Thời Báo Kinh Tế
Thủ tướng yêu cầu lập báo cáo tác động của AI tới các ngành, nghề
Văn phòng Chính phủ có Thông báo số 4/TB-VPCP kết luận của Thủ tướng Phạm Minh Chính tại Diễn đàn quốc gia về phát triển kinh tế số và xã hội số lần thứ 3.
PHỦ SÓNG 5G GẦN 59% DÂN SỐ, INTERNET VÀO TOP 20 THẾ GIỚITheo thông báo, chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và xã hội số thời gian qua có sự chuyển biến rõ nét về cả nhận thức, tư duy và hành động. Hạ tầng số đã có bước "đột phá" về năng lực, công nghệ và chất lượng. Phủ sóng 5G gần 59% dân số. Internet vào top 20 thế giới.
100% cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế đã dùng căn cước công dân gắn chip; thực hiện chi trả trợ cấp qua tài khoản ngân hàng cho khoảng 3 triệu người thuộc đối tượng bảo trợ xã hội và người có công với cách mạng với trên 40 nghìn tỷ đồng.
Dù vậy, phát triển kinh tế số, xã hội số vẫn còn tồn tại một số hạn chế, vướng mắc về thể chế, chính sách; dữ liệu số chưa đầy đủ; phát triển hạ tầng số chưa đồng bộ; nguồn nhân lực số còn yếu và thiếu; năng lực đổi mới sáng tạo và nghiên cứu - phát triển (RD) còn khiêm tốn; vấn đề an toàn an ninh mạng nhiều nơi còn chưa được quan tâm đúng mức; lừa đảo trực tuyến, lộ lọt thông tin cá nhân vẫn còn diễn biến rất phức tạp…
SẼ CÓ KẾ HOẠCH ĐÀO TẠO LẠI, NÂNG CẤP KỸ NĂNG CHO NGƯỜI LAO ĐỘNGĐể khắc phục những tồn tại, hạn chế nêu trên nhằm thúc đẩy phát triển mạnh mẽ kinh tế số, xã hội số trong thời gian tới, Thủ tướng đưa ra các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, đột phá như sau.
Về công nghiệp, đẩy mạnh số hóa và tái cấu trúc các ngành công nghiệp; sớm hình thành các "Tổ hợp công nghiệp kỹ thuật số", "Siêu trung tâm dữ liệu" có quy mô lớn, có giá trị gia tăng và sức lan tỏa lớn.
Về nông nghiệp, phát triển "Nông nghiệp công nghệ cao - Nông dân số - Nông thôn thông minh".
Về dịch vụ, thương mại, tập trung xây dựng các hệ sinh thái dịch vụ số thông minh, hiện đại; kích cầu tiêu dùng trên môi trường số, phát triển mạnh mẽ thương mại điện tử; thanh toán không dùng tiền mặt. Phát động, triển khai hiệu quả chương trình "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam trên không gian số".
Về môi trường, thúc đẩy mạnh mẽ "chuyển đổi kép" - kết hợp chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số để chuyển từ "bị động, chống đỡ" sang "chủ động thích ứng" với biến đổi khí hậu, thông qua tăng cường giám sát tự động...
Về xã hội số, đẩy mạnh chuyển đổi số để "tối ưu hóa" các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế (Sổ sức khỏe điện tử, bệnh án điện tử…), giáo dục (học bạ số, quản lý học sinh, sinh viên…), lao động (tuyển dụng, đào tạo, phúc lợi xã hội...). Xây dựng mạng lưới an sinh xã hội số minh bạch, hiệu quả trên tinh thần "không ai bị bỏ lại phía sau"...
Thủ tướng giao Bộ Khoa học và Công nghệ và các bộ, ngành khẩn trương xây dựng các văn bản hướng dẫn các Luật liên quan đến khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã được Quốc hội thông qua. Sớm nghiên cứu hoàn thiện khung pháp lý hợp tác công - tư cho lĩnh vực công nghệ, áp dụng cơ chế thử nghiệm cho mô hình kinh doanh mới.
Bộ Khoa học và Công nghệ tiếp thu đầy đủ ý kiến tham luận của các đại biểu tại Diễn đàn, hoàn thiện trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình phát triển kinh tế số, xã hội giai đoạn 2026-2030.
Bộ Công an chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan xây dựng và trình ban hành Khung Kinh tế dữ liệu quốc gia và lộ trình triển khai, trong đó xây dựng cơ chế chia sẻ dữ liệu công - tư và khung pháp lý về định giá, thương mại hóa, khai thác và quản trị dữ liệu, hoàn thành trong tháng 01/2026.
Triển khai đồng bộ các giải pháp để thu hút các nguồn vốn đầu tư cho phát triển kinh tế số, xã hội số theo nguyên tắc "đầu tư công dẫn dắt đầu tư tư, kích hoạt mọi nguồn lực cho xã hội, tư nhân là động lực và FDI là đòn bẩy công nghệ".
Thủ tướng yêu cầu đẩy nhanh phủ sóng 5G trên toàn quốc; phát triển nền tảng điện toán đám mây Việt Nam, bảo đảm năng lực xử lý dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo. Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ cùng với các trường, doanh nghiệp nhanh chóng triển khai có hiệu quả Chương trình "Học từ làm".
Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với Bộ Nội vụ, Bộ Khoa học và Công nghệ và các đơn vị liên quan xây dựng Báo cáo tổng thể về các ngành, nghề bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi trí tuệ nhân tạo để xây dựng kế hoạch đào tạo lại, nâng cấp, chuyển đổi kỹ năng cho người lao động, trình Thủ tướng trong quý 1/2026.
HOÀN THIỆN VÀ TRÌNH ĐỀ ÁN HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG THÁNG 1Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì khẩn trương hoàn thiện Đề án hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số, trình Thủ tướng Chính phủ trong tháng 1/2026; xây dựng Kế hoạch hành động triển khai Đề án sau khi được phê duyệt trong quý 1/2026.
Bộ Công an chủ trì nghiên cứu, xây dựng và tổ chức triển khai hiệu quả các giải pháp giảm thiểu các tác động tiêu cực trên không gian mạng, nhất là cho các nhóm yếu thế (như trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật, đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới hải đảo…).
Bộ Công Thương đẩy nhanh tiến độ, sớm kết thúc đàm phán và hoàn thành thủ tục để Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Hiệp định Đối tác Kinh tế số (DEPA).
Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với doanh nghiệp công nghệ nghiên cứu, xây dựng và tổ chức triển khai hiệu quả các giải pháp giảm thiểu các tác động tiêu cực trên không gian mạng, nhất là cho các nhóm yếu thế.
Đồng thời, đẩy mạnh triển khai phong trào "Bình dân học vụ số" với tinh thần "Đi từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng người", các chương trình phổ cập kỹ năng số, kỹ năng an toàn thông tin cho người dân, doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh.
-Bạch Dương
Xuất nhập khẩu năm 2025 cán đích kỷ lục hơn 930 tỷ USD
Theo số liệu được Cục Thống kê (Bộ Tài chính) công bố chiều 05/01/2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trong tháng 12/2025 đạt 88,72 tỷ USD, tăng 15,1% so với tháng trước và tăng 25,7% so với cùng kỳ năm trước.
Tính chung cả năm 2025, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 930,05 tỷ USD, tăng 18,2% so với năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 17,0%; nhập khẩu tăng 19,4%.
Cụ thể, về xuất khẩu, tháng 12/2025 đạt 44,03 tỷ USD, tăng 12,6% so với tháng trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 9,7 tỷ USD, tăng 17,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 34,33 tỷ USD, tăng 11,2%.
Xuất, nhập khẩu hàng hóa năm 2025. Nguồn: Cục Thống kê.So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 12/2025 tăng 23,8%, trong đó khu vực kinh tế trong nước giảm 9,8%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng 38,4%.
Trong quý 4/2025, kim ngạch xuất khẩu đạt 126,3 tỷ USD, tăng 20,0% so với cùng kỳ năm trước và giảm 1,7% so với quý 3/2025.
Tính chung cả năm 2025, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 475,04 tỷ USD, tăng 17,0% so với năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 107,95 tỷ USD, giảm 6,1%, chiếm 22,7% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 367,09 tỷ USD, tăng 26,1%, chiếm 77,3%.
Trong năm 2025 có 36 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 94,0% tổng kim ngạch xuất khẩu (có 8 mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 70,2%).
Giá trị một số mặt hàng xuất khẩu năm 2025. Nguồn: Cục Thống kê.Về cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu năm 2025, nhóm hàng công nghiệp chế biến đạt 421,47 tỷ USD, chiếm 88,7%; nhóm hàng nông sản, lâm sản đạt 39,46 tỷ USD, chiếm 8,3%; nhóm hàng thủy sản đạt 11,29 tỷ USD, chiếm 2,4%; nhóm hàng nhiên liệu và khoáng sản đạt 2,83 tỷ USD, chiếm 0,6%.
Từ chiều ngược lại, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 12/2025 đạt 44,69 tỷ USD, tăng 17,6% so với tháng trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 14,57 tỷ USD, tăng 28,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 30,11 tỷ USD, tăng 13,0%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 12/2025 tăng 27,7%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 4,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 43,4%.
Trong quý 4/2025, kim ngạch nhập khẩu đạt 123,1 tỷ USD, tăng 21,3% so với cùng kỳ năm trước và tăng 2,9% so với quý 3/2025.
Tính chung cả năm 2025, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đạt 455,01 tỷ USD, tăng 19,4% so với năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 137,38 tỷ USD, giảm 2,0%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 317,63 tỷ USD, tăng 31,9%.
Trong năm 2025 có 47 mặt hàng nhập khẩu đạt trị giá trên 1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 93,8% tổng kim ngạch nhập khẩu (có 9 mặt hàng nhập khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 64,8%).
Giá trị một số mặt hàng nhập khẩu năm 2025. Nguồn: Cục Thống kê.Về cơ cấu nhóm hàng nhập khẩu năm 2025, nhóm hàng tư liệu sản xuất đạt 426,11 tỷ USD, chiếm 93,6%, trong đó nhóm hàng máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng chiếm 52,7%; nhóm hàng nguyên, nhiên, vật liệu chiếm 40,9%. Nhóm hàng vật phẩm tiêu dùng đạt 28,9 tỷ USD, chiếm 6,4%.
Về thị trường xuất, nhập khẩu hàng hóa năm 2025, Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 153,2 tỷ USD. Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 186,0 tỷ USD.
Trong năm 2025, xuất siêu sang Mỹ đạt 133,9 tỷ USD tăng 28,2% so với năm trước; xuất siêu sang EU 38,6 tỷ USD, tăng 10,1%; xuất siêu sang Nhật Bản 2,1 tỷ USD, giảm 30,1%; nhập siêu từ Trung Quốc 115,6 tỷ USD, tăng 39,6%; nhập siêu từ Hàn Quốc 31,6 tỷ USD, tăng 4,3%; nhập siêu từ ASEAN 14,2 tỷ USD, tăng 42,4%.
Thị trường xuất, nhập khẩu hàng hoá chủ yếu năm 2025. Nguồn: Cục Thống kê.Từ những số liệu trên, cán cân thương mại hàng hóa tháng 12/2025 nhập siêu 0,66 tỷ USD. Tính chung cả năm 2025, cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 20,03 tỷ USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 24,94 tỷ USD). Trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 29,43 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 49,46 tỷ USD.
Trong quý 4/2025, kim ngạch xuất khẩu dịch vụ ước đạt 8,26 tỷ USD, tăng 17,3% so với cùng kỳ năm trước và tăng 9,0% so với quý trước; kim ngạch nhập khẩu dịch vụ ước đạt 10,55 tỷ USD, tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước và giảm 1,1% so với quý trước.
Tính chung cả năm 2025, kim ngạch xuất khẩu dịch vụ ước đạt 30,31 tỷ USD, tăng 18,9% so với năm trước, trong đó dịch vụ du lịch đạt 15,22 tỷ USD (chiếm 50,2% tổng kim ngạch), tăng 24,4%; dịch vụ vận tải đạt 8,8 tỷ USD (chiếm 29,0%), tăng 23,6%.
Kim ngạch nhập khẩu dịch vụ năm 2025 ước đạt 40,54 tỷ USD (trong đó phí dịch vụ vận tải và bảo hiểm của hàng hóa nhập khẩu là 14,43 tỷ USD), tăng 14,0% so với năm trước, trong đó dịch vụ vận tải đạt 17,1 tỷ USD (chiếm 42,1% tổng kim ngạch), tăng 19,9%; dịch vụ du lịch đạt 14,7 tỷ USD (chiếm 36,4%), tăng 15,6%. Cán cân thương mại dịch vụ năm 2025 nhập siêu 10,23 tỷ USD.
Cục Thống kê-Việt An
Thủ tướng Phạm Minh Chính tiếp Chủ tịch Tập đoàn AFK Sistema
Ngày 5/1/2026, tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã tiếp ông Vladimir Petrovich Evtushenkov, Chủ tịch Tập đoàn AFK Sistema, Liên bang Nga, đang thăm, làm việc tại Việt Nam.
Tại cuộc tiếp, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh Việt Nam luôn coi trọng và mong muốn phát triển quan hệ hữu nghị truyền thống với Liên bang Nga; đánh giá cao Tập đoàn AFK Sistema phát triển nhanh và đã làm việc với các tập đoàn, doanh nghiệp lớn của Việt Nam để thúc đẩy quan hệ, hợp tác trên các lĩnh vực như định hướng đã được Tổng Bí thư Tô Lâm nêu tại chuyến thăm Nga hồi tháng 5/2025, thiết thực góp phần đưa quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Nga đi vào chiều sâu, thực chất và hiệu quả hơn.
Đề nghị Tập đoàn hợp tác chặt chẽ, hiệu quả hơn nữa với các doanh nghiệp Việt Nam để hiện thực hóa các thỏa thuận của lãnh đạo cấp cao, Thủ tướng nhấn mạnh một số lĩnh vực hợp tác mà Nga có thể mạnh và Việt Nam đang có nhu cầu lớn như: Xây dựng và kết nối cơ sở dữ liệu, công nghệ thông tin, chuyển đổi số, an ninh mạng, ngân hàng, dược phẩm, năng lượng hạt nhân vì mục đích hòa bình, viễn thông, phát triển thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam; đồng thời, thúc đẩy các dự án khai thác không gian ngầm, không gian vũ trụ, trong đó có việc phát triển tàu điện ngầm tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, hợp tác du lịch...
Thông tin về các định hướng phát triển của Việt Nam, nhất là các lĩnh vực ưu tiên của Việt Nam mà Nga có thế mạnh, Thủ tướng Chính phủ cho biết Việt Nam chuẩn bị triển khai cơ chế một cửa đầu tư quốc gia để hỗ trợ tập đoàn trong triển khai các hoạt động hợp tác, xúc tiến thương mại, đầu tư tại Việt Nam; đề nghị Tập đoàn và các công ty thành viên tăng cường chia sẻ thông tin, kinh nghiệm về quản trị; hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực, chuyển giao công nghệ… cho phía Việt Nam.
Nhân dịp này, Thủ tướng đề nghị Đại sứ quán Nga tại Việt Nam hỗ trợ, phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, cơ quan liên quan của 2 nước khẩn trương hoàn tất đàm phán Hiệp định liên Chính phủ về hợp tác xây dựng Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 trước ngày 15/1/2026.
Cảm ơn Thủ tướng Phạm Minh Chính dành thời gian tiếp, ông Vladimir Petrovich Evtushenkov cho biết AFK Sistema là tập đoàn tư nhân lớn nhất của Liên bang Nga với khoảng 300 nghìn nhân viên. AFK Sistema đầu tư tại Nga và ở nhiều nước trong các lĩnh vực: Viễn thông, dịch vụ số, công nghệ cao, thương mại điện tử, y tế, công nghiệp gỗ và xây dựng nhà gỗ, nông nghiệp, dược phẩm, dịch vụ lưu trú... Mục tiêu của tập đoàn trong tương lai trở thành quỹ đầu tư công nghệ cao hàng đầu thế giới.
Đánh giá cao tiềm năng và cam kết sẽ nỗ lực thúc đẩy hợp tác với phía Việt Nam trong các lĩnh vực mà Thủ tướng Phạm Minh Chính đã chỉ đạo, ông Vladimir Petrovich Evtushenkov khẳng định Việt Nam luôn là đối tác tin cậy của các doanh nghiệp Nga; AFK Sistema mong muốn tăng tỷ lệ nội địa hóa, sẵn sàng chuyển giao công nghệ, đào tạo bài bản nhân sự cho phía Việt Nam như Thủ tướng đã có ý kiến.
-Việt An
Luật Dân số: Từ ngày 1/7, phụ nữ sinh 2 con được hưởng nhiều hỗ trợ đặc biệt
Chiều ngày 5/1/2026, Văn phòng Chủ tịch nước họp báo công bố lệnh của Chủ tịch nước về 13 luật đã được Quốc hội khóa XV thông qua.
Theo Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Liên Hương, Luật Dân số gồm 8 chương, 30 điều, tập trung quy định về duy trì mức sinh thay thế; giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh; thích ứng với già hóa dân số; nâng cao chất lượng dân số; truyền thông, vận động, giáo dục về dân số; điều kiện bảo đảm thực hiện công tác dân số. Luật Dân số có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/7/2026.
So với quy định Pháp lệnh Dân số, Luật Dân số có nhiều nội dung mới. Cụ thể, tại khoản 1, điều 14 quy định, trường hợp sinh con thứ hai, thời gian nghỉ thai sản đối với lao động nữ là 07 tháng; lao động nam là 10 ngày làm việc khi vợ sinh con;
Hỗ trợ tài chính khi sinh con đối với phụ nữ dân tộc thiểu số rất ít người; hỗ trợ tài chính khi sinh con đối với phụ nữ ở tỉnh, thành phố có mức sinh dưới mức sinh thay thế; hỗ trợ tài chính khi sinh con đối với phụ nữ sinh đủ 02 con trước 35 tuổi;
Ưu tiên mua, thuê mua hoặc thuê nhà ở xã hội theo quy định của pháp luật về nhà ở đối với người có từ 02 con đẻ trở lên; biện pháp khác do Chính phủ quyết định.
Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước, Trợ lý Chủ tịch nước Cấn Đình Tài, chủ trì Họp báo - Ảnh: VGP.Ngoài ra, căn cứ khả năng cân đối ngân sách nhà nước, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, chính quyền địa phương cấp tỉnh quy định mức hỗ trợ cao hơn mức hỗ trợ do Chính phủ quy định.
Luật cũng cấm lựa chọn giới tính thai nhi dưới mọi hình thức; thông báo, tiết lộ giới tính thai nhi, trừ trường hợp do Bộ trưởng Bộ Y tế quy định để phục vụ chẩn đoán và điều trị các bệnh liên quan đến giới tính….
Về thích ứng với già hóa dân số, chủ động chuẩn bị cho tuổi già như: chuẩn bị về sức khỏe, tài chính, tâm lý; tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; tham gia học tập, nâng cao kiến thức, kỹ năng để duy trì sức khỏe thể chất, tỉnh thần và chức năng xã hội; cũng như tham gia các hoạt động hỗ trợ chăm sóc người cao tuổi.
Quy định chăm sóc người cao tuổi, phát triển đa dạng các hình thức chăm sóc người cao tuổi như tự chăm sóc, chăm sóc tại nhà và cộng đồng; quy định phát triển nguồn nhân lực chăm sóc người cao tuổi trên cơ sở phân tách nhóm chăm sóc chính thức và nhóm chăm sóc không chính thức, từ đó có cơ chế hỗ trợ, đào tạo kỹ năng chăm sóc người cao tuổi phù hợp với từng nhóm…
Tại họp báo, ông Phạm Vũ Hoàng, Phó cục trưởng Cục Dân số, Bộ Y tế, đã thông tin thêm về quy định ưu tiên mua, thuê mua hoặc thuê nhà ở xã hội theo quy định của pháp luật về nhà ở với người có từ 2 con đẻ trở lên.
Theo ông Hoàng, các chính sách lớn quy định trong luật mang tính nguyên tắc chung. Về chính sách duy trì mức sinh thay thế, ông Hoàng cho biết bên cạnh các quy định mang tính khung, căn cơ, dài hạn thì có các quy định cụ thể. Trong đó có bổ sung đối tượng được mua, thuê mua hoặc thuê nhà ở xã hội theo quy định của pháp luật về nhà ở.
Ông Hoàng cho biết trong luật đã có các quy định chỉnh sửa rất cụ thể một số điều của Luật Nhà ở. Theo đó sửa chi tiết các điều 76 Luật Nhà ở về đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội, điều 77 quy định hình thức thực hiện chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội.
Hiện Bộ Y tế đang tham mưu Chính phủ xây dựng các nghị định, thông tư để hướng dẫn luật. Trong đó phối hợp với Bộ Xây dựng để xây dựng thông tư sửa đổi, bổ sung thông tư 05/2024 quy định chi tiết một số điều của Luật Nhà ở về mẫu giấy tờ chứng minh đối tượng và điều kiện hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội. Dự kiến hoàn thành trước ngày 15/5/2026.
Công bố 13 luật đã được Quốc hội khóa XV thông qua, gồm: Luật Tương trợ tư pháp về dân sự; Luật Giám định tư pháp; Luật Thi hành án dân sự; Luật Xây dựng; Luật Hàng không dân dụng Việt Nam; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn; Luật Phòng bệnh; Luật Dân số; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ; Luật Trí tuệ nhân tạo; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ; Luật Công nghệ cao; Luật Chuyển đổi số.
-Đỗ Mến
Tổng Bí thư Tô Lâm: Ngành Nội chính Đảng phải làm “gác gôn” vững chắc trong lĩnh vực nội chính
Sáng 5/1, tại Hà Nội, Ban Nội chính Trung ương tổ chức Lễ kỷ niệm 60 năm ngày truyền thống ngành Nội chính Đảng và đón nhận Huân chương Hồ Chí Minh lần thứ hai – phần thưởng cao quý của Đảng, Nhà nước ghi nhận những đóng góp bền bỉ, to lớn của ngành đối với sự nghiệp cách mạng. Tổng Bí thư Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo tại Lễ kỷ niệm.
60 NĂM NGÀNH NỘI CHÍNH ĐẢNG: TỪ HÌNH THÀNH ĐẾN NÂNG TẦM THAM MƯU CHIẾN LƯỢC
Trình bày diễn văn tại Lễ kỷ niệm, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Nội chính Trung ương Phan Đình Trạc đã ôn lại chặng đường 60 năm hình thành và phát triển của ngành Nội chính Đảng.
Theo đó, trải qua 6 thập kỷ xây dựng và trưởng thành, gắn liền với từng giai đoạn lịch sử của cách mạng Việt Nam, ngành Nội chính Đảng tuy có những thời điểm mang tên gọi khác nhau, có giai đoạn được hợp nhất rồi tái lập, song luôn hoàn thành tốt vai trò, chức năng được Đảng giao phó.
Tổng Bí thư Tô Lâm và các đại biểu tại Lễ kỷ niệm - Ảnh: TTXVNDưới sự lãnh đạo của Đảng, các thế hệ cán bộ, công chức ngành Nội chính Đảng đã vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Đáp ứng yêu cầu công tác nội chính và phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới, thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (khóa XI), ngày 28/12/2012, Bộ Chính trị quyết định lập lại Ban Nội chính Trung ương. Trong năm 2013, theo chủ trương của Ban Bí thư, 63 ban nội chính tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương được thành lập; đồng thời kiện toàn Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng trực thuộc Bộ Chính trị, do Tổng Bí thư làm Trưởng Ban Chỉ đạo, Ban Nội chính Trung ương là Cơ quan Thường trực.
Tiếp đó, thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (khóa XII), từ tháng 6/2017, Văn phòng Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp Trung ương được chuyển về Ban Nội chính Trung ương. Từ đây, Ban Nội chính Trung ương tiếp tục được giao nhiệm vụ tham mưu về công tác cải cách tư pháp, đồng thời là Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp Trung ương.
Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu chỉ đạo - Ảnh: TTXVNTheo Trưởng Ban Nội chính Trung ương, đây là giai đoạn phát triển toàn diện, đánh dấu bước nâng tầm quan trọng trong vai trò tham mưu chiến lược của ngành Nội chính Đảng.
Phát biểu tại Lễ kỷ niệm, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh trong suốt 60 năm qua, ngành Nội chính Đảng luôn giữ vững vai trò là cơ quan chuyên trách của Đảng, là một trong những trụ cột đặc biệt quan trọng, góp phần giữ vững kỷ cương, kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước và niềm tin của nhân dân.
Tổng Bí thư khẳng định công tác nội chính luôn được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm, xác định là lĩnh vực then chốt nhằm bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân.
