Thời Báo Kinh Tế

Subscribe to Thời Báo Kinh Tế feed Thời Báo Kinh Tế
VnEconomy - Góc nhìn toàn cảnh về nền kinh tế Việt Nam
Updated: 1 min 11 sec ago

Đẩy nhanh tiến độ các dự án đường sắt trọng điểm quốc gia trong năm 2026

Mon, 02/09/2026 - 10:14
Văn phòng Chính phủ vừa ban hành Thông báo số 68/TB-VPCP kết luận của Thường trực Chính phủ tại cuộc họp với Ban Chỉ đạo các công trình trọng điểm, dự án quan trọng quốc gia lĩnh vực đường sắt (phiên họp thứ 6)...

Văn bản nêu rõ, đối với dự án tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng, Bộ Xây dựng tiếp tục chỉ đạo Ban Quản lý dự án và các nhà thầu tập trung thi công dự án thành phần 1 bảo đảm hoàn thành đúng tiến độ. Với dự án thành phần 2, Báo cáo nghiên cứu khả thi phải hoàn thành chậm nhất trong tháng 3/2026, phê duyệt dự án vào tháng 7/2026 và triển khai thi công một số hạng mục chính trong quý 3/2026.

Về nguồn vốn, Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Ngoại giao và Bộ Xây dựng khởi động đàm phán hiệp định vay trong tháng 3/2026, đồng thời chủ động tính toán huy động từ nhiều nguồn như ngân sách nhà nước trong kế hoạch đầu tư trung hạn, phát hành trái phiếu Chính phủ, nguồn tiết kiệm 5% chi đầu tư công năm 2026 (khoảng 50.000 tỷ đồng) và vốn vay nếu điều kiện đàm phán thuận lợi, lãi suất thấp.

Liên quan đàm phán hiệp định xây dựng cầu đường sắt qua biên giới Việt – Trung, Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với Bộ Ngoại giao đẩy nhanh tiến độ trong quý 1/2026.

Bộ Xây dựng và UBND thành phố Hà Nội cũng phải thống nhất phương án xử lý chồng lấn với dự án đường bộ cao tốc kết nối sân bay Gia Bình trong cùng thời gian. Các địa phương và Tập đoàn Điện lực Việt Nam được yêu cầu khẩn trương triển khai bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giải phóng mặt bằng và di dời hạ tầng kỹ thuật điện phục vụ dự án.

Đối với dự án đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam, Bộ Xây dựng phải hoàn thiện Báo cáo lựa chọn công nghệ, đối tác trước ngày 20/2/2026 để báo cáo cấp có thẩm quyền; đồng thời phấn đấu hoàn thành lựa chọn tư vấn lập Báo cáo nghiên cứu khả thi trong quý 2/2026, tiếp tục đánh giá các hình thức đầu tư nhằm lựa chọn phương án tối ưu, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người dân và doanh nghiệp, khuyến khích sự tham gia của các tập đoàn lớn trong nước.

Các địa phương và Tập đoàn Điện lực Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh công tác giải phóng mặt bằng, di dời hạ tầng kỹ thuật theo nghị quyết của Quốc hội.

Về quy hoạch các tuyến đường sắt Hà Nội – Lạng Sơn và Hải Phòng – Móng Cái, Bộ Xây dựng được giao đẩy nhanh ký kết thỏa thuận hỗ trợ kỹ thuật với phía Trung Quốc, hoàn thành quy hoạch trong năm 2026; đồng thời hướng dẫn UBND tỉnh Quảng Ninh triển khai dự án Móng Cái – Quảng Ninh – Hải Phòng đúng trình tự, thủ tục pháp luật và báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 10/2/2026.

Đối với các dự án đường sắt đô thị, Hà Nội và TP.HCM chủ động triển khai các tuyến theo thẩm quyền, bảo đảm tiến độ và chất lượng, trong đó có các tuyến kết nối Cảng hàng không quốc tế Long Thành; tuyến Nhổn – Ga Hà Nội (đoạn ngầm), Văn Cao – Hòa Lạc, Nam Thăng Long – Trần Hưng Đạo. Các bộ, ngành liên quan khẩn trương nghiên cứu, ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về đường sắt đô thị theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.

Thường trực Chính phủ yêu cầu các Bộ Quốc phòng, Tài chính, Xây dựng tiếp tục phối hợp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về giải phóng mặt bằng, nguồn vốn và thủ tục để thúc đẩy tiến độ các dự án đường sắt trọng điểm quốc gia.

-Minh Kiệt

Categories: The Latest News

Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận máu thịt, không tách rời của dân tộc

Mon, 02/09/2026 - 10:09
Gặp mặt, vinh danh các tập thể, cá nhân người Việt Nam ở nước ngoài tiêu biểu năm 2025, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Bùi Thị Minh Hoài khẳng định kiều bào là bộ phận máu thịt, nguồn lực quan trọng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Ngày 8/2, tại Hà Nội, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức gặp mặt, vinh danh các tập thể, cá nhân người Việt Nam ở nước ngoài tiêu biểu năm 2025.

Bà Bùi Thị Minh Hoài, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trì buổi gặp mặt.

MINH CHỨNG CHO SỢI DÂY LIÊN KẾT BỀN CHẶT GIỮA KIỀU BÀO VỚI TỔ QUỐC

Báo cáo về tình hình của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài năm 2025, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng cho biết với khoảng 6,5 triệu người sinh sống tại hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ gia tăng về số lượng, còn nâng tầm đáng kể về vị thế pháp lý lẫn uy tín xã hội tại nước sở tại.

Điểm sáng là sự bùng nổ của nguồn lực chất xám khi nhiều chuyên gia, trí thức và doanh nhân kiều bào ngày càng khẳng định bản lĩnh Việt Nam trên các diễn đàn quốc tế, từ những phòng thí nghiệm hiện đại đến các tập đoàn đa quốc gia hàng đầu.

Theo Thứ trưởng Lê Thị Thu Hằng, năm 2025, lượng kiều hối chuyển về nước đạt khoảng 18 tỷ USD, trở thành nguồn lực kinh tế quan trọng, đồng thời là minh chứng sinh động cho sợi dây liên kết bền chặt giữa kiều bào với Tổ quốc.

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng phát biểu. Ảnh: TTXVN.

Sự gắn bó này còn được thể hiện qua việc kiều bào đóng góp hơn 2.300 lượt ý kiến đối với dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV của Đảng, cùng nhiều nghĩa cử thiết thực như ủng hộ trên 45 tỷ đồng hỗ trợ đồng bào trong nước khắc phục hậu quả thiên tai.

Tại buổi gặp mặt, đại diện kiều bào đã đề xuất xây dựng mạng lưới đại diện thanh niên kiều bào theo khu vực, nhằm tăng cường kết nối, phát huy sức trẻ và hỗ trợ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tập hợp, phát huy nguồn lực kiều bào một cách hiệu quả, phù hợp với yêu cầu hội nhập quốc tế sâu rộng.

KHẲNG ĐỊNH TINH THẦN TRÁCH NHIỆM, NIỀM TIN VÀ KỲ VỌNG CỦA KIỀU BÀO

Phát biểu tại buổi gặp mặt, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Bùi Thị Minh Hoài nhấn mạnh năm 2025 thế giới tiếp tục có nhiều biến động phức tạp, tác động sâu rộng đến đời sống người dân toàn cầu.

Tuy nhiên, đất nước ta vẫn đạt được nhiều kết quả quan trọng và toàn diện, khẳng định vai trò lãnh đạo, uy tín của Đảng cũng như niềm tin, sự đồng thuận và ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân trong và ngoài nước, trong đó có cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.

Quang cảnh buổi gặp mặt. Ảnh: TTXVN.

Chủ tịch Bùi Thị Minh Hoài bày tỏ vui mừng, xúc động trước sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, cả về số lượng, thành phần và tiềm lực. Nhiều kiều bào đã thành công, khẳng định vị trí trong xã hội, thậm chí tham gia chính trường nước sở tại; nhiều người được ghi nhận trên bản đồ tri thức thế giới.

Bà Bùi Thị Minh Hoài khẳng định những thành tựu đạt được của kiều bào là minh chứng rõ nét cho phẩm chất đáng quý của con người Việt Nam: ý chí bền bỉ, bản lĩnh kiên cường và tinh thần không ngừng vươn lên trong cuộc sống.

Khẳng định Đảng, Nhà nước ta luôn dành sự quan tâm, chăm lo đặc biệt cho đồng bào ta ở nước ngoài, bà Bùi Thị Minh Hoài cho biết chủ trương của Đảng và Nhà nước nhất quán khẳng định “cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận máu thịt, không tách rời, là nguồn lực quan trọng của cộng đồng dân tộc Việt Nam”.

Hiện thực hóa các chủ trương của Đảng, thời gian qua, nhiều chính sách cụ thể liên quan đến người Việt Nam ở nước ngoài đã được triển khai ngày càng toàn diện, đồng bộ và mạnh mẽ, thể hiện rõ tình cảm, trách nhiệm của Đảng, Nhà nước thông qua việc đáp ứng ngày càng tốt hơn các nguyện vọng, mong mỏi chính đáng của cộng đồng. Nhiều văn bản pháp luật đã được ban hành theo hướng tạo điều kiện thuận lợi hơn cho bà con khi về nước sinh sống, làm ăn, học tập, nghiên cứu.

Qua các thời kỳ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam luôn dành sự quan tâm, trân trọng đặc biệt đối với vai trò, tiếng nói và những đóng góp quý báu của kiều bào ở nước ngoài đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thời gian tới, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam sẽ khẩn trương triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng bằng các nhiệm vụ, giải pháp, chương trình, kế hoạch cụ thể nhằm phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. 

Theo Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, kiều bào cùng phát huy điểm tương đồng, khơi dậy ý chí tự lực, tự chủ, tự tin, tự cường, lòng tự hào dân tộc; cùng xây dựng cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đoàn kết, vững mạnh, tiếp tục đồng hành cùng dân tộc ngay từ chặng đường đầu tiên của kỷ nguyên mới. 

Bà Bùi Thị Minh Hoài, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trao bằng khen cho các cá nhân tiêu biểu. Ảnh: TTXVN.

Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mong muốn tiếp tục nhận được những đề xuất, sáng kiến thiết thực, đúng, trúng và mang tính đột phá của kiều bào nhằm khơi thông, phát huy hiệu quả nguồn lực to lớn của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài trên các lĩnh vực; nhất là khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, kinh tế tri thức, kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn. Qua đó đóng góp thiết thực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hướng tới mục tiêu đến năm 2045 Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao.

Theo Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bộ Ngoại giao, Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài phát huy kết quả đạt được, triển khai quyết liệt hơn nữa công tác hỗ trợ, chăm lo cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài; vừa đáp ứng các nguyện vọng chính đáng của bà con, vừa tạo động lực để kiều bào tiếp tục đóng góp tích cực cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.

Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với Bộ Ngoại giao và các cơ quan liên quan triển khai các hoạt động tiếp xúc, trao đổi thông tin, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, hỗ trợ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài;

Nghiên cứu, tiếp thu các kiến nghị của kiều bào, đồng thời phối hợp với các ban, bộ, ngành Trung ương và địa phương triển khai hiệu quả hơn nữa công tác về người Việt Nam ở nước ngoài, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong tình hình mới cũng như sự phát triển về quy mô và tính đa dạng của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.

-Như Nguyệt

Categories: The Latest News

Thủ tướng Chính phủ tiếp Đại sứ Trung Quốc : Thúc đẩy quan hệ Việt – Trung phát triển ổn định, thực chất và bền vững

Mon, 02/09/2026 - 10:09
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam Hà Vĩ trao đổi về việc triển khai nhận thức chung cấp cao, qua đó thúc đẩy quan hệ Việt – Trung tiếp tục phát triển ổn định, thực chất và bền vững trong giai đoạn mới.

Ngày 8/2, trước thềm Tết cổ truyền Bính Ngọ, tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã tiếp Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa tại Việt Nam Hà Vĩ.

Trong cuộc tiếp, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đề nghị Đại sứ Hà Vĩ chuyển lời thăm hỏi thân thiết và lời chúc Tết tốt đẹp tới các đồng chí Lãnh đạo cấp cao Trung Quốc; đồng thời thông tin khái quát về những kết quả quan trọng của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thủ tướng cảm ơn Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã sớm gửi Điện mừng Đại hội XIV, đánh giá cao việc hai bên cử Đặc phái viên sang thăm, chúc mừng và thông báo về thành công của Đại hội.

VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC TIẾP TỤC CỦNG CỐ NỀN TẢNG QUAN HỆ SONG PHƯƠNG

Thủ tướng Phạm Minh Chính khẳng định Việt Nam kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; thực hiện nhất quán chính sách đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại. Trong đó, Việt Nam luôn coi việc củng cố và phát triển quan hệ với Trung Quốc là chủ trương nhất quán, yêu cầu khách quan, lựa chọn chiến lược, tự nhiên và ưu tiên hàng đầu.

Trên tinh thần đó, Việt Nam sẵn sàng cùng Trung Quốc tiếp tục củng cố nền tảng chính trị, nền tảng vật chất và nền tảng xã hội của quan hệ song phương, tạo cơ sở cho quan hệ Việt – Trung phát triển ổn định, lâu dài.

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và Đại sứ Hà Vĩ đã cùng nhìn lại những tiến triển rất tích cực của quan hệ Việt - Trung trong năm 2025 - Ảnh: VGP

Đại sứ Hà Vĩ trân trọng cảm ơn Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã dành thời gian tiếp và chuyển lời thăm hỏi, chúc Tết của các đồng chí Lãnh đạo cấp cao Trung Quốc tới Thủ tướng và các đồng chí Lãnh đạo Việt Nam. Đại sứ chúc mừng Việt Nam tổ chức thành công Đại hội XIV Đảng Cộng sản Việt Nam và đạt được nhiều thành tựu phát triển quan trọng trong những năm qua.

Đại sứ bày tỏ tin tưởng rằng, dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đứng đầu là Tổng Bí thư Tô Lâm, Việt Nam sẽ thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ mà Đại hội XIV đã đề ra, tiếp tục phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới.

Trong không khí hữu nghị, cởi mở và tin cậy, hai bên đã cùng nhìn lại những tiến triển tích cực của quan hệ Việt – Trung trong năm 2025, đồng thời trao đổi về các biện pháp nhằm triển khai hiệu quả nhận thức chung của Lãnh đạo cao nhất hai Đảng, hai nước.

TRIỂN KHAI HỢP TÁC TOÀN DIỆN THEO HƯỚNG “6 HƠN”

Thủ tướng Phạm Minh Chính ghi nhận và đánh giá cao nỗ lực, đóng góp tích cực của Đại sứ Hà Vĩ và Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam đối với những tiến triển trong quan hệ song phương. Hai bên nhất trí đánh giá quan hệ Việt – Trung thời gian qua đã có những bước phát triển tích cực theo định hướng “6 hơn”.

Theo đó, trao đổi chiến lược cấp cao ngày càng mật thiết; tin cậy chính trị tiếp tục được tăng cường; các cơ chế hợp tác song phương ngày càng toàn diện và hiệu quả. Hợp tác thực chất đạt nhiều kết quả nổi bật, trong đó kim ngạch thương mại song phương năm 2025 đạt mức kỷ lục; tiến độ triển khai ba tuyến đường sắt khổ tiêu chuẩn kết nối hai nước được đẩy nhanh. Du lịch phục hồi tích cực, Trung Quốc trở lại là thị trường gửi khách lớn nhất của Việt Nam; hợp tác địa phương và giao lưu nhân dân diễn ra sôi động.

Tại cuộc tiếp, đại diện lãnh đạo các địa phương giáp biên của Việt Nam trao đổi về các lĩnh vực hợp tác trọng điểm giữa hai bên - Ảnh: VGP.

Nhấn mạnh ý nghĩa quan trọng của cuộc điện đàm giữa Tổng Bí thư Tô Lâm và Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình ngay sau thành công của Đại hội XIV, Thủ tướng Phạm Minh Chính đề nghị hai bên quán triệt đầy đủ nhận thức chung cấp cao, sớm triển khai các biện pháp cụ thể ngay từ đầu năm 2026 và đầu nhiệm kỳ Đại hội XIV nhằm duy trì đà phát triển tích cực của quan hệ hai nước.

Thủ tướng đề nghị hai bên tiếp tục tăng cường hiểu biết và tin cậy chính trị thông qua tổ chức tốt các hoạt động trao đổi đoàn cấp cao; phát huy hiệu quả các cơ chế hợp tác hiện có; khuyến khích các bộ, ngành, địa phương hai nước mở rộng giao lưu, hợp tác. Đồng thời, đẩy mạnh trụ cột hợp tác quốc phòng – an ninh; kiện toàn, nâng cao hiệu quả các cơ chế liên chính phủ trong những lĩnh vực trọng điểm.

Về hợp tác kinh tế, Thủ tướng Phạm Minh Chính đề nghị hai bên thúc đẩy thương mại song phương theo hướng cân bằng, bền vững; Trung Quốc tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các mặt hàng nông, thủy sản và chăn nuôi của Việt Nam xuất khẩu; hỗ trợ hàng hóa Việt Nam quá cảnh Trung Quốc để tiếp cận các thị trường khác. Hai bên tăng cường hợp tác về nhập khẩu điện; thúc đẩy phát triển cửa khẩu thông minh và kinh tế qua biên giới; nâng tầm hợp tác khoa học – công nghệ gắn với đào tạo nhân lực và chuyển giao công nghệ; phối hợp triển khai hiệu quả, đúng tiến độ Thỏa thuận hợp tác xây dựng ba tuyến đường sắt khổ tiêu chuẩn.

Thủ tướng cũng đề nghị đẩy mạnh hợp tác địa phương, nhất là giữa các địa phương biên giới; mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, du lịch, y tế; tăng cường tuyên truyền về quan hệ hữu nghị Việt – Trung, qua đó củng cố nền tảng xã hội vững chắc cho quan hệ song phương.

Về các vấn đề tồn tại, Thủ tướng Phạm Minh Chính đề nghị hai bên tiếp tục quản lý tốt biên giới trên đất liền; thực hiện nghiêm túc nhận thức chung cấp cao về kiểm soát và xử lý bất đồng trên biển, trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhau, giải quyết bất đồng bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982).

Đại sứ Hà Vĩ đánh giá cao quyết tâm và nỗ lực của Chính phủ Việt Nam trong việc cụ thể hóa các nhận thức chung cấp cao; khẳng định Đảng và Nhà nước Trung Quốc luôn coi trọng và ưu tiên thúc đẩy quan hệ với Việt Nam. Trung Quốc sẵn sàng cùng Việt Nam tăng cường trao đổi chiến lược, nâng tầm hợp tác trong các lĩnh vực trọng yếu; đẩy mạnh hợp tác kinh tế – thương mại, đầu tư, kết nối hạ tầng, khoa học – công nghệ, kinh tế số, kinh tế xanh; tăng cường giao lưu văn hóa, giáo dục, du lịch và giao lưu nhân dân.

