Thời Báo Kinh Tế
Chủ động chính sách tài khóa, tạo nền tảng cho tăng trưởng nhanh và bền vững
Nhân dịp Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng đã chia sẻ với báo chí về những định hướng trong thời gian tới, trong đó nhấn mạnh ngành tài chính sẽ tập trung triển khai chính sách tài khóa chủ động, mở rộng hợp lý, có trọng tâm, trọng điểm; phối hợp chặt chẽ với chính sách tiền tệ nhằm giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững.
Thưa Bộ trưởng, Bộ trưởng đánh giá như thế nào về kết quả thực hiện nhiệm vụ tài chính – ngân sách nhà nước cũng như việc hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách, pháp luật trong lĩnh vực tài chính, đầu tư, ngân sách nhà nước trong giai đoạn vừa qua?
Nhiệm vụ tài chính – ngân sách nhà nước trong 5 năm qua được thực hiện trong bối cảnh tình hình thế giới và trong nước có nhiều biến động khó lường, đặt ra không ít khó khăn, thách thức. Tuy nhiên, nhờ sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quốc hội, Chính phủ; sự vào cuộc đồng bộ của các bộ, ngành, địa phương; cùng với sự chỉ đạo điều hành chủ động, linh hoạt, kịp thời và hiệu quả của ngành tài chính, quản lý tài chính – ngân sách nhà nước đã đạt được nhiều kết quả nổi bật, toàn diện, hoàn thành toàn bộ các chỉ tiêu chủ yếu giai đoạn 2021–2025. Các nguồn lực tài chính – ngân sách nhà nước được quản lý, huy động và sử dụng ngày càng hiệu quả, góp phần quan trọng thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội. Cụ thể là:
Thứ nhất, ngành Tài chính đã kịp thời tham mưu, triển khai các quy hoạch, kế hoạch, cơ chế, chính sách và giải pháp phát triển kinh tế – xã hội; thúc đẩy tăng trưởng gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô. Bội chi ngân sách nhà nước bình quân giai đoạn 2021–2025 khoảng 3,1–3,2% GDP; nợ công ước khoảng 35–36% GDP, được kiểm soát tốt, góp phần củng cố xếp hạng tín nhiệm quốc gia.
Thứ hai, hệ thống pháp luật về tài chính – ngân sách nhà nước được tập trung hoàn thiện. Giai đoạn 2021–2025, Bộ Tài chính đã trình ban hành 32 luật, nghị quyết của Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội; 168 nghị định và ban hành theo thẩm quyền 436 thông tư, tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cắt giảm thủ tục hành chính, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Thứ ba, quản lý thu được tăng cường, cơ cấu thu ngân sách nhà nước được tập trung theo hướng bền vững; tỷ lệ huy động ngân sách nhà nước bình quân 5 năm đạt khoảng 18,3% GDP, đồng thời vẫn thực hiện miễn, giảm, gia hạn thuế, phí khoảng 1,1 triệu tỷ đồng để hỗ trợ người dân, doanh nghiệp vượt qua khó khăn, thách thức do dịch bệnh và phục hồi sản xuất, kinh doanh sau đại dịch.
Thứ tư, ngành Tài chính đã thực hiện tăng thu, tiết kiệm chi khoảng 1,5 triệu tỷ đồng để bổ sung nguồn lực cho đầu tư phát triển, quốc phòng, an ninh, khoa học – công nghệ, cải cách tiền lương, an sinh xã hội, xóa nhà dột nát và xây dựng trường học tại các vùng biên giới
Thứ năm, tỷ lệ chi đầu tư phát triển của cả nước tăng lên khoảng 32% tổng chi ngân sách nhà nước, được bố trí có trọng tâm, trọng điểm, bảo đảm nguồn lực cho các dự án hạ tầng chiến lược, có sức lan tỏa lớn.
Thứ sáu, môi trường đầu tư, kinh doanh tiếp tục được cải thiện, khuyến khích mạnh mẽ các thành phần kinh tế phát triển. Đến nay, cả nước có trên 1 triệu doanh nghiệp đang hoạt động, tăng trên 46% so với năm 2020; tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2021–2025 đạt khoảng 32,2% GDP, trong đó khu vực tư nhân và doanh nghiệp nhà nước chiếm trên 65%.
Thứ bảy, Việt Nam tiếp tục là điểm sáng trong thu hút đầu tư nước ngoài, thuộc nhóm 15 quốc gia đang phát triển thu hút FDI lớn nhất thế giới; vốn FDI đóng góp khoảng 16% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.
Thứ tám, các thị trường vốn phát triển theo hướng an toàn, bền vững và hội nhập, từng bước trở thành kênh huy động vốn quan trọng cho nền kinh tế. Đến cuối năm 2025, quy mô thị trường trái phiếu đạt khoảng 3,93 triệu tỷ đồng, tương đương 30,7% GDP; vốn hóa thị trường chứng khoán đạt gần 10 triệu tỷ đồng, tương đương 77,9% GDP. Năm 2025, thị trường chứng khoán Việt Nam đã đáp ứng đầy đủ các tiêu chí và được nâng hạng từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi.
Và cuối cùng, ngành tài chính tích cực thúc đẩy phát triển kinh tế vùng, các ngành, lĩnh vực và mô hình kinh tế mới; tham gia xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do; đồng thời phối hợp hiệu quả trong an sinh xã hội, bảo đảm tăng trưởng kinh tế gắn với tiến bộ và công bằng xã hội.
Trong thời gian tới, ngành Tài chính sẽ tập trung những nhiệm vụ, giải pháp nào để ổn định kinh tế vĩ mô và thúc đẩy tăng trưởng nhanh, bền vững, thưa Bộ trưởng?
Thời gian tới, trước yêu cầu và nhiệm vụ mới đặt ra, ngành tài chính sẽ tập trung triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, thực hiện chính sách tài khóa chủ động, mở rộng hợp lý, có trọng tâm, trọng điểm; củng cố vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương, đồng thời phát huy tính chủ động, sáng tạo của các bộ, ngành, địa phương. Phối hợp chặt chẽ với chính sách tiền tệ nhằm giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, góp phần tăng trưởng 2 con số, chuyển đổi mô hình phát triển.
Chúng tôi sẽ nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý thu, chi ngân sách nhà nước; thực hiện thu đúng, thu đủ, thu kịp thời, gắn với nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu bền vững. Phấn đấu bảo đảm tỷ lệ huy động ngân sách nhà nước bình quân giai đoạn 2026–2030 khoảng 18% GDP; tăng chi đầu tư phát triển lên khoảng 40% tổng chi ngân sách nhà nước; quản lý chặt chẽ bội chi, nợ công phù hợp khả năng vay – trả nợ của nền kinh tế, góp phần cải thiện xếp hạng tín nhiệm quốc gia.
Bộ trưởng có thể cho biết thêm những định hướng lớn về phát triển thị trường, doanh nghiệp và thu hút đầu tư trong giai đoạn tới?
Ngành tài chính sẽ tiếp tục hoàn thiện thể chế, hệ thống pháp luật về tài chính – ngân sách nhà nước; đẩy mạnh chuyển đổi số, cải cách thủ tục hành chính, nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý, giám sát.
Đồng thời, nâng cao hiệu quả hoạt động của kinh tế nhà nước, thực sự phát huy vai trò chủ đạo, tiên phong trong các ngành, lĩnh vực then chốt, thiết yếu, chiến lược. Cùng với đó, phát triển mạnh mẽ khu vực kinh tế tư nhân theo tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW; phấn đấu đến năm 2030 Việt Nam có khoảng 2 triệu doanh nghiệp hoạt động; trình độ công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thuộc nhóm dẫn đầu ASEAN và châu Á.
Ngoài ra, ngành tài chính phát triển các thị trường vốn, thị trường chứng khoán trở thành kênh huy động vốn trung và dài hạn quan trọng; khai thác hiệu quả cơ hội từ nâng hạng thị trường chứng khoán; hoàn thiện hành lang pháp lý cho các xu hướng mới như tài sản số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số.Đặc biệt, thu hút FDI có chọn lọc, ưu tiên các dự án quy mô lớn, công nghệ cao, thân thiện với môi trường; tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng toàn cầu.
-
Đại hội XIV của Đảng họp phiên trù bị, thông qua chương trình và quy chế làm việc
Trước giờ khai mạc phiên trù bị, các đại biểu dự Đại hội đã vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau đó, các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các đồng chí Trưởng đoàn đại biểu của các đảng bộ trực thuộc Trung ương dự Đại hội đặt vòng hoa và dâng hương tại Đài tưởng niệm các anh hùng liệt sỹ.
Các đại biểu vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ảnh: TTXVNToàn thể Đại hội dành một phút mặc niệm để tưởng nhớ đến đồng chí Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã từ trần trong nhiệm kỳ Đại hội XIII.
Đồng chí Trần Thanh Mẫn, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thay mặt các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước điều hành phiên họp trù bị.
Đại hội đã biểu quyết tán thành, nhất trí cao thông qua Chương trình phiên họp trù bị, Quy chế làm việc của Đại hội, Chương trình làm việc của Đại hội và Quy chế bầu cử tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
Đại hội đã bầu Đoàn Chủ tịch gồm 16 đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị. Đại hội bầu Đoàn Thư ký gồm 5 đồng chí và Ban Thẩm tra tư cách đại biểu dự Đại hội gồm 13 đồng chí.
Đại hội đã biểu quyết tán thành, nhất trí cao thông qua Báo cáo thẩm tra tư cách đại biểu Đại hội XIV của Đảng do Ban Thẩm tra tư cách đại biểu trình. Theo đó, tất cả 1.586 đại biểu được triệu tập dự Đại hội đều đủ tư cách đại biểu Đại hội.
Buổi chiều, các đại biểu nghiên cứu tài liệu tại nơi ở của đoàn.
-Hà Lê
Đại tướng Lương Tam Quang: Lực lượng Công an nhân dân chủ động kiến tạo phát triển, tạo nền tảng thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng
Trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thi đua chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Đại tướng Lương Tam Quang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Đảng ủy Công an Trung ương, Bộ trưởng Bộ Công an đã dành thời gian trả lời phỏng vấn báo chí về những định hướng chiến lược của lực lượng Công an nhân dân trong thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.
Kính thưa Bộ trưởng, chúng ta đang sống trong không khí của những ngày toàn Đảng, toàn dân, toàn quân chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Với cương vị là người đứng đầu lực lượng Công an nhân dân, xin Bộ trưởng cho biết những định hướng lớn của lực lượng Công an - một trong những lực lượng chủ công nòng cốt trong thực hiện các chủ trương của Đảng, trước hết là Nghị quyết Đại hội XIV và các chủ trương chiến lược nhằm đưa đất nước vững bước vào kỷ nguyên phát triển, giàu mạnh?
Đại hội Đảng bộ Công an Trung ương lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2025-2030 đã xác định những định hướng công tác lớn của lực lượng Công an nhân dân để khẳng định vai trò chủ công nòng cốt thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV, các chủ trương chiến lược của Đảng, đó là: Tiếp tục gương mẫu, đi đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV và các chủ trương chiến lược của Đảng với những kết quả cụ thể, phấn đấu tạo ra những dấu ấn mới vì Đảng, vì dân. Xây dựng lực lượng Công an nhân dân thật sự trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, “Kỷ luật nhất - Trung thành nhất - Gần dân nhất”, ngang tầm yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Giữ vững an ninh quốc gia, góp phần bảo đảm vững chắc hòa bình, ổn định, tạo môi trường an ninh, an toàn, thuận lợi cao nhất cho phát triển. Xây dựng, củng cố xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh, tiến tới không tội phạm, không ma túy, tăng cường bảo vệ an ninh con người, vì cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân.
Xây dựng phương thức quản lý, quản trị an ninh, trật tự hiện đại, minh bạch, hiệu quả, thân thiện, nhân văn, vì nhân dân phục vụ. Phát huy lợi thế, đặc thù của đối ngoại Công an nhân dân, góp phần tạo dựng môi trường hòa bình, ổn định, phục vụ phát triển đất nước. Tập trung phát triển công nghiệp an ninh tự chủ, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại và triển khai thương mại an ninh.
Tiếp tục thực hiện tốt phương châm “lúc dân cần, lúc dân khó, có Công an”; khẳng định vai trò lực lượng tuyến đầu cứu dân, giúp dân lúc hiểm nguy, gian khó; nâng tầm công tác Công an hỗ trợ người yếu thế, người có hoàn cảnh khó khăn, góp phần giải quyết từ gốc rễ các vấn đề liên quan an ninh trật tự, phát huy “thế trận lòng dân” trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Tựu trung các định hướng công tác lớn nêu trên đó là “Theo lời Bác dạy - Đổi mới tư duy - Nâng cao tri thức - Chính quy hiện đại - Vì Đảng, vì dân”.
Kính thưa Bộ trưởng, một trong những điểm mới trong tư duy hành động của lực lượng Công an nhân dân là chuyển từ phương châm “mệnh lệnh - phục tùng” sang “mệnh lệnh - phục tùng và chủ động đề xuất, kiến tạo phát triển”. Điều này đặt ra những yêu cầu gì đối với lực lượng Công an nhân dân trong thực hiện nhiệm vụ, thưa Bộ trưởng?
Tư duy mới đặt ra yêu cầu rất cao đối với lực lượng Công an về sự chủ động và tinh thần phục vụ, tạo thuận lợi tối đa, kiến tạo phát triển. Thực tiễn công tác Công an rất phong phú, thường xuyên nắm, đánh giá tình hình bên ngoài, bên trong, việc triển khai các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; mỗi cán bộ, chiến sỹ Công an, trong phạm vi chức trách, nhiệm vụ của mình, khi có sự chủ động cao gắn với tinh thần phục vụ, kiến tạo phát triển, tích cực phát hiện, tham mưu những giải pháp, sáng kiến hay cho phát triển đất nước, kiến nghị bịt kín sơ hở, thiếu sót, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, góp phần giải quyết từ sớm những sai phạm nhỏ, không để tích tụ thành vi phạm pháp luật, khơi thông nguồn lực, thúc đẩy phát triển.
Việc chủ động phát hiện, kiến nghị giải quyết từ sớm những mâu thuẫn, bức xúc trong nhân dân; chủ động giúp đỡ nhân dân, huy động sự hỗ trợ đối với người yếu thế, người khó khăn… góp phần củng cố, phát huy cao độ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong xây dựng và phát triển đất nước.
Đại hội XIV xác định mục tiêu “đến năm 2045, trở thành nước phát triển, thu nhập cao, là một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc”; nhận thức sâu sắc trách nhiệm vẻ vang của lực lượng Công an nhân dân gia tăng đóng góp, tạo nền tảng cho thành công của phát triển, thực hiện thắng lợi các mục tiêu của Đảng, yêu cầu đổi mới mạnh mẽ tư duy, hành động quyết liệt, đột phá, hiệu quả đang đặt ra cấp bách đối với mỗi cán bộ, chiến sỹ.
Thưa đồng chí Bộ trưởng, một trong những yêu cầu của Tổng Bí thư Tô Lâm đối với lực lượng Công an nhân dân khi phát biểu tại Đại hội Đảng bộ Công an Trung ương lần thứ VIII là: Lực lượng Công an nhân dân phải củng cố vững chắc môi trường hòa bình, ổn định, xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh, tạo nền tảng thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV và 2 mục tiêu chiến lược của Đảng. Xin Bộ trưởng cho biết, mục tiêu này được Bộ Công an triển khai bằng những hành động cụ thể như thế nào?
Lực lượng Công an sẽ “giương mọi ăng ten”, nắm chắc tình hình, kịp thời tham mưu với Đảng, Nhà nước hoạch định các vấn đề đối ngoại, đối nội, thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số, xác lập mô hình tăng trưởng mới, tuyệt đối không để đất nước bị động về chiến lược, biến nguy thành cơ cho phát triển. Giữ vững an ninh quốc gia, tăng cường bảo vệ an ninh chế độ, an ninh chính quyền, an ninh văn hóa, tư tưởng, an ninh kinh tế, an ninh mạng, an ninh dữ liệu, bảo vệ yếu nhân, “rường cột” của hệ thống chính trị, tinh hoa trong giới khoa học, công nghệ; giải quyết các yếu tố tiềm ẩn phức tạp về an ninh trật tự, không để xảy ra bị động, bất ngờ.
Chủ động nhận diện, bảo vệ vững chắc an ninh trên các không gian, lĩnh vực mới (robot, thiết bị không người lái, an ninh kinh tế tầm thấp, an ninh dữ liệu…); đấu tranh hiệu quả với các phương thức, thủ đoạn mới của tội phạm. Phấn đấu xây dựng 50% xã trên cả nước, 18 địa phương không ma túy, tiến tới không tội phạm. Tập trung xây dựng văn hóa “thượng tôn pháp luật”, văn hóa giao thông. Tích cực tham gia giải quyết các vấn đề toàn cầu, tăng cường hợp tác quốc tế thực hiện Công ước Hà Nội, đưa Việt Nam trở thành trung tâm hợp tác chống tội phạm mạng khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
Trong những ngày đầu năm mới, năm đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Bộ trưởng gửi gắm gì với cán bộ, chiến sỹ trong lực lượng Công an nhân dân, các cấp, các ngành và nhân dân cả nước trong việc chung tay xây dựng đất nước phồn vinh, xã hội ngày càng phát triển, đời sống nhân dân bình yên, hạnh phúc?
Nhân dịp năm mới Bính Ngọ 2026, cũng là năm đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, trước hết, tôi bày tỏ sự tri ân sâu sắc trước sự nỗ lực phấn đấu, sẵn sàng hy sinh, “Vì nước quên thân, vì dân phục vụ” của toàn thể cán bộ, chiến sỹ Công an nhân dân; chân thành cảm ơn sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, sự phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ của Quân đội nhân dân, các ban, bộ, ngành địa phương, sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn của nhân dân và bạn bè quốc tế trong sự nghiệp bảo vệ an ninh trật tự những năm qua.
Tôi tin tưởng sâu sắc rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, phát huy truyền thống anh hùng vẻ vang hơn 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, với sự phối hợp của các ban, bộ, ngành, địa phương, sự ủng hộ, giúp đỡ của nhân dân và bạn bè quốc tế, toàn lực lượng Công an nhân dân sẽ vượt qua mọi khó khăn, thách thức, hoàn thành xuất sắc sứ mệnh mà Đảng, Nhà nước và nhân dân tin cậy giao phó: “Bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân; tạo nền tảng thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV và các chủ trương chiến lược của Đảng, xây dựng thành công một nước Việt Nam phát triển hùng cường, thịnh vượng, văn minh, phồn vinh, hạnh phúc”.
Xin chúc toàn thể cán bộ, chiến sỹ lực lượng vũ trang nhân dân, đồng bào, đồng chí một năm mới dồi dào sức khỏe, giành nhiều thắng lợi trong công tác và cuộc sống.
-
Đại tướng Nguyễn Trọng Nghĩa: Xây dựng Đảng bộ Quân đội mẫu mực, tiêu biểu, ngang tầm nhiệm vụ
Ngay từ ngày đầu thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định rõ nhiệm vụ xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, tổ chức quân đội của giai cấp công-nông và đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng. Vì vậy, khi Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam) được thành lập (ngày 22/12/1944), đã có chi bộ đảng, với 4 đảng viên và biên chế chức danh chính trị viên để trực tiếp lãnh đạo, tiến hành công tác Đảng, công tác chính trị.
Từ chiến thắng mở đầu Phai Khắt, Nà Ngần đến thành công rực rỡ của Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, sự trưởng thành vượt bậc của Quân đội ta đều bắt nguồn từ sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự giáo dục, rèn luyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh và sự yêu thương, đùm bọc, giúp đỡ của nhân dân. Đảng đã kịp thời xác định đúng phương hướng, mục tiêu, phương pháp tác chiến và khẳng định rõ quan điểm: Quân đội ta là quân đội của dân, do dân, vì dân, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng; nhiệm vụ chính trị quyết định nhiệm vụ quân sự.
Trong các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, cũng như trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và công cuộc đổi mới đất nước, sự lãnh đạo của Đảng luôn là nhân tố quyết định mọi chiến công, mọi thắng lợi của Quân đội. Chính bằng việc kiên định và thực hiện nghiêm nguyên tắc ấy, Quân đội nhân dân Việt Nam đã không ngừng trưởng thành, lớn mạnh cùng toàn dân, đánh bại kẻ thù xâm lược, làm nên những chiến công oanh liệt, những chiến thắng vĩ đại đi vào lịch sử vẻ vang của dân tộc.
Đại tướng Nguyễn Trọng Nghĩa trao quà tặng các gia đình chính sách, người có công trên địa bàn tỉnh Cao Bằng - Ảnh: QĐNDNhững năm qua, nhất là nhiệm kỳ 2020-2025, tình hình thế giới và khu vực diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường; đất nước ta đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, đặc biệt là những tác động của đại dịch COVID-19, thiên tai, biến đổi khí hậu, cùng với yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội tiếp tục được tăng cường. Toàn quân đã phát huy cao độ tinh thần đoàn kết, chủ động, sáng tạo, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, hoàn thành toàn diện các nhiệm vụ; nhiều nhiệm vụ hoàn thành tốt và xuất sắc, qua đó khẳng định rõ vai trò lãnh đạo mang tính quyết định của Đảng đối với sự trưởng thành và những chiến công của Quân đội. Trong đó, nổi lên một số điểm nhấn quan trọng:
Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng thực hiện tốt chức năng tham mưu chiến lược với Đảng, Nhà nước về quân sự, quốc phòng. Chủ động dự báo đúng tình hình, kịp thời tham mưu, xử lý hiệu quả các tình huống về quốc phòng, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống, giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Nhiều nghị quyết, chiến lược, đề án, kế hoạch được xây dựng công phu, bài bản, sát thực tiễn, đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa Quân đội, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới. Đảng bộ Quân đội đã chỉ đạo toàn quân phối hợp chặt chẽ với các lực lượng xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, “thế trận lòng dân” ngày càng vững chắc. Thế trận phòng thủ các quân khu, khu vực phòng thủ các tỉnh, thành phố tiếp tục được củng cố, kiện toàn; tiềm lực quốc phòng của đất nước được tăng cường; sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc không ngừng được nâng cao.
