Thời báo kinh tế Việt Nam

Subscribe to Thời báo kinh tế Việt Nam feed Thời báo kinh tế Việt Nam
VnEconomy - Góc nhìn toàn cảnh về nền kinh tế Việt Nam
Updated: 2 hours 51 min ago

Apple bắt đầu thử nghiệm mã hóa đầu cuối tin nhắn giữa iPhone và Android

Thu, 02/19/2026 - 08:07
Hãng công nghệ Apple đã bắt đầu thử nghiệm mã hóa đầu cuối (E2EE) cho tin nhắn RCS trên bản beta iOS 26.4, đánh dấu bước tiến mới trong nỗ lực tăng cường bảo mật cho hoạt động nhắn tin giữa iPhone và Android...

Trong phiên bản thử nghiệm iOS 26.4, hãng đã bắt đầu thử nghiệm mã hóa đầu cuối (E2EE) cho tin nhắn RCS(Rich Communication Services - hỗ trợ gửi tin nhắn nhóm, hình ảnh/video chất lượng cao, chia sẻ vị trí, thông báo đã đọc,...).

Việc bổ sung mã hóa đầu cuối là mảnh ghép còn thiếu lâu nay của RCS. Cơ chế này bảo đảm chỉ người gửi và người nhận mới có thể đọc được nội dung tin nhắn; ngay cả nhà cung cấp dịch vụ cũng không thể truy cập.

Trong khi iMessage từ lâu đã hỗ trợ E2EE giữa các thiết bị Apple, thì các cuộc trò chuyện RCS đặc biệt là giữa iPhone và Android vẫn chưa có mức bảo mật tương đương.

Apple từng tuyên bố từ năm ngoái rằng hãng sẽ hỗ trợ RCS có mã hóa. Khi được triển khai đầy đủ, người dùng iPhone và Android có thể trao đổi tin nhắn RCS được mã hóa đầu cuối – điều mà cộng đồng người dùng và giới bảo vệ quyền riêng tư đã chờ đợi trong nhiều năm.

Tuy nhiên, ở thời điểm hiện tại, tính năng này mới chỉ được thử nghiệm ở quy mô hạn chế. Apple xác nhận chỉ các thiết bị đang chạy bản beta iOS 26.4 mới có thể gửi và nhận tin nhắn RCS được mã hóa. Điều đó đồng nghĩa người dùng Android hiện vẫn chưa thể sử dụng cơ chế bảo mật mới này.

Ngay cả khi iOS 26.4 chính thức phát hành, bản cập nhật đầu tiên cũng sẽ chưa bao gồm mã hóa RCS, tính năng này dự kiến được bổ sung trong một bản cập nhật tiếp theo.

Trên bình diện tiêu chuẩn, GSM Association (GSMA), tổ chức giám sát quá trình phát triển RCS, từng thông báo vào tháng 9/2024 rằng mã hóa đầu cuối sẽ được tích hợp trong cột mốc nâng cấp tiếp theo của Hồ sơ phổ quát RCS (RCS Universal Profile), bộ tiêu chuẩn nhằm thống nhất hoạt động nhắn tin giữa các thiết bị và nhà mạng.

Đến tháng 3/2025, Apple tiếp tục xác nhận sẽ hỗ trợ RCS được mã hóa trên iOS, iPadOS, macOS và watchOS trong các bản cập nhật tương lai.

-Hạ Chi

Categories: The Latest News

Kinh tế Mỹ chưa thực sự "hạ cánh mềm"

Thu, 02/19/2026 - 08:06
Nếu coi nền kinh tế Mỹ là một máy bay đang trong quá trình hạ cánh, thì ở thời điểm hiện tại, mặt nạ oxy không phải là thứ cần thiết, song vẫn còn quá sớm để tháo đai an toàn...

Kinh tế Mỹ đang phát đi những tín hiệu tích cực, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần vượt qua để đạt được một cuộc "hạ cánh mềm" thực sự. Lạm phát vẫn đang trong xu hướng giảm và thị trường lao động còn giữ vững, song còn đó những yếu tố tiềm ẩn có thể cản trở quá trình này - tờ báo Wall Street Journal nhận định.

“Hạ cánh mềm” (soft landing) là thuật ngữ chỉ việc đưa nền kinh tế về trạng thái lạm phát phù hợp với mục tiêu mà không đi kèm với sự gia tăng mạnh về tỷ lệ thất nghiệp hay sự sụt giảm của tốc độ tăng trưởng.

LẠC QUAN VÀ THẬN TRỌNG

Lạm phát, một trong những chỉ số kinh tế quan trọng nhất, của Mỹ tiếp tục xuống thang trong tháng 1 vừa qua. Báo cáo chỉ số giá tiêu dùng (CPI) công bố tuần trước cho thấy giá cả cốt lõi - thước đo loại bỏ hai nhóm thực phẩm và năng lượng vốn thường xuyên biến động - tăng 2,5% trong tháng đầu năm so với cùng kỳ năm trước.

Đây là mức thấp nhất kể từ khi bắt đầu xảy ra đợt tăng giá do đại dịch Covid-19 vào năm 2021, dù vẫn còn cao hơn mục tiêu lạm phát 2% của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed).

Thị trường lao động cũng có sự chuyển biến tích cực. Tỷ lệ thất nghiệp đã giảm xuống mức 4,3% trong tháng 1, khi số lượng việc làm trong lĩnh vực phi nông nghiệp tăng thêm 130.000 công việc, vượt xa dự báo.

“Điều tồi tệ nhất mà mọi người từng nghĩ tới đã không xảy ra. Hầu như ai cũng đã có ý nghĩ rằng cách duy nhất để lạm phát giảm về ngưỡng 2% là tỷ lệ thất nghiệp tăng vọt”, nhà kinh tế trưởng Jeffrey Cleveland của công ty Payden Rygel nhận định với Wall Street Journal.

Một yếu tố tích cực đối với tăng trưởng kinh tế Mỹ thời gian qua là đầu tư cơ bản vào AI - yếu tố đã đóng góp gần 1 điểm phần trăm vào sản lượng kinh tế nước này trong năm ngoái và có thể tiếp tục đóng góp tương tự trong năm nay.

Chính sách tài khóa cũng có thể tạo thêm động lực. Trước cuộc bầu cử giữa kỳ mùa thu này, chính quyền Tổng thống Donald Trump có lý do để theo đuổi các chính sách tài khóa mở rộng và cẩn trọng hơn với các hành động thương mại, sau khi động thái tăng mạnh thuế quan vào tháng 4 năm ngoái đã làm tăng áp lực chi phí sinh hoạt - vấn đề mà ông Trump đã hứa sẽ giải quyết.

Tuy nhiên, một cái nhìn sâu hơn vào báo cáo CPI tháng 1 cho thấy những thách thức lạm phát đang ẩn dưới bề mặt. Chi phí nhà ở, từng là động lực lớn nhất của lạm phát cao trong những năm gần đây, cuối cùng đã giảm đáng kể.

Nhưng giá dịch vụ ngoài nhà ở vẫn ổn định, và giá hàng hóa nhạy cảm với thuế quan đã tăng tốc. Loại bỏ nhóm ô tô đã qua sử dụng, giá hàng hóa cốt lõi đã tăng với tốc độ hàng năm 4,4% vào tháng 1, nhanh nhất trong 3 năm.

Các nhà phân tích cho biết báo cáo cũng cho thấy các nhà sản xuất ô tô, những người đã hấp thụ chi phí liên quan đến thuế quan trong suốt năm 2025, bắt đầu đẩy nhiều hơn chi phí thuế quan về phía người tiêu dùng.

Bên cạnh đó, còn có một mối lo ngại lớn là thị trường lao động Mỹ có thể không ổn định như báo cáo gần đây cho thấy. Tỷ lệ thất nghiệp ổn định không phải vì các nhà tuyển dụng đang thêm nhiều lao động, mà vì họ không cắt giảm nhiều nhân công.

Tình trạng sa thải ít, tuyển dụng ít này tạo ra một sự cân bằng mong manh, dễ bị phá vỡ bởi những biến động nhỏ. Một ví dụ là các công ty có giá cổ phiếu giảm mạnh do sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo (AI) có thể buộc phải cắt giảm chi phí, bao gồm cả việc sa thải nhân viên.

Tăng trưởng việc làm khả quan của tháng 1 chủ yếu tập trung vào lĩnh vực chăm sóc sức khỏe và giáo dục, đồng nghĩa sự yếu kém trong các ngành khác. Số liệu hàng năm sau điều chỉnh cho thấy nền kinh tế chỉ có thêm trung bình 15.000 việc làm mỗi tháng trong năm 2025, thấp hơn so với hầu hết các năm từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, ngoại trừ các giai đoạn kinh tế Mỹ suy thoái suy thoái.

Ngoài ra, tài sản của các hộ gia đình ở Mỹ đã được củng cố bởi nhiều năm trở lại đây nhờ xu hướng tăng trưởng bền bỉ của giá cổ phiếu. Điều đó có nghĩa là một đợt bán tháo kéo dài trên thị trường chứng khoán có thể khiến người tiêu dùng thắt chặt chi tiêu, làm suy yếu động lực tăng trưởng kinh tế.

Một số chuyên gia cho rằng rủi ro lớn hơn đối với một cuộc “hạ cánh mềm” của nền kinh tế lớn nhất thế giới không đến từ thị trường lao động mà từ sức mua bền bỉ của người tiêu dùng - yếu tố giữ lạm phát ở mức trên 2%.

CÂU CHUYỆN “NỀN KINH TẾ CHỮ K” BỊ THỔI PHỒNG?

Nếu coi nền kinh tế Mỹ là một máy bay đang trong quá trình hạ cánh, thì ở thời điểm hiện tại, mặt nạ oxy không phải là thứ cần thiết, song vẫn còn quá sớm để tháo đai an toàn.

Nếu tính theo thước đo lạm phát được Fed ưa chuộng là chỉ số giá tiêu dùng cá nhân (PCE) lõi, tốc độ lạm phát vẫn đang gần 3%, tăng từ mức thấp gần đây là 2,6% ghi nhận vào tháng 4/2025.

Nhiều nhà dự báo cho rằng lạm phát lõi sẽ không có chuyển biến đáng kể trong năm nay vì ảnh hưởng của thuế quan sẽ tiếp tục len lỏi vào giá hàng hóa trên kệ ở các siêu thị.

“Tôi sẽ chưa tuyên bố kinh tế Mỹ ‘hạ cánh mềm’. Để đạt được mục tiêu đó, lạm phát cần giảm về 2%. Bởi vậy, chúng tôi vẫn chưa hoàn thành nhiệm vụ”, bà Anna Paulson, Chủ tịch Fed chi nhánh Philadelphia, nói trong một cuộc trả lời phỏng vấn vào tháng trước.

Tuy nhiên, bà Paulson cũng như nhiều quan chức khác của Fed, lo ngại nhiều hơn về việc lạm phát có thể “cố thủ” ở mức hiện tại, thay vì lo ngại lạm phát sẽ “bốc đầu” trở lại. Bà Paulson dự báo đến cuối năm nay, tốc độ lạm phát toàn phần có thể giảm về mức 2%.

Chủ tịch Fed Jerome Powell, người sẽ kết thúc nhiệm kỳ ở cương vị này vào tháng 5 tới, đã dẫn dắt nền kinh tế vượt qua đợt lạm phát tồi tệ nhất trong 4 thập kỷ và áp lực từ chính quyền ông Trump đòi Fed hạ lãi suất nhanh hơn mạnh hơn.

Ông Powell đang chuẩn bị rời nhiệm sở với một cuộc “hạ cánh mềm” đã rất gần nhưng vẫn chưa được đảm bảo. Việc ông Kevin Warsh, người đã được ông Trump đề cử cho ghế chủ tịch Fed, đưa chính sách tiền tệ đi theo chiều hướng nào có thể quyết định điều gì sẽ xảy ra tiếp theo với kinh tế Mỹ.

“Tôi có một chút lo lắng về ‘hạ cánh mềm’, vì các hộ gia đình nhìn chung vẫn đang ở trong trạng thái tài chính tốt. Tài sản đã có sự đi lên trên diện rộng”, nhà kinh tế trưởng về Mỹ của ngân hàng Barclays, ông Marc Giannoni, nhận xét. Ông cho rằng tỷ lệ thất nghiệp sẽ giảm về mức 4% trong năm nay và lạm phát lõi sẽ duy trì quanh ngưỡng 2,8%.

Theo ông Giannoni, câu chuyện phổ biến về kinh tế Mỹ gần đây là “nền kinh tế chữ K” - trong đó nhóm thu nhập cao giữ vai trò động lực chính của tiêu dùng, che giấu sức mua suy yếu của nhóm thu nhập thấp - đã bị thổi phồng.

Nếu thực tế đúng như những gì nhà kinh tế này nhận định, đó là tin tốt cho tăng trưởng kinh tế, nhưng không phải là tin tốt cho việc đưa lạm phát về 2%.

-An Huy

Categories: The Latest News

2025: Hành trình nối thông cao tốc từ Bắc tới Nam

Thu, 02/19/2026 - 08:05
Năm 2025 ghi dấu chặng đường tăng tốc chưa từng có của hạ tầng giao thông Việt Nam, trục cao tốc Bắc – Nam lần đầu tiên được nối thông. Đằng sau mốc hơn 3.000 km đường bộ cao tốc là một hành trình dài với những quyết định khó khăn, những công trường không ngủ và sự thay đổi sâu sắc trong cách tổ chức, điều hành các dự án hạ tầng quy mô quốc gia...

Ngày 19/12/2025, ngành Xây dựng ghi dấu một dấu mốc đặc biệt khi hoàn thành vượt mục tiêu 3.000 km đường bộ cao tốc, nối liền một dải từ Cao Bằng đến Cà Mau. Tính đến thời điểm này, tổng chiều dài đường cao tốc quốc gia đạt hơn 3.800 km, trong đó gồm 3.345 km tuyến chính và 458 km đường dẫn. Đây không chỉ là thành quả về chiều dài mạng lưới, mà còn là bước hoàn thiện mang tính nền tảng đối với cấu trúc hạ tầng quốc gia.

Tại lễ khởi công, khánh thành đồng loạt các công trình chào mừng Đại hội Đảng lần thứ XIV, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính nhấn mạnh các dự án hạ tầng kinh tế – xã hội được triển khai thời gian qua đã thể hiện rõ tư duy, tầm nhìn và khát vọng phát triển của dân tộc Việt Nam. Thủ tướng cho biết mỗi tuyến đường hôm nay không chỉ được xây dựng bằng bê tông, sắt thép, mà còn được vun đắp bằng niềm tin, trách nhiệm và khát vọng phát triển; là sự kết tinh của mồ hôi, trí tuệ và cả những đánh đổi thầm lặng trên công trường.

THÀNH QUẢ CỦA CẢ HỆ THỐNG

Theo Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh, các tuyến cao tốc hoàn thành trong giai đoạn này đều có ý nghĩa đặc biệt về chính trị, kinh tế và quốc phòng, tạo động lực cho tăng trưởng trung và dài hạn, đồng thời mở ra không gian phát triển mới và thúc đẩy hội nhập quốc tế.

Một điểm đáng chú ý là cơ cấu nguồn vốn đầu tư đã có sự dịch chuyển rõ rệt, khi tỷ trọng nguồn lực tư nhân ngày càng tăng so với vốn ngân sách nhà nước. Thực tiễn này phản ánh định hướng đúng đắn của Đảng và Nhà nước trong phát triển kinh tế tư nhân theo tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị, từng bước được hiện thực hóa trong lĩnh vực đầu tư hạ tầng.

Dẫn chứng cụ thể để làm rõ quy mô và tốc độ phát triển của hệ thống cao tốc quốc gia, Bộ trưởng Trần Hồng Minh cho biết giai đoạn 2001–2010, cả nước chỉ hoàn thành 89 km đường cao tốc; sang giai đoạn 2011–2020, con số này tăng lên gần 1.200 km.

Riêng trong 5 năm 2021–2025, tổng chiều dài cao tốc hoàn thành đã lớn hơn gấp đôi tổng số của 20 năm trước cộng lại. Theo đánh giá của lãnh đạo Bộ Xây dựng, đây là tốc độ phát triển nhanh nhất trong lịch sử ngành giao thông – xây dựng đến thời điểm hiện nay, góp phần hoàn thiện mạng lưới cao tốc quốc gia theo hướng đồng bộ, hiện đại.

Người đứng đầu ngành Xây dựng khẳng định việc vượt mục tiêu 3.000 km đường bộ cao tốc năm 2025 không chỉ cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2021–2030, mà còn vượt xa nhiều dự báo trước đó. Với lộ trình mở rộng lên 5.000 km vào năm 2030, hệ thống cao tốc được kỳ vọng sẽ trở thành nền tảng cho phát triển logistics quốc gia, thúc đẩy đô thị hóa vùng ven và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

CÔNG TRƯỜNG NHỮNG ĐÊM TRẮNG

Việc hoàn thành mạng lưới cao tốc giai đoạn 2021–2025 mang ý nghĩa đặc biệt không chỉ bởi quy mô chưa từng có, mà còn bởi bối cảnh triển khai hết sức khắc nghiệt, khi chuỗi cung ứng bị đứt gãy nghiêm trọng do đại dịch Covid-19, trong khi yêu cầu tiến độ đặt ra ở mức rất cao.

Theo ông Lê Quyết Tiến, Cục trưởng Cục Kinh tế – Quản lý đầu tư xây dựng (Bộ Xây dựng), qua rà soát các dự án, đặc biệt là cao tốc Bắc – Nam giai đoạn 1, đã bộc lộ rõ những điểm nghẽn mang tính hệ thống, từ thủ tục đầu tư, giải phóng mặt bằng, chuẩn bị nguồn vật liệu, bố trí tài chính đến năng lực tổ chức và huy động nhà thầu. Đây là những yếu tố nếu không được xử lý đồng bộ sẽ làm đứt gãy toàn bộ chuỗi triển khai dự án.

Trong bối cảnh đó, việc cho phép thực hiện song song các thủ tục đầu tư tại cao tốc Bắc – Nam giai đoạn 2 được coi là bước điều chỉnh mang tính then chốt. Với vai trò cơ quan chuyên môn, Cục Kinh tế – Quản lý đầu tư xây dựng đã tổ chức thẩm tra hồ sơ thiết kế theo phương thức cuốn chiếu, xử lý đến đâu dứt điểm đến đó, qua đó rút ngắn đáng kể thời gian chuẩn bị đầu tư so với thông lệ trước đây.

Song song với cải cách thủ tục, sự chỉ đạo quyết liệt trong công tác giải phóng mặt bằng và cấp mỏ vật liệu theo các cơ chế đặc thù cũng đóng vai trò quyết định đối với tiến độ các dự án. Ban Chỉ đạo Nhà nước các công trình, dự án quan trọng quốc gia, trọng điểm ngành giao thông vận tải và Bộ Xây dựng thường xuyên bám sát hiện trường, kịp thời tháo gỡ vướng mắc theo nguyên tắc “vướng ở đâu, tháo ở đó”, tạo điều kiện khơi thông dòng vốn và duy trì nhịp thi công liên tục.

Ở cấp công trường, áp lực tiến độ được chuyển hóa thành cường độ làm việc chưa từng có. Cán bộ quản lý, kỹ sư và công nhân nhiều thời điểm ăn ở tại hiện trường, công trường chong đèn xuyên đêm, lực lượng thi công làm việc liên tục để kịp các mốc thông xe. Những hình ảnh ấy cho thấy tiến độ các tuyến cao tốc không được quyết định trên bàn giấy, mà được giải quyết trực tiếp tại từng nút thắt cụ thể ngay dưới chân móng công trình.

Ông Nguyễn Quang Huy, Tổng giám đốc Tập đoàn Đèo Cả, cho biết tại dự án Quảng Ngãi – Hoài Nhơn, đây là một trong những dự án thành phần có nhiều hầm xuyên núi quy mô lớn nhất trong 12 dự án thành phần cao tốc Bắc – Nam giai đoạn 2. Trong đó, hầm số 3 dài 3,2 km là hầm dài thứ ba cả nước, sau hầm Hải Vân và hầm Đèo Cả, dự kiến khánh thành vào ngày 19/12/2025.

Theo lãnh đạo Tập đoàn Đèo Cả, trong quá trình làm việc với Ban Quản lý dự án 2, bằng kinh nghiệm thực tiễn, đơn vị đã tính toán rất kỹ và cho rằng tiến độ thi công hầm số 3 khó có thể ngắn hơn 48 tháng. Tuy nhiên, trong một lần kiểm tra công trường, Thủ tướng Chính phủ đã đặt vấn đề: Nếu đến tháng 12, toàn bộ các dự án trên tuyến cao tốc Bắc – Nam phía Đông đều thông xe, nhưng riêng hầm số 3 ở đoạn giữa Quảng Ngãi và Bình Định (cũ) chưa hoàn thành, thì Đèo Cả sẽ xử lý ra sao.

Trước yêu cầu đó, lãnh đạo Tập đoàn Đèo Cả đã cam kết với Thủ tướng sẽ hoàn thành tiến độ cùng các dự án khác để thông tuyến cao tốc Bắc-Nam vào tháng 12/2025. Ngay sau đó, doanh nghiệp tổ chức họp bàn, xin ý kiến các chuyên gia để xây dựng các giải pháp kỹ thuật phù hợp.

Nếu theo phương án thông thường, thi công hầm giao thông chỉ triển khai hai mũi từ hai đầu hầm. Tuy nhiên, để đẩy nhanh tiến độ, Đèo Cả đã đề xuất giải pháp mở rộng không gian trong hầm, tăng cường thiết bị, máy móc và tổ chức thêm các mũi thi công. Từ chỗ mỗi bước đào chỉ đạt 1–3m, phương pháp mới giúp nâng bước đào lên 4–6m, qua đó rút ngắn đáng kể thời gian thi công.

Trong quá trình triển khai, một thách thức khác là vấn đề cấp nước phục vụ thi công. Dù điều kiện thi công mùa khô thuận lợi, song nguồn nước ngầm trên núi lại hạn chế. Trong “cái khó ló cái khôn”, doanh nghiệp đã nghiên cứu và áp dụng giải pháp “tuần hoàn nguồn nước trong thi công hầm”, trong đó nước sau khi sử dụng được đưa ra lọc và tái sử dụng, với tỷ lệ tuần hoàn đạt trên 90%.

GIẢI QUYẾT BÀI TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU

Bước vào giai đoạn hoàn thiện, thay vì chỉ bố trí hai bộ khuôn thường và hai bộ khuôn mở rộng như thông lệ, dự án cao tốc Quảng Ngãi – Hoài Nhơn đã bố trí tới 10 bộ khuôn so le để thi công đồng thời, nhằm rút ngắn tối đa thời gian hoàn thiện bê tông vỏ hầm. Theo lãnh đạo Tập đoàn Đèo Cả, mô hình này sẽ tiếp tục được nhân rộng tại các dự án hầm tiếp theo, đồng thời sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm với các đối tác, hướng tới mục tiêu để các doanh nghiệp Việt Nam cùng lớn lên và trưởng thành qua các công trình hạ tầng lớn.

Từ thực tiễn triển khai các dự án cao tốc, bài toán nguyên vật liệu nổi lên như một trong những yếu tố quyết định thành bại của tiến độ. Theo ông Nguyễn Bá Đoàn, Chủ nhiệm Chính trị Binh đoàn 12, dù Việt Nam có nguồn đất, đá, cát, sỏi tương đối dồi dào, song các vướng mắc về thủ tục khai thác khiến nguồn tài nguyên này chưa được chuyển hóa kịp thời thành nguồn lực cho dự án.

Với kinh nghiệm vừa quản lý, vừa trực tiếp thi công hơn 400 km đường cao tốc, đại diện của Binh đoàn 12 cho rằng dự án nào giải quyết được nguồn vật liệu sớm thì dự án đó nắm lợi thế quyết định. Khi vật liệu được chủ động, nhà thầu không chỉ giảm áp lực chạy đua tiến độ, mà còn có khả năng hoàn thành dự án sớm hơn kế hoạch. Trường hợp cao tốc Cần Thơ – Cà Mau cho thấy, việc xử lý tốt nguồn vật liệu đã giúp đơn vị cơ bản hoàn thành phần việc sớm hơn dự kiến, sẵn sàng phục vụ thông xe theo kế hoạch.

Một nhà thầu khác là Công ty cổ phần Đầu tư Phương Thành cho biết tại dự án Vũng Áng – Bùng, khó khăn lớn nhất không nằm ở khối lượng thi công, mà ở phương án xử lý nền và nguồn vật liệu đi kèm. Dù khu vực sông Gianh không thiếu cát vàng, song trữ lượng mỏ được cấp phép quá nhỏ so với nhu cầu thực tế, khiến phương án kỹ thuật ban đầu không thể triển khai...

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-Huỳnh Dũng

Categories: The Latest News

Financial Times: Chủ tịch ECB có thể từ nhiệm trước khi kết thúc nhiệm kỳ 8 năm

Thu, 02/19/2026 - 08:02
Chủ tịch Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) Christine Lagarde có thể sẽ rời khỏi cương vị này trước khi chính thức nhiệm kỳ 8 năm kết thúc vào tháng 10/2027 - theo tiết lộ của nguồn tin thạo tin với tờ báo Financial Times...

Bà Lagarde - người đã lãnh đạo ECB từ tháng 11/2019 sau khi đảm nhiệm cương vị Tổng giám đốc Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) từ năm 2011 đến năm 2019 - đang cân nhắc việc rời khỏi vị trí này trước cuộc bầu cử tổng thống Pháp vào tháng 4/2027, nguồn tin cho biết.

Theo nguồn tin, mục đích của việc từ nhiệm sớm này là tạo điều kiện cho Tổng thống Pháp Emmanuel Macron và Thủ tướng Đức Friedrich Merz tìm kiếm một người kế nhiệm cho ghế chủ tịch của ECB - một trong những tổ chức quan trọng nhất của Liên minh châu Âu (EU).

