Thời Báo Kinh Tế

Subscribe to Thời Báo Kinh Tế feed Thời Báo Kinh Tế
VnEconomy - Góc nhìn toàn cảnh về nền kinh tế Việt Nam
Updated: 1 min 1 sec ago

Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Duy Ngọc thúc đẩy hợp tác công nghệ, bán dẫn và đầu tư chiến lược tại Hoa Kỳ

Sat, 02/21/2026 - 09:18
Tại Washington DC, Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Duy Ngọc đã chủ trì nhiều cuộc làm việc quan trọng với các tập đoàn, trường đại học và hiệp hội hàng đầu của Hoa Kỳ nhằm thúc đẩy hợp tác đầu tư, khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và công nghiệp bán dẫn.

Trong 2 ngày 19 và 20/2 (giờ địa phương) tại thủ đô Washington DC của Hoa Kỳ, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Trưởng Ban chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Duy Ngọc đã chủ trì các cuộc làm việc với Tập đoàn Rosen Partners, Đại học Bang Arizona (ASU), Tập đoàn Meta và Hiệp hội công nghiệp bán dẫn Hoa Kỳ (SIA).

MỞ RỘNG HỢP TÁC ĐẦU TƯ CHIẾN LƯỢC VỚI TẬP ĐOÀN ROSEN PARTNERS

Trong cuộc gặp Giám đốc điều hành Tập đoàn Rosen Partners Daniel Rosen, Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Duy Ngọc ghi nhận và đánh giá cao sự quan tâm của Tập đoàn đối với môi trường đầu tư tại Hà Nội, đặc biệt trong lĩnh vực du lịch và giải trí. Lãnh đạo Thành ủy kỳ vọng các dự án hợp tác, nếu được triển khai, sẽ mang lại nguồn vốn FDI quy mô lớn, đồng thời góp phần đưa vào các mô hình quản trị và vận hành tiên tiến.

Trao đổi về bối cảnh phát triển của Việt Nam,  Bí thư Thành ủy Hà Nội cho biết Đại hội lần thứ XIV của Đảng đã xác định mục tiêu phát triển đất nước gắn với các mốc 100 năm thành lập Đảng và 100 năm thành lập nước, với trọng tâm là tăng trưởng kinh tế ở mức cao và lấy khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo làm động lực then chốt. Nghị quyết số 57-NQ/TW đã làm rõ định hướng phát triển hệ sinh thái đầu tư mạo hiểm, cho phép triển khai các mô hình thí điểm, đồng thời hình thành các khu công nghệ cao tại Hà Nội, TP.HCM và các địa phương lân cận để tiếp nhận dự án công nghệ hiện đại, bao gồm trí tuệ nhân tạo và bán dẫn.

Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Duy Ngọc tặng quà lưu niệm cho Giám đốc điều hành Tập đoàn Rosen Partners Daniel Rosen. Ảnh: TTXVN

Đối với Hà Nội, Bí thư Thành ủy thông tin GRDP năm 2025 tăng 8,16%, thu ngân sách chiếm khoảng 1/4 cả nước, đồng thời Thành phố đặt mục tiêu tăng trưởng 11% từ năm 2026. Để đạt được mục tiêu này, Hà Nội xác lập ba trụ cột phát triển gồm: quy hoạch Thủ đô với tầm nhìn 100 năm; khai thác không gian phát triển đa tầng, đa trung tâm; và tăng cường liên kết vùng với các địa phương vệ tinh. Thành phố cũng đang nghiên cứu, đề xuất các cơ chế, chính sách vượt trội nhằm tạo dư địa tăng trưởng dài hạn.

Hà Nội hiện triển khai quy hoạch tổng thể hướng tới mô hình đại đô thị “Văn hiến – Bản sắc – Sáng tạo”, xanh, thông minh và kết nối toàn cầu, với mục tiêu duy trì tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026–2045. Theo Bí thư Thành ủy, việc hiện thực hóa mục tiêu này đòi hỏi mô hình tăng trưởng mới dựa trên tri thức, khoa học – công nghệ, chuyển đổi số và nguồn nhân lực chất lượng cao, cùng với nhu cầu huy động nguồn vốn xã hội rất lớn.

Trên cơ sở đó, Hà Nội chào đón các doanh nghiệp Hoa Kỳ đầu tư vào các lĩnh vực ưu tiên như tài chính, hạ tầng đô thị, công nghệ chiến lược, viễn thông, năng lượng, y tế, giáo dục và du lịch chất lượng cao.

Với Rosen Partners, ngoài bất động sản và du lịch, Bí thư Thành ủy đề nghị Tập đoàn nghiên cứu mở rộng sang các lĩnh vực Thành phố ưu tiên trong tầm nhìn dài hạn, đồng thời xem xét khả năng xây dựng các trung tâm nghiên cứu, trước mắt tại Khu công nghệ cao Hòa Lạc.

Lãnh đạo Thành ủy Hà Nội khẳng định Thành phố đang hoàn thiện thể chế theo hướng tiếp cận thông lệ quốc tế, tạo môi trường đầu tư cạnh tranh, chi phí giao dịch thấp, cơ chế “làn xanh” cho các dự án lớn, chiến lược, đồng thời sẵn sàng quỹ đất sạch để phục vụ các nhà đầu tư dài hạn.

THÚC ĐẨY ĐÀO TẠO NHÂN LỰC VÀ HỆ SINH THÁI BÁN DẪN CÙNG ĐẠI HỌC BANG ARIZONA

Tại cuộc làm việc với Đại học Bang Arizona (ASU), Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Duy Ngọc đánh giá cao sự đồng hành của ASU với Việt Nam trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo, khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và công nghiệp bán dẫn. Bí thư cho biết Việt Nam xác định phát triển khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá chiến lược, giữ vai trò động lực chính trong nâng cao năng suất và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Duy Ngọc tặng quà lưu niệm cho Phó Chủ tịch phụ trách các sáng kiến công nghệ chiến lược của Đại học Bang Arizona (ASU) Kevin McGinni. Ảnh: TTXVN.

Đánh giá kết quả hợp tác thời gian qua, đặc biệt sau Hội thảo “Định hình tương lai ngành bán dẫn” tổ chức đầu năm 2026, Bí thư Thành ủy đề nghị ASU nghiên cứu khả năng ký kết các thỏa thuận hợp tác với một số đô thị lớn của Việt Nam nhằm thúc đẩy phát triển ngành bán dẫn.

Trọng tâm hợp tác bao gồm phát triển nguồn nhân lực, thu hút doanh nghiệp bán dẫn hàng đầu của Hoa Kỳ đầu tư các trung tâm RD về chip, AI, thiết kế, đóng gói, kiểm thử và vật liệu tiên tiến.

Riêng với Hà Nội, Thành phố định hướng tăng cường hợp tác xây dựng Chương trình Đào tạo Lực lượng Lao động ngành Bán dẫn, kết nối đào tạo – nghiên cứu – doanh nghiệp; hỗ trợ xây dựng chương trình giảng dạy, phát triển đội ngũ giảng viên cho các trường đại học và cao đẳng; thúc đẩy các chương trình đào tạo song bằng, đồng hướng dẫn, trong đó có Dự án đào tạo 1.000 tiến sĩ trình độ quốc tế của Hà Nội.

Bí thư Thành ủy bày tỏ mong muốn ASU và cộng đồng doanh nghiệp bán dẫn Hoa Kỳ ưu tiên hợp tác đầu tư tại Khu công nghệ cao Hòa Lạc, đồng thời khẳng định Hà Nội và TP.HCM có hệ thống trường đại học lớn, là nền tảng để triển khai mô hình “doanh nghiệp trong lòng đại học”, hình thành các khu đổi mới sáng tạo ngay trong khuôn viên các cơ sở giáo dục.

HƯỚNG TỚI ĐỐI TÁC CÔNG NGHỆ CHIẾN LƯỢC DÀI HẠN VỚI TẬP ĐOÀN META

Trong cuộc gặp Chủ tịch phụ trách đối ngoại toàn cầu của Meta Joel Kaplan, Bí thư Thành ủy Hà Nội ghi nhận sự hiện diện và mở rộng đầu tư của Meta tại Việt Nam, từ hoạt động sản xuất thiết bị đến đàm phán Bản ghi nhớ hợp tác chiến lược với Bộ Khoa học và Công nghệ. Ông cho rằng đây là thời điểm phù hợp để hai bên nâng tầm quan hệ hợp tác lên đối tác công nghệ chiến lược dài hạn.

Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Duy Ngọc tặng quà lưu niệm cho Chủ tịch phụ trách đối ngoại toàn cầu của Meta Joel Kaplan. Ảnh: TTXVN.

Trao đổi về định hướng chính sách, Bí thư Thành ủy nhấn mạnh Nghị quyết 57-NQ/TW cho phép thí điểm các mô hình mới, chấp nhận rủi ro có kiểm soát, thúc đẩy đầu tư mạo hiểm và tăng cường liên kết giữa Nhà nước – doanh nghiệp – viện nghiên cứu – trường đại học. Trong Danh mục công nghệ chiến lược, chip bán dẫn và các sản phẩm liên quan như chip AI, chip IoT được xác định là lĩnh vực ưu tiên.

Trên cơ sở đó, Hà Nội đề nghị Meta tăng cường hợp tác phát triển bộ dữ liệu tiếng Việt quy mô quốc gia, vừa bảo đảm chủ quyền số, vừa nâng cao năng lực cạnh tranh toàn cầu của các hệ thống AI tiếng Việt. Mục tiêu đặt ra là hoàn thiện bộ dữ liệu này phục vụ các mô hình AI quy mô lớn vào cuối năm 2027.

Ngoài ra, lãnh đạo Thành ủy đề xuất Meta hỗ trợ tinh chỉnh các mô hình AI nền tảng phù hợp với ngôn ngữ, văn hóa và pháp luật Việt Nam; chia sẻ kinh nghiệm quản trị rủi ro, bảo đảm an toàn AI; hỗ trợ đào tạo kỹ năng số và AI cho thanh niên, người lao động; hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển thương mại điện tử; phối hợp phòng, chống tin giả và lừa đảo trên không gian mạng.

TĂNG CƯỜNG KẾT NỐI CHÍNH SÁCH VÀ DOANH NGHIỆP BÁN DẪN VỚI HIỆP HỘI SIA

Tại buổi làm việc với Hiệp hội công nghiệp bán dẫn Hoa Kỳ (SIA), Bí thư Thành ủy Hà Nội đánh giá cao vai trò của Hiệp hội trong việc đại diện cho các doanh nghiệp chiếm phần lớn doanh thu ngành bán dẫn Hoa Kỳ và thị phần toàn cầu.

Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Duy Ngọc tặng quà lưu niệm cho Chủ tịch Hiệp hội công nghiệp bán dẫn Hoa Kỳ (SIA) John Neuffe. Ảnh: TTXVN.

Bí thư Thành ủy Hà Nội cho biết Việt Nam đã ban hành Chiến lược phát triển ngành công nghiệp bán dẫn đến năm 2030, tầm nhìn 2050, với các mục tiêu cụ thể về đào tạo trên 50.000 kỹ sư, phát triển doanh nghiệp thiết kế, năng lực đóng gói – kiểm thử và từng bước hình thành năng lực sản xuất chip.

Thay mặt Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, Bí thư Thành ủy đề xuất hợp tác với SIA trong đào tạo và công nhận chứng chỉ nhân lực bán dẫn; kết nối trực tiếp doanh nghiệp thành viên SIA với các trường đại học Việt Nam; đồng thời tư vấn hoàn thiện khung pháp lý, chính sách thu hút đầu tư RD.

Lãnh đạo Thành ủy ghi nhận các ý kiến tư vấn và đề nghị hợp tác từ phía SIA, đồng thời khẳng định Hà Nội sẵn sàng phối hợp cùng các đối tác Hoa Kỳ thúc đẩy phát triển hệ sinh thái bán dẫn, công nghệ cao theo hướng thực chất, dài hạn.

-Hà Lê

Categories: The Latest News

Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội kiểm tra, chúc Tết các công trường chống ngập trọng điểm trong những ngày đầu Xuân

Fri, 02/20/2026 - 22:12
Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội dẫn đầu Đoàn công tác trực tiếp kiểm tra, động viên lực lượng thi công tại nhiều dự án chống úng ngập trọng điểm. Nhiều hạng mục được tổ chức 3 ca 4 kíp, duy trì nhịp độ xuyên lễ, xuyên Tết.

Sáng 20/2 (mùng 4 Tết Nguyên đán Bính Ngọ), Vũ Đại Thắng, Chủ tịch UBND Hà Nội đã dẫn đầu Đoàn công tác của Thành phố đi kiểm tra, động viên và chúc Tết cán bộ, kỹ sư, công nhân đang làm việc tại một số công trường thi công các dự án chống úng ngập trọng điểm trên địa bàn.

TẬP TRUNG NGUỒN LỰC CHO CÁC DỰ ÁN CHỐNG NGẬP CẤP BÁCH TRƯỚC MÙA MƯA 2026

Điểm kiểm tra đầu tiên của Đoàn công tác là Dự án cải tạo tuyến kênh Thụy Phương kết hợp bổ cập nước sông Tô Lịch và tăng cường tiêu thoát nước khu vực Bắc Từ Liêm. Dự án được UBND Thành phố ban hành Lệnh xây dựng công trình khẩn cấp và phê duyệt đầu tư trong tháng 11/2025 và 2/2026, với tổng mức đầu tư 920,6 tỷ đồng từ ngân sách thành phố.

Công trình triển khai trên địa bàn các phường Đông Ngạc, Xuân Đỉnh, Nghĩa Đô, nhằm tăng cường tiêu thoát nước cho lưu vực khoảng 350 ha thường xuyên ngập úng; bảo đảm bổ cập ổn định cho sông Tô Lịch với lưu lượng 5 m³/giây; đồng thời phục vụ tưới cho khoảng 36 ha đất nông nghiệp hiện trạng.

Chủ tịch UBND thành phố Vũ Đại Thắng nghe đơn vị thi công giới thiệu về tiến độ dự án. Ảnh: Đình Hiệp

Dự án cải tạo trạm bơm Thụy Phương với công suất 5 m³/giây, kết hợp tiêu nước ra sông Nhuệ; cải tạo đồng bộ tuyến kênh Thụy Phương dài khoảng 3,6 km. Đoạn từ đường Phạm Văn Đồng đến sông Tô Lịch xây dựng tuyến cống hộp 3x3 m, dài khoảng 4 km dọc Hoàng Minh Thảo – Võ Chí Công, có hệ thống cửa điều tiết nhằm ngăn nước thải xâm nhập khi bổ cập.

Theo kế hoạch, các hạng mục chống ngập hoàn thành trước 30/4/2026; đến 30/6/2026 hoàn thiện cảnh quan, hoàn trả mặt đường và chính thức bổ cập nước cho sông Tô Lịch.

Tiếp đó, Đoàn kiểm tra Dự án Hồ điều hòa Thụy Phương 2 tại phường Đông Ngạc – công trình khẩn cấp với tổng mức đầu tư 717 tỷ đồng. Dự án hình thành hồ điều hòa dung tích khoảng 0,5 triệu m³, trong đó dung tích điều hòa khoảng 0,4 triệu m³, nhằm tăng khả năng trữ nước, điều tiết dòng chảy và giảm úng ngập khu vực.

Thành phố đặt mục tiêu hoàn thành các hạng mục chính trước 30/4/2026, trọng tâm là kè bao dài 1.952 m và đào khoảng 730.000 m³ đất lòng hồ; các hạng mục cảnh quan hoàn thành trước 31/5/2026.

Đoàn công tác cũng thăm, kiểm tra Gói thầu số 49 xây dựng hệ thống cống bao sông Lừ thuộc Dự án xử lý nước thải Yên Xá. Gói thầu có giá trị hơn 672,7 tỷ đồng, thu gom nước thải dọc sông Lừ đưa về Nhà máy Yên Xá với lưu lượng khoảng 75.000 m³/ngày đêm.

Trong tổng thể dự án, nhà máy xử lý và tuyến ống dọc sông Tô Lịch đã vận hành từ tháng 6/2024. Riêng Gói thầu 49, dù hợp đồng hoàn thành vào tháng 10/2027, song theo chỉ đạo của UBND Thành phố, nhà thầu tăng tốc thi công, phấn đấu cơ bản hoàn thành trong năm 2026, tổ chức 3 ca 4 kíp, thi công xuyên Tết; từ ngày 20/2 đã bắt đầu khoan kích nhịp đầu tiên đường kính D1500.

ĐẨY NHANH TIẾN ĐỘ CÁC HẠNG MỤC TIÊU THOÁT NƯỚC, XỬ LÝ NƯỚC THẢI TRỌNG ĐIỂM

Tại các điểm kiểm tra, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội ghi nhận tinh thần trách nhiệm của chủ đầu tư, nhà thầu và lực lượng thi công khi duy trì nhịp độ làm việc trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026. Nhiều mũi thi công được tổ chức 3 ca 4 kíp, huy động nhân lực, thiết bị ngay từ những ngày đầu năm mới, góp phần giữ vững tiến độ các dự án trọng điểm về thoát nước và môi trường của thành phố.

Chủ tịch UBND thành phố Vũ Đại Thắng cùng Đoàn công tác của thành phố đến thăm, kiểm tra và chúc Tết đơn vị thực hiện Gói thầu số 49. Ảnh: Đình Hiệp

Lãnh đạo thành phố đánh giá cao việc các đơn vị chủ động khắc phục khó khăn về mặt bằng, thời tiết, tổ chức thi công khoa học, duy trì lực lượng trực Tết để triển khai các hạng mục then chốt. Việc khởi động các mũi khoan kích, đào mở và thi công kè hồ ngay sau kỳ nghỉ được xác định là yếu tố quan trọng nhằm tạo đà hoàn thành các mục tiêu năm 2026.

Nhấn mạnh yêu cầu trong thời gian tới, Chủ tịch UBND Thành phố đề nghị các ban quản lý dự án và nhà thầu tiếp tục tập trung cao độ cho các hạng mục đường găng, nhất là những phần việc phục vụ chống ngập úng trước mùa mưa. Các đơn vị được yêu cầu rà soát tiến độ tổng thể, bố trí đầy đủ nhân lực, thiết bị, vật tư, bảo đảm thi công liên tục, không để gián đoạn.

Cùng với yêu cầu về tiến độ, lãnh đạo thành phố lưu ý công tác bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh môi trường và an ninh trật tự tại công trường; quá trình thi công phải tuân thủ nghiêm các quy định kỹ thuật, có biện pháp che chắn, phân luồng giao thông, hạn chế tối đa ảnh hưởng đến đời sống người dân khu vực dự án.

Thành phố cũng yêu cầu tăng cường phối hợp với chính quyền địa phương để kịp thời tháo gỡ các vướng mắc về mặt bằng, hạ tầng kỹ thuật và tổ chức thi công, phấn đấu hoàn thành các mốc tiến độ đã đề ra, sớm phát huy hiệu quả các công trình trong công tác chống ngập, cải thiện môi trường và nâng cao chất lượng hạ tầng đô thị.

-Dũng Hiếu

Categories: The Latest News

Việt Nam trở thành quốc gia liên kết của Cơ quan Năng lượng Quốc tế

Fri, 02/20/2026 - 22:10
Hội nghị Bộ trưởng Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) năm 2026 tại Paris (Cộng hòa Pháp) đã chính thức thông qua đề xuất đưa Việt Nam trở thành quốc gia liên kết, ghi nhận vai trò và cam kết của Việt Nam trong chuyển dịch năng lượng và hành động vì khí hậu.

Phát biểu tại hội nghị, Đại sứ Việt Nam tại Pháp Trịnh Đức Hải nhấn mạnh quyết định của IEA là minh chứng rõ nét cho những nỗ lực bền bỉ và quyết tâm cao của Việt Nam trên lộ trình chuyển dịch năng lượng và thực hiện các cam kết khí hậu toàn cầu. Việc trở thành quốc gia liên kết có ý nghĩa đặc biệt khi Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới, kiên định mục tiêu trung hòa carbon và thúc đẩy chuyển đổi năng lượng xanh.

Các nước chào mừng Việt Nam được kết nạp thành quốc gia liên kết của IEA - Ảnh: TTXVN

Đại sứ khẳng định Việt Nam ủng hộ mạnh mẽ tầm nhìn xây dựng một tổ chức năng lượng toàn cầu thực thụ, phản ánh đúng các xu hướng năng lượng mới nổi và bảo đảm cân bằng lợi ích giữa các nước thành viên và quốc gia liên kết; đồng thời khẳng định Việt Nam sẵn sàng tham gia chủ động, tích cực vào các đối thoại năng lượng toàn cầu.

Trong phát biểu khai mạc, Tiến sĩ Fatih Birol, Giám đốc Điều hành IEA cho biết các nước thành viên đánh giá cao mối quan hệ hợp tác ngày càng sâu rộng với Việt Nam, hướng tới một hệ thống năng lượng toàn cầu an toàn, bền vững và có chi phí hợp lý.

Theo ông, Việt Nam với quy mô dân số hơn 100 triệu người, cùng tiềm năng điện Mặt Trời, thủy điện, khí đốt và triển vọng điện hạt nhân trong thời gian tới, sẽ là quốc gia liên kết quan trọng của IEA.

Giám đốc Điều hành IEA nhấn mạnh việc Việt Nam trở thành quốc gia liên kết tiếp tục khẳng định cam kết đóng góp tích cực của Việt Nam vào các đối thoại năng lượng toàn cầu, cùng cộng đồng quốc tế xây dựng tương lai năng lượng an toàn, bền vững và thịnh vượng.

IEA là diễn đàn năng lượng hàng đầu thế giới, giữ vai trò then chốt trong bảo đảm an ninh năng lượng và thúc đẩy chuyển dịch năng lượng sạch. Việc trở thành quốc gia liên kết giúp Việt Nam tiếp cận sâu hơn các nguồn lực, phân tích chính sách và kinh nghiệm quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hóa năng lượng.

Hội nghị Bộ trưởng IEA 2026 diễn ra trong hai ngày 18–19/2, quy tụ gần 60 bộ trưởng và lãnh đạo cấp cao từ các quốc gia thành viên và liên kết, cùng sự tham gia đối thoại của lãnh đạo nhiều tập đoàn năng lượng – công nghệ hàng đầu thế giới như EDF, TotalEnergies, Shell.

Bên cạnh việc thông qua quy chế quốc gia liên kết của Việt Nam, hội nghị cũng công nhận Colombia trở thành thành viên thứ 33 của IEA, khởi động quy trình kết nạp Brazil làm thành viên chính thức, đồng thời thông báo Ấn Độ bước vào giai đoạn cuối của tiến trình gia nhập IEA.

-Minh Hiếu

Categories: The Latest News

Thủ tướng kiểm tra, thúc tiến độ hai tuyến cao tốc chiến lược Hữu Nghị – Chi Lăng và Đồng Đăng – Trà Lĩnh

Fri, 02/20/2026 - 22:06
Trong ngày mùng 4 Tết Bính Ngọ, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính trực tiếp kiểm tra hiện trường, thăm và động viên lực lượng thi công hai dự án cao tốc Hữu Nghị – Chi Lăng và Đồng Đăng – Trà Lĩnh. Chuyến công tác tập trung đánh giá tiến độ, tháo gỡ vướng mắc và thúc đẩy hoàn thành các tuyến đường chiến lược kết nối khu vực biên giới phía Bắc.