Trong mỗi giai đoạn lịch sử, dù trong điều kiện khó khăn, phức tạp, các thế hệ cán bộ ngành Nội chính Đảng luôn tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân; kiên định nguyên tắc, vững vàng bản lĩnh; tận tụy, liêm chính, dũng cảm đấu tranh bảo vệ cái đúng, kiên quyết chống lại cái sai.
Chính từ những cán bộ “thép” ấy, ngành Nội chính Đảng đã hình thành nên bản sắc riêng: vững về nguyên tắc, sắc về tham mưu, bền bỉ trong đấu tranh và trong sáng về đạo đức công vụ.
Những đóng góp đó đã góp phần quan trọng giữ vững ổn định chính trị, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ.
NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ VÀ CẢI CÁCH TƯ PHÁP
Tổng Bí thư cũng nêu rõ từ khi được tái lập đến nay, ngành Nội chính Đảng ngày càng phát huy hiệu quả vai trò là cơ quan tham mưu chiến lược của Đảng trong lĩnh vực nội chính, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và cải cách tư pháp; đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
Tổng Bí thư Tô Lâm và các đại biểu tại Lễ kỷ niệm - Ảnh: TTXVNThay mặt lãnh đạo Đảng và Nhà nước, Tổng Bí thư biểu dương những thành tích to lớn, quan trọng mà các thế hệ cán bộ, công chức ngành Nội chính Đảng đã đạt được trong suốt 60 năm qua; đồng thời chúc mừng Ban Nội chính Trung ương và ngành Nội chính Đảng vinh dự được trao tặng Huân chương Hồ Chí Minh lần thứ hai.
Theo Tổng Bí thư Tô Lâm, đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển mới với nhiều thời cơ, thuận lợi đan xen khó khăn, thách thức. Yêu cầu xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; tạo môi trường an toàn, lành mạnh cho phát triển nhanh và bền vững đang đặt ra những nhiệm vụ hết sức nặng nề đối với ngành Nội chính Đảng.
Tổng Bí thư đề nghị trong kỷ nguyên phát triển mới, ngành Nội chính Đảng tiếp tục phát huy truyền thống vẻ vang; không ngừng đổi mới tư duy, phương pháp và cách làm; nâng tầm tham mưu chiến lược; vững vàng làm tốt vai trò “gác gôn” của Đảng trong lĩnh vực nội chính, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và cải cách tư pháp.
Tổng Bí thư Tô Lâm trao Huân chương Hồ Chí Minh tặng Ban Nội chính Trung ương - Ảnh: TTXVNNgành Nội chính Đảng cần quán triệt sâu sắc tinh thần: làm công tác nội chính không chỉ đúng mà phải trúng; không chỉ kịp thời mà phải đi trước; không chỉ nghiêm minh mà còn phải nhân văn.
Tổng Bí thư yêu cầu nâng cao chất lượng nghiên cứu, dự báo và tham mưu chiến lược; nhận thức đầy đủ mục tiêu của công tác nội chính là giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, phục vụ tốt nhất nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.
Đồng thời, chủ động phát hiện, nghiên cứu, tham mưu xử lý kịp thời các vấn đề lớn, mới, khó; tập trung tham mưu cụ thể hóa, thể chế hóa các chủ trương, quan điểm về công tác nội chính, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và cải cách tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng.
Cùng với đó, ngành Nội chính Đảng cần tham mưu đẩy mạnh hơn nữa công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực theo hướng hiệu quả, bền vững; coi đây là nhiệm vụ chiến lược, lâu dài, phải tiến hành kiên trì, thường xuyên, liên tục, không gián đoạn; bảo đảm nguyên tắc “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”, “mọi người đều bình đẳng trước pháp luật”.
Tổng Bí thư cũng lưu ý việc tăng cường phối hợp với các cơ quan chức năng theo dõi, nắm chắc tình hình; kịp thời tham mưu cho Bộ Chính trị, Ban Bí thư và cấp ủy, chính quyền các địa phương trong lãnh đạo, chỉ đạo xử lý các vấn đề phức tạp, nổi cộm về an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; chú trọng công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo ngay từ cơ sở.
Đặc biệt, Tổng Bí thư nhấn mạnh yêu cầu xây dựng ngành Nội chính Đảng trong sạch, vững mạnh; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, chuyên môn sâu; thực sự là chỗ dựa tin cậy của Đảng và cầu nối vững chắc giữa Đảng với nhân dân.
Với truyền thống 60 năm xây dựng và trưởng thành, Tổng Bí thư bày tỏ tin tưởng ngành Nội chính Đảng sẽ tiếp tục hoàn thành tốt trọng trách được giao, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn phát triển mới.
-Hà Lê
Tăng cường năng lực tự chủ công nghệ, tạo lợi thế cạnh tranh quốc gia
Chiều 5/1, Văn phòng Chủ tịch nước họp báo công bố lệnh của Chủ tịch nước về 13 luật đã được Quốc hội khóa XV thông qua.
THÁO GỠ ĐIỂM NGHẼN, TẠO ĐỘNG LỰC ĐỘT PHÁ CHO CHUYỂN ĐỔI SỐ
Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Hoàng Minh cho biết Luật Chuyển đổi số gồm 8 Chương, 48 Điều, tập trung giải quyết các nhóm vấn đề cốt lõi nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn, tạo động lực đột phá cho chuyển đổi số quốc gia. Những nội dung cơ bản của luật là quy định về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng và chuẩn hóa các khái niệm nền tảng;
Xác lập các nguyên tắc căn bản về chuyển đổi số, đóng vai trò làm “kim chỉ nam" cho pháp luật chuyên ngành chuyển đổi số và nguyên tắc kiến trúc, thiết kế, yêu cầu tối thiểu đối với hệ thống số như: sử dụng nền tảng số, điện toán đám mây, hỗ trợ về kết nối, chia sẻ dữ liệu, bảo đảm an ninh mạng ngay từ giai đoạn thiết kế...
“Có thể hiểu các quy định này nhằm định hình chuẩn mực cho các hệ thống số ngay từ đầu, hạn chế tối đa tình trạng đầu tư manh mún, rời rạc, kém hiệu quả và thiếu tính liên thông vốn tồn tại thời gian qua”, Thứ trưởng cho biết.
Ngoài ra, luật cũng thiết lập cơ chế điều phối quốc gia về chuyển đổi số; các biện pháp bảo đảm chuyển đổi số…
Luật Trí tuệ nhân tạo gồm 8 chương và 35 điều. Luật được xây dựng trên nguyên tắc vừa quản lý các rủi ro, vừa thúc đẩy phát triển và đổi mới sáng tạo đối với trí tuệ nhân tạo. Xây dựng luật theo hướng là luật khung, tạo hành lang pháp lý đồng bộ và linh hoạt cho phát triển, ứng dụng và quản lý trí tuệ nhân tạo một cách an toàn, tin cậy và bền vững…
Còn Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ nhằm thể chế hóa kịp thời các quan điểm, đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; coi doanh nghiệp là trung tâm của ứng dụng, chuyển giao và đổi mới công nghệ, thúc đẩy phát triển thị trường khoa học và công nghệ trong nước; ngăn chặn nhập khẩu công nghệ lạc hậu, tiếp thu và làm chủ công nghệ tiên tiến của thế giới phù hợp với điều kiện Việt Nam.
Đặc biệt, luật xác định, lựa chọn các vấn đề thực sự vướng mắc trong thực tiễn đã “chín”, đã rõ để kịp thời tháo gỡ, tạo thuận lợi tối đa cho hoạt động chuyển giao công nghệ trong nước và từ nước ngoài vào Việt Nam để cải thiện trình độ công nghệ quốc gia và năng lực hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp, phục vụ tăng trưởng nhanh và bền vững... Luật gồm 3 điều, trong đó điều 1 sửa đổi, bổ sung 31 điều của Luật Chuyển giao công nghệ 2017.
LUẬT HÓA KHÁI NIỆM "CÔNG NGHỆ CHIẾN LƯỢC"
Đối với Luật Công nghệ cao 2025, Thứ trưởng Hoàng Minh cho biết điểm nổi bật nhất và mang tính tiên phong chính là việc lần đầu tiên luật hóa khái niệm “công nghệ chiến lược".
Theo quy định mới, công nghệ chiến lược được xác định là những công nghệ có tính đột phá, lan tỏa mạnh mẽ, đóng vai trò then chốt trong việc tăng cường năng lực tự chủ công nghệ, tạo lợi thế cạnh tranh quốc gia và đảm bảo quốc phòng, an ninh.
Việc đưa công nghệ chiến lược vào luật thể hiện tư duy mới: nếu công nghệ cao là công cụ để bứt phá kinh tế thì công nghệ chiến lược chính là “chìa khóa” để khẳng định vị thế và sự độc lập của Việt Nam trên bản đồ công nghệ thế giới. Nhà nước cam kết tập trung nguồn lực quốc gia để đầu tư phát triển, ứng dụng và làm chủ các công nghệ này nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vũng.
Thứ trưởng nhấn mạnh đây không chỉ là một định nghĩa pháp lý mà là một tuyên ngôn về định hướng ưu tiên cao nhất của quốc gia trong kỷ nguyên số.
Bên cạnh đó, thay vì các chính sách ưu đãi dàn trải, Luật Công nghệ cao 2025 thiết lập hệ thống tiêu chí định lượng minh bạch để xác định danh mục công nghệ cao và công nghệ chiến lược.
Các tiêu chí này tập trung vào hiệu quả thực chất bao gồm năng suất nhân tố tổng hợp (TFP); tỷ trọng giá trị gia tăng trong cấu trúc sản phẩm; tỷ lệ nội địa hóa; tỷ lệ chi cho nghiên cứu và phát triển (RD).
Đặc biệt, yếu tố làm chủ và tự chủ công nghệ lần đầu tiên được bổ sung như một tiêu chí cốt lõi để hưởng ưu đãi, nhằm chấm dứt tình trạng phụ thuộc hoàn toàn vào công nghệ chuyển giao từ bên ngoài.
Ngoài ra, luật cũng đánh dấu bước ngoặt trong chính sách tài chính bằng việc triển khai mô hình ưu đãi thuế theo bậc thang. Cơ chế này được thiết kế để dẫn dắt dòng vốn đầu tư vào các lĩnh vực có giá trị cao nhất.
Bên cạnh đó, một trong những điểm mới mang tầm nhìn dài hạn là việc luật hóa hệ sinh thái công nghệ cao và khu đô thị công nghệ cao.
-Đỗ Mến
Tăng trưởng GDP 2025 đạt 8,02%, quy mô nền kinh tế vượt mốc 514 tỷ USD
Phát biểu tại Họp báo công bố số liệu thống kê kinh tế - xã hội quý IV/2025 và năm 2025 ngày 5/1/2026, bà Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê (Bộ Tài chính) cho biết năm 2025, kinh tế thế giới đối mặt với nhiều bất ổn do xung đột vũ trang, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn và tác động từ cuộc chiến thế quan toàn cầu... Tuy nhiên, nhờ sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ và sự nỗ lực của toàn hệ thống chính trị, Việt Nam đã vượt qua khó khăn để đạt được kết quả kinh tế toàn diện.
Trong khi các tổ chức quốc tế như IMF và OECD dự báo tăng trưởng toàn cầu chỉ ở mức 3,1% - 3,2%, Việt Nam được đánh giá là quốc gia có mức tăng trưởng cao nhất khu vực Đông Nam Á. Cụ thể, GDP năm 2025 của nước ta tăng 8,02%, chỉ thấp hơn mức tăng kỷ lục của năm 2022 trong cả giai đoạn 2011-2025.
Đáng chú ý, nền kinh tế duy trì xu hướng tích cực với quý sau cao hơn quý trước. Riêng quý IV/2025 ước tăng 8,46% so với cùng kỳ năm trước, đạt mức tăng cao nhất của quý IV trong vòng 15 năm qua.
Toàn cảnh họp báo.Sự phục hồi và tăng trưởng của nền kinh tế năm nay ghi nhận đóng góp quan trọng từ ba khu vực chủ chốt.
Khu vực Công nghiệp và Xây dựng (giá trị tăng thêm 8,95%): Đây là điểm sáng lớn nhất của bức tranh kinh tế năm 2025 với ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,97%, mức tăng cao nhất giai đoạn 2019-2025, đóng vai trò là động lực dẫn dắt tăng trưởng toàn ngành.
Khu vực Dịch vụ (giá trị tăng thêm tăng 8,62%): Các hoạt động thương mại, du lịch sôi động với lượng khách quốc tế đến Việt Nam cao nhất từ trước đến nay đã tạo đà tăng trưởng mạnh cho khu vực này.
Khu vực Nông, lâm nghiệp và Thủy sản (giá trị tăng thêm tăng 3,78%): Dù chịu ảnh hưởng nặng nề từ bão lũ và sạt lở đất, ngành nông nghiệp vẫn duy trì sự ổn định, đảm bảo vai trò trụ đỡ của nền kinh tế.
Năm 2025 cũng ghi dấu mốc lịch sử khi quy mô GDP Việt Nam chính thức vượt ngưỡng 500 tỷ USD (12.847,6 nghìn tỷ đồng), tăng 38 tỷ USD so với năm 2024.
GDP bình quân đầu người ước đạt 125,5 triệu đồng (tương đương 5.026 USD), tăng 326 USD so với năm trước.
Năng suất lao động đạt 245 triệu đồng/lao động (tương đương 9.809 USD), tăng 6,83% theo giá so sánh.
Tỷ lệ lao động qua đào tạo ước đạt 29,2%, phản ánh sự cải thiện rõ rệt về trình độ nguồn nhân lực.
Theo Cục Thống kê, sự tăng trưởng của nền kinh tế, sự ổn định kinh tế vĩ mô và sự cải thiện về năng suất lao động là những minh chứng rõ nét cho thấy Việt Nam đang thích ứng hiệu quả với các xu thế công nghệ mới và AI, đồng thời khẳng định nội lực vững vàng trước những thách thức từ môi trường quốc tế. Kết quả tăng trưởng năm 2025 không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong việc hoàn thành Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025 mà còn tạo động lực mạnh mẽ để cả nước bước vào kỷ nguyên mới.
-Anh Nhi
Thủ tướng: OCOP phải đi vào chiều sâu, lấy chất lượng và thương hiệu làm trụ cột
Tại Hội nghị tổng kết năm 2025 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã dành nhiều thời lượng để ghi nhận, đánh giá cao những kết quả mà Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP) đạt được trong năm 2025 và suốt giai đoạn 2021–2025, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu phải tập trung sâu hơn vào chất lượng và chiều sâu phát triển của chương trình trong thời gian tới.
TỪ THÍ ĐIỂM ĐỊA PHƯƠNG ĐẾN THÀNH CÔNG TRÊN CẢ NƯỚCThủ tướng khẳng định: OCOP không chỉ là một chương trình hỗ trợ phát triển sản phẩm nông thôn, mà đã thực sự trở thành một chương trình mang tầm quốc gia, góp phần làm thay đổi diện mạo kinh tế nông thôn và trở thành “niềm tự hào của chúng ta”.
Chia sẻ về quá trình hình thành và phát triển OCOP, Thủ tướng cho biết khi còn giữ cương vị Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh, ông đã dành nhiều tâm huyết cho chương trình này.
“Trước đây, tôi có dịp đi học tập, nghiên cứu mô hình này tại Nhật Bản, sau đó là Hàn Quốc. Trên cơ sở đó, chúng ta đã xây dựng thí điểm mô hình OCOP tại Quảng Ninh. Đến năm 2017, từ kinh nghiệm thực tiễn của Quảng Ninh, chúng ta đã tổng kết, rút kinh nghiệm và phát triển chương trình OCOP ra phạm vi toàn quốc. Vì vậy, đối với OCOP, trong suy nghĩ của tôi luôn có rất rõ những việc cần làm”, Thủ tướng nhấn mạnh.
Theo Thủ tướng, OCOP đã tạo ra những thay đổi rõ rệt trong cách tổ chức sản xuất, phát triển sản phẩm và tiếp cận thị trường của khu vực nông thôn. Mỗi khi đến các địa phương, ông đều thấy các sản phẩm OCOP được trưng bày, giới thiệu rất phong phú, đa dạng.
Nhiều nông sản OCOP được xuất khẩu mạnh mẽ. Ảnh: Chu Khôi.Tuy nhiên, Thủ tướng cũng nhấn mạnh rằng OCOP không thể dừng lại ở việc trưng bày, giới thiệu sản phẩm, mà cần được tiếp tục nâng cấp về chất lượng, tổ chức sản xuất và thị trường để phát triển bền vững và thực chất hơn. “Chúng ta phải tiếp tục nâng cấp chương trình OCOP, tiếp tục đầu tư bài bản hơn, đồng thời mở rộng thị trường tiêu thụ để OCOP phát triển bền vững, hiệu quả và thực chất hơn nữa”, Thủ tướng nêu rõ.
“OCOP đã góp phần quan trọng trong việc làm mới sản phẩm nông thôn, nâng cao giá trị gia tăng và mở ra hướng đi mới cho kinh tế nông thôn Việt Nam. Tuy nhiên, để chương trình thực sự bền vững, OCOP phải chuyển từ “nhiều về lượng” sang “sâu về chất”, từ phong trào sang chiều sâu kinh tế. OCOP đã là niềm tự hào, nhưng niềm tự hào đó phải được nuôi dưỡng bằng chất lượng, bằng thương hiệu, bằng thị trường và bằng sự phát triển bền vững”. Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh ChínhĐể OCOP tiếp tục phát triển đúng hướng và đạt hiệu quả cao hơn, Thủ tướng đã đưa ra 5 nhóm giải pháp trọng tâm.
Thứ nhất: Xây dựng thương hiệu. Thủ tướng nhấn mạnh: “Không có thương hiệu thì làm gì cũng rất khó. Có những sản phẩm chất lượng, nguyên liệu, tiêu chuẩn gần như nhau, nhưng có thương hiệu thì giá bán có thể cao gấp nhiều lần so với sản phẩm không có thương hiệu”.
Thủ tướng cho biết thực tế này thể hiện rất rõ ở nhiều ngành, kể cả ngành dệt may: cùng một nguyên phụ liệu, cùng quy trình sản xuất, nhưng nếu không có thương hiệu thì giá trị sản phẩm chỉ bằng khoảng 10% so với sản phẩm mang thương hiệu.
Thứ hai: Phải có vùng nguyên liệu và quy hoạch vùng nguyên liệu ổn định, bởi không có vùng nguyên liệu thì không thể phát triển bền vững.
Thứ ba: Vai trò của doanh nghiệp và các tổ chức liên kết. Theo Thủ tướng, cần có doanh nghiệp hoặc tổ chức đứng ra mang giống, vật tư, công nghệ đến cho nông dân, tổ chức sản xuất, bao tiêu sản phẩm và đưa sản phẩm ra thị trường. Người nông dân không thể một mình làm tất cả các khâu này.
Thứ tư: Ứng dụng khoa học công nghệ, từ thiết kế mẫu mã, bao bì đến truy xuất nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa đầy đủ, minh bạch.
Thứ năm: Vai trò của hệ thống ngân hàng trong việc đồng hành, hỗ trợ nông nghiệp, nông thôn và nông dân thông qua các cơ chế tín dụng phù hợp.
Thủ tướng đề nghị các bộ, ngành, địa phương cần tiếp tục quan tâm, hỗ trợ và chủ động hơn trong việc phát triển OCOP, để chương trình không chỉ lan tỏa về mặt hình thức mà thực sự trở thành trụ cột thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn trong giai đoạn mới.
KINH TẾ NÔNG THÔN ĐA GIÁ TRỊ, OCOP LÀ TRỤC KẾT NỐITheo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, năm 2025, công tác phát triển kinh tế nông thôn đa giá trị và ngành nghề nông thôn đã ghi nhận nhiều điểm đột phá, trong đó nổi bật là việc gắn ngành nghề nông thôn với xây dựng thương hiệu.
Trong năm 2025, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã tổ chức nhiều hoạt động, sự kiện quy mô quốc tế và quốc gia nhằm thúc đẩy lĩnh vực này. Tiêu biểu là Festival Bảo tồn và Phát triển Làng nghề quốc tế với sự tham gia của hơn 30 quốc gia và vùng lãnh thổ; cùng các hoạt động sơ kết 6 năm thực hiện Nghị định số 52/2018/NĐ-CP về phát triển ngành nghề nông thôn và 3 năm thực hiện Quyết định số 801/QĐ-TTg về Chương trình bảo tồn và phát triển làng nghề Việt Nam giai đoạn 2021–2030.
Cả nước hiện có khoảng 17.400 sản phẩm OCOP đạt từ 3 sao trở lên. Trong đó, có 2.169 hợp tác xã nông nghiệp có các sản phẩm OCOP, chiếm 37,9% số chủ thể sản phẩm OCOP được công nhận.
Đến nay, cả nước có 263 nghề truyền thống; 1.975 làng nghề được công nhận. Tuy nhiên, tỷ lệ làng nghề gắn với các trụ cột phát triển mới vẫn còn khiêm tốn: chỉ 247 làng nghề có sản phẩm đăng ký thương hiệu (12,51%); 360 làng có sản phẩm OCOP đạt sao (18,22%); 145 làng nghề có sản phẩm xuất khẩu (7,34%); và 185 làng nghề gắn với phát triển du lịch (9,37%). Thực tiễn cho thấy, các mô hình làng nghề hiện nay đang chuyển mạnh sang liên kết sản xuất - chế biến - tiêu thụ, hình thành các chuỗi giá trị nông thôn.
Bước vào giai đoạn tiếp theo, cùng với việc thực hiện các mục tiêu, chính sách và chương trình chung của ngành, công tác phát triển nông thôn, xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững sẽ tiếp tục tập trung hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách hỗ trợ và hướng dẫn triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và Bộ tiêu chí nông thôn mới các cấp, nhằm đẩy nhanh tiến độ, nâng cao hiệu quả và bảo đảm tính đồng bộ trong triển khai giai đoạn 2026–2030.
Đặc biệt, các cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển sản phẩm OCOP và phát triển du lịch nông thôn sẽ được ban hành và triển khai đồng bộ, gắn với Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi giai đoạn 2026–2035. Bộ tiêu chí đánh giá, phân hạng sản phẩm OCOP cũng sẽ tiếp tục được hoàn thiện theo hướng nâng cao chất lượng, giá trị, sức cạnh tranh và khả năng tham gia thị trường trong nước và quốc tế.
-Chu Khôi
Kiến tạo không gian phát triển mới, mở đường cho dòng vốn chảy vào nền kinh tế
Luật Quy hoạch năm 2025 đã “về đích” với sự đồng thuận rất cao từ Quốc hội (hơn 90% đại biểu tham gia biểu quyết tán thành). Nhìn lại chặng đường vừa qua, xin Thứ trưởng cho biết tinh thần cốt lõi trong lần sửa đổi luật này?
Thực hiện chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương, Chính phủ đã xây dựng Dự án Luật Quy hoạch (sửa đổi) nhằm bảo đảm đồng bộ, thống nhất với quy định của pháp luật có liên quan, đồng thời bảo đảm tính minh bạch, công bằng, hiệu quả, hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người dân và doanh nghiệp trong hoạt động quy hoạch.
Luật được xây dựng trên tinh thần cốt lõi là: Hoàn thiện pháp luật để quy hoạch thực sự là công cụ hiệu quả của Nhà nước trong việc quản lý hoạch định phát triển và kiến tạo không gian phát triển, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình phát triển giàu mạnh, thịnh vượng của dân tộc.
Với tinh thần đó, việc tháo gỡ nút thắt trong việc chồng chéo quy hoạch cũng như phù hợp với chính quyền địa phương hai cấp là như thế nào, thưa Thứ trưởng?
Luật Quy hoạch 2017 đã tạo hành lang pháp lý thống nhất cho việc triển khai hoạt động quy hoạch trên phạm vi cả nước. Tuy nhiên, quá trình triển khai thực hiện Luật Quy hoạch và các luật chuyên ngành có quy định liên quan đến quy hoạch cho thấy còn tồn tại một số khó khăn, vướng mắc. Đồng thời, việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy và sắp xếp đơn vị hành chính, xây dựng mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp sau khi hoàn thành có ảnh hưởng lớn đến toàn bộ các quy hoạch của hệ thống quy hoạch.
Nhằm tháo gỡ nút thắt trong việc chồng chéo quy hoạch trong thời gian qua cũng như phù hợp với vận hành chính quyền địa phương hai cấp, Luật Quy hoạch năm 2025 đã có nhiều quy định mới về hệ thống quy hoạch, mối quan hệ và xử lý mâu thuẫn giữa các quy hoạch, tăng cường phân cấp, phân quyền. Cụ thể:
Thứ nhất, đưa quy hoạch chi tiết ngành (trước đây là quy hoạch có tính chất kỹ thuật, chuyên ngành) vào hệ thống quy hoạch để bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ của hệ thống quy hoạch.
