Thời Báo Kinh Tế

Subscribe to Thời Báo Kinh Tế feed Thời Báo Kinh Tế
VnEconomy - Góc nhìn toàn cảnh về nền kinh tế Việt Nam
Updated: 51 sec ago

Đẩy mạnh đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới

Wed, 02/18/2026 - 11:01
VnEconomy trân trọng giới thiệu bài viết của đồng chí Tô Lâm, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, với tiêu đề: "Đẩy mạnh đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới".

Nhìn lại lịch sử cách mạng Việt Nam, vận hội của đất nước luôn gắn liền với những biến chuyển của thời đại. Ngay sau khi giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói “sau vấn đề phòng thủ, ngoại giao là một vấn đề cần yếu cho một nước độc lập”, khẳng định mạnh mẽ vai trò và trách nhiệm của đối ngoại đối với quốc gia, dân tộc.

Đại hội XIV của Đảng là mốc son lịch sử, mở ra cánh cửa bước vào kỷ nguyên mới của dân tộc. Dưới ánh sáng của Đại hội XIV, đối ngoại- một nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên- sẽ được triển khai toàn diện ở tầm cao mới, nhịp đập của Việt Nam hòa cùng nhịp đập của thế giới, thở cùng hơi thở của thời đại, kiến tạo hòa bình, bồi đắp thịnh vượng và xây dựng vị thế cao hơn, vững chắc hơn cho đất nước, cho dân tộc.

VIỆT NAM TRƯỚC NGƯỠNG CỬA CỦA THỜI ĐẠI

Thế giới đang đang chứng kiến những chuyển dịch nhanh, cường độ mạnh, tác động sâu rộng, mang tính thời đại. Các xu hướng vận động đan xen, trái chiều nhau, vừa gắn kết, phụ thuộc lẫn nhau sâu hơn nhưng cũng vừa chia rẽ, cạnh tranh mạnh hơn. Nhân loại bước vào một giai đoạn tiềm ẩn những rủi ro nhưng cũng mở ra nhiều cơ hội phát triển mới. Không một quốc gia nào, dù lớn hay nhỏ, dù phát triển hay đang phát triển, có thể đứng ngoài sự vận động của thời cuộc.

Một mặt, hệ thống quan hệ quốc tế đa phương và luật pháp quốc tế bị xói mòn, tranh chấp chủ quyền, xung đột lãnh thổ gia tăng. Cạnh tranh chính trị, kinh tế đi đôi với giành quyền kiểm soát công nghệ, năng lượng và hạ tầng chiến lược. Các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống ngày càng gay gắt cả về quy mô lẫn tính chất. Mặt khác, những xu thế, trào lưu đương đại về hòa bình, hợp tác và phát triển, tăng trưởng bền vững, bao trùm và toàn cầu hóa vẫn tiếp diễn. Cộng đồng quốc tế đa số đều mong muốn kiến tạo một trật tự thế giới dân chủ, công bằng, bình đẳng, dựa trên luật pháp quốc tế. Cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang mở ra không gian phát triển vô tận dựa trên tri thức và tiềm năng con người.

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đánh dấu kỷ nguyên mới của Dân tộc Việt Nam sau 96 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, 80 năm giành được độc lập và 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới. Tiếp sau kỷ nguyên độc lập, tự do, xây dựng chủ nghĩa xã hội và kỷ nguyên đổi mới, đất nước bắt đầu bước vào kỷ nguyên phát triển phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, sánh vai với các cường quốc năm châu.

Giai đoạn thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng (2026-2031) là giai đoạn bản lề, có tính quyết định việc bứt phá trở thành nước phát triển, thu nhập cao, trình độ tiên tiến. Hoặc sẽ lặp lại bài học mắc kẹt trong bẫy thu nhập trung bình khi nhiều điểm nghẽn có tính cấu trúc trong mô hình phát triển và quản trị quốc gia dần bộc lộ. Lịch sử cho thấy trong thời kỳ quá độ giữa cái cũ và cái mới, nếu không kịp thời bắt nhịp với thế giới và xu thế của thời đại, nguy cơ tụt hậu sẽ hiện hữu hơn bao giờ hết.

ĐẨY MẠNH ĐỐI NGOẠI TOÀN DIỆN Ở TẦM CAO MỚI

“Hội tụ” yêu cầu của thời đại và đòi hỏi của đất nước, việc hiện thực hóa hai mục tiêu chiến lược 100 năm là cam kết chính trị - lịch sử của Đảng trước nhân dân và cộng đồng quốc tế. Lịch sử nhân loại đã chứng minh: quốc gia nào có sự chủ động chiến lược, nắm bắt sức mạnh thời đại để gia tăng nội lực thì sẽ thành công. Trong chiều dài của lịch sử nhân loại, thực tiễn thế giới cho thấy quy luật nhất quán: không một quốc gia phát triển hùng mạnh nào mà không xây dựng một nền đối ngoại mạnh. Trong thế giới ngày nay, an ninh và phát triển của mỗi quốc gia không thể biệt lập, đứng bên ngoài những tác động của thế giới và thời đại, của thời cuộc và cục diện.

Đứng trước những thời khắc lịch sử, đất nước cần có những quyết sách lịch sử. Kỷ nguyên mới đòi hỏi phải triển khai “đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới”: Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia dân tộc; lấy hòa bình, độc lập, tự chủ, tự cường là nền tảng; đặt người dân là trung tâm của mọi chính sách; coi đóng góp cho cộng đồng quốc tế là trách nhiệm. Ở tầm cao mới, đối ngoại sẽ được triển khai một cách tự tin, tự chủ, tự lực, tự cường hơn; đóng góp hiệu quả hơn vào những mục tiêu chiến lược của đất nước; thể hiện trách nhiệm lớn hơn đối với hòa bình và phát triển của thế giới.

Đó là nền đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới về mục tiêu. Mọi hoạt động đối ngoại đều hướng đến mục tiêu bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc, vì Đảng vững mạnh, vì nước Việt Nam giàu mạnh, vì ấm no, hạnh phúc của nhân dân; hội nhập sâu rộng và có vị trí, vai trò quan trọng trong nền chính trị thế giới, nền kinh tế toàn cầu và nền văn minh nhân loại, đóng góp vào hòa bình, ổn định, công bằng, tiến bộ xã hội và sự phát triển phồn vinh của các dân tộc trong khu vực và trên thế giới.

Đó là nền đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới về lĩnh vực. Đối ngoại không phải là lĩnh vực riêng rẽ mà gắn kết chặt chẽ giữa đối ngoại với quốc phòng, an ninh, kinh tế, khoa học, công nghệ và văn hóa, xã hội, tạo sức mạnh tổng hợp phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đường lối đối ngoại toàn diện đặt phát triển kinh tế – xã hội làm trọng tâm, coi ngoại giao phục vụ phát triển và hội nhập quốc tế là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên.

Đó là nền đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới về chủ thể. Đối ngoại toàn diện là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, phát huy vai trò của cả ba kênh đối ngoại: đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại Nhân dân, đồng thời huy động sự tham gia của đối ngoại Quốc hội, các bộ, ban, ngành và địa phương; giữa đối ngoại với quốc phòng, an ninh và giữa ngoại giao chính trị với ngoại giao kinh tế, văn hóa, khoa học, công nghệ….

TRIỂN KHAI NHIỆM VỤ "TRỌNG YẾU, THƯỜNG XUYÊN" CỦA ĐỐI NGOẠI

Đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới là sự kết hợp giữa kế thừa và phát triển. Đối ngoại tiếp tục kiên định: đường lối độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Đồng thời nền đối ngoại Việt Nam tiếp tục phát triển, tiếp thu những tinh hoa, tri thức và phương pháp của ngoại giao hiện đại, thấm nhuần tinh thần “dĩ bất biến ứng vạn biến”. Con đường hòa bình, độc lập, tự chủ, tự cường không chỉ để xây dựng một đất nước giàu mạnh cho nhân dân mình mà còn để đóng góp có trách nhiệm cho hòa bình, ổn định của khu vực và trật tự thế giới dựa trên luật pháp. Đó là kim chỉ nam, là nền tảng đạo lý và là nguyên tắc cơ bản để chúng ta xây dựng các mối quan hệ đối ngoại bền vững.

Đồng thời đối ngoại toàn diện phát triển lên một tầm cao mới, trong đó đối ngoại và hội nhập quốc tế phải là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên”. Đây là bước phát triển quan trọng về tư duy, theo đó đối ngoại, hội nhập quốc tế là một trong những nhiệm vụ chủ yếu, có tầm quan trọng hàng đầu; đồng thời phải được tiến hành thường xuyên, yêu cầu tính chủ động, nhạy bén, kịp thời và hiệu quả cao. Tư tưởng đó đặt đối ngoại ở một vị trí trung tâm, với trách nhiệm và vai trò cao hơn đối với an ninh và phát triển của đất nước: Giữ vững hòa bình để ổn định, ổn định để phát triển, phát triển để nâng cao sức mạnh tổng thể của đất nước. Theo đó đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới sẽ triển khai những nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên theo các hướng sau:

Thứ nhất, đối ngoại phát huy vai trò tiên phong, thực hiện nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên trong việc tạo lập cục diện quốc tế thuận lợi cho đất nước. Thế giới càng biến động, việc củng cố hòa bình, ổn định cho đất nước càng có vai trò trọng yếu, then chốt. Đối ngoại phải có sự “chủ động chiến lược” trong mọi tình huống, giữ cho “trong ấm, ngoài êm”: giữ ổn định, phát triển ở bên trong, giữ hòa bình, hợp tác với bên ngoài. Cùng với quốc phòng, an ninh, đối ngoại kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và nền văn hóa; giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình để xây dựng, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đồng thời thúc đẩy giải quyết các khác biệt bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc.

Thứ hai, đối ngoại là động lực tạo dựng các điều kiện thuận lợi, tranh thủ nguồn lực bên ngoài và mở ra không gian phát triển mới cho đất nước. Thế giới được định hình bởi các xu hướng mới, những quốc gia thành công là những nước chủ động nắm bắt, đi trước, đặt mình vào dòng chảy thời đại. Nhiệm vụ của đối ngoại là nhận diện, tranh thủ cơ hội từ những xu hướng đang định hình kinh tế thế giới hiện nay như đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, lượng tử, tự động hóa...; chuyển hóa được quan hệ tốt đẹp về chính trị thành những kết quả cụ thể về kinh tế, có thể đo đếm và lan tỏa trực tiếp đến người dân thông qua các thỏa thuận kinh tế, hiệp định thương mại và đầu tư, hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam vươn ra thế giới, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng khu vực, toàn cầu.

Thứ ba, đối ngoại thể hiện tinh thần trách nhiệm cao đối với cộng đồng quốc tế, đóng góp vào xây dựng và bảo vệ trật tự quốc tế công bằng, bình đẳng dựa trên luật pháp quốc tế. Trong một thế giới toàn cầu hóa, lợi ích của quốc gia – dân tộc, của công dân, doanh nghiệp Việt Nam không chỉ nằm trong đường biên giới lãnh thổ. Bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc Việt Nam gắn liền với việc bảo vệ trật tự thế giới công bằng, bình đẳng, dựa trên luật pháp quốc tế. Thế và lực mới cho phép chúng ta đóng góp tích cực, trách nhiệm đối với các vấn đề chung của thế giới. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói “Mình đã hưởng cái hay của người thì phải có cái hay cho người ta hưởng”, Việt Nam sẽ tiếp tục các cam kết của mình về phát triển bền vững, an ninh lương thực, biến đổi khí hậu, giảm phát thải ròng; đồng thời tham gia sâu hơn vào các hoạt động gìn giữ hòa bình, cứu hộ cứu nạn, viện trợ nhân đạo, trung gian, hòa giải và phát huy vai trò nòng cốt, dẫn dắt trong những vấn đề và cơ chế quan trọng, phù hợp.

Thứ tư, phát huy “sức mạnh mềm” của dân tộc tương xứng với tầm vóc lịch sử và văn hóa, vị thế chính trị và kinh tế của đất nước. Vị thế, uy tín đất nước không chỉ nằm ở sức mạnh vật chất mà còn là “sức mạnh mềm”. Đó là lịch sử hào hùng, nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới, là đường lối đối ngoại hòa bình, hòa hiếu, xử lý các vấn đề quốc tế hài hòa, có lý, có tình, tôn trọng luật pháp quốc tế, là sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân thế giới. Ở tầm cao mới, đối ngoại đối ngoại phải góp phần gia tăng vị thế, ảnh hưởng của đất nước trong nền chính trị thế giới, kinh tế toàn cầu và văn minh nhân loại.

Thứ năm, xây dựng nền đối ngoại và ngoại giao toàn diện, hiện đại, chuyên nghiệp. Kỷ nguyên mới đòi hỏi xây dựng nền đối ngoại ngang tầm khu vực và vươn tầm quốc tế. Các cán bộ đối ngoại, ngoại giao phải dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới sáng tạo, dám tiên phong, đột phá vì lợi ích quốc gia – dân tộc; nhạy bén về thời thế, sâu sắc về chiến lược, có kỷ luật, kỷ cương và có kỹ năng, trình độ ngang tầm quốc tế. Đối ngoại toàn diện không chỉ là nhiệm vụ của một bộ, một ngành mà là sự nghiệp của toàn dân, của cả hệ thống chính trị để tạo sức mạnh tổng hợp.

Trước những biến động của thời cuộc, đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới phải lấy bản lĩnh, trí tuệ là la bàn định hướng; tin cậy, trách nhiệm là cầu nối hợp tác; hòa hiếu, luật pháp là nơi neo đậu giá trị. Chúng ta tin tưởng rằng đối ngoại Việt Nam sẽ tiếp tục tạo lập và gìn giữ hòa bình, ổn định, mở rộng không gian phát triển và nâng tầm vị thế đất nước, góp phần hoàn thành di nguyện thiêng liêng của Bác Hồ: "Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới".

-

Categories: The Latest News

Tổng Bí thư Tô Lâm lên đường tham dự cuộc họp khai mạc Hội đồng Hòa bình về Gaza tại Hoa Kỳ

Wed, 02/18/2026 - 09:46
Ngày 18/2/2026, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Tô Lâm đã rời Thủ đô Hà Nội lên đường tham dự cuộc họp khai mạc Hội đồng Hòa bình về Gaza tại Washington D.C., Hoa Kỳ từ ngày 18 đến ngày 20/2/2026, theo lời mời của Tổng thống Hợp chúng quốc Hoa Kỳ Donald Trump, Chủ tịch Sáng lập Hội đồng Hòa bình về Gaza.

Tham gia chuyến công tác cùng Tổng Bí thư Tô Lâm có các đồng chí: Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Đại tướng Lương Tam Quang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an; Nguyễn Duy Ngọc, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội; Lê Hoài Trung, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao; Phạm Gia Túc, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng; Nguyễn Văn Thắng, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Tài chính; Nguyễn Thị Hồng, Ủy viên Trung ương Đảng, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước; Lê Mạnh Hùng, Ủy viên Trung ương Đảng, Quyền Bộ trưởng Bộ Công Thương; Tô Ân Xô, Trợ lý Tổng Bí thư, phụ trách Văn phòng Tổng Bí thư; Nguyễn Quốc Dũng, Đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ.

Sự tham dự của Lãnh đạo cao nhất của Việt Nam cho thấy sự ủng hộ và sẵn sàng tham gia của Việt Nam vào các nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế vì hòa bình và phát triển. Đây cũng là việc cụ thể hóa thỏa thuận hợp tác trên các vấn đề quốc tế trong nội hàm Đối tác chiến lược toàn diện giữa Việt Nam và Hoa Kỳ.

-Hà Lê

Categories: The Latest News

Để du lịch thực sự trở thành động lực tăng trưởng kinh tế

Wed, 02/18/2026 - 08:00
Du lịch Việt Nam năm 2025 lập nhiều kỷ lục ấn tượng về lượng khách cũng như tổng thu, tạo nền tảng vững chắc để trong năm 2026 sẽ tiếp tục là động lực quan trọng, đóng góp mạnh mẽ vào tăng trưởng kinh tế và hội nhập quốc tế của đất nước.

Ngành du lịch Việt Nam đã xác lập nhiều kỷ lục mới trong năm 2025. Ông nhìn nhận đâu là những yếu tố then chốt giúp ngành du lịch Việt Nam đạt được kết quả ấn tượng này, đặc biệt trong bối cảnh phục hồi và cạnh tranh mạnh mẽ của thị trường quốc tế?

Năm 2025, ngành du lịch Việt Nam đã đạt nhiều kết quả rất đáng khích lệ, lập kỷ lục mới về lượng khách quốc tế đến với khoảng 21,2 triệu lượt, lập kỷ lục mới, tăng 22,1% so với năm 2024. Khách du lịch nội địa đạt khoảng 140 triệu lượt, tăng 64,7% so với năm 2019. Tổng doanh thu từ khách du lịch đạt mốc 1 triệu tỷ đồng.

Tổ chức Du lịch Liên hợp quốc (UN Tourism) đã từng dự báo trong năm 2025 du lịch toàn cầu chỉ phục hồi 90% so với trước đại dịch Covid-19, trong đó lượng khách du lịch quốc tế trên phạm vi toàn cầu được dự báo tăng khoảng 3-5%, khu vực châu Á Thái Bình Dương tăng 8%. Nếu nhìn lại dự báo này, có thể thấy kết quả mà Việt Nam đạt được như trên là một nỗ lực rất lớn cho cả một quá trình không ngừng nghỉ của toàn ngành du lịch.

Theo tôi, có năm động lực chính để du lịch Việt Nam đạt được kết qủa này.

Thứ nhất, ngành du lịch Việt Nam trong thời gian qua đã nhận được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, Quốc hội và sự chỉ đạo hết sức quyết liệt, hiệu quả của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, trong việc ban hành các chính sách, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động du lịch Việt Nam.

Thứ hai, sự phối hợp, đồng hành của các bộ, ngành liên quan để cùng ngành du lịch tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc và đồng thời tạo điều kiện thuận lợi hơn cho ngành du lịch có điều kiện phát triển trong bối cảnh mới.

Thứ ba, vai trò trong việc dẫn dắt, định hướng của cơ quan quản lý nhà nước về du lịch từ Trung ương đến địa phương thực hiện cơ cấu lại thị trường, xây dựng sản phẩm, tổ chức đa dạng công tác xúc tiến, quảng bá trong và ngoài nước, tận dụng hiệu ứng tích cực từ các chính sách mới cho hoạt động du lịch.

Thứ tư, nỗ lực của chính quyền địa phương trong việc chủ động tổ chức các hoạt động văn hoá, lễ hội và các sự kiện nổi bật để thu hút khách du lịch.

Thứ năm, vai trò quan trọng của các doanh nghiệp – những người đã chủ động, tích cực trong kết nối thị trường, xây dựng sản phẩm mới, tổ chức các chương trình xúc tiến, quảng bá. Theo tôi, vai trò của doanh nghiệp là quan trọng nhất, tạo nên các hiệu ứng để cho ngành du lịch Việt Nam đạt được kết quả ấn tượng trong năm qua.

Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch cũng như Cục Du lịch quốc gia Việt Nam đã có đóng góp gì trong việc đạt được những kết quả này, thưa ông?

Với vai trò là cơ quan quản lý nhà nước ở Trung ương, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch cũng như Cục Du lịch quốc gia Việt Nam đã nỗ lực kiến tạo, tham mưu về chính sách, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động doanh nghiệp du lịch cũng như tổ chức triển khai các hoạt động xúc tiến, quảng bá ở nhiều thị trường mục tiêu và tiềm năng ở cả trên thực địa và trên các nền tảng mạng xã hội.

Cục Du lịch quốc gia Việt Nam đã nghiên cứu, tham mưu Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch phối hợp với các bộ, ngành liên quan trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành những cơ chế, chính sách thuận lợi cho du lịch có điều kiện phát triển; định hướng các địa phương, doanh nghiệp xây dựng thêm nhiều sản phẩm mới, độc đáo trên cơ sở tiềm năng của từng địa phương, điểm đến.

Đối với công tác quản lý nhà nước, Cục Du lịch quốc gia Việt Nam đã chủ động triển khai nhiều giải pháp quản lý điểm đến, tổ chức kiểm tra công tác chấp hành quy định pháp luật trong hoạt động du lịch tại nhiều địa phương, phối hợp đảm bảo an ninh an toàn, triển khai hiệu quả công tác chuyển đổi số trong lĩnh vực du lịch.

Bên cạnh đó, Cục Du lịch quốc gia Việt Nam đã phối hợp với các đơn vị liên quan đổi mới về phương thức, hình thức, nội dung và cách thức tổ chức truyền thông, xúc tiến, quảng bá du lịch Việt Nam, tạo hiệu ứng về truyền thông về điểm đến Việt Nam hấp dẫn, an toàn.

Với nền tảng tăng trưởng tích cực của năm 2025, ngành du lịch được kỳ vọng sẽ trở thành một trong những động lực chính góp phần vào mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn tới. Theo ông, những đóng góp cụ thể của ngành trong giai đoạn tới là gì?

Trên cơ sở kết quả của năm 2025, có thể thấy rằng năm 2026 ngành du lịch Việt Nam vẫn tiếp tục là một trong những lĩnh vực có khả năng đóng góp quan trọng trong tăng trưởng kinh tế.

Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp mang tính liên ngành, liên vùng và tính xã hội hóa cao. Vì thế, khi lượng khách du lịch quốc tế và nội địa tăng lên sẽ kéo theo toàn bộ hệ sinh thái, từ các cơ sở lưu trú, dịch vụ vận chuyển, chế biến thực phẩm đến vui chơi giải trí, mua sắm phát triển mạnh mẽ hơn. Thông qua đó sẽ góp phần tăng chỉ tiêu tiêu dùng từ khách du lịch quốc tế và nội địa.

Thông qua khách du lịch sẽ góp phần làm cho các lĩnh vực khác liên quan như: nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng… có thêm cơ hội phát triển, hoàn thiện thêm hệ sinh thái du lịch cũng như cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật, từ đó đóng góp vào tăng trưởng kinh tế.

Một điều quan trọng nữa là khi du lịch phát triển sẽ kéo theo việc tăng cường giao lưu nhân dân, quảng bá hình ảnh Việt Nam là một điểm đến an toàn, hấp dẫn, thân thiện, từ đó sẽ thu hút được các nhà đầu tư đến Việt Nam tìm kiếm cơ hội đầu tư.

Vậy theo ông, để du lịch thực sự trở thành “đầu kéo” cho tăng trưởng kinh tế đất nước, ngành sẽ phải giải quyết những thách thức gì?

Để du lịch trong thời gian tới bứt phá mạnh mẽ, yếu tố đầu tiên là phải đảm bảo và nâng cao chất lượng các sản phẩm dịch vụ, trong đó vai trò nguồn nhân lực là then chốt.

Thứ hai, cần có cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật thuận tiện cho cung cấp các dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ cao cấp, để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của các thị trường khách khác nhau.

Thứ ba, quan tâm đảm bảo gìn giữ môi trường, bảo tồn các giá trị văn hóa, di sản, tài nguyên du lịch để phát triển du lịch một cách bền vững.

Một vấn đề quan trọng nữa mà ngành du lịch cần tiếp tục đẩy mạnh, đó là tăng cường chuyển đổi số, từ công tác quản lý nhà nước đến ứng dụng cụ thể cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Đồng thời, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, nâng cao nhận thức về vai trò của du lịch, tăng cường thu hút đầu tư phát triển hạ tầng, cảng biển, sân bay, đường cao tốc… nhằm tạo ra điều kiện thuận lợi hơn để ngành du lịch tăng tốc phát triển trong thời gian tới.

Vậy, Cục Du lịch quốc gia Việt Nam đã chuẩn bị lộ trình hay ưu tiên chiến lược nào cho chặng đường tới đây, thưa ông?

Cục Du lịch quốc gia Việt Nam sẽ tập trung nghiên cứu, tham mưu ban hành các cơ chế, chính sách đột pháp để du lịch có thể có những điều kiện phát triển tốt hơn, đồng thời giải quyết những thách thức để du lịch được phát triển tương xứng với những tiềm năng vốn có của đất nước ta.

Chúng tôi sẽ cùng với các địa phương, hệ thống doanh nghiệp nghiên cứu, sáng tạo thêm những sản phẩm du lịch độc đáo, hấp dẫn, dựa trên thế mạnh của từng địa phương, của đất nước thu hút khách quốc tế đến với chúng ta.