Sáng 20/2 (mùng 4 Tết Bính Ngọ), Phạm Minh Chính dẫn đầu đoàn công tác của Chính phủ kiểm tra, chỉ đạo thúc đẩy triển khai hai dự án đường bộ cao tốc Hữu Nghị – Chi Lăng (tỉnh Lạng Sơn) và Đồng Đăng (Lạng Sơn) – Trà Lĩnh (Cao Bằng).

Cùng tham gia đoàn công tác có Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh; Bí thư Tỉnh ủy Lạng Sơn Hoàng Quốc Khánh; Bí thư Tỉnh ủy Cao Bằng Phan Thăng An; lãnh đạo một số bộ, ngành Trung ương và lãnh đạo hai tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng.

HAI TUYẾN CAO TỐC HỮU NGHỊ - CHI LĂNG, ĐỒNG ĐĂNG – TRÀ LĨNH: THÔNG TUYẾN CỤC BỘ, TIẾT GIẢM CHI PHÍ

Dự án cao tốc Hữu Nghị – Chi Lăng là phân đoạn đầu của trục cao tốc Bắc – Nam phía Đông, có chiều dài khoảng 60 km, đi qua 7 xã, phường trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn. Tuyến đường có ý nghĩa đặc biệt khi kết nối trực tiếp với ba cửa khẩu quốc tế gồm Hữu Nghị, Cốc Nam và Tân Thanh, tạo hành lang giao thông quan trọng phục vụ xuất nhập khẩu và phát triển logistics khu vực biên giới.

Thủ tướng Phạm Minh Chính kiểm tra tiến độ và mừng tuổi, động viên công nhân thi công dự án đường cao tốc Đồng Đăng (Lạng Sơn)-Trà Lĩnh (Cao Bằng). Ảnh: TTXVN

Dự án có tổng mức đầu tư 11.808 tỷ đồng, được khởi công ngày 21/4/2024. Theo báo cáo của chủ đầu tư và các nhà thầu, hiện nay trên công trường đang huy động hơn 3.200 nhân sự và trên 1.200 máy móc, thiết bị, tổ chức thi công đồng loạt tại hơn 150 mũi.

Đến thời điểm kiểm tra, sản lượng thực hiện dự án đạt khoảng 63% giá trị hợp đồng. Tuyến cao tốc đã thông tuyến cục bộ 50/59 km, nhiều hạng mục chính đang được đẩy nhanh tiến độ để sớm hoàn thiện toàn tuyến theo kế hoạch đề ra.

Dự án cao tốc Đồng Đăng – Trà Lĩnh có tổng chiều dài 121 km, được đầu tư theo hình thức đối tác công – tư (PPP) với tổng mức đầu tư 25.550 tỷ đồng, chia làm hai giai đoạn.

Giai đoạn 1 của dự án dài hơn 93 km, bao gồm hai hầm xuyên núi và 64 cây cầu vượt, tổng mức đầu tư 14.331,618 tỷ đồng, được khởi công ngày 1/1/2024. Giai đoạn 2 được khởi công ngày 19/8/2025, gồm mở rộng 93,35 km đã đầu tư ở giai đoạn 1 và xây dựng mới 27,71 km cao tốc nối lên cửa khẩu Trà Lĩnh, với tổng mức đầu tư 12.072 tỷ đồng.

Thủ tướng Phạm Minh Chính chúc Tết nhân dân khu vực dự án đường cao tốc Đồng Đăng (Lạng Sơn)-Trà Lĩnh (Cao Bằng) đi qua. Ảnh: TTXVN

Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công điện số 05/CĐ-TTg ngày 20/1/2026, nhiều hạng mục trong giai đoạn 1 đã được kịp thời điều chỉnh thiết kế để phù hợp với phương án mở rộng ở giai đoạn 2. Các nhà đầu tư và nhà thầu triển khai thi công đồng thời cả hai giai đoạn, qua đó tiết giảm chi phí đầu tư hơn 500 tỷ đồng.

Hiện trên công trường dự án Đồng Đăng – Trà Lĩnh đang huy động hơn 1.300 thiết bị và trên 2.800 nhân sự, tổ chức thi công tại 211 mũi. Sản lượng giai đoạn 1 đạt khoảng 65% giá trị hợp đồng, dự án đã thông tuyến cục bộ 85/93 km.

Khảo sát thực địa, chứng kiến tiến độ và không khí thi công trên công trường, Thủ tướng biểu dương những nỗ lực của các chủ thể tham gia dự án, trong đó có các nhà đầu tư, nhà thầu và đội ngũ kỹ sư, công nhân đang làm việc xuyên dịp Tết.

Thủ tướng nhấn mạnh, phát triển hạ tầng là điều kiện tiên quyết cho phát triển kinh tế – xã hội. Việc sớm hoàn thành các tuyến cao tốc kết nối Cao Bằng, Lạng Sơn với cả nước, đặc biệt là kết nối các cửa khẩu với Trung Quốc, sẽ tạo động lực thúc đẩy thương mại, đầu tư, du lịch, mở rộng không gian phát triển và tạo thêm sinh kế cho người dân địa phương.

THÁO GỠ MẶT BẰNG, BỐ TRÍ VỐN, QUYẾT TÂM HOÀN THÀNH ĐÚNG MỐC

Trong chuyến công tác, Thủ tướng đã thăm hỏi, tặng quà và động viên người dân tham gia lao động trên công trường trong dịp Tết; ghi nhận sự đồng thuận, ủng hộ của người dân trong công tác giải phóng mặt bằng, nhường đất cho các dự án. Thủ tướng mong muốn người dân tiếp tục đồng hành cùng chính quyền và nhà đầu tư, khai thác hiệu quả không gian phát triển mới do các tuyến cao tốc mang lại.

Thủ tướng Phạm Minh Chính kiểm tra tiến độ dự án đường cao tốc Đồng Đăng (Lạng Sơn)-Trà Lĩnh (Cao Bằng).  Ảnh: TTXVN.

Chiều cùng ngày, tại xã Đông Khê, tỉnh Cao Bằng, Thủ tướng làm việc với lãnh đạo các bộ, ngành, địa phương, chủ đầu tư và nhà thầu để rà soát tình hình triển khai hai dự án. Cuộc làm việc tập trung thảo luận các giải pháp tháo gỡ dứt điểm vướng mắc về giải phóng mặt bằng, bố trí vốn, đầu tư trạm dừng nghỉ và cơ chế khuyến khích, thưởng tiến độ đối với các dự án PPP.

Kết luận buổi làm việc, Thủ tướng nhấn mạnh Lạng Sơn và Cao Bằng là hai tỉnh có vị trí chiến lược, là “phên dậu” phía Bắc của Tổ quốc, nằm trong chủ trương phát triển hạ tầng chiến lược của Đảng và Nhà nước. So với chuyến kiểm tra đầu năm 2025, tiến độ và quy mô hai dự án đã có nhiều điểm tích cực, từ quy mô đầu tư, tốc độ triển khai đến sự tham gia ngày càng nhiều của doanh nghiệp địa phương.

Thủ tướng khẳng định mục tiêu hoàn thành giai đoạn 1 của hai tuyến cao tốc vào ngày 19/5 tới; yêu cầu các bộ, ngành, địa phương, nhà đầu tư và nhà thầu quyết tâm cao, hành động quyết liệt, làm việc nào dứt việc đó, lấy hiệu quả làm thước đo.

Thủ tướng Phạm Minh Chính kiểm tra tiến độ dự án đường cao tốc Đồng Đăng (Lạng Sơn)-Trà Lĩnh (Cao Bằng). Ảnh: TTXVN

Chính phủ thống nhất bố trí vốn cho hai dự án, giao Bộ Tài chính khẩn trương rà soát, đề xuất phương án huy động, cân đối các nguồn vốn hợp pháp. Đối với những vị trí mặt bằng còn vướng mắc, Thủ tướng yêu cầu cấp ủy địa phương trực tiếp chỉ đạo, huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân.

Trên cơ sở đánh giá yêu cầu phát triển hạ tầng khu vực, Thủ tướng cũng giao các bộ, ngành liên quan nghiên cứu phương án đầu tư tuyến cao tốc Bắc Kạn – Cao Bằng theo cơ chế phù hợp, triển khai nhanh, bảo đảm hiệu quả, chống thất thoát, lãng phí, góp phần hoàn thiện mạng lưới giao thông chiến lược vùng trung du và miền núi phía Bắc.

Chiều cùng ngày, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã thăm Khu tái định cư Đông Khê, xã Đông Khê, tỉnh Cao Bằng là khu tái định cư cho bà con trong vùng dự án cao tốc Đồng Đăng - Trà Lĩnh ở xã Đông Khê.

Thăm các gia đình trong Khu tái định cư, cảm ơn bà con đã nhường đất cho dự án, Thủ tướng nêu rõ Đảng, Nhà nước không có mục tiêu nào khác là giữ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, chăm lo hạnh phúc cho nhân dân .Thủ tướng yêu cầu chính quyền rà soát bảo đảm bà con đến nơi ở mới có cuộc sống ít nhất bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ; quan tâm tạo sinh kế cho bà con nhân dân, nhất là đây là khu vực vùng sâu, vùng xa, có truyền thống cách mạng hào hùng, một lòng theo Đảng.

Chỉ đạo việc đầu tư khu tái định cư đảm bảo đầy đủ các hạ tầng thiết yếu và tạo sinh kế cho người dân, Thủ tướng tin tưởng, khi có tuyến cao tốc đi qua, nơi đây sẽ thu hút đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội mạnh mẽ hơn; công việc sản xuất kinh doanh của bà con sẽ thuận lợi hơn; đời sống vật chất, tinh thần người dân được nâng lên.

Nhân dịp này,  Thủ tướng Phạm Minh Chính tới thăm, tặng quà, động viên lực lượng Bộ đội Biên phòng và các lực lượng chức năng đang làm nhiệm vụ tại Cửa khẩu Tân Thanh (Lạng Sơn).

Hoan nghênh các lực lượng chức năng đã làm tốt nhiệm vụ ứng trực, đảm bảo giao thương thông suốt trong dịp Tết, Thủ tướng nhấn mạnh yêu cầu tiếp tục nỗ lực xây dựng cửa khẩu thông minh, đường biên giới hòa bình, hữu nghị, ổn định, hợp tác và phát triển.

Qua đó, không chỉ góp phần phát triển kinh tế biên mậu, phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và mỗi nước mà còn góp phần làm sâu sắc hơn quan hệ Việt Nam - Trung Quốc vừa là đồng chí, vừa là anh em.

* Trước đó, tối 19/2 (mùng 3 Tết), Thủ tướng Phạm Minh Chính đã đến trực tiếp kiểm tra, thăm hỏi, động viên cán bộ, kỹ sư, công nhân, người lao động làm việc xuyên Tết trên công trường thi công tuyến cao tốc Hữu Nghị - Chi Lăng tại km 45, thuộc xã Nhân Lý và nút giao IC03 thuộc phường Kỳ Lừa, Lạng Sơn.

Tặng quà công nhân, người lao động đang trực tiếp thi công xuyên Tết trên công trường, Thủ tướng ghi nhận, biểu dương tinh thần trách nhiệm, sự nỗ lực vượt khó của các đơn vị thi công, tư vấn, giám sát đã quyết tâm bám công trường, duy trì tiến độ dự án trong những ngày Tết Nguyên đán cổ truyền của dân tộc.

Ân cần thăm hỏi đời sống, điều kiện làm việc của người lao động, Thủ tướng chúc cán bộ, kỹ sư, công nhân, người lao động năm mới mạnh khỏe, an toàn, tiếp tục phát huy tinh thần thi đua lao động sản xuất, quyết tâm hoàn thành dự án bảo đảm chất lượng, tiến độ đề ra.

-Hà Lê

Categories: The Latest News

Bộ trưởng Ngoại giao Lê Hoài Trung hội đàm với Ngoại trưởng Hoa Kỳ Marco Rubio

Fri, 02/20/2026 - 11:55
Nhân dịp tham gia đoàn đại biểu cấp cao do Tổng Bí thư Tô Lâm dẫn đầu dự cuộc họp khai mạc Hội đồng Hòa bình về Gaza tại Washington D.C., Bộ trưởng Ngoại giao Lê Hoài Trung đã hội đàm với Ngoại trưởng Hoa Kỳ Marco Rubio, trao đổi về quan hệ song phương và các vấn đề khu vực, quốc tế cùng quan tâm.

Trong khuôn khổ chuyến công tác tại Hoa Kỳ, Bộ trưởng Ngoại giao Lê Hoài Trung đã có cuộc hội đàm với Ngoại trưởng Marco Rubio tại Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ. Tại cuộc hội đàm, Bộ trưởng Lê Hoài Trung cảm ơn Ngoại trưởng Marco Rubio đã gửi thư chúc mừng Tổng Bí thư Tô Lâm và Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV của Việt Nam.

Bộ trưởng Lê Hoài Trung thông tin Đại hội Đảng lần thứ XIV đã thành công tốt đẹp, xác định nhiều chủ trương lớn, trong đó có đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; chủ động, tích cực và có trách nhiệm tham gia giải quyết các vấn đề chung của khu vực và quốc tế.

Khẳng định Việt Nam coi trọng quan hệ ổn định, lâu dài với Hoa Kỳ, Bộ trưởng Lê Hoài Trung nhấn mạnh quan hệ hai nước phù hợp với lợi ích của nhân dân hai bên, đồng thời đóng góp tích cực cho hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực và trên thế giới. Bộ trưởng đánh giá cao sự ủng hộ và hợp tác tích cực của cá nhân Ngoại trưởng Marco Rubio cũng như Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ trong việc triển khai hiệu quả các biện pháp thúc đẩy quan hệ song phương thời gian qua.

Bộ trưởng Lê Hoài Trung đề nghị hai bên tiếp tục phối hợp nhằm tăng cường tin cậy chính trị, thúc đẩy trao đổi đoàn các cấp, trong đó có cấp cao, mở rộng hợp tác trên các lĩnh vực kinh tế, quốc phòng – an ninh, khắc phục hậu quả chiến tranh, khoa học – công nghệ và các lĩnh vực tiềm năng khác.

Trao đổi về các vấn đề quốc tế, Bộ trưởng Lê Hoài Trung hoan nghênh Hoa Kỳ duy trì sự quan tâm và đóng góp tích cực, có trách nhiệm đối với hòa bình, an ninh và phát triển của khu vực. Bộ trưởng đánh giá cao Sáng kiến Hội đồng Hòa bình của Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump và cảm ơn phía Hoa Kỳ đã mời Việt Nam tham gia Hội đồng, khẳng định Việt Nam sẵn sàng phát huy vai trò và điều kiện thuận lợi của mình để cùng Hoa Kỳ và cộng đồng quốc tế thúc đẩy hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển.

Về phía Hoa Kỳ, Ngoại trưởng Marco Rubio chúc mừng thành công của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, khẳng định Hoa Kỳ ủng hộ một Việt Nam mạnh, độc lập, tự cường và thịnh vượng, phù hợp với lợi ích của nhân dân hai nước. Ngoại trưởng đánh giá cao những thành tựu phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam và cho rằng mô hình phát triển của Việt Nam có giá trị tham khảo đối với nhiều quốc gia.

Ngoại trưởng Marco Rubio cảm ơn Việt Nam là một trong những nước đầu tiên nhận lời tham gia Hội đồng Hòa bình, đồng thời đánh giá cao việc Tổng Bí thư Tô Lâm trực tiếp tham dự cuộc họp khai mạc tại Washington D.C., cho rằng sự tham gia của Việt Nam có ý nghĩa quan trọng và thể hiện vai trò ngày càng chủ động, tích cực của Việt Nam trong ứng phó với các thách thức chung.

Hai bên nhất trí đánh giá quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ có nền tảng vững chắc, dựa trên nhiều lợi ích chung, là cơ sở để tiếp tục thúc đẩy quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện đi vào chiều sâu, hiệu quả. Ngoại trưởng Marco Rubio bày tỏ mong muốn hai bên sớm hoàn tất đàm phán thuế đối ứng, mở rộng hợp tác kinh tế – thương mại, khoa học – công nghệ, quốc phòng – an ninh.

Hai Bộ trưởng cũng trao đổi về các vấn đề khu vực và quốc tế cùng quan tâm, trong đó có vai trò của Việt Nam tại các diễn đàn đa phương như ASEAN, G20 và APEC, đồng thời nhấn mạnh giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, tôn trọng lợi ích của các bên.

Nhân dịp này, Bộ trưởng Lê Hoài Trung đã nhắc lại lời mời Ngoại trưởng Marco Rubio thăm Việt Nam; Ngoại trưởng Marco Rubio vui vẻ nhận lời.

-Hà Lê

Categories: The Latest News

Đại tướng Phan Văn Giang tiếp Thứ trưởng thứ nhất Bộ Chiến tranh Hoa Kỳ

Fri, 02/20/2026 - 11:54
Nhân dịp tham gia đoàn công tác của Tổng Bí thư Tô Lâm dự cuộc họp khai mạc Hội đồng Hòa bình về Gaza, ngày 19/2 tại Washington D.C., Đại tướng Phan Văn Giang đã tiếp Thứ trưởng thứ nhất Bộ Chiến tranh Hoa Kỳ Elbridge A. Colby, trao đổi về thúc đẩy hợp tác quốc phòng song phương.

Tại cuộc tiếp, Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chúc mừng Hoa Kỳ tổ chức thành công cuộc họp khai mạc Hội đồng Hòa bình về Gaza; khẳng định Việt Nam coi Hoa Kỳ là một trong những đối tác quan trọng, mong muốn hai nước tiếp tục hợp tác trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi, tôn trọng luật pháp quốc tế, độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và thể chế chính trị, góp phần duy trì hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực, thế giới.

Thứ trưởng thứ nhất Bộ Chiến tranh Hoa Kỳ Elbridge A. Colby  khẳng định tiếp tục hỗ trợ Việt Nam trong khắc phục hậu quả chiến tranh, xác định danh tính bộ đội Việt Nam hy sinh, mất tin, mất tích, cũng như trong giáo dục – đào tạo. Ảnh: TTXVN

Đại tướng Phan Văn Giang nhấn mạnh thời gian qua, Bộ Quốc phòng Việt Nam và Bộ Chiến tranh Hoa Kỳ phối hợp hiệu quả trong triển khai các thỏa thuận và chỉ đạo của lãnh đạo cấp cao hai nước, nổi bật ở các lĩnh vực: trao đổi đoàn, tiếp xúc các cấp; khắc phục hậu quả chiến tranh; gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc; giáo dục – đào tạo. Bộ trưởng cảm ơn Hoa Kỳ đã hỗ trợ Việt Nam khắc phục hậu quả bom mìn, chất độc hóa học/dioxin và tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính bộ đội Việt Nam hy sinh, mất tin, mất tích trong chiến tranh.

Về phía Hoa Kỳ, Thứ trưởng thứ nhất Bộ Chiến tranh Hoa Kỳ Elbridge A. Colby cảm ơn Đại tướng Phan Văn Giang đã dành thời gian tiếp đoàn, gửi lời chúc mừng nhân dịp Tết cổ truyền của Việt Nam; bày tỏ mong muốn tăng cường hợp tác quốc phòng vì hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững; khẳng định tiếp tục hỗ trợ Việt Nam trong khắc phục hậu quả chiến tranh, xác định danh tính bộ đội Việt Nam hy sinh, mất tin, mất tích, cũng như trong giáo dục – đào tạo.

Bộ trưởng Quốc phòng Phan Văn Giang trao quà lưu niệm cho Thứ trưởng thứ nhất Bộ Chiến tranh Hoa Kỳ Elbridge A. Colby. Ảnh: TTXVN

Bộ trưởng Phan Văn Giang đề nghị hai bên tiếp tục triển khai hiệu quả các văn bản đã ký kết, trong đó có Bản ghi nhớ về thúc đẩy hợp tác khắc phục hậu quả chiến tranh (tháng 10/2025); sớm hiện thực hóa các cam kết, nhất là dự án xử lý ô nhiễm dioxin tại sân bay Biên Hòa. Việt Nam tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động tìm kiếm quân nhân Hoa Kỳ mất tích trong chiến tranh (MIA), đồng thời đề nghị Hoa Kỳ tăng cường chia sẻ thông tin, tài liệu, kỷ vật liên quan đến bộ đội Việt Nam.

Nhân dịp này, Đại tướng Phan Văn Giang thăm, chúc Tết cán bộ, sĩ quan Văn phòng Tùy viên Quốc phòng Việt Nam tại Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, khẳng định đối ngoại quốc phòng là một trong những trụ cột của đối ngoại Đảng và ngoại giao Nhà nước, góp phần xây dựng lòng tin chiến lược, thúc đẩy quan hệ hữu nghị, hợp tác và nâng cao vị thế của Việt Nam; tin tưởng Văn phòng tiếp tục phát huy vai trò tham mưu, thúc đẩy quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Hoa Kỳ đi vào chiều sâu, thiết thực và hiệu quả.

-Hà Lê

Categories: The Latest News

Tổng Bí thư Tô Lâm gặp gỡ cộng đồng người Việt Nam tại Hoa Kỳ

Fri, 02/20/2026 - 11:52
Nhân dịp tham dự Cuộc họp Khai mạc Hội đồng Hòa bình về Gaza tại Washington D.C. theo lời mời của Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump, chiều tối 19/2 (giờ địa phương), Tổng Bí thư Tô Lâm đã gặp gỡ cộng đồng người Việt Nam và các cơ quan đại diện Việt Nam tại Hoa Kỳ trong không khí đầu Xuân Bính Ngọ 2026.

Cùng dự buổi gặp có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các ban, bộ, ngành Trung ương; đại diện cộng đồng người Việt Nam tại Hoa Kỳ là các cá nhân, doanh nhân, trí thức, chuyên gia; cùng cán bộ, nhân viên các cơ quan đại diện Việt Nam tại Hoa Kỳ.

Tổng Bí thư Tô Lâm gặp gỡ bà con cộng đồng và các cơ quan đại diện Việt Nam tại Hoa Kỳ - Ảnh: TTXVN

Báo cáo với Tổng Bí thư và đoàn công tác, Đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ Nguyễn Quốc Dũng cho biết cộng đồng người Việt Nam tại Hoa Kỳ là một trong những cộng đồng đông đảo, hội nhập ngày càng sâu rộng, khẳng định vai trò trong các lĩnh vực khoa học – công nghệ, giáo dục, y tế, tài chính, kinh doanh và đời sống xã hội; đồng thời luôn hướng về đất nước, đóng góp bằng tri thức, kinh nghiệm, nguồn lực và các sáng kiến cụ thể.

Các cơ quan đại diện Việt Nam tại Hoa Kỳ phối hợp chặt chẽ, triển khai đồng bộ nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa và công tác người Việt Nam ở nước ngoài; chú trọng bảo hộ công dân, nâng cao chất lượng phục vụ cộng đồng và tăng cường kết nối với trong nước, góp phần thực hiện hiệu quả đường lối đối ngoại của Đảng.

Tổng Bí thư Tô Lâm trao tặng bức tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh cho các cơ quan đại diện Việt Nam tại Hoa Kỳ - Ảnh: TTXVN

Phát biểu tại buổi gặp mặt, Tổng Bí thư gửi lời thăm hỏi, chúc mừng năm mới tới toàn thể bà con cộng đồng người Việt Nam tại Hoa Kỳ; đồng thời thông tin việc Việt Nam tham gia Hội đồng Hòa bình về Gaza với tư cách thành viên sáng lập, khẳng định tinh thần đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và trách nhiệm quốc tế theo định hướng Đại hội XIV của Đảng.

