Thời báo kinh tế Việt Nam

Subscribe to Thời báo kinh tế Việt Nam feed Thời báo kinh tế Việt Nam
VnEconomy - Góc nhìn toàn cảnh về nền kinh tế Việt Nam
Updated: 2 hours 58 min ago

Giá trị cà phê Việt chuyển từ “lượng” sang “chất”

Wed, 02/18/2026 - 07:00
Trong tổng mức tăng thêm 7,59 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản năm 2025 so với năm 2024 (từ 62,5 tỷ USD lên 70,09 tỷ USD), riêng cà phê đã đóng góp hơn 3 tỷ USD - một con số đặc biệt ấn tượng. Giữa lúc chính sách thuế quan đối ứng của Hoa Kỳ làm chậm nhịp xuất khẩu nhiều mặt hàng, cà phê lại là ngoại lệ hiếm hoi khi không những ít bị tác động xấu mà còn được hưởng lợi từ chính sách này.

Năm 2025 đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong ngành cà phê Việt Nam khi kim ngạch xuất khẩu đạt mức kỷ lục, vượt qua con số 8,57 tỷ USD. Đây không chỉ là thành quả của sự gia tăng về lượng mà còn là sự chuyển dịch mạnh mẽ từ "lượng" sang "chất" trong chiến lược phát triển của ngành. Trong bối cảnh nhiều mặt hàng xuất khẩu khác chịu tác động tiêu cực từ chính sách thuế quan đối ứng của Hoa Kỳ, cà phê Việt Nam lại nổi lên như một ngoại lệ hiếm hoi, không chỉ ít bị ảnh hưởng mà còn hưởng lợi từ những thay đổi này.

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, năm 2025, Việt Nam đã xuất khẩu hơn 1,5 triệu tấn cà phê, tăng 16,9% về lượng và 60,7% về giá trị so với năm 2024. Động lực chính đến từ việc giá xuất khẩu duy trì ở mức cao kỷ lục, có thời điểm tiệm cận 5.850 USD/tấn. Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Hoàng Trung nhận định rằng đây là một "dấu mốc lịch sử" cho ngành cà phê Việt Nam, với sự đóng góp quan trọng từ các thị trường chủ lực như EU và Hoa Kỳ, cùng với sự tăng trưởng đột biến từ các thị trường mới nổi như Algeria và Mexico.

Sự thành công này không chỉ đến từ yếu tố giá cả mà còn từ những nỗ lực nâng cao chất lượng cà phê Việt. Các doanh nghiệp đã đầu tư mạnh mẽ vào chế biến sâu và truy xuất nguồn gốc, giúp nâng cao giá trị sản phẩm. Cà phê Robusta vẫn giữ vai trò chủ lực, nhưng cà phê Arabica và cà phê chế biến cũng ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng, cho thấy chiến lược đi sâu vào chuỗi giá trị đang phát huy hiệu quả.

Một điểm đáng chú ý là trong khi cà phê Brazil bị áp thuế tới 40% tại Hoa Kỳ, cà phê Việt Nam chỉ chịu mức thuế 20%, tạo lợi thế cạnh tranh rõ rệt. Điều này đã góp phần thúc đẩy kim ngạch xuất khẩu cà phê Việt Nam lập kỷ lục mới. Ngoài ra, việc gia tăng tỷ trọng cà phê chế biến sâu đã giúp nâng cao giá trị xuất khẩu và giảm dần sự phụ thuộc vào xuất khẩu thô, mang lại lợi nhuận cao hơn cho người trồng cà phê.

Năm 2025 cũng chứng kiến sự thành công của nhiều nông dân tại các vùng cà phê trọng điểm như Đắk Lắk, Gia Lai, khi giá cà phê tăng cao đã giúp họ có một vụ mùa "trúng đậm". Với năng suất bình quân 3-3,5 tấn/ha và mức giá có thời điểm lên tới 120–130 triệu đồng/tấn, mỗi ha cà phê mang lại doanh thu 350-450 triệu đồng, lợi nhuận 250-300 triệu đồng. Điều này không chỉ cải thiện đời sống của người nông dân mà còn tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của ngành cà phê Việt Nam.

Bước sang năm 2026, ngành cà phê Việt Nam đứng trước những cơ hội và thách thức mới. Việc Hoa Kỳ giảm thuế đối với hàng hóa Brazil có thể làm giảm lợi thế thuế quan của cà phê Việt. Tuy nhiên, với việc sớm đáp ứng tiêu chuẩn EUDR của EU, cà phê Việt Nam vẫn có thể mở rộng thị phần tại châu Âu. Ngành cà phê sẽ tiếp tục phát triển theo hướng bền vững, mở rộng áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế, tăng cường truy xuất nguồn gốc và đẩy mạnh chế biến sâu.

Trong dài hạn, ngành cà phê Việt Nam định hướng phát triển theo mô hình nông nghiệp sinh thái, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn. Việc xây dựng thương hiệu "Cà phê Việt Nam" và thúc đẩy canh tác giảm phát thải sẽ là những yếu tố then chốt giúp nâng tầm thương hiệu cà phê Việt trên thị trường quốc tế. Với những bước đi chiến lược và sự nỗ lực không ngừng, ngành cà phê Việt Nam đang trên đà bứt phá mạnh mẽ, hứa hẹn một tương lai tươi sáng và bền vững.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8/2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-Chu Minh Khôi

Categories: The Latest News

Chính phủ “hành động” và bước ngoặt ngành công nghệ lõi

Wed, 02/18/2026 - 06:26
Năm 2025 đã khép lại với những con số kỷ lục và những cột mốc định vị lại vị thế của Việt Nam trên bản đồ công nghệ toàn cầu. Hàng tỷ USD đã được đổ vào lĩnh vực nghiên cứu và phát triển (RD) và công nghệ lõi. Sự xuất hiện của các công xưởng AI, những con chip 5G tự thiết kế và các cơ chế thử nghiệm linh hoạt cho thấy Việt Nam đã sẵn sàng cho kỷ nguyên “làm chủ” công nghệ...

Năm 2025 ghi nhận làn sóng đầu tư mạnh mẽ nhất từ trước đến nay của các tập đoàn đa quốc gia vào các ngành công nghệ cao như bán dẫn, AI, hạ tầng dữ liệu… tại Việt Nam. Theo Cục Thống kê, tính đến ngày 31/12/2025, tổng vốn đầu tư nước ngoài (FDI) bao gồm cả đăng ký mới và điều chỉnh vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo là 18,59 tỷ USD, chiếm 59,2% tổng số vốn.

Trong đó, riêng 10 tháng năm 2025, ngành bán dẫn đã thu hút khoảng 11,6 tỷ USD vốn FDI. Điều này cho thấy dòng vốn FDI đổ về Việt Nam đã chất lượng hơn với sự xuất hiện của các dự án tỷ USD từ những tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới gia tăng trước làn sóng chuyển dịch chuỗi cung ứng công nghệ cao.

DÒNG VỐN CHẢY MẠNH VÀO CÁC NGÀNH CÔNG NGHỆ CAO 

Một trong những dự án công nghệ cao điển hình là nhà máy sản xuất, lắp ráp và thử nghiệm vật liệu, thiết bị bán dẫn Công ty TNHH Amkor Technology Việt Nam tại Bắc Ninh. Vận hành từ tháng 10/2023 với số vốn đầu tư 520 triệu USD, chỉ sau 10 tháng hoạt động, Amkor Technology đã đưa nhà máy tại Bắc Ninh trở thành cứ điểm đóng gói chip lớn nhất thế giới của mình sau khi rót thêm 1,07 tỷ USD vào tháng 7/2024, nâng tổng vốn đầu tư vào Việt Nam lên mức 1,6 tỷ USD (tăng quy mô vốn sớm hơn dự kiến tới 11 năm). Tính đến hết quý 1/2025, tổng vốn FDI mà tập đoàn này giải ngân là hơn 850 triệu USD.

