hoá cộng đồng ở tỉnh Hà Tĩnh được xây dựng đang phát huy hiệu quả rõ rệt trong phòng, chống thiên tai. 

Không chỉ là nơi tổ chức sinh hoạt văn hoá, những công trình kiên cố này là nơi bảo vệ an toàn cho người dân mỗi khi mưa lũ về. Các nhà văn hoá còn có thể trở thành điểm trung chuyển hàng cứu trợ. Do đó, mô hình này cần được nhân rộng tại các địa phương trong thời gian tới.

Bà Hoàng Thu Hồng, Trưởng ban Tuyên giáo và Công tác xã hội Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP Hà Nội. Ảnh: Mặt trận.

Còn bà Hoàng Thu Hồng, Trưởng ban Tuyên giáo và Công tác xã hội Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP Hà Nội đề xuất cần sớm hoàn thiện khung pháp lý về công tác vận động ủng hộ để triển khai khả thi hơn trên thực tế. 

Ngoài ra, cần thiết lập cơ chế hướng dẫn phối hợp, điều phối đối với các hoạt động thiện nguyện; tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ Mặt trận tham gia công tác cứu trợ, tập huấn chuyên đề, chuyên sâu về sử dụng quỹ cứu trợ.

Đồng thời cần hoàn thiện cơ chế tiếp nhận, quản lý, sử dụng hiện vật cứu trợ; gắn cứu trợ khẩn cấp với các chương trình an sinh xã hội và giảm nghèo bền vững.

ĐỀ XUẤT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG NGHỊ ĐỊNH 93

Tại tòa đàm, các ý kiến đại biểu đề xuất sửa đổi, bổ sung Nghị định số 93/2021/NĐ-CP ngày 27/10/2021 của Chính phủ về vận động, tiếp nhận, phân phối và sử dụng các nguồn đóng góp tự nguyện nhằm hỗ trợ khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, sự cố; hỗ trợ bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo.

Các ý kiến nêu rõ qua hơn 3 năm triển khai thực hiện, Nghị định số 93/2021/NĐ-CP đã tạo hành lang pháp lý quan trọng cho công tác vận động, tiếp nhận, phân phối và sử dụng nguồn đóng góp tự nguyện. 

Tuy nhiên qua tổng hợp từ Mặt trận Tổ quốc các địa phương, trong triển khai Nghị định 93/2021/NĐ-CP vẫn còn một số bất cập, như chồng chéo về cấp hành chính, thời gian phân phối quá ngắn, chưa có cơ chế tài chính cho chi phí quản lý, đối tượng thụ hưởng còn hạn chế… dẫn đến một số khó khăn trong thực hiện các hoạt động cứu trợ xã hội tại các địa phương.

Do đó, ý kiến các đại biểu đề nghị sửa đổi Nghị định số 93 nhằm phù hợp với việc thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp hiện nay.

Đồng thời, bổ sung một số quy định mới nhằm tăng cường minh bạch, ứng dụng công nghệ thông tin; bảo đảm và nâng cao hơn nữa tính khả thi, hiệu quả trong hỗ trợ khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, sự cố; hỗ trợ bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo.

-Đỗ Như

Categories: The Latest News

Thủ tướng yêu cầu tăng tốc tiến độ cao tốc Cà Mau – Đất Mũi và tuyến đường ra đảo Hòn Khoai

Mon, 12/29/2025 - 11:18
Thăm và làm việc tại công trường các dự án trọng điểm ở Cà Mau ngày 28/12, Thủ tướng Phạm Minh Chính yêu cầu huy động tối đa nguồn lực, tổ chức thi công liên tục để bảo đảm tiến độ cao tốc Cà Mau – Đất Mũi và tuyến đường ra đảo Hòn Khoai, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu an toàn, chất lượng và tầm nhìn lâu dài của các công trình mang ý nghĩa chiến lược này...