Tổng Bí thư ghi nhận cộng đồng người Việt Nam tại Hoa Kỳ ngày càng hội nhập, tuân thủ pháp luật sở tại, tích cực tham gia các hoạt động kinh tế – thương mại, đầu tư, khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo; qua đó đóng góp thiết thực cho đất nước và củng cố quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Hoa Kỳ.

Tổng Bí thư Tô Lâm với bà con cộng đồng người Việt Nam tại Hoa Kỳ - Ảnh: TTXVN

Thông tin về các mục tiêu phát triển thời gian tới, Tổng Bí thư nêu rõ định hướng giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phát triển nhanh và bền vững; nâng cao đời sống nhân dân; phấn đấu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

Nhấn mạnh Hoa Kỳ là đối tác có tầm quan trọng chiến lược và là một trong những đối tác thương mại lớn của Việt Nam, Tổng Bí thư đánh giá cao quan điểm ủng hộ Việt Nam “mạnh, độc lập, tự cường và thịnh vượng”, hướng tới lợi ích của nhân dân hai nước và hòa bình, ổn định khu vực.

Khẳng định cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của khối đại đoàn kết dân tộc, Tổng Bí thư cho biết Đảng và Nhà nước luôn hoan nghênh, tạo điều kiện để chuyên gia, trí thức, nhà khoa học, doanh nhân kiều bào đóng góp nhiều hơn; tiếp tục hoàn thiện chính sách, phối hợp với sở tại bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của bà con.

Thay mặt các cơ quan đại diện, Đại sứ Nguyễn Quốc Dũng trân trọng cảm ơn những chỉ đạo của Tổng Bí thư, khẳng định sẽ cụ thể hóa trong công tác đối ngoại và công tác người Việt Nam ở nước ngoài tại địa bàn, tiếp tục đồng hành cùng đất nước trong giai đoạn phát triển mới.

-Dũng Hiếu

Categories: The Latest News

Tổng Bí thư Tô Lâm gặp lãnh đạo các nước bên lề cuộc họp khai mạc Hội đồng Hòa bình về Gaza

Fri, 02/20/2026 - 10:58
Nhân dịp tham dự cuộc họp khai mạc Hội đồng Hòa bình về Gaza theo lời mời của Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump, Tổng Bí thư Tô Lâm đã có các cuộc gặp, trao đổi với nhiều nguyên thủ, người đứng đầu chính phủ các nước, nhằm thúc đẩy quan hệ song phương và tăng cường phối hợp tại các cơ chế, diễn đàn đa phương.

Trong khuôn khổ chuyến dự cuộc họp khai mạc Hội đồng Hòa bình về Gaza tại Washington D.C. từ ngày 18–20/2/2026, sáng 19/2 (giờ địa phương), Tổng Bí thư Tô Lâm đã có các cuộc gặp, trao đổi với Tổng thống Indonesia Prabowo Subianto, Tổng thống Uzbekistan Shavkat Mirziyoyev, Tổng thống Azerbaijan Ilham Aliyev, Tổng thống Kazakhstan Kassym-Jomart Tokayev, Thủ tướng Campuchia Hun Manet, Thủ tướng Armenia Nikol Pashinyan, Thủ tướng Hungary Viktor Orbán, Thủ tướng Pakistan Shehbaz Sharif, và Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Cộng hòa Séc Petr Macinka.

Tại các cuộc gặp, các nhà lãnh đạo chúc mừng Tổng Bí thư Tô Lâm vừa tái cử; đồng thời thông qua Tổng Bí thư gửi lời chúc mừng tới Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đã tổ chức thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

Tổng Bí thư Tô Lâm gặp Tổng thống Uzbekistan Shavkat Mirziyoyev. Ảnh: TTXVN

Các đối tác đánh giá cao vai trò, vị thế ngày càng tăng của Việt Nam trên trường quốc tế; bày tỏ ấn tượng trước những kết quả phát triển kinh tế – xã hội, cũng như các nỗ lực cải cách, đổi mới thời gian qua.

Các bên nhất trí tăng cường quan hệ song phương theo hướng thực chất, hiệu quả; ưu tiên hợp tác trong các lĩnh vực phù hợp với thế mạnh và nhu cầu của mỗi bên như kinh tế, thương mại, khoa học – công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, giao thông vận tải và phối hợp ứng phó các vấn đề toàn cầu.

Các nhà lãnh đạo cũng nhấn mạnh nhu cầu tăng cường phối hợp tại các cơ chế, diễn đàn đa phương quan trọng; chia sẻ quan điểm, lập trường về các vấn đề khu vực, quốc tế cùng quan tâm; nhất trí phối hợp triển khai Kế hoạch Hòa bình Dải Gaza nhằm thúc đẩy hòa bình bền vững ở Trung Đông, phù hợp với luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc.

Trong cuộc gặp với Tổng thống Indonesia Prabowo Subianto, nhà lãnh đạo Indonesia bày tỏ mong muốn sớm thăm Việt Nam theo lời mời của Tổng Bí thư; khẳng định coi trọng và mong muốn không ngừng phát triển quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Indonesia.

Hai bên nhất trí tiếp tục tăng cường hợp tác và phối hợp lập trường tại các diễn đàn khu vực và quốc tế, nhất là ASEAN và Liên hợp quốc; củng cố đoàn kết và phát huy vai trò trung tâm của ASEAN.

Trao đổi với Tổng thống Kazakhstan Kassym-Jomart Tokayev, Tổng thống Uzbekistan Shavkat Mirziyoyev và Tổng thống Azerbaijan Ilham Aliyev, các nhà lãnh đạo bày tỏ ấn tượng trước tăng trưởng kinh tế của Việt Nam thời gian qua; đồng thời mong muốn đưa quan hệ song phương đi vào chiều sâu, hiệu quả, thực chất, nhất là trong các lĩnh vực mỗi bên có thế mạnh.

Các bên nhất trí tăng cường tin cậy chính trị thông qua trao đổi đoàn các cấp, đặc biệt là cấp cao; ưu tiên hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư, mở rộng trao đổi văn hóa và giao lưu nhân dân.

Tại cuộc gặp Thủ tướng Campuchia Hun Manet, Tổng Bí thư Tô Lâm bày tỏ cảm ơn Chủ tịch Hun Sen và các lãnh đạo cấp cao Campuchia đã dành sự đón tiếp trọng thị, thân tình cho Tổng Bí thư và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam trong chuyến thăm Campuchia đầu tháng 2/2026. Hai bên đánh giá cao kết quả chuyến thăm, khẳng định tiếp tục coi trọng và ưu tiên phát triển quan hệ Việt Nam – Campuchia.

Tổng Bí thư đề nghị hai nước thúc đẩy hơn nữa quan hệ chính trị, liên kết kinh tế, thương mại; tăng cường phát triển gắn kết giữa Việt Nam – Campuchia và Việt Nam – Campuchia – Lào.

Thủ tướng Hun Manet đánh giá cao kết quả cuộc hội đàm giữa Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam và Ban Thường vụ Đảng Nhân dân Campuchia; nhấn mạnh vai trò của Việt Nam trong duy trì đoàn kết ASEAN, đóng góp vào ổn định khu vực và quốc tế.

Gặp Thủ tướng Armenia Nikol Pashinyan, Tổng Bí thư Tô Lâm chúc mừng những thành tựu Armenia đạt được trong những năm gần đây; trân trọng mời Thủ tướng và các lãnh đạo cấp cao Armenia thăm Việt Nam. Thủ tướng Pashinyan bày tỏ mong muốn tăng cường hợp tác với Việt Nam, nhất là trong các lĩnh vực kinh tế, thương mại, giao thông vận tải, giáo dục – đào tạo; đồng thời mong sớm thăm Việt Nam.

Tại cuộc gặp Thủ tướng Hungary Viktor Orbán, hai nhà lãnh đạo hài lòng trước sự phát triển hiệu quả của quan hệ đối tác toàn diện Việt Nam – Hungary. Năm 2025, kim ngạch thương mại song phương lần đầu vượt mốc 1 tỷ USD.

Thủ tướng Orbán bày tỏ tình cảm với Việt Nam, cho biết sẽ sắp xếp thăm Việt Nam trong thời gian tới; đồng thời thông tin Hungary đã hoàn tất thủ tục thông qua khoản ODA trị giá 400 triệu USD cho Việt Nam và duy trì cấp 200 học bổng mỗi năm cho sinh viên Việt Nam.

Trong cuộc gặp Thủ tướng Pakistan Shehbaz Sharif, hai bên đánh giá Việt Nam và Pakistan có nhiều điểm tương đồng và tiềm năng hợp tác; nhất trí tăng cường hiểu biết lẫn nhau, củng cố tin cậy chính trị; thúc đẩy hợp tác trên nhiều lĩnh vực, ưu tiên kinh tế – thương mại, khai thác thị trường và lợi thế so sánh của mỗi bên; sẵn sàng thăm lẫn nhau vào thời điểm phù hợp.

Gặp Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Séc Petr Macinka, hai bên khẳng định coi trọng quan hệ Đối tác chiến lược Việt Nam – Séc; nhất trí tận dụng hiệu quả Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) để gia tăng kim ngạch thương mại song phương. Séc coi Việt Nam là cửa ngõ vào thị trường ASEAN, trong khi Việt Nam xem Séc là cầu nối quan trọng tại Liên minh châu Âu (EU).

-Minh Hiếu

Categories: The Latest News

Tổng Bí thư Tô Lâm điện đàm với nguyên Thượng nghị sĩ Patrick Leahy

Fri, 02/20/2026 - 10:57
Chiều 19/2 theo giờ địa phương, trong thời gian dự cuộc họp khai mạc Hội đồng Hòa bình về Gaza, Tổng Bí thư Tô Lâm đã điện đàm với nguyên Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ Patrick Leahy, người bạn thân thiết của Việt Nam, trao đổi về quan hệ song phương và thúc đẩy hợp tác Việt Nam – Hoa Kỳ trong giai đoạn mới.

Tổng Bí thư trân trọng cảm ơn và đánh giá cao những đóng góp quý báu, bền bỉ và tâm huyết của Thượng nghị sĩ Patrick Leahy đối với tiến trình bình thường hóa, củng cố và phát triển quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ trong nhiều thập kỷ qua, đặc biệt trong lĩnh vực nhân đạo, khắc phục hậu quả chiến tranh, vốn là nền tảng giúp tăng cường hiểu biết, tin cậy giữa nhân dân hai nước.

Tổng Bí thư Tô Lâm đã điện đàm với nguyên Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ Patrick Leahy, người bạn thân thiết của Việt Nam, trao đổi về quan hệ song phương và thúc đẩy hợp tác Việt Nam – Hoa Kỳ trong giai đoạn mới. Ảnh: TTXVN.

Tổng Bí thư chia sẻ dịp dự cuộc họp khai mạc Hội đồng Hòa bình lần này cũng là cơ hội gặp gỡ những người bạn Hoa Kỳ, qua đó đánh dấu một khởi đầu tích cực cho năm 2026, góp phần tạo xung lực mới cho quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Hoa Kỳ. Tổng Bí thư thông tin về những định hướng lớn của Việt Nam trong thời gian tới được đề ra sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, với mục tiêu phát triển đất nước lên tầm cao mới, tiếp tục hội nhập quốc tế sâu rộng.

Tại cuộc điện đàm, Tổng Bí thư Tô Lâm đánh giá cao Chính quyền Tổng thống Donald Trump tiếp tục coi trọng quan hệ với Việt Nam trên cơ sở tôn trọng thể chế chính trị, độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam; đồng thời hoan nghênh Chính quyền Trump tiếp tục coi trọng vai trò trung tâm của ASEAN, tăng cường hợp tác với khu vực, qua đó đóng góp cho hòa bình, ổn định và phát triển bền vững.

Thượng nghị sĩ Patrick Leahy bày tỏ tình cảm và sự gắn bó cá nhân sâu sắc với Việt Nam; khẳng định sự ủng hộ lưỡng đảng của Quốc hội Hoa Kỳ đối với Việt Nam. Ông nhấn mạnh niềm tự hào khi là một trong những Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ sớm phản đối chiến tranh tại Việt Nam, với một trong những lá phiếu quan trọng đầu tiên của ông tại Thượng viện là để ủng hộ việc chấm dứt cuộc chiến này.

Thượng nghị sĩ Patrick Leahy khẳng định trong suốt thời gian giữ cương vị Chủ tịch Thường trực Thượng viện, Chủ tịch Ủy ban Chuẩn chi Thượng viện Hoa Kỳ, ông đã cùng nhiều nghị sĩ khác thúc đẩy để có nguồn ngân sách cho việc khắc phục hậu quả chiến tranh tại Việt Nam như xử lý ô nhiễm dioxin, hỗ trợ người khuyết tật, tìm kiếm bộ đội Việt Nam mất tin, mất tích và chủ trương này được tiếp tục duy trì cho đến hiện nay, đồng thời bày tỏ tự hào về những kết quả thiết thực mà các nỗ lực này đã mang lại.

Thượng nghị sĩ Patrick Leahy nhấn mạnh quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ là hình mẫu về hòa giải, được xây dựng trên nền tảng tôn trọng lẫn nhau và lợi ích chung; khẳng định sẽ luôn sẵn sàng tiếp tục lên tiếng, ủng hộ và đóng góp cho việc thúc đẩy hợp tác, tăng cường quan hệ giữa hai nước. Ông cho biết hiện vẫn thường xuyên trao đổi với các nghị sĩ của cả hai đảng Dân chủ và Cộng hoà, đề nghị các nghị sĩ tiếp tục duy trì và phát triển quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ, tiếp nối di sản mà các thế hệ đi trước đã dày công xây dựng, vì tương lai của các thế hệ mai sau.

-Dũng Hiếu

Categories: The Latest News

Tổng Bí thư Tô Lâm tiếp Trưởng đại diện Thương mại Hoa Kỳ, thúc đẩy sớm hoàn tất hiệp định thương mại đối ứng

Fri, 02/20/2026 - 10:56
Tổng Bí thư Tô Lâm đã tiếp Trưởng đại diện Thương mại Hoa Kỳ, Đại sứ Jamieson Greer. Hai bên trao đổi về quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ, nhất trí thúc đẩy hợp tác kinh tế - thương mại và sớm hoàn tất hiệp định thương mại đối ứng.

Nhân dịp tham dự Cuộc họp Khai mạc Hội đồng Hòa bình về Gaza tại Washington D.C., Hoa Kỳ theo lời mời của Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump, ngày 19/2, Tổng Bí thư Tô Lâm đã tiếp Trưởng đại diện Thương mại Hoa Kỳ, Đại sứ Jamieson Greer.

Hai bên trao đổi về quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ, nhất trí thúc đẩy hợp tác kinh tế - thương mại và sớm hoàn tất hiệp định thương mại đối ứng. Ảnh: TTXVN

Tại cuộc tiếp, Tổng Bí thư Tô Lâm chúc mừng Hoa Kỳ tổ chức thành công Cuộc họp Khai mạc Hội đồng Hòa bình về Gaza; nhấn mạnh hòa bình, an ninh và phát triển là những vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với mỗi quốc gia cũng như đối với thế giới. Tổng Bí thư đồng thời chúc mừng Hoa Kỳ đã đạt được nhiều thành tựu phát triển đất nước trong nhiệm kỳ thứ hai của Tổng thống Donald Trump.

Tổng Bí thư Tô Lâm đánh giá cao những bước phát triển tích cực trong quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ thời gian qua trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế - thương mại, an ninh – quốc phòng và giao lưu nhân dân.

Tổng Bí thư bày tỏ mong muốn hai bên tiếp tục phối hợp chặt chẽ, thúc đẩy quan hệ song phương phát triển ổn định, hiệu quả, mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước, đồng thời đóng góp vào hòa bình, ổn định, phát triển và thịnh vượng của khu vực và thế giới.

Tổng Bí thư Tô Lâm đã tiếp Trưởng đại diện Thương mại Hoa Kỳ, Đại sứ Jamieson Greer. Ảnh: TTXVN

Trong trao đổi về hợp tác kinh tế - thương mại, Tổng Bí thư Tô Lâm hoan nghênh những kết quả tích cực đạt được trong tiến trình đàm phán Hiệp định thương mại đối ứng giữa Việt Nam và Hoa Kỳ; đánh giá cao vai trò của Cơ quan Đại diện Thương mại Hoa Kỳ (USTR) cũng như sự quan tâm, ủng hộ của cá nhân Đại sứ Jamieson Greer.

Tổng Bí thư cho biết các cơ quan chức năng của Việt Nam sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với phía Hoa Kỳ nhằm sớm hoàn tất thỏa thuận, phù hợp với lợi ích của cả hai bên. Nhân dịp này, Tổng Bí thư cũng mong muốn Tổng thống Donald Trump và các doanh nghiệp Hoa Kỳ tham dự Tuần lễ Cấp cao APEC được tổ chức tại Việt Nam vào năm 2027.

Về phía Hoa Kỳ, Đại sứ Jamieson Greer trân trọng cảm ơn Tổng Bí thư Tô Lâm đã dành thời gian tiếp; chúc mừng Tổng Bí thư đã tái đắc cử tại Đại hội Đảng toàn quốc vừa qua, đồng thời chuyển lời chúc mừng của Tổng thống Donald Trump tới Tổng Bí thư.

Đại sứ bày tỏ cảm ơn Tổng Bí thư đã tham dự Cuộc họp Khai mạc Hội đồng Hòa bình về Gaza, khẳng định đây là minh chứng cho tầm quan trọng của quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ.

Đại sứ Jamieson Greer đánh giá cao những kết quả tích cực trong quan hệ hai nước, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế - thương mại; nhấn mạnh Việt Nam là một trong những đối tác thương mại quan trọng của Hoa Kỳ. Theo Đại sứ, việc tăng cường thúc đẩy hợp tác kinh tế - thương mại song phương sẽ tiếp tục đóng góp tích cực cho sự phát triển tổng thể của quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ.

Đại sứ Jamieson Greer cho biết đàm phán Hiệp định thương mại đối ứng, công bằng và cân bằng giữa hai nước đã đạt nhiều tiến bộ đáng kể và đang bước vào giai đoạn quyết định.

Đại sứ khẳng định USTR và cá nhân ông sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành Việt Nam, nỗ lực kết thúc sớm quá trình đàm phán theo chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm và Tổng thống Donald Trump. Nhân dịp này, Đại sứ cũng gửi lời chúc mừng năm mới tới Tổng Bí thư Tô Lâm và nhân dân Việt Nam.

-Dũng Hiếu

Categories: The Latest News

Tổng thống Trump dành sự tôn trọng sâu sắc với Việt Nam tại cuộc họp Hội đồng Hòa bình Gaza

Fri, 02/20/2026 - 10:05
Tại cuộc họp khai mạc Hội đồng Hòa bình về Dải Gaza sáng 19/2 theo giờ địa phương, Tổng thống Donald Trump đánh giá cao việc Tổng Bí thư Tô Lâm tham dự, khẳng định sự tôn trọng sâu sắc đối với Việt Nam – quốc gia có vai trò và ảnh hưởng ngày càng lớn trong các nỗ lực hòa bình quốc tế.

Sáng 19/2 theo giờ địa phương, theo lời mời của Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump, Tổng Bí thư Tô Lâm tham dự họp khai mạc Hội đồng Hòa bình về Dải Gaza, với sự hiện diện của lãnh đạo hơn 50 quốc gia, tập trung điều phối viện trợ nhân đạo, tái thiết và ổn định khu vực.

Phát biểu tại sự kiện, Tổng thống Mỹ Donald Trump nhấn mạnh Hội đồng Hoà bình về Dải Gaza là cơ chế phối hợp với Liên hợp quốc nhằm điều phối viện trợ nhân đạo, tái thiết và ổn định khu vực.

Toàn cảnh phiên khai mạc - Ảnh: TTXVN

Các diễn giả trình bày các trụ cột cho giai đoạn chuyển tiếp tại Dải Gaza, trong đó có khôi phục an ninh bằng lực lượng cảnh sát dân sự, phục hồi kinh tế, cứu trợ bền vững và khôi phục các dịch vụ công cơ bản.

Bên cạnh kế hoạch ổn định an ninh, Hội nghị đồng thời nghe giới thiệu về các kế hoạch tái thiết Dải Gaza, trong đó có việc dọn dẹp đổ nát, xây 400.000 căn nhà, phát triển các khu khách sạn, thiết lập mạng 5G, hệ thống logistics và xây dựng các khu kinh tế mở.

Tại Hội nghị, 9 quốc gia đã cam kết đóng góp 7 tỷ USD hỗ trợ người dân ở Dải Gaza. Hoa Kỳ cam kết đóng góp 10 tỷ USD cho Hội đồng Hòa bình. Ngân hàng Thế giới cũng công bố thành lập Quỹ Tái thiết và Phát triển Gaza tại Ngân hàng Thế giới nhằm hỗ trợ quản lý đóng góp của các nhà tài trợ, huy động tài trợ từ các chính phủ cũng như khu vực tư nhân.

Tổng thống Trump đánh giá cao việc Tổng Bí thư Tô Lâm tham dự Hội nghị, khẳng định dành sự tôn trọng sâu sắc đối với Việt Nam, một đất nước đáng ngưỡng mộ, với vai trò và ảnh hưởng ngày càng lớn.

Việt Nam tham gia Hội đồng Hoà bình về Dải Gaza nhằm đóng góp vào việc chấm dứt xung đột tại Dải Gaza, bảo vệ dân thường, bảo đảm tiếp cận nhân đạo an toàn và không bị cản trở, tái thiết cơ sở hạ tầng thiết yếu, thúc đẩy một tiến trình chính trị đáng tin cậy nhằm hướng tới một nền hoà bình lâu dài và bền vững tại khu vực Trung Đông.

Lập trường nhất quán của Việt Nam là mọi tranh chấp và xung đột phải được giải quyết bằng biện pháp hoà bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc, tôn trọng các quyền cơ bản và lợi ích chính đáng của các bên liên quan.

Là một nước đã trải qua nhiều cuộc chiến tranh và từng nhận được sự trợ giúp quý báu của cộng đồng quốc tế, với tinh thần trách nhiệm và thiện chí, Việt Nam sẵn sàng phối hợp chặt chẽ với các thành viên Hội đồng Hòa bình tham gia trong khả năng của mình vào các nỗ lực chung nhằm hỗ trợ nhân đạo khẩn cấp, tái thiết cơ sở hạ tầng thiết yếu và xây dựng lòng tin giữa các bên.

Việt Nam ủng hộ các giải pháp cụ thể nhằm chấm dứt xung đột, tái lập hòa bình, an ninh, tái thiết, bảo đảm cuộc sống cho người dân ở Dải Gaza và thực thi tiến trình chính trị toàn diện, phù hợp với luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc.

Đồng thời, để bảo đảm hòa bình bền vững và đáp ứng các quyền của người dân dải Gaza, Việt Nam mong muốn các biện pháp triển khai bảo đảm sự tham gia của các bên liên quan, đặc biệt là Chính quyền Palestine.

-Hà Lê

Categories: The Latest News

Sau 30 năm, Chứng khoán Việt Nam sẽ tiếp tục phát triển ổn định, bền vững

Thu, 02/19/2026 - 23:40
Năm 2026 không chỉ là một dấu mốc quan trọng khi thị trường chứng khoán Việt Nam bước vào chuẩn mực mới của thị trường mới nổi, mà còn có ý nghĩa đặc biệt khi ngành Chứng khoán kỷ niệm 30 năm xây dựng và phát triển.