Hai bên nhất trí tiếp tục bám sát nhận thức chung cấp cao, phối hợp kiểm soát và xử lý tốt hơn các bất đồng, tạo môi trường hòa bình, ổn định và thuận lợi cho phát triển của mỗi nước và cho quan hệ Việt – Trung trong thời gian tới.

-Hà Lê

Categories: The Latest News

Chủ tịch nước Lương Cường: Khát vọng Việt Nam là động lực phát triển của dân tộc

Mon, 02/09/2026 - 10:09
Phát biểu tại Chương trình Xuân Quê hương 2026, Chủ tịch nước nhấn mạnh khát vọng phát triển là động lực tinh thần quan trọng, gắn kết cộng đồng người Việt Nam trong và ngoài nước.

Tối 8/2, trước thềm Xuân Bính Ngọ, tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Thủ đô Hà Nội, Chủ tịch nước Lương Cường và Phu nhân đã dự Chương trình nghệ thuật đặc biệt Xuân Quê hương 2026 với chủ đề “Khát vọng Việt Nam: Hòa bình, Thịnh vượng”.

Cùng dự có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Bùi Thị Minh Hoài; Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung; Phó Thủ tướng Chính phủ Bùi Thanh Sơn; lãnh đạo, nguyên lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương và khoảng 1.500 đại diện kiều bào tiêu biểu từ khắp nơi trên thế giới về nước đón Tết, vui Xuân.

Xuân Quê hương là chương trình thường niên do Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Ngoại giao và Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội phối hợp tổ chức. Qua nhiều năm, chương trình đã trở thành sự kiện văn hóa – chính trị có ý nghĩa quan trọng, thu hút sự quan tâm đặc biệt của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, là dịp để bà con kiều bào gặp gỡ, gắn kết và cảm nhận sâu sắc hơn sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với cộng đồng người Việt trên toàn thế giới.

KIỀU BÀO LÀ BỘ PHẬN KHÔNG TÁCH RỜI CỦA CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC VIỆT NAM

Năm 2026, chương trình diễn ra từ ngày 6 đến 9/2 (tức ngày 19 – 22 tháng Chạp năm Ất Tỵ), với sự tham dự của khoảng 1.500 kiều bào tiêu biểu, góp phần lan tỏa thông điệp về khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài tiếp tục được khẳng định là bộ phận không tách rời của dân tộc, luôn đồng hành cùng Tổ quốc trong mọi chặng đường phát triển.

Chủ tịch nước Lương Cường và Phu nhân dự Chương trình nghệ thuật đặc biệt Xuân Quê hương 2026. Ảnh: Nhân Dân.

Với chủ đề “Khát vọng Việt Nam: Hòa bình, Thịnh vượng”, Xuân Quê hương 2026 thể hiện tầm nhìn và khát vọng phát triển của đất nước trong giai đoạn mới. “Khát vọng” phản ánh tinh thần vươn lên mạnh mẽ, bền bỉ của dân tộc Việt Nam; “Hòa bình” là giá trị cốt lõi, nền tảng cho phát triển bền vững và hội nhập quốc tế, được lan tỏa từ Thủ đô Hà Nội – “Thành phố vì hòa bình”; “Thịnh vượng” thể hiện mục tiêu xây dựng một Việt Nam phát triển nhanh, bền vững, giàu mạnh, nơi mọi người dân, trong đó có cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, đều có điều kiện phát huy năng lực, trí tuệ và khát vọng cống hiến.

Phát biểu chúc Tết bà con kiều bào và đánh trống khai hội mừng Xuân, Chủ tịch nước Lương Cường bày tỏ vui mừng, xúc động được gặp gỡ đồng bào ta từ khắp năm châu về tham dự Chương trình Xuân Quê hương 2026. Chủ tịch nước gửi tới toàn thể đồng bào trong nước và ở nước ngoài, cùng các vị khách quý, những tình cảm nồng ấm, lời thăm hỏi thân tình và lời chúc mừng năm mới tốt đẹp nhất.

Chủ tịch nước cho biết năm Ất Tỵ 2025 là một năm ghi dấu nhiều sự kiện quan trọng của đất nước, với các dấu mốc lớn như kỷ niệm 95 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam; 135 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh; 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9; 50 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Năm 2025 cũng là năm đánh dấu quá trình tinh gọn bộ máy, tái cấu trúc không gian phát triển, tạo đà tăng tốc, bứt phá mạnh mẽ để hiện thực hóa các mục tiêu phát triển chiến lược của đất nước.

Chủ tịch nước phát biểu tại chương trình. Ảnh: Nhân Dân

Nhấn mạnh trong các sự kiện trọng đại của dân tộc luôn có sự hiện diện, đóng góp và đồng hành của đồng bào ta ở nước ngoài, Chủ tịch nước dẫn lại hình ảnh khối diễu hành người Việt Nam ở nước ngoài lần đầu tiên tham gia tại Lễ kỷ niệm 50 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và 80 năm Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2/9. Đây là minh chứng sinh động cho tinh thần đại đoàn kết và hòa hợp dân tộc, khẳng định người Việt Nam dù ở trong hay ngoài nước đều là “con Lạc, cháu Hồng”, là máu thịt của cộng đồng dân tộc Việt Nam.

KHÁT VỌNG VIỆT NAM – ĐỘNG LỰC TINH THẦN CHO KỶ NGUYÊN PHÁT TRIỂN

Nêu rõ năm 2025 cũng là năm đất nước phải gồng mình trước những tác động nặng nề của thiên tai, cũng như bối cảnh quốc tế và khu vực phức tạp, Chủ tịch nước cho rằng chính trong hoàn cảnh đó, bản lĩnh, trí tuệ, ý chí và khát vọng của dân tộc Việt Nam một lần nữa được khẳng định. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, với nỗ lực và quyết tâm của toàn dân, toàn quân, đất nước đã vượt qua khó khăn, đạt được nhiều thành quả quan trọng, toàn diện.

Chủ tịch nước đánh trống khai xuân. Ảnh: Nhân Dân.

Theo Chủ tịch nước, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và môi trường hòa bình tiếp tục được giữ vững; kinh tế duy trì đà tăng trưởng cao trong khu vực và thuộc nhóm dẫn đầu thế giới, trở thành quốc gia có thu nhập trung bình cao; Việt Nam vươn lên nhóm 32 nền kinh tế lớn nhất và nhóm 15 quốc gia thương mại hàng đầu thế giới. Quốc phòng, an ninh được giữ vững; chính trị – xã hội ổn định; đời sống nhân dân từng bước được nâng cao; các chính sách an sinh xã hội được triển khai sâu rộng, trong đó có các phong trào xóa nhà tạm, nhà dột nát, hỗ trợ người dân vùng bị thiên tai, xây dựng trường học tại khu vực biên giới.

Cùng với đó, công tác đối ngoại tiếp tục là điểm sáng, góp phần nâng cao vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam. Ở nước ngoài, cộng đồng người Việt Nam tiếp tục phát huy vai trò là cầu nối hữu nghị, hợp tác và phát triển giữa Việt Nam với các quốc gia, ngày càng hội nhập sâu rộng, khẳng định uy tín tại nước sở tại và đóng góp nguồn lực quan trọng cho đất nước.

Thay mặt Nhà nước và nhân dân cả nước, Chủ tịch nước ghi nhận, đánh giá cao và trân trọng những tình cảm, trách nhiệm và nghĩa cử của bà con kiều bào đối với quê hương, đất nước. Chủ tịch nước khẳng định “Khát vọng Việt Nam” chính là dòng chảy bền bỉ, là động lực tinh thần to lớn giúp dân tộc Việt Nam vượt qua mọi thách thức để vươn lên mạnh mẽ.

Bước sang năm 2026 – năm đầu tiên triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Chủ tịch nước nhấn mạnh đất nước ta tự tin bước vào kỷ nguyên phát triển mới, với quyết tâm thực hiện thắng lợi Chiến lược phát triển đất nước đến năm 2030. Khát vọng Việt Nam tiếp tục kết tinh trong hai giá trị cốt lõi là Hòa bình và Thịnh vượng – nền tảng để đất nước phát triển nhanh, bền vững và nhân dân có cuộc sống ngày càng ấm no, hạnh phúc.

Nhắc lại lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc, Chủ tịch nước khẳng định vận hội lớn đi cùng với khát vọng lớn và trách nhiệm lớn của mỗi người Việt Nam, dù ở trong hay ngoài nước. Sức mạnh quyết định để hiện thực hóa Khát vọng Việt Nam chính là sự đồng lòng, chung sức của toàn dân tộc.

Chương trình nghệ thuật Xuân Quê hương 2026 khép lại bằng hành trình cảm xúc kết nối quá khứ – hiện tại – tương lai, là cuộc đoàn viên tinh thần của những người con Việt Nam xa quê trở về nguồn cội, tiếp tục gửi gắm niềm tin, trí tuệ và tâm huyết cho chặng đường phát triển phía trước của đất nước.

Chương trình với hàng loạt các ca khúc nổi tiếng như “Hạt gạo làng ta”, “Áo mùa đông”, “Đàn chim Việt”, “Viết tiếp câu chuyện hoà bình”, “Hà Nội niềm tin và hy vọng”, “Thịnh vượng Việt Nam sáng ngời”, “Việt Nam trong tôi là”… lan toả tình yêu quê hương, lòng tự hào dân tộc, và khát vọng xây dựng đất nước, thể hiện niềm tin vào tương lai tươi sáng của Việt Nam, cũng như những cảm xúc sâu sắc về văn hóa và lịch sử dân tộc.

-Hà Lê

Categories: The Latest News

Đón đọc Ấn phẩm đặc biệt của Tạp chí Kinh tế Việt Nam mừng Xuân Bính Ngọ 2026

Sun, 02/08/2026 - 21:13
Từ ngày 16-02-2026, Ấn phẩm đặc biệt Xuân Bính Ngọ 2026 của Tạp chí Kinh tế Việt Nam sẽ ra mắt bạn đọc với chủ đề "Khởi hành trên Đại Lộ Kiến Tạo"…

Bạn đọc thân mến,

Cứ mỗi độ Tết đến, Xuân về, đất nước lại như được dệt gấm, thêu hoa. Mùa Xuân, mùa khởi đầu của một năm mới, giống như tuổi trẻ đời người, luôn căng tràn nhựa sống. Cây cối sinh sôi, đâm chồi, nảy lộc; muôn hoa đua sắc, tỏa hương trong tiết trời se lạnh, tạo thêm cảm hứng đề nhà nhà đón Tết, người người vui Xuân, với tâm thế mừng vui, náo nức chờ đón những điều tốt đẹp nhất sẽ đến trong một năm mới được cầu mong ngập tràn hạnh phúc, phồn vinh…

Tết này mở đầu cho một năm Bính Ngọ với niềm tin và khát vọng lớn lao về một Việt Nam “cất cánh”, khi đất nước chuyển mình, bước vào kỷ nguyên phát triển mới, theo định hướng và tầm nhìn chiến lược vừa được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng – nơi hội tụ những đại biểu tinh hoa, đại diện cho trí tuệ, ý chí tự lực, tự cường và nguyện vọng của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta.

Xuân Bính Ngọ này cũng là mùa Xuân thứ 96 kể từ khi Đảng ta ra đời. Đất nước, với 96 mùa Xuân có Đảng, đã biến đổi thần kỳ. Dân tộc ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng, từ thân phận “vong quốc nô”, đã “Rũ bùn đứng dậy sáng lòa!” (thơ Nguyễn Đình Thi), giành lại độc lập tự do, thống nhất Tổ quốc và đang từng bước phát triển đi lên, thoát nghèo từ nhóm 20 quốc gia nghèo nhất thế giới, trở thành quốc gia có quy mô GDP quy đổi đạt 514 tỷ USD và kim ngạch xuất nhập khẩu hơn 930 tỷ USD, khi kết thúc năm 2025 – năm cuối cùng thực hiện kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế - xã hội theo nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

Những ngày này, khắp cả ba miền Bắc, Trung, Nam, đâu đâu cũng rực rỡ cờ hoa đón mừng Năm mới, với niềm vui nhân lên gấp bội trước thành công tốt đẹp của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng

- Đại hội khai mở kỷ nguyên phát triển mới của đất nước, “Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”, như lời Tổng Bí thư Tô Lâm, với đích đến ở tầm trung hạn là hai mục tiêu một trăm năm, để đến năm 2030, khi kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, nước ta trở thành quốc gia đang phát triển, có công nghiệp hiện đại và mức thu nhập trung bình cao; tiếp đó, đến năm 2045, khi kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), trở thành quốc gia phát triển với mức thu nhập cao.

Đến lúc đó, nước Việt Nam ta, với tầm vóc, vị thế và uy tín quốc tế mới, hoàn toàn có thể tự hào “sánh vai với các cường quốc năm châu”, như Bác Hồ từng mong ước, trong thư gửi “các cháu học sinh” nhân ngày khai trường năm 1945.

Viễn cảnh đó không xa và đang tạo nguồn cảm hứng, trở thành động lực để toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta tiếp tục phấn đấu, vượt qua mọi thách thức, khó khăn, đẩy mạnh hơn nữa công cuộc dựng xây và phát triển đất nước, trước mắt là hoàn thành thắng lợi Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng vừa “bấm nút” thông qua.

Những thành tựu to lớn và toàn diện đạt được trong năm 2025 và trong giai đoạn 2021-2025 vừa qua vừa là tiền đề, là điểm tựa, vừa là cơ sở vững chắc để đất nước ta tiếp tục vươn lên trong những năm mở đầu của Kỷ nguyên phát triển mới.

Năm mới, vận hội mới. Nền kinh tế nước ta đang đứng trước nhiều cơ hội phát triển, với thế và lực được tạo dựng từ thành công của 40 năm Đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo thực hiện, dẫu khó tránh những “cơn gió ngược” – hậu quả tất yếu của những biến động khôn lường từ bối cảnh phức tạp của tình hình chính trị, kinh tế và xã hội thế giới.

Hoàn toàn ngẫu nhiên, Kỷ nguyên phát triển mới của đất nước ta được khởi đầu bằng Năm Con Ngựa, lại là “Ngựa Vàng”, mà theo quan niệm dân gian, tượng trưng cho sự năng động, tự do, mạnh mẽ và đầy nhiệt huyết, hứa hẹn nhiều cơ hội bứt phá.

Hy vọng trong năm Bính Ngọ này, năm mở đầu của Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (2026-2030) mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng vừa thông qua, nền kinh tế Việt Nam sẽ làm nên kỳ tích với tốc độ “phi mã”, đạt mức tăng trưởng ít nhất 10%, theo mục tiêu Đại hội XIV đề ra. Nếu điều đó trở thành hiện thực, năm Con Ngựa 2026 sẽ đi vào lịch sử dân tộc với tư cách là năm đầu tiên Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế hai chữ số, tạo tiền đề để đạt mục tiêu tăng trưởng tương tự trong các năm tiếp theo.

Cộng động doanh nghiệp ở Việt Nam, cả trong nước và nước ngoài, đóng vai trò chủ chốt trong nỗ lực chung nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu tăng trưởng hai chữ số. Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân và Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước vừa là kim chỉ nam, vừa là động lực khích lệ các loại hình doanh nghiệp, cả tư nhân và nhà nước, tiếp tục phát triển, đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh, với vai trò là lực lượng chủ công trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Với tinh thần đó, Tạp chí Kinh tế Việt Nam – người bạn đồng hành tin cậy của doanh nhân và doanh nghiệp cả nước – xin được chúc quý vị “Mã đáo thành công” trong năm Bính Ngọ có nhiều cơ hội bứt phá này.

Xin chúc quý bạn đọc xa gần cùng gia đình một Năm mới Bính Ngọ an khang, hạnh phúc và phồn vinh!

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG BIÊN TẬP
TS. CHỬ VĂN LÂM

-Tạp chí Kinh tế Việt Nam - VnEconomy

Categories: The Latest News

Tổng Bí thư Tô Lâm gặp mặt Đoàn kiều bào tiêu biểu

Sun, 02/08/2026 - 20:49
Tổng Bí thư khẳng định cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của dân tộc, nguồn lực quan trọng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong giai đoạn phát triển mới.

Chiều 8/2, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm đã gặp mặt Đoàn kiều bào tiêu biểu từ nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ về dự Chương trình Xuân Quê hương 2026 do Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Ngoại giao tổ chức.

Cùng dự buổi tiếp có các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Văn phòng Trung ương Đảng, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Bộ Ngoại giao và Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài.

Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu tại cuộc gặp mặt Đoàn kiều bào tiêu biểu tham dự Chương trình Xuân Quê hương 2026. Ảnh: Nhân Dân.

Trong không khí đầu Xuân, Tổng Bí thư bày tỏ vui mừng chào đón kiều bào về nước đón Tết cổ truyền, gửi lời thăm hỏi tới toàn thể đồng bào ta ở nước ngoài, những người luôn hướng về Tổ quốc với tình cảm sâu nặng và tinh thần trách nhiệm cao.

Tổng Bí thư cho biết năm 2025, trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực diễn biến phức tạp, với sự chung sức đồng lòng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, trong đó có đóng góp của khoảng 6,5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài, đất nước đã vượt qua nhiều khó khăn, đạt kết quả quan trọng trên các lĩnh vực, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, duy trì tăng trưởng kinh tế, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao vị thế quốc tế.

Năm 2025 cũng ghi dấu bước chuyển mạnh trong đổi mới tư duy và hành động phát triển, thể hiện qua quá trình hoàn thiện thể chế, tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia và tái cấu trúc không gian phát triển. Những kết quả đó là minh chứng cho sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, trong đó có sự gắn bó, đồng thuận của đồng bào trong và ngoài nước.

Tổng Bí thư khẳng định, Đảng và Nhà nước nhất quán quan điểm lấy dân làm gốc; cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của dân tộc, là nguồn lực quan trọng trong kỷ nguyên phát triển mới. Thời gian qua, các chủ trương, chính sách đối với kiều bào tiếp tục được hoàn thiện, tạo điều kiện để bà con ổn định cuộc sống, hội nhập sở tại, giữ gìn bản sắc văn hóa và gắn bó với quê hương.

Tổng Bí thư Tô Lâm với các đại biểu kiều bào tiêu biểu tham dự Chương trình Xuân Quê hương 2026. Ảnh: Nhân Dân.

Tổng Bí thư ghi nhận đóng góp của trí thức, nhà khoa học, doanh nhân kiều bào trong các lĩnh vực khoa học – công nghệ, giáo dục – đào tạo, đầu tư, thương mại, quảng bá hình ảnh đất nước; đồng thời đánh giá cao nỗ lực gìn giữ, lan tỏa tiếng Việt và văn hóa Việt cho các thế hệ trẻ ở nước ngoài.

Nhấn mạnh ý nghĩa của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Tổng Bí thư cho biết Đại hội đã mở ra giai đoạn phát triển mới với mục tiêu phát triển nhanh và bền vững, ưu tiên khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, củng cố quốc phòng – an ninh và hội nhập quốc tế sâu rộng.

Nhân dịp năm mới, Tổng Bí thư mong muốn kiều bào tiếp tục chấp hành tốt pháp luật nước sở tại, đoàn kết xây dựng cộng đồng vững mạnh, phát huy vai trò cầu nối hữu nghị giữa Việt Nam và các nước; đồng thời khẳng định Đảng, Nhà nước sẽ tiếp tục hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của đồng bào ta ở nước ngoài.

