Thời Báo Kinh Tế
Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét báo cáo công tác dân nguyện của Quốc hội
Trình bày tóm tắt báo cáo, Phó Chủ nhiệm Thường trực Ủy ban Dân nguyện và Giám sát Lê Thị Nga cho biết cử tri và nhân dân bày tỏ sự quan tâm, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng về công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị; công tác cán bộ; công tác chuẩn bị Đại hội lần thứ XIV của Đảng và các quyết sách về phát triển kinh tế - xã hội định hướng cho năm 2026 và các năm tiếp theo.
TỶ LỆ GIẢI QUYẾT, TRẢ LỜI KIẾN NGHỊ CỬ TRI ĐẠT 40,2%Theo bà Lê Thị Nga, cử tri phản ánh hiện nay, hoạt động kinh doanh, mua bán hàng hóa và cung cấp dịch vụ qua mạng xã hội, sàn thương mại điện tử phát triển rất mạnh, góp phần thúc đẩy thương mại điện tử, chuyển đổi số và tiêu dùng hiện đại.
Tuy nhiên, công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực này còn nhiều bất cập, nhất là trong quản lý thuế, nguồn gốc hàng hóa, giá cả và chất lượng sản phẩm. Nhiều trường hợp vi phạm nghiêm trọng chỉ được phát hiện sau thời gian dài, gây thất thu ngân sách và thiệt hại cho người tiêu dùng.
Bên cạnh đó, cử tri và nhân dân lo lắng, bức xúc về tình trạng lừa đảo trực tuyến. Nhiều trường hợp người dân bị lừa đảo, bị lợi dụng đứng tên làm giám đốc công ty hoặc chủ hộ kinh doanh mà không hay biết, dẫn đến việc bị cấm xuất cảnh hoặc gặp khó khăn trong các thủ tục hành chính. Việc đổi, cấp giấy phép lái xe còn chậm gây khó khăn cho người dân…
Phó Chủ nhiệm Thường trực Ủy ban Dân nguyện và Giám sát Lê Thị Nga trình bày tóm tắt báo cáo Công tác dân nguyện của Quốc hội trong tháng 10 và tháng 11/2025. Ảnh: Quốc hội.Bà Lê Thị Nga cho biết thêm qua báo cáo kết quả tiếp xúc cử tri trước Kỳ họp thứ 10 của Đoàn đại biểu Quốc hội, Ủy ban Dân nguyện và Giám sát tổng hợp được 757 kiến nghị của cử tri và đã chuyển đến các cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đến nay, Thường trực Ủy ban Dân nguyện và Giám sát đã nhận được kết quả giải quyết, trả lời đối với 304 kiến nghị, tỷ lệ giải quyết, trả lời đạt 40,2%. Thường trực Ủy ban sẽ tiếp tục đôn đốc các cơ quan giải quyết, trả lời đúng hạn và báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội theo quy định.
Cho ý kiến tại phiên họp, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Lâm Văn Mẫn đánh giá cao những nỗ lực trong công tác dân nguyện của Ủy ban Dân nguyện và Giám sát trong tháng 10 và 11. Tuy nhiên, cần tiếp tục có các biện pháp đôn đốc, kiểm tra việc xử lý những kiến nghị còn lại để tránh tồn đọng, từ đó nâng cao niềm tin của cử tri.
Về nội dung cụ thể, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Lâm Văn Mẫn nhấn mạnh cử tri lo ngại trước tình trạng hàng giả, hàng nhái và các hình thức lừa đảo trực tuyến. Do đó, đề nghị Quốc hội và Chính phủ tiếp tục rà soát, hoàn thiện các cơ chế pháp lý để quản lý chặt chẽ hoạt động kinh doanh trên không gian mạng...
CẦN CÓ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG, NGẬP LỤT TẠI CÁC ĐÔ THỊ LỚNTại phiên họp, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định nhấn mạnh tình trạng ô nhiễm không khí kéo dài và ngày càng trầm trọng là vấn đề cử tri và nhân dân tại các thành phố lớn, đặc biệt là TP. Hà Nội đang lo lắng và mong muốn tình trạng này sớm được khắc phục triệt để.
Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định phát biểu. Ảnh: Quốc hội.Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Nguyễn Thanh Hải cho rằng môi trường, tình trạng ô nhiễm không khí và hạ tầng môi trường đang diễn biến bất thường. Mặc dù đã có các giải pháp lâu dài, nhưng trong ngắn hạn, ô nhiễm vẫn tăng đột biến. Vì vậy, đề nghị các cơ quan cần đánh giá nguyên nhân cụ thể của sự đột biến này để có giải pháp khắc phục ngay, đưa mức ô nhiễm xuống thấp hơn.
Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định cũng cho rằng dư luận và các nhà khoa học yêu cầu cần có đánh giá tổng thể để xác định rõ nguyên nhân tình trạng ngập lụt tại các đô thị và khu vực miền núi. Ngoài yếu tố mưa lớn, cần làm rõ các nguyên nhân chủ quan liên quan đến thủy điện, thủy lợi để có biện pháp khắc phục hiệu quả.
Trước tình hình thời tiết bất thường, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Hải nhấn mạnh cần nâng cao chất lượng dự báo, đặc biệt là dự báo lũ lụt tại miền Trung và miền núi phía Bắc để tránh bị động.
Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Hải phát biểu. Ảnh: Quốc hội.“Cần rà soát lại toàn bộ quy trình vận hành liên hồ chứa tại các địa phương và đổi mới phương thức cảnh báo sớm cho nhân dân. Trong điều kiện bão lũ, hệ thống viễn thông thường bị tê liệt, do đó không thể chỉ dựa vào điện thoại hay loa đài mà cần có các phương án tuyên truyền, chủ động từ sớm. Trách nhiệm của các chủ đầu tư hồ thủy điện, thủy lợi trong việc điều tiết cũng cần được làm rõ”, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Hải đề nghị.
Bên cạnh đó, theo Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Hải, trong quá trình triển khai các Chương trình mục tiêu quốc gia, đề nghị ưu tiên nguồn lực xây dựng hạ tầng phòng chống lũ tại các vùng xung yếu.
Cụ thể, cần khẩn trương xem xét quỹ đất tái định cư cho đồng bào miền núi tại các địa điểm an toàn, không có nguy cơ sạt lở; khảo sát tổng thể để quy hoạch lại dân cư miền núi gắn với sản xuất và các dịch vụ y tế, giáo dục nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu.
-Như Nguyệt
Thủ tướng yêu cầu đánh giá thận trọng đề xuất đầu tư kinh doanh đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam
Chiều ngày 23/12/2025, tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính chủ trì phiên họp Thường trực Chính phủ cho ý kiến rà soát, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đối với các dự án đầu tư, xây dựng tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng; dự án đường sắt tốc độ cao trục Bắc – Nam và các dự án đường sắt đô thị tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.
LƯU Ý LỰA CHỌN CÔNG NGHỆ CHO CÁC DỰ ÁN ĐƯỜNG SẮTPhát biểu chỉ đạo tại phiên họp, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh đến thời điểm này, Chính phủ và các bộ, ngành đã triển khai được khối lượng công việc lớn, từ hoàn thiện thể chế, xây dựng hệ thống luật, nghị định, nghị quyết của Quốc hội và Chính phủ, đến việc thúc đẩy triển khai các dự án đường sắt quan trọng. Thủ tướng ghi nhận Bộ Xây dựng đã tích cực triển khai các nhiệm vụ; Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành nhiều tiêu chuẩn, quy chuẩn cho dự án đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam.
Thủ tướng lưu ý việc lựa chọn công nghệ cho các dự án đường sắt, đặc biệt là đường sắt tốc độ cao, phải được xem xét trên nhiều yếu tố như kinh tế, chính trị, ngoại giao, an ninh – quốc phòng, khả năng chuyển giao công nghệ và vận hành. Trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Xây dựng cần tiếp tục rà soát, hoàn thiện bộ tiêu chuẩn, quy chuẩn để làm căn cứ lựa chọn công nghệ và phương thức đầu tư phù hợp, bảo đảm công khai, minh bạch, hài hòa lợi ích, phòng ngừa tiêu cực, tham nhũng.
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính phát biểu chỉ đạo tại Phiên họp. Ảnh: VGPĐối với tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng, Thủ tướng cho biết phía Trung Quốc đánh giá Việt Nam đang triển khai nhanh hơn từ 1,5–2 năm so với các dự án tương tự trong khu vực ASEAN. Với dự án thành phần 1 đã khởi công và tổng mức đầu tư hơn 2.000 tỷ đồng, Thủ tướng yêu cầu Bộ Xây dựng tập trung triển khai đúng và vượt tiến độ; đồng thời đẩy nhanh việc hoàn thiện hồ sơ tiền khả thi, chậm nhất hoàn thành trong tháng 3/2026, làm cơ sở ký kết Hiệp định nối ray Việt Nam – Trung Quốc.
Về nguồn vốn, Thủ tướng cho biết Chính phủ đã bố trí 16.000 tỷ đồng và dự kiến mỗi năm có thể bố trí, giải ngân khoảng 40.000–50.000 tỷ đồng từ các nguồn tiết kiệm chi và vốn đầu tư trung hạn. Về nhân lực, Thủ tướng yêu cầu xây dựng lộ trình đến cuối năm 2026 xác định đầy đủ nhu cầu nhân lực cho phát triển ngành đường sắt, bao gồm số lượng, trình độ và lĩnh vực chuyên môn.
Đồng thời, Thủ tướng nhấn mạnh yêu cầu xây dựng lộ trình nội địa hóa ngành công nghiệp đường sắt, trước mắt tại các dự án kết nối với Trung Quốc, thúc đẩy nội địa hóa đầu máy, toa xe, hệ thống điều khiển, đường ray và các hạng mục hạ tầng kỹ thuật.
Đối với dự án đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam, Thủ tướng yêu cầu Bộ Xây dựng khẩn trương hoàn thành lựa chọn tư vấn khảo sát trong tháng 1/2026; đánh giá đầy đủ các phương thức đầu tư, lựa chọn hình thức tối ưu, bảo đảm lợi ích cao nhất cho đất nước, tổ chức triển khai công khai, minh bạch.
Đối với các tuyến đường sắt đô thị tại Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh, Thủ tướng đề nghị hai thành phố thống nhất lựa chọn công nghệ có tiêu chuẩn, quy chuẩn liên thông, có khả năng dùng chung, từng bước nội địa hóa, chuyển giao công nghệ và hình thành chuỗi cung ứng cho doanh nghiệp trong nước.
TIẾN ĐỘ CÁC DỰ ÁN ĐƯỜNG SẮT TRỌNG ĐIỂMTrước đó, báo cáo tại cuộc họp, Bộ Xây dựng cho biết đối với dự án tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng, dự án thành phần 1 đầu tư hạ tầng và kết nối các ga đã được phê duyệt, trong đó 5 nhà ga đầu tiên đã được khởi công vào ngày 19/5/2025. Hiện nay, các đơn vị đang tiếp tục khảo sát, thiết kế 16 nhà ga còn lại, phấn đấu khởi công trong quý I/2026.
Đối với dự án thành phần 2, công tác khảo sát hiện trường, đánh giá nhu cầu vận tải, thu thập số liệu khí tượng, thủy văn, vật liệu và bãi thải đã cơ bản hoàn thành. Bộ Xây dựng đặt mục tiêu hoàn thành báo cáo nghiên cứu khả thi vào tháng 3/2026 để trình thẩm định, phê duyệt vào tháng 7/2026. Ban Quản lý dự án đường sắt hiện đang triển khai thiết kế kỹ thuật và chỉ định thầu tư vấn, bảo đảm hoàn thành thiết kế kỹ thuật trong tháng 1/2026.
Liên quan đến dự án đường sắt tốc độ cao trục Bắc – Nam, Bộ Xây dựng cho biết đến nay đã có 11/15 địa phương rà soát nhu cầu, xác định khu tái định cư. Tập đoàn Điện lực Việt Nam đã tiến hành kiểm đếm, lập phương án di dời các công trình điện; 12/15 địa phương đã có báo cáo đăng ký nhu cầu vốn ngân sách trung ương.
Về công tác lập báo cáo nghiên cứu khả thi, hiện các cơ quan đang thương thảo hợp đồng để ký kết trong tháng 12/2025. Các gói thầu tư vấn khác đã được phê duyệt nhiệm vụ, dự toán, đánh giá tác động môi trường và đang thực hiện các thủ tục lựa chọn nhà thầu, bảo đảm phù hợp tiến độ lập báo cáo nghiên cứu khả thi.
Bộ Xây dựng đã trình Chính phủ các cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt cho dự án, trong đó có đề xuất cho phép tách công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thành dự án độc lập. Bộ Khoa học và Công nghệ đã thẩm định, công bố 37 tiêu chuẩn về đường sắt tốc độ cao – là những tiêu chuẩn phổ biến, được nhiều quốc gia áp dụng.
Về công nghệ, dự án áp dụng công nghệ chạy trên ray, điện khí hóa, đảm bảo hiện đại, đồng bộ, hiệu quả; việc lựa chọn cụ thể về công nghệ, quy mô sẽ được xác định chi tiết trong quá trình lập báo cáo nghiên cứu khả thi.
Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh phát biểu tại Phiên họp. Ảnh: VGP.Tại cuộc họp, các đại biểu cũng cho biết hiện có một số nhà đầu tư đề xuất triển khai tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam theo hình thức đầu tư kinh doanh, song cần nghiên cứu kỹ lưỡng và xây dựng các cơ chế đặc thù, đặc biệt, đồng thời đánh giá đầy đủ tác động trước khi xem xét quyết định.
Đối với các dự án đường sắt đô thị, Hà Nội đang triển khai tuyến số 3 đoạn Hà Nội – Hoàng Mai, đồng thời lựa chọn tư vấn hỗ trợ kỹ thuật; Thủ tướng đã quyết định cho phép huy động vốn ODA và vay nước ngoài cho dự án. Tuyến số 5 Văn Cao – Hòa Lạc đã hoàn thành phê duyệt dự án thành phần 2 và khởi công, hiện đang tiếp tục triển khai các thủ tục giải phóng mặt bằng. Tuyến số 2 đoạn Nam Thăng Long – Trần Hưng Đạo đã khởi công từ tháng 10/2025 và đang được thành phố tổ chức thẩm định, điều chỉnh theo mô hình TOD. Riêng tuyến số 3 đoạn đi ngầm từ Cầu Giấy đến ga Hà Nội hiện đạt khoảng 72% khối lượng thi công.
Tại TP.Hồ Chí Minh, các cơ quan đang triển khai một số nhiệm vụ chuẩn bị cho 7 tuyến đường sắt đô thị, bao gồm xây dựng phương án tổng thể, kế hoạch đầu tư và chuẩn bị nguồn vốn. Dự án tuyến số 2 Bến Thành – Tham Lương đang được điều chỉnh và hoàn thiện các thủ tục để dự kiến khởi công vào ngày 19/1/2026.
Bộ Xây dựng cho biết đã tổ chức họp với hai thành phố để thống nhất định hướng, áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn cho đường sắt đô thị. Việc áp dụng các tiêu chuẩn này hiện không phát sinh vướng mắc trong quá trình triển khai.
Tại phiên họp, các đại biểu nhấn mạnh tính cấp thiết của việc xây dựng hệ thống quy chuẩn và tiêu chuẩn kỹ thuật đồng bộ; đảm bảo khả năng kết nối liên thông giữa các tuyến và đặt nền móng cho sự phát triển của ngành đường sắt.
Các ý kiến đề nghị đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng, huy động vốn ODA và đề xuất các cơ chế chính sách đặc thù để lựa chọn công nghệ hiện đại cũng như mô hình đầu tư hiệu quả.
-Minh Kiệt
Nhận diện “điểm nghẽn” đầu tư công để khơi thông nguồn lực
Dự kiến giai đoạn 2026 - 2030, tổng chi đầu tư phát triển của Việt Nam có thể đạt mức kỷ lục 8,5 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, giới chuyên gia cho rằng nếu không quyết liệt xử lý các nút thắt mang tính “hệ thống” về thể chế và nguồn cung vật liệu, hiệu quả lan tỏa của dòng vốn khổng lồ này sẽ bị kìm hãm, đe dọa trực tiếp đến mục tiêu tăng trưởng kinh tế.
THÁO GỠ NÚT THẮT CĂN CƠTại tọa đàm “Đầu tư công - Gỡ nút thắt để bứt phá tăng trưởng năm 2026”, do Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp phối hợp với Hiệp hội Công nghiệp khoáng sản TP. Hồ Chí Minh tổ chức ngày 23/12, ông Võ Tân Thành, Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), cho biết với mục tiêu hoàn thành 5.000 km đường cao tốc vào năm 2030, cùng hàng loạt dự án trọng điểm như đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam, các cảng hàng không quốc tế và metro, quy mô vốn đầu tư công sẽ được mở rộng mạnh mẽ chưa từng có.
Tuy nhiên, ông Thành cho rằng từ thực tiễn giai đoạn 2021 - 2025, những thách thức về tiến độ và hiệu quả sử dụng vốn không chỉ xuất hiện ở vài dự án cá biệt mà đã trở thành những nút thắt mang tính hệ thống. Đó là những hạn chế trong thiết kế thể chế, cơ chế phối hợp và năng lực thực thi lặp đi lặp lại ở nhiều cấp, nhiều ngành.
“Các nút thắt này khiến dự án chậm tiến độ, đội vốn và làm giảm hiệu quả lan tỏa đối với nền kinh tế. Nếu không được tháo gỡ căn cơ, tình trạng này sẽ tái diễn trong giai đoạn 2026 - 2030. Trong đó, điểm nghẽn về nguồn cung và giá vật liệu xây dựng; đặc biệt là cát, đá, vật liệu san lấp tác động trực tiếp đến tiến độ hạ tầng trọng điểm,” Phó Chủ tịch VCCI nhận định.