Bước sang năm thứ 30 vận hành, thị trường chứng khoán Việt Nam được kỳ vọng sẽ tiếp tục ghi dấu ấn trên hành trình mới. Nhân dịp Xuân mới Bính Ngọ 2026, bà Vũ Thị Chân Phương, Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, đã có cuộc trao đổi với VnEconomy về các nhiệm vụ, giải pháp của ngành Chứng khoán Việt Nam trong năm 2026.

2025: NĂM CỦA NHỮNG DẤU ẤN ĐẶC BIỆT

Thưa bà, thị trường chứng khoán Việt Nam đã có một năm giao dịch rất sôi động và để lại nhiều dấu ấn nổi bật trong năm qua. Xin bà cho biết vài nét khái quát chính về sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam trong năm 2025? 

Năm 2025, thị trường chứng khoán toàn cầu chịu tác động rất mạnh các biến động khó lường của tình hình địa chính trị và kinh tế vĩ mô ở nhiều khu vực. Tuy nhiên, dưới sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Chính phủ, Bộ Tài chính, sự phối hợp, hỗ trợ của nhiều bộ, ngành, tổ chức và sự đồng hành của các thành viên thị trường, doanh nghiệp, nhà đầu tư… nhiều nỗ lực, hành động của cơ quan quản lý, các đơn vị vận hành thị trường đã cho kết quả rất tích cực và được ghi nhận, đánh giá cao.  Có thể nói, năm 2025 là năm ghi nhận nhiều dấu ấn đặc biệt của thị trường chứng khoán Việt Nam.

Điểm nhấn đầu tiên trong năm qua đó là chúng ta đã khai trương và vận hành thành công Hệ thống công nghệ thông tin mới (Hệ thống KRX). Đây là hệ thống công nghệ mới bao trùm cho toàn bộ thị trường, không chỉ mở ra cơ hội để hỗ trợ thị trường tăng trưởng về quy mô, hoạt động an toàn, ổn định hơn, mà còn là cơ sở để các đơn vị chức năng phát triển các dịch vụ, sản phẩm mới theo lộ trình đã đề ra, gia tăng tính đa dạng, hấp dẫn cho thị trường sau này.

Một điểm nhấn nổi bật hơn trong năm qua là việc tổ chức FTSE Russell công bố Việt Nam đáp ứng toàn bộ tiêu chí và nâng hạng từ thị trường cận biên lên mới nổi thứ cấp. Đây là thành quả của một quá trình quyết tâm cải cách đồng bộ về khung pháp lý, hạ tầng công nghệ, tăng mức độ tiếp cận của nhà đầu tư nước ngoài… Thị trường chứng khoán Việt Nam được nâng hạng vừa tạo ra cơ hội thu hút mạnh mẽ hơn dòng vốn lớn từ trong và ngoài nước, vừa là bước tiến quan trọng về chất lượng phát triển của thị trường, khẳng định vị thế mới của Việt Nam trong bản đồ tài chính toàn cầu sau 25 năm hoạt động dưới sự lãnh đạo sáng suốt, chỉ đạo sát sao của Đảng và Nhà nước.

Bên cạnh đó, trong năm qua, công tác hoàn thiện pháp lý cũng để lại nhiều dấu ấn. Theo đó, trên nền Luật Chứng khoán sửa đổi, nhiều nghị định, thông tư, đề án và văn bản quan trọng khác đã được sửa đổi, bổ sung kịp thời, chất lượng, hỗ trợ tích cực cho tiến trình nâng hạng, vận hành hệ thống mới, tăng cung hàng hóa cho thị trường…

Chính vì vậy, trên nền tảng kinh tế vĩ mô tăng trưởng mạnh mẽ, sự điều hành sáng quyết liệt, chủ động và nỗ lực tháo gỡ các điểm nghẽn, vướng mắc của Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương… năm qua, thị trường chứng khoán Việt Nam đã có một năm tăng trưởng ấn tượng. Trong bối cảnh kinh tế - tài chính quốc tế nhiều biến động, thị trường chứng khoán Việt Nam duy trì sự phát triển ổn định, hoạt động an toàn, củng cố tính minh bạch, và có tăng trưởng mạnh về điểm số và thanh khoản.

Thị trường chứng khoán Việt Nam là một trong những thị trường tăng trưởng mạnh và sôi động hàng đầu thế giới và khu vực; tiếp tục khẳng định là kênh huy động vốn trung và dài hạn quan trọng, chủ yếu của nền kinh tế và doanh nghiệp.

Dù có nhiều thách thức, song năm 2025, ngành Chứng khoán cơ bản đã hoàn thành tốt các mục tiêu lớn được Lãnh đạo Chính phủ và Bộ Tài chính giao. Với thị trường chứng khoán, dù chưa thể lột tả hết, nhưng để chọn một cụm từ ngắn ngọn cho năm 2025, tôi chọn là: "Bứt phá - Tăng trưởng - Hội nhập".

Tính đến ngày 31/12/2025, chỉ số VN-Index đạt 1.784,49 điểm, tăng 40,9% so với cuối năm trước và là một trong những thị trường tăng trưởng top đầu thế giới. Giá trị giao dịch bình quân đạt 29.201 tỷ đồng/phiên, tăng 39,% so với bình quân năm trước. Mức vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt 9.985,77 nghìn tỷ đồng, tăng 39,2% so với cuối năm trước, tương đương 86,7% GDP ước tính năm 2024. Số lượng tài khoản nhà đầu tư đạt hơn 11,6 triệu tài khoản, vượt mục tiêu của đề ra đến năm 2030.

CHÍNH THỨC VÀO HÀNH TRÌNH “NÂNG CHẤT”

Bà vừa nhắc tới một điểm nhấn rất nổi bật trong năm qua là thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức đáp ứng các tiêu chuẩn nâng hạng lên thị trường mới nổi thứ cấp. Đây là một bước tiến quan trọng, tạo động lực mới, nhưng nhìn ở góc độ khác cũng là áp lực khi thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ phải vận hành với yêu cầu chuẩn mực cao hơn?

Nâng hạng là bước ngoặt lịch sử quan trọng của thị trường Việt Nam sau nhiều năm kiên trì hoàn thiện thể chế pháp lý, cải thiện hạ tầng công nghệ, tăng cường tính minh bạch, hội nhập để tiệm cận các chuẩn mực quốc tế. Song nâng hạng đồng thời cũng mở ra một khởi đầu mới cho chặng đường hội nhập sâu hơn của thị trường chứng khoán nói riêng và thị trường tài chính Việt Nam nói chung vào sân chơi chuẩn mực cao hơn của toàn cầu.

Chính vì vậy, tôi hoàn toàn đồng thuận với ý kiến này. Nâng hạng là động lực rất quan trọng để thị trường chứng khoán Việt Nam tiến vào một giai đoạn phát triển mới, nhưng đó cũng là áp lực rất lớn để tất cả các bên liên quan đều phải “tự nâng chuẩn chính mình”, từ cơ quan quản lý, thành viên thị trường, doanh nghiệp niêm yết/đăng ký giao dịch và cả từ phía nhà đầu tư. FTSE Russell nâng hạng Việt Nam lên thị trường mới nổi thứ cấp là bước khởi đầu cho hành trình dài nâng hạng lên các bậc cao hơn của Việt Nam. Và tôi nghĩ rằng, kết quả tốt đẹp mang lại trên từng chặng đường đều phụ thuộc vào việc chúng ta có “biến được áp lực thành động lực hay không”.

Chúng tôi kỳ vọng rằng, thị trường vốn nói chung và thị trường chứng khoán sẽ chứng kiến một sự thay đổi về chất. Thị trường không chỉ đón nhận những vốn ngoại chất lượng cao, mà đi kèm với đó là yêu cầu cao hơn về quản trị doanh nghiệp hay tính công khai, minh bạch. Từ đó, sẽ tạo thêm động lực cho cả cơ quan quản lý, thành viên thị trường, doanh nghiệp và nhà đầu tư đều phải tự nâng tầm, góp phần đưa thị trường chứng khoán lên một tầm phát triển mới, đóng góp mạnh mẽ hơn cho nền kinh tế đất nước.

Khi thị trường đã vào “sân chơi mới nổi” cũng có nghĩa là đòi hỏi một chuẩn mực cao hơn về quản trị công ty, năng lực tài chính, hạ tầng, sản phẩm dịch vụ, nhất là tuân thủ công bố thông tin và minh bạch. Đây là điều mà các tổ chức trung gian kinh doanh chứng khoán và doanh nghiệp niêm yết/đăng ký giao dịch cần chú trọng để thay đổi.

Về phía cơ quan quán lý, căn cứ vào chủ trương, chiến lược của Đảng, Nhà nước, dưới sự chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Tài chính, thời gian tới, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và các đơn vị liên quan còn rất nhiều việc phải làm. Theo đó, sẽ tiếp tục bám sát và triển khai quyết liệt các giải pháp đã đề ra, tạo thuận lợi tối đa cho nhà đầu tư trong và ngoài nước tiếp cận thị trường; hoàn thiện khung khổ pháp lý, đồng thời thúc đẩy hiện đại hóa, số hóa cơ sở hạ tầng, nhằm xây dựng một thị trường chứng khoán ngày càng minh bạch, hiệu quả, hiện đại, theo chuẩn mực hàng đầu quốc tế.

Trong quá trình đó, chúng tôi mong muốn tiếp tục nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, sự phối hợp hiệu quả của các bộ, ngành liên quan, các tổ chức quốc tế và thành viên thị trường… để thị trường chứng khoán Việt Nam không những duy trì được thứ hạng, mà còn hướng tới các chuẩn mực cao hơn.

Năm 2026 không chỉ là năm đầu Việt Nam vào “diễn đàn mới nổi”, mà cũng là một năm với yêu cầu vai trò quan trọng hơn của thị trường chứng khoán trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đất nước trong giai đoạn mới. Đâu là giải pháp quan trọng để ngành Chứng khoán sẽ triển khai để có bước tiến mới trong năm 2026, thưa bà?

Bước sang năm 2026 - năm kỷ niệm 30 năm hình thành và phát triển của ngành Chứng khoán Việt Nam, yêu cầu đặt ra đối với công tác quản lý, điều hành thị trường không chỉ là duy trì đà tăng trưởng, mà quan trọng hơn là nâng cao chiều sâu, tính bền vững, đóng góp hiệu quả hơn cho tăng trưởng kinh tế đất nước.

Ủy ban Chứng khoán Nhà nước ký kết Biên bản Ghi nhớ Đa phương về Giám sát của APRC - sự kiện nâng tầm quan hệ hợp tác về hoạt động giám sát thị trường chứng khoán giữa Ủy ban Chứng khoán Nhà nước với các cơ quan quản lý thị trường các nước thành viên của APRC nói riêng và của IOSCO nói chung, cũng như nâng cao vị thế hình ảnh thị trường chứng khoán Việt Nam sánh ngang với các nước trong khu vực.

Với nền tảng từ thành quả đạt được trong suốt thời gian qua, cùng quyết tâm cải cách và đổi mới, thị trường chứng khoán Việt Nam bước vào năm 2026 với tâm thế mới và kỳ vọng mới. Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước tin tưởng rằng dưới sự quan tâm của Chính phủ, sự chỉ đạo sát sao của Lãnh đạo Bộ Tài chính và sự đồng hành của các chủ thể thị trường, thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ tiếp tục phát triển ổn định, bền vững, đóng góp ngày càng quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Theo đó, nhiệm vụ trọng tâm của cơ quan quản lý trong thời gian tới là tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý cho thị trường chứng khoán, bảo đảm đồng bộ, minh bạch và phù hợp với thông lệ quốc tế. Việc duy trì và nâng cao chất lượng các tiêu chí nâng hạng thị trường được xác định là nhiệm vụ xuyên suốt, gắn với cải thiện môi trường đầu tư và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư.

Để hướng tới các mục tiêu cao hơn của FTSE Russell, hay vào danh sách xem xét nâng hạng của MSCI, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước sẽ tiếp tục triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp tại Quyết định số 2014/QĐ-TTg ngày 12/9/2025 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam và Kế hoạch triển khai Đề án này của Bộ trưởng Bộ Tài chính.

Phiên họp chuyên môn về công tác giám sát thị trường chứng khoán trong khuôn khổ Hội nghị tiểu ban khu vực châu Á-Thái Bình Dương (APRC) thuộc Tổ chức quốc tế các Ủy ban Chứng khoán (IOSCO), ngày 19/2/2025

Trên nền tảng hệ thống KRX, cơ quan quản lý sẽ tiếp tục đổi mới, hiện đại hóa hạ tầng công nghệ thông tin, gắn với chuyển đổi số toàn diện trong công tác quản lý, giám sát và vận hành thị trường. Đặc biệt, việc triển khai cơ chế Đối tác bù trừ trung tâm (CCP) được xác định là bước đi quan trọng nhằm tăng cường an toàn hệ thống và tiệm cận chuẩn mực của các thị trường chứng khoán phát triển, dự kiến vận hành vào đầu năm 2027.

Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước Vũ Thị Chân Phương đã tiếp và làm việc với bà Fiona Bassett, Tổng Giám đốc FTSE Russell.

Song song với đó, cơ quan quản lý sẽ tập trung phân loại và tổ chức lại thị trường cổ phiếu niêm yết, đồng thời xây dựng và vận hành hiệu quả các thị trường mới như thị trường giao dịch các-bon, thị trường giao dịch tài sản mã hóa và thị trường giao dịch chuyên biệt cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. Đây là những không gian phát triển mới, phù hợp với xu hướng kinh tế số, kinh tế xanh và đổi mới sáng tạo.

“Tôi cho rằng trên nền tảng kinh tế vĩ mô ổn định và tăng trưởng, với sự quan tâm chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Tài chính, và chuẩn bị chủ động và có lộ trình của cơ quan quản lý, cùng sự phối hợp của các thành viên thị trường, thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ tiếp tục phát triển trong thời gian tới, thu hút mạnh mẽ hơn dòng vốn đầu tư quy mô lớn trong nước và quốc tế, đóng góp hiệu quả hơn nữa vào nền kinh tế, góp phần cùng đất nước bước vào kỷ nguyên mới”

Bà Vũ Thị Chân Phương.

Đồng thời, công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát tiếp tục được tăng cường nhằm giữ vững kỷ cương, kỷ luật thị trường, đồng thời cải cách thủ tục hành chính, nâng cao năng lực các tổ chức trung gian và cải thiện chất lượng quản trị công ty niêm yết. Bên cạnh đó, cùng với công tác tăng cường tuyên truyền, đào tạo, việc đa dạng hóa và tái cơ cấu cơ sở nhà đầu tư theo hướng cân bằng, bền vững tiếp tục được đẩy mạnh, với trọng tâm là phát triển ngành quỹ đầu tư chứng khoán và khuyến khích sự tham gia của các nhà đầu tư tổ chức, nhà đầu tư dài hạn trong và ngoài nước.

Cùng với đa dạng hóa sản phẩm và hàng hóa trên thị trường, cơ quan quản lý sẽ đẩy mạnh IPO gắn với niêm yết, thúc đẩy doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) tham gia thị trường chứng khoán, đồng thời phối hợp xây dựng cơ chế chào bán trái phiếu ra công chúng cho các doanh nghiệp dự án theo mô hình đối tác công - tư, trái phiếu hạ tầng, qua đó huy động hiệu quả nguồn vốn trung và dài hạn cho các dự án trọng điểm của nền kinh tế.

30 NĂM – DẤU MỐC TRƯỞNG THÀNH

Bà kỳ vọng điều gì về tuổi 30 của ngành Chứng khoán, độ tuổi trưởng thành để chinh phục những thành công cao hơn?

Năm 2026 sẽ rất quan trọng với thị trường chứng khoán Việt Nam và mang ý nghĩa đặc biệt với ngành Chứng khoán. Thị trường sẽ chuyển từ “đạt điều kiện” sang “vận hành ổn định và bền vững” theo chuẩn mực của một thị trường mới nổi; đồng thời cũng là năm ngành Chứng khoán kỷ niệm 30 năm xây dựng và trưởng thành (28/11/1996 – 28/11/2026).

Cùng với việc triển khai rất nhiều nhóm nhiệm vụ quan trọng như đã chia sẻ ở trên, năm 2026 này, ngành Chứng khoán đặt quyết tâm nỗ lực cao nhất, đoàn kết, chủ động, sáng tạo để đóng góp hiệu quả hơn cho tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên mới. Chúng tôi xem đó là những món quà ý nghĩa thực sự nhất dành cho ngành Chứng khoán để đón sinh nhật tuổi 30; đồng thời đó cũng là sự tri ân dành cảm ơn sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của các cấp lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Bộ Tài chính; sự phối hợp hiệu quả của các ban, bộ, ngành trung ương và địa phương; sự hỗ trợ hữu tình của các tổ chức, đơn vị trong và ngoài nước; đặc biệt là các thế hệ lãnh đạo, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong toàn ngành Chứng khoán suốt gần 30 năm qua.

Với nền tảng đã được củng cố trong năm 2025 và định hướng phát triển rõ ràng cho giai đoạn tới, thị trường chứng khoán Việt Nam được kỳ vọng sẽ tiếp tục phát triển ổn định, bền vững, xứng đáng với vai trò là trụ cột quan trọng của thị trường tài chính và là thành quả tiêu biểu của 30 năm xây dựng, đổi mới và hội nhập của ngành Chứng khoán Việt Nam.

-Thu Minh

Categories: The Latest News

Sau 30 năm, thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ tiếp tục phát triển ổn định, bền vững

Thu, 02/19/2026 - 23:40
Năm 2026 không chỉ là một dấu mốc quan trọng khi thị trường chứng khoán Việt Nam bước vào chuẩn mực mới của thị trường mới nổi, mà còn có ý nghĩa đặc biệt khi ngành Chứng khoán kỷ niệm 30 năm xây dựng và phát triển.

Bước sang năm thứ 30 vận hành, thị trường chứng khoán Việt Nam được kỳ vọng sẽ tiếp tục ghi dấu ấn trên hành trình mới. Nhân dịp Xuân mới Bính Ngọ 2026, bà Vũ Thị Chân Phương, Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, đã có cuộc trao đổi với VnEconomy về các nhiệm vụ, giải pháp của ngành Chứng khoán Việt Nam trong năm 2026.

2025: NĂM CỦA NHỮNG DẤU ẤN ĐẶC BIỆT

Thưa bà, thị trường chứng khoán Việt Nam đã có một năm giao dịch rất sôi động và để lại nhiều dấu ấn nổi bật trong năm qua. Xin bà cho biết vài nét khái quát chính về sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam trong năm 2025? 

Năm 2025, thị trường chứng khoán toàn cầu chịu tác động rất mạnh các biến động khó lường của tình hình địa chính trị và kinh tế vĩ mô ở nhiều khu vực. Tuy nhiên, dưới sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Chính phủ, Bộ Tài chính, sự phối hợp, hỗ trợ của nhiều bộ, ngành, tổ chức và sự đồng hành của các thành viên thị trường, doanh nghiệp, nhà đầu tư… nhiều nỗ lực, hành động của cơ quan quản lý, các đơn vị vận hành thị trường đã cho kết quả rất tích cực và được ghi nhận, đánh giá cao.  Có thể nói, năm 2025 là năm ghi nhận nhiều dấu ấn đặc biệt của thị trường chứng khoán Việt Nam.

Điểm nhấn đầu tiên trong năm qua đó là chúng ta đã khai trương và vận hành thành công Hệ thống công nghệ thông tin mới (Hệ thống KRX). Đây là hệ thống công nghệ mới bao trùm cho toàn bộ thị trường, không chỉ mở ra cơ hội để hỗ trợ thị trường tăng trưởng về quy mô, hoạt động an toàn, ổn định hơn, mà còn là cơ sở để các đơn vị chức năng phát triển các dịch vụ, sản phẩm mới theo lộ trình đã đề ra, gia tăng tính đa dạng, hấp dẫn cho thị trường sau này.

Một điểm nhấn nổi bật hơn trong năm qua là việc tổ chức FTSE Russell công bố Việt Nam đáp ứng toàn bộ tiêu chí và nâng hạng từ thị trường cận biên lên mới nổi thứ cấp. Đây là thành quả của một quá trình quyết tâm cải cách đồng bộ về khung pháp lý, hạ tầng công nghệ, tăng mức độ tiếp cận của nhà đầu tư nước ngoài… Thị trường chứng khoán Việt Nam được nâng hạng vừa tạo ra cơ hội thu hút mạnh mẽ hơn dòng vốn lớn từ trong và ngoài nước, vừa là bước tiến quan trọng về chất lượng phát triển của thị trường, khẳng định vị thế mới của Việt Nam trong bản đồ tài chính toàn cầu sau 25 năm hoạt động dưới sự lãnh đạo sáng suốt, chỉ đạo sát sao của Đảng và Nhà nước.

Bên cạnh đó, trong năm qua, công tác hoàn thiện pháp lý cũng để lại nhiều dấu ấn. Theo đó, trên nền Luật Chứng khoán sửa đổi, nhiều nghị định, thông tư, đề án và văn bản quan trọng khác đã được sửa đổi, bổ sung kịp thời, chất lượng, hỗ trợ tích cực cho tiến trình nâng hạng, vận hành hệ thống mới, tăng cung hàng hóa cho thị trường…

Chính vì vậy, trên nền tảng kinh tế vĩ mô tăng trưởng mạnh mẽ, sự điều hành sáng quyết liệt, chủ động và nỗ lực tháo gỡ các điểm nghẽn, vướng mắc của Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương… năm qua, thị trường chứng khoán Việt Nam đã có một năm tăng trưởng ấn tượng. Trong bối cảnh kinh tế - tài chính quốc tế nhiều biến động, thị trường chứng khoán Việt Nam duy trì sự phát triển ổn định, hoạt động an toàn, củng cố tính minh bạch, và có tăng trưởng mạnh về điểm số và thanh khoản.

Thị trường chứng khoán Việt Nam là một trong những thị trường tăng trưởng mạnh và sôi động hàng đầu thế giới và khu vực; tiếp tục khẳng định là kênh huy động vốn trung và dài hạn quan trọng, chủ yếu của nền kinh tế và doanh nghiệp.

Dù có nhiều thách thức, song năm 2025, ngành Chứng khoán cơ bản đã hoàn thành tốt các mục tiêu lớn được Lãnh đạo Chính phủ và Bộ Tài chính giao. Với thị trường chứng khoán, dù chưa thể lột tả hết, nhưng để chọn một cụm từ ngắn ngọn cho năm 2025, tôi chọn là: "Bứt phá - Tăng trưởng - Hội nhập".

Tính đến ngày 31/12/2025, chỉ số VN-Index đạt 1.784,49 điểm, tăng 40,9% so với cuối năm trước và là một trong những thị trường tăng trưởng top đầu thế giới. Giá trị giao dịch bình quân đạt 29.201 tỷ đồng/phiên, tăng 39,% so với bình quân năm trước. Mức vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt 9.985,77 nghìn tỷ đồng, tăng 39,2% so với cuối năm trước, tương đương 86,7% GDP ước tính năm 2024. Số lượng tài khoản nhà đầu tư đạt hơn 11,6 triệu tài khoản, vượt mục tiêu của đề ra đến năm 2030.

CHÍNH THỨC VÀO HÀNH TRÌNH “NÂNG CHẤT”

Bà vừa nhắc tới một điểm nhấn rất nổi bật trong năm qua là thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức đáp ứng các tiêu chuẩn nâng hạng lên thị trường mới nổi thứ cấp. Đây là một bước tiến quan trọng, tạo động lực mới, nhưng nhìn ở góc độ khác cũng là áp lực khi thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ phải vận hành với yêu cầu chuẩn mực cao hơn?