Thứ hai, bổ sung quy định về mối quan hệ giữa các loại quy hoạch để bảo đảm tính tuân thủ, liên tục, kế thừa, ổn định, thứ bậc trong hệ thống quy hoạch, làm căn cứ cho việc xử lý mâu thuẫn trong từng trường hợp giữa các quy hoạch.
Thứ ba, quy định về xử lý mâu thuẫn giữa các quy hoạch bao gồm: xử lý mâu thuẫn giữa các quy hoạch do các cấp khác nhau phê duyệt; xử lý mâu thuẫn giữa quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh với các quy hoạch ngành và quy hoạch chi tiết ngành; xử lý mâu thuẫn giữa các quy hoạch cùng cấp.
Các quy định được ban hành dựa trên quan điểm xác định ngay quy hoạch được thực hiện, quy hoạch phải điều chỉnh (trừ mâu thuẫn giữa các quy hoạch ngành với nhau) và việc điều chỉnh quy hoạch khi có mâu thuẫn giữa các quy hoạch được thực hiện theo trình tự, thủ tục rút gọn.
Thứ tư, phân cấp cho Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh phê duyệt quy hoạch tỉnh. Nhằm tăng tính chủ động cho địa phương, đồng thời tăng cường công tác hậu kiểm, kịp thời kiểm tra, giám sát, phát hiện các nội dung chồng lấn, mâu thuẫn, nâng cao trách nhiệm giải trình của các cơ quan sau khi phân cấp thẩm quyền phê duyệt quy hoạch, Luật đã quy định về hoạt động giám sát, kiểm tra quy hoạch.
Bổ sung quy định cho phép các quy hoạch được lập đồng thời và thứ tự phê duyệt quy hoạch để bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống quy hoạch.
Thứ năm, hoàn thiện nội dung quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng và quy hoạch tỉnh theo hướng chỉ mang tính định hướng, chiến lược; bỏ quy định về danh mục dự án trong quy hoạch để bảo đảm linh hoạt trong tổ chức thực hiện; sửa đổi một số nội dung của quy hoạch tỉnh để phù hợp với tổ chức chính quyền địa phương hai cấp.
Thực tế thời gian qua cho thấy nhiều dự án bị dừng hay chậm triển khai do vướng mắc pháp lý, gây lãng phí nguồn lực. Khi Luật sửa đổi có hiệu lực thi hành, các dự án này sẽ được thúc đẩy như thế nào, thưa Thứ trưởng?
Thời gian vừa qua, tiến độ triển khai của một số dự án đầu tư bị chậm do trong đánh giá sự phù hợp với quy hoạch chưa có cơ sở pháp lý đầy đủ về cơ chế xử lý mâu thuẫn giữa các quy hoạch; chưa có quy định cụ thể về đánh giá sự phù hợp của dự án với quy hoạch.
Vì vậy, Luật Quy hoạch năm 2025 đã có những quy định thể hiện sự đổi mới về tư duy quản lý đầu tư, gắn kết chặt chẽ giữa quản lý nhà nước về quy hoạch với đầu tư phát triển qua các quy định như bỏ quy định về Danh mục dự án trong nội dung quy hoạch để bảo đảm linh hoạt trong tổ chức thực hiện quy hoạch; tránh tình trạng “quy hoạch chạy theo dự án”; đơn giản hoá trình tự, thủ tục đánh giá sự phù hợp của chủ trương đầu tư, dự án đầu tư với quy hoạch.
Trong đó, việc đánh giá sự phù hợp này dựa trên việc quy định ba nguyên tắc.
Một là, việc chấp thuận hoặc phê duyệt chủ trương đầu tư của dự án chỉ cần căn cứ vào một trong các quy hoạch thuộc hệ thống quy hoạch để đánh giá sự phù hợp của dự án.
Hai là, đối với dự án đầu tư xây dựng sửa chữa, tu bổ, hoàn thiện, nâng cấp, cải tạo, mở rộng công trình hiện có hoặc xây dựng mới công trình thay thế công trình hiện có và giữ nguyên mục tiêu, địa điểm, quy mô thì không yêu cầu đánh giá sự phù hợp của dự án với quy hoạch.
Ba là, trường hợp thực hiện dự án đầu tư công đặc biệt, dự án đầu tư công khẩn cấp theo quy định của pháp luật về đầu tư công; dự án khác theo chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng, Đảng ủy Chính phủ thì cơ quan, người có thẩm quyền quyết định đầu tư dự án được phép quyết định đầu tư khác với quy hoạch có liên quan, bảo đảm phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước.
Đồng thời, Luật cũng quy định dự án được triển khai ngay mà không cần chờ điều chỉnh quy hoạch khi nội dung quy hoạch có sự mâu thuẫn với nhau. Sau khi dự án được quyết định đầu tư, thì quy hoạch có liên quan có nội dung mâu thuẫn với quyết định đầu tư phải được kịp thời rà soát, điều chỉnh theo trình tự, thủ tục rút gọn.
Với những đổi mới nói trên, Luật Quy hoạch năm 2025 được kỳ vọng sẽ giải quyết các khó khăn, vướng mắc trong đánh giá sự phù hợp của dự án với quy hoạch, đẩy nhanh tiến độ của các dự án đầu tư, đặc biệt là các dự án quan trọng nhằm hiện thực hóa nhiều chủ trương, chính sách của Đảng, tạo ra động lực mới cho phát triển, huy động có hiệu quả mọi nguồn lực, mọi thành phần kinh tế tham gia vào phát triển đất nước, nhất là phát huy vai trò của khu vực kinh tế tư nhân.
Với những thay đổi lớn như Thứ trưởng vừa chia sẻ, liệu Luật mới có ảnh hưởng tới những quy hoạch cũ đang triển khai không?
Một trong những yêu cầu đối với việc sửa đổi Luật Quy hoạch đã được Bộ Chính trị đặt ra là “Đối với hệ thống quy hoạch đã được xây dựng và đang hoạt động ổn định, không có thay đổi khi thực hiện sáp nhập, điều chỉnh địa giới và không có vướng mắc phát sinh trong thực tiễn thì có thể theo phương án tiếp tục thực hiện”.
Đồng thời, nguyên tắc cơ bản của hoạt động quy hoạch là “Bảo đảm sự tuân thủ, tính liên tục, kế thừa, ổn định, thứ bậc trong hệ thống quy hoạch”.
Với tinh thần đó, Luật Quy hoạch năm 2025 đã quy định: Quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030 và điều chỉnh quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030 và các quy hoạch có tính chất kỹ thuật, chuyên ngành đã được quyết định hoặc phê duyệt được tiếp tục thực hiện đến hết thời kỳ quy hoạch hoặc đến khi quy hoạch được thay thế theo quy định của pháp luật.
Cùng với đó, kế hoạch thực hiện quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh, quy hoạch có tính chất kỹ thuật, chuyên ngành đã được ban hành thì thực hiện cho đến hết thời hạn hiệu lực của quy hoạch hoặc cho đến khi quy hoạch được phê duyệt điều chỉnh theo quy định của Luật này.
Vì vậy, các quy định nói trên sẽ bảo đảm tránh khoảng trống pháp lý, không làm gián đoạn hoạt động quản lý của các ngành, các cấp khi triển khai thực hiện Luật Quy hoạch năm 2025.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 1-2026 phát hành ngày 5/1/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://vneconomy.vn/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-01-2026.htm
-
Venezuela - nghịch lý “vàng đen” lớn nhất thế giới
Đằng sau cụm từ “dầu bị đánh cắp” mà Washington sử dụng là cả một lịch sử dài về quốc hữu hóa, tranh chấp và sự tan rã của một trong những hệ thống dầu khí quan trọng nhất thế giới.
Sự sụp đổ của Venezuela không bắt đầu từ lệnh trừng phạt hay hành động quân sự, mà bắt đầu từ những quyết định đã làm đứt gãy mối liên kết giữa trữ lượng dầu khổng lồ với vốn, công nghệ và thị trường toàn cầu.
TRỮ LƯỢNG DẦU LỚN NHẤT THẾ GIỚI - NHƯNG PHẦN LỚN LÀ DẦU SIÊU NẶNG
Theo số liệu của Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) và Energy Institute, Venezuela hiện sở hữu khoảng 303 tỷ thùng dầu đã được chứng minh, tương đương ~17-20% trữ lượng dầu toàn cầu - mức cao nhất trên thế giới.
Với dầu ở mức giá trung bình dài hạn 60 USD/thùng, trữ lượng này mang lại một tài sản ngầm trị giá ~18.000 tỷ USD, là nguồn lực lý thuyết có thể biến Venezuela thành nền kinh tế siêu giàu.
Tuy nhiên, hầu hết trữ lượng đó nằm ở vành đai Orinoco, vùng dầu siêu nặng (extr-heavy crude). Loại dầu này khác biệt rõ rệt so với dầu nhẹ ở Mỹ hay Trung Đông: độ nhớt cao, chứa lưu huỳnh và tạp chất nặng, không thể được đưa trực tiếp vào các nhà máy lọc thông thường mà không qua quy trình pha loãng, gia nhiệt và nâng cấp (upgrading). Những bước này đòi hỏi công nghệ chuyên biệt, hệ thống điện năng mạnh, nguồn dung môi pha loãng ổn định và vốn đầu tư lớn.
Từ thập niên 1970 đến đầu những năm 2000, Venezuela duy trì sản lượng lớn và ổn định nhờ các liên doanh với các tập đoàn đa quốc gia như ExxonMobil, ConocoPhillips, Chevron, Total, ENI, Statoil/Equinor, những công ty cung cấp vốn, công nghệ và thị trường xuất khẩu. Nhờ đó, Venezuela từng sản xuất hơn 3,5 triệu thùng/ngày, đưa nước này vào nhóm các nhà cung cấp dầu mỏ lớn nhất thế giới.
Khi những liên kết đó bị cắt đứt, Venezuela mất không chỉ công nghệ mà còn mất khả năng duy trì dòng tiền đầu tư, khiến tài sản dầu trị giá hàng chục nghìn tỷ USD không thể được đưa vào hoạt động hiệu quả.
Sản lượng dầu mỏ của Venezuela trước và sau các đợt quốc hữu hóa. Nguồn ảnh: Robert Rapier (Forbes)QUỐC HỮU HÓA VÀ “DẦU BỊ ĐÁNH CẮP” - NGUỒN GỐC CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG
Theo phân tích của Forbes, cụm từ “stolen oil” (dầu bị đánh cắp) mà Phó Tổng thống Mỹ JD Vance sử dụng không phải là khẩu hiệu chính trị, mà bắt nguồn từ một chuỗi tranh chấp pháp lý - tài sản kéo dài hơn hai thập niên.
Mặc dù Venezuela đã quốc hữu hóa ngành dầu mỏ từ năm 1976, nhưng bước ngoặt thực sự làm đảo lộn toàn bộ hệ sinh thái dầu khí chỉ xảy ra dưới thời Tổng thống Hugo Chávez từ đầu những năm 2000, khi Caracas chuyển từ mô hình quốc hữu hóa có trật tự sang quốc hữu hóa cưỡng ép các tài sản tư nhân nước ngoài.
Trong giai đoạn này, chính quyền Chávez buộc tất cả các tập đoàn dầu khí nước ngoài đang hoạt động tại Venezuela phải chuyển đổi các hợp đồng khai thác sang mô hình liên doanh do PDVSA nắm cổ phần chi phối, trong nhiều trường hợp là cổ phần đa số.
Quy định này đặc biệt nhắm vào các dự án tại vành đai Orinoco - nơi dầu siêu nặng chỉ có thể được khai thác hiệu quả nhờ vốn, công nghệ và hệ thống nâng cấp do các tập đoàn phương Tây cung cấp.
Hai tập đoàn dầu khí lớn của Mỹ là ExxonMobil và ConocoPhillips từ chối chấp nhận điều kiện chuyển giao quyền kiểm soát này.
Chính phủ Venezuela sau đó đã tịch thu toàn bộ tài sản của hai công ty tại Orinoco, bao gồm các mỏ dầu, các nhà máy nâng cấp (upgrader), hệ thống đường ống, kho chứa và các quyền khai thác dài hạn trong các liên doanh.
Tổng giá trị tài sản của các công ty phương Tây bị quốc hữu hóa trong giai đoạn này được ước tính ở mức tối thiểu 30-40 tỷ USD, nếu tính đầy đủ các quyền tài sản, công trình kỹ thuật và giá trị dòng tiền tương lai.
Việc tịch thu này lập tức dẫn đến hàng loạt vụ kiện tại các tòa trọng tài quốc tế. Theo các phán quyết cuối cùng, ConocoPhillips được tuyên bồi thường hơn 8,7 tỷ USD, còn ExxonMobil được tuyên bồi thường khoảng 1,6 tỷ USD. Ngoài ra, các công ty châu Âu như Total (Pháp) và ENI (Ý) cũng giành được các phán quyết bồi thường với tổng giá trị khoảng 2 tỷ USD.
Chevron, tập đoàn dầu khí lớn khác của Mỹ, là trường hợp đặc biệt trong làn sóng quốc hữu hóa này. Không giống Exxon và Conoco rời bỏ Venezuela, Chevron chấp nhận ở lại thông qua các liên doanh với PDVSA tại bốn dự án lớn gồm Petropiar, Petroboscán, Petroindependencia và Petroindependiente, với tổng vốn đầu tư lũy kế ước tính hơn 20 tỷ USD.
Tuy nhiên, việc PDVSA nắm cổ phần chi phối khiến Chevron bị tước quyền kiểm soát thực tế đối với tài sản và dòng tiền. Khi khủng hoảng tài chính và các lệnh trừng phạt của Mỹ được áp đặt từ năm 2019, Chevron buộc phải đóng băng hầu hết hoạt động, trong khi các mỏ dầu và hạ tầng mà hãng đã đầu tư vẫn nằm trong tay liên doanh do PDVSA kiểm soát.
Đây được xem là hình thức “quốc hữu hóa trên thực tế”: tài sản không bị tịch thu trên giấy tờ, nhưng quyền khai thác và lợi ích kinh tế bị vô hiệu hóa.
Tuy nhiên, chính quyền Caracas hầu như không thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ thanh toán theo phán quyết của tòa án quốc tế. Hệ quả là các chủ nợ tiếp tục theo đuổi tài sản của Venezuela ở nước ngoài để thu hồi nợ, nổi bật nhất là CITGO - hệ thống lọc dầu và phân phối tại Mỹ, được xem là tài sản chiến lược có giá trị nhiều tỷ USD của Venezuela ở hải ngoại.
Chính trong bối cảnh đó, Washington coi một phần dầu mỏ mà Venezuela xuất khẩu sau này là “dầu bị đánh cắp” - tức dầu được khai thác từ các tài sản đã bị tịch thu trái pháp luật và chưa được bồi thường cho chủ sở hữu hợp pháp theo phán quyết quốc tế. Đây không chỉ là một tranh cãi chính trị, mà là vấn đề quyền sở hữu tài sản, luật đầu tư quốc tế và dòng tiền dầu mỏ.
Hệ quả trực tiếp của chuỗi quốc hữu hóa và tranh chấp này là dòng vốn và công nghệ phương Tây rút khỏi Venezuela, PDVSA mất khả năng duy trì các mỏ dầu siêu nặng phức tạp tại Orinoco, còn toàn bộ ngành dầu khí - vốn từng là động cơ tăng trưởng quốc gia - bước vào quá trình suy sụp kéo dài.
Quan trọng hơn, Venezuela bị đẩy vào trạng thái bị cô lập khỏi thị trường tài chính toàn cầu, không thể huy động vốn, bảo hiểm hay công nghệ để khai thác chính nguồn tài nguyên lớn nhất của mình.
Một người đi xe máy chạy ngang bức tranh tường về Tập đoàn dầu khí quốc gia PDVSA của Venezuela gần trụ sở công ty tại Caracas, Venezuela. Nguồn ảnh: Leonardo Fernandez Viloria/ReutersPDVSA SỤP ĐỔ, TRUNG QUỐC - NGA THẾ CHỖ VÀ DẦU TRỞ THÀNH CÔNG CỤ ĐỊA CHÍNH TRỊ
Theo Reuters, khi sản lượng Venezuela sụt giảm, Trung Quốc và Nga trở thành những đối tác tài chính - dầu mỏ chủ chốt. Trung Quốc đã cho Venezuela vay khoảng 10 tỷ USD, đổi lại Caracas trả nợ bằng dầu thô vận chuyển trên các siêu tàu chở dầu do Trung Quốc và Venezuela đồng sở hữu.
Mỹ từng là khách hàng lớn nhất của dầu Venezuela, nhưng sau các lệnh trừng phạt, Trung Quốc trở thành điểm đến chính. Dầu Venezuela cũng được bán qua trung gian để né trừng phạt, làm giảm mạnh giá trị thực thu.
Trong khi đó, PDVSA - từng là một trong những công ty dầu khí mạnh nhất thế giới - rơi vào tình trạng thiếu vốn, hạ tầng xuống cấp, nhân sự bỏ đi. Sản lượng từ mức 3,5 triệu thùng/ngày thập niên 1970 giảm xuống chỉ khoảng 1,1 triệu thùng/ngày năm 2025, tương đương chỉ 1% nguồn cung toàn cầu.
Tài sản chiến lược nhất của Venezuela ở nước ngoài là CITGO - hệ thống lọc dầu tại Mỹ - hiện cũng bị các chủ nợ theo đuổi thông qua tòa án Mỹ để thu hồi các khoản bồi thường quốc hữu hóa.
Như Forbes nhận định, Venezuela không thiếu dầu, mà thiếu môi trường pháp lý, vốn và công nghệ để biến dầu thành sức mạnh kinh tế. Với dầu siêu nặng Orinoco, nếu không có đầu tư và hợp tác quốc tế, ngay cả trữ lượng lớn nhất thế giới cũng chỉ nằm yên dưới lòng đất.
Cuộc khủng hoảng Venezuela vì thế không chỉ là câu chuyện của một chính quyền hay một cá nhân, mà là hệ quả của việc một trong những kho tài sản năng lượng lớn nhất hành tinh bị tách rời khỏi hệ thống vốn, công nghệ và luật chơi toàn cầu.
Với hơn 300 tỷ thùng dầu nằm dưới lòng đất, Venezuela về mặt lý thuyết sở hữu một “kho vàng đen” trị giá hàng chục nghìn tỷ USD. Nhưng trong thực tế, phần lớn giá trị đó đã bị phong tỏa bởi tranh chấp pháp lý, sụp đổ hạ tầng và mất niềm tin của nhà đầu tư quốc tế.
Forbes, Reuters-Trọng Hoàng
Mỹ tấn công Venezuela: Xuất khẩu dầu mỏ bị đóng băng, thị trường năng lượng toàn cầu theo dõi sát
Hoạt động xuất khẩu dầu mỏ của Venezuela đã rơi vào trạng thái đóng băng ngay sau khi Mỹ tiến hành chiến dịch quân sự và bắt giữ Tổng thống Nicolás Maduro ngày 3/1.
XUẤT KHẨU DẦU VENEZUELA TÊ LIỆT HOÀN TOÀN SAU CHIẾN DỊCH QUÂN SỰ CỦA MỸ
Theo phóng viên TTXVN tại Washington dẫn các nguồn thạo tin, giới chức quản lý cảng tại Venezuela không nhận được bất kỳ chỉ thị nào cho phép tàu chở dầu rời cảng trong những ngày sau đó.
Dữ liệu theo dõi hàng hải cho thấy không có lệnh xuất bến nào được ban hành kể từ khi Mỹ siết chặt kiểm soát đối với các tàu dầu ra vào vùng biển Venezuela. Một số tàu đã hoàn tất việc bốc xếp dầu thô và nhiên liệu để vận chuyển tới Mỹ và châu Á buộc phải neo đậu chờ lệnh, trong khi các tàu khác rời cảng trong tình trạng không chở hàng.
Tình trạng tê liệt này diễn ra trong bối cảnh hoạt động xuất khẩu dầu của Venezuela vốn đã suy giảm mạnh do các lệnh trừng phạt kéo dài nhiều năm. Trước thời điểm Mỹ mở rộng phong tỏa hàng hải, xuất khẩu dầu của quốc gia Nam Mỹ này chỉ dao động quanh mức 700.000 đến 1 triệu thùng/ngày, thấp hơn rất nhiều so với giai đoạn đỉnh cao trước đây.
Khói lửa bốc lên tại khu phức hợp quân sự Fuerte Tiuna lớn nhất Venezuela, sau một loạt tiếng nổ ở thủ đô Caracas ngày 3-1. Ảnh: TTXVNCảng Jose – một trong những trung tâm dầu khí lớn nhất của Venezuela – không ghi nhận bất kỳ chuyến xuất hàng nào trong ngày 3/1. Đáng chú ý, ngay cả các chuyến vận chuyển liên quan đến Tập đoàn dầu khí quốc gia Venezuela (PDVSA) và đối tác chính là Chevron của Mỹ cũng bị đình trệ, cho thấy phạm vi tác động rộng và trực tiếp của các biện pháp kiểm soát hiện nay.
Các nguồn tin trong ngành dầu khí cảnh báo, nếu tình trạng này kéo dài, Venezuela sẽ buộc phải cắt giảm mạnh sản lượng khai thác. Khi các bồn chứa trên bờ và kho chứa nổi đạt ngưỡng tối đa, nhiều mỏ dầu có thể phải đóng giếng, kéo theo thiệt hại kinh tế lớn và nguy cơ suy giảm lâu dài năng lực sản xuất.
DẦU MỎ TRỞ THÀNH TRỌNG TÂM CHUYỂN TIẾP
Song song với việc phong tỏa hoạt động xuất khẩu dầu, Mỹ cũng phát đi những tín hiệu đáng chú ý về vai trò của mình tại Venezuela trong giai đoạn tới. Phát biểu tại họp báo về chiến dịch quân sự, Tổng thống Mỹ Donald Trump cho biết Washington để ngỏ khả năng triển khai lực lượng quân sự tại Venezuela và “điều hành” quốc gia này trong một thời gian dài nhằm tái thiết ngành công nghiệp dầu mỏ.
Theo ông Trump, Venezuela có thể sẽ được điều hành bởi các trợ lý chính sách đối ngoại hàng đầu của Mỹ, phối hợp với các nhân sự Venezuela. Liên quan đến khả năng chuyển giao quyền lực, Tổng thống Mỹ cho rằng lãnh đạo phe đối lập María Corina Machado khó có được sự chấp nhận rộng rãi để thay thế ông Maduro, đồng thời khẳng định Mỹ không liên lạc với bà Machado khi tiến hành chiến dịch quân sự.
Về lĩnh vực dầu khí, ông Trump nhấn mạnh các công ty dầu mỏ của Mỹ sẽ vào Venezuela và đầu tư hàng tỷ USD để sửa chữa, nâng cấp cơ sở hạ tầng đã xuống cấp nghiêm trọng sau nhiều năm thiếu vốn và công nghệ.
Những phát biểu này cho thấy dầu mỏ – nguồn thu chủ lực của nền kinh tế Venezuela – đang trở thành yếu tố trung tâm trong chiến lược can dự của Mỹ và tiến trình chuyển tiếp quyền lực tại quốc gia Nam Mỹ này.
Trong khi đó, nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế đã lên tiếng phản đối hành động quân sự của Mỹ tại Venezuela, coi đây là bước đi đi ngược lại luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc. Tại nhiều nơi trên thế giới, các cuộc tuần hành ủng hộ người dân Venezuela và yêu cầu trả tự do cho Tổng thống Maduro cũng đã diễn ra.
THỊ TRƯỜNG DẦU MỎ TOÀN CẦU DỰ BÁO CHỈ BIẾN ĐỘNG HẠN CHẾ
Mặc dù xuất khẩu dầu của Venezuela bị đóng băng, giới chuyên gia nhận định tác động tức thời đối với giá dầu thế giới có thể chỉ ở mức hạn chế.
Theo phóng viên TTXVN tại Trung Đông, báo The National của UAE dẫn ý kiến bà Vandana Hari, Giám đốc điều hành công ty phân tích thị trường năng lượng Vanda Insights (Singapore), cho rằng thị trường dầu mỏ hiện phản ứng khá thận trọng, ngoại trừ việc phí bảo hiểm rủi ro địa chính trị có xu hướng gia tăng.
Cùng quan điểm, bà Amena Bakr, người đứng đầu bộ phận nghiên cứu của công ty Kpler (Pháp), nhận định tác động hiện tại đối với cung – cầu dầu mỏ toàn cầu chưa đáng kể. Theo bà, giá dầu chỉ có thể tăng nhẹ nếu rủi ro địa chính trị tiếp tục ở mức cao trong thời gian dài.