Cùng với đó, đã lãnh đạo, chỉ đạo toàn quân cơ bản hoàn thành sắp xếp tổ chức, biên chế theo hướng “tinh, gọn, mạnh”, cơ động, linh hoạt, bảo đảm phù hợp với chiến lược quốc phòng, quân sự và nghệ thuật tác chiến trong điều kiện mới. Nhiều cơ quan, đơn vị được kiện toàn, sắp xếp, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội trong tình hình mới. Các đơn vị trong toàn quân chủ động bảo đảm đầy đủ, kịp thời công tác hậu cần, kỹ thuật cho các nhiệm vụ, ứng phó kịp thời, có hiệu quả các thách thức an ninh phi truyền thống.
Đại tướng Nguyễn Trọng Nghĩa trao quà tặng các gia đình chính sách, người có công trên địa bàn tỉnh Cao Bằng. Ảnh: QĐNDCông tác giáo dục chính trị, tư tưởng được các cấp ủy, tổ chức đảng trong toàn quân đặc biệt coi trọng, tổ chức thực hiện chặt chẽ, đi vào chiều sâu, đạt hiệu quả thiết thực; tiên phong gương mẫu trong phòng, chống âm mưu "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch, phản động, đấu tranh với các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Việc đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; cuộc vận động phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới và Phong trào Thi đua Quyết thắng được triển khai sâu rộng, tạo sự chuyển biến rõ nét trong nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ toàn quân.
Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và luân chuyển cán bộ được thực hiện đồng bộ, bài bản, bảo đảm dân chủ, khách quan đúng quy trình, nguyên tắc. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc chấp hành nguyên tắc, điều lệ, chỉ thị, nghị quyết; chủ động phát hiện, ngăn ngừa và xử lý nghiêm minh các vi phạm, góp phần giữ vững kỷ luật, kỷ cương của Đảng. Thực hiện tốt công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, góp phần xây dựng môi trường trong sạch, lành mạnh.
Công nghiệp quốc phòng có bước đột phá, đã làm chủ một số công nghệ nền, công nghệ lõi, nghiên cứu, chế tạo, thử nghiệm thành công nhiều vũ khí có ý nghĩa chiến lược và trang bị kỹ thuật hiện đại, phù hợp với đối tượng tác chiến và thực tế chiến tranh; đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại. Quân đội chủ động, tích cực tham gia các hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc; tổ chức thành công nhiều hoạt động giao lưu, triển lãm quốc phòng, diễn tập chung, cứu hộ, cứu nạn, góp phần nâng cao vị thế, uy tín của đất nước và Quân đội trên trường quốc tế.
Những kết quả đạt được không chỉ thể hiện trí tuệ, bản lĩnh, ý chí và quyết tâm chính trị cao của Đảng bộ Quân đội và toàn quân, mà còn góp phần củng cố, nâng cao vị thế của Quân đội nhân dân Việt Nam; tiếp tục khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của Quân đội trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, vì mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc.
Những năm tới, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến nhanh, phức tạp, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, xung đột vũ trang xảy ra ở nhiều nơi, với nhiều loại hình chiến tranh, phương thức tác chiến mới, các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống đan xen tác động đến đời sống quốc tế và tiềm ẩn nhân tố gây mất ổn định.
Đất nước ta, sau 40 năm đổi mới đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, kinh tế tăng trưởng khá, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện, chính trị-xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được củng cố vững chắc, vị thế và uy tín quốc tế ngày càng được nâng cao. Việc thực hiện cuộc cách mạng sắp xếp tinh gọn bộ máy và mô hình chính quyền địa phương hai cấp bước đầu đạt nhiều kết quả quan trọng, đặt ra yêu cầu tiếp tục điều chỉnh tổ chức quân sự địa phương phù hợp với tình hình mới.
Tuy nhiên, bên cạnh những thời cơ, thuận lợi, chúng ta vẫn phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức, nhất là trong phát triển kinh tế, nâng cao tiềm lực khoa học-công nghệ; các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh âm mưu “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “phi chính trị hóa” quân đội, kích động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, lợi dụng không gian mạng để chống phá Đảng, Nhà nước và Quân đội.
Từ những đặc điểm tình hình trên, thời gian tới, quán triệt thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XII, Đảng bộ Quân đội và toàn quân tiếp tục kiên định nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội, xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch vững mạnh, mẫu mực, tiêu biểu; tiếp tục thực hiện tốt chức năng tham mưu chiến lược về quân sự, quốc phòng, hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng trong Quân đội, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trong đó, Đảng bộ Quân đội và toàn quân tập trung thực hiện thật tốt những nội dung chủ yếu sau:
Một là, tiếp tục quán triệt và kiên định đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng, phát huy trí tuệ tập thể, bản lĩnh và tầm nhìn chiến lược để thực hiện tốt chức năng tham mưu chiến lược về quân sự, quốc phòng.
Quán triệt sâu sắc và kiên định đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng là yêu cầu có tính nguyên tắc, đồng thời là điều kiện tiên quyết để Quân đội nhân dân Việt Nam giữ vững bản chất cách mạng, phát huy vai trò nòng cốt trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Trước những biến động nhanh chóng, phức tạp, khó lường của tình hình thế giới, khu vực; sự đan xen giữa hợp tác và đấu tranh, giữa hòa bình và xung đột; sự phát triển mạnh mẽ của khoa học-công nghệ quân sự và các hình thái chiến tranh mới, việc giữ vững định hướng chiến lược, không dao động về mục tiêu, không lệch chuẩn về tư duy có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Đảng bộ Quân đội và toàn quân phải tiếp tục quán triệt đầy đủ, toàn diện các quan điểm, chủ trương của Đảng về quân sự, quốc phòng; vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; gắn chặt nhiệm vụ quân sự, quốc phòng với nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, đối ngoại; kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.
Đảng bộ Quân đội và toàn quân cần phát huy cao độ trí tuệ tập thể, bản lĩnh chính trị và tầm nhìn chiến lược để thực hiện ngày càng tốt hơn chức năng tham mưu với Đảng, Nhà nước về quân sự, quốc phòng. Tham mưu phải đi trước một bước, dự báo đúng, đánh giá trúng, đề xuất kịp thời những quyết sách chiến lược, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Thực hiện tốt tư tưởng chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm về thực hiện “2 kiên định, 2 đẩy mạnh, 2 ngăn ngừa” và phương châm “5 vững”. Coi trọng tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận quân sự, quốc phòng; chủ động nghiên cứu các vấn đề mới nảy sinh từ thực tiễn bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện hòa bình, từ yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân hiện đại và nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại.
Đồng thời, tiếp tục hoàn thiện hệ thống thể chế, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch về quân sự, quốc phòng; bảo đảm sự thống nhất cao giữa tư duy chiến lược và tổ chức thực hiện; giữa mục tiêu lâu dài và giải pháp trước mắt; giữa xây dựng lực lượng và sử dụng lực lượng, qua đó nâng cao chất lượng, hiệu quả tham mưu chiến lược, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc.
Hai là, tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng trong Quân đội, kiên định nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân.
Kiên định nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân Việt Nam là vấn đề có ý nghĩa sống còn, quyết định bản chất, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu và sức mạnh tổng hợp của Quân đội. Thực tiễn hơn 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta khẳng định rõ, giữ vững và thực hiện nghiêm nguyên tắc này bảo đảm cho Quân đội hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao; ngược lại, bất kỳ sự mơ hồ, lơi lỏng nào về vai trò lãnh đạo của Đảng đều làm suy giảm sức mạnh chính trị-tinh thần của Quân đội.
Trong bối cảnh hiện nay, khi các thế lực thù địch đẩy mạnh âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội bằng những thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt, thì yêu cầu giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo Quân đội tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt càng phải được đặt lên hàng đầu, không chỉ về nhận thức mà cả trong tổ chức thực hiện.
Cùng với việc kiên định nguyên tắc, Đảng bộ Quân đội và toàn quân cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng trong Quân đội cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ mới và mô hình tổ chức, biên chế của Quân đội hiện đại. Trọng tâm là làm rõ hơn nữa mối quan hệ giữa sự lãnh đạo của Đảng với quản lý của Nhà nước và chỉ huy, điều hành của người chỉ huy các cấp; bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, tập trung, thống nhất, xuyên suốt đồng thời phát huy tính chủ động, sáng tạo của từng tổ chức, cá nhân. Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Quân ủy Trung ương và cấp ủy các cấp theo hướng khoa học, chặt chẽ, hiệu quả, có tầm dự báo cao. Coi trọng xây dựng, hoàn thiện các quy chế, quy định về công tác Đảng, công tác chính trị; bảo đảm mọi hoạt động của Quân đội đều đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng bộ Quân đội và các cấp ủy, tổ chức đảng trong toàn quân.
Ba là, chú trọng xây dựng Đảng bộ Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, vững vàng trước mọi khó khăn, thách thức, thực sự là lực lượng nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân và đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Xây dựng Đảng bộ Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng là nhiệm vụ cơ bản, lâu dài, có ý nghĩa quyết định đến bản chất cách mạng và sức mạnh chiến đấu của Quân đội. Trong bối cảnh các thế lực thù địch gia tăng chống phá bằng các thủ đoạn chiến tranh tư tưởng, chiến tranh thông tin, yêu cầu đặt ra là Đảng bộ Quân đội phải giữ vững vai trò định hướng tư tưởng, thống nhất ý chí và hành động trong toàn quân. Trọng tâm là làm cho Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đường lối đổi mới của Đảng trở thành nền tảng tư tưởng vững chắc, chi phối mọi hoạt động lãnh đạo, chỉ huy và tổ chức thực hiện nhiệm vụ.
Trên nền tảng đó, Đảng bộ Quân đội cần lãnh đạo, chỉ đạo phát huy vai trò nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân; chủ động tham gia đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Việc đấu tranh phải được tiến hành có tổ chức, có lực lượng, có phương pháp phù hợp, gắn chặt với thực tiễn nhiệm vụ quân sự, quốc phòng. Qua đó, khẳng định vai trò tiên phong của Quân đội trên mặt trận tư tưởng-lý luận, củng cố vững chắc “thế trận lòng dân”, tạo nền tảng chính trị-tinh thần vững chắc cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Bốn là, thường xuyên chăm lo xây dựng tổ chức đảng các cấp trong sạch, vững mạnh tiêu biểu, có uy tín và năng lực lãnh đạo cao, sức chiến đấu mạnh mẽ, ngang tầm nhiệm vụ.
Xây dựng tổ chức đảng các cấp trong sạch, vững mạnh tiêu biểu là yêu cầu trực tiếp, thường xuyên trong công tác xây dựng Đảng bộ Quân đội, nhằm bảo đảm vai trò hạt nhân lãnh đạo toàn diện ở từng cơ quan, đơn vị. Trước yêu cầu nhiệm vụ ngày càng cao, quy mô tổ chức, lực lượng ngày càng lớn, trình độ hiện đại hóa ngày càng sâu, nếu tổ chức đảng không thực sự vững mạnh thì khó có thể lãnh đạo đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ. Vì vậy, Đảng bộ Quân đội và toàn quân cần tiếp tục tập trung củng cố, kiện toàn tổ chức đảng các cấp phù hợp với mô hình tổ chức, biên chế mới; nâng cao chất lượng sinh hoạt cấp ủy, chi bộ; thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình.
Bên cạnh đó, chú trọng nâng cao uy tín, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng thông qua việc gắn công tác xây dựng Đảng với thực hiện nhiệm vụ chính trị. Thước đo quan trọng nhất của tổ chức đảng vững mạnh là kết quả hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị và sự trưởng thành của cán bộ, chiến sĩ. Do đó, phải kiên quyết khắc phục tình trạng hình thức, chạy theo thành tích; xây dựng mối quan hệ chặt chẽ giữa cấp ủy với người chỉ huy và các tổ chức quần chúng; phát huy dân chủ, tạo sự đồng thuận cao trong đơn vị. Qua đó, xây dựng hệ thống tổ chức đảng trong toàn quân thực sự trong sạch, vững mạnh tiêu biểu, đủ năng lực lãnh đạo đơn vị hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ trong giai đoạn mới.
Năm là, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có phẩm chất, năng lực, uy tín; thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, góp phần xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.
Cán bộ là gốc của mọi công việc; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có phẩm chất, năng lực, uy tín là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng bộ Quân đội. Trước yêu cầu xây dựng Quân đội hiện đại, nhiệm vụ đặt ra là phải xây dựng đội ngũ cán bộ có tư duy chiến lược, trình độ tổng hợp cao, am hiểu khoa học-công nghệ quân sự, có năng lực tổ chức chỉ huy, quản lý trong điều kiện mới. Các cấp ủy, tổ chức đảng trong Quân đội cần thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ theo hướng đồng bộ, liên thông, kế thừa và phát triển, thu hút, trọng dụng nhân tài, chú trọng phát hiện, tạo nguồn, quan tâm đến cán bộ trẻ, cán bộ tài năng; đặc biệt coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ chủ trì, cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược có bản lĩnh, trí tuệ, phẩm chất, năng lực, uy tín hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Cùng với xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, cần thực hiện nghiêm công tác bảo vệ chính trị nội bộ, bảo đảm sự trong sạch, thống nhất trong Đảng bộ Quân đội. Trọng tâm là chủ động phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời các vấn đề phức tạp nảy sinh liên quan đến cán bộ, đảng viên; giữ vững kỷ luật, kỷ cương, bảo đảm sự ổn định chính trị nội bộ Quân đội. Thông qua đó, tạo nền tảng nhân sự vững chắc để xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
Sáu là, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương pháp, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật Đảng trong Quân đội.
Quân đội là tổ chức chặt chẽ, kỷ luật nghiêm minh, yêu cầu đặt ra đối với công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật Đảng phải đòi hỏi cao hơn, chặt chẽ và hiệu quả hơn. Đảng bộ Quân đội và toàn quân coi trọng đổi mới nội dung, phương pháp kiểm tra, giám sát, chú trọng ngay từ khi triển khai thực hiện để phòng ngừa; phát huy vai trò các cấp ủy, tổ chức đảng trong tự kiểm tra, giám sát kịp thời chấn chỉnh, khắc phục những vi phạm từ khi mới phát sinh, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn. Kiên quyết xử lý các hành vi vi phạm kỷ luật bảo đảm dân chủ, công bằng, nghiêm minh; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra, giám sát; thực hiện chuyển đổi số, đột phá phát triển khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo.
Truyền thống hơn 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam đã để lại những bài học về sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng; về sức mạnh đoàn kết quân-dân; về tinh thần độc lập, tự cường, dám đánh, biết đánh và biết thắng. Quán triệt, thực hiện các nghị quyết của Đảng, Đảng bộ Quân đội tiếp tục phấn đấu là Đảng bộ trong sạch, vững mạnh, mẫu mực, tiêu biểu; lãnh đạo xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên phát triển của dân tộc.
-
Những giải pháp đột phá nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số thời gian tới
Bí thư Tỉnh ủy An Giang Nguyễn Tiến Hải đã trả lời phỏng vấn báo chí trước thềm Đại hội XIV của Đảng về những giải pháp mang tính đột phá nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số trong thời gian tới.
Thưa đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, với mục tiêu đưa An Giang trở thành trung tâm kinh tế biển mạnh của quốc gia vào năm 2030, Đảng bộ tỉnh An Giang xác định đâu là những nguồn lực then chốt và những kết quả bứt phá nào trong thời gian qua đã tạo tiền đề vững chắc để tỉnh nhà tự tin bước vào kỷ nguyên mới ?
Để đạt được mục tiêu đến năm 2030, đưa An Giang trở thành tỉnh phát triển khá của cả nước; là trung tâm kinh tế biển mạnh của quốc gia, với tinh thần quán triệt sâu sắc đường lối, chủ trương của Đảng được nêu tại các văn kiện trình Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Đảng bộ tỉnh An Giang xác định rõ: huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực là yêu cầu có tính quyết định để tỉnh phát triển nhanh, bền vững và cùng cả nước bước vào kỷ nguyên mới.
Trước hết, An Giang đặt con người và hệ thống chính trị ở vị trí trung tâm của quá trình kiến tạo phát triển.
Sau sáp nhập, toàn tỉnh có hơn 131.700 đảng viên, 107 đảng bộ trực thuộc Tỉnh ủy và hơn 20.000 doanh nghiệp đang hoạt động, đây là nguồn lực chính trị-xã hội rất lớn để tổ chức thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đã đề ra.
Công tác xây dựng Đảng, cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được đẩy mạnh, góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân và doanh nghiệp, tạo nền tảng ổn định cho phát triển dài hạn.
Kế tiếp, tỉnh tập trung khơi thông và huy động hiệu quả các nguồn lực tài chính-đầu tư.
Năm 2025, tốc độ tăng trưởng GRDP của tỉnh đạt 8,39%, đứng đầu vùng Đồng bằng sông Cửu Long và xếp 14/34 tỉnh, thành phố cả nước. Tổng thu ngân sách nhà nước đạt trên 25.188 tỷ đồng, tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt 89.048 tỷ đồng, tăng trên 35% so với cùng kỳ; toàn tỉnh có hơn 4.000 doanh nghiệp thành lập mới và 32 dự án đầu tư được chấp thuận chủ trương, với tổng vốn đăng ký trên 13.000 tỷ đồng. Những con số này cho thấy niềm tin của nhà đầu tư và doanh nghiệp đối với môi trường đầu tư của An Giang tiếp tục được củng cố.
Thưa đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, để đạt được mục tiêu tăng trưởng GRDP bứt phá trên 10,71% vào năm 2026 và khẳng định vị thế của tỉnh trong kỷ nguyên mới, Đảng bộ tỉnh An Giang sẽ tập trung vào những giải pháp đột phá cụ thể nào để khơi thông nguồn lực đầu tư và phát huy tối đa lợi thế tổng hợp từ không gian phát triển mới sau sáp nhập?
Sang năm 2026, tỉnh An Giang đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP phải đạt trên 10,71%, GRDP bình quân đầu người đạt trên 90,53 triệu đồng; tổng thu ngân sách nhà nước đạt trên 32.360 tỷ đồng; tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt khoảng 113.500 tỷ đồng; tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GRDP đạt 8%.
Để đạt được mục tiêu này, tỉnh An Giang sẽ tiếp tục huy động mọi nguồn lực cho đầu tư, trong đó lấy đầu tư công dẫn dắt đầu tư tư bằng các công trình, dự án trọng điểm, có tính kết nối và lan tỏa cao, tạo điều kiện thuận lợi cho thu hút đầu tư các dự án phát triển các lĩnh vực trọng tâm, ưu tiên đầu tư của tỉnh như: hạ tầng khu kinh tế cửa khẩu, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, các dự án nhà máy chế biến thực phẩm giá trị gia tăng gắn với vùng nguyên liệu tập trung.
An Giang đặt Nghị quyết số 57 của Bộ Chính trị về “phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số” vào vị trí trọng tâm và được cụ thể hóa bằng các chương trình, dự án thiết thực, coi đây là động lực tăng trưởng mới.
Đồng thời, sẽ huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực, nhất là từ kinh tế tư nhân và hợp tác quốc tế, để thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững trên cơ sở chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế gắn với xác lập mô hình tăng trưởng mới với không gian phát triển vừa “đồng bằng-rừng-biển”; vừa “biên giới-nội địa” để phát triển kinh tế biển, kinh tế cửa khẩu, kinh tế nông nghiệp và dịch vụ logistics đa ngành.
Đặc biệt là du lịch sẽ phát triển mạnh sau khi hàng loạt các dự án hạ tầng chuẩn bị cho Hội nghị APEC 2027 được triển khai.
Tỉnh kiên định phát triển nhanh gắn với bền vững, Tập trung điều chỉnh và triển khai Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Đồng thời cơ cấu lại nền kinh tế, lựa chọn lĩnh vực ưu tiên, nền tảng tập trung phát triển, đảm bảo mục tiêu tăng trưởng 2 con số hàng năm đến năm 2030.
Tỉnh cũng đã triển khai Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, cụ thể hóa bằng các chương trình hành động, kế hoạch triển khai thực hiện với từng nhiệm vụ và giải pháp cụ thể gắn với trách nhiệm của người đứng đầu.
Đồng thời, xây dựng và triển khai thực hiện Đề án phát triển kinh tế tư nhân gắn với các đề án quan trọng khác của tỉnh nhằm huy động hiệu quả nguồn lực tư nhân cho phát triển.
Với quyết tâm chính trị cao, cách làm chủ động, sáng tạo và những kết quả thực tiễn đã đạt được, An Giang tin tưởng sẽ huy động hiệu quả mọi nguồn lực, tạo bước phát triển nhanh, bền vững, đóng góp ngày càng lớn vào tăng trưởng chung của vùng Đồng bằng sông Cửu Long và của cả nước trong kỷ nguyên mới.
-
Thắp lên "tinh thần Điện Biên Phủ" - Mệnh lệnh phát triển trong kỷ nguyên mới
Nhân dịp Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, đồng chí Trần Tiến Dũng, Bí thư Tỉnh uỷ Điện Biên, đã trả lời phỏng vấn báo chí về những nhóm giải pháp trọng tâm nhằm đưa Điện Biên phát triển "xanh - thông minh - bền vững", trở thành tỉnh phát triển khá trong khu vực.
Trước hết, xin đồng chí cho biết một số thành tựu nổi bật của tỉnh Điện Biên trong nhiệm kỳ 2020-2025 vừa qua?
Nhiệm kỳ vừa qua Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân các dân tộc tỉnh Điện Biên đã nỗ lực tổ chức thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ 14 với nhiều kết quả quan trọng, toàn diện trên các lĩnh vực, có thể kể đến:
Kinh tế của tỉnh tăng trưởng khá, cơ cấu chuyển dịch đúng hướng. Tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân đạt 8,35%/năm. Môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện; từng bước hình thành các vùng sản xuất nông nghiệp tập trung. Nhiều dự án, công trình trọng điểm được hoàn thành, như Dự án mở rộng Cảng hàng không Điện Biên, tổ chức thành công các hoạt động kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ,… Du lịch khẳng định vai trò mũi nhọn, thu hút trên 5,5 triệu lượt khách du lịch, tạo động lực quan trọng cho phát triển kinh tế và tạo đà để Điện Biên bứt phá, vươn lên.
Các lĩnh vực văn hoá, xã hội, an sinh xã hội được quan tâm chăm lo; tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm mạnh, bình quân mỗi năm giảm khoảng 4% gắn với tạo việc làm, tạo sinh kế bền vững cho người dân; hoàn thành hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát cho khoảng 22.300 hộ nghèo. Bản sắc văn hóa các dân tộc được bảo tồn, phát huy gắn với phát triển du lịch.