Nâng hạng là bước ngoặt lịch sử quan trọng của thị trường Việt Nam sau nhiều năm kiên trì hoàn thiện thể chế pháp lý, cải thiện hạ tầng công nghệ, tăng cường tính minh bạch, hội nhập để tiệm cận các chuẩn mực quốc tế. Song nâng hạng đồng thời cũng mở ra một khởi đầu mới cho chặng đường hội nhập sâu hơn của thị trường chứng khoán nói riêng và thị trường tài chính Việt Nam nói chung vào sân chơi chuẩn mực cao hơn của toàn cầu.

Chính vì vậy, tôi hoàn toàn đồng thuận với ý kiến này. Nâng hạng là động lực rất quan trọng để thị trường chứng khoán Việt Nam tiến vào một giai đoạn phát triển mới, nhưng đó cũng là áp lực rất lớn để tất cả các bên liên quan đều phải “tự nâng chuẩn chính mình”, từ cơ quan quản lý, thành viên thị trường, doanh nghiệp niêm yết/đăng ký giao dịch và cả từ phía nhà đầu tư. FTSE Russell nâng hạng Việt Nam lên thị trường mới nổi thứ cấp là bước khởi đầu cho hành trình dài nâng hạng lên các bậc cao hơn của Việt Nam. Và tôi nghĩ rằng, kết quả tốt đẹp mang lại trên từng chặng đường đều phụ thuộc vào việc chúng ta có “biến được áp lực thành động lực hay không”.

Chúng tôi kỳ vọng rằng, thị trường vốn nói chung và thị trường chứng khoán sẽ chứng kiến một sự thay đổi về chất. Thị trường không chỉ đón nhận những vốn ngoại chất lượng cao, mà đi kèm với đó là yêu cầu cao hơn về quản trị doanh nghiệp hay tính công khai, minh bạch. Từ đó, sẽ tạo thêm động lực cho cả cơ quan quản lý, thành viên thị trường, doanh nghiệp và nhà đầu tư đều phải tự nâng tầm, góp phần đưa thị trường chứng khoán lên một tầm phát triển mới, đóng góp mạnh mẽ hơn cho nền kinh tế đất nước.

Khi thị trường đã vào “sân chơi mới nổi” cũng có nghĩa là đòi hỏi một chuẩn mực cao hơn về quản trị công ty, năng lực tài chính, hạ tầng, sản phẩm dịch vụ, nhất là tuân thủ công bố thông tin và minh bạch. Đây là điều mà các tổ chức trung gian kinh doanh chứng khoán và doanh nghiệp niêm yết/đăng ký giao dịch cần chú trọng để thay đổi.

Về phía cơ quan quán lý, căn cứ vào chủ trương, chiến lược của Đảng, Nhà nước, dưới sự chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Tài chính, thời gian tới, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và các đơn vị liên quan còn rất nhiều việc phải làm. Theo đó, sẽ tiếp tục bám sát và triển khai quyết liệt các giải pháp đã đề ra, tạo thuận lợi tối đa cho nhà đầu tư trong và ngoài nước tiếp cận thị trường; hoàn thiện khung khổ pháp lý, đồng thời thúc đẩy hiện đại hóa, số hóa cơ sở hạ tầng, nhằm xây dựng một thị trường chứng khoán ngày càng minh bạch, hiệu quả, hiện đại, theo chuẩn mực hàng đầu quốc tế.

Trong quá trình đó, chúng tôi mong muốn tiếp tục nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, sự phối hợp hiệu quả của các bộ, ngành liên quan, các tổ chức quốc tế và thành viên thị trường… để thị trường chứng khoán Việt Nam không những duy trì được thứ hạng, mà còn hướng tới các chuẩn mực cao hơn.

Năm 2026 không chỉ là năm đầu Việt Nam vào “diễn đàn mới nổi”, mà cũng là một năm với yêu cầu vai trò quan trọng hơn của thị trường chứng khoán trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đất nước trong giai đoạn mới. Đâu là giải pháp quan trọng để ngành Chứng khoán sẽ triển khai để có bước tiến mới trong năm 2026, thưa bà?

Bước sang năm 2026 - năm kỷ niệm 30 năm hình thành và phát triển của ngành Chứng khoán Việt Nam, yêu cầu đặt ra đối với công tác quản lý, điều hành thị trường không chỉ là duy trì đà tăng trưởng, mà quan trọng hơn là nâng cao chiều sâu, tính bền vững, đóng góp hiệu quả hơn cho tăng trưởng kinh tế đất nước.

Ủy ban Chứng khoán Nhà nước ký kết Biên bản Ghi nhớ Đa phương về Giám sát của APRC - sự kiện nâng tầm quan hệ hợp tác về hoạt động giám sát thị trường chứng khoán giữa Ủy ban Chứng khoán Nhà nước với các cơ quan quản lý thị trường các nước thành viên của APRC nói riêng và của IOSCO nói chung, cũng như nâng cao vị thế hình ảnh thị trường chứng khoán Việt Nam sánh ngang với các nước trong khu vực.

Với nền tảng từ thành quả đạt được trong suốt thời gian qua, cùng quyết tâm cải cách và đổi mới, thị trường chứng khoán Việt Nam bước vào năm 2026 với tâm thế mới và kỳ vọng mới. Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước tin tưởng rằng dưới sự quan tâm của Chính phủ, sự chỉ đạo sát sao của Lãnh đạo Bộ Tài chính và sự đồng hành của các chủ thể thị trường, thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ tiếp tục phát triển ổn định, bền vững, đóng góp ngày càng quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Theo đó, nhiệm vụ trọng tâm của cơ quan quản lý trong thời gian tới là tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý cho thị trường chứng khoán, bảo đảm đồng bộ, minh bạch và phù hợp với thông lệ quốc tế. Việc duy trì và nâng cao chất lượng các tiêu chí nâng hạng thị trường được xác định là nhiệm vụ xuyên suốt, gắn với cải thiện môi trường đầu tư và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư.

Để hướng tới các mục tiêu cao hơn của FTSE Russell, hay vào danh sách xem xét nâng hạng của MSCI, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước sẽ tiếp tục triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp tại Quyết định số 2014/QĐ-TTg ngày 12/9/2025 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam và Kế hoạch triển khai Đề án này của Bộ trưởng Bộ Tài chính.

Phiên họp chuyên môn về công tác giám sát thị trường chứng khoán trong khuôn khổ Hội nghị tiểu ban khu vực châu Á-Thái Bình Dương (APRC) thuộc Tổ chức quốc tế các Ủy ban Chứng khoán (IOSCO), ngày 19/2/2025

Trên nền tảng hệ thống KRX, cơ quan quản lý sẽ tiếp tục đổi mới, hiện đại hóa hạ tầng công nghệ thông tin, gắn với chuyển đổi số toàn diện trong công tác quản lý, giám sát và vận hành thị trường. Đặc biệt, việc triển khai cơ chế Đối tác bù trừ trung tâm (CCP) được xác định là bước đi quan trọng nhằm tăng cường an toàn hệ thống và tiệm cận chuẩn mực của các thị trường chứng khoán phát triển, dự kiến vận hành vào đầu năm 2027.

Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước Vũ Thị Chân Phương đã tiếp và làm việc với bà Fiona Bassett, Tổng Giám đốc FTSE Russell.

Song song với đó, cơ quan quản lý sẽ tập trung phân loại và tổ chức lại thị trường cổ phiếu niêm yết, đồng thời xây dựng và vận hành hiệu quả các thị trường mới như thị trường giao dịch các-bon, thị trường giao dịch tài sản mã hóa và thị trường giao dịch chuyên biệt cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. Đây là những không gian phát triển mới, phù hợp với xu hướng kinh tế số, kinh tế xanh và đổi mới sáng tạo.

“Tôi cho rằng trên nền tảng kinh tế vĩ mô ổn định và tăng trưởng, với sự quan tâm chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Tài chính, và chuẩn bị chủ động và có lộ trình của cơ quan quản lý, cùng sự phối hợp của các thành viên thị trường, thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ tiếp tục phát triển trong thời gian tới, thu hút mạnh mẽ hơn dòng vốn đầu tư quy mô lớn trong nước và quốc tế, đóng góp hiệu quả hơn nữa vào nền kinh tế, góp phần cùng đất nước bước vào kỷ nguyên mới”

Bà Vũ Thị Chân Phương.

Đồng thời, công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát tiếp tục được tăng cường nhằm giữ vững kỷ cương, kỷ luật thị trường, đồng thời cải cách thủ tục hành chính, nâng cao năng lực các tổ chức trung gian và cải thiện chất lượng quản trị công ty niêm yết. Bên cạnh đó, cùng với công tác tăng cường tuyên truyền, đào tạo, việc đa dạng hóa và tái cơ cấu cơ sở nhà đầu tư theo hướng cân bằng, bền vững tiếp tục được đẩy mạnh, với trọng tâm là phát triển ngành quỹ đầu tư chứng khoán và khuyến khích sự tham gia của các nhà đầu tư tổ chức, nhà đầu tư dài hạn trong và ngoài nước.

Cùng với đa dạng hóa sản phẩm và hàng hóa trên thị trường, cơ quan quản lý sẽ đẩy mạnh IPO gắn với niêm yết, thúc đẩy doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) tham gia thị trường chứng khoán, đồng thời phối hợp xây dựng cơ chế chào bán trái phiếu ra công chúng cho các doanh nghiệp dự án theo mô hình đối tác công - tư, trái phiếu hạ tầng, qua đó huy động hiệu quả nguồn vốn trung và dài hạn cho các dự án trọng điểm của nền kinh tế.

30 NĂM – DẤU MỐC TRƯỞNG THÀNH

Bà kỳ vọng điều gì về tuổi 30 của ngành Chứng khoán, độ tuổi trưởng thành để chinh phục những thành công cao hơn?

Năm 2026 sẽ rất quan trọng với thị trường chứng khoán Việt Nam và mang ý nghĩa đặc biệt với ngành Chứng khoán. Thị trường sẽ chuyển từ “đạt điều kiện” sang “vận hành ổn định và bền vững” theo chuẩn mực của một thị trường mới nổi; đồng thời cũng là năm ngành Chứng khoán kỷ niệm 30 năm xây dựng và trưởng thành (28/11/1996 – 28/11/2026).

Cùng với việc triển khai rất nhiều nhóm nhiệm vụ quan trọng như đã chia sẻ ở trên, năm 2026 này, ngành Chứng khoán đặt quyết tâm nỗ lực cao nhất, đoàn kết, chủ động, sáng tạo để đóng góp hiệu quả hơn cho tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên mới. Chúng tôi xem đó là những món quà ý nghĩa thực sự nhất dành cho ngành Chứng khoán để đón sinh nhật tuổi 30; đồng thời đó cũng là sự tri ân dành cảm ơn sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của các cấp lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Bộ Tài chính; sự phối hợp hiệu quả của các ban, bộ, ngành trung ương và địa phương; sự hỗ trợ hữu tình của các tổ chức, đơn vị trong và ngoài nước; đặc biệt là các thế hệ lãnh đạo, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong toàn ngành Chứng khoán suốt gần 30 năm qua.

Với nền tảng đã được củng cố trong năm 2025 và định hướng phát triển rõ ràng cho giai đoạn tới, thị trường chứng khoán Việt Nam được kỳ vọng sẽ tiếp tục phát triển ổn định, bền vững, xứng đáng với vai trò là trụ cột quan trọng của thị trường tài chính và là thành quả tiêu biểu của 30 năm xây dựng, đổi mới và hội nhập của ngành Chứng khoán Việt Nam.

-Thu Minh

Categories: The Latest News

Tổng Bí thư Tô Lâm điện đàm với các Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ, thúc đẩy quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện

Thu, 02/19/2026 - 12:40
Tổng Bí thư Tô Lâm đã có các cuộc điện đàm với Thượng nghị sĩ Steve Daines và Thượng nghị sĩ Bill Hagerty. Các cuộc trao đổi tập trung vào việc củng cố quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ, thúc đẩy hợp tác nghị viện, kinh tế – thương mại – đầu tư và khắc phục hậu quả chiến tranh.

Ngày 18/2/2026 (giờ địa phương), trong thời gian tham dự cuộc họp khai mạc Hội đồng Hòa bình về Gaza tại Washington D.C (Hoa Kỳ) theo lời mời của Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump, Chủ tịch Hội đồng Hòa bình về Gaza, Tổng Bí thư Tô Lâm đã điện đàm với Thượng nghị sĩ Steve Daines (Cộng hòa - bang Montana), thành viên Ủy ban Đối ngoại và Thượng nghị sĩ Bill Hagerty (Cộng hòa - bang Tennessee), thành viên Ủy ban Đối ngoại và Ủy ban Chuẩn chi, Thượng viện Hoa Kỳ.

CỦNG CỐ NỀN TẢNG QUAN HỆ VIỆT NAM – HOA KỲ HƠN BA THẬP NIÊN

Tại cuộc điện đàm với Thượng nghị sĩ Steve Daines, Tổng Bí thư Tô Lâm cảm ơn Thượng nghị sĩ đã gửi thư chúc mừng thành công của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tổng Bí thư cho biết Đại hội XIV đã đề ra mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia đang phát triển có thu nhập trung bình cao, công nghiệp hiện đại vào năm 2030 và trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045. 

Tổng Bí thư đánh giá cao vai trò và những nỗ lực của Thượng nghị sĩ Steve Daines trong việc thúc đẩy Thượng viện Hoa Kỳ thông qua Nghị quyết “Kỷ niệm 30 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Hoa Kỳ và Việt Nam”. Nghị quyết này thể hiện sự ủng hộ của lưỡng đảng tại Quốc hội Hoa Kỳ cũng như tình cảm và sự quan tâm cá nhân của Thượng nghị sĩ đối với Việt Nam và quan hệ song phương Việt Nam – Hoa Kỳ.

Tổng Bí thư Tô Lâm đã điện đàm với Thượng nghị sĩ Steve Daines. Ảnh: TTXVN

Điểm lại những bước phát triển tích cực trong quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện Việt Nam - Hoa Kỳ thời gian qua, trong đó có đóng góp quan trọng của Quốc hội Hoa Kỳ, Tổng Bí thư đề nghị hai bên cần phát huy nền tảng quan hệ đã được xây dựng trong hơn 30 năm qua, trong đó có trao đổi đoàn và hợp tác nghị viện.

Tổng Bí thư cũng đề nghị hai bên duy trì quan hệ kinh tế - thương mại - đầu tư theo hướng ổn định, bền vững và Quốc hội Hoa Kỳ tiếp tục quan tâm dành nguồn lực hỗ trợ Việt Nam khắc phục hậu quả chiến tranh, nhất là dự án tẩy độc dioxin tại sân bay Biên Hòa, xử lý bom mìn, hỗ trợ người khuyết tật/nạn nhân chiến tranh, đẩy mạnh hỗ trợ tìm kiếm, quy tập, định danh bộ đội Việt Nam mất tin, mất tích trong chiến tranh. Tổng Bí thư khẳng định Việt Nam cam kết tiếp tục hợp tác đầy đủ và có trách nhiệm với phía Hoa Kỳ trong tìm kiếm quân nhân Hoa Kỳ mất tích trong chiến tranh.

Chúc mừng Tổng Bí thư Tô Lâm được bầu lại làm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam và nhắc lại những kỷ niệm tốt đẹp trong chuyến thăm Việt Nam vào tháng 3/2025, Thượng nghị sĩ Steve Daines bày tỏ ấn tượng với những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam; vui mừng chứng kiến Hoa Kỳ trở thành đối tác thương mại lớn thứ hai của Việt Nam; đồng thời khẳng định Việt Nam là đối tác kinh tế quan trọng của Hoa Kỳ tại khu vực và mong muốn hai nước sớm hoàn tất thỏa thuận thương mại đối ứng.

Khẳng định sự ủng hộ mạnh mẽ của nhiều thế hệ nghị sĩ lưỡng đảng Quốc hội Hoa Kỳ đối với quan hệ hai nước, Thượng nghị sĩ Steve Daines mong muốn Việt Nam sẽ trở thành quốc gia mạnh, độc lập, tự cường, thịnh vượng. Thượng nghị sĩ Steve Daines nhất trí về tầm quan trọng của việc duy trì tiếp xúc, trao đổi đoàn các cấp, nhất là cấp cao, đồng thời chia sẻ ý kiến của Tổng Bí thư và cho biết cá nhân Thượng nghị sĩ sẽ ưu tiên thúc đẩy hơn nữa hợp tác khắc phục hậu quả chiến tranh và hợp tác trong các lĩnh vực khác mà hai bên cùng quan tâm.

Tại cuộc điện đàm, hai bên cũng trao đổi về các vấn đề khu vực và quốc tế cùng quan tâm. Thượng nghị sĩ Steve Daines đánh giá cao việc Việt Nam tham gia Hội đồng Hòa bình, thể hiện vai trò là thành viên chủ động, tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế trong việc giải quyết các vấn đề chung của khu vực và quốc tế.

THÚC ĐẨY HỢP TÁC THỰC CHẤT, HƯỚNG TỚI HOÀN TẤT THỎA THUẬN THƯƠNG MẠI ĐỐI ỨNG

Tại cuộc điện đàm với Thượng Nghị sĩ Bill Hagerty, Tổng Bí thư Tô Lâm chia sẻ Đại hội XIV đã diễn ra thành công tốt đẹp, là dấu mốc mở ra chặng đường phát triển mới của Việt Nam. Tổng Bí thư khẳng định Việt Nam nhất quán thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại. Việt Nam mong muốn cùng Hoa Kỳ tiếp tục triển khai hiệu quả, thực chất quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện.ĩ

Tổng Bí thư Tô Lâm đã điện đàm với Thượng nghị sĩ Bill Hagerty. Ảnh: TTXVN

Cảm ơn những tình cảm, sự quan tâm của Thượng nghị sĩ Bill Hagerty đối với Việt Nam, Tổng Bí thư Tô Lâm đánh giá cao sự ủng hộ của Quốc hội Hoa Kỳ trong việc củng cố và phát triển khuôn khổ Đối tác Chiến lược Toàn diện giữa hai nước.

Tại cuộc điện đàm, hai bên bày tỏ vui mừng khi tin cậy chính trị giữa hai nước tiếp tục tăng cường, hợp tác kinh tế – thương mại – đầu tư không ngừng mở rộng. Tổng Bí thư đặc biệt đánh giá cao hợp tác khắc phục hậu quả chiến tranh, coi đây là điểm sáng trong quan hệ hai nước.

Tổng Bí thư đề nghị hai bên tiếp tục phát huy đà hợp tác, tăng cường trao đổi đoàn các cấp, trong đó có kênh nghị viện; duy trì và thúc đẩy hợp tác kinh tế – thương mại – đầu tư theo hướng ổn định, bền vững; đồng thời mong Quốc hội Hoa Kỳ tiếp tục quan tâm, dành nguồn lực hỗ trợ Việt Nam trong các lĩnh vực khắc phục hậu quả chiến tranh, xử lý bom mìn, tẩy độc dioxin, hỗ trợ nạn nhân chiến tranh, đồng thời, khẳng định tiếp tục hợp tác đầy đủ, có trách nhiệm với phía Hoa Kỳ trong tìm kiếm quân nhân Hoa Kỳ mất tích

Tổng Bí thư Tô Lâm đã điện đàm với Thượng nghị sĩ Bill Hagerty. Ảnh: TTXVN

Thượng nghị sĩ Bill Hagerty bày tỏ đánh giá cao vai trò và vị thế ngày càng tăng của Việt Nam, khẳng định mong muốn quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện Việt Nam – Hoa Kỳ tiếp tục được làm sâu sắc hơn nữa trên cơ sở lợi ích chung của hai nước.

Thượng nghị sĩ Bill Hagerty cho rằng hai bên đã đạt được nhiều tiến triển quan trọng trong đàm phán Hiệp định thương mại đối ứng, công bằng và cân bằng; tin tưởng với tinh thần cởi mở, thẳng thắn và tôn trọng lẫn nhau, hai bên sẽ sớm hoàn tất hiệp định.; đồng thời khẳng định việc tăng cường hợp tác kinh tế hai nước sẽ góp phần củng cố quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa hai nước.

Đánh giá cao và cảm ơn Việt Nam vì sự hợp tác tích cực, trách nhiệm trong việc tìm kiếm quân nhân Hoa Kỳ mất tích, Thượng nghị sĩ Bill Hagerty khẳng định Quốc hội và Chính phủ Hoa Kỳ sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với Việt Nam trong khắc phục hậu quả chiến tranh.

Thượng nghị sĩ Bill Hagerty cũng nhất trí với Tổng Bí thư về tầm quan trọng của việc duy trì tiếp xúc, đối thoại thường xuyên giữa hai bên, bày tỏ mong muốn sớm thăm lại Việt Nam để tiếp tục trao đổi trực tiếp về các biện pháp thúc đẩy quan hệ song phương, đồng thời gửi lời chúc mừng Năm mới tới Tổng Bí thư và nhân dân Việt Nam nhân dịp Tết Nguyên đán.

-Hà Lê

Categories: The Latest News

Tổng Bí thư Tô Lâm chứng kiến ký kết các thỏa thuận Việt Nam – Hoa Kỳ trị giá 37,2 tỷ USD

Thu, 02/19/2026 - 11:27
Chiều 18/2 theo giờ địa phương, tại Washington D.C., Tổng Bí thư Tô Lâm chứng kiến lễ ký và trao các hợp đồng, thỏa thuận hợp tác giữa Việt Nam và Hoa Kỳ trong các lĩnh vực: khoa học công nghệ, chuyển đổi số, hàng không và y tế, với tổng giá trị 37,2 tỷ USD, trong bối cảnh quan hệ hai nước bước vào giai đoạn phát triển mới.

Cùng chứng kiến có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Đại tướng Phan Văn Giang, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Đại tướng Lương Tam Quang, Bộ trưởng Bộ Công an; Nguyễn Duy Ngọc, Bí thư Thành ủy Hà Nội; Lê Hoài Trung, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao; Phạm Gia Túc, Bí thư Trung ương Đảng, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng; các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương và Đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ Nguyễn Quốc Dũng.

Phía Hoa Kỳ có: Ngài Michael George DeSombre, Trợ lý Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, phụ trách Đông Á và Thái Bình Dương; Ngài David Fogel, Trợ lý Bộ trưởng Bộ Thương mại, Giám đốc cơ quan Thương mại quốc tế Hoa Kỳ.

Tổng Bí thư Tô Lâm chứng kiến lễ trao giấy phép giữa Bộ Khoa học và Công nghệ và Công ty Starlink trao giấy phép cung cấp dịch vụ viễn thông có hạ tầng mạng (loại mạng viễn thông cố định vệ tinh) cho Công ty trách nhiệm hữu hạn Starlink Services Việt Nam; giấy phép cung cấp dịch vụ viễn thông có hạ tầng mạng (loại mạng viễn thông di động vệ tinh) cho Công ty trách nhiệm hữu hạn Starlink Services Việt Nam. Ảnh: TTXVN.

Phát biểu chào mừng tại buổi Lễ, Đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ Nguyễn Quốc Dũng nhấn mạnh sau 30 năm bình thường hóa quan hệ, Việt Nam và Hoa Kỳ đã trở thành Đối tác Chiến lược Toàn diện vì hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững. Hai nước đã cùng nhau biến những khoảng cách lịch sử thành chiếc cầu hợp tác bền vững, trên nền tảng tôn trọng lẫn nhau, hiểu biết và cùng hướng tới tương lai.