Ông Võ Tân Thành, Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phát biểu tại tọa đàm.Đồng quan điểm, TS. Đỗ Thiên Anh Tuấn cho biết đầu tư công không đơn thuần là công cụ kích cầu ngắn hạn mà là đòn bẩy năng lực cạnh tranh quốc gia.
Dẫn chứng nghiên cứu giai đoạn 2010 - 2024, ông Tuấn chỉ ra cứ 1% GDP vốn đầu tư công tăng thêm sẽ đóng góp 0,2% vào tăng trưởng GDP năm đầu và tạo hiệu ứng lan tỏa tới 0,85% trong 4 năm tiếp theo.
“Đầu tư công không chỉ đơn thuần là một công cụ để kích thích tổng cầu trong ngắn hạn mà quan trọng hơn, đây chính là đòn bẩy để cải thiện năng suất và năng lực cạnh tranh dài hạn cho quốc gia. Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế ít nhất 10% từ năm 2026 trở đi, sự phụ thuộc vào tăng trưởng đầu tư công là rất lớn”, ông Tuấn nhận định.
Mặt khác, theo ông Võ Minh Đức, Phó Chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp Khoáng sản TP. Hồ Chí Minh, sự thiếu hụt trầm trọng nguồn cung đã đẩy giá cả leo thang, đẩy nhà thầu vào thế khó.
Ông Đức phân tích gốc rễ vấn đề nằm ở tư duy quy hoạch. Trong khi các vật liệu như xi măng, gạch, kính có quy hoạch quốc gia rõ ràng, thì các vật liệu thiết yếu cho hạ tầng như đất, cát, đá lại nằm trong “khoảng trống quản lý”.
“Không có cơ quan nào thực sự nắm vai trò điều tiết tổng thể nhu cầu vật liệu thông thường cho các công trình quốc gia. Điều này dẫn đến sự lệch pha nghiêm trọng. Quy hoạch cho phép trữ lượng hàng tỷ mét khối, nhưng để đưa vào khai thác lại là hành trình gian nan do giấy phép cũ hạn chế độ sâu, thời hạn ngắn,” ông Đức chia sẻ.
Thêm vào đó, tâm lý “giữ an toàn” của các sở ngành địa phương khiến thủ tục cấp phép, nâng công suất bị trì hoãn. Ngay tại đô thị đặc biệt như TP. Hồ Chí Minh, dù nhu cầu đá xây dựng năm 2026 dự kiến lên tới 26 triệu m3, cơ chế liên kết vùng để điều tiết nguồn cung vẫn chưa rõ ràng.
CẦN NHỮNG CÁCH TIẾP CẬN MỚI ĐỂ BỨT PHÁĐể hiện thực hóa khát vọng bứt phá đầu tư công, TS. Đỗ Thiên Anh Tuấn kiến nghị chuyển trọng tâm từ việc chỉ ưu tiên tỷ lệ giải ngân (như một KPI duy nhất) sang đánh giá hiệu quả kinh tế thực chất suốt vòng đời dự án.
“Cơ quan quản lý cần chú trọng vào giá trị hiện tại ròng của dự án, đảm bảo quyết định đầu tư dựa trên tính toán khoa học thay vì cảm tính. Đặc biệt, khâu kiểm toán và đánh giá sau dự án vốn đang là điểm yếu cần được thiết lập chặt chẽ để rút kinh nghiệm cho các chu kỳ sau,” ông Tuấn nhấn mạnh.
Bên cạnh đó, ông Tuấn đề xuất các giải pháp kỹ thuật như: nâng cao chất lượng chuẩn bị dự án để giảm độ trễ hành chính; điều hành vốn linh hoạt (cho phép tái phân bổ từ dự án chậm sang dự án tốt); dứt khoát trong giải phóng mặt bằng.
Tọa đàm “Đầu tư công - Gỡ nút thắt để bứt phá tăng trưởng năm 2026” ngày 23/12.Đối với nút thắt vật liệu xây dựng, ông Võ Minh Đức đưa ra kiến nghị công tác chuẩn bị nguồn vật liệu nên được thực hiện song song với giải phóng mặt bằng ngay từ khi phê duyệt chủ trương đầu tư, thay vì tình trạng “nước đến chân mới nhảy” như hiện nay.
Phó Chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp Khoáng sản TP. Hồ Chí Minh kiến nghị Bộ Xây dựng cần đóng vai trò là đầu mối chỉ đạo và điều tiết nhu cầu vật liệu liên vùng để tránh cục bộ địa phương.
Các địa phương cũng cần lập quy hoạch nhu cầu vật liệu phù hợp với quy hoạch khoáng sản, cho phép các mỏ hiện hữu được linh hoạt nâng công suất và tăng độ sâu khai thác dựa trên nhu cầu thực tế của thị trường thay vì áp đặt các định mức cứng nhắc.
Ông Đức cũng kỳ vọng vào sự thay đổi của Luật Địa chất và Khoáng sản năm 2024 trong việc phân cấp cho chính quyền địa phương phê duyệt các khu vực không đấu giá quyền khai thác. Đây là mấu chốt để giải quyết bài toán cho các mỏ đang hoạt động muốn mở rộng hoặc xuống sâu mà không phải trải qua quy trình đấu giá phức tạp, vốn thường gây ra xung đột về quyền lợi đất đai và máy móc thiết bị giữa doanh nghiệp cũ và mới.
Đồng thời, cần mạnh dạn chuyển từ tư duy “tiền kiểm” sang “hậu kiểm” trong quản lý đầu tư để giảm bớt các thủ tục hành chính rườm rà cho doanh nghiệp.
-Thanh Thủy
Thông báo Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII
Thực hiện Chương trình làm việc toàn khóa, Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII họp từ ngày 22/12 đến ngày 23/12/2025 tại Thủ đô Hà Nội. Đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm chủ trì và có bài phát biểu quan trọng khai mạc, bế mạc Hội nghị.
1. Về công tác nhân sự Đại hội XIV của Đảng
Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã thống nhất thông qua Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII trình Đại hội XIV của Đảng về công tác nhân sự Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và biểu quyết thông qua với số phiếu tập trung cao nhân sự giới thiệu tham gia Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, giới thiệu nhân sự tham gia Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước khóa XIV, nhiệm kỳ 2026 - 2031 để trình Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng xem xét, quyết định và tổ chức bầu cử theo điều lệ và quy định của Đảng.
2. Về dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng
- Dự thảo Báo cáo chính trị
Đây là lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng cho ý kiến đối với dự thảo các văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Đa số các ý kiến thống nhất cao và cho rằng, các dự thảo văn kiện lần này được chuẩn bị kỹ lưỡng, công phu, nghiêm túc, khoa học; Bộ Chính trị đã quan tâm chỉ đạo sâu sát, cầu thị, tiếp thu chắt lọc ý kiến góp ý của Trung ương, đại hội đảng bộ các cấp, đại biểu Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, cán bộ, đảng viên và Nhân dân để hoàn thiện; nội dung ngắn gọn, cô đọng nhưng mang tính toàn diện, hành động, thực tế cao; thể hiện được những điểm nổi bật, những quan điểm, chủ trương mới của Trung ương, Bộ Chính trị, làm rõ những hạn chế, yếu kém, thể hiện được bản lĩnh, ý chí của Đảng, khát vọng của dân tộc.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng thống nhất đánh giá dự thảo Báo cáo phản ánh trung thực, khách quan, toàn diện những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, mang tính thời đại của công cuộc đổi mới và tập trung thảo luận một số nội dung cơ bản, quan trọng như: Bối cảnh thế giới, khu vực và trong nước tác động đến Việt Nam qua 40 năm đổi mới; sự phát triển nhận thức lý luận của Đảng qua 40 năm đổi mới; những thành tựu, hạn chế và bài học kinh nghiệm được đúc kết trong thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội Việt Nam; dự báo tình hình, quan điểm và các định hướng giải pháp tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới…
- Dự thảo Báo cáo tổng kết 15 năm thi hành Điều lệ Đảng và đề xuất, định hướng bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng
Ban Chấp hành Trung ương Đảng thống nhất cao; đồng thời đã tập trung thảo luận, đánh giá các nội dung nêu trong dự thảo Báo cáo như: công tác quán triệt, cụ thể hóa, kiểm tra, giám sát việc thi hành Điều lệ Đảng, các quy định, hướng dẫn của Trung ương về thi hành Điều lệ Đảng; kết quả, nhận định, đánh giá việc thi hành các nội dung của Điều lệ Đảng và các quy định, hướng dẫn cụ thể về thi hành Điều lệ Đảng; ưu điểm, hạn chế, vướng mắc, bất cập và nguyên nhân trong quá trình thi hành Điều lệ Đảng; quan điểm, nguyên tắc bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng…
Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhất trí thông qua dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng; giao Bộ Chính trị căn cứ ý kiến thảo luận của Trung ương chỉ đạo tiếp thu và hoàn thiện các văn kiện để trình Đại hội XIV của Đảng.
3. Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã xem xét, cho ý kiến dự thảo Quy chế làm việc của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và Quy chế bầu cử tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; dự thảo Báo cáo tổng kết công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng; chủ trương xây dựng Đề án tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam (1930 - 2030); chủ trương xây dựng Đề án tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; Báo cáo về những công việc quan trọng Bộ Chính trị đã giải quyết từ sau Hội nghị Trung ương 14 đến Hội nghị Trung ương 15 khóa XIII và một số nhiệm vụ trọng tâm đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; Báo cáo về công tác chuẩn bị tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; Báo cáo tổng kết công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng năm 2025 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2026; Báo cáo tình hình đất nước năm 2025; Báo cáo tổng kết công tác tài chính đảng nhiệm kỳ 2021 - 2026.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng giao Bộ Chính trị căn cứ ý kiến của Trung ương chỉ đạo tiếp thu, hoàn thiện các dự thảo Quy chế để trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; hoàn thiện, ban hành các báo cáo.
-Tuấn Khang
Bế mạc Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII
Phát biểu bế mạc Hội nghị, thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Tổng Bí thư Tô Lâm bày tỏ cảm ơn các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng đã thể hiện sự tâm huyết, dân chủ, thẳng thắn, trung thực, cách mạng, khoa học với tinh thần trách nhiệm của người đảng viên trước Đảng, nhân dân và đất nước.
Tổng Bí thư nêu rõ Ban Chấp hành Trung ương Đảng thống nhất đánh giá, lịch sử gần 100 năm Đảng Cộng sản Việt Nam Lãnh đạo Cách mạng Việt Nam đã đạt được những thành tựu vĩ đại, có ý nghĩa lịch sử to lớn.
Thực hiện Cương lĩnh năm 1991 và Cương lĩnh sửa đổi, bổ sung năm 2011 hoàn chỉnh thời kỳ quá độ tiến lên Chủ nghĩa xã hội đã khẳng định đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo, phù hợp; con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội của đất nước ta là nhu cầu thực tiễn Việt Nam và xu thế thời đại. 40 năm đổi mới, trong đó có những đóng góp nổi bật của nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, là kết quả của cả một quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục, quyết liệt, là sản phẩm kết tinh của tinh thần, ý chí dân tộc, của Đảng, Nhà nước, nhân dân.
Qua đó đã đúc kết được những bài học quý báu mang tầm lý luận cao, có giá trị định hướng thực tiễn cho sự nghiệp Cách mạng của dân tộc ta trong kỷ nguyên mới.
Trong suốt nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, bối cảnh tình hình thế giới, khu vực liên tục chuyển động với tốc độ cao, có nhiều yếu tố bất định, tạo ra nhiều khó khăn, thách thức mà chúng ta phải đối mặt. Dịch bệnh, thiên tai, bão lũ, biến đổi khí hậu cùng một số khó khăn về địa chính trị, địa kinh tế và một số vấn đề kinh tế- xã hội khác dồn dập xảy ra.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã đoàn kết một lòng, kiên định, tự chủ, sáng tạo với quyết tâm và nỗ lực đặc biệt lớn, ban hành nhiều chủ trương, chính sách, quyết sách chiến lược mang tầm đương đại, đột phá để lãnh đạo nhân dân cả nước hoàn thành toàn bộ các mục tiêu, chỉ tiêu, yêu cầu, chương trình, kế hoạch mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra. Tạo ra tiềm năng mới, động năng mới, không gian phát triển mới cho đất nước trong kỷ nguyên mới.
Tổng Bí thư nhấn mạnh Ban Chấp hành Trung ương Đảng xác định trong giai đoạn cách mạng mới, cần tập trung thực hiện 3 đột phá chiến lược: Đột phá mạnh mẽ về thể chế phát triển; đẩy mạnh phân cấp phân quyền; thúc đẩy đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; phát triển năng lực sản xuất mới, các mô hình, phương thức sản xuất kinh doanh mới.
Bên cạnh đó, tập trung chuyển đổi cơ cấu, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao, trọng dụng nhân tài; đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám hy sinh vì lợi chung.
Đồng thời, tiếp tục hoàn thiện đồng bộ và đột phá mạnh mẽ trong xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội nhất là hạ tầng giao thông, hạ tầng công nghệ và hạ tầng năng lượng; đồng thời nỗ lực thực hiện những nhiệm vụ chủ yếu với các trọng tâm.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã thống nhất thông qua báo cáo về công tác nhân sự của Đảng để báo cáo Đại hội lần thứ XIV của Đảng và biểu quyết thông qua với số phiếu tập trung cao nhân sự giới thiệu tham gia Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV (cả chính thức và dự khuyết), giới thiệu nhân sự tham gia Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước nhiệm kỳ 2026-2031 để trình Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ lần thứ XIV của Đảng xem xét, quyết định và tổ chức bầu cử theo điều lệ và quy định của Đảng.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã thảo luận kỹ nội dung các công việc chuẩn bị và tổ chức thành công Đại hội XIV của Đảng. Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã giao Bộ Chính trị tiếp tục hoàn thiện các công việc chuẩn bị tốt nhất phục vụ tổ chức thành công Đại hội XIV của Đảng.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng là một sự kiện chính trị trọng đại của Đảng và dân tộc ta, là một dấu mốc lịch sử của đất nước trong thời đại Hồ Chí Minh, đánh dấu sự hội tụ truyền thống ngàn năm Văn hiến của dân tộc để vươn mình trong kỷ nguyên mới. Cán bộ, Đảng viên và nhân dân đang rất quan tâm, theo dõi, mong chờ và đặt nhiều kỳ vọng vào sự thành công của Đại hội.
Tổng Bí thư đề nghị các đồng chí Trung ương và toàn thể Đảng viên trong toàn Đảng tiếp tục phát huy tinh thần, trách nhiệm đảng viên, nghiêm túc thực hiện và lãnh đạo tổ chức thực hiện thật tốt Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 15; tập trung làm tốt công việc thường xuyên, khẩn trương thực hiện những nhiệm vụ còn lại của công tác tổ chức để Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng thành công tốt đẹp đúng như chương trình, kế hoạch đề ra.
Thay mặt các đồng chí được tín nhiệm giới thiệu đề cử Ban Chấp hành Trung ương Đảng và các chức danh lãnh đạo khóa tới để Đại hội XIV của Đảng xem xét quyết định, Tổng Bí thư bày tỏ cảm ơn các đồng chí Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã tin tưởng giao nhiệm vụ; khẳng định tiếp tục đoàn kết, thống nhất làm việc với tinh thần trách nhiệm và hiệu quả cao, đáp ứng sự tin cậy của Đảng và nhân dân.
Nhân dịp chuẩn bị đón năm mới 2026, Tổng Bí thư yêu cầu các đồng chí Trung ương tập trung lãnh đạo, chỉ đạo công tác tổng kết năm 2025 với hướng gọn nhẹ, thực chất, tiết kiệm, hiệu quả, không tạo áp lực cho các cấp cơ sở; triển khai các mặt công tác thiết thực để nhân dân đón năm mới 2026 thật vui tươi, an toàn, lành mạnh, hạnh phúc; bắt tay ngay vào những công việc của năm 2026 và nhiệm vụ công tác nhiệm kỳ 2026-2031 của đơn vị, địa phương.
-Tuấn Dũng
Phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm bế mạc Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII
Kính thưa các đồng chí Ủy viên Bộ Chính Trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng,
Thưa các đồng chí đại biểu tham dự hội nghị.
Sau 2 ngày làm việc khẩn trương, Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã hoàn thành toàn bộ nội dung, chương trình đề ra với sự đoàn kết, thống nhất cao, chất lượng tốt. Thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư tôi xin cảm ơn các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng đã thể hiện sự tâm huyết, dân chủ, thẳng thắn, trung thực, cách mạng, khoa học với tinh thần trách nhiệm của người đảng viên trước Đảng, nhân dân và đất nước.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng thống nhất đánh giá: Lịch sử gần 100 năm Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Cách mạng Việt Nam đã đạt được những thành tựu vĩ đại, có ý nghĩa lịch sử to lớn. Thực hiện Cương lĩnh năm 1991 và Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011, hoàn chỉnh thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội đã khẳng định đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo, phù hợp; con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của đất nước ta là nhu cầu thực tiễn Việt Nam và xu thế thời đại.