Ngày 28/12, trong chuyến công tác tại tỉnh Cà Mau, Phạm Minh Chính đã thăm, tặng quà người lao động và làm việc với các nhà thầu, đơn vị thi công về tiến độ triển khai hai dự án hạ tầng trọng điểm gồm cao tốc Cà Mau – Đất Mũi và tuyến đường ra đảo Hòn Khoai.

Báo cáo tại buổi làm việc, đại tá Lê Xuân Long, Giám đốc Ban Quản lý dự án 166 (Bộ Quốc phòng), cho biết đến nay cả hai dự án đã được bàn giao 100% mặt bằng. Tuy nhiên, quá trình thi công vẫn gặp khó khăn về nguồn cung vật liệu xây dựng, đặc biệt là cát và đá, ảnh hưởng nhất định đến tổ chức thi công trên công trường.

Kết luận buổi làm việc, Thủ tướng nhấn mạnh đây là các công trình có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, được triển khai theo cơ chế khẩn cấp nhưng mang tầm nhìn chiến lược lâu dài, không chỉ đối với tỉnh Cà Mau mà còn đối với khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và định hướng phát triển kinh tế biển của cả nước.

Thủ tướng biểu dương sự quyết liệt của các bộ, ngành, địa phương trong việc đẩy nhanh giải ngân, sớm triển khai lực lượng chỉ huy tiền phương tại công trình; đồng thời ghi nhận tinh thần trách nhiệm của tỉnh Cà Mau và người dân trong vùng dự án đã tự nguyện nhường đất, bàn giao mặt bằng đúng tiến độ, tạo điều kiện thuận lợi cho thi công.

Trên cơ sở đó, Thủ tướng giao Bộ Quốc phòng huy động tối đa lực lượng, phương tiện, máy móc; áp dụng các biện pháp thi công hiện đại, phù hợp điều kiện địa hình đặc thù. Người đứng đầu Chính phủ yêu cầu lãnh đạo các đơn vị thi công và chính quyền địa phương thường xuyên có mặt tại công trường để kịp thời tháo gỡ khó khăn, đồng thời bảo đảm đầy đủ điều kiện ăn ở, sinh hoạt cho cán bộ, chiến sĩ và công nhân lao động.

Thủ tướng nhấn mạnh yêu cầu tiếp tục tổ chức thi công với tinh thần cao nhất, làm việc theo chế độ “3 ca, 4 kíp”, “làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm, làm xuyên ngày nghỉ”, bảo đảm tiến độ, thậm chí phấn đấu vượt tiến độ, song phải đặt yêu cầu an toàn lao động, chất lượng công trình lên hàng đầu.

Đáng chú ý, đối với tuyến đường vượt biển ra đảo Hòn Khoai, Thủ tướng đề nghị chủ đầu tư và các đơn vị thi công nghiên cứu bổ sung các điểm dừng trên cầu, kết hợp thiết kế cảnh quan phù hợp, tạo điều kiện cho người dân và du khách dừng chân ngắm cảnh, chụp ảnh. Theo Thủ tướng, đây là công trình “để đời”, không chỉ phục vụ phát triển kinh tế – xã hội mà còn cần được thiết kế đẹp, có giá trị thẩm mỹ, trở thành sản phẩm du lịch gắn với hạ tầng giao thông.

Liên quan đến các kiến nghị của tỉnh Cà Mau, Thủ tướng thống nhất chủ trương triển khai các giải pháp chống sạt lở, xâm thực bờ biển; yêu cầu nghiên cứu phương án kết hợp giữa kè, đê, làm đường và lấn biển theo hình thức hợp tác công tư, trong đó các đoạn xung yếu sẽ xem xét đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước.

Thủ tướng cũng hoan nghênh chủ trương xây dựng tuyến giao thông kết nối hai khu vực trung tâm tỉnh sau hợp nhất, gồm trung tâm Cà Mau và Bạc Liêu trước đây, với chiều dài khoảng 60 km. Người đứng đầu Chính phủ đề nghị nghiên cứu bố trí các nút giao hợp lý, khoảng 10 km một nút, nhằm tạo thuận lợi cho người dân đi lại và phát triển không gian kinh tế dọc tuyến.