Chương trình Xuân Quê hương 2026 với chủ đề “Khát vọng Việt Nam: Hòa bình, Thịnh vượng” diễn ra từ ngày 6-9/2 tại Hà Nội và kết nối Ninh Bình, là sự kiện văn hóa – chính trị thường niên, thu hút sự quan tâm sâu rộng của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài mỗi dịp Tết đến, Xuân về.

Chương trình Xuân Quê hương 2026 có chủ đề “Khát vọng Việt Nam: Hòa bình, Thịnh vượng” diễn ra từ ngày 6-9/2 (tức ngày 19-22 tháng Chạp năm Ất Tỵ), tại Hà Nội và kết nối Ninh Bình. Đây là một sự kiện văn hóa-chính trị quan trọng, thu hút sự quan tâm đặc biệt của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và luôn được bà con kiều bào chờ đón mỗi dịp Tết đến, Xuân về.

Chương trình diễn ra trong bối cảnh Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng thành công tốt đẹp, mở ra giai đoạn phát triển mới với tâm thế chủ động, tự tin và khát vọng vươn lên của đất nước.

Theo chương trình, vào tối cùng ngày, Chủ tịch nước Lương Cường sẽ chúc Tết kiều bào, đánh trống hội khai Xuân trong Chương trình giao lưu nghệ thuật Xuân Quê hương 2026 tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia dành cho toàn thể kiều bào về dự.

-Hà Lê

Categories: The Latest News

Hà Nội: 100% cử tri nơi cư trú phường Đại Mỗ nhất trí giới thiệu 4 ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND

Sun, 02/08/2026 - 20:47
Chiều 8/2, UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam phường Đại Mỗ tổ chức Hội nghị lấy ý kiến nhận xét và tín nhiệm của cử tri nơi cư trú đối với người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 tại địa bàn tổ dân phố Vinhomes Greenbay, phường Đại Mỗ.

Hội nghị được tổ chức để lấy ý kiến cử tri nơi cư trú đối với 3 người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI gồm: Ông Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương; Ông Nguyễn Kim Sơn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo; Ông Vũ Văn Tiến, Ủy viên Đoàn Chủ tịch, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Đảng ủy Cơ quan Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, Bí thư Chi bộ, Trưởng Ban Tuyên giáo Cơ quan Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, Phó Chủ nhiệm Hội đồng tư vấn về khoa học, công nghệ và chuyển đổi số của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam.

Hội nghị cũng lấy ý kiến cử tri đối với ông Mai Xuân Trường, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Dân Hòa, ứng cử đại biểu HĐND xã Dân Hòa, nhiệm kỳ 2026-2031.

 Các đại biểu dự hội nghị. 

Tại hội nghị, cử tri, các đại biểu đã nghe giới thiệu tiêu chuẩn của người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI, đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 và tóm tắt tiểu sử của 4 người ứng cử hiện đang cư trú trên địa bàn phường.

Trên cơ sở nghiên cứu hồ sơ và quá trình công tác của 4 ứng cử, cử tri thống nhất đánh giá ông Trịnh Văn Quyết, ông Nguyễn Kim Sơn, ông Vũ Văn Tiến và ông Mai Văn Trường đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn, điều kiện ứng cử; có lối sống giản dị, gần gũi với bà con trên địa bàn cư trú; luôn giữ mối liên hệ chặt chẽ với nhân dân, thường xuyên quan tâm, sâu sát địa bàn dân cư; nghiêm túc thực hiện trách nhiệm của người đảng viên, nghĩa vụ công dân; tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Tại hội nghị, 100% cử tri tham dự đã biểu quyết, thể hiện sự tín nhiệm tuyệt đối với 4 người ứng cử.

Toàn cảnh hội nghị. Ảnh: QĐND

Thay mặt cho các ứng cử viên được cử tri giới thiệu ứng cử, ông Trịnh Văn Quyết bày tỏ niềm xúc động khi được lắng nghe những ý kiến phát biểu tâm huyết của những người xóm phố thân thiết. Đây cũng là những lời động viên, chia sẻ nhưng đánh giá rất cao đối với cá nhân 4 người được giới thiệu ứng cử.

Ông Trịnh Văn Quyết nhấn mạnh Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng đặt ra mục tiêu đưa đất nước ta trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao vào năm 2030; thiết thực kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng; hiện thực hoá tầm nhìn đến năm 2045 kỷ niệm 100 năm thành lập nước, trở thành nước phát triển, thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Đây là những kỳ vọng rất lớn của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân với mong muốn xây dựng một đất nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, nhân dân Việt Nam được hưởng cuộc sống ấm no, hạnh phúc và đất nước vững bước đi lên con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.

Ông Trịnh Văn Quyết khẳng định được lãnh đạo Đảng, Nhà nước phân công giao nhiệm vụ tham gia ứng cử, nếu được tín nhiệm bầu làm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp, với trách nhiệm trên cương vị công tác của mình và với tư cách là đại biểu của khu phố, chúng tôi cũng sẽ cố gắng cống hiến nhiều hơn cho sự nghiệp chung của đất nước, của dân tộc và của cách mạng.

-Dũng Hiếu

Categories: The Latest News

Bế mạc Hội nghị quán triệt Nghị quyết Đại hội XIV: Triển khai thực hiện Nghị quyết theo hướng hành động

Sat, 02/07/2026 - 18:10
Chiều 7/2, Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng do Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng tổ chức đã bế mạc sau một ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc với tinh thần trách nhiệm cao, hoàn thành toàn bộ nội dung, chương trình đề ra và thành công tốt đẹp.

Hội nghị đã nghe bài phát biểu chỉ đạo quan trọng của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm về những nội dung, nhiệm vụ định hướng hành động và yêu cầu trong tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, biến Nghị quyết thành hành động, biến hành động thành kết quả, biến kết quả thành thay đổi cụ thể trong đời sống nhân dân.

Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu chỉ đạo tại hội nghị. (Ảnh: DUY LINH)

Tiếp thu và đáp từ ý kiến chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm, đồng chí Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương nhấn mạnhn ngay sau Hội nghị, các cấp ủy, tổ chức đảng phải tiếp tục quán triệt, phổ biến, tuyên truyền Nghị quyết; tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, khẩn trương tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết theo hướng hành động, phát huy cao độ tinh thần tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin tiến mạnh trong kỷ nguyên mới của dân tộc, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ từ “học tập, quán triệt” sang “hiểu sâu - hành động đúng - làm đến cùng”; kết hợp hài hòa giữa phương thức truyền thống với phát huy hiệu quả các ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số; đồng thời, chú trọng kiểm tra, giám sát, bảo đảm hiệu quả thực chất trong nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và trong từng bước triển khai thực hiện, quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.

Hội nghị được tổ chức bằng hình thức trực tiếp, kết hợp trực tuyến từ điểm cầu Trung ương kết nối với 31.097 điểm cầu các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương; điểm cầu các ban, bộ, ngành, đơn vị sự nghiệp trực thuộc Trung ương và điểm cầu cấp cơ sở trên toàn quốc; với hơn 1.930.000 đại biểu tham dự tại các điểm cầu. Hội nghị được truyền hình, phát thanh trực tiếp trên các kênh, sóng của Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam và các nền tảng số; tiếp sóng trên hệ thống báo và phát thanh truyền hình địa phương trong cả nước.

Tại hội nghị, đại biểu được nghe 10 chuyên đề, tập trung làm rõ nội dung cơ bản, cốt lõi, những điểm mới trong các văn kiện Đại hội XIV của Đảng, đồng thời, làm sâu sắc các nội dung theo từng lĩnh vực.

Chuyên đề 1: “Một số vấn đề mới, cốt lõi và kinh nghiệm 40 năm đổi mới trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng” do đồng chí Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương truyền đạt.

Đồng chí Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương trình bày chuyên đề tại hội nghị. (Ảnh: DUY LINH)

Chuyên đề 2 “Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng” do đồng chí Phạm Minh Chính, Thủ tướng Chính phủ truyền đạt.

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính trình bày chuyên đề tại hội nghị. (Ảnh: DUY LINH)

Chuyên đề 3: “Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng nhiệm kỳ Đại hội XIII và tổng kết 15 năm thi hành Điều lệ Đảng (2011 - 2025); phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng nhiệm kỳ Đại hội XIV” do đồng chí Lê Minh Hưng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương truyền đạt.

Đồng chí Lê Minh Hưng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương trình bày chuyên đề tại hội nghị. (Ảnh: DUY LINH)

Chuyên đề 4: “Đánh giá 5 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030 và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2026 - 2030” do đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương truyền đạt.

Đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương trình bày chuyên đề tại hội nghị. (Ảnh: DUY LINH)

Chuyên đề 5: “Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong Kỷ nguyên mới” do đồng chí Bùi Thị Minh Hoài, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam truyền đạt.

Đồng chí Bùi Thị Minh Hoài, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam báo cáo chuyên đề tại hội nghị. (Ảnh: DUY LINH)

Chuyên đề 6: “Tư duy, nhận thức mới về quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc của Đại hội XIV” do đồng chí Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng truyền đạt.

Đồng chí Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Quốc phòng truyền đạt chuyên đề tại hội nghị. (Ảnh: DUY LINH)

Chuyên đề 7: “Tư duy, nhận thức mới về an ninh quốc gia của Đại hội XIV” do đồng chí Lương Tam Quang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an truyền đạt.

Đồng chí Đại tướng Lương Tam Quang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Công an truyền đạt chuyên đề tại hội nghị. (Ảnh: DUY LINH)

Chuyên đề 8: “Phát triển đối ngoại trong kỷ nguyên mới tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế của đất nước” do đồng chí Lê Hoài Trung, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao truyền đạt.

Đồng chí Lê Hoài Trung, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Ngoại giao truyền đạt chuyên đề tại hội nghị.

Chuyên đề 9: “Đề cương tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam (1930 - 2030), định hướng, lãnh đạo phát triển đất nước trong 100 năm tiếp theo (2030 - 2130) và Tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội” do đồng chí Đoàn Minh Huấn, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh truyền đạt.

Đồng chí Đoàn Minh Huấn, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh truyền đạt chuyên đề tại hội nghị. (Ảnh: DUY LINH)

Chuyên đề 10: “Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát góp phần tăng cường kỷ cương, kỷ luật đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV” do đồng chí Trần Sỹ Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương truyền đạt.

Đồng chí Trần Sỹ Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương truyền đạt chuyên đề tại hội nghị.

-

Categories: The Latest News

Phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng

Sat, 02/07/2026 - 17:30
Ngày 7/2, tại Hà Nội, Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.

Đây là Hội nghị quan trọng được tổ chức bằng hình thức trực tiếp từ Hội trường Diên Hồng, Nhà Quốc hội và kết hợp trực tuyến tới 31.097 điểm cầu ở Trung ương, các tỉnh/thành phố, các xã, phường, đặc khu, các tổ chức đảng trong quân đội, công an và doanh nghiệp với hơn 1,9 triệu đại biểu tham dự tại các điểm cầu.

Tổng Bí thư Tô Lâm dự, phát biểu chỉ đạo Hội nghị.

VnEconomy trân trọng giới thiệu Phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.

"Kính thưa các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước; lãnh đạo các cấp ủy đảng, lãnh đạo các ban, bộ ngành Trung ương và địa phương,

Thưa các đồng chí cán bộ, đảng viên, đồng bào cả nước tham dự Hội nghị tại các điểm cầu,

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã thành công rất tốt đẹp, mở ra một giai đoạn phát triển mới của đất nước với tầm nhìn dài hạn, mục tiêu rõ ràng, quyết tâm chính trị cao của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Đại hội đánh dấu bước chuyển tiếp quan trọng của sự nghiệp cách mạng; khẳng định bản lĩnh, trí tuệ và năng lực lãnh đạo của Đảng trong định hướng tương lai của dân tộc trong bối cảnh thế giới biến đổi sâu sắc và phức tạp.

Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng là sự tổng kết sâu sắc về lý luận và thực tiễn; thể hiện ý chí, khát vọng của toàn Đảng, toàn dân quyết tâm xây dựng thành công một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Hội nghị hôm nay mở ra không gian sinh hoạt chính trị sâu rộng nhằm thống nhất ý chí và hành động, tạo nền tảng để đưa Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đi vào cuộc sống. Với 10 chuyên đề quan trọng được các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, lãnh đạo các cơ quan Trung ương trình bày, Hội nghị đã làm rõ những vấn đề trọng yếu trước mắt cần thực hiện và xác định những định hướng lớn cần triển khai trong cả nhiệm kỳ và trong tương lai, qua đó làm sâu sắc hơn nhận thức về con đường phát triển của dân tộc và yêu cầu đổi mới tư duy lãnh đạo, phương thức cầm quyền của Đảng trong kỷ nguyên mới.

Tổng Bí thư khẳng định: Hội nghị hôm nay mở ra không gian sinh hoạt chính trị sâu rộng nhằm thống nhất ý chí và hành động, tạo nền tảng để đưa Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đi vào cuộc sống - Ảnh: VGP

Để chuyển hóa tinh thần và tầm vóc của Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng thành chương trình hành động thống nhất trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, tôi xin nhấn mạnh thêm một số vấn đề sau đây:

Thứ nhất: Mọi thành tựu của đất nước đều gắn liền với những giai đoạn mà chủ trương đúng được tổ chức thực hiện quyết liệt, đồng bộ và hiệu quả.

Nhìn lại 80 năm xây dựng và phát triển đất nước, đặc biệt là 40 năm đổi mới, có thể khẳng định rằng quyết định đổi mới của Đảng ta là một quyết định đúng đắn mang tầm thời đại và tính lịch sử, xuất phát từ thực tiễn sinh động của đất nước, từ bản lĩnh chính trị của một Đảng cách mạng chân chính, dám nhìn thẳng vào sự thật, dám đổi mới vì lợi ích của Nhân dân và dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá, bị bao vây, cấm vận hàng chục năm... Nhưng Việt Nam đã anh dũng vượt qua, từng bước vươn lên trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, tham gia sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, khẳng định vị thế ngày càng cao trên trường quốc tế. Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy mọi thành tựu của đất nước đều gắn liền với những giai đoạn mà chủ trương đúng được tổ chức thực hiện quyết liệt, đồng bộ và hiệu quả và tổ chức thực hiện là yếu tố then chốt để biến Nghị quyết thành kết quả cụ thể.

Chúng ta đã đạt được tốc độ tăng trưởng khá cao trong nhiều năm, nhưng chất lượng tăng trưởng, tính bền vững và “sức chống chịu của nền kinh tế” vẫn còn rất nhiều hạn chế. Chúng ta đã hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, nhưng mức độ “làm chủ công nghệ, năng suất lao động và năng lực cạnh tranh nội sinh” của nền kinh tế vẫn chưa xứng tầm với tiềm năng của đất nước và kỳ vọng của nhân dân. Chúng ta đã xây dựng được một hệ thống chính trị tương đối đồng bộ, nhưng hiệu lực, hiệu quả “quản trị quốc gia, kỷ luật, kỷ cương hành chính và chất lượng thực thi chính sách” vẫn còn khoảng cách so với yêu cầu phát triển đất nước.

Vì vậy, yêu cầu đặt ra hiện nay không chỉ là khẳng định con đường đổi mới đúng đắn, mà quan trọng hơn là phải đổi mới mạnh mẽ, quyết liệt và sâu rộng hơn về tư duy phát triển, mô hình tăng trưởng, và “đặc biệt là trong năng lực tổ chức thực hiện”. Điểm nghẽn căn bản nhất hiện nay không nằm ở đường lối, mà nằm ở năng lực biến đường lối thành kết quả phát triển cụ thể.

Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao đối với tiến trình phát triển của đất nước trong giai đoạn mới, chúng ta phải thống nhất và dứt khoát về tư duy xuyên suốt là chuyển mạnh từ “nói” sang “làm”, từ nhận thức thành hành động. Văn kiện Đại hội đã chỉ rõ, kiên quyết khắc phục triệt để tình trạng “nói nhiều làm ít”, “nói hay, làm dở”, “nói không đi đôi với làm”, chấm dứt lối làm việc quan liêu, hình thức. Mỗi cấp ủy, mỗi tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt người đứng đầu, phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, gương mẫu đi đầu trong việc biến quyết sách thành hiện thực.

Thứ hai: Năm điểm then chốt có ý nghĩa quyết định trong tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng

Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã xác định những mục tiêu phát triển chiến lược của đất nước trong giai đoạn mới và đặt ra yêu cầu phải nâng cao năng lực hiện thực hóa các mục tiêu thành kết quả cụ thể, đo đếm được, người dân được thụ hưởng trực tiếp. Trên cơ sở đó, cần tập trung thực hiện 5 điểm then chốt có ý nghĩa quyết định trong khâu tổ chức thực hiện Nghị quyết.

Một là, tập trung nâng cao năng lực thể chế hóa và cụ thể hóa nghị quyết thành chính sách và pháp luật. Đảm bảo, mỗi chủ trương lớn của Đảng phải được chuyển hóa kịp thời, đồng bộ và nhất quán thành hệ thống cơ chế, chính sách và pháp luật khả thi, ổn định và minh bạch. Thể chế không chỉ là công cụ quản lý nhà nước, mà phải trở thành động lực phát triển, giải phóng sức sản xuất, khơi thông các nguồn lực xã hội và tạo lập môi trường thuận lợi cho đổi mới sáng tạo. Khắc phục triệt để tình trạng Nghị quyết đúng nhưng chính sách chậm ban hành, thiếu đồng bộ hoặc khó thực thi. Bảo đảm sự thống nhất giữa mục tiêu chiến lược của Đảng với hệ thống pháp luật của Nhà nước và năng lực triển khai của bộ máy hành chính.

Hai là, cải cách phương thức tổ chức thực hiện và kỷ luật thực thi. Đảm bảo mọi chương trình hành động phải được thiết kế trên cơ sở mục tiêu rõ ràng, lộ trình cụ thể, phân công trách nhiệm minh bạch và cơ chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ. Phải chuyển mạnh từ phương thức “quản lý dựa trên mệnh lệnh hành chính” sang “quản trị dựa trên kết quả”; từ đánh giá bằng “báo cáo hình thức” sang đánh giá bằng “sản phẩm phát triển cụ thể” và “tác động xã hội” thực chất. Kỷ luật thực thi phải trở thành nguyên tắc hành động của toàn bộ hệ thống chính trị, chấm dứt tình trạng né tránh, trì trệ, đùn đẩy trách nhiệm trong tổ chức thực hiện nghị quyết.

Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng - Ảnh: VGP

Ba là, coi hiệu quả phát triển và sự hài lòng của Nhân dân là thước đo cao nhất của việc thực hiện nghị quyết. Đảm bảo mỗi chủ trương, chính sách phải trả lời được câu hỏi cốt lõi: “mang lại lợi ích gì cho đất nước, cho Nhân dân và cho tương lai phát triển lâu dài của dân tộc”. Giá trị của nghị quyết không chỉ được khẳng định bằng tính đúng đắn về lý luận, mà phải được kiểm nghiệm bằng chất lượng tăng trưởng, bằng cải thiện đời sống cho Nhân dân. Khi nghị quyết thực sự tạo ra chuyển biến tích cực trong đời sống kinh tế – xã hội, nâng cao năng lực quốc gia và mở rộng cơ hội phát triển, thì nghị quyết mới có giá trị chính trị và lịch sử bền vững.