Quốc phòng, an ninh, đối ngoại không ngừng được củng cố, tăng cường; chủ quyền biên giới quốc gia được giữ vững; các vấn đề phát sinh được giải quyết kịp thời, từ sớm, từ xa, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống, không để phát sinh "điểm nóng", tạo môi trường hòa bình, ổn định để tỉnh phát triển kinh tế, thu hút đầu tư và tăng cường mở rộng hợp tác quốc tế.
Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị được quan tâm, có nhiều đổi mới. Phương thức lãnh đạo chuyển đổi mạnh mẽ theo hướng cụ thể, rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm. Tỉnh đã thực hiện sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, xây dựng chính quyền địa phương 2 cấp hoạt động thông suốt, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, tạo được niềm tin và sự đồng thuận trong Nhân dân.
Những kết quả này là tiền đề quan trọng để Điện Biên tiếp tục vươn lên phát triển xanh, thông minh, bền vững trong giai đoạn tới.
Để đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số trong giai đoạn 2025 - 2030, tỉnh Điện Biên xác định những đột phá trọng tâm nào, thưa đồng chí?
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Điện Biên lần thứ XV nhiệm kỳ 2025 - 2030 đề ra mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 10 - 11%/năm. Đây là mục tiêu thể hiện quyết tâm chính trị cao của Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân các dân tộc tỉnh nhằm đưa Điện Biên phát triển "xanh - thông minh - bền vững", trở thành tỉnh phát triển khá trong khu vực. Để hiện thực mục tiêu đó, ngay sau Đại hội, Tỉnh ủy đã triển khai đồng bộ các giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh; tập trung tạo đột phá 3 nhóm sau:
Trước hết, Điện Biên xác định đột phá về hoàn thiện cơ chế, chính sách và nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh là yếu tố then chốt, quyết định. Tỉnh tập trung hoàn thiện, ban hành các cơ chế, chính sách phù hợp với thực tiễn, tạo môi trường đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh như: Xây dựng các chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế tư nhân, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, chính sách hỗ trợ du lịch thông minh gắn với phát huy bản sắc văn hóa... và coi đó là những nhiệm vụ xuyên suốt, là "chìa khóa mở cửa" cho các nguồn lực xã hội tham gia phát triển. Đồng thời, đẩy mạnh cải cách hành chính, xác định một số nhóm dự án trọng điểm cần thu hút đầu tư thực hiện theo "luồng xanh", cắt giảm từ 70 - 90% thời gian thực hiện thủ tục hành chính và tạo điều kiện tối đa, thuận lợi nhất cho doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Thứ hai, đột phá về phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội, tập trung hạ đầu tư hạ tầng giao thông chiến lược và kết nối không gian phát triển để tháo gỡ những điểm nghẽn của một tỉnh miền núi, biên giới. Tỉnh ưu tiên huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực để đầu tư hạ tầng giao thông; đặc biệt là tuyến cao tốc Sơn La - Điện Biên - Cửa khẩu quốc tế Tây Trang, tuyến kết nối đến cửa khẩu A Pa Chải - Long Phú, mở ra hướng phát triển mới với tỉnh Vân Nam, Trung Quốc... Phát triển đồng bộ hạ tầng điện, viễn thông và hạ tầng du lịch. Qua đó, từng bước giảm chi phí logistics, mở rộng không gian phát triển, tạo điều kiện thu hút đầu tư và lưu thông hàng hóa, dịch vụ.
Thứ ba, Điện Biên xác định đẩy mạnh phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn với nhiều loại hình; đổi mới các sản phẩm du lịch hiện có theo hướng phát huy giá trị độc bản, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh, phát triển các sản phẩm du lịch chủ đạo dựa trên ba trụ cột (lịch sử - tâm linh; bản sắc văn hóa 19 đồng bào dân tộc anh em - khám phá thiên nhiên và nghỉ dưỡng, giải trí, chăm sóc sức khỏe, du lịch cộng đồng). Cùng với việc đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, tỉnh đẩy mạnh thu hút đầu tư, tập trung phát triển Khu du lịch quốc gia Điện Biên Phủ - Pá Khoang, tạo điểm nhấn và sức hút cho du lịch Điện Biên; tăng cường gắn kết du lịch với văn hóa, thể thao, ẩm thực và sản xuất nông nghiệp.
Bên cạnh đó, tỉnh đặc biệt coi trọng đột phá về phát triển nguồn nhân lực, phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đây được xác định là giải pháp lâu dài, then chốt để nâng cao năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế. Điện Biên xác định tập trung cho đào tạo và thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao; đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, ứng dụng AI trong quản lý nhà nước, cung cấp dịch vụ công và trong sản xuất, kinh doanh; từng bước phát triển kinh tế số, tạo dư địa tăng trưởng mới trong giai đoạn tới.
Thưa đồng chí, Điện Biên cần làm thế nào để kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân với củng cố quốc phòng – an ninh, bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới quốc gia?
Điện Biên là tỉnh có vị trí chiến lược về quốc phòng, an ninh; là vùng đất "phên dậu" nơi biên cương của Tổ quốc, với đường biên giới dài hơn 455 km, tiếp giáp với 2 nước bạn Lào và Trung Quốc.
Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã xác định quan điểm phát triển đất nước trong giai đoạn mới là "phát triển để ổn định và ổn định để phát triển nhanh, bền vững đất nước".
Muốn củng cố và phát huy hơn nữa khối đại đoàn kết toàn dân tộc thì phải làm cho nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, bà con nhân dân yên tâm ở khu vực biên giới lao động, sản xuất cùng các lực lượng bảo vệ chủ quyền, giữ rừng, bảo vệ an ninh nguồn nước.
Đặc biệt, trong chuyến thăm và làm việc tại tỉnh tháng 7/2025, Đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ đạo Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân các dân tộc tỉnh Điện Biên: "Tinh thần Điện Biên Phủ cần tiếp tục được thắp lên trong thời bình như một mệnh lệnh phát triển", với tinh thần đó, tỉnh Điện Biên đang nỗ lực hành động, ra sức thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội: Thu hút đầu tư, khơi thông mọi nguồn lực; hoàn thiện kết cấu hạ tầng giao thông, thủy lợi; tập trung các giải pháp nhằm hiện thực hoá các mục tiêu xóa bản chưa có điện lưới, xây dựng các trường phổ thông nội trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở tại các xã biên giới, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đưa Điện Biên trở thành tỉnh không ma túy vào năm 2030; đẩy mạnh cơ cấu lại ngành nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới để giảm nghèo đa chiều, đảm bảo sinh kế bền vững, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho Nhân dân, để Nhân dân yên tâm lao động, sản xuất; củng cố thế trận quốc phòng toàn dân, gắn với thế trận an ninh nhân dân, bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới quốc gia.
Cùng với đó, tăng cường mở rộng hợp tác với các tỉnh có chung đường biên giới nước bạn Lào và Trung Quốc, thúc đẩy giao lưu nhân dân, xây dựng đường biên giới hoà bình, hợp tác, phát triển.
-
Tạo thống nhất nhận thức, quyết tâm và hành động thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV
Đồng chí Phạm Tất Thắng, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương nắm tình hình nhân dân và dư luận xã hội về đại hội đảng bộ các cấp; tổ chức lấy ý kiến, tổng hợp ý kiến góp ý của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào dự thảo các văn kiện Đại hội XIV của Đảng, trao đổi với phóng viên Báo Nhân Dân, đã làm rõ những kết quả nổi bật, điểm mới trong công tác này.
Thưa đồng chí, công tác lấy ý kiến của nhân dân đối với dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng được triển khai với tinh thần và yêu cầu như thế nào nhằm bảo đảm phát huy trí tuệ tập thể, phản ánh sát thực tiễn và nguyện vọng của nhân dân?
Các văn kiện trình Đại hội XIV không chỉ tổng kết chặng đường phát triển 5 năm qua, xác định phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu trong nhiệm kỳ tới mà còn định hình tư duy chiến lược, tầm nhìn và định hướng phát triển đất nước đến giữa thế kỷ XXI. Đặt trong yêu cầu đó, công tác lấy ý kiến và tiếp thu góp ý của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân là nhiệm vụ chính trị hệ trọng được Bộ Chính trị đặc biệt quan tâm, chỉ đạo sát sao.
Bám sát các chỉ thị, kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương đã thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương và Tổ Công tác nắm tình hình nhân dân và dư luận xã hội về đại hội đảng bộ các cấp; tổ chức lấy ý kiến, tổng hợp ý kiến góp ý của cán bộ, đảng viên và Nhân dân vào dự thảo các văn kiện Đại hội XIV của Đảng (Ban Chỉ đạo); đồng thời, ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc nhằm tiến hành hiệu quả, lan tỏa sâu rộng tinh thần dân chủ, phát huy trí tuệ, tâm huyết của cán bộ, đảng viên và nhân dân góp ý vào dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng.
Công tác lấy ý kiến của nhân dân đối với dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng được triển khai với tinh thần phát huy dân chủ, tôn trọng ý kiến của nhân dân, huy động trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân bảo đảm các văn kiện phản ánh đúng nguyện vọng, mong muốn, đề xuất của nhân dân. Yêu cầu xuyên suốt đợt lấy ý kiến là phải phản ánh đầy đủ, khách quan những trăn trở, kỳ vọng, tâm huyết của nhân dân về định hướng phát triển đất nước.
Trong quá trình thực hiện, Ban Chỉ đạo đã triển khai việc lấy ý kiến tới tất cả các cơ quan, tổ chức, địa phương; nhiều cách làm mới, sáng tạo nhằm mở rộng diện tiếp cận, huy động trí tuệ, tâm huyết của các tầng lớp nhân dân trong và ngoài nước tham gia góp ý vào dự thảo các văn kiện. Nổi bật là việc Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương triển khai lấy ý kiến góp ý vào dự thảo các văn kiện thông qua hệ thống trực tuyến trên phạm vi toàn quốc. Nhằm thu hút sự quan tâm và nhiệt tình tham gia góp ý của thế hệ trẻ, Ban đã phối hợp các tổ chức, đơn vị triển khai lấy ý kiến góp ý của nhân dân qua việc cung cấp mã QR, đường link tại các cảng hàng không Nội Bài, Tân Sơn Nhất, Đà Nẵng, Phú Bài, Cam Ranh và tại 1.200 địa điểm thuộc hệ thống cafe Highlands trên cả nước. Báo Nhân Dân phối hợp Tổng công ty Bưu điện Việt Nam đã triển khai chương trình đưa dự thảo các văn kiện đến 7.461 điểm Bưu điện Văn hóa xã.
Bên cạnh đó, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương mà trực tiếp là Ban Chỉ đạo đã phát huy những kinh nghiệm, cách làm hay trong nhiều nhiệm kỳ qua nhằm tập hợp những ý kiến tâm huyết về dự thảo văn kiện trình Đại hội XIV từ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài thông qua đầu mối là đại sứ quán, cơ quan đại diện, chi hội và tổ chức đoàn thể, bằng nhiều hình thức như hội thảo trực tuyến, tọa đàm, phiên đóng góp tại sứ quán, mạng xã hội và qua email. Nhờ thực hiện đồng bộ những cách làm này, nhiều ý kiến tâm huyết, trách nhiệm của kiều bào đã được gửi về, thể hiện sự gắn bó sâu sắc với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.
Theo đồng chí, công tác tiếp thu ý kiến đóng góp lần này có những điểm nhấn nào thể hiện rõ tinh thần phát huy dân chủ, trí tuệ toàn Đảng, toàn dân so với các kỳ Đại hội trước?
So với các nhiệm kỳ trước, đợt lấy ý kiến Nhân dân vào các Dự thảo Văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng thể hiện bước phát triển vượt bậc cả về hình thức, cách thức, số lượng và chất lượng. Nhờ đó đã có gần 5 triệu cán bộ, đảng viên và nhân dân đóng góp gần 14 triệu lượt ý kiến tâm huyết, trách nhiệm cho các dự thảo văn kiện. Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV được chuẩn bị từ rất sớm, với quá trình xây dựng công phu, bài bản và liên tục được cập nhật trong gần hai năm cuối nhiệm kỳ. Tiểu ban Văn kiện đã huy động, tập hợp hàng nghìn nhà khoa học, chuyên gia đến từ các trường đại học, viện nghiên cứu, các đoàn thể nhân dân, tổ chức nhiều cuộc hội thảo, tọa đàm, trao đổi ý kiến về từng vấn đề. Đây là cơ sở quan trọng để chúng ta thu về kinh nghiệm, bài học, từ đó triển khai hiệu quả công tác lấy ý kiến rộng rãi và tiếp thu góp ý của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân với dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV trong thời gian qua.
Việc tiếp thu ý kiến của cán bộ, đảng viên và Nhân dân được thực hiện nghiêm túc trên tinh thần lắng nghe và cầu thị. Nhất là khi, chúng ta đã tiếp nhận một khối lượng ý kiến rất lớn, nhiều ý kiến trí tuệ, sắc sảo, thể hiện người dân thật sự quan tâm, có trách nhiệm đối với công việc hệ trọng của Đảng, của đất nước. Điểm nhấn nổi bật là tinh thần cầu thị, lắng nghe và tôn trọng ý kiến nhân dân được đặt ở vị trí trung tâm (các ý kiến dù thống nhất hay còn khác nhau đều được tôn trọng tiếp nhận, phân tích thấu đáo trên tinh thần khoa học, khách quan và trách nhiệm cao với lợi ích quốc gia, dân tộc). Phương thức tiếp thu được tổ chức bài bản, chặt chẽ, khoa học. Điểm nhấn đáng chú ý là yêu cầu gắn chặt việc tiếp thu với tính khả thi và hiệu quả tổ chức thực hiện.
Điểm mới của công tác này so với các kỳ Đại hội trước là chúng ta có sự hỗ trợ của công nghệ và quan trọng hơn là cách phân loại, chọn lọc ý kiến bài bản, khoa học. Theo đó, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương đã sớm nghiên cứu, ban hành Hướng dẫn số 18-HD/BTGDVTW-BCĐ ngày 3/7/2025 về tổ chức lấy ý kiến, tổng hợp ý kiến đóng góp của cán bộ, đảng viên và Nhân dân đối với dự thảo các văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Nhấn mạnh việc ý kiến góp ý của cán bộ, đảng viên và nhân dân phải được tổng hợp đầy đủ, chính xác, khách quan, Ban Chỉ đạo đã ban hành mẫu báo cáo tổng hợp góp ý với bố cục, mục, chi tiết; đính kèm phụ lục nội dung thảo luận, góp ý và phụ lục các ý kiến đóng góp cụ thể. Ngoài ra, Ban Chỉ đạo đã phân công Vụ Nghiên cứu-Dư luận xã hội làm đầu mối sẵn sàng tư vấn, hỗ trợ thông tin bằng hình thức gọi điện, tin nhắn qua điện thoại, thư điện tử.
Nhờ cách làm đồng bộ, khoa học, nhiều ý kiến chất lượng về dự thảo Báo cáo chính trị, đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII, cơ đồ đất nước sau 40 năm đổi mới cũng như 13 định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2026-2030 đã được nghiêm túc tiếp thu, báo cáo Bộ Chính trị và chuyển tới Tiểu ban Văn kiện để nghiên cứu, chọn lọc, hoàn thiện. Tất cả các ý kiến góp ý được tập hợp đầy đủ, phân loại khoa học, tổng hợp khách quan, theo từng văn kiện, từng nhóm vấn đề lớn; đồng thời được báo cáo kịp thời để Tiểu ban Văn kiện nghiên cứu, tiếp thu với tinh thần: ý kiến nào xác đáng, có cơ sở lý luận, thực tiễn, phù hợp lợi ích quốc gia - dân tộc thì được tiếp thu tối đa; những nội dung còn khác nhau đều được phân tích, làm rõ, giải trình nghiêm túc. Quá trình tiếp thu không chỉ dừng lại ở việc chỉnh sửa câu chữ, mà còn góp phần làm rõ hơn tư duy phát triển, hoàn thiện nội dung, nâng tầm khát vọng và tầm nhìn chiến lược của các văn kiện. Chính quá trình này đã giúp các văn kiện gần dân hơn, sát thực tiễn hơn, dễ triển khai hơn.
Có thể khẳng định, việc lấy ý kiến và tiếp thu ý kiến góp ý lần này đã thực sự phát huy dân chủ, huy động trí tuệ toàn dân; các văn kiện trình Đại hội XIV là kết quả của sự hội tụ ý chí, nguyện vọng và niềm tin của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; là bước phát triển mới cả về tầm tư duy lý luận, tầm vóc chính trị và giá trị thực tiễn, là kim chỉ nam, nền tảng vững chắc cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.
-
Thủ đô Hà Nội với sứ mệnh tiên phong, sẵn sàng hiện thực hóa tầm nhìn Đại hội XIV của Đảng
Nhân dịp Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng khai mạc tại Thủ đô Hà Nội, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Duy Ngọc đã trả lời phỏng vấn Báo Hànộimới về những thành tựu nổi bật của Hà Nội trong nhiệm kỳ qua, đồng thời khẳng định trách nhiệm chính trị tiên phong của Thủ đô trong việc quán triệt và cụ thể hóa tầm nhìn, định hướng chiến lược của Trung ương.
Thưa đồng chí Bí thư Thành ủy Hà Nội! Nhìn lại nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng và 40 năm đổi mới, đồng chí đánh giá như thế nào về những đóng góp nổi bật của Thủ đô Hà Nội đối với thành tựu chung của đất nước?
Nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng và chặng đường 40 năm đổi mới đã tạo nên bước phát triển quan trọng, toàn diện, đột phá của đất nước, khẳng định bản lĩnh, trí tuệ và khát vọng vươn lên của dân tộc ta. Với vị thế là Thủ đô, trái tim của cả nước, Thủ đô Hà Nội luôn nhận thức sâu sắc trách nhiệm tiên phong, gương mẫu trong triển khai các chủ trương, nghị quyết của Trung ương, nhất là các quyết sách chiến lược của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và đồng chí Tổng Bí thư, tạo động lực lan tỏa cho cả nước.
Phát huy tiềm năng, thế mạnh, với truyền thống đoàn kết, bản lĩnh, sáng tạo, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Thủ đô đã nỗ lực vượt qua mọi khó khăn, thử thách, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XVII Đảng bộ thành phố nhiệm kỳ 2020 - 2025.
Đặc biệt, năm 2025 đánh dấu một bước tiến mang tính đột phá. Hà Nội đi đầu trong sắp xếp tổ chức bộ máy, thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; sắp xếp 526 phường, xã, thị trấn thành 126 phường, xã. Bộ máy hệ thống chính trị theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp của thành phố đi vào hoạt động, từng bước tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đi đầu trong phân cấp, phân quyền, cải cách hành chính và chuyển đổi số; tạo bước chuyển mới trong tư duy và hành động kiến tạo phát triển, nâng cao chất lượng, hiệu quả phục vụ người dân và doanh nghiệp.
Trong bối cảnh thực hiện cùng lúc nhiều nhiệm vụ mới, chưa có tiền lệ, thành phố đã duy trì thông suốt mọi công việc, hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ, chỉ tiêu phát triển quan trọng, bảo đảm 3 trụ cột: Tăng trưởng kinh tế cao, giữ vững an ninh - quốc phòng, bảo đảm an sinh xã hội. Nổi bật, lần đầu tiên sau nhiều năm, Hà Nội hoàn thành và hoàn thành vượt toàn bộ 24/24 chỉ tiêu phát triển chủ yếu; trong đó, tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) đạt 8,16%, vượt mục tiêu đề ra (8%) và cao hơn nhiều so với năm 2024 (6,52%). Quy mô kinh tế đạt khoảng 63,5 tỷ USD. Thu nhập bình quân đầu người đạt 7.200 USD. Tổng thu ngân sách nhà nước thực hiện 711 nghìn tỷ đồng, đạt 138,4% dự toán, cao nhất trong nhiều năm gần đây. Giải ngân vốn đầu tư công đạt gần 90 nghìn tỷ đồng, đạt 106,8% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao...
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng diễn ra tại Thủ đô Hà Nội, được coi là dấu mốc mở ra kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Đồng chí có thể cho biết, thành phố Hà Nội đã chuẩn bị tâm thế như thế nào để xứng đáng là nơi khởi đầu cho hành trình lịch sử này?
Những ngày này, Hà Nội đang sống trong một không khí chính trị hết sức đặc biệt, khi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân hướng về Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng - sự kiện có ý nghĩa lịch sử trọng đại, định hình tầm nhìn chiến lược và cương lĩnh hành động cho giai đoạn phát triển mới của đất nước. Đối với Thủ đô Hà Nội, đây không chỉ là vinh dự được chọn là nơi tổ chức sự kiện, mà còn là trách nhiệm chính trị cao nhất trước toàn Đảng, toàn dân.
Chúng tôi nhận thức sâu sắc rằng, sau 40 năm đổi mới, đất nước ta đã tích lũy đủ thế và lực để bước vào một giai đoạn phát triển mới - kỷ nguyên vươn mình mạnh mẽ. Với vị thế là “trái tim” của cả nước, Hà Nội phải là nơi hội tụ rõ nét nhất, sớm nhất tinh thần, tầm nhìn và yêu cầu đổi mới mà Đại hội XIV của Đảng xác lập. Tâm thế chung của toàn hệ thống chính trị và nhân dân Thủ đô được gói gọn trong hai từ: Sẵn sàng và Tiên phong. “Sẵn sàng” về mọi mặt để tham gia phục vụ tổ chức Đại hội an toàn, chu đáo, trang trọng; đồng thời “Tiên phong” trong việc cụ thể hóa, đưa các quyết sách của Đại hội vào cuộc sống một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất.
Ngay từ những tuần đầu, tháng đầu của năm 2026, thành phố đã chủ động triển khai quyết liệt các nhiệm vụ chính trị; chủ động cụ thể hóa các tư tưởng chỉ đạo của Trung ương vào chương trình hành động của thành phố. Quán triệt tinh thần chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm “Hà Nội đã nói là làm - làm nhanh, làm đúng, làm hiệu quả, làm đến cùng”, tập thể Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố và toàn bộ hệ thống chính trị Thủ đô khẳng định quyết tâm chính trị cao độ, phát huy tinh thần chủ động, tiên phong, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, đi đầu trong việc hiện thực hóa tầm nhìn chiến lược của Đảng, biến khát vọng hùng cường của dân tộc thành những kết quả thực tế để nhân dân Thủ đô và cả nước có thể nhìn thấy, cảm nhận và thụ hưởng.