Trong một tuyên bố, ECB nói rằng "Chủ tịch Lagarde hoàn toàn tập trung vào nhiệm vụ của mình và chưa đưa ra bất kỳ quyết định nào liên quan đến việc kết thúc nhiệm kỳ”.

Các nhà kinh tế châu Âu tham gia một cuộc khảo sát của tờ báo Financial Times vào tháng 12/2025 đã coi cựu Thống đốc ngân hàng trung ương Tây Ban Nha Pablo Hernandez de Cos và người đồng cấp Hà Lan Klaas Knot là những ứng cử viên hàng đầu để trở thành chủ tịch tiếp theo của ngân hàng trung ương khu vực đồng euro. Thành viên ban điều hành ECB Isabel Schnabel đã bày tỏ sự quan tâm đến vị trí này, và giới thạo tin tiết lộ rằng Chủ tịch Ngân hàng Trung ương Đức (Bundesbank) Joachim Nagel cho biết ông cũng rất quan tâm đến vai trò chủ tịch ECB.

Tại Paris, các cuộc thảo luận về người tiếp theo nắm cương vị chủ tịch ECB đã diễn ra trong nhiều tháng qua, và Tổng thống Macron - người không thể tái tranh cử nhiệm kỳ thứ ba - đã bày tỏ mong muốn có tiếng nói trong việc lựa chọn người kế nhiệm bà Lagarde. Cuộc bầu cử tổng thống Pháp vào tháng 4 năm sau sẽ rất quan trọng đối với Pháp, nền kinh tế lớn thứ hai của khu vực đồng euro và cả EU.

Bà Marine Le Pen, lãnh đạo của đảng cực hữu Liên minh Quốc gia (Rassemblement Nationale -RN), đang dẫn đầu trong các cuộc thăm dò dư luận ở Pháp, đặt bà vào vị trí hàng đầu để tiến vào vòng bầu cử thứ hai - vòng bầu cử chỉ có hai ứng cử viên và quyết định ai sẽ trở thành tổng thống. Mặc dù bà Le Pen có thể bị loại khỏi cuộc đua với tư cách là ứng cử viên của RN sau khi bị kết án vào năm ngoái vì biển thủ quỹ của Nghị viện châu Âu, bà đã nói rằng người được bà bảo trợ là ông Jordan Bardella sẽ trở thành người thay thế bà trong trường hợp như vậy.

Cả bà Le Pen và ông Bardella đều là những người có quan điểm hoài nghi đối với hội nhập châu Âu, và điều này có thể làm phức tạp mối quan hệ với các tổ chức châu Âu như ECB.

Thời gian bà Lagarde lãnh đạo ECB đã được định hình bởi một loạt các cuộc khủng hoảng, bao gồm đại dịch Covid-19, chiến tranh Nga - Ukraine và xung đột thương mại với Mỹ.

Trong nhiệm kỳ của bà, lạm phát khu vực đồng euro đã leo thang chóng mặt lên gần 11% vào cuối năm 2022, khi giá năng lượng tăng dữ dội sau khi chiến tranh Nga - Ukraine nổ ra và chuỗi cung ứng toàn cầu gặp khó khăn do những gián đoạn liên quan đến đại dịch.

ECB đã tăng lãi suất từ mức âm 0,5% lên 4% chỉ trong hơn 1 năm. Giữa năm 2024, ngân hàng trung ương này bắt đầu hạ lãi suất, đưa lãi suất về mức 2% hiện tại, phù hợp với tiến trình lạm phát giảm trở lại mục tiêu trung hạn 2% của ECB.

Việc bà Lagarde được bổ nhiệm làm chủ tịch ECB diễn ra sau khi ông Macron và Thủ tướng Đức khi đó là bà Angela Merkel đạt được một thỏa thuận bất ngờ vào năm 2019. Hai nhà lãnh đạo này đã nhất trí rằng bà Lagarde sẽ tiếp quản ECB và sau đó Bộ trưởng Quốc phòng Đức Ursula von der Leyen sẽ trở thành chủ tịch Ủy ban châu Âu (EC).

Vào tháng 1 vừa qua, bà Lagarde đã nói với kênh truyền hình Bloomberg TV rằng bà chấp nhận công việc tại ECB với suy nghĩ rằng bà sẽ phục vụ nhiệm kỳ 5 năm.

Phát biểu này đã được các nhà quan sát coi có thể là sự chuẩn bị cho một cuộc ra đi sớm khỏi ghế chủ tịch ECB. Bà nhớ lại những gì bà đã nói với ông Macron sau khi đồng ý đảm nhận vai trò chủ tịch ECB: “Tôi nói sẽ ở Frankfurt trong 5 năm. Và vào thời điểm đó, ông Macron nói ‘Không, trong 8 năm’”.

Vào mùa hè năm ngoái, một phát ngôn viên của ECB nhấn mạnh rằng bà Lagarde “quyết tâm hoàn thành nhiệm kỳ [8 năm]” sau khi cựu chủ tịch Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) Klaus Schwab cho biết bà Chủ tịch ECB đã thảo luận về khả năng ra đi sớm để đảm nhận vai trò lãnh đạo WEF.

“Các bạn sẽ không sớm thấy tôi rời đi”, bà Lagarde nói với các phóng viên tại trụ sở ECB vào tháng 6/2025.

-Bình Minh

Categories: The Latest News

Giá vàng hồi phục mạnh do Mỹ - Iran lại căng thẳng

Thu, 02/19/2026 - 08:00
Giá vàng thế giới hồi phục mạnh trong phiên giao dịch ngày thứ Tư (18/2), do nhu cầu phòng ngừa rủi ro tăng lên khi căng thẳng Mỹ - Iran nóng trở lại...

Tuy nhiên, với triển vọng lãi suất Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) khó đoán định, giá vàng chưa lấy lại được mốc chủ chốt 5.000 USD/oz.

Lúc đóng cửa, giá vàng giao ngay tại thị trường New York tăng 99 USD/oz so với mức chốt của phiên trước, tương đương tăng 2,03%, đạt 4.976 USD/oz - theo dữ liệu từ sàn giao dịch Kitco.

Giá bạc giao ngay tăng 3,66 USD/oz, tương đương tăng 4,99%, chốt ở mức 77,07 USD/oz.

Trên sàn giao dịch hàng hóa tương lai COMEX, giá vàng giao tháng 4/2026 tăng 2,1%, đóng cửa ở mức 5.009,5 USD/oz.

Trước phiên hồi phục này, giá vàng đã có hai phiên giảm mạnh liên tiếp, với mức giảm tương ứng 1% và và 2,3% vào ngày thứ Hai và thứ Ba, khi căng thẳng địa chính trị dịu đi và đồng USD hồi phục.

Những dấu hiệu căng thẳng trở lại trong cuộc đàm phán hạt nhân giữa Mỹ và Iran là động lực thúc đẩy nhu cầu phòng ngừa rủi ro, đưa giá vàng hồi phục trong phiên ngày thứ Tư.

Phó tổng thống Mỹ JD Vance cho biết các cuộc thảo luận giữa giới chức nước này và Iran ở Geneva, Thụy Sỹ trong tuần này mới đạt được tiến bộ rất hạn chế và khoảng cách giữa hai bên còn lớn. Cũng theo ông Vance, Tehran chưa hề giải quyết được những ranh giới đỏ của Mỹ và Tổng thống Donald Trump vẫn sẵn sàng phương án tấn công quân sự đối với Iran.

Cùng với đó, hai ngày đàm phán ở Geneva nhằm chấm dứt cuộc chiến tranh giữa Nga và Ukraine cũng kết thúc mà không mang lại một bước đột phá nào.

“Trên thị trường đang có chút lo ngại về căng thẳng địa chính trị giữa Iran và Mỹ. Tuy nhiên, với sự giằng co của giá vàng trong tháng 2 này, chưa ai dám chắc giá vàng trong ngắn hạn sẽ đi theo hướng nào”, nhà phân tích Edward Meir của công ty Marex nhận xét.

Phiên này, giá vàng tiếp tục đương đầu với áp lực giảm giá từ sự phục hồi của đồng USD. Chỉ số Dollar Index tăng mạnh, với mức tăng gần 0,6%, chốt phiên ở mức 97,7 điểm, nâng tổng mức tăng trong 5 phiên trở lại đây lên gần 1%.

Đồng bạc xanh được hỗ trợ sau khi Fed công bố biên bản cuộc họp chính sách tiền tệ tháng 1 cho thấy các quan chức của ngân hàng trung ương này bất đồng về triển vọng lãi suất. Theo nội dung của biên bản, một số thành viên dự họp cảnh báo rằng lãi suất có thể cần phải tăng nếu lạm phát cao dai dẳng, trong khi những người khác tranh luận về việc có nên tiếp tục giảm lãi suất hay không và nếu có thì khi nào.

Trao đổi với hãng tin Reuters, nhà giao dịch kim loại quý độc lập Tai Wong ở New York nhận định “dù biên bản cuộc họp Fed cho thấy tín hiệu của sự cứng rắn và phần đông thị trường không cho rằng Fed sẽ hạ lãi suất trước tháng 6, giá vàng vẫn có khả năng sẽ lấy lại mốc 5.000 USD/oz”.

Quỹ ETF vàng lớn nhất thế giới SPDR Gold Trust không có động thái mua bán ròng nào trong phiên ngày thứ Tư, giữ nguyên khối lượng nắm giữ ở mức 1.075,6 tấn vàng.

Diễn biến giá vàng thế giới 6 tháng qua. Đơn vị: USD/oz - Nguồn: Trading Economics.

Trong thời gian còn lại của tuần này, ngoài các tin tức địa chính trị, nhà đầu tư sẽ quan tâm tới báo cáo chỉ số giá tiêu dùng cá nhân Mỹ (PCE), theo dự kiến sẽ được công bố vào ngày thứ Sáu, để định hình triển vọng lãi suất Fed. PCE lõi - thước đo lạm phát được Fed ưa chuộng - là căn cứ quan trọng để hoạch định chính sách tiền tệ của cơ quan này.

Giá vàng và giá bạc duy trì xu thế tăng khi mới mở cửa sáng nay (19/2) tại thị trường châu Á.

Lúc 6h30 theo giờ Việt Nam, giá vàng giao ngay tăng 9,3 USD/oz so với đóng cửa phiên Mỹ, tương đương tăng 0,2%, giao dịch ở mức 4.987,3 USD/oz. Giá bạc tăng 0,3%, giao dịch ở mức 77,56 USD/oz - theo Kitco.

Mức giá trên của vàng thế giới tương đương khoảng 157,2 triệu đồng/lượng, tăng 3,6 triệu đồng/lượng so với sáng hôm qua, nếu được quy đổi theo tỷ giá USD bán ra của ngân hàng Vietcombank.

Cùng thời điểm, website của Vietcombank báo giá USD ở mức 25.750 đồng (mua vào) và 26.160 đồng (bán ra), không thay đổi so với sáng qua.

-Điệp Vũ

Categories: The Latest News

Tiền thưởng huy chương ở Thế vận hội Mùa đông 2026

Thu, 02/19/2026 - 07:59
Singapore đứng đầu bảng xếp hạng về mức tiền thưởng cho các vận động viên giành huy chương tại Thế vận hội Mùa đông năm nay...

Tại Thế vận hội Mùa đông 2026 Milano-Cortina đang diễn ra ở Italy, các vận động viên không chỉ tranh tài để giành lấy vinh quang và huy chương mà còn có cơ hội nhận được những khoản tiền thưởng không hề nhỏ từ quốc gia mà họ đại diện.

Ủy ban Olympic Quốc tế (IOC) không trao tiền thưởng cho các vận động viên giành huy chương, nhưng nhiều chính phủ và ủy ban Olympic quốc gia đã đưa ra các mức tiền thưởng hấp dẫn để khuyến khích các vận động viên của mình.

Theo hãng tin CNBC, Singapore đứng đầu bảng xếp hạng về mức tiền thưởng cho các vận động viên giành huy chương tại Thế vận hội Mùa đông 2026. Quốc gia Đông Nam Á này sẵn sàng trao khoảng 792.000 USD cho một huy chương vàng cá nhân, 395.000 USD cho huy chương bạc và 197.000 USD cho huy chương đồng. Đây là mức thưởng cao nhất cho huy chương vàng trong số các quốc gia và vùng lãnh thổ mà CNBC thu thập được dữ liệu.

Singapore mới chỉ tham gia một kỳ Thế vận hội Mùa đông trước đó vào năm 2018 - kỳ Olympic mà vận động viên trượt băng tốc độ Cheyenne Goh của nước này xếp thứ 28 ở nội dung 1.500 mét nữ. Tuy nhiên, đảo quốc sư tử vẫn tiếp tục đầu tư mạnh mẽ vào các môn thể thao mùa đông.

Tại Milano-Cortina, Singapore chỉ có một đại diện là vận động viên trượt tuyết Faiz Basha, người đã không hoàn thành lượt chạy đầu tiên của nội dung trượt tuyết đổ đèo tại Trung tâm Trượt tuyết Stelvio.

Hồng Kông cũng đưa ra mức thưởng hấp dẫn với khoảng 768.000 USD cho huy chương vàng, 384.000 USD cho huy chương bạc và 192.000 USD cho huy chương đồng. Dù vậy, thành phố này vẫn chưa giành được huy chương nào tại Thế vận hội Mùa đông. Các vận động viên của Hồng Kông tham gia tranh tài ở các môn trượt tuyết và trượt băng tốc độ ngắn tại Italy.

Tại châu Âu, Ba Lan nổi bật không chỉ bởi quy mô mà còn bởi sự đa dạng của các phần thưởng. Các vận động viên giành huy chương vàng cá nhân có thể nhận được khoảng 211.000 USD, cùng với một chiếc xe Toyota Corolla, một căn hộ hai phòng hoàn thiện, một bức tranh, một phiếu nghỉ dưỡng và trang sức. Các phần thưởng hiện vận này cũng được áp dụng cho các vận động viên giành huy chương bạc và đồng, cộng thêm mức tiền thưởng lần lượt là khoảng 169.000 USD và 124.000 USD.

Nước chủ nhà Italy cũng không kém cạnh khi trao khoảng 214.000 USD cho vận động viên giành huy chương vàng, 107.000 USD cho huy chương bạc và 71.000 USD cho huy chương đồng. Trong khi đó, Hàn Quốc trao khoảng 208.000 USD cho huy chương vàng, khoảng 139.000 USD cho huy chương bạc và 70.000 USD cho huy chương đồng.

Đặc biệt, ngoài các khoản tiền thưởng tiêu chuẩn, vận động viên của Hàn Quốc còn giành được thêm những phần thưởng bổ sung khác. Truyền thông nhà nước Hàn Quốc đưa tin rằng vận động viên trượt tuyết Choi Ga-on đã nhận được 300 triệu won từ hiệp hội thể thao của cô sau khi giành huy chương vàng, cùng với các món quà từ các công ty tư nhân, bao gồm một chiếc đồng hồ xa xỉ từ thương hiệu Thụy Sĩ Omega.

Tại Mỹ, Ủy ban Olympic Paralympic Hoa Kỳ trao 37.500 USD cho huy chương vàng, 22.500 USD cho huy chương bạc và 15.000 USD cho huy chương đồng.

Mức tiền thưởng của các quốc gia và vùng lãnh thổ cho vận động viên giành huy chương vàng, bạc và đồng tại Thế vận hội mùa đông 2026 - Nguồn: CNBC.

Trong khi đó, Na Uy, quốc gia có số lượng huy chương nhiều nhất trong lịch sử Thế vận hội Mùa đông, không trao tiền thưởng cho các vận động viên giành huy chương. Thay vào đó, các vận động viên tiếp tục thi đấu có thể đủ điều kiện nhận hỗ trợ tài chính từ Ủy ban Olympic và Paralympic Na Uy, với mức trợ cấp khoảng 160.000 kroner Na Uy mỗi năm (tương đương 16.831 USD), bao gồm cả việc tiếp cận đào tạo chuyên nghiệp và dịch vụ y tế.

Một số quốc gia không công khai chương trình thưởng huy chương. Vương quốc Anh không trao tiền thưởng cho các huy chương Thế vận hội Mùa đông, nghĩa là các vận động viên của đội tuyển Anh sẽ không nhận được tiền thưởng dù có vị trí trên bục vinh quang. Thay vào đó, hỗ trợ tài chính được cung cấp thông qua tổ chức UK Sport, sử dụng nguồn tài trợ từ Xổ số Quốc gia để hỗ trợ đào tạo, huấn luyện và phát triển vận động viên.

Trung Quốc cũng không công bố cấu trúc thưởng quốc gia tiêu chuẩn cho các huy chương Thế vận hội Mùa đông. Phần thưởng dành cho các vận động viên có huy chương thường được quyết định ở cấp tỉnh hoặc bởi nhà tài trợ.

-An Huy

Categories: The Latest News

Chứng khoán Mỹ tăng nhờ cổ phiếu công nghệ hồi phục, giá dầu nhảy hơn 4% sau tin Iran

Thu, 02/19/2026 - 07:57
Việc các cổ phiếu công nghệ chủ chốt được mua trở lại đã giữ vai trò động lực chính để các chỉ số chứng khoán Mỹ đi lên. Nhưng mặt khác, triển vọng lãi suất Fed bấp bênh có thể khiến nhà đầu tư có phần thận trọng khi xuống tiền...

Thị trường chứng khoán Mỹ tăng điểm trong phiên giao dịch ngày thứ Tư (18/2), khi nhà đầu tư quay trở lại mua một số cổ phiếu công nghệ chủ chốt và nghiền ngẫm nội dung biên bản cuộc họp gần đây nhất của Cục Dự trữ Liên bang (Fed). Giá dầu thô đồng loạt tăng hơn 4% khi vòng đàm phán hạt nhân Mỹ - Iran chưa mang lại kết quả cụ thể nào.

Lúc đóng cửa, chỉ số SP 500 tăng 0,56%, chốt ở mức 6.881,31 điểm. Chỉ số Dow Jones tăng 129,47 điểm, tương đương tăng 0,26%, đạt 49.662,66 điểm. Chỉ số Nasdaq tăng 0,78%, đạt 22.753,63 điểm.

Cổ phiếu Nvidia tăng 1,6% sau khi Meta Platforms vào hôm thứ Ba tuyên bố sẽ sử dụng hàng triệu con chip Nvidia trong quá trình xây dựng trung tâm dữ liệu của mình.

Một thành viên khác của nhóm Magnificent 7 là cổ phiếu Amazon tăng 2% sau khi một báo cáo cho thấy công ty quản lý quỹ đầu tư Pershing Square của tỷ phú Bill Ackman đã tăng 65% lượng cổ phần nắm giữ trong Amazon trong quý 4/2025. Động thái tăng nắm giữ này đưa Amazon trở thành cổ phiếu lớn thứ ba trong danh mục của Pershing Square. Với phiên tăng này, Amazon chấm dứt chuỗi 9 phiên tăng trước đó.

Việc các cổ phiếu công nghệ chủ chốt được mua trở lại đã giữ vai trò động lực chính để các chỉ số chứng khoán Mỹ đi lên. Nhưng mặt khác, triển vọng lãi suất Fed bấp bênh có thể khiến nhà đầu tư có phần thận trọng khi xuống tiền.

Biên bản cuộc họp chính sách tiền tệ tháng 1 của Fed cho thấy các quan chức của ngân hàng trung ương này về cơ bản đồng thuận về việc giữ lãi suất ở mức 3,5-3,75%, nhưng bất đồng về triển vọng lãi suất trong thời gian tới. Theo nội dung của biên bản, một số thành viên dự họp cảnh báo rằng lãi suất có thể cần phải tăng nếu lạm phát cao dai dẳng, trong khi những người khác tranh luận về việc có nên tiếp tục giảm lãi suất hay không và nếu có thì khi nào.

Trên thị trường năng lượng, giá dầu thô Brent giao sau tại London tăng 2,93 USD/thùng, tương đương tăng 4,35%, chốt ở mức 70,35 USD/thùng. Giá dầu WTI giao sau tại New York tăng 2,86 USD/thùng, tương đương tăng 4,59%, chốt ở mức 65,19 USD/thùng.

Hôm thứ Ba tuần này, hai phái viên Mỹ Steve Witkoff và Jared Kushner tiến hành đàm phán hạt nhân với giới chức Iran tại Geneva, Thụy Sỹ.

Phát biểu hôm thứ Ba, Ngoại trưởng Iran Abbas Araghchi nói rằng các cuộc thảo luận với Mỹ diễn ra “tích cực” và hai bên đã đạt thỏa thuận chung về các nguyên tắc chỉ đạo - truyền thông Iran đưa tin. Thông tin này đã khiến giá dầu sụt giảm trong phiên ngày thứ Ba.

Tuy nhiên, sau đó cùng ngày thứ Ba, Phó tổng thống Mỹ JD Vance cho biết các cuộc thảo luận vừa qua giữa Mỹ và Iran ở Geneva mới đạt được tiến bộ rất hạn chế và khoảng cách giữa hai bên còn lớn. Cũng theo ông Vance, Tehran chưa hề giải quyết được những ranh giới đỏ của Mỹ và Tổng thống Donald Trump vẫn sẵn sàng phương án tấn công quân sự đối với Iran.

“Có thể nói đàm phán diễn ra tích cực và họ nhất trí tiếp tục gặp. Nhưng mặt khác, một số giới hạn đỏ mà Tổng thống đặt ra vẫn chưa được phía Iran sẵn sàng chấp nhận và thực thi”, ông Vance nói trong một chương trình của kênh Fox News vào tối ngày thứ Ba.

Cùng với đó, hai ngày đàm phán ở Geneva nhằm chấm dứt cuộc chiến tranh giữa Nga và Ukraine cũng kết thúc mà không mang lại một bước đột phá nào.

Trang Axios dẫn nguồn thạo tin nói rằng nếu Mỹ tiến hành một chiến dịch quân sự nhằm vào Iran trong thời gian sắp tới, đó sẽ là một chiến dịch lớn, kéo dài nhiều tuần và giống một cuộc chiến tranh hơn là cuộc đột kích bắt giữ Tổng thống Nicolas Maduro của Venezuela hồi tháng 1 vừa qua.

Theo sự điều động của Tổng thống Trump, tàu sân bay USS Abraham Lincoln đã có mặt ở Trung Đông, và một hàng không mẫu hạm Mỹ khác là tàu USS Gerald Ford đang trên đường tới khu vực này. Hôm thứ Sáu tuần trước, ông Trump nói ông điều tàu sân bay thứ hai tới Trung Đông nhằm mục đích đề phòng trường hợp đàm phán với Iran thất bại.

“Nếu chúng tôi không đạt được thỏa thuận, chúng tôi sẽ cần sử dụng con tàu”, ông Trump nói với báo giới tại Nhà Trắng.

-Bình Minh

Categories: The Latest News

Kiến tạo hệ sinh thái nhân lực chất lượng cao

Thu, 02/19/2026 - 07:53
Trước áp lực cạnh tranh công nghệ toàn cầu ngày càng gay gắt, Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới với tham vọng nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu. Khi khoa học - công nghệ tiến bộ không ngừng, nguồn nhân lực chất lượng cao được coi là “chìa khóa” để hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược và nâng tầm năng lực quốc gia...

Sau gần bốn thập kỷ đổi mới, Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển mới với khát vọng vươn mình mạnh mẽ. Đây không chỉ là hành trình mở rộng quy mô kinh tế, mà còn là quá trình khẳng định vị thế và tầm vóc quốc gia trong bối cảnh cạnh tranh và chuyển dịch toàn cầu ngày càng sâu sắc. 

Nhận thức rõ điều đó, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách lớn nhằm kiến tạo nền tảng cho phát triển nhanh và bền vững, trong đó con người và nguồn nhân lực chất lượng cao được đặt ở vị trí trung tâm của chiến lược phát triển.

Các định hướng như Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; cùng nhiều chương trình quốc gia về chuyển đổi số, phát triển nhân lực STEM (khoa học - công nghệ - kỹ thuật - toán học) đã cho thấy quyết tâm nhất quán trong việc đầu tư cho trí tuệ, kỹ năng và năng lực sáng tạo của người Việt. 

CƠ HỘI LỚN TỪ LÀN SÓNG CÔNG NGHỆ

Tuy nhiên, thách thức lớn còn nằm ở khả năng chuyển hóa các định hướng chiến lược thành năng lực thực tế của nền kinh tế. Trong bối cảnh khoa học, công nghệ phát triển nhanh và mô hình tăng trưởng dịch chuyển sang các lĩnh vực giá trị gia tăng cao, yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt trong các ngành công nghệ và đổi mới sáng tạo, đang đặt ra áp lực ngày càng rõ nét.

Trước yêu cầu đó, các chuyên gia cho rằng cần thúc đẩy mô hình liên kết Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp theo hướng chặt chẽ và có hệ thống hơn. Mô hình này được kỳ vọng sẽ trở thành “xương sống” của hệ sinh thái nhân lực và đổi mới sáng tạo, giúp kết nối hiệu quả giữa chính sách, đào tạo, nghiên cứu và nhu cầu thực tiễn của thị trường.

Theo ông Manik Saha, Tổng giám đốc SAP Labs Singapore và Việt Nam, bức tranh thị trường lao động Việt Nam đang thay đổi với tốc độ nhanh chóng dưới tác động của làn sóng công nghệ mới.

Dẫn chứng báo cáo của Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia, Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản và Boston Consulting Group Việt Nam, ông Manik Saha cho biết trí tuệ nhân tạo (AI) có thể đóng góp từ 120-130 tỷ USD cho GDP vào năm 2040, tương đương 10–12% tổng sản lượng quốc gia. Tự động hóa và phân tích dữ liệu dựa trên AI sẽ làm thay đổi sâu sắc các ngành sản xuất, tài chính và dịch vụ công.

Lĩnh vực công nghệ tài chính (fintech) được dự báo đạt quy mô 3,42 tỷ USD năm 2025, với tốc độ tăng trưởng kép hàng năm 17,8% đến năm 2030, đạt 7,78 tỷ USD. 