Trong đó, các thỏa thuận và văn kiện hợp tác giữa cộng đồng doanh nghiệp hai nước góp phần lớn cho quá trình xây dựng mối quan hệ phát triển mạnh mẽ, thực chất và cân bằng.

Đại sứ quán Việt Nam tại Hoa Kỳ cam kết sẽ tiếp tục là cầu nối tích cực, thúc đẩy đối thoại chính sách, tháo gỡ vướng mắc và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho hợp tác doanh nghiệp hai nước.

Tổng Bí thư Tô Lâm chứng kiến lễ trao Hợp đồng mua hệ thống xạ trị ung thư proton Mevion S250-FIT giữa Bệnh viện đa khoa Tâm Anh và Công ty Mevion Medical Systems. Ảnh: TTXVN

Các văn bản được ký kết và trao giữa hai bên gồm nhiều thỏa thuận quan trọng trên các lĩnh vực khoa học công nghệ, chuyển đổi số, hàng không và y tế. Cụ thể, Bộ Khoa học và Công nghệ trao Giấy phép cung cấp dịch vụ viễn thông có hạ tầng mạng (loại mạng viễn thông cố định vệ tinh) cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn Starlink Services Việt Nam.

Tổng Công ty Hàng không Việt Nam (Vietnam Airlines) và Tập đoàn Boeing ký hợp đồng mua 50 máy bay Boeing 737 MAX. Vietnam Airlines và Tập đoàn Boeing đang tiếp tục phát triển mối quan hệ hợp tác lâu dài thông qua đơn đặt hàng đầu tiên của hãng đối với dòng máy bay thân hẹp của Tập đoàn Boeing. Đơn đặt hàng lần này của Vietnam Airlines sẽ hỗ trợ chiến lược tăng trưởng hiệu quả và bền vững của hãng, góp phần tăng cường kết nối trong nước và khu vực.

Tổng Bí thư Tô Lâm chứng kiến lễ trao Hợp đồng lựa chọn mua động cơ và dịch vụ bảo dưỡng giữa VietjetAir (Việt Nam) và Pratt Whitney (Hoa Kỳ) cho 137 tàu bay với động cơ GTF. Ảnh: TTXVN.

Hãng hàng không Sun Phú Quốc Airways cũng ký hợp đồng mua 40 máy bay Boeing 787-9 Dreamliner với Tập đoàn Boeing. Hợp đồng giúp hãng hoàn thiện năng lực khai thác xuyên lục địa và góp phần củng cố niềm tin, thúc đẩy hợp tác kinh tế song phương bền vững giữa doanh nghiệp hai nước. Từ nền tảng này, năng lực kết nối mở rộng sẽ trở thành đòn bẩy thúc đẩy mạnh mẽ dòng khách du lịch, đầu tư và thương mại giữa hai quốc gia.

Bên cạnh đó, Vietjet ký hợp đồng lựa chọn, mua động cơ và dịch vụ bảo dưỡng với Pratt Whitney (thuộc RTX Corporation) cho 44 tàu bay A321NEO và A321XLR sử dụng động cơ GTF. Hãng cũng ký thỏa thuận với Griffin Global Asset Management về cung cấp tài chính cho 6 tàu bay Boeing 737-8.

Ở lĩnh vực y tế, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh và Công ty Mevion Medical Systems ký hợp đồng mua hệ thống xạ trị proton Mevion S250-FIT, hệ thống xạ trị ung thư proton hiện đại nhất tại Mỹ. Việt Nam là quốc gia đầu tiên tại châu Á sở hữu hệ thống thiết bị hiện đại này, mở ra hy vọng điều trị ung thư an toàn hiệu quả hơn.

Trưa 18/2 (theo giờ địa phương), chuyên cơ chở Tổng Bí thư Tô Lâm và đoàn đã tới sân bay quân sự Andrews (Hoa Kỳ), tham dự cuộc họp khai mạc Hội đồng Hòa bình về Gaza, theo lời mời của Tổng thống Hợp chúng quốc Hoa Kỳ Donald Trump, Chủ tịch Sáng lập Hội đồng Hòa bình về Gaza từ ngày 18 - 20/2/2026.

 Đón Tổng Bí thư Tô Lâm và đoàn tại sân bay quân sự Andrews có: Đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ Nguyễn Quốc Dũng; Đại sứ, Trưởng phái đoàn Việt Nam tại Liên hợp quốc Đỗ Hùng Việt; Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Đặng Hoàng Giang; Tổng Lãnh sự Việt Nam tại San Fransisco Hoàng Anh Tuấn; Tổng Lãnh sự Việt Nam tại Houston Hoàng Thùy Dương, cùng cán bộ, nhân viên Đại sứ quán.

 Là thành viên sáng lập, Việt Nam mong muốn cùng các thành viên phát huy vai trò của Hội đồng Hòa bình về Gaza trong việc thúc đẩy hòa bình và tái thiết Gaza trên cơ sở Nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, bảo đảm lợi ích chính đáng của các bên, nhất là của người dân Palestine theo luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc.

Sự tham dự cuộc họp khai mạc Hội đồng Hòa bình về Gaza của Tổng Bí thư Tô Lâm là sự ủng hộ đối với những nỗ lực hòa bình nói chung và sáng kiến tái thiết Gaza nói riêng, góp phần làm sâu sắc thêm hợp tác giữa Việt Nam - Hoa Kỳ trong việc xử lý các vấn đề khu vực và toàn cầu, phù hợp với tinh thần của Đối tác chiến lược toàn diện.

-Hà Lê

Categories: The Latest News

Tòa án chuyên biệt: Cơ chế pháp lý thúc đẩy phát triển Trung tâm tài chính quốc tế

Thu, 02/19/2026 - 07:49
Luật Tòa án chuyên biệt tại Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam vừa được Quốc hội thông qua ngày 11/12/2025 và có hiệu lực từ ngày 1/1/2026. Đây được coi là một bước tiến đột phá, với nhiều quy định linh hoạt nhằm thiết lập cơ chế giải quyết tranh chấp đặc thù, vượt trội, tiệm cận với thông lệ quốc tế.

Để hiểu thêm về vấn đề này, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy đã có cuộc trao đổi với Luật sư Trần Anh Hùng, Luật sư điều hành Công ty Luật BROSS Partners.

Thưa luật sư, Luật Tòa án chuyên biệt tại Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam (IFC) được kỳ vọng tạo hành lang pháp lý quan trọng để thu hút vốn đầu tư nước ngoài, góp phần bảo vệ tối đa quyền lợi của nhà đầu tư vào IFC. Luật có những quy định rất mở nhằm thiết lập cơ chế xét xử, giải quyết các vụ việc của Tòa án chuyên biệt, phù hợp với thông lệ quốc tế và những nguyên tắc giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế của hệ thống thông luật (common law). Theo luật sư, đó là những quy định nào? 

Trước tiên, Luật Tòa án chuyên biệt tại Trung tâm Tài chính quốc tế (sau đây gọi tắt là Luật Tòa án chuyên biệt) đã loại bỏ vai trò truyền thống của Viện Kiểm sát ra khỏi quá trình giải quyết tranh chấp của Tòa án chuyên biệt tại Trung tâm Tài chính quốc tế (sau đây gọi tắt là Tòa án chuyên biệt). Thông thường theo hệ thống xét xử truyền thống, Viện Kiểm sát đóng vai trò thực hành quyền công tố (trong vụ án hình sự) và kiểm sát hoạt động tư pháp. Việc Viện Kiểm sát không tham gia kiểm sát quá trình tố tụng của Tòa án chuyên biệt đã thể hiện quan điểm và cam kết mạnh mẽ của Việt Nam đối với IFC, đảm bảo “quyền tự định đoạt của các bên” và kiến tạo “thủ tục tố tụng linh hoạt, đặc thù theo chuẩn mực và thông lệ quốc tế”.

Mặt khác, Luật Tòa án chuyên biệt đã cho phép áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế theo thỏa thuận của các bên với điều kiện là việc áp dụng này không trái với trật tự công của Việt Nam. Như vậy, Luật Tòa án chuyên biệt cho phép các bên có thể lựa chọn pháp luật của các nước phát triển, theo hệ thống thông luật trên giới như Hoa Kỳ, Anh - là những hệ thống pháp luật lâu đời và uy tín, có tính ổn định cao, thường được các định chế tài chính quốc tế, các công ty đa quốc qua lựa chọn áp dụng.

Ngoài ra, luật cho phép người nước ngoài làm thẩm phán; có quy định linh hoạt nhằm giúp quá trình giải quyết tranh chấp trở nên hiệu quả và nhanh chóng, như: thẩm quyền, thành phần xét xử; thời hiệu khởi kiện; đại diện các bên tham gia tố tụng; quy định về thủ tục tố tụng điện tử; quy định về phán quyết tức thời…

Đặc biệt, về chứng cứ, Tòa án chuyên biệt sẽ không thu thập chứng cứ mà chỉ dựa vào những gì các bên nộp, một cơ chế tương đương trực tiếp với “discovery” trong “thông luật” common law.

Bên cạnh đó, Luật Tòa án chuyên biệt quy định bản án, quyết định phúc thẩm là quyết định cuối cùng, ràng buộc các bên và không bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm. 

Như vậy các nhà đầu tư nước ngoài sẽ không phải lo ngại bản án, quyết định của tòa án, sau khi ban hành, còn có thể bị xét lại và kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm như thủ tục tố tụng thông thường, tạo sự chắc chắn pháp lý (res judicata) mà thị trường tài chính đòi hỏi, tránh tình trạng tranh chấp kéo dài bất định, gây mất thời gian và tạo tâm lý lo sợ, e dè của các nhà đầu tư.

Luật Tòa án chuyên biệt quy định những nguyên tắc xét xử giống với “thông luật” common law? Điều này có những ưu điểm như thế nào so với nguyên tắc xét xử của tòa án Việt Nam hiện tại? 

Theo tôi, Luật Tòa án chuyên biệt đã tiếp thu những nguyên tắc cơ bản của thông luật và khác biệt so với mô hình tòa án truyền thống Việt Nam.

Thứ nhất, tôn trọng tối đa quyền tự chủ của các bên (Party Autonomy), từ việc lựa chọn luật áp dụng, thời hiệu khởi kiện, phương thức tố tụng, chi phí, luật sư, quản lý vụ việc, sử dụng chứng cứ chuyên gia… 

Thứ hai, áp dụng nguyên tắc “đối tụng” (Adversarial System), đề cao tranh tụng công khai, minh bạch, công bằng; vai trò của luật sư được đẩy lên trung tâm. Tòa án không chủ động thu thập chứng cứ như tố tụng dân sự truyền thống Việt Nam (Inquisitorial System), mà các bên tự chịu trách nhiệm thu thập, cung cấp, tranh luận, chứng minh (giống với cơ chế discovery trong thông luật).

Thứ ba, quy trình tố tụng linh hoạt, nhanh chóng, kết hợp giữa tố tụng tòa án truyền thống và tố tụng trọng tài như việc áp dụng quy tắc chứng cứ, quá trình thu thập tài liệu, phiên họp quản lý vụ kiện…

Thứ tư, thẩm phán người nước ngoài với năng lực, kinh nghiệm, chuyên môn sâu, là chuyên gia trong từng lĩnh vực cụ thể. 

Thứ năm, áp dụng luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế, án lệ. 

Điều này giúp cho Tòa án chuyên biệt có thể giải quyết tốt những vụ tranh chấp phức tạp, xuyên biên giới liên quan đến các lĩnh vực tài chính, đầu tư, công nghệ, tài chính phái sinh, quỹ đầu tư, cấu trúc offshore, fintech, tài sản số… đạt tới sự công bằng thực chất; tăng niềm tin của nhà đầu tư nước ngoài…

Là người tham gia nhiều thương vụ giải quyết tranh chấp lớn, theo ông, đâu là yếu tố quan trọng trong giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế?

Tôi cho rằng yếu tố đầu tiên đó là chất lượng Thẩm phán. Trong tranh chấp đầu tư quốc tế, thẩm phán cần phải là người có uy tín, am hiểu pháp luật và có chuyên môn sâu, có kinh nghiệm tư vấn, giải quyết nhiều vụ việc tranh chấp đầu tư quốc tế, có sự độc lập và không bị ảnh hưởng, tác động bởi các yếu tố chính trị hoặc yếu tố khác. Đặc biệt, cần đảm bảo các nguyên tắc xét xử công bằng, minh bạch và tôn trọng quyền tự chủ của các bên (Party Autonomy). 

Ngoài ra, cần đảm bảo quy trình tố tụng minh bạch, nhanh chóng, linh hoạt, thuận lợi. Cần ưu tiên áp dụng công nghệ và hiện đại hóa với quy trình tố tụng điện tử, rút ngắn thời gian giải quyết vụ việc. Cuối cùng là giá trị hiệu lực và khả năng thi hành của phán quyết. 

Trong tranh chấp đầu tư quốc tế, các bên quan tâm hai vấn đề chính: có rủi ro bị xem xét, xét xử lại phán quyết hay không và khả năng thực thi một cách nhanh chóng, thuận lợi của phán quyết. 

Theo luật sư, có nên tham khảo các Quy tắc tố tụng của các Tòa án tại các Trung tâm tài chính quốc tế trên thế giới, đặc biệt khi Tòa án nhân dân tối cao đang xem xét ban hành Quy tắc tố tụng của Tòa án chuyên biệt, để hướng dẫn chi tiết thi hành Luật Tòa án chuyên biệt? 

Tôi cho rằng việc tham khảo các Quy tắc tố tụng của các tòa án như Tòa án Thương mại quốc tế Singapore (SICC) hay Tòa Trung tâm Tài chính quốc tế Dubai (DIFC), Tòa Thương mại London (LCC)… là rất cần thiết. Theo đó, Quy tắc tố tụng của Tòa án chuyên biệt cần phải thể hiện đầy đủ những quy định mang tính đột phá và ưu việt của Luật Tòa án chuyên biệt. 

Cụ thể, cần phải thể hiện được tính quốc tế, minh bạch, chi tiết hóa trình tự thủ tục nhanh chóng, thuận lợi và linh hoạt. Quy tắc tố tụng Tòa án chuyên biệt cần được nhìn nhận là một bộ quy tắc chuyên biệt, đề cao việc xét xử theo bản chất của tranh chấp, ưu tiên tranh tụng và quản trị vụ việc chủ động, tôn trọng quyền tự chủ của các bên (Party Autonomy).

Một quy trình rõ ràng và đầy đủ như vậy sẽ trao quyền chủ động và tự kiểm soát vụ việc cho các bên, đẩy nhanh tiến độ giải quyết vụ việc. 

Một bản án chỉ có ý nghĩa khi được công nhận và thi hành rộng rãi ở nước ngoài. Theo ông, bên cạnh Luật Tòa án chuyên biệt, cần thêm các điều kiện gì để các quyết định, bản án của Tòa án chuyên biệt đi vào thực tế, tạo niềm tin với nhà đầu tư quốc tế?

Hiện tại, Việt Nam chưa là thành viên của Công ước La Hay về thỏa thuận lựa chọn tòa án (The Hague Convention on Choice of Court Agreements). Do vậy, bản án của Tòa án chuyên biệt không được hưởng cơ chế công nhận và thi hành tự động theo Công ước La Hay. 

Việc công nhận và cho thi hành bản án của Tòa án chuyên biệt sẽ dựa vào nguyên tắc có đi có lại hoặc hiệp định song phương của Việt Nam với quốc gia nơi cần thi hành bản án.

Một bản án chỉ thực sự có giá trị khi nó được công nhận và thi hành trên thực tế, đặc biệt là ở nước ngoài. Do vậy, để tạo niềm tin với nhà đầu tư nước ngoài và nâng cao khả năng cạnh tranh của Tòa án chuyên biệt với Trung tâm trọng tài quốc tế thuộc IFC, Việt Nam cần gia nhập các Công ước quốc tế về công nhận, thi hành bản án nước ngoài trong lĩnh vực dân sự, thương mại như Công ước La Hay (Hague Judgments Convention), Công ước La Hay về thỏa thuận lựa chọn tòa án năm. Ký kết các Hiệp định tương trợ tư pháp song phương. Xây dựng đạo luật về công nhận và thi hành bản án nước ngoài trên cơ sở có đi có lại. 

Việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế và trao thẩm quyền cho thẩm phán thi hành án (các Điều 38, 39 Luật Tòa án chuyên biệt) sẽ gặp khó khăn, thuận lợi, cần điều kiện hoặc hướng dẫn cụ thể không?

Việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế và trao thẩm quyền cho thẩm phán thi hành án, thay vì cho một cơ quan thi hành án riêng biệt như thủ tục thông thường, là một bước tiến đột phá nhưng cũng nhiều thách thức. 

Việc này giúp tăng tốc độ và hiệu quả thi hành án, giảm bớt các bước chuyển giao hồ sơ giữa tòa án và cơ quan thi hành án, tăng niềm tin của nhà đầu tư vào Tòa án chuyên biệt. 

Tuy nhiên, sẽ có những khó khăn, đặc biệt cần phải hoàn thiện các quy định của pháp luật có liên quan đến việc thi hành án của Tòa án chuyên biệt, tránh xung đột với hệ thống pháp luật thi hành án hiện hành. Quy định cơ chế phối hợp giữa Tòa án chuyên biệt và các cơ quan nhà nước có liên quan để thi hành án nhanh chóng, hiệu quả. 

Đồng thời, cần ban hành các quy định chi tiết, cụ thể liên quan đến việc thi hành án trong Quy tắc tố tụng của Tòa án chuyên biệt. Việc này sẽ góp phần quan trọng và thúc đẩy tính minh bạch, hiệu quả thi hành án của Tòa án chuyên biệt.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html 

-Đỗ Mến

Categories: The Latest News

Xây dựng “phòng tuyến kép” cho không gian số

Thu, 02/19/2026 - 07:34
Luật An ninh mạng (sửa đổi) và Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân cùng được ban hành trong năm 2025 không chỉ là bước tiến về mặt pháp lý, mà còn là dấu hiệu cho thấy Việt Nam đã sẵn sàng bước vào giai đoạn mới của quản trị không gian số, nơi an ninh, quyền con người, phát triển kinh tế số và xây dựng công nghiệp an ninh mạng nội địa được đặt trong cùng một tổng thể chiến lược...

Hơn hại thập kỷ cống hiến cho lĩnh vực an ninh mạng của Việt Nam, chứng kiến Luật An ninh mạng (sửa đổi) và Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân cùng được thông qua trong năm 2025, ông cảm nhận những thay đổi này trong không gian lập pháp sẽ tác động ra sao đến hệ thống phòng tuyến an ninh mạng của Việt Nam?

An ninh mạng hiện đã trở thành một trong những mặt trận quan trọng nhất của mỗi quốc gia, với mức độ tác động không thua kém các lĩnh vực an ninh truyền thống. Những vụ rò rỉ dữ liệu cá nhân trên quy mô lớn, các cuộc tấn công ransomware khiến hệ thống thông tin tê liệt, hay những chiến dịch gián điệp mạng nhắm vào hạ tầng trọng yếu,... tất cả đang cho thấy không gian mạng không còn là “thế giới ảo”, mà đã trở thành một cấu phần cơ hữu của đời sống kinh tế – xã hội và an ninh quốc gia.

Trong bối cảnh đó, việc Việt Nam đồng thời thông qua Luật An ninh mạng 2025 và lần đầu tiên ban hành Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong cùng năm không đơn thuần là sự kiện lập pháp. Đây là một tuyên bố chính sách rõ ràng, thể hiện cách Việt Nam nhìn nhận, bảo vệ chủ quyền quốc gia, lợi ích công cộng và quyền cơ bản của công dân trong kỷ nguyên số. Sự song hành của hai đạo luật đánh dấu bước tiến quan trọng trong nỗ lực xây dựng “phòng tuyến kép” cho không gian số Việt Nam.

Hai đạo luật này tạo ra khung pháp lý tương đối toàn diện, bao trùm cả “hạ tầng” lẫn “con người”, cả “hệ thống” lẫn “dữ liệu”, từ đó nâng tầm phòng thủ an ninh mạng của Việt Nam từ trạng thái phản ứng sang chủ động, từ bị động đối phó sang phòng ngừa có chiến lược.

Luật An ninh mạng 2025 sẽ chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2026, bộ luật này đã xác lập rõ hơn yêu cầu/tiêu chuẩn để bảo vệ hạ tầng số và các hệ thống thông tin trọng yếu. Tuy nhiên, thực tiễn hiện nay, theo ông, đâu là những mắt xích đang dễ bị tổn thương trong các phòng tuyến an ninh mạng?

Trên thực tế, không gian mạng của Việt Nam hiện nay được xây dựng trên một nền hạ tầng ngày càng phức tạp, kết nối chặt chẽ giữa khu vực công và khu vực tư, giữa hệ thống trong nước và các nền tảng xuyên biên giới. Sự kết nối sâu rộng này vừa là động lực cho phát triển kinh tế số, vừa đồng thời mở ra nhiều bề mặt tấn công và rủi ro tiềm ẩn hơn.

Thứ nhất, rủi ro phổ biến nhất đến từ yếu tố con người. Dù công nghệ bảo mật có hiện đại đến đâu, chỉ cần một nhân viên vô tình nhấp vào đường link lừa đảo, tải về một tệp tin độc hại hay sử dụng mật khẩu quá đơn giản, toàn bộ hệ thống có thể bị đặt vào tình trạng rủi ro. Phần lớn các cuộc tấn công mạng nghiêm trọng trong những năm gần đây đều bắt đầu từ những sai sót rất nhỏ như vậy.

Thứ hai, rủi ro nằm ở mức độ đầu tư và quan tâm của các doanh nghiệp, tổ chức liên quan đến vấn đề đảm bảo an ninh mạng. Không ít đơn vị vẫn coi đây là “chi phí phụ”, chỉ đầu tư ở mức tối thiểu để đáp ứng nhu cầu vận hành trước mắt, do đó còn thiếu đội ngũ chuyên trách, thiếu quy trình quản lý rủi ro và gần như không có phương án ứng phó khi sự cố xảy ra. Chính những hệ thống này thường trở thành “cửa ngõ” để tin tặc xâm nhập, từ đó lan sang các tổ chức khác, tạo ra “hiệu ứng domino” rất khó kiểm soát.

Thứ ba, rủi ro đến từ các hệ thống thông tin cũ, được xây dựng từ nhiều năm trước nhưng chưa được nâng cấp tương xứng với tốc độ phát triển công nghệ. Không ít hệ thống vẫn vận hành trên phần mềm lỗi thời, thiếu cơ chế cập nhật bản vá bảo mật và giám sát an toàn liên tục. Đây chính là “miếng mồi” hấp dẫn đối với các nhóm tấn công có chủ đích. Bên cạnh đó, chuỗi cung ứng số đang nổi lên như một điểm yếu mới, khi chỉ cần một nhà cung cấp công nghệ không bảo đảm an toàn cũng có thể kéo theo rủi ro cho hàng loạt cơ quan, tổ chức khác.

Vậy, yêu cầu tuân thủ quy định của Luật An ninh mạng 2025 sẽ tác động ra sao đến cách các doanh nghiệp vận hành hệ thống và quản trị rủi ro mạng?