40 năm đổi mới, trong đó có những đóng góp nổi bật của nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, là kết quả của cả một quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục, quyết liệt, là sản phẩm kết tinh của tinh thần, ý chí dân tộc với Đảng, Nhà nước, Nhân dân. Qua đó chúng ta đã đúc kết được những bài học quý báu mang tầm lý luận cao, có giá trị định hướng thực tiễn cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta trong kỷ nguyên mới.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng cảm ơn sự đồng hành, đồng thuận và đóng góp ý kiến của đảng viên, cán bộ, chiến sĩ và nhân dân về những chủ trương, chính sách, nghị quyết của Đảng.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhận thấy: Trong suốt nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, bối cảnh tình hình thế giới, khu vực liên tục chuyển động với tốc độ cao, có nhiều yếu tố bất định, tạo ra nhiều khó khăn, thách thức mà chúng ta phải đối mặt. Dịch bệnh, thiên tai, bão lũ, biến đổi khí hậu cùng một số khó khăn về địa chính trị, địa kinh tế và một số vấn đề kinh tế-xã hội khác dồn dập xảy ra. Nhưng Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã đoàn kết một lòng, kiên định, tự chủ, sáng tạo với quyết tâm và nỗ lực đặc biệt lớn, ban hành nhiều chủ trương, chính sách, quyết sách chiến lược mang tầm đương đại, đột phá để lãnh đạo nhân dân cả nước hoàn thành toàn bộ các mục tiêu, chỉ tiêu, yêu cầu, chương trình, kế hoạch mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra; tạo ra tiềm năng mới, động năng mới, không gian phát triển mới cho đất nước trong kỷ nguyên mới. Trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng phải giữ vững tinh thần tự chủ chiến lược, tự lực, tự cường của đất nước.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã thảo luận sôi nổi, kỹ lưỡng và nhất trí thông qua Dự thảo Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng, đặc biệt là Báo cáo chính trị và Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng xác định trong giai đoạn cách mạng mới, chúng ta cần tập trung thực hiện 3 đột phá chiến lược, đó là: (1) Đột phá mạnh mẽ về thể chế phát triển; đẩy mạnh phân cấp phân quyền; thúc đẩy đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; phát triển năng lực sản xuất mới, các mô hình, phương thức sản xuất kinh doanh mới. (2) Tập trung chuyển đổi cơ cấu, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao, trọng dụng nhân tài; đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám hy sinh vì lợi chung. (3) Tiếp tục hoàn thiện đồng bộ và đột phá mạnh mẽ trong xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội nhất là hạ tầng giao thông, hạ tầng công nghệ và hạ tầng năng lượng.
Đồng thời nỗ lực thực hiện những nhiệm vụ chủ yếu với 6 trọng tâm: (1) Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. (2) Xây dựng đồng bộ thể chế phát triển, trọng tâm là hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách. (3) Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; nâng cao hiệu quả khu vực kinh tế nhà nước, phát triển khu vực kinh tế tư nhân; xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. (4) Tập trung triển khai đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tạo nền tảng cho phát triển lực lượng sản xuất mới hiện đại, phương thức sản xuất mới hiệu quả. (5) Phát triển nguồn lực con người, phát triển văn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực to lớn cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước. (6) Tăng cường quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; đẩy mạnh triển khai chiến lược đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã thống nhất thông qua Báo cáo về công tác nhân sự của Đảng để báo cáo Đại hội lần thứ XIV của Đảng và biểu quyết thông qua với số phiếu tập trung cao nhân sự giới thiệu tham gia Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV, giới thiệu nhân sự tham gia Bộ Chính trị, Ban Bí thư, lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước nhiệm kỳ 2026-2031 để trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng xem xét, quyết định và tổ chức bầu cử theo Điều lệ và quy định của Đảng.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã thảo luận kỹ nội dung các công việc chuẩn bị và tổ chức thành công Đại hội XIV của Đảng: Quy chế làm việc của Đại hội, Quy chế bầu cử trong Đảng; Báo cáo về công tác kiểm tra giám sát của Đảng trong nhiệm kỳ XIII và đã thông qua dự kiến danh sách Đoàn Chủ tịch, Đoàn Thư ký, Ban Thẩm tra tư cách đại biểu Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Ban Kiểm phiếu Đại hội XIV của Đảng; nhất trí với các tờ trình, các báo cáo mà Bộ Chính trị, Ban Bí thư trình ra Hội nghị Trung ương lần thứ 15.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã giao Bộ Chính trị tiếp tục hoàn thiện các công việc chuẩn bị tốt nhất phục vụ tổ chức thành công Đại hội XIV của Đảng.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng hoan nghênh và biểu dương thành viên các tiểu ban Đại hội XIV của Đảng đã rất nỗ lực, cố gắng, khắc phục khó khăn, hoàn thành các nhiệm vụ được giao đúng thời hạn, bảo đảm chất lượng. Đề nghị các đồng chí tiếp tục nỗ lực hơn nữa hoàn thành các công việc từ nay tới khi tổ chức thành công Đại hội XIV của Đảng.
Thưa các đồng chí,
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng là một sự kiện chính trị trọng đại của Đảng và dân tộc ta, là một dấu mốc lịch sử của đất nước trong thời đại Hồ Chí Minh, đánh dấu sự hội tụ truyền thống ngàn năm văn hiến của dân tộc để vươn mình trong kỷ nguyên mới. Cán bộ, đảng viên và nhân dân đang rất quan tâm, theo dõi, mong chờ và đặt nhiều kỳ vọng vào sự thành công của Đại hội.
Tôi đề nghị các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng và toàn thể đảng viên trong toàn Đảng tiếp tục phát huy tinh thần, trách nhiệm đảng viên, nghiêm túc thực hiện và lãnh đạo tổ chức thực hiện thật tốt Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 15; tập trung làm tốt công việc thường xuyên, khẩn trương thực hiện những nhiệm vụ còn lại của công tác tổ chức để Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng thành công tốt đẹp đúng như chương trình, kế hoạch đề ra.
Thay mặt các đồng chí được tín nhiệm giới thiệu đề cử Ban Chấp hành Trung ương Đảng và các chức danh lãnh đạo khóa tới để Đại hội XIV của Đảng xem xét quyết định, chúng tôi xin cảm ơn các đồng chí Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã tin tưởng giao nhiệm vụ. Chúng tôi tiếp tục đoàn kết, thống nhất làm việc với tinh thần trách nhiệm và hiệu quả cao, đáp ứng sự tin cậy của Đảng và nhân dân.
Với tinh thần đó tôi tuyên bố bế mạc Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII.
Nhân dịp chuẩn bị đón năm mới 2026, tôi xin chúc các đồng chí và gia đình mạnh khỏe, hạnh phúc và mọi điều tốt đẹp. Đồng thời yêu cầu các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo công tác tổng kết năm 2025 với hướng gọn nhẹ, thực chất, tiết kiệm, hiệu quả, không tạo áp lực cho các cấp cơ sở; triển khai các mặt công tác thiết thực để nhân dân đón năm mới 2026 thật vui tươi, an toàn, lành mạnh, hạnh phúc; bắt tay ngay vào những công việc của năm 2026 và nhiệm vụ công tác nhiệm kỳ 2026-2031 của đơn vị, địa phương các đồng chí.
Xin trân trọng cảm ơn.
-
Cả nước có 182 đơn vị bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI
Theo Nghị quyết này, tổng số đơn vị bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI trong cả nước là 182, tổng số đại biểu Quốc hội được bầu là 500 người.
Số đơn vị bầu cử, danh sách các đơn vị bầu cử và số lượng đại biểu Quốc hội được bầu ở mỗi đơn vị bầu cử của các tỉnh, thành phố được ấn định cụ thể.
Theo đó, thành phố Hà Nội có 11 đơn vị bầu cử, số đại biểu Quốc hội được bầu là 32 người; Thành phố Hồ Chí Minh có 13 đơn vị bầu cử, số đại biểu Quốc hội được bầu là 38 người;
Thành phố Hải Phòng có 7 đơn vị bầu cử, số đại biểu Quốc hội được bầu là 19 người; Thành phố Đà Nẵng có 5 đơn vị bầu cử, số đại biểu Quốc hội được bầu là 14 người; Thành phố Cần Thơ có 6 đơn vị bầu cử, số đại biểu Quốc hội được bầu là 18 người; Thành phố Huế có 4 đơn vị bầu cử, số đại biểu Quốc hội được bầu là 9 người;
Tỉnh An Giang có 7 đơn vị bầu cử, số đại biểu Quốc hội được bầu là 21 người; Tỉnh Bắc Ninh có 6 đơn vị bầu cử, số đại biểu Quốc hội được bầu là 16 người; Tỉnh Cà Mau có 5 đơn vị bầu cử, số đại biểu Quốc hội được bầu là 13 người; Tỉnh Cao Bằng có 3 đơn vị bầu cử, số đại biểu Quốc hội được bầu là 7 người; Tỉnh Đắk Lắk có 5 đơn vị bầu cử, số đại biểu Quốc hội được bầu là 15 người;
Tỉnh Điện Biên có 3 đơn vị bầu cử, số đại biểu Quốc hội được bầu là 7 người; Tỉnh Đồng Nai có 6 đơn vị bầu cử, số đại biểu Quốc hội được bầu là 18 người; Tỉnh Đồng Tháp có 6 đơn vị bầu cử, số đại biểu Quốc hội được bầu là 18 người; Tỉnh Gia Lai có 6 đơn vị bầu cử, số đại biểu Quốc hội được bầu là 16 người; Tỉnh Hà Tĩnh có 3 đơn vị bầu cử, số đại biểu Quốc hội được bầu là 9 người;
Tỉnh Hưng Yên có 6 đơn vị bầu cử, số đại biểu Quốc hội được bầu là 16 người; Tỉnh Khánh Hòa có 4 đơn vị bầu cử, số đại biểu Quốc hội được bầu là12 người; Tỉnh Lai Châu có 3 đơn vị bầu cử, số đại biểu Quốc hội được bầu là 7 người; Tỉnh Lạng Sơn có 3 đơn vị bầu cử, số đại biểu Quốc hội được bầu là 7 người; Tỉnh Lào Cai có 4 đơn vị bầu cử, số đại biểu Quốc hội được bầu là 10 người;
Tỉnh Lâm Đồng có 6 đơn vị bầu cử, số đại biểu Quốc hội được bầu là 17 người; Tỉnh Ninh Bình có 8 đơn vị bầu cử, số đại biểu Quốc hội được bầu là 19 người; Tỉnh Nghệ An có 6 đơn vị bầu cử, số đại biểu Quốc hội được bầu là 16 người; Tỉnh Phú Thọ có 6 đơn vị bầu cử, số đại biểu Quốc hội được bầu là 17 người;
Tỉnh Quảng Ninh có 3 đơn vị bầu cử, số đại biểu Quốc hội được bầu là 9 người; Tỉnh Quảng Ngãi có 4 đơn vị bầu cử, số đại biểu Quốc hội được bầu là 11 người; Tỉnh Quảng Trị có 4 đơn vị bầu cử, số đại biểu Quốc hội được bầu là 10 người; Tỉnh Sơn La có 3 đơn vị bầu cử, số đại biểu Quốc hội được bầu là 9 người; Tỉnh Tây Ninh có 5 đơn vị bầu cử, số đại biểu Quốc hội được bầu là 15 người;
Tỉnh Thái Nguyên có 5 đơn vị bầu cử, số đại biểu Quốc hội được bầu là 10 người; Tỉnh Thanh Hóa có 6 đơn vị bầu cử, số đại biểu Quốc hội được bầu là 17 người; Tỉnh Tuyên Quang có 4 đơn vị bầu cử, số đại biểu Quốc hội được bầu là 10 người; Tỉnh Vĩnh Long có 6 đơn vị bầu cử, số đại biểu Quốc hội được bầu là 18 người.
Hội đồng bầu cử quốc gia, Ủy ban bầu cử tỉnh, thành phố căn cứ vào Nghị quyết này sớm triển khai công tác bầu cử theo đúng luật định.
-Đỗ Như
Thủ tướng: Đại hội Thi đua yêu nước phải là nơi hội tụ, lan tỏa tinh thần yêu nước
Chiều 22/12, tại trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Chủ tịch Hội đồng Thi đua – Khen thưởng Trung ương, chủ trì phiên họp lần thứ 16 của Hội đồng nhiệm kỳ 2021-2025, tiếp tục rà soát công tác chuẩn bị cho Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ XI, dự kiến tổ chức trong hai ngày 26-27/12.
Thủ tướng nêu rõ tinh thần tổ chức Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ XI phải đảm bảo trang trọng, nghiêm túc, vui tươi, lành mạnh, đặc sắc, có tính lan tỏa cao, bền vững, an toàn - Ảnh: VGPTại phiên họp, Hội đồng Thi đua – Khen thưởng Trung ương rà soát tổng thể các nhiệm vụ, phần việc chuẩn bị cho Đại hội; đồng thời xem xét, cho chủ trương về việc xét tặng danh hiệu “Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân”, “Anh hùng Lao động” đối với các tập thể, cá nhân tiêu biểu để tôn vinh tại Đại hội.
Hội đồng đánh giá, đến nay công tác chuẩn bị tổ chức Đại hội về cơ bản được triển khai đúng kế hoạch, bảo đảm tiến độ và yêu cầu đề ra. Các nội dung trọng tâm như báo cáo tổng kết phong trào thi đua và công tác khen thưởng giai đoạn 2021-2025, phương hướng, nhiệm vụ giai đoạn 2026-2030 được hoàn thiện theo lộ trình.
Kịch bản chương trình Đại hội, nhất là chương trình giao lưu các điển hình tiên tiến, hoạt động tôn vinh Anh hùng Lao động, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Chiến sĩ thi đua toàn quốc được chuẩn bị công phu. Công tác tuyên truyền, hậu cần, an ninh, phương án bố trí ăn ở, đi lại cho đại biểu được triển khai đồng bộ.
Phát biểu kết luận, Thủ tướng Phạm Minh Chính đánh giá cao sự chủ động, nỗ lực của Ban Tổ chức Đại hội, các Tiểu ban và các cơ quan liên quan, đặc biệt là Bộ Nội vụ – cơ quan thường trực của Hội đồng Thi đua – Khen thưởng Trung ương và Ban Tổ chức Đại hội – trong việc tập trung thực hiện các nhiệm vụ được giao.
Thủ tướng nhấn mạnh Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ XI phải được tổ chức trang trọng, nghiêm túc, đồng thời bảo đảm không khí vui tươi, lành mạnh, đặc sắc, có sức lan tỏa cao, bền vững và an toàn; tạo động lực, truyền cảm hứng, cổ vũ mạnh mẽ các phong trào thi đua trong giai đoạn mới.
Theo Thủ tướng, đây là sự kiện chính trị quan trọng, có ý nghĩa tổng kết chặng đường thi đua 5 năm qua – một giai đoạn nhiều khó khăn, thách thức, phát sinh những vấn đề mới. Vì vậy, các báo cáo trình Đại hội phải phản ánh đúng bản chất phong trào thi đua, hướng tới mục tiêu cuối cùng là mang lại lợi ích thiết thực cho đất nước và nhân dân; đồng thời thể hiện các giá trị cốt lõi, truyền thống lịch sử và bản sắc văn hóa của dân tộc.
Việc tổng kết phong trào thi đua cần bảo đảm tính tổng thể, toàn diện, cân bằng giữa các ngành, lĩnh vực, vùng, miền, các thành phần, dân tộc, tôn giáo; làm rõ bức tranh chung về phong trào thi đua trên phạm vi cả nước, gắn với những kết quả cụ thể mà người dân được thụ hưởng.
Thủ tướng cho rằng Đại hội là dịp tôn vinh các điển hình tiên tiến, qua đó lan tỏa tinh thần yêu nước, ý chí vươn lên, khát vọng cống hiến; khơi dậy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, mở ra giai đoạn thi đua mới, thúc đẩy đất nước phát triển bền vững.
Thủ tướng yêu cầu các hoạt động trong khuôn khổ Đại hội, từ chương trình nghệ thuật đến các hoạt động triển lãm, văn hóa, phải thể hiện rõ khí thế thi đua ở từng lĩnh vực.
Trong thời gian chuẩn bị còn lại không nhiều, Thủ tướng đề nghị Ban Tổ chức tiếp tục rà soát kỹ lưỡng các phần việc; lưu ý Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Thông tấn xã Việt Nam khẩn trương triển khai trang trí, khánh tiết tại Trung tâm Hội nghị quốc gia; tổ chức trưng bày, triển lãm thành tựu kinh tế – xã hội sau 40 năm đổi mới, bảo đảm tiến độ, chất lượng.
Cùng với đó, các cơ quan báo chí, truyền thông tăng cường tuyên truyền về Đại hội, làm nổi bật giá trị phong trào thi đua và công tác khen thưởng. Thủ tướng đề nghị các thành viên Hội đồng, Ban Tổ chức, các Tiểu ban và cơ quan thường trực tiếp tục chỉ đạo sát sao, kiểm tra, đôn đốc thường xuyên, góp phần tổ chức thành công Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ XI.
-Dũng Hiếu
Thông cáo báo chí ngày làm việc thứ nhất Hội nghị Trung ương 15, khóa XIII
1. Buổi sáng, Ban Chấp hành Trung ương Đảng làm việc tại Hội trường. Đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu khai mạc và chủ trì Hội nghị. Đồng chí Lương Cường, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước thay mặt Bộ Chính trị điều hành Hội nghị.
Sau phần khai mạc, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp riêng, cho ý kiến hoàn thiện Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về công tác nhân sự Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV để trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và Hội nghị Trung ương lần thứ nhất khóa XIV quyết định, tổ chức bầu cử theo quy định.
2. Buổi chiều, Trung ương làm việc tại Tổ để thảo luận, cho ý kiến về dự thảo các Văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng, bao gồm: Báo cáo chính trị; Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam; Báo cáo tổng kết 15 năm thi hành Điều lệ Đảng (2011 - 2025) và đề xuất, định hướng bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng.