Sự cần thiết phải phát triển sớm và có hệ thống nguồn nhân lực cho các lĩnh vực then chốt như trí tuệ nhân tạo (AI), fintech, sản xuất công nghệ sinh học và khoa học dữ liệu. Dù lực lượng lao động công nghệ của Việt Nam đã ghi nhận những chuyển biến tích cực, song vẫn còn nhiều hạn chế cần được nhận diện và giải quyết một cách bài bản để đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn tới.

Theo ông Manik Saha, hiện chỉ khoảng 30% sinh viên công nghệ thông tin có thể đáp ứng yêu cầu công việc ngay sau khi tốt nghiệp. Điều này cho thấy dư địa rất lớn cho việc hiện đại hóa chương trình đào tạo, tăng cường thực hành và gắn kết chặt chẽ hơn với nhu cầu doanh nghiệp. Đồng thời, xây dựng lộ trình nghề nghiệp đủ sức cạnh tranh để thu hút và giữ chân nhân tài sẽ là yếu tố then chốt, góp phần bảo đảm năng lực đổi mới sáng tạo của Việt Nam được duy trì một cách bền vững và có khả năng cạnh tranh trên phạm vi toàn cầu.

“Trên thị trường công nghệ toàn cầu, năng lực dẫn dắt đổi mới của một quốc gia ngày nay được xác định bởi khả năng tạo ra điều kiện thuận lợi cho công tác nghiên cứu và kiến tạo giá trị bền vững, chứ không chỉ dựa vào lợi thế về chi phí hay quy mô sản xuất”, ông Thiều Phương Nam, Tổng giám đốc Qualcomm Việt Nam, Campuchia và Lào, chia sẻ. 

Theo kinh nghiệm của Qualcomm, những thị trường vươn lên trở thành trung tâm nghiên cứu và phát triển (RD) toàn cầu là những nơi đầu tư nhất quán vào nhân lực, xây dựng niềm tin thể chế và sẵn sàng đổi mới qua nhiều chu kỳ công nghệ. Một yếu tố then chốt trong tiến trình này là hệ sinh thái đổi mới sáng tạo năng động, đặc biệt là sự hiện diện của các startup và nhà sáng tạo giai đoạn đầu. 

Trong thập kỷ qua, Việt Nam đã đạt được những bước tiến đáng kể trong việc nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị công nghệ khu vực và toàn cầu, từng bước chuyển dịch từ một điểm đến dựa trên mô hình sản xuất sang một trung tâm đổi mới sáng tạo và nghiên cứu phát triển. Đây cũng là lý do Qualcomm luôn song hành đầu tư vào phát triển hệ sinh thái, bên cạnh các hoạt động RD cốt lõi.

Dưới góc độ cơ sơ đào tạo, theo PGS.TS.Hoàng Kim Anh, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ Sài Gòn (STU), thị trường lao động đang chịu tác động sâu rộng của kinh tế tri thức và Cách mạng công nghiệp 4.0. 

Tự động hóa, robot và AI đang dần đảm nhận nhiều công việc lặp lại, khiến một số vị trí truyền thống có nguy cơ thu hẹp. Ngược lại, những công việc đòi hỏi kỹ năng cao về công nghệ số, dữ liệu lớn tăng nhanh, tạo nên khoảng cách ngày càng rõ giữa nhóm lao động kỹ năng thấp và kỹ năng cao.

“Thị trường lao động đang cần những người có khả năng làm việc với dữ liệu lớn, AI, tự động hóa và IoT. Tuy nhiên, nhiều chương trình vẫn nặng tính truyền thống, chậm cập nhật theo xu hướng nghề nghiệp mới”, PGS.TS.Hoàng Kim Anh nhận định.

LIÊN KẾT "BA NHÀ": CHUYỂN TỪ HÌNH THỨC SANG THỰC CHẤT

Phân tích sâu hơn về nguyên nhân dẫn đến tình trạng “thừa thầy thiếu thợ” hay doanh nghiệp phải đào tạo lại nhân sự, các chuyên gia đã chỉ ra những khoảng cách lớn giữa nhà trường và thực tế sản xuất.

“Ở nhiều nơi, chương trình học vẫn còn thiên về lý thuyết, trong khi sinh viên chưa có nhiều cơ hội trải nghiệm với công nghệ, thiết bị và quy trình sản xuất ngoài doanh nghiệp. Hệ quả là khi ra trường, sinh viên thiếu kỹ năng mềm, tư duy phản biện, ngoại ngữ và tác phong công nghiệp, buộc doanh nghiệp phải tốn chi phí đào tạo lại”, PGS. TS Hoàng Kim Anh nhận định.

Mặt khác, một số đội ngũ giảng viên chưa được trang bị đầy đủ về phương pháp sư phạm hiện đại, kinh nghiệm thực tiễn và khả năng cập nhật công nghệ 4.0, hay cơ sở vật chất, thiết bị học tập còn thiếu và chưa đủ để mô phỏng môi trường sản xuất thông minh.

Để giải quyết bài toán nhân lực một cách căn cơ, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ Sài Gòn (STU) cho rằng mô hình liên kết Nhà nước – nhà trường – doanh nghiệp, thường được gọi là mô hình “ba nhà”, được kỳ vọng sẽ trở thành động lực then chốt trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho nền kinh tế. 

Tuy nhiên, trên thực tế, mối quan hệ này vẫn chưa vận hành như kỳ vọng, khi sự phối hợp giữa các bên còn rời rạc, thiếu chiều sâu và chưa hình thành được những hợp tác mang tính chiến lược, dài hạn.

Một trong những nút thắt lớn nhất nằm ở chính sách khuyến khích chưa đủ mạnh. Một số quy định còn chồng chéo, thiếu các ưu đãi thực sự hấp dẫn về thuế và tài chính, khiến doanh nghiệp chưa nhìn thấy rõ lợi ích dài hạn khi tham gia đào tạo. Khi cơ chế phân chia lợi ích và trách nhiệm chưa được làm rõ, không ít doanh nghiệp vẫn coi việc đồng hành cùng nhà trường là chi phí phát sinh, thay vì một khoản đầu tư cho tương lai.

Bên cạnh đó là sự lệch pha về mục tiêu giữa các chủ thể. Ở nhiều cơ sở đào tạo, chương trình học vẫn được xây dựng dựa trên những gì nhà trường sẵn có, thay vì xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của thị trường lao động. Ngược lại, doanh nghiệp lại ưu tiên giải quyết bài toán nhân sự trước mắt, chưa thực sự mặn mà với việc tham gia thiết kế chương trình đào tạo hay đầu tư cho nghiên cứu dài hạn cùng nhà trường.

Năng lực thực thi hạn chế cũng là rào cản không nhỏ. Nhiều cơ sở giáo dục vẫn thiếu hạ tầng công nghệ hiện đại và đội ngũ giảng viên có kinh nghiệm thực tiễn sâu. Ở chiều ngược lại, không ít doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, gặp khó khăn về nguồn lực tài chính và nhân sự, nên chưa thể tổ chức việc tiếp nhận, hướng dẫn sinh viên thực tập một cách bài bản và liên tục.

Để đưa mối liên kết “ba nhà” đi vào chiều sâu, PGS.TS.Hoàng Kim Anh cho rằng Nhà nước cần đóng vai trò “nhạc trưởng”, kiến tạo một hành lang pháp lý minh bạch với các cơ chế ưu đãi rõ ràng về thuế và tài chính, khuyến khích doanh nghiệp tham gia tích cực vào hệ sinh thái giáo dục.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-Vân Nguyễn

Categories: The Latest News

Tòa án chuyên biệt: Cơ chế pháp lý thúc đẩy phát triển Trung tâm tài chính quốc tế

Thu, 02/19/2026 - 07:49
Luật Tòa án chuyên biệt tại Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam vừa được Quốc hội thông qua ngày 11/12/2025 và có hiệu lực từ ngày 1/1/2026. Đây được coi là một bước tiến đột phá, với nhiều quy định linh hoạt nhằm thiết lập cơ chế giải quyết tranh chấp đặc thù, vượt trội, tiệm cận với thông lệ quốc tế.

Để hiểu thêm về vấn đề này, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy đã có cuộc trao đổi với Luật sư Trần Anh Hùng, Luật sư điều hành Công ty Luật BROSS Partners.

Thưa luật sư, Luật Tòa án chuyên biệt tại Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam (IFC) được kỳ vọng tạo hành lang pháp lý quan trọng để thu hút vốn đầu tư nước ngoài, góp phần bảo vệ tối đa quyền lợi của nhà đầu tư vào IFC. Luật có những quy định rất mở nhằm thiết lập cơ chế xét xử, giải quyết các vụ việc của Tòa án chuyên biệt, phù hợp với thông lệ quốc tế và những nguyên tắc giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế của hệ thống thông luật (common law). Theo luật sư, đó là những quy định nào? 

Trước tiên, Luật Tòa án chuyên biệt tại Trung tâm Tài chính quốc tế (sau đây gọi tắt là Luật Tòa án chuyên biệt) đã loại bỏ vai trò truyền thống của Viện Kiểm sát ra khỏi quá trình giải quyết tranh chấp của Tòa án chuyên biệt tại Trung tâm Tài chính quốc tế (sau đây gọi tắt là Tòa án chuyên biệt). Thông thường theo hệ thống xét xử truyền thống, Viện Kiểm sát đóng vai trò thực hành quyền công tố (trong vụ án hình sự) và kiểm sát hoạt động tư pháp. Việc Viện Kiểm sát không tham gia kiểm sát quá trình tố tụng của Tòa án chuyên biệt đã thể hiện quan điểm và cam kết mạnh mẽ của Việt Nam đối với IFC, đảm bảo “quyền tự định đoạt của các bên” và kiến tạo “thủ tục tố tụng linh hoạt, đặc thù theo chuẩn mực và thông lệ quốc tế”.

Mặt khác, Luật Tòa án chuyên biệt đã cho phép áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế theo thỏa thuận của các bên với điều kiện là việc áp dụng này không trái với trật tự công của Việt Nam. Như vậy, Luật Tòa án chuyên biệt cho phép các bên có thể lựa chọn pháp luật của các nước phát triển, theo hệ thống thông luật trên giới như Hoa Kỳ, Anh - là những hệ thống pháp luật lâu đời và uy tín, có tính ổn định cao, thường được các định chế tài chính quốc tế, các công ty đa quốc qua lựa chọn áp dụng.

Ngoài ra, luật cho phép người nước ngoài làm thẩm phán; có quy định linh hoạt nhằm giúp quá trình giải quyết tranh chấp trở nên hiệu quả và nhanh chóng, như: thẩm quyền, thành phần xét xử; thời hiệu khởi kiện; đại diện các bên tham gia tố tụng; quy định về thủ tục tố tụng điện tử; quy định về phán quyết tức thời…

Đặc biệt, về chứng cứ, Tòa án chuyên biệt sẽ không thu thập chứng cứ mà chỉ dựa vào những gì các bên nộp, một cơ chế tương đương trực tiếp với “discovery” trong “thông luật” common law.

Bên cạnh đó, Luật Tòa án chuyên biệt quy định bản án, quyết định phúc thẩm là quyết định cuối cùng, ràng buộc các bên và không bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm. 

Như vậy các nhà đầu tư nước ngoài sẽ không phải lo ngại bản án, quyết định của tòa án, sau khi ban hành, còn có thể bị xét lại và kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm như thủ tục tố tụng thông thường, tạo sự chắc chắn pháp lý (res judicata) mà thị trường tài chính đòi hỏi, tránh tình trạng tranh chấp kéo dài bất định, gây mất thời gian và tạo tâm lý lo sợ, e dè của các nhà đầu tư.

Luật Tòa án chuyên biệt quy định những nguyên tắc xét xử giống với “thông luật” common law? Điều này có những ưu điểm như thế nào so với nguyên tắc xét xử của tòa án Việt Nam hiện tại? 

Theo tôi, Luật Tòa án chuyên biệt đã tiếp thu những nguyên tắc cơ bản của thông luật và khác biệt so với mô hình tòa án truyền thống Việt Nam.

Thứ nhất, tôn trọng tối đa quyền tự chủ của các bên (Party Autonomy), từ việc lựa chọn luật áp dụng, thời hiệu khởi kiện, phương thức tố tụng, chi phí, luật sư, quản lý vụ việc, sử dụng chứng cứ chuyên gia… 

Thứ hai, áp dụng nguyên tắc “đối tụng” (Adversarial System), đề cao tranh tụng công khai, minh bạch, công bằng; vai trò của luật sư được đẩy lên trung tâm. Tòa án không chủ động thu thập chứng cứ như tố tụng dân sự truyền thống Việt Nam (Inquisitorial System), mà các bên tự chịu trách nhiệm thu thập, cung cấp, tranh luận, chứng minh (giống với cơ chế discovery trong thông luật).

Thứ ba, quy trình tố tụng linh hoạt, nhanh chóng, kết hợp giữa tố tụng tòa án truyền thống và tố tụng trọng tài như việc áp dụng quy tắc chứng cứ, quá trình thu thập tài liệu, phiên họp quản lý vụ kiện…

Thứ tư, thẩm phán người nước ngoài với năng lực, kinh nghiệm, chuyên môn sâu, là chuyên gia trong từng lĩnh vực cụ thể. 

Thứ năm, áp dụng luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế, án lệ. 

Điều này giúp cho Tòa án chuyên biệt có thể giải quyết tốt những vụ tranh chấp phức tạp, xuyên biên giới liên quan đến các lĩnh vực tài chính, đầu tư, công nghệ, tài chính phái sinh, quỹ đầu tư, cấu trúc offshore, fintech, tài sản số… đạt tới sự công bằng thực chất; tăng niềm tin của nhà đầu tư nước ngoài…

Là người tham gia nhiều thương vụ giải quyết tranh chấp lớn, theo ông, đâu là yếu tố quan trọng trong giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế?

Tôi cho rằng yếu tố đầu tiên đó là chất lượng Thẩm phán. Trong tranh chấp đầu tư quốc tế, thẩm phán cần phải là người có uy tín, am hiểu pháp luật và có chuyên môn sâu, có kinh nghiệm tư vấn, giải quyết nhiều vụ việc tranh chấp đầu tư quốc tế, có sự độc lập và không bị ảnh hưởng, tác động bởi các yếu tố chính trị hoặc yếu tố khác. Đặc biệt, cần đảm bảo các nguyên tắc xét xử công bằng, minh bạch và tôn trọng quyền tự chủ của các bên (Party Autonomy). 

Ngoài ra, cần đảm bảo quy trình tố tụng minh bạch, nhanh chóng, linh hoạt, thuận lợi. Cần ưu tiên áp dụng công nghệ và hiện đại hóa với quy trình tố tụng điện tử, rút ngắn thời gian giải quyết vụ việc. Cuối cùng là giá trị hiệu lực và khả năng thi hành của phán quyết. 

Trong tranh chấp đầu tư quốc tế, các bên quan tâm hai vấn đề chính: có rủi ro bị xem xét, xét xử lại phán quyết hay không và khả năng thực thi một cách nhanh chóng, thuận lợi của phán quyết. 

Theo luật sư, có nên tham khảo các Quy tắc tố tụng của các Tòa án tại các Trung tâm tài chính quốc tế trên thế giới, đặc biệt khi Tòa án nhân dân tối cao đang xem xét ban hành Quy tắc tố tụng của Tòa án chuyên biệt, để hướng dẫn chi tiết thi hành Luật Tòa án chuyên biệt? 

Tôi cho rằng việc tham khảo các Quy tắc tố tụng của các tòa án như Tòa án Thương mại quốc tế Singapore (SICC) hay Tòa Trung tâm Tài chính quốc tế Dubai (DIFC), Tòa Thương mại London (LCC)… là rất cần thiết. Theo đó, Quy tắc tố tụng của Tòa án chuyên biệt cần phải thể hiện đầy đủ những quy định mang tính đột phá và ưu việt của Luật Tòa án chuyên biệt. 

Cụ thể, cần phải thể hiện được tính quốc tế, minh bạch, chi tiết hóa trình tự thủ tục nhanh chóng, thuận lợi và linh hoạt. Quy tắc tố tụng Tòa án chuyên biệt cần được nhìn nhận là một bộ quy tắc chuyên biệt, đề cao việc xét xử theo bản chất của tranh chấp, ưu tiên tranh tụng và quản trị vụ việc chủ động, tôn trọng quyền tự chủ của các bên (Party Autonomy).

Một quy trình rõ ràng và đầy đủ như vậy sẽ trao quyền chủ động và tự kiểm soát vụ việc cho các bên, đẩy nhanh tiến độ giải quyết vụ việc. 

Một bản án chỉ có ý nghĩa khi được công nhận và thi hành rộng rãi ở nước ngoài. Theo ông, bên cạnh Luật Tòa án chuyên biệt, cần thêm các điều kiện gì để các quyết định, bản án của Tòa án chuyên biệt đi vào thực tế, tạo niềm tin với nhà đầu tư quốc tế?

Hiện tại, Việt Nam chưa là thành viên của Công ước La Hay về thỏa thuận lựa chọn tòa án (The Hague Convention on Choice of Court Agreements). Do vậy, bản án của Tòa án chuyên biệt không được hưởng cơ chế công nhận và thi hành tự động theo Công ước La Hay. 

Việc công nhận và cho thi hành bản án của Tòa án chuyên biệt sẽ dựa vào nguyên tắc có đi có lại hoặc hiệp định song phương của Việt Nam với quốc gia nơi cần thi hành bản án.

Một bản án chỉ thực sự có giá trị khi nó được công nhận và thi hành trên thực tế, đặc biệt là ở nước ngoài. Do vậy, để tạo niềm tin với nhà đầu tư nước ngoài và nâng cao khả năng cạnh tranh của Tòa án chuyên biệt với Trung tâm trọng tài quốc tế thuộc IFC, Việt Nam cần gia nhập các Công ước quốc tế về công nhận, thi hành bản án nước ngoài trong lĩnh vực dân sự, thương mại như Công ước La Hay (Hague Judgments Convention), Công ước La Hay về thỏa thuận lựa chọn tòa án năm. Ký kết các Hiệp định tương trợ tư pháp song phương. Xây dựng đạo luật về công nhận và thi hành bản án nước ngoài trên cơ sở có đi có lại. 

Việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế và trao thẩm quyền cho thẩm phán thi hành án (các Điều 38, 39 Luật Tòa án chuyên biệt) sẽ gặp khó khăn, thuận lợi, cần điều kiện hoặc hướng dẫn cụ thể không?

Việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế và trao thẩm quyền cho thẩm phán thi hành án, thay vì cho một cơ quan thi hành án riêng biệt như thủ tục thông thường, là một bước tiến đột phá nhưng cũng nhiều thách thức. 

Việc này giúp tăng tốc độ và hiệu quả thi hành án, giảm bớt các bước chuyển giao hồ sơ giữa tòa án và cơ quan thi hành án, tăng niềm tin của nhà đầu tư vào Tòa án chuyên biệt. 

Tuy nhiên, sẽ có những khó khăn, đặc biệt cần phải hoàn thiện các quy định của pháp luật có liên quan đến việc thi hành án của Tòa án chuyên biệt, tránh xung đột với hệ thống pháp luật thi hành án hiện hành. Quy định cơ chế phối hợp giữa Tòa án chuyên biệt và các cơ quan nhà nước có liên quan để thi hành án nhanh chóng, hiệu quả. 

Đồng thời, cần ban hành các quy định chi tiết, cụ thể liên quan đến việc thi hành án trong Quy tắc tố tụng của Tòa án chuyên biệt. Việc này sẽ góp phần quan trọng và thúc đẩy tính minh bạch, hiệu quả thi hành án của Tòa án chuyên biệt.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html 

-Đỗ Mến

Categories: The Latest News

Thị trường sẽ không còn chỗ cho đầu tư ngắn hạn

Thu, 02/19/2026 - 07:43
Trao đổi với VnEconomy về tiềm năng của thị trường bất động sản Việt Nam trước thềm Xuân mới, ông Nguyễn Văn Đính, Phó Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản Việt Nam, Chủ tịch Hội Môi giới Bất động sản Việt Nam, khẳng định rằng với những chuyển biến tích cực về pháp lý, cùng những định hướng, giải pháp quản lý chặt chẽ đang được triển khai quyết liệt nhằm thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển lành mạnh, bền vững, trong thời gian tới, thị trường này sẽ không có chỗ cho “ăn xổi” hay “tay không bắt giặc”…

Thưa ông, nhiều ý kiến cho rằng 2025 – 2026 là giai đoạn thị trường nhà ở bùng nổ về nguồn cung khi hàng loạt cơ chế, chính sách mới “ngấm” vào cuộc sống. Ông đánh giá thế nào về nhận xét này?

Giai đoạn 2025 - 2026 là thời điểm thị trường chứng kiến làn sóng tái khởi động của nhiều dự án bị đình trệ kéo dài. Không ít dự án đã được phê duyệt chủ trương đầu tư từ hơn một thập kỷ trước nhưng "đóng băng" vì vướng mắc pháp lý chồng chéo, nay mới có điều kiện triển khai khi các quy định mới được áp dụng đồng bộ.

Song song với việc tái khởi động các dự án cũ, nhiều doanh nghiệp bất động sản cũng đang chủ động đón đầu đà phục hồi của thị trường bằng việc đẩy mạnh nghiên cứu, khởi công và triển khai các dự án mới, đặc biệt là các chủ đầu tư có tiềm lực tài chính tốt.

Thống kê của VARS cho thấy sơ bộ năm 2025, thị trường nhà ở ghi nhận khoảng 128 nghìn sản phẩm mở bán mới, mức cao nhất trong giai đoạn 2019-2025 và tăng 88% so với cả năm 2024. Nguồn cung vẫn đang trong xu hướng tăng mạnh với hàng loạt dự án ra mắt và có kế hoạch mở bán trong năm 2026.

Nguồn cung tăng có đồng nghĩa với việc cạnh tranh mạnh, thưa ông?

Việc các dự án cũ đồng loạt được tái khởi động cùng với nguồn cung mới liên tục được bổ sung là tín hiệu tích cực, nhưng đồng thời sẽ buộc các chủ đầu tư phải bước vào cuộc đua cạnh tranh khốc liệt hơn, không chỉ về tiến độ triển khai, chính sách bán hàng mà còn cả chất lượng sản phẩm và uy tín thương hiệu nhằm thu hút người mua. Đặc biệt là khi lãi suất tín dụng đang có xu hướng tăng cao.

Có thể thấy phần lớn nguồn cung trong năm 2025 vừa qua và năm 2026 chủ yếu đến từ các doanh nghiệp lớn. Đây là hệ quả tất yếu của quá trình thanh lọc thị trường trong những năm khó khăn trước đó. Khi dòng vốn bị siết chặt và pháp lý trở thành rào cản lớn, chỉ những doanh nghiệp có nền tảng tài chính vững, quỹ đất sạch và năng lực triển khai thực sự mới có thể trụ lại và chuẩn bị cho giai đoạn phục hồi.

Trên thực tế, các chủ đầu tư quy mô lớn hiện đang nắm lợi thế rõ rệt cả về vốn, kinh nghiệm triển khai dự án lẫn uy tín thương hiệu. Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn đang gặp khó trong việc xử lý nghĩa vụ tài chính cũ, hoàn thiện pháp lý dự án và tiếp cận nguồn vốn mới. Chính sự chênh lệch này sẽ khiến cuộc cạnh tranh bán hàng năm 2026 không chỉ là cuộc đua giữa các "ông lớn", mà còn là phép thử khắc nghiệt đối với các doanh nghiệp yếu thế hơn. Cuộc cạnh tranh bán hàng trong năm 2026 không còn đơn thuần là câu chuyện ai tung ra nhiều sản phẩm hơn, mà trở thành cuộc đua về khả năng hiểu thị trường và bán đúng sản phẩm mà thị trường cần.

Chưa kể, sau những biến động vừa qua, tâm lý người mua đã thay đổi đáng kể. Người mua ngày càng thận trọng, ưu tiên các dự án có pháp lý rõ ràng, tiến độ thực tế và giá trị sử dụng phù hợp, thay vì chạy theo kỳ vọng tăng giá ngắn hạn như trước. Rõ ràng, cuộc cạnh tranh bán hàng trong năm 2026 sẽ là phép thử khắc nghiệt đối với năng lực thực của các chủ đầu tư. 

Như vậy, liệu giá nhà sẽ giảm theo kỳ vọng của đại đa số người dân đô thị? 

Khi nguồn cung gia tăng và các chủ đầu tư buộc phải cạnh tranh quyết liệt hơn để bán hàng, kỳ vọng về việc giá nhà giảm là điều dễ hiểu. Tuy nhiên, bức tranh giá bất động sản trong năm 2026 sẽ phức tạp hơn nhiều so với kỳ vọng của thị trường. Ngoài ra, đang có nhiều yếu tố tác động, khiến chi phí đầu vào của dự án tăng cao (bao gồm giá đất, giá vật liệu, giá nhân công). Do đó, nhìn chung, giá bất động sản khó giảm nhưng giá trị thực sẽ quyết định thanh khoản.

Nhìn lại giai đoạn trước đây, ngay khi lãi suất tăng cao, thị trường lập tức lâm vào tình trạng đình trệ. Nhiều người lo ngại tình trạng đó sẽ tái diễn trong năm 2026 khi lãi suất đang có xu hướng tăng cao. Ông có nhận định gì về điều này?

Với đặc thù sử dụng đòn bẩy nợ vay lớn, bất động sản là kênh đầu tư bị ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc nhất do biến động lãi suất. Khi lãi suất thấp, dòng tiền “rẻ” tạo điều kiện cho “đầu cơ” lan rộng, còn khi lãi suất cao, dòng tiền “khó” có thể khiến thị trường lâm vào nguy cơ đình trệ…

Trong quá khứ, thị trường Việt Nam từng trải qua chu kỳ suy giảm mạnh giai đoạn 2011-2013, khi lãi suất cho vay vượt ngưỡng 18-20%/năm, nhiều doanh nghiệp và nhà đầu tư phải bán tháo tài sản để cắt lỗ, khiến thị trường “đóng băng” kéo dài, giá nhà đất ở nhiều khu vực giảm 30-40%, ngay cả khu vực trung tâm. Một phần nguyên nhân đến từ tâm lý đầu tư dựa vào vốn vay ngắn hạn, trong khi dự án và tài sản bất động sản có chu kỳ đầu tư dài. Khi chi phí vốn tăng đột ngột, dòng tiền bị đứt gãy, rủi ro mất thanh khoản gần như không thể tránh khỏi. 