“Gã khồng lồ” công nghệ khác là Hana Micron cũng không đứng ngoài “cuộc đua” bán dẫn. Từ số vốn đầu tư ban đầu 600 triệu USD, tập đoàn có kế hoạch nâng tổng vốn đầu tư tại Bắc Giang lên hơn 1 tỷ USD vào năm 2027 để khép kín chuỗi sản xuất bảng mạch cho các thiết bị di động thế hệ mới.

Đặc biệt, “cơn sốt” AI toàn cầu đã đưa những tên tuổi lớn như Nvidia, Marvell… đến gần Việt Nam hơn. Sự cam kết của Nvidia trong việc xây dựng một hệ sinh thái AI toàn diện, từ hạ tầng siêu máy tính đến đào tạo nhân lực, đã chứng minh rằng Việt Nam không còn là “điểm đến dự phòng” mà đã trở thành “ngôi nhà thứ hai” của Nvidia trong chiến lược đầu tư. Điểm nhấn là ngày 7/8/2025, Công ty TNHH Nvidia Việt Nam đã hoàn tất việc tăng vốn điều lệ lên mức 1,1 triệu USD để chuẩn bị cho các hoạt động mở rộng tại Việt Nam trong thời gian tới. Trước đó, vào tháng 12/2024, tập đoàn công nghệ Mỹ đã gây chú ý khi thâu tóm toàn bộ Công ty TNHH Vinbrain từ Tập đoàn Vingroup, với giá trị chuyển nhượng vốn hơn 627 tỷ đồng.

Ngoài ra, các trung tâm RD của Marvell và Synopsys tại Đà Nẵng và TP. Hồ Chí Minh với quy mô vốn lên tới hàng tỷ USD cũng bắt đầu tham gia vào thiết kế các dòng chip thế hệ mới cho thị trường thế giới.

Sự hiện diện của các doanh nghiệp FDI này tạo ra một “hệ sinh thái vệ tinh”. Hàng trăm doanh nghiệp phụ trợ từ Đài Loan, Hàn Quốc và Hoa Kỳ… đã kéo theo, tạo thành một cụm ngành công nghiệp bán dẫn thực thụ tại các khu vực trọng điểm như: Bắc Ninh, Thái Nguyên, Đà Nẵng và TP. Hồ Chí Minh. Đây chính là minh chứng rõ nhất cho thấy niềm tin của các tập đoàn đa quốc gia vào sự ổn định và tiềm năng của Việt Nam.

DOANH NGHIỆP NỘI KHẲNG ĐỊNH TINH THẦN “MANKE IN VIETNAM”

Trước dòng chảy “sôi động” của các tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới, các tập đoàn công nghệ nội địa cũng đã có sự chuyển mình rõ nét. Năm 2025 đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của tinh thần “Make in Vietnam” của các doanh nghiệp công nghệ Việt Nam. Thay vì tập trung gia công, lắp ráp, các công ty đang từng bước nỗ lực vươn lên để làm chủ công nghệ lõi.

Tập đoàn Viettel tiếp tục khẳng định vị thế dẫn đầu khi sản xuất thành công chip 5G DEF SoC đầu tiên của Việt Nam. Đây thực sự là một kỳ tích bởi thiết kế chip viễn thông đòi hỏi trình độ kỹ thuật rất cao. Không dừng lại ở đó, Viettel đã hoàn thành triển khai và đưa vào sử dụng hơn 23.500 trạm BTS trong giai đoạn từ tháng 2 -12/2025. Đáng chú ý, hơn 2.000 trạm trong số này là sản phẩm “Make in Vietnam” do Viettel tự nghiên cứu và phát triển. Nhờ đó, đưa Việt Nam vào nhóm ít quốc gia trên thế giới tự chủ được hạ tầng viễn thông thế hệ mới.

Mới đây nhất, vào tháng 1/2026, tập đoàn này cũng chính thức khởi công nhà máy chế tạo chip công nghệ cao đầu tiên tại Khu công nghệ cao Hòa Lạc. Dự án này là mắt xích then chốt giúp Việt Nam khép kín chuỗi sản xuất từ thiết kế đến chế tạo, dự kiến hoàn thiện vào năm 2027.

Trong khi đó, FPT đã chứng minh sự nhạy bén khi chuyển dịch mạnh mẽ sang mảng bán dẫn và AI. Công ty FPT Semiconductor trong năm 2025 đã nhận đơn đặt hàng lên tới hàng trăm triệu USD từ đối tác từ Nhật Bản, Đài Loan và Hàn Quốc. Đồng thời, việc hợp tác với Nvidia để vận hành các nhà máy AI (AI Factory) trước đó cũng đã giúp FPT cung cấp hạ tầng tính toán siêu mạnh cho các doanh nghiệp trong nước, giải quyết bài toán chủ quyền dữ liệu và tối ưu hóa chi phí cho các doanh nghiệp nội địa khi muốn ứng dụng AI vào kinh doanh...

CHÍNH PHỦ “HÀNH ĐỘNG”

Có thể nói, những kết quả rực rỡ trong năm 2025 là thành quả của một sự chuyển dịch tư duy quản lý mang tính bước ngoặt, từ “cam kết” sang “hành động”, từ “văn bản” sang “thực chiến”.

Trong đó, một trong những điểm nhấn quan trọng là Quỹ Hỗ trợ đầu tư. Trong bối cảnh Thuế tối thiểu toàn cầu (GMT) được áp dụng, các biện pháp miễn giảm thuế truyền thống đã không còn là lợi thế cạnh tranh. Việt Nam đã nhanh chóng thay đổi “chiến thuật” thu hút FDI, thay vì giảm thuế, các chính sách đã hỗ trợ trực tiếp cho các hoạt động RD, đào tạo nhân lực và hạ tầng công nghệ cao cho các tập đoàn công nghệ. Đây là một bước đi “thực chiến” đúng nghĩa, giúp Việt Nam giữ chân các nhà đầu tư lớn và thu hút thêm các dự án tỷ USD.

Về mặt pháp lý, việc thông qua Luật Công nghệ cao (sửa đổi) và Luật Trí tuệ nhân tạo trong năm 2025 đã tạo ra một hành lang an toàn và minh bạch. Chính phủ đã cho phép thí điểm cơ chế  sandbox (khung quản lý thử nghiệm) tại Đà Nẵng và TP. Hồ Chí Minh, cho phép các doanh nghiệp thử nghiệm những công nghệ chưa có tiền lệ như xe tự hành, drone vận tải hay các mô hình tài chính số dựa trên Blockchain. Sự linh hoạt này đã tháo gỡ những nút thắt của các thủ tục hành chính cũ, giúp doanh nghiệp rút ngắn thời gian từ phòng thí nghiệm ra thị trường.