Tiếp đến là hỗ trợ để tăng cường ứng dụng chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu ngành, giúp cho các địa phương cũng như doanh nghiệp kinh doanh thuận tiện hơn, đáp ứng được nhu cầu của du khách trong tìm kiếm các thông tin, đặt dịch vụ và kiểm soát được chất lượng của các dịch vụ đó.

Cục Du lịch quốc gia Việt Nam sẽ phối hợp các đơn vị liên quan, cơ sở đào tạo du lịch chuẩn hóa chương trình đào tạo, xây dựng tiêu chuẩn nghề trong lĩnh vực du lịch, nhằm nâng cao chất lượng đầu ra nguồn nhân lực du lịch, phấn đấu đủ số lượng và đảm bảo chất lượng dịch vụ. Qua đó góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của du lịch Việt Nam trong thời gian tới.

Chúng tôi kỳ vọng rằng với những quyết sách của Đảng và Nhà nước, Chính phủ, cùng những nỗ lực của toàn ngành, du lịch Việt Nam sẽ tiếp tục khẳng định là một trong những động lực góp phần vào sự tăng trưởng của kinh tế đất nước trong năm 2026 và giai đoạn tiếp theo.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-

Categories: The Latest News

Việt Nam đang ở bước ngoặt để “vươn mình” sang chu kỳ phát triển mới

Wed, 02/18/2026 - 06:00
Trước thềm năm mới, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy đã có cuộc trao đổi với GS. Nguyễn Đức Khương, Chủ tịch Tổ chức Khoa học và Chuyên gia Việt Nam Toàn cầu (AVSE Global) để nhìn lại bức tranh kinh tế năm 2025 và đưa ra những khuyến nghị cho năm 2026 và những năm tới.

Thưa Giáo sư, năm 2025 là năm cuối của giai đoạn phát triển 2021-2025. Ông sẽ lựa chọn từ khóa nào để mô tả bức tranh kinh tế của năm nay?

Nếu phải dùng từ khóa để định hình, theo tôi, có ba từ khóa quan trọng.

Từ khóa đầu tiên là “phục hồi kinh tế sau đại dịch”. Giai đoạn 2021-2025 là giai đoạn chúng ta xử lý những tác động sâu sắc lên cấu trúc và mô hình kinh tế toàn cầu sau những ảnh hưởng nặng nề từ đại dịch Covid-19. Năm 2025 ghi nhận những nỗ lực phục hồi đi vào chiều sâu, thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo để tạo ra một nền tảng mới cho nền kinh tế.

Từ khóa thứ hai là “kiên cường”. Đây là “phẩm chất” mà nền kinh tế Việt Nam đã tôi luyện và xây dựng được trong suốt những năm khó khăn vừa qua. Khả năng chống chịu trước các cú sốc bên ngoài, từ đứt gãy chuỗi cung ứng đến lạm phát toàn cầu, đã trở thành một lợi thế cạnh tranh của chúng ta.

Từ khóa quan trọng nhất chính là “vươn mình trong biến động”. Chúng ta đang chuyển dịch mạnh mẽ từ một nền kinh tế thâm dụng lao động, tài nguyên và giá trị gia tăng thấp sang một giai đoạn mới mà ở đó, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đóng vai trò nền tảng cốt lõi cho mọi hoạt động kinh doanh và tăng trưởng chất lượng.

Năm 2025 là năm kết thúc của một giai đoạn phát triển 5 năm và mở đầu cho một chu kỳ mới. Ông đánh giá thế nào về vị thế của Việt Nam trong bức tranh kinh tế toàn cầu đầy biến động hiện nay?

Việt Nam đã có được một vị thế quốc tế tốt, tiếp tục là điểm sáng trong phát triển kinh tế, ngoại giao và có thế chủ động chiến lược trong các hợp tác đối tác. Ví dụ, khi thế giới gặp thách thức từ chính sách thuế quan mới của Mỹ xuất hiện, Việt Nam đã chủ động đàm phán với Mỹ, đồng thời đẩy mạnh chiến lược đa dạng hóa thị trường, biến áp lực từ chính sách thuế quan thành “cú hích vươn mình” để mở rộng sự hiện diện trên bản đồ thương mại quốc tế.

Quá trình đa dạng hóa đã giúp chúng ta khai phá những dư địa giàu tiềm năng từ nhiều thị trường, trong đó đáng chú ý là thị trường EU với kim ngạch xuất khẩu ước đạt 51,16 tỷ USD trong 11 tháng đầu năm 2025, tăng 7,9% so với cùng kỳ năm 2024. Tuy nằm trong “hành lang hẹp” giữa hai cường quốc – một bên là nguồn nhập khẩu nguyên liệu chính (Trung Quốc), một bên là thị trường xuất khẩu lớn nhất (Mỹ) – Việt Nam đã biến thách thức thành cơ hội, khi tổng kim ngạch xuất nhập khẩu lần đầu tiên cán mốc 930 tỷ USD. Đây là một con số không tưởng nếu nhìn lại những lo ngại hồi đầu năm về chính sách thuế quan bất lợi từ Mỹ.

Thành công này xuất phát từ hai yếu tố cốt lõi: thứ nhất, khả năng thích ứng linh hoạt của nền kinh tế; thứ hai, nền tảng vĩ mô ổn định được duy trì ở mức cao. Chính phủ đã triển khai đồng bộ các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, kiểm soát tốt lạm phát và khuyến khích hoạt động RD để đổi mới mô hình kinh doanh. Các cải cách về thể chế theo hướng thông thoáng đã tạo điều kiện cho khối doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là các các “sếu đầu đàn”, thực hiện những chuyển dịch chiến lược mạnh mẽ.

Bên cạnh thương mại, câu chuyện đầu tư công và hạ tầng cũng đang được nhắc đến như một luồng sinh khí mới cho tăng trưởng năm 2025. Ông nhìn nhận như thế nào về việc hàng loạt công trình trọng điểm được khởi công đồng loạt?

Trước hết, đây là một quyết sách thể hiện ý chí và quyết tâm chính trị rất lớn của nước ta. Để Việt Nam có thể thực sự “vươn mình” trong những thập kỷ tới, chúng ta cần một nền tảng hạ tầng vừa bền vững, vừa có khả năng kiến tạo những “dòng chảy” nguồn lực. Đó không chỉ là dòng chảy hàng hóa mà còn là sự dịch chuyển tối ưu các nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực con người. Việc kết nối thông suốt giữa các vùng, miền và giữa Việt Nam với thế giới chính là tiền đề then chốt để hội nhập sâu rộng, đồng thời giải quyết bài toán chi phí logistics – một trong những điểm nghẽn lớn của nền kinh tế hiện nay.

Với hạ tầng kết nối tốt, các nhà đầu tư quốc tế sẽ không còn nhìn nhận các “hub” (trung tâm) kinh tế của Việt Nam chỉ bó hẹp tại các đầu tàu truyền thống như Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh, Hải Phòng hay Đà Nẵng. Thay vào đó, dòng vốn và cơ hội sẽ lan tỏa đến mọi vùng miền trên cả nước, hình thành nên những mắt xích mới trong chuỗi giá trị nhờ sự kết nối hạ tầng.

Việc tối ưu hóa khả năng dịch chuyển nguồn lực không chỉ thu hút vốn ngoại mà còn mở ra cơ hội tăng trưởng cho những địa phương vốn bị hạn chế về năng lực tài chính và khả năng tiếp cận. Những siêu dự án như Sân bay Long Thành, Đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam, hay các tuyến đường sắt kết nối với những trung tâm kinh tế của Trung Quốc sẽ tạo nên bước ngoặt, nâng cao vai trò, vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.

Vậy, ông nhìn nhận như thế nào về những động lực tăng trưởng trong thời gian tới khi mục tiêu đặt ra là tăng trưởng hai con số?

Ở thời điểm hiện nay, tăng trưởng 7-8% đã thuộc nhóm những nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao nhất thế giới. Để đạt được mức tăng trưởng cao hơn, chúng ta chắc chắn cần phát huy những động lực mới. Trước hết đó là kỷ nguyên số, AI và tự động hóa. Không chỉ ở cấp quốc gia, mà nhiều doanh nghiệp đã chủ động dấn thân vào các lĩnh vực mới này.

Theo Cục thống kê, khu vực kinh tế số tăng trưởng 14,6% năm 2025, đạt trên 72 tỷ USD, và đóng góp hơn 14% vào GDP. Việt Nam đã có bước nhảy vọt trong việc đầu tư và ứng dụng kinh tế số. Khi được hỗ trợ bởi dữ liệu, hệ sinh thái kinh tế số sẽ có kỳ vọng phát triển hơn nữa. Quy hoạch lại không gian phát triển mới với những kết nối hạ tầng chiến lược và tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế, môi trường kinh doanh là hai động lực khác rất quan trọng để tạo sức đột phá cho nền kinh tế.

Điều cần chú ý là khoa học, công nghệ phải đóng vai trò trụ cột giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh bền vững, tạo đà để vừa phát huy các động lực truyền thống như xuất khẩu, đầu tư công, vừa khai phá những động lực mới.

Trong bối cảnh hiện nay, bên cạnh mục tiêu tăng trưởng hai con số để hướng tới tầm nhìn 2045 thì chúng ta phải quan tâm đến những vấn đề lớn gì khác, thưa ông?

Tôi tin rằng mục tiêu cao nhất của Việt Nam không chỉ là trở thành nước thu nhập cao, mà là kiến tạo hạnh phúc và thịnh vượng cho nhân dân. Trong quá trình chuyển từ thu nhập trung bình cao lên thu nhập cao, tăng trưởng phải đi kèm tính bao trùm, bảo đảm mọi người dân đều có cơ hội đóng góp và thụ hưởng thành quả phát triển. Các chỉ số tăng trưởng chỉ là công cụ; điều quan trọng là xây dựng một mô hình kinh tế cân bằng giữa chất lượng tăng trưởng và tiến bộ xã hội.

Khát vọng thịnh vượng đòi hỏi sự chuyển mình đồng bộ của cả hệ thống. Tăng trưởng bền vững không thể dựa vào một khu vực riêng lẻ; sự kết hợp giữa “bàn tay Nhà nước” và “động lực tư nhân” chỉ hiệu quả khi điểm nghẽn thể chế được tháo gỡ. Yêu cầu là tiếp tục tạo ra những cơ chế vận hành thông thoáng, kỷ luật cao, bảo đảm quyền lợi của các chủ thể kinh tế, đồng thời thúc đẩy sáng tạo và cạnh tranh bình đẳng. Thể chế cũng phải có tính “mở”, cho phép thử nghiệm, sáng tạo và cập nhật liên tục, nhất là trong những vấn đề mới.

Chìa khóa cũng nằm ở sự thúc đẩy liên kết giữa các ngành, các lĩnh vực để tăng tính toàn hoàn cho kinh tế, tiết kiệm nguồn lực và đẩy mạnh hàm lượng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo trong mô hình kinh doanh.

Theo ông, trong bối cảnh nguồn lực còn hạn chế, làm thế nào để Việt Nam tạo ra đột phá dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo?

Tôi cho rằng nguồn lực là rất quan trọng, nhưng chính những ràng buộc về nguồn lực mới là động lực mạnh mẽ nhất cho sự thay đổi đột phá. Lịch sử đã chứng minh, sức sáng tạo của chúng ta thường đạt đỉnh khi bị đặt vào những giới hạn. Từ tinh thần “vừa đánh vừa học hỏi kinh nghiệm” của quân đội ta trong những ngày đầu thành lập hay bài học của Trung Quốc từ “công xưởng thô sơ” vươn lên dẫn đầu về AI, viễn thông và vũ trụ đều cho thấy: khi không có nguồn lực vô hạn, chúng ta buộc phải tìm con đường riêng, thông minh hơn và hiệu quả hơn.

Việt Nam không nên đi theo lối mòn của thế giới, vốn đòi hỏi vốn đầu tư khổng lồ. Thay vào đó, trong giai đoạn nguồn lực chưa dồi dào, chúng ta cần tập trung đầu tư công vào các công nghệ chiến lược, đồng thời tìm cách kích hoạt tối đa năng lực sáng tạo nội sinh. Ý thức về giới hạn và khát vọng mục tiêu lớn là nền tảng tạo nên những đột phá đưa Việt Nam tăng trưởng bứt phá.

Để hiện thực hóa tầm nhìn đó, khu vực tư nhân cần những cơ chế gì để vươn tầm quốc tế (Go Global) và đóng góp sâu hơn vào chuỗi giá trị?

Bên cạnh các ưu đãi về thuế, RD và hỗ trợ mở rộng thị trường, nhất là đối với các doanh nghiệp trong những lĩnh vực ưu tiên, thì mấu chốt nằm ở mô hình hợp tác “Ba nhà” (Nhà nước - nhà trường - nhà doanh nghiệp). Nhà nước giữ vai trò kiến tạo với một thể chế mở và cơ chế Sandbox linh hoạt; nhà trường trở thành trung tâm tri thức và chuyển giao công nghệ; doanh nghiệp đóng vai trò ứng dụng và đổi mới để nâng cao năng suất và giá trị gia tăng, từ đó thu hẹp khoảng cách phát triển với thế giới.

Xây dựng một hệ sinh thái doanh nghiệp hoàn chỉnh la rất cần thiết. Trong đó, những doanh nghiệp dẫn dắt tạo điều kiện và không gian hợp tác với các doanh nghiệp vừa và nhỏ nội địa để cùng phát triển chuỗi giá trị. Khi đó chúng ta sẽ có một “bộ đỡ” kinh tế tư nhân thuần Việt vững mạnh, có khả năng tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu, giúp nền kinh tế đứng vững trước các cú sốc bên ngoài và duy trì đà tăng trưởng bền vững.

Trong bối cảnh kinh tế thế giới đầy biến động, làm thế nào để Việt Nam vừa hiện thực hóa tham vọng tăng trưởng hai con số, vừa đảm bảo được các mục tiêu định tính về sự ổn định trong năm 2026?

Việt Nam cần tiếp tục phát huy những nền tảng đã tạo dựng được để duy trì ổn định và tăng trưởng. Đầu tiên là dư địa tài khóa ở ngưỡng an toàn với nợ công ở mức thấp, cho phép Chính phủ linh hoạt hỗ trợ doanh nghiệp và người dân trước các cú sốc bất lợi. Tiếp đến là kiểm soát lạm phát hiệu quả giúp bảo vệ sức mua của người lao động, qua đó duy trì năng suất và chất lượng tăng trưởng. Việt Nam cũng giữ được sự tự chủ trong điều hành kinh tế vĩ mô, không bị cuốn theo các biến động chính sách của những nền kinh tế lớn, tạo ra môi trường ổn định hơn so với nhiều khu vực khác.

Bên cạnh đó, vị thế địa chính trị chiến lược giúp Việt Nam trở thành mắt xích quan trọng trong ổn định khu vực, đồng thời tận dụng lợi thế này để mở rộng hợp tác đa phương hài hoà cùng có lợi và củng cố vai trò trên trường quốc tế.

Chính những nền tảng trên đã tạo nên một “sức hút chiến lược”. Khi các tập đoàn đa quốc gia mở rộng ra thế giới, Việt Nam càng có nhiều cơ hội trở thành lựa chọn đầu tư hàng đầu trong khu vực. Điển hình là lĩnh vực chip và bán dẫn: việc các cường quốc và tập đoàn công nghệ chọn Việt Nam làm mắt xích an toàn của chuỗi cung ứng toàn cầu sẽ kéo theo sự dịch chuyển của nhiều doanh nghiệp vệ tinh.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-

Categories: The Latest News

Ngành Công thương bứt phá trong kỷ nguyên mới

Tue, 02/17/2026 - 13:06
Bước vào năm 2026, dấu mốc mở ra kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, Thứ trưởng Phan Thị Thắng khẳng định: “Ngành Công Thương không chỉ giữ vai trò là nòng cốt, trụ cột vững chắc của nền kinh tế, mà còn là nhân tố quyết định trong việc bảo đảm an ninh năng lượng và thúc đẩy hội nhập quốc tế sâu rộng, tạo xung lực bứt phá cho giai đoạn phát triển mới”.

Thưa Thứ trưởng, nhìn lại giai đoạn 2021-2025, đâu là những kết quả ấn tượng nhất thể hiện vai trò nòng cốt của ngành Công Thương trong phát triển kinh tế giai đoạn 2021-2025, đặc biệt là năm 2025?

Trong nhiệm kỳ vừa qua, ngành Công Thương đã có những đóng góp rất quan trọng, toàn diện và mang tính nền tảng đối với phát triển kinh tế – xã hội đất nước. Ngành đã chủ động tham mưu xây dựng nhiều cơ chế, chính sách chiến lược nhằm thúc đẩy kinh tế, công nghiệp, thương mại và đầu tư; tháo gỡ các điểm nghẽn lớn để Trung ương, Quốc hội và các cấp có thẩm quyền ban hành nhiều nghị quyết, kết luận có tính chất quan trọng, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội (Nghị quyết 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới; Nghị quyết số 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết về cơ chế, chính sách phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026 – 2030…).

Với vai trò nòng cốt, trụ cột chiến lược, ngành Công Thương tiếp tục là một trong những động lực chủ yếu thúc đẩy tăng trưởng, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển theo hướng tự chủ, hiện đại hóa, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng, hiệu quả.

Sự phục hồi và tăng trưởng của sản xuất công nghiệp là minh chứng rõ nét nhất cho nỗ lực của toàn ngành với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 6,1% mỗi năm. Đáng chú ý, công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò động lực trung tâm của tăng trưởng - đạt mức tăng bình quân 6,9%/năm; quy mô toàn ngành tăng gần 1,5 lần so với đầu nhiệm kỳ. Tỷ lệ nội địa hóa tiếp tục được cải thiện; nhiều ngành công nghiệp mũi nhọn như điện tử, dệt may, da giày, chế biến nông sản đã hội nhập thành công, từng bước khẳng định vị trí của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Trong lĩnh vực năng lượng, hệ thống năng lượng quốc gia phát triển mạnh mẽ, quy mô hệ thống điện vươn lên nhóm 20 nước hàng đầu thế giới và đứng đầu khu vực Đông Nam Á. An ninh năng lượng quốc gia cơ bản được bảo đảm, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và đời sống nhân dân; cơ cấu năng lượng chuyển dịch theo hướng xanh hơn, bền vững hơn, phù hợp với xu thế toàn cầu.

Xuất nhập khẩu tiếp tục là điểm sáng nổi bật của nền kinh tế với tốc độ tăng trưởng bình quân 10,9%/năm. Kim ngạch xuất nhập khẩu liên tục xác lập các kỷ lục mới, riêng năm 2025 đạt trên 930 tỷ USD, gấp đôi so với đầu nhiệm kỳ; nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực duy trì thứ hạng cao trên thị trường thế giới. Thặng dư thương mại được giữ vững ở mức cao, đóng góp tích cực vào cân đối vĩ mô, bổ sung dự trữ ngoại hối và củng cố niềm tin thị trường.

Thị trường trong nước tiếp tục phát triển ổn định, với tốc độ tăng trưởng bình quân 7,7%/năm, thực sự trở thành một trụ cột quan trọng của nền kinh tế. Việc bảo đảm cung ứng đầy đủ nguyên, nhiên liệu và hàng hóa thiết yếu đã giúp thị trường trong nước phát huy vai trò “bệ đỡ”, hỗ trợ nền kinh tế đứng vững và phục hồi nhanh trước các cú sốc bên ngoài, đặc biệt trong giai đoạn đại dịch Covid-19. Cùng với đó, thương mại điện tử tăng trưởng trên 20%/năm, đưa Việt Nam vào nhóm 10 quốc gia có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất thế giới, tạo động lực quan trọng cho kinh tế số và chuyển đổi số doanh nghiệp.

Hội nhập kinh tế quốc tế được triển khai đồng bộ, thực chất và ngày càng hiệu quả. Việc tham gia 17 Hiệp định thương mại tự do đã mở ra không gian thị trường gần 6 tỷ người tiêu dùng, góp phần đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và thúc đẩy tái cơ cấu nền kinh tế theo hướng hiện đại, bền vững.

Trong những kết quả chung đó, vai trò của ngành Công Thương trong bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia được thể hiện như thế nào, thưa Thứ trưởng?

Trong cơ cấu phát triển bền vững, an ninh năng lượng được xác định là nhiệm vụ chính trị trọng yếu và xuyên suốt. Nghị quyết số 70-NQ/TW của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã  xác định mục tiêu phải bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia.

Thực hiện tinh thần của Nghị quyết số 70-NQ/TW, ngành Công Thương đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm đa dạng hóa nguồn năng lượng, kết hợp hài hòa giữa năng lượng truyền thống và năng lượng tái tạo, đồng thời thúc đẩy các dạng năng lượng mới, đẩy mạnh sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Cùng với đó, đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện thể chế, chính sách để phát triển thị trường năng lượng cạnh tranh, minh bạch nhằm thu hút mạnh mẽ các nguồn lực xã hội tham gia đầu tư phát triển năng lượng.

Thời gian qua, Bộ Công Thương đã dồn sức hoàn thiện thể chế năng lượng với trọng tâm là Luật Điện lực 2024 và Luật Dầu khí (sửa đổi). Việc tham mưu phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn 2050 (Quy hoạch điện 8 điều chỉnh) và triển khai quyết liệt các dự án lưới điện trọng điểm, đặc biệt là các đường dây 500 kV, 220kV đã giúp hệ thống điện Việt Nam vươn lên quy mô hàng đầu khu vực ASEAN. Đây là nền tảng quan trọng để bảo đảm cung ứng điện trong mọi tình huống, phục vụ đắc lực cho mục tiêu công nghiệp hóa.

Để bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia trong thời gian tới, ngành Công Thương đang tập trung xây dựng lộ trình thị trường điện cạnh tranh, minh bạch và hoàn thiện cơ chế giá điện theo nguyên tắc thị trường có sự điều tiết của Nhà nước. Đồng thời, việc đổi mới cơ chế tài chính để thu hút nguồn vốn xã hội hóa và ứng dụng chuyển đổi số trong vận hành hệ thống điện được xem là những giải pháp căn cơ để bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia bền vững.

Thưa Thứ trưởng, trong kỷ nguyên mới, ngành Công Thương sẽ tập trung triển khai những nhiệm vụ trọng tâm nào để góp phần thực hiện thắng lợi, toàn diện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng?

Đất nước ta đang bước vào một kỷ nguyên phát triển mới - kỷ nguyên của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng. Đây là giai đoạn mở ra nhiều thời cơ, thuận lợi lớn lao, đồng thời cũng đặt ra không ít khó khăn, thách thức đan xen.

Trong bối cảnh đó, để tiếp tục thúc đẩy phát triển công nghiệp và thương mại, góp phần thực hiện thắng lợi, toàn diện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, đóng góp xứng đáng vào sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới, ngành Công Thương quyết tâm tập trung triển khai đồng bộ, hiệu quả một số nhiệm vụ trọng tâm.

Thứ nhất, tiếp tục quán triệt, thể chế hóa đầy đủ, kịp thời các quan điểm, chủ trương, nghị quyết của Đảng về phát triển kinh tế – xã hội và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành các cơ chế, chính sách đồng bộ, khả thi; tập trung hoàn thiện thể chế theo tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW, lấy “chuyển đổi kép” (chuyển đổi xanh và chuyển đổi số) là đột phá của đột phá, tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thông thoáng, tháo gỡ điểm nghẽn, làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống và thúc đẩy các động lực tăng trưởng mới.

Thứ hai, đổi mới tư duy, cơ cấu lại ngành công nghiệp, thương mại theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh; lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển kinh tế tư nhân làm động lực chủ yếu. Tập trung phát triển các ngành công nghiệp nền tảng, chiến lược và từng bước làm chủ công nghệ trong một số ngành mới nổi; xây dựng cơ chế phát triển doanh nghiệp dân tộc, doanh nghiệp quy mô lớn; thu hút đầu tư đồng bộ hạ tầng năng lượng, công nghiệp, thương mại và logistics theo hướng hiện đại, xanh, số hóa, gắn với yêu cầu hội nhập sâu.

Thứ ba, nâng cấp, phát triển toàn diện chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng nhằm tăng tính tự chủ của nền kinh tế và nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu. Có chính sách đủ mạnh hỗ trợ doanh nghiệp trong nước tham gia sâu vào chuỗi của các tập đoàn lớn và doanh nghiệp FDI; tăng tỷ lệ nội địa hóa; thúc đẩy chuyển giao công nghệ, kỹ năng quản trị; phát triển các cụm liên kết ngành và chuỗi sản xuất khép kín.