Tuy nhiên, trong bối cảnh thị trường đang được các cấp, các ngành theo sát, “chuẩn mực” và “kỷ cương” đang trở thành yêu cầu sống còn, thì việc siết đầu cơ và hướng thị trường trở lại nhu cầu thực thông qua hàng loạt biện pháp, trong đó có chính sách tín dụng được xem là yếu tố then chốt để thị trường bất động sản Việt Nam có thể bước vào một chu kỳ tăng trưởng bền vững hơn. 

Với việc tín dụng bất động sản được kiểm soát chặt hơn (lãi suất tăng nhưng không tăng đột biến như trước), từ 2026 và các năm tiếp theo, thị trường sẽ tự động sàng lọc các dòng vốn ngắn hạn và không còn là “sân chơi” cho những chủ đầu tư không có tiềm lực, những người đầu cơ theo tâm lý đám đông. Sự thanh lọc này sẽ là động lực và là nền tảng để thị trường bất động sản bước sang chu kỳ tăng trưởng mới - phát triển lành mạnh và thực chất hơn. 

Sự phát triển đó sẽ diễn ra đồng đều ở tất cả các phân khúc nhà ở chứ, thưa ông?

Thị trường nhà ở sẽ có thêm nguồn cung mới từ các dự án quy mô lớn đang triển khai và có kế hoạch mở bán. Trong đó, phân khúc căn hộ chung cư tiếp tục dẫn dắt nguồn cung và thanh khoản thị trường. Phân khúc đất nền, nhà ở riêng lẻ tại các tỉnh thành có kinh tế phát triển và hạ tầng đang triển khai thực tế cũng được nhiều nhà đầu tư ưa chuộng. Phân khúc nhà ở xã hội ghi nhận nguồn cung gia tăng mạnh mẽ với sự tham gia của các chủ đầu tư lớn. 

Nhu cầu nhà ở vẫn duy trì ở mức cao với nhu cầu đầu tư tiếp tục gia tăng, nhu cầu nhà ở thực lớn và quá trình đô thị hóa nhanh chóng. Giao dịch tiếp tục tăng tỷ lệ thuận với nguồn cung nhưng tính chọn lọc cao hơn, tập trung vào các dự án có pháp lý hoàn thiện, hạ tầng kết nối và chủ đầu tư uy tín. Trong bối cảnh nguồn cung từ các đô thị vệ tinh gia tăng mạnh mẽ, thì cơ sở hạ tầng và tiện ích đô thị (giao thông, bệnh viện, trường học, khu thể thao…) đóng vai trò then chốt trong việc ra quyết định đầu tư

Như ông đã đề cập ở trên, năm 2026, thị trường sẽ bước sang một chu kỳ mới - lành mạnh và thực chất, cụ thể là thế nào, thưa ông? 

Mặc dù vẫn còn thách thức hiện hữu, từ cơ cấu nguồn cung thiên về phân khúc giá cao, áp lực chi phí đầu vào, đến sự phụ thuộc lớn vào tín dụng… song tiềm năng của thị trường bất động sản Việt Nam vẫn rất lớn.

Bước sang năm 2026, thị trường  đứng trước nhiều cơ hội khi mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số được đặt ra, dòng vốn tiếp tục được duy trì với chính sách tiền tệ linh hoạt, các mô hình đô thị mới như đô thị nén, đô thị gắn với giao thông (TOD) được ưu tiên phát triển. 

Đặc biệt, hàng loạt định hướng và công cụ quản lý mới cũng đang từng bước được hình thành và hoàn thiện như việc thành lập Trung tâm giao dịch bất động sản do Nhà nước quản lý, xây dựng và hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu đất đai, tiến tới gắn mã định danh điện tử với từng sản phẩm bất động sản. 

Những bước đi này không chỉ nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, mà còn tạo nền tảng cho một thị trường vận hành chuẩn chỉ, minh bạch và bền vững hơn trong dài hạn. Điều đó cho thấy thị trường bất động sản đang bước vào một chu kỳ phát triển mới, đòi hỏi các chủ thể tham gia thị trường phải nâng cao tính minh bạch, năng lực quản trị và trách nhiệm xã hội, tuân thủ nghiêm ngặt khung khổ pháp lý, kỷ cương thị trường trong một hệ sinh thái được quản trị bằng dữ liệu và công nghệ số…

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-Nam Huyền

Categories: The Latest News

Năm 2026: Chứng khoán bước vào chu kỳ phát triển mới

Thu, 02/19/2026 - 07:40
Khép lại năm 2025 với những kỷ lục mới, chỉ số VN-Index tăng hơn 40%, vốn hóa toàn thị trường tiệm cận mốc 10 triệu tỷ đồng, thị trường chứng khoán Việt Nam bước vào năm 2026 với kỳ vọng nâng hạng thị trường nhưng cũng đối diện yêu cầu tái cấu trúc về chất của dòng vốn...

Nhân dịp năm mới 2026, a/b ghi nhận những phân tích chuyên sâu từ lãnh đạo và chuyên gia các định chế tài chính hàng đầu để phác họa bức tranh toàn cảnh về vận hội và thách thức của thị trường trong năm 2026.

DÒNG VỐN THAY ĐỔI VỀ CHẤT

Ông Kim Thiên Quang, Tổng Giám đốc Công ty chứng khoán Maybank Investment Bank (MSVN), nhận định sự kiện được nâng hạng đồng nghĩa với việc Việt Nam được “tái định vị” trong bản đồ phân bổ vốn toàn cầu.  “Khi một thị trường bước vào nhóm ‘emerging’, sẽ không còn cạnh tranh chủ yếu với các thị trường cận biên, mà bắt đầu được so sánh, đo lường và lựa chọn cùng các nền kinh tế mới nổi khác trong cùng một rổ phân bổ”, ông Quang phân tích. 

Theo ước tính của FTSE được MSVN dẫn lại, quá trình này có thể mang lại khoảng 6-8 tỷ USD dòng vốn mới. Quan trọng hơn, sự tham gia của các nhà đầu tư tổ chức sẽ giúp nâng mặt bằng định giá của chứng khoán Việt Nam, vốn thường thấp hơn 10-20% so với khu vực trong nhiều năm qua.

Đồng quan điểm, bà Nguyễn Thị Bảo Trân, Giám đốc Phân tích vĩ mô Chiến lược, Công ty Cổ phần Chứng khoán Mirae Asset Việt Nam (MAS), nhấn mạnh đến cơ hội lớn nhất nằm ở sự thay đổi về chất của dòng vốn. Việc tiếp cận các quỹ hưu trí, bảo hiểm và quỹ chỉ số toàn cầu mang lại dòng vốn có kỷ luật cao, giúp giảm biến động do tâm lý ngắn hạn. 

Ông Kim Thiên Quang Tổng Giám đốc Công ty chứng khoán Maybank Investment Bank (MSVN)

"Mục tiêu tăng trưởng 10% năm 2026 thể hiện quyết tâm rất lớn của Chính phủ trong việc thúc đẩy kinh tế. Việt Nam hoàn toàn có thể đạt được mức tăng trưởng này, nhưng nhiều khả năng sẽ phải đánh đổi bằng sự ổn định của tỷ giá và lạm phát. Để hiện thực hóa mục tiêu này, cả chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ cần được vận hành một cách chủ động và đồng bộ".  

“Khác với các chu kỳ tăng trưởng trước đây chủ yếu dựa vào margin hoặc sóng ngành, nâng hạng tạo ra một ‘mặt bằng giá trị mới’, giảm chi phí vốn cho doanh nghiệp và nâng cao uy tín quốc gia. Đây là quá trình cải cách mang tính cấu trúc”, bà Bảo Trân nhận định.

Cùng quan điểm, bà Nguyễn Thị Phương Lam, Giám đốc Phân tích, Công ty Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), đánh giá việc thị trường chứng khoán Việt Nam được nâng hạng lên nhóm thị trường mới nổi thứ cấp sẽ là dấu mốc quan trọng, ghi nhận thị trường vốn Việt Nam chuyển sang một giai đoạn “trưởng thành” hơn, hứa hẹn sẽ đóng góp rõ ràng hơn trong vai trò kênh dẫn vốn dài hạn cho nền kinh tế Việt Nam. 

Theo đó, cơ hội lớn nhất mà việc nâng hạng mang lại là khả năng thu hút dòng vốn đầu tư tổ chức quốc tế dài hạn có quy mô lớn. Đây là các quỹ ETF, quỹ hưu trí, quỹ bảo hiểm hay quỹ đầu tư quốc gia, vốn bị hạn chế hoặc không được phân bổ vốn vào các thị trường cận biên. 

Khi thị trường được nâng hạng lên nhóm mới nổi thứ cấp, cũng đồng nghĩa thị trường đã đáp ứng điều kiện cần để các quỹ này xem xét phân bổ dòng vốn đầu tư. Theo đó, chất lượng dòng tiền đầu tư có lẽ sẽ có sự khác biệt rõ rệt so với các chu kỳ tăng trưởng trước đây của thị trường chủ yếu phụ thuộc dòng tiền từ nhà đầu tư cá nhân, vốn mang tính đầu cơ tương đối cao nên cũng tạo ra các đợt dao động lớn của thị trường. Trong khi đó, dòng vốn tổ chức quốc tế thường có tính cam kết cao, dựa trên nền tảng cơ bản và khả năng tạo giá trị bền vững của doanh nghiệp. 

“Chúng tôi kỳ vọng điều này sẽ giúp thị trường hình thành mặt bằng định giá hợp lý hơn, giảm phụ thuộc vào dòng tiền ngắn hạn”, bà Phương Lam nhấn mạnh.

GỠ "NÚT THẮT"  ĐỂ GIỮ DÒNG VỐN LỚN

Dù triển vọng mở ra đầy hứa hẹn, các chuyên gia cho rằng để đón nhận và giữ chân dòng vốn quy mô lớn, doanh nghiệp và thị trường Việt Nam phải sớm tháo gỡ những “nút thắt” căn cơ.

Theo ông Kim Thiên Quang, thách thức lớn nhất, nằm ở “độ trễ” giữa tốc độ mở cửa của thị trường và tốc độ thích nghi của thể chế và doanh nghiệp. Dòng vốn quốc tế đã sẵn sàng nhìn vào Việt Nam, nhưng khả năng hấp thụ vốn ở quy mô lớn và dài hạn của thị trường vẫn còn hạn chế. 

Phân tích sâu hơn, ông Quang cho biết thách thức đầu tiên và rõ ràng nhất là giới hạn tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài. Ngành ngân hàng hiện chiếm khoảng 40% tổng vốn hóa thị trường và là động lực tăng trưởng chính trong những năm gần đây, nhưng lại bị khống chế trần sở hữu nước ngoài ở mức 30%. 

Bà Nguyễn Thị Phương Lam, Giám đốc Phân tích, Công ty Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) 

"Nâng hạng thị trường chỉ là điều kiện cần, để dòng vốn dài hạn thực sự ở lại, doanh nghiệp Việt phải đáp ứng chuẩn mực quốc tế khắt khe hơn, từ minh bạch thông tin, quản trị hiện đại, đến kỷ luật phân bổ vốn và chiến lược dài hạn. Nhà đầu tư tổ chức sẽ đánh giá cao sự nhất quán trong công bố thông tin, tính độc lập của Hội đồng quản trị, khả năng sử dụng vốn hiệu quả và tầm nhìn tăng trưởng bền vững". 

Do vậy, phần lớn cổ phiếu ngân hàng niêm yết đã kín room đối với khối ngoại, khiến dòng vốn mới khó tìm được điểm đến ban đầu. Ngoài ra, theo Nghị định 155/2020/NĐ-CP, một số ngành nghề thuộc nhóm đầu tư kinh doanh có điều kiện cũng áp dụng trần sở hữu nước ngoài, như hàng không (34%), bất động sản, xây dựng, dầu khí (50%), tạo thêm rào cản tiếp cận cho nhà đầu tư nước ngoài.

Điểm tích cực là gần đây, Nghị định 69/2025/NĐ-CP cho phép ba ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân gồm HDBank, MBBank và VPBank nâng trần sở hữu nước ngoài lên tối đa 49%.  

Dưới góc độ vận hành, bà Nguyễn Thị Bảo Trân cho rằng thách thức lớn nhất nằm ở khoảng cách giữa kết quả kinh doanh và chuẩn mực vận hành. Nhà đầu tư quốc tế không chỉ quan tâm lợi nhuận, mà chú trọng tính bền vững và minh bạch của lợi nhuận đó. Trong đó, ba điểm nghẽn chính cần được khắc phục là chất lượng công bố thông tin bằng tiếng Anh, sự khác biệt chuẩn mực kế toán và tỷ lệ cổ phiếu tự do chuyển nhượng còn thấp.

Theo bà Nguyễn Thị Phương Lam, năm 2026 sẽ đánh dấu sự chuyển dịch quan trọng của thị trường. Nếu năm 2025 là giai đoạn “đắt theo chỉ số” khi VN-Index tăng mạnh nhờ một số cổ phiếu vốn hóa lớn có P/E rất cao, thì năm 2026 sẽ là giai đoạn “hấp dẫn theo chiều rộng”, nơi tăng trưởng lợi nhuận doanh nghiệp quay lại vai trò dẫn dắt.

Trong kịch bản thận trọng, VDSC ước tính EPS toàn thị trường tăng khoảng 17% và P/E mục tiêu cho VN-Index là 14,5 lần. Với giả định này, VN-Index có thể đạt khoảng 2.021 điểm trong 12 tháng, tương đương mức tăng gần 13% so với cuối năm 2025 - tức vẫn duy trì được tăng trưởng hai con số.

Bà Lam cũng đưa ra lưu ý với mức P/E 14,5 lần là kịch bản chưa tính tới sự trở lại mạnh mẽ của dòng vốn ngoại. Trong giai đoạn 2016-2018, khi khối ngoại mua ròng mạnh, P/E thị trường từng lên tới 18-22 lần. Tuy nhiên, trong 2-3 quý đầu năm 2026, khả năng tái định giá lên mức cao như quá khứ là chưa rõ ràng, do thị trường vẫn phải cân bằng giữa động lực tăng trưởng trong nước và các rủi ro bên ngoài như địa chính trị, chính sách tiền tệ toàn cầu hay biến động tại Mỹ.

THỊ TRƯỜNG BƯỚC VÀO CHU KỲ TĂNG TRƯỞNG MỚI

Ở góc nhìn khác, ông Kim Thiên Quang cho rằng thị trường Việt Nam đang bước vào một chu kỳ mới nhưng ở “mặt bằng cao hơn” so với các chu kỳ trước. Điều này thể hiện ở nền tảng vĩ mô vững hơn, sự tham gia ngày càng lớn của nhà đầu tư tổ chức và kỷ luật thị trường cao hơn.

Theo ông Quang, thị trường có thể không còn tăng đồng loạt như những giai đoạn trước, mà sẽ tăng có chọn lọc, phản ánh rõ hơn chất lượng doanh nghiệp và chất lượng tăng trưởng. Với nền tảng đó, thị trường hoàn toàn có khả năng duy trì tăng trưởng hai con số trong năm 2026. Ba yếu tố then chốt củng cố triển vọng này gồm: chính sách tiền tệ tiếp tục theo hướng nới lỏng; lợi nhuận doanh nghiệp niêm yết dự báo tăng khoảng 18%; sự quay trở lại của dòng vốn ngoại cùng với tăng trưởng tín dụng cải thiện, giúp tăng thanh khoản và cải thiện tâm lý thị trường. 

Bà Nguyễn Thị Bảo Trân Giám đốc Phân tích Vĩ mô Chiến lược MAS

"Năm 2026 sẽ là giai đoạn bản lề khi thị trường chứng khoán Việt Nam chuyển từ pha phục hồi sang chu kỳ tăng trưởng mới dựa trên cải cách cấu trúc và nâng cao chất lượng thị trường. Cơ hội lớn nhất đến từ triển vọng nâng hạng, cải thiện thanh khoản và sự phục hồi rõ nét của niềm tin doanh nghiệp, đặc biệt khi môi trường vĩ mô trong nước duy trì ổn định và dư địa chính sách còn tương đối lớn".

“Trên cơ sở đó, VN-Index sau khi lập đỉnh lịch sử 1.784 điểm năm 2025 có thể hướng tới mốc 2.000 điểm hoặc cao hơn trong năm 2026”, ông Quang đưa ra dự báo.

Nhìn nhận năm 2026 là giai đoạn bản lề khi thị trường chuyển từ pha phục hồi sang chu kỳ tăng trưởng mới dựa trên cải cách cấu trúc và nâng cao chất lượng thị trường, bà Nguyễn Hoàng Bích Ngọc, Giám đốc Phân tích Khối Khách hàng Doanh nghiệp MAS, cho biết cơ hội lớn nhất đến từ triển vọng nâng hạng, cải thiện thanh khoản và sự phục hồi rõ nét của niềm tin doanh nghiệp. 

Trong kịch bản cơ sở, MAS dự báo EPS toàn thị trường năm 2026 tăng khoảng 20%, phản ánh sự bình thường hóa sau mức tăng cao của năm 2025. Trên cơ sở đó, VN-Index có thể hướng tới vùng 2.300 điểm, tương ứng với mức P/E trung bình dài hạn khoảng 17 lần.

Tuy nhiên, để duy trì tăng trưởng hai con số, thị trường phải đối mặt với nhiều thách thức: biến động kinh tế toàn cầu, áp lực địa chính trị và yêu cầu ngày càng cao về chất lượng dòng tiền và chuẩn mực quản trị. Khả năng vượt kịch bản cơ sở phụ thuộc vào ba yếu tố: tiến trình nâng hạng thuận lợi, thanh khoản cải thiện rõ rệt và niềm tin doanh nghiệp tiếp tục được củng cố.

“Trong năm 2026, dòng tiền trên thị trường được kỳ vọng sẽ có sự chọn lọc rõ nét hơn, ưu tiên các nhóm cổ phiếu hưởng lợi trực tiếp từ chu kỳ tăng trưởng kinh tế và có nền tảng cơ bản bền vững, khả năng mở rộng lợi nhuận rõ ràng”, bà Ngọc nhận định.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

- Tú Uyên - Minh Huy

Categories: The Latest News

Xây dựng “phòng tuyến kép” cho không gian số

Thu, 02/19/2026 - 07:34
Luật An ninh mạng (sửa đổi) và Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân cùng được ban hành trong năm 2025 không chỉ là bước tiến về mặt pháp lý, mà còn là dấu hiệu cho thấy Việt Nam đã sẵn sàng bước vào giai đoạn mới của quản trị không gian số, nơi an ninh, quyền con người, phát triển kinh tế số và xây dựng công nghiệp an ninh mạng nội địa được đặt trong cùng một tổng thể chiến lược...

Hơn hại thập kỷ cống hiến cho lĩnh vực an ninh mạng của Việt Nam, chứng kiến Luật An ninh mạng (sửa đổi) và Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân cùng được thông qua trong năm 2025, ông cảm nhận những thay đổi này trong không gian lập pháp sẽ tác động ra sao đến hệ thống phòng tuyến an ninh mạng của Việt Nam?

An ninh mạng hiện đã trở thành một trong những mặt trận quan trọng nhất của mỗi quốc gia, với mức độ tác động không thua kém các lĩnh vực an ninh truyền thống. Những vụ rò rỉ dữ liệu cá nhân trên quy mô lớn, các cuộc tấn công ransomware khiến hệ thống thông tin tê liệt, hay những chiến dịch gián điệp mạng nhắm vào hạ tầng trọng yếu,... tất cả đang cho thấy không gian mạng không còn là “thế giới ảo”, mà đã trở thành một cấu phần cơ hữu của đời sống kinh tế – xã hội và an ninh quốc gia.

Trong bối cảnh đó, việc Việt Nam đồng thời thông qua Luật An ninh mạng 2025 và lần đầu tiên ban hành Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong cùng năm không đơn thuần là sự kiện lập pháp. Đây là một tuyên bố chính sách rõ ràng, thể hiện cách Việt Nam nhìn nhận, bảo vệ chủ quyền quốc gia, lợi ích công cộng và quyền cơ bản của công dân trong kỷ nguyên số. Sự song hành của hai đạo luật đánh dấu bước tiến quan trọng trong nỗ lực xây dựng “phòng tuyến kép” cho không gian số Việt Nam.

Hai đạo luật này tạo ra khung pháp lý tương đối toàn diện, bao trùm cả “hạ tầng” lẫn “con người”, cả “hệ thống” lẫn “dữ liệu”, từ đó nâng tầm phòng thủ an ninh mạng của Việt Nam từ trạng thái phản ứng sang chủ động, từ bị động đối phó sang phòng ngừa có chiến lược.

Luật An ninh mạng 2025 sẽ chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2026, bộ luật này đã xác lập rõ hơn yêu cầu/tiêu chuẩn để bảo vệ hạ tầng số và các hệ thống thông tin trọng yếu. Tuy nhiên, thực tiễn hiện nay, theo ông, đâu là những mắt xích đang dễ bị tổn thương trong các phòng tuyến an ninh mạng?

Trên thực tế, không gian mạng của Việt Nam hiện nay được xây dựng trên một nền hạ tầng ngày càng phức tạp, kết nối chặt chẽ giữa khu vực công và khu vực tư, giữa hệ thống trong nước và các nền tảng xuyên biên giới. Sự kết nối sâu rộng này vừa là động lực cho phát triển kinh tế số, vừa đồng thời mở ra nhiều bề mặt tấn công và rủi ro tiềm ẩn hơn.

Thứ nhất, rủi ro phổ biến nhất đến từ yếu tố con người. Dù công nghệ bảo mật có hiện đại đến đâu, chỉ cần một nhân viên vô tình nhấp vào đường link lừa đảo, tải về một tệp tin độc hại hay sử dụng mật khẩu quá đơn giản, toàn bộ hệ thống có thể bị đặt vào tình trạng rủi ro. Phần lớn các cuộc tấn công mạng nghiêm trọng trong những năm gần đây đều bắt đầu từ những sai sót rất nhỏ như vậy.

Thứ hai, rủi ro nằm ở mức độ đầu tư và quan tâm của các doanh nghiệp, tổ chức liên quan đến vấn đề đảm bảo an ninh mạng. Không ít đơn vị vẫn coi đây là “chi phí phụ”, chỉ đầu tư ở mức tối thiểu để đáp ứng nhu cầu vận hành trước mắt, do đó còn thiếu đội ngũ chuyên trách, thiếu quy trình quản lý rủi ro và gần như không có phương án ứng phó khi sự cố xảy ra. Chính những hệ thống này thường trở thành “cửa ngõ” để tin tặc xâm nhập, từ đó lan sang các tổ chức khác, tạo ra “hiệu ứng domino” rất khó kiểm soát.

Thứ ba, rủi ro đến từ các hệ thống thông tin cũ, được xây dựng từ nhiều năm trước nhưng chưa được nâng cấp tương xứng với tốc độ phát triển công nghệ. Không ít hệ thống vẫn vận hành trên phần mềm lỗi thời, thiếu cơ chế cập nhật bản vá bảo mật và giám sát an toàn liên tục. Đây chính là “miếng mồi” hấp dẫn đối với các nhóm tấn công có chủ đích. Bên cạnh đó, chuỗi cung ứng số đang nổi lên như một điểm yếu mới, khi chỉ cần một nhà cung cấp công nghệ không bảo đảm an toàn cũng có thể kéo theo rủi ro cho hàng loạt cơ quan, tổ chức khác.

Vậy, yêu cầu tuân thủ quy định của Luật An ninh mạng 2025 sẽ tác động ra sao đến cách các doanh nghiệp vận hành hệ thống và quản trị rủi ro mạng?

Luật An ninh mạng 2025, với việc xác định rõ các hệ thống thông tin trọng yếu và yêu cầu trách nhiệm bảo vệ tương ứng, sẽ đóng vai trò như một “khung xương” để gia cố toàn bộ hệ sinh thái số quốc gia. Đặc biệt, quy định về việc đặt ra yêu cầu dành tỷ lệ ngân sách thích đáng với đầu tư công, trong đó có đề xuất đầu tư tối thiểu khoảng 15% kinh phí cho an ninh mạng trong tổng đầu tư công nghệ thông tin, không chỉ mang ý nghĩa kỹ thuật mà còn thể hiện sự thay đổi căn bản về tư duy. An ninh mạng không còn là phần việc làm thêm khi có điều kiện, mà trở thành hạng mục đầu tư bắt buộc, gắn liền với an toàn vận hành và năng lực tự chủ quốc gia trên không gian số.

Một điểm mới đáng chú ý khác của Luật An ninh mạng 2025 là việc làm rõ trách nhiệm của doanh nghiệp trong bảo đảm an toàn, an ninh mạng. Nếu trước đây, vấn đề này thường được giao phó cho bộ phận kỹ thuật, thì nay trách nhiệm đã được đẩy lên cấp quản trị và lãnh đạo cao nhất. Doanh nghiệp buộc phải đánh giá rủi ro mạng, xây dựng quy trình bảo vệ hệ thống, tổ chức diễn tập ứng phó sự cố và chịu trách nhiệm pháp lý nếu để xảy ra vi phạm nghiêm trọng.

An ninh mạng vì thế không còn là “việc của IT”, mà trở thành vấn đề chiến lược, gắn liền với uy tín thương hiệu, sự liên tục trong kinh doanh và niềm tin của khách hàng. Về dài hạn, sự thay đổi này sẽ giúp doanh nghiệp Việt Nam trưởng thành hơn trong quản trị rủi ro, tiệm cận các chuẩn mực quốc tế.