Ông Vijay Valecha, Giám đốc phụ trách đầu tư tại Century Financial (UAE), lưu ý rằng đóng góp hiện tại của Venezuela vào nguồn cung dầu toàn cầu là tương đối nhỏ. Mức gián đoạn khoảng 700.000 – 1 triệu thùng/ngày, so với tổng nguồn cung toàn cầu, được đánh giá là không đủ lớn để tạo cú sốc giá mạnh.
Tuy nhiên, ông cũng cảnh báo nguy cơ leo thang khủng hoảng, có thể kéo theo sự can dự của nhiều bên trong khu vực, qua đó đẩy phí rủi ro tăng cao.
Theo ông Valecha, trong các cuộc khủng hoảng địa chính trị gần đây tại Trung Đông, mức phí rủi ro trung bình trên thị trường dầu mỏ từng tăng hơn 10 USD/thùng. Điều này cho thấy yếu tố tâm lý và địa chính trị có thể tác động mạnh hơn so với yếu tố cung – cầu thuần túy.
Ở góc nhìn dài hạn, ông Robin Mills, Giám đốc điều hành công ty tư vấn năng lượng Qamar Energy (UAE), cho rằng việc mất đi một phần xuất khẩu dầu của Venezuela hiện nay chưa tạo ra khác biệt lớn đối với thị trường. Tuy nhiên, ông lưu ý Venezuela vẫn có dư địa tăng trưởng sản lượng đáng kể nếu được dỡ bỏ trừng phạt và mở cửa cho đầu tư nước ngoài trong những năm tới.
Rạng sáng 3/1 (giờ địa phương), Tổng thống Donald Trump tuyên bố Mỹ đã tấn công Venezuela và bắt giữ Tổng thống Nicolás Maduro, khép lại nhiều tuần gia tăng sức ép đối với hoạt động xuất khẩu dầu mỏ của quốc gia này thông qua các biện pháp phong tỏa hàng hải.
Trong bối cảnh đó, diễn biến tại Venezuela tiếp tục được giới quan sát và thị trường năng lượng toàn cầu theo dõi sát sao, đặc biệt là vai trò của dầu mỏ trong cục diện địa chính trị mới đang hình thành.
Mỹ tấn công Venezuela: Hàng trăm chuyến bay bị hủy, giao thông hàng không khu vực gián đoạn
Chiến dịch quân sự của Mỹ dẫn đến việc bắt giữ Tổng thống Venezuela Nicolás Maduro ngày 3/1 đã gây gián đoạn nghiêm trọng hoạt động giao thông hàng không tại khu vực Caribe, đúng thời điểm cao trào đi lại sau kỳ nghỉ lễ.
Theo trang theo dõi hàng không FlightRadar24.com, trong ngày 3/1 không có chuyến bay dân dụng nào đi qua không phận Venezuela. Lệnh hạn chế bay do Cơ quan Hàng không Liên bang Mỹ (FAA) ban hành đã khiến nhiều hãng hàng không lớn của Mỹ hủy hàng trăm chuyến bay trên khắp khu vực Đông Caribe, đồng thời cảnh báo tình trạng gián đoạn có thể kéo dài trong những ngày tới.
Các chuyến bay đến và đi từ Puerto Rico, Quần đảo Virgin (thuộc Mỹ), Aruba (lãnh thổ tự trị thuộc Hà Lan) cùng hơn 10 điểm đến khác tại quần đảo Tiểu Antilles, phía Bắc Venezuela, đã bị hủy hàng loạt. Nhiều hãng hàng không thông báo miễn phí thay đổi lịch bay cho hành khách buộc phải điều chỉnh kế hoạch di chuyển trong dịp cuối tuần.
Riêng tại Sân bay Quốc tế Luis Muñoz Marín của Puerto Rico, khoảng 400 chuyến bay đi và đến đã bị hủy, tương đương gần 60% tổng lịch bay trong ngày. Ngoài ra, 15 chuyến bay khởi hành từ San Juan dự kiến vào ngày 4/1 cũng không thể thực hiện. Tại Aruba, Sân bay Quốc tế Queen Beatrix ghi nhận 91 chuyến bay bị hủy trong ngày 3/1, chiếm hơn một nửa tổng số chuyến bay đi và đến.
JetBlue, hãng hàng không có mạng lưới hoạt động rộng tại Caribe, cho biết đã hủy khoảng 215 chuyến bay do việc đóng cửa không phận liên quan đến các hoạt động quân sự. Trong khi đó, American Airlines xác nhận đã hủy toàn bộ các chuyến bay tại khu vực Đông Caribe trong ngày 3/1.
Tình trạng gián đoạn diễn ra ngay sau giai đoạn cao điểm nghỉ lễ kéo dài 13 ngày, thời điểm dự báo có khoảng 122,4 triệu người Mỹ đi du lịch. Dù vậy, nhiều du khách vẫn tranh thủ những ngày cuối để nghỉ dưỡng tại các bãi biển và khu nghỉ mát nhiệt đới trước khi quay trở lại với thời tiết mùa đông lạnh giá.
Trước đó, FAA đã ban hành lệnh cấm các chuyến bay thương mại của Mỹ đi vào không phận Venezuela, với lý do “hoạt động quân sự đang diễn ra”, trong bối cảnh ghi nhận các vụ nổ tại thủ đô Caracas. Bộ trưởng Giao thông Vận tải Mỹ Sean Duffy cho biết các biện pháp hạn chế bay sẽ được dỡ bỏ khi điều kiện cho phép.
-
10 sự kiện, hoạt động tiêu biểu của Quốc hội năm 2025
Thứ nhất, Quốc hội thông qua Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tạo cơ sở hiến định cho việc đổi mới, cải cách mạnh mẽ tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị.
Ngày 16/6/2025, tại Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XV đã xem xét thông qua Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tạo cơ sở hiến định cho việc đổi mới, cải cách mạnh mẽ tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị; tổ chức lại đơn vị hành chính các cấp và triển khai vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình, giàu mạnh và phát triển thịnh vượng của dân tộc.
Việc xây dựng Nghị quyết được chuẩn bị kỹ lưỡng, tiến hành thận trọng, đúng quy định, dành nhiều thời gian để tổ chức lấy ý kiến nhân dân. Trong đó, lần đầu tiên triển khai ứng dụng VNeID để lấy ý kiến và tổng hợp ý kiến nhân dân góp ý vào dự thảo Nghị quyết.
Tại Kỳ họp thứ 9, các đại biểu bấm nút thông qua Nghị quyết của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 bằng hình thức biểu quyết điện tử. Ảnh: Quốc hội.Thứ hai, năm 2025, tại 3 kỳ họp, Quốc hội đã thông qua 89 luật, 91 nghị quyết, góp phần tháo gỡ những điểm nghẽn, khơi thông mọi nguồn lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội; lần đầu tiên Ủy ban Thường vụ Quốc hội tổ chức thành công Diễn đàn xây dựng pháp luật.
Năm 2025, Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã tập trung cao độ, tạo nên bước chuyển lịch sử trong công tác lập pháp với những đổi mới mang tính đột phá nhằm đáp ứng yêu cầu thể chế hóa kịp thời nhiều chủ trương lớn của Đảng, cụ thể hóa Hiến pháp, tạo nền tảng pháp lý cho việc triển khai các nhiệm vụ chính trị trọng tâm của đất nước, chuyển từ tư duy “làm luật để quản lý” sang “lập pháp kiến tạo phát triển”.
Công tác lập pháp còn ghi dấu ấn đậm nét về số lượng các luật, nghị quyết được thông qua tại 3 Kỳ họp. Quốc hội đã thông qua 89 luật, 91 nghị quyết, chiếm hơn 40% tổng số luật, nghị quyết được Quốc hội thông qua trong cả nhiệm kỳ khóa XV. Trong đó, có nhiều luật, nghị quyết mang ý nghĩa lịch sử, với nhiều nội dung quan trọng, gắn với yêu cầu đổi mới đất nước.
Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn chủ trì và phát biểu khai mạc Diễn đàn xây dựng pháp luật lần thứ nhất với chủ đề “Hoàn thiện thể chế, pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới”. Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Hoàng Thanh Tùng trình bày Báo cáo đề dẫn Diễn đàn. Ảnh: Quốc hội.Thứ ba, Quốc hội thông qua Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân (sửa đổi); lần đầu tiên, Ủy ban Thường vụ Quốc hội tổ chức thành công Diễn đàn về hoạt động giám sát của Quốc hội, thể hiện rõ nét việc đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động giám sát
Thứ tư, năm 2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội đã “lập kỷ lục” về công tác xây dựng pháp luật, thông qua 51 luật, 8 nghị quyết quy phạm pháp luật; quyết định nhiều cơ chế, chính sách quan trọng, có ý nghĩa chiến lược, thúc đẩy sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới.
Thứ năm, tổ chức nhiều hoạt động ý nghĩa hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam (6/1/1946 - 6/1/2026), đặc biệt là cuộc Gặp mặt của đồng chí Tô Lâm - Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam với khoảng 2.000 đại biểu Quốc hội các khóa.
Tổng Bí thư Tô Lâm và Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn tham quan Triển lãm ảnh "Quốc hội Việt Nam - 80 năm kế thừa và phát triển" . Ảnh: Quốc hội.Thứ sáu, Quốc hội thông qua Luật Tổ chức chính quyền địa phương (sửa đổi) và 37 văn bản quy phạm pháp luật để sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Trên cơ sở các luật, nghị quyết được thông qua, cuộc cách mạng về sắp xếp tổ chức bộ máy, xây dựng chính quyền địa phương hai cấp lần đầu tiên được triển khai, thực hiện một cách toàn diện, đồng bộ trong toàn hệ thống chính trị, từ Trung ương đến cơ sở, theo hướng tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả.
Thứ bảy, Bộ Chính trị ban hành Quyết định kết thúc hoạt động của Đảng đoàn Quốc hội, thành lập Đảng bộ Quốc hội thực hiện lãnh đạo toàn diện; Đảng bộ Quốc hội đã tổ chức thành công Đại hội lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
Thứ tám, hoạt động đối ngoại Nghị viện được đẩy mạnh, toàn diện, đồng bộ, chủ động, hiệu quả với nhiều dấu ấn quan trọng.
Thứ chín, lần đầu tiên Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua Nghị quyết phê duyệt Đề án Chuyển đổi số của Quốc hội giai đoạn 2025 - 2030; Quốc hội là một đơn vị dẫn đầu, tiên phong thực hiện phong trào “Bình dân học vụ số”.
Thứ mười, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã tổ chức thành công Đại hội Thi đua yêu nước lần thứ I (giai đoạn 2025 - 2030).
-Như Nguyệt
10 dấu ấn nổi bật Kinh tế - Xã hội năm 2025
Cuộc cách mạng tinh giản tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị và điều chỉnh địa giới hành chính, sự kiện được cho là “làm rung chuyển đất nước trong trật tự”, đã hoàn thành trên phạm vi toàn quốc vào ngày 1/7/2025, vượt trước thời hạn 5 năm so với mục tiêu đề ra tại Nghị quyết số 18-NQ/TW của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII).
Kết quả là giảm được 34,9% đầu mối trực thuộc Trung ương, 100% đảng đoàn, ban cán sự đảng, 46% đơn vị hành chính cấp tỉnh và 66,9% đơn vị hành chính cấp xã. Từ ngày 1/7/2025, bộ máy chính quyền địa phương hai cấp (không còn cấp huyện) tại 34 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và 3.321 đơn vị hành chính cấp xã (gồm 2.621 xã, 687 phường và 13 đặc khu) đã chính thức vận hành; từng bước chuyển từ mô hình quản lý sang phục vụ, kiến tạo và vì dân; mở rộng không gian phát triển mới, tạo tiền đề và nền tảng vững chắc để đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, theo tầm nhìn và định hướng chiến lược mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV sẽ thông qua.
Vượt qua những dự báo thận trọng đầu năm và những biến động của kinh tế toàn cầu, Việt Nam đã hoàn thành “cú đúp” ấn tượng trong năm 2025: tốc độ tăng trưởng GDP đạt trên 8% và GDP bình quân đầu người thiết lập mặt bằng mới.
Theo các số liệu thống kê và ước tính đến cuối tháng 12/2025, tăng trưởng GDP cả năm của Việt Nam ước đạt trên 8% (vượt xa mục tiêu 6,5 - 7% do Quốc hội đặt ra đầu năm). Với mức tăng trưởng cao này, Việt Nam trở thành một trong những nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất khu vực và thế giới. Trong đó, động lực chính của sự tăng trưởng đến từ sự phục hồi mạnh mẽ của sản xuất công nghiệp, sự bùng nổ của xuất khẩu và giải ngân vốn đầu tư công đạt hiệu quả cao.
Cùng với đó, quy mô nền kinh tế (GDP danh nghĩa) dự báo vượt mốc 500 tỷ USD. Đặc biệt, GDP bình quân đầu người năm 2025 ước đạt khoảng 5.000 USD (tăng mạnh so với mức khoảng 4.300 USD năm 2023 và 4.600 USD năm 2024). Con số này khẳng định vị thế vững chắc của Việt Nam trong nhóm các quốc gia có thu nhập trung bình cao và tạo đà để hướng tới mục tiêu quốc gia phát triển vào năm 2045.
Sự tăng trưởng vượt bậc này không chỉ là thành quả của một năm tài chính, mà là sự cộng hưởng của nhiều yếu tố chiến lược mang tính dài hạn. Năm 2025 chứng kiến sự hoàn thiện cơ bản của trục cao tốc Bắc - Nam phía Đông và đưa vào khai thác hàng loạt dự án hạ tầng trọng điểm, tạo ra không gian phát triển mới và giảm chi phí logistics cho doanh nghiệp. Việt Nam tiếp tục là điểm đến hàng đầu của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chất lượng cao, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI) và năng lượng xanh.
Đáng chú ý, dù đạt mức tăng trưởng cao, lạm phát (CPI) vẫn được kiểm soát ở mức mục tiêu (dưới 4,5%), đảm bảo đời sống người dân không bị bào mòn bởi sự tăng giá.
Với những kết quả đạt được, nhiều tổ chức tài chính quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB)… đều nhận định trong năm 2025, kinh tế Việt Nam không chỉ phục hồi mà đã thực sự chuyển mình sang một chu kỳ tăng trưởng mới dựa trên chất lượng và hiệu quả. Việc cán mốc 5.000 USD/người là minh chứng rõ nét cho sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành công và sự lớn mạnh của tầng lớp trung lưu.
Vượt qua những “cơn gió ngược” của kinh tế thế giới, thương mại Việt Nam năm 2025 đã xác lập dấu mốc lịch sử mới, với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu ước đạt con số kỷ lục 920 tỷ USD, tăng 16,9% (tương đương tăng thêm 133,71 tỷ USD) so với năm 2024.
Kết quả ấn tượng này cho thấy tính đúng đắn trong các quyết sách của Đảng và Chính phủ, sự vào cuộc của các bộ, ngành, địa phương, sự nỗ lực không ngừng của cộng đồng doanh nghiệp; đồng thời khẳng định vị thế ngày càng vững chắc của Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Động lực dẫn dắt tăng trưởng chính là sự bùng nổ của xuất khẩu, với 470,59 tỷ USD (tăng 15,9%). Sự bứt phá này không chỉ phản ánh năng lực sản xuất nội địa mạnh mẽ, mà còn cho thấy khả năng tận dụng hiệu quả các Hiệp định thương mại tự do (FTA). Việc duy trì đà tăng trưởng hai con số là minh chứng cho sức cạnh tranh cao của hàng hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế, từ các mặt hàng nông sản đến công nghiệp công nghệ cao. Ở chiều ngược lại, kim ngạch nhập khẩu đạt 449,41 tỷ USD (tăng 18%) chủ yếu tập trung vào nhóm hàng nguyên liệu, cho thấy một chu kỳ sản xuất đang mở rộng mạnh mẽ. Đặc biệt, việc duy trì xuất siêu 21,18 tỷ USD có ý nghĩa quan trọng, giúp ổn định tỷ giá, tăng dự trữ ngoại hối và củng cố niềm tin của các nhà đầu tư nước ngoài.
Những con số kỷ lục của năm 2025 không chỉ là kết quả của sự hồi phục kinh tế, mà còn là “thước đo” cho nội lực và sự linh hoạt của nền kinh tế. Đây là nền tảng vững chắc để Việt Nam sớm gia nhập câu lạc bộ các quốc gia có quy mô thương mại nghìn tỷ USD trong tương lai gần.
Hạ tầng giao thông năm 2025 ghi dấu ấn mạnh mẽ khi hàng loạt dự án quan trọng từ đường bộ, đường biển tới hàng không được triển khai và hoàn thành, qua đó mở rộng không gian phát triển và tăng khả năng kết nối của nền kinh tế.
Về đường bộ, đến hết năm 2025, cả nước đã hoàn thành 3.345 km tuyến chính cao tốc và 458 km nút giao, đường dẫn, đưa tổng chiều dài các tuyến cao tốc và hạng mục liên quan lên 3.803 km. Bên cạnh cao tốc, cả nước cũng hoàn thành 1.586 km đường quốc lộ và 1.701 km đường bộ ven biển.
Tính chung giai đoạn 2021–2025, tổng chiều dài đường cao tốc hoàn thành và đưa vào khai thác đạt 2.025 km. Riêng trong năm 2025, cả nước hoàn thành 1.491 km đường cao tốc, 456 km đường quốc lộ và 251 km đường ven biển; đồng thời tiếp tục triển khai các tuyến cao tốc Cà Mau – Cái Nước, các tuyến trục ngang như Tân Phú – Bảo Lộc, Quy Nhơn – Pleiku và tuyến giao thông Đất Mũi – Cảng Hòn Khoai. Theo đó, mạng lưới cao tốc từng bước hình thành trục kết nối xuyên suốt, giúp rút ngắn thời gian vận chuyển, giảm chi phí logistics và tăng khả năng liên kết giữa các trung tâm kinh tế, khu công nghiệp với cảng biển và sân bay, tạo dư địa tái cấu trúc không gian phát triển theo hướng đa cực.
Lĩnh vực hàng không cũng ghi nhận nhiều dấu mốc quan trọng trong năm 2025. Nhà ga T3 Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất được đưa vào khai thác, bổ sung thêm khoảng 20 triệu lượt hành khách mỗi năm; dự án mở rộng Nhà ga T2 Cảng hàng không quốc tế Nội Bài hoàn thành, nâng công suất nhà ga quốc tế lên 15 triệu hành khách mỗi năm. Đặc biệt, ngày 19/12/2025, Cảng hàng không quốc tế Long Thành thực hiện chuyến bay kỹ thuật đầu tiên, hoàn tất các hạng mục then chốt của giai đoạn 1 và chuẩn bị cho khai thác thương mại từ năm 2026, qua đó từng bước giải tỏa áp lực cho các cửa ngõ hàng không lớn.
Cùng với cao tốc và sân bay, hạ tầng đường biển nổi lên như một điểm nhấn mới trong năm 2025, nhất là tại khu vực Tây Nam. Tại An Giang, tỉnh này đầu tư hơn 1.175 tỷ đồng thực hiện dự án đường dẫn ra cảng tổng hợp Hà Tiên, gồm tuyến đường lấn biển dài 4,7 km kết nối từ đường Núi Đèn đến khu vực cảng. Dự án được triển khai theo hai giai đoạn trong giai đoạn 2024–2027 và khi hoàn thành có khả năng tiếp nhận tàu trọng tải đến 5.000 DWT, phục vụ vận chuyển hàng hóa, logistics và phát triển du lịch biển, đồng thời tăng cường kết nối với Phú Quốc và các quốc gia lân cận như Campuchia, Thái Lan.
Tại Cà Mau, khu vực Đất Mũi đang đồng thời triển khai nhiều dự án hạ tầng chiến lược quy mô lớn, gồm tuyến giao thông ra đảo Hòn Khoai dài hơn 18 km với tổng mức đầu tư 25.774 tỷ đồng; hai dự án cao tốc Cà Mau – Cái Nước và Cái Nước – Đất Mũi dài 81 km, tổng mức đầu tư gần 60.000 tỷ đồng; cùng dự án cảng tổng hợp lưỡng dụng Hòn Khoai có tổng mức đầu tư gần 16.000 tỷ đồng. Các dự án này được xác định là trục hạ tầng then chốt, kết nối đường bộ với đường biển tại cực Nam Tổ quốc, phục vụ phát triển logistics, kinh tế biển gắn với yêu cầu bảo đảm quốc phòng – an ninh.
Năm 2025 ghi dấu những kỷ lục chưa từng có về thiên tai tại Việt Nam. Biển Đông xuất hiện tới 21 cơn bão và áp thấp nhiệt đới - mức cao nhất trong lịch sử quan trắc.
Đáng chú ý, bão số 9 trở thành cơn bão mạnh nhất từng ghi nhận trên Biển Đông và đứng thứ hai thế giới về cường độ. Ba cơn bão rất mạnh liên tiếp đổ bộ Trung Bộ, Chính phủ đã thành lập Ban Chỉ đạo tiền phương để trực tiếp chỉ đạo ứng phó. Quy luật bão cũng đảo chiều bất thường khi đầu mùa tập trung ở miền Trung, cuối mùa lại gây thiệt hại nặng nề cho miền Bắc. Lần đầu tiên, một áp thấp nhiệt đới di chuyển từ Ấn Độ Dương sang Thái Bình Dương rồi tiến vào Biển Đông.
Cùng với bão, mưa lũ năm 2025 để lại những thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng. Có 18 tuyến sông ở Bắc Bộ và Trung Bộ cùng 2 tuyến sông ở Nam Bộ vượt mức lũ lịch sử, gây ngập lụt diện rộng. Huế và Quảng Trị ghi nhận mưa lũ trái mùa giữa mùa khô. Hồ Bản Vẽ xuất hiện đỉnh lũ vượt tần suất 5.000 năm, trong khi đỉnh Bạch Mã ghi nhận lượng mưa kỷ lục 1.740mm trong một ngày - cao nhất Việt Nam và đứng thứ hai thế giới. Tổng thiệt hại kinh tế do thiên tai ước tính khoảng 100.000 tỷ đồng, mức cao nhất từ trước đến nay.
Trong bối cảnh đó, Kế hoạch ứng phó thiên tai chung do Liên hợp quốc phối hợp với Chính phủ Việt Nam xây dựng đặt trọng tâm vào sửa chữa, xây mới nhà ở, khôi phục sinh kế, khắc phục hạ tầng thiết yếu và nâng cao năng lực cộng đồng, với nguyên tắc “không để ai bị bỏ lại phía sau”. Phụ lục bổ sung công bố ngày 19/12/2025 xác định nhu cầu cần huy động khẩn cấp 96,2 triệu USD để hỗ trợ khoảng 1,4 triệu người tại miền Bắc và miền Trung.
Ngày 24/11/2023, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số 42-NQ/TW về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, trong đó đặt mục tiêu đến năm 2030, sẽ xóa bỏ hoàn toàn tình trạng nhà tạm, nhà dột nát cho hộ nghèo, hộ cận nghèo và người dân bị ảnh hưởng bởi thiên tai, biến đổi khí hậu.
Tại chương trình “Mái ấm cho đồng bào tôi” (ngày 5/10/2024), Thủ tướng Chính phủ đã phát động cao điểm "450 ngày đêm" hoàn thành xóa nhà tạm, nhà dột nát trên phạm vi cả nước trước ngày 31/10/2025. Trong quá trình triển khai, nhận thấy có khả năng kết thúc sớm hơn, với tinh thần "thần tốc hơn nữa, quyết liệt hơn nữa", Ban Chỉ đạo Trung ương quyết định rút ngắn thời gian, phấn đấu hoàn thành trước ngày 31/8/2025, đúng vào dịp kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9.
Tính đến thời điểm tổng kết (ngày 26/8/2025), cả nước đã xóa bỏ 334.234 căn nhà tạm, nhà dột nát và nhà không bảo đảm tiêu chí "3 cứng" (nền cứng, khung cứng, mái cứng), “về đích” sớm 5 năm 4 tháng so với kế hoạch đề ra tại Nghị quyết số 42-NQ/TW.
Tổng nguồn lực huy động cho Chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát trên phạm vi cả nước lên tới gần 50.000 tỷ đồng, trong đó, 24.761 tỷ đồng đến từ huy động xã hội hóa; 5.074 tỷ đồng từ tiết kiệm chi thường xuyên năm 2024 và 1.940 tỷ đồng từ nguồn vượt thu ngân sách, dùng để hỗ trợ nhà ở cho người có công và thân nhân liệt sĩ. Trong quá trình triển khai, Chương trình đã huy động được hơn 2,7 triệu ngày công, với sự tham gia của 454.000 lượt người dân.