-Hà Lê
Kiểm tra công tác quy hoạch bảo quản Cố đô Hoa Lư
Tại điểm kiểm tra khu vực Bến thuyền Tràng An, khu vực di tích Cố đô Hoa Lư, sau khi nghe báo cáo của đơn vị liên quan, Phó Thủ tướng Mai Văn Chính ghi nhận và đánh giá cao sự nỗ lực của tỉnh Ninh Bình; sự phối hợp hiệu quả, trách nhiệm của Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch trong việc lập quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi Di tích Cố đô Hoa Lư và Khu danh lam thắng cảnh Tràng An - Tam Cốc - Bích Động.
Trên cơ sở đó, Phó Thủ tướng giao Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch, tỉnh Ninh Bình sớm hoàn thiện hồ sơ, sớm trình cấp có thẩm quyền phê duyệt. Cùng với tiến độ, Phó Thủ tướng lưu ý việc thực hiện các cam kết về bảo vệ tính nguyên vẹn của di sản, huy động sự tham gia tích cực của cộng đồng trong bảo vệ và phát huy giá trị di sản, cũng như nâng cao vị trí, vai trò của di sản trong đời sống đương đại.
Ngoài ra, quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi Di tích Cố đô Hoa Lư là quy hoạch có tính chất kỹ thuật, chuyên ngành văn hóa trong hệ thống quy hoạch hiện hành. Vì vậy, trình tự lập, thẩm định và phê duyệt quy hoạch phải tuân thủ theo quy định của Nghị định số 166/2018/NĐ-CP (nay được thay thế bằng Nghị định số 208/2025/NĐ-CP ngày 17/7/2025), các quy định pháp luật hiện hành về quy hoạch, di sản văn hóa, xây dựng...
Mặt khác, hiện nay, hồ sơ quy hoạch đang đề xuất tổng diện tích trong ranh giới theo từng tỉ lệ, gồm tỉ lệ 1:10.000 khoảng 23.167ha; tỉ lệ 1:2.000 khoảng 4.500ha; tỉ lệ 1:500 khoảng 450ha. Như vậy, ranh giới quy hoạch được xác lập trong quá trình lập Đồ án quy hoạch và đã vượt xa dự kiến ban đầu, khi diện tích theo dự toán được UBND phê duyệt đối với các tỉ lệ 1:10.000, 1:2.000, 1:500 lần lượt là 4.500ha, 1.500ha và 250ha.
Mục tiêu của quy hoạch cần nhận diện đầy đủ giá trị của Cố đô Hoa Lư, hoàn thiện mô hình bảo tồn di sản gắn với phát triển bền vững, tạo hạt nhân, động lực thực hiện những chiến lược phát triển đô thị, chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa và du lịch tỉnh Ninh Bình.
Đồng thời, bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích lịch sử, phát huy các giá trị di sản văn hóa phi vật thể; giáo dục giữ gìn truyền thống, bản sắc văn hóa; đề xuất giải pháp phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội, văn hóa, du lịch, hạ tầng kỹ thuật; hoàn chỉnh ranh giới, phạm vi khoanh vùng bảo vệ di tích; đề xuất giải pháp nâng cao năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu, thiên tai; tạo tiền đề phát triển kinh tế - xã hội của địa phương gắn với di tích.
Trong khi với đồ án Quy hoạch bảo quản, tu bổ và phục hồi Danh lam thắng cảnh quốc gia đặc biệt Tràng An - Tam Cốc - Bích Động đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, ngày 10/7/2023, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 821/QĐ-TTg về việc phê duyệt nhiệm vụ lập Quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi Danh lam thắng cảnh quốc gia đặc biệt Tràng An - Tam Cốc - Bích Động.
Phạm vi, ranh giới lập quy hoạch là toàn bộ khu vực danh lam thắng cảnh quốc gia đặc biệt Tràng An - Tam Cốc - Bích Động có diện tích 9.310ha. Trong đó, Vùng lõi 4.533,86ha nằm trên địa giới hành chính của phường: Nam Hoa Lư, Tây Hoa Lư, Hoa Lư và Yên Sơn. Vùng đệm 4.776,27ha nằm trên địa giới hành chính của phường Tây Hoa Lư, Yên Sơn, Nam Hoa Lư, Hoa Lư và xã Quỳnh Lưu, Đại Hoàng.
Mục tiêu xuyên suốt là bảo tồn giá trị nổi bật toàn cầu, thực hiện cam kết với UNESCO; kết hợp bảo tồn và phát triển bền vững, đưa Tràng An trở thành trung tâm du lịch di sản hàng đầu Việt Nam, điểm đến quốc tế, động lực tăng trưởng xanh của Ninh Bình. Mặt khác, xác lập ranh giới, chỉ tiêu sử dụng đất, tổ chức không gian - hạ tầng, cơ chế thu hút đầu tư và phát huy vai trò cộng đồng; hướng tới “mô hình di sản sống”, nơi bảo tồn gắn liền giáo dục, du lịch, nghiên cứu và sinh kế bền vững.
-Thanh Xuân
Ông Lê Mạnh Hùng giữ chức Quyền Bộ trưởng Bộ Công Thương
Ông Lê Mạnh Hùng sinh ngày 24/10/1973; quê quán Hưng Yên. Trình độ học vấn và chuyên môn: Kỹ sư Công nghệ Hữu cơ Hoá dầu, Tiến sĩ Hóa dầu; cao cấp lý luận chính trị.
Trước khi được giao Quyền Bộ trưởng Bộ Công Thương, ông Lê Mạnh Hùng từng giữ nhiều vị trí quan trọng tại Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (nay là Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam) như: Phó Tổng giám đốc PVN, Tổng Giám đốc PVN, Chủ tịch Hội đồng thành viên PVN và các chức vụ lãnh đạo tại các công ty con.
Trước đó ngày 18/12/2025, Bộ Chính trị đã có Quyết định số 2584-QĐNS/TW để ông Nguyễn Hồng Diên, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Chính phủ, Bí thư Đảng ủy, Bộ trưởng Bộ Công Thương, thôi giữ chức Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Chính phủ nhiệm kỳ 2020 - 2025; điều động, phân công, chỉ định tham gia Ban Chấp hành, Ban Thường vụ và giữ chức Phó Bí thư chuyên trách Đảng ủy Quốc hội nhiệm kỳ 2020 - 2025.
-Dũng Hiếu
Bộ Chính trị chỉ định ông Nguyễn Hồng Diên giữ chức Phó Bí thư chuyên trách Đảng ủy Quốc hội
Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Đảng ủy Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Đảng ủy Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn dự Hội nghị.
Theo Quyết định số 2584-QĐNS/TW ngày 18/12/2025, Bộ Chính trị quyết định ông Nguyễn Hồng Diên, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Chính phủ, Bí thư Đảng ủy, Bộ trưởng Bộ Công Thương, thôi giữ chức Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Chính phủ nhiệm kỳ 2020 - 2025; điều động, phân công, chỉ định tham gia Ban Chấp hành, Ban Thường vụ và giữ chức Phó Bí thư chuyên trách Đảng ủy Quốc hội nhiệm kỳ 2020 - 2025.
Phát biểu giao nhiệm vụ, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nêu rõ Bộ Chính trị đã thống nhất cao, đồng ý phân công ông Nguyễn Hồng Diên đảm nhiệm chức vụ Phó Bí thư chuyên trách Đảng ủy Quốc hội nhiệm kỳ 2020 - 2025, thể hiện sự quan tâm của Bộ Chính trị đối với công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Quốc hội; đồng thời là sự ghi nhận, tín nhiệm, đánh giá cao đối với quá trình rèn luyện, phấn đấu và những kết quả đã đạt được của ông Nguyễn Hồng Diên trong thời gian qua.
Chủ tịch Quốc hội đánh giá ông Nguyễn Hồng Diên là lãnh đạo được đào tạo cơ bản, trưởng thành từ cơ sở, có chuyên môn sâu, nhiều kinh nghiệm công tác ở địa phương và Bộ Công Thương. Trải qua nhiều môi trường công tác, dù ở cương vị nào, ông Nguyễn Hồng Diên luôn tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân; có bản lĩnh chính trị, luôn nêu cao tính tiền phong gương mẫu, tinh thần đoàn kết, trách nhiệm, chủ động sáng tạo, nỗ lực phấn đấu hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.
Chủ tịch Quốc hội tin tưởng với kinh nghiệm, sở trường, năng lực công tác, ông Nguyễn Hồng Diên sẽ nhanh chóng tiếp cận và thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, cùng Bí thư Đảng ủy, tập thể Ban Chấp hành, Ban Thường vụ xây dựng tập thể Đảng ủy Quốc hội đoàn kết, dân chủ, lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động của Quốc hội hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị.
Chủ tịch Quốc hội đề nghị ông Nguyễn Hồng Diên cùng các thành viên trong Thường trực Đảng ủy lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt chức năng lập pháp, giám sát và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, phấn đấu để hoạt động Quốc hội ngày càng thực chất và hiệu quả hơn.
Chia sẻ niềm vinh dự khi nhận nhiệm vụ mới, tân Phó Bí thư chuyên trách Đảng ủy Quốc hội Nguyễn Hồng Diên cho biết dù đã trải qua nhiều năm công tác trong hệ thống chính trị từ địa phương đến Trung ương và tham gia Trung ương, Quốc hội 2 khóa liên tiếp, nhưng đây là lần đầu tiên được làm việc trực tiếp, thường xuyên tại các cơ quan của Quốc hội.
Trên cương vị công tác mới, ông Nguyễn Hồng Diên cam kết sẽ tiếp tục phấn đấu, khiêm tốn học hỏi, đồng thời mong muốn sẽ tiếp tục nhận được sự quan tâm, chỉ đạo, giúp đỡ, hỗ trợ tận tình của Đảng ủy và lãnh đạo Chính phủ, Đảng ủy và lãnh đạo Quốc hội cũng như cá nhân Thủ tướng, Chủ tịch Quốc hội, để hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ được giao, đóng góp tích cực vào thành quả chung của Quốc hội.
Ông Nguyễn Hồng Diên sinh năm 1965, quê xã Hồng Minh, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình cũ, nay là xã Hồng Minh, tỉnh Hưng Yên. Trình độ tiến sĩ quản lý hành chính công.
Ông Diên là Ủy viên Trung ương Đảng khóa XII, XIII, đại biểu Quốc hội khóa XIV, XV.
Ông có thời gian dài công tác tại tỉnh Thái Bình cũ và từng giữ các cương vị Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND, Chủ tịch UBND tỉnh...
Từ tháng 5-2020 đến 4-2021, ông là Phó trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương (nay là Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương).
Từ tháng 4-2021, ông là Bộ trưởng Bộ Công Thương.
-Hà Lê
Phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm khai mạc Hội nghị Trung ương 15 khóa XIII
Kính thưa các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Trung ương Đảng,
Thưa các đồng chí Đại biểu dự Hội nghị.
Thực hiện chương trình công tác toàn khóa, hôm nay Ban chấp hành Trung ương khai mạc Hội nghị lần thứ 15 - Hội nghị Trung ương cuối cùng của nhiệm kỳ Đại hội XIII - xem xét, cho ý kiến về những công việc để tổ chức thành công Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Tôi nhiệt liệt chào mừng các đồng chí Ủy viên Trung ương, các đồng chí Đại biểu dự Hội nghị, xin gửi tới các đồng chí lời chào thân ái, lời thăm hỏi chân tình, lời chúc sức khỏe và thành công.
Thưa các đồng chí,
Hội nghị Trung ương 15 tập trung giải quyết ba nội dung lớn, quan trọng, đó là (1) Nhóm vấn đề về công tác nhân sự Đại hội XIV của Đảng, (2) Nhóm vấn đề về Dự thảo nội dung các Văn kiện trình Đại hội XIVcủa Đảng, (3) Các công việc để tổ chức Đại hội lần thứ XIV của Đảng như: Quy chế làm việc, Quy chế bầu cử tại Đại hội XIV; Báo cáo công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật Đảng nhiệm kỳ Đại hội XIII; Báo cáo công tác kiểm tra giám sát và thi hành kỷ luật Đảng năm 2025, phương hướng nhiệm vụ công tác năm 2026; Về chủ trương Tổng kết 100 năm sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam (1930-2030) với Cách mạng Việt Nam và Tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH; Báo cáo công tác Tổ chức phục vụ Đại hội XIV cùng một số nội dung liên quan khác.
Tài liệu Hội nghị các đồng chí đã nhận từ cuối tuần trước, Tôi tin rằng các đồng chí đã nghiên cứu kỹ và sẵn sàng đóng góp ý kiến trong các ngày diễn ra Hội nghị.
Để Hội nghị thành công, Tôi có một số điểm gợi mở với các đồng chí.
Thứ nhất: Về công tác nhân sự Đại hội XIV của Đảng.
Tại các Hội nghị Trung ương 13, 14, trên cơ sở đề nghị của Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã biểu quyết thống nhất, tập trung cao, giới thiệu nhân sự tham gia Ban chấp hành Trung ương Đảng (cả chính thức và dự khuyết), giới thiệu nhân sự tham gia Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XIV cơ bản bảo đảm cơ cấu, số lượng, tiêu chuẩn, điều kiện theo đúng điều lệ, các quy định của Đảng và Phương hướng công tác nhân sự Đại hội XIV của Đảng.
Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 14 khóa XIII, Bộ Chính trị đã tập trung chỉ đạo chuẩn bị những công việc còn lại để tiến tới Đại Hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV; chỉ đạo Tiểu Ban Nhân sự tiếp tục bổ sung, hoàn thiện phương án nhân sự Đại hội XIV. Tại các phiên họp của Tiểu ban Nhân sự Đại hội XIV của Đảng, các phiên họp Bộ Chính trị, các đồng chí Lãnh đạo Chủ chốt, các đồng chí Bộ Chính trị với tinh thần cách mạng của người Đảng viên cộng sản, đặt lợi ích của Đảng, của Nhân dân, của Quốc gia, Dân tộc lên trên hết, trước hết đã thảo luận, phân tích kỹ lưỡng, tâm huyết, cân nhắc nhiều mặt, toàn diện, thấu đáo, cụ thể và thống nhất rất cao giới thiệu các nhân sự tham gia Ban chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XIV, Lãnh đạo Chủ chốt của Đảng và Nhà nước nhiệm kỳ 2026-2031.
Tại Hội nghị Trung ương 15, căn cứ vào nội dung các tờ trình của Bộ Chính trị, đề nghị các đồng chí Ủy viên Trung ương thảo luận, góp ý kiến để hoàn thiện báo cáo của Ban chấp hành Trung ương khóa XIII về công tác nhân sự Ban chấp hành Trung ương khóa XIV để trình Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV và Hội nghị Trung ương 1 - khóa XIV quyết định và tổ chức bầu cử theo quy định.
Công tác chuẩn bị, giới thiệu nhân sự Ban chấp hành Trung ương khóa XIV là nhiệm vụ, công việc đặc biệt hệ trọng, trách nhiệm rất lớn của các Ủy viên Trung ương cũng như của toàn Đảng. Việc lựa chọn nhân sự Ban lãnh đạo cao nhất của Đảng để lãnh đạo triển khai thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ rất cao, rất quyết liệt, rất khẩn trương để phát triển đất nước trong giai đoạn mới phải thật kỹ lưỡng, chắc chắn, thận trọng, chính xác, đúng quy định như Ban Chấp hành Trung ương đã từng yêu cầu trong các hội nghị Trung ương trước đây.
Thứ hai: Về Dự thảo các Văn kiện trình trình Đại hội XIV.
Bộ Chính trị đã có tờ trình gửi các đồng chí về Dự thảo các văn kiện Trình Đại hội XIV. Toàn thể Đảng viên và đông đảo các tầng lớp Nhân dân đánh giá rất cao việc Trung ương quyết định tích hợp nội dung 3 văn kiện (gồm Báo cáo chính trị, Báo cáo kinh tế - xã hội, Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng) thành một Báo cáo chính trị thống nhất, đồng bộ. Sau đóng góp tham gia của Đại hội đảng bộ các cấp, của các đồng chí tại Hội nghị Trung ương 14, đã có thêm gần 14 triệu ý kiến của gần 5 triệu lượt cán bộ, đảng viên, Nhân dân tham gia đóng góp tham gia vào Dự thảo các văn kiện (tiến hành từ ngày 15/10/2025 đến ngày 15/11/2025). Các tiểu ban Văn kiện và Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã hoàn thiện dự thảo các Văn kiện để trình Hội nghị Trung ương 15. Đây thực sự là ý tưởng, cách làm cách mạng, đột phá trong công tác xây dựng Văn kiện Đại hội Đảng. Đây cũng là nhiệm kỳ Đại hội Đảng tranh thủ được sự đóng góp ý kiến của Nhân dân đông đảo nhất so với các nhiệm kỳ Đại hội trước. Các tiểu ban Văn kiện Đại hội XIV đã chắt lọc, tiếp thu tối đa các ý kiến phù hợp để tiếp tục hoàn thiện Báo cáo chính trị. Trí tuệ tập thể, trí tuệ của Nhân dân đã được kết tinh trong văn kiện Đại hội XIV của Đảng.
Để văn kiện trở thành “ánh sáng soi đường”, “kim chỉ nam hành động” cho toàn Đảng, toàn dân thực hiện xây dựng và phát triển đất nước trong giai đoạn cách mạng mới, Ban chấp hành Trung ương đề nghị các đồng chí Trung ương, các cấp ủy đảng, đảng viên và nhân dân tiếp tục đóng góp ý kiến vào nội dung các Văn kiện.