Nếu Luật An ninh mạng bảo vệ hệ thống, còn Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân bảo vệ con người, hai đạo luật này kết hợp với nhau sẽ tạo nên lá chắn bảo vệ lâu dài như thế nào cho không gian mạng Việt Nam?

Song hành với Luật An ninh mạng, việc Việt Nam lần đầu ban hành Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Trong nền kinh tế số, dữ liệu cá nhân chính là “dấu vân tay số” của mỗi con người, phản ánh hành vi, thói quen, mối quan hệ và thậm chí cả tình trạng sức khỏe, tài chính. Khi dữ liệu bị thu thập, sử dụng hoặc mua bán tùy tiện, hệ lụy không chỉ dừng ở việc bị làm phiền bởi quảng cáo, mà còn có thể dẫn tới lừa đảo, xâm phạm đời sống riêng tư và đe dọa an toàn cá nhân.

Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân đã lần đầu tiên xác lập rõ ràng quyền của người dân đối với dữ liệu của mình, từ quyền được biết, quyền đồng ý, quyền truy cập, chỉnh sửa đến quyền yêu cầu xóa dữ liệu, qua đó góp phần cân bằng lại mối quan hệ vốn bất đối xứng giữa cá nhân và các tổ chức nắm giữ dữ liệu.

Đối với doanh nghiệp và các nền tảng số, đặc biệt trong các lĩnh vực nhạy cảm như tài chính, ngân hàng, y tế, giáo dục và thương mại điện tử, luật mới đặt ra yêu cầu cao hơn nhưng cũng mang lại lợi ích dài hạn. Doanh nghiệp buộc phải minh bạch hơn, đầu tư nhiều hơn cho bảo mật và tuân thủ, nhưng đổi lại sẽ xây dựng được niềm tin bền vững với khách hàng. Trong một thị trường mà niềm tin ngày càng trở thành lợi thế cạnh tranh cốt lõi, đây là yếu tố sống còn. 

Trong bối cảnh dữ liệu ngày càng được xem là tài nguyên chiến lược của quốc gia, Việt Nam đang đứng trước bài toán cân bằng ra sao giữa bảo đảm an ninh, chủ quyền dữ liệu với yêu cầu mở dữ liệu, thúc đẩy kinh tế số và đổi mới sáng tạo?

Trong bối cảnh dữ liệu ngày càng được xem là tài nguyên chiến lược của quốc gia, Việt Nam đang đứng trước bài toán không dễ: làm sao cân bằng giữa bảo đảm an ninh, chủ quyền dữ liệu với yêu cầu mở dữ liệu để thúc đẩy kinh tế số và đổi mới sáng tạo. Nếu siết chặt quá mức, dữ liệu sẽ bị “đóng băng”, hạn chế sự phát triển của các mô hình kinh doanh mới, đặc biệt trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo và dịch vụ số. Ngược lại, nếu buông lỏng, nguy cơ mất an ninh, phụ thuộc vào các nền tảng nước ngoài và xâm phạm quyền riêng tư của người dân là rất lớn.

Hai đạo luật mới chính là công cụ pháp lý quan trọng để thiết lập sự cân bằng này, cho phép dữ liệu được khai thác và chia sẻ có kiểm soát, trên cơ sở bảo đảm an toàn và tôn trọng quyền của cá nhân.

Nhìn về tương lai, với khung pháp luật về an ninh mạng và dữ liệu ngày càng hoàn chỉnh, không gian số Việt Nam nhiều khả năng sẽ chuyển dịch theo hướng an toàn hơn, có trật tự hơn và chuyên nghiệp hơn. Doanh nghiệp sẽ coi an ninh mạng là nền tảng chứ không phải gánh nặng; người dân sẽ ý thức rõ hơn về giá trị dữ liệu cá nhân; còn Nhà nước có đủ công cụ để điều phối, giám sát và ứng phó hiệu quả với các rủi ro trên không gian mạng.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-

Categories: The Latest News

Luật AI: Cơ sở pháp lý thúc đẩy trí tuệ nhân tạo Việt Nam

Thu, 02/19/2026 - 06:00
Ở Việt Nam, tư duy quản lý có chút khác biệt, thường phải có quy định thì mới dám làm, mới có cơ sở để hỗ trợ. Vì vậy, luật cần thiết không chỉ để kiểm soát mà còn là cơ sở pháp lý quan trọng để thúc đẩy phát triển.

Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV đã biểu quyết thông qua Luật Trí tuệ nhân tạo (AI). Với việc thông qua Luật Trí tuệ nhân tạo, Việt Nam đã trở thành một trong số ít quốc gia có luật riêng toàn diện về AI.

Luật Trí tuệ nhân tạo có hiệu lực từ ngày 1/3/2026, gồm 35 điều, được thiết kế theo hướng bảo đảm cân bằng giữa kiểm soát rủi ro và thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phù hợp với thông lệ quốc tế và hỗ trợ Việt Nam chủ động hội nhập với các chuẩn mực công nghệ mới.

Đây là lần đầu tiên Việt Nam xây dựng và ban hành một đạo luật riêng về AI, thể hiện rõ cam kết mạnh mẽ của Đảng và Nhà nước trong việc coi AI là một công nghệ chiến lược. Tinh thần xuyên suốt của Luật là xây dựng một hành lang pháp lý cởi mở, an toàn, dựa trên cách tiếp cận quản lý rủi ro để thúc đẩy đổi mới sáng tạo.

Để làm rõ hơn về tinh thần “cởi mở, an toàn, thúc đẩy đổi mới sáng tạo” của Luật AI, Tạp chí Kinh tế Việt Nam / VnEconomy đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Đức Lam, chuyên gia về luật và quản trị nhà nước, Cố vấn chính sách tại Viện Nghiên cứu Chính sách và Phát triển truyền thông (IPS).

Ông Nguyễn Đức Lam đã có hơn 20 năm làm việc trong lĩnh vực pháp luật, chính sách công tại Văn phòng Quốc hội. Hiện nay, ông tập trung vào nghiên cứu, tư vấn chính sách công nghệ số như xây dựng chính quyền số, sử dụng dữ liệu trong hoạt động của Nhà nước, chính sách phát triển, kiểm soát rủi ro của AI.

Thưa ông, không ít chuyên gia cả trong nước và quốc tế cảnh báo nếu quản AI quá cứng nhắc có thể sẽ kìm hãm đổi mới sáng tạo. Với Luật AI vừa được thông qua, theo ông, các quy định đã đủ linh hoạt, vừa tạo điều kiện phát triển, vừa đảm bảo kiểm soát rủi ro?

Đây là một câu hỏi rất khó và tôi cũng phải thừa nhận rằng việc đảm bảo sự cân bằng giữa phát triển AI và kiểm soát rủi ro do AI gây ra là một vấn đề “đau đầu” chung của cả thế giới chứ không chỉ riêng Việt Nam hay bất kỳ quốc gia nào.

Tại Việt Nam, chúng ta đang đi theo hướng tiếp cận là phân loại rủi ro theo các cấp độ để kiểm soát. Cách tiếp cận này được đánh giá là phù hợp ở một mức độ nhất định vì nó không đánh đồng tất cả các loại rủi ro với nhau. Cụ thể, đối với những rủi ro cao thì áp dụng các biện pháp khắt khe hơn, còn rủi ro trung bình và thấp thì biện pháp sẽ nhẹ nhàng hơn. Đối với những rủi ro ở mức không chấp nhận được (như theo cách phân loại của Đạo luật AI của EU), Luật AI của Việt Nam đã chuyển thành các hành vi bị cấm. Việc phân biệt theo cấp độ như vậy giúp chúng ta có những biện pháp tương xứng, không đánh đồng, nhằm kiểm soát được rủi ro mà không cản trở sự phát triển của công nghệ.

Tuy nhiên, vấn đề khó khăn nằm ở chỗ làm sao xác định được AI có rủi ro thuộc nhóm nào. Trong đó, khó nhất là phải xác định được loại rủi ro nào là rủi ro cao để áp dụng biện pháp quản lý phù hợp.

Ngoài ra, xét từ góc độ phương pháp tiếp cận, chúng ta cũng nên xác định rằng không chỉ điều chỉnh rủi ro của AI bằng các văn bản luật “cứng”, Nghị định, hay Thông tư. Trên thế giới, người ta sử dụng rất nhiều công cụ chính sách khác nhau để điều chỉnh vấn đề này.

Thứ nhất, luật cứng, tức là các quy định bắt buộc của Nhà nước.

Thứ hai, các nguyên tắc mang tính khuyến nghị như của OECD hay UNESCO mà các quốc gia có thể tham khảo áp dụng.

Thứ ba, các tiêu chuẩn kỹ thuật của từng ngành, ví dụ như ngành y tế hay giáo dục có thể có những tiêu chuẩn riêng cho AI. Tại EU, các tiêu chuẩn này không bắt buộc, nhưng nếu doanh nghiệp tuân thủ thì đó sẽ là bằng chứng để họ chứng minh với cơ quan quản lý rằng mình đã tuân thủ quy định, giúp giảm bớt gánh nặng tuân thủ pháp lý về sau.

Thứ tư, các bộ quy tắc ứng xử mang tính tự nguyện do một ngành, một tổ chức hay doanh nghiệp tự xây dựng và áp dụng nội bộ.

Thứ năm, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox).

Như vậy, để hài hòa giữa kiểm soát và phát triển, chúng ta không chỉ dựa vào một đạo luật riêng về AI mà cần phối hợp nhiều công cụ. Thậm chí, ngay cả khi dựa vào pháp luật, chúng ta cũng có thể tận dụng các luật hiện hành như Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Luật Cạnh tranh, các quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân để điều chỉnh rủi ro của AI thay vì chỉ trông chờ vào một đạo luật mới hoàn toàn. Cách tiếp cận đa dạng như thế sẽ góp phần giải quyết bài toán cân bằng khó khăn này.

Luật AI của Việt Nam chia ra các cấp độ rủi ro và ông có nói rằng cái khó là xác định các cấp độ rủi ro như thế nào để điều chỉnh cho phù hợp. Vậy theo kinh nghiệm quốc tế, các quốc gia khi xây dựng luật AI gặp thách thức gì lớn nhất trong việc cân bằng giữa phát triển AI và đảm bảo an toàn quyền lợi cho người dân, thưa ông?

Thách thức mấu chốt vẫn là  câu chuyện xác định thế nào là rủi ro cao. Mặc dù rủi ro ở mức không chấp nhận được (hay là các hành vi bị cấm) có tính chất nguy hiểm nhất, nhưng đôi khi nó lại dễ xác định hơn là rủi ro cao. Rủi ro cao là mức độ mà chúng ta không cấm, nhưng lại phải áp đặt cho doanh nghiệp những nghĩa vụ pháp lý đủ chặt chẽ để kiểm soát, nhưng cũng không được quá trói buộc khiến họ không thể phát triển. Việc xác định ranh giới và nội hàm của cấp độ rủi ro cao này là rất khó khăn.

Theo quy định của Luật AI, danh mục các hệ thống AI có rủi ro cao sẽ do Thủ tướng Chính phủ ban hành và danh mục này sẽ được cập nhật hàng năm để đảm bảo phù hợp với thực tiễn. Điều quan trọng là để luật có thể thích ứng được với sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ, tránh tình trạng quy định hôm nay thì đúng nhưng ngày mai lại trở nên lỗi thời hoặc kìm hãm sự phát triển, đồng thời đảm bảo sự linh hoạt, chúng ta cần một cơ chế cập nhật thường xuyên. Ví dụ, năm nay Chính phủ có thể thiết lập danh mục gồm các hệ thống AI được coi là có rủi ro cao và áp dụng các biện pháp kiểm soát ngặt nghèo hơn. Tuy nhiên, sang năm sau, khi công nghệ đã hoàn thiện hơn hoặc chúng ta đã hiểu rõ hơn về nó, có thể một số hệ thống trong đó không còn được coi là rủi ro cao nữa. Khi đó, chúng sẽ được chuyển xuống nhóm rủi ro trung bình và các nghĩa vụ pháp lý đi kèm cũng sẽ giảm đi.

Ngược lại, cũng có những loại AI năm nay chưa bị coi là rủi ro cao, nhưng sang năm sau, do sự phát triển đột phá của công nghệ, chúng lại phát sinh những nguy cơ mới và trở thành rủi ro cao. Lúc đó, chúng ta lại phải xếp nó vào nhóm cần kiểm soát chặt chẽ hơn. Cách tiếp cận của Luật AI như đã nói ở trên là phù hợp để đảm bảo tính cập nhật của pháp luật, nhưng điều quan trọng là danh mục này cần bám sát với thực tế phát triển của công nghệ.

Về cơ chế sandbox – tức mô hình thử nghiệm có kiểm soát dành cho AI – theo nghiên cứu của ông, các quốc gia hiện nay đang áp dụng những mô hình nào? Ông có thể chia sẻ thêm về kinh nghiệm quốc tế, đặc biệt là các mô hình ở những nước gần gũi với Việt Nam như Singapore, và cách họ đang triển khai sandbox cho AI ra sao?

Về sandbox thế giới đã có rất nhiều tài liệu nghiên cứu. Tuy nhiên, để nói ngắn gọn về những điểm tương đồng mà Việt Nam có thể tham khảo thì các nước thường tập trung vào các nội dung chính như: thời hạn thử nghiệm là bao lâu, cơ quan nào có thẩm quyền phê duyệt, điều kiện để doanh nghiệp được tham gia vào cơ chế này là gì, quy trình, thủ tục phê duyệt tham gia cơ chế này, miễn giảm các nghĩa vụ pháp lý của doanh nghiệp được tham gia sandbox.

Lấy ví dụ về thời hạn, thông thường các nước chỉ cho phép thử nghiệm trong khoảng từ 6 tháng đến 2 năm, rất ít nước cho phép thử nghiệm kéo dài đến 3 năm. Bởi vì nếu cho phép thử nghiệm quá dài sẽ tạo ra sự bất cân xứng trong cạnh tranh.

Trong lĩnh vực công nghệ, đặc biệt là AI, tốc độ phát triển cực kỳ nhanh. Nếu một doanh nghiệp được bao bọc trong cơ chế thử nghiệm tới 3 năm, giả sử được gia hạn thêm 3 năm nữa, tổng cộng là 6 năm, thì lợi thế cạnh tranh của họ so với các doanh nghiệp bên ngoài là quá lớn. Vì vậy, để cân bằng giữa thúc đẩy phát triển và đảm bảo cạnh tranh công bằng, các nước thường chỉ cho phép thời hạn vừa phải như đã nêu trên và gia hạn thêm khoảng ngắn như vậy. Đây là một điểm chúng ta cần lưu ý để đảm bảo sự cân bằng.

Ngoài ra, có một nội dung trong Luật AI về sandbox rất đáng được ủng hộ, đó là quy định dành cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nếu các doanh nghiệp này đã được phê duyệt tham gia và hoàn thành quá trình trong sandbox, thì sau này họ sẽ được miễn hoặc giảm một số thủ tục pháp lý tiếp theo.

Đây chính là sự cân bằng giữa kiểm soát và thúc đẩy. Một mặt, Nhà nước vẫn kiểm soát rủi ro thông qua quá trình thử nghiệm trong sandbox; mặt khác, lại tạo động lực phát triển bằng cách giảm bớt gánh nặng thủ tục hành chính cho doanh nghiệp sau khi họ đã chứng minh được sự tuân thủ.

Luật AI đã được thông qua và sẽ có hiệu lực từ ngày 1/3/2026. Ông đánh giá thế nào về mức độ sẵn sàng của hệ sinh thái AI Việt Nam, bao gồm doanh nghiệp, nhà đầu tư và người dùng, trước những quy định pháp lý này?

Về mức độ sẵn sàng, bản thân tôi cũng nghe khá nhiều doanh nghiệp bày tỏ lo ngại về các quy định kiểm soát chặt chẽ. Tuy nhiên, chúng ta cần nhìn nhận vấn đề từ nhiều chiều.

Tôi từng trao đổi với một giáo sư luật người Úc, chuyên gia quản trị AI về vấn đề này. Tôi hỏi bà ấy rằng: Liệu việc quy định kiểm soát rủi ro và áp đặt nghĩa vụ pháp lý cho các hệ thống AI rủi ro cao có tạo ra gánh nặng chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp hay không? Bà ấy trả lời rất thẳng thắn: khi anh tham gia vào thị trường và tạo ra sản phẩm có khả năng gây rủi ro, thì anh buộc phải chịu sự kiểm soát. Chi phí tuân thủ là một phần tất yếu, vấn đề là mức chi phí đó phải hợp lý. Không thể vì muốn giảm chi phí mà đòi hỏi được nằm ngoài sự kiểm soát của pháp luật.

Tôi cũng muốn nói về sự cần thiết của Luật AI tại Việt Nam. Tại sao nhiều nước chưa vội ban hành luật riêng về AI? Vì họ nghĩ chưa cần thiết hoặc có thể dùng các luật hiện hành. ở Việt Nam, tư duy quản lý có chút khác biệt: phải có quy định thì mới dám làm, mới có cơ sở để hỗ trợ. Nếu không có luật, các cơ quan sẽ ngại đưa ra các biện pháp hỗ trợ vì lỡ sai, không có căn cứ pháp lý, có thể bị kỷ luật.

Vì vậy, trong bối cảnh Việt Nam, luật này cần thiết không chỉ để kiểm soát mà còn là cơ sở pháp lý quan trọng để thúc đẩy phát triển. Khi có luật, các cơ quan muốn hỗ trợ doanh nghiệp về vốn, về cơ chế sẽ có điểm tựa để thực hiện. Luật AI cũng có nhiều nội dung hướng tới mục tiêu này, đặc biệt là hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, như cơ chế miễn giảm thủ tục sau sandbox; hay quy định về Quỹ phát triển AI với một trong những mục tiêu là hỗ trợ các doanh nghiệp AI ra đời và lớn mạnh.

Trong các loại hỗ trợ doanh nghiệp, hỗ trợ, hướng dẫn kỹ thuật rất quan trọng, vì tính chất vừa mới mẻ, vừa phức tạp của công nghệ AI. Ví dụ ở Australia, doanh nghiệp có nghĩa vụ tự đánh giá rủi ro, nhưng Chính phủ không để họ "tự bơi". Chính phủ Australia thiết lập các trung tâm hỗ trợ nơi doanh nghiệp có thể tìm đến để được hướng dẫn chi tiết cách đánh giá rủi ro, cách tuân thủ quy định. Theo Luật AI của Việt Nam, Bộ Khoa học và Công nghệ có trách nhiệm hướng dẫn trong trường hợp nhà cung cấp chưa tự xác định được mức độ rủi ro của hệ thống trí tuệ nhân tạo. Sắp tới, cần quy định rõ hơn nội hàm trách nhiệm cụ thể, cách thức hướng dẫn doanh nghiệp làm việc đó như thế nào.

Theo ông, liệu một khung pháp lý về AI có giúp Việt Nam hấp dẫn hơn trong mắt các nhà đầu tư không?

Nếu luật đảm bảo được sự minh bạch thì chắc chắn sẽ tạo điều kiện tốt thu hút đầu tư nước ngoài, bởi vì một khung pháp lý đầy đủ sẽ giúp Việt Nam hấp dẫn hơn trong mắt các nhà đầu tư lĩnh vực AI. Các nhà đầu tư nước ngoài thường “soi” luật rất kỹ. Nếu họ biết rõ mình phải thực hiện nghĩa vụ gì, được hưởng quyền lợi gì, họ sẽ yên tâm bỏ vốn. Ngược lại, nếu họ thấy quy định mập mờ, rủi ro pháp lý cao, họ sẽ e ngại. Sự minh bạch chính là chìa khóa.

Gần đây tôi có làm việc với một giáo sư người Nhật, ông ấy vừa là giảng viên vừa là chủ một công ty tư vấn về AI. Ông ấy chia sẻ rất thú vị về Luật Thúc đẩy phát triển AI của Nhật Bản. Đúng như tên gọi, Luật AI của Nhật Bản là các quy định thúc đẩy, gần như không có nội dung về kiểm soát. Ông ấy cho biết Nhật Bản muốn trở thành đất nước thân thiện nhất với AI.

Khi hỏi có lo ngại về rủi ro không, ông ấy thừa nhận là có, nhưng cách tiếp cận của Nhật Bản là dựa vào các luật hiện hành để điều chỉnh. Ví dụ, vấn đề bản quyền liên quan đến AI sẽ được xử lý dựa trên Luật Bản quyền hiện có, kết hợp với các hướng dẫn của Chính phủ. Chính phủ Nhật Bản sẽ ban hành các hướng dẫn chi tiết, khuyến nghị doanh nghiệp để tránh vi phạm, chứ không ban hành các quy định khắt khe trong luật AI.

Cách tiếp cận này rất hay và cởi mở, nhưng cũng đặt ra một băn khoăn lớn về khả năng thực thi khi đưa vào thực tế, đặc biệt khi xảy ra tranh chấp tại tòa án. Nếu chỉ dựa vào hướng dẫn, nhiều tình huống pháp lý sẽ rơi vào vùng xám. Chẳng hạn, khi hai doanh nghiệp kiện nhau vì cáo buộc sản phẩm tạo ra bởi AI vi phạm bản quyền, một bên có thể lập luận rằng sản phẩm tuân thủ đúng “hướng dẫn của Chính phủ”, trong khi bên còn lại phản biện rằng các hướng dẫn đó không phải là văn bản luật. Khi đó, tòa án có thể sẽ gặp thách thức để đưa ra phán quyết vì thiếu căn cứ pháp lý mang tính ràng buộc.

Điều này cho thấy nếu phụ thuộc quá nhiều vào “soft law”, vốn mang tính khuyến nghị nhiều hơn là bắt buộc thì cũng có thể tạo khó khăn trong thực thi.

Tết đến, Xuân về, người Việt hay chúc nhau “An Khang, Thịnh Vượng”. Kiểm soát rủi ro từ AI chính là hướng tới một cuộc sống an vui, hạnh phúc cho mỗi người, mỗi nhà, toàn thể xã hội. Đồng thời, nhằm tăng năng suất lao động, cũng chính là đạt hai chữ “Thịnh Vượng”, cho mỗi người, mỗi nhà, toàn xã hội và cả quốc gia.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-

Categories: The Latest News

Ngành bán dẫn Việt Nam bước vào 5 năm quyết định

Thu, 02/19/2026 - 06:00
Năm 2025, ngành công nghiệp bán dẫn Việt Nam đã ghi nhận nhiều cột mốc quan trọng, nhưng với tốc độ phát triển như hiện nay liệu có giúp Việt Nam kịp ghi tên mình vào chuỗi giá trị bán dẫn toàn cầu trong vòng 5 năm tới?

Những ngày cuối năm 2025, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy đã “gõ cửa” lãnh đạo của nhiều doanh nghiệp FDI tiêu biểu đang hoạt động trong lĩnh vực bán dẫn tại Việt Nam. Người ngoài Bắc, người trong Nam, nhưng trùng hợp là lại “gặp nhau” ở góc nhìn khi nói về ngành bán dẫn Việt Nam trong 12 tháng qua, từ việc cùng ghi nhận những chuyển động tích cực của thị trường trong nước, với làn sóng đầu tư mới, sự trưởng thành của các doanh nghiệp nội địa, đến việc thẳng thắn chỉ ra một thực tế là: nếu tiếp tục giữ tốc độ phát triển ngành như hiện nay, con đường để Việt Nam hiện thực hóa những mục tiêu tham vọng đến năm 2030 dường như khó khả thi.

BÌNH MINH CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP BÁN DẪN 

Tháng 9/2024, giữa lúc diễn ra những tranh luận về tương lai ngành bán dẫn Việt Nam, liệu đất nước có đủ nhanh để nắm bắt “cơ hội vàng”? Việt Nam nên chọn trở thành mắt xích nào trong chuỗi cung ứng? Chiến lược phát triển công nghiệp bán dẫn Việt Nam đến năm 2030 tầm nhìn 2050, chính thức được ban hành, nhưng thay vì chỉ chọn phát triển trong một lĩnh vực, Việt Nam chọn làm chủ toàn diện chuỗi giá trị. 

Thời điểm ấy, sự ra đời của bản chiến lược không chỉ mang ý nghĩa định hướng chính sách, mà còn tạo ra không khí sục sôi hiếm thấy trên thị trường bán dẫn trong nước. Lần đầu tiên, một bức tranh tương đối rõ ràng được phác thảo, với những mục tiêu cụ thể từ phát triển nhân lực, thu hút đầu tư cho đến từng mắt xích trong chuỗi giá trị bán dẫn.

Nhìn lại chặng đường đã qua, TS. Lê Quang Đạm, Tổng giám đốc Marvell Technology Việt Nam, cho rằng dù Việt Nam đã sớm nhìn ra cơ hội từ khoảng hai năm trước, song ngành bán dẫn trong nước thực tế lại chưa ghi nhận nhiều chuyển biến. “Năm 2025 có thể xem là thời điểm bình minh của ngành công nghiệp bán dẫn Việt Nam, khi bắt đầu xuất hiện những kết quả cụ thể, đủ để tạo đà cho lĩnh vực này phát triển nhanh hơn trong những năm kế tiếp”, ông Đạm nhận xét.

Trong ba trụ cột chính của ngành bán dẫn: thiết kế, chế tạo, đóng gói và kiểm thử, đâu là lĩnh vực Việt Nam có những bước tiến rõ nét trong năm 2025? Với câu hỏi này, cả TS. Lê Quang Đạm, Tổng giám đốc Marvell Technology Việt Nam và ông Nguyễn Thanh Yên, Tổng giám đốc CoAsia SEMI Việt Nam, đều nhất trí rằng lĩnh vực đóng gói và kiểm thử là mắt xích ghi nhận bước tiến rõ nét nhất trong năm 2025. Hàng loạt dự án FDI quy mô lớn như: Amkor, Hana Micron đã và đang từng bước đi vào hoạt động. Đáng chú ý hơn, dự án nhà máy đóng gói – kiểm thử do doanh nghiệp Việt Nam VSAP Lab triển khai cũng đã chính thức được khởi công, đánh dấu nỗ lực tham gia sâu hơn của doanh nghiệp nội địa vào chuỗi giá trị bán dẫn.