Bên cạnh đó, chiến lược đào tạo 50.000 kỹ sư bán dẫn không còn là một con số khẩu hiệu. Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng Bộ Kế hoạch và Đầu tư (nay là Bộ Tài chính) đã phối hợp chặt chẽ để triển khai các chương trình đào tạo chuyển đổi ngắn hạn, đưa sinh viên các ngành kỹ thuật sang học chuyên sâu về chip với sự tài trợ trực tiếp từ ngân sách và các tập đoàn FDI. Việc thành lập các trung tâm đào tạo bán dẫn dùng chung (shared facilities) tại Hà Nội, Đà Nẵng và TP. Hồ Chí Minh là minh chứng cho việc Chính phủ sẵn sàng đầu tư hạ tầng đắt đỏ để doanh nghiệp và nhà trường cùng khai thác.

Nút thắt về hạ tầng năng lượng - một vấn đề sống còn của ngành bán dẫn - cũng đã được Chính phủ xử lý quyết liệt bằng cách ưu tiên nguồn điện xanh và điện ổn định cho các khu công nghệ cao. Các dự án truyền tải điện trực tiếp đã được khơi thông, cho phép các nhà máy công nghệ cao được mua điện trực tiếp từ các nguồn tái tạo, đáp ứng tiêu chuẩn ESG (môi trường - xã hội - quản trị) khắt khe của quốc tế.

Vì vậy, bước sang năm 2026, Việt Nam được kỳ vọng sẽ tiếp tục tăng tốc trong phát triển các ngành công nghệ cao, công nghệ lõi như bán dẫn, AI… để từng bước đưa kinh tế số chiếm trên 25% GDP trong giai đoạn tới.

“Với sự đồng lòng của khu vực FDI, doanh nghiệp trong nước và Chính phủ “hành động”, ngành công nghệ lõi của Việt Nam đang đứng trước cơ hội ngàn năm có một để thực hiện giấc mơ trở thành cường quốc công nghệ trong tương lai”, Phó Thủ tướng Nguyễn Chí Dũng nhấn mạnh tại buổi làm việc với Mạng lưới Đổi mới sáng tạo Việt Nam và chuyên gia các ngành công nghệ chiến lược tại Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia (NIC) cuối tháng 11/2025.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8/2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-Ngân Hà

Categories: The Latest News

Việt Nam đang ở bước ngoặt để “vươn mình” sang chu kỳ phát triển mới

Wed, 02/18/2026 - 06:00
Trước thềm năm mới, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy đã có cuộc trao đổi với GS. Nguyễn Đức Khương, Chủ tịch Tổ chức Khoa học và Chuyên gia Việt Nam Toàn cầu (AVSE Global) để nhìn lại bức tranh kinh tế năm 2025 và đưa ra những khuyến nghị cho năm 2026 và những năm tới.

Thưa Giáo sư, năm 2025 là năm cuối của giai đoạn phát triển 2021-2025. Ông sẽ lựa chọn từ khóa nào để mô tả bức tranh kinh tế của năm nay?

Nếu phải dùng từ khóa để định hình, theo tôi, có ba từ khóa quan trọng.

Từ khóa đầu tiên là “phục hồi kinh tế sau đại dịch”. Giai đoạn 2021-2025 là giai đoạn chúng ta xử lý những tác động sâu sắc lên cấu trúc và mô hình kinh tế toàn cầu sau những ảnh hưởng nặng nề từ đại dịch Covid-19. Năm 2025 ghi nhận những nỗ lực phục hồi đi vào chiều sâu, thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo để tạo ra một nền tảng mới cho nền kinh tế.

Từ khóa thứ hai là “kiên cường”. Đây là “phẩm chất” mà nền kinh tế Việt Nam đã tôi luyện và xây dựng được trong suốt những năm khó khăn vừa qua. Khả năng chống chịu trước các cú sốc bên ngoài, từ đứt gãy chuỗi cung ứng đến lạm phát toàn cầu, đã trở thành một lợi thế cạnh tranh của chúng ta.

Từ khóa quan trọng nhất chính là “vươn mình trong biến động”. Chúng ta đang chuyển dịch mạnh mẽ từ một nền kinh tế thâm dụng lao động, tài nguyên và giá trị gia tăng thấp sang một giai đoạn mới mà ở đó, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đóng vai trò nền tảng cốt lõi cho mọi hoạt động kinh doanh và tăng trưởng chất lượng.

Năm 2025 là năm kết thúc của một giai đoạn phát triển 5 năm và mở đầu cho một chu kỳ mới. Ông đánh giá thế nào về vị thế của Việt Nam trong bức tranh kinh tế toàn cầu đầy biến động hiện nay?

Việt Nam đã có được một vị thế quốc tế tốt, tiếp tục là điểm sáng trong phát triển kinh tế, ngoại giao và có thế chủ động chiến lược trong các hợp tác đối tác. Ví dụ, khi thế giới gặp thách thức từ chính sách thuế quan mới của Mỹ xuất hiện, Việt Nam đã chủ động đàm phán với Mỹ, đồng thời đẩy mạnh chiến lược đa dạng hóa thị trường, biến áp lực từ chính sách thuế quan thành “cú hích vươn mình” để mở rộng sự hiện diện trên bản đồ thương mại quốc tế.

Quá trình đa dạng hóa đã giúp chúng ta khai phá những dư địa giàu tiềm năng từ nhiều thị trường, trong đó đáng chú ý là thị trường EU với kim ngạch xuất khẩu ước đạt 51,16 tỷ USD trong 11 tháng đầu năm 2025, tăng 7,9% so với cùng kỳ năm 2024. Tuy nằm trong “hành lang hẹp” giữa hai cường quốc – một bên là nguồn nhập khẩu nguyên liệu chính (Trung Quốc), một bên là thị trường xuất khẩu lớn nhất (Mỹ) – Việt Nam đã biến thách thức thành cơ hội, khi tổng kim ngạch xuất nhập khẩu lần đầu tiên cán mốc 930 tỷ USD. Đây là một con số không tưởng nếu nhìn lại những lo ngại hồi đầu năm về chính sách thuế quan bất lợi từ Mỹ.

Thành công này xuất phát từ hai yếu tố cốt lõi: thứ nhất, khả năng thích ứng linh hoạt của nền kinh tế; thứ hai, nền tảng vĩ mô ổn định được duy trì ở mức cao. Chính phủ đã triển khai đồng bộ các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, kiểm soát tốt lạm phát và khuyến khích hoạt động RD để đổi mới mô hình kinh doanh. Các cải cách về thể chế theo hướng thông thoáng đã tạo điều kiện cho khối doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là các các “sếu đầu đàn”, thực hiện những chuyển dịch chiến lược mạnh mẽ.

Bên cạnh thương mại, câu chuyện đầu tư công và hạ tầng cũng đang được nhắc đến như một luồng sinh khí mới cho tăng trưởng năm 2025. Ông nhìn nhận như thế nào về việc hàng loạt công trình trọng điểm được khởi công đồng loạt?

Trước hết, đây là một quyết sách thể hiện ý chí và quyết tâm chính trị rất lớn của nước ta. Để Việt Nam có thể thực sự “vươn mình” trong những thập kỷ tới, chúng ta cần một nền tảng hạ tầng vừa bền vững, vừa có khả năng kiến tạo những “dòng chảy” nguồn lực. Đó không chỉ là dòng chảy hàng hóa mà còn là sự dịch chuyển tối ưu các nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực con người. Việc kết nối thông suốt giữa các vùng, miền và giữa Việt Nam với thế giới chính là tiền đề then chốt để hội nhập sâu rộng, đồng thời giải quyết bài toán chi phí logistics – một trong những điểm nghẽn lớn của nền kinh tế hiện nay.