Đối với bài toán chống ngập cho khu vực trung tâm Cà Mau, Thủ tướng cho rằng có thể nghiên cứu dự án xây dựng cống ngăn trên sông Gành Hào như đề xuất của địa phương, trong đó phần vốn xây dựng do Trung ương đầu tư, còn địa phương chịu trách nhiệm công tác giải phóng mặt bằng.

Theo báo cáo, dự án cầu vượt biển ra đảo Hòn Khoai có chiều dài khoảng 18 km, quy mô 4 làn xe, tốc độ thiết kế 80 km/h, tổng mức đầu tư hơn 25.700 tỷ đồng. Dự án được triển khai đồng bộ với cao tốc Cà Mau – Đất Mũi và cảng tổng hợp lưỡng dụng Hòn Khoai.

Cao tốc Cà Mau – Đất Mũi có chiều dài hơn 80 km, quy mô 4 làn xe, bố trí 2 làn dừng khẩn cấp, vận tốc thiết kế 100 km/h. Điểm cuối tuyến kết nối với cảng lưỡng dụng quốc tế Hòn Khoai, công suất thiết kế khoảng 20 triệu tấn hàng hóa mỗi năm, được kỳ vọng trở thành cửa ngõ quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế biển và logistics của khu vực phía Nam.

-Minh Kiệt

Categories: The Latest News

Thủ tướng: Đột phá giáo dục, y tế để chuẩn bị nguồn lực cho kỷ nguyên phát triển mới

Mon, 12/29/2025 - 09:07
Tiếp xúc cử tri thành phố Cần Thơ sau Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính cùng các đại biểu Quốc hội, lãnh đạo bộ, ngành đã trực tiếp giải đáp nhiều kiến nghị liên quan giáo dục, y tế, thể chế và phát triển hạ tầng, nhấn mạnh yêu cầu đột phá hai lĩnh vực then chốt cho phát triển bền vững.

Chiều 28/12, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính cùng Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Cần Thơ tiếp xúc cử tri sau Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV. Tham dự có các đại biểu Quốc hội: Bí thư Thành ủy Cần Thơ Lê Quang Tùng; Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội Lâm Văn Mẫn; Tổng Thư ký, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Lê Quang Mạnh; cùng lãnh đạo các bộ, ngành Trung ương và thành phố Cần Thơ.

Cuộc tiếp xúc có hơn 300 cử tri là cán bộ, công chức, viên chức, giảng viên ngành giáo dục và đào tạo, y tế trên địa bàn thành phố. Sau khi Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Cần Thơ báo cáo kết quả Kỳ họp và hoạt động của Đoàn, hội nghị dành phần lớn thời gian để cử tri nêu ý kiến, kiến nghị; Thủ tướng Chính phủ và lãnh đạo các bộ, ngành trực tiếp trao đổi, giải đáp.

HOÀN THIỆN THỂ CHẾ, TRIỂN KHAI CÁC CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA QUY MÔ LỚN

Nội dung các ý kiến tập trung vào việc triển khai Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân.

Cử tri kiến nghị nhiều vấn đề liên quan đến cơ chế, chính sách ưu đãi đặc thù đối với đội ngũ y tế, nhất là nhân viên y tế cơ sở, điều dưỡng lão khoa; việc xây dựng khung pháp lý khuyến khích khu vực tư nhân tham gia phát triển dịch vụ chăm sóc lão khoa; chính sách thu hút nguồn nhân lực về công tác tại trạm y tế xã, phường.

Thủ tướng Phạm Minh Chính cùng Đoàn đại biểu Quốc hội TP. Cần Thơ tiếp xúc cử tri - Ảnh: VGP

Bên cạnh đó, cử tri cũng quan tâm đến việc sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật để phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp; cơ chế, chính sách thúc đẩy sự tham gia của khu vực kinh tế tư nhân; cơ chế đặc thù giúp các trường đại học trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long phát triển thành trung tâm tri thức, thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao.