Bốn là, xây dựng đội ngũ cán bộ có năng lực tổ chức thực thi, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Đột phá trong hành động phải đặc biệt chú trọng"đột phá về con người". Phải xây dựng đội ngũ cán bộ đủ bản lĩnh chính trị, đủ trí tuệ, đủ năng lực tổ chức thực hiện và dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Khắc phục tình trạng cán bộ giỏi tham mưu nhưng yếu tổ chức thực hiện, lấy kết quả thực tiễn làm tiêu chuẩn quan trọng nhất để đánh giá cán bộ. Đồng thời, hình thành cơ chế bảo vệ người dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới vì lợi ích của đất nước.

Năm là, gắn thực hiện nghị quyết với đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và nâng cao hiệu lực quản trị quốc gia. Đảng lãnh đạo bằng đường lối, chủ trương, bằng năng lực tổ chức thực hiện, bằng nêu gương và bằng uy tín chính trị, qua công tác kiểm tra, giám sát; lãnh đạo thông qua Nhà nước, qua Mặt trận tổ quốc và các tổ chức chính trị xã hội... Trong giai đoạn mới, việc đổi mới phương thức lãnh đạo phải hướng tới xây dựng một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện đại, một nền quản trị quốc gia hiệu quả, kỷ cương, minh bạch và phục vụ Nhân dân.

Thứ ba: Phát huy vai trò của toàn hệ thống chính trị trong tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV.

Thu hẹp khoảng cách từ nghị quyết đến kết quả thực chất chính là thước đo bản lĩnh lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Đó cũng là tiêu chuẩn để lịch sử đánh giá thế hệ cán bộ, đảng viên hôm nay bằng những thành tựu phát triển mà đất nước đạt được, bằng những giá trị thiết thực mà nhân dân được thụ hưởng và bằng niềm tin yêu của Nhân dân đối với Đảng.

Trước hết, các cơ quan Đảng Trung ương có trách nhiệm giữ vai trò trung tâm định hướng và kiểm soát chặt chẽ việc tổ chức thực hiện nghị quyết trên phạm vi toàn quốc, bảo đảm sự thống nhất giữa tư duy chiến lược, thiết kế chính sách và kết quả thực thi trong toàn hệ thống chính trị, “chủ động phát hiện sớm những lệch pha giữa chủ trương và thực tiễn”, “giữa mục tiêu đề ra và năng lực triển khai”, kịp thời điều chỉnh định hướng, tháo gỡ điểm nghẽn và chấn chỉnh những biểu hiện làm suy giảm hiệu lực lãnh đạo của Đảng. Yêu cầu đặt ra là mỗi nghị quyết phải đi kèm một khung kiểm soát thực thi, trong đó xác định rõ mục tiêu cuối cùng cần đạt được, các mốc kiểm tra bắt buộc, và trách nhiệm chính trị của từng cấp ủy, từng người đứng đầu.

Quốc hội phát huy mạnh mẽ vai trò lập pháp và giám sát tối cao, bảo đảm mọi chủ trương lớn của Đảng được thể chế hóa kịp thời, đồng bộ và khả thi trong hệ thống pháp luật. Mỗi đạo luật ban hành phải thực sự có khả năng mở đường cho phát triển, tháo gỡ rào cản, khơi thông nguồn lực, không tạo thêm thủ tục, không làm phát sinh chi phí tuân thủ bất hợp lý cho người dân và doanh nghiệp. Công tác lập pháp phải xuất phát từ yêu cầu phát triển của đất nước, từ thực tiễn đời sống kinh tế -xã hội, khắc phục tư duy làm luật nặng về quản lý, nhẹ về kiến tạo và phục vụ phát triển.

Giám sát của Quốc hội phải được thực hiện theo hướng giám sát đến cùng, gắn chặt với trách nhiệm khắc phục và kết quả cuối cùng. Không chỉ dừng lại ở việc phát hiện bất cập, mà phải yêu cầu rõ giải pháp sửa đổi, thời hạn hoàn thành và cơ quan chịu trách nhiệm chính. Cơ quan, lĩnh vực nào để tồn tại kéo dài các điểm nghẽn thể chế, làm ách tắc nguồn lực phát triển, kìm hãm đổi mới sáng tạo thì phải được xác định rõ trách nhiệm và có lộ trình xử lý cụ thể, không để tình trạng kiến nghị nhiều lần nhưng chậm chuyển biến.

Thông qua hoạt động lập pháp và giám sát tối cao, Quốc hội phải góp phần nâng cao chất lượng thể chế, củng cố kỷ luật, kỷ cương trong quản lý nhà nước và tạo dựng môi trường pháp lý ổn định, minh bạch, thuận lợi cho phát triển nhanh và bền vững. Qua đó khẳng định vai trò của Quốc hội trong việc hiện thực hóa các nghị quyết lớn của Đảng và đáp ứng kỳ vọng của Nhân dân trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.

Chính phủ và các bộ, ngành phải chuyển mạnh từ vai trò “ban hành chính sách” sang vai trò “tổ chức thực thi chính sách đến cùng”, lấy kết quả phát triển thực chất làm thước đo năng lực điều hành. Trong đó, trọng tâm là tập trung nguồn lực, cơ chế và năng lực điều hành để hình thành và phát huy hiệu quả các cực tăng trưởng mạnh, các vùng kinh tế trọng điểm, các đô thị động lực và các đặc khu kinh tế thế hệ mới có năng lực cạnh tranh ngang tầm khu vực và quốc tế. Việc tổ chức thực hiện phải hướng tới tạo ra những không gian phát triển mới có sức lan tỏa lớn, dẫn dắt tăng trưởng và tái cơ cấu nền kinh tế theo chiều sâu.

Trên cơ sở đó, cần chủ động triển khai xây dựng trung tâm tài chính quốc tế, các trung tâm dịch vụ, du lịch chất lượng cao, phát triển các trung tâm logistics quy mô lớn, gắn chặt với hệ thống cảng biển, cảng hàng không trung chuyển quốc tế và các cửa khẩu quốc tế trọng điểm theo hướng hiện đại, thông minh, tự động hóa cao. Đồng thời, phải coi việc nâng cao năng lực tự chủ về công nghệ, năng lực tham gia và làm chủ chuỗi cung ứng trong các lĩnh vực trọng yếu là nhiệm vụ chiến lược, gắn trực tiếp với bảo đảm an ninh kinh tế, nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế và củng cố vị thế quốc gia trong chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.

Đổi mới mạnh mẽ cơ chế phối hợp liên ngành, liên vùng và liên cấp, nhất là đối với các dự án hạ tầng chiến lược, các không gian phát triển mới và các chuỗi giá trị lớn. Phải khắc phục triệt để tư duy cục bộ ngành, cục bộ địa phương. Thiết lập cơ chế điều phối thống nhất, một đầu mối chịu trách nhiệm đến cùng đối với từng chương trình, từng dự án trọng điểm, bảo đảm quyết sách của Trung ương được triển khai thông suốt từ trung ương đến cơ sở. Cùng với đó, phải đổi mới công cụ điều hành, đẩy mạnh ứng dụng dữ liệu, công nghệ số và các hệ thống giám sát thời gian thực trong quản lý, điều hành phát triển. Việc đánh giá kết quả không chỉ dựa trên báo cáo định kỳ, mà phải dựa trên dữ liệu, chỉ số và tác động thực tế, qua đó nâng cao tính minh bạch, kỷ luật thực thi và khả năng phản ứng chính sách kịp thời.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị -xã hội có trách nhiệm phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội và vận động “người dân, doanh nghiệp tham gia thực hiện nghị quyết và giám sát từ cấp cơ sở tới Trung ương” thông qua các nền tảng công nghệ. Việc giám sát và phản biện phải đi vào thực chất, tập trung vào những vấn đề Nhân dân quan tâm trực tiếp, những điểm nghẽn trong thực thi chính sách và những tác động xã hội cụ thể của nghị quyết. Kịp thời phản ánh trung thực ý kiến, nguyện vọng và kiến nghị chính đáng của Nhân dân để Đảng và Nhà nước điều chỉnh chủ trương, chính sách cho phù hợp với thực tiễn.

Cùng với đó, cần đổi mới mạnh mẽ phương thức vận động, tập hợp quần chúng theo hướng gần dân, sát dân, dựa trên dữ liệu, đối thoại và tương tác hai chiều, tránh hành chính hóa, hình thức hóa hoạt động của Mặt trận và các tổ chức chính trị-xã hội. Mỗi tổ chức phải thực sự trở thành cầu nối tin cậy giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân, góp phần củng cố niềm tin xã hội, tạo sự đồng thuận cao trong quá trình triển khai các quyết sách lớn.

Khi Nhân dân hiểu đúng, tin tưởng và trực tiếp tham gia thực hiện, giám sát nghị quyết, thì sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc mới được khơi dậy đầy đủ và chuyển hóa thành động lực phát triển to lớn, bền vững cho đất nước trong giai đoạn mới.

Chính quyền địa phương các cấp phải thực sự trở thành tuyến đầu xung kích trong tổ chức thực hiện Nghị quyết, là nơi trực tiếp biến chủ trương của Đảng thành kết quả phát triển cụ thể trong đời sống kinh tế- xã hội. Việc tổ chức thực hiện ở địa phương phải hướng tới kết quả thực chất, thể hiện bằng tăng trưởng kinh tế bền vững, cải thiện đời sống Nhân dân, nâng cao chất lượng dịch vụ công và môi trường đầu tư- kinh doanh. Không chạy theo chỉ tiêu hình thức, tô hồng thành tích, mà phải lấy hiệu quả phát triển dài hạn và sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo đánh giá năng lực lãnh đạo, điều hành của chính quyền địa phương.

Tuyệt đối không trông chờ, không ỷ lại vào Trung ương, không sao chép máy móc mô hình của nơi khác. Thay vào đó phải phát huy tinh thần tự chủ, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm trong khuôn khổ pháp luật và định hướng chung của Đảng. Địa phương nào để chậm trễ cải cách, để lãng phí nguồn lực, bỏ lỡ thời cơ phát triển thì trước hết người đứng đầu phải chịu trách nhiệm trước Đảng và Nhân dân.

Phát huy tốt vai trò tuyến đầu của chính quyền địa phương chính là điều kiện quan trọng để thu hẹp khoảng cách từ nghị quyết đến cuộc sống, bảo đảm sự thống nhất giữa chủ trương của Trung ương với thực tiễn phong phú, đa dạng của từng vùng, từng địa phương, qua đó tạo nên sức bật phát triển đồng đều và bền vững cho cả nước.

Trong giai đoạn phát triển mới, “kỷ luật trách nhiệm phải được đặt lên hàng đầu”. Việc phân công nhiệm vụ phải đi đôi với cơ chế kiểm tra, đánh giá và xử lý rõ ràng. Tập thể nào không hoàn thành nhiệm vụ thì người đứng đầu phải chịu trách nhiệm, không được lấy tập thể để che lấp trách nhiệm cá nhân. Cá nhân nào không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ phải biết tự rút lui. Người nào hứa mà không làm, làm mà không đạt kết quả thì phải được xem xét thay thế hoặc sắp xếp lại công việc.

Không thể để tình trạng nghị quyết thì đúng, tổ chức thực hiện thì yếu, chậm trễ, hiệu quả thấp mà không có ai chịu trách nhiệm cụ thể. Không được phép để sự yếu kém trong tổ chức và con người làm chậm bước tiến của quốc gia, bởi thời gian là nguồn lực phát triển đặc biệt quan trọng và không thể tái tạo, chậm trễ trong tổ chức thực hiện không chỉ làm lãng phí nguồn lực, mà còn làm giảm tốc độ và đánh mất thời cơ phát triển của đất nước.

Thưa các đồng chí, thưa hội nghị,

Trước mắt chúng ta là những nhiệm vụ rất nặng nề, nhưng cũng là thời cơ to lớn nếu biết nắm bắt và hành động quyết liệt. Tương lai phát triển của đất nước, phụ thuộc rất lớn vào tinh thần trách nhiệm, bản lĩnh chính trị và năng lực hành động của từng cấp ủy, từng tổ chức đảng và từng cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu.

Tôi đề nghị, ngay sau Hội nghị này, các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị- xã hội khẩn trương cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng thành chương trình, kế hoạch hành động phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và điều kiện thực tiễn. Xác định rõ những việc cần làm ngay, những khâu đột phá cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, nói đi đôi với làm, làm đến nơi đến chốn, làm ra kết quả cụ thể.

Nhân dịp xuân mới Bính Ngọ sắp tới tôi xin chúc các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo, các đồng chí đảng viên, các đồng chí tham dự Hội nghị và đồng bào, chiến sĩ cả nước mạnh khỏe, hạnh phúc và thành công.

Xin trân trọng cảm ơn các đồng chí".

-

Categories: The Latest News

Đánh giá 5 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2021-2030) và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2026 - 2030

Sat, 02/07/2026 - 17:14
Đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Chính sách, Chiến lược Trung ương báo cáo những nội dung chủ yếu về “Đánh giá 5 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2021 - 2030) và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2026 - 2030”. Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy xin trân trọng giới thiệu toàn văn báo cáo này.ĐÁNH GIÁ 5 NĂM THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 10 NĂM 2021 - 2030

Trong giai đoạn 2021-2025, bối cảnh đất nước ta có nhiều thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen, nhưng khó khăn thách thức nhiều hơn. Trong đó có tác động của 4 vấn đề lớn: 1- Đại dịch Covid-19; 2- Xung đột vũ trang ở Ucraina và khu vực Trung Đông; sự điều chỉnh chính sách thuế của các nước lớn, chiến tranh thương mại làm suy giảm tăng trưởng kinh tế toàn cầu; 3- Thiên tai, bão lũ, sạt lở diễn ra với tần suất cao, cường độ mạnh; 4- Sự cạnh tranh công nghệ ngày càng gay gắt.

Tổng Bí thư Tô Lâm cùng các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các đại biểu dự hội nghị. (Ảnh: DUY LINH)

Trong bối cảnh đó, Đảng ta đã vững vàng, lãnh đạo đất nước tiếp tục đạt được nhiều thành tựu quan trọng, toàn diện với nhiều điểm sáng nổi bật: 22/26 chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu của nhiệm kỳ đạt và vượt, trong đó toàn bộ các chỉ tiêu về xã hội, an sinh xã hội đều vượt kế hoạch; riêng năm 2024 và 2025 đạt và vượt toàn bộ 15/15 chỉ tiêu đề ra.

Văn kiện Đại hội đã đánh giá toàn diện các kết quả đạt được theo 10 nhóm nội dung, tôi xin khái quát, làm rõ một số kết quả nổi bật như sau:

Một là, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm, nền kinh tế tăng trưởng ở mức khá cao so với các nước trong khu vực và thế giới; chất lượng tăng trưởng có chuyển biến tích cực. Theo đó,

Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân giai đoạn 2021 - 2025 khoảng 6,2%/năm trong đó, năm 2025 tăng 8,02% - thuộc nhóm các nền kinh tế có mức tăng trưởng cao nhất khu vực và thế giới.

Kinh tế tăng trưởng cao và liên tục đã giúp cho quy mô GDP và GDP bình quân đầu người của Việt Nam tăng nhanh: quy mô GDP tăng từ hơn 346 tỷ USD (2020) lên trên 514 tỷ USD (2025), xếp thứ 32 thế giới và thứ 4 ASEAN; GDP bình quân đầu người đạt khoảng 5.026 USD đưa Việt Nam vào nhóm các nước có thu nhập trung bình cao.

Các đại biểu tham dự hội nghị tại Hội trường Diên Hồng. (Ảnh: DUY LINH)

Lạm phát được kiểm soát thành công, tỷ trọng nợ công/GDP giảm và thấp hơn nhiều giới hạn cho phép, bội chi ngân sách giảm dưới mục tiêu của Quốc hội. Quy mô thương mại tăng mạnh xếp thứ 20 thế giới; xuất siêu thương mại lớn. Niềm tin môi trường kinh doanh được cải thiện, nhất là sau khi Bộ Chính trị ban hành các Nghị quyết chiến lược, đặc biệt Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân. Kinh tế không chỉ tăng trưởng ở mức cao, chất lượng tăng trưởng đã có sự cải thiện tích cực thông qua các chỉ số như tăng năng suất lao động, tăng năng suất nhân tố tổng hợp (TFP), nâng hạng về chỉ số đổi mới sáng tạo quốc gia, tăng tỷ trọng kinh tế số.

Các tổ chức quốc tế đánh giá cao kết quả lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, nâng hạng tín nhiệm và triển vọng tăng trưởng của Việt Nam.

Hai là, công tác phòng, chống dịch Covid-19 được thực hiện quyết liệt, hiệu quả gắn với thực hiện các biện pháp phục hồi và phát triển kinh tế. Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã lãnh đạo, chỉ đạo sát sao, quyết liệt với nhiều giải pháp khống chế, đẩy lùi dịch bệnh; thực hiện "mục tiêu kép", vừa tập trung phòng, chống, kiểm soát dịch bệnh, vừa duy trì sản xuất, chống đứt gãy chuỗi cung ứng; và dần phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội.

Ba là, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã thúc đẩy cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng đạt kết quả tích cực; nền kinh tế bước đầu được cơ cấu lại theo hướng số hoá, xanh hoá, đa dạng hoá, tăng cường sức chống chịu, nâng cấp chuỗi giá trị dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo. Theo đó, cơ cấu GDP chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp - dịch vụ từ 78,6% (2020) lên 80,4% (2025), trong khi khu vực nông nghiệp giảm từ 12,7% xuống 11,6%. Kinh tế số duy trì tốc độ tăng trưởng 9-10%/năm, chiếm khoảng trên 14% GDP. Bên cạnh đó, cơ cấu lại các ngành, lĩnh vực trọng tâm của nền kinh tế như: đầu tư công; doanh nghiệp nhà nước; phát triển năng động khu vực kinh tế tư nhân theo hướng là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân; cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng bảo đảm hoạt động an toàn từng bước áp dụng chuẩn mực quốc tế; đã hình thành một số ngành công nghiệp có quy mô lớn, cạnh tranh, từng bước hình thành năng lực tự chủ của nền kinh tế; nhiều ngành dịch vụ được tập trung phát triển, phát triển mạnh thương mại điện tử, du lịch phục hồi mạnh, phát triển nông nghiệp công nghệ cao, tập trung cùng với các mô hình nông nghiệp sinh thái, tuần hoàn

Bốn là, thực hiện 3 đột phá chiến lược đạt nhiều kết quả tích cực, toàn diện và thực chất hơn. Theo đó, hoàn thiện, nâng cao chất lượng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với tư duy và phương pháp xây dựng, tổ chức thi hành pháp luật được đổi mới theo tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị. Hoàn thiện khung pháp lý của nền kinh tế thị trường, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, kiến tạo sự phát triển; tháo gỡ các điểm nghẽn, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp. Phân cấp, phân quyền tiếp tục được đẩy mạnh gắn với tăng cường kiểm tra, thanh tra, kiểm toán đối với các lĩnh vực trọng yếu, dễ phát sinh tiêu cực.