Với hạ tầng kết nối tốt, các nhà đầu tư quốc tế sẽ không còn nhìn nhận các “hub” (trung tâm) kinh tế của Việt Nam chỉ bó hẹp tại các đầu tàu truyền thống như Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh, Hải Phòng hay Đà Nẵng. Thay vào đó, dòng vốn và cơ hội sẽ lan tỏa đến mọi vùng miền trên cả nước, hình thành nên những mắt xích mới trong chuỗi giá trị nhờ sự kết nối hạ tầng.

Việc tối ưu hóa khả năng dịch chuyển nguồn lực không chỉ thu hút vốn ngoại mà còn mở ra cơ hội tăng trưởng cho những địa phương vốn bị hạn chế về năng lực tài chính và khả năng tiếp cận. Những siêu dự án như Sân bay Long Thành, Đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam, hay các tuyến đường sắt kết nối với những trung tâm kinh tế của Trung Quốc sẽ tạo nên bước ngoặt, nâng cao vai trò, vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.

Vậy, ông nhìn nhận như thế nào về những động lực tăng trưởng trong thời gian tới khi mục tiêu đặt ra là tăng trưởng hai con số?

Ở thời điểm hiện nay, tăng trưởng 7-8% đã thuộc nhóm những nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao nhất thế giới. Để đạt được mức tăng trưởng cao hơn, chúng ta chắc chắn cần phát huy những động lực mới. Trước hết đó là kỷ nguyên số, AI và tự động hóa. Không chỉ ở cấp quốc gia, mà nhiều doanh nghiệp đã chủ động dấn thân vào các lĩnh vực mới này.

Theo Cục thống kê, khu vực kinh tế số tăng trưởng 14,6% năm 2025, đạt trên 72 tỷ USD, và đóng góp hơn 14% vào GDP. Việt Nam đã có bước nhảy vọt trong việc đầu tư và ứng dụng kinh tế số. Khi được hỗ trợ bởi dữ liệu, hệ sinh thái kinh tế số sẽ có kỳ vọng phát triển hơn nữa. Quy hoạch lại không gian phát triển mới với những kết nối hạ tầng chiến lược và tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế, môi trường kinh doanh là hai động lực khác rất quan trọng để tạo sức đột phá cho nền kinh tế.

Điều cần chú ý là khoa học, công nghệ phải đóng vai trò trụ cột giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh bền vững, tạo đà để vừa phát huy các động lực truyền thống như xuất khẩu, đầu tư công, vừa khai phá những động lực mới.

Trong bối cảnh hiện nay, bên cạnh mục tiêu tăng trưởng hai con số để hướng tới tầm nhìn 2045 thì chúng ta phải quan tâm đến những vấn đề lớn gì khác, thưa ông?

Tôi tin rằng mục tiêu cao nhất của Việt Nam không chỉ là trở thành nước thu nhập cao, mà là kiến tạo hạnh phúc và thịnh vượng cho nhân dân. Trong quá trình chuyển từ thu nhập trung bình cao lên thu nhập cao, tăng trưởng phải đi kèm tính bao trùm, bảo đảm mọi người dân đều có cơ hội đóng góp và thụ hưởng thành quả phát triển. Các chỉ số tăng trưởng chỉ là công cụ; điều quan trọng là xây dựng một mô hình kinh tế cân bằng giữa chất lượng tăng trưởng và tiến bộ xã hội.

Khát vọng thịnh vượng đòi hỏi sự chuyển mình đồng bộ của cả hệ thống. Tăng trưởng bền vững không thể dựa vào một khu vực riêng lẻ; sự kết hợp giữa “bàn tay Nhà nước” và “động lực tư nhân” chỉ hiệu quả khi điểm nghẽn thể chế được tháo gỡ. Yêu cầu là tiếp tục tạo ra những cơ chế vận hành thông thoáng, kỷ luật cao, bảo đảm quyền lợi của các chủ thể kinh tế, đồng thời thúc đẩy sáng tạo và cạnh tranh bình đẳng. Thể chế cũng phải có tính “mở”, cho phép thử nghiệm, sáng tạo và cập nhật liên tục, nhất là trong những vấn đề mới.

Chìa khóa cũng nằm ở sự thúc đẩy liên kết giữa các ngành, các lĩnh vực để tăng tính toàn hoàn cho kinh tế, tiết kiệm nguồn lực và đẩy mạnh hàm lượng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo trong mô hình kinh doanh.

Theo ông, trong bối cảnh nguồn lực còn hạn chế, làm thế nào để Việt Nam tạo ra đột phá dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo?

Tôi cho rằng nguồn lực là rất quan trọng, nhưng chính những ràng buộc về nguồn lực mới là động lực mạnh mẽ nhất cho sự thay đổi đột phá. Lịch sử đã chứng minh, sức sáng tạo của chúng ta thường đạt đỉnh khi bị đặt vào những giới hạn. Từ tinh thần “vừa đánh vừa học hỏi kinh nghiệm” của quân đội ta trong những ngày đầu thành lập hay bài học của Trung Quốc từ “công xưởng thô sơ” vươn lên dẫn đầu về AI, viễn thông và vũ trụ đều cho thấy: khi không có nguồn lực vô hạn, chúng ta buộc phải tìm con đường riêng, thông minh hơn và hiệu quả hơn.

Việt Nam không nên đi theo lối mòn của thế giới, vốn đòi hỏi vốn đầu tư khổng lồ. Thay vào đó, trong giai đoạn nguồn lực chưa dồi dào, chúng ta cần tập trung đầu tư công vào các công nghệ chiến lược, đồng thời tìm cách kích hoạt tối đa năng lực sáng tạo nội sinh. Ý thức về giới hạn và khát vọng mục tiêu lớn là nền tảng tạo nên những đột phá đưa Việt Nam tăng trưởng bứt phá.

Để hiện thực hóa tầm nhìn đó, khu vực tư nhân cần những cơ chế gì để vươn tầm quốc tế (Go Global) và đóng góp sâu hơn vào chuỗi giá trị?

Bên cạnh các ưu đãi về thuế, RD và hỗ trợ mở rộng thị trường, nhất là đối với các doanh nghiệp trong những lĩnh vực ưu tiên, thì mấu chốt nằm ở mô hình hợp tác “Ba nhà” (Nhà nước - nhà trường - nhà doanh nghiệp). Nhà nước giữ vai trò kiến tạo với một thể chế mở và cơ chế Sandbox linh hoạt; nhà trường trở thành trung tâm tri thức và chuyển giao công nghệ; doanh nghiệp đóng vai trò ứng dụng và đổi mới để nâng cao năng suất và giá trị gia tăng, từ đó thu hẹp khoảng cách phát triển với thế giới.

Xây dựng một hệ sinh thái doanh nghiệp hoàn chỉnh la rất cần thiết. Trong đó, những doanh nghiệp dẫn dắt tạo điều kiện và không gian hợp tác với các doanh nghiệp vừa và nhỏ nội địa để cùng phát triển chuỗi giá trị. Khi đó chúng ta sẽ có một “bộ đỡ” kinh tế tư nhân thuần Việt vững mạnh, có khả năng tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu, giúp nền kinh tế đứng vững trước các cú sốc bên ngoài và duy trì đà tăng trưởng bền vững.

Trong bối cảnh kinh tế thế giới đầy biến động, làm thế nào để Việt Nam vừa hiện thực hóa tham vọng tăng trưởng hai con số, vừa đảm bảo được các mục tiêu định tính về sự ổn định trong năm 2026?