Thứ tư, đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế gắn với cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng; khai thác hiệu quả các hiệp định thương mại tự do; tăng cường phòng vệ thương mại hợp pháp; đa dạng hóa thị trường, nguồn cung và chuỗi cung ứng, tránh phụ thuộc vào một số ít đối tác; đổi mới xúc tiến thương mại, phát triển thương mại điện tử và kinh tế số.

Thứ năm, thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện trong công nghiệp, thương mại; đẩy mạnh cải cách hành chính, đơn giản hóa thủ tục, điều kiện kinh doanh; mở rộng dịch vụ công trực tuyến, cơ chế một cửa liên thông, giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp và người dân.

Thứ sáu, hiện đại hóa công tác quản lý nhà nước. Việc đẩy mạnh cải cách hành chính, đơn giản hóa thủ tục và chuyển mạnh sang phương thức hậu kiểm gắn với quản lý rủi ro sẽ tạo môi trường kinh doanh minh bạch, thuận lợi cho doanh nghiệp. Ngành Công Thương sẽ kiên định mục tiêu phát triển tự chủ, hiện đại, lấy công nghiệp chế biến, chế tạo và năng lượng làm nền tảng vật chất quan trọng của nền kinh tế độc lập, tự chủ, quyết tâm đóng góp xứng đáng vào sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-

Categories: The Latest News

Bí thư Thành ủy Hà Nội: Khẳng định bản lĩnh, trí tuệ và tầm vóc Thủ đô trong kỷ nguyên mới

Tue, 02/17/2026 - 10:39
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Duy Ngọc đã chia sẻ những dấu ấn lịch sử nổi bật của Thủ đô trong năm 2025, làm rõ vị thế, vai trò và khát vọng vươn mình của Hà Nội trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước.

Thăng Long – Hà Nội, Thủ đô ngàn năm văn hiến và anh hùng, luôn được xem là nơi hội tụ, kết tinh và tỏa sáng những giá trị cao quý của dân tộc Việt Nam. Nhìn lại chiều dài lịch sử và chặng đường phát triển gần đây, Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Duy Ngọc khẳng định Hà Nội không chỉ là trái tim của cả nước mà còn đang ngày càng khẳng định mạnh mẽ bản lĩnh, trí tuệ và tầm vóc trong kỷ nguyên vươn lên giàu mạnh, thịnh vượng, Nhân dân hạnh phúc.

Bề dày lịch sử của mảnh đất ngàn năm văn hiến đã hun đúc tinh thần Thăng Long – Hà Nội với những giá trị bền vững, vừa mang chiều sâu truyền thống, vừa không ngừng vươn mình cùng thời đại. Hà Nội đang từng bước khẳng định vai trò biểu tượng của niềm tin, ý chí và khát vọng phát triển của dân tộc Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.

Bí thư Thành ủy nêu rõ Hà Nội không thể đảm nhận vai trò tiên phong, dẫn dắt nếu chỉ đi theo lối mòn. Với khát vọng phát triển hùng cường, thịnh vượng, Thủ đô phải dám đột phá, dám làm những việc khó, việc mới, việc chưa có tiền lệ và đặc biệt là kiên định làm đến cùng, làm có kết quả.

Từ nhận thức đó, Đại hội Đảng bộ thành phố Hà Nội lần thứ XVIII đã xác định ba đột phá phát triển mang tính chiến lược, gồm: tập trung xây dựng, hoàn thiện thể chế phát triển Thủ đô; phát triển, khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút nhân tài; phát triển hệ thống hạ tầng hiện đại, thông minh và có tính kết nối cao.

KHẲNG ĐỊNH DẤU ẤN NĂM 2025 VỚI NHỮNG THÀNH TỰU NỔI BẬT

Bí thư Thành ủy Hà Nội cho biết năm 2025 là một năm rất đặc biệt đối với Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân Thủ đô. Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường, trong nước còn nhiều khó khăn, thách thức, Hà Nội vẫn kiên định mục tiêu phát triển, phát huy cao độ truyền thống văn hiến, anh hùng, tinh thần đoàn kết, đổi mới và trách nhiệm.

Thủ đô Hà Nội sẽ phát huy vai trò đầu tàu, tạo nền tảng và động lực cho sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới. Ảnh: Nhân Đân.

Với quan điểm luôn gương mẫu, đi đầu, Hà Nội đã đi qua năm 2025 với nhiều dấu ấn lịch sử đặc biệt và đạt được những thành tựu đáng tự hào. Nổi bật là tốc độ tăng trưởng GRDP đạt 8,16%, vượt mục tiêu đề ra là 8% và cao hơn nhiều so với mức 6,52% của năm 2024. Quy mô kinh tế Thủ đô đạt khoảng 63,5 tỷ USD; thu nhập bình quân đầu người đạt 7.200 USD.

Công tác tài chính – ngân sách ghi nhận kết quả nổi bật khi tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 711 nghìn tỷ đồng, bằng 138,4% dự toán, tăng 38,4% so với năm trước, mức cao nhất trong nhiều năm gần đây. Giải ngân vốn đầu tư công đạt gần 90 nghìn tỷ đồng, bằng 106,8% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, qua đó tạo động lực quan trọng cho tăng trưởng và phát triển hạ tầng.

Cùng với phát triển kinh tế, công tác an sinh xã hội tiếp tục được thành phố quan tâm triển khai hiệu quả; việc chủ động ứng phó, phòng chống thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu đã góp phần giảm thiểu thiệt hại, bảo đảm ổn định đời sống Nhân dân.

Một điểm nhấn quan trọng trong năm 2025 là phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Thành ủy Hà Nội có sự chuyển biến rõ nét theo phương châm: “Đã nói là làm – làm nhanh, làm đúng, làm hiệu quả, làm đến cùng”. Kỷ luật, kỷ cương hành chính được tăng cường; trách nhiệm của tập thể và cá nhân trong thực thi nhiệm vụ được xác định rõ theo tinh thần “rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền”.

Thành ủy Hà Nội đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm, không né tránh, nhằm giải quyết những vấn đề bức xúc, các điểm nghẽn kéo dài của Thủ đô như ùn tắc giao thông, ô nhiễm môi trường, ngập úng, trật tự đô thị, vệ sinh an toàn thực phẩm. Công tác giải phóng mặt bằng, tổ chức thực hiện các dự án hạ tầng đô thị được triển khai quyết liệt, hiệu quả; các giải pháp ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai, bảo đảm an sinh xã hội được triển khai chủ động, đồng bộ.

Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Duy Ngọc cùng các đồng chí lãnh đạo thành phố Hà Nội tham quan gian trưng bày sản phẩm tại triển lãm Mạng lưới đổi mới sáng tạo Hà Nội.

Theo Bí thư Thành ủy, những kết quả đạt được cho thấy Hà Nội đang từng bước hình thành phương thức lãnh đạo, điều hành dựa trên kỷ cương, kiểm soát tiến độ, đo lường hiệu quả thực chất và có thể kiểm chứng bằng dữ liệu.

Trong năm 2025, thành phố cũng chủ động đề xuất xây dựng Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm, gắn với hoàn thiện thể chế, tháo gỡ các điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực và xác lập mô hình tăng trưởng mới, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số liên tục trong những năm tới.

Bên cạnh đó, Hà Nội đã tổ chức thành công Đại hội Đảng các cấp và Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ XVIII, nhiệm kỳ 2025 – 2030. Thành phố đi đầu trong sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy hệ thống chính trị với quyết tâm chính trị cao, triển khai bài bản, khoa học. Việc sắp xếp 526 phường, xã, thị trấn thành 126 phường, xã nhận được sự đồng tình, ủng hộ cao của Nhân dân. Từ ngày 1/7/2025, mô hình chính quyền địa phương hai cấp chính thức đi vào hoạt động thông suốt, bảo đảm tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả.

TẠO ĐỘT PHÁ TỪ ĐỔI MỚI LÃNH ĐẠO, HẠ TẦNG VÀ CHUYỂN ĐỔI SỐ

Theo Bí thư Thành ủy Hà Nội, cùng với việc vận hành mô hình chính quyền địa phương mới, thành phố đi đầu trong đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với tinh giản thủ tục hành chính và chuyển đổi số toàn diện. Đến nay, Hà Nội đã hoàn thành việc xây dựng và phê duyệt phương án tái cấu trúc đối với 293 thủ tục hành chính phổ biến, theo hướng quản lý dựa trên dữ liệu, giảm tiền kiểm, tăng hậu kiểm, cung cấp dịch vụ công trực tuyến liền mạch và hiệu quả.

Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Duy Ngọc cùng lãnh đạo của thành phố Hà Nội kiểm tra tiến độ thi công tuyến đường Vành đai 1, đoạn Hoàng Cầu-Voi Phục.

Hà Nội cũng là địa phương tiên phong thí điểm tích hợp thủ tục hành chính của Đảng lên Cổng Dịch vụ công quốc gia; đẩy mạnh chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng và hệ thống chính trị. Kết quả là Hà Nội có ba năm liên tiếp (2023, 2024, 2025) đứng đầu cả nước về chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương.

Trong triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Hà Nội xác định đây là bước đi chiến lược, mang tính đột phá trong mọi lĩnh vực phát triển kinh tế – xã hội. Ban Thường vụ Thành ủy đã kiện toàn Ban Chỉ đạo 57 của Thành ủy, triển khai 230 nhiệm vụ cụ thể nhằm thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong toàn bộ hệ thống chính trị và đời sống kinh tế – xã hội.

Thành phố nhấn mạnh phương châm “AI First”, coi việc nâng cao năng lực số của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức là giải pháp then chốt để giảm thủ công, cắt giảm chi phí, rút ngắn thời gian xử lý công việc và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp.

Song song với đó, Hà Nội tập trung cải cách thủ tục hành chính theo hướng thực chất, tái cấu trúc quy trình trên nền tảng dữ liệu dùng chung, tăng tỷ lệ hồ sơ xử lý toàn trình, giảm mạnh chi phí tuân thủ thủ tục hành chính cho xã hội.

Tại Đại hội Đảng lần thứ XVIII, TP Hà Nội đặt mục tiêu tăng trưởng từ 11% trở lên trong năm 2026 và cả nhiệm kỳ 2026 - 2031.

Trong lĩnh vực đầu tư công, thành phố yêu cầu minh bạch, hiệu quả, ứng dụng công nghệ để giám sát tiến độ, cảnh báo sớm điểm nghẽn, rút ngắn thời gian chuẩn bị dự án và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.

Bí thư Thành ủy cho biết Hà Nội đang từng bước chuyển đổi trạng thái quản trị từ điều hành dựa nhiều vào kinh nghiệm sang quản trị dựa trên dữ liệu, công nghệ và hiệu quả đầu ra. Các quyết định quản lý, điều hành được đưa ra nhanh hơn, chính xác hơn và có thể kiểm chứng bằng dữ liệu.

Việc đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo đã tạo ra những kết quả cụ thể, rõ nét, trong đó có việc tháo gỡ những vấn đề tồn đọng kéo dài nhiều năm. Điển hình là công tác giải phóng mặt bằng dự án đường Vành đai 1 (đoạn Hoàng Cầu – Voi Phục). Chỉ trong hơn 5 tháng, các phường liên quan đã hoàn thành bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho 1.295 hộ dân, vượt xa kết quả của nhiều năm trước đó. Ngày 15/1/2026, dự án chính thức thông xe kỹ thuật, tạo động lực mới cho phát triển đô thị và giao thông Thủ đô.

Cùng thời điểm, nhiều dự án lớn, có ý nghĩa chiến lược đã được khởi công, như Nhà máy chế tạo chip bán dẫn đầu tiên tại Việt Nam tại Khu công nghệ cao Hòa Lạc; Dự án Khu phức hợp y tế – chăm sóc sức khỏe người cao tuổi Đại học Y Hà Nội; các khu đô thị đa mục tiêu, qua đó góp phần mở rộng không gian phát triển và nâng cao chất lượng sống của người dân.

Bước sang năm 2026 – năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XVIII và Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Bí thư Thành ủy Hà Nội cho biết thành phố xác định mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 11% trở lên, đồng thời tập trung triển khai đồng bộ các nhiệm vụ trọng tâm về thể chế, quy hoạch, hạ tầng, khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Với chủ đề hành động năm 2026 là “Kỷ cương, chuyên nghiệp – Đột phá, sáng tạo – Hiệu quả, bền vững”, Hà Nội tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao trách nhiệm người đứng đầu, phát triển kết cấu hạ tầng chiến lược, giải quyết các điểm nghẽn đô thị và bảo đảm an sinh xã hội, quốc phòng – an ninh.

Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Bí thư Thành ủy Hà Nội nhấn mạnh với truyền thống đoàn kết, trí tuệ và bản lĩnh, cùng tinh thần “Hà Nội đã nói là làm – làm nhanh, làm đúng, làm hiệu quả, làm đến cùng”, Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân Thủ đô sẽ tiếp tục viết tiếp những trang sử mới, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp phát triển chung của đất nước trong kỷ nguyên mới.

-Lý Hà

Categories: The Latest News

Thông điệp chúc Tết Bính Ngọ 2026 của Chủ tịch nước Lương Cường

Tue, 02/17/2026 - 09:11
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, đúng thời khắc Giao thừa thiêng liêng chuyển giao giữa năm cũ và năm mới, thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chủ tịch nước Lương Cường có thông điệp chúc Tết gửi đến đồng bào, đồng chí và chiến sĩ cả nước, cũng như cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.

VnEconomy trân trọng giới thiệu toàn văn Thông điệp chúc Tết của Chủ tịch nước:

Thưa đồng bào, đồng chí, chiến sĩ cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài,

Xuân Bính Ngọ đã tới, trong thời khắc chuyển giao năm cũ - năm mới, tôi thân ái gửi tới đồng bào, đồng chí, chiến sĩ cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài lời chúc năm mới an lành, mạnh khỏe và hạnh phúc. Tôi trân trọng gửi tới nhân dân, bạn bè quốc tế những lời chúc tốt đẹp nhất, chúc một năm mới hòa bình, hạnh phúc và cùng phát triển.

Năm Ất Tỵ 2025, đất nước ta đã đi qua một chặng đường ghi dấu nhiều sự kiện quan trọng, có ý nghĩa đặc biệt và đạt được nhiều thành tựu rất đáng tự hào; đồng thời, cũng là một năm đất nước ta phải trải qua rất nhiều khó khăn, thử thách, với những biến động nhanh, phức tạp, khó lường của tình hình thế giới và khu vực, cùng những thiên tai khắc nghiệt, gây tổn thất nặng nề, để lại nhiều đau thương, mất mát cho đồng bào ta.

Bằng bản lĩnh kiên cường, ý chí tự lực, tự cường, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã đoàn kết, chung sức đồng lòng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc và sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế, chúng ta đã hoàn thành toàn bộ các mục tiêu chủ yếu đề ra, với nhiều dấu ấn nổi bật: Độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, môi trường hòa bình được giữ vững; tăng trưởng kinh tế thuộc nhóm dẫn đầu thế giới, trở thành nước có thu nhập trung bình cao; an sinh xã hội được quan tâm chăm lo; chính trị, xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được giữ vững và tăng cường; đối ngoại, hội nhập quốc tế được đẩy mạnh, vị thế, uy tín của Việt Nam tiếp tục được nâng cao trên trường quốc tế; tạo nền tảng quan trọng để đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới.

Bước sang năm mới Bính Ngọ 2026 - Năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, với truyền thống yêu nước nồng nàn, tinh thần đoàn kết, ý chí kiên cường và khát vọng vươn lên mạnh mẽ, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta sẽ tiếp tục đoàn kết, chung sức đồng lòng, tận dụng mọi thời cơ, vận hội, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, phát huy mạnh mẽ tinh thần tự tin, tự chủ, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, không ngừng đổi mới sáng tạo, hành động quyết liệt để hiện thực hóa thành công mục tiêu xây dựng đất nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.

Trong niềm vui đón chào mùa Xuân mới, một lần nữa, tôi chúc đồng bào, đồng chí, chiến sĩ cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài năm mới thắng lợi mới, thành công mới; dân tộc và nhân dân ta ngày càng thịnh vượng, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc.

Chào thân ái và quyết thắng!

-

Categories: The Latest News

Cuộc tái cấu trúc lớn đưa nông nghiệp bước vào “kỷ nguyên xanh”

Tue, 02/17/2026 - 07:06
Trước thềm năm mới Bính Ngọ 2026, Bộ trưởng Trần Đức Thắng đã dành cho Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy một cuộc phỏng vấn để nhìn lại một năm 2025 nhiều dấu ấn tích cực và chuẩn bị cho một giai đoạn phát triển mới...

Thưa Bộ trưởng, năm 2025, ngành Nông nghiệp và Môi trường đã khép lại với nhiều dấu ấn quan trọng, đáng chú ý. Bộ trưởng có thể khái quát những kết quả nổi bật nhất mà ngành đã đạt được trong năm vừa qua?

Năm 2025 là một năm đặc biệt khó khăn đối với ngành Nông nghiệp và Môi trường. Bối cảnh kinh tế thế giới bất ổn, xung đột địa chính trị kéo dài, rào cản thương mại gia tăng, chính sách thuế đối ứng của Hoa Kỳ, cùng với thiên tai và biến đổi khí hậu diễn biến ngày càng khắc nghiệt, bất thường, với hiện tượng “bão chồng bão, lũ chồng lũ”. Trong điều kiện đó, toàn ngành vẫn giữ vững vai trò là trụ đỡ quan trọng của nền kinh tế, góp phần ổn định đời sống xã hội và sinh kế của hàng triệu người dân.

Với phương châm hành động “Kỷ cương trách nhiệm, chủ động kịp thời, tinh gọn hiệu quả, tăng tốc bứt phá”, tốc độ tăng trưởng toàn ngành ước đạt khoảng 3,9- 3,92%. Tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt khoảng 70,09 tỷ USD, vượt xa mục tiêu 65 tỷ USD; trong đó nông sản đạt 37,25 tỷ USD, lâm sản 18,5 tỷ USD, thủy sản 11,32 tỷ USD. Xuất siêu toàn ngành đạt khoảng 20,7 tỷ USD, tăng gần 17% so với năm trước, đóng góp quan trọng vào cân đối thương mại quốc gia.

Song song với phát triển kinh tế, các lĩnh vực xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và an sinh xã hội tiếp tục được triển khai đồng bộ, hiệu quả. Công tác quản lý tài nguyên đất, nước, khoáng sản có chuyển biến thực chất; bảo vệ môi trường nước, không khí, xử lý chất thải rắn sinh hoạt được tăng cường; nhiều “điểm nóng” ô nhiễm từng bước được kiểm soát. Các hoạt động chuyển đổi xanh, giảm phát thải và thích ứng với biến đổi khí hậu được đẩy mạnh hơn cả về quy mô và chiều sâu.

Năm 2025 cũng đánh dấu bước chuyển quan trọng về tổ chức và thể chế sau khi hợp nhất hai Bộ. Bộ máy được tinh gọn, chức năng, nhiệm vụ được phân định rõ ràng; phân cấp, phân quyền và cải cách thủ tục hành chính được đẩy mạnh, giúp chính sách đi vào cuộc sống nhanh hơn, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp và địa phương.

Một điểm nhấn nổi bật là chuyển dịch mạnh sang nông nghiệp xanh và kinh tế tuần hoàn. Các yêu cầu về phát triển sinh thái, giảm phát thải đã được tích hợp đồng bộ vào chiến lược, quy hoạch và hệ thống tiêu chuẩn ngành.

Cùng với đó, khoa học, công nghệ và chuyển đổi số được ứng dụng ngày càng sâu rộng, từ dữ liệu lớn, viễn thám, truy xuất nguồn gốc đến canh tác thông minh, giúp tối ưu đầu vào - đầu ra, đo lường phát thải và từng bước khép kín vòng đời sản phẩm.

Nhìn tổng thể, năm 2025 không chỉ ghi dấu bằng những con số tăng trưởng tích cực, mà quan trọng hơn là sự chuyển dịch rõ nét về chất lượng phát triển, tạo nền tảng để ngành Nông nghiệp và Môi trường từng bước chuyển từ phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu, bền vững và hiệu quả hơn trong giai đoạn tới.

Thưa Bộ trưởng, việc thành lập Bộ Nông nghiệp và Môi trường được xem là một bước ngoặt về tư duy và mô hình quản lý. Bộ trưởng có thể chia sẻ rõ hơn ý nghĩa chiến lược của bước chuyển này và những thay đổi căn bản mà ngành đang hướng tới?

Ngày 1/3/2025 là một dấu mốc đặc biệt quan trọng, khi Bộ Nông nghiệp và Môi trường chính thức đi vào hoạt động. Đây không đơn thuần là sự hợp nhất về mặt tổ chức hành chính giữa Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn với Bộ Tài nguyên và Môi trường, mà là một quyết định chiến lược, phản ánh tư duy phát triển mới của Đảng và Nhà nước. Tư duy đó nhấn mạnh yêu cầu phát triển kinh tế phải đi đôi với bảo vệ môi trường; nông nghiệp không thể tách rời quá trình xanh hóa, tuần hoàn và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Sự ra đời của Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã đặt nền móng cho mô hình quản lý tích hợp, trong đó nông nghiệp, tài nguyên, môi trường và phát triển bền vững được nhìn nhận như một chỉnh thể thống nhất. Điều này đồng thời nâng vai trò và trách nhiệm của ngành lên một tầm cao mới: không chỉ quản lý sản xuất, mà còn tham gia trực tiếp kiến tạo mô hình phát triển quốc gia, bảo đảm an ninh lương thực, an ninh sinh thái, an ninh môi trường và đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng xanh, dài hạn của đất nước.

Trong bối cảnh thế giới biến động sâu sắc và yêu cầu tái cấu trúc mô hình tăng trưởng trong nước ngày càng cấp thiết, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh đây là thời điểm chuyển mình có ý nghĩa lịch sử. Đối với ngành Nông nghiệp và Môi trường, yêu cầu đó càng rõ nét hơn, bởi ngành trực tiếp gánh vác những nền tảng căn bản của quốc gia, từ sinh kế của hàng chục triệu người dân, an ninh lương thực đến sự bền vững của các hệ sinh thái. Điều này đòi hỏi ngành phải chuyển từ tư duy thích ứng sang tư duy chủ động dẫn dắt; từ cách làm phân tán sang tiếp cận tích hợp, đồng bộ và dài hạn.

Ngay sau khi Chính phủ ban hành Nghị định số 35/2025/NĐ-CP, Bộ đã khẩn trương ổn định tổ chức bộ máy, bảo đảm hoạt động thông suốt, không gây gián đoạn cho người dân và doanh nghiệp. Việc rà soát, điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ được triển khai đồng bộ nhằm khắc phục chồng chéo, trùng lặp; đồng thời tiếp nhận thêm nhiệm vụ quản lý nhà nước về giảm nghèo, thể hiện cách tiếp cận toàn diện hơn đối với phát triển bền vững.

Kết quả sắp xếp tổ chức cho thấy mức độ tinh gọn rõ rệt: giảm 25/55 đầu mối cấp tổng cục, cục, vụ (45,45%); giảm 19/78 đơn vị sự nghiệp trực thuộc (24,36%); giảm 63/301 đầu mối cấp phòng (20,9%).

Cùng với tổ chức bộ máy, công tác hoàn thiện thể chế được đẩy mạnh với khối lượng công việc rất lớn. Tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV, Bộ đã tham mưu trình thông qua hai Luật và một Nghị quyết sửa đổi, bổ sung 17 Luật thuộc lĩnh vực quản lý của ngành, kịp thời tháo gỡ những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn.

Đặc biệt, vấn đề phân cấp, phân quyền được thực hiện mạnh mẽ và thực chất. Bộ đã rà soát hàng loạt văn bản để phân cấp, phân quyền theo mô hình chính quyền hai cấp; đồng thời, đề xuất cắt giảm, đơn giản hóa 265 điều kiện kinh doanh và 468 thủ tục hành chính. Những cải cách này góp phần tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế, giảm chi phí tuân thủ và tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp.

Từ nền tảng tổ chức tinh gọn hơn, thể chế đồng bộ hơn và tư duy phát triển mới, ngành Nông nghiệp và Môi trường đang bước vào một giai đoạn phát triển với trách nhiệm lớn hơn, khát vọng lớn hơn và hành động mạnh mẽ hơn, nhằm đóng góp xứng đáng vào mục tiêu phát triển nhanh nhưng bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới.

Một điểm nhấn nổi bật là chuyển dịch mạnh sang nông nghiệp xanh và kinh tế tuần hoàn. Bộ trưởng cho biết những chuyển biến cụ thể và thực chất nhất của nông nghiệp xanh, kinh tế tuần hoàn thời gian qua?