Các đại biểu tham dự hội nghị tại Hội trường Diên Hồng. (Ảnh: DUY LINH)

Phát triển nguồn nhân lực, giáo dục- đào tạo, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát huy giá trị văn hóa, con người Việt Nam tiếp tục được quan tâm và đẩy mạnh với nhiều cơ chế, chính sách đột phá. Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo đạt kết quả tích cực, cơ chế, chính sách đột phá về phát triển giáo dục và đào tạo được ban hành theo Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Phát triển nhân lực chất lượng cao được chú trọng. Cơ chế, chính sách về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được đổi mới căn bản, đột phá theo Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị. Vị trí, vai trò và tầm quan trọng của giá trị văn hóa, con người Việt Nam đối với phát triển bền vững đất nước được nâng lên.

Về phát triển kết cấu hạ tầng: đây là giai đoạn bứt phá làm thay đổi diện mạo đất nước và mở ra không gian phát triển mới, trong đó hạ tầng giao thông, năng lượng, hạ tầng số, giáo dục, y tế, văn hóa, thông tin, hạ tầng đô thị, nông thôn được chú trọng đầu tư.

Năm là, phát triển kinh tế - xã hội các vùng và liên vùng được chú trọng; Kinh tế biển được thúc đẩy, đạt nhiều kết quả tích cực; đô thị hóa, phát triển đô thị và xây dựng nông thôn mới đạt nhiều kết quả nổi bật.

Thúc đẩy hình thành các hành lang kinh tế, vùng động lực, cực tăng trưởng; nhiều dự án vùng được thực hiện. Hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế biển được quan tâm đầu tư. Đô thị hóa trở thành động lực quan trọng của phát triển kinh tế - xã hội; đến năm 2025, chất lượng đô thị được nâng cao, hình thành các cực tăng trưởng và trung tâm đổi mới sáng tạo tại các đô thị lớn.

Sáu là, phát triển văn hoá, xã hội và con người đạt nhiều kết quả tiến bộ; đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân được nâng cao.

Theo đó, hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam được tập trung xây dựng. Chỉ số phát triển con người tiếp tục được cải thiện, cao hơn nhiều so với các nước có cùng mức thu nhập; thứ hạng về thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững SDGs tăng lên; Xếp hạng chỉ số hạnh phúc của Việt Nam tăng từ thứ 83 năm 2020 lên thứ 46 năm 2025.

(Tuổi thọ trung bình năm 2025 đạt 74,8 năm, số năm sống khoẻ khoảng 67 năm. Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm từ 4,4% năm 2021 xuống khoảng 1,3% năm 2025, đời sống nhân dân, nhất là ở vùng khó khăn, được cải thiện rõ rệt. Đề án xây dựng ít nhất 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội được đẩy mạnh triển khai; đến năm 2025 cơ bản xoá nhà tạm, nhà dột nát).

Bảy là, công tác quản lý và sử dụng tài nguyên; bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai được quan tâm chỉ đạo và có chuyển biến tích cực. Công tác điều tra, quy hoạch, quản lý và khai thác tài nguyên, quan trắc, đánh giá, giám sát, kiểm soát chất lượng môi trường tiếp tục được tăng cường; phát triển kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh được chú trọng.

Tám là, quốc phòng, an ninh Quốc gia không ngừng được củng cố, tăng cường; giữ gìn trật tự an toàn xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Tiềm lực quốc phòng, an ninh tiếp tục được củng cố, tăng cường toàn diện; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại đạt nhiều kết quả quan trọng. Xây dựng “Thế trận lòng dân” gắn với thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân vững chắc.

Chín là, công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế tiếp tục đi vào chiều sâu, hiệu quả, đạt nhiều thành tựu quan trọng, nổi bật có ý nghĩa chiến lược, lâu dài.

Mười là, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực được triển khai quyết liệt, có trọng tâm, trọng điểm, đạt nhiều kết quả đột phá.

Theo đó, hệ thống pháp luật được tập trung rà soát, hoàn thiện theo hướng toàn diện, đồng bộ, thống nhất, công khai, minh bạch, dễ tiếp cận, phù hợp và khả thi. Cải cách thủ tục hành chính được thực hiện quyết liệt. Công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí và thực hành tiết kiệm được đẩy mạnh; nhiều vụ việc được xử lý nghiêm được nhân dân đồng tình, đánh giá cao.

 7 NHÓM HẠN CHẾ 

Bên cạnh đánh giá các kết quả đạt được, Đại hội XIV cũng đã làm rõ 7 nhóm hạn chế, yếu kém, tôi xin khái quát các điểm chủ yếu như sau:

Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế chưa đạt mục tiêu đề ra (6,2% so với 6,5-7%), ổn định kinh tế vĩ mô chưa thật sự vững chắc, chất lượng tăng trưởng chậm được cải thiện, cơ cấu kinh tế và mô hình tăng trưởng chưa có nhiều thay đổi đáng kể; năng suất, chất lượng, hiệu quả, khả năng chống chịu, sức cạnh tranh và năng lực tự chủ của nền kinh tế chưa cao.

(Năng suất lao động còn thấp hơn nhiều nước trong khu vực (chỉ bằng 11,6 Singapore, 27% Hàn Quốc, 30,6% Nhật Bản, 66,9% Thái Lan, 56,8% Trung Quốc,…) và cải thiện chậm. Thị trường tài chính - tiền tệ tiềm ẩn rủi ro; thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp chưa phát huy vai trò kênh huy động vốn trung, dài hạn cho doanh nghiệp, thị trường bất động sản còn khó khăn. Công nghiệp chủ yếu theo chiều rộng, gia công - lắp ráp chiếm tỷ trọng lớn; công nghiệp nền tảng, mũi nhọn và hỗ trợ phát triển chậm, liên kết FDI - nội địa yếu. Chất lượng dịch vụ chưa cao, sức cạnh tranh trên thị trường khu vực và quốc tế còn thấp. Nông nghiệp thiếu bền vững, công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản chưa phát triển mạnh, nhất là ở khâu bảo quản và chế biến sâu. Đầu tư công chưa phát huy vai trò dẫn dắt; xử lý tổ chức tín dụng yếu kém còn khó khăn; cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước chậm; doanh nghiệp tư nhân trong nước quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu, thiếu tập đoàn dẫn dắt").

Thứ hai, kết quả thực hiện 3 đột phá chiến lược vẫn còn chưa như mong muốn. Thể chế phát triển vẫn là điểm nghẽn, chậm được hoàn thiện, còn bất cập, chưa thuận lợi để huy động tối đa các nguồn lực cho phát triển; Chất lượng nguồn nhân lực cải thiện chậm, thiếu nhân lực đáp ứng yêu cầu các ngành mũi nhọn, công nghệ cao và kinh tế số; đào tạo chưa gắn với nhu cầu thị trường và xã hội; Khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo chưa trở thành động lực quan trọng cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Kết cấu hạ tầng còn thiếu đồng bộ, hiện đại, chưa theo kịp yêu cầu phát triển

Thứ ba, tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng kinh tế của các vùng còn thấp so với mục tiêu đề ra; chưa khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế của từng vùng và từng địa phương. Phát triển các ngành kinh tế biển và sử dụng không gian biển chưa hiệu quả. Tỉ lệ đô thị hoá còn thấp, tốc độ đô thị hoá chậm, chất lượng chưa cao, tác động lan tỏa của đô thị còn hạn chế.

Thứ tư, Đổi mới căn bản GD-ĐT chưa đồng bộ; văn hóa chưa thực sự trở thành nguồn lực, sức mạnh nội sinh, động lực cho phát triển; cơ chế, chính sách phát triển văn hoá, thể thao còn có điểm bất cập, thiếu đồng bộ; đầu tư cho văn hoá hiệu quả chưa cao, chưa tương xứng yêu cầu nhiệm vụ. Dân số đối mặt mức sinh giảm, mất cân bằng giới tính khi sinh. Công tác bảo đảm an toàn thực phẩm còn bất cập.

Thứ năm, cơ chế, chính sách quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên chưa theo kịp yêu cầu phát triển KT-XH; tình trạng ngập lụt, ô nhiễm môi trường tại các đô thị lớn, các khu-cụm công nghiệp, lưu vực sông, làng nghề và môi trường biển chưa được kiểm soát hiệu quả. Chất lượng dự báo, cảnh báo thiên tai còn có mặt hạn chế; năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu chưa có bước cải thiện rõ rệt.

Thứ sáu, tham nhũng, tiêu cực trên một số lĩnh vực còn diễn biến phức tạp, nghiêm trọng, lãng phí còn khá phổ biến. Cải cách hành chính, chuyển đổi số, xây dựng chính quyền điện tử, chính quyền số còn chậm.

Thứ bảy, kết hợp giữa phát triển KT-XH với đảm bảo QP-AN trên một số lĩnh vực, địa bàn còn chưa dược chú trọng đúng mức; công tác xây dựng tiềm lực, lực lượng, thế trận quốc phòng, an ninh trên một số lĩnh vực, địa bàn có mặt còn hạn chế; việc triển khai các thoả thuận, cam kết quốc tế còn gặp nhiều khó khăn, bất cập.

5 BÀI HỌC KINH NGHIỆM

Sau 5 năm thực hiện Chiến lược 2021 - 2030, Đại hội XIV đã nhìn nhận, đánh giá các nguyên nhân khách quan, chủ quan đối với cả thành tựu và hạn chế, yếu kém, trong đó xác định nguyên nhân chủ quan là chủ yếu; đồng thời rút ra 5 bài học kinh nghiệm để thực hiện tốt hơn trong giai đoạn tới (chi tiết trong văn kiện Đại hội), gồm:

Thứ nhất: Tiếp tục đường lối đổi mới, có tầm nhìn chiến lược, tư duy đột phá, tạo ra nguồn lực và động lực cho phát triển. Nêu cao tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái; phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng của cả hệ thống chính trị; phát huy hiệu quả sức mạnh của Nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh thời đại.

Thứ hai: Nhất quán, kiên định về chiến lược, linh hoạt, mềm dẻo về sách lược; giữ bản lĩnh vững vàng; phân công, phân định rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp; nắm chắc tình hình, đề ra quyết sách linh hoạt, phù hợp, hiệu quả để lãnh đạo, chỉ đạo với quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, hiệu quả; tổ chức thực hiện bảo đảm rõ người, rõ việc, rõ tiến độ, rõ sản phẩm, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền.

Thứ ba: Tập trung nâng cao chất lượng thể chế phát triển, đáp ứng yêu cầu thực tiễn, tháo gỡ các điểm nghẽn cản trở phát triển. Bảo đảm tính nhất quán trong việc hiểu, áp dụng các quy định pháp luật. Tổ chức thực hiện pháp luật công bằng, nghiêm minh, kịp thời, hiệu lực, hiệu quả, bảo đảm thượng tôn hiến pháp và pháp luật. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Thứ tư: Mọi chủ trương, chính sách phải xuất phát từ nguyện vọng, lợi ích chính đáng và hạnh phúc của Nhân dân, bảo đảm công khai, minh bạch. Khơi dậy tinh thần cống hiến vì đất nước, phát huy ý chí tự lực, tự cường, dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới, sáng tạo, quyết liệt hành động và chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

Thứ năm: Làm tốt công tác đối ngoại, hội nhập, tranh thủ mọi nguồn lực bên ngoài và sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế. Nâng cao chất lượng công tác dự báo, kịp thời tổng kết thực tiễn, đưa ra các cơ chế, chính sách, giải pháp phù hợp, hiệu quả.

KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI GIAI ĐOẠN 2026 - 2030

Về bối cảnh, thế giới đang có những thay đổi mang tính thời đại; tạo ra nhiều thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức lớn đan xen. Trong nước đang triển khai những quyết sách chiến lược mang tính đột phá, đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới cao hơn; đồng thời cũng là bước ngoặt mới, vận hội mới mang tính lịch sử đối với sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Về quan điểm, Nghị quyết Đại hội XIV đề ra 5 nhóm quan điểm chỉ đạo trong xây dựng và phát triển đất nước trong giai đoạn mới, trong đó có nhiều nội dung mới (đề nghị các đồng chí nghiên cứu trong Nghị quyết).

Nhóm quan điểm thứ nhất, Nghị quyết Đại hội nhấn mạnh 4 kiên định (Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; kiên định, kiên trì, kiên quyết các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng); đồng thời, lần đầu tiên có quan điểm mới “lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững đất nước” và nêu yêu cầu về tự chủ chiến lược, đổi mới mô hình phát triển.

Nhóm quan điểm thứ hai, Nghị quyết xác định: đẩy mạnh đột phá về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chủ động hội nhập quốc tế...; coi “Phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hoá, con người là nền tảng tinh thần; tăng cường quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên”. Như vậy, lần đầu tiên, bảo vệ môi trường được coi là nhiệm vụ trung tâm cùng với nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội; đồng thời, công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế đã được nâng tầm trở thành trọng yếu, thường xuyên.

Nhóm quan điểm thứ ba xác định nhiều quan điểm mới, coi “phát huy sức mạnh văn hóa, con người thành nguồn lực nội sinh và động lực mạnh mẽ cho sự phát triển”; xác định yêu cầu “xác lập mô hình tăng trưởng mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia là động lực chính và phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất”; phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước; hoàn thiện thể chế phát triển gắn với thực hiện đồng bộ 4 chuyển đổi (đó là: chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi cơ cấu, chất lượng nguồn nhân lực) và đẩy mạnh phát triển lực lượng sản xuất mới.

Nhóm quan điểm thứ tư xác định: Phát huy sức mạnh, trí tuệ, bản lĩnh của con người Việt Nam và khối đại đoàn kết toàn dân tộc; kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại; chủ động, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. "... gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường với củng cố quốc phòng, an ninh, nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế...". Bảo đảm và bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc.

Nhóm quan điểm thứ năm xác định các quan điểm về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; nâng cao vai trò, năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng và năng lực quản lý, quản trị, kiến tạo phát triển của Nhà nước, thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của Nhân dân; tăng cường kiểm soát quyền lực, kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ.

Về mục tiêu và các chỉ tiêu phát triển, mục tiêu chung được Nghị quyết Đại hội đề ra rất toàn diện, hướng đến thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hoá tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao vì một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Trong đó có các thành tố trọng tâm, đó là: (1) Giữ vững môi trường hoà bình, ổn định; (2) Phát triển nhanh, bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc; (3) Cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống nhân dân; (4) Tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên mới của dân tộc.

Mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể được cấu trúc thành 3 nhóm. Về kinh tế có 14 mục tiêu, chỉ tiêu. Về xã hội có 6 mục tiêu, chỉ tiêu. Về môi trường có 5 mục tiêu, chỉ tiêu (cụ thể trong Nghị quyết).

Từ các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội được Đại hội XIV xác định như trong Nghị quyết cho thấy đây đều là những mục tiêu, chỉ tiêu thể hiện khát vọng phát triển rất lớn, đặt ra ở mức rất cao, khó khăn, thách thức, là yêu cầu khách quan, là thước đo bản lĩnh, ý chí và khát vọng của dân tộc; phải có quyết tâm đổi mới mạnh mẽ, bước đi vững chắc, biến khát vọng thành hành động, biến quyết tâm chính trị thành kết quả cụ thể như Đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh. Ví dụ như về chỉ tiêu tăng trưởng GDP: Trong 40 năm đổi mới, Việt Nam chưa có giai đoạn nào đạt được tốc độ tăng trưởng GDP ở mức từ 10% trở lên. Nhưng tại Đại hội lần này, Đảng ta đã xác định mục tiêu, yêu cầu phải đạt được tốc độ tăng trưởng GDP bình quân cho giai đoạn 2026 - 2030 từ 10% trở lên. Điều này thể hiện yêu cầu rất cao để Việt Nam tránh nguy cơ tụt hậu, tránh rơi vào bẫy thu nhập trung bình để cất cánh, phát triển.

6 NHÓM VẤN ĐỀ LỚN TRỌNG TÂM VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 

Để thực hiện thành công các mục tiêu nêu trên, bám sát các quan điểm chỉ đạo, Nghị quyết Đại hội đã đề ra các 12 định hướng; 6 nhiệm vụ trọng tâm và 3 đột phá chiến lược, đồng thời có Chương trình hành động cụ thể hóa các nhiệm vụ có thể triển khai thực hiện ngay. Sau đây là khái quát theo một số nhóm vấn đề lớn sau đây, trọng tâm về phát triển kinh tế - xã hội.

Thứ nhất, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, tập trung xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển nhanh và bền vững.

Nghị quyết Đại hội xác định tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, thúc đẩy đột phá chiến lược, kiến tạo hệ sinh thái phát triển mới, bảo đảm quan điểm lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển và không ngừng nâng cao đời sống, hạnh phúc của Nhân dân; tập trung hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước, trong đó thể chế chính trị là then chốt, thể chế kinh tế là trọng tâm, các thể chế khác là quan trọng, theo đó tập trung vào các nội dung:

- Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, tạo đột phá để sớm hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Đảng, có sự quản lý của Nhà nước. Xây dựng và hoàn thiện thể chế phù hợp để xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính.

(Xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Có cơ chế, chính sách đột phá, vượt trội để phát triển các mô hình kinh tế mới và các dự án trọng điểm, quy mô lớn). Chuyển mạnh phương thức quản lý nhà nước từ tiền kiểm sang hậu kiểm gắn với xây dựng các tiêu chuẩn, quy chuẩn để quản lý và tăng cường kiểm tra, giám sát.. Hoàn thiện thể chế để nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế và hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế.

- Xây dựng, hoàn thiện thể chế phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; bảo đảm phát triển văn hoá ngang tầm với chính trị, kinh tế, xã hội theo tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị mới ban hành về phát triển văn hóa.

- Đổi mới và hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị); thể chế phát triển giáo dục và đào tạo, tập trung đột phá về phát triển con người, nguồn nhân lực chất lượng cao (theo tinh thần Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị).

- Đổi mới và hoàn thiện đồng bộ thể chế quản lý phát triển xã hội hiện đại, bao trùm, bền vững, tăng cường sự tham gia của các chủ thể, sự giám sát của Nhân dân; gắn kết chặt chẽ chính sách kinh tế với chính sách xã hội; cùng với đó là hoàn thiện đồng bộ thể chế quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường sinh thái, thích ứng có hiệu quả với biến đổi khí hậu.

- Xây dựng, hoàn thiện thể chế quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hội nhập quốc tế đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới.