Từ kết quả công tác của nhiệm kỳ Đại hội XIII, từ thực tiễn công tác các đồng chí Trung ương đã và đang đảm nhiệm, Tôi đề nghị các đồng chí đóng góp ý kiến để hoàn thiện nội dung Báo cáo chính trị và các văn kiện trình Đại hội XIV, nhất là Chương trình hành động của Ban Chấp hành Trung ương Đảng thực hiện Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
Thứ Ba: Về công tác chuẩn bị Đại hội XIV.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng dự kiến tổ chức từ ngày 19/01/2026 tới ngày 25/01/2026 tại Thủ đô Hà Nội với 1.586 Đại biểu, đại diện cho hơn 5 triệu Đảng viên, dự Đại hội. Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã chỉ đạo quán triệt, triển khai thực hiện các Nghị quyết, Kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị về công tác chuẩn bị Đại hội XIV của Đảng. Nội dung Văn kiện và công tác Nhân sự tôi đã báo cáo ở trên. Công tác Tổ chức phục vụ Đại hội cũng cần được chuẩn bị chu đáo, an ninh, an toàn, đúng các quy định của Đảng. Vì vậy đề nghị các đồng chí nghiên cứu thật kỹ Báo cáo của các Tiểu ban và các nội dung Bộ Chính trị, Ban Bí thư trình ra Hội nghị để góp ý, bổ sung những nội dung sao cho công tác này được chu đáo nhất, hoàn thiện nhất, đóng góp vào sự thành công của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
Thưa các đồng chí,
Với nội dung chương trình nêu trên, tôi đề nghị các đồng chí tập trung trí tuệ, trách nhiệm, thẳng thắn, khách quan, công tâm trong lựa chọn nhân sự giới thiệu cho Đại hội XIV của Đảng, trong đóng góp ý kiến với các nội dung chương trình nghị sự của Đại hội.
Thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, tôi tuyên bố Khai mạc Hội nghị Ban chấp hành Trung ương 15 khóa XIII của Đảng.
Chúc Hội nghị của chúng ta thành công tốt đẹp.
-
Khai mạc Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII
Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Lương Cường điều hành Phiên khai mạc.
Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII xem xét, cho ý kiến về những công việc để tổ chức thành công Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
Hội nghị tập trung giải quyết ba nội dung lớn, quan trọng, đó là: Nhóm vấn đề về công tác nhân sự Đại hội XIV của Đảng. Nhóm vấn đề về Dự thảo nội dung các Văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng. Các công việc để tổ chức Đại hội lần thứ XIV của Đảng như:
Quy chế làm việc, Quy chế bầu cử tại Đại hội XIV; Báo cáo công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật Đảng nhiệm kỳ Đại hội XIII; Báo cáo công tác kiểm tra giám sát và thi hành kỷ luật Đảng năm 2025, phương hướng nhiệm vụ công tác năm 2026;
Về chủ trương Tổng kết 100 năm sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam (1930-2030) với Cách mạng Việt Nam và Tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội; Báo cáo công tác Tổ chức phục vụ Đại hội XIV cùng một số nội dung liên quan khác.
-Hà Lê
Thủ tướng Chính phủ khái quát thành tựu ngành Xây dựng với 32 "chữ vàng"
Sáng 21/12, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị tổng kết công tác năm 2025 và triển khai nhiệm vụ năm 2026 của Bộ Xây dựng. Hội nghị được tổ chức trực tiếp tại trụ sở Bộ Xây dựng, trực tuyến tới điểm cầu 34 tỉnh, thành phố. Dự Hội nghị có Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà; lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương; lãnh đạo các địa phương.
Năm 2025, bối cảnh tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, bất ổn địa chính trị, xung đột quân sự ở một số quốc gia kéo dài; căng thẳng thương mại, thị trường tài chính, tiền tệ tiếp tục biến động, đầu tư gặp khó khăn, tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn cầu đạt thấp hơn so với năm 2024.
Ở trong nước, mặc dù phải đối mặt với nhiều thách thức, đặc biệt là nền kinh tế nước ta chịu “tác động kép” của các yếu tố bất lợi bên ngoài cùng với hiện tượng thời tiết cực đoan, mưa bão, lũ lụt vượt mức lịch sử, gây thiệt hại nặng nề về người và tài sản tại nhiều địa phương, song kinh tế vĩ mô vẫn duy trì ổn định, lạm phát được kiểm soát, bảo đảm các cân đối lớn. Các động lực tăng trưởng tiếp tục được củng cố, nhất là đầu tư công, phát triển hạ tầng, sản xuất công nghiệp, thương mại và xuất nhập khẩu, tạo nền tảng quan trọng để phấn đấu hoàn thành mục tiêu tăng trưởng đã đề ra.
2025 cũng là năm đầu tiên Bộ Xây dựng vận hành theo mô hình tổ chức mới sau hợp nhất với khối lượng công việc tăng mạnh, phạm vi quản lý nhà nước được mở rộng, bao trùm nhiều lĩnh vực lớn, phức tạp, đòi hỏi yêu cầu cao hơn về năng lực quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện.
Ngay từ những ngày đầu của năm, Bộ Xây dựng đã quán triệt và triển khai nghiêm phương châm điều hành của Chính phủ: “Kỷ cương, trách nhiệm; chủ động, kịp thời; tinh gọn, hiệu quả; tăng tốc, bứt phá”, bám sát thực tiễn, chủ động và quyết liệt tập trung vào các nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm trên mọi lĩnh vực quản lý của ngành và đã đạt nhiều kết quả nổi bật.
NHỮNG ĐÓNG GÓP QUAN TRỌNG CỦA NGÀNH XÂY DỰNG
Phát biểu tại Hội nghị, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhận định năm 2025, Việt Nam là một trong những nước có mức tăng trưởng cao nhất khu vực và thế giới. Trong thành tựu chung của đất nước, có sự đóng góp rất tích cực của Bộ Xây dựng và ngành Xây dựng.
Thủ tướng phát biểu tại Hội nghịCụ thể, về hoàn thiện thể chế, Bộ Xây dựng đã tham mưu Chính phủ trình Quốc hội thông qua 4 luật, 2 nghị quyết, trong đó có cơ chế, chính sách đặc thù cho dự án đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam, mạng lưới đường sắt đô thị tại TP. Hà Nội, TPHCM; phát triển nhà ở xã hội; trình Chính phủ đã ban hành 15 nghị định, 1 nghị quyết.
Về quy hoạch đồng bộ, trên cơ sở lần đầu tiên tham mưu trình Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, Bộ Xây dựng tiếp tục tham mưu điều chỉnh quy hoạch mạng lưới đường bộ, đường sắt, hàng không, hàng hải, thủy nội địa, quy hoạch vùng, tỉnh bảo đảm thống nhất, đồng bộ, liên thông.
Hạ tầng đột phá: từ hạ tầng giao thông, hạ tầng số, hạ tầng năng lượng đến hạ tầng giáo dục, y tế, thể thao, văn hóa, an sinh xã hội, hạ tầng phục vụ APEC 2027… tạo động lực tăng trưởng, góp phần thay đổi diện mạo đất nước, kiến tạo không gian phát triển cả ở đô thị và nông thôn.
Về chuyển đổi "xanh - số", Bộ Xây dựng luôn đứng đầu về xếp hạng chất lượng cung cấp dịch vụ công; chú trọng chuyển đổi số trong giao thông vận tải, phát triển đô thị thông minh và nghiên cứu khoa học công nghệ ứng dụng cho dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam…
Về bộ máy tinh gọn, cơ cấu tổ chức của Bộ sau hợp nhất giảm từ 42 đầu mối xuống còn 22 đầu mối (47,6%); Bộ đã tích cực phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền trong vận hành chính quyền địa phương 2 cấp (phân cấp 118 nhiệm vụ; phân định thẩm quyền 133 nhiệm vụ), tỉ lệ cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính đạt 45%...
Bên cạnh những kết quả đạt được, Thủ tướng đánh giá cao việc Bộ Xây dựng đã thẳng thắn nhìn nhận và chỉ rõ những hạn chế, như: công tác quy hoạch, phát triển hạ tầng giao thông còn chưa theo kịp tình hình thực tế, nhất là đòi hỏi cao trong tương lai; tiến độ giải ngân đầu năm tại một số dự án còn chậm; công tác giải phóng mặt bằng tại nhiều dự án chưa đáp ứng yêu cầu; thị trường bất động sản tiềm ẩn rủi ro, hệ thống thông tin, dữ liệu về thị trường bất động sản còn bất cập; phát triển đô thị văn minh, thông minh, nông thôn xanh, sạch, đẹp, xanh hóa, số hóa phải nỗ lực nhiều hơn…
Thủ tướng nhấn mạnh: năm 2026 là năm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng - năm đầu tổ chức triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030 với yêu cầu rất cao, trong đó có mục tiêu tăng trưởng 2 con số, phát triển nhanh, bền vững, xanh hóa, số hóa.
TẬP TRUNG THỰC HIỆN “5 BẢO ĐẢM, 6 ĐỘT PHÁ”
Do đó, với ngành Xây dựng, Thủ tướng đề nghị tập trung thực hiện "5 bảo đảm" và "6 đột phá". Đó là: Bảo đảm thể chế thông thoáng; Bảo đảm hạ tầng thông suốt; Bảo đảm quản trị thông minh; Bảo đảm cách làm thông dụng; Bảo đảm hợp tác thông hiểu.
Đột phá trong tư duy và tầm nhìn, với tinh thần "nguồn lực bắt nguồn từ tư duy và tầm nhìn";
Đột phá trong huy động, tập trung nguồn lực, đề xuất cơ chế, chính sách để tiếp tục triển khai xây dựng hạ tầng chiến lược và hoàn thành các dự án, công trình trọng điểm quốc gia; xây dựng trường nội trú tại các xã biên giới, nhà cho người dân chịu ảnh hưởng bởi thiên tai...;
Đột phá trong phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế tri thức; xây dựng, kết nối và khai thác dữ liệu ngành Xây dựng để phát triển trí tuệ nhân tạo;
Đột phá trong phát triển nhà ở xã hội, bảo đảm sớm hoàn thành 1 triệu căn nhà ở xã hội trong năm 2028, vượt 2 năm so với kế hoạch;
Đột phá phát triển các phương thức giao thông; quy hoạch với tầm nhìn trăm năm, tinh thần là "tiến xa ra biển lớn, đi sâu vào lòng đất và bay cao lên vũ trụ", từ đó, giảm chi phí logistics, chi phí đầu vào, tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm, hàng hóa.
Cùng với đó là đột phá trong khắc phục những tồn tại, hạn chế, nhất là việc đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công các công trình trọng điểm. Có cơ chế khuyến khích để huy động nguồn lực, đẩy mạnh hợp tác công tư, mạnh dạn áp dụng các hình thức thí điểm, chỉ định thầu với các nhà thầu có năng lực, uy tín, kinh nghiệm, nhưng phải công khai, minh bạch, không tham nhũng, tiêu cực. Tăng cường quản lý nhà nước về hoạt động đầu tư xây dựng, bảo đảm chất lượng, tiến độ, an toàn, hiệu quả và phòng, chống thất thoát, lãng phí.
Thủ tướng đồng thời lưu ý thêm 3 việc quan trọng với Bộ Xây dựng thời gian tới.
Một là, trong tháng 12, Bộ Xây dựng rà soát lại các quy chuẩn, tiêu chuẩn, điều kiện đường sắt tốc độ cao để lựa chọn công nghệ, tiến hành lựa chọn phương thức đầu tư trong tháng 1/2026.
Hai là, khẩn trương thành lập Trung tâm Giao dịch Bất động sản và Quyền sử dụng đất do Nhà nước quản lý để thúc đẩy thị trường phát triển thị trường công khai, minh bạch, bền vững.
Ba là, vào cuộc giám sát, kiểm toán các công trình, dự án ngay từ đầu để triển khai các dự án thần tốc, táo bạo hơn nữa, tránh tình trạng "đội giá", tránh khuyết điểm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn, tránh để xảy ra tiêu cực, tham nhũng, lãng phí.
Tại hội nghị, thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã trao tặng Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng và Huân chương Lao động hạng Nhất cho Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh. Nhiều tập thể, cá nhân thuộc Bộ Xây dựng cũng được tặng Huân chương lao động hạng 3 và các phần thưởng cao quý của Đảng, Nhà nước, của Thủ tướng Chính phủ.
-Phan Dương
Thủ tướng: Lấy hiệu quả thực tế làm thước đo phát triển kinh tế tư nhân
Chiều 20/12, tại trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Phạm Minh Chính, Trưởng Ban Chỉ đạo quốc gia triển khai Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, chủ trì Phiên họp lần thứ ba của Ban Chỉ đạo.
Tham dự phiên họp có Phó Thủ tướng Nguyễn Chí Dũng, Phó Trưởng Ban thường trực Ban Chỉ đạo; các thành viên Ban Chỉ đạo; lãnh đạo các bộ, ngành, địa phương; cùng đại diện các hiệp hội và cộng đồng doanh nghiệp tư nhân.
Ngay sau khi Nghị quyết số 68-NQ/TW được ban hành ngày 4/5/2025, Chính phủ đã ban hành Kế hoạch hành động thực hiện (Nghị quyết số 138/NQ-CP ngày 16/5/2025), đồng thời trình Quốc hội ban hành cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân (Nghị quyết số 198/2025/QH15 ngày 17/5/2025), làm cơ sở để các cấp, các ngành, địa phương triển khai đồng bộ, quyết liệt.
NHẬN THỨC, HÀNH ĐỘNG VÀ NIỀM TIN ĐƯỢC CỦNG CỐTại phiên họp, các đại biểu tập trung đánh giá tình hình, kết quả triển khai Nghị quyết 68 từ khi ban hành đến nay; làm rõ những kết quả nổi bật, chỉ ra những hạn chế, khó khăn, đặc biệt trong phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa; phân tích nguyên nhân, rút ra bài học kinh nghiệm, nhất là bài học về huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực.
Trên cơ sở đó, các đại biểu xác định rõ những nhiệm vụ cần hoàn thành trong tháng 12/2025, đồng thời kiến nghị các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm năm 2026, trong đó nhấn mạnh yêu cầu tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung hệ thống pháp luật; cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh bình đẳng, lành mạnh, công khai, minh bạch; tăng cường đối thoại, lắng nghe và tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp.
Thủ tướng nhấn mạnh những kết quả nổi bật sau gần 8 tháng triển khai Nghị quyết 68 - Ảnh: VGPPhát biểu kết luận phiên họp, Thủ tướng Phạm Minh Chính giao Bộ Tài chính, Văn phòng Chính phủ tổng hợp, tiếp thu đầy đủ ý kiến để hoàn thiện báo cáo và dự thảo Kết luận phiên họp. Cơ bản thống nhất với nội dung báo cáo và các ý kiến tại phiên họp, Thủ tướng nhấn mạnh một số kết quả nổi bật sau gần 8 tháng triển khai Nghị quyết 68.
Theo Thủ tướng, nhận thức về vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân, đặc biệt là vai trò một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc dân, đã thẩm thấu sâu rộng trong xã hội, cộng đồng doanh nghiệp và các cơ quan quản lý nhà nước.
Đến nay, toàn bộ 34/34 địa phương và 21 bộ, cơ quan đã ban hành Kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết 68, với việc phân công nhiệm vụ theo tinh thần “6 rõ”: rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ thời gian và rõ kết quả.
Kỷ luật, kỷ cương hành chính trong triển khai nhiệm vụ được tăng cường; các phương thức làm việc mới từng bước phát huy hiệu quả. Việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến doanh nghiệp được chú trọng hơn, qua đó góp phần củng cố và tăng cường niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp đối với các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Khu vực kinh tế tư nhân tiếp tục đóng góp quan trọng vào tăng trưởng GDP dự kiến trên 8% và kim ngạch xuất nhập khẩu kỷ lục khoảng 920 tỷ USD trong năm 2025, đưa Việt Nam vào nhóm 15 quốc gia có quy mô thương mại quốc tế lớn nhất thế giới.
Bên cạnh đó, khu vực này cũng tham gia tích cực vào triển khai Nghị quyết số 57 của Bộ Chính trị về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đóng góp quan trọng vào chương trình phát triển nhà ở xã hội với kết quả hoàn thành vượt kế hoạch 100 nghìn căn hộ trong năm 2025; đồng thời tích cực tham gia các hoạt động an sinh xã hội, hỗ trợ người dân khắc phục hậu quả thiên tai, xóa nhà tạm, nhà dột nát.
THỂ CHẾ, CẢI CÁCH VÀ NGUỒN LỰC ĐƯỢC THÚC ĐẨY MẠNH MẼCông tác thể chế hóa và tổ chức thực hiện Nghị quyết 68 được Chính phủ tập trung chỉ đạo. Nghị quyết số 138 và 139 của Chính phủ đã giao 69 nhiệm vụ cho các bộ, ngành, địa phương, trong đó riêng năm 2025 phải hoàn thành 43 nhiệm vụ. Đến nay, các cơ quan đã cơ bản hoàn thành 37/43 nhiệm vụ, đạt trên 80%.
Chính phủ đã trình Quốc hội ban hành 15 luật và 1 nghị quyết; đồng thời ban hành 15 nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành. Đặc biệt, Nghị quyết số 66 được ban hành với mục tiêu cắt giảm ít nhất 30% thời gian giải quyết thủ tục hành chính, 30% chi phí tuân thủ và 30% điều kiện kinh doanh trong năm 2025, đồng thời tiếp tục cắt giảm trong các năm tiếp theo.