Đây là minh chứng sinh động cho sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước trong việc bảo đảm quyền có nhà ở an toàn, ổn định cho người dân – đúng với phương châm “an cư để lạc nghiệp".
Năm 2025 có thể coi là “năm lịch sử” của ngành khoa học và công nghệ, chứng kiến việc ngành khoa học và công nghệ đã có những đổi mới căn bản trong tư duy xây dựng và hoàn thiện hệ thống thể chế pháp luật, với hàng loạt bộ luật do Bộ Khoa học và Công nghệ xây dựng, soạn thảo và bổ sung được ban hành.
Chỉ trong vòng 10 tháng sau hợp nhất, Bộ Khoa học và Công nghệ đã tham mưu Chính phủ, trình Quốc hội ban hành 10 Luật và một Nghị quyết. 10 luật gồm: Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; Luật Công nghiệp công nghệ số; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật; Luật sửa đổi bổ sung Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa; Luật Năng lượng nguyên tử (sửa đổi); Luật Trí tuệ nhân tạo; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ; Luật Công nghệ cao (sửa đổi); Luật Chuyển đổi số.
Năm 2025 là năm đầu tiên ngành khoa học và công nghệ triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia dưới sự lãnh đạo trực tiếp, thống nhất ở cấp cao nhất của hệ thống chính trị, Tổng Bí thư trực tiếp làm Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương.
Đồng thời, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 193/2025/QH15; Chính phủ ban hành Nghị quyết số 71/NQ-CP để toàn hệ thống chính trị tập trung triển khai đồng bộ với định hướng phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển kinh tế - xã hội, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới.
Trong 10 luật trên, đáng chú ý là Luật Công nghiệp công nghệ số được Quốc hội chính thức thông qua vào ngày 14/6/2025 – đưa Việt Nam trở thành nước đầu tiên trên thế giới ban hành một bộ luật riêng về lĩnh vực công nghiệp công nghệ số. Để cụ thể hóa cho thị trường dòng tài sản mới này, ngày 9/9/2025, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP về thí điểm thị trường tài sản số - mốc đánh dấu sự chuyển mình của Việt Nam trong việc hoàn thiện thể chế để xây dựng một hệ sinh thái tài sản số, tài sản mã hóa minh bạch, an toàn và bền vững.
Ngày 26/10/2025, Việt Nam và Hoa Kỳ đã công bố Tuyên bố chung về Khuôn khổ Hiệp định Thương mại đối ứng, công bằng và cân bằng, nhân dịp Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Phạm Minh Chính và Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump tham dự Hội nghị Cấp cao ASEAN tổ chức từ ngày 26-28/10/2025 tại Kuala Lumpur, Malaysia.
Tuyên bố chung là văn bản mà Việt Nam và Hoa Kỳ thống nhất cùng đưa ra để thể hiện kết quả về đàm phán thương mại đối ứng giữa hai nước, cũng như để ghi nhận nỗ lực của các cơ quan chính phủ, doanh nghiệp Việt Nam và Hoa Kỳ trong việc xây dựng quan hệ kinh tế, thương mại trên cơ sở cân bằng, ổn định và bền vững, phù hợp với mối quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Hoa Kỳ.
Tuyên bố chung đề cập đến các nội dung chính của Hiệp định thương mại đối ứng, công bằng và cân bằng, theo đó cả Việt Nam và Hoa Kỳ sẽ cùng hợp tác trên tinh thần xây dựng để giải quyết mối quan tâm của cả hai bên liên quan đến các rào cản phi thuế quan, thống nhất các cam kết liên quan đến thương mại số, dịch vụ và đầu tư; thảo luận về sở hữu trí tuệ, phát triển bền vững cũng như tăng cường hợp tác để nâng cao khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng…
Việc công bố Tuyên bố chung về Khuôn khổ Hiệp định Thương mại đối ứng, công bằng và cân bằng giữa Việt Nam và Hoa Kỳ là tín hiệu tích cực trong bối cảnh căng thẳng thương mại toàn cầu và áp lực thuế quan, đánh dấu bước tiến quan trọng trong nỗ lực tái cân bằng quan hệ kinh tế thương mại giữa hai quốc gia.
Năm 2025 ghi dấu một bước ngoặt quan trọng trong tiến trình hiện đại hóa và hội nhập tài chính quốc gia, khi Quốc hội chính thức ban hành Nghị quyết số 222/2025/QH15 về việc phát triển Trung tâm Tài chính quốc tế tại Việt Nam. Đây không chỉ là một sự kiện tiêu biểu mang tính thể chế, mà còn là dấu mốc chiến lược thể hiện tầm nhìn dài hạn trong việc nâng cao năng lực huy động và phân bổ nguồn lực tài chính phục vụ tăng trưởng nhanh và bền vững giai đoạn 2026–2030.
Được đặt tại TP. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng, Trung tâm Tài chính quốc tế hướng tới việc xây dựng một hệ sinh thái tài chính hiện đại, cạnh tranh, minh bạch theo chuẩn mực quốc tế. Nghị quyết đề ra nhiều cơ chế đặc thù nhằm thu hút nhà đầu tư tổ chức, dòng vốn toàn cầu và các định chế tài chính đa quốc gia, bao gồm ưu đãi thuế, cơ chế quản lý ngoại hối linh hoạt và khung pháp lý thuận lợi cho các quỹ đầu tư, ngân hàng quốc tế, fintech, cũng như các dịch vụ tài chính chuyên sâu.
Đồng thời, Nghị quyết cũng đặt nền móng cho việc hình thành hệ thống xếp hạng tín nhiệm độc lập, kiểm toán chất lượng cao và cơ sở dữ liệu tài chính đồng bộ – những yếu tố thiết yếu để giảm thiểu rủi ro và nâng cao độ tin cậy của thị trường tài chính Việt Nam. Với ý nghĩa đó, việc Quốc hội thông qua Nghị quyết này không chỉ khẳng định quyết tâm cải cách, mà còn tạo lập một vị thế mới cho Việt Nam trên bản đồ tài chính khu vực và toàn cầu trong thập niên tới.
Theo báo cáo tại phiên họp lần thứ 29 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, tổ chức chiều ngày 25/12/2025, trong năm 2025, 330 tổ chức đảng và 9.600 đảng viên bị thi hành kỷ luật, chưa kể số 23 cán bộ diện Trung ương quản lý, do Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Ủy ban Kiểm tra Trung ương thi hành kỷ luật, trong đó có 6 trường hợp bị xử lý hình sự, chủ yếu do vi phạm các quy định về quản lý kinh tế.
Trong số các vụ án phạm tội tham nhũng được đưa ra xét xử trong năm 2025 được dư luận đặc biệt quan tâm, có vụ Tập đoàn Phúc Sơn, do Tòa án Nhân dân tối cao tại Hà Nội xét xử (qua các phiên tòa sơ thẩm tháng 6/2025 và phúc thẩm tháng 12/2025), kết thúc bằng các mức án nghiêm khắc với lãnh đạo Tập đoàn Phúc Sơn và cựu lãnh đạo các tỉnh Vĩnh Phúc, Quảng Ngãi, Phú Thọ (cũ), với hành vi hối lộ và nhận hối lộ hơn 132 tỷ đồng và vi phạm đấu thầu gây thiệt hại lớn, mà bị cáo bị tuyên phạt nặng nhất là Hoàng Thị Thúy Lan, người mà trước khi bị kỷ luật và vướng vòng lao lý là Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư tỉnh ủy, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội khóa XV tỉnh Vĩnh Phúc (cũ), với mức án tuyên ở phiên phúc thẩm sáng ngày 22/12/2025 là 11 năm 6 tháng tù giam (giảm 2 năm 6 tháng tù so với án sơ thẩm 14 năm tù).
Cũng trong năm 2025, Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương đã rà soát, phân loại và có phương án xử lý gần 3.000 công trình, dự án chậm tiến độ, tồn đọng kéo dài, có nguy cơ gây thất thoát, lãng phí; các bên liên quan đã hoàn thành rà soát, xử lý hơn 1.150 dự án và 10.971 cơ sở nhà, đất dôi dư sau sắp xếp đơn vị hành chính các cấp. Công tác thanh tra, kiểm toán cũng đạt nhiều kết quả cụ thể: Kiến nghị thu hồi, xử lý tài chính 75.132 tỷ đồng, 633 ha đất; đồng thời, kiến nghị xử lý hành chính 928 tập thể và 3.058 cá nhân.
Kết quả điều tra, truy tố, xét xử và thu hồi tài sản trong năm cho thấy đã có 3.325 vụ án mới, với 8.516 bị can bị khởi tố; 1.270 tỷ đồng và nhiều tài sản có giá trị khác bị các cơ quan tố tụng tạm giữ, kê biên, phong tỏa và thu giữ.
Những kết quả nêu trên cho thấy cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí và tiêu cực tiếp tục được đẩy mạnh, không có điểm dừng, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, thể hiện quyết tâm chính trị rất cao của lãnh đạo Đảng và Nhà nước cũng như toàn hệ thống chính trị trong nỗ lực làm trong sạch Đảng và bộ máy công quyền của Nhà nước cũng như đội ngũ cán bộ, đảng viên, góp phần củng cố và tăng cường lòng tin của nhân dân.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 01-2026 phát hành ngày 5/1/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://vneconomy.vn/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-5152-2025.htm
-
Thủ tướng phê duyệt Chương trình hành động quốc gia về đăng ký và thống kê hộ tịch
Theo quyết định, mục tiêu tổng quát nhằm bảo đảm các sự kiện hộ tịch của công dân Việt Nam; người nước ngoài cư trú trên lãnh thổ Việt Nam; người nước ngoài, người gốc Việt Nam được đăng ký kịp thời, đầy đủ, chính xác, đúng quy định pháp luật.
Chất lượng và tỷ lệ đăng ký hộ tịch được nâng cao, tập trung vào tỷ lệ đăng ký khai sinh, đăng ký khai tử đúng hạn, bảo đảm quyền đăng ký hộ tịch của nhóm đối tượng yếu thế, vùng sâu, vùng xa.
Đồng thời, hướng tới mục tiêu tất cả sự kiện hộ tịch đều được đăng ký, quản lý trên môi trường điện tử; dữ liệu trong Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử đầy đủ, chính xác, thống nhất, cập nhật kịp thời, kết nối, khai thác, sử dụng hiệu quả….
Quyết định cũng đặt ra một số mục tiêu cụ thể.
Về đăng ký khai sinh, đến năm 2028: Tỷ lệ đăng ký khai sinh đúng hạn cho trẻ em (tiêu chí đúng hạn theo quy định pháp luật hộ tịch của Việt Nam) đạt 95%. Tỷ lệ đăng ký khai sinh cho trẻ em (sinh ra sống) trong vòng 1 năm kể từ ngày sinh (tiêu chí thống kê theo thông lệ quốc tế) đạt 98%.
Các trường hợp trẻ em sinh tại cơ sở y tế được cấp Giấy chứng sinh đạt 100%; dữ liệu được cập nhật đúng thời hạn trên Cơ sở dữ liệu về Giấy chứng sinh, tạo lập bản điện tử Giấy chứng sinh đạt 95%.
Tạo lập bản điện tử Giấy khai sinh cho các trường hợp đã đăng ký khai sinh từ ngày 1/1/2016 (tạo lập hồi tố giai đoạn 1) đến thời điểm triển khai Phần mềm đăng ký, quản lý hộ tịch điện tử đạt 100%.
Rà soát, thống kê, tuyên truyền, vận động để người dân chưa có Giấy khai sinh/dữ liệu khai sinh trong Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử thực hiện việc đăng ký, có Giấy khai sinh, thu thập thông tin khai sinh vào Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử đạt 90%.
Rà soát, thống kê, đăng ký khai sinh đầy đủ cho nhóm dân cư yếu thế, bảo đảm ít nhất 80% người dân thuộc nhóm dân cư này được cấp Giấy khai sinh trong vòng 1 năm kể từ thời điểm thống kê.
Đến năm 2030: Tỷ lệ đăng ký khai sinh đúng hạn cho trẻ em (tiêu chí đúng hạn theo quy định pháp luật hộ tịch của Việt Nam) đạt 98,5%.
Tỷ lệ đăng ký khai sinh cho trẻ em sinh ra sống trong vòng 1 năm kể từ ngày sinh (tiêu chí thống kê theo thông lệ quốc tế) đạt 99%.
Tạo lập bản điện tử Giấy khai sinh cho toàn bộ công dân Việt Nam đã đăng ký khai sinh từ ngày 1/1/2016 trở về trước và còn sống tại thời điểm tạo lập (tạo lập hồi tố giai đoạn 2); bảo đảm 100% công dân Việt Nam (còn sống) có Giấy khai sinh hợp lệ.
Về cập nhật tình trạng hôn nhân khi có thay đổi do ly hôn, hủy việc kết hôn, đến năm 2028: 100% dữ liệu về các trường hợp ly hôn (theo bản án/quyết định đã có hiệu lực của Tòa án từ ngày 1/1/2026) được đồng bộ từ Cơ sở dữ liệu của Tòa án nhân dân tối cao sang Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử; được cơ quan đăng ký hộ tịch ghi vào sổ hộ tịch.
Rà soát, đối chiếu, cập nhật thông tin về các trường hợp ly hôn từ 31/12/2025 trở về trước và đủ điều kiện được đồng bộ từ Cơ sở dữ liệu của Tòa án sang Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, đạt 85%.
Đến năm 2030: Dữ liệu về các trường hợp ly hôn theo bản án/quyết định đã có hiệu lực của Tòa án được đồng bộ ngay (theo thời gian thực) từ Cơ sở dữ liệu của Tòa án nhân dân tối cao sang Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, được cơ quan đăng ký hộ tịch ghi vào sổ hộ tịch.
Rà soát, đối chiếu, cập nhật thông tin về các trường hợp ly hôn từ 31/12/2025 trở về trước và đủ điều kiện được đồng bộ từ Cơ sở dữ liệu của Tòa án sang Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, đạt 95%.
Quyết định cũng quy định việc thành lập Ban Chỉ đạo quốc gia thực hiện chương trình do Bộ trưởng Bộ Tư pháp làm Trưởng ban.
Thành viên là đại diện lãnh đạo Bộ Tư pháp và một số bộ, ngành có liên quan gồm: Văn phòng Chính phủ; Bộ Công an; Bộ Ngoại giao; Bộ Y tế; Bộ Tài chính; Bộ Nội vụ; Tòa án nhân dân tối cao; Bộ Giáo dục và Đào tạo; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Bộ Khoa học và Công nghệ; Đài truyền hình Việt Nam; Thông tấn xã Việt Nam.
-Đỗ Như
Hiến kế “chuyển đổi kép” và khơi thông dòng vốn để bứt phá
“Tốc độ tăng trưởng GRDP của Thủ đô năm 2025 ước đạt khoảng 8,5%. Đây là mức tăng trưởng cao so với năm trước, đặc biệt trong bối cảnh năm 2025 tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức từ tình hình kinh tế trong nước và quốc tế.
Cùng với tăng trưởng kinh tế, các chỉ tiêu vĩ mô khác của Hà Nội cũng ghi nhận kết quả tích cực. Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đến nay ước đạt khoảng 650 nghìn tỷ đồng, mức cao nhất từ trước đến nay. Kết quả này phản ánh nỗ lực lớn của thành phố trong việc phục hồi sản xuất kinh doanh, mở rộng cơ sở thu và cải thiện hiệu quả quản lý ngân sách.
Bên cạnh đó, công tác giải ngân, đặc biệt là giải ngân vốn đầu tư công, được xác định là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Thủ đô trong năm 2025. Nhiều dự án hạ tầng, chỉnh trang đô thị và các công trình trọng điểm được tập trung tháo gỡ vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ triển khai, qua đó tạo hiệu ứng lan tỏa đối với các ngành, lĩnh vực kinh tế khác không chỉ với Thủ đô mà các tỉnh, thành phố lân cận.
Trong những tháng cuối năm, thành phố tiếp tục tập trung nguồn lực cho các ngành dịch vụ, trong đó du lịch được xác định là điểm sáng. Năm 2025, tổng lượng khách du lịch đến Hà Nội ước đạt trên 33 triệu lượt, trong đó có khoảng 7–8 triệu lượt khách quốc tế. Kết quả này cho thấy sự phục hồi rõ nét của ngành du lịch, đồng thời góp phần quan trọng vào tăng trưởng chung của kinh tế Thủ đô.
Một trong những yếu tố tạo nền tảng quan trọng cho quá trình phát triển của Hà Nội thời gian qua là việc Quốc hội đã thông qua nhiều luật, nghị quyết tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho hoạt động sản xuất kinh doanh, trong đó có các cơ chế, chính sách dành riêng cho Thủ đô.
Đáng chú ý, Nghị quyết số 258/2025/QH15 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù để thực hiện các dự án lớn, quan trọng trên địa bàn Thủ đô đã tạo ra khuôn khổ pháp lý mới, giúp thành phố có thêm dư địa khai thông nguồn lực cho đầu tư và phát triển. Nghị quyết này tập trung tháo gỡ các rào cản vốn được xem là điểm nghẽn trong quá trình triển khai các dự án mang tính động lực, như công tác quy hoạch, giao đất, cơ chế bồi thường, giải phóng mặt bằng và tổ chức thực hiện dự án.
Các nhóm chính sách này sẽ giúp thành phố chủ động hơn trong việc chuẩn bị và triển khai các dự án lớn, trong đó có nhiều dự án dự kiến khởi công trong dịp 19/12/2025, với quy mô đầu tư rất lớn, có những dự án lên tới cả triệu tỷ đồng.
Việc triển khai đồng bộ các dự án trọng điểm, đặc biệt là các dự án quy mô lớn, sẽ tạo xung lực mới cho phát triển kinh tế Thủ đô. Trên cơ sở đó, Hà Nội sẽ tiếp tục tập trung chỉnh trang, tái thiết các khu đô thị hiện hữu, qua đó lan tỏa động lực tăng trưởng sang các địa phương lân cận và các lĩnh vực kinh tế khác.
Với những nền tảng và động lực đang được củng cố, Hà Nội đặt mục tiêu tạo đà cho giai đoạn phát triển mới với tốc độ tăng trưởng cao hơn, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố đã đề ra”.
“Trong hơn 80 năm qua, ngành Nông nghiệp và Môi trường đã đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, giữ vai trò bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, ổn định xã hội, đồng thời là nền tảng cho nhiều ngành kinh tế và thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững, cam kết quốc tế của Việt Nam.
Từ một quốc gia phải nhập khẩu hàng triệu tấn lương thực mỗi năm, Việt Nam hiện đã trở thành một trong những cường quốc sản xuất và xuất khẩu nông, lâm, thủy sản. Nhiều mặt hàng như lúa gạo, cà phê, điều, trái cây nằm trong nhóm dẫn đầu thế giới, với sản phẩm nông nghiệp Việt Nam đã có mặt tại gần 200 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Trong 11 tháng năm 2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu nông, lâm, thủy sản đạt trên 64 tỷ USD, tăng gần 13% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất siêu đạt 19,55 tỷ USD, tăng 19%. Ước tính cả năm 2025, kim ngạch xuất nhập khẩu toàn ngành đạt khoảng 70 tỷ USD, xuất siêu khoảng 21 tỷ USD, vượt mục tiêu đề ra.
Mặc dù đối mặt nhiều khó khăn do biến đổi khí hậu, thiên tai và biến động thị trường thế giới, ngành nông nghiệp vẫn duy trì mức tăng trưởng khoảng 4% trong nhiều năm qua, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng chung của nền kinh tế. Riêng năm 2025, lĩnh vực này dự kiến đóng góp khoảng 5,5% vào tăng trưởng GDP cả nước.
Cùng với đó, diện mạo nông thôn và đời sống người dân tiếp tục được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 1,93%, độ che phủ rừng đạt 42,03%. Các lĩnh vực quản lý tài nguyên và môi trường như đất đai, khoáng sản, tài nguyên nước, rừng, biển, khí tượng thủy văn cũng có bước phát triển mạnh, đóng góp ngày càng rõ nét cho nền kinh tế.
Mặc dù đạt được nhiều kết quả tích cực, song thời gian tới ngành cũng sẽ phải đối mặt với không ít thách thức, đó là tăng trưởng chưa thực sự ổn định, giá trị gia tăng còn thấp, thu nhập của người dân nông thôn trực tiếp sản xuất nông nghiệp còn hạn chế, trong khi tác động của biến đổi khí hậu ngày càng rõ nét. Ngoài ra, bất ổn địa chính trị và xu hướng bảo hộ thương mại, rào cản kỹ thuật tại nhiều thị trường xuất khẩu đòi hỏi nông sản Việt Nam phải chuyển mạnh sang hướng xanh hơn, sạch hơn và minh bạch hơn.
Để góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số của nền kinh tế giai đoạn 2026–2030, ngành Nông nghiệp và Môi trường đặt mục tiêu duy trì tốc độ tăng trưởng khoảng 3,5% mỗi năm trong 5 năm tới. Trong đó, trọng tâm là bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, không để xảy ra thiếu đói cục bộ, đồng thời hướng tới mục tiêu kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản đạt 100 tỷ USD.
Ngành cũng sẽ đẩy mạnh chuyển đổi mô hình sản xuất theo hướng xanh, sạch, an toàn thực phẩm, phát triển nông nghiệp tuần hoàn, giảm phát thải, tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, chế biến sâu nhằm nâng cao năng suất và giá trị gia tăng. Song song với đó là chủ động phòng, chống thiên tai, giảm thiểu tác động bất lợi của thời tiết cực đoan tới sản xuất và đời sống người dân.
Trong quản lý tài nguyên, sẽ thúc đẩy việc sử dụng hiệu quả đất đai, khoáng sản thông qua tăng cường giám sát bằng công nghệ số, viễn thám và trí tuệ nhân tạo; đồng thời, đẩy mạnh phục hồi rừng tự nhiên và hệ sinh thái rừng ngập mặn để bảo đảm đa dạng sinh học.
Về môi trường, ngành đặt mục tiêu triển khai quyết liệt các giải pháp giảm ô nhiễm, phát triển bền vững theo xu hướng toàn cầu. Đáng chú ý, ngay đầu năm 2026, Việt Nam phấn đấu hình thành thị trường tín chỉ carbon, trước mắt là thị trường trong nước, sau đó từng bước kết nối với thị trường quốc tế, phù hợp với các cam kết và lợi ích quốc gia.
Đặc biệt, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách phát triển, bám sát các kết luận, chỉ đạo của Trung ương, Bộ Chính trị và Chính phủ. Trong kỳ họp thứ 10 vừa qua, Quốc hội đã thông qua việc sửa đổi đồng loạt 17 luật do Bộ chủ trì, bước đầu tháo gỡ nhiều điểm nghẽn, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân trong sản xuất, kinh doanh.
Chuyển đổi xanh, phát triển bền vững và kinh tế tuần hoàn không chỉ là yêu cầu bắt buộc mà còn là hướng đi chiến lược để ngành Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục đóng góp hiệu quả cho tăng trưởng kinh tế đất nước trong giai đoạn tới”.
“Theo tôi, để đạt được mục tiêu tăng trưởng hai con số, Việt Nam có thể tham khảo chiến lược 4S.
Chữ S thứ nhất là Scale (Quy mô). Chúng tôi khuyến nghị Việt Nam nên thúc đẩy phát triển hơn nữa cơ sở hạ tầng. Chẳng hạn, về hạ tầng logistics, cần xây dựng hiệu quả hệ thống cảng biển, hàng không,... đảm bảo chất lượng đồng bộ toàn bộ hệ thống.
Chúng tôi đánh giá cao việc Chính phủ Việt Nam đã rất tích cực cải cách hành chính thời gian qua. Nếu được đề xuất thêm, chúng tôi mong muốn Chính phủ cân nhắc việc thiết lập “luồng xanh”, tạo điều kiện thuận lợi thủ tục hải quan, thủ tục xuất nhập khẩu, cấp phép đầu tư,... Như vậy, sẽ giúp Việt Nam tăng cường tính cạnh tranh trên thị trường toàn cầu.
Chữ S thứ hai là “School”(Trường học), đầu tư vào giáo dục cũng chính là đầu tư vào đổi mới sáng tạo. Đối với vấn đề này, chúng tôi thấy rằng Việt Nam cũng đang dành rất nhiều sự quan tâm.
Chữ S thứ ba là “Smart” (Thông minh), chúng ta phải đầu tư vào công nghệ để nâng cao hiệu quả hoạt động. Dĩ nhiên, đây đều là những lĩnh vực đòi hỏi nhiều thời gian, nỗ lực và vốn.