Luật An ninh mạng 2025, với việc xác định rõ các hệ thống thông tin trọng yếu và yêu cầu trách nhiệm bảo vệ tương ứng, sẽ đóng vai trò như một “khung xương” để gia cố toàn bộ hệ sinh thái số quốc gia. Đặc biệt, quy định về việc đặt ra yêu cầu dành tỷ lệ ngân sách thích đáng với đầu tư công, trong đó có đề xuất đầu tư tối thiểu khoảng 15% kinh phí cho an ninh mạng trong tổng đầu tư công nghệ thông tin, không chỉ mang ý nghĩa kỹ thuật mà còn thể hiện sự thay đổi căn bản về tư duy. An ninh mạng không còn là phần việc làm thêm khi có điều kiện, mà trở thành hạng mục đầu tư bắt buộc, gắn liền với an toàn vận hành và năng lực tự chủ quốc gia trên không gian số.

Một điểm mới đáng chú ý khác của Luật An ninh mạng 2025 là việc làm rõ trách nhiệm của doanh nghiệp trong bảo đảm an toàn, an ninh mạng. Nếu trước đây, vấn đề này thường được giao phó cho bộ phận kỹ thuật, thì nay trách nhiệm đã được đẩy lên cấp quản trị và lãnh đạo cao nhất. Doanh nghiệp buộc phải đánh giá rủi ro mạng, xây dựng quy trình bảo vệ hệ thống, tổ chức diễn tập ứng phó sự cố và chịu trách nhiệm pháp lý nếu để xảy ra vi phạm nghiêm trọng.

An ninh mạng vì thế không còn là “việc của IT”, mà trở thành vấn đề chiến lược, gắn liền với uy tín thương hiệu, sự liên tục trong kinh doanh và niềm tin của khách hàng. Về dài hạn, sự thay đổi này sẽ giúp doanh nghiệp Việt Nam trưởng thành hơn trong quản trị rủi ro, tiệm cận các chuẩn mực quốc tế.

Nếu Luật An ninh mạng bảo vệ hệ thống, còn Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân bảo vệ con người, hai đạo luật này kết hợp với nhau sẽ tạo nên lá chắn bảo vệ lâu dài như thế nào cho không gian mạng Việt Nam?

Song hành với Luật An ninh mạng, việc Việt Nam lần đầu ban hành Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Trong nền kinh tế số, dữ liệu cá nhân chính là “dấu vân tay số” của mỗi con người, phản ánh hành vi, thói quen, mối quan hệ và thậm chí cả tình trạng sức khỏe, tài chính. Khi dữ liệu bị thu thập, sử dụng hoặc mua bán tùy tiện, hệ lụy không chỉ dừng ở việc bị làm phiền bởi quảng cáo, mà còn có thể dẫn tới lừa đảo, xâm phạm đời sống riêng tư và đe dọa an toàn cá nhân.

Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân đã lần đầu tiên xác lập rõ ràng quyền của người dân đối với dữ liệu của mình, từ quyền được biết, quyền đồng ý, quyền truy cập, chỉnh sửa đến quyền yêu cầu xóa dữ liệu, qua đó góp phần cân bằng lại mối quan hệ vốn bất đối xứng giữa cá nhân và các tổ chức nắm giữ dữ liệu.

Đối với doanh nghiệp và các nền tảng số, đặc biệt trong các lĩnh vực nhạy cảm như tài chính, ngân hàng, y tế, giáo dục và thương mại điện tử, luật mới đặt ra yêu cầu cao hơn nhưng cũng mang lại lợi ích dài hạn. Doanh nghiệp buộc phải minh bạch hơn, đầu tư nhiều hơn cho bảo mật và tuân thủ, nhưng đổi lại sẽ xây dựng được niềm tin bền vững với khách hàng. Trong một thị trường mà niềm tin ngày càng trở thành lợi thế cạnh tranh cốt lõi, đây là yếu tố sống còn. 

Trong bối cảnh dữ liệu ngày càng được xem là tài nguyên chiến lược của quốc gia, Việt Nam đang đứng trước bài toán cân bằng ra sao giữa bảo đảm an ninh, chủ quyền dữ liệu với yêu cầu mở dữ liệu, thúc đẩy kinh tế số và đổi mới sáng tạo?

Trong bối cảnh dữ liệu ngày càng được xem là tài nguyên chiến lược của quốc gia, Việt Nam đang đứng trước bài toán không dễ: làm sao cân bằng giữa bảo đảm an ninh, chủ quyền dữ liệu với yêu cầu mở dữ liệu để thúc đẩy kinh tế số và đổi mới sáng tạo. Nếu siết chặt quá mức, dữ liệu sẽ bị “đóng băng”, hạn chế sự phát triển của các mô hình kinh doanh mới, đặc biệt trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo và dịch vụ số. Ngược lại, nếu buông lỏng, nguy cơ mất an ninh, phụ thuộc vào các nền tảng nước ngoài và xâm phạm quyền riêng tư của người dân là rất lớn.

Hai đạo luật mới chính là công cụ pháp lý quan trọng để thiết lập sự cân bằng này, cho phép dữ liệu được khai thác và chia sẻ có kiểm soát, trên cơ sở bảo đảm an toàn và tôn trọng quyền của cá nhân.

Nhìn về tương lai, với khung pháp luật về an ninh mạng và dữ liệu ngày càng hoàn chỉnh, không gian số Việt Nam nhiều khả năng sẽ chuyển dịch theo hướng an toàn hơn, có trật tự hơn và chuyên nghiệp hơn. Doanh nghiệp sẽ coi an ninh mạng là nền tảng chứ không phải gánh nặng; người dân sẽ ý thức rõ hơn về giá trị dữ liệu cá nhân; còn Nhà nước có đủ công cụ để điều phối, giám sát và ứng phó hiệu quả với các rủi ro trên không gian mạng.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-

Categories: The Latest News

Luật AI: Cơ sở pháp lý thúc đẩy trí tuệ nhân tạo Việt Nam

Thu, 02/19/2026 - 06:00
Ở Việt Nam, tư duy quản lý có chút khác biệt, thường phải có quy định thì mới dám làm, mới có cơ sở để hỗ trợ. Vì vậy, luật cần thiết không chỉ để kiểm soát mà còn là cơ sở pháp lý quan trọng để thúc đẩy phát triển.

Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV đã biểu quyết thông qua Luật Trí tuệ nhân tạo (AI). Với việc thông qua Luật Trí tuệ nhân tạo, Việt Nam đã trở thành một trong số ít quốc gia có luật riêng toàn diện về AI.

Luật Trí tuệ nhân tạo có hiệu lực từ ngày 1/3/2026, gồm 35 điều, được thiết kế theo hướng bảo đảm cân bằng giữa kiểm soát rủi ro và thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phù hợp với thông lệ quốc tế và hỗ trợ Việt Nam chủ động hội nhập với các chuẩn mực công nghệ mới.

Đây là lần đầu tiên Việt Nam xây dựng và ban hành một đạo luật riêng về AI, thể hiện rõ cam kết mạnh mẽ của Đảng và Nhà nước trong việc coi AI là một công nghệ chiến lược. Tinh thần xuyên suốt của Luật là xây dựng một hành lang pháp lý cởi mở, an toàn, dựa trên cách tiếp cận quản lý rủi ro để thúc đẩy đổi mới sáng tạo.

Để làm rõ hơn về tinh thần “cởi mở, an toàn, thúc đẩy đổi mới sáng tạo” của Luật AI, Tạp chí Kinh tế Việt Nam / VnEconomy đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Đức Lam, chuyên gia về luật và quản trị nhà nước, Cố vấn chính sách tại Viện Nghiên cứu Chính sách và Phát triển truyền thông (IPS).

Ông Nguyễn Đức Lam đã có hơn 20 năm làm việc trong lĩnh vực pháp luật, chính sách công tại Văn phòng Quốc hội. Hiện nay, ông tập trung vào nghiên cứu, tư vấn chính sách công nghệ số như xây dựng chính quyền số, sử dụng dữ liệu trong hoạt động của Nhà nước, chính sách phát triển, kiểm soát rủi ro của AI.

Thưa ông, không ít chuyên gia cả trong nước và quốc tế cảnh báo nếu quản AI quá cứng nhắc có thể sẽ kìm hãm đổi mới sáng tạo. Với Luật AI vừa được thông qua, theo ông, các quy định đã đủ linh hoạt, vừa tạo điều kiện phát triển, vừa đảm bảo kiểm soát rủi ro?

Đây là một câu hỏi rất khó và tôi cũng phải thừa nhận rằng việc đảm bảo sự cân bằng giữa phát triển AI và kiểm soát rủi ro do AI gây ra là một vấn đề “đau đầu” chung của cả thế giới chứ không chỉ riêng Việt Nam hay bất kỳ quốc gia nào.

Tại Việt Nam, chúng ta đang đi theo hướng tiếp cận là phân loại rủi ro theo các cấp độ để kiểm soát. Cách tiếp cận này được đánh giá là phù hợp ở một mức độ nhất định vì nó không đánh đồng tất cả các loại rủi ro với nhau. Cụ thể, đối với những rủi ro cao thì áp dụng các biện pháp khắt khe hơn, còn rủi ro trung bình và thấp thì biện pháp sẽ nhẹ nhàng hơn. Đối với những rủi ro ở mức không chấp nhận được (như theo cách phân loại của Đạo luật AI của EU), Luật AI của Việt Nam đã chuyển thành các hành vi bị cấm. Việc phân biệt theo cấp độ như vậy giúp chúng ta có những biện pháp tương xứng, không đánh đồng, nhằm kiểm soát được rủi ro mà không cản trở sự phát triển của công nghệ.

Tuy nhiên, vấn đề khó khăn nằm ở chỗ làm sao xác định được AI có rủi ro thuộc nhóm nào. Trong đó, khó nhất là phải xác định được loại rủi ro nào là rủi ro cao để áp dụng biện pháp quản lý phù hợp.

Ngoài ra, xét từ góc độ phương pháp tiếp cận, chúng ta cũng nên xác định rằng không chỉ điều chỉnh rủi ro của AI bằng các văn bản luật “cứng”, Nghị định, hay Thông tư. Trên thế giới, người ta sử dụng rất nhiều công cụ chính sách khác nhau để điều chỉnh vấn đề này.

Thứ nhất, luật cứng, tức là các quy định bắt buộc của Nhà nước.

Thứ hai, các nguyên tắc mang tính khuyến nghị như của OECD hay UNESCO mà các quốc gia có thể tham khảo áp dụng.

Thứ ba, các tiêu chuẩn kỹ thuật của từng ngành, ví dụ như ngành y tế hay giáo dục có thể có những tiêu chuẩn riêng cho AI. Tại EU, các tiêu chuẩn này không bắt buộc, nhưng nếu doanh nghiệp tuân thủ thì đó sẽ là bằng chứng để họ chứng minh với cơ quan quản lý rằng mình đã tuân thủ quy định, giúp giảm bớt gánh nặng tuân thủ pháp lý về sau.

Thứ tư, các bộ quy tắc ứng xử mang tính tự nguyện do một ngành, một tổ chức hay doanh nghiệp tự xây dựng và áp dụng nội bộ.

Thứ năm, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox).

Như vậy, để hài hòa giữa kiểm soát và phát triển, chúng ta không chỉ dựa vào một đạo luật riêng về AI mà cần phối hợp nhiều công cụ. Thậm chí, ngay cả khi dựa vào pháp luật, chúng ta cũng có thể tận dụng các luật hiện hành như Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Luật Cạnh tranh, các quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân để điều chỉnh rủi ro của AI thay vì chỉ trông chờ vào một đạo luật mới hoàn toàn. Cách tiếp cận đa dạng như thế sẽ góp phần giải quyết bài toán cân bằng khó khăn này.

Luật AI của Việt Nam chia ra các cấp độ rủi ro và ông có nói rằng cái khó là xác định các cấp độ rủi ro như thế nào để điều chỉnh cho phù hợp. Vậy theo kinh nghiệm quốc tế, các quốc gia khi xây dựng luật AI gặp thách thức gì lớn nhất trong việc cân bằng giữa phát triển AI và đảm bảo an toàn quyền lợi cho người dân, thưa ông?

Thách thức mấu chốt vẫn là  câu chuyện xác định thế nào là rủi ro cao. Mặc dù rủi ro ở mức không chấp nhận được (hay là các hành vi bị cấm) có tính chất nguy hiểm nhất, nhưng đôi khi nó lại dễ xác định hơn là rủi ro cao. Rủi ro cao là mức độ mà chúng ta không cấm, nhưng lại phải áp đặt cho doanh nghiệp những nghĩa vụ pháp lý đủ chặt chẽ để kiểm soát, nhưng cũng không được quá trói buộc khiến họ không thể phát triển. Việc xác định ranh giới và nội hàm của cấp độ rủi ro cao này là rất khó khăn.

Theo quy định của Luật AI, danh mục các hệ thống AI có rủi ro cao sẽ do Thủ tướng Chính phủ ban hành và danh mục này sẽ được cập nhật hàng năm để đảm bảo phù hợp với thực tiễn. Điều quan trọng là để luật có thể thích ứng được với sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ, tránh tình trạng quy định hôm nay thì đúng nhưng ngày mai lại trở nên lỗi thời hoặc kìm hãm sự phát triển, đồng thời đảm bảo sự linh hoạt, chúng ta cần một cơ chế cập nhật thường xuyên. Ví dụ, năm nay Chính phủ có thể thiết lập danh mục gồm các hệ thống AI được coi là có rủi ro cao và áp dụng các biện pháp kiểm soát ngặt nghèo hơn. Tuy nhiên, sang năm sau, khi công nghệ đã hoàn thiện hơn hoặc chúng ta đã hiểu rõ hơn về nó, có thể một số hệ thống trong đó không còn được coi là rủi ro cao nữa. Khi đó, chúng sẽ được chuyển xuống nhóm rủi ro trung bình và các nghĩa vụ pháp lý đi kèm cũng sẽ giảm đi.

Ngược lại, cũng có những loại AI năm nay chưa bị coi là rủi ro cao, nhưng sang năm sau, do sự phát triển đột phá của công nghệ, chúng lại phát sinh những nguy cơ mới và trở thành rủi ro cao. Lúc đó, chúng ta lại phải xếp nó vào nhóm cần kiểm soát chặt chẽ hơn. Cách tiếp cận của Luật AI như đã nói ở trên là phù hợp để đảm bảo tính cập nhật của pháp luật, nhưng điều quan trọng là danh mục này cần bám sát với thực tế phát triển của công nghệ.

Về cơ chế sandbox – tức mô hình thử nghiệm có kiểm soát dành cho AI – theo nghiên cứu của ông, các quốc gia hiện nay đang áp dụng những mô hình nào? Ông có thể chia sẻ thêm về kinh nghiệm quốc tế, đặc biệt là các mô hình ở những nước gần gũi với Việt Nam như Singapore, và cách họ đang triển khai sandbox cho AI ra sao?

Về sandbox thế giới đã có rất nhiều tài liệu nghiên cứu. Tuy nhiên, để nói ngắn gọn về những điểm tương đồng mà Việt Nam có thể tham khảo thì các nước thường tập trung vào các nội dung chính như: thời hạn thử nghiệm là bao lâu, cơ quan nào có thẩm quyền phê duyệt, điều kiện để doanh nghiệp được tham gia vào cơ chế này là gì, quy trình, thủ tục phê duyệt tham gia cơ chế này, miễn giảm các nghĩa vụ pháp lý của doanh nghiệp được tham gia sandbox.

Lấy ví dụ về thời hạn, thông thường các nước chỉ cho phép thử nghiệm trong khoảng từ 6 tháng đến 2 năm, rất ít nước cho phép thử nghiệm kéo dài đến 3 năm. Bởi vì nếu cho phép thử nghiệm quá dài sẽ tạo ra sự bất cân xứng trong cạnh tranh.

Trong lĩnh vực công nghệ, đặc biệt là AI, tốc độ phát triển cực kỳ nhanh. Nếu một doanh nghiệp được bao bọc trong cơ chế thử nghiệm tới 3 năm, giả sử được gia hạn thêm 3 năm nữa, tổng cộng là 6 năm, thì lợi thế cạnh tranh của họ so với các doanh nghiệp bên ngoài là quá lớn. Vì vậy, để cân bằng giữa thúc đẩy phát triển và đảm bảo cạnh tranh công bằng, các nước thường chỉ cho phép thời hạn vừa phải như đã nêu trên và gia hạn thêm khoảng ngắn như vậy. Đây là một điểm chúng ta cần lưu ý để đảm bảo sự cân bằng.

Ngoài ra, có một nội dung trong Luật AI về sandbox rất đáng được ủng hộ, đó là quy định dành cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nếu các doanh nghiệp này đã được phê duyệt tham gia và hoàn thành quá trình trong sandbox, thì sau này họ sẽ được miễn hoặc giảm một số thủ tục pháp lý tiếp theo.

Đây chính là sự cân bằng giữa kiểm soát và thúc đẩy. Một mặt, Nhà nước vẫn kiểm soát rủi ro thông qua quá trình thử nghiệm trong sandbox; mặt khác, lại tạo động lực phát triển bằng cách giảm bớt gánh nặng thủ tục hành chính cho doanh nghiệp sau khi họ đã chứng minh được sự tuân thủ.

Luật AI đã được thông qua và sẽ có hiệu lực từ ngày 1/3/2026. Ông đánh giá thế nào về mức độ sẵn sàng của hệ sinh thái AI Việt Nam, bao gồm doanh nghiệp, nhà đầu tư và người dùng, trước những quy định pháp lý này?

Về mức độ sẵn sàng, bản thân tôi cũng nghe khá nhiều doanh nghiệp bày tỏ lo ngại về các quy định kiểm soát chặt chẽ. Tuy nhiên, chúng ta cần nhìn nhận vấn đề từ nhiều chiều.

Tôi từng trao đổi với một giáo sư luật người Úc, chuyên gia quản trị AI về vấn đề này. Tôi hỏi bà ấy rằng: Liệu việc quy định kiểm soát rủi ro và áp đặt nghĩa vụ pháp lý cho các hệ thống AI rủi ro cao có tạo ra gánh nặng chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp hay không? Bà ấy trả lời rất thẳng thắn: khi anh tham gia vào thị trường và tạo ra sản phẩm có khả năng gây rủi ro, thì anh buộc phải chịu sự kiểm soát. Chi phí tuân thủ là một phần tất yếu, vấn đề là mức chi phí đó phải hợp lý. Không thể vì muốn giảm chi phí mà đòi hỏi được nằm ngoài sự kiểm soát của pháp luật.

Tôi cũng muốn nói về sự cần thiết của Luật AI tại Việt Nam. Tại sao nhiều nước chưa vội ban hành luật riêng về AI? Vì họ nghĩ chưa cần thiết hoặc có thể dùng các luật hiện hành. ở Việt Nam, tư duy quản lý có chút khác biệt: phải có quy định thì mới dám làm, mới có cơ sở để hỗ trợ. Nếu không có luật, các cơ quan sẽ ngại đưa ra các biện pháp hỗ trợ vì lỡ sai, không có căn cứ pháp lý, có thể bị kỷ luật.

Vì vậy, trong bối cảnh Việt Nam, luật này cần thiết không chỉ để kiểm soát mà còn là cơ sở pháp lý quan trọng để thúc đẩy phát triển. Khi có luật, các cơ quan muốn hỗ trợ doanh nghiệp về vốn, về cơ chế sẽ có điểm tựa để thực hiện. Luật AI cũng có nhiều nội dung hướng tới mục tiêu này, đặc biệt là hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, như cơ chế miễn giảm thủ tục sau sandbox; hay quy định về Quỹ phát triển AI với một trong những mục tiêu là hỗ trợ các doanh nghiệp AI ra đời và lớn mạnh.

Trong các loại hỗ trợ doanh nghiệp, hỗ trợ, hướng dẫn kỹ thuật rất quan trọng, vì tính chất vừa mới mẻ, vừa phức tạp của công nghệ AI. Ví dụ ở Australia, doanh nghiệp có nghĩa vụ tự đánh giá rủi ro, nhưng Chính phủ không để họ "tự bơi". Chính phủ Australia thiết lập các trung tâm hỗ trợ nơi doanh nghiệp có thể tìm đến để được hướng dẫn chi tiết cách đánh giá rủi ro, cách tuân thủ quy định. Theo Luật AI của Việt Nam, Bộ Khoa học và Công nghệ có trách nhiệm hướng dẫn trong trường hợp nhà cung cấp chưa tự xác định được mức độ rủi ro của hệ thống trí tuệ nhân tạo. Sắp tới, cần quy định rõ hơn nội hàm trách nhiệm cụ thể, cách thức hướng dẫn doanh nghiệp làm việc đó như thế nào.

Theo ông, liệu một khung pháp lý về AI có giúp Việt Nam hấp dẫn hơn trong mắt các nhà đầu tư không?

Nếu luật đảm bảo được sự minh bạch thì chắc chắn sẽ tạo điều kiện tốt thu hút đầu tư nước ngoài, bởi vì một khung pháp lý đầy đủ sẽ giúp Việt Nam hấp dẫn hơn trong mắt các nhà đầu tư lĩnh vực AI. Các nhà đầu tư nước ngoài thường “soi” luật rất kỹ. Nếu họ biết rõ mình phải thực hiện nghĩa vụ gì, được hưởng quyền lợi gì, họ sẽ yên tâm bỏ vốn. Ngược lại, nếu họ thấy quy định mập mờ, rủi ro pháp lý cao, họ sẽ e ngại. Sự minh bạch chính là chìa khóa.

Gần đây tôi có làm việc với một giáo sư người Nhật, ông ấy vừa là giảng viên vừa là chủ một công ty tư vấn về AI. Ông ấy chia sẻ rất thú vị về Luật Thúc đẩy phát triển AI của Nhật Bản. Đúng như tên gọi, Luật AI của Nhật Bản là các quy định thúc đẩy, gần như không có nội dung về kiểm soát. Ông ấy cho biết Nhật Bản muốn trở thành đất nước thân thiện nhất với AI.

Khi hỏi có lo ngại về rủi ro không, ông ấy thừa nhận là có, nhưng cách tiếp cận của Nhật Bản là dựa vào các luật hiện hành để điều chỉnh. Ví dụ, vấn đề bản quyền liên quan đến AI sẽ được xử lý dựa trên Luật Bản quyền hiện có, kết hợp với các hướng dẫn của Chính phủ. Chính phủ Nhật Bản sẽ ban hành các hướng dẫn chi tiết, khuyến nghị doanh nghiệp để tránh vi phạm, chứ không ban hành các quy định khắt khe trong luật AI.

Cách tiếp cận này rất hay và cởi mở, nhưng cũng đặt ra một băn khoăn lớn về khả năng thực thi khi đưa vào thực tế, đặc biệt khi xảy ra tranh chấp tại tòa án. Nếu chỉ dựa vào hướng dẫn, nhiều tình huống pháp lý sẽ rơi vào vùng xám. Chẳng hạn, khi hai doanh nghiệp kiện nhau vì cáo buộc sản phẩm tạo ra bởi AI vi phạm bản quyền, một bên có thể lập luận rằng sản phẩm tuân thủ đúng “hướng dẫn của Chính phủ”, trong khi bên còn lại phản biện rằng các hướng dẫn đó không phải là văn bản luật. Khi đó, tòa án có thể sẽ gặp thách thức để đưa ra phán quyết vì thiếu căn cứ pháp lý mang tính ràng buộc.

Điều này cho thấy nếu phụ thuộc quá nhiều vào “soft law”, vốn mang tính khuyến nghị nhiều hơn là bắt buộc thì cũng có thể tạo khó khăn trong thực thi.