Việt Nam cần tiếp tục phát huy những nền tảng đã tạo dựng được để duy trì ổn định và tăng trưởng. Đầu tiên là dư địa tài khóa ở ngưỡng an toàn với nợ công ở mức thấp, cho phép Chính phủ linh hoạt hỗ trợ doanh nghiệp và người dân trước các cú sốc bất lợi. Tiếp đến là kiểm soát lạm phát hiệu quả giúp bảo vệ sức mua của người lao động, qua đó duy trì năng suất và chất lượng tăng trưởng. Việt Nam cũng giữ được sự tự chủ trong điều hành kinh tế vĩ mô, không bị cuốn theo các biến động chính sách của những nền kinh tế lớn, tạo ra môi trường ổn định hơn so với nhiều khu vực khác.

Bên cạnh đó, vị thế địa chính trị chiến lược giúp Việt Nam trở thành mắt xích quan trọng trong ổn định khu vực, đồng thời tận dụng lợi thế này để mở rộng hợp tác đa phương hài hoà cùng có lợi và củng cố vai trò trên trường quốc tế.

Chính những nền tảng trên đã tạo nên một “sức hút chiến lược”. Khi các tập đoàn đa quốc gia mở rộng ra thế giới, Việt Nam càng có nhiều cơ hội trở thành lựa chọn đầu tư hàng đầu trong khu vực. Điển hình là lĩnh vực chip và bán dẫn: việc các cường quốc và tập đoàn công nghệ chọn Việt Nam làm mắt xích an toàn của chuỗi cung ứng toàn cầu sẽ kéo theo sự dịch chuyển của nhiều doanh nghiệp vệ tinh.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-

Categories: The Latest News

Quảng Ninh đón 5 du thuyền quốc tế dịp Tết Bính Ngọ 2026

Tue, 02/17/2026 - 18:23
Sau khi đón 2 du thuyền chở gần 2.400 du khách quốc tế vào ngày mùng 1 Tết, Quảng Ninh sẽ tiếp tục đón 3 du thuyền quốc tế vào các ngày mùng 3, mùng 4 và mùng 8 Tết Bính Ngọ 2026.

Sáng 17/2 (mùng 1 Tết Bính Ngọ), Cảng tàu khách quốc tế Hạ Long (Quảng Ninh) đã đón 2 du thuyền hạng sang chở theo gần 2.400 du khách quốc tế tham quan mở đầu cho chuỗi hoạt động đón 5 du thuyền quốc tế tham quan vùng di sản trong những ngày đầu xuân mới Bính Ngọ 2026.

2 du thuyền quốc tế cập Cảng tàu khách quốc tế Hạ Long.

Du thuyền Seabourn Encore chở theo 571 du khách châu Âu và du thuyền Piano Land chở khoảng 1793 du khách chủ yếu đến từ Hồng Kông (Trung Quốc) đã cập cảng tàu khách quốc tế Hạ Long trong không khí hân hoan ngày đầu năm mới.

Đại diện lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh, Sở Văn hoá – Thể thao và Du lịch, Cảng tàu khách quốc tế Hạ Long và cơ quan chức năng đã chào đón du khách quốc tế xông đất đầu năm với các nghi lễ truyền thống của Việt Nam như trống hội, múa lân, tặng hoa, lì xì cho du khách.

Du khách quốc tế rời tàu bắt đầu chuyến tham quan di sản vịnh Hạ Long.

Bà Maria Thompson, du khách người Anh, đến từ du thuyền Seabourn Encore, cho biết bà rất bất ngờ trước sự đón tiếp nồng hậu từ địa phương. “Tôi rất ấn tượng với nghi thức tết cổ truyền của Việt Nam. Đây chính khởi đầu tuyệt vời trên hành trình khám phá vịnh di sản”, bà Maria Thompson nói.

Ông Lý Kiến Hoa, du khách Trung Quốc đến từ tàu Piano Land, đánh giá cao sự chuyên nghiệp, hiếu khách của Việt Nam. “Chất lượng dịch vụ du lịch Việt Nam ngày càng tiệm cận chuẩn mực quốc tế, tạo ấn tượng tốt đẹp đối với chúng tôi”, ông Lý Kiến Hoa nói.

Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh Bùi Văn Khắng lì xì du khách quốc tế.

Sau lễ đón, du khách sẽ có lịch trình tham quan Di sản Thiên nhiên Thế giới Vịnh Hạ Long với chương trình city tour khám phá văn hóa, ẩm thực, nhịp sống địa phương. Công tác nhập cảnh, an ninh và điều phối tour được triển khai đồng bộ, nhanh chóng, bảo đảm an toàn, thuận tiện.

Du khách quốc tế nhận quà lưu niệm tại Cảng tàu khách quốc tế Hạ Long.

Sau 2 du thuyền Seabourn Encore và Piano Land, tới đây, trong các ngày 19/2 (mùng 3 Tết), 20/2 (mùng 4 Tết) và 24/2 (mùng 8 Tết), Cảng tàu khách quốc tế Hạ Long sẽ tiếp tục đón các du thuyền Le Jacques Cartier (quốc tịch Pháp), Adora Mediterranea (quốc tịch Bahamas) và Silver Nova (quốc tịch Bahamas).

Du khách quốc tế chụp ảnh lưu niệm tại Cảng tàu khách quốc tế Hạ Long. Du khách rời cảng đi tham quan di sản vịnh Hạ Long.

Sự kiện Cảng tàu khách quốc tế Hạ Long liên tiếp đón 5 siêu du thuyền trong dịp tết Nguyên đán cho thấy Quảng Ninh đang trở thành điểm đến ưa thích trên hải trình của nhiều hãng tàu quốc tế.

Dự kiến trong năm 2026, Cảng tàu khách quốc tế Hạ Long sẽ đón khoảng 88 chuyến tàu biển với khoảng 150.000 lượt khách đến từ các thị trường trọng điểm như Mỹ, Đức, Anh, Canada, Trung Quốc và nhiều quốc gia châu Âu.

-Mai Hoàng

Categories: The Latest News

Nhà mạng nào đang dẫn đầu tốc độ mạng di động 5G?

Tue, 02/17/2026 - 18:21
Viettel tiếp tục dẫn đầu về tốc độ mạng di động 5G trong tháng 1/2026. Đứng thứ hai, VNPT duy trì chất lượng 5G ổn định trong nhiều tháng qua...

Ghi nhận từ nền tảng đo tốc độ i-Speed của Trung tâm Internet Việt Nam (VNNIC, Bộ Khoa học và Công nghệ), trong tháng 1/2026, chất lượng mạng 5G trên phạm vi toàn quốc tiếp tục cải thiện rõ rệt.

Cụ thể, tốc độ tải xuống (download) trung bình của 5G toàn quốc đạt 594,81 Mbps, nhanh hơn 52% so tốc độ tải xuống 391,05 Mbps của tháng 12/2025. Đáng chú ý, tốc độ tải lên (upload) đạt 123,71 Mbps, nhanh hơn 29,5% so với tốc độ 95,47 Mbps được ghi nhận trong tháng trước.

Xét theo từng nhà mạng, Viettel tiếp tục dẫn đầu về tốc độ mạng di động 5G trong tháng 1/2026. Tốc độ tải xuống trong tháng vừa qua của nhà mạng này là 616,99 Mbps, cải thiện 53,2% so với tốc độ 402,61 Mbps của tháng 12/2025. Tốc độ tải lên mạng di động 5G của Viettel cũng tăng từ 98,4 Mbps lên 127,09 Mbps, củng cố vị trí dẫn đầu của nhà mạng này.

Đứng thứ hai là VNPT với tốc độ tải xuống đạt 311,11 Mbps và tải lên 52,7 Mbps. Đây cũng là nhà mạng duy trì chất lượng 5G ổn định nhất, ít biến động trong khoảng 8 tháng qua.