Chữ S cuối cùng là “Sustainable” (Bền vững). Đối với mục tiêu này, Việt Nam có thể thiết lập các ưu đãi thuế, các chính sách hỗ trợ,... để giúp doanh nghiệp dễ dàng tham gia, từ đó đóng góp vào quá trình tăng trưởng của Việt Nam”.
“Trong suốt 34 năm Heineken có mặt tại thị trường Việt Nam, chúng tôi đã chứng kiến tinh thần doanh nhân mạnh mẽ của đất nước. Việt Nam không chỉ là một trong những thị trường chủ chốt của Tập đoàn, mà còn là điểm đến hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài khác.
Heineken đang nhìn thấy những cơ hội rất lớn để tiếp tục đầu tư, mở rộng công suất theo hướng bền vững, đồng thời thúc đẩy kế hoạch xuất khẩu từ Việt Nam. Việt Nam đang tạo ra môi trường đầu tư ngày càng ổn định, bền vững và thuận lợi, với nhiều lợi thế để thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài. Với tư cách là nhà đầu tư dài hạn, Heineken coi Việt Nam là một trong những điểm đến FDI hấp dẫn nhất trong khu vực.
Tuy nhiên, trong một môi trường đầu tư ổn định, việc thực thi chính sách cần bảo đảm tính tương xứng và hợp lý, ví dụ, tăng cường áp dụng công nghệ truy xuất nguồn gốc, thực thi nhất quán các tiêu chuẩn quốc tế,... Chính điều này cũng sẽ giúp người tiêu dùng Việt Nam được tiếp cận các sản phẩm an toàn, chất lượng cao.
Liên quan đến thuế tiêu thụ đặc biệt, chúng tôi đồng tình đây là công cụ chính sách quan trọng để bảo vệ sức khỏe cộng đồng và nâng cao nguồn thu ngân sách. Tuy nhiên, theo quan sát của chúng tôi từ kinh nghiệm tại nhiều quốc gia phát triển cho thấy, thuế tiêu thụ đặc biệt sẽ phát huy hiệu quả tốt nhất khi được xây dựng trên cơ sở đa yếu tố, nhất là cần dựa trên tình hình thực tiễn. Do đó, chúng tôi cũng kiến nghị Chính phủ theo đuổi lộ trình áp dụng từ từ, phù hợp với thông lệ quốc tế, nhằm đạt các mục tiêu về sức khỏe cộng đồng, đồng thời vẫn duy trì niềm tin của nhà đầu tư.
Về phát triển bền vững và chuyển đổi xanh, Heineken đã cam kết đảm bảo thực hiện trách nhiệm trong suốt nhiều năm hoạt động tại Việt Nam. Trên cơ sở đó, chúng tôi đề xuất hai khuyến nghị cụ thể.
Thứ nhất, về năng lượng tái tạo, chúng tôi hoan nghênh việc Việt Nam phê duyệt cơ chế Mua bán điện trực tiếp (DPPA) từ tháng 7/2024. Tuy nhiên, chúng tôi hy vọng sẽ sớm có thêm các quy định, hướng dẫn cụ thể, rõ ràng để hoạt động thỏa thuận mua bán được diễn ra thuận lợi.
Thứ hai, nâng cao hiệu quả sử dụng nước cũng là vấn đề quan trọng của phát triển kinh tế bền vững và kinh tế tuần hoàn. Với vị trí quan trọng của Việt Nam trong Tập đoàn, Heineken đã không ngừng cải thiện hiệu quả và tăng cường an ninh nguồn nước. Thực tế, các nhà máy tại Việt Nam hiện là những nhà máy có hiệu quả sử dụng nước cao nhất trong toàn hệ thống Heineken toàn cầu.
Doanh nghiệp cũng đã đầu tư vào công nghệ xử lý nước thải tiên tiến, đưa nước sau xử lý đạt tiêu chuẩn loại A, đồng thời đảm bảo tái sử dụng nước,… Tuy nhiên, nếu chưa có khung quy định rõ ràng để hỗ trợ, cho phép và khuyến khích tái sử dụng nước an toàn, thì cả doanh nghiệp và Việt Nam đều chưa thể khai thác hết lợi ích từ những khoản đầu tư này.
Tại châu Âu, tái sử dụng nước đã trở thành tiêu chuẩn, nhờ các khuôn khổ rõ ràng và chính sách hỗ trợ, doanh nghiệp trong khu vực đã tích cực tuân thủ yêu cầu tuần hoàn nước, từ đó góp phần bảo đảm an ninh nguồn nước và nâng cao hiệu quả sử dụng nước trong công nghiệp”.
“Với quy mô doanh thu hiện nay trên 1 triệu tỷ đồng, PVN đang đối diện với áp lực lớn trong việc duy trì đà tăng trưởng hai con số. Để giải quyết bài toán này, Tập đoàn xác định đổi mới công tác đầu tư là động lực then chốt, tập trung vào hai hướng chiến lược:
Thứ nhất, đầu tư tập trung theo mô hình trung tâm công nghiệp năng lượng theo hướng sinh thái, nhằm phát huy được quy mô đầu tư, tạo ra hiệu quả kinh doanh, cũng như phát huy chuỗi giá trị của ngành để tạo ra những tối ưu về mặt công nghệ, về dòng chảy năng lượng và các giá trị mới.
Thứ hai, mở rộng đầu tư ra nước ngoài theo hướng linh hoạt các hình thức đầu tư, đặc biệt là chú trọng vào hình thức MA (mua bán - sáp nhập) để nhanh chóng hiện thực hóa doanh thu và tạo ra sự tăng trưởng nhanh nhưng bền vững.
Để thực hiện định hướng trên, PVN có hai kiến nghị:
Về quy hoạch, Chính phủ cần rà soát, định hướng đầu tư tập trung vào các cụm năng lượng lớn và tạo cơ chế đột phá cho các mô hình sinh thái. Điều này sẽ tạo tiền đề “làm mồi” thu hút các doanh nghiệp lớn và đối tác chiến lược tham gia các dự án quy mô, bền vững. Hiện, PVN đang tích cực phối hợp với một số địa phương về vấn đề này.
Về cơ chế, bên cạnh Luật số 68/2025/QH15 đã ban hành, cần sớm có các nghị định hướng dẫn theo hướng tăng cường phân cấp mạnh mẽ hơn cho doanh nghiệp nhà nước, cho chủ sở hữu, đại diện cơ quan chủ sở hữu cũng như Hội đồng thành viên của các tập đoàn nhà nước. Việc này giúp doanh nghiệp có thể quyết định mạnh mẽ hơn, nhanh chóng hơn để tận dụng các cơ hội đầu tư, đặc biệt là đầu tư ra nước ngoài, nhằm thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững trong thời gian tới”.
“Việc xác định mô hình tăng trưởng mới dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là định hướng chiến lược quan trọng mà Việt Nam cần kiên định thúc đẩy. Trong đó, chuyển đổi kép (chuyển đổi số và chuyển đổi xanh) chính là động lực then chốt cho sự phát triển kinh tế giai đoạn mới.
Trên tinh thần đó, tôi xin đề xuất ba kiến nghị cụ thể như sau:
Thứ nhất, về phát huy vai trò dẫn dắt của kinh tế tư nhân trong hạ tầng số và AI. Nghị quyết số 68-NQ/TW (tháng 5/2025) đã xác định rõ vai trò của kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân. Thực tế, khi Chiến lược phát triển AI được công bố ngày 11/09/2024, đã tạo ra một làn sóng mạnh mẽ trong cả nước về nhận thức và việc lấy AI làm chiến lược chuyển đổi. Khối tư nhân đã có sự chuẩn bị nền tảng từ hàng chục năm nay, nên khi công bố chiến lược đó, xã hội đã đón nhận ngay lập tức.
Tôi khẳng định trong lĩnh vực này, kinh tế tư nhân hoàn toàn có khả năng đóng vai trò dẫn dắt. Chính phủ cần tập trung đầu tư cho các doanh nghiệp đầu tàu; CMC sẵn sàng là một trong 5 doanh nghiệp dẫn dắt về AI. Đối với hạ tầng số và hạ tầng AI, Chính phủ hoàn toàn có thể tin tưởng vào năng lực đầu tư của khối tư nhân bên cạnh các doanh nghiệp nhà nước.
Thứ hai, về nâng cao năng lực cạnh tranh của chính sách kinh tế số. Qua khảo sát thực tế và xúc tiến đầu tư tại Singapore, nhận thấy chính sách kinh tế số của Việt Nam hiện chưa đủ sức cạnh tranh so với các nước trong khu vực như Singapore hay Thái Lan. Đây là lý do nhóm GAFA (4 công ty công nghệ toàn cầu) vẫn chưa chọn Việt Nam làm địa điểm đầu tư trọng điểm.
Tôi kiến nghị Chính phủ lập bảng so sánh chi tiết chính sách kinh tế số giữa Việt Nam với Singapore và Malaysia xem chúng ta có điểm gì khác biệt hoặc chưa bằng. Chúng ta phải xây dựng chính sách, ít nhất là cạnh tranh được, thậm chí phải tốt hơn các nước khác, thì mới có thể thu hút đầu tư.
Thứ ba, về mô hình Trung tâm Đổi mới sáng tạo và cơ chế giao nhiệm vụ. Hiện nay, khối tư nhân đang chiếm tỷ trọng lớn, đồng thời các viện nghiên cứu và trường đại học tư nhân cũng đang phát triển mạnh. CMC đang cùng Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh và Đà Nẵng xây dựng Trung tâm Đổi mới sáng tạo theo mô hình kết hợp “3 nhà”: Doanh nghiệp tư nhân – Trường đại học – Nhà nước. Đây là mô hình chúng tôi học tập từ Singapore và Hàn Quốc, là những nơi có chính sách ưu đãi đặc biệt cho loại hình này.
Chúng tôi mong muốn Nhà nước tin tưởng giao nhiệm vụ. Ví dụ, Singapore dù diện tích nhỏ vẫn dành 200 ha cho đô thị khoa học, công nghệ đổi mới sáng tạo. Với quỹ đất tại TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam hoàn toàn có thể xây dựng những đô thị quy mô hàng nghìn ha. Với tư cách là doanh nghiệp tư nhân, chúng tôi hoàn toàn có thể thực hiện được các nhiệm vụ này”.
“Với quy mô 46 tỷ USD và vị thế đứng thứ hai thế giới, ngành dệt may Việt Nam hiện khó có thể đạt mục tiêu tăng trưởng 10% nếu chỉ dựa vào mở rộng quy mô (tăng trưởng theo chiều rộng). Nguyên nhân là nhu cầu thế giới hiện chỉ tăng khoảng 3%, do đó dệt may Việt Nam tối đa cũng chỉ có thể tăng 3-5% theo hướng này.
Vì vậy, ngành đang chuyển hướng sang tăng trưởng theo chiều sâu, cụ thể là tăng thặng dư thương mại trên 10%. Năm nay, thặng dư xuất khẩu dự kiến đạt 22 tỷ USD; để đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng chung 10%, con số này cần đạt trên 24 tỷ USD vào năm 2026.
Để hiện thực hóa mục tiêu trên, cần thực hiện đồng bộ hai nhóm giải pháp:
Thứ nhất, phải có chính sách mua nguyên vật liệu trong nước thuận lợi hơn so với nhập khẩu nguyên vật liệu. Hiện nay, việc nhập khẩu nguyên vật liệu thuận lợi hơn cho doanh nghiệp vì không phải đóng thuế VAT và các thủ tục xuất khẩu cũng rất dễ dàng. Trong khi đó, nếu muốn mua nguyên vật liệu trong nước thì doanh nghiệp phải ứng thuế VAT, thuế mua hàng, thủ tục khá phức tạp. Chính vì vậy, cần thiết kế chính sách thuế riêng biệt cho các mặt hàng mua trong nội địa để phục vụ xuất khẩu. Ví dụ, trong quá khứ Việt Nam đã có ưu tiên giảm thuế doanh thu 50% cho doanh nghiệp.
Thứ hai, để đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng GDP thì doanh nghiệp phải tăng lương cho người lao động 10%. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp sẽ phải chuyển đổi mô hình theo hướng tự động hóa để không tăng số lượng công nhân mà tăng năng suất lao động.
Vì vậy, chúng tôi kiến nghị, cần có cơ chế giảm trừ một phần thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các đơn vị tăng lương trên 10% cho người lao động. Khi có những chính sách này thì các doanh nghiệp sử dụng lao động với số lượng lớn (thường là doanh nghiệp có kim ngạch xuất khẩu cao) có thể tăng cường mua nguyên phụ liệu nội địa và tăng lương cho người lao động. Nếu thặng dư xuất khẩu và tiền lương tăng trên 10%, thì ngành dệt may mới thực sự đóng góp hiệu quả vào tăng trưởng kinh tế đất nước”.
“VinaCapital đã đầu tư tại Việt Nam hơn 20 năm, với phần lớn các khoản đầu tư tập trung vào khu vực kinh tế tư nhân. Có hai trụ cột là yếu tố quan trọng để tạo ra đột phá tăng trưởng kinh tế mới, qua đó giúp Việt Nam hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai chữ số.
Thứ nhất, trụ cột quan trọng nhất là công nghệ, động lực cho đột phá tăng trưởng trong giai đoạn tới.
Thứ hai, Trung tâm Tài chính quốc tế (IFC), gắn với huy động thêm nguồn vốn cho phát triển.
Hai trụ cột này sẽ song hành và bổ trợ lẫn nhau, trở thành đồng tác nhân thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam. Công nghệ sẽ đóng vai trò nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế, trong khi IFC sẽ giúp huy động dòng vốn toàn cầu dài hạn vào các lĩnh vực ưu tiên, đồng thời kết nối Việt Nam sâu hơn với hệ thống tài chính quốc tế.
Về công nghệ, Việt Nam cần xây dựng một mạng lưới hạ tầng thông minh, hướng tới một nền kinh tế công nghệ, trong đó hạ tầng AI phải được coi là nền tảng. Hiện nay, VinaCapital đang hợp tác với các nhà đầu tư đến từ UAE để triển khai một trung tâm dữ liệu AI quy mô lớn tại TP. Hồ Chí Minh. Bởi các trung tâm dữ liệu siêu quy mô (hyperscale) sẽ là nền móng để góp phần phát triển công nghệ và trung tâm tài chính.
Nếu Việt Nam làm chủ AI và hạ tầng điện toán đám mây, những lợi ích có được là rất lớn, từ giảm chi phí, nâng cao hiệu quả, năng lực đổi mới sáng tạo và khả năng cạnh tranh, cho tới tăng cường mức độ an toàn và an ninh. Đây cũng là nền tảng căn bản để hình thành trung tâm AI, tạo chất xúc tác phát triển cho các công nghệ khác.
Những điều này cũng kéo theo vấn đề tiếp theo là nguồn vốn. Hiện nay, nhiều ước tính cho rằng Việt Nam cần khoảng 300 – 400 tỷ USD mỗi năm để duy trì tốc độ tăng trưởng cao. Câu hỏi then chốt là: Nguồn vốn này sẽ đến từ đâu?
Chúng tôi cho rằng việc huy động nguồn vốn từ trong nước, nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp nội địa là rất quan trọng. Trong cuộc diện kiến với lãnh đạo nhà nước, chúng tôi cũng đã đề xuất xây dựng các quỹ phát triển để hỗ trợ trực tiếp các doanh nghiệp Việt Nam mở rộng và phát triển.
Tuy nhiên, do nguồn vốn trong nước chưa đáp ứng đủ nhu cầu, Việt Nam cần thu hút thêm dòng vốn quốc tế. Một thực tế bất lợi là chi phí vốn tại Việt Nam (bao gồm cả vốn vay và vốn chủ sở hữu) hiện đang cao gấp đôi so với Thái Lan và Malaysia. Đơn cử, để vay vốn mở rộng hoạt động, doanh nghiệp Việt Nam phải chịu lãi suất trung bình khoảng 8%, trong khi con số này tại hai quốc gia láng giềng chỉ bằng một nửa. Mức chi phí vốn đắt đỏ này tạo ra rào cản lớn, khiến doanh nghiệp Việt Nam bị thua thiệt trong cạnh tranh.
Vì vậy, cần “kéo giảm” chi phí vốn, cả vốn cổ phần lẫn vốn vay. Về vốn cổ phần, cần tăng cường hoạt động các quỹ nội địa, đa dạng hóa các sản phẩm tài chính, qua đó giảm chi phí vốn cho doanh nghiệp. Ở bình diện quốc tế, chúng tôi kỳ vọng IFC sẽ đóng vai trò then chốt, giúp đưa dòng vốn quốc tế vào Việt Nam cho phát triển hạ tầng và tài trợ các dự án quy mô lớn.
Thị trường IFC có hai trụ cột. Một là, thị trường tài chính truyền thống, nơi các ngân hàng quốc tế, các nhà quản lý tài sản cho vay và đầu tư vào các dự án tại Việt Nam.
Hai là, sàn giao dịch. Ở mảng này, chúng ta cần tạo ra một mô hình mà chưa nơi nào khác ở châu Á làm, vì Việt Nam không thể và cũng không nên cạnh tranh trực diện với Hồng Kông hay Singapore.
Do đó, chúng ta nên có sàn giao dịch hàng hóa để nông dân Việt Nam có thể bán trực tiếp ra thị trường quốc tế. Bên cạnh đó, tạo sàn giao dịch cho các loại tài sản mới, như tài sản số, cũng là hướng đi mới để Việt Nam có thêm “đường ống” hút ròng vốn từ nước ngoài”.
“Hiện nay, ngành bán lẻ tại Việt Nam mới chỉ đóng góp khoảng 13% vào GDP. Khi so sánh với Thái Lan – nơi ngành này chiếm tới 55-60% quy mô kinh tế, có thể thấy thị trường bán lẻ Việt Nam vẫn còn rất nhiều dư địa để phát triển.
Bên cạnh việc tuân thủ nghiêm ngặt các quy định địa phương và quy chuẩn an toàn, ngành bán lẻ còn đóng vai trò là một công cụ hiệu quả để nâng cao chất lượng đời sống và xã hội của một quốc gia. Đây là môi trường mang lại cơ hội thăng tiến rộng mở cho người lao động; một nhân viên thu ngân, nếu làm việc chăm chỉ và quyết tâm, hoàn toàn có thể vươn lên trở thành CEO của doanh nghiệp trong tương lai.
Tuy nhiên, rào cản lớn nhất mà các doanh nghiệp như Central Retail gặp phải tại Việt Nam là khó khăn trong việc mua bất động sản phục vụ hoạt động kinh doanh. Quá trình này diễn ra rất phức tạp do nhiều nguyên nhân, chủ yếu xuất phát từ khả năng tiếp cận đất phục vụ mục đích thương mại. Mặc dù, Việt Nam sở hữu quỹ đất nông nghiệp và công nghiệp dồi dào, nhưng thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng sang đất thương mại dịch vụ lại là một quá trình "dài hơi", thường kéo dài hàng tháng đến hàng năm.
Central Retail kỳ vọng chính quyền các địa phương sẽ chủ động hơn trong việc thay đổi và điều chỉnh quy hoạch tổng thể. Việc xúc tiến các dự án bán lẻ không chỉ mang lại lợi ích cho nhà vận hành, mà còn tạo ra doanh thu và công việc cho các doanh nghiệp xây dựng, phát triển bất động sản.
Một thách thức quan trọng khác đối với doanh nghiệp bán lẻ nói chung và doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài tại Việt Nam nói riêng, là quy trình xin giấy phép khi mở thêm các cơ sở kinh doanh bán lẻ. Việc tạo cơ chế công bằng, xếp doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài tương đương với các nhà bán lẻ nội địa trong quá trình xin giấy phép sẽ là động lực lớn để hỗ trợ các khoản đầu tư.
Về kế hoạch phát triển, Central Retail dự kiến đầu tư khoảng 1,5 tỷ USD vào Việt Nam trong vòng 5 năm tới. Doanh nghiệp mong muốn và sẵn sàng đầu tư nhiều hơn thế, nhưng nếu không có quỹ đất để xây dựng cơ sở và phải chờ đợi giấy phép trong thời gian quá dài, việc hiện thực hóa các khoản đầu tư này tại Việt Nam sẽ gặp rất nhiều trở ngại”.
“Việt Nam có cơ hội để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai chữ số trong giai đoạn tới. Chúng tôi đề xuất mười khuyến nghị cụ thể, chia thành hai nhóm chiến lược.
Nhóm thứ nhất, tập trung vào việc nắm bắt động lực và mở khóa các cơ hội ngay lập tức trong nước và toàn cầu, bao gồm sáu hành động ưu tiên để tăng tốc tăng trưởng trong ngắn hạn.
Một, nâng cấp Cục Đầu tư nước ngoài (FIA), cả ở cấp trung ương và địa phương, để thu hút FDI chất lượng cao hơn. Việt Nam đang hưởng lợi từ sự chuyển hướng lớn của thương mại và chuỗi cung ứng toàn cầu. Để tận dụng điều này một cách đầy đủ, một “FIA 2.0” trung ương có thể tăng cường chuyên môn theo ngành phù hợp với các ngành công nghệ mới và đảm nhận một nhiệm vụ mở rộng, bao gồm quản lý cấp phát ưu đãi. Ở cấp địa phương, các tỉnh và thành phố có thể thành lập các đơn vị FIA chịu trách nhiệm chăm sóc nhà đầu tư và hỗ trợ toàn diện.
Hai, mở rộng và phối hợp một mạng lưới Đặc khu rộng lớn hơn, bao gồm các khu vực thương mại tự do, trung tâm tài chính quốc tế và khu kinh tế tự do. Những khu vực này có thể trở thành chất xúc tác mạnh mẽ, cung cấp các ưu đãi cạnh tranh, quy trình hành chính liền mạch và quy mô đủ lớn để cạnh tranh khu vực và toàn cầu.
Ba, củng cố các tổ chức xuất khẩu và cơ chế ưu đãi của Việt Nam. Điều này bao gồm nâng cấp và có thể hợp nhất Cơ quan Xúc tiến Thương mại Việt Nam thành một mô hình tương tự như Cơ quan Xúc tiến Thương mại và Đầu tư Hàn Quốc (KOTRA). Các ưu đãi bổ sung có thể đơn giản hóa thủ tục hải quan, logistics và tài chính xuyên biên giới. Trao quyền cho các ngân hàng Việt Nam với các công cụ tương tự sẽ giúp các doanh nghiệp trong nước mở rộng ra toàn cầu.
Bốn, khởi động các chương trình quốc gia để mở rộng nền kinh tế trong nước, hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua các yếu tố hỗ trợ có mục tiêu và nuôi dưỡng các doanh nghiệp hàng đầu quốc gia, có thể tạo ra hiệu ứng lan tỏa trong hệ sinh thái của họ.
Năm, tăng tốc thực hiện các cơ sở hạ tầng quan trọng trong giao thông và năng lượng.
Sáu, đảm bảo tiếp cận tài chính đủ và ổn định, huy động vốn trong nước, ngân sách chính phủ và các tổ chức tài chính quốc tế như những công cụ chính.
Nhóm thứ hai, tập trung vào những khoản đầu tư lớn, xây dựng nền tảng cho 3 đến 10 năm tới, bao gồm bốn ưu tiên hành động.
Bảy, phát triển ba đến bốn lĩnh vực mới có khả năng cạnh tranh toàn cầu, có thể trở thành động lực tăng trưởng tiếp theo của Việt Nam như điện tử và bán dẫn, nông nghiệp, dịch vụ số và kinh tế xanh.
Tám, chuyển đổi sang nền kinh tế dựa trên đổi mới và công nghệ, trở thành nền kinh tế ưu tiên số hóa và trí tuệ nhân tạo (AI).
Chín, xây dựng lực lượng lao động STEM. Đây là một trong những lợi thế cạnh tranh dài hạn quan trọng nhất mà Việt Nam có thể tạo ra và là yếu tố thiết yếu cho sự thành công trong tất cả các ngành công nghiệp tương lai.
Mười, về việc thực thi. Hiện nay, Việt Nam có hơn 40 ủy ban quốc gia và nhiều luật mới, phản ánh định hướng chính sách rõ ràng. Làm thế nào để thực thi nhanh chóng, trên quy mô lớn và sử dụng nguồn lực hiệu quả. Chúng tôi khuyến nghị xem xét cấu trúc thực thi ba cấp đơn giản: cấp cao nhất là Ủy ban Quốc gia; cấp dưới là một tập hợp các ủy ban quốc gia được thu gọn, có thể sáp nhập các cơ quan chỉ đạo hiện có; cấp dưới nữa là một tập hợp các chương trình hoặc dự án, mỗi chương trình hoặc dự án có một người lãnh đạo được chỉ định, các nhóm liên bộ, mục tiêu rõ ràng và thời hạn xác định”.