Liên quan giáo dục đại học, nhiều ý kiến đề nghị hoàn thiện chính sách tài chính để các cơ sở đào tạo phát huy vai trò đào tạo nhân lực, phát triển khoa học – công nghệ; có cơ chế hỗ trợ nguồn lực nhằm thu hút chuyên gia giỏi tham gia giảng dạy, nghiên cứu.

Phát biểu tại cuộc tiếp xúc, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính nhấn mạnh hai chủ đề giáo dục và y tế có ý nghĩa trực tiếp với mọi người dân, là nền tảng quan trọng để đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới theo hướng giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.

Theo Thủ tướng, để cụ thể hóa Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị, Chính phủ đã trình Quốc hội và được thông qua Luật Dân số, Luật Phòng bệnh và Nghị quyết về một số cơ chế, chính sách đột phá cho công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân. Các văn bản này hướng tới mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam khỏe mạnh, nâng cao thể chất, ý thức phòng bệnh, chăm sóc sức khỏe toàn dân.

Thủ tướng chia sẻ thêm về nội dung chuyên đề tiếp xúc cử tri liên quan đến hai lĩnh vực giáo dục và y tế - Ảnh: VGP

Cùng với đó, Quốc hội đã phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia về chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển giai đoạn 2026–2035. Trên cơ sở này, Chính phủ sẽ chỉ đạo Bộ Y tế khẩn trương hoàn thiện hồ sơ để quyết định đầu tư Chương trình gồm 5 dự án, với tổng nguồn lực gần 90.000 tỷ đồng, tập trung vào các mục tiêu như nâng cao năng lực y tế cơ sở, hiệu quả hệ thống phòng bệnh, chăm sóc sức khỏe nhân dân, phát triển dân số, chăm sóc xã hội cho người yếu thế và tăng cường truyền thông y tế.

NÂNG CẤP HỆ THỐNG Y TẾ, ĐỘT PHÁ GIÁO DỤC GẮN SẮP XẾP HỆ THỐNG

Điểm lại một số nhiệm vụ y tế tại Cần Thơ, Thủ tướng Chính phủ biểu dương thành phố cùng các bộ, ngành đã kịp thời triển khai chỉ đạo của Thủ tướng về việc chuyển dự án xây dựng Bệnh viện Ung bướu Cần Thơ (mới) từ vốn vay ODA sang đầu tư công, tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy tiến độ dự án. Đồng thời, việc mua sắm hai máy xạ trị cho Bệnh viện Ung bướu hiện hành đã góp phần nâng cao năng lực khám, chữa bệnh cho người dân khu vực.

Thủ tướng yêu cầu tiếp tục bổ sung, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và cơ sở vật chất y tế trên địa bàn; khẩn trương nâng cấp Bệnh viện Tim mạch Cần Thơ, Bệnh viện Phụ sản Cần Thơ, Bệnh viện Nhi đồng Cần Thơ trong năm 2026; những khó khăn, thiếu hụt cần kịp thời báo cáo Chính phủ để xem xét, xử lý.

Cử tri TP. Cần Thơ tham dự buổi tiếp xúc cử tri - Ảnh: VGP

Đối với giáo dục và đào tạo, Thủ tướng cho biết Chính phủ bám sát Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị, xác định nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố then chốt, khâu đột phá chiến lược cho phát triển kinh tế – xã hội trong giai đoạn mới.

Tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục; Luật Giáo dục đại học; Luật Giáo dục nghề nghiệp và Nghị quyết về cơ chế, chính sách đặc thù để thực hiện đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.

Quốc hội cũng phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026–2035, với tổng nguồn lực hơn 580.000 tỷ đồng, tập trung vào 4 nhóm mục tiêu đối với giáo dục mầm non, phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học và xây dựng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý.

Bên cạnh kết quả đạt được, Thủ tướng chỉ rõ một số hạn chế tại Cần Thơ như: tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia còn thấp và chưa đồng đều; tình trạng thiếu giáo viên, cơ cấu môn học chưa hợp lý, nhất là ở bậc mầm non, tiểu học; việc thực hiện tự chủ tài chính chưa đồng bộ.