Tết đến, Xuân về, người Việt hay chúc nhau “An Khang, Thịnh Vượng”. Kiểm soát rủi ro từ AI chính là hướng tới một cuộc sống an vui, hạnh phúc cho mỗi người, mỗi nhà, toàn thể xã hội. Đồng thời, nhằm tăng năng suất lao động, cũng chính là đạt hai chữ “Thịnh Vượng”, cho mỗi người, mỗi nhà, toàn xã hội và cả quốc gia.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-

Categories: The Latest News

Khu công nghiệp bước vào kỷ nguyên mới

Wed, 02/18/2026 - 13:00
Để khu công nghiệp bước vào kỷ nguyên mới, Việt Nam cần một chiến lược nhất quán từ việc hoàn thiện hạ tầng số đến đồng bộ hóa hệ thống pháp luật, hướng tới mục tiêu đưa Việt Nam vào nhóm các nước công nghiệp tiên tiến tại châu Á...

Trong bối cảnh tư duy kế hoạch hóa vẫn chi phối mạnh mẽ hoạt động quản lý kinh tế thời kỳ đó, ngay cả kế hoạch 5 năm 1991–1995 cũng chỉ dám đặt mục tiêu thu hút FDI ở mức 2 tỷ USD cho cả giai đoạn. Nếu đem con số này so với quy mô vốn FDI đăng ký được cấp phép năm 2025, ước đạt gần 39 tỷ USD, trong đó riêng đầu tư vào các khu công nghiệp đã vượt trên 30 tỷ USD, có thể thấy sự phát triển của hệ thống khu công nghiệp Việt Nam đã ghi nhận một bước tiến dài và mang tính đột phá.

Tính đến hết tháng 9/2025, cả nước đã thành lập 478 khu công nghiệp, trong đó có 421 khu công nghiệp nằm ngoài các khu kinh tế, 49 khu công nghiệp thuộc các khu kinh tế ven biển và 8 khu công nghiệp trong các khu kinh tế cửa khẩu. Toàn bộ các khu công nghiệp này đều đã có quyết định thành lập, có chủ đầu tư xây dựng hạ tầng và đang thu hút các nhà đầu tư thứ cấp triển khai dự án sản xuất, kinh doanh.

Riêng 421 khu công nghiệp nằm ngoài các khu kinh tế có tổng diện tích đất tự nhiên khoảng 145,97 nghìn ha, hình thành quỹ đất công nghiệp khoảng 101,6 nghìn ha. Trong tổng số các khu công nghiệp đã được thành lập, hiện có 324 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động với tổng diện tích đất tự nhiên khoảng 95,7 nghìn ha và diện tích đất công nghiệp khoảng 68 nghìn ha.

Bên cạnh đó, 153 khu công nghiệp đang trong giai đoạn xây dựng, với tổng diện tích đất tự nhiên khoảng 50,46 nghìn ha, dự kiến bổ sung thêm khoảng 32,6 nghìn ha đất công nghiệp cho nền kinh tế. Hệ thống khu công nghiệp Việt Nam hiện tập trung chủ yếu tại hai trung tâm công nghiệp lớn là vùng Đông Nam Bộ và vùng Đồng bằng sông Hồng.

Theo tổng kết của Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Tài chính, trong giai đoạn 30 năm hình thành và phát triển khu công nghiệp từ năm 1991 đến 2020, giai đoạn 2001-2010 là thời kỳ phát triển mạnh mẽ nhất, với 195 khu công nghiệp được thành lập, tổng diện tích đạt 59.470 ha, chiếm 52,8% về số lượng và 52,1% về diện tích khu công nghiệp của toàn bộ giai đoạn 1991-2020.

Trong giai đoạn 5 năm 2021-2025, đặc biệt là giai đoạn 2021-2024, vốn đầu tư xây dựng hạ tầng khu công nghiệp và vốn đầu tư của các dự án sản xuất trong khu công nghiệp chiếm khoảng 27,7% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Hoạt động của các khu công nghiệp tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong gia tăng kim ngạch xuất khẩu, mở rộng thị trường và chuyển dịch cơ cấu ngành hàng xuất khẩu, với giá trị xuất khẩu bình quân hằng năm chiếm khoảng 55% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Đồng thời, các khu công nghiệp đã thu hút và tạo việc làm trực tiếp cho khoảng 3,83 triệu lao động, tương đương khoảng 7% lực lượng lao động toàn quốc. Riêng trong năm 2025, theo dự báo, khoảng 30 tỷ USD vốn FDI đã được đầu tư vào các khu công nghiệp Việt Nam.

Trước yêu cầu chung của phát triển kinh tế - xã hội theo hướng xanh và bền vững, công tác bảo vệ môi trường tại các khu công nghiệp cũng được chú trọng đẩy mạnh. Đến nay, khoảng 92% khu công nghiệp đang hoạt động đã có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường, với tổng công suất tối đa trên 1,3 triệu m3 nước thải mỗi ngày đêm. Cùng với đó, một xu hướng đáng chú ý trong quá trình hình thành các khu công nghiệp mới là phát triển mô hình khu công nghiệp sinh thái, nhằm giảm thiểu tác động đến môi trường, nâng cao chất lượng sống cho người lao động và thúc đẩy phát triển xanh, bền vững.

Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng của nền kinh tế Việt Nam, mô hình khu công nghiệp cũng đang từng bước chuyển đổi, từ chỗ chủ yếu cung cấp hạ tầng sang trở thành trung tâm kết nối chuỗi giá trị, nơi hội tụ dòng vốn FDI, công nghệ và sự chia sẻ thị trường giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Đây được xem là hướng phát triển mới, phù hợp với yêu cầu nâng cao giá trị gia tăng, mở rộng thị trường và gia tăng năng lực cạnh tranh của hệ thống khu công nghiệp Việt Nam trong giai đoạn tới.

Trong quá trình phát triển vừa qua, hệ thống các khu công nghiệp Việt Nam đã từng bước vượt qua nhiều khó khăn, trở ngại và đạt được những kết quả quan trọng. Tuy nhiên, trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội của đất nước giai đoạn tới, hệ thống khu công nghiệp vẫn phải đối mặt với không ít thách thức.

Trước hết là sự mất cân đối giữa cung và cầu đất công nghiệp giữa các vùng, khi một số khu vực có nhu cầu rất cao nhưng khả năng mở rộng hạ tầng còn hạn chế, khiến hệ thống khu công nghiệp chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển.

Bên cạnh đó, tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao và lao động kỹ thuật, đặc biệt trong các ngành công nghệ cao, tiếp tục là điểm nghẽn lớn.

Cùng với đó, cạnh tranh khu vực trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ngày càng gay gắt, đòi hỏi môi trường đầu tư của Việt Nam phải có tính cạnh tranh cao hơn.

Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về sự đồng bộ của hệ thống pháp luật, chính sách liên quan đến doanh nghiệp và hoạt động đầu tư, kinh doanh; thủ tục hành chính cần rõ ràng, minh bạch hơn; thời gian xử lý các vướng mắc cho doanh nghiệp phải được rút ngắn; tinh thần phục vụ doanh nghiệp và nhà đầu tư của đội ngũ cán bộ, công chức thực thi công vụ cần tiếp tục được nâng cao và được giám sát chặt chẽ về thời gian cũng như chất lượng xử lý công việc theo đúng các quy định đã đặt ra của các bộ, ngành và địa phương.

Nếu những tồn tại này được khắc phục kịp thời và hiệu quả, năng lực cạnh tranh của môi trường đầu tư Việt Nam sẽ được nâng cao rõ rệt, qua đó củng cố vị thế của Việt Nam như một điểm đến đầu tư hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Khi thu hút được dòng vốn đầu tư chất lượng cao, các mục tiêu phát triển hệ thống khu công nghiệp Việt Nam trong giai đoạn tới sẽ có cơ sở vững chắc để hiện thực hóa.

Theo đó, hệ thống khu công nghiệp sẽ tiếp tục được mở rộng theo đúng quy hoạch phát triển chung trên phạm vi cả nước, với định hướng đến năm 2030 quy hoạch phát triển mới 221 khu công nghiệp, mở rộng 76 khu công nghiệp và điều chỉnh quy hoạch 22 khu công nghiệp.

Song song với mở rộng quy mô, các khu công nghiệp cần được định hướng tăng trưởng theo chuỗi giá trị, không chỉ là không gian sản xuất đơn thuần mà từng bước trở thành cầu nối về công nghệ, thị trường và tổ chức liên kết giữa khu vực đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp trong nước, bao gồm cả các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, qua đó giúp doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Cùng với đó là yêu cầu phát triển hạ tầng kỹ thuật hiện đại gắn với số hóa, logistics thông minh, tích hợp năng lượng tái tạo và thúc đẩy chuyển đổi số nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho cả khu công nghiệp và doanh nghiệp hoạt động trong khu công nghiệp.

Phát triển bền vững tiếp tục là định hướng xuyên suốt, theo đó, hệ thống khu công nghiệp Việt Nam cần chuyển đổi nhanh nhưng có lộ trình phù hợp, từng bước nâng cấp các khu công nghiệp phổ thông được xây dựng trong các thập kỷ trước sang các mô hình khu công nghiệp sinh thái, giảm thiểu ô nhiễm môi trường và đáp ứng các tiêu chuẩn ESG (môi trường, xã hội và quản trị), phù hợp với định hướng phát triển của quốc gia và xu thế chung của thế giới.

Về tầm nhìn dài hạn đến năm 2045, việc điều chỉnh và phát triển mới hệ thống khu công nghiệp Việt Nam cần gắn với mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 17/11/2022, hướng tới mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia công nghiệp phát triển, có thu nhập cao và thuộc nhóm các nước công nghiệp tiên tiến ở châu Á.

Trong đó, hệ thống khu công nghiệp được xác định là một trụ cột quan trọng của phát triển kinh tế, là địa bàn thu hút đầu tư, gia tăng giá trị xuất khẩu và cải thiện năng lực nội địa, đồng thời là nền tảng cho quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp theo hướng ưu tiên các ngành công nghệ cao, sản xuất sạch, tích hợp phát triển công nghiệp hỗ trợ và logistics hiện đại.

Trên cơ sở đó, hệ thống khu công nghiệp Việt Nam cần tiếp tục được đầu tư và hoàn thiện toàn diện để nâng tầm cạnh tranh quốc tế, trở thành điểm đến hấp dẫn của dòng vốn FDI chất lượng cao và có khả năng tham gia sâu vào chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu.

Để hiện thực hóa các mục tiêu phát triển đối với hệ thống khu công nghiệp Việt Nam trong giai đoạn đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045, các giải pháp mang tính chiến lược cần được tập trung triển khai quyết liệt ngay trong 1- 2 năm tới.

Trước hết, việc hoàn thiện chính sách và thể chế cần được đặt lên hàng đầu thông qua rà soát, sửa đổi các cơ chế thu hút đầu tư, chính sách ưu đãi về thuế và đất đai theo hướng minh bạch, ổn định và có sức cạnh tranh cao hơn so với các quốc gia trong khu vực.

Song song với đó là yêu cầu phát triển hạ tầng khu công nghiệp theo hướng thông minh và bền vững, trong đó chú trọng đầu tư hạ tầng số hóa như Internet vạn vật, tự động hóa, logistics thông minh, đồng thời đẩy mạnh phát triển các mô hình khu công nghiệp sinh thái nhằm tối ưu hóa sử dụng tài nguyên và giảm thiểu tác động đến môi trường.

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cũng là một giải pháp then chốt, đòi hỏi phải triển khai hiệu quả các chính sách đào tạo, tăng cường liên kết giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp với doanh nghiệp trong khu công nghiệp, đồng thời thu hút lao động chất lượng cao thông qua việc cải thiện điều kiện sống và làm việc cho người lao động.

Bên cạnh đó, thúc đẩy liên kết chuỗi cung ứng cần được xem là trọng tâm nhằm nâng cao giá trị gia tăng nội địa, thông qua phát triển mạnh công nghiệp hỗ trợ, gia tăng tỷ lệ nội địa hóa linh kiện, phụ tùng và xây dựng mạng lưới liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp trong nước.

Cùng với các giải pháp trên, việc thu hút đầu tư chiến lược cần được đẩy mạnh thông qua tăng cường ngoại giao kinh tế, quảng bá hình ảnh khu công nghiệp Việt Nam như một điểm đến đầu tư hấp dẫn, đồng thời ưu tiên thu hút các dự án công nghệ mũi nhọn, thân thiện với môi trường và có đóng góp lớn cho kim ngạch xuất khẩu.

Có thể khẳng định, hệ thống khu công nghiệp Việt Nam giữ vai trò nền tảng trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Kỳ vọng trong giai đoạn đến năm 2030, hệ thống khu công nghiệp sẽ tiếp tục được mở rộng về quy mô, đồng thời nâng cao chất lượng phát triển, gắn kết sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Với tầm nhìn đến năm 2045, mục tiêu đặt ra là đưa Việt Nam trở thành quốc gia công nghiệp phát triển, có nền kinh tế bền vững, năng động và năng lực cạnh tranh cao trong khu vực châu Á. Để đạt được mục tiêu đó, chính sách nhất quán, hạ tầng hiện đại và môi trường đầu tư hấp dẫn sẽ là những yếu tố then chốt quyết định sự thành công của chiến lược phát triển hệ thống khu công nghiệp Việt Nam trong giai đoạn mới.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8/2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-

Categories: The Latest News

Chủ tịch UBND Hà Nội: Đột phá thể chế, tái cấu trúc không gian, tạo nền cho tăng trưởng hai con số.

Wed, 02/18/2026 - 11:17
Trao đổi với báo chí dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, ông Vũ Đại Thắng, Chủ tịch UBND Hà Nội nhấn mạnh quyết tâm đột phá thể chế, tái cấu trúc không gian phát triển, tháo gỡ các điểm nghẽn lớn, tạo nền tảng để Thủ đô bước vào giai đoạn tăng trưởng hai con số theo định hướng nhanh và bền vững.

Theo Chủ tịch UBND thành phố, năm 2025 mang ý nghĩa đặc biệt khi vừa là năm về đích của nhiệm kỳ 2021-2025, vừa là năm tổ chức Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ XVIII, mở ra chặng phát triển 2026-2030.

Ngay sau Đại hội, Hà Nội đã triển khai Nghị quyết với tinh thần “đã nói là làm, làm ngay, làm đúng, làm đến cùng”, nhanh chóng cụ thể hóa nhiều nội dung và đưa vào cuộc sống chỉ trong ba tháng cuối năm.

TỪ “TẠO ĐÀ, TẠO THẾ” ĐẾN NỀN TẢNG VỮNG VÀNG CHO NHIỆM KỲ MỚI

Những kết quả nổi bật thể hiện rõ sự chuyển biến về tư duy lãnh đạo và năng lực hành động của chính quyền thành phố. Nhiều tồn đọng kéo dài được tháo gỡ, đặc biệt trong giải phóng mặt bằng và triển khai các dự án hạ tầng quy mô lớn như: Vành đai 1, Vành đai 2,5.

Kết quả này đến từ việc điều chỉnh kịp thời phương thức lãnh đạo, quán triệt nguyên tắc tập trung dân chủ; phân định rõ vai trò Đảng lãnh đạo, HĐND quyết nghị, UBND tổ chức thực hiện, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội tham gia giám sát, vận động.

Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Vũ Đại Thắng. Ảnh: hanoimoi.vn

Bốn trục công tác được điều phối nhịp nhàng, phân công rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm và rõ mục tiêu. Tinh thần chủ động của các cấp, ngành, địa phương, đặc biệt là 126 xã, phường theo mô hình chính quyền hai cấp, được phát huy mạnh mẽ. Cùng với đó, Ban Chấp hành Đảng bộ, Ban Thường vụ và Thường trực Thành ủy đã tạo luồng sinh khí mới, lan tỏa tinh thần đổi mới, quyết liệt trong toàn hệ thống.

Quan trọng hơn cả là niềm tin của nhân dân Thủ đô đối với các quyết sách và sự điều hành của thành phố tiếp tục được củng cố. Đây được xem là nền tảng để Hà Nội bước vào năm 2026 và nhiệm kỳ mới với tâm thế vững vàng, cùng cả nước thực hiện các mục tiêu của giai đoạn phát triển tiếp theo.

Bước sang năm 2026 – năm đầu triển khai Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ XVIII và Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV – Hà Nội đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP từ 11% trở lên. Theo Chủ tịch UBND thành phố, đây không chỉ là yêu cầu tăng tốc mà còn là bước xác lập mô hình tăng trưởng mới, chuyển mạnh từ dựa vào vốn, lao động và đất đai sang dựa trên năng suất, sáng tạo và phát triển bền vững.

ĐỘT PHÁ THỂ CHẾ, MỞ ĐƯỜNG CHO TĂNG TRƯỞNG HAI CON SỐ

Động lực tăng trưởng mới của Thủ đô được xây dựng trên sáu trụ cột chiến lược. Trong đó, khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là khâu đột phá then chốt, hướng tới tỷ lệ đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) đạt 57-60% và kinh tế số chiếm khoảng 50% GRDP vào năm 2030.

Cùng với đó là phát huy giá trị văn hóa – di sản, kinh tế ven sông và phát triển công nghiệp văn hóa; tổ chức không gian đô thị đa cực theo mô hình TOD để giải quyết các điểm nghẽn về giao thông, ngập úng và ô nhiễm.

Khu vực phố Đinh Tiên Hoàng trong không gian hồ Hoàn Kiếm. Ảnh: TTXVN

Thành phố cũng tập trung cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, với định hướng thành lập khu thương mại tự do, trung tâm tài chính có cơ chế ưu đãi vượt trội; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, lấy Khu công nghệ cao Hòa Lạc làm trung tâm đào tạo và nghiên cứu AI, bán dẫn theo chuẩn quốc tế; đồng thời nâng cao năng lực quản trị và thực thi với nguyên tắc rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm và rõ sản phẩm.

Để bảo đảm tăng trưởng nhanh nhưng vẫn giữ vững ổn định và chất lượng, Hà Nội xác định ba nhóm giải pháp cốt lõi. Đó là:

Thứ nhất là đột phá thể chế, khai thác tối đa các cơ chế đặc thù, phát hành trái phiếu Thủ đô và hình thành quỹ đầu tư hạ tầng.

Thứ hai là huy động mạnh mẽ nguồn lực xã hội, với tổng nhu cầu vốn giai đoạn 2026-2030 khoảng 248 tỷ USD, chủ yếu từ khu vực ngoài ngân sách và các dự án hạ tầng lớn có hệ số lan tỏa cao.

Thứ ba là tăng cường kỷ luật, kỷ cương thực thi thông qua xây dựng kịch bản tăng trưởng chi tiết theo quý, ngành và địa bàn; đánh giá kết quả bằng sản phẩm cụ thể gắn với trách nhiệm cá nhân.

Song song với mục tiêu tăng trưởng, thành phố nhấn mạnh yêu cầu kiểm soát lạm phát, bảo đảm cân đối ngân sách, bảo vệ môi trường và an sinh xã hội. Theo Chủ tịch UBND thành phố, đây là những điều kiện tiên quyết để Hà Nội hiện thực hóa khát vọng tăng trưởng hai con số một cách bền vững.

Cùng với tăng trưởng kinh tế, Hà Nội thẳng thắn nhìn nhận ô nhiễm môi trường là một trong những điểm nghẽn lớn. Áp lực phát thải gia tăng trong quá trình đô thị hóa nhanh, quy mô dân số lớn và cường độ hoạt động kinh tế cao đã đặt ra yêu cầu phải có cách tiếp cận căn cơ, đồng bộ và dài hạn.

Theo đó, thành phố không chỉ tập trung xử lý các vấn đề trước mắt mà hướng tới xây dựng mô hình phát triển đô thị bền vững, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường.

Hà Nội đang hoàn thiện Quy hoạch Thủ đô với tầm nhìn 100 năm và đề xuất sửa đổi Luật Thủ đô nhằm tạo lập đầy đủ cơ chế, công cụ đặc thù cho quản lý phát triển theo hướng xanh, tuần hoàn và phát thải thấp.

TÁI CẤU TRÚC KHÔNG GIAN, BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SỐNG

Trong năm 2026, nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu là kiểm soát chặt chẽ các nguồn phát thải, đặc biệt là ô nhiễm không khí – vấn đề tác động trực tiếp đến sức khỏe và đời sống người dân.

Thành phố sẽ đẩy nhanh tiến độ làm sạch các dòng sông, hồ nội đô; đầu tư và nâng cao hiệu quả vận hành các nhà máy xử lý nước thải, nhà máy đốt rác phát điện; đồng thời ứng dụng khoa học – công nghệ, chuyển đổi số và hệ thống quan trắc thông minh để nâng cao năng lực quản trị môi trường theo thời gian thực.

Cùng với giải pháp kỹ thuật, Hà Nội chú trọng công tác tuyên truyền, vận động để người dân và doanh nghiệp cùng tham gia bảo vệ môi trường; tăng cường kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm các vi phạm.

Thành phố cũng đẩy mạnh phối hợp với các địa phương trong Vùng Thủ đô để giải quyết các vấn đề môi trường mang tính liên vùng, hướng tới hình thành khu vực phát thải thấp, phát triển hài hòa giữa đô thị và nông thôn.

Trong tái cấu trúc không gian đô thị, Hà Nội triển khai mô hình đa cực, đa trung tâm với chín cực phát triển, chín trung tâm lớn và chín trục động lực. Hạ tầng giao thông, đặc biệt là hệ thống đường sắt đô thị, được xác định là xương sống kết nối các cực tăng trưởng.

Theo quy hoạch, thành phố sẽ đầu tư 15 tuyến metro với tổng chiều dài khoảng 616,9km; giai đoạn đến năm 2035 phấn đấu hoàn thành hơn 410km, kết nối lõi nội đô với các khu vực phía Bắc, phía Tây và phía Nam.

Đi liền với đó là mô hình phát triển đô thị định hướng giao thông công cộng (TOD), cho phép hình thành các đô thị nén, hiện đại xung quanh nhà ga, tối ưu hóa giá trị đất đai để tái đầu tư hạ tầng.

Thành phố cũng thúc đẩy quản trị thông minh thông qua Trung tâm Điều hành đô thị thông minh (IOC), đồng thời triển khai lộ trình di dời trụ sở bộ ngành, đại học, bệnh viện ra khỏi nội đô lịch sử để dành quỹ đất cho không gian xanh và hạ tầng xã hội.

Một đột phá chiến lược khác là quy hoạch trục cảnh quan sông Hồng. Thành phố chuyển từ tư duy “đô thị quay lưng vào sông” sang “đô thị hướng sông”, coi sông Hồng là trục cảnh quan trung tâm và cực phát triển mới.

Quy hoạch được triển khai trên nguyên tắc bảo đảm an toàn thoát lũ, bảo tồn giá trị văn hóa – lịch sử, khai thác hiệu quả quỹ đất và phát triển hạ tầng kết nối đa phương thức. Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng cùng hệ thống cầu và tuyến đường sắt đô thị dọc hai bờ được kỳ vọng sẽ tạo động lực tăng trưởng mới, đồng thời nâng cao chất lượng không gian sống của người dân.

Xuyên suốt các định hướng phát triển, Chủ tịch UBND thành phố nhấn mạnh quan điểm phát triển nhanh nhưng không đánh đổi môi trường; coi chất lượng môi trường sống, sức khỏe và sự hài lòng của người dân là thước đo trung tâm trong điều hành.

Với quyết tâm chính trị cao và tinh thần hành động quyết liệt, Hà Nội đặt mục tiêu biến các quy hoạch và chiến lược dài hạn thành những chuyển biến cụ thể, hiện hữu trên từng công trình, từng tuyến phố, hướng tới một Thủ đô văn hiến, văn minh, hiện đại và hạnh phúc trong kỷ nguyên mới.

-Lý Hà

Categories: The Latest News

Pages