Thời gian qua, việc triển khai nông nghiệp xanh và kinh tế tuần hoàn đã có những chuyển biến rõ nét, có thể khái quát trên ba phương diện lớn, từ tư duy, mô hình sản xuất đến cách thức quản lý.

Thứ nhất, sự chuyển mạnh về tư duy và thể chế phát triển xanh. Các yêu cầu về nông nghiệp sinh thái, kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải đã được tích hợp ngày càng đồng bộ vào chiến lược, quy hoạch, chương trình và hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn của ngành. Điều quan trọng là chúng ta không còn tiếp cận môi trường theo cách xử lý bị động sau khi phát sinh ô nhiễm, mà chủ động định hướng sản xuất xanh ngay từ khâu quy hoạch và tổ chức thực hiện.

Thứ hai, chuyển dịch mô hình sản xuất theo hướng xanh, tuần hoàn ở các ngành hàng chủ lực. Trong trồng trọt, lâm nghiệp, thủy sản và xây dựng nông thôn mới, nhiều mô hình tiết kiệm tài nguyên, giảm sử dụng hóa chất đầu vào, tái sử dụng phụ phẩm, gắn sản xuất với chế biến và thị trường đã được triển khai và nhân rộng. Các mô hình này không chỉ góp phần bảo vệ hệ sinh thái, giảm phát thải mà còn giúp nâng cao giá trị gia tăng, cải thiện thu nhập và sinh kế cho người nông dân.

Thứ ba, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số. Công nghệ số, dữ liệu lớn, viễn thám, truy xuất nguồn gốc và các giải pháp canh tác thông minh ngày càng được áp dụng rộng rãi trong quản lý sản xuất, tài nguyên và môi trường. Đây là những công cụ then chốt giúp tối ưu đầu vào - đầu ra, đo lường và kiểm soát phát thải, từng bước khép kín vòng đời sản phẩm, hiện thực hóa kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp.

Một dấu mốc quan trọng đó là việc Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản Việt Nam chính thức khởi động từ cuối năm 2025. Đây không chỉ là một giải pháp công nghệ, mà còn là công cụ quản lý hiện đại, góp phần nâng cao tính minh bạch, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, phòng chống gian lận thương mại và nâng cao uy tín nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, truy xuất nguồn gốc đã trở thành yêu cầu bắt buộc khi tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu, bởi giá trị nông sản ngày nay không chỉ nằm ở sản lượng, mà còn ở chất lượng, tính minh bạch và trách nhiệm với môi trường, xã hội.

Có thể khẳng định nông nghiệp xanh và kinh tế tuần hoàn đã chuyển từ định hướng sang hành động thực chất. Thời gian tới, Bộ sẽ tiếp tục hoàn thiện thể chế, phát triển thị trường carbon và tín dụng xanh, khuyến khích doanh nghiệp và nông dân mở rộng các mô hình sản xuất xanh, qua đó nâng cao sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam và từng bước hiện thực hóa cam kết phát thải ròng bằng “0”.

Quản lý tài nguyên đang ngày càng giữ vai trò chiến lược đối với phát triển bền vững. Trong năm qua, lĩnh vực này đã ghi dấu những thành tựu nổi bật nào, thưa Bộ trưởng?

Năm 2025 là một năm rất đặc biệt đối với công tác quản lý tài nguyên, nhất là trong xây dựng và hoàn thiện các cơ sở dữ liệu quốc gia, mà trọng tâm là cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai. Đây là lĩnh vực khó, phức tạp, liên quan trực tiếp đến quyền lợi của người dân, doanh nghiệp và hiệu quả quản lý của Nhà nước.

Trong điều kiện thời gian gấp, khối lượng công việc rất lớn, chịu tác động bất lợi của thiên tai tại nhiều địa phương, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã tập trung cao độ để hoàn thành xây dựng hệ thống dữ liệu và triển khai thành công Chiến dịch 90 ngày làm giàu, làm sạch dữ liệu đất đai trên phạm vi toàn quốc. Đây không chỉ là một chiến dịch kỹ thuật, mà còn là một cuộc “tổng rà soát” nhằm đưa dữ liệu đất đai về đúng thực chất, phản ánh trung thực tình trạng quản lý và sử dụng đất.

Sau 90 ngày triển khai, hơn 61 triệu thửa đất trên cả nước đã được rà soát, cập nhật và chỉnh lý; trong đó trên 24 triệu thửa đạt tiêu chí “đúng - đủ - sạch - sống”, đủ điều kiện vận hành theo thời gian thực, sẵn sàng kết nối, chia sẻ và khai thác dùng chung. So với giai đoạn trước, chất lượng dữ liệu đã có bước tiến rõ rệt, tạo nền tảng vững chắc cho quản lý hiện đại và minh bạch hơn.

Song song với việc làm giàu dữ liệu, công tác đồng bộ hóa cũng được triển khai quyết liệt nhằm bảo đảm dữ liệu thực sự “sống - sạch - thống nhất - dùng chung”. Đến nay, 100% tỉnh, thành phố đã thực hiện đồng bộ dữ liệu đất đai về Trung ương, với trên 61 triệu thửa đất, tương đương khoảng 98% tổng số thửa đất trong hệ thống dữ liệu địa phương; trong đó hơn 24 triệu thửa đã hoàn chỉnh đầy đủ các khối thông tin, sẵn sàng khai thác và chia sẻ.

Những kết quả này phản ánh quyết tâm chính trị rất cao của người đứng đầu, sự vào cuộc đồng bộ của các bộ, ngành, địa phương và tinh thần phối hợp chặt chẽ trong toàn hệ thống. Quan trọng hơn, đây là nền tảng dữ liệu cốt lõi phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, quản lý tài nguyên hiệu quả hơn, minh bạch hơn, đồng thời thúc đẩy mạnh mẽ tiến trình chuyển đổi số quốc gia.

Sau một năm đầy thiên tai cực đoan, theo Bộ trưởng, đâu là những bài học lớn nhất và những ưu tiên chính sách cấp bách nhất để giúp nông nghiệp chủ động thích ứng trong thời gian tới?

Năm 2025 có thể xem là một trong những năm thiên tai khốc liệt và bất thường nhất trong nhiều thập kỷ, cả về tần suất, cường độ lẫn phạm vi tác động. Trên Biển Đông xuất hiện nhiều cơn bão và áp thấp nhiệt đới; mưa lớn gây lũ vượt mức lịch sử tại nhiều lưu vực; ngập lụt, sạt lở xảy ra trên diện rộng, gây thiệt hại nặng nề về người, tài sản và sinh kế. Đây thực sự là một phép thử lớn đối với năng lực phòng, chống thiên tai và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu của chúng ta.

Trong bối cảnh đó, năng lực chỉ đạo, điều hành và ứng phó đã được nâng lên rõ rệt. Các kịch bản được xây dựng sớm, phương châm “4 tại chỗ” được triển khai thực chất, với tinh thần đặt an toàn tính mạng người dân lên trên hết.

Hệ thống trực ban duy trì 24/24 giờ, bám sát diễn biến để chỉ đạo kịp thời. Hệ thống đê điều, hồ đập và các công trình phòng, chống thiên tai cơ bản vận hành an toàn; nhiều trọng điểm xung yếu được phát hiện, xử lý sớm, góp phần ngăn chặn nguy cơ thảm họa lớn. Công tác dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn tiếp tục giữ vai trò then chốt, giúp địa phương chủ động sơ tán dân, bảo vệ sản xuất và giảm thiểu thiệt hại. Truyền thông cộng đồng được tăng cường, tạo sự tham gia đồng bộ của cả hệ thống chính trị và người dân.

Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy thiên tai đang vượt nhanh khỏi các “ngưỡng thiết kế” truyền thống, diễn biến ngày càng khó lường. Bài học lớn nhất rút ra là chúng ta không thể chỉ dừng ở ứng phó bị động, mà phải chuyển mạnh sang quản trị rủi ro chủ động, phòng ngừa từ sớm, từ xa, dựa trên khoa học, dữ liệu và sự tham gia của cộng đồng.

Từ những bài học đó, thời gian tới, ngành Nông nghiệp và Môi trường xác định một số ưu tiên chính sách cấp bách. Trước hết là hiện đại hóa hệ thống dự báo, cảnh báo, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo để nâng cao độ chính xác và khả năng dự báo sớm.

Cùng với đó là đầu tư hạ tầng thích ứng với biến đổi khí hậu, ưu tiên các vùng tuyến đầu thường xuyên chịu tác động của thiên tai. Ngành cũng tập trung nâng cao năng lực phòng, chống thiên tai ở cơ sở, gắn chặt với bảo vệ sinh kế và tái thiết sau thiên tai, đồng thời coi người dân là chủ thể trong phòng ngừa, ứng phó và phục hồi.

Quan điểm xuyên suốt là chủ động thích ứng, lấy phòng ngừa làm chính, giảm thiểu tối đa thiệt hại và tạo dựng nền tảng an toàn, bền vững cho phát triển nông nghiệp và nông thôn trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt.

Bộ trưởng cho biết những nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm của ngành trong năm 2026 và giai đoạn mới?

Giá trị lớn nhất năm 2025 đó là sự thống nhất ngày càng cao về nhận thức và hành động trong toàn ngành. Từ Trung ương đến địa phương, từ cơ quan quản lý đến các đơn vị thực thi, tinh thần đổi mới tư duy và phương thức phát triển đã từng bước lan tỏa. Ngành Nông nghiệp và Môi trường không còn tiếp cận nhiệm vụ theo từng lĩnh vực riêng lẻ, mà đặt mọi hoạt động trong tổng thể chiến lược phát triển quốc gia, gắn với mục tiêu tăng trưởng xanh, bền vững và bao trùm.

Bên cạnh những kết quả đạt được, chúng tôi cũng thẳng thắn nhìn nhận còn không ít hạn chế: công tác dự báo và phản ứng chính sách trước những vấn đề mới, cấp bách có lúc chưa kịp thời; thể chế và thủ tục hành chính trên một số lĩnh vực còn chồng chéo; kỷ luật, kỷ cương hành chính ở một số nơi chưa thật nghiêm; ô nhiễm môi trường không khí, tác động của thiên tai và biến đổi khí hậu tiếp tục diễn biến phức tạp; hạ tầng phục vụ nông nghiệp, nông thôn và bảo vệ môi trường còn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.

Bước sang năm 2026 và giai đoạn tiếp theo, ngành Nông nghiệp và Môi trường xác định rõ khát vọng không chỉ là tăng trưởng về quy mô, mà là kiến tạo một nền nông nghiệp hiện đại, sinh thái, có sức cạnh tranh toàn cầu; đồng thời, xây dựng hệ thống quản lý tài nguyên và môi trường minh bạch, hiệu quả, bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế và bảo vệ không gian sống của đất nước.

Trọng tâm trong điều hành là đổi mới căn bản phương pháp làm việc, chuyển từ tư duy hành chính sang tư duy kiến tạo phát triển; lấy hiệu quả thực chất, đo đếm được bằng kết quả cụ thể làm thước đo chủ yếu. Kỷ luật, kỷ cương hành chính sẽ tiếp tục được siết chặt, gắn rõ với trách nhiệm cá nhân, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu. Bộ tập trung xử lý những việc khó, việc mới, những tồn tại kéo dài, với tinh thần tiếp cận trực diện, xác định rõ nguyên nhân, thẩm quyền và lộ trình giải quyết.

Công tác phân công, phân nhiệm được thực hiện theo nguyên tắc “rõ người, rõ việc, rõ tiến độ, rõ sản phẩm”, hạn chế tối đa chồng chéo, né tránh và đùn đẩy trách nhiệm. Kiểm tra, giám sát được tăng cường để bảo đảm chỉ đạo đi vào thực chất, không bị “nghẽn” trong khâu thực thi. Đồng thời, Bộ coi trọng đối thoại, lắng nghe ý kiến từ địa phương, doanh nghiệp và người dân như một kênh quan trọng để hoàn thiện chính sách và nâng cao chất lượng điều hành.

Trong giai đoạn 2026–2030, ngành tập trung tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, nâng cao năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu và phát huy hiệu quả các nguồn lực cho phát triển nông nghiệp bền vững. Trọng tâm là hoàn thiện thể chế; nâng cao năng lực quản lý, giám sát; tăng cường phối hợp liên ngành; huy động hiệu quả nguồn lực xã hội, khoa học, công nghệ và hợp tác quốc tế.

Theo đó, một số nhiệm vụ then chốt gồm: tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy theo hướng hiệu lực, hiệu quả; kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc từ thực tiễn, nhất là ở cấp địa phương; hoàn thiện chính sách thúc đẩy tăng trưởng ngành và xuất khẩu nông, lâm, thủy sản; đầu tư hạ tầng cho nông nghiệp, nông thôn và quản lý tài nguyên; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, năng lực thực thi công vụ; đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ.

Với định hướng đó, ngành Nông nghiệp và Môi trường xác định rõ vai trò kiến tạo, dẫn dắt và đồng hành cùng người dân, doanh nghiệp và địa phương, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh, xanh và bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16 -23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-

Categories: The Latest News

Chính sách tiền tệ: ưu tiên mục tiêu dài hạn, tạo tiền đề cho chu kỳ tăng trưởng mới

Tue, 02/17/2026 - 06:08
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Thanh Hà đã có cuộc trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy về định hướng điều hành chính sách tiền tệ năm 2026, trong đó đặc biệt nhấn mạnh vai trò của việc phối hợp hiệu quả giữa chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa, phát triển thị trường vốn bền vững.

Thưa ông, năm 2025 kinh tế thế giới tiếp tục trải qua nhiều cú sốc và khó dự báo nhưng kinh tế Việt Nam vẫn duy trì được sức chống chịu, các chỉ tiêu lớn đạt mục tiêu của Quốc hội và Chính phủ đề ra. Những thách thức trong năm qua đã được Ngân hàng Nhà nước ứng phó và xử lý ra sao trong quá trình điều hành chính sách tiền tệ nhằm giữ ổn định kinh tế vĩ mô và thúc đẩy tăng trưởng?

Năm 2025 là một năm đầy khó khăn, thách thức đối với điều hành kinh tế vĩ mô nói chung và công tác điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước nói riêng.

Trong bối cảnh đó, bám sát chủ trương của Đảng, các Nghị quyết của Quốc hội, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước luôn kiên định, chủ động, linh hoạt trong điều hành chính sách tiền tệ để cân bằng nhiều mục tiêu quan trọng: kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối, duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý, hỗ trợ doanh nghiệp và người dân tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng với chi phí phù hợp.

Đồng thời, chính sách tiền tệ được điều hành với sự phối hợp chặt chẽ cùng chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác, phản ứng nhanh nhạy, theo sát với diễn biến kinh tế thế giới và trong nước. Song song với đó, các giải pháp điều hành tín dụng được thực hiện hiệu quả, hướng dòng vốn tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng kinh tế theo chỉ đạo của Chính phủ, kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro.

Với việc triển khai đồng bộ các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ, mặt bằng lãi suất cho vay tiếp tục có xu hướng giảm (đến ngày 30/11/2025, lãi suất cho vay bình quân của các giao dịch phát sinh mới ở mức 6,96%/năm, tương đương so với cuối năm 2024),  doanh nghiệp và người dân đang tiếp cận vốn vay với lãi suất thấp hơn trước đây. Thị trường ngoại tệ hoạt động thông suốt, các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp của nền kinh tế được đáp ứng đầy đủ, kịp thời; tỷ giá USD/VND diễn biến linh hoạt, phù hợp với điều kiện thị trường.

Đến ngày 31/12/2025, dư nợ tín dụng nền kinh tế đạt trên 18,58 triệu tỷ đồng, tăng 19,01% so với cuối năm 2024; cơ cấu tín dụng phù hợp với cơ cấu nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu tín dụng của người dân, doanh nghiệp. Hoạt động thanh toán và chuyên đổi số diễn ra mạnh mẽ, gia tăng nhiều tiện ích và nâng cao trải nghiệm cho khách hàng trong sử dụng dịch vụ ngân hàng trên nền tảng số.

Với những thành quả nêu trên, có thể khẳng định rằng công tác điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước trong năm 2025 đã phát huy tốt vai trò “trụ cột” trong  việc giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, từ đó tạo cơ sở, nền tảng quan trọng hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững.

Thưa ông, sau một giai đoạn chính sách tiền tệ được nới lỏng để hỗ trợ tăng trưởng, các tổ chức quốc tế đánh giá dư địa điều hành của Ngân hàng Nhà nước hiện nay rất hạn hẹp, thể hiện qua tỷ lệ tín dụng trên GDP đang ở mức cao, trên dưới 145%. Trong bối cảnh đó, ông đánh giá như thế nào về vai trò điều phối giữa chính sách tiền tệ, tài khóa và thị trường vốn để giảm áp lực cho hệ thống ngân hàng?

Thực tế tại Việt Nam cũng như kinh nghiệm quốc tế cho thấy chính sách tiền tệ cần ưu tiên mục tiêu dài hạn là kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Còn chính sách tài khóa với công cụ chi tiêu tài khóa, đầu tư công và điều chỉnh các sắc thuế tác động trực tiếp vào tiêu dùng, đầu tư, thu hút FDI, xuất khẩu của quốc gia, cùng với đó là tổng cầu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bên cạnh đó, một vai trò quan trọng nữa của chi tiêu ngân sách đối với tăng trưởng là thông qua “hiệu ứng vốn mồi”: triển khai các dự án đầu tư công sẽ kéo theo đầu tư tư nhân, tạo công ăn việc làm và kích thích tiêu dùng. Có thể nói, chính sách tài khóa có vai trò rất lớn trong thúc đẩy tổng cầu của nền kinh tế.

Song song với chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa, các chính sách thúc đẩy phát triển thị trường vốn (thị trường cổ phiếu, trái phiếu) cũng đóng vai trò là “xương sống” của nền kinh tế, giúp huy động vốn trung, dài hạn hiệu quả cho doanh nghiệp, Chính phủ để đầu tư sản xuất, cơ sở hạ tầng, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giảm sự phụ thuộc vào nguồn vốn tín dụng ngân hàng. Qua đó, góp phần phân bổ nguồn lực hiệu quả và tạo điều kiện cho đổi mới sáng tạo, hướng tới một hệ thống tài chính đa dạng, minh bạch, an toàn và bền vững.

Ngân hàng Nhà nước thường xuyên phối hợp chặt chẽ với Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan để triển khai hiệu quả các giải pháp tài khóa, tiền tệ; chủ động, tích cực phối hợp trao đổi các thông tin về thị trường tiền tệ, thị trường trái phiếu chính phủ, việc điều hành ngân quỹ nhà nước, tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước tại các ngân hàng thương mại… để tăng cường sự phối hợp giữa công tác điều hành chính sách tiền tệ  và chính sách tài khóa nhằm thực hiện các mục tiêu về kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Thưa Phó Thống đốc, trong năm 2026, mức độ liều lượng và sự ưu tiên giữa chính sách tiền tệ và tài khóa nên theo hướng nào để nâng cao hiệu quả điều hành cũng như tạo dư địa cho tăng trưởng bền vững?

Bước sang năm 2026 và giai đoạn 2026-2030, để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội mà Quốc hội, Chính phủ đề ra, cần tiếp tục có sự phối hợp chặt chẽ, hỗ trợ tích cực lẫn nhau giữa chính sách tiền tệ, tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác để phát huy hiệu quả và thực hiện mục tiêu giữ vững ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế.

Trong đó, trọng tâm là nâng cao chất lượng phối hợp giữa các chính sách trên cơ sở bám sát diễn biến thực tiễn, chia sẻ thông tin kịp thời; đồng thời, phát huy đúng vai trò của từng chính sách để hướng tới phát triển bền vững. Trong bối cảnh dư địa của chính sách tiền tệ được đánh giá là rất hạn hẹp như hiện nay, cần tập trung ưu tiên mở rộng chính sách tài khóa có trọng tâm, trọng điểm, là trụ cột để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ hiệu quả cho chính sách tiền tệ. Đồng thời, cần tiếp tục đẩy mạnh các giải pháp thúc đẩy thị trường vốn phát triển an toàn, bền vững, trở thành kênh cung ứng vốn trung, dài hạn chủ yếu cho nền kinh tế, qua đó đảm bảo đáp ứng tốt nhu cầu vốn cho tăng trưởng cao thời gian tới.

Với những dự báo về tình hình kinh tế thế giới và khu vực, những mục tiêu, định hướng trong điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước năm 2026 là gì, thưa ông?

Năm 2026, kinh tế thế giới và khu vực được dự báo tiếp tục đối mặt với nhiều rủi ro. Điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục kiên định ưu tiên mục tiêu kiểm soát lạm phát, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững; đồng thời, phát huy bài học kinh nghiệm từ giai đoạn 2021-2025 để có quyết định điều hành đồng bộ các công cụ và giải pháp với thời điểm và liều lượng hợp lý, phù hợp với bối cảnh thực tiễn.

Chính sách tiền tệ tiếp tục tăng cường phối hợp với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác để giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, củng cố các cân đối lớn của nền kinh tế, đặc biệt trong giai đoạn đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ.

Ngân hàng Nhà nước tiếp tục chỉ đạo các tổ chức tín dụng tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng kinh tế theo chỉ đạo của Chính phủ; kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro; tăng cường rà soát, đơn giản hóa thủ tục cấp tín dụng, áp dụng chuyển đổi số vào quy trình cấp tín dụng, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng, đảm bảo chặt chẽ, an toàn.

Thể chế pháp luật ngân hàng tiếp tục được hoàn thiện để đảm bảo cơ sở pháp lý đồng bộ, thuận lợi cho điều hành chính sách tiền tệ, thúc đẩy phát triển thị trường tiền tệ và hội nhập quốc tế.

Ngân hàng Nhà nước cũng chú trọng thực hiện các giải pháp như nâng cao năng lực thanh tra, giám sát, kiểm tra các lĩnh vực rủi ro, nợ xấu, đảm bảo an toàn và lành mạnh hệ thống tổ chức tín dụng, thúc đẩy chuyển đổi số, tăng cường năng lực quản trị và bảo đảm an ninh, an toàn hệ thống thanh toán.

Những giải pháp này sẽ tạo nền tảng ổn định, hỗ trợ điều hành chính sách tiền tệ hiệu quả, duy trì thanh khoản, ổn định tỷ giá, đồng thời đảm bảo niềm tin của người dân, doanh nghiệp và nhà đầu tư.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-

Categories: The Latest News

Xây dựng nền kinh tế dữ liệu Việt Nam phát triển nhanh, an toàn, mở nhưng có kiểm soát

Tue, 02/17/2026 - 06:08
Trong bài phỏng vấn dành riêng cho Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy trước thềm năm mới 2026, Đại tướng Lương Tam Quang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an, Chủ tịch Hiệp hội Dữ liệu quốc gia, khẳng định dữ liệu được xác định là tài sản chiến lược gắn liền với chủ quyền quốc gia, do vậy, việc bảo đảm an ninh mạng, an ninh dữ liệu, an toàn thông tin của tổ chức và cá nhân có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với ổn định chính trị, phát triển bền vững và tự chủ chiến lược của đất nước.

Thưa Bộ trưởng, trong bối cảnh kinh tế số phát triển nhanh, đất nước bước vào giai đoạn bình minh của kỷ nguyên số, dữ liệu đã trở thành “nguồn tài nguyên mới”, Bộ trưởng đánh giá như thế nào về vai trò then chốt của dữ liệu trong sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc?

Vai trò của dữ liệu đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam trong kỷ nguyên mới được Đảng, Nhà nước, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước nhiều lần nhấn mạnh. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị đã xác định rõ quan điểm “làm giàu, khai thác tối đa tiềm năng của dữ liệu, đưa dữ liệu thành tư liệu sản xuất chính, thúc đẩy phát triển nhanh cơ sở dữ liệu lớn, công nghiệp dữ liệu, kinh tế dữ liệu”. Đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm tại buổi làm việc với Trung tâm Dữ liệu quốc gia ngày 29/12/2025 đã khẳng định: “Dữ liệu đã trở thành một nguồn lực chiến lược, một loại tài nguyên mới, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với năng lực quản trị quốc gia, sức cạnh tranh của nền kinh tế và chất lượng đời sống của nhân dân”.