“Với vai trò là đơn vị đang hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp, chúng tôi đã từ đơn vị cơ khí sản xuất nhỏ trở thành doanh nghiệp chế tạo sản xuất được các sản phẩm cơ khí, công nghiệp nặng chủ lực như: đóng và sửa chữa tàu biển, đóng mới các giàn khoan, module, cẩu cảng, các công trình điện gió ngoài khơi; sản xuất chế tạo các thiết bị hàng không, cẩu phục vụ cảng biển, thiết bị khuôn mẫu, thiết bị cho ngành giao thông, khai khoáng điện năng lượng; sản xuất chế tạo các thiết bị phục vụ năng lượng tái tạo, điện gió, điện mặt trời, hydro; thi công các công trình xây dựng nhà máy lọc hóa dầu, giao thông metro, cao tốc, sân bay, bến cảng, sân vận động, bảo tàng, công trình kiến trúc, nhà máy điện nguyên tử, lọc hóa dầu.
Chúng tôi đã và đang và sẽ cam kết: tăng vai trò nội địa hóa nhằm tăng giá trị gia tăng 50 – 60 – 70 – 80% theo giai đoạn; dẫn dắt các doanh nghiệp vừa và nhỏ sản xuất công nghiệp phụ trợ như chế tạo máy – gia công cơ khí – sản xuất nguyên liệu – dịch vụ logistic tạo ra hệ sinh thái tuần hoàn; tăng vai trò chủ động làm chủ công nghệ - đồng bộ dữ liệu nhằm giảm chi phí, tăng năng lực cạnh tranh; phục vụ giảm chi phí đầu tư cho các dự án trong nước – thời gian giảm; xây dựng thương hiệu Việt Nam trên trường quốc tế, xuất khẩu sản phẩm hội nhập sâu vào nền kinh tế.
Chúng tôi có 5 đề xuất với Chính phủ và Ban Chính sách, chiến lược Trung ương.
Một là, hỗ trợ các doanh nghiệp dẫn dắt tiên phong phát triển kéo theo hệ sinh thái doanh nghiệp phụ trợ có các khu công nghiệp – khu cảng chuyên dụng phục vụ sản xuất và xuất khẩu.
Hai là, các dự án đầu tư của Chính phủ cần quy định rõ tỷ lệ phần trăm nội địa hóa để doanh nghiệp trong nước có cơ hội phát triển.
Ba là, có các chính sách thương mại, hàng rào kỹ thuật bảo vệ các doanh nghiệp trong nước để giữ thị trường cho các doanh nghiệp trong nước phát triển và bắt kịp.
Bốn là, giảm và bỏ những điều kiện không cần thiết trong đấu thầu cho doanh nghiệp trong nước.
Năm là, xây dựng đề án cụ thể, có thông tư nghị định, luật đấu thầu để hướng dẫn cơ quan chủ quản mới thực thi được”.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 51-52-2025 phát hành ngày 22-29/12/2025. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://vneconomy.vn/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-5152-2025.htm
-
Thủ tướng chỉ đạo 6 nhóm nhiệm vụ trọng tâm đưa ngành Nông nghiệp và Môi trường phát triển bền vững
Ngày 31/12/2025, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức Hội nghị tổng kết công tác năm 2025, giai đoạn 2021-2025 và triển khai kế hoạch năm 2026 của ngành Nông nghiệp và Môi trường. Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị.
Cùng dự có Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà; Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng; đại diện lãnh đạo các bộ, ngành Trung ương; địa phương; hiệp hội ngành hàng; doanh nghiệp và các đơn vị trực thuộc Bộ.
NGÀNH NÔNG NGHIỆP: TRỤ ĐỠ CHIẾN LƯỢC TRONG KỶ NGUYÊN MỚIPhát biểu chỉ đạo tại hội nghị tổng kết năm 2025 của ngành Nông nghiệp và Môi trường, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính nhấn mạnh: Tổng Bí thư Tô Lâm đã khẳng định ngành Nông nghiệp và Môi trường có vị trí chiến lược đặc biệt, là trụ cột của nền kinh tế, nền tảng sinh kế và là nhân tố quan trọng trong công cuộc phát triển và chuyển mình của quốc gia trong kỷ nguyên mới. Quan điểm này thể hiện sự nhất quán trong chủ trương của Đảng và Nhà nước. Vì vậy, “đã làm tốt rồi phải làm tốt hơn, đã nỗ lực rồi phải nỗ lực hơn nữa”.
Thủ tướng Phạm Minh Chính: "Bước sang năm 2026, sứ mệnh của ngành trong phát triển nhanh và bền vững càng nặng nề hơn, đòi hỏi tư duy đột phá...". Ảnh Tùng Đinh.Trên tinh thần đó, Thủ tướng nêu sáu nhóm "từ khóa" định hướng cho ngành: Bộ máy tinh gọn; Thể chế đột phá; Chuyển đổi xanh - chuyển đổi số; Phát triển tam nông; Khơi thông tài nguyên; Kiên trì vượt khó.
Về tổ chức bộ máy, Thủ tướng ghi nhận ngành đã giảm 25/55 đầu mối (45,5%), giảm 30/80 đơn vị sự nghiệp (37,5%), tiếp tục kiện toàn hệ thống khuyến nông và đẩy mạnh chuyển đổi số. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu được triển khai theo hướng “đúng, đủ, sạch, sống”, kết nối liên thông, dùng chung và gắn với cơ sở dữ liệu VNeID.
Về thể chế, Bộ đã tham mưu ban hành 17 nghị định, 2 nghị quyết; ban hành 66 thông tư; Quốc hội thông qua 2 luật và 1 nghị quyết quan trọng liên quan đến địa chất – khoáng sản, nông nghiệp – môi trường và đất đai. Công tác phân cấp, phân quyền được đẩy mạnh; cắt giảm, đơn giản hóa 265/845 điều kiện kinh doanh (31,3%) và phân cấp 90% thủ tục hành chính.
Về chuyển đổi xanh và chuyển đổi số, ngành đã định hình rõ hướng đi, nổi bật là chương trình 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp ở Đồng bằng sông Cửu Long.
Nông nghiệp duy trì tăng trưởng khoảng 4%, tổng kim ngạch xuất khẩu ước đạt trên 70 tỷ USD, xuất siêu hơn 20 tỷ USD - mức cao nhất trong các ngành. Diện mạo nông thôn tiếp tục đổi mới; hạ tầng được đầu tư; chương trình OCOP phát triển mạnh. Với OCOP". Ghi nhận của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính.Thủ tướng nhấn mạnh 5 nội dung then chốt: Xây dựng thương hiệu; Quy hoạch vùng nguyên liệu; Phát triển doanh nghiệp; Ứng dụng khoa học công nghệ; Hỗ trợ tín dụng ngân hàng.
Quang cảnh hội nghị. Ảnh Chu Khôi.Bên cạnh kết quả đạt được, Thủ tướng chỉ ra những thách thức lớn: biến đổi khí hậu ngày càng cực đoan; yêu cầu chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và kinh tế tuần hoàn; hạn chế về nguồn lực. Do đó, cần huy động hợp tác công - tư, đào tạo nguồn nhân lực có tri thức và đam mê với nông nghiệp, đồng thời đẩy mạnh quản trị thông minh và số hóa.
Việc thích ứng nhanh được xác định là yêu cầu sống còn. Sau thiên tai, cần nhanh chóng tái cấu trúc sản xuất, chuyển đổi cây trồng - vật nuôi phù hợp, cải tạo đồng ruộng, tổ chức lại giống và vật tư theo hướng phân cấp, tránh rườm rà, chậm trễ.
Từ thực tiễn, bài học kinh nghiệm được rút ra là: thực hiện nghiêm chỉ đạo của Đảng và pháp luật của Nhà nước; phối hợp chặt chẽ liên ngành; chủ động thích ứng với biến động; tổ chức thực hiện quyết liệt, rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm.
Bước sang năm 2026, sứ mệnh của ngành trong phát triển nhanh và bền vững càng nặng nề hơn, đòi hỏi tư duy đột phá để tiếp tục làm bệ đỡ cho nền kinh tế, kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô.
Thủ tướng nêu 6 định hướng trọng tâm cho ngành: Quản trị hiện đại; Thể chế khơi thông; Khoa học phát triển; Tam nông thịnh vượng; Tài nguyên bền vững; Môi trường an toàn. Đây chính là nền tảng để ngành Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục đồng hành cùng đất nước trong kỷ nguyên phát triển mới.
TĂNG TỐC BỨT PHÁ, TẠO NỀN TẢNG CHO PHÁT TRIỂN BỀN VỮNGBáo cáo tổng kết năm 2025, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng cho biết toàn ngành thống nhất phương châm hành động: “Kỷ cương trách nhiệm - chủ động kịp thời - tinh gọn hiệu quả - tăng tốc bứt phá”, tập trung hoàn thiện thể chế, cải cách hành chính, thúc đẩy chuyển đổi số, phát triển nông nghiệp xanh - tuần hoàn, tăng cường quản trị tài nguyên, bảo vệ môi trường và chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu.
Nhờ đó, năm 2025 ngành Nông nghiệp và Môi trường đạt và vượt 9/9 chỉ tiêu Chính phủ giao. Tăng trưởng GDP ngành đạt khoảng 3,92%; kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt trên 70 tỷ USD, xuất siêu trên 20 tỷ USD; gần 80% số xã đạt chuẩn nông thôn mới; tỷ lệ che phủ rừng đạt 42,03%; 95% chất thải rắn sinh hoạt đô thị được thu gom, xử lý đạt quy chuẩn; tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm 0,8-1 điểm phần trăm.
Bộ trưởng Trần Đức Thắng: "Tăng trưởng GDP ngành đạt khoảng 3,92%; kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt trên 70 tỷ USD". Ảnh Tùng Đinh.Sản xuất nông nghiệp tiếp tục phát triển theo hướng kinh tế nông nghiệp xanh, giảm phát thải. Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp đã triển khai hơn 312.000 ha tại Đồng bằng sông Cửu Long; sản lượng lương thực đạt 48,09 triệu tấn. Chăn nuôi đạt 8,7 triệu tấn thịt hơi, gần 21,4 tỷ quả trứng; thủy sản đạt 9,78 triệu tấn, xuất khẩu khoảng 11 tỷ USD; gỗ và lâm sản xuất khẩu trên 18 tỷ USD; thu dịch vụ môi trường rừng đạt 3.734,7 tỷ đồng. Toàn ngành duy trì hơn 2.500 chuỗi giá trị, diện tích sản xuất hữu cơ đạt trên 174.000 ha.
Sau hợp nhất, Bộ đã giảm 45,45% đầu mối, sắp xếp lại tổ chức theo hướng tinh gọn, hiệu quả. Công tác hoàn thiện thể chế được đẩy mạnh với 2 luật, 19 nghị định, 4 nghị quyết, 74 thông tư được ban hành; rà soát hơn 1.000 văn bản, phân cấp 381 nhiệm vụ, cắt giảm 208 điều kiện kinh doanh và 73 thủ tục hành chính". Ông Trần Đức Thắng, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường.Chuyển đổi số đạt nhiều kết quả nổi bật: cung cấp 277 dịch vụ công trực tuyến, hợp nhất hạ tầng số, xây dựng trung tâm dữ liệu dùng chung, đồng bộ 61 triệu thửa đất vào cơ sở dữ liệu quốc gia. Khoa học - công nghệ đóng góp với 461 giống mới, 216 tiến bộ kỹ thuật, 34 bằng sáng chế, giúp tăng hiệu quả kinh tế khoảng 30%. Nhiều mô hình nông nghiệp thông minh, tự động hóa cao được triển khai, xuất hiện các cánh đồng “không dấu chân”. Giai đoạn 2021-2025, ngành hỗ trợ khoảng 90.000 hộ nghèo, cận nghèo về nhà ở, triển khai 292 dự án ổn định dân cư.
Trong quản lý tài nguyên, môi trường và khí hậu, Bộ từng bước hiện đại hóa quản trị, tích hợp hệ thống giám sát trên nền tảng số; tăng cường kỷ luật trong quản lý đất đai, nước, khoáng sản, tài nguyên biển; kiểm soát nguồn gây ô nhiễm, bảo vệ sức khỏe cộng đồng, phục hồi hệ sinh thái. Đồng thời, triển khai các nhiệm vụ xây dựng thị trường carbon, chuẩn bị NDC (Đóng góp do quốc gia tự quyết định) giai đoạn 2025–2035; nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo, phòng chống và khắc phục thiên tai.
NĂM 2026: QUẢN TRỊ TOÀN DIỆN – PHÁT TRIỂN BỀN VỮNGBước sang năm 2026, ngành đối mặt với nhiều thách thức từ biến đổi khí hậu, suy giảm tài nguyên, ô nhiễm môi trường và suy thoái đa dạng sinh học. Trước yêu cầu quản lý ngày càng toàn diện và các cam kết quốc tế về giảm phát thải, tăng trưởng xanh, Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác định mục tiêu: tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, nâng cao khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu; phát huy hiệu quả đất đai, nước, rừng và đa dạng sinh học phục vụ phát triển nông nghiệp bền vững và kinh tế - xã hội.
Toàn ngành tập trung thực hiện 7 nhóm nhiệm vụ trọng tâm.
Thứ nhất: Hoàn thiện thể chế, cải cách hành chính, tháo gỡ rào cản, gắn với chuyển đổi số và Đề án 06; tiếp tục cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục, nhất là trong môi trường, đất đai, khoáng sản.
Thứ hai: Cơ cấu lại ngành theo hướng xanh và giá trị cao, phát triển nông nghiệp tuần hoàn, carbon thấp, nâng cao năng suất và hiệu quả.
Thứ ba: Hỗ trợ vận hành mô hình chính quyền 2 cấp, tăng cường năng lực cấp cơ sở trong phòng chống thiên tai, quản lý tài nguyên và hỗ trợ sản xuất.
Thứ tư: Phát triển thị trường trong nước và xuất khẩu, tháo gỡ rào cản kỹ thuật, nâng cao kiểm soát an toàn thực phẩm và quyết liệt gỡ thẻ vàng IUU.
Thứ năm: Quản lý, khai thác hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, huy động nguồn lực từ đất đai, khoáng sản, tạo động lực mới cho sản xuất quy mô lớn.
Thứ sáu: Nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo thiên tai, ứng dụng AI và chuyển đổi số, thiết lập bản đồ rủi ro và hệ thống giám sát thời gian thực.
Thứ bảy: Đẩy mạnh giải ngân đầu tư công trọng điểm, bảo đảm thủ tục, chất lượng và hiệu quả dự án.
-Chu Khôi
10 hoạt động và sự kiện nổi bật của công tác Mặt trận năm 2025
Thứ nhất, quyết liệt triển khai việc sắp xếp tổ chức bộ máy của Cơ quan Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Theo đó, từ ngày 01/7/2025, sau sắp xếp, Cơ quan Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có 29 ban, đơn vị trực thuộc do Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quyết định thành lập, quy định chức năng, nhiệm vụ, gồm: 09 ban, đơn vị tham mưu, giúp việc chung; 03 đơn vị sự nghiệp thuộc Cơ quan; 07 ban tham mưu, giúp việc của các tổ chức chính trị - xã hội; 10 đơn vị sự nghiệp của các tổ chức chính trị - xã hội.
Thứ hai, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng với các tổ chức chính trị - xã hội triển khai các hoạt động chăm lo cho người nghèo, an sinh xã hội và cứu trợ hiệu quả, đúng đối tượng.
Theo đó, vận động các cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân hưởng ứng lời kêu gọi của Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chung tay ủng hộ đồng bào bị thiệt hại do mưa lũ gây ra; công khai, minh bạch nguồn lực ủng hộ và phân bổ kịp thời tới các địa phương chịu ảnh hưởng bởi mưa lũ.
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động trong hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội để cùng với Đảng, Nhà nước về đích sớm Phong trào thi đua "Cả nước chung tay xóa nhà tạm, nhà dột nát trong năm 2025".
Phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội trong chăm lo cho đoàn viên, hội viên và những người yếu thế trong xã hội.
Ông Nguyễn Đình Khang, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam trao quà cho công nhân có hoàn cảnh khó khăn. Ảnh: Mặt trận.Thứ ba, tổ chức lấy ý kiến góp ý trong hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội đối với dự thảo các văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
Theo số liệu thống kê, tính đến ngày 18/11/2025, đã có 527.764 ý kiến đóng góp trong hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với dự thảo các văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
Thứ tư, tổ chức thành công các hoạt động kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945 - 02/9/2025).
Thứ năm, tham gia đóng góp ý kiến sửa đổi, bổ sung và đề xuất sửa đổi các quy định, văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Không gian triển lãm của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Ảnh: Mặt trận.Thứ sáu, Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc năm 2025 tại các khu dân cư trên cả nước một lần nữa khẳng định tinh thần đại đoàn kết, sự chung sức đồng lòng, ý Đảng hợp lòng dân, dân tin Đảng, góp phần đưa đất nước ngày một phồn vinh, thịnh vượng, hùng cường, nhân dân ngày càng ấm no, hạnh phúc.
Thứ bảy, tổ chức thành công Đại hội đại biểu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp nhiệm kỳ 2025 – 2030, tạo nên dấu mốc đặc biệt khi đã hợp nhất, sắp xếp các tổ chức chính trị - xã hội, các hội quần chúng được Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ trực thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Thứ tám, phát huy vai trò của các cơ quan báo chí và đội ngũ những người làm báo trong việc tham gia các tuyến bài nổi bật, tâm huyết hưởng ứng Giải báo chí do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội phát động.
Thứ chín, triển khai Đề án chuyển đổi số trong hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội nhằm cụ thể hóa Nghị quyết 57-NQ/TW với những điểm nhấn nổi bật, tạo sức chuyển biến mạnh mẽ.
Thứ mười, hoạt động đối ngoại nhân dân được đẩy mạnh thông qua các chương trình giao lưu hữu nghị, trao đổi kinh nghiệm giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội với các tổ chức trên thế giới.
-Đỗ Như
Chính thức công bố 14 luật được Quốc hội khóa XV thông qua
Tại họp báo, Thượng tướng Lê Quốc Hùng, Thứ trưởng Bộ Công an đã giới thiệu về Luật An ninh mạng năm 2025.
KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG CHỒNG CHÉO, PHÂN TÁN TRONG CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬTLuật An ninh mạng năm 2025 gồm 8 chương, 45 điều với nhiều điểm mới như hoàn thiện và thống nhất hệ thống khái niệm làm nền tảng cho quản lý và bảo vệ an ninh mạng, bao gồm an ninh mạng, an ninh thông tin mạng, an ninh dữ liệu và không gian mạng quốc gia.
Việc chuẩn hóa các khái niệm này giúp xác định rõ phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng của Luật, khắc phục tình trạng chồng chéo, phân tán trong các quy định trước đây.
Luật cũng bổ sung, cụ thể hóa các hành vi bị nghiêm cấm gắn với sự phát triển của khoa học, công nghệ và các phương thức hoạt động mới trên không gian mạng… Tăng cường trách nhiệm của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng Internet và các dịch vụ gia tăng trên không gian mạng tại Việt Nam trong việc phối hợp ngăn chặn, loại bỏ thông tin vi phạm pháp luật về an ninh mạng theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền…
Luật Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2025 gồm 05 chương, 28 điều, được xây dựng trên cơ sở kế thừa những quy định còn phù hợp của Luật Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2018 và bổ sung những quy định mới theo yêu cầu phát triển khoa học công nghệ, chuyển đổi số quốc gia và thực tiễn công tác bảo vệ bí mật nhà nước trong triền khai chính quyền địa phương 02 cấp.
Luật quy định khái niệm bí mật nhà nước, mạng LAN độc lập, văn bản điện tử bí mật nhà nước; các hành vi bị nghiêm cấm; sao, chụp tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước…
Văn phòng Chủ tịch nước họp báo công bố các luật, pháp lệnh đã được Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XV thông qua.Luật Dẫn độ bổ sung cơ quan của Việt Nam có thẩm quyền lập yêu cầu dẫn độ bao gồm: Bộ Công an, cơ quan quản lý thi hành án hình sự, cơ quan thi hành án hình sự; bổ sung quy định về xử lý trường hợp nước ngoài từ chối yêu cầu dẫn độ của Việt Nam…
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến an ninh, trật tự với điểm mới là bổ sung quy định xe vận tải nội bộ phải lắp thiết bị giám sát hành trình; xe ô tô kinh doanh vận tải hành khách dưới 08 chỗ (không kể chỗ của người lái xe), xe ô tô kinh doanh vận tải hàng hóa, xe vận tải nội bộ phải lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe; xe ô tô kinh doanh vận tải hành khách từ 08 chỗ trở lên (không kể chỗ của người lái xe) phải lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách…
Luật cũng bỏ quy định xe ô tô kinh doanh vận tải hành khách phải sử dụng thiết bị an toàn phù hợp cho trẻ em khi chở trẻ em trên xe để phù hợp thực tiễn.
Luật Tương trợ tư pháp về hình sự gồm 04 chương, 42 điều bổ sung các hình thức tương trợ cụ thể nhằm bảo đảm phù hợp với thực tiễn, tạo thuận lợi cho quá trình đàm phán Hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự cũng như quá trình thực hiện và đề nghị các hình thức tương trợ này như: tịch thu, trả lại, xử lý vật chứng, tài sản…
ĐỔI MỚI, NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ VIÊN CHỨCCũng tại họp báo, Thứ trưởng Bộ Nội vụ Trương Hải Long cho biết Luật Viên chức năm 2025 được ban hành trong bối cảnh yêu cầu đổi mới công tác cán bộ, nâng cao chất lượng đội ngũ viên chức và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập ngày càng đặt ra cấp thiết.
Theo quy định mới, vị trí việc làm được xác định là căn cứ trung tâm để thực hiện tuyển dụng, bố trí, đánh giá, quy hoạch, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng và thực hiện chế độ, chính sách đối với viên chức. Việc tuyển dụng viên chức được thực hiện thông qua hai hình thức là thi tuyển và xét tuyển; đồng thời bổ sung quy định về tiếp nhận người có kinh nghiệm công tác ở cả khu vực công và khu vực tư vào làm viên chức.
Một điểm mới quan trọng của Luật Viên chức năm 2025 là tạo sự liên thông trong sử dụng nguồn nhân lực giữa khu vực công và khu vực tư. Luật bổ sung cơ chế thu hút, trọng dụng nguồn nhân lực chất lượng cao vào làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập thông qua hình thức tiếp nhận đối với chuyên gia, nhà khoa học, người có tài năng, năng khiếu đặc biệt và người có kinh nghiệm phù hợp.
Luật cũng cho phép ký hợp đồng đối với chuyên gia, nhà khoa học, luật gia, luật sư giỏi, doanh nhân tiêu biểu hoặc người có trình độ chuyên môn cao trong các ngành, lĩnh vực chiến lược, trọng điểm để đảm nhiệm vị trí việc làm quản lý, điều hành, phát triển đơn vị sự nghiệp công lập hoặc vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ.
14 luật và 1 pháp lệnh vừa được thông qua gồm Luật Dẫn độ; Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Lý lịch tư pháp; Luật An ninh mạng; Luật Bảo vệ bí mật nhà nước;
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến an ninh, trật tự; Luật Phòng, chống ma túy; Luật Thi hành án hình sự; Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú; Luật Tương trợ tư pháp về hình sự; Luật Tình trạng khẩn cấp; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công nghiệp quốc phòng, an ninh và động viên công nghiệp; Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân; Luật Viên chức;
Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Cảnh sát môi trường.
-Đỗ Mến
Phát huy trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam vững bước tiến mạnh trong kỷ nguyên phát triển mới
Phóng viên: Kính thưa Tổng Bí thư, nhiệm kỳ 2020–2025, đất nước phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức chưa có tiền lệ, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự nỗ lực, cố gắng của cả hệ thống chính trị, toàn dân, toàn quân, chúng ta đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, khá toàn diện trong triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Xin Tổng Bí thư chia sẻ những thành tựu nổi bật trong thời gian qua?
Tổng Bí thư Tô Lâm: Trước hết, cần khẳng định những kết quả mà đất nước đạt được trong nhiệm kỳ vừa qua là kết tinh của sự lãnh đạo tài tình của Đảng, sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị và trên hết là sự đồng lòng, quyết tâm, bản lĩnh và nghĩa tình của nhân dân ta trong những thời khắc thử thách nhất.