Thủ tướng yêu cầu thành phố sắp xếp hệ thống cơ sở giáo dục phù hợp mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; các trường đại học trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long tổ chức theo hướng tăng quy mô, giảm đầu mối, nâng cao chất lượng.

Yêu cầu thông xe kỹ thuật cao tốc Châu Đốc – Cần Thơ – Sóc Trăng trước 30/6/2026

Chiều cùng ngày, Thủ tướng Phạm Minh Chính kiểm tra, đôn đốc tiến độ dự án cao tốc Châu Đốc – Cần Thơ – Sóc Trăng trên địa bàn Cần Thơ. Dự án giai đoạn 1 dài 188,2 km, quy mô 4 làn xe, tổng mức đầu tư 44.691 tỷ đồng, dự kiến cơ bản hoàn thành năm 2026 và khai thác đồng bộ năm 2027.

Dự án hiện đạt khoảng 49% khối lượng thi công; riêng phần cầu đạt trên 80% với 100 cầu được triển khai đồng loạt. Sau khi khó khăn về nguồn cát được tháo gỡ, các nhà thầu tổ chức thi công 3 ca, 4 kíp để bảo đảm tiến độ.

Kiểm tra tại công trường xã Long Hưng, Thủ tướng yêu cầu đến 30/6/2026 phải thông xe kỹ thuật; xây dựng lại đường găng tiến độ, kế hoạch chi tiết từng tháng; bảo đảm đủ vật liệu; thi công an toàn, chất lượng, không để xảy ra tiêu cực, lãng phí; đồng thời quan tâm tốt công tác tái định cư cho người dân.

Thủ tướng cũng yêu cầu hoàn thành dự án cao tốc Cần Thơ – Cà Mau chậm nhất ngày 31/1/2026, góp phần thông toàn tuyến cao tốc Bắc – Nam từ Cao Bằng đến Cà Mau.

-Hà Lê

Categories: The Latest News

Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ XI: Khơi dậy tinh thần cống hiến vì quốc gia, dân tộc

Sat, 12/27/2025 - 16:37
Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ XI tổng kết phong trào thi đua giai đoạn 2021–2025, xác định định hướng giai đoạn 2026–2030, nhấn mạnh yêu cầu đổi mới, thực chất và lan tỏa tinh thần cống hiến vì quốc gia, dân tộc.

Sáng 27/12, Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ XI với chủ đề “Thi đua đổi mới, sáng tạo, tăng tốc bứt phá, đưa đất nước vào kỷ nguyên phát triển hùng cường, văn minh, thịnh vượng” đã khai mạc trọng thể tại Thủ đô Hà Nội. Tổng Bí thư Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo Đại hội.

Tại Đại hội, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Chủ tịch Hội đồng Thi đua – Khen thưởng Trung ương phát biểu khai mạc; các đại biểu theo dõi phóng sự tổng kết kết quả các phong trào thi đua yêu nước và công tác khen thưởng giai đoạn 2021–2025, đồng thời xác định mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ giai đoạn 2026–2030.

Trong khuôn khổ chương trình, Đại hội tổ chức giao lưu, tôn vinh các điển hình tiên tiến, đại diện Anh hùng Lao động, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân – những gương mặt tiêu biểu trong các phong trào thi đua yêu nước giai đoạn 2021–2025, có thành tích nổi bật và đóng góp thiết thực cho xã hội.