Trên thế giới, nhiều quốc gia đã khai thác hiệu quả sức mạnh của dữ liệu trong tiến trình chuyển đổi quốc gia. Theo Ngân hàng Thế giới, dữ liệu và công nghệ số có thể đóng góp từ 20-30% tăng trưởng GDP tại các nền kinh tế đang phát triển trong giai đoạn tới. Việt Nam có nhiều lợi thế với hơn 70% dân số sử dụng Internet; kinh tế số hiện đóng góp gián tiếp khoảng 12-18% GDP, tạo nền tảng quan trọng để phát triển kinh tế dữ liệu. Điều này cho thấy tăng trưởng kinh tế trong thời gian tới sẽ ngày càng phụ thuộc vào năng lực tạo lập, kết nối và khai thác dữ liệu trong các ngành, lĩnh vực.

Cùng với đó, dữ liệu là nền tảng cốt lõi của quản trị quốc gia hiện đại. Việc hình thành các cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, đất đai, doanh nghiệp, tài chính, bảo hiểm... và mới đây là đưa Trung tâm Dữ liệu quốc gia đi vào hoạt động đã tạo điều kiện để Nhà nước chuyển mạnh từ mô hình quản lý thủ công sang quản trị dựa trên dữ liệu và bằng chứng; đã góp phần cắt giảm hàng trăm thủ tục hành chính, tiết kiệm mỗi năm hàng nghìn tỷ đồng chi phí xã hội, đồng thời nâng cao tính minh bạch, hiệu lực và hiệu quả trong điều hành của bộ máy nhà nước.

Dữ liệu hiện nay vừa là tài sản, vừa là nguồn lực sản xuất. Vậy, xin Bộ trưởng chia sẻ quan điểm về an ninh và chủ quyền dữ liệu quốc gia trong kỷ nguyên số hóa?

Nghị quyết số 57/NQ-TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị xác định quan điểm chỉ đạo “Bảo đảm chủ quyền quốc gia trên không gian mạng; bảo đảm an ninh mạng, an ninh dữ liệu, an toàn thông tin của tổ chức và cá nhân là yêu cầu xuyên suốt, không thể tách rời trong quá trình phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”. Thực tiễn cho thấy đây là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với ổn định chính trị, phát triển bền vững và tự chủ chiến lược của đất nước.

Song song với quá trình chuyển đổi số quốc gia, Việt Nam đã có cách tiếp cận chủ động trong bảo đảm chủ quyền và an ninh dữ liệu. Trong đó: (i) Dữ liệu được xác định là tài sản chiến lược gắn liền với chủ quyền quốc gia; việc thu thập, lưu trữ, xử lý, khai thác và chia sẻ dữ liệu quốc gia phải được Nhà nước quản lý thống nhất và bảo đảm bằng pháp luật.

(ii) An ninh dữ liệu là điều kiện tiên quyết của chuyển đổi số và phát triển kinh tế số; an ninh dữ liệu phải được bảo đảm xuyên suốt toàn bộ vòng đời dữ liệu, gắn chặt với bảo vệ quyền riêng tư và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và công dân.

(iii) Chủ quyền dữ liệu phải gắn với làm chủ hạ tầng và nền tảng số quốc gia; theo đó, ưu tiên xây dựng hạ tầng dữ liệu, trung tâm dữ liệu và các nền tảng số trọng yếu do Việt Nam làm chủ, đồng thời quản lý chặt chẽ việc chuyển dữ liệu ra nước ngoài, thúc đẩy phát triển các công nghệ dữ liệu cốt lõi.

(iv) Bảo đảm an ninh và chủ quyền dữ liệu là trách nhiệm chung của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, trong đó Nhà nước giữ vai trò chủ đạo về thể chế và tổ chức thực thi; các chủ thể tham gia tạo lập, khai thác dữ liệu phải tuân thủ nghiêm các quy định về an ninh, an toàn dữ liệu. Việc bảo vệ chủ quyền dữ liệu không đồng nghĩa với hạn chế chia sẻ dữ liệu, mà hướng tới khai thác hiệu quả dữ liệu phục vụ phát triển kinh tế  - xã hội trên cơ sở pháp luật và yêu cầu đảm bảo chủ quyền, an ninh quốc gia.

Thưa Bộ trưởng, kinh tế dữ liệu đang mở ra cơ hội mới cho doanh nghiệp khởi nghiệp và doanh nghiệp công nghệ, Bộ Công an có những biện pháp gì để bảo đảm an toàn, an ninh khi doanh nghiệp thu thập, lưu trữ và xử lý dữ liệu số quy mô lớn?

Với chức năng quản lý nhà nước về an ninh, trật tự, Bộ Công an cam kết sẽ là người đồng hành với doanh nghiệp để cùng xây dựng nền kinh tế dữ liệu an toàn, minh bạch, bền vững.

Một số giải pháp trọng tâm đã, đang và sẽ được triển khai, đó là:

Thứ nhất, tiếp tục tham mưu hoàn thiện thể chế, pháp luật về dữ liệu, trước mắt là Luật An ninh dữ liệu, nhằm thiết lập khung pháp lý thống nhất điều chỉnh toàn bộ vòng đời dữ liệu, làm rõ trách nhiệm của các chủ thể liên quan, phân loại và bảo vệ dữ liệu quan trọng, dữ liệu nhạy cảm và dữ liệu cốt lõi quốc gia, đồng thời tăng cường cơ chế đánh giá tác động, kiểm tra, giám sát và chế tài bảo đảm tuân thủ.

Thứ hai, xây dựng và phát triển hạ tầng dữ liệu, hạ tầng số an toàn, độc lập và có khả năng kiểm soát ở tầm quốc gia; ưu tiên đầu tư trung tâm dữ liệu, nền tảng điện toán đám mây trong nước đạt tiêu chuẩn an toàn cao, kiểm soát chặt chẽ việc lưu trữ, xử lý dữ liệu quan trọng và dữ liệu cá nhân quy mô lớn, đặc biệt là dữ liệu xuyên biên giới, gắn với hệ thống giám sát, cảnh báo sớm và phối hợp ứng phó sự cố.

Thứ ba, góp phần nâng cao năng lực của doanh nghiệp và chất lượng nguồn nhân lực về bảo vệ và quản trị dữ liệu thông qua việc ban hành, bảo đảm việc thực hiện tiêu chuẩn, hướng dẫn kỹ thuật bảo vệ an ninh dữ liệu và đẩy mạnh đào tạo chuyên sâu.

Thứ tư, tăng cường hợp tác quốc tế về an ninh dữ liệu trên cơ sở bảo đảm tự chủ, chủ quyền dữ liệu, tiếp thu kinh nghiệm quốc tế đồng thời kiên định nguyên tắc Nhà nước giữ quyền quyết định đối với dữ liệu quan trọng và dữ liệu cốt lõi quốc gia, tránh phụ thuộc về công nghệ và hạ tầng.

Thưa Bộ trưởng, kinh tế dữ liệu không chỉ là thu thập, mà còn là phân tích, khai thác giá trị. Trong chiến lược an ninh mạng quốc gia, Bộ Công an sẽ hỗ trợ như thế nào để Việt Nam có thể xây dựng năng lực khai thác dữ liệu thông minh (AI - machine learning) một cách an toàn?

Trong triển khai Nghị quyết của Bộ Chính trị về Chiến lược an ninh mạng quốc gia, Bộ Công an tập trung xây dựng môi trường an toàn nhằm thúc đẩy Việt Nam khai thác dữ liệu thông minh thông qua trí tuệ nhân tạo (AI, machine learning) một cách bền vững, có kiểm soát, gắn chặt với bảo đảm an ninh quốc gia, dựa trên các định hướng trọng tâm sau:

Một là, hoàn thiện thể chế và hành lang pháp lý để xác lập “ranh giới an toàn” cho AI và khai thác dữ liệu; tham gia xây dựng khung pháp lý về an ninh mạng, an ninh dữ liệu và bảo vệ dữ liệu cá nhân, làm rõ khái niệm dữ liệu nhạy cảm, dữ liệu cốt lõi quốc gia và trách nhiệm pháp lý của các tổ chức, doanh nghiệp trong vòng đời AI, qua đó kiểm soát rủi ro và ngăn ngừa lạm dụng.

Hai là, tăng cường bảo đảm an ninh dữ liệu - nền tảng cốt lõi của AI an toàn; nâng cao năng lực bảo vệ dữ liệu quốc gia, giám sát và ứng phó với các rủi ro mới phát sinh từ ứng dụng AI như thao túng dữ liệu, giả mạo thông tin, xâm phạm quyền riêng tư, tạo điều kiện để AI được triển khai an toàn trong các lĩnh vực nhạy cảm.

Ba là, phối hợp xây dựng hạ tầng và môi trường khai thác dữ liệu an toàn, phát triển trung tâm dữ liệu và nền tảng số đáp ứng yêu cầu xử lý dữ liệu lớn, huấn luyện AI; đồng thời kiểm soát chặt chẽ việc lưu trữ, xử lý dữ liệu quan trọng, dữ liệu cá nhân quy mô lớn, kể cả dữ liệu xuyên biên giới.

Bốn là, thúc đẩy phát triển AI an toàn, có trách nhiệm, gắn với bảo vệ quyền con người và dữ liệu cá nhân, an ninh con người, qua đó củng cố niềm tin xã hội - điều kiện tiên quyết để mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng dữ liệu phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc gia.

Thưa Bộ trưởng, trong thực tiễn, dữ liệu cá nhân và dữ liệu nhạy cảm có nguy cơ bị xâm phạm nếu hệ thống bảo mật yếu. Xin Bộ trưởng cho biết Bộ Công an định hướng như thế nào để vừa thúc đẩy lưu thông dữ liệu, vừa bảo vệ quyền riêng tư của người dân?

Những năm qua, tình trạng xâm phạm dữ liệu cá nhân tại Việt Nam ngày càng diễn biến phức tạp, có những vụ việc gây thiệt hại lớn cho cá nhân và tổ chức; đã phát hiện nhiều cuộc tấn công mạng quy mô lớn tập trung vào đánh cắp dữ liệu, đặc biệt là dữ liệu cá nhân nhạy cảm. Trước tình hình đó, năm 2025, Bộ Công an đã tham mưu Chính phủ trình Quốc hội ban hành Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân số 91/2025/QH15 và Nghị định số 356/2025/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật, có hiệu lực từ ngày 1/1/2026. Đây là khung pháp lý quan trọng nhằm nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật, bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế dữ liệu và bảo vệ quyền riêng tư của người dân.

Theo quy định của pháp luật, việc lưu thông và khai thác dữ liệu cần tuân thủ một số nguyên tắc chủ yếu. (i) Xác lập nguyên tắc “lưu thông có kiểm soát” thay cho lưu thông tự do dữ liệu; làm rõ quyền của người dân đối với dữ liệu cá nhân và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp trong quá trình xử lý dữ liệu, coi quyền riêng tư là ranh giới pháp lý của mọi hoạt động khai thác. (ii) Thực hiện phân loại dữ liệu theo quy định pháp luật để áp dụng cơ chế lưu thông phù hợp, trong đó dữ liệu phục vụ quản lý, phát triển kinh tế - xã hội được khuyến khích chia sẻ, còn dữ liệu liên quan trực tiếp đến đời sống riêng tư và an ninh, trật tự xã hội phải được bảo vệ ở mức cao hơn.

(iii) Thúc đẩy lưu thông dữ liệu gắn với các biện pháp bảo vệ kỹ thuật và tăng cường giám sát, xử lý nghiêm vi phạm; bảo vệ quyền riêng tư cần được thiết kế ngay từ hệ thống thông qua các giải pháp như mã hóa, kiểm soát truy cập, ẩn danh hóa và giám sát việc sử dụng dữ liệu. (iv) Đề cao vai trò của sự đồng thuận và niềm tin của người dân, bảo đảm người dân được biết, được quyết định và thực hiện đầy đủ các quyền đối với dữ liệu cá nhân theo quy định pháp luật, coi đây là điều kiện tiên quyết để hình thành lưu thông dữ liệu bền vững phục vụ chuyển đổi số.

Việc xây dựng cơ chế chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan Nhà nước, doanh nghiệp và tổ chức quốc tế là vô cùng quan trọng. Xin Bộ trưởng chia sẻ về những sáng kiến phối hợp liên ngành để thúc đẩy chia sẻ dữ liệu minh bạch và hiệu quả?

Việc chia sẻ dữ liệu là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, mang tính đột phá mà Bộ Công an đang triển khai quyết liệt. Đây không chỉ là vấn đề kỹ thuật, mà còn là vấn đề tư duy, là vấn đề thể chế, văn hóa trong bộ máy nhà nước. Thời gian qua, Bộ Công an đã phối hợp với các bộ, ngành tham mưu Đảng, Nhà nước ban hành nhiều chủ trương, chính sách quan trọng nhằm thúc đẩy kết nối, chia sẻ dữ liệu trong hệ thống chính trị, như các kế hoạch, nghị quyết và nghị định về chuyển đổi số liên thông, kết nối dữ liệu bắt buộc và tạo lập dữ liệu phục vụ chuyển đổi số toàn diện. Tuy nhiên, kết quả đến nay vẫn chưa đạt kỳ vọng.

Thời gian tới, Bộ Công an sẽ tập trung thực hiện một số nhiệm vụ sau:

Một, tiếp tục tham mưu Chính phủ chỉ đạo người đứng đầu các bộ, ngành nâng cao trách nhiệm, quyết liệt lãnh đạo, điều hành công tác xây dựng cơ sở dữ liệu; khẩn trương hoàn thành tạo lập, cập nhật, số hóa dữ liệu đáp ứng yêu cầu “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”, đồng thời đẩy mạnh liên thông, kết nối giữa các cơ sở dữ liệu để tối đa hóa việc thay thế thành phần hồ sơ, cắt giảm thủ tục hành chính.

Hai, tập trung xây dựng nền tảng kỹ thuật và chuẩn hóa, phát triển các nền tảng số quốc gia và hệ thống API chuẩn hóa cho phép các cơ quan nhà nước kết nối, trao đổi dữ liệu an toàn, hiệu quả theo thời gian thực, gắn với mã hóa, ghi nhật ký và tuân thủ các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật thống nhất về định dạng, giao thức và bảo mật, tạo điều kiện để các hệ thống thông tin “kết nối”, chia sẻ dữ liệu.

Ba, phát huy vai trò của Hiệp hội Dữ liệu quốc gia trong thiết lập cơ chế hợp tác công - tư, huy động nguồn lực từ doanh nghiệp để làm giàu kho dữ liệu quốc gia.

Các mối đe dọa từ dữ liệu giả mạo, lừa đảo qua dữ liệu ngày càng tinh vi, Bộ Công an có những giải pháp kỹ thuật và chiến lược nào để đối phó với các mối đe dọa này, thưa Bộ trưởng?

Bộ Công an đã có chiến lược và nhiều giải pháp chủ động ứng phó các mối đe dọa từ dữ liệu giả mạo, lừa đảo qua dữ liệu, trong đó:

Thứ nhất, tham mưu Đảng, Nhà nước ban hành Chiến lược An ninh mạng quốc gia, Luật An ninh mạng từ năm 2018, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân và tổ chức triển khai có hiệu quả trong thực tiễn.

Thứ hai, nâng cao năng lực giám sát, phát hiện và cảnh báo sớm ở quy mô quốc gia thông qua các hệ thống theo dõi, phân tích, nhận diện hành vi bất thường trên không gian mạng, kịp thời phát hiện và ngăn chặn các chiến dịch lừa đảo, giả mạo danh tính và phát tán dữ liệu sai lệch ngay từ sớm.

Thứ ba, tăng cường điều tra, xử lý nghiêm các loại tội phạm sử dụng công nghệ cao, tập trung triệt phá các đường dây lừa đảo trực tuyến và mua bán dữ liệu cá nhân trái phép, qua đó tạo răn đe, lập lại kỷ cương trong môi trường số và củng cố niềm tin xã hội.

Thứ tư, chú trọng bảo vệ dữ liệu gốc, dữ liệu chuẩn như “tuyến phòng thủ đầu tiên” trước dữ liệu giả mạo thông qua các cơ chế xác thực, đối soát, kiểm soát và truy vết việc truy cập, sử dụng dữ liệu, góp phần nâng cao độ tin cậy của thông tin và thu hẹp không gian tồn tại của hành vi lừa đảo dựa trên dữ liệu sai lệch.

Thứ năm, đẩy mạnh công tác phòng ngừa xã hội, nâng cao nhận thức của người dân bằng việc thường xuyên công khai phương thức, thủ đoạn mới của tội phạm công nghệ cao, hướng dẫn kỹ năng nhận diện lừa đảo và bảo vệ dữ liệu cá nhân, coi đây là giải pháp bền vững từ gốc.

Thứ sáu, tăng cường phối hợp liên ngành và hợp tác quốc tế trong phòng, chống các mối đe dọa mạng và tội phạm dữ liệu xuyên biên giới, thông qua chia sẻ thông tin, phối hợp điều tra và tiếp thu kinh nghiệm quốc tế, đáp ứng yêu cầu bảo vệ an ninh trong không gian mạng không có biên giới.

Đối với các doanh nghiệp nước ngoài muốn đầu tư vào lĩnh vực dữ liệu tại Việt Nam, Bộ trưởng khuyến nghị gì về chính sách, quy định pháp luật và trách nhiệm xã hội mà họ cần tuân thủ?

Bộ Công an nhất quán quan điểm khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp nước ngoài đầu tư, kinh doanh hợp pháp trên cơ sở tuân thủ pháp luật Việt Nam, đặc biệt là quy định pháp luật về an ninh mạng, an ninh dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân. Đây không chỉ là nghĩa vụ pháp lý, mà còn là nền tảng để bảo đảm môi trường đầu tư ổn định, bền vững và bình đẳng cho mọi chủ thể tham gia thị trường.

Mọi hoạt động thu thập, lưu trữ, xử lý và chia sẻ dữ liệu tại Việt Nam phải có mục đích hợp pháp, rõ ràng, minh bạch và nằm trong phạm vi cho phép, không xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và cá nhân. Các doanh nghiệp nước ngoài phải bảo đảm an ninh, an toàn dữ liệu; dữ liệu liên quan đến người dân Việt Nam, dữ liệu quan trọng và dữ liệu nhạy cảm phải được bảo vệ ở mức độ cao, bảo đảm không bị khai thác trái phép, không trở thành nguồn phát sinh rủi ro cho an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội.

Doanh nghiệp phải thực hiện các quy định về lưu trữ, xử lý và chuyển dữ liệu xuyên biên giới; không lợi dụng công nghệ, dữ liệu và nền tảng xuyên biên giới để thực hiện hoặc tiếp tay cho các hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam.

Cuối cùng, xin Bộ trưởng chia sẻ về định hướng ưu tiên trong năm 2026 - năm đầu tiên của kỷ nguyên mới, để xây dựng một nền kinh tế dữ liệu an toàn, minh bạch và bền vững cho Việt Nam?

Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị tổng kết công tác năm 2025 và nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm năm 2026 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không còn là sự lựa chọn, mà là yêu cầu bắt buộc để phát triển nhanh và bền vững đất nước trong giai đoạn tới; phương châm của năm 2026 là “Hành động đột phá, lan tỏa kết quả”.

Quán triệt chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Bộ Công an và Hiệp hội Dữ liệu quốc gia thống nhất tầm nhìn xuyên suốt: đồng hành cùng cả nước xây dựng nền kinh tế dữ liệu an toàn, minh bạch và bền vững, lấy con người làm trung tâm. Dữ liệu được khai thác hiệu quả phục vụ phát triển, đặt dưới sự quản lý chặt chẽ của pháp luật, gắn với bảo vệ chủ quyền quốc gia và quyền, lợi ích chính đáng của tổ chức, cá nhân; mọi chính sách và mô hình khai thác dữ liệu đều hướng tới bảo vệ quyền riêng tư, củng cố niềm tin xã hội và hình thành văn hóa sử dụng dữ liệu an toàn, có trách nhiệm, góp phần bảo đảm phát triển thịnh vượng, tự chủ trong kỷ nguyên số.

Ưu tiên chiến lược hàng đầu của Bộ Công an trong năm 2026 là bảo đảm an ninh dữ liệu, an ninh mạng như bộ phận không thể tách rời của an ninh quốc gia. Bộ Công an tiếp tục giữ vai trò nòng cốt trong phòng ngừa, phát hiện, xử lý các mối đe dọa đối với dữ liệu quốc gia, dữ liệu của tổ chức và cá nhân; hoàn thiện các công cụ giám sát, cảnh báo sớm và bảo vệ dữ liệu gốc, dữ liệu quan trọng, tạo dựng “vành đai an toàn” cho nền kinh tế dữ liệu.

Đồng thời, Bộ Công an định hướng thúc đẩy lưu thông dữ liệu có kiểm soát, coi đây là điều kiện quan trọng để phát triển các mô hình kinh tế dữ liệu, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo, với trọng tâm là phối hợp liên ngành trong xây dựng chuẩn dữ liệu, cơ chế chia sẻ, xác thực và truy vết, vừa tháo gỡ điểm nghẽn, vừa bảo đảm tuân thủ pháp luật và quyền riêng tư.

Về phía Hiệp hội Dữ liệu quốc gia, trọng tâm năm 2026 là phát huy vai trò cầu nối giữa Nhà nước, doanh nghiệp và xã hội; thúc đẩy hình thành hệ sinh thái dữ liệu minh bạch, có trách nhiệm; hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực quản trị dữ liệu, tuân thủ pháp luật về bảo vệ dữ liệu và an ninh mạng, triển khai các mô hình khai thác dữ liệu sáng tạo, bền vững; đồng thời, thực hiện tốt vai trò phản biện chính sách, đề xuất giải pháp từ thực tiễn, góp phần xây dựng hành lang pháp lý đồng bộ, khả thi, tiệm cận thông lệ quốc tế và phù hợp điều kiện Việt Nam.

Mục tiêu cao nhất đó là xây dựng nền kinh tế dữ liệu Việt Nam phát triển nhanh nhưng an toàn, mở nhưng có kiểm soát, hiện đại nhưng gắn chặt với chủ quyền, an ninh và lợi ích quốc gia. Trên nền tảng đó, dữ liệu sẽ trở thành nguồn lực quan trọng đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16 - 23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-

Categories: The Latest News

Triển vọng kinh tế năm 2026: Nhìn từ dự báo của các định chế tài chính quốc tế

Tue, 02/17/2026 - 06:08
Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu còn nhiều biến động do bất ổn địa chính trị và biến động thương mại, Việt Nam vẫn là điểm sáng trên “bản đồ” kinh tế thế giới với dự báo tăng trưởng tích cực từ hầu hết các tổ chức quốc tế. Tuy nhiên, khoảng cách giữa kỳ vọng đột phá với mục tiêu tăng trưởng hai con số và các dự báo đang đặt ra những bài toán lớn về cải cách cơ cấu và năng lực thực thi trong năm 2026 cũng như giai đoạn 5 năm 2026-2030...

Nền kinh tế Việt Nam bước vào năm 2026, năm đầu của kế hoạch 5 năm giai đoạn 2026-2030, với những chỉ số vĩ mô tích cực đạt được sau giai đoạn phục hồi 2024-2025. Đây được xem là tiền đề quan trọng cho một chu kỳ tăng trưởng mới với mức tăng trưởng đột phá “hai con số” (trên 10%) để vượt qua bẫy thu nhập trung bình và trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045.

Các báo cáo đánh giá triển vọng tăng trưởng mới nhất từ các định chế tài chính quốc tế như Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) và Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) cùng hàng loạt các ngân hàng thương mại quốc tế đều dự báo triển vọng tăng trưởng của Việt Nam trong năm 2026 là khá tích cực.

SỨC BẬT TỪ NỀN TẢNG VĨ MÔ 

Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu đang chịu sức ép từ sự phân mảnh địa chính trị và sự đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu, các dự báo đều nhận định Việt Nam tiếp tục là “ngôi sao sáng” của khu vực ASEAN. Tuy vậy, mức độ lạc quan có sự phân hóa rõ rệt.

Nhóm lạc quan nhất, dẫn đầu là UOB và Standard Chartered, đặt niềm tin vào sự phục hồi của chu kỳ thương mại toàn cầu và vai trò mắt xích quan trọng của Việt Nam. Trong báo cáo Tăng trưởng kinh tế quý 1/2026, UOB giữ nguyên dự báo tăng trưởng GDP cả năm 2026 của Việt Nam ở mức 7,5%. Cơ sở cho con số này là nền tăng trưởng tốt của năm 2025 và sự bùng nổ của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thực hiện, đặc biệt trong lĩnh vực bán dẫn và năng lượng tái tạo.