Thứ hai, về xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số làm động lực chính, theo đó:

- Nghị quyết Đại hội đề ra nhiệm vụ xác lập mô hình tăng trưởng mới với mục tiêu là nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế; lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính; tạo ra sức sản xuất và phương thức sản xuất mới chất lượng cao, trọng tâm là phát triển kinh tế số, kinh tế dữ liệu, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng và chuyển đổi cơ cấu, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; tiếp tục phát huy các động lực tăng trưởng truyền thống (về huy động, triển khai hiệu quả các nguồn lực đầu tư; nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng từ xuất khẩu; khai thác hiệu quả động lực tăng trưởng từ tiêu dùng trong nước), lấy khoa học, công nghệ là trọng tâm để đổi mới các động lực tăng trưởng truyền thống; xác định các động lực tăng trưởng mới từ ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, từ phát triển các mô hình kinh tế mới, mô hình khu kinh tế chuyên biệt mới và không gian kinh tế, các ngành kinh tế mới; hình thành các cực tăng trưởng, các vùng kinh tế trọng điểm, các đô thị, đặc khu kinh tế thế hệ mới phát triển ngang tầm khu vực, toàn cầu.

- Thúc đẩy mạnh mẽ tăng trưởng gắn với bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. Đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế theo các ngành và các lĩnh vực trọng tâm (công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, đầu tư công, tài chính-ngân hàng, đầu tư công, kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân, thu hút FDI,...). Theo đó,

Nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh một số ngành công nghiệp nền tảng; từng bước làm chủ công nghệ sản xuất trong một số ngành công nghiệp mới nổi;

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng xanh, tuần hoàn và theo chuỗi giá trị; Đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong nông nghiệp;

Nâng cao chất lượng và năng lực cạnh tranh của khu vực dịch vụ, phát triển các dịch vụ giá trị gia tăng cao;

- Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với đô thị hóa. Lấy khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo làm động lực, lấy hội nhập quốc tế làm phương thức để huy động nguồn lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nâng cao chất lượng đô thị hóa đảm bảo đồng bộ hài hòa giữa cải tạo, chỉnh trang, tái thiết đô thị với phát triển đô thị mới; mở rộng các loại hình nhà ở, ưu tiên phát triển nhà ở xã hội.

- Phát triển kinh tế biển toàn diện, gắn với bảo đảm quốc phòng – an ninh, bảo vệ môi trường và quản lý tài nguyên biển.

- Phát huy đầy đủ vai trò của các khu vực kinh tế, trong đó phát triển kinh tế nhà nước thực sự giữ vai trò chủ đạo, phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế; kinh tế hợp tác, kinh tế tập thể, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và các loại hình kinh tế khác giữ vai trò quan trọng.

- Đẩy mạnh liên kết vùng và tổ chức lại không gian phát triển, phát huy vai trò các vùng động lực quốc gia, cực tăng trưởng và các đô thị lớn.

Thứ ba, đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia

- Trong nhóm nhiệm vụ và giải pháp này, Văn kiện tiếp tục khẳng định, bổ sung, nhấn mạnh, làm rõ hơn những chủ trương, định hướng đã nêu tại Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia.

Theo đó, yêu cầu phải “khẩn trương, quyết liệt đổi mới và hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển khoa học, công nghệ phù hợp với nguyên tắc thị trường, chuẩn mực và thông lệ quốc tế; hoàn thiện cơ chế, chính sách vượt trội, phù hợp với đặc thù của lao động sáng tạo; tháo gỡ dứt điểm các nút thắt, rào cản trong hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, trọng tâm là cơ chế quản lý, cơ chế đầu tư, cơ chế tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp khoa học, công nghệ; khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, nhất là công nghệ mới, công nghệ cao, công nghệ chiến lược”.

- Cùng với đó là nâng cao tiềm lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia.

- Phát triển các thiết chế và hạ tầng đổi mới sáng tạo. Thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong toàn xã hội.

- Ưu tiên phát triển, làm chủ một số ngành công nghệ, các công nghệ tiên tiến, công nghệ chiến lược, công nghệ lõi, công nghệ nguồn, công nghệ số; chú trọng nghiên cứu cơ bản, gắn với định hướng ứng dụng.

- Thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia toàn diện, gắn với bảo đảm an ninh, an toàn.

- Xây dựng khung khổ pháp lý và chính sách thử nghiệm vượt trội trong khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Thứ tư, về quản lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu. Theo đó, tập trung vào các giải pháp:

- Hoàn thiện đồng bộ pháp luật, cơ chế, chính sách và quy hoạch về quản lý, sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học; chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu. Phát triển và vận hành hiệu quả các thị trường liên quan đến tài nguyên và môi trường. Thực hiện đồng bộ các giải pháp sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên, chống lãng phí.

- Chủ động phòng, chống và ứng phó thiên tai, đầu tư công trình bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu; khắc phục ô nhiễm môi trường nghiêm trọng tại các đô thị lớn; thực hiện quy hoạch không gian biển quốc gia.

Thứ năm, nhóm các nhiệm vụ, giải pháp về xây dựng và phát triển mạnh mẽ, toàn diện văn hóa, con người Việt Nam; xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại; quản lý, phát triển xã hội bền vừng gắn với bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, chăm lo đời sống Nhân dân. Theo đó, tập trung vào các nhiệm vụ sau:

- Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc thực sự trở thành nguồn lực nội sinh, động lực phát triển; đồng bộ trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam. Đẩy mạnh phát triển đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, xây dựng môi trường văn hóa, đời sống văn hóa trong gia đình và xã hội. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước về văn hóa. Phát triển toàn diện con người Việt Nam về đạo đức, trí tuệ, ý thức dân tộc, trách nhiệm công dân, thượng tôn pháp luật, có năng lực sáng tạo, thẩm mỹ, thể lực, kỹ năng sống, kỹ năng nghề nghiệp, kỷ năng số.

- Về xây dựng nền giáo dục quốc dân và phát triển nguồn nhân lực: Nhất quán xác định giáo dục, đào tạo là quốc sách hàng đầu, quyết định tương lai dân tộc, xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, công bằng theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế; tập trung đào tạo nhân lực chất lượng cao theo chuẩn quốc tế đáp ứng yêu cầu phát triển các ngành công nghiệp, công nghệ chiến lược.

Đổi mới phương thức đào tạo, chuyển từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực, thể lực và phẩm chất; đào tạo nghề chất lượng cao và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ số trong giáo dục.

- Về quản lý, phát triển xã hội bền vững gắn với bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội: Hoàn thiện mô hình, cơ chế, chính sách quản lý phát triển xã hội hiện đại, bao trùm, bền vững. Xây dựng xã hội lành mạnh, kỷ cương, văn minh, an toàn, phát triển. Phát triển kinh tế gắn với đảm bảo tiến bộ, công bằng xã hội, an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, an ninh xã hội và an ninh con người. Xây dựng cơ cấu xã hội hợp lý dựa trên hệ thống giá trị, chuẩn mực xã hội. Xây dựng hệ thống an sinh xã hội đa tầng, hiện đại, bao phủ toàn dân, bảo đảm mọi người dân được tiếp cận, thụ hưởng các dịch vụ xã hội cơ bản có chất lượng với tinh thần “không để ai bị bỏ lại phía sau”; xây dựng hệ thống y tế công bằng, chất lượng, hiệu quả, tiến tới miễn viện phí cho người dân. Đến năm 2030 cơ bản không còn hộ nghèo.

Thứ sáu, tăng cường quốc phòng, an ninh; đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế; kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại

Quốc phòng, an ninh và đối ngoại được tăng cường, triển khai đồng bộ, gắn kết chặt chẽ với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội nhằm bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ thành quả cách mạng, sự nghiệp đổi mới, bảo vệ nền văn hóa; bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, an ninh trên các lĩnh vực truyền thống, phi truyền thống; giữ vững, củng cố môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước. Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại; phối hợp chặt chẽ với quốc phòng, an ninh, tranh thủ nguồn lực bên ngoài, nâng cao vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam, qua đó tạo thế và lực mới cho phát triển nhanh, bền vững đất nước trong tình hình mới.

6 NHÓM NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM VÀ 3 ĐỘT PHÁ CHIẾN LƯỢC

Nghị quyết Đại hội đã xác định cụ thể 6 nhóm nhiệm vụ trọng tâm và 3 đột phá chiến lược.

6 nhiệm vụ trong tâm trong nhiệm kỳ Đại hội XIV bao gồm: (1) Tập trung ưu tiên xây dựng đồng bộ thể chế phát triển, trọng tâm là hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm yêu cầu phát triển nhanh, bền vững đất nước; (2) Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; tăng cường hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, nhất là xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; (3) Đẩy mạnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện đại, hội nhập quốc tế; phát triển các thành phần, khu vực kinh tế; xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính; (4) Tập trung triển khai đột phá về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; (5) Phát triển con người, phát triển văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần, sức mạnh nội sinh, động lực to lớn cho phát triển nhanh, bền vững; (6) Xây dựng quân đội nhân dân, công an nhân dân cách mạng, tinh nhuệ, chính quy, hiện đại, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; triển khai đồng bộ, hiệu quả, sáng tạo công tác đối ngoại. (chi tiết trong Nghị quyết).

Ba đột phá chiến lược xác định trong trong Nghị quyết Đại hội XIV tập trung vào những nội dung then chốt sau đây:

(1) Đột phá mạnh mẽ về thể chế phát triển, nâng cao năng lực hoạch định và tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; thúc đẩy đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phục vụ, kiến tạo phát triển; kinh tế nhà nước thực sự giữ vai trò chủ đạo; thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân; xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp mới; phát triển lực lượng sản xuất mới, các mô hình, phương thức sản xuất kinh doanh mới.

(2) Tập trung chuyển đổi cơ cấu và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao; đẩy mạnh thu hút và trọng dụng nhân tài; khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ.

(3) Tiếp tục hoàn thiện đồng bộ và đột phá mạnh mẽ trong xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; nhất là kết cấu hạ tầng giao thông đa phương thức, hạ tầng công nghệ phục vụ cho quá trình quản lý, quản trị và kiến tạo phát triển, hạ tầng phục vụ chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, thích ứng với biến đổi khí hậu.

-

Categories: The Latest News

[Interactive]: Toàn cảnh kinh tế Việt Nam tháng 1/2026

Sat, 02/07/2026 - 10:46
Nền kinh tế của Việt Nam đã khởi sắc ngay từ tháng đầu năm 2026, tạo nền tảng vững chắc cho một năm được kỳ vọng sẽ chứng kiến sự bứt phá mạnh mẽ của nền kinh tế Việt Nam. Đáng chú ý, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa tháng 1/2026 88,16 tỷ USD, tăng 39% so với cùng kỳ năm trước; ngành sản xuất trong tháng 1 khởi đầu khả quan khi chỉ số PMI đạt 52,2 điểm...

-Tạp chí Kinh tế Việt Nam - VnEconomy

Categories: The Latest News

Thủ tướng Phạm Minh Chính hội kiến Thủ tướng Campuchia Hun Manet: Thúc đẩy hợp tác song phương toàn diện

Sat, 02/07/2026 - 09:21
Nhân dịp tham dự các cuộc gặp cấp cao giữa lãnh đạo ba Đảng Việt Nam – Campuchia – Lào, ngày 6/2, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã hội kiến Thủ tướng Campuchia Hun Manet, đánh giá kết quả hợp tác thời gian qua và trao đổi các định hướng lớn nhằm thúc đẩy quan hệ song phương phát triển hiệu quả, thực chất hơn trong thời gian tới.

Trong không khí hữu nghị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính chúc mừng những thành tựu quan trọng mà Campuchia đạt được dưới sự lãnh đạo của Chính phủ do Thủ tướng Hun Manet đứng đầu, bày tỏ tin tưởng Campuchia tiếp tục giành thêm nhiều kết quả tích cực trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.

Thủ tướng Hun Manet chúc mừng Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam thành công tốt đẹp, khẳng định đây là minh chứng cho sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng và sự đồng thuận xã hội tại Việt Nam; đồng thời bày tỏ tin tưởng Việt Nam sẽ thực hiện thành công các mục tiêu phát triển đã đề ra dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thủ tướng Phạm Minh Chính hội kiến Thủ tướng Campuchia Hun Manet - Ảnh: TTXVN

Hai Thủ tướng cùng nhận định, trong một năm qua, Chính phủ hai nước đã triển khai hiệu quả các kết luận của Cuộc gặp hai Đảng, ba Đảng (tháng 2/2025), phối hợp thực hiện các kế hoạch hợp tác với tinh thần chủ động, quyết liệt và đạt nhiều kết quả thực chất. Quan hệ chính trị – đối ngoại tiếp tục được củng cố; các cơ chế hợp tác song phương phát huy hiệu quả.

Hợp tác quốc phòng – an ninh ngày càng đi vào chiều sâu. Hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư tăng trưởng tích cực, với kim ngạch thương mại song phương năm 2025 đạt 11,33 tỷ USD, tăng 11,7% so với năm 2024. Hợp tác biên giới lãnh thổ đạt nhiều tiến triển, hướng tới xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, ổn định và phát triển. Các lĩnh vực giáo dục – đào tạo, y tế, văn hóa, du lịch và giao lưu nhân dân tiếp tục được quan tâm thúc đẩy.

Hai bên thống nhất tăng cường phối hợp quản lý khu vực biên giới, bảo đảm an ninh, trật tự, phòng chống tội phạm xuyên biên giới, buôn lậu và các hoạt động phi pháp; sớm ký kết “Hiệp định về quản lý cửa khẩu” và “Hiệp định về quy chế quản lý biên giới” nhằm tạo thuận lợi cho giao thương biên mậu và quản lý cửa khẩu.

Trên cơ sở những kết quả đạt được, hai Chính phủ nhất trí tiếp tục tăng cường tiếp xúc cấp cao, trao đổi đoàn các cấp, phát huy hiệu quả các cơ chế hợp tác hiện có; củng cố hợp tác quốc phòng – an ninh; duy trì nguyên tắc không để các thế lực thù địch sử dụng lãnh thổ nước này chống phá nước kia; bảo đảm an ninh, trật tự khu vực biên giới.

Hai bên nhất trí thúc đẩy sớm thống nhất Đề án “Cơ chế hợp tác kinh tế mới liên kết chặt chẽ hai nền kinh tế Việt Nam – Campuchia” đến năm 2035, tầm nhìn 2050; nghiên cứu phương án kết nối cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh/Mộc Bài – Bavet/Phnom Penh; đẩy mạnh hợp tác trong mua bán, chế biến các sản phẩm nông nghiệp và nông công nghiệp.

Nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì đường biên giới hòa bình, ổn định, hai Thủ tướng khẳng định tiếp tục phối hợp xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh, thúc đẩy đàm phán giải quyết phần đường biên giới chưa hoàn thành phân giới cắm mốc, tăng cường phối hợp quản lý biên giới trên bộ và trên biển phù hợp luật pháp quốc tế.

Hai bên tái khẳng định quyết tâm gìn giữ, vun đắp và phát huy quan hệ láng giềng hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện và đoàn kết gắn bó giữa Việt Nam và Campuchia, coi đây là tài sản quý báu của hai dân tộc, vì lợi ích lâu dài của nhân dân hai nước và vì hòa bình, ổn định, phát triển bền vững của khu vực.

Nhân dịp này, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đề nghị phía Campuchia tiếp tục quan tâm giải quyết vấn đề địa vị pháp lý cho người gốc Việt tại Campuchia, tạo điều kiện để cộng đồng ổn định cuộc sống và đóng góp tích cực cho sự phát triển của Campuchia cũng như quan hệ hữu nghị giữa hai nước.

-Hà Lê

Categories: The Latest News

Tổng Bí thư Tô Lâm hội kiến Chủ tịch danh dự CPP Heng Samrin, gặp gỡ cộng đồng người Việt tại Campuchia

Sat, 02/07/2026 - 09:21
Trong khuôn khổ chuyến thăm cấp Nhà nước tới Vương quốc Campuchia, ngày 6/2 tại Phnom Penh, Tổng Bí thư Tô Lâm đã hội kiến Chủ tịch danh dự Đảng Nhân dân Campuchia (CPP) Heng Samrin và gặp gỡ cán bộ Đại sứ quán cùng cộng đồng người Việt Nam tại Campuchia.

Tại cuộc hội kiến, Tổng Bí thư Tô Lâm bày tỏ vui mừng được thăm Campuchia và đồng chủ trì các cơ chế hợp tác quan trọng giữa hai Đảng, cũng như các cuộc gặp Người đứng đầu ba Đảng Việt Nam – Campuchia – Lào.

Tổng Bí thư đánh giá cao những thành tựu to lớn mà Campuchia đạt được thời gian qua, thể hiện tầm nhìn của các thế hệ lãnh đạo Campuchia trong xây dựng và phát triển đất nước, trong đó có vai trò của Chủ tịch danh dự CPP Heng Samrin – người bạn lâu năm, thân thiết của nhân dân Việt Nam.

Tổng Bí thư Tô Lâm gặp Chủ tịch danh dự Đảng Nhân dân Campuchia Heng Samrin - Ảnh: TTXVN.

Tổng Bí thư nhấn mạnh chuyến thăm diễn ra trong bối cảnh Việt Nam vừa tổ chức thành công Đại hội lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam, đề ra tầm nhìn chiến lược mới cho phát triển đất nước.

Bày tỏ vui mừng được gặp lại Tổng Bí thư Tô Lâm, Chủ tịch danh dự CPP Heng Samrin khẳng định các cuộc gặp cấp cao lần này mang lại kết quả thiết thực cho mỗi nước và cho quan hệ song phương; đồng thời thể hiện sinh động chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn coi trọng và ưu tiên cao cho quan hệ hữu nghị truyền thống với Campuchia.

Chủ tịch danh dự CPP chúc mừng Tổng Bí thư Tô Lâm tiếp tục được tín nhiệm bầu giữ cương vị Tổng Bí thư tại Đại hội XIV; nhấn mạnh nhân dân Campuchia luôn ghi nhớ sự giúp đỡ to lớn, chí nghĩa chí tình của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước Campuchia. Hai nhà lãnh đạo nhất trí tăng cường tuyên truyền, giáo dục về truyền thống đoàn kết, qua đó bồi đắp niềm tin và trách nhiệm gìn giữ quan hệ láng giềng tốt đẹp, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài giữa hai nước.

Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu tại cuộc gặp gỡ cán bộ, nhân viên Đại sứ quán và cộng đồng người Việt Nam tại Campuchia. Ảnh: TTXVN.

Cùng ngày, Tổng Bí thư Tô Lâm đã gặp gỡ cán bộ, nhân viên Đại sứ quán Việt Nam tại Campuchia và cộng đồng người Việt Nam đang sinh sống, làm việc và học tập tại Campuchia.

Báo cáo tại buổi gặp, Đại sứ Việt Nam tại Campuchia Nguyễn Minh Vũ cho biết chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng Bí thư ngay sau Đại hội XIV là sự kiện đặc biệt, thể hiện sự coi trọng và ưu tiên rất cao của Đảng, Nhà nước Việt Nam đối với quan hệ Việt Nam – Campuchia.