Phó Thủ tướng Nguyễn Chí Dũng, Phó Trưởng Ban thường trực Ban Chỉ đạo phát biểu tại phiên họp - Ảnh: VGPTheo đó, hơn 3.000 thủ tục hành chính và hơn 2.200 điều kiện kinh doanh đã được phê duyệt phương án cắt giảm, góp phần giảm khoảng 13.200 ngày thực hiện thủ tục và tiết kiệm chi phí tuân thủ trên 34,2 nghìn tỷ đồng mỗi năm.
Các chính sách ưu đãi, hỗ trợ về thuế, phí, tiếp cận vốn, đất đai, thủ tục đầu tư và cải thiện môi trường kinh doanh được các bộ, ngành, địa phương tập trung rà soát, hoàn thiện, đồng thời đẩy mạnh công tác tuyên truyền và hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân, hộ kinh doanh.
Tác động của Nghị quyết 68 ngày càng thể hiện rõ nét. Kể từ khi Nghị quyết được ban hành, bình quân mỗi tháng có hơn 18.000 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 38% so với bình quân 4 tháng đầu năm; đồng thời có hơn 11.300 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng trên 46%.
Tính chung cả năm 2025, cả nước có hơn 300.000 doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động, tăng trên 30%; tổng vốn đăng ký đạt trên 6 triệu tỷ đồng, tăng trên 71% so với năm 2024, nâng tổng số doanh nghiệp đang hoạt động lên gần 1,1 triệu. Số hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp trong 11 tháng đạt khoảng 3.200 doanh nghiệp.
Đáng chú ý, sau ba đợt khởi công, khánh thành đồng loạt các công trình, dự án lớn trong năm 2025, cả nước có 564 công trình, dự án với tổng mức đầu tư trên 5,14 triệu tỷ đồng, tương đương khoảng 40% GDP, trong đó vốn tư nhân chiếm khoảng 74,6%. Kết quả này tiếp tục khẳng định chủ trương lấy đầu tư công dẫn dắt, kích hoạt đầu tư tư, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực xã hội.
HÀNH ĐỘNG THỰC CHẤT, KHÔNG ĐỂ “TRÊN NÓNG, DƯỚI LẠNH”Bên cạnh những kết quả đạt được, Thủ tướng thẳng thắn chỉ ra một số hạn chế, bất cập trong quá trình triển khai Nghị quyết 68. Việc quán triệt tinh thần Nghị quyết ở một số nơi còn chưa đầy đủ, toàn diện; mức độ quyết liệt giữa các bộ, ngành, địa phương chưa đồng đều; công tác phối hợp có nơi còn thiếu chặt chẽ.
Đại diện Bộ Tài chính phát biểu tại Phiên họp - Ảnh: VGPCải cách thủ tục hành chính ở một số lĩnh vực, địa bàn chưa đạt mục tiêu đề ra; công tác thông tin, truyền thông, đặc biệt là truyền thông chính sách, chưa được chú trọng đúng mức. Phân cấp, phân quyền trong giải quyết vướng mắc cho doanh nghiệp chưa triệt để.
Trong khi đó, một số chính sách hỗ trợ trực tiếp về thuế, tín dụng, mặt bằng sản xuất – kinh doanh chưa được thể chế hóa đầy đủ; khu vực doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và hộ kinh doanh vẫn gặp nhiều khó khăn, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh mới.
Thủ tướng cho rằng các cấp chính quyền cần chủ động giải quyết những tồn tại nêu trên; đồng thời, các chủ thể của khu vực kinh tế tư nhân cũng phải nỗ lực vươn lên, tăng cường hợp tác, đối thoại, tích cực tham gia xây dựng và phản biện chính sách vì lợi ích chung.
Năm 2026 được xác định là năm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là năm diễn ra Đại hội lần thứ XIV của Đảng, năm đầu triển khai Nghị quyết Đại hội và Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2026–2030, đồng thời là năm đầu thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Trong bối cảnh đó, Thủ tướng nhấn mạnh khu vực kinh tế tư nhân phải tiếp tục đóng góp quan trọng vào ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, gắn với bảo đảm an ninh kinh tế và an sinh xã hội.
Với phương châm “Niềm tin – Hành động – Thực chất – Hiệu quả – Đột phá”, Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tập trung hoàn thành các nhiệm vụ còn lại trong năm 2025; đồng thời khẩn trương triển khai các nhiệm vụ trọng tâm trong quý I và cả năm 2026, bảo đảm “không nói không, không nói khó, không nói có mà không làm”, không để xảy ra tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”.
Thông điệp xuyên suốt trong triển khai Nghị quyết 68 được Thủ tướng khẳng định là: Lấy doanh nghiệp làm trung tâm, lấy hiệu quả làm thước đo và lấy kết quả thực tế làm đánh giá cuối cùng.
-Hà Lê
Nền tảng cho kỷ nguyên mới của Bộ Xây dựng
Ngày 21/12/2025, Bộ Xây dựng đã tổ chức Hội nghị tổng kết công tác năm 2025 và triển khai nhiệm vụ trọng tâm năm 2026.
Báo cáo tại Hội nghị cho thấy trong năm 2025, Bộ Xây dựng đã hoàn thành mục tiêu tăng trưởng trên 9%, các ngành kinh tế thuộc phạm vi quản lý của Bộ ước đạt tỷ trọng khoảng 17,23% GDP cả nước; góp phần quan trọng đưa tăng trưởng kinh tế cả nước đạt trên 8% trong năm 2025 và tạo nền tảng cho mục tiêu tăng trưởng hai con số trong những năm tiếp theo.
ĐỘT PHÁT TRONG ĐẦU TƯ HẠ TẦNG“Trong năm 2025, Bộ Xây dựng đã tập trung vào các nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm trên mọi lĩnh vực quản lý của ngành và đã đạt nhiều kết quả nổi bật. Bộ đã triển khai thực hiện, hoàn thành 53 dự án, gồm 15 dự án khởi công, 38 dự án khánh thành. Con số trên cao hơn rõ rệt so với các năm gần đây và so với các giai đoạn trước, phản ánh kết quả tập trung chỉ đạo, triển khai thực hiện các dự án trọng điểm, góp phần sớm phát huy hiệu quả đầu tư, phục vụ mục tiêu tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn tới", Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Việt Hùng cho biết.
Trong đó, lĩnh vực đường bộ khởi công 13 dự án, hoàn thành 28 dự án. Đến hết năm 2025 sẽ hoàn thành 3.345km tuyến chính cao tốc, 458km nút giao và đường dẫn; 1.701km đường bộ ven biển, đánh dấu bước tiến lớn, thể hiện kết quả của phong trào thi đua "500 ngày đêm thi đua hoàn thành 3.000km đường bộ cao tốc" và việc huy động tổng lực nguồn lực cho cao tốc, các dự án cao tốc khác đang triển khai thi công cơ bản bám sát tiến độ đề ra.
Cùng với sự đột phá trong đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng đường bộ, lĩnh vực đường sắt đã khởi công 2 dự án, hoàn thành 7 dự án; Hàng không hoàn thành 1 dự án. Trong giai đoạn 2020 - 2025, tổng công suất khai thác các trung tâm đầu mối vận tải hàng không cả nước từ 92,4 triệu hành khách/năm được nâng lên 155 triệu hành khách/năm, tăng 1,6 lần; Hàng hải và đường thủy nội địa có 2 dự án được hoàn thành. Trong 5 năm (2020 - 2025), năng lực hệ thống cảng biển tăng 1,3 lần, từ 730 triệu tấn lên khoảng 900 triệu tấn, góp phần thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu và phát triển kinh tế biển.
Trong công tác quản lý nhà ở và thị trường bất động sản, hàng loạt cơ chế, chính sách đột phá được ban hành đã mang lại cho lĩnh vực này những chuyển biến tích cực.
Cụ thể, Bộ Xây dựng đã chỉ đạo triển khai nhiều giải pháp nhằm đẩy mạnh thực hiện Đề án “Đầu tư xây dựng ít nhất 01 triệu căn hộ nhà ở xã hội cho đối tượng thu nhập thấp, công nhân khu công nghiệp giai đoạn 2021-2030”; tổ chức các đoàn công tác trực tiếp làm việc với 29 địa phương kiểm tra, rà soát, tháo gỡ khó khăn cho từng dự án và đôn đốc công tác triển khai thực hiện Đề án; tham mưu Thủ tướng Chính phủ ban hành công điện chỉ đạo và tổ chức 05 Hội nghị trực tiếp kết hợp trực tuyến nhằm thúc đẩy các địa phương, doanh nghiệp phát triển nhà ở xã hội. Kết quả là trong năm 2025, cả nước đã hoàn thành 102.633/100.275 căn nhà ở xã hội, đạt khoảng 102% kế hoạch năm…
ĐÃ THÁO GỠ KHÓ KHĂN CHO 136 DỰ ÁNNhằm ổn định và tháo gỡ khó khăn cho thị trường bất động sản, Bộ Xây dựng đang khẩn trương hoàn thiện các văn bản đề án để trình cơ quan có thẩm quyền như: Thí điểm mô hình Trung tâm giao dịch bất động sản và quyền sử dụng đất do Nhà nước thành lập; dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định trong lĩnh vực nhà ở, kinh doanh bất động sản, Nghị quyết về việc ban hành một số cơ chế xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật về phát triển nhà ở xã hội...
Đến nay, đã giải quyết tháo gỡ khó khăn, vướng mắc được 136/788 dự án bất động sản (đạt 17,3%); đang tiếp tục giải quyết tháo gỡ cho 652/788 dự án bất động sản (chiếm 82,7%). Trong đó có: 255 dự án vướng mắc trong lĩnh vực đất đai (chiếm 39,1%); 189 dự án vướng mắc trong lĩnh vực đầu tư (chiếm 29,0%); 115 dự án vướng mắc trong lĩnh vực quy hoạch (chiếm 17,6%); 33 dự án vướng mắc trong lĩnh vực xây dựng (chiếm 5,1%); 20 dự án vướng mắc trong thực hiện Kết luận thanh tra đối với dự án (chiếm 3,1%); 16 dự án gặp vướng mắc khác (chiếm 2,5%); 12 dự án gặp khó khăn về nguồn vốn thực hiện dự án (chiếm 1,8%) và 12 dự án vướng mắc trong lĩnh vực nhà ở (chiếm 1,8%).
“Trong các dự án còn khó khăn, vướng mắc chưa giải quyết thì có 621 dự án thuộc thẩm quyền của các địa phương (chiếm 95%). Bộ Xây dựng đã và đang phối hợp tích cực cùng Bộ Tài chính (cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo 75142) để rà soát, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của các dự án thuộc thẩm quyền của Bộ Xây dựng”, lãnh đạo Bộ Xây dựng chia sẻ.
Bên cạnh đó, Bộ Xây dựng đã, đang và sẽ thường xuyên theo sát diễn biến tình hình thị trường bất động sản, tăng cường công tác thông tin dự báo, kịp thời có giải pháp ứng phó khi thị trường có biến động bất thường, kịp thời xử lý các vấn đề phát sinh; Đồng thời, tăng cường tổ chức tập huấn, phổ biến pháp luật về kinh doanh bất động sản; thực hiện hướng dẫn trả lời địa phương, doanh nghiệp các nội dung liên quan đến pháp luật kinh doanh bất động sản.
Ngoài ra, Bộ Xây dựng đã hoàn thiện và đưa vào sử dụng hệ thống phần mềm dùng chung của hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về nhà ở và thị trường bất động sản; thực hiện bàn giao tài khoản và hướng dẫn sử dụng cho các Bộ, ngành có liên quan và các địa phương để thực hiện chia sẻ, cung cấp thông tin, dữ liệu về nhà ở và thị trường bất động sản; định kỳ thực hiện công bố thông tin về nhà ở và thị trường bất động sản và có báo cáo Thủ tướng Chính phủ theo đúng quy định.
CHỈ BÀN LÀM, KHÔNG BÀN LÙIGhi nhận thành công, tâm huyết toàn của ngành Xây dựng trong thời gian khó khăn vừa qua (khi cả nước phải đối mặt với nhiều thách thức, đặc biệt là hiện tượng thời tiết cực đoan, mưa bão, lũ lụt...), Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà khẳng định năm 2025 đã xác lập về kỷ lục thành tích, kỷ lục các dự án có ý nghĩa lịch sử, là nền tảng cho kỷ nguyên mới của Bộ Xây dựng.
Theo Phó Thủ tướng, những dự án hạ tầng nói chung triển khai trong thời gian qua Bộ Xây dựng tuy không trực tiếp làm tất cả song, mỗi dự án đều mang dấu ấn của ngành Xây dựng. Đó là dấu ấn của công tác quy hoạch, đầu tư, xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn... Bộ Xây dựng đã ghi tên mình vào những cột mốc lịch sử chưa từng có ở sự kiện khởi công, khánh thành các công trình, dự án dịp 19/4 , dịp 19/8 và 19/12. Cũng chưa ngành nào có công trình vươn tầm thiên niên kỷ như ngành Xây dựng.
"Tôi biết các đồng chí đã rất vất vả và áp lực. Thế nhưng, áp lực đã chuyển biến thành động lực. Động lực đã chuyển biến thành kết quả. Với trái tim người lính, tác phong người lính từ người đứng đầu, ngành Xây dựng đã có những người lính hết sức quả cảm trong thực hiện nhiệm vụ. Bước vào giai đoạn kế tiếp (2026 - 2030), tôi kỳ vọng Bộ Xây dựng sẽ có những giải pháp lớn hơn để đạt thành tựu cao hơn, lập những kỳ tích lớn hơn", Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà phát biểu.
Chia sẻ về kế hoạch trong thời gian tới, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh cam kết: Bộ Xây dựng và toàn ngành xác định năm 2026 là năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là năm bản lề thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026 – 2031, là bước khởi đầu quan trọng cho một giai đoạn mới. Với phương châm hành động “Kỷ cương, trách nhiệm; chủ động, kịp thời; tinh gọn, hiệu quả; tăng tốc, bứt phá”, toàn ngành sẽ tiếp tục tăng cường đoàn kết, thống nhất, tập trung phấn đấu trên tinh thần “chỉ bàn làm, không bàn lùi”, “làm hết việc không làm hết giờ làm việc”, nỗ lực lớn, quyết tâm cao, hành động quyết liệt, khắc phục khó khăn, tranh thủ thời cơ, thuận lợi bảo đảm thực hiện tốt các nhiệm vụ năm 2026, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.
Cũng trong ngày 21/12, Bộ Xây dựng đã tổ chức Lễ Công bố vận hành Cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng; và các hệ thống, nền tảng số trọng điểm của ngành. Sự kiện này thể hiện quyết tâm của ngành Xây dựng trong việc thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về đẩy mạnh phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
-Phan Dương
Quân đội nhân dân vững bước dưới cờ Đảng quang vinh
Trải qua hơn tám thập kỷ xây dựng, chiến đấu, chiến thắng và trưởng thành, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn thể hiện rõ bản chất cách mạng, xứng đáng với lời khen tặng của Bác Hồ: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Dưới lá cờ vinh quang của Đảng, Quân đội nhân dân mãi mãi là lực lượng chính trị tin cậy, tuyệt đối trung thành, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân.
Cách đây 81 năm, tại khu rừng giữa hai tổng Hoàng Hoa Thám và Trần Hưng Đạo, châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, thực hiện Chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân với 34 chiến sĩ “quần nâu áo vải”- tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam, được thành lập. Trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Quân đội ta là lực lượng nòng cốt cùng toàn Đảng, toàn dân lập nên nhiều chiến công hiển hách trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thắng lợi đó kết tinh, hội tụ bởi nhiều yếu tố, trong đó, sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội là nhân tố có ý nghĩa quyết định.
Tổng Bí thư Tô Lâm dự Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XII. Ảnh: TTXVNSự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội được khẳng định trong “Chánh cương vắn tắt” năm 1930 với tư tưởng chiến lược phải “tổ chức ra quân đội công nông”, coi việc xây dựng Lực lượng vũ trang là yếu tố then chốt để thực hiện thắng lợi sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc. Quan điểm mang tính nền tảng này là bước khởi đầu tạo nên mô hình quân đội kiểu mới mang bản chất giai cấp công nhân, trung thành tuyệt đối với mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Với đường lối quân sự nhất quán, Đảng đã xây dựng Lực lượng vũ trang từ những tổ chức tự vệ công nông ban đầu, từng bước phát triển thành những đội du kích, tự vệ chiến đấu và đến tháng 12-1944 là sự ra đời của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, thông qua chi bộ đảng để lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ một cách tuyệt đối, trực tiếp. Chính tổ chức Đảng trong Quân đội đã tạo nên sự thống nhất cao độ về ý chí, kỷ luật và sức chiến đấu, giúp Quân đội ta giành chiến thắng ngay từ những trận đầu, mở ra truyền thống “Quyết chiến, Quyết thắng”. Sự lãnh đạo của Đảng tiếp tục thể hiện rõ trong Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945. Dưới sự chỉ đạo sáng suốt của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, các lực lượng vũ trang cách mạng giữ vai trò xung kích, phối hợp với lực lượng chính trị của quần chúng nổi dậy giành chính quyền trên phạm vi cả nước.
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội thể hiện tập trung ở đường lối “kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính”. Nhờ đó, Quân đội ta từ một lực lượng còn non trẻ đã phát triển thành đội quân chủ lực có tổ chức và nghệ thuật tác chiến ngày càng hoàn thiện làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu", mở đầu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân, cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới.
Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, sự lãnh đạo của Đảng càng thể hiện mạnh mẽ hơn. Đảng chủ trương kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, ngoại giao; chỉ đạo xây dựng Lực lượng vũ trang ba thứ quân; phát triển thế trận chiến tranh nhân dân. Quân đội mở những chiến dịch chiến lược mang tính quyết định, đặc biệt là tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, hoàn thành vẻ vang sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, viết nên trang sử hào hùng của thời đại Hồ Chí Minh.