MobiFone đứng thứ ba với tốc độ tải xuống 5G đạt 187,57 Mbps và tải lên 35,33 Mbps. So với mức đỉnh ghi nhận vào tháng 11/2025, tốc độ hiện tại đã giảm khoảng 57%. 

Ở cấp độ địa phương, trong nhóm các đô thị lớn gồm Hà Nội, Hải Phòng, TP. Hồ Chí Minh, Cần Thơ và Đà Nẵng, Đà Nẵng tiếp tục giữ vị trí dẫn đầu về tốc độ 5G với mức tải xuống đạt 677,23 Mbps. Xếp sau là TP. Hồ Chí Minh và Cần Thơ – hai địa phương ghi nhận mức tăng trưởng bứt phá trong tháng. Cụ thể, TP. Hồ Chí Minh đạt 632,02 Mbps, tăng 86% so với tháng trước; trong khi Cần Thơ đạt 595,88 Mbps, tăng 83,9%. 

Tính chung mạng di động (bao gồm cả 4G và 5G), chất lượng toàn quốc trong tháng 1/2026 duy trì ổn định. Tốc độ tải xuống trung bình đạt 90,05 Mbps, trong khi tốc độ tải lên đạt 29,77 Mbps.

Thứ hạng giữa các nhà mạng gần như không thay đổi. Viettel tiếp tục dẫn đầu với tốc độ tải xuống trung bình 111,18 Mbps và tải lên 31,66 Mbps. VNPT đứng thứ hai với 73,33 Mbps (tải xuống) và 28,82 Mbps (tải lên). MobiFone xếp thứ ba với 55,42 Mbps và 23,64 Mbps. Vietnamobile tiếp tục đứng cuối bảng, với tốc độ tải xuống 11,09 Mbps và tải lên 4,74 Mbps.

Ở góc độ địa phương, chất lượng mạng di động tại Hải Phòng giảm mạnh, khi tốc độ tải xuống từ 221,19 Mbps trong tháng 12/2025 xuống còn 105,36 Mbps trong tháng 1/2026. Cần Thơ và Đà Nẵng cũng ghi nhận mức sụt giảm. Ngược lại, TP. Hồ Chí Minh và Hà Nội lại cải thiện tốc độ so với tháng trước đó.

Đối với mạng băng rộng cố định, chất lượng dịch vụ trên toàn quốc trong tháng 1/2026 duy trì ổn định. Tốc độ tải xuống trung bình đạt 256,86 Mbps, còn tải lên đạt 170,28 Mbps.

Tại các đô thị lớn gồm Hà Nội, Hải Phòng, TP. Hồ Chí Minh, Cần Thơ và Đà Nẵng, chất lượng mạng cố định nhìn chung được duy trì đồng đều. Hà Nội tiếp tục là địa phương dẫn đầu về tốc độ mạng cố định kể từ tháng 6/2025, với tốc độ tải xuống đạt 337,31 Mbps.

Về xếp hạng nhà cung cấp dịch vụ băng rộng cố định, Viettel giữ vị trí số một với tốc độ tải xuống 300,96 Mbps và tải lên 229,53 Mbps.

Nhờ tốc độ mạng tăng trưởng mạnh trong tháng qua, CMC Telecom đã vươn lên vị trí thứ hai về chất lượng mạng băng rộng cố định. Cụ thể, tốc độ tải xuống tăng từ 229,31 Mbps lên 268,61 Mbps, tương đương mức tăng khoảng 17,1%. Đáng chú ý hơn, tốc độ tải lên tăng từ 80,85 Mbps lên 109,41 Mbps, tức tăng khoảng 35,3%.

VNPT xếp thứ ba với tốc độ tải xuống 250,6 Mbps và tải lên 167,42 Mbps. Theo sau là FPT Telecom với 172,6 Mbps (tải xuống) và 104,53 Mbps (tải lên). Ở các vị trí tiếp theo, SCTV đạt 95,11 Mbps và 32,92 Mbps, trong khi NETNAM ghi nhận 68,22 Mbps (tải xuống) và 70,54 Mbps (tải lên).

-Ngô Huyền

Categories: The Latest News

Tết Trung Quốc trong kỷ nguyên công nghệ: khi lễ hội trở thành ngành công nghiệp sáng tạo

Tue, 02/17/2026 - 18:18
Tết Nguyên đán 2026 tại Trung Quốc không chỉ là dịp đoàn viên mà còn trở thành “phòng thí nghiệm” công nghệ, với drone, robot và AI tham gia lễ hội. Sự kết hợp giữa văn hóa truyền thống và đổi mới đang biến Tết thành công cụ kinh tế sáng tạo và quyền lực mềm của Bắc Kinh.

Theo Nhật Báo Trung Quốc (China Daily), tại Thuần An, một huyện cổ ở tỉnh Chiết Giang, những vũ công dân gian vẫn mang theo khung tre mô phỏng hình ngựa, nhảy múa theo nhịp trống truyền thống.

Trong khi đó, cách hàng nghìn km về phía nam, bầu trời Thâm Quyến được “vẽ” bởi hàng nghìn máy bay không người lái tạo hình đàn ngựa phi nước đại với độ chính xác tính bằng milimet.

Hai lát cắt này cho thấy một Trung Quốc đang tìm cách kết nối quá khứ nông nghiệp với tương lai số hóa thông qua lễ hội quan trọng nhất trong năm.

DI SẢN VĂN HÓA TRONG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN MỚI

Múa ngựa tre ở huyện Thuần An là một ví dụ điển hình của nghệ thuật dân gian có lịch sử nhiều thế kỷ. Hình ảnh con ngựa gắn liền với các cộng đồng nông nghiệp, nơi ngựa từng là phương tiện vận chuyển và biểu tượng của sức lao động. Trong hệ thống biểu tượng văn hóa Á Đông, ngựa đại diện cho sự bền bỉ, năng động và tinh thần tiên phong - những phẩm chất thường được nhấn mạnh trong các thông điệp phát triển quốc gia.

Điều đáng chú ý là cách Trung Quốc tiếp cận bảo tồn di sản. Thay vì giữ nguyên hình thức biểu diễn mang tính “bảo tàng sống”, các hoạt động dân gian được mở rộng quy mô, kết hợp vũ đạo hiện đại và huy động cộng đồng tham gia rộng rãi. Đây là mô hình “bảo tồn động”, trong đó di sản trở thành sản phẩm văn hóa phục vụ du lịch và giáo dục cộng đồng.

Việc công nhận múa ngựa tre là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia không chỉ mang ý nghĩa bảo tồn mà còn tạo cơ sở pháp lý để đầu tư công, phát triển sản phẩm du lịch và thúc đẩy kinh tế địa phương. Với hàng trăm buổi biểu diễn trong mùa lễ hội, các địa phương có thể thu hút dòng khách du lịch nội địa vốn đang tăng mạnh trong kỳ nghỉ Tết.

CÔNG NGHỆ TÁI ĐỊNH NGHĨA TRẢI NGHIỆM LỄ HỘI

Nếu di sản dân gian đại diện cho “truyền thống hữu hình”, thì trình diễn drone tại Thâm Quyến thể hiện rõ nét chiến lược chuyển dịch sang công nghệ xanh và công nghiệp sáng tạo. Thay vì pháo hoa gây ô nhiễm và tiếng ồn, hàng nghìn drone được điều khiển bằng thuật toán đã biến bầu trời thành một không gian trình diễn kỹ thuật số.