Quan hệ hai nước tiếp tục được thúc đẩy mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực. Hợp tác kinh tế là điểm sáng với kim ngạch thương mại song phương năm 2025 đạt 11,33 tỷ USD, tăng 11,7% so với năm 2024; hợp tác quốc phòng – an ninh giữ vai trò trụ cột; công tác cộng đồng và bảo hộ công dân được tăng cường.

Tổng Bí thư Tô Lâm tặng bức tượng Bác Hồ cho Đại sứ quán Việt Nam tại Campuchia. Ảnh: TTXVN

Phát biểu tại buổi gặp, Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định chuyến thăm cấp Nhà nước tới Lào và Campuchia là chuyến công tác nước ngoài đầu tiên của lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam sau Đại hội XIV, thể hiện rõ chính sách nhất quán coi trọng quan hệ với hai nước láng giềng truyền thống. Tổng Bí thư thông tin tới bà con về kết quả Đại hội XIV, các mục tiêu phát triển đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045.

Liên quan các kiến nghị của cộng đồng người Việt và doanh nghiệp, Tổng Bí thư cho biết lãnh đạo hai nước đã thống nhất thúc đẩy các giải pháp tạo điều kiện thuận lợi cho bà con sinh sống, làm việc theo pháp luật Campuchia, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam đầu tư, kinh doanh hiệu quả; tăng cường kết nối chiến lược, viễn thông, tài chính, thuế khóa; đẩy mạnh hợp tác khoa học – công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực.

Tổng Bí thư Tô Lâm với cán bộ, nhân viên Đại sứ quán và cộng đồng người Việt Nam tại Campuchia. Ảnh: TTXVN.

Nhân dịp chuẩn bị đón Tết cổ truyền Xuân Bính Ngọ 2026, Tổng Bí thư Tô Lâm gửi lời chúc sức khỏe, hạnh phúc và an khang thịnh vượng đến toàn thể bà con cộng đồng người Việt tại Campuchia, mong bà con luôn hướng về Tổ quốc, với những tình cảm ấm áp nhất.

Tổng Bí thư Tô Lâm cũng trao tặng KVA 20.000 USD để hỗ trợ hội tổ chức thêm nhiều hoạt động ý nghĩa dành cho bà con. Ngoài ra, Tổng Bí thư cũng trao tặng 200 phần quà trị giá 6.000 USD để giúp đỡ, động viên bà con có hoàn cảnh khó khăn.

-Dũng Hiếu

Categories: The Latest News

Tổng Bí thư Tô Lâm đồng chủ trì Cuộc gặp giữa Người đứng đầu ba Đảng Việt Nam - Campuchia – Lào

Sat, 02/07/2026 - 09:20
Cuộc gặp Người đứng đầu ba Đảng Việt Nam – Campuchia – Lào, thống nhất các định hướng lớn nhằm tăng cường đoàn kết, hợp tác toàn diện trong giai đoạn phát triển mới.

Chiều 6/2, tại trụ sở Đảng Nhân dân Campuchia (CPP), Tổng Bí thư Tô Lâm cùng Chủ tịch CPP Hun Sen và Tổng Bí thư Đảng Nhân dân Cách mạng Lào Thongloun Sisoulith đã đồng chủ trì Cuộc gặp giữa Người đứng đầu ba Đảng Việt Nam – Campuchia – Lào. Tham dự cuộc gặp có Thủ tướng ba nước, Chủ tịch Quốc hội Việt Nam và Chủ tịch Quốc hội Campuchia.

Tổng Bí thư Tô Lâm; Chủ tịch Đảng Nhân dân Campuchia Samdech Techo Hun Sen; Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào Thongloun Sisoulith cùng lãnh đạo chủ chốt 3 Đảng tại Cuộc gặp. Ảnh: TTXVN.

Trong không khí hữu nghị, lãnh đạo ba Đảng khẳng định cuộc gặp diễn ra trong bối cảnh Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào vừa tổ chức thành công Đại hội Đảng, trong khi CPP đang triển khai hiệu quả Cương lĩnh chính trị giai đoạn 2023–2028. Đây là nền tảng quan trọng để ba Đảng tăng cường trao đổi chiến lược, củng cố tin cậy chính trị và thống nhất các định hướng lớn cho hợp tác trong giai đoạn mới.

Phát biểu tại cuộc gặp, Tổng Bí thư Tô Lâm thông tin về tình hình Việt Nam và những kết quả quan trọng của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó xác định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, coi trọng quan hệ láng giềng hữu nghị và quan hệ truyền thống đặc biệt với Lào và Campuchia. Tổng Bí thư khẳng định Việt Nam nhất quán ưu tiên củng cố, phát triển quan hệ đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện giữa ba nước.

Chủ tịch CPP Hun Sen và Tổng Bí thư Đảng Nhân dân Cách mạng Lào Thongloun Sisoulith đánh giá cao thành tựu phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam và thành công của Đại hội XIV; tin tưởng Việt Nam sẽ thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đến năm 2030 và tầm nhìn 2045.

Tổng Bí thư Tô Lâm; Chủ tịch Đảng Nhân dân Campuchia Samdech Techo Hun Sen; Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào Thongloun Sisoulith tại Cuộc gặp. Ảnh: TTXVN.

Nhìn lại một năm qua, ba Nhà lãnh đạo nhất trí đánh giá hợp tác ba nước tiếp tục đạt nhiều kết quả tích cực. Quan hệ chính trị – đối ngoại giữ vai trò định hướng; hợp tác quốc phòng – an ninh được triển khai thực chất; hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư có chuyển biến tích cực với tăng trưởng GDP của Việt Nam đạt 8,02%, Campuchia ước 6,3%, Lào ước 4,2%. Giao lưu nhân dân, hợp tác địa phương và tuyên truyền về quan hệ hữu nghị tiếp tục được tăng cường.

Trước bối cảnh khu vực và thế giới diễn biến phức tạp, ba bên thống nhất tăng cường đoàn kết, duy trì tham vấn và phối hợp chặt chẽ nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi nước, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển.

Ba Nhà lãnh đạo nhất trí duy trì thường xuyên các cơ chế gặp gỡ giữa người đứng đầu ba Đảng, ba Chính phủ, ba Quốc hội và các bộ, ngành; tăng cường phối hợp bảo đảm an ninh, quản lý và bảo vệ biên giới; đẩy mạnh phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia.

Về kinh tế, ba bên thống nhất làm sâu sắc liên kết theo hướng thực chất, hiệu quả, bền vững; tăng cường kết nối hạ tầng, chuỗi cung ứng; tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại, đầu tư, nhất là tại khu vực biên giới; khuyến khích doanh nghiệp ba nước mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, năng lượng tái tạo, nông nghiệp công nghệ cao, kinh tế số và du lịch.

Ba Đảng cũng khẳng định tiếp tục tăng cường gắn kết giáo dục – đào tạo, coi đây là cầu nối bền chặt giữa các thế hệ; mở rộng trao đổi giảng viên, sinh viên, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ phát triển bền vững của mỗi nước.

Kết thúc cuộc gặp, ba Nhà lãnh đạo khẳng định quan hệ giữa ba Đảng, ba Nhà nước và nhân dân ba nước có ý nghĩa chiến lược, lâu dài; thống nhất tổ chức Cuộc gặp Người đứng đầu ba Đảng lần thứ 5 vào năm 2027 tại Lào.

-Hà Lê

Categories: The Latest News

Thủ tướng ba nước Việt Nam – Lào - Campuchia họp triển khai kết quả Cuộc gặp Người đứng đầu ba Đảng

Sat, 02/07/2026 - 09:19
Chiều 6/2, tại thủ đô Phnom Penh, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã có cuộc gặp làm việc với Thủ tướng Campuchia Hun Manet và Thủ tướng Lào Sonexay Siphandone nhằm triển khai kết quả Cuộc gặp giữa Người đứng đầu ba Đảng Việt Nam - Campuchia - Lào vừa diễn ra ngay trước đó.

Tại cuộc gặp, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính nhấn mạnh Đại hội đại biểu lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam xác định giữ vững môi trường hòa bình, ổn định là điều kiện tiên quyết; phát triển nhanh gắn với bền vững; lấy người dân làm trung tâm, chủ thể và mục tiêu; coi trọng quan hệ với các nước láng giềng, đặc biệt là Campuchia và Lào. Việt Nam tiếp tục kiên trì đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, ưu tiên quan hệ với hai nước láng giềng.

Thủ tướng Phạm Minh Chính phát biểu - Ảnh: TTXVN

Thủ tướng Phạm Minh Chính cho biết từ sau các cuộc gặp cấp cao giữa hai Đảng và ba Đảng cùng các chuyến thăm, tiếp xúc của lãnh đạo cấp cao ba nước từ tháng 2/2025 đến nay, các bộ, ngành và địa phương đã tích cực phối hợp triển khai nhiệm vụ được giao và cơ bản hoàn thành các nội dung đề ra.

Ba Thủ tướng bày tỏ vui mừng trước sự phát triển mạnh mẽ, thực chất của hợp tác Việt Nam – Campuchia – Lào, góp phần củng cố quan hệ hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện; nhấn mạnh tầm quan trọng của tin cậy chính trị và đoàn kết giữa ba nước.

Ba bên nhất trí tăng cường giao lưu, tập huấn thanh niên, lãnh đạo trẻ; đẩy mạnh tuyên truyền về ý nghĩa, giá trị lịch sử của quan hệ hợp tác, nhất là trong dịp kỷ niệm các mốc quan hệ song phương quan trọng trong thời gian tới.

Ba Thủ tướng khẳng định tiếp tục phối hợp chặt chẽ trong bảo đảm an ninh quốc gia, xây dựng và phát triển đất nước; duy trì thường xuyên các cuộc gặp, tiếp xúc cấp cao trên tất cả các kênh; thúc đẩy hợp tác giữa các địa phương, đặc biệt là các tỉnh biên giới; tăng cường giao lưu nhân dân. Đồng thời, thống nhất triển khai hiệu quả các cơ chế, thỏa thuận hợp tác đã ký kết, tăng cường chia sẻ thông tin và phối hợp giữa các bộ, ngành.

Thủ tướng Phạm Minh Chính và Thủ tướng Vương quốc Campuchia Hun Manet cùng Thủ tướng Lào Sonexay Siphandone tại cuộc gặp Thủ tướng ba nước - Ảnh: TTXVN

Về quốc phòng – an ninh, ba bên nhất trí tăng cường phối hợp bảo vệ an ninh biên giới; phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia như ma túy, buôn bán người, rửa tiền; kiên trì nguyên tắc không cho phép bất kỳ cá nhân hay lực lượng nào sử dụng lãnh thổ nước mình để phương hại đến an ninh nước khác; cùng xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, ổn định và phát triển.

Về kinh tế, ba nước thống nhất tiếp tục hoàn thiện chính sách tạo thuận lợi cho thương mại, đầu tư, hợp tác theo hướng bổ trợ, cùng có lợi; chuyển từ mở rộng quy mô sang nâng cao chất lượng, hiệu quả; đẩy mạnh kết nối ba nền kinh tế, lấy kết nối hạ tầng giao thông, logistics và cửa khẩu làm đột phá; thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị, phát huy lợi thế so sánh của mỗi nước; phát triển du lịch, trong đó có sáng kiến “Một hành trình, ba điểm đến”.

Thủ tướng Lào và Campuchia nhất trí cùng Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính xác định năm lĩnh vực đột phá thời gian tới gồm: giao thông vận tải, năng lượng, giáo dục – đào tạo, du lịch và kết nối thanh niên, đặc biệt là tuyên truyền cho thế hệ trẻ về quan hệ truyền thống giữa ba nước.

Trao đổi về các vấn đề khu vực và quốc tế, ba Thủ tướng nhất trí tăng cường trao đổi thông tin, ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn khu vực và quốc tế; phối hợp cùng các nước ASEAN xây dựng Cộng đồng ASEAN đoàn kết, vững mạnh, khẳng định vai trò trung tâm trong duy trì hòa bình, ổn định và thúc đẩy hợp tác, phát triển. Ba bên cũng thống nhất tiếp tục phối hợp củng cố lòng tin giữa các nước Mekong, tập trung nguồn lực cho phát triển, ứng phó các thách thức phi truyền thống và duy trì hợp tác với các đối tác phát triển.

-Hà Lê

Categories: The Latest News

Việt Nam – Campuchia ra Tuyên bố chung, khẳng định làm sâu sắc quan hệ hợp tác toàn diện

Sat, 02/07/2026 - 09:19
Trong khuôn khổ chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng Bí thư Tô Lâm tới Vương quốc Campuchia, ngày 6/2, hai bên đã ra Tuyên bố chung Việt Nam – Campuchia, tái khẳng định coi trọng quan hệ láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, đồng thời thống nhất các định hướng lớn thúc đẩy hợp tác song phương thời gian tới.

Trong chuyến thăm cấp Nhà nước theo lời mời của Quốc vương Campuchia Norodom Sihamoni, Tổng Bí thư Tô Lâm đã có các hoạt động tiếp xúc cấp cao quan trọng, gồm chào xã giao Hoàng Thái hậu Norodom Monineath Sihanouk; hội đàm với Chủ tịch Thượng viện, Quyền Quốc trưởng Hun Sen; dâng hoa tại Đài Độc lập, Tượng đài cố Quốc vương Norodom Sihanouk và Đài Hữu nghị Việt Nam – Campuchia.

Tổng Bí thư Tô Lâm, Chủ tịch Đảng Nhân dân Campuchia, Chủ tịch Thượng viện Campuchia Samdech Techo Hun Sen thực hiện nghi thức động thổ Trường Hữu nghị Campuchia-Việt Nam. Ảnh: TTXVN

Hai bên bày tỏ hài lòng trước sự phát triển tích cực của quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác toàn diện, khẳng định nhất quán coi trọng quan hệ láng giềng tốt đẹp, bền vững lâu dài, cam kết ủng hộ và hỗ trợ lẫn nhau vì hòa bình, ổn định và thịnh vượng của mỗi nước và khu vực.

Tuyên bố chung nhấn mạnh việc tăng cường tin cậy chính trị, duy trì trao đổi cấp cao thường xuyên; thống nhất các nguyên tắc kiểm soát và xử lý thỏa đáng các vấn đề tồn tại, không để ảnh hưởng đến tổng thể quan hệ song phương, trong đó đề cao đối thoại thẳng thắn, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau.

Hai bên nhất trí đẩy mạnh hợp tác kinh tế, hướng tới mục tiêu kim ngạch thương mại song phương 20 tỷ USD; tăng cường kết nối hạ tầng, logistics, năng lượng, nông nghiệp, kinh tế biên giới; thúc đẩy thuận lợi hóa thương mại và đầu tư, triển khai hiệu quả các hiệp định, thỏa thuận đã ký.

Về kết nối, hai bên hoan nghênh việc khánh thành Cửa khẩu quốc tế Meun Chey – Tân Nam; nhất trí thúc đẩy nâng cấp, mở mới một số cửa khẩu, đẩy nhanh xác định điểm kết nối tuyến cao tốc Phnom Penh – Bavet – Mộc Bài – TP.HCM và triển khai hiệu quả các hiệp định về vận tải.

Hai bên tiếp tục coi trọng hợp tác quốc phòng – an ninh, bảo hộ công dân, giáo dục – đào tạo, y tế, văn hóa, du lịch, khoa học – công nghệ; tăng cường phối hợp quản lý biên giới, thúc đẩy phân giới cắm mốc, xây dựng đường biên giới hòa bình, ổn định và phát triển.

Tuyên bố chung tái khẳng định vai trò trung tâm của ASEAN, tăng cường phối hợp tại các cơ chế khu vực, trong đó có hợp tác Mê Công; nhấn mạnh duy trì hòa bình, ổn định tại Biển Đông trên cơ sở luật pháp quốc tế, thực hiện đầy đủ DOC và thúc đẩy sớm đạt COC hiệu quả.

Nhân dịp này, Tổng Bí thư Tô Lâm trân trọng cảm ơn sự đón tiếp trọng thị của lãnh đạo và nhân dân Campuchia, đồng thời mời Quốc vương Norodom Sihamoni thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam vào thời điểm thích hợp.

-Hà Lê

Categories: The Latest News

Tổng Bí thư Tô Lâm kết thúc tốt đẹp chuyến thăm cấp Nhà nước tới Vương quốc Campuchia

Sat, 02/07/2026 - 09:18
Tối 6/2, Tổng Bí thư Tô Lâm và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam rời thủ đô Phnom Penh, kết thúc tốt đẹp chuyến thăm cấp Nhà nước tới Vương quốc Campuchia; đồng chủ trì Cuộc gặp cấp cao giữa Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và Ban Thường vụ Trung ương Đảng Nhân dân Campuchia, cùng Cuộc gặp giữa ba Người đứng đầu ba Đảng Việt Nam – Campuchia – Lào.

Trong khuôn khổ chuyến thăm, Tổng Bí thư Tô Lâm đã hội kiến Samdech Techo Hun Sen; thăm Hoàng Thái hậu Norodom Monineath Sihanouk tại Hoàng cung; đặt vòng hoa tại Đài Độc lập, Đài tưởng niệm cố Quốc vương Norodom Sihanouk và Đài Hữu nghị Campuchia – Việt Nam; dự Lễ ký và trao các văn kiện hợp tác; gặp Chủ tịch danh dự Đảng Nhân dân Campuchia Heng Samrin; dự lễ khởi công Trường Hữu nghị Campuchia – Việt Nam; thăm Đại sứ quán và gặp gỡ cộng đồng người Việt Nam tại Campuchia.

Lễ tiễn Tổng Bí thư Tô Lâm và đoàn cấp cao Việt Nam tại Sân bay Quốc tế Techo. Ảnh: TTXVN

Tại các cuộc gặp, hai bên khẳng định củng cố quan hệ chính trị là nền tảng định hướng cho quan hệ hai Đảng, hai nước; phối hợp, hỗ trợ lẫn nhau trong giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm an ninh; tăng cường gắn kết hai nền kinh tế Việt Nam – Campuchia.

Samdech Techo Hun Sen đánh giá cao chuyến thăm của Tổng Bí thư Tô Lâm ngay sau Đại hội lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam, khẳng định chuyến thăm thể hiện sự coi trọng của Đảng, Nhà nước Việt Nam đối với quan hệ láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài giữa hai nước.

Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh chuyến thăm có sự tham gia của nhiều đồng chí lãnh đạo cấp cao Việt Nam; trân trọng cảm ơn sự đón tiếp trọng thị, thân tình của Hoàng gia và nhân dân Campuchia, thể hiện sinh động tình đoàn kết, hữu nghị truyền thống và hợp tác toàn diện giữa hai nước, hai dân tộc.

Tổng Bí thư Tô Lâm rời Phnom Penh về nước. Ảnh: TTXVN.

Tại Cuộc gặp giữa Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam và Ban Thường vụ Trung ương Đảng Nhân dân Campuchia, hai bên nhất trí củng cố tin cậy chính trị; duy trì thường xuyên, hiệu quả các chuyến thăm, tiếp xúc cấp cao và các kênh Đảng, Nhà nước; tăng cường hợp tác quốc phòng – an ninh, trao đổi thông tin, phối hợp phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia, nhất là tội phạm an ninh mạng.