Tổng Bí thư Tô Lâm với cán bộ, chiến sỹ tăng thiết giáp, tháng 4/2025. Ảnh: TTXVNDưới sự lãnh đạo của Đảng, Quân đội ta chiến đấu giành thắng lợi trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc; thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả, giúp nhân dân Lào bảo vệ thành quả cách mạng, giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng.
Thắng lợi trong kháng chiến chống thực dân, đế quốc, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền đất nước đã khẳng định ý chí kiên cường của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta, minh chứng cho sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết quân-dân dưới sự lãnh đạo của Đảng và vai trò nòng cốt của quân đội. Thắng lợi đó không chỉ góp phần tạo ra môi trường hòa bình ổn định phát triển trong nước mà còn góp phần giữ vững hòa bình, ổn định khu vực Đông Nam Á và trên thế giới.
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, Quân đội tiếp tục khẳng định vai trò là đội quân chính trị tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Toàn quân hoàn thành xuất sắc cả ba chức năng: Đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất. Quân đội luôn chủ động nắm chắc tình hình, nâng cao năng lực tham mưu chiến lược, xử lý tốt các tình huống, không để bị động, bất ngờ; đặc biệt là trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo, giữ vững độc lập, toàn vẹn lãnh thổ; góp phần củng cố nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, tạo dựng thế phòng thủ chủ động, xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc. Công tác đối ngoại quốc phòng được tăng cường, đóng góp tích cực vào môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Quân đội luôn gương mẫu trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng; đi đầu trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quân đội luôn nêu cao tinh thần tự lực, tự cường, chủ động tích cực tham gia xây dựng, phát triển kinh tế xã hội, góp phần quan trọng vào thắng lợi công cuộc đổi mới. Toàn quân làm tốt “nhiệm vụ chiến đấu thời bình”, phát huy vai trò nòng cốt trong giúp dân phòng, chống khắc phục hậu quả thiên tai, cứu hộ cứu nạn, xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới và cơ sở chính trị địa phương vững mạnh. Hình ảnh cán bộ, chiến sĩ quân đội luôn có mặt ở những nơi xung yếu, khó khăn, nguy hiểm, xả thân để bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân đã tô thắm phẩm chất, truyền thống Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới, thắt chặt mối quan hệ gắn bó máu thịt quân-dân, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc.
Tổng Bí thư Tô Lâm và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phan Văn Giang tham quan vũ khí, khí tài của Binh chủng Tăng thiết giáp. Ảnh: TTXVNBước vào giai đoạn phát triển mới, tình hình quốc tế và khu vực tiếp tục diễn biến nhanh chóng, phức tạp, tiềm ẩn nhiều yếu tố khó lường. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng; các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống đan xen tác động toàn diện đến nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Ở trong nước, thế và lực của đất nước ta sau gần 40 năm Đổi mới đã lớn mạnh không ngừng, song sự nghiệp củng cố quốc phòng, bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ đứng trước yêu cầu mới, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, xây dựng Quân đội “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại” đặt ra yêu cầu, đòi hỏi cao hơn, chủ động hơn, mạnh mẽ hơn. Để tiếp tục giữ vững, phát huy vai trò của Quân đội trong xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới, Đảng bộ Quân đội và toàn quân cần tập trung thực hiện tốt những nhiệm vụ trọng tâm, then chốt sau đây:
Một là, kiên định và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội. Đây là vấn đề sống còn, quyết định bản chất và sức mạnh của Quân đội ta. Dù trong bất cứ hoàn cảnh, điều kiện nào, nguyên tắc Đảng lãnh đạo Quân đội cũng là điều kiện tiên quyết. Phải giữ vững bản chất cách mạng, kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng và tổ chức thực hiện chức năng, nhiệm vụ của quân đội.
Đảng bộ Quân đội phải thường xuyên quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc quan điểm, đường lối quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc của Đảng; trước hết là Nghị quyết số 44-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII, về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Nắm chắc, dự báo đúng tình hình, kịp thời tham mưu, xử lý hiệu quả các tình huống về quốc phòng, tuyệt đối không để bị động bất ngờ trong mọi tình huống. Đồng thời phải làm tốt chức năng tham mưu cho Đảng, Nhà nước trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng; thực hiện có hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Nhà nước về xây dựng Lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng vững chắc nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân; nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của quân đội.
Trong thực hiện mục tiêu chiến lược 100 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng và 100 năm thành lập nước, Quân đội phải là một trong những lực lượng nòng cốt tiếp tục tham mưu với Đảng, Nhà nước nắm bắt thời cơ, đẩy lùi thách thức; phải thực sự là đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động, sản xuất; trong đó thực hiện tốt đột phá phát triển công nghiệp quốc phòng đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa, trong tổng thể đường lối xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ. Đồng thời tăng cường đóng góp trong duy trì hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới.
Tổng Bí thư Tô Lâm gặp mặt đoàn đại biểu tiêu biểu dự Đại hội đại biểu phụ nữ Quân đội lần thứ VIII. Ảnh: TTXVNHai là, tập trung xây dựng Đảng bộ Quân đội thực sự trong sạch, vững mạnh toàn diện, mẫu mực, tiêu biểu. Đây là nhân tố quyết định để giữ vững sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội và bảo đảm cho Quân đội hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ.
Đảng bộ Quân đội phải tiếp tục quán triệt sâu sắc và tổ chức thực hiện nghiêm các nghị quyết, chỉ thị, quy định, kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quân ủy Trung ương về xây dựng Đảng; gắn Nghị quyết Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng với việc thực hiện Chỉ thị về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và Nghị quyết số 847-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới. Chăm lo xây dựng Đảng bộ Quân đội vững mạnh, trước hết về chính trị, kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tự phê bình và phê bình; tăng cường đoàn kết, thống nhất trong Đảng.
Đồng thời, coi trọng đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo, nhất là ở cơ sở. Gắn xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh với xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”; xây dựng môi trường văn hóa quân sự lành mạnh, dân chủ, kỷ luật cao; kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, quan liêu, nói không đi đôi với làm, những biểu hiện xa rời nhân dân, làm tổn hại uy tín Đảng, Quân đội.
Khối sỹ quan Lục quân Quân đội Nhân dân Việt Nam trong Lễ diễu binh Kỷ niệm 80 năm Quốc khánh 2/9/2025. Ảnh: TTXVN.Ba là, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện, sức chiến đấu của Đảng bộ Quân đội và hiệu quả công tác Đảng, công tác chính trị.
Trước hết, tập trung rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định, quy chế, hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội trong tình hình mới. Kịp thời kiện toàn các cấp ủy, tổ chức đảng đồng bộ với điều chỉnh tổ chức Quân đội. Chấp hành nghiêm nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, phát huy hiệu quả tự phê bình và phê bình; đánh giá tổ chức đảng, đảng viên thực chất, đúng chuẩn mực.
Đổi mới nội dung, phương pháp và nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo, kỹ năng và nghiệp vụ công tác đảng cho đội ngũ cấp ủy viên cơ sở. Phối hợp chỉ đạo nâng cao chất lượng, hiệu quả lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng địa phương, công tác biên phòng và hoạt động của chi bộ quân sự cấp xã theo mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp.
Công tác Đảng, công tác chính trị phải thật sự là trung tâm gắn kết, dẫn dắt, lan tỏa trong toàn quân. Các cấp ủy, cán bộ chủ trì, cơ quan chính trị cần bám sát tình hình, cụ thể hóa kịp thời đường lối, chủ trương của Đảng thành chương trình, kế hoạch phù hợp. Phải chủ động nắm chắc, dự báo đúng tư tưởng bộ đội, kịp thời định hướng, giữ vững đoàn kết, thống nhất. Kết hợp chặt chẽ công tác tư tưởng với công tác tổ chức, cán bộ, dân vận, chính sách, bảo vệ chính trị nội bộ và kiểm tra, giám sát, tạo nên sức mạnh tổng hợp từ mỗi cơ quan, đơn vị. Tăng cường công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học chính trị đủ tầm, thu hút nhân tài đáp ứng yêu cầu mới.
Bốn là, kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch.
Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đang đẩy mạnh “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, nhất là trước, trong và sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan chính trị các cấp phải tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới, gắn với các chương trình, kế hoạch của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng. Chủ động xây dựng lực lượng chuyên trách, nòng cốt đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, nhất là trên không gian mạng; kết hợp chặt chẽ xây và chống.
Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; giữ vững nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng, kỷ luật, kỷ cương của Đảng. Tăng cường giáo dục, rèn luyện, nâng cao “sức đề kháng”, “khả năng miễn dịch” về chính trị, tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ trước những thông tin xấu, độc. Phát huy vai trò của công tác thông tin, tuyên truyền, báo chí, xuất bản; bám sát nhiệm vụ cách mạng của quân đội, giữ đúng định hướng chính trị, quan điểm, đường lối của Đảng; tích cực đấu tranh với những quan điểm sai trái, thù địch.
Tự hào với truyền thống vẻ vang 81 năm của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn tin tưởng Quân đội ta tiếp tục phát huy phẩm chất tốt đẹp, xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, góp phần xây dựng đất nước hòa bình, giàu mạnh, hạnh phúc trong kỷ nguyên mới của dân tộc.
-TÔ LÂM - Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Bí thư Quân ủy Trung ương
Ước tính giá trị thanh toán không dùng tiền mặt trong năm nay gấp 26 lần GDP
Thủ tướng Phạm Minh Chính kết luận tại Diễn đàn quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số lần thứ 3 với chủ đề: "Phát triển kinh tế số, xã hội số toàn diện, bao trùm – Đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số giai đoạn 2026-2030" ngày 20/12.
Giai đoạn 2021-2025, Chính phủ đã trình Quốc hội xem xét, thông qua 28 dự án luật và 1 nghị quyết để tạo đột phá cho phát triển và ban hành 91 nghị định thi hành các luật liên quan.
Quốc hội đã thông qua nhiều luật, nghị quyết quan trọng liên quan đến phát triển kinh tế số, xã hội số như Luật Giao dịch điện tử, Luật Công nghiệp công nghệ số, Luật Dữ liệu, Luật Trí tuệ nhân tạo... Chính phủ đã ban hành Chiến lược quốc gia về phát triển kinh tế số và xã hội số (Quyết định 411/QĐ-TTg ngày 31/3/2022); Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 57 (Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 01/4/2025).
Đây là hệ thống các văn kiện, văn bản có ý nghĩa chiến lược, vừa là nền tảng, vừa là động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững, trong đó phát triển kinh tế số, xã hội số là một trong những nội dung chiến lược, quan trọng.
TĂNG TRƯỞNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ CAO NHẤT KHU VỰC, THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT GẤP 26 LẦN GDPThời gian qua, kinh tế số đã có bước phát triển rõ rệt; thể chế số ngày càng được bổ sung; hạ tầng số có bước phát triển nhảy vọt; nhận thức về xã hội số của người dân được nâng lên; người dân, doanh nghiệp đã được hưởng thành quả từ chuyển đổi số mang lại.
Tuy nhiên, chỉ tiêu phát triển kinh tế số đến năm 2025 đạt 14%, chưa đạt mục tiêu đề ra (20%); thể chế về kinh tế số, xã hội số, dữ liệu số vẫn còn chưa đồng bộ, đầy đủ; hạ tầng số phát triển chưa đồng đều; nhân lực số chưa đáp ứng nhu cầu; an ninh mạng còn tiềm ẩn nhiều rủi ro…
Phát biểu kết luận, Thủ tướng Phạm Minh Chính yêu cầu Bộ Khoa học và Công nghệ nghiên cứu, tiếp thu các ý kiến tại Diễn đàn để bổ sung, hoàn thiện Chương trình Phát triển kinh tế số, xã hội số giai đoạn 2026-2030 để thống nhất triển khai thực hiện từ Trung ương đến cơ sở.
Thủ tướng nêu rõ, muốn phát triển kinh tế số thì phải có xã hội số, muốn có xã hội số thì phải có công dân số.
Thứ nhất, chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và xã hội số có sự chuyển biến rõ nét về cả nhận thức, tư duy và hành động, lan tỏa đến "mọi nhà, mọi người", thẩm thấu vào mọi mặt hoạt động của đời sống, xã hội, củng cố niềm tin của người dân và doanh nghiệp, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững.
Thứ hai, thể chế, cơ chế, chính sách được tập trung sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện, nhằm tháo gỡ "điểm nghẽn", khơi thông nguồn lực cho phát triển.
Thứ ba, về hạ tầng số đã có bước tiến về năng lực, công nghệ và chất lượng: Đẩy mạnh triển khai dịch vụ 5G (đã lắp đặt gần 24.000 trạm 5G, phủ sóng hầu hết các đô thị, đạt tỉ lệ 58,9% dân số cả nước); tốc độ Internet di động tăng 50 bậc, năm 2025 lọt vào top 20 thế giới, vượt qua nhiều quốc gia phát triển; dự án Trung tâm dữ liệu quốc gia số 1 đã đi vào vận hành trong năm 2025, đang nghiên cứu hình thành các Trung tâm khác; đến nay, đã đưa vào khai thác 03 tuyến cáp quang biển và trên đất liền, tăng năng lực kết nối quốc tế lên gấp hơn 02 lần so với cuối năm 2020…
Thứ tư, kinh tế số có bước phát triển mạnh mẽ, ngày càng khẳng định vai trò là một động lực tăng trưởng mới quan trọng.
Số lượng doanh nghiệp công nghệ số tăng nhanh từ 58.000 năm 2020 lên khoảng 80.000 năm 2025. Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm công nghệ số tăng mạnh năm 2025 ước đạt 172 tỷ USD, tăng gấp hơn 1,7 lần so với năm 2020. Thương mại điện tử bứt phá ngoạn mục, ước đạt 36 tỷ USD năm 2025, tăng 3 lần so với năm 2020, tăng trưởng 22-25%/năm, cao nhất khu vực.
Thanh toán không dùng tiền mặt phổ cập đến mọi doanh nghiệp, mọi nhà, mọi người. Đến cuối năm 2025, ước tính giá trị thanh toán không dùng tiền mặt gấp 26 lần GDP với hơn 20,2 tỷ giao dịch/năm..
Công tác quản lý thuế, hóa đơn điện tử được triển khai quyết liệt, hiệu quả, góp phần tăng thu ngân sách nhà nước. Cuối năm 2025, đã xử lý 8,5 tỷ hóa đơn điện tử (tăng 3,4 lần so với năm 2022); đã có 368.000 doanh nghiệp, hộ kinh doanh đăng ký sử dụng với 4,8 tỷ hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền. Thu thuế từ thương mại điện tử đạt 208,8 nghìn tỷ đồng, tăng 2,5 lần so với năm 2022.
Thứ năm, xã hội số phát triển rộng khắp trên tinh thần không ai bị bỏ lại phía sau, người dân được thụ hưởng ngày càng nhiều các dịch vụ, tiện ích số.
Về giáo dục và đào tạo, trong đại dịch COVID-19, Việt Nam đã nhanh chóng chuyển đổi từ học "trực tiếp" sang "trực tuyến" với phương châm "tạm dừng đến trường nhưng không dừng học".
Về y tế, 100% các cơ sở y tế đã triển khai khám chữa bệnh bảo hiểm y tế bằng căn cước công dân; đã có gần 900 bệnh viện triển khai bệnh án điện tử; nhiều dữ liệu y tế được kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
Về bảo đảm an sinh xã hội, thực hiện chi trả trợ cấp qua tài khoản ngân hàng cho khoảng 3 triệu người thuộc đối tượng bảo trợ xã hội và người có công với cách mạng với trên 40 nghìn tỷ đồng; tích hợp hơn 17 triệu tài khoản an sinh xã hội trên nền tảng VNeID..
Bên cạnh những kết quả đạt được, Thủ tướng thẳng thắn chỉ rõ những tồn tại, hạn chế trong phát triển kinh tế số, xã hội số thời gian qua.
Theo đó, thể chế, cơ chế, chính sách về kinh tế số, xã hội số, dữ liệu số chưa đồng bộ, đầy đủ. Phát triển hạ tầng số chưa đồng đều; nhiều khu vực miền núi, hải đảo vẫn còn khó khăn trong tiếp cận internet và dịch vụ số; triển khai hạ tầng 5G và Internet vệ tinh chưa đạt mục tiêu đề ra. Nguồn nhân lực số còn yếu và thiếu. Năng lực đổi mới sáng tạo và nghiên cứu - phát triển (RD) còn khiêm tốn.
Nhiều doanh nghiệp Việt Nam đối mặt với các khó khăn, thách thức lớn trong chuyển đổi số, nhất là về tài chính, nhân lực, văn hóa, nhận thức và công nghệ. Bảo đảm an ninh mạng ở nhiều nơi còn chưa được quan tâm đúng mức; lừa đảo trực tuyến, tấn công mạng, lộ lọt thông tin cá nhân vẫn còn diễn biến rất phức tạp.