TÔN VINH NHỮNG ĐIỂN HÌNH TIÊU BIỂU TỪ THỰC TIỄN

Các điển hình được giao lưu, tôn vinh tại Đại hội đến từ nhiều lĩnh vực, địa bàn và môi trường công tác khác nhau, phản ánh sự lan tỏa của phong trào thi đua yêu nước trong toàn xã hội. Đó là Trung tá Nguyễn Mạnh Linh, Chiến sĩ thi đua thuộc Tổng công ty Công nghiệp Công nghệ cao Viettel, Tập đoàn Công nghiệp – Viễn thông Quân đội;

Ông Vũ Hữu Lê, hơn 90 tuổi, nguyên Giám đốc Công ty TNHH Cơ khí và Xây lắp Hồng Hà (tỉnh Yên Bái), nhà sáng chế máy nông nghiệp; Thượng tá Lê Văn Thọ, Công an xã Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa, tham gia tham mưu, chỉ huy, trực tiếp ứng phó, phòng chống lũ lụt, cứu hộ, cứu nạn và bảo đảm an ninh trật tự, khắc phục hậu quả thiên tai năm 2025 tại Khánh Hòa. Đại hội cũng gặp gỡ, giao lưu với đại diện các vận động viên đạt thành tích cao tại SEA Games 33.

Chủ tịch nước Lương Cường đã trao danh hiệu Anh hùng Lao động cho các tập thể, cá nhân. Ảnh: TTXVN

Mỗi điển hình tiên tiến là một câu chuyện riêng về lao động, sáng tạo, cống hiến và vượt qua thử thách. Điểm chung của các tấm gương được tôn vinh là tinh thần “vì quốc gia, dân tộc”, gắn kết chặt chẽ giữa trách nhiệm cá nhân với lợi ích chung của cộng đồng và đất nước.

Tại Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ XI, Đảng và Nhà nước đã phong tặng Danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới cho Tiến sĩ Nguyễn Thị Phương Thảo, ghi nhận những đóng góp bền bỉ và có chiều sâu của một nữ doanh nhân tiêu biểu trong hơn ba thập kỷ lao động, sáng tạo và cống hiến.

Hoạt động trên nhiều lĩnh vực then chốt như hàng không, tài chính – ngân hàng, đầu tư và công nghệ, Tiến sĩ Nguyễn Thị Phương Thảo để lại dấu ấn rõ nét bằng tư duy đổi mới, năng lực tổ chức và tinh thần phụng sự xã hội. Những sáng kiến mang tính tiên phong của bà không chỉ góp phần mở rộng cơ hội tiếp cận dịch vụ cho hàng triệu người dân, thúc đẩy tăng trưởng và tạo việc làm, mà còn đóng góp thiết thực vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.

Danh hiệu Anh hùng Lao động là sự ghi nhận cho một hành trình lao động và cống hiến của Tiến sĩ Nguyễn Thị Phương Thảo gắn chặt với lợi ích quốc gia, phát triển con người và khát vọng đưa Việt Nam vươn lên mạnh mẽ trong thời kỳ đổi mới và hội nhập.

THI ĐUA LÀ ĐỘNG LỰC PHÁT TRIỂN, LÀ THƯỚC ĐO PHẨM CHẤT

Phát biểu chỉ đạo Đại hội, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh thi đua yêu nước là truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khởi xướng và tổ chức phong trào thi đua yêu nước bằng “Lời kêu gọi Thi đua ái quốc” ngày 11/6/1948, khẳng định thi đua là “làm cho mau, làm cho tốt, làm cho nhiều” và nhấn mạnh: “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua”.

Theo Tổng Bí thư, Đại hội là dịp tôn vinh những “bông hoa đẹp nhất” trong vườn hoa thi đua yêu nước. Các điển hình tiên tiến được lựa chọn từ cơ sở, hoạt động trên nhiều lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; ở các vùng miền, từ đô thị đến nông thôn, biên giới, hải đảo; thuộc nhiều dân tộc, tôn giáo khác nhau.

Các đại biểu tham dự Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ XI. Ảnh: TTXVN

Đó là những con người bình dị nhưng tạo nên những thành tích đáng trân trọng: người cải tiến quy trình để tiết kiệm thời gian và chi phí; người bền bỉ chăm sóc sức khỏe cộng đồng; người kiên trì nâng cao chất lượng giáo dục; người ngày đêm bám trụ nơi biên giới, hải đảo để bảo vệ chủ quyền; doanh nhân đổi mới công nghệ, mở rộng thị trường, tạo việc làm và chăm lo đời sống người lao động.