Không chỉ ở phía doanh nghiệp, những chuyển động mạnh mẽ từ phía cơ quan quản lý cũng là điều dễ thấy. Từ định hướng chính sách, các gói ưu đãi đầu tư cho đến việc hỗ trợ thủ tục hành chính nhằm thu hút doanh nghiệp tham gia thị trường, có thể thấy sự vào cuộc đồng bộ từ cấp Trung ương đến địa phương. Luật Công nghiệp công nghệ số, cùng với các luật liên quan như Luật Đầu tư, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Xuất nhập khẩu… đã và đang thiết kế những cơ chế hỗ trợ, ưu đãi đặc biệt dành riêng cho ngành công nghiệp bán dẫn.

Tiêu biểu như các dự án nghiên cứu sản xuất sản phẩm bán dẫn với vốn đầu tư chỉ từ 6.000 tỷ đồng sẽ được áp dụng thuế suất 5% trong 37 năm; miễn thuế 6 năm, giảm 50% số thuế phải nộp trong 13 năm tiếp theo; miễn toàn bộ tiền thuê đất, thuê mặt nước của dự án; miễn thuế thu nhập cá nhân cho nhân lực chất lượng cao trong 5 năm; miễn giấy phép lao động và visa 5 năm cho nhân lực chất lượng cao là người nước ngoài; doanh nghiệp bán dẫn được áp dụng cơ chế “luồng xanh” trong thủ tục hành chính… 

Tính đến tháng 11/2025, Việt Nam đã thu hút hơn 170 dự án đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực bán dẫn, hình thành khoảng 60-70 doanh nghiệp thiết kế chip, với sự xuất hiện của nhiều cái tên mới đáng chú ý như Alchip (Đài Loan), SkyeChip (Malaysia). Bên cạnh đó, 8 dự án đóng gói – kiểm thử và hơn 20 doanh nghiệp sản xuất, cung ứng vật liệu, thiết bị phục vụ ngành bán dẫn đã hiện diện tại Việt Nam.

Nhưng dù ghi nhận những tín hiệu tích cực, cả hai lãnh đạo doanh nghiệp đều cho rằng cần nhìn thẳng vào thực tế: Việt Nam vẫn còn rất nhiều việc phải làm nếu muốn trong vòng 4 - 5 năm tới, ngành công nghiệp bán dẫn thực sự “cất cánh” để đạt được những mục tiêu đầy tham vọng đã đề ra.

“Tính đến thời điểm này, quỹ thời gian còn lại cho nhà máy chế tạo chip chỉ còn lại khoảng 5 năm, là một thách thức vô cùng lớn về mặt thời gian, nhất là trong bối cảnh nhà máy "đầu tiên” này sẽ đóng thêm vai trò đầu tàu hình thành nên hệ sinh thái chế tạo chip ở Việt Nam. Về nhân lực, số lượng kỹ sư thiết kế có tăng, từ khoảng 5.000 lên 6.000 người, nhưng so với mục tiêu 15.000 kỹ sư thiết kế vào năm 2030 thì khoảng cách vẫn còn rất xa. Tóm lại, sau một năm, chúng ta đã thấy những biến chuyển tích cực, nhưng hai trụ cột then chốt quyết định sự thành bại của chiến lược phát triển công nghiệp bán dẫn là nhà máy chế tạo chip và nguồn nhân lực, thì tốc độ thực hiện phát triển vẫn còn chậm”, ông Yên nhìn nhận

Ông Đạm cũng tỏ ra thận trọng với mục tiêu hình thành nhà máy chế tạo chip vào năm 2030. Theo ông, ngay cả với những công cơ bản như 28nm, việc xây dựng và vận hành một nhà máy sản xuất chip vẫn đòi hỏi rất nhiều thời gian, đặc biệt là ở khâu chuẩn bị đội ngũ vận hành. “Trong khoảng 5 năm, có lẽ chưa đủ để vận hành trơn tru một nhà máy chế tạo chip và có hiệu quả kinh tế, nhưng nếu nói về việc xây dựng nhà máy, chuẩn bị nền tảng thì khả thi”, ông Đạm phân tích.

Thực tế, sau hơn 20 năm hình thành và phát triển, Việt Nam ít nhất đã xây dựng được một đội ngũ kỹ sư bán dẫn có 10 - 20 năm kinh nghiệm, đây là đội ngũ vừa “chín nghề”, vừa có khát vọng vươn lên làm chủ thiết kế chip. Điều này cũng có nghĩa họ mong muốn và cần được tham gia những dự án lớn, đòi hỏi chuyên môn sâu và nhiều thách thức. Do đó, điều còn thiếu là những “bài toán đủ lớn” cùng mức đãi ngộ đủ sức cạnh tranh với các tập đoàn hàng đầu thế giới, để có thể trở thành chất kết dính, tập hợp đội ngũ này lại. Nếu không làm được điều đó, xu hướng các kỹ sư giỏi tiếp tục ra nước ngoài làm việc cho nhóm 15 công ty bán dẫn lớn nhất toàn cầu sẽ còn gia tăng. 

Theo ông Yên, chính lúc này vai trò của các tập đoàn kinh tế lớn trong nước càng trở nên đặc biệt quan trọng. Chỉ những doanh nghiệp có đủ quy mô, nguồn lực và tầm nhìn dài hạn mới có thể đưa ra các bài toán đủ hấp dẫn để quy tụ đội ngũ kỹ sư giỏi. Sự tham gia thực chất và có trách nhiệm của các “đầu tàu” doanh nghiệp được xem là một trong những điểm đột phá then chốt cho lộ trình đầy thách thức mà ngành công nghiệp bán dẫn Việt Nam đang đối mặt.

Bên cạnh đó, dù đội ngũ kỹ sư trong nước được đánh giá cao về năng lực và nền tảng chuyên môn, họ vẫn thiếu cơ hội tiếp cận thường xuyên với những công nghệ bán dẫn tiên tiến nhất. Vì vậy, song song với việc phát triển nguồn nhân lực nội địa, Việt Nam vẫn cần mở rộng cánh cửa thu hút các kỹ sư, chuyên gia từ nước ngoài, những người đã kinh qua môi trường quốc tế để mang theo kinh nghiệm, tri thức và các chuẩn mực hàng đầu, bổ sung vào bức tranh còn đang định hình của ngành bán dẫn trong nước.

Tổng giám đốc Marvell Technology Việt Nam cho rằng dù Việt Nam đã ban hành cơ chế thu hút nhân tài hay “tổng công trình sư”, song hiệu quả thực thi trên thực tế vẫn chưa đạt kỳ vọng. “Việt Nam không thiếu những chuyên gia giỏi trong lĩnh vực bán dẫn. Vấn đề là làm sao thu hút được người giỏi, người tài quay trở về Việt Nam. Mỗi người có hoàn cảnh, mong muốn khác nhau, vì vậy để thuyết phục thì cần những cách tiếp cận rất cụ thể, thậm chí may đo cho từng trường hợp. Đây là nguồn nhân lực có trình độ và kinh nghiệm thực tiễn rất cao. Nếu họ trở về, sinh sống và làm việc tại Việt Nam, chỉ cần vài năm, họ sẽ tạo ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của ngành”, ông Đạm nhấn mạnh.

CẦN DẤU ẤN LAN TOẢ HIỆU ỨNG TOÀN NGÀNH 

Trong Chiến lược phát triển công nghiệp bán dẫn, Chính phủ đặt mục tiêu đến năm 2030, quy mô doanh thu ngành bán dẫn tại Việt Nam đạt trên 25 tỷ USD mỗi năm, giá trị gia tăng trong nước đạt từ 10–15%. Song hành với đó, công nghiệp điện tử được kỳ vọng đạt quy mô doanh thu trên 225 tỷ USD mỗi năm, với tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa tương đương. Những mục tiêu này nói lên nhiều điều, cả tham vọng của Việt Nam và “áp lực” Việt Nam cần có những bước đi chiến lược, khi mà ngành này đã và đang được định hình rõ ràng.  

Trong khi đó, công nghiệp bán dẫn Việt Nam hiện vẫn đang phụ thuộc rất nhiều vào doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Để nâng được tỷ lệ gia tăng trong nước lên, điều kiện then chốt chính là ở sự tham gia lĩnh vực này của các doanh nghiệp trong nước một cách quyết liệt và thực chất. Theo các chuyên gia, trên thực tế, không ít doanh nghiệp trong nước vẫn bày tỏ sự dè dặt trước rào cản chi phí đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn dài và mức độ rủi ro cao của ngành bán dẫn. Nếu không có những quyết định mang tính đột phá ngay từ giai đoạn này, Việt Nam rất có thể sẽ thêm một lần nữa bỏ lỡ cơ hội ghi tên mình trên bản đồ công nghiệp bán dẫn toàn cầu.

Vậy, đâu là chiến lược cần ưu tiên triển khai ngay trong năm 2026 để tạo hiệu ứng lan tỏa cho toàn ngành? Ông Yên cho rằng trong số các mục tiêu đã đặt ra, tập trung tối đa nguồn lực để giải bài toán xây dựng nhà máy chế tạo chip sẽ là công trình quan trọng đối với ngành. “Với nút tiến trình công nghệ cỡ 28nm và quy mô sản lượng nhỏ (cỡ vài nghìn wafer/tháng) không phải là một khoản đầu tư hàng tỷ USD vượt xa năng lực hiện có”, ông Yên khẳng định. 

Quan điểm tập trung xây dựng nhà máy chế tạo chip dù có phần khác biệt với ông Đạm, song lãnh đạo CoAsia SEMI Việt Nam đưa ra 5 lập luận. 

Thứ nhất, công nghệ 28nm là tiến trình tương đối an toàn, giúp tránh rủi ro từ các lệnh hạn chế công nghệ có thể phát sinh trong tương lai. Việt Nam hoàn toàn có thể lựa chọn mô hình kinh doanh “second source” – đóng vai trò là đối tác bổ sung, thay vì đối thủ cạnh tranh trực diện – để đảm bảo tính khả thi cho dự án.

Thứ hai, một nhà máy ở tiến trình này có thể đáp ứng trực tiếp nhu cầu trong nước đối với các sản phẩm như thẻ căn cước, thẻ SIM, camera an ninh… Qua đó, nhà máy có thể sớm có những đơn hàng đầu tiên, giảm thiểu rủi ro về đầu ra trong giai đoạn khởi động vận hành. 

Thứ ba, các con chip sản xuất ở tiến trình 28nm không thuộc nhóm sản phẩm có giá hàng trăm USD, mà chỉ ở mức vài USD hoặc thấp hơn. Mức giá này không tạo áp lực lớn lên chi phí cấu thành sản phẩm (BOM – Bill of Materials), cho phép doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận khách hàng theo mô hình “second source”. Điều này cũng mở ra khả năng thuyết phục các doanh nghiệp sản xuất thiết bị điện tử tại Việt Nam, bao gồm cả doanh nghiệp FDI, từng bước thay thế linh kiện nhập khẩu trong các sản phẩm dân dụng như tivi, điều hòa, máy giặt, đèn chiếu sáng, thiết bị nhà thông minh… Tập khách hàng đa dạng cũng đồng nghĩa với đầu ra ngày càng được củng cố.

Thứ tư, nhà máy chế tạo chip sẽ đóng vai trò “cánh chim đầu đàn”, dẫn dắt toàn bộ hệ sinh thái đi theo. Không chỉ tạo việc làm trực tiếp, nhà máy còn có thể trở thành bệ đỡ cho hệ sinh thái khởi nghiệp về thiết kế và sở hữu trí tuệ tại Việt Nam, qua đó thúc đẩy nhanh hơn quá trình hiện thực hóa mục tiêu 15.000 kỹ sư thiết kế chip vào năm 2030. 

Thứ năm, sự hiện diện của một nhà máy wafer fab trong nước sẽ có tác dụng như “liều thuốc dẫn” để thu hút thêm các đối tác quốc tế đặt nhà máy tại Việt Nam. Hiệu ứng lan tỏa này sẽ góp phần quan trọng vào việc đạt mục tiêu phát triển đội ngũ 50.000 nhân lực bán dẫn vào năm 2030.

“Tóm lại, nếu không có nhà máy wafer fab thì chi phí mà chúng ta phải bỏ ra trong tương lai sẽ càng lớn, khoảng cách công nghệ cần thu hẹp sẽ càng xa, thậm chí có thể khiến chiến lược phát triển công nghiệp bán dẫn quốc gia đứng trước nguy cơ thất bại”, ông Yên nhận định.

Dù có phần khác nhau, song có một lập luận mà ông Yên nhấn mạnh chính là hướng đi mà ông Đạm cho rằng cần đẩy mạnh ngay trong năm 2026, đó là gia tăng tỷ lệ sử dụng các con chip được thiết kế, đóng gói và tiến tới sản xuất tại Việt Nam. Hiện nay, phần lớn sản phẩm điện tử từ phân khúc cao cấp đến trung và thấp vẫn đang sử dụng chip có xuất xứ từ Trung Quốc hoặc Đài Loan. Dù trong năm 2026, Việt Nam có thể chưa sở hữu các con chip “Made in Vietnam” theo nghĩa đầy đủ, nhưng việc chuyển hướng sử dụng nhiều hơn các con chip được thiết kế, đóng gói tại Việt Nam sẽ tạo nền tảng thị trường quan trọng cho sự phát triển dài hạn của ngành bán dẫn trong nước.

Hơn một năm kể từ ngày Chiến lược phát triển công nghiệp bán dẫn được ban hành, câu chuyện về bán dẫn không còn là khái niệm kỹ thuật khô khan, mà đã thực sự trở thành mục tiêu chiến lược tầm quốc gia. Như nhận định của các chuyên gia, năm 2025 là một năm dấu ấn của ngành công nghiệp bán dẫn nước nhà, khi những định hướng lớn bắt đầu được cụ thể hóa bằng các dự án, chính sách và chuyển động trên thị trường.

Tuy nhiên, bước vào năm 2026, khi chỉ còn 5 năm để thực hiện những mục tiêu vẫn đang dang dở, chặng đường phía trước đòi hỏi nhiều hành động hơn là những tuyên bố hay kỳ vọng, đó là quyết tâm thực thi chính sách từ phía cơ quan quản lý, là tinh thần dấn thân, chấp nhận rủi ro và đầu tư dài hạn của các doanh nghiệp trong nước, là sự chuyển mình thực chất trong đào tạo và nghiên cứu tại các trường đại học, viện nghiên cứu... 

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8 Xuân Bính Ngọ phát hành ngày 16/02 - 01/3/2026. Kính mời quý độc giả tìm đọc tại đây:

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-Ngô Huyền

Categories: The Latest News

"Bí kíp" để người lao động đứng vững trước áp lực của AI

Wed, 02/18/2026 - 19:39
Liên tục cập nhật kiến thức về chuyển đổi số và chuyển đổi xanh; tích lũy trải nghiệm qua từng bước nhỏ trong công việc; tăng cường và học hỏi liên tục các kỹ năng mềm được xem là những "bí kíp" để người lao động thích ứng với bối cảnh mới của thị trường lao động trong năm 2026 và tương lai…

Bước sang năm 2026, thị trường việc làm Việt Nam được dự báo sẽ tiếp tục biến động mạnh và phân hóa sâu theo ngành nghề, buộc người lao động phải chuyển đổi và thích ứng.

AI, tự động hóa và chuyển đổi số diễn ra với tốc độ chưa từng có, cùng với chuyển đổi xanh đang diễn ra mạnh mẽ, kỹ năng số và khả năng vận hành công nghệ sẽ trở thành chìa khóa để duy trì lợi thế cạnh tranh.

Bà Nguyễn Thu Trang, Giám đốc thương hiệu Manpower, Manpower Việt Nam (công ty cung ứng giải pháp nhân sự), cho rằng trong bối cảnh  thị trường việc làm hiện nay, để theo kịp yêu cầu của công việc cũng như tiếp cận được nhiều cơ hội phát triển nghề nghiệp, người lao động cần liên tục cập nhật kiến thức về chuyển đổi số và chuyển đổi xanh.

Theo bà Trang, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh không còn là những khái niệm giới hạn trong các ngành chuyên biệt như công nghệ hay năng lượng tái tạo, mà đang dần trở thành yêu cầu phổ quát trong hầu hết các lĩnh vực. Do vậy, người lao động cần chủ động cập nhật xu hướng mới, hiểu đúng và hiểu rộng hơn về cách các yếu tố xanh và số hóa được tích hợp vào công việc hằng ngày.

Tiếp theo, họ cũng cần tích lũy trải nghiệm trong chuyển đổi số và chuyển đổi xanh qua từng bước nhỏ trong công việc. “Thay vì chờ đợi các dự án quy mô lớn hay một sự chuyển dịch nghề nghiệp rõ rệt, người lao động hoàn toàn có thể bắt đầu quá trình thích ứng với chuyển đổi số và chuyển đổi xanh từ những bước đi nhỏ, nhưng mang tính thực hành cao trong công việc và đời sống hằng ngày”, bà Nguyễn Thu Trang nhấn mạnh.

Đơn cử, đó có thể là việc chủ động sử dụng thành thạo các ứng dụng và nền tảng số của cơ quan nhà nước và doanh nghiệp; thực hành tiết kiệm năng lượng tại nơi làm việc và trong gia đình; giảm thiểu lãng phí, đặc biệt là lãng phí thực phẩm; hoặc tham gia các hoạt động ESG nội bộ tại doanh nghiệp, như đóng góp ý kiến vào việc xây dựng các quy tắc ứng xử, chính sách minh bạch, công bằng trong đánh giá, lương thưởng và phát triển nghề nghiệp.

Chính những “trải nghiệm tích lũy” này giúp người lao động từng bước hình thành tư duy, thói quen và năng lực làm việc mới, từ đó nâng cao khả năng thích ứng, chủ động trước các thay đổi về mô hình vận hành, yêu cầu kỹ năng và chiến lược phát triển của doanh nghiệp cũng như thị trường lao động.

Cuối cùng, là tăng cường và học hỏi liên tục các kỹ năng mềm. Khi công nghệ ngày càng phát triển, kỹ năng mềm trở thành yếu tố giúp người lao động làm chủ công nghệ và hợp tác hiệu quả hơn trong môi trường làm việc hiện đại.

Bà Nguyễn Thu Trang, Giám đốc thương hiệu Manpower, Manpower Việt Nam.

Sau nhiều năm khảo sát với các doanh nghiệp thuộc nhiều lĩnh vực trên toàn cầu, ﷟báo cáo của ManpowerGroup đã chỉ ra Top 5 kỹ năng mềm quan trọng nhất mà người lao động cần có trong bối cảnh hiện nay, đó là: Kỹ năng hợp tác và làm việc nhóm; sáng tạo và đổi mới; khả năng lập luận và giải quyết vấn đề; khả năng học hỏi; khả năng thích ứng linh hoạt và phục hồi.

Bà Sinwon Park, Giám đốc Văn phòng Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) tại Việt Nam, chuyên gia có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực chính sách lao động và an sinh xã hội cũng khẳng định, phát triển kỹ năng là yếu tố then chốt để đạt được mục tiêu thúc đẩy việc làm bền vững và thỏa đáng. Theo bà, hệ thống giáo dục và đào tạo cần được hiện đại hóa để đáp ứng nền kinh tế số và kinh tế xanh, với sự chú trọng hơn vào STEM, kỹ năng số, năng lực xanh mới nổi...

Bà Sinwon Park, Giám đốc Văn phòng Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) tại Việt Nam. 

Việc thiết lập các khung pháp lý quốc gia để đánh giá, chứng nhận và công nhận kỹ năng - bao gồm cả chứng nhận năng lực số có thể hỗ trợ sự dịch chuyển lao động và cải thiện sự phù hợp về kỹ năng.

Cùng với đó, thúc đẩy học tập suốt đời, các lộ trình đào tạo linh hoạt và đầu tư cấp doanh nghiệp vào phát triển nguồn nhân lực sẽ rất cần thiết để đảm bảo người lao động có thể thích ứng với các yêu cầu công việc thay đổi trong suốt sự nghiệp của họ. Tăng cường khả năng ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh, cũng sẽ hỗ trợ hội nhập toàn cầu, đổi mới và tiếp cận việc làm chất lượng cao hơn.

Các chuyên gia tuyển dụng cũng nhấn mạnh rằng trong bối cảnh thị trường lao động hiện nay, người lao động nên đánh giá mức độ rủi ro của ngành nghề hiện tại, xác định sớm các kỹ năng còn thiếu và chủ động xây dựng lộ trình dịch chuyển nếu cần.

Lời khuyên quan trọng nhất dành cho người lao động trong năm 2026, đó là hãy chủ động học tập, nâng cấp kỹ năng số và kiên trì xây dựng lợi thế cạnh tranh dựa trên tốc độ thích ứng.

Đây là thời điểm để người lao động “tự thiết kế sự nghiệp của mình”, không chỉ bằng việc nắm bắt cơ hội nghề nghiệp mới, mà còn bằng cách đầu tư vào khả năng chuyển đổi, sẵn sàng dịch chuyển và củng cố năng lực thực tiễn.

Trong một thị trường đang được tái định hình bởi công nghệ, người biết thay đổi nhanh và học tập liên tục sẽ là người giữ được vị thế bền vững và có nhiều cơ hội bứt phá nhất.

-Thu Hằng

Categories: The Latest News

Sau giai đoạn dòng vốn đầu tư trầm lắng: Startup Việt Nam “kỷ luật” hơn

Wed, 02/18/2026 - 17:03
Trải qua những năm “chật vật” tìm vốn, hệ sinh thái khởi nghiệp Việt Nam được các quỹ đầu tư đánh giá ngày càng trưởng thành. Các doanh nghiệp “kỷ luật” hơn, thực tế hơn và tăng trưởng dựa trên những mô hình kinh doanh hiệu quả...

Dòng vốn đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam đã giảm sút đáng kể trong những năm gần đây, đặc biệt là từ đỉnh cao năm 2021. Báo cáo từ Quỹ VinVentures cho thấy số lượng thương vụ đầu tư mạo hiểm đã giảm mạnh, từ 75 thương vụ năm 2024 xuống còn khoảng 41 giao dịch trong năm 2025, với tổng vốn đầu tư đạt khoảng 215 triệu USD, thấp hơn 30% so với năm trước đó. Tuy nhiên, sự suy giảm này không chỉ là vấn đề của riêng Việt Nam mà là xu hướng chung của toàn khu vực.

Trong bối cảnh khó khăn này, các doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam đã trở nên "kỷ luật" hơn, tập trung vào các mô hình kinh doanh hiệu quả và bền vững. Sự thay đổi này được thúc đẩy bởi các chính sách hỗ trợ từ chính phủ, như Nghị quyết 68-NQ/TW và Nghị định số 264/2025/NĐ-CP, nhằm khẳng định vai trò của kinh tế tư nhân và thúc đẩy nghiên cứu, phát triển. Đặc biệt, việc thành lập các quỹ đầu tư mạo hiểm cấp quốc gia và địa phương đã tạo ra một "trục dẫn vốn" ổn định cho các startup, giúp giảm sự phụ thuộc vào nguồn vốn ngoại.

Sự phục hồi của thị trường đầu tư mạo hiểm đã bắt đầu xuất hiện vào cuối năm 2025, khi các nhà đầu tư dần quay trở lại thị trường. Tuy nhiên, đây không phải là sự trở lại của "thời kỳ vốn hoàng kim" mà là khởi đầu của một chu kỳ mới, thận trọng hơn và hướng tới tính bền vững dài hạn. Các chuyên gia nhận định rằng, với sự hỗ trợ từ chính sách và sự trưởng thành của hệ sinh thái khởi nghiệp, dòng vốn sẽ dần được khơi thông trở lại từ năm 2026.

Một trong những yếu tố quan trọng giúp khởi động lại thị trường đầu tư mạo hiểm là việc hình thành sàn giao dịch chứng khoán chuyên biệt cho khởi nghiệp sáng tạo. Điều này tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân và quỹ đầu tư giao dịch minh bạch hơn. Cùng với đó, các văn bản pháp lý quan trọng như Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo đang tạo nên một "đường băng thể chế" giúp khởi nghiệp sáng tạo phát triển theo chiều sâu và chuyên nghiệp hơn.

Trong bối cảnh này, các startup Việt Nam đang dần chuyển hướng từ thị trường nội địa sang thị trường toàn cầu, đặc biệt là trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo (AI). Các quỹ đầu tư không chỉ tìm kiếm những nhà sáng lập có khả năng xây dựng doanh nghiệp hàng đầu tại thị trường nội địa mà còn ưu tiên những người có tham vọng vươn ra toàn cầu. Điều này cho thấy sự thay đổi trong chiến lược của các nhà sáng lập Việt Nam, từ việc tập trung vào thị trường nội địa sang việc mở rộng ra thị trường quốc tế.

Tóm lại, hệ sinh thái khởi nghiệp Việt Nam đang đứng trước những cơ hội và thách thức mới. Sự hỗ trợ từ chính sách và sự trưởng thành của các doanh nghiệp khởi nghiệp đang tạo ra một môi trường thuận lợi cho sự phát triển bền vững. Tuy nhiên, để tận dụng được những cơ hội này, các startup cần phải linh hoạt và sẵn sàng thích nghi với những thay đổi của thị trường... 

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8 Xuân Bính Ngọ phát hành ngày 16/02 - 01/3/2026. Kính mời quý độc giả tìm đọc tại đây:

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-Ngô Huyền

Categories: The Latest News

Khu công nghiệp bước vào kỷ nguyên mới

Wed, 02/18/2026 - 13:00
Để khu công nghiệp bước vào kỷ nguyên mới, Việt Nam cần một chiến lược nhất quán từ việc hoàn thiện hạ tầng số đến đồng bộ hóa hệ thống pháp luật, hướng tới mục tiêu đưa Việt Nam vào nhóm các nước công nghiệp tiên tiến tại châu Á...