Từ góc độ công nghệ, các màn trình diễn này là bài toán phức tạp về điều khiển đồng bộ, định vị chính xác và xử lý dữ liệu thời gian thực. Các doanh nghiệp Trung Quốc đang sử dụng lễ hội như một “sân khấu” để trình diễn năng lực công nghệ, đồng thời quảng bá các giải pháp điều khiển bay, phần mềm dựng hình 3D và hệ thống điều phối không người lái.

Đối với khán giả, trải nghiệm lễ hội đã chuyển từ thụ động sang tương tác. Các nội dung trình diễn được thiết kế để dễ dàng ghi lại bằng smartphone và lan truyền trên mạng xã hội, biến người xem thành một phần của hệ sinh thái truyền thông. Điều này phù hợp với chiến lược “nền kinh tế chú ý”, nơi giá trị được tạo ra từ lượt xem, chia sẻ và dữ liệu người dùng.

Bên cạnh drone, trí tuệ nhân tạo và robot đang dần tham gia vào các hoạt động Tết. Từ robot xuất hiện trên sân khấu gala truyền hình, đến cánh tay robot phục vụ đồ uống tại hội chợ đền chùa, công nghệ đang tái định nghĩa cách con người trải nghiệm lễ hội và tạo ra nhu cầu mới cho phần cứng robot, phần mềm AI và nội dung số.

LỄ HỘI, QUYỀN LỰC MỀM VÀ KINH TẾ SÁNG TẠO

Không chỉ phục vụ thị trường nội địa, các doanh nghiệp Trung Quốc đang đưa mô hình trình diễn công nghệ ra thế giới, trở thành một dạng “xuất khẩu dịch vụ sáng tạo”. Đây là lĩnh vực nằm trong chuỗi giá trị mới, kết hợp phần cứng, phần mềm, nội dung sáng tạo và dịch vụ tổ chức sự kiện.

Ở góc độ chính sách, Trung Quốc đang coi văn hóa và công nghệ là hai trụ cột của nền kinh tế dịch vụ. Các sự kiện lễ hội công nghệ cao vừa phục vụ tiêu dùng trong nước, vừa tạo hình ảnh về một quốc gia đổi mới và thân thiện môi trường.

Tết Nguyên đán cũng trở thành công cụ quyền lực mềm trong kỷ nguyên số. Các hình ảnh lễ hội công nghệ cao được lan truyền toàn cầu, góp phần xây dựng câu chuyện quốc gia về đổi mới sáng tạo.

Đồng thời, lễ hội ánh sáng, trình diễn drone và sự kiện văn hóa về đêm đang được tích hợp vào chiến lược phát triển kinh tế ban đêm và đô thị thông minh, thúc đẩy du lịch, bán lẻ và dịch vụ.

Tuy nhiên, việc công nghệ hóa lễ hội cũng đặt ra thách thức về bảo tồn bản sắc khi các hoạt động dân gian có nguy cơ bị “làm nền”. Các nhà nghiên cứu văn hóa cho rằng chìa khóa nằm ở sự cân bằng: công nghệ là công cụ, còn bản sắc văn hóa phải là lõi nội dung.

Tết Nguyên đán 2026 cho thấy Trung Quốc đang biến lễ hội thành một nền tảng đa chức năng: bảo tồn văn hóa, thử nghiệm công nghệ, thúc đẩy tiêu dùng và quảng bá quốc gia. Sự kết hợp giữa múa dân gian hàng thế kỷ và trình diễn công nghệ cao phản ánh chiến lược phát triển dựa trên sáng tạo và công nghệ.

Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu chuyển dịch sang dịch vụ và nội dung số, lễ hội không còn chỉ là truyền thống mà đang trở thành một phần của nền kinh tế sáng tạo. Với biểu tượng con ngựa của tốc độ và tiến lên, Trung Quốc đang sử dụng chính Tết Nguyên đán như một động cơ văn hóa - công nghệ để bước vào kỷ nguyên AI.

China Daily-Trọng Hoàng

Categories: The Latest News

Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản lập kỷ lục tạo đà bứt phá năm 2026

Tue, 02/17/2026 - 18:16
Năm 2025, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt kỷ lục hơn 70 tỷ USD, trong đó nổi bật là sự bứt phá của rau quả và cà phê. Bước sang năm 2026, với đà phục hồi mạnh mẽ, riêng kim ngạch rau quả dự báo có thể đạt 10 tỷ USD, tiếp tục khẳng định vị thế nông sản Việt trên thị trường quốc tế.

Năm 2025 đã chứng kiến một bước ngoặt quan trọng trong lĩnh vực xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam khi kim ngạch đạt mức kỷ lục hơn 70 tỷ USD. Đây không chỉ là một con số ấn tượng mà còn là minh chứng cho sự phát triển mạnh mẽ và bền vững của ngành nông nghiệp nước ta.

Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đang dần phục hồi sau đại dịch, thành tựu này không chỉ khẳng định vị thế của nông sản Việt trên thị trường quốc tế mà còn mở ra những triển vọng mới cho năm 2026.

Theo số liệu từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản năm 2025 đạt 70,09 tỷ USD, tăng 12% so với năm 2024 và vượt xa mục tiêu 65 tỷ USD đã đề ra.

Đáng chú ý, xuất siêu toàn ngành đạt khoảng 20,7 tỷ USD, tăng 16,8% so với năm trước. Trong cơ cấu xuất khẩu, nhóm nông sản tiếp tục giữ vai trò chủ lực với 37,25 tỷ USD, tăng gần 14%. Lâm sản và thủy sản cũng ghi nhận những con số ấn tượng với kim ngạch lần lượt đạt 18,5 tỷ USD và 11,32 tỷ USD.

Đặc biệt, sản phẩm chăn nuôi và đầu vào sản xuất cũng có sự tăng trưởng đáng kể, cho thấy sự đa dạng và phong phú của ngành nông nghiệp Việt Nam.

Một trong những điểm sáng nổi bật trong bức tranh xuất khẩu nông sản năm qua chính là sự bứt phá của rau quả và cà phê. Lần đầu tiên, hai mặt hàng này vượt ngưỡng 8 tỷ USD, cho thấy sự chuyển dịch sang giá trị cao và khả năng thích ứng linh hoạt trước biến động toàn cầu.

Cụ thể, xuất khẩu cà phê đạt 8,57 tỷ USD, tăng 52% về trị giá so với năm 2024, nhờ giá cà phê xuất khẩu duy trì ở mức cao kỷ lục. Tương tự, xuất khẩu rau quả cũng đạt kỷ lục 8,6 tỷ USD, tăng gần 20%, với động lực chính đến từ các loại trái cây chủ lực như sầu riêng, chuối, xoài, mít, dừa và bưởi.

Thị trường xuất khẩu nông sản của Việt Nam cũng có sự mở rộng đáng kể. Châu Á vẫn là khu vực tiêu thụ lớn nhất với 45,2% thị phần, tiếp theo là châu Mỹ và châu Âu. Đặc biệt, xuất khẩu sang châu Âu tăng mạnh nhất với 34,2%, cho thấy tiềm năng lớn của thị trường này.

Trung Quốc tiếp tục là thị trường lớn nhất của rau quả Việt Nam, chiếm khoảng 64% tổng kim ngạch xuất khẩu. Mặc dù đầu năm 2025, xuất khẩu sang thị trường này gặp khó khăn do vấn đề kiểm soát dư lượng, nhưng nhờ các nghị định thư mới được ký kết, xuất khẩu đã phục hồi nhanh chóng.