Tổng Bí thư nhấn mạnh giá trị cốt lõi của các điển hình không chỉ nằm ở thành tích, mà ở phẩm chất tạo nên thành tích: trung thực, tận tụy, trách nhiệm, kỷ luật, sáng tạo, ý thức cộng đồng; đặt lợi ích chung lên trên lợi ích riêng; coi danh dự là giá trị cao quý; lấy hiệu quả công việc làm thước đo phẩm chất lao động.

Việc tôn vinh các điển hình nhằm lan tỏa những giá trị tích cực, “nhân” gương sáng thành động lực để phong trào thi đua yêu nước phát triển sâu rộng, bền vững; đồng thời yêu cầu kiên quyết chống hình thức, chống bệnh thành tích, bảo đảm thi đua và khen thưởng thực chất, công bằng.

LẤY HIỆU QUẢ PHỤC VỤ NHÂN DÂN LÀM TIÊU CHÍ TRUNG TÂM

Tổng Bí thư chỉ rõ công tác thi đua – khen thưởng cần được “định vị đúng tọa độ”: lấy chất lượng và hiệu quả làm chuẩn; lấy đóng góp thực tiễn làm căn cứ; hướng về người lao động trực tiếp và cơ sở. Luật Thi đua, Khen thưởng năm 2022 đã đặt ra yêu cầu công khai, minh bạch, kịp thời, bảo đảm mọi nỗ lực, cống hiến đều được ghi nhận xứng đáng.

Trong giai đoạn mới, thi đua yêu nước phải bám sát nhiệm vụ chính trị, gắn với mục tiêu cụ thể; lấy kết quả phục vụ nhân dân làm thước đo. Mỗi phong trào cần có việc làm rõ ràng, tiêu chí đo lường được và kết quả kiểm chứng được.

Đại biểu dự đại hội.  Ảnh: TTXVN

Thi đua cần hướng mạnh vào đổi mới sáng tạo, phát triển khoa học – công nghệ và chuyển đổi số; nâng cao năng suất, chất lượng quản trị; thúc đẩy kinh tế số, xã hội số, chính phủ số. Các nghị quyết Trung ương ban hành trong năm 2025 là cơ sở quan trọng để triển khai các phong trào thi đua thiết thực, hiệu quả.

Bên cạnh đó, thi đua xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, liêm chính, hiện đại; đề cao kỷ luật, kỷ cương, trách nhiệm nêu gương; cải cách thủ tục hành chính, giảm chi phí tuân thủ, nâng cao chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp; khắc phục tình trạng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm.

Thi đua phát triển văn hóa, giáo dục, y tế và an sinh xã hội; nâng cao chất lượng cuộc sống; xây dựng con người Việt Nam thời kỳ mới; chăm lo người có công và người yếu thế; xây dựng xã hội nhân văn, kỷ cương, nghĩa tình.

Tổng Bí thư cũng nhấn mạnh thi đua phát triển kinh tế tư nhân lành mạnh, hiệu quả; nâng cao chất lượng doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh quốc gia; gắn đổi mới công nghệ với quản trị hiện đại và trách nhiệm xã hội; tạo việc làm, bảo đảm phúc lợi cho người lao động; xây dựng văn hóa kinh doanh liêm chính.

Thi đua gắn với chuyển đổi xanh và phát triển bền vững; sử dụng hiệu quả tài nguyên, tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải, bảo vệ môi trường; phát triển kinh tế tuần hoàn, bảo đảm an ninh năng lượng, an ninh môi trường và chất lượng sống của nhân dân.

Tổng Bí thư yêu cầu phong trào thi đua hướng mạnh về cơ sở, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; chú trọng người lao động trực tiếp và lực lượng tuyến đầu; để mỗi cá nhân, gia đình, cộng đồng đều có mục tiêu phấn đấu và cơ hội cống hiến.