Trong bối cảnh tư duy kế hoạch hóa vẫn chi phối mạnh mẽ hoạt động quản lý kinh tế thời kỳ đó, ngay cả kế hoạch 5 năm 1991–1995 cũng chỉ dám đặt mục tiêu thu hút FDI ở mức 2 tỷ USD cho cả giai đoạn. Nếu đem con số này so với quy mô vốn FDI đăng ký được cấp phép năm 2025, ước đạt gần 39 tỷ USD, trong đó riêng đầu tư vào các khu công nghiệp đã vượt trên 30 tỷ USD, có thể thấy sự phát triển của hệ thống khu công nghiệp Việt Nam đã ghi nhận một bước tiến dài và mang tính đột phá.

Tính đến hết tháng 9/2025, cả nước đã thành lập 478 khu công nghiệp, trong đó có 421 khu công nghiệp nằm ngoài các khu kinh tế, 49 khu công nghiệp thuộc các khu kinh tế ven biển và 8 khu công nghiệp trong các khu kinh tế cửa khẩu. Toàn bộ các khu công nghiệp này đều đã có quyết định thành lập, có chủ đầu tư xây dựng hạ tầng và đang thu hút các nhà đầu tư thứ cấp triển khai dự án sản xuất, kinh doanh.

Riêng 421 khu công nghiệp nằm ngoài các khu kinh tế có tổng diện tích đất tự nhiên khoảng 145,97 nghìn ha, hình thành quỹ đất công nghiệp khoảng 101,6 nghìn ha. Trong tổng số các khu công nghiệp đã được thành lập, hiện có 324 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động với tổng diện tích đất tự nhiên khoảng 95,7 nghìn ha và diện tích đất công nghiệp khoảng 68 nghìn ha.

Bên cạnh đó, 153 khu công nghiệp đang trong giai đoạn xây dựng, với tổng diện tích đất tự nhiên khoảng 50,46 nghìn ha, dự kiến bổ sung thêm khoảng 32,6 nghìn ha đất công nghiệp cho nền kinh tế. Hệ thống khu công nghiệp Việt Nam hiện tập trung chủ yếu tại hai trung tâm công nghiệp lớn là vùng Đông Nam Bộ và vùng Đồng bằng sông Hồng.

Theo tổng kết của Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Tài chính, trong giai đoạn 30 năm hình thành và phát triển khu công nghiệp từ năm 1991 đến 2020, giai đoạn 2001-2010 là thời kỳ phát triển mạnh mẽ nhất, với 195 khu công nghiệp được thành lập, tổng diện tích đạt 59.470 ha, chiếm 52,8% về số lượng và 52,1% về diện tích khu công nghiệp của toàn bộ giai đoạn 1991-2020.

Trong giai đoạn 5 năm 2021-2025, đặc biệt là giai đoạn 2021-2024, vốn đầu tư xây dựng hạ tầng khu công nghiệp và vốn đầu tư của các dự án sản xuất trong khu công nghiệp chiếm khoảng 27,7% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Hoạt động của các khu công nghiệp tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong gia tăng kim ngạch xuất khẩu, mở rộng thị trường và chuyển dịch cơ cấu ngành hàng xuất khẩu, với giá trị xuất khẩu bình quân hằng năm chiếm khoảng 55% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Đồng thời, các khu công nghiệp đã thu hút và tạo việc làm trực tiếp cho khoảng 3,83 triệu lao động, tương đương khoảng 7% lực lượng lao động toàn quốc. Riêng trong năm 2025, theo dự báo, khoảng 30 tỷ USD vốn FDI đã được đầu tư vào các khu công nghiệp Việt Nam.

Trước yêu cầu chung của phát triển kinh tế - xã hội theo hướng xanh và bền vững, công tác bảo vệ môi trường tại các khu công nghiệp cũng được chú trọng đẩy mạnh. Đến nay, khoảng 92% khu công nghiệp đang hoạt động đã có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường, với tổng công suất tối đa trên 1,3 triệu m3 nước thải mỗi ngày đêm. Cùng với đó, một xu hướng đáng chú ý trong quá trình hình thành các khu công nghiệp mới là phát triển mô hình khu công nghiệp sinh thái, nhằm giảm thiểu tác động đến môi trường, nâng cao chất lượng sống cho người lao động và thúc đẩy phát triển xanh, bền vững.

Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng của nền kinh tế Việt Nam, mô hình khu công nghiệp cũng đang từng bước chuyển đổi, từ chỗ chủ yếu cung cấp hạ tầng sang trở thành trung tâm kết nối chuỗi giá trị, nơi hội tụ dòng vốn FDI, công nghệ và sự chia sẻ thị trường giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Đây được xem là hướng phát triển mới, phù hợp với yêu cầu nâng cao giá trị gia tăng, mở rộng thị trường và gia tăng năng lực cạnh tranh của hệ thống khu công nghiệp Việt Nam trong giai đoạn tới.

Trong quá trình phát triển vừa qua, hệ thống các khu công nghiệp Việt Nam đã từng bước vượt qua nhiều khó khăn, trở ngại và đạt được những kết quả quan trọng. Tuy nhiên, trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội của đất nước giai đoạn tới, hệ thống khu công nghiệp vẫn phải đối mặt với không ít thách thức.

Trước hết là sự mất cân đối giữa cung và cầu đất công nghiệp giữa các vùng, khi một số khu vực có nhu cầu rất cao nhưng khả năng mở rộng hạ tầng còn hạn chế, khiến hệ thống khu công nghiệp chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển.

Bên cạnh đó, tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao và lao động kỹ thuật, đặc biệt trong các ngành công nghệ cao, tiếp tục là điểm nghẽn lớn.

Cùng với đó, cạnh tranh khu vực trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ngày càng gay gắt, đòi hỏi môi trường đầu tư của Việt Nam phải có tính cạnh tranh cao hơn.

Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về sự đồng bộ của hệ thống pháp luật, chính sách liên quan đến doanh nghiệp và hoạt động đầu tư, kinh doanh; thủ tục hành chính cần rõ ràng, minh bạch hơn; thời gian xử lý các vướng mắc cho doanh nghiệp phải được rút ngắn; tinh thần phục vụ doanh nghiệp và nhà đầu tư của đội ngũ cán bộ, công chức thực thi công vụ cần tiếp tục được nâng cao và được giám sát chặt chẽ về thời gian cũng như chất lượng xử lý công việc theo đúng các quy định đã đặt ra của các bộ, ngành và địa phương.

Nếu những tồn tại này được khắc phục kịp thời và hiệu quả, năng lực cạnh tranh của môi trường đầu tư Việt Nam sẽ được nâng cao rõ rệt, qua đó củng cố vị thế của Việt Nam như một điểm đến đầu tư hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Khi thu hút được dòng vốn đầu tư chất lượng cao, các mục tiêu phát triển hệ thống khu công nghiệp Việt Nam trong giai đoạn tới sẽ có cơ sở vững chắc để hiện thực hóa.

Theo đó, hệ thống khu công nghiệp sẽ tiếp tục được mở rộng theo đúng quy hoạch phát triển chung trên phạm vi cả nước, với định hướng đến năm 2030 quy hoạch phát triển mới 221 khu công nghiệp, mở rộng 76 khu công nghiệp và điều chỉnh quy hoạch 22 khu công nghiệp.

Song song với mở rộng quy mô, các khu công nghiệp cần được định hướng tăng trưởng theo chuỗi giá trị, không chỉ là không gian sản xuất đơn thuần mà từng bước trở thành cầu nối về công nghệ, thị trường và tổ chức liên kết giữa khu vực đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp trong nước, bao gồm cả các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, qua đó giúp doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Cùng với đó là yêu cầu phát triển hạ tầng kỹ thuật hiện đại gắn với số hóa, logistics thông minh, tích hợp năng lượng tái tạo và thúc đẩy chuyển đổi số nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho cả khu công nghiệp và doanh nghiệp hoạt động trong khu công nghiệp.

Phát triển bền vững tiếp tục là định hướng xuyên suốt, theo đó, hệ thống khu công nghiệp Việt Nam cần chuyển đổi nhanh nhưng có lộ trình phù hợp, từng bước nâng cấp các khu công nghiệp phổ thông được xây dựng trong các thập kỷ trước sang các mô hình khu công nghiệp sinh thái, giảm thiểu ô nhiễm môi trường và đáp ứng các tiêu chuẩn ESG (môi trường, xã hội và quản trị), phù hợp với định hướng phát triển của quốc gia và xu thế chung của thế giới.

Về tầm nhìn dài hạn đến năm 2045, việc điều chỉnh và phát triển mới hệ thống khu công nghiệp Việt Nam cần gắn với mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 17/11/2022, hướng tới mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia công nghiệp phát triển, có thu nhập cao và thuộc nhóm các nước công nghiệp tiên tiến ở châu Á.

Trong đó, hệ thống khu công nghiệp được xác định là một trụ cột quan trọng của phát triển kinh tế, là địa bàn thu hút đầu tư, gia tăng giá trị xuất khẩu và cải thiện năng lực nội địa, đồng thời là nền tảng cho quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp theo hướng ưu tiên các ngành công nghệ cao, sản xuất sạch, tích hợp phát triển công nghiệp hỗ trợ và logistics hiện đại.

Trên cơ sở đó, hệ thống khu công nghiệp Việt Nam cần tiếp tục được đầu tư và hoàn thiện toàn diện để nâng tầm cạnh tranh quốc tế, trở thành điểm đến hấp dẫn của dòng vốn FDI chất lượng cao và có khả năng tham gia sâu vào chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu.

Để hiện thực hóa các mục tiêu phát triển đối với hệ thống khu công nghiệp Việt Nam trong giai đoạn đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045, các giải pháp mang tính chiến lược cần được tập trung triển khai quyết liệt ngay trong 1- 2 năm tới.

Trước hết, việc hoàn thiện chính sách và thể chế cần được đặt lên hàng đầu thông qua rà soát, sửa đổi các cơ chế thu hút đầu tư, chính sách ưu đãi về thuế và đất đai theo hướng minh bạch, ổn định và có sức cạnh tranh cao hơn so với các quốc gia trong khu vực.

Song song với đó là yêu cầu phát triển hạ tầng khu công nghiệp theo hướng thông minh và bền vững, trong đó chú trọng đầu tư hạ tầng số hóa như Internet vạn vật, tự động hóa, logistics thông minh, đồng thời đẩy mạnh phát triển các mô hình khu công nghiệp sinh thái nhằm tối ưu hóa sử dụng tài nguyên và giảm thiểu tác động đến môi trường.

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cũng là một giải pháp then chốt, đòi hỏi phải triển khai hiệu quả các chính sách đào tạo, tăng cường liên kết giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp với doanh nghiệp trong khu công nghiệp, đồng thời thu hút lao động chất lượng cao thông qua việc cải thiện điều kiện sống và làm việc cho người lao động.

Bên cạnh đó, thúc đẩy liên kết chuỗi cung ứng cần được xem là trọng tâm nhằm nâng cao giá trị gia tăng nội địa, thông qua phát triển mạnh công nghiệp hỗ trợ, gia tăng tỷ lệ nội địa hóa linh kiện, phụ tùng và xây dựng mạng lưới liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp trong nước.

Cùng với các giải pháp trên, việc thu hút đầu tư chiến lược cần được đẩy mạnh thông qua tăng cường ngoại giao kinh tế, quảng bá hình ảnh khu công nghiệp Việt Nam như một điểm đến đầu tư hấp dẫn, đồng thời ưu tiên thu hút các dự án công nghệ mũi nhọn, thân thiện với môi trường và có đóng góp lớn cho kim ngạch xuất khẩu.

Có thể khẳng định, hệ thống khu công nghiệp Việt Nam giữ vai trò nền tảng trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Kỳ vọng trong giai đoạn đến năm 2030, hệ thống khu công nghiệp sẽ tiếp tục được mở rộng về quy mô, đồng thời nâng cao chất lượng phát triển, gắn kết sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Với tầm nhìn đến năm 2045, mục tiêu đặt ra là đưa Việt Nam trở thành quốc gia công nghiệp phát triển, có nền kinh tế bền vững, năng động và năng lực cạnh tranh cao trong khu vực châu Á. Để đạt được mục tiêu đó, chính sách nhất quán, hạ tầng hiện đại và môi trường đầu tư hấp dẫn sẽ là những yếu tố then chốt quyết định sự thành công của chiến lược phát triển hệ thống khu công nghiệp Việt Nam trong giai đoạn mới.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8/2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-

Categories: The Latest News

Chủ tịch UBND Hà Nội: Đột phá thể chế, tái cấu trúc không gian, tạo nền cho tăng trưởng hai con số.

Wed, 02/18/2026 - 11:17
Trao đổi với báo chí dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, ông Vũ Đại Thắng, Chủ tịch UBND Hà Nội nhấn mạnh quyết tâm đột phá thể chế, tái cấu trúc không gian phát triển, tháo gỡ các điểm nghẽn lớn, tạo nền tảng để Thủ đô bước vào giai đoạn tăng trưởng hai con số theo định hướng nhanh và bền vững.

Theo Chủ tịch UBND thành phố, năm 2025 mang ý nghĩa đặc biệt khi vừa là năm về đích của nhiệm kỳ 2021-2025, vừa là năm tổ chức Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ XVIII, mở ra chặng phát triển 2026-2030.

Ngay sau Đại hội, Hà Nội đã triển khai Nghị quyết với tinh thần “đã nói là làm, làm ngay, làm đúng, làm đến cùng”, nhanh chóng cụ thể hóa nhiều nội dung và đưa vào cuộc sống chỉ trong ba tháng cuối năm.

TỪ “TẠO ĐÀ, TẠO THẾ” ĐẾN NỀN TẢNG VỮNG VÀNG CHO NHIỆM KỲ MỚI

Những kết quả nổi bật thể hiện rõ sự chuyển biến về tư duy lãnh đạo và năng lực hành động của chính quyền thành phố. Nhiều tồn đọng kéo dài được tháo gỡ, đặc biệt trong giải phóng mặt bằng và triển khai các dự án hạ tầng quy mô lớn như: Vành đai 1, Vành đai 2,5.

Kết quả này đến từ việc điều chỉnh kịp thời phương thức lãnh đạo, quán triệt nguyên tắc tập trung dân chủ; phân định rõ vai trò Đảng lãnh đạo, HĐND quyết nghị, UBND tổ chức thực hiện, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội tham gia giám sát, vận động.

Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Vũ Đại Thắng. Ảnh: hanoimoi.vn

Bốn trục công tác được điều phối nhịp nhàng, phân công rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm và rõ mục tiêu. Tinh thần chủ động của các cấp, ngành, địa phương, đặc biệt là 126 xã, phường theo mô hình chính quyền hai cấp, được phát huy mạnh mẽ. Cùng với đó, Ban Chấp hành Đảng bộ, Ban Thường vụ và Thường trực Thành ủy đã tạo luồng sinh khí mới, lan tỏa tinh thần đổi mới, quyết liệt trong toàn hệ thống.

Quan trọng hơn cả là niềm tin của nhân dân Thủ đô đối với các quyết sách và sự điều hành của thành phố tiếp tục được củng cố. Đây được xem là nền tảng để Hà Nội bước vào năm 2026 và nhiệm kỳ mới với tâm thế vững vàng, cùng cả nước thực hiện các mục tiêu của giai đoạn phát triển tiếp theo.

Bước sang năm 2026 – năm đầu triển khai Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ XVIII và Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV – Hà Nội đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP từ 11% trở lên. Theo Chủ tịch UBND thành phố, đây không chỉ là yêu cầu tăng tốc mà còn là bước xác lập mô hình tăng trưởng mới, chuyển mạnh từ dựa vào vốn, lao động và đất đai sang dựa trên năng suất, sáng tạo và phát triển bền vững.

ĐỘT PHÁ THỂ CHẾ, MỞ ĐƯỜNG CHO TĂNG TRƯỞNG HAI CON SỐ

Động lực tăng trưởng mới của Thủ đô được xây dựng trên sáu trụ cột chiến lược. Trong đó, khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là khâu đột phá then chốt, hướng tới tỷ lệ đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) đạt 57-60% và kinh tế số chiếm khoảng 50% GRDP vào năm 2030.

Cùng với đó là phát huy giá trị văn hóa – di sản, kinh tế ven sông và phát triển công nghiệp văn hóa; tổ chức không gian đô thị đa cực theo mô hình TOD để giải quyết các điểm nghẽn về giao thông, ngập úng và ô nhiễm.

Khu vực phố Đinh Tiên Hoàng trong không gian hồ Hoàn Kiếm. Ảnh: TTXVN

Thành phố cũng tập trung cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, với định hướng thành lập khu thương mại tự do, trung tâm tài chính có cơ chế ưu đãi vượt trội; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, lấy Khu công nghệ cao Hòa Lạc làm trung tâm đào tạo và nghiên cứu AI, bán dẫn theo chuẩn quốc tế; đồng thời nâng cao năng lực quản trị và thực thi với nguyên tắc rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm và rõ sản phẩm.

Để bảo đảm tăng trưởng nhanh nhưng vẫn giữ vững ổn định và chất lượng, Hà Nội xác định ba nhóm giải pháp cốt lõi. Đó là:

Thứ nhất là đột phá thể chế, khai thác tối đa các cơ chế đặc thù, phát hành trái phiếu Thủ đô và hình thành quỹ đầu tư hạ tầng.

Thứ hai là huy động mạnh mẽ nguồn lực xã hội, với tổng nhu cầu vốn giai đoạn 2026-2030 khoảng 248 tỷ USD, chủ yếu từ khu vực ngoài ngân sách và các dự án hạ tầng lớn có hệ số lan tỏa cao.

Thứ ba là tăng cường kỷ luật, kỷ cương thực thi thông qua xây dựng kịch bản tăng trưởng chi tiết theo quý, ngành và địa bàn; đánh giá kết quả bằng sản phẩm cụ thể gắn với trách nhiệm cá nhân.

Song song với mục tiêu tăng trưởng, thành phố nhấn mạnh yêu cầu kiểm soát lạm phát, bảo đảm cân đối ngân sách, bảo vệ môi trường và an sinh xã hội. Theo Chủ tịch UBND thành phố, đây là những điều kiện tiên quyết để Hà Nội hiện thực hóa khát vọng tăng trưởng hai con số một cách bền vững.

Cùng với tăng trưởng kinh tế, Hà Nội thẳng thắn nhìn nhận ô nhiễm môi trường là một trong những điểm nghẽn lớn. Áp lực phát thải gia tăng trong quá trình đô thị hóa nhanh, quy mô dân số lớn và cường độ hoạt động kinh tế cao đã đặt ra yêu cầu phải có cách tiếp cận căn cơ, đồng bộ và dài hạn.

Theo đó, thành phố không chỉ tập trung xử lý các vấn đề trước mắt mà hướng tới xây dựng mô hình phát triển đô thị bền vững, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường.

Hà Nội đang hoàn thiện Quy hoạch Thủ đô với tầm nhìn 100 năm và đề xuất sửa đổi Luật Thủ đô nhằm tạo lập đầy đủ cơ chế, công cụ đặc thù cho quản lý phát triển theo hướng xanh, tuần hoàn và phát thải thấp.

TÁI CẤU TRÚC KHÔNG GIAN, BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SỐNG

Trong năm 2026, nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu là kiểm soát chặt chẽ các nguồn phát thải, đặc biệt là ô nhiễm không khí – vấn đề tác động trực tiếp đến sức khỏe và đời sống người dân.

Thành phố sẽ đẩy nhanh tiến độ làm sạch các dòng sông, hồ nội đô; đầu tư và nâng cao hiệu quả vận hành các nhà máy xử lý nước thải, nhà máy đốt rác phát điện; đồng thời ứng dụng khoa học – công nghệ, chuyển đổi số và hệ thống quan trắc thông minh để nâng cao năng lực quản trị môi trường theo thời gian thực.

Cùng với giải pháp kỹ thuật, Hà Nội chú trọng công tác tuyên truyền, vận động để người dân và doanh nghiệp cùng tham gia bảo vệ môi trường; tăng cường kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm các vi phạm.

Thành phố cũng đẩy mạnh phối hợp với các địa phương trong Vùng Thủ đô để giải quyết các vấn đề môi trường mang tính liên vùng, hướng tới hình thành khu vực phát thải thấp, phát triển hài hòa giữa đô thị và nông thôn.

Trong tái cấu trúc không gian đô thị, Hà Nội triển khai mô hình đa cực, đa trung tâm với chín cực phát triển, chín trung tâm lớn và chín trục động lực. Hạ tầng giao thông, đặc biệt là hệ thống đường sắt đô thị, được xác định là xương sống kết nối các cực tăng trưởng.

Theo quy hoạch, thành phố sẽ đầu tư 15 tuyến metro với tổng chiều dài khoảng 616,9km; giai đoạn đến năm 2035 phấn đấu hoàn thành hơn 410km, kết nối lõi nội đô với các khu vực phía Bắc, phía Tây và phía Nam.

Đi liền với đó là mô hình phát triển đô thị định hướng giao thông công cộng (TOD), cho phép hình thành các đô thị nén, hiện đại xung quanh nhà ga, tối ưu hóa giá trị đất đai để tái đầu tư hạ tầng.

Thành phố cũng thúc đẩy quản trị thông minh thông qua Trung tâm Điều hành đô thị thông minh (IOC), đồng thời triển khai lộ trình di dời trụ sở bộ ngành, đại học, bệnh viện ra khỏi nội đô lịch sử để dành quỹ đất cho không gian xanh và hạ tầng xã hội.

Một đột phá chiến lược khác là quy hoạch trục cảnh quan sông Hồng. Thành phố chuyển từ tư duy “đô thị quay lưng vào sông” sang “đô thị hướng sông”, coi sông Hồng là trục cảnh quan trung tâm và cực phát triển mới.

Quy hoạch được triển khai trên nguyên tắc bảo đảm an toàn thoát lũ, bảo tồn giá trị văn hóa – lịch sử, khai thác hiệu quả quỹ đất và phát triển hạ tầng kết nối đa phương thức. Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng cùng hệ thống cầu và tuyến đường sắt đô thị dọc hai bờ được kỳ vọng sẽ tạo động lực tăng trưởng mới, đồng thời nâng cao chất lượng không gian sống của người dân.

Xuyên suốt các định hướng phát triển, Chủ tịch UBND thành phố nhấn mạnh quan điểm phát triển nhanh nhưng không đánh đổi môi trường; coi chất lượng môi trường sống, sức khỏe và sự hài lòng của người dân là thước đo trung tâm trong điều hành.

Với quyết tâm chính trị cao và tinh thần hành động quyết liệt, Hà Nội đặt mục tiêu biến các quy hoạch và chiến lược dài hạn thành những chuyển biến cụ thể, hiện hữu trên từng công trình, từng tuyến phố, hướng tới một Thủ đô văn hiến, văn minh, hiện đại và hạnh phúc trong kỷ nguyên mới.

-Lý Hà

Categories: The Latest News

Đẩy mạnh đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới

Wed, 02/18/2026 - 11:01
VnEconomy trân trọng giới thiệu bài viết của đồng chí Tô Lâm, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, với tiêu đề: "Đẩy mạnh đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới".

Nhìn lại lịch sử cách mạng Việt Nam, vận hội của đất nước luôn gắn liền với những biến chuyển của thời đại. Ngay sau khi giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói “sau vấn đề phòng thủ, ngoại giao là một vấn đề cần yếu cho một nước độc lập”, khẳng định mạnh mẽ vai trò và trách nhiệm của đối ngoại đối với quốc gia, dân tộc.

Đại hội XIV của Đảng là mốc son lịch sử, mở ra cánh cửa bước vào kỷ nguyên mới của dân tộc. Dưới ánh sáng của Đại hội XIV, đối ngoại- một nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên- sẽ được triển khai toàn diện ở tầm cao mới, nhịp đập của Việt Nam hòa cùng nhịp đập của thế giới, thở cùng hơi thở của thời đại, kiến tạo hòa bình, bồi đắp thịnh vượng và xây dựng vị thế cao hơn, vững chắc hơn cho đất nước, cho dân tộc.

VIỆT NAM TRƯỚC NGƯỠNG CỬA CỦA THỜI ĐẠI

Thế giới đang đang chứng kiến những chuyển dịch nhanh, cường độ mạnh, tác động sâu rộng, mang tính thời đại. Các xu hướng vận động đan xen, trái chiều nhau, vừa gắn kết, phụ thuộc lẫn nhau sâu hơn nhưng cũng vừa chia rẽ, cạnh tranh mạnh hơn. Nhân loại bước vào một giai đoạn tiềm ẩn những rủi ro nhưng cũng mở ra nhiều cơ hội phát triển mới. Không một quốc gia nào, dù lớn hay nhỏ, dù phát triển hay đang phát triển, có thể đứng ngoài sự vận động của thời cuộc.

Một mặt, hệ thống quan hệ quốc tế đa phương và luật pháp quốc tế bị xói mòn, tranh chấp chủ quyền, xung đột lãnh thổ gia tăng. Cạnh tranh chính trị, kinh tế đi đôi với giành quyền kiểm soát công nghệ, năng lượng và hạ tầng chiến lược. Các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống ngày càng gay gắt cả về quy mô lẫn tính chất. Mặt khác, những xu thế, trào lưu đương đại về hòa bình, hợp tác và phát triển, tăng trưởng bền vững, bao trùm và toàn cầu hóa vẫn tiếp diễn. Cộng đồng quốc tế đa số đều mong muốn kiến tạo một trật tự thế giới dân chủ, công bằng, bình đẳng, dựa trên luật pháp quốc tế. Cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang mở ra không gian phát triển vô tận dựa trên tri thức và tiềm năng con người.

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đánh dấu kỷ nguyên mới của Dân tộc Việt Nam sau 96 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, 80 năm giành được độc lập và 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới. Tiếp sau kỷ nguyên độc lập, tự do, xây dựng chủ nghĩa xã hội và kỷ nguyên đổi mới, đất nước bắt đầu bước vào kỷ nguyên phát triển phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, sánh vai với các cường quốc năm châu.