Tại Hội nghị lần thứ tư vừa qua, Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Hà Nội đã tập trung thảo luận về “bộ ba” Thể chế - Quy hoạch với tầm nhìn 100 năm - Mô hình phát triển. Đây có phải là sự chuẩn bị bài bản để Hà Nội tiên phong trong kỷ nguyên mới, thưa đồng chí?
Đúng như vậy. Để Hà Nội thực sự vươn mình trong kỷ nguyên mới, cùng với các nhiệm vụ chính trị quan trọng, Đảng bộ thành phố đã thống nhất nhận diện và đặt trọng tâm vào 3 nội dung có ý nghĩa chiến lược, mang tầm vóc lịch sử lâu dài là: Đề xuất Nghị quyết mới thay thế Nghị quyết số 15-NQ/TƯ ngày 5-5-2022 của Bộ Chính trị về “Phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thủ đô đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”; sửa đổi Luật Thủ đô và xây dựng Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm. Đây chính là “kiềng ba chân” vừa tạo lập nền tảng thể chế đồng bộ, vừa mở ra không gian phát triển mới đồng thời định hình mô hình tăng trưởng hiện đại, qua đó tạo động lực và dư địa cho sự bứt phá phát triển của Thủ đô trong thời gian tới.
Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm không chỉ thiết kế không gian phát triển đô thị và nông thôn, mà quan trọng hơn là định hình tầm vóc, bản sắc, cấu trúc kinh tế - xã hội của Thủ đô trong dài hạn, đặt Hà Nội trong mối liên kết chặt chẽ với vùng Thủ đô, với cả nước và quốc tế. Trên nền tảng đó, thể chế mà trọng tâm là Nghị quyết của Bộ Chính trị và Luật Thủ đô - đóng vai trò nền tảng chính trị, trụ cột pháp lý nhằm tháo gỡ căn cơ những điểm nghẽn về cơ chế, chính sách, đồng thời kiến tạo những khuôn khổ và công cụ vượt trội, đủ mạnh để hiện thực hóa tầm nhìn quy hoạch, chuyển hóa định hướng chiến lược thành động lực phát triển cụ thể, bền vững và có sức lan tỏa lâu dài.
Trên nền tảng đó, mô hình phát triển được định hướng chuyển mạnh từ tăng trưởng dựa trên khai thác tài nguyên, đầu tư theo chiều rộng sang tăng trưởng dựa vào khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nguồn nhân lực chất lượng cao làm động lực trung tâm. Với phương châm “Hành động đột phá, lan tỏa kết quả”, thành phố đang xây dựng các kịch bản để phấn đấu mức tăng trưởng hai con số (từ 11% trở lên trong năm 2026) và duy trì ổn định liên tục trong nhiều năm, với nhu cầu huy động nguồn vốn đầu tư xã hội rất lớn (dự kiến khoảng 730 nghìn tỷ đồng chỉ riêng trong năm 2026). Để làm được điều này, thành phố đang đẩy mạnh các dự án hạ tầng số, khu đô thị thông minh, hệ thống đường sắt đô thị và các mô hình kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế tuần hoàn, đồng thời ban hành Kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TƯ ngày 22-12-2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trên địa bàn thành phố Hà Nội năm 2026. Đây chính là sự chuẩn bị bài bản để Hà Nội không chỉ phát triển cho riêng mình, mà còn làm tròn vai trò đầu tàu, dẫn dắt vùng Thủ đô và cả nước tiến mạnh trong kỷ nguyên mới.
Để biến những định hướng chiến lược đó thành hiện thực, yếu tố con người - đội ngũ cán bộ và sự đồng lòng của nhân dân - có ý nghĩa quyết định như thế nào, thưa đồng chí?
Mọi quy hoạch dài hạn hay cơ chế đặc thù, dù được xây dựng công phu đến đâu, cũng sẽ chỉ dừng lại trên giấy nếu thiếu một đội ngũ cán bộ đủ tâm, đủ tầm và sự ủng hộ, đồng hành của nhân dân. Thủ đô Hà Nội nhất quán quan điểm coi công tác cán bộ là “then chốt của then chốt”, phải xây dựng được đội ngũ vừa vững vàng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, vừa tinh thông chuyên môn, có năng lực đổi mới, sáng tạo và bản lĩnh dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập sâu rộng.
Thực tiễn năm 2025 đã minh chứng sinh động, có những nhiệm vụ rất mới, rất khó, thậm chí ban đầu còn không ít băn khoăn, hoài nghi về khả năng thực hiện, nhưng khi toàn Đảng bộ thành phố thể hiện rõ bản lĩnh, quyết tâm chính trị cao, cả hệ thống chính trị đồng lòng vào cuộc, nhân dân tin tưởng, chung sức, Thủ đô Hà Nội đã đạt được những kết quả vượt kỳ vọng. Những con số ấy không chỉ phản ánh sự phát triển về kinh tế, mà sâu xa hơn, là minh chứng sinh động cho sức mạnh của khối đại đoàn kết, sự thống nhất ý chí và hành động trong toàn xã hội.
Bước vào năm 2026 - năm đầu tiên triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Thủ đô Hà Nội xác định rõ phương châm hành động: “Kỷ cương, chuyên nghiệp - Đột phá, sáng tạo - Hiệu quả, bền vững”; yêu cầu từng cấp, từng ngành vận hành đồng bộ theo “4 trục”: Đảng - HĐND - UBND - Mặt trận Tổ quốc và tổ chức chính trị - xã hội, nhất là trong giải quyết những việc khó, gắn với phân công nhiệm vụ theo tinh thần “6 rõ, 1 xuyên suốt", được giám sát, kiểm đếm thường xuyên, bảo đảm thực chất, tạo động lực thi đua.
Với ý chí, quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị và sự đồng thuận, chung sức của nhân dân, tôi tin tưởng vững chắc rằng, Thủ đô Hà Nội sẽ từng bước hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Thủ đô “Văn hiến - Văn minh - Hiện đại - Hạnh phúc”; phát triển bền vững, toàn diện, trở thành thành phố đáng sống, kết nối toàn cầu, xứng đáng là trung tâm, đầu tàu của cả nước, đáp ứng kỳ vọng của Trung ương và niềm tin của nhân dân cả nước.
-
Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng: Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo nâng tầm vị thế Việt Nam trong kỷ nguyên mới
Thưa Bộ trưởng, nhìn lại nhiệm kỳ 2021-2025, ông đánh giá những chuyển biến nào đã đi vào thực chất, tạo nền tảng nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế?
Tôi cho rằng kết quả nổi bật nhất của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thời gian qua không nằm ở thành tựu đơn lẻ, mà là một bước chuyển về nhận thức, tư duy và cách làm. Chúng ta đã đặt nền móng cho một hệ quy chiếu phát triển mới, trong đó khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được định hướng theo kết quả đầu ra, lấy hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội làm tiêu chí trung tâm. Toàn bộ chuỗi nghiên cứu - ứng dụng - thương mại hóa được đặt trong logic giải quyết bài toán phát triển, thay vì vận hành rời rạc.
Những chuyển biến đã đi vào thực chất, thể hiện rõ nhất ở ba phương diện.
Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Mạnh Hùng giới thiệu với Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn về các sản phẩm do Việt Nam phát triển tại Triển lãm “80 năm hành trình độc lập - tự do - hạnh phúc”.Thứ nhất là thể chế kiến tạo, tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn để khoa học, công nghệ đi nhanh vào đời sống và sản xuất, kinh doanh. Riêng năm cuối nhiệm kỳ (2025), khối lượng công việc xây dựng luật rất lớn và tạo dấu ấn rõ nét. Bộ Khoa học và Công nghệ đã chủ trì, phối hợp xây dựng, sửa đổi, trình Quốc hội ban hành 10 luật, 1 nghị quyết; ở cấp Chính phủ và Thủ tướng có 23 nghị định, 1 nghị quyết và 5 quyết định do Bộ chủ trì soạn thảo đã được ký ban hành. Hệ thống chính sách này thể hiện quyết tâm "mở khóa" điểm nghẽn thể chế, một trong những rào cản lớn nhất đối với phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong nhiều năm. khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong nhiều năm.
Thứ hai là hạ tầng số và năng lực quản trị số được nâng lên rõ rệt và được quốc tế ghi nhận. Theo đánh giá của Liên Hợp Quốc, Việt Nam đã tăng 15 bậc trong Chỉ số Phát triển Chính phủ điện tử năm 2024, xếp thứ 71 trên 193 quốc gia. Về viễn thông, tốc độ Internet Việt Nam thăng hạng mạnh mẽ thuộc nhóm nước dẫn đầu khu vực và top 10-15 theo đánh giá quốc tế; độ phủ 4G đạt trên 99,8%, 5G hơn 91% dân số, 100% xã, phường có hạ tầng băng rộng cáp quang, độ phủ cáp quang đến từng hộ gia đình đạt 87,6%; tỷ lệ người dùng điện thoại thông minh ước đạt trên 85%. Những con số này cho thấy Việt Nam đã chuyển từ "số hóa" sang “vận hành dựa trên dữ liệu”, với hạ tầng số trở thành nền tảng nâng cao hiệu lực quản trị và giảm chi phí cho người dân, doanh nghiệp.
Thứ ba là năng lực đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái khởi nghiệp, góp phần nâng vị thế cạnh tranh quốc gia. Chỉ số đổi mới sáng tạo của Việt Nam xếp thứ 44 toàn cầu, đồng thời được ghi nhận là một trong 9 quốc gia có thu nhập trung bình cải thiện thứ hạng nhanh nhất thập kỷ qua.
Theo tôi, điều đáng giá nhất của giai đoạn 2021-2025 không chỉ là những con số, mà là đà chuyển đổi đã được hình thành: đổi mới sáng tạo đi vào hoạt động của doanh nghiệp; chuyển đổi số đi vào vận hành của nền kinh tế; và quản trị theo kết quả từng bước trở thành chuẩn mực.
Thành tựu khoa học, công nghệ thường khó nhìn thấy ngay trong đời sống. Dưới góc nhìn của Bộ trưởng, trong 5 năm qua, người dân và doanh nghiệp đang hưởng lợi rõ nhất ở thay đổi cụ thể nào, từ thủ tục hành chính, dịch vụ công đến năng lực sản xuất và chất lượng sản phẩm?
Theo tôi có ba nhóm thay đổi cụ thể nhất. Đầu tiên là sự thay đổi trong cách Nhà nước phục vụ người dân và doanh nghiệp. Thủ tục hành chính và dịch vụ công thuận tiện, minh bạch hơn nhờ chuyển đổi số. Giấy tờ giảm, đi lại giảm, thời gian chờ đợi giảm. Đến năm 2025, tỷ lệ hồ sơ trực tuyến toàn trình trên tổng số hồ sơ của các dịch vụ công trực tuyến toàn trình đạt gần 78%; tỷ lệ dịch vụ công có phát sinh hồ sơ trực tuyến đạt gần 84%. Những con số này cho thấy việc giải quyết thủ tục đang dịch chuyển mạnh từ "xếp hàng - chờ đợi" sang môi trường số.
Theo tôi có ba nhóm thay đổi cụ thể nhất. Đầu tiên là sự thay đổi trong cách Nhà nước phục vụ người dân và doanh nghiệp. Thủ tục hành chính và dịch vụ công thuận tiện, minh bạch hơn nhờ chuyển đổi số. Giấy tờ giảm, đi lại giảm, thời gian chờ đợi giảm. Đến năm 2025, tỷ lệ hồ sơ trực tuyến toàn trình trên tổng số hồ sơ của các dịch vụ công trực tuyến toàn trình đạt gần 78%; tỷ lệ dịch vụ công có phát sinh hồ sơ trực tuyến đạt gần 84%. Những con số này cho thấy việc giải quyết thủ tục đang dịch chuyển mạnh từ "xếp hàng - chờ đợi" sang môi trường số.
Năng lực và năng suất của doanh nghiệp cũng được cải thiện rõ rệt, đi vào chiều sâu nhờ ứng dụng công nghệ và đổi mới quy trình. Tự động hóa, quản trị số và khai thác dữ liệu giúp doanh nghiệp tối ưu vận hành, rút ngắn thời gian sản xuất, giảm lỗi, tiết kiệm vật tư và năng lượng, nâng hiệu quả quản trị chuỗi cung ứng.
Ở góc độ người dân, khi chuyển đổi số diễn ra toàn diện, không gian số trở thành không gian sống mới, nơi các dịch vụ thiết yếu trong giáo dục, y tế, tài chính, thương mại… được cung cấp nhanh chóng, cá nhân hóa, bảo đảm ai cũng có thể tham gia và hưởng lợi từ môi trường số.
Robot phòng cháy chữa cháy trình diễn tại Diễn đàn Quốc gia phát triển doanh nghiệp Công nghệ Việt Nam.Người dân hưởng lợi ở sự thuận tiện, doanh nghiệp hưởng lợi ở năng suất và chất lượng, Nhà nước hưởng lợi ở năng lực quản trị. Đó chính là thước đo thực chất nhất của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong đời sống.
Bộ trưởng từng nhấn mạnh điểm khác biệt lớn của Nghị quyết 57 là quản lý theo kết quả đầu ra. Ông có thể nêu các mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể để minh chứng cho điều này?
Trước đây, chúng ta quản lý khoa học theo tư duy hành chính: kiểm soát chặt đầu vào, chặt đến từng chứng từ, hóa đơn, trong khi yêu cầu và đánh giá đầu ra lại chưa đủ rõ, chưa đủ mạnh. Hệ quả là không gian sáng tạo bị thu hẹp, nhà khoa học dành nhiều thời gian cho thủ tục hơn là cho nghiên cứu. Nghị quyết 57 đã đặt lại trật tự ưu tiên: chuyển từ quản lý theo cách làm, theo quy trình sang quản lý theo mục tiêu và kết quả cuối cùng. Nghị quyết cũng nhấn mạnh cơ chế thí điểm, chấp nhận rủi ro có kiểm soát. Không chấp nhận rủi ro thì không thể có đổi mới sáng tạo.
Điều này được lượng hóa bằng những mục tiêu, chỉ tiêu "biết nói".
Thứ nhất là thước đo về chất lượng tăng trưởng, thông qua mục tiêu đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế đạt trên 55%. Đây là một chỉ dấu rất quan trọng, khẳng định tăng trưởng của Việt Nam trong giai đoạn tới phải dựa chủ yếu vào năng suất, khoa học, công nghệ và đổi mới quản trị, không thể tiếp tục dựa nhiều vào mở rộng vốn và lao động như trước.
Thứ hai là mục tiêu hình thành tối thiểu 5 doanh nghiệp công nghệ số ngang tầm các nước tiên tiến. Có nghĩa, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo không thể phát triển dàn trải, phải có trọng điểm, có những “đầu tàu” đủ mạnh để dẫn dắt hệ sinh thái, tạo lực kéo lan tỏa cho toàn nền kinh tế.
Thứ ba là đo lường kết quả nghiên cứu bằng khả năng đi vào thị trường. Nghị quyết đặt mục tiêu tỷ lệ khai thác thương mại các kết quả nghiên cứu, sáng chế đạt 8-10%. Điều này thể hiện sự chuyển dịch rất rõ: từ tư duy "nghiệm thu là kết thúc" sang coi nghiệm thu là một mốc kỹ thuật, còn giá trị thật nằm ở ứng dụng và thương mại hóa. Đầu ra của khoa học không phải là số trang báo cáo, mà là số công nghệ, sản phẩm "Make in Vietnam" được đưa vào vận hành, bán được trên thị trường, giải quyết được bài toán của đất nước.
Thứ tư là mục tiêu bố trí ít nhất 3% tổng chi ngân sách hằng năm cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, và tăng dần theo yêu cầu phát triển; Đồng thời chuyển dịch từ cơ chế kiểm soát chi tiết sang khoán chi theo kết quả; từ việc thu hồi kết quả nghiên cứu về cho nhà nước sang để lại quyền sở hữu cho tổ chức nghiên cứu để thương mại hóa; từ việc người nghiên cứu chỉ nhận thù lao cố định sang cơ chế phân chia lợi ích hợp lý khi thương mại hóa thành công.
Một nền khoa học chỉ thực sự có sức sống khi được nuôi dưỡng từ thị trường. Vì vậy, Nghị quyết đặt mục tiêu chi cho nghiên cứu và phát triển (RD) đạt 2% GDP, trong đó kinh phí từ xã hội chiếm trên 60%. Nhà nước đóng vai trò "vốn mồi". Khi doanh nghiệp bỏ tiền ra làm khoa học, họ sẽ đòi hỏi kết quả thật. Chính áp lực thị trường đó là cơ chế giám sát tự nhiên và hiệu quả nhất để hiện thực hóa tư duy quản lý theo kết quả đầu ra.
Năm 2025, Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì soạn thảo, sửa đổi, trình Quốc hội thông qua 10 luật về khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, được coi là bước quan trọng trong tháo gỡ điểm nghẽn thể chế. Xin Bộ trưởng cho biết các điểm nghẽn này đã được "mở khóa" thế nào cho hoạt động nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và thương mại hóa công nghệ, đặc biệt là với các doanh nghiệp?
Nói "điểm nghẽn thể chế" thực chất là nói đến những rào cản đã tồn tại nhiều năm: thủ tục nhiều, cách quản lý thiên về kiểm soát quy trình, không gian thử nghiệm hạn hẹp, quyền sở hữu và khai thác kết quả nghiên cứu chưa đủ tạo động lực, thị trường công nghệ chưa thành dòng chảy.
Vì vậy, việc Quốc hội thông qua 10 luật trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo không chỉ là thêm văn bản, mà là tạo ra một khuôn khổ mới, mở không gian phát triển mới cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trong đó có nhiều luật chúng ta đi đầu thế giới, như Luật Trí tuệ nhân tạo, Luật Chuyển đổi số.
Ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất góp phần nâng cao năng suất, giá trị sản phẩm. Ảnh: Trung HiếuViệc mở khóa thể chế lần này rõ nhất ở đổi mới tư duy quản lý khoa học và công nghệ. Lần đầu tiên, nhiều quy định được thiết kế theo hướng thừa nhận bản chất của hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo là có rủi ro, có thất bại, cần thử nghiệm; nhưng rủi ro phải được quản trị chứ không bị triệt tiêu bằng thủ tục.
Doanh nghiệp cũng được xác lập là trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Doanh nghiệp không chỉ là nơi nhận công nghệ, mà được mở đường để tham gia từ đầu: chủ trì nhiệm vụ, đặt hàng nghiên cứu, phối hợp với viện trường, và quan trọng là có cơ chế rõ ràng hơn về quyền sở hữu, quyền khai thác, quyền thương mại hóa kết quả nghiên cứu, kể cả kết quả hình thành từ ngân sách nhà nước theo nguyên tắc minh bạch. Khi doanh nghiệp có quyền và có lợi ích, họ mới dám bỏ tiền cho RD và kiên trì với đổi mới.
Thương mại hóa công nghệ được tháo khỏi những nút thắt kỹ thuật: thủ tục chuyển giao, định giá tài sản trí tuệ, góp vốn bằng sáng chế, bí quyết kỹ thuật, kết quả nghiên cứu… được đơn giản hóa theo hướng thông suốt hơn. Điều này rút ngắn con đường từ phòng thí nghiệm ra thị trường, biến tri thức thành sản phẩm, dịch vụ và giá trị gia tăng.
Điểm quan trọng tiếp theo là mở hành lang pháp lý cho công nghệ mới và mô hình mới thông qua cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox). Nhiều cái mới không thể xin phép theo luật cũ, nhưng cũng không thể thả nổi. Sandbox tạo ra một không gian chính sách để doanh nghiệp thử nghiệm hợp pháp, có giới hạn, có giám sát rủi ro, rồi từ đó mới mở rộng, từ đó thúc đẩy doanh nghiệp và startup đổi mới sáng tạo.
Cuối cùng là gắn nghiên cứu với thị trường và nhu cầu phát triển bằng cơ chế đặt hàng, hợp tác công - tư, liên kết Nhà nước - viện trường - doanh nghiệp. Khi bài toán xuất phát từ thực tiễn và có "người mua" rõ ràng, nghiên cứu sẽ đi vào ứng dụng nhanh hơn, và nguồn lực xã hội cũng được kéo vào mạnh hơn.
5 năm qua, Việt Nam cải thiện đáng kể trên bảng xếp hạng Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII). Ngoài nguồn ngân sách nhà nước, Bộ đã có giải pháp nào để khơi thông dòng vốn từ khu vực tư nhân, quỹ đầu tư mạo hiểm và nguồn lực quốc tế, qua đó hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành "hub" khởi nghiệp năng động của khu vực - như Bộ trưởng đề xuất tại Hội nghị Bộ trưởng Số ASEAN?
Đổi mới sáng tạo chỉ bền vững khi dòng vốn được khơi thông. Trong trường hợp này, vai trò của Nhà nước là tạo cơ chế và tạo lực kéo ban đầu.
Trước hết, chúng ta tập trung hoàn thiện hành lang pháp lý để dòng vốn tư nhân, vốn mạo hiểm và vốn quốc tế có thể chảy vào hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo một cách minh bạch và có kiểm soát. Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đã tạo cơ sở hình thành các quỹ đầu tư mạo hiểm quốc gia và quỹ đầu tư mạo hiểm của địa phương sử dụng ngân sách nhà nước.
Chúng ta coi kết nối hệ sinh thái là yếu tố quyết định. Bộ Khoa học và Công nghệ đã đẩy mạnh hợp tác với các trung tâm khởi nghiệp lớn trong khu vực và thế giới như Singapore, Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ…, đồng thời tổ chức và nâng tầm các hoạt động như Techfest, các diễn đàn đầu tư, đổi mới sáng tạo, tạo niềm tin cho nhà đầu tư quốc tế rằng Việt Nam là một thị trường nghiêm túc, có chính sách ổn định, có dòng dự án và có khả năng hấp thụ vốn.