Nhiệm kỳ Đại hội lần thứ XIII của Đảng là quãng thời gian đặc biệt khó khăn. Đại dịch, thiên tai, biến đổi khí hậu, biến động quốc tế, những khó khăn về kinh tế, đứt gãy chuỗi nguồn cung, việc làm, những áp lực tài chính, ngân hàng… đến dồn dập, liên tục, đặt ra cho chúng ta những bài toán hóc búa, đòi hỏi phải có lời giải là những chính sách, đối sách, biện pháp xử lý nhanh chóng, chính xác, quyết đoán. Khó khăn như núi nhưng chúng ta đã vượt qua, về đích. Điều đáng ghi nhận là trong bộn bề gian khó nhưng đất nước vẫn giữ được ổn định, xã hội vẫn giữ được trật tự và niềm tin, các “mạch máu” kinh tế – sản xuất – lưu thông được khôi phục kịp thời, để chúng ta tiếp tục tiến lên.
Tổng Bí thư Tô Lâm tại Đại hội Thi đua yêu nước. Ảnh: TTXVNVề kinh tế, chúng ta đã nỗ lực rất lớn để vừa phục hồi sau đại dịch, vừa giữ vững các cân đối lớn, giữ nền kinh tế không chao đảo trước sóng gió bên ngoài. Nhiều ngành, nhiều địa phương, nhiều doanh nghiệp đã biết cách chèo lái, đổi mới, tìm thị trường, tạo việc làm, giữ nhịp sản xuất. Kết quả là nền kinh tế của chúng ta đã chứng tỏ sức chống chịu, sự bền bỉ, và tinh thần không chịu lùi bước.
Về xã hội, chúng ta luôn bám sát định hướng phát triển không chỉ là tăng trưởng, mà phải là cuộc sống yên ổn và tốt lên của người dân. Trong gian khó, tinh thần tương thân tương ái, “lá lành đùm lá rách”, sự hy sinh thầm lặng, to lớn của lực lượng tuyến đầu, của quân đội, công an, y tế, giáo viên, công nhân… đã để lại nhiều bài học sâu sắc về sức mạnh đoàn kết. Các chính sách an sinh, giảm nghèo, chăm lo cho người yếu thế, vùng khó khăn tiếp tục được triển khai, với mục tiêu rất rõ: không để ai bị bỏ lại phía sau.
Về đối ngoại, chúng ta kiên định đường lối độc lập, tự chủ; làm bạn, làm đối tác tin cậy, là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Trong bối cảnh thế giới phân hóa và cạnh tranh gay gắt, việc giữ được môi trường hòa bình, ổn định, mở rộng quan hệ hợp tác, tranh thủ nguồn lực cho phát triển là thành quả rất đáng trân trọng. Đối ngoại của ta không chỉ để “thêm bạn bớt thù”, mà quan trọng hơn là mở rộng thêm không gian phát triển, nâng cao hơn vị thế đất nước, để cùng phát triển trong hòa bình, hữu nghị, hợp tác, bình đẳng.
Về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, chúng ta kiên trì những điều rất căn cốt: giữ kỷ cương, kỷ luật, giữ liêm chính, làm trong sạch đội ngũ, củng cố niềm tin của nhân dân. Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực tiếp tục được đẩy mạnh, với tinh thần làm đến nơi đến chốn, không né tránh, không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Mục tiêu không chỉ là xử lý sai phạm mà là để cảnh tỉnh, để xây dựng và hoàn thiện cơ chế, để cái đúng được bảo vệ, người tốt được khuyến khích, và cán bộ có thể yên tâm làm việc vì dân, vì nước.
Chiều 25/12/2025, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực họp phiên thứ 29, dưới sự chủ trì của Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo. Ảnh: TTXVNTóm lại, nếu nói ngắn gọn về thành tựu nổi bật của nhiệm kỳ, tôi cho rằng đó là: chúng ta đã vượt qua thử thách bằng ý chí, nghị lực và sự đoàn kết; giữ vững ổn định để phát triển; kiên trì chỉnh đốn, hoàn thiện để đi nhanh hơn và đi chắc hơn. Những thành tựu đạt được là to lớn, đáng trân trọng, nhưng chúng ta vẫn phải khiêm tốn, tỉnh táo, không được “ngủ quên bên vòng nguyệt quế”. Chặng đường phía trước còn nhiều việc lớn, việc khó, muốn đi xa, đi đến đích thì điều quan trọng nhất vẫn là phải giữ vững niềm tin, kỷ cương, đặt lợi ích quốc gia – dân tộc và hạnh phúc của nhân dân lên trên hết.
Phóng viên: Xin Tổng Bí thư đánh giá về công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong nhiệm kỳ qua và định hướng trong nhiệm kỳ tới để xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, lãnh đạo đất nước vững bước trong kỷ nguyên mới?
Tổng Bí thư Tô Lâm: Phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực là một việc rất hệ trọng, đó là giữ gìn uy tín của Đảng, giữ kỷ cương phép nước và quan trọng hơn cả, giữ niềm tin của nhân dân.
Nhìn lại nhiệm kỳ qua, có thể khẳng định “mặt trận chống giặc nội xâm” đã có những chuyển biến rõ rệt, đi vào chiều sâu, bản chất; tiến hành bài bản hơn, quyết liệt hơn, khoa học hơn, ý chí hơn; không chỉ là quyết tâm chính trị, mà đã trở thành hành động thường xuyên của cả hệ thống và nhận được sự đồng tình, ủng hộ của đông đảo nhân dân. Đồng thời, chúng ta cũng đã mở rộng trọng tâm từ chống tham nhũng sang chống cả lãng phí và tiêu cực, bởi lãng phí nhiều khi không ồn ào, nhưng hậu quả thì rất lớn, làm hao mòn nguồn lực quốc gia và làm chậm bước phát triển.
Điều đáng mừng là trong quá trình đó, chúng ta ngày càng nhận thức rõ hơn một chân lý: làm trong sạch bộ máy không làm cản trở phát triển, mà để phát triển lành mạnh và bền vững hơn. Xử lý sai phạm không làm cho hệ thống yếu đi, mà để giữ kỷ luật, giữ phép tắc, để đội ngũ của ta mạnh lên, để người ngay thẳng có chỗ đứng, người làm đúng có điểm tựa; để không còn “sâu, mọt” trong hệ thống chính trị.
Nhưng cũng phải thẳng thắn nhìn nhận: tham nhũng, lãng phí, tiêu cực là “khuyết tật bẩm sinh”, là “giặc nội xâm” ẩn mình trong hệ thống. Có nơi, có lúc chưa tỉnh táo để nhận diện ngày từ đầu; vẫn còn tình trạng né tránh, đùn đẩy, “sợ trách nhiệm”; vẫn còn những kẽ hở của cơ chế; vẫn còn việc quản lý tài sản công, dự án đầu tư, đất đai, đấu thầu… nếu không kiểm soát chặt thì rất dễ phát sinh sai phạm. Nói cách khác, kết quả đã đáng trân trọng, nhưng tuyệt đối không được chủ quan. Cần phải có vaccine, có “thuốc kháng sinh”, có “ y tế dự phòng”, “y tế cộng đồng” để phòng ngừa, phát hiện và ngăn chặn kịp thời, hiệu quả.
Về định hướng trong nhiệm kỳ tới, tôi muốn nhấn mạnh mấy điểm lớn, theo tinh thần vừa kiên quyết, vừa bền bỉ, làm đến đâu chắc đến đó:
Thứ nhất, phải đặt lợi ích quốc gia – dân tộc và lợi ích của nhân dân lên trên hết. Đấu tranh phải kiên quyết, kiên trì, thường xuyên, liên tục; xử lý nghiêm minh nhưng cũng phải thấu tình đạt lý, nhân văn; không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Đồng thời, phải có cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, đổi mới sáng tạo vì lợi ích chung, để người làm đúng không bị thiệt, người làm tốt không bị cô đơn.
Thứ hai, chuyển mạnh sang phòng ngừa, coi phòng ngừa là gốc. Chống là cần, nhưng quan trọng hơn là đừng để cái xấu có đất nảy sinh. Muốn vậy phải tiếp tục hoàn thiện thể chế, quy định, quy trình; làm rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, tăng cường kiểm soát; công khai, minh bạch hơn nữa, nhất là trong những lĩnh vực dễ phát sinh tiêu cực.
Thứ ba, tập trung hoàn thiện pháp luật, bịt kẽ hở, làm “khung chuẩn” cho sự liêm chính. Các quan điểm, chủ trương đúng của Đảng phải được thể chế hóa đầy đủ, đồng bộ thành quy định pháp luật; phân cấp, phân quyền phải đi đôi với kiểm soát quyền lực; giao quyền phải gắn với ràng buộc trách nhiệm, không để “khoảng trống” trở thành “khoảng tối”. Phải có biện pháp tổng thể để mọi đối tượng “không thể”, “không dám”, “không cần” tham ô, tham nhũng, tiêu cực.
Thứ tư, coi chống lãng phí là một mặt trận rất quan trọng. Lãng phí không chỉ là tiền bạc, mà còn là thời gian, cơ hội, nguồn lực, và cả lòng tin. Vì vậy, phải rà soát, xử lý dứt điểm những dự án chậm tiến độ, kéo dài, kém hiệu quả; chấn chỉnh kỷ luật tài chính – ngân sách; nâng chất lượng quản trị công, để từng đồng tiền, từng tấc đất, từng tài sản công thực sự phục vụ phát triển và phục vụ nhân dân. Chúng ta chủ trương ưu tiên dành nguồn lực cho phát triển, đây cũng có một phần “đất” có thể nảy sinh cho lãng phí. Vì vậy chúng ta cần cảnh báo và có biện pháp ngăn chặn không để xảy ra lãng phí.
Thứ năm, phát huy vai trò của tổ chức cơ sở đảng và sự giám sát của nhân dân. Ở đâu tổ chức đảng mạnh, kỷ cương nghiêm, dân biết – dân bàn – dân giám sát tốt, thì ở đó tiêu cực khó nảy nở. Phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực không thể chỉ là việc của cơ quan chức năng; đó phải là một nếp nghĩ, một thói quen ứng xử văn hóa của cả hệ thống, trong đó nêu gương của người đứng đầu là then chốt.
Tôi muốn nhấn mạnh thêm: bước vào giai đoạn phát triển mới, chúng ta cần một bộ máy trong sạch để dân tin, vững mạnh để làm việc, và nhân văn để quy tụ. Làm công tác này phải rất tỉnh táo: kiên quyết với cái sai, nhưng cũng phải tạo môi trường để cái đúng được lan tỏa; xử lý nghiêm để răn đe, nhưng đồng thời hoàn thiện cơ chế để người tốt có điều kiện làm việc, để xã hội vận hành minh bạch, trật tự.
Phóng viên: Trước thềm Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, xin Tổng Bí thư chia sẻ về ý nghĩa của Đại hội lần này, những tư tưởng chủ đạo, tầm nhìn chiến lược, khát vọng phát triển đất nước Việt Nam giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc?
Tổng Bí thư Tô Lâm: Mỗi kỳ Đại hội của Đảng đều là một dấu mốc rất quan trọng, nhưng với Đại hội XIV, ý nghĩa càng sâu sắc hơn, bởi chúng ta bước vào Đại hội trong một bối cảnh thế giới biến động rất nhanh, nhiều bất ổn, khó dự báo; trong khi đất nước sau nhiều thập niên đổi mới đã có cơ đồ, tiềm lực và vị thế mới, đồng thời cũng đứng trước những yêu cầu phát triển mới, cao hơn, quyết liệt hơn. Đây là lúc chúng ta cần nhìn thẳng vào thực tiễn, nhận diện đúng cơ hội và thách thức; tổng kết điều đã làm được, chỉ rõ điều còn vướng và quan trọng nhất là thống nhất ý chí, thống nhất hành động để đi tiếp cho vững vàng.
Tôi nghĩ có ba điểm lớn về tư tưởng chủ đạo và tầm nhìn chiến lược mà Đại hội lần này cần làm rõ và lan tỏa mạnh mẽ.
Điểm thứ nhất là đoàn kết và niềm tin. Đoàn kết không chỉ là một khẩu hiệu hay một lời kêu gọi. Đoàn kết phải trở thành cách ứng xử của cả hệ thống và của mỗi người Việt Nam: đoàn kết trong Đảng, đoàn kết trong nhân dân, đoàn kết giữa ý Đảng và lòng dân; biết đặt việc chung lên trên, biết gác cái riêng lại khi cần. Và cùng với đoàn kết là niềm tin: tin vào con đường mình đã chọn, tin vào sức mạnh của dân tộc, tin rằng điều tốt đẹp sẽ đến nếu chúng ta làm việc bền bỉ và vì nước, vì dân.
Điểm thứ hai là kỷ cương và đột phá. Đất nước muốn đi nhanh thì cần đột phá, nhưng muốn đi xa thì phải có kỷ cương. Vì vậy, phương châm hành động của Đại hội được xác định rất rõ: “Đoàn kết – Dân chủ – Kỷ cương – Đột phá – Phát triển”. Đột phá ở đây không chỉ là làm một số “việc mới” mà là đổi mới tư duy để dám “chạm” vào những điểm nghẽn thật sự: thể chế, bộ máy, chất lượng nguồn nhân lực, năng lực quản trị, kỷ luật công vụ; để đất nước vận hành thông suốt hơn, công bằng hơn, minh bạch hơn, hiệu quả hơn.
Điểm thứ ba là phát triển vì con người và bằng tri thức. Khát vọng “giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc” trước hết phải được đo bằng những điều rất đời thường: người dân có việc làm tốt hơn không, thu nhập có ổn định hơn không; có chỗ ở “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” không; con cái học hành có thuận lợi hơn không, bệnh tật có được chăm sóc tốt hơn không, người già có được nương tựa không, vùng khó khăn có được trợ giúp kịp thời không... Và muốn mọi cái đều “hơn” thì chúng ta phải coi tri thức, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số là động lực then chốt của mô hình tăng trưởng mới; đồng thời phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực xã hội, trong đó kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng.
Tầm nhìn chiến lược của Đại hội cũng gắn với những mốc rất rõ: lựa chọn quyết sách để thực hiện thắng lợi các mục tiêu đến năm 2030 và hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045. Đó là những “mốc son” để phấn đấu, để mỗi ngành, mỗi địa phương, mỗi cơ quan và từng người dân đều thấy mình có phần việc cụ thể trong hành trình chung.
Theo kế hoạch, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng sẽ tổ chức từ ngày 19/01/2026 đến 25/01/2026 tại Thủ đô Hà Nội. Đây là sự kiện chính trị trọng đại của Đảng và Dân tộc ta, là một dấu mốc lịch sử của Đất nước trong thời đại Hồ Chí Minh, đánh dấu sự hội tụ truyền thống ngàn năm Văn hiến của Dân tộc để vươn mình trong kỷ nguyên mới. Cán bộ, Đảng viên và Nhân dân đang rất quan tâm, theo dõi, mong chờ và đặt nhiều kỳ vọng vào sự thành công của Đại hội. Tôi tin tưởng rằng Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng thực sự là nơi hội tụ trí tuệ, bản lĩnh và khát vọng, là Đại hội nói đúng sự thật, bàn đúng việc cần bàn và quyết đúng điều phải quyết.
Phóng viên: Nhân dịp năm mới 2026, Tổng Bí thư có thông điệp gì gửi tới Nhân dân Việt Nam và cộng đồng quốc tế?
Tổng Bí thư Tô Lâm: Nhân dịp năm mới 2026, tôi muốn gửi một thông điệp ngắn gọn, chân thành.
Với Nhân dân Việt Nam, tôi xin bày tỏ lòng tri ân sâu sắc vì sự tin tưởng, vì những hy sinh thầm lặng, vì sự nhẫn nại và nghĩa tình mà đồng bào ta đã dành cho nhau và dành cho đất nước trong những năm nhiều biến động. Tôi mong mỗi gia đình đón năm mới bình an; mỗi người bước vào năm mới với một điều giản dị: làm tốt hơn công việc của mình, đời sống vật chất và tinh thần tốt lên từng ngày. Khi hàng triệu điều “tốt hơn” ấy cộng lại, đất nước sẽ mạnh lên một cách bền vững.
Tôi cũng mong đội ngũ cán bộ, đảng viên ở mọi cấp luôn ghi nhớ: chức vụ càng cao thì trách nhiệm càng lớn; càng có quyền thì càng phải tự ràng buộc mình bằng kỷ luật, liêm chính và sự gương mẫu. Việc gì có lợi cho dân thì hết sức làm; việc gì gây phiền cho dân thì phải hết sức tránh; điều gì sai thì phải sửa, điều gì tốt thì phải bảo vệ.
Với bạn bè và cộng đồng quốc tế, Việt Nam luôn trân trọng thiện chí, tin cậy và hợp tác. Chúng tôi mong muốn cùng các quốc gia, tổ chức và nhân dân trên thế giới xây dựng một môi trường hòa bình, ổn định, hợp tác cùng phát triển; Việt Nam luôn là đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm, cùng chung tay giải quyết những thách thức chung như biến đổi khí hậu, an ninh phi truyền thống, phát triển bao trùm, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo. Chúng tôi tin rằng những điều tốt đẹp nhất luôn bắt đầu từ sự tôn trọng lẫn nhau, từ đối thoại chân thành và từ những hợp tác mang lại lợi ích cho nhân dân các nước và các dân tộc trên thế giới.
Xin chúc đồng bào, chiến sĩ cả nước và bạn bè quốc tế một năm 2026 sức khỏe, bình an, hợp tác và phát triển.
Chúc mừng năm mới 2026.
-
Thủ tướng yêu cầu xử lý dứt điểm các nhiệm vụ để gỡ “thẻ vàng” IUU
Ngày 30/12, tại trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì phiên họp lần thứ 28 của Ban Chỉ đạo quốc gia về chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU). Tham dự phiên họp có Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà, Trưởng Ban Chỉ đạo; Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng; cùng lãnh đạo các bộ, ngành, địa phương liên quan.
BÁO CÁO GỬI EC PHẢI TRUNG THỰC, CHUẨN HÓA SỐ LIỆU
Phiên họp tập trung kiểm điểm việc thực hiện các nhiệm vụ trong tuần qua theo chỉ đạo của Lãnh đạo Chính phủ. Nội dung kiểm điểm bao gồm xây dựng, hoàn thiện báo cáo gửi Ủy ban châu Âu (EC); công tác quản lý tàu cá, giám sát hoạt động khai thác; xử lý tàu cá và ngư dân vi phạm vùng biển nước ngoài; kiểm soát ra, vào cảng; triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc thủy sản điện tử (eCDT); cũng như công tác thông tin, truyền thông về nỗ lực chống khai thác IUU của Việt Nam.
Thủ tướng Phạm Minh Chính yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương, tất cả các chủ thể liên quan phải tích cực, chủ động vào cuộc, căn cứ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn để làm hết sức mình với tinh thần trách nhiệm cao nhất - Ảnh: VGPTheo đánh giá tại phiên họp, việc quản lý tàu cá và giám sát hoạt động khai thác tiếp tục được duy trì chặt chẽ, đặc biệt đối với tàu cá không đủ điều kiện hoạt động và nhóm tàu cá “3 không”. Tuy nhiên, tiến độ thực hiện một số nhiệm vụ được Thủ tướng Chính phủ giao vẫn chưa có chuyển biến so với tuần trước.
Kết luận phiên họp, Thủ tướng Phạm Minh Chính yêu cầu các bộ, ngành, địa phương và các chủ thể liên quan tích cực, chủ động vào cuộc, căn cứ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao để triển khai với tinh thần trách nhiệm cao nhất.
Việc thực hiện nhiệm vụ chống khai thác IUU phải nghiêm túc, quyết liệt, bám sát các chỉ đạo của Ban Bí thư, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, nhằm đạt “mục tiêu kép” là gỡ “thẻ vàng” của EC và phát triển ngành thủy sản Việt Nam bền vững, có trách nhiệm, chuyển mạnh từ khai thác sang nuôi trồng.
Thủ tướng nhấn mạnh trọng tâm trong tuần tới là xử lý dứt điểm các nhiệm vụ đã được giao; chuẩn bị báo cáo gửi EC bảo đảm trung thực, khách quan, không hình thức, không chạy theo thành tích. Các bộ, ngành, địa phương phải chuẩn hóa số liệu giữa các cấp, các ngành, đặc biệt đối với các vấn đề đã được EC khuyến nghị.
Người đứng đầu Chính phủ yêu cầu tiếp tục thực hiện nghiêm chế độ báo cáo định kỳ về kết quả triển khai chống IUU theo phương châm “6 rõ”, gồm: đã làm gì, kết quả đến đâu, còn vướng mắc gì, nguyên nhân do đâu, ai chịu trách nhiệm và cam kết mốc hoàn thành. Việc báo cáo phải cụ thể, tránh chung chung.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường có trách nhiệm tiếp thu ý kiến của các bộ, ngành, cập nhật số liệu từ các địa phương để hoàn thiện báo cáo gửi EC trước ngày 05/01/2026. Đồng thời, bộ này tiếp tục duy trì trao đổi, giữ liên hệ chặt chẽ với EC để kịp thời cung cấp thông tin theo yêu cầu và báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ những nội dung vượt thẩm quyền.
PHÂN CÔNG RÕ TRÁCH NHIỆM, SIẾT CHẶT KỶ CƯƠNG THỰC THI
Đối với dự thảo Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về việc tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, toàn diện, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp chống khai thác IUU, Thủ tướng yêu cầu cập nhật đầy đủ các chỉ đạo gần đây của Thủ tướng Chính phủ và Phó Thủ tướng Chính phủ tại các cuộc họp Ban Chỉ đạo IUU, hoàn thiện dự thảo và trình ban hành trước ngày 10/01/2026.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành tổ chức các đoàn công tác liên ngành kiểm tra công tác chống khai thác IUU tại địa phương; tổng hợp, báo cáo kết quả bằng văn bản. Đồng thời, nghiên cứu, đề xuất giải pháp quản lý đối với nhóm tàu dịch vụ hậu cần; trường hợp có vướng mắc pháp lý, báo cáo, đề xuất phương án hoàn thiện.
Các địa phương tham dự cuộc họp - Ảnh: VGPBộ Công an được giao tiếp tục chỉ đạo điều tra, xử lý dứt điểm các vụ việc liên quan đến 32 lô cá cờ kiếm gian lận và các tổ chức, cá nhân liên quan; kịp thời báo cáo Ban Chỉ đạo.
Bộ Quốc phòng tiếp tục duy trì tuần tra, kiểm soát tại các vùng biển giáp ranh; kiểm soát chặt chẽ tàu cá xuất, nhập bến; kiên quyết không cho xuất bến đối với tàu không đủ điều kiện. Lực lượng Biên phòng được yêu cầu thực hiện kiểm tra qua hệ thống eCDT và hướng dẫn chủ tàu, thuyền trưởng thực hiện bắt buộc khai báo eCDT từ ngày 01/01/2026.
Bộ Ngoại giao phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường hoàn thiện thể thức, ngôn ngữ của báo cáo gửi EC, bảo đảm phù hợp chuẩn mực quốc tế; cử cán bộ có chuyên môn, kinh nghiệm tham gia hoàn thiện báo cáo đạt chất lượng cao. Đồng thời, khẩn trương làm việc, thống nhất thông tin về các vụ tàu cá, ngư dân Việt Nam bị bắt giữ ở nước ngoài để địa phương xử lý dứt điểm.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tiếp tục chỉ đạo các cơ quan báo chí đẩy mạnh thông tin, truyền thông về hoạt động chống khai thác IUU của Việt Nam, tập trung đúng trọng tâm, trọng điểm. Các hiệp hội ngành hàng được yêu cầu tăng cường kiểm soát doanh nghiệp, kiên quyết không thu mua thủy sản không rõ nguồn gốc, đồng thời tham gia hỗ trợ ngư dân chuyển đổi nghề.
Đối với địa phương, Thủ tướng yêu cầu cập nhật kết quả chống IUU đến ngày 31/12/2025, gửi Bộ Nông nghiệp và Môi trường đúng hạn để tổng hợp. Các địa phương phải rà soát, xử lý dứt điểm các vụ việc liên quan đến thiết bị giám sát hành trình (VMS), vi phạm vượt ranh giới; chịu trách nhiệm về việc “khép hồ sơ”, đồng thời triển khai đồng bộ eCDT tại cảng, điểm lên cá từ ngày 01/01/2026.
Chủ tịch UBND các tỉnh An Giang, Cà Mau, Đắk Lắk được giao chỉ đạo xử lý dứt điểm các tàu cá vi phạm, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 05/01/2026 và tổ chức kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm. Thủ tướng cũng yêu cầu 15/22 địa phương còn lại ban hành kế hoạch chuyển đổi nghề, tạo sinh kế bền vững cho ngư dân trước ngày 06/01/2026; trường hợp không hoàn thành, người đứng đầu địa phương phải chịu trách nhiệm theo quy định.
-Hà Lê