UOB nhận định rằng, giai đoạn chuẩn bị hạ tầng và pháp lý, năm 2026 là thời điểm các “đại bàng” công nghệ bắt đầu đưa các dây chuyền sản xuất trị giá hàng tỷ USD vào vận hành thương mại, tạo ra cú hích lớn cho sản lượng công nghiệp.

Đồng quan điểm, Standard Chartered dự báo mức tăng trưởng 7,2%, nhấn mạnh vào sự phục hồi của sức mua nội địa và sự quay trở lại của khách du lịch quốc tế, dự kiến vượt mức đỉnh trước đại dịch. Ngân hàng này cho rằng, các chính sách tài khóa mở rộng và việc duy trì lãi suất thấp của Ngân hàng Nhà nước trong suốt năm 2025 đã thẩm thấu vào nền kinh tế, giúp doanh nghiệp trong nước dần hồi phục sức khỏe tài chính.

Ở chiều thận trọng hơn, các định chế đa phương như ADB, WB và OECD đưa ra các dự báo tăng trưởng năm 2026 của Việt Nam dao động trong khoảng 6,0% đến 6,5%. IMF thậm chí còn dè dặt hơn với mức dự báo 5,6%. Các định chế tài chính quốc tế tài chính này cho rằng những rủi ro từ sự bất ổn kinh tế thế giới sẽ tác động tới kinh tế Việt Nam.

Báo cáo của WB cảnh báo rằng, dù nội lực Việt Nam tốt, nhưng độ mở quá lớn của nền kinh tế (với tỷ lệ thương mại trên GDP tới 200%) khiến Việt Nam không thể “miễn nhiễm” trước sự giảm tốc của các đối tác thương mại lớn như Mỹ và EU. Hơn nữa, những rào cản thương mại mới liên quan đến môi trường (như Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon - CBAM của châu Âu) bắt đầu có hiệu lực đầy đủ vào năm 2026 sẽ tạo áp lực chi phí lớn lên hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam.

Dù có sự chênh lệch trong các con số dự báo, nhưng điểm chung trong các dự báo là Việt Nam vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng cao gấp đôi mức trung bình thế giới (2,9-3,1% trong các báo cáo của các định chế tài chính quốc tế). Điều này cho thấy sức kháng cự của nền kinh tế trước những “cú sốc” từ bên ngoài đã được nâng cao và nội lực của nền kinh tế ngày càng được củng cố.

Tuy nhiên, con số 6-7% được các dự báo đưa ra vẫn còn khoảng cách lớn so với mục tiêu tăng trưởng hai con số mà Việt Nam đã đặt ra.

TIẾN TỚI MỤC TIÊU TĂNG TRƯỞNG “HAI CON SỐ”

Tại các diễn đàn kinh tế đầu năm 2026, thông điệp từ Chính phủ đưa ra rất rõ ràng. Để đạt được mục tiêu trở thành nước thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và thu nhập cao vào năm 2045, Việt Nam phải có những năm tăng trưởng đột phá, đạt mức hai con số (trên 10%) để bù đắp cho những giai đoạn chậm lại trước đó. Nhìn vào thực tế năm 2026, khoảng cách từ dự báo 7% (kịch bản tốt) đến mục tiêu 10% là một khoảng trống rất lớn về năng lực sản xuất và hiệu quả nền kinh tế.

Trong nhiều năm qua, dù thu hút FDI đạt mức kỷ lục, kim ngạch xuất khẩu cao và ổn định chính trị, Việt Nam vẫn chưa đạt mức tăng trưởng “hai con số” thần kỳ như Trung Quốc hay Hàn Quốc từng làm được trong giai đoạn cất cánh. Theo các tổ chức quốc tế, có ba yếu tố đang ảnh hưởng tới tiến trình này.

Thứ nhất, giới hạn của mô hình tăng trưởng dựa trên thâm dụng vốn và lao động. Báo cáo của IMF và HSBC chỉ ra rằng động lực tăng trưởng của Việt Nam vẫn phụ thuộc quá nhiều vào việc mở rộng quy mô vốn (đầu tư công, FDI) và lao động giá rẻ, trong khi tăng trưởng năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) – thước đo của hiệu quả và công nghệ – lại cải thiện chậm. Để đạt mức tăng trưởng 10%, một nền kinh tế cần sự bùng nổ về năng suất.

Hiện tại, khu vực kinh tế trong nước, đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân với quy mô nhỏ và vừa, vẫn đang chật vật với khả năng hấp thụ công nghệ và liên kết yếu ớt với khối FDI. Vì vậy, dù có những nhà máy lắp ráp chip hiện đại nhất thế giới, nhưng giá trị gia tăng nội địa vẫn dừng lại ở mức khiêm tốn.

Thứ hai, nút thắt hạ tầng “cứng” và “mềm” chưa được tháo gỡ đồng bộ. Dù cao tốc Bắc - Nam đã thông tuyến, nhưng hệ thống logistics kết nối (cảng biển, đường sắt, kho bãi) vẫn chưa tối ưu, khiến chi phí logistics của Việt Nam vẫn cao hơn mức trung bình khu vực (theo báo cáo của WB). Đáng lưu ý hơn, ADB cho rằng tốc độ phát triển nguồn điện hiện nay của Việt Nam không theo kịp tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, đặc biệt là nhu cầu điện của các ngành công nghệ cao. Vì vậy, với tốc độ tăng trưởng 10%, Việt Nam cần tập trung đầu tư vào những hạ tầng năng lượng cấp thiết.

Thứ ba là sự ách tắc của dòng vốn trong nước. Trong khi dòng vốn FDI chảy mạnh, thì “mạch máu” vốn nội địa lại chưa thực sự thông suốt và chưa chảy mạnh vào sản xuất. Thị trường trái phiếu doanh nghiệp dù đã qua giai đoạn khó khăn nhưng vẫn đang trong giai đoạn phục hồi. Vốn tín dụng vẫn chảy mạnh vào khu vực bất động sản. Điều này khá nghịch lý với việc thúc đẩy tăng trưởng hai con số dựa trên sự bùng nổ đầu tư từ khu vực tư nhân trong nước, thay vì đầu tư công hay vốn ngoại như nhiều quốc gia đã từng làm.

CỞI TRÓI THỂ CHẾ 

Để hướng tới con số tăng trưởng 10% trong những năm tiếp theo, năm 2026 phải là năm của những cải cách về thể chế bên cạnh nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và triển khai các mô hình kinh tế mới.

Theo OECD, dư địa tăng trưởng từ vốn và lao động của Việt Nam đã cạn, dư địa lớn nhất hiện nay nằm ở cải cách thể chế. Quan điểm này cũng khá tương đồng với TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia kinh tế trưởng của BIDV, Thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ Quốc gia, ông cho rằng Việt Nam cần mạnh dạn thí điểm các cơ chế vượt trội (sandbox) cho các mô hình kinh tế mới. Ví dụ, trong lĩnh vực bán dẫn và AI, cần có cơ chế ưu đãi đặc biệt không chỉ về thuế mà còn về thủ tục hành chính, visa cho chuyên gia và cơ chế mua sắm công để kích cầu sản phẩm công nghệ nội địa...

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-Anh Nhi

Categories: The Latest News

Việt Nam đang hướng tới mô hình tăng trưởng mới “Đổi mới 2”

Tue, 02/17/2026 - 06:06
Bài viết phản ánh quan điểm của tác giả về kết quả kinh tế trong năm qua và những thay đổi nền tảng của nền kinh tế có thể dẫn tới mô hình tăng trưởng cao và bền vững mà tác giả gọi là Đổi mới 2.

Năm 2025, các chỉ tiêu kinh tế cơ bản đạt mục tiêu. Nổi bật là tăng trưởng GDP cả năm đạt 8,02%, và là mức tăng trưởng cao nhất trong 15 năm qua nếu trừ giai đoạn tăng trưởng từ nền thấp giai đoạn Covid-19 năm 2022. Trong khi đó, lạm phát cả năm chỉ ở mức 3,31%, thấp hơn so với dự kiến có thể tới 4,5%, và cũng thấp hơn khá nhiều so với trung bình 3,6% trong vòng 5 năm qua.

Các chỉ số phản ánh xu hướng hoạt động kinh tế như bán lẻ hàng hóa (RSI) đạt 9,8% so với cùng kỳ năm trước (yoy), sản xuất công nghiệp IIP đạt 10,1% (yoy), đều là các mức tăng trưởng cải thiện khá tốt sau giai đoạn Covid-19 và quan trọng là đang trên đường trở lại giai đoạn  tăng trưởng bình thường. Chỉ số PMI, phản ánh kỳ vọng của giới sản xuất về các hoạt động kinh tế, cũng được cải thiện, liên tục nằm trên vùng mở rộng 50 điểm trong các tháng gần nhất và cuối năm ở mức 53,8%.

Về xu hướng giá cả, mặc dù có tăng, nhưng chỉ số CPI không cho thấy xu hướng tăng lên nhanh hay tăng mạnh sau một năm nới lỏng phục vụ tăng trưởng. Chỉ số CPI tháng 12/2025 tăng 3,48% (yoy) và lạm phát cơ bản tăng 3,27%, đều không phải là mức cao nhất trong vòng 12 tháng qua. Đáng chú ý, xu hướng tăng của lạm phát còn rất xa so với mục tiêu 4,5% của năm 2025 – con số mục tiêu được hiểu là chấp nhận mức cao để đạt mục tiêu tăng trưởng.

Như vậy, Việt Nam đã đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao đặt ra đầu năm 2025 mà không gây ra lạm phát như lo ngại.

Mặc dù kết quả đạt được trong năm 2025 là ấn tượng, và được thể hiện không chỉ ở các chỉ số kinh tế đề cập trong bài viết này, vẫn còn nhiều yếu tố khiến chúng ta suy nghĩ về tính bền vững.

Thứ nhất, về cơ cấu tăng trưởng. Năm 2025, kim ngạch xuất nhập khẩu đạt kỷ lục 930 tỷ USD, tăng 18,2% so với năm 2024, đưa Việt Nam đứng trong nhóm 15 nước có hoạt động thương mại lớn nhất thế giới, nhưng kim ngạch xuất khẩu dựa chủ yếu vào khu vực có vốn đầu tư nước ngoài FDI, chiếm gần 80%.

Kim ngạch xuất khẩu của khu vực FDI tăng trưởng 26% trong khi kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp trong nước giảm 6% so với năm 2024. Điều này cho thấy khu vực kinh tế trong nước, đối tượng mà các chính sách tiền tệ và tài khóa nhắm tới, thực tế không đạt được sự phát triển như kỳ vọng trong lĩnh vực xuất khẩu.

Thứ hai, về đa dạng hóa thị trường. Mặc dù Việt Nam đã ký và có thỏa thuận thương mại đa phương và song phương với 17 tổ chức và quốc gia, là đối tác chiến lược và chiến lược toàn diện với nhiều quốc gia trên thế giới, FDI và đặc biệt là thương mại được tập trung vào một số đối tác và thị trường chính khiến cho rủi ro từ các chính sách bên ngoài có tác động lớn tới hoạt động kinh tế trong nước.

Theo số liệu đến cuối năm 2025, Trung Quốc là đối tác thương mại lớn, chiếm tới gần 30% kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam và Mỹ là thị trường lớn nhất, chiếm khoảng 30% kim ngạch xuất khẩu. Hệ quả là các cú sốc bên ngoài như thuế quan nhập khẩu của Mỹ hay các rào cản thương mại từ các đối tác như Trung Quốc nếu được áp đặt gần như sẽ ngay lập tức ảnh hưởng tới các hoạt động kinh tế trong nước. Điều này đòi hỏi một chiến lược tổng thể nhằm triển khai hiệu quả các hiệp định và các thỏa thuận chiến lược đã ký, vừa nhằm tôn trọng đối tác rằng chúng ta ký thật làm thật, vừa nhằm giảm thiểu rủi ro từ các cú sốc bên ngoài cho chính chúng ta.

Thứ ba, về động lực tăng trưởng. Chính sách tiền tệ và tăng trưởng tín dụng vẫn đóng vai trò chủ đạo. Theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước, năm 2025, tăng trưởng tín dụng lên tới 19,1%, trong khi trung bình các năm trước đây chỉ khoảng 15%. Tỷ trọng tín dụng so với GDP lên tới 146%, là mức cao nhất trong số các nước có thu nhập trung bình tương đồng như Việt Nam. Trong khi đó, tăng trưởng tiền gửi chỉ vào khoảng 14% khiến cho sức ép tăng lãi suất đến sớm.

Tăng trưởng phụ thuộc tín dụng dẫn tới hệ quả không mong muốn: một mặt, giá tài sản tăng tạo rủi ro bong bóng; mặt khác, chi phí đầu vào cũng tăng nhanh hơn do lãi suất tăng trong khi đáng ra nên ở mức thấp càng lâu càng tốt để hỗ trợ nền sản xuất và kinh tế thực. Điều này đòi hỏi một cách tiếp cận mới về mô hình tăng trưởng, trung hạn là đẩy mạnh vai trò của chính sách tài khóa và dài hạn là sự thay đổi tư duy “làm thế nào”, hướng tới nâng cao năng lực chung của nền kinh tế.

Thứ tư, một động lực tăng trưởng khác được kỳ vọng là chính sách tài khóa và đầu tư công chưa thực sự phát huy vai trò. Tính đến cuối năm 2025, tỷ lệ đầu tư công chỉ đạt 70% so với kế hoạch, trong khi trần thâm hụt ngân sách được nới từ 4 lên 4,5% GDP và tỷ trọng chi tiêu công so với GDP cũng lên tới 7,5%, là mức cao nhất từ năm 2012 đến nay. Điều này cho thấy năng lực quản lý và vận hành chi tiêu đầu tư công chưa đáp ứng yêu cầu và cần cải thiện.

Các lý thuyết kinh tế thường đề cập bốn nguồn lực chính của các hoạt động kinh tế, bao gồm: ba nguồn lực truyền thống là vốn, lao động và đất đai, cùng với nguồn lực thứ tư là khả năng sử dụng ba nguồn lực truyền thống đó – có thể gọi là công nghệ hoặc doanh trí. Ba nguồn lực kinh tế truyền thống là khan hiếm và có giới hạn, do vậy công nghệ/doanh trí sẽ quyết định sự thay đổi tiềm năng hay năng lực của các hoạt động kinh tế về dài hạn.

Các chính sách kinh tế cũng thường theo hướng trọng cầu, tức là tác động phía cầu, với ý tưởng có cầu sẽ dẫn dắt cung. Khi các chính sách kinh tế được đưa ra nhằm mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhưng năng lực của nền kinh tế không đáp ứng, tất yếu sẽ dẫn tới sự tăng giá – lạm phát và nguy cơ bong bóng tài sản. Nói một cách bình dân, kích thích kinh tế trong khi năng lực còn yếu có thể dẫn tới tăng trưởng nóng nhưng không bền vững.

Để hiểu tại sao chúng ta cần một mô hình tăng trưởng mới, hãy bắt đầu bằng việc xác định chúng ta đang ở đâu và có nhiệm vụ gì. Năm 2026, Quốc hội đã thông qua mục tiêu tăng trưởng kinh tế hơn 10%, nhưng đảm bảo tăng trưởng bền vững, kiểm soát lạm phát lạm phát không quá 4,5% và giữ ổn định kinh tế vĩ mô. Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước cũng được yêu cầu điều hành chính sách tiền tệ và tài khóa linh hoạt nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng, đồng thời đảm bảo cân đối các biến số vĩ mô lớn như lạm phát và tỷ giá.

Tuy nhiên, Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính tiền tệ Quốc gia đã đưa ra khuyến nghị với Chính phủ về việc không nên mở rộng chính sách tiền tệ, điều hành thận trọng hơn, do những lo ngại rủi ro đối với nền kinh tế. Hội đồng cũng đề nghị phối hợp một cách hợp lý giữa chính sách tiền tệ với chính sách tài khóa; tập trung vào chuyển đổi số, công nghệ cao, công nghệ thông tin, hạ tầng số, đổi mới sáng tạo.

Ngân hàng Nhà nước sau đó cũng đưa ra mục tiêu tăng trưởng tín dụng 15% cho năm 2026, là mức bình thường trong những năm qua, nhưng thấp hơn mục tiêu 16% đặt ra hồi đầu năm 2025. Ngân hàng Nhà nước cũng đưa ra thông điệp sẽ điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, kiểm soát lạm phát và ổn định tỷ giá và theo dõi chặt chẽ tín dụng vào khu vực rủi ro bong bóng cao là bất động sản.

Như vậy, có thể thấy rằng chúng ta mong muốn tăng trưởng trong một bối cảnh các nguồn lực truyền thống đang ở mức giới hạn. Khuyến cáo của Hội đồng Tư vấn là một cảnh báo quan trọng và trực tiếp về rủi ro của mô hình tăng trưởng phụ thuộc quá nhiều vào chính sách tiền tệ lỏng và tăng trưởng tín dụng. Trong ngắn hạn thì mô hình đó có thể phù hợp, nhưng về dài hạn, đó không phải là một mô hình bền vững.

Lựa chọn thay thế hoặc bổ trợ cho chính sách tiền tệ được nhắc tới nhiều nhất là chính sách tài khóa và đầu tư công. Tuy nhiên, nếu chỉ đơn thuần đẩy mạnh chi tiêu và đầu tư công, đó cũng chưa phải là giải pháp cho mô hình tăng trưởng dài hạn nếu năng lực triển khai đầu tư công hạn chế, hoặc ít nhất còn bị chi phối bởi e ngại sự ràng buộc trách nhiệm và cơ chế.

Ngay cả trong năm 2025, là năm mà quyết tâm tăng trưởng rất cao và Chính phủ quyết tâm thực hiện, tỷ lệ chi tiêu công cũng chỉ ở mức gần đạt kế hoạch. Điều này gắn với một quá trình cải cách hành chính và thể chế, tạo ra cơ chế phù hợp nhằm cởi trói tư duy trong việc thực thi đầu tư công.

Chính phủ đang có các bước đi đúng. Về mục đích đầu tư công, Chính phủ đã khởi động một chương trình phát triển hạ tầng đầy tham vọng, dựa trên nguồn vốn công và tư nhân, với việc triển khai 250 dự án quy mô lớn trải rộng trên toàn quốc – từ giao thông và logistics đến nhà ở và năng lượng – không chỉ nhằm thúc đẩy đầu tư công đơn thuần, mà còn nhằm cải thiện khả năng liên kết và kết nối hạ tầng kinh tế, tạo nền tảng nâng cao năng lực của nền kinh tế về dài hạn.

Về mặt thể chế (mô hình quản trị), năm 2025 được đánh dấu khá rõ nét bởi cam kết cải cách thể chế và nâng cao hiệu quả quản trị. Chính phủ đã nhấn mạnh việc tinh gọn tổ chức bộ máy gắn với phân cấp, phân quyền như một phần trong nỗ lực tổng thể nhằm tăng hiệu quả và trách nhiệm ra quyết định trên toàn quốc với việc sáp nhập các tỉnh, thành phố và tập trung hoạt động của bộ máy hành chính ở cấp cao hơn thay vì sự dàn trải và cồng kềnh tới cấp xã như trước đây.

Về tư duy kinh tế, một cải cách quan trọng là việc ban hành Nghị quyết số 79-NQ/TW về kinh tế nhà nước và Nghị quyết 68-NQ/TW về kinh tế tư nhân. Hai nghị quyết này đều tập trung vào các vấn đề thuộc về nâng cao năng lực của nền kinh tế - là một nhân tố nền tảng có thể thay đổi mô hình tăng trưởng truyền thống, với sự nhấn mạnh vào bốn từ: đổi mới, sáng tạo, quản trị và minh bạch. Hai nghị quyết tạo ra một sự bổ trợ cho nhau, với khu vực kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất của tăng trưởng và tạo việc làm, còn khu vực kinh tế nhà nước giữ vai trò định hướng và ổn định tăng trưởng, tập trung vào các lĩnh vực chiến lược bao gồm năng lượng, hạ tầng và tài chính.

Hai nghị quyết này, nếu triển khai và thực thi nghiêm túc, có thể thay đổi căn bản tình trạng hiện tại của khu vực kinh tế tư nhân là năng lực cạnh tranh yếu, khó tiếp cận vốn và công nghệ; của khu vực kinh tế nhà nước là hiệu quả sử dụng vốn thấp, thiếu minh bạch và quản trị lạc hậu. Nghĩa là, nếu những điều này trở thành hiện thực, cùng với hoạt động đầu tư công hướng tới hạ tầng và cải cách thể chế hướng tới hiệu quả nêu trên, nền kinh tế có thể có sự thay đổi căn bản mô hình tăng trưởng truyền thống vốn dựa phần lớn vào tín dụng trong gần 40 năm qua từ khi Đổi mới năm 1986.

Nếu Đổi mới 1986 giúp chuyển đổi cách nghĩ từ nền kinh tế từ tập trung bao cấp và kế hoạch hóa sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thì những gì đang diễn ra trong năm 2025 và 2026 đánh dấu khởi đầu của sự thay đổi quan trọng trong cách làm. Nói cách khác, sau gần 40 năm loay hoay với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta đã bắt đầu định hình rõ nét hơn làm thế nào để đi trên con đường đó. Tôi cho rằng chúng ta nên gọi đó là Đổi mới 2 để đánh dấu một giai đoạn chuyển biến lớn của cách quản trị quốc gia và cách làm kinh tế.

Thị trường chứng khoán phản ánh các kỳ vọng kinh tế. Năm 2025, thị trường chứng khoán Việt Nam đã có những kết quả nổi bật, không chỉ ở việc chỉ số tăng trưởng tốt, mà còn ở việc tổ chức FTSE Russell đã thông báo chính thức nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi thứ cấp.

Sự kiện nâng hạng không chỉ giúp xác nhận các nỗ lực không mệt mỏi của Chính phủ trong việc phát triển thị trường vốn, một thành phần quan trọng của kinh tế thị trường, mà còn giúp Việt Nam có thể thu hút trở lại các nguồn vốn nước ngoài phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế. Sự quyết tâm trong việc phát triển thị trường vốn, thu hút nguồn lực nước ngoài cho tăng trưởng kinh tế, cũng được thể hiện bởi quyết tâm xây dựng Trung tâm Tài chính quốc tế tại Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng.

Với những nỗ lực trong việc xây dựng nền tảng cho một mô hình tăng trưởng mới và hạ tầng thị trường vốn tiệm cận thông lệ quốc tế, chúng ta hoàn toàn có thể tin tưởng vào sự phát triển bền vững của thị trường chứng khoán Việt Nam. Nếu như trước đây thị trường bị chi phối chủ yếu bởi chu kỳ tiền tệ, bởi sự bơm thổi về doanh nghiệp, dẫn tới bong bóng nở và vỡ, tạo ra các cú tăng giảm lớn, thì từ bây giờ, chúng ta có thể kỳ vọng rằng thị trường sẽ vận hành dựa trên các yếu tố cơ bản của nền kinh tế và doanh nghiệp.

Thực tế, các doanh nghiệp tốt và có triển vọng đã và sẽ được nhà đầu tư tìm đến. Những vụ việc làm giá hay bơm thổi cổ phiếu gần như đã không còn phổ biến. Sự đổi mới về cách làm kinh tế đã dẫn tới sự thay đổi về cách “chơi” chứng khoán: “đầu tư” chứng khoán.

Cuối cùng, tôi muốn gửi tới những nhà đầu tư chứng khoán rằng rất có thể từ nay chúng ta sẽ không còn phải tự hỏi tại sao cùng phụ thuộc vào chính sách tiền tệ nhưng sao chứng khoán nước ngoài không có “cây thông” mà Việt Nam lại nhiều thế. Chúc các bạn một năm mới đầu tư thành côn

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-

Categories: The Latest News

Xuất khẩu năm 2026: Vươn mình trong thách thức

Tue, 02/17/2026 - 06:00
Bước vào năm 2026, năm bản lề cho các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn mới, xuất khẩu tiếp tục giữ vai trò là một trong ba trụ cột quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, hoạt động xuất khẩu còn phải đối mặt với những yêu cầu khắt khe về chất lượng, tính bền vững trong kỷ nguyên xanh và số hóa...

Theo đánh giá từ các bộ, ngành và tổ chức quốc tế, xuất khẩu của Việt Nam năm 2026 được dự báo có nhiều yếu tố thuận lợi để bứt phá về kim ngạch nhờ các lợi thế trong nước và bối cảnh quốc tế. Đó là sự cộng hưởng từ các Hiệp định Thương mại tự do (FTA) thế hệ mới, như Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA), Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Vương quốc Anh và Bắc Ailen (UKVFTA) và Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP); vị thế “mắt xích” trọng yếu của Việt Nam trong chuỗi cung ứng công nghệ cao; năng lực xuất khẩu nông sản “lên ngôi” nhờ chuyển dịch mạnh mẽ từ tư duy “sản xuất” sang “kinh tế nông nghiệp”; hạ tầng logistics và chuyển đổi số quốc gia.