Ngoài ra, việc xác định rõ các lĩnh vực ưu tiên chính là cách Nhà nước dẫn dắt dòng vốn hiệu quả nhất. Trên cơ sở đó, Việt Nam đã xác định 11 nhóm công nghệ chiến lược, tập trung vào những lĩnh vực đảm bảo tự chủ, tự cường đối với quốc gia, những lĩnh vực có nhu cầu lớn, có thị trường đủ rộng và có khả năng tạo lợi thế cạnh tranh dài hạn. Trong đó có các công nghệ nền tảng và mũi nhọn như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ số, công nghệ xanh, cùng các công nghệ phục vụ chuyển đổi năng lượng, y tế, nông nghiệp, quốc phòng - an ninh.
Khi Nhà nước xác định được các bài toán lớn và định hướng ưu tiên dài hạn, nhà đầu tư sẽ nhìn thấy đích đến, nhìn thấy lộ trình, từ đó sẵn sàng bỏ vốn dài hạn thay vì tìm kiếm lợi nhuận ngắn hạn. Dòng vốn chỉ thực sự chảy mạnh khi nó được dẫn dắt bởi tầm nhìn chiến lược rõ ràng và sự nhất quán trong chính sách.
Tôi vẫn cho rằng, để trở thành một "hub" khởi nghiệp năng động của khu vực, Việt Nam không cần cạnh tranh bằng ưu đãi ngắn hạn, mà bằng chất lượng hệ sinh thái: thể chế minh bạch, thị trường đủ lớn, nguồn nhân lực tốt và khả năng kết nối khu vực - toàn cầu. Khi những điều kiện đó hội tụ, dòng vốn sẽ tự tìm đến.
Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh mô hình tăng trưởng mới, mục tiêu tăng trưởng hai con số và yêu cầu phát triển bền vững. Theo Bộ trưởng, để hiện thực hóa mục tiêu trên, đâu là các giải pháp chiến lược để khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo chuyển đổi thành năng suất, chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh cụ thể?
Mô hình tăng trưởng mới mà Đại hội XIV nhấn mạnh đặt khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo vào vị trí trung tâm của tăng trưởng kinh tế - xã hội, chuyển từ vai trò chuyên ngành sang động lực xuyên suốt của phát triển đất nước. Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số và bền vững thì khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo cần chuyển các mục tiêu vĩ mô thành năng suất, chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh thông qua các nhóm giải pháp chiến lược.
Trước hết là hoàn thiện thể chế. Thể chế phải đi trước để mở đường cho sáng tạo. Cần xây dựng khung pháp lý cho các lĩnh vực được xác định then chốt, đồng thời triển khai cơ chế thử nghiệm có kiểm soát. Cách làm luật cũng sẽ thay đổi: khoa học và công nghệ phát triển rất nhanh, luật không thể chờ 5-10 năm mới sửa đổi, mà trong trường hợp cần thiết sẽ phải điều chỉnh hàng năm, mỗi năm sửa 1-2 nội dung trọng yếu.
Thứ hai là làm chủ các công nghệ chiến lược và ngành công nghiệp mới nổi. Việt Nam phải kiên định con đường tự lực, tự cường, nắm quyền kiểm soát các công nghệ cốt lõi. Chúng ta ưu tiên dồn lực cho chip bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, UAV, vật liệu tiên tiến, năng lượng mới; đồng thời từng bước hình thành công nghiệp vũ trụ, lượng tử. Đây là những cực tăng trưởng mới, quyết định vị thế và năng lực cạnh tranh của đất nước trong giai đoạn phát triển tiếp theo.
Thứ ba là cải cách căn bản mô hình quản lý các chương trình khoa học, công nghệ quốc gia và cơ chế tài chính, lấy kết quả làm thước đo, chuyển mạnh từ "chi cho nghiên cứu" sang “đặt hàng và mua kết quả nghiên cứu”, từ quản lý đầu vào sang đầu tư cho đầu ra. Cùng với đó, cần coi sở hữu trí tuệ và tiêu chuẩn là công cụ dẫn dắt phát triển.
Thứ tư là phát triển hạ tầng khoa học, công nghệ và hạ tầng số hiện đại. Trọng tâm là nền tảng dữ liệu dùng chung quốc gia, các trung tâm dữ liệu, trung tâm tính toán hiệu năng cao và AI, hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm, hạ tầng bưu chính - viễn thông hiện đại, đồng bộ.
Cuối cùng, cần phát triển hệ sinh thái khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo dựa trên nhân tài. Không có nhân tài thì không có khoa học mạnh, không có khoa học mạnh thì không có quốc gia mạnh. Cơ chế phải đủ mạnh để thu hút, giữ chân người giỏi nhất; triển khai hiệu quả mô hình “ba nhà”, trong đó doanh nghiệp là trung tâm, viện trường là nòng cốt, Nhà nước kiến tạo; đồng thời khơi thông dòng vốn cho đổi mới sáng tạo, đặc biệt thông qua các quỹ đầu tư mạo hiểm công - tư.
-
Bộ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Hải Ninh: Nghị quyết số 66-NQ/TW thực sự là “lời hiệu triệu” cho một cuộc cải cách thể chế sâu sắc
Ngày 30/4/2025, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Kết quả thực hiện Nghị quyết số 66-NQ/TW đến nay đã tạo được chuyển biến rõ nét với nhiều nội dung đột phá trong công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước.
BAN HÀNH NHIỀU QUYẾT SÁCH CHIẾN LƯỢC, CHƯA CÓ TIỀN LỆ TRONG CÔNG TÁC XÂY DỰNG PHÁP LUẬTXin Bộ trưởng cho biết một số kết quả nổi bật trong thực hiện Nghị quyết số 66-NQ/TW năm 2025 vừa qua? Những kết quả này đã tạo ra cuộc cải cách thể chế mang tính bước ngoặt chưa, thưa Bộ trưởng?
Ngay sau khi Nghị quyết số 66-NQ/TW được ban hành, ngày 18/5/2025, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã tổ chức Hội nghị toàn quốc quán triệt nội dung của Nghị quyết với sự tham gia của hơn 1,5 triệu cán bộ, đảng viên với hình thức trực tiếp và trực tuyến tới 37.000 điểm cầu ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã, cơ quan, đơn vị trên cả nước. Đảng ủy Quốc hội đã ban hành Kế hoạch số 28-KH/ĐUQH ngày 16/5/2025 về triển khai thực hiện Nghị quyết 66-NQ/TW. Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 140/NQ-CP ngày 17/5/2025 về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị, trong đó, xác định 49 nhiệm vụ với lộ trình, tiến độ cụ thể. Tất cả 22 bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, 34 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã ban hành Chương trình hoặc Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết, trong đó, một số bộ, ngành, địa phương đã thành lập Ban Chỉ đạo triển khai Nghị quyết số 66-NQ/TW.
Bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, các định hướng trong Nghị quyết số 66-NQ/TW, Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các cơ quan hữu quan đã nỗ lực, trách nhiệm đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, phối hợp chặt chẽ, kịp thời thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, các nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị, tạo hành lang pháp lý đầy đủ, đáp ứng yêu cầu sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, xây dựng và vận hành mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cải cách thủ tục hành chính, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, khơi thông nguồn lực cho phát triển đất nước. Nghị quyết số 66-NQ/TW là cơ sở chính trị quan trọng để các cơ quan có thẩm quyền ra nhiều quyết sách chiến lược, chưa có tiền lệ trong công tác xây dựng pháp luật, xóa bỏ tư duy “không quản được thì cấm”, đưa thể chế từ “điểm nghẽn của điểm nghẽn” thành lợi thế cạnh tranh quốc gia, mở đường cho kiến tạo phát triển. Đặc biệt, đã hoàn thành mục tiêu “năm 2025, cơ bản hoàn thành việc tháo gỡ những “điểm nghẽn” do quy định pháp luật” được xác định tại Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương đã chủ động, linh hoạt đổi mới phương thức hoạt động, sáng tạo trong triển khai thực hiện chức năng, nhiệm vụ, thích ứng với tình hình thực tiễn để hoàn thành khối lượng công việc lập pháp lớn, đồ sộ của nhiệm kỳ. Đáng chú ý, chỉ riêng trong năm 2025, Chính phủ đã trình Quốc hội thông qua Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013; 99 luật, nghị quyết quy phạm pháp luật - một số lượng kỷ lục các dự án, dự thảo luật, nghị quyết; Chính phủ đã ban hành 377 nghị định, nghị quyết quy phạm pháp luật; các bộ, ngành đã soạn thảo, trình ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền 1.404 văn bản - nhiều nhất trong cả nhiệm kỳ; các địa phương đã ban hành 13.000 văn bản quy phạm pháp luật.
Công tác thi hành pháp luật được quan tâm chỉ đạo, bám sát Nghị quyết số 66-NQ/TW, chú trọng rà soát, tháo gỡ các điểm nghẽn pháp luật, cải cách thủ tục hành chính, nhất là trong các lĩnh vực liên quan trực tiếp đến đời sống Nhân dân như đất đai, môi trường, y tế, giáo dục, khoa học - công nghệ, an sinh xã hội... Công tác kiểm tra, xử lý, rà soát, hợp nhất, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật ngày càng đi vào nền nếp và có chuyển biến căn bản. Cơ chế đối thoại, tiếp nhận và xử lý phản ánh, kiến nghị của người dân và doanh nghiệp được các bộ, ngành chú trọng thực hiện với kết quả nổi bật. Những vướng mắc trong cơ chế tài chính cho công tác xây dựng pháp luật đã được tháo gỡ…
Có thể khẳng định, Nghị quyết số 66-NQ/TW đánh dấu bước đột phá chiến lược trong đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, thực sự là “lời hiệu triệu” cho một cuộc cải cách thể chế sâu sắc, góp phần hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa theo hướng hiện đại, hiệu lực, hiệu quả và lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm. Việc triển khai Nghị quyết đã tác động toàn diện và mạnh mẽ tới công tác hoàn thiện thể chế, pháp luật của cả hệ thống chính trị từ Trung ương tới địa phương, được các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị, đông đảo tầng lớp Nhân dân, đội ngũ luật gia, luật sư, cộng đồng doanh nghiệp đồng tình, đón nhận và hưởng ứng. Kết quả thực hiện Nghị quyết số 66-NQ/TW đã tạo được chuyển biến rõ nét với nhiều nội dung đột phá trong công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước.
Thành tựu như Bộ trưởng vừa nêu là rất rõ nét. Nhưng theo ông, có những hạn chế nào cần lưu ý để các chủ trương đột phá của Nghị quyết số 66-NQ/TW đi vào cuộc sống, đưa thể chế trở thành nguồn lực cạnh tranh quốc gia bền vững?
Bên cạnh những kết quả trên đây thì việc xây dựng chương trình, kế hoạch hành động triển khai thực hiện Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 140/NQ-CP của Chính phủ tại một số bộ, ngành, địa phương còn chậm. Công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật có nơi, có chỗ chưa được quan tâm đúng mức. Còn tình trạng chậm ban hành văn bản quy định chi tiết thi hành luật, pháp lệnh.
Hệ thống pháp luật hiện nay còn thiếu một thiết kế tổng thể để đáp ứng những yêu cầu đặt ra trong tình hình mới, đặc biệt là những yêu cầu đặt ra từ phát triển kinh tế - xã hội, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và đổi mới mô hình quản trị quốc gia.
Ngoài ra, công tác tổ chức thi hành pháp luật vẫn là khâu yếu. Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, truyền thông chính sách ở một số cơ quan, đơn vị còn mang tính hình thức, chưa linh hoạt theo sát các vấn đề dư luận xã hội quan tâm hoặc cần định hướng dư luận xã hội. Ứng dụng chuyển đổi số ở một số cơ quan chưa được đầu tư đồng bộ, hạ tầng công nghệ và cơ sở dữ liệu pháp luật một số nơi chưa hoàn thiện, chưa thuận lợi cho việc tra cứu, xử lý thông tin…
RÀ SOÁT, THỂ CHẾ HÓA NGAY NHỮNG QUAN ĐIỂM, CHỦ TRƯƠNG LỚN TRONG VĂN KIỆN ĐẠI HỘI ĐẢNG THÀNH PHÁP LUẬTNăm 2026 là năm đầu tiên triển khai Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng và cũng là năm bản lề trong việc tiếp tục triển khai Nghị quyết số 66-NQ/TW. Vậy đâu là những trọng tâm ưu tiên lớn trong năm 2026, thưa Bộ trưởng?
Năm 2026 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc hiện thực hóa các nghị quyết của Đảng. Trọng tâm ưu tiên hàng đầu là tập trung lãnh đạo, chỉ đạo để rà soát, thể chế hóa ngay các chủ trương lớn nêu trong văn kiện Đại hội XIV và 09 Nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị, bám sát Chương trình công tác năm 2026 của Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế, pháp luật. Tập trung xây dựng “Chiến lược hoàn thiện hệ thống pháp luật trong kỷ nguyên mới” tiến tới mục tiêu hoàn thiện hệ thống pháp luật với cấu trúc hợp lý, đầy đủ, dân chủ, công bằng, đồng bộ, thống nhất, công khai, minh bạch, khả thi, ổn định. Đồng thời, làm cơ sở để định hướng xây dựng các Định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm bảo đảm tính chủ động, linh hoạt và thích ứng với yêu cầu của thực tiễn trong kỷ nguyên mới. Bên cạnh đó, năm 2026 cần tập trung sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp và xử lý các văn bản được điều chỉnh bởi Nghị quyết của Chính phủ, Ủy ban Thường vụ Quốc hội theo cơ chế đặc biệt, xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định pháp luật, bảo đảm hoàn thành trước ngày 01/3/2027 theo Nghị quyết 206/2025/QH15 của Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương.
Thứ hai, quan tâm, đầu tư về kỹ thuật lập pháp và soạn thảo văn bản theo hướng chuyên nghiệp, khoa học, khả thi, hiệu quả. Theo đó, tập trung xây dựng, hoàn thiện Sổ tay soạn thảo pháp luật quốc gia, các bộ tiêu chuẩn, hướng dẫn kỹ thuật lập pháp và các đề án liên quan, phục vụ công tác đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn cho đội ngũ cán bộ làm công tác xây dựng pháp luật, hướng tới mục tiêu chuẩn hóa quy trình, nâng cao năng lực chuyên môn, trách nhiệm nghề nghiệp và tính chuyên nghiệp của đội ngũ cán bộ tham mưu xây dựng pháp luật.
Thứ ba, tập trung hoàn thiện thể chế và thực hiện hiệu quả hoạt động hợp nhất văn bản. Việc hợp nhất văn bản cần được đổi mới mạnh mẽ theo hướng văn bản hợp nhất là căn cứ chính thức trong viện dẫn và áp dụng pháp luật; được trình cơ quan, người có thẩm quyền đồng thời với văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi, bổ sung; đơn giản hóa kỹ thuật hợp nhất; bổ sung quy định về việc hợp nhất văn bản quy phạm pháp luât của cơ quan nhà nước ở địa phương và mở rộng đối tượng văn bản được hợp nhất.
Thứ tư, tiếp tục hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật; xây dựng Đề án dữ liệu lớn về pháp luật; chuyển đổi số toàn diện trong công tác phổ biến giáo dục pháp luật, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong giải đáp pháp luật. Phát triển và vận hành hiệu quả Cổng Pháp luật quốc gia trong thông tin chính sách, pháp luật; kênh tương tác giữa Nhà nước và người dân, doanh nghiệp trên môi trường số; tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị về văn bản quy phạm pháp luật, tạo lập diễn đàn hiến kế về hoàn thiện thể chế trên môi trường số.
-
Xây dựng Bắc Ninh phát triển nhanh, bền vững, trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trước 2030
Trong không khí Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, đồng chí Nguyễn Hồng Thái, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Bắc Ninh đã trả lời phỏng vấn các cơ quan báo chí trung ương và địa phương về tầm nhìn, mục tiêu và những định hướng lớn nhằm xây dựng Bắc Ninh phát triển nhanh, bền vững, hiện đại, giàu bản sắc; phấn đấu trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trước năm 2030.
Thưa đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, Đại hội XIV của Đảng xác lập những định hướng phát triển mới cho đất nước trong giai đoạn tới. Đặt trong tổng thể đó, Bắc Ninh xác định tầm nhìn như thế nào để phát triển nhanh, bền vững, trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trước năm 2030?
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng mở ra một giai đoạn phát triển mới của đất nước với yêu cầu cao hơn về chất lượng tăng trưởng, tính tự chủ, bền vững. Đặt trong tổng thể đó, Bắc Ninh xác định rõ mục tiêu trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trước năm 2030 là quá trình nâng tầm toàn diện về mô hình phát triển, năng lực quản trị và chất lượng sống của Nhân dân.
Bí thư Tỉnh ủy Bắc Ninh Nguyễn Hồng Thái cùng các đồng chí lãnh đạo tỉnh, các sở, ngành kiểm tra, nắm bắt tiến độ triển khai hạ tầng dự án Khu công nghiệp Châu Minh – Bắc Lý – Hương Lâm, xã Xuân Cẩm.Sau hợp nhất, tỉnh Bắc Ninh bước vào giai đoạn phát triển mới với không gian rộng hơn, dư địa, nguồn lực lớn hơn và yêu cầu quản trị cao hơn. Tầm nhìn xuyên suốt của tỉnh là xây dựng Bắc Ninh phát triển nhanh nhưng bền vững; hiện đại nhưng giàu bản sắc; tăng trưởng kinh tế gắn chặt với tiến bộ xã hội, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng sống của người dân.
Trên nền tảng định hướng của Đại hội XIV, tỉnh xác định lấy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực then chốt; lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm; lấy văn hóa Kinh Bắc làm nền tảng tinh thần và sức mạnh nội sinh; lấy kỷ luật, kỷ cương, hiệu lực, hiệu quả của hệ thống chính trị làm điều kiện bảo đảm. Đây là con đường để Bắc Ninh đi nhanh về tốc độ, nhưng vững về nền tảng, bền về dài hạn, đủ năng lực và điều kiện để trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trước năm 2030.
Từ thực tiễn phát triển của Bắc Ninh thời gian qua, theo đồng chí, những động lực tăng trưởng nào sẽ tiếp tục được phát huy và những động lực mới nào mang tính quyết định để tỉnh duy trì tốc độ tăng trưởng cao nhưng chuyển mạnh sang chiều sâu, chất lượng và bền vững?
Nhìn từ thực tiễn phát triển, Bắc Ninh tiếp tục duy trì tăng trưởng cao và ổn định trong nhóm dẫn đầu cả nước. Năm 2025, tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) theo giá hiện hành ước đạt hơn 522 nghìn tỷ đồng, tăng 10,27%, thuộc nhóm địa phương đạt tăng trưởng hai con số. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, trong đó công nghiệp tiếp tục giữ vai trò động lực chủ đạo; tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 182 tỷ USD, chiếm gần 20% kim ngạch cả nước, đưa Bắc Ninh trở thành một trong hai trung tâm xuất nhập khẩu lớn nhất Việt Nam. Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và thu ngân sách nhà nước duy trì trong nhóm dẫn đầu, khẳng định sức hấp dẫn của môi trường đầu tư và tạo thêm nguồn lực quan trọng cho phát triển.
Cùng với tăng trưởng kinh tế, bức tranh phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bắc Ninh ngày càng toàn diện và hài hòa hơn. Thương mại, dịch vụ phát triển sôi động gắn với quá trình đô thị hóa và mở rộng không gian kinh tế. Hạ tầng giao thông, đô thị và hạ tầng số tiếp tục được đầu tư đồng bộ, mở ra dư địa phát triển mới. Nông nghiệp chuyển dịch theo hướng sinh thái, công nghệ cao, đa giá trị. Các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế, an sinh xã hội được quan tâm toàn diện; đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân được nâng lên, tạo nền tảng xã hội vững chắc cho phát triển bền vững.
Đồng chí Nguyễn Hồng Thái, Bí thư Tỉnh ủy Bắc Ninh thăm, tặng quà động viên bà con vùng lũ thôn Trường Thịnh, xã Kép.Tuy nhiên, để phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn tới, tỉnh xác định phải tạo ra những động lực mới mang tính quyết định. Trọng tâm là chuyển mạnh từ tăng trưởng theo quy mô sang tăng trưởng theo chất lượng, hiệu quả và chiều sâu:
(1) Sớm rà soát, điều chỉnh và ban hành Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050; lập Quy hoạch chung đô thị Bắc Ninh đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075, bảo đảm thống nhất với quy hoạch vùng và quốc gia nhằm tạo không gian, dư địa mới cho tỉnh phát triển.
(2) Tập trung tái cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp xanh, công nghiệp hỗ trợ và kinh tế số; hình thành hệ sinh thái công nghiệp hiện đại, gắn đổi mới sáng tạo và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
(3) Tiếp tục đầu tư kết cấu hạ tầng, phát triển đô thị theo hướng đồng bộ, hiện đại, đa chiều; trọng tâm là triển khai, hoàn thành các tuyến đường giao thông kết nối liên vùng, liên tỉnh và quốc tế: Cảng hàng không quốc tế Gia Bình, tuyến đường kết nối đi thủ đô Hà Nội, Đường Vành đai 4, Đường Vành đai 5, đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng; Hà Nội - Lạng Sơn - Hải Phòng - Quảng Ninh - Móng Cái v.v… Hình thành các khu công nghiệp, khu đô thị lớn, hệ thống khu logistics, cảng ICD đồng bộ, hiện đại.
(4) Coi phát triển kinh tế tư nhân, nâng cao năng lực doanh nghiệp trong nước, tăng tỷ lệ nội địa hóa và liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp nội địa là một động lực quan trọng.
(5) Đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện, từ chính quyền, doanh nghiệp đến xã hội, được xác định là "hạ tầng mềm" của tăng trưởng mới, giúp nâng năng suất lao động, giảm chi phí xã hội và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Để hiện thực hóa mục tiêu trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, Bắc Ninh cần những đột phá nào về cơ chế, chính sách, quy hoạch, hạ tầng và quản trị phát triển? Trong các khâu đó, đâu là khâu được tỉnh xác định phải đi trước, làm trước để tạo sức lan tỏa cho toàn bộ quá trình phát triển?
Tỉnh Bắc Ninh xác định rõ ba đột phá then chốt có ý nghĩa quyết định đối với mục tiêu trở thành thành phố trực thuộc Trung ương.
Thứ nhất là đột phá về thể chế và năng lực quản trị phát triển. Tỉnh tập trung hoàn thiện cơ chế, chính sách; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền đi đôi với tăng cường kiểm tra, giám sát; nâng cao kỷ luật, kỷ cương hành chính; xây dựng chính quyền số, chính quyền phục vụ, lấy sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp làm thước đo hiệu quả.