Nhấn mạnh yêu cầu đổi mới công tác thi đua – khen thưởng theo hướng thực chất, công khai, minh bạch, Tổng Bí thư đề nghị các cấp ủy, chính quyền tăng cường kiểm tra, giám sát; tạo môi trường để người tốt, việc tốt được ghi nhận kịp thời; các cơ quan báo chí, truyền thông đẩy mạnh tuyên truyền, lan tỏa giá trị của phong trào thi đua yêu nước, góp phần khơi dậy khát vọng phát triển đất nước trong giai đoạn tới.

-Hà Lê

Categories: The Latest News

Thủ tướng yêu cầu đẩy nhanh tiến độ lập Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội

Sat, 12/27/2025 - 16:36
Thủ tướng Chính phủ vừa có văn bản số 1634/TTg-CN ngày 25/12/2025 về việc đẩy nhanh tiến độ lập, thẩm định, khẩn trương phê duyệt Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội...

Theo đó, tại Nghị quyết số 258/2025/QH15 ngày 10/11/2025 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù để thực hiện các dự án lớn, quan trọng trên địa bàn Thủ đô, Quốc hội đã cho phép Thành phố Hà Nội nghiên cứu lập Quy hoạch tổng thể Thủ đô trên cơ sở tích hợp các nội dung của Quy hoạch Thủ đô và Quy hoạch chung Thủ đô. Ngoài ra, Thường trực Chính phủ cũng họp và cho ý kiến về ý tưởng, định hướng lớn đối với Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tại Thông báo kết luận số 709/TB-VPCP ngày 19/12/2025.

Vì vậy để sớm có cơ sở, căn cứ triển khai thực hiện các dự án cần thiết, quan trọng, quy mô lớn liên kết vùng, liên kết tỉnh, giúp huy động tối đa các nguồn lực, tạo đà, tạo lực, tạo thế cho Thủ đô Hà Nội phát triển trong giai đoạn mới với tầm nhìn 100 năm, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu UBND Thành phố Hà Nội đẩy nhanh tiến độ lập, thẩm định và khẩn trương trình cấp có thẩm quyền phê duyệt Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội theo quy định tại Nghị quyết số 258/2025/QH15 của Quốc hội, bảo đảm phát triển bao trùm, toàn diện, chất lượng, khả thi, khắc phục triệt để những vấn đề tồn tại, điểm nghẽn hữu hiệu của Hà Nội (như: tắc nghẽn giao thông; ô nhiễm không khí; ngập lụt đô thị; nước sạch; vệ sinh môi trường...) với tầm nhìn 100 năm và xứng tầm với giá trị lịch sử Thủ đô ngàn năm văn hiến, trái tim của cả nước.

Thủ tướng yêu cầu trong quá trình lập Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội cần phối hợp chặt chẽ, hiệu quả với các tỉnh lân cận, giáp ranh với Thành phố như: Phú Thọ, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Hưng Yên, Ninh Bình, bảo đảm việc liên kết chặt chẽ về không gian phát triển, kết nối đồng bộ đô thị, nông thôn, hạ tầng chiến lược chung (giao thông, điện, nước, xử lý các loại chất thải, viễn thông,...), tạo ra không gian phát triển chung, liên hoàn giữa các địa phương, nhất là không gian liên kết đồng bộ văn hóa, các di tích lịch sử, các danh lam thắng cảnh, cảnh quan thiên nhiên đặc sắc có giáp ranh giữa các địa phương (không cát cứ cục bộ, chia cắt nhỏ, lẻ) nhằm thúc đẩy, hỗ trợ phát triển lẫn nhau.

Đồng thời, khai thác tối đa tiềm năng, thế mạnh của các địa phương và cả Vùng Thủ đô, tạo ra sự phát triển liên kết đồng bộ, hài hòa, bao trùm, toàn diện; đảm bảo môi trường sống chất lượng cao cho cả khu vực, cả vùng; giữ được bản sắc riêng cho các địa phương.

-Hoàng Bách

Categories: The Latest News

Pages