Nhìn lại năm 2025, trong bối cảnh kinh tế và thương mại toàn cầu tiếp tục đối mặt với nhiều biến động phức tạp, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam vẫn bứt phá mạnh mẽ. Theo số liệu từ Cục Thống kê (Bộ Tài chính), tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam năm 2025 đạt mức kỷ lục 475,04 tỷ USD, tăng 17% so với năm trước (năm 2024 đạt 405,53 tỷ USD). Việt Nam tiếp tục khẳng định vị thế là một trong những nền kinh tế có độ mở lớn và sức cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế.

Điểm nhấn đáng chú ý nhất trong cơ cấu xuất khẩu chính là sự đóng góp ổn định và áp đảo của nhóm hàng công nghiệp chế biến, khi chiếm tới 88,7% tổng kim ngạch, tương đương 421,47 tỷ USD. Việc duy trì được tỷ trọng lớn ở nhóm hàng có hàm lượng giá trị gia tăng cao cho thấy sự chuyển dịch đúng đắn trong cơ cấu công nghiệp.

Đặc biệt, năm 2025 ghi nhận sự phát triển vượt bậc của xuất khẩu dịch vụ, tạo ra thế “chân kiềng” vững chắc hỗ trợ cho xuất khẩu hàng hóa. Kim ngạch xuất khẩu dịch vụ năm 2025 ước đạt 30,31 tỷ USD, tăng 18,9% so với năm trước. Trong đó, dịch vụ du lịch đạt 15,22 tỷ USD (chiếm 50,2% tổng kim ngạch dịch vụ, tăng 24,4%) và dịch vụ vận tải đạt 8,8 tỷ USD (chiếm 29%, tăng 23,6%). Sự phục hồi và tăng trưởng của các ngành dịch vụ này không chỉ đóng góp vào tổng kim ngạch, mà còn giúp tối ưu hóa chi phí và nâng cao hiệu quả cho các hoạt động thương mại hàng hóa.

Trong kết quả chung của năm 2025, không thể không nhắc tới vai trò “trụ đỡ” của ngành nông nghiệp, khi xuất khẩu của nhóm hàng nông, lâm, thủy sản đã đạt kỷ lục 70,09 tỷ USD, tăng 12% so với 2024, khẳng định vị thế là “căn bếp của thế giới”. Đây là kết quả của việc định hướng chiến lược phát triển, chuyển từ tư duy sản xuất số lượng sang tạo giá trị gia tăng.

Từ kết quả ấn tượng và nền tảng vững chắc của năm 2025, bước sang năm 2026, xuất khẩu của Việt Nam được dự báo sẽ tiếp tục duy trì đà tăng trưởng nhờ vào sự phục hồi rõ nét của các nền kinh tế lớn là đối tác thương mại hàng đầu như Hoa Kỳ, EU và Trung Quốc. Bên cạnh đó, xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu vẫn đang diễn ra với tốc độ nhanh, trong đó Việt Nam tiếp tục được lựa chọn là điểm đến chiến lược trong chiến dịch “Trung Quốc +1”.

Sự bùng nổ của kinh tế số và thương mại điện tử xuyên biên giới cũng mở ra những ngách thị trường mới cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam. Việc tận dụng các nền tảng số để tiếp cận trực tiếp với người tiêu dùng toàn cầu sẽ giúp giảm bớt các khâu trung gian, từ đó nâng cao biên lợi nhuận và xây dựng thương hiệu hàng hóa Việt Nam bền vững hơn trong năm 2026.

Một trong những động lực quan trọng nhất thúc đẩy xuất khẩu năm 2026 chính là việc khai thác sâu hơn lợi thế từ các FTA thế hệ mới như  CPTPP, EVFTA, UKVFTA và đặc biệt là với RCEP. Việc tham gia vào các chuỗi giá trị trong khu vực này sẽ giúp Việt Nam tối ưu hóa nguồn nguyên liệu nhập khẩu từ các nước nội khối để sản xuất hàng xuất khẩu, từ đó giải quyết bài toán quy tắc xuất xứ để hưởng ưu đãi thuế khi xuất khẩu sang các thị trường khó tính như Nhật Bản hay Australia.

Trong năm 2026, việc các dòng thuế tiếp tục được cắt giảm theo lộ trình của các FTA cũng sẽ giúp hàng hóa Việt Nam có lợi thế cạnh tranh về giá so với các đối thủ chưa có thỏa thuận thương mại với các thị trường lớn. Không chỉ dừng lại ở các mặt hàng công nghiệp, các mặt hàng nông, lâm, thủy sản cũng sẽ có cơ hội bứt phá nếu tận dụng tốt các cam kết về kiểm dịch thực vật và tiêu chuẩn chất lượng trong FTA.

Trên cơ sở phân tích, nhận định bối cảnh trong nước và thế giới, Bộ Công Thương đặt ra mục tiêu tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2026 tăng trên 8% (tương đương tăng thêm 38 tỷ USD); cán cân thương mại tiếp tục có xuất siêu ở mức trên 23 tỷ USD, tăng 15% so với năm 2025.

Đánh giá về triển vọng xuất khẩu của Việt Nam, Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) và Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) cùng chung nhận định: sau giai đoạn phục hồi mạnh mẽ của năm 2025, xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2026 dự kiến sẽ duy trì đà tăng trưởng ổn định nhờ khả năng thích ứng tốt với các tiêu chuẩn xanh và sự dịch chuyển mạnh mẽ sang các mặt hàng công nghệ cao như bán dẫn, linh kiện điện tử.

Đặc biệt, việc các dòng vốn FDI chất lượng cao bắt đầu đi vào sản xuất đại trà giúp Việt Nam khẳng định vị thế là “công xưởng công nghệ” mới và một mắt xích không thể thay thế trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Từ góc độ các ngân hàng thương mại quốc tế, HSBC và Standard Chartered cũng nhìn nhận Việt Nam đang bước vào chu kỳ xuất khẩu mới dựa trên sự đa dạng hóa thị trường và tận dụng hiệu quả các FTA thế hệ mới như CPTPP và EVFTA. Đặc biệt, năm 2026 sẽ chứng kiến sự bùng nổ của xuất khẩu nông sản chất lượng cao nhờ việc áp dụng thành công các tiêu chuẩn canh tác bền vững. Sự kết hợp giữa công nghiệp hiện đại và nông nghiệp thông minh, bền vững được xem là “đôi cánh” giúp xuất khẩu Việt Nam bay cao trong năm 2026.

Mặc dù triển vọng rất rộng mở, nhưng hoạt động xuất khẩu của Việt Nam năm 2026 cũng sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức đòi hỏi sự chuẩn bị kỹ lưỡng. Thách thức lớn nhất đến từ việc các thị trường nhập khẩu ngày càng thắt chặt các tiêu chuẩn về môi trường, xã hội và quản trị (ESG). Các quy định như Cơ chế Điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của EU hay những yêu cầu khắt khe về truy xuất nguồn gốc chống phá rừng sẽ không còn là dự báo, mà trở thành những rào cản trực tiếp đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam.

Thêm vào đó, chi phí logistics và vận tải biển vẫn là một ẩn số khó lường do ảnh hưởng từ các xung đột địa chính trị trên thế giới. Việc này có thể làm ảnh hưởng đến lợi thế cạnh tranh về giá và gây gián đoạn chuỗi cung ứng cục bộ.

Một vấn đề nội tại khác cần được quan tâm là sự sụt giảm kim ngạch xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước trong năm 2025 (giảm 6,1%). Nếu không có những chính sách hỗ trợ kịp thời để nâng cao năng lực sản xuất và kết nối doanh nghiệp nội địa với chuỗi cung ứng của các tập đoàn FDI, khoảng cách giữa hai khu vực này sẽ ngày càng nới rộng, khiến nền kinh tế thiếu đi sự tự chủ.

Để hiện thực hóa những cơ hội và vượt qua thách thức trong năm 2026, các chuyên gia trong lĩnh vực xuất khẩu nhấn mạnh: cần một chiến lược tổng thể và đồng bộ. Theo đó, Chính phủ và các cơ quan chức năng cần tiếp tục đẩy mạnh công tác dự báo thị trường, cung cấp thông tin kịp thời về các thay đổi trong chính sách thương mại của các nước để doanh nghiệp có phương án ứng phó phù hợp. Việc hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện chuyển đổi số và chuyển đổi xanh phải được xem là ưu tiên hàng đầu, thông qua các gói tín dụng ưu đãi và tư vấn kỹ thuật.

Đối với các doanh nghiệp, cần tập trung nâng cao hàm lượng công nghệ trong sản phẩm, thay đổi tư duy sản xuất từ “gia công” sang “sáng tạo” và phát triển bền vững. Việc xây dựng thương hiệu riêng cho hàng hóa Việt Nam thay vì chỉ xuất khẩu thô hoặc dưới nhãn mác nước ngoài sẽ là “chìa khóa” để gia tăng giá trị kim ngạch một cách thực chất.

Bên cạnh đó, cần chú trọng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao để đáp ứng các tiêu chuẩn sản xuất hiện đại và yêu cầu khắt khe của thị trường quốc tế.

Với vai trò cơ quan quản lý nhà nước, Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho biết một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong năm 2026 là tiếp tục hoàn thiện việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật liên quan gồm 4 nghị định (Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Quản lý ngoại thương; Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Quản lý ngoại thương về xuất xứ hàng hóa; Nghị định quy định tiêu chí xác định xuất xứ Việt Nam đối với hàng lưu thông trong nước; Nghị định về kinh doanh xuất, nhập khẩu gạo thay thế Nghị định số 107/2018/NĐ-CP; Nghị định số 01/2025/NĐ-CP) và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định việc nhập khẩu, tạm nhập khẩu xe ô tô theo hình thức quà biếu, quà tặng, tài sản di chuyển.

Nhằm thúc đẩy sản xuất và phát triển thị trường, Cục Xuất nhập khẩu sẽ tham mưu các giải pháp tăng trưởng bền vững, chú trọng tháo gỡ rào cản cho ngành thép và dệt may tại các thị trường Mexico, EU và EAEU (Liên minh Kinh tế Á-Âu). Bên cạnh đó, công tác phối hợp liên ngành được đẩy mạnh để mở cửa thị trường nông sản, đặc biệt là thúc đẩy ký kết các Nghị định thư xuất khẩu chính ngạch với Trung Quốc. Đồng thời, tích cực đàm phán các FTA mới, nâng cấp các hiệp định hiện có và thúc đẩy hiệp định thương mại đối ứng công bằng, cân bằng với Hoa Kỳ.

Sự kết hợp chặt chẽ giữa nỗ lực tự thân của doanh nghiệp, sự hỗ trợ từ cơ chế chính sách và việc khai thác hiệu quả các FTA sẽ tạo nên một lực đẩy mạnh mẽ, giúp xuất khẩu Việt Nam không chỉ đạt được những con số kỷ lục mới, mà còn phát triển theo hướng chất lượng, ổn định và bền vững trong năm 2026 và những năm tiếp theo.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-

Categories: The Latest News

Thời hạn hoàn thành xếp lương theo vị trí việc làm với viên chức

Mon, 02/16/2026 - 13:40
Chính phủ yêu cầu chậm nhất đến ngày 1/7/2027, hoàn thành việc bố trí vào vị trí việc làm và xếp lương tương ứng với vị trí việc làm đối với viên chức...

Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà ký Quyết định số 304/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Viên chức.

Mục đích của Kế hoạch nhằm xác định cụ thể nội dung công việc, thời hạn hoàn thành, phân công và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan trong việc tổ chức thi hành Luật Viên chức bảo đảm kịp thời, thống nhất, đồng bộ, hiệu lực, hiệu quả.

Bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong việc thực hiện các hoạt động triển khai thi hành Luật trên phạm vi cả nước.

Đồng thời, tạo cơ sở pháp lý để tiếp tục thực hiện quản lý viên chức theo hướng năng động, minh bạch, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu xây dựng đội ngũ viên chức chuyên nghiệp, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu của người dân, doanh nghiệp.

Cùng với đó, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành trong việc triển khai, thi hành Luật Viên chức và các văn bản quy định chi tiết một số điều của Luật.

Theo Kế hoạch, cơ quan chủ trì soạn thảo, trình ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các văn bản pháp luật được phân công tại Danh mục kèm theo Kế hoạch này. Bộ Tư pháp, các bộ, ngành có liên quan chịu trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với cơ quan chủ trì soạn thảo, bảo đảm chất lượng, tiến độ.

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm rà soát, xây dựng, ban hành theo thẩm quyền hoặc trình Hội đồng nhân dân cùng cấp ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết các nội dung được giao trong Luật Viên chức.

Hằng năm, Bộ Nội vụ phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, cơ quan, tổ chức khác có liên quan triển khai các nhiệm vụ, giải pháp phát triển cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức.

Đồng thời, cung cấp, khai thác sử dụng hiệu quả thông tin, dữ liệu trên cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức; bảo đảm dữ liệu công chức, viên chức; bảo đảm dữ liệu thường xuyên được cập nhật, khai thác sử dụng hiệu quả.

Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với các Bộ quản lý ngành, lĩnh vực tổng hợp, rà soát danh mục chức danh nghề nghiệp viên chức trong cơ quan, tổ chức hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập do Chính phủ quản lý. 

Trên cơ sở đó, căn cứ quy định tại Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định của chính phủ quy định về vị trí việc làm viên chức, chậm nhất đến ngày 1/7/2027, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập phải hoàn thành việc bố trí vào vị trí việc làm và xếp lương tương ứng với vị trí việc làm đối với viên chức thuộc phạm vi quản lý.

Năm 2026 và các năm tiếp theo, Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, cơ quan, tổ chức khác có liên quan tổ chức kiểm tra việc thi hành Luật và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành.

Bộ Nội vụ cũng có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc các bộ, ngành, địa phương và các cơ quan liên quan trong việc triển khai và báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện Kế hoạch này.

-Phúc Minh

Categories: The Latest News

Bài học từ Thái Lan và lời nhắc cho Việt Nam

Mon, 02/16/2026 - 09:56
Đã đến lúc gạt bỏ những niềm tự hào về số lượng để bồi đắp nội lực thực chất. Nếu không, chúng ta sẽ vẫn là quốc gia năng động bậc nhất Đông Nam Á nhưng khả năng tích lũy vẫn xếp sau rất xa các nước láng giềng.

Những con số tăng trưởng GDP ấn tượng và vị thế "điểm đến hấp dẫn" của Việt Nam trong những năm qua đã tạo ra một luồng sinh khí lạc quan. Tuy nhiên, khi đặt lên bàn cân so sánh một cách kỹ lưỡng với các quốc gia trong khu vực, đặc biệt là Thái Lan, chúng ta lại thấy một bức tranh nhiều nghịch lý: một nền kinh tế năng động, bận rộn bậc nhất khu vực Đông Nam Á như Việt Nam nhưng khả năng tích lũy nội lực còn thấp so với nhu cầu phát triển của kỷ nguyên mới...

TỪ CON SỐ GDP ĐẾN MỨC SỐNG

Năm 2025, GDP đầu người của Việt Nam đạt khoảng 5.026 USD, tăng gấp 1,4 lần so với năm 2020 và tăng tới 3,1 lần so với năm 2010. Còn GDP đầu người của Thái Lan năm 2025 khoảng 7.500 USD, gấp 1,5 lần GDP đầu người của Việt Nam.

Mặc dù ngay cả Viện Nghiên cứu Phát triển Thái Lan (TDRI) mới đây đã cảnh báo mục tiêu Thái Lan trở thành nước có thu nhập cao vào năm 2036 "gần như không thể đạt được" và có thể bị các nước ASEAN vượt qua, khoảng cách giữa Thái Lan với Việt Nam vẫn là một quãng đường dài đặc đặc biệt là khoảng cách về chất lượng.

Tại Thái Lan, hệ thống hạ tầng và giá cả dịch vụ cơ bản được điều tiết bởi các tập đoàn nội địa khổng lồ, giúp giảm chi phí sinh hoạt ví dụ như giá thực phẩm tại Thái Lan rẻ hơn Việt Nam từ 15-20% nhờ tối ưu hệ thống nông nghiệp và chuỗi bán lẻ phân phối (CP, Central Group).

Tại Việt Nam, do phụ thuộc vào hệ thống phân phối nhỏ lẻ và chi phí logistics chiếm tới 16-20% GDP (so với 11-13% của Thái Lan), giá hàng hóa đến tay người tiêu dùng bị đẩy lên cao, trực tiếp bào mòn thu nhập thực tế.

Người Thái còn được hưởng lợi chi phí sinh hoạt do có một hệ thống phúc lợi y tế gần như miễn phí và sở hữu hệ thống Skytrain/MRT kết nối xuyên suốt và giá rẻ giúp người dân vùng ven có thể di chuyển vào trung tâm làm việc với chi phí thấp và thời gian chính xác.

DU LỊCH: "SỐ LƯỢNG" SO VỚI "CHẤT LƯỢNG"

Một trong những thống kê ấn tượng gần đây là việc Việt Nam đang trên đà chiếm ngôi vị số 1 về du lịch của Thái Lan tại khu vực ASEAN. Tuy nhiên, nhìn sâu vào cơ cấu doanh thu, chúng ta chưa thể đuổi kịp về giá trị ròng.

Thái Lan sở hữu nền văn hóa vừa lâu đời vừa độc đáo

Năm 2025, du lịch Thái Lan đón khoảng 33 triệu lượt khách quốc tế, mang về nguồn thu ngoại tệ khoảng 1.530 nghìn tỷ Baht (tương đương 49,4 tỷ USD). Chi tiêu bình quân của khách quốc tế tại Thái Lan ở mức cao (khoảng 1.500 - 1.600 USD/khách) nhờ hệ thống dịch vụ giá trị gia tăng và mua sắm khép kín.

Cung điện Hoàng gia Thái Lan thu hút lượng lớn khách du lịch ghé thăm mỗi năm

Trong khi đó, năm 2025, Việt Nam đạt mốc 21,5 triệu lượt khách du lịch quốc tế nhưng tổng thu ngoại tệ chỉ khoảng 18 - 20 tỷ USD (bình quân 900 – 1000 USD/khách, bằng 66% con số này tại Thái Lan).

Một phần nguồn thu này lại chảy ra khỏi Việt Nam dưới dạng phí hoa hồng, phí thanh toán quốc tế trả cho các tập đoàn đa quốc gia khi khách đặt qua app (Klook, Agoda, Trip.com).

Nếu tính cả chi phí nhập khẩu thực phẩm, năng lượng của các địa điểm lưu trú, số ngoại tệ thực sự ở lại trong nước bị hao đi đáng kể. Tóm lại, chúng ta phải phục vụ lượng khách quốc tế khổng lồ, gây áp lực rất lớn lên hạ tầng, môi trường và các di sản nhưng giá trị tích lũy ròng thấp hơn Thái Lan rất nhiều.

CÔNG NGHIỆP Ô TÔ: DOANH SỐ XUẤT KHẨU VÀ NGUỒN THU NGOẠI TỆ

Theo báo cáo của QMe năm 2025, doanh số ô tô nội địa của Việt Nam đạt khoảng 604 nghìn xe, thu hẹp khoảng cách với Thái Lan (khoảng 632 nghìn xe) xuống còn chưa tới 30 nghìn xe mặc dù khoảng cách này từng là 370 nghìn xe trong năm 2023.

Đúng là doanh số xe bán ra tại Việt Nam đã tiệm cận Thái Lan nhưng nếu xét đến doanh số xuất khẩu và nguồn thu ngoại tệ từ xuất khẩu ô tô lại cho ta thấy hai thế giới khác biệt.

Với các kế hoạch tập trung vào tính bền vững bao gồm tái chế pin EV vào năm 2025, Thái Lan đang đặt mục tiêu tăng cường khả năng cạnh tranh toàn cầu với ngành xe điện nói riêng và ngành công nghiệp ô tô nói chung.

Thái Lan thực sự là “Detroit của Đông Nam Á”. Năm 2025, theo số liệu từ Bangkok Post, ngành ô tô nước này xuất khẩu 936 nghìn chiếc, mang về doanh thu ngoại tệ khoảng 20 tỷ USD (chưa tính linh kiện). Với tỷ lệ nội địa hóa trung bình đạt 80 - 90% giúp Thái Lan có thể giữ lại khoảng 40% giá trị thặng dư.

Trong khi đó, ngành ô tô Việt Nam vẫn loay hoay với tỷ lệ nội địa hóa thấp, phụ thuộc vào linh kiện nhập khẩu và hầu như không có sản phẩm xuất khẩu mang về ngoại tệ cho đất nước.

Ngược lại, chúng ta dùng ngoại tệ để nhập khẩu linh kiện và hình thức bán xe trả góp chiếm tới 40 - 50% lượng khách hàng, phần lớn là giới trung lưu đang vật lộn với chi phí sinh hoạt gia tăng, nợ thẻ tín dụng và vay mua nhà.

Trong xu thế tỷ giá biến động và lãi suất tăng, những điểm yếu này đang bào mòn nguồn dự trữ ngoại tệ của đất nước, suy giảm biên lợi nhuận của nhà sản xuất xe và có thể khiến những chiếc xe trả góp trở thành “nợ xấu” của ngân hàng.

HỆ THỐNG PHÂN PHỐI: "CÁNH TAY NỐI DÀI" CỦA CÁC ÔNG CHỦ THÁI

Nhờ sở hữu nguồn ngoại tệ dồi dào và kinh nghiệm vận hành hệ thống phong phú, các tập đoàn bán lẻ của Thái Lan không chỉ bảo vệ "sân nhà" mà còn dùng ngoại tệ tích lũy thâu tóm các siêu thị, chuỗi bán lẻ, hãng thực phẩm tại các quốc gia Đông Nam Á, đặc biệt là Việt Nam.

Những thương vụ tỷ USD như Central Group mua lại BigC (nay là GO!) với giá 1,14 tỷ USD, TCC Group mua lại Metro Cash Carry Việt Nam với giá gần 800 triệu USD, ThaiBev mua Sabeco với giá xấp xỉ 5 tỷ USD, FN Dairy Investments sở hữu gần 25% cổ phần Vinamilk đã biến người Thái thành một "ông chủ" lớn trong mạng lưới phân phối của Việt Nam.

Dòng tiền tiêu dùng của người Việt hàng ngày đang âm thầm chảy về túi các ông chủ người Thái, biến chúng ta thành những người làm giàu cho nước bạn trên chính đất nước mình.

DỰ TRỮ NGOẠI HỐI VÀ CHIẾN THẮNG SÂN CỎ

Từ ký ức “đau đớn” về cuộc khủng hoảng năm 1997, Thái Lan đã kiên trì xây dựng "pháo đài" ngoại hối lên tới 300 tỷ USD (tương đương 10 tháng nhập khẩu) trong khi chúng ta vẫn dao động quanh ngưỡng tối thiểu theo chuẩn IMF.

Nền tảng giúp Thái Lan duy trì dự trữ ngoại hối lớn chính là khả năng tối ưu hóa dòng ngoại tệ thực ròng: nhờ tỷ lệ nội địa hóa cao, họ giữ lại được phần lớn giá trị thặng dư trong chuỗi xuất khẩu thay vì để dòng ngoại tệ chảy ra nước ngoài qua nhập khẩu linh kiện hoặc trở thành lợi nhuận của các tập đoàn đa quốc gia.

Nghịch lý nằm ở chỗ, chúng ta dễ dàng bùng nổ hân hoan sau một trận bóng đá thắng Thái Lan nhưng lại hoàn toàn thờ ơ trước việc đang bị dẫn rất sâu trên mặt trận tích lũy.

Thắng lợi sân cỏ hay thứ hạng FIFA là liều “doping tinh thần” ngắn hạn nhưng không giúp ổn định tỷ giá, cũng không thể tạo nên “tấm khiên” chống đỡ cho quốc gia trước những biến động khó lường về tiền tệ cũng như cung cấp nguồn lực ngoại tệ đầu tư vào các lĩnh vực trọng yếu và công nghệ.

Từ sự so sánh trên một số lĩnh vực với Thái Lan một cách kỹ càng, Việt Nam cần nhìn lại để thay đổi tư duy và cách làm từ tập trung vào "số lượng" sang "hiệu suất và chất lượng", từ gia công sang nội địa hóa và tham gia sâu vào chuỗi cung ứng.