Thứ hai là đột phá về nguồn nhân lực. Bắc Ninh coi đây là đột phá có ý nghĩa lâu dài và bền vững nhất. Tỉnh tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; đồng thời chú trọng đào tạo, thu hút nhân lực chất lượng cao, nhất là trong các lĩnh vực công nghệ cao, chuyển đổi số, logistics, y tế, giáo dục và quản lý đô thị hiện đại.
Thứ ba là đột phá về hạ tầng đồng bộ, hiện đại. Tỉnh ưu tiên phát triển hạ tầng giao thông kết nối liên vùng, hạ tầng khu công nghiệp, đô thị và hạ tầng số; mở rộng không gian phát triển, tăng cường liên kết với Thủ đô Hà Nội và các địa phương trong vùng Thủ đô.
Trong các khâu đó, tỉnh Bắc Ninh xác định quy hoạch và hạ tầng phải đi trước một bước. Quy hoạch phải gắn chặt với quy hoạch vùng và quốc gia, có tầm nhìn dài hạn; hạ tầng phải tạo "đường băng" cho phát triển, giảm chi phí logistics, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh. Đồng thời, thể chế và kỷ luật thực thi là yếu tố quyết định để biến quy hoạch và hạ tầng thành năng lực phát triển thực chất.
Phát triển đô thị hiện đại nhưng không đánh đổi môi trường, văn hóa và chất lượng sống của người dân là yêu cầu xuyên suốt. Đồng chí đánh giá như thế nào về vai trò của con người, bản sắc văn hóa Kinh Bắc trong việc tạo dựng nền tảng phát triển bền vững và lợi thế cạnh tranh dài hạn cho Bắc Ninh?
Tỉnh Bắc Ninh xác định con người vừa là trung tâm, vừa là chủ thể, vừa là mục tiêu của mọi chiến lược phát triển. Tăng trưởng kinh tế, hướng tới phải nâng cao chất lượng sống của Nhân dân, bảo đảm môi trường an toàn, đô thị văn minh, an sinh xã hội bền vững và cơ hội phát triển công bằng, hạnh phúc cho mọi người dân.
Bản sắc văn hóa Kinh Bắc là giá trị cốt lõi, là nền tảng tinh thần và cũng là lợi thế cạnh tranh mềm của Bắc Ninh. Tỉnh coi việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa không chỉ là nhiệm vụ gìn giữ di sản, mà còn là cách tạo nguồn lực nội sinh cho phát triển. Khi văn hóa được kết nối với tư duy hiện đại, công nghệ và kinh tế sáng tạo, Bắc Ninh có thể phát triển các lĩnh vực như du lịch văn hóa, công nghiệp văn hóa, dịch vụ sáng tạo, giáo dục - đào tạo chất lượng cao.
Song song với đó, bảo vệ môi trường được xác định là yêu cầu bắt buộc. Tỉnh Bắc Ninh quản lý chặt chẽ tài nguyên, đất đai; kiểm soát ô nhiễm tại các khu, cụm công nghiệp và làng nghề; thúc đẩy kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; nâng cao tiêu chuẩn môi trường trong thu hút đầu tư. Phát triển đô thị phải đi đôi với gìn giữ bản sắc, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng sống, để tỉnh Bắc Ninh thực sự trở thành nơi đáng sống, đáng đầu tư và đáng gắn bó lâu dài.
Từ diễn đàn Đại hội XIV của Đảng, đồng chí muốn gửi đi thông điệp gì tới nhân dân trong tỉnh, cộng đồng doanh nghiệp và các nhà đầu tư về quyết tâm, hành động và khát vọng xây dựng Bắc Ninh phát triển nhanh, bền vững, xứng tầm một thành phố trực thuộc Trung ương?
Thông điệp mà Bắc Ninh muốn gửi đi là phát triển nhanh nhưng phải bền vững; hiện đại nhưng không đánh mất bản sắc; tăng trưởng kinh tế phải gắn chặt với nâng cao chất lượng sống của Nhân dân. Đó không chỉ là lựa chọn phát triển, mà là con đường Bắc Ninh kiên định theo đuổi trong giai đoạn tới.
Với Nhân dân trong tỉnh, thông điệp cốt lõi là mọi chủ trương, chính sách phát triển đều hướng tới con người, vì con người và do con người. Sự đồng thuận, niềm tin và tinh thần đồng hành của Nhân dân là nền tảng quan trọng nhất để Bắc Ninh vượt qua khó khăn, nắm bắt thời cơ và phát triển bền vững. Phát triển đô thị, công nghiệp hay hạ tầng đều phải quy về mục tiêu nâng cao chất lượng sống, bảo đảm an sinh xã hội, giữ vững ổn định và an toàn cho Nhân dân.
Với cộng đồng doanh nghiệp và các nhà đầu tư, tỉnh Bắc Ninh mong muốn tiếp tục là điểm đến tin cậy, nơi hội tụ của tinh thần hợp tác, đổi mới và phát triển lâu dài. Tỉnh kiên định định hướng thu hút đầu tư có chọn lọc, ưu tiên công nghệ cao, thân thiện môi trường, hiệu quả và bền vững; đồng thời khuyến khích sự gắn kết, chia sẻ và cùng phát triển giữa doanh nghiệp với địa phương, giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước.
Với toàn hệ thống chính trị, thông điệp xuyên suốt là tinh thần trách nhiệm, kỷ cương và hành động. Mỗi mục tiêu phát triển đều phải được cụ thể hóa bằng việc làm thiết thực, bằng hiệu quả thực tế và bằng sự chuyển biến có thể cảm nhận được trong đời sống xã hội. Trên nền tảng đoàn kết, đổi mới và khát vọng vươn lên, Bắc Ninh quyết tâm phát triển bằng năng lực thực chất, bằng nền tảng bền vững và bằng sự đồng thuận xã hội cao, để sớm trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, đóng góp xứng đáng vào sự phát triển chung của đất nước trong giai đoạn mới.
-
Bồi đắp niềm tin và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc
Đồng chí Lại Xuân Môn, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Giám đốc Trung tâm Báo chí Đại hội XIV , đã làm rõ những kết quả nổi bật, định hướng trọng tâm và yêu cầu đặt ra đối với báo chí trong đợt tuyên truyền cao điểm hướng tới Đại hội XIV.
Thưa đồng chí, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với chặng đường phát triển mới của đất nước. Đồng chí đánh giá như thế nào về công tác thông tin, tuyên truyền về Đại hội XIV của Đảng thời gian qua?
Đồng chí Lại Xuân Môn: Đại hội XIV Đảng Công sản Việt Nam đánh dấu bước ngoặt quan trọng, không chỉ tổng kết một nhiệm kỳ, một chặng đường phát triển mà còn xác lập tầm nhìn chiến lược, định hướng con đường đi lên của đất nước trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, hướng tới hiện thực hóa các mục tiêu phát triển đến năm 2030 và 2045. Chính vì vậy, công tác thông tin, tuyên truyền về đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội XIV của Đảng được xác định là nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng, trong đó báo chí là lực lượng chủ lực. Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn, định hướng các cơ quan báo chí tập trung thông tin, tuyên truyền về đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội XIV của Đảng ngay từ đầu năm 2025.
Chúng ta ghi nhận sự nỗ lực vượt bậc, những đóng góp rất quan trọng của báo chí trong tuyên truyền đại hội đảng bộ các cấp và công tác chuẩn bị Đại hội XIV của Đảng. Báo chí sớm chủ động triển khai đồng bộ, hiệu quả, phối hợp chặt chẽ trong thông tin, tuyên truyền tạo khí thế chính trị tích cực, rộng khắp, làm nổi bật tinh thần đoàn kết, dân chủ, trí tuệ, đổi mới; thông tin kịp thời, chính xác, hiệu quả, đúng định hướng, góp phần quan trọng định hình nhận thức xã hội về Đại hội XIV của Đảng, về những kết quả nổi bật sau 40 năm đổi mới, của nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, nhất là các chủ trương, quyết sách chiến lược lịch sử của Đảng từ tháng 8/2025 đến nay.
Thông qua tuyên truyền, báo chí đã giúp người dân thấy rõ sự cầu thị, trách nhiệm, trí tuệ, dân chủ, công phu toàn diện trong công tác chuẩn bị văn kiện và nhân sự cấp ủy các cấp; khẳng định giữ vững vai trò “kiềng ba chân”: kiểm chứng - làm sáng tỏ - định hướng dư luận, đấu tranh kiên quyết với thông tin sai trái, xấu độc, qua đó góp phần giữ vững ổn định chính trị - tư tưởng, giữ vững thế trận tư tưởng, tăng cường niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ. Từ đó, tạo nên một đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; tạo động lực, niềm tin, khí thế quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và chuẩn bị tốt nhất cho thành công của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
Chỉ trong 3 tháng gần đây, đã có hàng chục nghìn tin, bài, chương trình Đại hội XIV và đại hội đảng bộ các cấp. Hệ thống báo chí cách mạng Việt Nam đã phát huy vai trò chủ lực, nòng cốt, xung kích, thực sự là tiếng nói của Đảng, Nhà nước và diễn đàn tin cậy của Nhnhân dân. Các cơ quan báo chí chính trị chủ lực như: Báo Nhân Dân, Thông tấn xã Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Quân đội nhân dân, Công an nhân dân; các cơ quan báo chí của bộ, ban, ngành Trung ương và địa phương đã xây dựng kế hoạch triển khai bài bản, thông tin đa dạng, hấp dẫn. Điều này cho thấy báo chí đã thực sự làm chủ "trận địa" thông tin, góp phần cổ vũ, động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phát huy tinh thần yêu nước, sức mạnh đại đoàn kết, quyết tâm thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược mà Đại hội XIII đề ra.
Song song với đó, việc tổ chức Trung tâm Báo chí phục vụ Đại hội XIV của Đảng không chỉ nhằm bảo đảm cung cấp thông tin chính xác, kịp thời, đầy đủ cho báo chí, mà còn thể hiện tinh thần công khai, minh bạch, chủ động hội nhập, tăng cường đối thoại và lan tỏa hình ảnh Việt Nam hòa bình, ổn định, đổi mới, phát triển tới nhân dân trong nước, đồng bào ta ở nước ngoài và bạn bè quốc tế.
Trong bối cảnh không gian mạng phát triển nhanh, tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp, báo chí khẳng định vai trò định hướng dư luận, kịp thời đấu tranh, phản bác các thông tin sai trái, xấu độc, góp phần giữ vững ổn định chính trị-tư tưởng, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Mỗi tin bài, mỗi sản phẩm báo chí trong giai đoạn này vừa mang giá trị thông tin vừa góp phần hình thành tinh thần, khí thế chung của xã hội trước thềm Đại hội XIV của Đảng.
Một điểm mới được dư luận và giới báo chí đặc biệt quan tâm là tinh thần chủ động, cởi mở trong cung cấp thông tin về Đại hội XIV cho phóng viên trong nước và quốc tế. Đồng chí có thể cho biết những yêu cầu cụ thể đối với báo chí trong công tác thông tin, tuyên truyền về Đại hội XIV của Đảng?
Đồng chí Lại Xuân Môn: Tinh thần xuyên suốt trong công tác tuyên truyền Đại hội XIV là chủ động cung cấp thông tin, không để bị động, bất ngờ, bảo đảm thông tin về Đại hội được truyền tải đúng định hướng, kịp thời, chính xác, đầy đủ và thuyết phục. Bởi trong bối cảnh môi trường truyền thông đa chiều hiện nay, nếu không chủ động cung cấp thông tin, không làm chủ "trận địa" thông tin thì rất dễ rơi vào thế bị động.
Thời gian qua, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương đã phối hợp chặt chẽ với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Hội Nhà báo Việt Nam và các cơ quan liên quan để lãnh đạo, chỉ đạo, định hướng các cơ quan báo chí tập trung tuyên truyền về đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội XIV của Đảng. Các cơ quan báo chí đã đầu tư nguồn lực, tổ chức triển khai bài bản, khoa học, tạo sức lan tỏa lớn trong xã hội.
Để bảo đảm thông tin được truyền tải kịp thời, chính xác, đầy đủ, các cơ quan báo chí đã mở chuyên trang, chuyên mục, tăng tần suất, tăng chất lượng, tăng tốc, đổi mới toàn diện nội dung, hình thức thông tin. Nội dung tuyên truyền toàn diện, đúng, trúng, kịp thời, tạo điểm nhấn, ấn tượng đặc biệt về Đại hội XIV của Đảng; bảo đảm đúng chỉ đạo, định hướng của Đảng, không để xảy ra sai sót, giữ vững nguyên tắc: chính xác - thống nhất - chuẩn mực - thuyết phục; thông tin trên báo chí phải là dòng thông tin chủ lưu dẫn dắt, định hướng dư luận xã hội và trên không gian mạng; chủ động, không né tránh việc đấu tranh, phản bác các thông tin xấu, độc trên không gian mạng.
Cụ thể, các cơ quan báo chí phải tập trung thông tin, tuyên truyền làm nổi bật tầm vóc chính trị, lịch sử, chiến lược của Đại hội XIV; nêu bật được Tầm nhìn của Đảng - Thành tựu của Đất nước - Khát vọng của Dân tộc - Quyết tâm đổi mới, chỉnh đốn Đảng. Báo chí không chỉ đưa tin mà phải thắp lên niềm tin, truyền đi khí thế, lan tỏa năng lượng tích cực đến toàn Đảng, toàn quân và toàn dân.
Công tác chuẩn bị nhân sự và văn kiện phải được thông tin theo hướng: công khai - minh bạch - chặt chẽ - dân chủ - khoa học. Nội dung tuyên truyền phải giúp nhân dân hiểu rõ công tác nhân sự được chuẩn bị bài bản, khoa học, đúng quy định; người được giới thiệu thực sự tiêu biểu về trí tuệ, năng lực, phẩm chất và uy tín. Các văn kiện đại hội được chuẩn bị công phu, kỹ lưỡng, sâu sắc, bám sát tình hình thực tiễn và có tính hành động cao. Đây là thông tin “trọng điểm”, báo chí phải tiên phong đi đầu, không để các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, bóp méo, gây kích động, nghi ngờ trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.
Thông tin trên báo chí khắc họa dấu ấn đậm nét về kết quả, thành tựu, sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong 40 năm Đổi mới, nhất là thành tựu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, củng cố vững chắc niềm tin của nhân dân vào tương lai đất nước.
Các cơ quan báo chí cần chủ động, kiên quyết đấu tranh phản bác thông tin xấu, độc, các luận điệu sai trái, thù địch bằng lý lẽ sắc bén, chứng cứ thuyết phục. Báo chí phải làm chủ không gian mạng, giữ vai trò dẫn dắt, chủ đạo chứ không chạy theo mạng xã hội.
Về hình thức, cần đầu tư nghiêm túc vào công nghệ truyền thông để tạo ra những sản phẩm báo chí số chất lượng. Đại hội XIV của Đảng phải có những sản phẩm truyền thông khác biệt, chính xác, thuyết phục, hấp dẫn, có khả năng lan tỏa cao; xây dựng các gói nội dung số để tuyên truyền về Đại hội XIV của Đảng. Đẩy mạnh xây dựng, đăng, phát clip ngắn, phóng sự, livestream, tọa đàm online trên các nền tảng số để tiếp cận thế hệ trẻ - lực lượng nòng cốt lan tỏa thông tin tích cực.
Với những yêu cầu cụ thể nêu trên, theo đồng chí, các cơ quan báo chí, người làm báo cần chú trọng điều gì để hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao?
Đồng chí Lại Xuân Môn: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV Đảng Cộng sản Việt Nam là sự kiện trọng đại của Đảng, của dân tộc. Mỗi bài báo, mỗi dòng tin, mỗi sản phẩm truyền thông trong thời điểm này cần góp phần định hình bầu không khí chính trị cả nước, củng cố niềm tin của nhân dân và lan tỏa khát vọng vươn lên của đất nước. Báo chí phải là lực lượng kiến tạo cho dòng chảy thông tin tích cực trên không gian truyền thông.
Mỗi cơ quan báo chí, mỗi người làm báo cần nhận thức sâu sắc rằng, tuyên truyền về Đại hội XIV của Đảng trên bình diện quốc tế không chỉ là việc truyền tải thông tin về một sự kiện chính trị mà còn là dịp để Việt Nam truyền đi thông điệp về một Việt Nam không ngừng đổi mới, sáng tạo; một Việt Nam đoàn kết, năng động, hội nhập, tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường; nỗ lực, quyết tâm vượt qua các khó khăn để trở thành điểm sáng trong phát triển kinh tế - xã hội. Vì vậy, cần nâng cao tinh thần trách nhiệm, bản lĩnh, trí tuệ và danh dự của người làm báo và cơ quan báo chí; khẳng định bản lĩnh, phẩm chất của đội ngũ báo chí cách mạng Việt Nam “Trung thành - Bản lĩnh - Nhạy bén - Trí tuệ - Nhân văn - Kỷ cương - Sáng tạo” để hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị đặc biệt tại kỳ Đại hội quan trọng này.
-
Bảo đảm Văn kiện Đại hội XIV trở thành động lực đổi mới tư duy và hành động, khơi dậy khát vọng phát triển
Đồng chí Nguyễn Văn Nên, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Tiểu ban Văn kiện Đại hội XIV đã trao đổi về những quan điểm, chủ trương mới, đột phá trong dự thảo các văn kiện.
Thưa đồng chí, các dự thảo Văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng đã cập nhập kịp thời các chủ trương, quyết sách chiến lược mới của Đảng. Đây không chỉ là bổ sung nội dung mà còn tạo động lực "đòn bẩy" để Văn kiện sớm được triển khai thực hiện trong đời sống. Xin đồng chí cho biết, quan điểm đó có ý nghĩa như thế nào trong giai đoạn cách mạng mới?
Một trong những chủ trương đổi mới rất quan trọng, có tính đột phá trong quá trình chỉ đạo và thực hiện nội dung Văn kiện trình Đại hội XIV là triển khai sớm các quyết sách, chiến lược mới trước Đại hội, qua kiểm nghiệm thực tế cùng với kinh nghiệm được tổng kết 40 năm đổi mới chắt lọc, đưa vào dự thảo Văn kiện trình Đại hội XIV xem xét, quyết nghị.
Điều này thể hiện tư duy, tầm nhìn, sự nhạy bén, kịp thời của Đảng trong việc nắm bắt xu thế phát triển của thời đại, đồng thời phản ánh đúng yêu cầu thực tiễn của đất nước, khơi dậy khát vọng phát triển, tạo niềm tin và sự đồng thuận cao trong toàn xã hội.
Các quyết sách mới trở thành động lực chủ yếu và là "đòn bẩy" quan trọng thúc đẩy phát triển như khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; xác lập mô hình tăng trưởng mới, phát triển kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất, kinh tế dữ liệu, kinh tế số; đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực. Xây dựng hệ sinh thái dữ liệu quốc gia. Đặc biệt là tinh gọn tổ chức bộ máy hệ thống chính trị, xây dựng chính quyền địa phương 2 cấp…
Có thể khẳng định, đây là bước chuẩn bị quan trọng để đưa cách mạng Việt Nam bước vào kỷ nguyên phát triển mới: Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, phương thức, thúc đẩy đột phá chiến lược, kiến tạo hệ sinh thái phát triển mới, bảo đảm quan điểm lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững đất nước; bảo đảm độc lập, tự lực, tự cường, tự chủ chiến lược, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và không ngừng nâng cao đời sống, hạnh phúc của Nhân dân. Tạo nền tảng quan trọng và vững chắc cho hành động quyết liệt, đồng bộ và hiệu quả ngay sau Đại hội.
Trong 3 đột phá chiến lược được xác định trong dự thảo các Văn kiện Đại hội XIV, xin đồng chí cho biết, đâu là nội dung cốt lõi, then chốt cần được ưu tiên tập trung cho giai đoạn tới?
Ba đột phá chiến lược được nêu trong dự thảo các Văn kiện đều rất quan trọng và gắn kết chặt chẽ với nhau. Từng nội dung, giải pháp đều được thể hiện trong Chương trình hành động rất cụ thể và rõ ràng, trong đó có:
Một là, phải đột phá mạnh mẽ về thể chế để hoàn thiện thể chế phát triển nhanh, bền vững, bảo đảm môi trường pháp lý minh bạch, công bằng, khuyến khích đổi mới sáng tạo. Đây là yếu tố then chốt để khơi thông, giải phóng và phát huy hiệu quả mọi nguồn lực; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền trong quản lý, quản trị phát triển giữa Trung ương và địa phương, phát huy vai trò tự chủ, tự chịu trách nhiệm của địa phương; thúc đẩy đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phục vụ, kiến tạo phát triển.
Hai là, đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, chính sách "Chiêu hiền, đãi sĩ" trọng dụng nhân tài, tiếp tục chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là nhân lực khoa học - công nghệ, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp của hệ thống chính trị, nhất là cán bộ cấp chiến lược và cấp cơ sở thực sự tiêu biểu, có tư duy, năng lực quản trị tiên tiến, phù hợp với mô hình tổ chức mới và yêu cầu phát triển bứt phá của đất nước.
Ba là, đầu tư hạ tầng đồng bộ, hiện đại, nhất là hạ tầng số và hạ tầng giao thông chiến lược, hạ tầng phục vụ chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, thích ứng với biến đổi khí hậu, sẽ là điều kiện để kết nối, lan toả hiệu quả phát triển.
Như vậy, có thể nói thể chế là "chìa khoá mở đường", nhân lực là "nguồn lực nội sinh", còn hạ tầng là "bệ đỡ" cho phát triển. Ba yếu tố này cần được triển khai đồng bộ. Trong từng giai đoạn có thể xem xét thứ tự ưu tiên cho phù hợp yêu cầu xây dựng và phát triển.
Về phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã được bổ sung, điều chỉnh những nội dung gì, để bảo đảm Đại hội XIV là khởi đầu thời kỳ phát triển mới, hướng tới hiện thực hoá 2 mục tiêu 100 năm, thưa đồng chí?
Phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã được bổ sung, điều chỉnh nhiều nội dung quan trọng nhằm bảo đảm Đại hội XIV trở thành dấu mốc khởi đầu cho thời kỳ phát triển mới, tạo nền tảng vững chắc để thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hoá tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao vì một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng, đặc biệt là Báo cáo chính trị và Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV đã xác định, tăng cường xây dựng, chỉnh đốn, tự đổi mới để Đảng ta thật sự là đạo đức, là văn minh. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, Đảng ta là đạo đức, là văn minh. Theo Người, Đảng phải tiêu biểu cho trí tuệ, lương tâm và danh dự của dân tộc mới xứng đáng là người lãnh đạo. Xây dựng Đảng về văn minh là bước tiếp tục hiện thực hoá sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng, làm cho Đảng ta thực sự "là đạo đức, là văn minh". Nhằm chuẩn bị bước vào kỷ nguyên phát triển mới của cách mạng Việt Nam hướng tới hiện thực hoá 2 mục tiêu 100 năm, Đảng phải đổi mới tư duy, phương thức lãnh đạo để phù hợp với những biến đổi nhanh chóng của thời đại. Đảng văn minh sẽ đưa đất nước phát triển tiến kịp cùng thế giới, Đảng văn minh góp phần nâng cao uy tín và năng lực lãnh đạo của Đảng, giúp củng cố niềm tin của Nhân dân vào Đảng. Đồng thời, Văn kiện chú trọng khâu tổ chức thực hiện, đưa chủ trương Nghị quyết vào cuộc sống, giữa nói và làm đều phải thực chất, lấy hiệu quả và sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo. Đặc biệt quan tâm tăng cường, đề cao tinh thần nêu gương của cán bộ đảng viên, cấp uỷ các cấp, nhất là người đứng đầu; tăng cường các biện pháp quản lý đội ngũ, kiểm tra giám sát, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, phòng, chống suy thoái tư tưởng chính trị đạo đức, lối sống…
Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XIV xác định: "Tăng cường củng cố và phát huy hiệu quả sức mạnh của Nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc". Đây là bài học kinh nghiệm quý báu không chỉ được đúc kết trên cơ sở tổng kết 40 năm đổi mới mà trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, Nhân dân luôn là cội nguồn sức mạnh, là chủ thể sáng tạo nên mọi giá trị vật chất và tinh thần, quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Thực tiễn đòi hỏi không chỉ thừa nhận Nhân dân là trung tâm, là mục tiêu của sự phát triển, mà còn phải nhận thức đúng đắn và sâu sắc Nhân dân là chủ thể trực tiếp tham gia hoạch định, tổ chức, giám sát và thụ hưởng thành quả phát triển đất nước. Trong đó, Mặt trận Tổ quốc phải thật sự là diễn đàn rộng rãi của mọi tầng lớp Nhân dân, đồng bào các dân tộc, tôn giáo, kiều bào ở nước ngoài… để có thể gặp gỡ, trao đổi, bày tỏ ý kiến, nguyện vọng một cách dân chủ, cởi mở. Đồng thời, cần chú trọng phát huy vai trò của các nhân sĩ, trí thức, chuyên gia, người có uy tín trong xã hội và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài trong việc hiến kế xây dựng đất nước.
Khối đại đoàn kết toàn dân tộc là nền tảng vững chắc để xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân gắn với xây dựng thế trận lòng dân vững chắc, tạo điểm tựa, nguồn sức mạnh nội sinh to lớn để huy động sức sáng tạo, trí tuệ, nguồn lực của toàn xã hội. Đó luôn là bài học quý báu trong mọi giai đoạn cách mạng, phục vụ sự nghiệp lãnh đạo phát triển nhanh và bền vững đất nước.
-
Khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu chiến lược trong kỷ nguyên mới
Đồng chí Trịnh Văn Quyết, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương đã dành thời gian trao đổi với Báo Nhân dân về chủ đề này.
Thưa đồng chí, nhiệm kỳ Đại hội XIII đánh dấu bước chuyển biến rõ nét trong lĩnh vực tuyên giáo và dân vận, phát huy vai trò cầu nối, thắt chặt ý Đảng - lòng dân. Đồng chí có thể chia sẻ những điểm nhấn nổi bật?
Nhiệm kỳ Đại hội XIII là một nhiệm kỳ rất đặc biệt đối với công tác tuyên giáo và dân vận. Đặc biệt không chỉ bởi khối lượng công việc rất lớn, mà quan trọng hơn là bởi mức độ phức tạp, nhạy cảm và chưa từng có tiền lệ của bối cảnh trong nước và quốc tế. Những biến động sâu sắc của tình hình địa chính trị, kinh tế toàn cầu; tác động kéo dài của dịch bệnh, thiên tai; sự gia tăng các yếu tố bất ổn trên không gian mạng và trong đời sống xã hội… đã tác động trực tiếp đến tư tưởng, tâm lý và niềm tin của Nhân dân.
Yêu cầu đặt ra đối với công tác tuyên giáo và dân vận là hết sức nặng nề, vừa phải giữ vững ổn định tư tưởng, tạo sự thống nhất cao trong Đảng, đồng thuận rộng rãi trong xã hội, vừa phải tham gia trực tiếp vào việc tổ chức thực hiện những quyết sách chiến lược rất lớn, rất khó, nhiều nội dung chưa có tiền lệ. Đây chính là “bài toán lớn”, nhiệm vụ trung tâm, xuyên suốt của công tác tuyên giáo và dân vận trong nhiệm kỳ vừa qua.
Dưới sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Trung ương Đảng, trực tiếp là Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đứng đầu là Tổng Bí thư Tô Lâm, công tác tuyên giáo và dân vận đã thực sự phát huy vai trò là lực lượng đi trước, mở đường; chủ động tham mưu, kịp thời định hướng những vấn đề lớn, nhạy cảm; tích cực giải thích, thuyết phục, tháo gỡ những băn khoăn, lo lắng trong xã hội; góp phần quan trọng giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong những thời điểm then chốt.
Dấu ấn rất nổi bật là việc hợp nhất Ban Tuyên giáo và Ban Dân vận ở các cấp trong năm 2025. Đây không chỉ là sự thay đổi về tổ chức bộ máy, mà là bước chuyển mạnh mẽ về tư duy và phương thức hoạt động, gắn chặt hơn giữa công tác tư tưởng với công tác vận động Nhân dân, giữa “nói cho dân hiểu” với “làm cho dân tin và dân cùng làm”.
Thông qua các đợt sinh hoạt chính trị lớn, các hoạt động tuyên truyền kỷ niệm những sự kiện trọng đại của đất nước và đặc biệt là việc lấy ý kiến Nhân dân vào dự thảo Văn kiện Đại hội XIV, công tác tuyên giáo và dân vận đã phát huy tốt dân chủ, củng cố vững chắc “thế trận lòng dân”. Chỉ trong vòng 01 tháng lấy ý kiến (từ 15/10 - 15/11/2025) đã có gần 14 triệu ý kiến, với gần 5 triệu cán bộ, đảng viên và Nhân dân tham gia; nhiều ý kiến rất sâu sắc, tâm huyết được tiếp nhận là minh chứng sinh động cho niềm tin, sự đồng hành và kỳ vọng rất lớn của Nhân dân đối với Đảng.
Có thể khẳng định, trong nhiệm kỳ XIII, công tác tuyên giáo và dân vận đã hoàn thành tốt vai trò giữ vững trận địa tư tưởng, tạo sự thống nhất cao trong Đảng, đồng thuận rộng rãi trong xã hội, góp phần quan trọng để những quyết sách lớn, khó, chưa có tiền lệ của Đảng được triển khai thành công trong thực tiễn.
Để đảm bảo và phát huy vai trò tiên phong, trách nhiệm kiến tạo trong giai đoạn mới, đòi hỏi công tác tuyên giáo và dân vận đổi mới mạnh mẽ tư duy, phương pháp hành động, nội dung cụ thể là gì thưa đồng chí?
Trong giai đoạn hiện nay, đổi mới tư duy và phương thức hành động của công tác tuyên giáo và dân vận không còn là lựa chọn, mà là yêu cầu bắt buộc. Thực tiễn cho thấy, các quyết sách chiến lược của Đảng ngày càng có phạm vi tác động rộng, ảnh hưởng trực tiếp, sâu sắc đến đời sống, lợi ích của Nhân dân; trong khi môi trường thông tin, dư luận xã hội biến động rất nhanh, phức tạp, đa chiều. Nếu không tạo được sự thống nhất cao về nhận thức và đồng thuận xã hội thì chủ trương đúng cũng khó đi vào cuộc sống. Vì thế, công tác tuyên giáo và dân vận phải đổi mới mạnh mẽ cách tiếp cận và phương pháp tác động. Trọng tâm không phải là truyền đạt một chiều, mà là thuyết phục, làm rõ căn cứ chính trị, thực tiễn và lợi ích lâu dài của mỗi chủ trương, quyết sách; giúp cán bộ, đảng viên và Nhân dân hiểu đúng, tin tưởng và tự giác thực hiện.
Yêu cầu quan trọng nhất là phải nâng cao chất lượng nắm bắt, phân tích, dự báo tình hình tư tưởng và dư luận xã hội. Đây là khâu nền tảng để chủ động tham mưu cho cấp ủy trong lãnh đạo, chỉ đạo; đồng thời giữ vững thế chủ động trên mặt trận tư tưởng, không để bị động, bất ngờ trước những vấn đề phức tạp phát sinh. Công tác tuyên giáo và dân vận phải thực sự “đi trước mở đường”, “đi cùng thực hiện” và “đi sau tổng kết”; phải đổi mới mạnh mẽ theo hướng tăng cường đối thoại, lắng nghe và đồng hành cùng Nhân dân. Dân vận, suy cho cùng, là làm cho dân hiểu, dân tin và dân cùng làm. Phải thực hành nhất quán tư tưởng Hồ Chí Minh: nghe dân nói, nói cho dân hiểu, làm cho dân tin; kịp thời giải quyết những băn khoăn chính đáng ngay từ cơ sở, không để tích tụ thành “điểm nóng” về tư tưởng và dư luận.
Mục tiêu xuyên suốt của công tác tuyên giáo và dân vận là xây dựng, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng; phát huy dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Khi “ý Đảng” hợp với “lòng dân”, đó chính là nguồn sức mạnh to lớn nhất để đất nước vượt qua mọi khó khăn, thách thức và phát triển bền vững.
Để triển khai hiệu quả các quyết sách chiến lược và tới đây là Nghị quyết Đại hội XIV xủa Đảng, đặt ra yêu cầu thay đổi ngay từ cách thức nghiên cứu, học tập, quán triệt tiển khai nghị quyết. Chuyển đổi số có ý nghĩa như thế nào, thưa đồng chí?
Để các quyết sách chiến lược của Đảng, trong đó có Nghị quyết Đại hội XIV, thực sự đi vào cuộc sống, khâu nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và tổ chức thực hiện nghị quyết phải tiếp tục được đổi mới mạnh mẽ. Quan điểm xuyên suốt là: tư tưởng có thông thì hành động mới quyết liệt, kết quả mới bền vững. Việc học tập, quán triệt nghị quyết không thể chỉ dừng lại ở truyền đạt nội dung, mà phải giúp cán bộ, đảng viên và Nhân dân nắm chắc mục tiêu, hiểu rõ trách nhiệm và hành động cụ thể.
Chuyển đổi số trong công tác tuyên giáo và dân vận hiện nay là yêu cầu khách quan, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây không đơn thuần là ứng dụng công nghệ, mà là đổi mới phương thức lãnh đạo tư tưởng, phương thức tổ chức quán triệt nghị quyết và phương thức kết nối giữa Đảng với Nhân dân trong điều kiện mới. Chuyển đổi số giúp mở rộng không gian tuyên truyền, rút ngắn khoảng cách tiếp cận, nâng cao tính kịp thời, tính tương tác và hiệu quả thuyết phục của công tác tuyên giáo và dân vận.
Thực hiện chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương đang từng bước xây dựng và vận hành hệ sinh thái số trong toàn ngành; gắn chuyển đổi số với yêu cầu nắm chắc và làm chủ khoa học - công nghệ, đồng thời nâng cao năng lực quản lý thông tin, định hướng dư luận xã hội. Mục tiêu là làm cho đội ngũ cán bộ tuyên giáo, dân vận các cấp hiểu rõ yêu cầu nhiệm vụ, chủ động triển khai hiệu quả các kế hoạch công tác; đồng thời góp phần hạn chế thông tin xấu độc, thông tin giả, giữ vững niềm tin của Nhân dân.
Chuyển đổi số cũng mở ra khả năng mở rộng các kênh “lắng nghe” Nhân dân một cách hiệu quả hơn, thông qua việc thu thập, phân tích dữ liệu dư luận xã hội. Đây là cơ sở quan trọng để công tác tuyên giáo và dân vận tham mưu kịp thời cho cấp ủy điều chỉnh chủ trương, chính sách phù hợp với thực tiễn và lòng dân, qua đó nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng.
Suy cho cùng, chuyển đổi số trong công tác tuyên giáo và dân vận nhằm phục vụ mục tiêu cốt lõi là giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng, củng cố niềm tin xã hội, phát huy dân chủ và tăng cường đồng thuận trong Nhân dân. Khi nghị quyết của Đảng được hiểu đúng, thấm sâu và được Nhân dân tự giác thực hiện, đó chính là thước đo rõ ràng nhất cho hiệu quả của công tác tuyên giáo và dân vận, đồng thời là biểu hiện sinh động của vai trò “đi trước, mở đường” trong giai đoạn mới.
-
Xây dựng quy chế hoạt động của Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam
Ngày 16/1, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh chủ trì cuộc họp Hội đồng tư vấn, góp ý cho Quy chế hoạt động của Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam.
Báo cáo tại cuộc họp, đại diện Cơ quan điều hành Trung tâm tài chính quốc tế tại TP.HCM cho biết dự thảo quy chế lần 3 có 11 chương, 75 điều, 7 phụ lục. Dự thảo quy định mô hình tổ chức và nguyên tắc vận hành trung tâm tài chính quốc tế.
Theo dự thảo, trung tâm bao gồm các loại hình thành viên là ngân hàng, công ty chứng khoán, bảo hiểm, quỹ đầu tư, công ty quản lý tài sản, Fintech và các tổ chức hạ tầng thị trường;
Cho phép thành lập và vận hành đa dạng các sàn chứng khoán, hàng hóa phái sinh, tín chỉ carbon, bất động sản, nghệ thuật, kim loại quý; quy định rõ về sàn giao dịch tài sản mã hóa /tiền mã hóa…
Cơ quan giải quyết tranh chấp là Tòa án chuyên biệt; Trung tâm trọng tài quốc tế thuộc Trung tâm tài chính quốc tế.
Về nguyên tắc áp dụng pháp luật, quy chế này được ưu tiên áp dụng để giải quyết các vấn đề liên quan đến phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng của quy chế; cho phép áp dụng trực tiếp các quy định thuận lợi hơn của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên đối với các lĩnh vực mới chưa có quy định.
Dự thảo cũng quy định về cơ chế, chính sách đặc thù và thẩm quyền điều hành đặc biệt của Trung tâm. Theo đó, đối với dự án hạ tầng trọng yếu hoặc đặc thù theo hình thức đối tác công tư (PPP), cơ quan điều hành trình Hội đồng điều hành phương án đặc biệt.
Sau khi phê duyệt, cơ quan điều hành quyết định nhà đầu tư và ký kết hợp đồng PPP theo quy định; đồng thời ban hành hướng dẫn chi tiết quy trình chỉ định hoặc lựa chọn nhà đầu tư đối với dự án PPP đặc thù.
Về cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox), mục tiêu là tạo không gian cho các tổ chức, doanh nghiệp thử nghiệm sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh tài chính, công nghệ mới còn trong giai đoạn phát triển; nhằm khuyến khích đổi mới sáng tạo và thu thập dữ liệu thực tiễn để hoàn thiện khung pháp lý.
Đồng thời, bảo vệ người tiêu dùng và quản lý rủi ro một cách phù hợp, đảm bảo minh bạch thông tin, an toàn hệ thống và tính khả thi khi mở rộng hoạt động.
Đặc biệt, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát chỉ được áp dụng trong phạm vi trung tâm và thời gian giới hạn theo phê duyệt. Quá trình thử nghiệm tuân thủ nguyên tắc có chốt chặn dừng thử nghiệm khi phát sinh rủi ro vượt ngưỡng cho phép và có quy trình đánh giá kết quả để quyết định chuyển đổi hoạt động thử nghiệm thành hoạt động chính thức hoặc chấm dứt thử nghiệm…
Phát biểu tại cuộc họp, đại diện Bộ Công Thương cho rằng quy chế chỉ nên điều chỉnh hoạt động của các cơ quan điều hành, cơ quan giám sát, các phòng ban thuộc trung tâm tài chính quốc tế. Đối với nhà đầu tư, cần điều chỉnh bằng quy định khác hoặc bằng các Nghị định.
Kết luận cuộc họp, Thứ trưởng Nguyễn Thanh Tịnh đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo cần rà soát kỹ lưỡng tính hợp hiến, hợp pháp.
Theo Thứ trưởng, nguyên tắc ưu tiên áp dụng pháp luật của trung tâm tài chính quốc tế đã được quy định tại Nghị quyết số 222/2025/QH15 và các Nghị định của Chính phủ. Do đó, khi ban hành các quy định, quy chế của Trung tâm, cần bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất của pháp luật.
-Như Nguyệt
Thủ tướng yêu cầu kiến tạo hệ sinh thái toàn diện đối với Trung tâm Tài chính Quốc tế
Chiều ngày 16/1/2026, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung tâm Tài chính Quốc tế tại Việt Nam, chủ trì phiên họp thứ nhất của Ban Chỉ đạo nhằm rà soát tình hình triển khai các chỉ đạo và kế hoạch xây dựng Trung tâm Tài chính Quốc tế tại Thành phố Hồ Chí Minh và Thành phố Đà Nẵng.
Phiên họp tập trung rà soát tình hình thực hiện các kết luận của Bộ Chính trị; kế hoạch xây dựng, vận hành và phát triển Trung tâm Tài chính Quốc tế tại hai thành phố; cơ chế chính sách đặc thù; quy chế làm việc của Hội đồng điều hành và quy chế hoạt động của Trung tâm Tài chính Quốc tế tại Việt Nam.
Tại phiên họp, Thủ tướng yêu cầu chậm nhất ngày 9/2/2026, Trung tâm Tài chính Quốc tế tại Thành phố Hồ Chí Minh phải chính thức ra mắt.
Việc xây dựng Trung tâm Tài chính Quốc tế không đơn thuần là phát triển một khu tài chính hay vài tòa nhà, mà là kiến tạo một hệ sinh thái toàn diện bao gồm: thể chế, thị trường, cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực và mô hình quản trị hiện đại. Trong đó, thể chế là yếu tố then chốt, con người là trung tâm, hạ tầng là nền tảng, quản trị là đột phá và niềm tin thị trường là điều kiện tiên quyết.
Thủ tướng đặt mục tiêu chậm nhất ngày 9/2 tới đây ra mắt Trung tâm Tài chính Quốc tế tại Thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời ra mắt Trung tâm Trọng tài Quốc tế và Toà án chuyên biệt.
Một là, cần lấy thể chế làm đột phá, coi đây là cạnh tranh cốt lõi, Việt Nam đi sau nhưng phải kế thừa chọn lọc những tinh hoa của thế giới. Thể chế phải vượt trội, khác biệt, phù hợp thông lệ quốc tế; đồng thời phải phù hợp điều kiện Việt Nam, đảm bảo chủ quyền, an ninh tài chính, an toàn dữ liệu.
Hai là, lấy con người làm trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu và là động lực. Muốn có Trung tâm Tài chính Quốc tế, trước hết phải có đội ngũ quản trị, điều hành, chuyên gia, nhân lực chuyên nghiệp, có tâm, có đức, có tài, có sức, khát vọng cống hiến, đạo đức nghề nghiệp và kỷ luật tuân thủ, gồm cả tuyển dụng, đào tạo nhân lực và thu hút các chuyên gia quốc tế.
Ba là, lấy hạ tầng làm nền tảng. Hạ tầng không chỉ là giao thông, điện, nước; mà là hạ tầng số, dữ liệu, an ninh mạng, trung tâm dữ liệu, nền tảng giao dịch, định danh, xác thực, liên thông – chia sẻ thông tin.
Bốn là, lấy thị trường và sản phẩm làm thước đo. Làm Trung tâm Tài chính Quốc tế phải trả lời được: thu hút định chế nào, sản phẩm gì, thị trường nào, khách hàng nào; tạo giá trị gì cho nền kinh tế; đóng góp gì cho tăng trưởng và việc làm; lan tỏa gì cho lợi ích chung?
Năm là, phân vai rõ ràng, bổ trợ lẫn nhau giữa Thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Đà Nẵng, tránh cạnh tranh nội bộ, tránh chồng lấn, tránh dàn trải. Trung ương thống nhất định hướng; địa phương chủ động triển khai; phối hợp chặt chẽ, chia sẻ dữ liệu, chia sẻ nguồn lực, chia sẻ kinh nghiệm, bài học, dữ liệu.
Sáu là, đẩy mạnh hợp tác quốc tế sâu rộng, thực chất, hiệu quả.
Về một số nhiệm vụ cụ thể thời gian tới, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu khẩn trương xây dựng trình Chính phủ ban hành Nghị định về cơ chế, chính sách đặc thù hoạt động của Hội đồng điều hành Trung tâm Tài chính Quốc tế; xây dựng, ban hành Quy chế hoạt động của Trung tâm Tài chính Quốc tế, Quy chế làm việc của Hội đồng điều hành Trung tâm Tài chính Quốc tế. Cùng với đó, tiến hành tuyển dụng nhân sự, hoàn thành bố trí trụ sở hoạt động của Hội đồng điều hành.
Các bộ ngành, hai thành phố xây dựng Chiến lược phát triển Trung tâm Tài chính Quốc tế đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045 đảm bảo phù hợp với điều kiện, xu thế, khả thi, hiệu quả. Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng phối hợp kết nối hạ tầng công nghệ điều hành, bảo đảm dữ liệu "đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất liên thông, sử dụng chung".
-Tùng Thư
Thường trực Ban Bí thư dự Lễ ra mắt Ứng dụng di động Tuyên giáo và Dân vận
Sáng 16/1, tại Hà Nội, các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú; Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương Trịnh Văn Quyết; các Ủy viên Trung ương Đảng: Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương Lại Xuân Môn; Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Thành Tâm; Thứ trưởng Bộ Công an Lê Quốc Hùng đã thực hiện nghi thức bấm nút ra mắt Ứng dụng di động Tuyên giáo và Dân vận (App TGDV).