Tại Cuộc gặp giữa ba Người đứng đầu ba Đảng Việt Nam – Campuchia – Lào, các bên thống nhất tiếp tục tăng cường đoàn kết, duy trì tham vấn thường xuyên và phối hợp chặt chẽ, nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi nước, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển.

Nhân dịp này, lãnh đạo hai bên đã chứng kiến Lễ ký Thỏa thuận hợp tác giữa Đảng ủy Bộ Ngoại giao Việt Nam và Ban Đối ngoại Trung ương Đảng Nhân dân Campuchia giai đoạn 2026–2030; đồng thời chứng kiến trao 11 văn kiện hợp tác giữa các bộ, ngành và địa phương hai nước.

Trong khuôn khổ chuyến thăm, Tổng Bí thư Tô Lâm và Chủ tịch Thượng viện Campuchia Hun Sen dự lễ khởi công xây dựng Trường Hữu nghị Campuchia – Việt Nam. Nhà trường hiện có 11 tòa nhà học tập với 54 phòng học, 135 cán bộ, giáo viên và khoảng 6.000 học sinh; thời gian tới sẽ được cải tạo, nâng cấp cơ sở vật chất với sự hỗ trợ của Chính phủ và nhân dân Việt Nam.

Chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng Bí thư Tô Lâm góp phần củng cố nền tảng chính trị cho quan hệ Việt Nam – Campuchia, đồng thời thúc đẩy hợp tác toàn diện giữa hai Đảng, hai nước và ba Đảng, ba nước Việt Nam – Campuchia – Lào.

-Hà Lê

Categories: The Latest News

Tổng Bí thư Tô Lâm và Chủ tịch CPP Hun Sen đồng chủ trì Cuộc gặp cấp cao hai Đảng Việt Nam – Campuchia

Fri, 02/06/2026 - 18:22
Tại cuộc gặp, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh việc tổ chức các hoạt động cấp cao này ngay sau Đại hội XIV thể hiện rõ chính sách đối ngoại nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam, đặc biệt coi trọng quan hệ với các nước láng giềng truyền thống là Campuchia và Lào...

Ngày 6/2, tại Campuchia, Tổng Bí thư Tô Lâm và Chủ tịch Đảng Nhân dân Campuchia Hun Sen đồng chủ trì Cuộc gặp giữa Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và Ban Thường vụ Trung ương CPP. Cuộc gặp khẳng định vai trò nền tảng của quan hệ hai Đảng trong định hướng phát triển quan hệ Việt Nam – Campuchia thời gian tới.

Đây là hoạt động chính trị quan trọng trong khuôn khổ chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng Bí thư Tô Lâm tới Campuchia, diễn ra ngay sau thành công của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tại cuộc gặp, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh việc tổ chức các hoạt động cấp cao này ngay sau Đại hội XIV thể hiện rõ chính sách đối ngoại nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam, đặc biệt coi trọng quan hệ với các nước láng giềng truyền thống là Campuchia và Lào.

Tổng Bí thư Tô Lâm cảm ơn Chủ tịch CPP Hun Sen đã sớm gửi Thư chúc mừng và cử Phó Chủ tịch CPP Men Sam An sang Hà Nội chúc mừng thành công của Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chia sẻ với CPP về những kết quả nổi bật của Đại hội XIV, Tổng Bí thư thông tin về các mục tiêu, định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2026–2030 mà Đại hội đã đề ra.

QUAN HỆ HAI ĐẢNG GIỮ VAI TRÒ NỀN TẢNG CHÍNH TRỊ

Theo Tổng Bí thư, Nghị quyết Đại hội XIV tiếp tục khẳng định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; trong đó coi trọng và ưu tiên phát triển mối quan hệ láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài với Campuchia, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích chính đáng của nhau.

Tổng Bí thư Tô Lâm đánh giá cao những thành tựu quan trọng, toàn diện mà Campuchia đã đạt được dưới sự lãnh đạo của CPP, đứng đầu là Chủ tịch Hun Sen, và sự điều hành của Chính phủ do Thủ tướng Hun Manet lãnh đạo. Tổng Bí thư bày tỏ tin tưởng Campuchia sẽ tiếp tục thực hiện thắng lợi Chiến lược Ngũ giác giai đoạn I, từng bước đưa Campuchia trở thành nước có thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và thu nhập cao vào năm 2050.

Tổng  Bí thư Tô Lâm và Chủ tịch CPP Hun Sen. Ảnh: TTXVN.

Về phía Campuchia, Chủ tịch CPP Hun Sen chúc mừng thành công Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam và chúc mừng đồng chí Tô Lâm tiếp tục được tín nhiệm bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Chủ tịch CPP đánh giá cao những định hướng lớn mà Đại hội XIV đã đề ra, cho rằng đây là những quyết sách thể hiện tầm nhìn chiến lược và quyết tâm chính trị của Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.

Chủ tịch Hun Sen ghi nhận và đánh giá cao những thành tựu to lớn mà Việt Nam đã đạt được trong việc giữ gìn hòa bình, ổn định và phát triển đất nước trên các lĩnh vực; đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện; nền kinh tế và vai trò, vị thế của Việt Nam ngày càng được nâng cao trong khu vực và trên trường quốc tế.

Chủ tịch CPP tin tưởng, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Tổng Bí thư Tô Lâm, Việt Nam sẽ thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV, tiến tới mục tiêu trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và trở thành nước xã hội chủ nghĩa phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.

Trong không khí hữu nghị và hiểu biết lẫn nhau, hai bên đã thông báo, trao đổi sâu về tình hình của mỗi Đảng, mỗi nước sau các sự kiện chính trị quan trọng; đồng thời đánh giá cao sự phát triển tốt đẹp của quan hệ hai Đảng, hai nước trong thời gian qua.

Hai bên nhấn mạnh quan hệ giữa hai Đảng giữ vai trò nền tảng, định hướng cho tổng thể quan hệ Việt Nam – Campuchia; khẳng định Cuộc gặp hai Đảng có ý nghĩa quan trọng, góp phần tạo nền tảng chính trị vững chắc để định hướng quan hệ và xử lý một số vấn đề cụ thể giữa hai nước.

Kể từ Cuộc gặp hai Đảng vào tháng 2/2025 đến nay, hai bên đã phối hợp tổ chức hiệu quả nhiều hoạt động đối ngoại của lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai Nhà nước; hợp tác quốc phòng – an ninh tiếp tục được tăng cường, đi vào chiều sâu và đạt hiệu quả thiết thực. Hợp tác kinh tế, giáo dục, văn hóa, khoa học – kỹ thuật có bước phát triển tích cực, đặc biệt trong lĩnh vực thương mại và du lịch. Hợp tác giữa các bộ, ban, ngành, đoàn thể và tổ chức nhân dân hai nước tiếp tục được thúc đẩy theo hướng thực chất hơn.

THỐNG NHẤT CÁC ĐỊNH HƯỚNG HỢP TÁC TRỌNG TÂM THỜI GIAN TỚI

Hai bên cho rằng bối cảnh thế giới và khu vực đang có nhiều biến động nhanh chóng, phức tạp và khó lường, tác động trực tiếp đến mỗi quốc gia, trong đó có Việt Nam và Campuchia. Trước tình hình đó, hai Đảng, hai nước cần tiếp tục tăng cường đoàn kết, phối hợp chặt chẽ và ủng hộ lẫn nhau.

Hai bên đồng thời nhấn mạnh việc không ngừng củng cố tin cậy chính trị, tăng cường phối hợp và ủng hộ lẫn nhau giữa ba Đảng, ba nước Việt Nam – Lào – Campuchia là yêu cầu khách quan và là nhân tố then chốt nhằm bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định, hợp tác toàn diện cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của mỗi nước.

Hai bên nhất trí tiếp tục củng cố vững chắc tin cậy chính trị; duy trì thường xuyên, thực chất và hiệu quả các chuyến thăm, tiếp xúc, trao đổi đoàn các cấp, nhất là cấp cao, thông qua các kênh Đảng và Nhà nước.

Hai bên thống nhất tăng cường hợp tác quốc phòng – an ninh, đẩy mạnh trao đổi thông tin và phối hợp chặt chẽ trong phòng, chống các loại tội phạm xuyên quốc gia, đặc biệt là tội phạm an ninh mạng.

Về hợp tác kinh tế, hai bên cam kết gắn kết chặt chẽ hơn giữa hai nền kinh tế, trong đó ưu tiên gắn kết hạ tầng giao thông, năng lượng, chuyển đổi số và các chuỗi cung ứng trong công nghiệp chế biến và nông nghiệp, trên tinh thần khai thác các thế mạnh bổ sung cho nhau.

Tổng Bí thư Tô Lâm và Chủ tịch Đảng Nhân dân Campuchia Hun Sen đồng chủ trì Cuộc gặp giữa Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam và Ban Thường vụ Trung ương Đảng Nhân dân Campuchia. Ảnh: TTXVN

Hai bên nhất trí tăng cường xúc tiến đầu tư, thương mại và du lịch, phấn đấu sớm nâng kim ngạch thương mại song phương lên mức 20 tỷ USD trong thời gian tới.

Hai bên cũng thống nhất đẩy mạnh gắn kết trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực theo hướng lâu dài; coi giáo dục – đào tạo là cầu nối quan trọng để tăng cường sự gắn bó giữa thế hệ trẻ hai nước.

Hai bên cam kết triển khai hiệu quả các hiệp định, thỏa thuận hợp tác song phương đã ký kết, đồng thời nghiên cứu xây dựng các khuôn khổ và cơ chế hợp tác mới nhằm liên kết chặt chẽ và toàn diện hơn.

Về vấn đề biên giới, hai bên tiếp tục khẳng định tôn trọng và thực hiện đầy đủ các điều ước về hoạch định, phân giới, cắm mốc trên đất liền và các thỏa thuận liên quan; đồng thời nỗ lực tìm kiếm các giải pháp mà hai bên có thể chấp nhận được đối với khoảng 16% khối lượng công việc còn lại, hướng tới xây dựng đường biên giới hòa bình, ổn định, hữu nghị, hợp tác và phát triển bền vững.

Tổng Bí thư Tô Lâm đề nghị phía Campuchia tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi, không phân biệt đối xử đối với cộng đồng người gốc Việt đang sinh sống, làm việc và học tập tại Campuchia.

Hai bên thống nhất tăng cường thúc đẩy hợp tác giữa các cơ quan của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận, các tổ chức đoàn thể và giao lưu nhân dân hai nước; đặc biệt chú trọng hợp tác giữa các địa phương có chung đường biên giới nhằm hỗ trợ lẫn nhau trong phát triển kinh tế – xã hội, giữ vững an ninh, ổn định khu vực biên giới và kịp thời xử lý các vấn đề phát sinh.

Hai bên cũng nhất trí phối hợp chặt chẽ và ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn khu vực và quốc tế, nhất là trong khuôn khổ ASEAN và Tiểu vùng Mekong; tăng cường hợp tác trong sử dụng bền vững, hiệu quả tài nguyên nước, hướng tới phát triển bền vững và ứng phó với các tác động của biến đổi khí hậu đối với lưu vực sông Mekong.

Tại cuộc gặp, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Thủ tướng Campuchia Hun Manet, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và Chủ tịch Quốc hội Campuchia Khuon Sudary cùng nhất trí với những đánh giá và định hướng lớn của Tổng Bí thư Tô Lâm và Chủ tịch CPP Hun Sen về quan hệ toàn diện, sâu sắc giữa hai Đảng, hai nước; đồng thời bổ sung, làm rõ các kết quả đạt được trong triển khai Kết luận Cuộc gặp hai Đảng tháng 2/2025 trên nhiều lĩnh vực hợp tác.

-Hà Lê

Categories: The Latest News

Tổng Bí thư Tô Lâm chứng kiến Lễ ký và trao các văn kiện hợp tác tại Campuchia

Fri, 02/06/2026 - 18:18
Trong khuôn khổ chuyến thăm cấp Nhà nước tới Vương quốc Campuchia, sáng 6/2, ngay sau cuộc gặp hai Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm và Chủ tịch Đảng Nhân dân Campuchia (CPP) Hun Sen cùng chứng kiến Lễ ký, trao các văn kiện hợp tác giữa các bộ, ngành, địa phương của Việt Nam và Campuchia.

Cùng dự có: Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và Đoàn đại biểu cấp cao hai nước.

Các bộ, ngành, địa phương đã ký và trao các văn kiện:

Thỏa thuận hợp tác giữa Bộ Ngoại giao Việt Nam và Ban Đối ngoại Trung ương Đảng Nhân dân Campuchia giai đoạn 2026-2030.

Ký kết Thỏa thuận hợp tác giữa Bộ Dân tộc và Tôn giáo Việt Nam và Bộ Lễ nghi Tôn giáo Campuchia. Ảnh: TTXVN

Kế hoạch hợp tác năm 2026 giữa Bộ Công an Việt Nam và Bộ Nội vụ Vương quốc Campuchia.

Thỏa thuận hợp tác giữa Bộ Dân tộc và Tôn giáo Việt Nam và Bộ Lễ nghi và Tôn giáo Vương quốc Campuchia.

Thỏa thuận hợp tác giữa UBND tỉnh Tây Ninh và Chính quyền tỉnh Svay Rieng.

Thỏa thuận hợp tác giữa UBND tỉnh Tây Ninh và Chính quyền tỉnh Prey Veng.

Ký kết Thỏa thuận hợp tác giữa Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh và chính quyền tỉnh Svay Rieng. Ảnh: TTXVN

Thỏa thuận hợp tác giữa UBND tỉnh Tây Ninh và Chính quyền tỉnh Tbong Khmum.

Thỏa thuận hợp tác giữa UBND tỉnh Đồng Nai và Chính quyền tỉnh Kratie.

Thỏa thuận hợp tác giữa UBND tỉnh Đồng Nai và Chính quyền tỉnh Mondulkiri.

Thỏa thuận hợp tác giữa UBND tỉnh Đồng Nai và Chính quyền tỉnh Tbong Khmum.

Tổng Bí thư Tô Lâm chứng kiến Lễ ký và trao các văn kiện hợp tác tại Campuchia. Ảnh: TTXVN

Thỏa thuận hợp tác giữa UBND tỉnh Đồng Nai và Chính quyền tỉnh Kampong Cham.

Thỏa thuận hợp tác giữa UBND tỉnh Đồng Nai và Chính quyền tỉnh Kampong Thom.

Thỏa thuận hợp tác giữa UBND tỉnh Đồng Nai và Chính quyền tỉnh Stung Treng.

Trong năm 2025, quan hệ Việt Nam-Campuchia đã đạt được những bước tiến rất đáng khích lệ. Hai nước còn rất nhiều tiềm năng và dư địa cần tiếp tục được thúc đẩy mạnh hơn nữa để đưa quan hệ hai nước lên tầm cao mới, đáp ứng nguyện vọng của lãnh đạo và nhân dân hai nước.

-Dũng Hiếu

Categories: The Latest News

Tổng Bí thư Tô Lâm hội kiến Samdech Techo Hun Sen

Fri, 02/06/2026 - 15:56
Trong khuôn khổ chuyến thăm cấp Nhà nước tới Vương quốc Campuchia, sáng 6/2 tại Phnom Penh, Tổng Bí thư Tô Lâm đã hội kiến Samdech Techo Hun Sen. Hai bên trao đổi về tình hình mỗi nước, khẳng định coi trọng quan hệ láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài.

Ngay sau khi đến thủ đô Phnom Penh của Campuchia, sáng 6/2, Lễ đón chính thức Tổng Bí thư Tô Lâm đã được tổ chức trọng thể tại Hoàng cung. Cùng dự Lễ đón có Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam. Được sự ủy quyền của Quốc vương Campuchia Preah Bat Samdech Preah Boromneath Norodom Sihamoni, Samdech Techo Hun Sen đã chủ trì Lễ đón chính thức.

Tổng Bí thư Tô Lâm và Samdech Techo Hun Sen duyệt Đội danh dự Quân đội Hoàng gia Campuchia. Ảnh: TTXVN

Sau Lễ đón chính thức trọng thể tại Hoàng cung, Tổng Bí thư Tô Lâm đã hội kiến Samdech Techo Hun Sen. Samdech Techo Hun Sen nhiệt liệt chào mừng Tổng Bí thư và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam thăm cấp Nhà nước tới Campuchia ngay sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam, cho rằng chuyến thăm thể hiện sự coi trọng của lãnh đạo Việt Nam đối với quan hệ hai nước.

Tại cuộc hội kiến, Samdech Techo Hun Sen chúc mừng thành công của Đại hội XIV và việc đồng chí Tô Lâm tiếp tục được tín nhiệm bầu làm Tổng Bí thư; bày tỏ tin tưởng Việt Nam tiếp tục đạt nhiều thành tựu dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Samdech Techo Hun Sen đánh giá cao những kết quả phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam và mong muốn hai bên tiếp tục tăng cường mở cửa thị trường, thúc đẩy gắn kết hai nền kinh tế.

Tổng Bí thư Tô Lâm gặp Samdech Techo Hun Sen tại Phnom Penh ngày 6/2. Ảnh: TTXVN

Tổng Bí thư Tô Lâm bày tỏ vui mừng trở lại thăm Campuchia ngay sau Đại hội XIV; nhấn mạnh chuyến thăm có sự tham gia của nhiều lãnh đạo cấp cao của Việt Nam. Tổng Bí thư cảm ơn sự đón tiếp trọng thị, thân tình của Hoàng gia và nhân dân Campuchia, khẳng định quan hệ đoàn kết, hữu nghị truyền thống và hợp tác toàn diện giữa hai nước tiếp tục được củng cố và phát triển.

Trao đổi về tình hình Việt Nam và kết quả Đại hội XIV, Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định những thành tựu của Việt Nam có sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế, trong đó có Campuchia; trân trọng cảm ơn sự hỗ trợ của Hoàng gia và nhân dân Campuchia đối với Việt Nam trong các giai đoạn lịch sử và hiện nay.

Tổng Bí thư Tô Lâm thăm hỏi, nói chuyện thân mật với Hoàng thái hậu Norodom Monineath Sihanouk.  Ảnh: TTXVN

Hai bên thông báo cho nhau về mục tiêu, phương hướng phát triển của mỗi nước, thống nhất tăng cường phối hợp giữa Việt Nam, Campuchia và Lào vì lợi ích chung và phát triển bền vững.

Cũng trong sáng 6/2, Tổng Bí thư Tô Lâm đã đến thăm Hoàng Thái hậu Norodom Monineath Sihanouk tại Hoàng cung. Tại đây, hai bên ôn lại chặng đường gần 60 năm quan hệ Việt Nam – Campuchia, nhất trí tiếp tục làm sâu sắc quan hệ láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài.

Trong khuôn khổ chuyến thăm cấp Nhà nước tới Vương quốc Campuchia, sáng 6/2, Tổng Bí thư Tô Lâm cũng đã tới đặt vòng hoa tại Đài Độc lập, Đài tưởng niệm cố Quốc vương Norodom Sihanouk và Đài Hữu nghị Campuchia - Việt Nam ở thủ đô Phnom Penh.

Cùng dự có Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam.

-Hà Lê

Categories: The Latest News

Pages