Đã đến lúc gạt bỏ những niềm tự hào về số lượng để bồi đắp nội lực thực chất. Nếu không, chúng ta sẽ vẫn là quốc gia năng động bậc nhất Đông Nam Á nhưng khả năng tích lũy vẫn xếp sau rất xa các nước láng giềng.

(*)Hồng Hà- chuyên gia độc lập.

- Hồng Hà*

Categories: The Latest News

Thủ tướng: Khẩn trương khắc phục hư hỏng, đồng thời đầu tư xây dựng cầu sông Lô mới

Sun, 02/15/2026 - 22:01
Chiều 14/2, Phạm Minh Chính chủ trì cuộc họp Thường trực Chính phủ với các bộ, ngành Trung ương và tỉnh Phú Thọ về tình hình khắc phục hư hỏng công trình cầu sông Lô. Cuộc họp tập trung đánh giá hiện trạng kỹ thuật, phương án xử lý trước mắt và định hướng đầu tư xây dựng cầu mới nhằm bảo đảm nhu cầu đi lại, phát triển kinh tế – xã hội và an ninh quốc phòng.

Theo báo cáo của UBND tỉnh Phú Thọ, dự án cầu sông Lô và cứng hóa mặt đê tả sông Lô được phê duyệt ngày 21/4/2008, tổng mức đầu tư 320 tỷ đồng, trong đó phần cầu 231 tỷ đồng. Công trình được xây dựng tại huyện Đoan Hùng (nay là xã Đoan Hùng), đưa vào khai thác từ ngày 11/11/2015 và nghiệm thu hết bảo hành từ ngày 10/1/2018.

Kết quả khảo sát, kiểm định tổng thể cho thấy kết cấu dầm cầu và trụ cầu không phát hiện vấn đề bất thường. Tuy nhiên, thí nghiệm bê tông khoan rút lõi tại một số bệ trụ và cọc khoan nhồi không đạt yêu cầu thiết kế; kết cấu móng các trụ T3, T4, T5, T6 không đủ khả năng chịu lực theo tiêu chuẩn 22TCN 272-05, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn khai thác.

Trên cơ sở đó, UBND tỉnh Phú Thọ đã chỉ đạo điều chỉnh phương án phân luồng, tổ chức giao thông qua cầu; đồng thời đề xuất hai phương án gồm sửa chữa, khắc phục hư hỏng và đầu tư xây dựng cầu sông Lô mới.

Thảo luận tại cuộc họp, các ý kiến thống nhất cần khẩn trương có biện pháp sửa chữa, khắc phục hư hỏng cầu sông Lô để đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân; đồng thời nhất trí với đề xuất đầu tư xây dựng cầu sông Lô mới.

Kết luận cuộc họp, Thủ tướng Chính phủ hoan nghênh các bộ, ngành và tỉnh Phú Thọ đã kịp thời phản ứng trước sự cố. Tuy nhiên, Thủ tướng lưu ý việc xử lý vẫn còn lúng túng, chưa có phương án rõ ràng, khả thi, đáp ứng yêu cầu đi lại của người dân.

Thủ tướng yêu cầu việc hư hỏng cầu sông Lô phải được điều tra, kết luận trong tháng 2/2026 để xử lý theo quy định của Đảng và pháp luật Nhà nước. Trước mắt, vừa sửa chữa, khắc phục hư hỏng cầu hiện hữu, vừa triển khai đầu tư xây dựng cầu sông Lô mới; đồng thời nghiên cứu phương án bắc cầu phao phục vụ nhu cầu đi lại khi cần thiết.

Về định hướng lâu dài, Thủ tướng chỉ đạo nghiên cứu đầu tư xây dựng cầu sông Lô mới theo quy hoạch, quy mô tương đương cầu Phong Châu mới, thời gian hoàn thành trong 1 năm, phấn đấu để nhân dân có cầu mới đi lại vào Tết Nguyên đán 2027. Tỉnh Phú Thọ làm chủ đầu tư; các đơn vị Quân đội tham gia hỗ trợ triển khai dự án.

Về nguồn vốn, tỉnh Phú Thọ chịu trách nhiệm giải phóng mặt bằng và đường dẫn hai đầu cầu; Trung ương hỗ trợ kinh phí xây lắp cầu từ nguồn dự phòng năm 2025 chuyển sang, bảo đảm không để xảy ra tiêu cực, tham nhũng, lãng phí.

Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương triển khai nhiệm vụ theo đúng thẩm quyền; trường hợp vượt thẩm quyền phải kịp thời báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, xử lý. Đây là tình huống khẩn cấp, việc đầu tư được thực hiện theo cơ chế lệnh tình trạng khẩn cấp, tổ chức triển khai với yêu cầu tiến độ cao nhằm bảo đảm không chậm trễ, không bỏ lỡ cơ hội phát triển.

-Hà Lê

Categories: The Latest News

Ứng dụng Tuyên giáo và Dân vận: Kết nối thông tin chính thống trên không gian số

Sun, 02/15/2026 - 22:01
Ứng dụng Tuyên giáo và Dân vận (TGDV) là nền tảng số chính thống của Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, cung cấp thông tin, chính sách và tài liệu của Đảng nhanh chóng, chính xác trên phạm vi toàn quốc; đồng thời hỗ trợ tương tác hai chiều giữa cơ quan Đảng với cán bộ, đảng viên và nhân dân trên không gian số.

Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương đã chính thức ra mắt ứng dụng di động TGDV – nền tảng thông tin chính thống và công cụ lãnh đạo tư tưởng của Đảng trong môi trường số, bảo đảm truyền tải thông tin kịp thời, đa phương tiện và kết nối thông suốt giữa Trung ương, địa phương và người dân.

Công cụ lãnh đạo tư tưởng trong bối cảnh chuyển đổi số

Trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, công tác tuyên giáo và dân vận giữ vai trò cầu nối giữa Đảng với nhân dân, giữa chủ trương của Đảng và thực tiễn đời sống. Bước vào giai đoạn chuyển đổi số, yêu cầu đổi mới tư duy, phương thức và công cụ triển khai công tác tuyên giáo, dân vận đặt ra ngày càng rõ nét.

Việc đưa vào vận hành một ứng dụng thống nhất của ngành Tuyên giáo và Dân vận được xác định là nền tảng trong hệ sinh thái số của Đảng, góp phần đưa công tác tư tưởng, truyền thông chính thống đến gần hơn với người dân trên nền tảng số hiện đại, an toàn, lấy lý luận chính trị làm trục xuyên suốt.

Ứng dụng TGDV bảo đảm truyền tải thông tin nhanh, đa dạng hình thức, kết nối liên thông giữa Trung ương, địa phương và cơ sở. Các chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật được thể hiện bằng văn bản, hình ảnh, video dễ tiếp cận, hỗ trợ cá nhân hóa nội dung, giúp người dân nắm bắt kịp thời và đúng đắn thông tin chính thống.

Tích hợp đa chức năng, lấy người dùng làm trung tâm

Ứng dụng Tuyên giáo và Dân vận tích hợp đồng bộ các chức năng cốt lõi: cung cấp thông tin chính thống; tổ chức học tập nghị quyết, chuyên đề thông qua nền tảng bình dân học vụ số; xây dựng thư viện tri thức số; tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của người dân; phân tích, dự báo dư luận xã hội; hỗ trợ đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên; ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và cá nhân hóa nội dung theo từng nhóm đối tượng, địa bàn.

Nền tảng được thiết kế theo kiến trúc mở, sẵn sàng tích hợp và liên thông với các hệ thống số khác của Đảng, góp phần hình thành hệ sinh thái số thống nhất, phục vụ lâu dài cho công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị.

Các tính năng trên ứng dụng được phát triển theo hướng lấy người dùng làm trung tâm, phù hợp với cán bộ các cấp và đông đảo nhân dân. Một số phân hệ nổi bật gồm: tin tức chính thống tổng hợp từ các kênh tin cậy; nội dung đa phương tiện như video, podcast, infographic; công cụ thăm dò dư luận xã hội; chức năng phản ánh, góp ý, kiến nghị trực tuyến; nền tảng học tập số; thư viện số văn kiện, pháp luật và tri thức.

Đặc biệt, hệ thống AI hỗ trợ tra cứu nhanh, tóm tắt nội dung, gợi ý thông tin liên quan, so sánh văn bản pháp luật, đồng thời vận hành trợ lý ảo chính sách, pháp luật bằng ngôn ngữ dễ hiểu, phục vụ nhu cầu hỏi – đáp của người dân.

Bảo đảm an toàn, liên thông và phục vụ lâu dài

Ứng dụng TGDV được xây dựng trên nền tảng công nghệ hiện đại, bảo đảm an toàn thông tin và bảo mật dữ liệu. Người dùng đăng nhập thông qua các cơ chế xác thực tập trung, giúp quản lý danh tính thống nhất, thuận tiện. Dữ liệu được cá nhân hóa góp phần hình thành bản đồ số theo dõi dư luận theo địa bàn, hỗ trợ nhận diện sớm các vấn đề phát sinh.

Khi được triển khai đồng bộ, đúng định hướng và bảo đảm nguyên tắc đơn giản, dễ sử dụng, Ứng dụng Tuyên giáo và Dân vận được xác định là điểm kết nối tin cậy giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân trên không gian số; đồng thời là nền tảng quan trọng để hình thành hệ sinh thái số công tác tuyên giáo, dân vận thống nhất, liên thông, góp phần xây dựng chính quyền số hiện đại, hiệu quả và hướng tới phục vụ nhân dân.

-Hà Lê

Categories: The Latest News

Thủ tướng yêu cầu giải quyết dứt điểm dự án tồn đọng, khơi thông nguồn lực tăng trưởng

Sun, 02/15/2026 - 16:45
Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Hòa Bình vừa ký Công điện số 14/CĐ-TTg ngày 15/2/2026 của Thủ tướng Chính phủ, yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tập trung xử lý dứt điểm các dự án tồn đọng kéo dài, khẩn trương hoàn thành và đưa vào khai thác, sử dụng nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế những tháng đầu năm 2026.

Thời gian qua, Chính phủ, Thủ tướng đã ban hành nhiều chỉ đạo quyết liệt nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đối với các dự án tồn đọng, dừng triển khai kéo dài, trong đó có Nghị quyết số 17/NQ-CP ngày 26/1/2026 và Thông báo số 18/TB-VPCP ngày 9/1/2026. Bước đầu, các giải pháp đã phát huy hiệu quả, tháo gỡ vướng mắc cho 5.203 dự án, bao gồm 3.289 dự án đất đai, khơi thông nguồn lực khoảng 1,67 triệu tỷ đồng.

Tại Nghị quyết số 23/NQ-CP ngày 7/2/2026 của phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 1/2026, Chính phủ đánh giá mục tiêu tăng trưởng hai con số trong năm 2026 đối mặt nhiều thách thức.

Nhu cầu huy động nguồn lực đầu tư toàn xã hội ở mức cao, tương đương khoảng 35% GDP, trong khi chi phí huy động vốn có xu hướng tăng. Việc chậm hoàn thành, chậm đưa các dự án vào khai thác, sử dụng đang gây lãng phí nguồn lực, ảnh hưởng đến mục tiêu tăng trưởng 10% GDP trong quý I/2026 và tăng trưởng hai con số cả năm.

Để thực hiện mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, sớm đưa nguồn lực tồn đọng vào phát triển kinh tế – xã hội ngay trong tháng 2 và quý I/2026, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quán triệt việc tháo gỡ khó khăn cho các dự án tồn đọng là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, cấp bách nhằm chống lãng phí và thúc đẩy tăng trưởng. Việc tổ chức thực hiện phải bảo đảm kỷ cương, trách nhiệm, tinh thần chủ động, không hợp thức hóa sai phạm và không làm phát sinh sai phạm mới.

Các bộ, ngành, địa phương được yêu cầu tổ chức thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 17/NQ-CP, bảo đảm không bỏ sót các dự án cần tháo gỡ; cập nhật đầy đủ tình hình khó khăn, vướng mắc và kết quả xử lý của từng dự án trên Hệ thống 751.

Thủ tướng nhấn mạnh yêu cầu phân loại, xử lý ngay các vướng mắc theo thẩm quyền, thực hiện theo nguyên tắc “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”.

Đối với các dự án thuộc thẩm quyền, các địa phương chủ động giải quyết dứt điểm các thủ tục, không đùn đẩy, né tránh trách nhiệm; tập trung xử lý các dự án quy mô lớn, dự án đầu tư công, nhà ở xã hội, năng lượng và bất động sản.

Đối với các dự án vượt thẩm quyền, các địa phương khẩn trương báo cáo rõ vướng mắc, đề xuất giải pháp cụ thể, gửi Bộ Tài chính tổng hợp, báo cáo Ban Chỉ đạo 751 và Thủ tướng Chính phủ.

Công điện cũng yêu cầu tập trung xử lý các dự án, vấn đề đất đai theo Nghị quyết số 265/2025/QH15 của Quốc hội; báo cáo đầy đủ các dự án đủ điều kiện áp dụng Nghị quyết số 170/2024/QH15 trên Hệ thống 751 trước ngày 25/2/2026 để Bộ Tài chính tổng hợp, báo cáo Chính phủ.

Trên cơ sở hướng dẫn của Bộ Tài chính và tình hình thực tế, các địa phương chủ động giải quyết triệt để các khó khăn, vướng mắc thuộc thẩm quyền theo quy định pháp luật; định kỳ báo cáo kết quả xử lý trên Hệ thống 751 vào ngày 25 hằng tháng.

Bộ Tài chính, với vai trò cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo 751, có trách nhiệm đôn đốc các bộ, cơ quan, địa phương triển khai thực hiện Công điện; kịp thời tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ các nội dung vượt thẩm quyền.

-Dũng Hiếu

Categories: The Latest News

Công bố 864 người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI

Sun, 02/15/2026 - 16:44
Hội đồng Bầu cử Quốc gia quyết nghị công bố danh sách 864 người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI tại 182 đơn vị bầu cử trong cả nước để bầu 500 đại biểu Quốc hội khóa XVI.

Thay mặt Hội đồng Bầu cử quốc gia, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn - Chủ tịch Hội đồng Bầu cử quốc gia, vừa ký ban hành Nghị quyết số 151/NQ-HĐBCQG ngày 14/2/2026 công bố danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) Khoá XVI theo từng đơn vị trong cả nước.

Theo Nghị quyết, Hội đồng Bầu cử quốc gia quyết nghị: Công bố danh sách 864 người ứng cử ĐBQH khoá XVI tại 182 đơn vị bầu cử trong cả nước để bầu 500 ĐBQH khoá XVI.

Hội đồng Bầu cử quốc gia yêu cầu: Chính phủ, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban bầu cử, Ban thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các tỉnh, thành phố, các cơ quan liên quan ở Trung ương, địa phương và cá nhân theo trách nhiệm thi hành Nghị quyết này.

Nghị quyết có hiệu lực kể từ ngày ký ban hành.

Danh sách chính thức những người ứng cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI

-Hà Lê

Categories: The Latest News

Để Việt Nam hóa rồng: “Hành lang hẹp” và chìa khóa từ tăng năng suất lao động

Sat, 02/14/2026 - 16:06
Tăng trưởng dựa trên thâm dụng vốn và lao động giá rẻ đang dần chạm tới giới hạn, đẩy Việt Nam đối mặt với nguy cơ “bẫy thu nhập trung bình” hiện hữu. Để duy trì đà phát triển khi giai đoạn dân số vàng đi qua, chìa khóa nằm ở việc cải thiện năng suất lao động và chuyển dịch sang giai đoạn đổi mới sáng tạo...

Bức tranh kinh tế vĩ mô của Việt Nam trong bốn thập niên vừa qua cho thấy Việt Nam đã đạt được sự tăng trưởng đầy ấn tượng (6,38% giai đoạn 1986-2024).

Trong những điều kiện thuận lợi khiến Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài cũng như mở ra nhiều cơ hội ký kết các Hiệp định thương mại tự do phải kể đến đó là việc Việt Nam sở hữu lực lượng lao động dồi dào và chăm chỉ, cạnh tranh về mức lương.

Giai đoạn “dân số vàng” mà Việt Nam đang hưởng lợi (giai đoạn mà số người trong độ tuổi lao động gấp hai lần số người phụ thuộc) sẽ còn tiếp diễn thêm khoảng 15 đến 20 năm nữa.

Như vậy, Việt Nam đã đi được hơn một nửa chặng đường của giai đoạn hiếm có trong lịch sử này, khi mức dân số đạt trạng thái cao nhất và tốt nhất, trước khi rơi vào quỹ đạo suy giảm. 

Đặc biệt những gánh nặng về ngân sách, tài chính, y tế và sức khỏe có thể đẩy lùi kịch bản tăng trưởng cao, khiến Việt Nam có thể rơi vào một trong hai cái bẫy được dự báo trước: “bẫy thu nhập trung bình” hoặc “sự trì trệ kéo dài”.

Vậy, trong hai thập niên vừa qua, vai trò của năng suất lao động (NSLĐ) và hiệu quả sử dụng vốn - theo cách tiếp cận của lĩnh vực Kinh tế học phát triển - đã thể hiện như thế nào?

Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới (2020), hệ số ICOR (chỉ tiêu đo lường hiệu quả đầu tư) của Việt Nam đã tăng từ 2 tại đầu những năm 1990 lên đến mức đỉnh điểm là 5,9 trong năm 2009. Hệ số ICOR đã giảm một chút kể từ năm 2009 nhưng vẫn cao hơn nhiều (và hiệu quả đầu tư thấp hơn nhiều) so với những năm 1990. 

Trong cuốn sách Học cách Công nghiệp hóa (Learning to Industrialize, 2013), được xuất bản ra tiếng Việt gần đây, của GS. Kenichi Ohno (GRIPS, Nhật Bản), tác giả phân tích hệ số ICOR và sự thay đổi của tốc độ tăng năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) của Việt Nam trong giai đoạn 1990-2009. Ông chỉ ra một thực tế trong giai đoạn này là: Việt Nam đã dựa vào mô hình tăng trưởng lấy đầu tư làm động lực, nhưng hiệu quả sử dụng vốn còn thấp.

Từ đầu thập niên 2000, khi chứng kiến những động lực mới đến từ làn sóng toàn cầu hóa và thương mại hóa sẽ thúc đẩy nền kinh tế của Việt Nam, giới nghiên cứu kinh tế và chính sách trong và ngoài nước cũng đồng thời cảnh báo về việc Việt Nam có thể đánh mất sức cạnh tranh nội tại từ các doanh nghiệp sản xuất trong nước.

Sản xuất và xuất khẩu của Việt Nam đã phụ thuộc phần lớn vào các doanh nghiệp nước ngoài, trong khi các chính sách và thể chế của Việt Nam còn yếu so với các nước Đông Á khi so sánh trong cùng thời kỳ (Ohno, K., 2013).

“HÀNH LANG HẸP”

Ngân hàng Thế giới (2010) cũng đã nghiên cứu khả năng Việt Nam rơi vào bẫy thu nhập trung bình và đề xuất giải pháp gồm sáu bước do GS.Justin Yifu Lin, kinh tế trưởng của Ngân hàng Thế giới, xây dựng. Kể từ khi được Ngân hàng Thế giới khởi xướng từ giữa những năm 1990, thuật ngữ “bẫy thu nhập trung bình (middle-income trap)” đã dần xuất hiện ngày càng nhiều trên các kênh thông tin chính thống từ năm 2011. Số liệu cho thấy, các quốc gia thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình là rất ít.

Tại Hội thảo Khoa học quốc gia về kinh tế, tổ chức tại Đại học Kinh tế quốc dân (tháng 4/2025), TS. Vũ Thành Tự Anh (Trường Đại học Fulbright Việt Nam) đã thảo luận về các kịch bản mà Việt Nam có thể đạt được nhằm vượt qua “bẫy thu nhập trung bình”.

Ông nhấn mạnh đến vai trò của Nhà nước là đặc biệt quan trọng, mà trong lịch sử đã chứng minh, giúp một số quốc gia bước vào “Hành lang hẹp” - một thuật ngữ từ cuốn sách cùng tên viết bởi hai tác giả đạt giải Nobel Kinh tế năm 2024 là Daron Acemoglu (Viện Công nghệ Massachusetts, Hoa Kỳ) và James Robinson (Đại học Chicago, Hoa Kỳ).

Kết quả phân tích cho thấy những quốc gia đạt được hai chỉ số “Năng lực của nhà nước” và “Sự tham gia làm chủ của người dân” càng cao sẽ càng tịnh tiến về cánh cửa của “Hành lang hẹp” – khu vực mà các quốc gia trở nên thịnh vượng cả về kinh tế và xã hội (Hình 2). Hầu hết các quốc gia này có mức thu nhập bình quân đầu người ngưỡng 20.000 USD/ năm trở lên.

TS. Vũ Thành Tự Anh cũng cho thấy một bức tranh tương phản khác giữa hai đại diện đến từ các nền kinh tế Đông Bắc Á (Hàn Quốc và Đài Loan) và Đông Nam Á (Thái Lan và Malaysia), mà điều thú vị là Việt Nam lại nằm trên giao điểm của hai khu vực trên về mặt địa lý.

Hàn Quốc và Đài Loan (Trung Quốc) đã di chuyển về phía “hành lang hẹp” từ những thập niên 1990s sau quá trình công nghiệp hóa thành công. Trong khi Malaysia và Thái Lan vẫn còn đang loay hoay trong suốt nhiều năm để tìm cơ hội bứt phá.

Sự so sánh trên thật thú vị và đã đặt Việt Nam - một quốc gia đi sau so với các quốc gia và vùng lãnh thổ kể trên – ở vào giai đoạn mới trong việc lựa chọn mô hình tăng trưởng thực sự hiệu quả.

Một câu hỏi lớn cũng cần đặt ra, đó là: Việt Nam nên học theo các nước Đông Bắc Á hay Đông Nam Á? Quỹ đạo dẫn tới “Hành lang hẹp” nêu trên cho thấy con đường mà các nền kinh tế Đông Bắc Á (như Hàn Quốc và Đài Loan) đã đi tỏ ra hấp dẫn hơn. 

CHÌA KHÓA NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG

Báo của của Ngân hàng Thế giới (2020) cũng cho thấy, trước hết Việt Nam cần tăng năng suất lao động để duy trì tăng trưởng dài hạn. Số liệu chứng minh rằng Việt Nam vẫn còn nhiều khả năng để bắt kịp tốc độ tăng trưởng.

Tăng trưởng năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) của Việt Nam đã bị chậm lại và Việt Nam còn rất xa mới chạm đường giới hạn năng suất toàn cầu. Trong năm 2014, TFP của Việt Nam chỉ bằng 1/5 so với Hoa Kỳ và còn thua xa nhiều quốc gia có thu nhập trung bình khác ở Đông Á. Điều này cũng cho thấy Việt Nam còn rất nhiều tiềm năng để phát triển.

Báo cáo Phát triển Thế giới 2024 của Ngân hàng Thế giới cũng phân tích một cách hệ thống các chiến lược mà các nền kinh tế đang phát triển có thể theo đuổi nhằm tránh rơi vào bẫy thu nhập trung bình.

Báo cáo xác định ba giai đoạn phát triển chủ yếu trong tiến trình chuyển dịch từ nền kinh tế thu nhập thấp lên thu nhập cao, bao gồm: Đầu tư, Tiếp thu và Đổi mới.

Ở giai đoạn đầu, các quốc gia có thu nhập thấp có thể đạt được tốc độ tăng trưởng cao chủ yếu thông qua tích lũy vốn (Giai đoạn 1: Đầu tư).

Tuy nhiên, do hiệu suất biên của vốn có xu hướng suy giảm theo thời gian, mô hình tăng trưởng dựa đơn thuần vào tích lũy vốn sớm bộc lộ những giới hạn. Khi đạt tới mức thu nhập trung bình, để duy trì đà tăng trưởng, các quốc gia buộc phải chuyển trọng tâm sang nâng cao năng suất.

Đối với những nền kinh tế còn ở xa ranh giới công nghệ và kinh tế, con đường hiệu quả nhất để cải thiện năng suất là tiếp thu và ứng dụng các công nghệ sẵn có từ các quốc gia phát triển hơn (Giai đoạn 2: bổ sung yếu tố Tiếp thu vào Đầu tư)...

(*) Đại học VinUni, Thành viên Mạng lưới Kinh tế chính sách, tổ chức khoa học và chuyên gia Việt Nam toàn cầu (AVSE Global)

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 05-2026 phát hành ngày 02/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-5-2026.html

-ThS. Lê Minh Phượng (*)

Categories: The Latest News

Pages