Giai đoạn thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng (2026-2031) là giai đoạn bản lề, có tính quyết định việc bứt phá trở thành nước phát triển, thu nhập cao, trình độ tiên tiến. Hoặc sẽ lặp lại bài học mắc kẹt trong bẫy thu nhập trung bình khi nhiều điểm nghẽn có tính cấu trúc trong mô hình phát triển và quản trị quốc gia dần bộc lộ. Lịch sử cho thấy trong thời kỳ quá độ giữa cái cũ và cái mới, nếu không kịp thời bắt nhịp với thế giới và xu thế của thời đại, nguy cơ tụt hậu sẽ hiện hữu hơn bao giờ hết.

ĐẨY MẠNH ĐỐI NGOẠI TOÀN DIỆN Ở TẦM CAO MỚI

“Hội tụ” yêu cầu của thời đại và đòi hỏi của đất nước, việc hiện thực hóa hai mục tiêu chiến lược 100 năm là cam kết chính trị - lịch sử của Đảng trước nhân dân và cộng đồng quốc tế. Lịch sử nhân loại đã chứng minh: quốc gia nào có sự chủ động chiến lược, nắm bắt sức mạnh thời đại để gia tăng nội lực thì sẽ thành công. Trong chiều dài của lịch sử nhân loại, thực tiễn thế giới cho thấy quy luật nhất quán: không một quốc gia phát triển hùng mạnh nào mà không xây dựng một nền đối ngoại mạnh. Trong thế giới ngày nay, an ninh và phát triển của mỗi quốc gia không thể biệt lập, đứng bên ngoài những tác động của thế giới và thời đại, của thời cuộc và cục diện.

Đứng trước những thời khắc lịch sử, đất nước cần có những quyết sách lịch sử. Kỷ nguyên mới đòi hỏi phải triển khai “đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới”: Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia dân tộc; lấy hòa bình, độc lập, tự chủ, tự cường là nền tảng; đặt người dân là trung tâm của mọi chính sách; coi đóng góp cho cộng đồng quốc tế là trách nhiệm. Ở tầm cao mới, đối ngoại sẽ được triển khai một cách tự tin, tự chủ, tự lực, tự cường hơn; đóng góp hiệu quả hơn vào những mục tiêu chiến lược của đất nước; thể hiện trách nhiệm lớn hơn đối với hòa bình và phát triển của thế giới.

Đó là nền đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới về mục tiêu. Mọi hoạt động đối ngoại đều hướng đến mục tiêu bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc, vì Đảng vững mạnh, vì nước Việt Nam giàu mạnh, vì ấm no, hạnh phúc của nhân dân; hội nhập sâu rộng và có vị trí, vai trò quan trọng trong nền chính trị thế giới, nền kinh tế toàn cầu và nền văn minh nhân loại, đóng góp vào hòa bình, ổn định, công bằng, tiến bộ xã hội và sự phát triển phồn vinh của các dân tộc trong khu vực và trên thế giới.

Đó là nền đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới về lĩnh vực. Đối ngoại không phải là lĩnh vực riêng rẽ mà gắn kết chặt chẽ giữa đối ngoại với quốc phòng, an ninh, kinh tế, khoa học, công nghệ và văn hóa, xã hội, tạo sức mạnh tổng hợp phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đường lối đối ngoại toàn diện đặt phát triển kinh tế – xã hội làm trọng tâm, coi ngoại giao phục vụ phát triển và hội nhập quốc tế là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên.

Đó là nền đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới về chủ thể. Đối ngoại toàn diện là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, phát huy vai trò của cả ba kênh đối ngoại: đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại Nhân dân, đồng thời huy động sự tham gia của đối ngoại Quốc hội, các bộ, ban, ngành và địa phương; giữa đối ngoại với quốc phòng, an ninh và giữa ngoại giao chính trị với ngoại giao kinh tế, văn hóa, khoa học, công nghệ….

TRIỂN KHAI NHIỆM VỤ "TRỌNG YẾU, THƯỜNG XUYÊN" CỦA ĐỐI NGOẠI

Đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới là sự kết hợp giữa kế thừa và phát triển. Đối ngoại tiếp tục kiên định: đường lối độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Đồng thời nền đối ngoại Việt Nam tiếp tục phát triển, tiếp thu những tinh hoa, tri thức và phương pháp của ngoại giao hiện đại, thấm nhuần tinh thần “dĩ bất biến ứng vạn biến”. Con đường hòa bình, độc lập, tự chủ, tự cường không chỉ để xây dựng một đất nước giàu mạnh cho nhân dân mình mà còn để đóng góp có trách nhiệm cho hòa bình, ổn định của khu vực và trật tự thế giới dựa trên luật pháp. Đó là kim chỉ nam, là nền tảng đạo lý và là nguyên tắc cơ bản để chúng ta xây dựng các mối quan hệ đối ngoại bền vững.

Đồng thời đối ngoại toàn diện phát triển lên một tầm cao mới, trong đó đối ngoại và hội nhập quốc tế phải là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên”. Đây là bước phát triển quan trọng về tư duy, theo đó đối ngoại, hội nhập quốc tế là một trong những nhiệm vụ chủ yếu, có tầm quan trọng hàng đầu; đồng thời phải được tiến hành thường xuyên, yêu cầu tính chủ động, nhạy bén, kịp thời và hiệu quả cao. Tư tưởng đó đặt đối ngoại ở một vị trí trung tâm, với trách nhiệm và vai trò cao hơn đối với an ninh và phát triển của đất nước: Giữ vững hòa bình để ổn định, ổn định để phát triển, phát triển để nâng cao sức mạnh tổng thể của đất nước. Theo đó đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới sẽ triển khai những nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên theo các hướng sau:

Thứ nhất, đối ngoại phát huy vai trò tiên phong, thực hiện nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên trong việc tạo lập cục diện quốc tế thuận lợi cho đất nước. Thế giới càng biến động, việc củng cố hòa bình, ổn định cho đất nước càng có vai trò trọng yếu, then chốt. Đối ngoại phải có sự “chủ động chiến lược” trong mọi tình huống, giữ cho “trong ấm, ngoài êm”: giữ ổn định, phát triển ở bên trong, giữ hòa bình, hợp tác với bên ngoài. Cùng với quốc phòng, an ninh, đối ngoại kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và nền văn hóa; giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình để xây dựng, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đồng thời thúc đẩy giải quyết các khác biệt bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc.

Thứ hai, đối ngoại là động lực tạo dựng các điều kiện thuận lợi, tranh thủ nguồn lực bên ngoài và mở ra không gian phát triển mới cho đất nước. Thế giới được định hình bởi các xu hướng mới, những quốc gia thành công là những nước chủ động nắm bắt, đi trước, đặt mình vào dòng chảy thời đại. Nhiệm vụ của đối ngoại là nhận diện, tranh thủ cơ hội từ những xu hướng đang định hình kinh tế thế giới hiện nay như đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, lượng tử, tự động hóa...; chuyển hóa được quan hệ tốt đẹp về chính trị thành những kết quả cụ thể về kinh tế, có thể đo đếm và lan tỏa trực tiếp đến người dân thông qua các thỏa thuận kinh tế, hiệp định thương mại và đầu tư, hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam vươn ra thế giới, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng khu vực, toàn cầu.

Thứ ba, đối ngoại thể hiện tinh thần trách nhiệm cao đối với cộng đồng quốc tế, đóng góp vào xây dựng và bảo vệ trật tự quốc tế công bằng, bình đẳng dựa trên luật pháp quốc tế. Trong một thế giới toàn cầu hóa, lợi ích của quốc gia – dân tộc, của công dân, doanh nghiệp Việt Nam không chỉ nằm trong đường biên giới lãnh thổ. Bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc Việt Nam gắn liền với việc bảo vệ trật tự thế giới công bằng, bình đẳng, dựa trên luật pháp quốc tế. Thế và lực mới cho phép chúng ta đóng góp tích cực, trách nhiệm đối với các vấn đề chung của thế giới. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói “Mình đã hưởng cái hay của người thì phải có cái hay cho người ta hưởng”, Việt Nam sẽ tiếp tục các cam kết của mình về phát triển bền vững, an ninh lương thực, biến đổi khí hậu, giảm phát thải ròng; đồng thời tham gia sâu hơn vào các hoạt động gìn giữ hòa bình, cứu hộ cứu nạn, viện trợ nhân đạo, trung gian, hòa giải và phát huy vai trò nòng cốt, dẫn dắt trong những vấn đề và cơ chế quan trọng, phù hợp.

Thứ tư, phát huy “sức mạnh mềm” của dân tộc tương xứng với tầm vóc lịch sử và văn hóa, vị thế chính trị và kinh tế của đất nước. Vị thế, uy tín đất nước không chỉ nằm ở sức mạnh vật chất mà còn là “sức mạnh mềm”. Đó là lịch sử hào hùng, nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới, là đường lối đối ngoại hòa bình, hòa hiếu, xử lý các vấn đề quốc tế hài hòa, có lý, có tình, tôn trọng luật pháp quốc tế, là sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân thế giới. Ở tầm cao mới, đối ngoại đối ngoại phải góp phần gia tăng vị thế, ảnh hưởng của đất nước trong nền chính trị thế giới, kinh tế toàn cầu và văn minh nhân loại.

Thứ năm, xây dựng nền đối ngoại và ngoại giao toàn diện, hiện đại, chuyên nghiệp. Kỷ nguyên mới đòi hỏi xây dựng nền đối ngoại ngang tầm khu vực và vươn tầm quốc tế. Các cán bộ đối ngoại, ngoại giao phải dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới sáng tạo, dám tiên phong, đột phá vì lợi ích quốc gia – dân tộc; nhạy bén về thời thế, sâu sắc về chiến lược, có kỷ luật, kỷ cương và có kỹ năng, trình độ ngang tầm quốc tế. Đối ngoại toàn diện không chỉ là nhiệm vụ của một bộ, một ngành mà là sự nghiệp của toàn dân, của cả hệ thống chính trị để tạo sức mạnh tổng hợp.

Trước những biến động của thời cuộc, đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới phải lấy bản lĩnh, trí tuệ là la bàn định hướng; tin cậy, trách nhiệm là cầu nối hợp tác; hòa hiếu, luật pháp là nơi neo đậu giá trị. Chúng ta tin tưởng rằng đối ngoại Việt Nam sẽ tiếp tục tạo lập và gìn giữ hòa bình, ổn định, mở rộng không gian phát triển và nâng tầm vị thế đất nước, góp phần hoàn thành di nguyện thiêng liêng của Bác Hồ: "Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới".

-

Categories: The Latest News

2025: Năm “tỏa sáng” của kim loại quý

Wed, 02/18/2026 - 10:44
Một “cơn bão hoàn hảo” các yếu tố hỗ trợ đã đưa giá các kim loại quý như vàng, bạc và bạch kim tăng dữ dội trong năm 2025, với những kỷ lục mới liên tục được thiết lập và mức tăng cả năm lớn nhất trong nhiều thập kỷ trở lại đây...

Sau ba năm tăng không nghỉ, thị trường quý kim được nhận định sẽ tiếp tục đi lên trong năm 2026, song tốc độ tăng có thể sẽ không còn mạnh mẽ như trong năm qua.

Giá vàng khởi động năm 2025 ở mức trên 2.600 USD/oz và kết thúc năm ở mức hơn 4.300 USD/oz, tăng hơn 1.700 USD/oz, tương đương mức tăng hơn 65%. Đỉnh cao mọi thời đại của giá vàng đã được ghi nhận vào tháng 12/2025, ở mức 4.550 USD/oz.

Giá bạc vào thời điểm đầu năm còn ở mức dưới 30 USD/oz, khi chốt năm đã đạt xấp xỉ 72 USD/oz, tăng hơn 140%. Kỷ lục cuối cùng của giá bạc trong năm 2025 là mức 84 USD/oz thiết lập vào cuối tháng 12.

Giá bạch kim bước sang năm 2025 ở dưới ngưỡng 900 USD/oz, khi kết thúc năm đạt gần mức 2.080 USD/oz. Mức giá tăng cả năm 2025 của bạch kim là 131% và kỷ lục giá của kim loại này là gần 2.480 USD/oz, cũng xuất hiện trong những ngày cuối năm.

Đối với vàng và bạc, 2025 là năm tăng giá mạnh nhất kể từ năm 1979, còn đối với bạch kim, đây là năm tăng giá mạnh chưa từng có trong lịch sử.

ĐỘNG LỰC TĂNG GIÁ CỦA KIM LOẠI QUÝ

Vàng, bạc và bạch kim đều có chung một số động lực tăng giá trong năm 2025, gồm nhu cầu phòng ngừa rủi ro do biến động chính sách của Mỹ, nợ nần và căng thẳng địa chính trị trên toàn cầu; môi trường chính sách tiền tệ nới lỏng thêm và xu hướng mất giá của đồng USD.

Ngay sau khi nhậm chức nhiệm kỳ thứ hai, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã công bố một loạt thay đổi chính sách quan trọng nhằm phục vụ cho chiến lược “Nước Mỹ trên hết”. Trong đó, gây chấn động nhất là chương trình thuế quan đối ứng, áp thuế quan ở mức cao lên tất cả các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Thị trường tài chính toàn cầu đã chao đảo sau mỗi động thái thuế quan của ông chủ Nhà Trắng. Trong bối cảnh đó, kim loại quý - vốn là những “hầm trú ẩn” truyền thống - trở thành kênh đầu tư hút vốn mạnh.

Chỉ trong vòng khoảng ba tuần kể từ thời điểm “Ngày Giải phóng” khi ông Trump công bố thuế quan đối ứng, giá vàng đã leo thang khoảng 300 USD/oz, tương đương mức tăng gần 9,6%.

Căng thẳng địa chính trị gia tăng tại các điểm nóng trên toàn cầu cũng thúc đẩy giới đầu tư toàn cầu bổ sung kim loại quý vào danh mục. Trong số đó có cuộc chiến tranh 12 ngày giữa Israel và Iran hồi tháng 6/2025, cuộc chiến đã kéo dài gần 4 năm giữa Nga và Ukraine, và căng thẳng nóng lên giữa Mỹ và Venezuela vào cuối năm 2025.

Mối lo về khối nợ vốn đã khổng lồ và ngày càng phình to của thế giới làm gia tăng thêm cảm giác cần thiết phải nắm giữ những tài sản an toàn như vàng. Theo dữ liệu do Viện Tài chính quốc tế (IIF) công bố trong tháng 12/2025, nợ toàn cầu đã tăng lên mức cao kỷ lục gần 346 nghìn tỷ USD vào cuối quý 3/2025, tăng hơn 8% so với cùng kỳ năm 2024, chủ yếu do nợ chính phủ tăng. Tỷ lệ nợ so với tổng sản phẩm trong nước (GDP) toàn cầu là 310%.

Nợ công của Mỹ đã vượt 38 nghìn tỷ USD, tương đương 125% GDP. Tỷ lệ này là 230% đối với Nhật Bản và 117% đối với Pháp.

Các nhà đầu tư kim loại quý càng như “cá gặp nước” trong môi trường nới lỏng chính sách trên toàn cầu, khi các ngân hàng trung ương lớn như Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) và Ngân hàng Trung ương Anh (BOE) tiếp tục chu kỳ nới lỏng chính sách tiền tệ trong năm 2025. Các ngân hàng Trung ương nhóm G10 gồm 10 đồng tiền được giao dịch nhiều nhất thế giới đã có tổng cộng 32 lần giảm lãi suất trong năm 2025, với tổng lượng giảm 8,5 điểm phần trăm, nhiều nhất trong hơn 1 thập kỷ, theo một thống kê của hãng tin Reuters. Trong số đó, Fed có 3 lần giảm lãi suất với tổng lượng giảm 0,75 điểm phần trăm.

Sức nóng của thị trường kim loại quý tăng thêm khi đồng USD mất giá sâu trong năm 2025. Chỉ số Dollar Index đo sức của bạc xanh so với một rổ gồm 6 đồng tiền chủ chốt đã giảm hơn 10% cả năm, đánh dấu năm giảm mạnh nhất trong một thập kỷ.

Nguyên nhân chính khiến đồng USD trượt dốc trong năm 2025 là cuộc chiến thương mại của Tổng thống Trump. Cuộc chiến này đã làm dấy lên mối lo ngại về sức khỏe nền kinh tế Mỹ - dù tác động đến thời điểm này không nghiêm trọng như dự báo ban đầu - cũng như mối hoài nghi về địa vị của USD như một tài sản an toàn đối với nhà đầu tư trên toàn cầu. Ngoài ra, việc ông Trump liên tục gây sức ép đòi Fed giảm lãi suất cũng làm dấy lo ngại về sự độc lập của ngân hàng trung ương này, dẫn tới áp lực mất giá đối với USD.

NHU CẦU VÀNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG

Ngoài những yếu tố hỗ trợ chung cho thị trường kim loại quý, riêng giá vàng còn được thúc đẩy bởi xu hướng mua ròng vàng của các ngân hàng trung ương. Năm 2025 là năm thứ 5 liên tiếp các ngân hàng trung ương đa dạng hóa tài sản dự trữ khỏi đồng USD bằng cách tăng nắm giữ vàng.

Theo dữ liệu của Hội đồng Vàng thế giới (WGC), các ngân hàng trung ương trên thế giới đã mua ròng 634 tấn vàng trong ba quý đầu năm 2025. Ngân hàng đầu tư Morgan Stanley dự báo lượng mua ròng vàng của khối này đạt 950 tấn trong năm 2025 và 900 tấn trong năm 2026. Công ty tư vấn kim loại quý Metals Focus nhận định các ngân hàng trung ương mua ròng 850 tấn vàng trong năm 2025. Trong đó, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (PBOC) tính đến tháng 11/2025 đã mua ròng vàng 13 tháng liên tiếp.

Hoạt động mua vàng sôi động của các quỹ giao dịch hoán đổi (ETF) cũng đóng góp không nhỏ vào xu hướng tăng của giá vàng trong năm 2025. Dữ liệu của WGC cho thấy trong 10 tháng đầu năm 2025, các quỹ ETF vàng đã hút một lượng vốn ròng 64 tỷ USD. Riêng trong tháng 9/2025, lượng vốn ròng mà các quỹ ETF vàng thu hút được đã đạt mức kỷ lục 17,3 tỷ USD.

Ngoài ra, theo một báo cáo của Morgan Stanley, tỷ trọng nắm giữ vàng của các công ty quản lý tài sản trên toàn cầu đã tăng lên mức 2,8% tổng tài sản được quản lý, từ mức 1,5% trước năm 2022. Báo cáo cũng cho biết rằng tỷ trọng này, dù đã cao, vẫn còn dư địa để tăng thêm.

Cũng theo dữ liệu được WGC công bố cuối tháng 10/2025, nhu cầu vàng toàn cầu trong quý 3/2025 đạt kỷ lục 1.313 tấn, tăng 3% so với cùng kỳ năm 2024.

Đối với bạc, nguồn cung đã khan hiếm trong mấy năm trở lại đây, trong khi nhu cầu bạc trong cả lĩnh vực đầu tư và công nghiệp không ngừng tăng. Khoảng cách lớn giữa nguồn cung và nhu cầu đã đưa giá kim loại quý này không ngừng bứt phá.

Ngoài vai trò một kênh đầu tư và kim loại quý để sản xuất nữ trang, bạc còn được sử dụng trong công nghiệp (chẳng hạn trong sản xuất đồ điện tử, ô tô điện, tấm pin năng lượng mặt trời) và các trang thiết bị liên quan tới trí tuệ nhân tạo (AI). Không giống như vàng, bạc được khai thác chủ yếu dưới dạng phụ phẩm của quy trình khai thác các khoáng sản khác. Bởi vậy, các nhà khai mỏ khó có thể phản ứng nhanh với sự gia tăng của nhu cầu bạc trong những năm gần đây.

Những tháng qua, hoạt động tích trữ bạc ở Mỹ gia tăng mạnh do lo ngại chính quyền Tổng thống Donald Trump có thể áp thuế quan lên bạc. Mối lo này xuất phát từ việc Washington đưa bạc vào danh sách các khoáng sản quan trọng. Việc bạc được vận chuyển ồ ạt tới Mỹ dẫn tới sự khan hiếm bạc ở các thị trường khác.

Đối với bạch kim, câu chuyện phía sau xu hướng tăng giá chóng mặt trong năm 2025 cũng là sự thắt chặt nguồn cung. Bên cạnh đó, việc Liên minh châu Âu (EU) vào giữa tháng 12/2025 bất ngờ công bố kế hoạch bỏ lệnh cấm xe động cơ đốt trong từ năm 2035 đã hỗ trợ thêm cho giá bạch kim.

Bạch kim được dùng cho bộ chuyển đổi xúc tác - một bộ phận trong hệ thống ống xả của xe động cơ đốt trong để giảm khí thải độc hại. Bởi vậy, kế hoạch mới của EU cho phép các nhà sản xuất ô tô ở khu vực này tiếp tục sản xuất một số lượng hạn chế xe chạy bằng xăng và dầu diesel sau năm 2035 đồng nghĩa rằng nhu cầu bạch kim sẽ duy trì ở mức cao.

Dữ liệu từ Hội đồng Đầu tư bạch kim thế giới (WPIC) cho thấy năm 2025 sẽ là năm thứ ba liên tiếp thị trường bạch kim thiếu cung gần 1 triệu ounce trong quy mô hàng năm của thị trường là 8 triệu ounce. WPIC cũng dự báo thị trường sẽ vẫn ở trong tình trạng thâm hụt lớn về nguồn cung cho đến năm 2029. Theo tổ chức này, thâm hụt nguồn cung bạch kim trong năm 2024 là 992.000 ounce, mức thiếu hụt lớn nhất kể từ năm 2013.

DỰ BÁO NĂM 2026: LẠC QUAN VÀ THẬN TRỌNG

Các ngân hàng lớn ở Phố Wall đều có chung quan điểm lạc quan về triển vọng của giá vàng trong năm 2026, cho rằng các yếu tố hỗ trợ giá vàng trong năm 2025 về cơ bản sẽ tiếp tục duy trì. Chính sách thương mại của Mỹ còn nhiều bất định, đặt ra thách thức đối với kinh tế toàn cầu, trong khi đàm phán hòa bình Nga - Ukraine chưa có tiến bộ đáng kể và nợ nần của thế giới vẫn chưa có dấu hiệu sẽ sớm được kiểm soát. Các ngân hàng trung ương được cho là sẽ tiếp tục mua ròng vàng, đồng USD được dự báo còn mất giá trong năm 2026 do Fed hạ lãi suất về mức thấp hơn.

Theo các nhà phân tích của JPMorgan Chase, để giá vàng đi ngang, nhu cầu vàng của nhà đầu tư và các ngân hàng trung ương cần đạt khoảng 350 tấn mỗi quý. Trong khi đó, JPMorgan Chase dự báo nhu cầu này sẽ đạt bình quân 585 tấn mỗi quý trong năm 2026. Một cuộc khảo sát thường niên của WGC tháng 6/2025 cho thấy phần lớn các ngân hàng trung ương có kế hoạch tăng dự trữ vàng trong thời gian một năm tiếp theo, bất chấp giá vàng cao.

Morgan Stanley dự báo giá vàng ở thời điểm giữa năm 2026 sẽ là 4.500 USD/oz. JPMorgan Chase kỳ vọng giá vàng sẽ đạt bình quân 4.600 USD/oz trong quý 2 và hơn 5.000 USD/oz trong quý 4/2026. Metals Focus nhận định trong năm 2026, giá vàng sẽ đạt 5.000 USD/oz. Ngân hàng Goldman Sachs và Bank of America cũng nằm trong nhóm các tổ chức dự báo nhận định giá vàng sẽ đạt mốc 5.000 USD/oz trong 2026.

Tuy nhiên, những mức giá dự báo này cho thấy tốc độ tăng của giá vàng có thể sẽ chậm lại trong năm 2026, sau khi giá kim loại quý đã tăng hơn 150% trong ba năm qua. Mức giá 5.000 USD/oz chỉ cao hơn khoảng 16% so với mức giá chốt năm 2025 của vàng, ít hơn nhiều so với mức tăng 65% của năm 2025 và 27% của năm 2024.

Xu hướng tăng của giá vàng nếu duy trì có thể kéo các kim loại quý khác như bạc và bạch kim tăng theo. Ngoài ra, yếu tố thiếu hụt nguồn cung được dự báo sẽ tiếp tục hỗ trợ giá các quý kim này.

Dù vậy, đã có một số cảnh báo về rủi ro đảo chiều của thị trường. Trong một báo cáo vào đầu tháng 12/2025, Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) cảnh báo về nguy cơ bong bóng trên thị trường vàng và chứng khoán Mỹ, cho rằng các nhà đầu tư cá nhân đang có một vai trò lớn trong việc đẩy giá vàng và giá cổ phiếu lên mức cao chưa từng thấy. BIS cho rằng giá vàng và cổ phiếu Mỹ đang có những dấu hiệu của một bong bóng, bao gồm sự "hưng phấn" của nhà đầu tư bán lẻ, định giá tăng nhanh và sự thổi phồng từ truyền thông.

Trong một cuộc trao đổi với trang Kitco News vào giữa tháng 12/2025, ông Avi Gilburt, một nhà phân tích kỹ thuật uy tín và là nhà sáng lập công ty ElliottWaveTrader, cho biết xu hướng tăng của giá vàng kể từ mức đáy thiết lập vào năm 2015-2016 đang đi đến giai đoạn cuối. Ông tin rằng đợt tăng hiện nay của giá vàng có gốc rễ từ một đợt thiết lập lại trên thị trường từ sau năm 2015, sau quãng thời gian nhiều năm các quỹ ETF liên tục bán ròng và mối quan tâm của nhà đầu tư đối với vàng suy giảm. Chu kỳ tăng giá này, hiện đã đạt gần 10 năm, dường như đang cạn dần xung lực...

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8/2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-Điệp Vũ

Categories: The Latest News

Pages