Thủ tướng cho rằng, nguyên nhân lớn nhất là người đứng đầu ở một số nơi thiếu quan tâm về lãnh đạo, chỉ đạo, đầu tư, tạo động lực, truyền cảm hứng cho bộ máy; thể chế, cơ chế chính sách vẫn còn nhiều vướng mắc trong triển khai thực hiện và chưa theo kịp yêu cầu của thực tiễn; xuất phát điểm của nền kinh tế thấp, nên nguồn lực cho chuyển đổi số, hạ tầng số và đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (RD) còn khó khăn; công tác tổ chức thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, việc phân công nhiệm vụ chưa đảm bảo nguyên tắc "6 rõ"; đầu tư còn dàn trải, thiếu trọng tâm, trọng điểm; phát triển nhân lực và đào tạo còn chưa bắt kịp tốc độ thay đổi công nghệ…
CẦN ĐẨY MẠNH SỐ HOÁ TÁI CẤU TRÚC NGÀNH CÔNG NGHIỆPVề các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm thời gian tới, Thủ tướng yêu cầu trước hết, tất cả các chủ thể, các bộ, ngành, địa phương, cơ quan, đều phải thúc đẩy phát triển xã hội số, kinh tế số, công dân số; đẩy mạnh chuyển đổi số ở tất cả các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế và thúc đẩy phát triển xã hội số bao trùm, nhân văn.
Thủ tướng ghi nhận, biểu dương và đánh giá cao những nỗ lực, cố gắng và kết quả đạt được của các bộ, ngành, địa phương - Ảnh: VGP.Về công nghiệp, đẩy mạnh số hóa và tái cấu trúc các ngành công nghiệp, nhất là các ngành công nghiệp nền tảng, mũi nhọn bằng sức mạnh của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Sớm hình thành các "Tổ hợp công nghiệp kỹ thuật số" quy mô lớn, tạo giá trị gia tăng và sức lan tỏa lớn.
Phát triển "Nông nghiệp công nghệ cao - Nông dân số - Nông thôn thông minh". Gắn kết chặt chẽ xây dựng nông thôn mới với phát triển làng, xã kỹ thuật số. Xây dựng các sản phẩm nông nghiệp thương hiệu Việt Nam mới, độc đáo, tiêu chuẩn cao, ứng dụng công nghệ số và chuyển đổi xanh.
Về dịch vụ, thương mại, tập trung xây dựng các hệ sinh thái dịch vụ số thông minh, hiện đại; lấy tài chính, logistics và du lịch làm mũi nhọn đột phá. Kích cầu tiêu dùng trên môi trường số, phát triển mạnh mẽ thương mại điện tử; thanh toán không dùng tiền mặt. Phát động, triển khai hiệu quả chương trình "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam trên không gian số".
Đẩy mạnh chuyển đổi số để ''tối ưu hóa" các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục... với sổ sức khỏe điện tử, học bạ điện tử; cải cách, cắt giảm tối đa thủ tục, hồ sơ hành chính. Xây dựng mạng lưới an sinh xã hội số minh bạch, hiệu quả trên tinh thần "không ai bị bỏ lại phía sau". Đồng thời, kiến tạo các không gian văn hóa số đa dạng, giữ gìn bản sắc, làm giàu thêm đời sống văn hóa, tinh thần và để người dân được hạnh phúc hơn trong kỷ nguyên số.
Trong lĩnh vực môi trường, Thủ tướng yêu cầu đẩy mạnh ứng dụng công nghệ để chuyển trạng thái từ bị động, chống đỡ sang chủ động, thích ứng.
Thứ hai, để hoàn thiện thể chế, cơ chế chính sách bảo đảm thông thoáng, trở thành lợi thế cạnh tranh quốc gia, Thủ tướng chỉ đạo Bộ Khoa học và Công nghệ khẩn trương hoàn thiện, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình phát triển kinh tế số, xã hội giai đoạn 2026-2030 trong tháng 12/2025.
Bộ Công an chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan xây dựng và trình ban hành Khung Kinh tế dữ liệu quốc gia và lộ trình triển khai, trong đó xây dựng cơ chế chia sẻ dữ liệu công - tư và khung pháp lý về định giá, thương mại hóa, khai thác và quản trị dữ liệu, hoàn thành trong tháng 1/2026; triển khai đồng bộ các giải pháp thu hút nguồn vốn phát triển kinh tế số, xã hội theo nguyên tắc lấy đầu tư công dẫn dắt đầu tư tư và kích hoạt mọi nguồn lực xã hội.
Thứ ba, phát triển hạ tầng số, nhân lực số quốc gia; khẩn trương hoàn thiện các cơ sở dữ liệu quốc gia và của các ngành, địa phương. Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp triển khai các chương trình đào tạo với hình thức đa dạng; cùng với các trường, các doanh nghiệp công nghệ số nhanh chóng triển khai có hiệu quả Chương trình học từ làm việc thực tế.
Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với Bộ Nội vụ, Bộ Khoa học và Công nghệ và các đơn vị liên quan xây dựng Báo cáo tổng thể về các ngành, nghề bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi trí tuệ nhân tạo để xây dựng kế hoạch đào tạo lại, nâng cấp, chuyển đổi kỹ năng cho người lao động, trình Thủ tướng Chính phủ trong Quý I/2026.
Thứ tư, để phát triển doanh nghiệp số Việt Nam, Thủ tướng giao Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính đẩy mạnh triển khai Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số, trình Thủ tướng Chính phủ trong tháng 01/2026, trong đó có giải pháp xây dựng các nền tảng ứng dụng trí tuệ nhân tạo của Việt Nam với giá thành rẻ, dễ tiếp cận, dễ sử dụng.
Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành nghiên cứu xây dựng các cơ chế, chính sách khuyến khích, ưu đãi đặc thù hình thành doanh nghiệp dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, đồng thời các chính sách ưu đãi về thuế, đất đai và cam kết năng lượng xanh phải được thực hiện.
Thứ năm, về an ninh mạng, chủ quyền số và thúc đẩy hợp tác quốc tế, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng triển khai đồng bộ các giải pháp để bảo đảm an ninh mạng quốc gia, dữ liệu quốc gia và bảo vệ dữ liệu cá nhân, đưa Việt Nam phát huy vai trò tiên phong trong thực hiện Công ước của Liên Hợp Quốc (Công ước Hà Nội) về chống tội phạm mạng. Bộ Công Thương đẩy nhanh tiến độ, sớm kết thúc đàm phán và hoàn thành thủ tục để Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Hiệp định Đối tác Kinh tế số (DEPA).
Thứ sáu, về phát triển xã hội số, bảo vệ các nhóm yếu thế, Thủ tướng giao Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với doanh nghiệp công nghệ (viễn thông, cung cấp nền tảng số) nghiên cứu, xây dựng và tổ chức triển khai hiệu quả các giải pháp giảm thiểu các tác động tiêu cực trên không gian mạng, nhất là cho các nhóm yếu thế (như trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật, đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới hải đảo… - những đối tượng đang là mục tiêu chính của các hành vi lừa đảo, tấn công mạng).
Đẩy mạnh triển khai phong trào "Bình dân học vụ số", các chương trình phổ cập kỹ năng số, kỹ năng an toàn thông tin cho người dân, doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh, với tinh thần "học tập suốt đời".
-Hạ Chi
Kinh tế số, xã hội số kiến tạo không gian phát triển mới
Sáng 20/12 tại Hà Nội, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính chủ trì Diễn đàn quốc gia phát triển Kinh tế số và xã hội số lần thứ 3 với “Phát triển kinh tế số, xã hội số toàn diện, bao trùm - Đạt mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số giai đoạn 2026 - 2030”. Cùng dự và chủ trì Diễn đàn có Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn, Phó Thủ tướng Nguyễn Chí Dũng; Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Mạnh Hùng, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Đỗ Thanh Bình.
VIỆT NAM CẦN TIẾN CÙNG, BẮT KỊP VÀ VƯỢT LÊN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ SỐ, XÃ HỘI SỐ
Phát biểu khai mạc Diễn đàn, Thủ tướng Phạm Minh Chính cho biết diễn đàn có ý nghĩa quan trọng chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, Đại hội Thi đua yêu nước lần thứ XI; đồng thời định hình những phương hướng mới, những nhiệm vụ mới, những mục tiêu mới để phát triển kinh tế số, xã hội số.
Theo Thủ tướng, Việt Nam xác định phát triển kinh tế số nhằm đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cấu trúc nền kinh tế, nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh, xây dựng xã hội số bao trùm, nhân văn, nâng cao chất lượng sống, bình đẳng tiếp cận dịch vụ, thu hẹp khoảng cách phát triển, phát huy bản sắc văn hóa trên môi trường số.
Trên tinh thần "kinh tế số là động lực, xã hội số là nền tảng, con người làm trung tâm", thời gian qua, Đảng, Nhà nước, Chính phủ luôn quan tâm và đề ra nhiều chủ trương, đường lối, cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế số và xã hội số. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII xác định rất rõ là phát triển kinh tế số, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế số, từng bước phát triền kinh tế số, xã hội số.
Tháng 12/2024, Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị đã xác định đây là một đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới. Như vậy, sau một nhiệm kỳ, nhận thức của chúng ta về vai trò, vị trí của kinh tế số, xã hội số đã có thay đổi, Thủ tướng nhận định.
Theo Thủ tướng, mục tiêu của diễn đàn không dừng lại ở việc tổng kết, đánh giá mà còn thảo luận, phân tích và đề xuất các giải pháp đột phá phát triển kinh tế số, xã hội số trong những năm tới.
Thủ tướng và các đại biểu tham quan trưng bày các sản phẩm công nghệ tại Diễn đàn - Ảnh: VGP.Thủ tướng đề nghị các đại biểu đánh giá thẳng thắn, khách quan, minh chứng bằng số liệu cụ thể về thực trạng phát triển kinh tế số, xã hội số của Việt Nam thời gian vừa qua, những kết quả nổi bật là gì, chúng ta đang đứng ở đâu trong chuỗi giá trị công nghệ toàn cầu.
Cùng với đó, chia sẻ những kinh nghiệm hay, bài học quý, cách làm sáng tạo trong phát triển kinh tế số, xã hội số, đặc biệt là các bài học từ các tập đoàn công nghệ lớn, các địa phương đi đầu để chúng ta nhân rộng các mô hình thành công.
Đồng thời, nhận diện rõ những tồn tại, hạn chế, yếu kém, vướng mắc, rào cản, điểm nghẽn, nhất là về thể chế và cơ chế chính sách để triển khai, phát triển các dịch vụ số xuyên biên giới, thuế, sở hữu trí tuệ, đảm bảo an ninh mạng….
Đặc biệt, xác định rõ các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, đột phá để thúc đẩy phát triển mạnh mẽ kinh tế số, xã hội số trong thời gian tới; để kinh tế số thực sự thấm sâu vào mọi người, mọi nhà, mọi ngõ ngách của nền kinh tế, trong nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng, dịch vụ, môi trường, phòng chống thiên tai, dịch bệnh…
Thủ tướng đặt vấn đề: Làm thế nào để khơi thông những điểm nghẽn còn ách tắc trong kết nối, chia sẻ dữ liệu? Cần những cơ chế đặc thù gì Việt Nam trở thành cái nôi của khởi nghiệp sáng tạo và phát triển công nghệ mới? Làm gì để xây dựng một xã hội số văn minh, bao trùm, không để ai bị bỏ lại phía sau? Huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực xã hội như thế nào cho hiệu quả, như đầu tư công, đầu tư tư nhân, đầu tư nước ngoài, hợp tác công tư?.
Người đứng đầu Chính phủ đề nghị các đại biểu góp ý để xây dựng một chương trình về kinh tế số, xã hội số phù hợp với điều kiện, đặc thù Việt Nam trong dòng chảy chung của thế giới, để Việt Nam tiến cùng, bắt kịp và vượt lên về phát triển kinh tế số, xã hội số trong kỷ nguyên mới. Theo Thủ tướng, đây là việc không phải đơn giản nhưng nếu có cách đi, cách làm tốt thì sẽ rút ngắn được thời gian, tiết kiệm được công sức.
KINH TẾ SỐ PHẢI THÀNH KHÔNG GIAN PHÁT TRIỂN MỚI
Trình bày báo cáo tại diễn đàn, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Mạnh Hùng cho biết diễn đàn lần thứ ba sẽ bàn một vấn đề lớn: Làm thế nào để kinh tế số và xã hội số thực sự trở thành không gian phát triển mới của Việt Nam, chứ không chỉ là sự số hóa của mô hình cũ, để góp phần mang tính quyết định cho tăng trưởng hai con số?
Phát triển kinh tế số và xã hội số của Việt Nam trong giai đoạn tới sẽ chuyển từ số hóa cái cũ sang kiến tạo không gian phát triển mới, nơi dữ liệu, AI, nền tảng số, doanh nghiệp số và công dân số cùng trở thành động lực tăng trưởng.
Theo ông Hùng, kinh tế số của Việt Nam hiện nay vẫn chủ yếu là số hóa các hoạt động cũ, chưa chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng mới. Tỉ trọng kinh tế số trong GDP tăng nhanh nhưng giá trị gia tăng nội địa còn thấp, phụ thuộc nhiều vào các nền tảng xuyên biên giới. Nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa chưa thực sự tham gia vào chuỗi giá trị số.
Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Mạnh Hùng trình bày báo cáo tại Diễn đàn: Ảnh: VGP.Vì vậy, nhiệm vụ của giai đoạn tới không chỉ là làm nhiều hơn, mà là làm khác đi, làm sâu hơn, tạo ra giá trị gia tăng nhiều hơn và làm bền vững hơn. Bởi vậy, rất cần những đổi mới mang tính đột phá.
Thứ nhất, kiến tạo một cấu trúc nền kinh tế số quốc gia thay vì số hóa rời rạc từng lĩnh vực. Chuyển từ tiếp cận mỗi ngành một đề án chuyển đổi số sang thiết kế lại cấu trúc nền kinh tế dựa trên các lớp hạ tầng số dùng chung như viễn thông, internet, điện toán, dữ liệu số, AI, nền tảng số và dịch vụ số. Nhà nước phải đóng vai kiến trúc sư trưởng của nền kinh tế số và xã hội số quốc gia, định hình cấu trúc để thị trường vận hành.
Kinh tế số dựa trên tư liệu sản xuất mới là dữ liệu, dựa trên phương tiện máy móc sản xuất mới là hạ tầng số, cloud, IoT, AI và nền tảng số; dựa trên khung vận hành mới là các luật lệ mới về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, dữ liệu số, công nghệ số, AI và an toàn, an ninh mạng; dựa trên các chủ thể số là doanh nghiệp số và chuỗi giá trị số.
Thứ hai, coi dữ liệu, AI, năng lực tính toán là năng lực sản xuất nền tảng của nền kinh tế số, không chỉ là công cụ hỗ trợ, tương đương như điện, nước, viễn thông. Nhà nước, doanh nghiệp, người dân có thể sử dụng dưới dạng dịch vụ. Nhà mạng phải trở thành xương sống của không gian số quốc gia, không chỉ là mạng viễn thông, đó còn là trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây, điện toán biên, nền tảng, an toàn an ninh mạng.
Thứ ba, chuyển từ chính phủ điện tử là số hóa thủ tục sang nhà nước điều hành dựa trên dữ liệu và mô hình dự báo. Nhà nước là một hệ thống phức hợp, vượt quá khả năng xử lý của con người, nhưng một khi đã lên môi trường số thì AI có khả năng xử lý, dự báo. Các chính sách được thiết kế, mô phỏng, thử nghiệm, đánh giá tác động bằng dữ liệu sẽ nhanh hơn và chính xác hơn. Quản lý theo rủi ro, theo tác động xã hội, giám sát diện rộng rồi thanh kiểm tra có trọng tâm.
Thứ tư, phát triển thị trường số quốc gia lấy doanh nghiệp làm trung tâm. Chuyển từ hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi số sang tạo thị trường số, tạo cầu cho doanh nghiệp Việt Nam, tạo niềm tin cho doanh nghiệp số Việt Nam. Doanh nghiệp Việt Nam lớn lên trong thị trường nội địa rồi từ đó đi ra toàn cầu, hình thành các tập đoàn công nghệ Việt Nam có năng lực nền tảng số.
Thứ năm, xây dựng xã hội số lấy con người làm trung tâm và niềm tin số làm nền tảng. Chuyển đổi số cuối cùng là chuyển đổi con người. Cần phổ cập kỹ năng số, tư duy số, đạo đức số cho toàn xã hội, xây dựng văn hóa số Việt Nam nhân văn, an toàn, sáng tạo và có trách nhiệm. Xã hội số không chỉ là phổ cập công nghệ mà là trao quyền số cho người dân, gắn với niềm tin, đạo đức và văn hóa số. Nếu kinh tế số trả lời câu hỏi "làm ra của cải như thế nào?" thì xã hội số trả lời câu hỏi "phát triển vì ai?".
Xã hội số không phải là xã hội mà mọi thứ đều được đưa lên môi trường mạng, mà là xã hội trong đó mỗi người dân được trao quyền nhiều hơn nhờ có công nghệ số: Quyền tiếp cận thông tin, quyền tiếp cận dịch vụ công, quyền học tập suốt đời, quyền tham gia quản lý xã hội.
Trong xã hội số thì công dân số không chỉ là người thụ hưởng mà là chủ thể tham gia kiến tạo chính sách. Chính quyền không chỉ là cơ quan quản lý mà là nhà cung cấp dịch vụ công dựa trên dữ liệu. Cộng đồng số trở thành một không gian xã hội mới song song và gắn kết với không gian vật lý.
“Kinh tế số và xã hội số không chỉ là câu chuyện của công nghệ mà là câu chuyện của tái cấu trúc phát triển, tái thiết niềm tin và tái định vị vai trò nhà nước, doanh nghiệp và người dân trong kỷ nguyên số. Với dữ liệu làm nền tảng, nền tảng số làm động lực, thể chế làm dẫn dắt và con người làm trung tâm, chúng ta có đủ điều kiện để chuyển đổi thành công mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng cuộc sống, xã hội”, ông Hùng khẳng định.
-Hà Giang