Cùng tham dự buổi lễ có các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, Thường trực các Đảng ủy trực thuộc Trung ương; lãnh đạo các ban, bộ, ngành, cơ quan Trung ương; đại diện Tập đoàn Công nghiệp – Viễn thông Quân đội Viettel, đơn vị phát triển ứng dụng.
NỀN TẢNG THÔNG TIN CHÍNH THỐNG, HỖ TRỢ ĐỊNH HƯỚNG TƯ TƯỞNG TRÊN KHÔNG GIAN SỐ
Ứng dụng di động Tuyên giáo và Dân vận là một cấu phần quan trọng trong Hệ thống thông tin Tuyên giáo và Dân vận – nền tảng thông tin chính thống, thống nhất của toàn ngành. Hệ thống này nhằm phục vụ việc cung cấp thông tin về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đồng thời hỗ trợ các cơ quan chức năng kịp thời nắm bắt, phân tích dư luận xã hội trong bối cảnh chuyển đổi số mạnh mẽ hiện nay.
Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú phát biểu tại buổi lễ.Với giao diện thân thiện, tích hợp tin tức, nội dung đa phương tiện, trợ lý ảo AI hỗ trợ hỏi – đáp nhanh và khả năng cá nhân hóa nội dung theo từng nhóm người dùng, Ứng dụng được thiết kế để dễ tiếp cận, dễ sử dụng, phù hợp với nhiều đối tượng khác nhau. Ứng dụng vận hành trên nền tảng di động, bảo đảm khả năng truyền tải thông tin nhanh, liên tục và thông suốt giữa Trung ương, địa phương và nhân dân.
Theo Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Ứng dụng di động Tuyên giáo và Dân vận không trùng lắp với các nền tảng, ứng dụng hiện có. Ứng dụng tập trung đúng vai trò, chức năng đặc thù của ngành Tuyên giáo và Dân vận, gồm: giải thích, định hướng, lắng nghe, kết nối và tạo đồng thuận xã hội.
Thông qua Ứng dụng, người dân có thể tiếp cận nhanh chóng các thông tin chính thống, đã được kiểm chứng, không phụ thuộc vào các nền tảng mạng xã hội. Người dùng có thể chủ động tra cứu chính sách, đặt câu hỏi, tiếp cận các nội dung hỏi – đáp, tự học; đồng thời phản ánh, gửi kiến nghị và theo dõi kết quả xử lý của các cơ quan chức năng.
Việc cung cấp thông tin theo hướng trực quan, dễ hiểu được kỳ vọng sẽ góp phần giảm thiểu tình trạng hiểu sai chính sách, hạn chế các khiếu nại, phản ánh không cần thiết; nâng cao khả năng tự bảo vệ của người dân trước tin giả, tin sai sự thật; từng bước hình thành công dân số và gia tăng niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.
Đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên, tuyên truyền viên, Ứng dụng là nguồn cung cấp tài liệu chuẩn hóa, phục vụ việc học tập nghị quyết, chuyên đề theo hình thức linh hoạt, có thể đo lường được kết quả. Trợ lý AI hỗ trợ hỏi – đáp, soạn thảo thông điệp, kịch bản tuyên truyền, giúp cán bộ nắm bắt nhanh hơn các phản ánh, tâm tư, nguyện vọng của nhân dân tại địa bàn.
Qua đó, Ứng dụng hỗ trợ tăng tính chủ động, tự tin trong công tác tuyên truyền, đối thoại với nhân dân; góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ tuyên giáo và dân vận theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, dựa trên dữ liệu.
CÔNG CỤ HỖ TRỢ ĐIỀU HÀNH, NẮM BẮT DƯ LUẬN
Đối với đoàn viên, hội viên và các tổ chức chính trị – xã hội, Ứng dụng di động Tuyên giáo và Dân vận là kênh tiếp nhận nội dung tuyên truyền, vận động đúng đối tượng; tham gia các hoạt động học tập số, chuyên đề, phong trào; đồng thời thực hiện các khảo sát, thăm dò nhanh về tâm tư, nguyện vọng của hội viên.
Thông qua đó, phương thức hoạt động của các tổ chức đoàn thể được đổi mới theo hướng linh hoạt, sát thực tiễn hơn; gắn các phong trào, cuộc vận động với nhu cầu, lợi ích chính đáng của đoàn viên, hội viên.
Quang cảnh Lễ ra mắt App TGDV trên điện thoại di động. Ảnh: Nhân Dân.Với các cơ quan tuyên giáo và dân vận các cấp, cũng như chính quyền cơ sở, Ứng dụng được xác định là công cụ hỗ trợ công tác tham mưu trên cơ sở dữ liệu. Hệ thống cho phép đo lường hiệu quả công tác tuyên truyền, vận động; cung cấp kho tri thức, tài liệu học tập dùng chung trong toàn hệ thống; hỗ trợ tổng hợp, phân tích thông tin một cách kịp thời.
Đối với công tác lãnh đạo, chỉ đạo các cấp, Ứng dụng cung cấp các bản đồ tổng hợp về dư luận xã hội, phản ánh của người dân, mức độ đồng thuận xã hội theo từng địa bàn, lĩnh vực. Qua đó, giảm sự phụ thuộc vào các báo cáo qua nhiều tầng nấc trung gian, góp phần nâng cao chất lượng hoạch định chủ trương, giải pháp.
Phát biểu tại lễ ra mắt, thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Ban Chỉ đạo Chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú chúc mừng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương đã hoàn thành việc xây dựng và đưa vào vận hành Ứng dụng di động Tuyên giáo và Dân vận.
Thường trực Ban Bí thư nhấn mạnh việc ra mắt Ứng dụng không chỉ là một sự kiện về công nghệ, mà là minh chứng cho sự đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong kỷ nguyên số, đáp ứng yêu cầu tăng cường cung cấp thông tin chính thống, chuẩn xác, kịp thời; chủ động định hướng tư tưởng, củng cố niềm tin và tạo sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội.
Theo Thường trực Ban Bí thư, Ứng dụng cần trở thành kênh thông tin chính thống, tin cậy, góp phần đưa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến cán bộ, đảng viên và nhân dân một cách nhanh chóng, trực quan, sinh động, dễ tiếp cận; đồng thời là công cụ hỗ trợ đắc lực cho công tác tư tưởng, nắm bắt dư luận xã hội, tâm tư, nguyện vọng của nhân dân.
Nhấn mạnh việc ra mắt mới chỉ là bước khởi đầu, Thường trực Ban Bí thư đề nghị Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương cùng các cơ quan liên quan tiếp tục hoàn thiện Ứng dụng theo hướng đồng bộ, thống nhất, dễ sử dụng, an toàn và bền vững; bảo đảm công nghệ phục vụ con người và nhiệm vụ chính trị, tránh hình thức, chạy theo phong trào.
Thường trực Ban Bí thư cũng lưu ý yêu cầu bảo đảm nội dung thông tin chính xác, kịp thời, có chiều sâu, gắn chặt với thực tiễn đất nước và đời sống nhân dân; coi công tác cập nhật thông tin là yếu tố quyết định uy tín và sức lan tỏa của Ứng dụng. Việc vận hành Ứng dụng cần gắn với đổi mới phương thức làm công tác tuyên giáo và dân vận, tăng cường tương tác, lắng nghe, đối thoại, lấy hiệu quả định hướng tư tưởng và tạo đồng thuận xã hội làm mục tiêu cao nhất.
Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú đề nghị xây dựng bộ chỉ số đánh giá hiệu quả hoạt động của Ứng dụng theo định kỳ; nhấn mạnh việc đánh giá không dựa trên số lượng cài đặt mà dựa trên tốc độ phản ứng trước các vấn đề nóng, mức độ hài lòng của người dân và khả năng định hướng thông tin trên không gian mạng.
Thay mặt lãnh đạo Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, đồng chí Trịnh Văn Quyết nghiêm túc tiếp thu các ý kiến chỉ đạo và cho biết sẽ quán triệt, triển khai đồng bộ để Ứng dụng di động Tuyên giáo và Dân vận đi vào hoạt động thực chất, hiệu quả trong thời gian tới.
-Hà Lê
Bộ Nông nghiệp và Môi trường có tân Thứ trưởng
Chiều ngày 16/1, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức lễ công bố Quyết định của Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm ông Đặng Ngọc Điệp giữ chức Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
Phát biểu tại buổi lễ, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng chúc mừng ông Đặng Ngọc Điệp được Đảng, Nhà nước tin tưởng, giao trọng trách lớn lao trong bối cảnh khối lượng công việc của Bộ ngày càng nhiều, yêu cầu đặt ra đối với tập thể lãnh đạo Bộ ngày càng cao.
Theo Bộ trưởng Trần Đức Thắng, trong nhiều năm qua, Bộ Nông nghiệp và Môi trường luôn nhận được sự quan tâm sâu sắc của Trung ương, Chính phủ trong công tác kiện toàn tổ chức bộ máy, đặc biệt là bổ sung, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo.
Lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường chúc mừng Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp. Ảnh: Tùng ĐinhThay mặt Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ và tập thể lãnh đạo Bộ, Bộ trưởng Trần Đức Thắng nhiệt liệt chúc mừng ông Đặng Ngọc Điệp được bổ nhiệm Thứ trưởng, đồng thời khẳng định đây cũng là niềm vui chung của Bộ Nông nghiệp và Môi trường khi có thêm một cán bộ lãnh đạo giàu kinh nghiệm.
Ông Đặng Ngọc Điệp là cán bộ có nhiều năm công tác trong lĩnh vực nông nghiệp, môi trường; từng làm việc tại Văn phòng Chính phủ, Thanh tra Chính phủ, giữ chức Phó Chánh Văn phòng Thanh tra Chính phủ. Khi về Bộ Nông nghiệp và Môi trường, ông lần lượt đảm nhiệm các vị trí Chánh Văn phòng Bộ, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch- Tài chính.
Bộ trưởng Trần Đức Thắng nhấn mạnh, việc được bổ nhiệm giữ chức Thứ trưởng là vinh dự nhưng cũng là trách nhiệm nặng nề đối với ông Đặng Ngọc Điệp. Bộ trưởng đề nghị trên cương vị mới, ông nhanh chóng nắm bắt yêu cầu nhiệm vụ, chủ động, tích cực trong công việc; phát huy năng lực, kinh nghiệm, phối hợp chặt chẽ với tập thể Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ và lãnh đạo Bộ để lãnh đạo, chỉ đạo hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao, đặc biệt là những nhiệm vụ cấp bách, đột xuất theo chỉ đạo của Trung ương, Chính phủ.
Tân Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp.Bộ trưởng cũng đề nghị các lãnh đạo Bộ, Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ và các đơn vị trực thuộc tiếp tục phối hợp, ủng hộ, hỗ trợ ông Đặng Ngọc Điệp trong quá trình công tác, góp phần nâng cao hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị của Bộ, của ngành.
Phát biểu nhận nhiệm vụ, Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp bày tỏ niềm vinh dự và xúc động khi được Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm giữ chức vụ Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Ông cam kết sẽ cùng Ban Thường vụ Đảng ủy và lãnh đạo Bộ đoàn kết, thống nhất, sát cánh cùng Bộ trưởng thực hiện tốt các nhiệm vụ mà Đảng, Quốc hội, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ giao cho ngành nông nghiệp và môi trường.
Tân Thứ trưởng khẳng định sẽ dốc hết tâm sức, trí tuệ và trách nhiệm để triển khai tầm nhìn phát triển ngành theo hướng xanh, bền vững; xây dựng nông nghiệp sinh thái, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, góp phần vào mục tiêu tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026- 2030.
Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp cũng nhấn mạnh sẽ tuân thủ tuyệt đối sự lãnh đạo của tổ chức Đảng, chấp hành nghiêm pháp luật; nêu cao tinh thần đổi mới, quyết liệt trong hành động; không ngừng trau dồi kiến thức, rèn luyện bản lĩnh chính trị, phấn đấu hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được phân công.
-Đỗ Phong
Chiến Dịch Quang Trung: Đã hoàn thành 1.597 ngôi nhà mới xây dựng cho dân
Ngày 16/1/2026, tại trụ sở Chính phủ, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính chủ trì hội nghị tổng kết "Chiến dịch Quang Trung" thần tốc xây dựng lại, sửa chữa nhà ở cho các hộ dân có nhà bị thiệt hại do thiên tai, bão lũ vừa qua tại miền Trung.
BIỂU TƯỢNG CỦA TINH THẦN ĐOÀN KẾTChiến dịch Quang Trung đã trở thành một biểu tượng của sự quyết liệt và tinh thần đoàn kết trong việc khắc phục hậu quả thiên tai tại khu vực miền Trung Việt Nam. Được phát động bởi Thủ tướng Chính phủ sau những đợt bão lũ lịch sử vào cuối năm 2025, chiến dịch này không chỉ là một nỗ lực xây dựng lại nhà cửa, mà còn là một minh chứng cho sức mạnh của sự lãnh đạo tập trung và sự huy động tổng lực của cả hệ thống chính trị và xã hội.
Thủ tướng Phạm Minh Chính: "Chiến dịch Quang Trung" mặc dù không có tiếng súng nhưng đã "tốc chiến, tốc thắng", không những "chiến thắng" mà còn "chiến thắng giòn giã". Ảnh VPG.Thủ tướng Phạm Minh Chính nêu rõ: Đến ngày hôm nay, chúng ta có thể tự tin khẳng định "Chiến dịch Quang Trung" mặc dù không có tiếng súng nhưng đã "tốc chiến, tốc thắng", không những "chiến thắng" mà còn "chiến thắng giòn giã". Đây không chỉ là niềm vui, niềm hạnh phúc của các hộ dân bị mất nhà, hư hỏng nhà trong đợt thảm họa thiên tai tại miền Trung ruột thịt vừa qua, mà đã hòa vào thành niềm vui chung của đất nước, của dân tộc ngay trước thềm Đại hội XIV của Đảng và dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ.
Từ tháng 10 đến tháng 11/ 2025, miền Trung Việt Nam đã phải đối mặt với những đợt thiên tai khắc nghiệt, bao gồm bão số 10, 12, 13 và mưa lũ kéo dài, gây ra lũ lụt vượt giá trị lịch sử tại sáu tuyến sông. Thiên tai đã gây thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản, với 1.597 ngôi nhà bị sập, đổ, cuốn trôi và 34.759 ngôi nhà bị hư hỏng nặng. Trước tình hình đó, Thủ tướng Chính phủ đã phát động Chiến dịch Quang Trung nhằm xây dựng lại và sửa chữa nhà ở cho các hộ dân bị thiệt hại, với mục tiêu hoàn thành trước Tết Nguyên đán 2026.
Chiến dịch Quang Trung đã huy động tối đa nguồn lực từ các bộ, ngành, địa phương và các tổ chức xã hội. Bộ Quốc phòng đã huy động hơn 312 nghìn lượt cán bộ, chiến sĩ và dân quân tự vệ, cùng hàng nghìn lượt phương tiện để hỗ trợ xây dựng và sửa chữa nhà ở. Bộ Công an cũng đã huy động hơn 126 nghìn lượt cán bộ, chiến sĩ để xây dựng mới 419 căn nhà. Các bộ, ngành khác như Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng cũng đã đóng góp quan trọng vào việc triển khai chiến dịch.
Báo cáo tại hội nghị, Bộ trưởng Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng cho biết đến ngày 30/12/2025, đã có 34.759 nhà bị hư hỏng được sửa chữa, hoàn thành 100%, trong đó 33.879 (đạt 97,5%) nhà hoàn thành sớm hơn kế hoạch 5-10 ngày. Đến ngày 15/1/2026, đã cơ bản hoàn thành 1.597 nhà phải xây dựng mới.
Bộ trưởng Trần Đức Thắng báo cáo tại Hội nghị. Ảnh VPG.Trong đó, tỉnh Gia Lai có 651/674 nhà hoàn thành trước ngày 15/1, hiện chỉ còn 23 nhà có quy mô lớn, tỉnh quyết tâm hoàn thành dứt điểm trước ngày 19/1/2026.
Tỉnh Đắk Lắk có 590/606 nhà hoàn thành trước ngày 15/1, hiện còn 16 nhà xây dựng trong khu tái định cư cơ bản đã hoàn thành, dự kiến bàn giao vào ngày 19/1/2026.
Bộ trưởng Trần Đức Thắng khẳng định: 100% hộ dân bị thiệt hại về nhà ở đã và sẽ có nơi ở an toàn, ổn định. Chiến dịch không chỉ mang lại nơi ở an toàn, ổn định cho người dân mà còn giúp họ kịp thời đón Tết Nguyên đán 2026 trong niềm vui và hạnh phúc.
NHIỀU BÀI HỌC KINH NGHIỆM QUÝ BÁUQua triển khai Chiến dịch Quang Trung, nhiều bài học kinh nghiệm quý báu đã được rút ra. Chiến dịch thể hiện rõ vai trò lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất của Đảng và Nhà nước, đồng thời huy động được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và xã hội. Tinh thần "lấy dân làm gốc" và "tình dân tộc, nghĩa đồng bào" đã được lan tỏa mạnh mẽ, tạo nên nguồn lực to lớn cả về vật chất lẫn tinh thần. Chiến dịch cũng cho thấy tinh thần hành động thần tốc, quyết liệt, chưa từng có tiền lệ, với phương châm "thần tốc - táo bạo - quyết liệt - hiệu quả".
Chiến dịch Quang Trung không chỉ là một nỗ lực xây dựng lại nhà ở mà còn mang ý nghĩa an sinh, ổn định tâm lý, giúp người dân sớm "an cư lạc nghiệp". Đây là một mô hình mẫu cho công tác phòng, chống và khắc phục thiên tai trong tương lai, với những bài học kinh nghiệm quý báu về chỉ đạo điều hành, phối hợp liên ngành và huy động nguồn lực xã hội.
Các chiến sĩ công an xây dựng nhà cho dân trong Chiến dịch Quang Trung. Ảnh: VPG.Kết thúc chiến dịch, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã đề xuất Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương nghiên cứu, tổng kết và chuẩn hóa mô hình tổ chức của Chiến dịch Quang Trung để áp dụng trong các tình huống khẩn cấp tương lai.
Bộ trưởng Trần Đức Thắng kiến nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét chỉ đạo rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ xây dựng, sửa chữa nhà ở an toàn trước thiên tai; đặc biệt là nhà ở chống bão lũ cho người dân khu vực thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiên tai. Khuyến khích áp dụng các mẫu thiết kế nhà an toàn, phù hợp điều kiện tự nhiên, phong tục tập quán và khả năng tài chính của người dân.
Tiếp tục quan tâm bố trí nguồn lực từ ngân sách Trung ương, đồng thời có cơ chế khuyến khích huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội, doanh nghiệp, tổ chức trong và ngoài nước tham gia hỗ trợ khắc phục hậu quả thiên tai, ổn định đời sống nhân dân theo hướng công khai, minh bạch, kịp thời và hiệu quả.
Chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương tiếp tục triển khai các chương trình hỗ trợ người dân vùng bị ảnh hưởng bởi thiên tai về vật dụng sinh hoạt thiết yếu, công cụ sản xuất, khôi phục sinh kế gắn với đào tạo nghề, tạo việc làm, góp phần giúp người dân sớm ổn định đời sống và phát triển bền vững.
Chỉ đạo tăng cường công tác dự báo, cảnh báo sớm thiên tai; rà soát, điều chỉnh quy hoạch dân cư, hạ tầng tại các khu vực có nguy cơ cao; tiếp tục đầu tư các công trình phòng chống thiên tai, sạt lở, lũ quét, bảo đảm an toàn tính mạng và tài sản của nhân dân, hạn chế thấp nhất thiệt hại do thiên tai gây ra.
-Chu Khôi
Hỗ trợ pháp lý liên ngành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng đã ký Quyết định số 84/QĐ-TTg ngày 14/1/2026 phê duyệt Chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh giai đoạn 2026 – 2030.
Chương trình được triển khai trên phạm vi toàn quốc, hướng đến hỗ trợ các doanh ghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh nhằm phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả, chất lượng cao.
Đặc biệt, chương trình nhấn mạnh vào việc hoàn thiện chính sách, pháp luật để tạo cơ chế hỗ trợ pháp lý đột phá; đồng thời nâng cao năng lực tiếp cận pháp luật của các doanh nghiệp theo hướng chuyên nghiệp.
Một trong những điểm nổi bật của chương trình là đảm bảo 100% doanh nghiệp nhỏ và vừa được tiếp cận thông tin pháp lý cơ bản về hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh. Điều này được thực hiện thông qua việc xây dựng và tích hợp cơ sở dữ liệu pháp luật trên Cổng Pháp luật quốc gia và các trang thông tin điện tử hỗ trợ pháp lý.
Ngoài ra, chương trình cũng đặt mục tiêu tối thiểu 80% đề nghị tư vấn của doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh được giải quyết qua các nền tảng số…
Chương trình cũng đề ra mục tiêu về hoạt động bồi dưỡng kiến thức pháp luật. Cụ thể, tối thiểu 80% công chức, viên chức, người làm công tác pháp chế, tham mưu, triển khai công tác hỗ trợ pháp lý được trang bị kỹ năng, kiến thức pháp luật về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp và các nội dung pháp luật liên quan nhằm nâng cao năng lực hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh.
Bên cạnh đó, tối thiểu 80% doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh tham gia học tập, khai thác thông tin pháp luật trên các nền tảng trực tuyến, nền tảng số (như nền tảng đào tạo, giáo dục trực tuyến đại chúng mở (MOOC)…
Để đạt được các mục tiêu trên, chương trình đưa ra các nhóm nhiệm vụ bao gồm giải pháp tạo nền tảng thúc đẩy thực hiện hiệu quả công tác hỗ trợ pháp lý và tổ chức thực hiện các hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh.
Theo nhiệm vụ đặt ra, Bộ Tài chính sẽ chủ trì sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện quy định của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa; nghiên cứu, xây dựng cơ chế, chính sách, bố trí nguồn lực phù hợp để triển khai mô hình hỗ trợ miễn phí dịch vụ tư vấn pháp lý cho doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh...
Bộ Tư pháp chủ trì xây dựng Nghị định thay thế Nghị định số 55/2019/NĐ-CP ngày 24/6/2019 của Chính phủ về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa; ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số để sàng lọc, phân loại các phản ánh, kiến nghị theo lĩnh vực pháp luật để cung cấp thông tin pháp lý và trả lời trực tiếp doanh nghiệp nhỏ và vừa, đại diện hộ kinh doanh hoặc chuyển cơ quan khác có thẩm quyền xử lý…
-Đỗ Như