Bên cạnh những thành công, ngành nông nghiệp Việt Nam cũng đối mặt với một số thách thức. Xuất khẩu gạo và cao su đều giảm, cho thấy sự cần thiết phải đa dạng hóa sản phẩm và thị trường.

Tuy nhiên, với nền tảng tích cực của năm 2025, ngành nông nghiệp Việt Nam được kỳ vọng sẽ tiếp tục phát triển bền vững và đóng góp lớn hơn cho tăng trưởng kinh tế quốc gia.

Nhìn về tương lai, năm 2026 hứa hẹn sẽ là một năm đầy triển vọng cho xuất khẩu nông, lâm, thủy sản Việt Nam. Với đà phục hồi mạnh mẽ, kim ngạch xuất khẩu rau quả dự báo có thể đạt 10 tỷ USD, tiếp tục khẳng định vị thế của nông sản Việt trên thị trường quốc tế.

Ngành lâm nghiệp cũng đặt mục tiêu xuất khẩu khoảng 18,5 tỷ USD, đồng thời đẩy mạnh phát triển rừng gỗ lớn và ứng dụng khoa học – công nghệ. Trong khi đó, ngành thủy sản, dù đối mặt với nhiều thách thức, vẫn ghi nhận kết quả tích cực và được kỳ vọng sẽ duy trì đà tăng trưởng trong năm tới.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên ấn phẩm đặc biệt Tạp chí Kinh tế Việt Nam mừng xuân Bính Ngọ phát hành ngày 16/2 - 1/3/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:

https://vneconomy.vn/don-doc-an-pham-dac-biet-cua-tap-chi-kinh-te-viet-nam-mung-xuan-binh-ngo-2026.htm

-Chu Minh Khôi

Categories: The Latest News

Hình tượng ngựa trong dòng chảy lịch sử

Tue, 02/17/2026 - 17:46
Trong dòng chảy văn hóa Việt Nam, hiếm có con vật nào vừa gần gũi với đời sống thường nhật, vừa mang nhiều tầng ý nghĩa tâm linh như ngựa. Ngựa xuất hiện trong truyền thuyết, tín ngưỡng, lễ nghi; ngựa trong thành ngữ, ca dao; ngựa đi cùng lịch sử mở đất, giữ nước và cả những sinh hoạt đời thường của người dân khắp mọi miền.

Hình tượng ngựa trong văn hóa Việt Nam không chỉ là một biểu tượng quen thuộc trong đời sống thường nhật mà còn mang nhiều tầng ý nghĩa tâm linh sâu sắc. Ngựa xuất hiện trong truyền thuyết, tín ngưỡng, lễ nghi và cả trong thành ngữ, ca dao, gắn liền với lịch sử mở đất, giữ nước của dân tộc. Trong tín ngưỡng dân gian, ngựa được xem là linh vật trung gian giữa con người và thế giới thần thiêng, biểu tượng cho sự trung thành, bền bỉ và khát vọng vươn xa. Hình ảnh ngựa sắt phun lửa của Thánh Gióng là minh chứng rõ nét cho sức mạnh siêu nhiên và tinh thần quật khởi của cộng đồng.

Ngựa không chỉ hiện diện trong đời sống tâm linh mà còn gắn bó mật thiết với nhịp sống nông nghiệp và xã hội tiền hiện đại. Khi giao thông đường bộ còn khó khăn, ngựa là phương tiện quan trọng để vận chuyển hàng hóa, đi lại, truyền tin. Từ vai trò thực tiễn ấy, ngựa dần được “thiêng hóa”, bước vào thế giới biểu tượng, thể hiện qua các câu thành ngữ, tục ngữ như “mã đáo thành công”, “ngựa quen đường cũ”. Những câu này không chỉ phản ánh kinh nghiệm sống mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh, khát vọng chinh phục và khả năng làm chủ chính mình.

Trong bối cảnh hiện đại, dù ngựa không còn giữ vai trò thiết yếu trong đời sống thường nhật, hình ảnh ngựa vẫn hiện diện trong các lễ hội truyền thống, tranh Tết, tượng ngựa trang trí, như một ký ức văn hóa sống động, nhắc nhớ về sức mạnh tinh thần bền bỉ, trung thành và khát vọng vươn xa của con người.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây: 

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-Anh Khuê

Categories: The Latest News

Bảng giá đất mới: Mừng mà cũng lo

Tue, 02/17/2026 - 16:12
Bỏ khung giá đất, ban hành Bảng giá đất mới là bước tiến tất yếu trong quản lý nhà nước, góp phần minh bạch hóa thị trường, hạn chế thất thu ngân sách và đẩy nhanh tiến độ đền bù, giải phóng mặt bằng... Tuy nhiên, việc áp dụng bảng giá đất mới với mức tăng “sốc” tại nhiều khu vực cũng tạo ra những lo ngại về rủi ro cho thị trường bất động sản.

Thông thường, giá đất chiếm 15-30% chi phí đầu vào của một dự án bất động sản. Bởi vậy, khi các địa phương đồng loạt áp dụng bảng giá đất mới (từ 1/1/2026) với mức tăng cao so với giá cũ, dự kiến giá nhà ở tại nhiều nơi, nhất là Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh sẽ có những biến động mạnh.

Cuối tháng 11/2025, Hội đồng Nhân dân TP.Hà Nội đã thông qua Nghị quyết 52/2025/ NQ-HĐND quy định bảng giá đất lần đầu để công bố và áp dụng từ ngày 1/1/2026 trên địa bàn. Theo đó, giá đất tại Hà Nội được chia thành 17 khu vực dựa trên nhóm các đơn vị hành chính có điều kiện phát triển tương đối giống nhau về vị trí địa lý, mức độ đô thị hóa, hạ tầng kỹ thuật - xã hội, mật độ dân cư và hoạt động sản xuất, kinh doanh.

GIÁ ĐẤT HÀ NỘI TĂNG 2-26%

Tại khu vực 1 gồm các phường trong vành đai 1: Tây Hồ, Ngọc Hà, Ba Đình, Giảng Võ, Ô Chợ Dừa, Hoàn Kiếm, Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Cửa Nam, Hai Bà Trưng, giá đất ở bình quân là 255,331 triệu đồng/m2, tăng 2% so với mức giá cũ và cao nhất là 702,257 triệu đồng/m2. Trong khi đó, nhiều xã thuộc khu vực ngoại thành, giá đất tăng tới 25-26%.

Đề cập đến mức tăng trên, báo cáo thuyết minh của Công ty Cổ phần Thẩm định giá và Thương mại VIC (đơn vị tư vấn, tổ chức thực hiện định giá đất) lý giải: “Quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng ở nhiều xã thuộc các huyện ngoại thành cũ như xã Đông Anh, Phúc Thịnh, Gia Lâm, Bát Tràng, Thanh Trì, Ngọc Hồi, Hoài Đức, Sơn Đồng, Ô Diên... Sự gia tăng dân số cơ học từ dòng người nhập cư, lao động ngoại tỉnh và nhu cầu học tập, làm việc tại Thủ đô đã tạo áp lực rất lớn cho quỹ đất đô thị, khiến giá đất tăng mạnh ở một số khu vực”.

Bên cạnh đó, trong hai năm 2024-2025, Hà Nội tập trung đầu tư hàng loạt công trình hạ tầng trọng điểm: đường Vành đai 4, các tuyến metro số 2A, số 3, mở rộng các tuyến đường trục Tây Thăng Long, Nguyễn Trãi, Trần Phú – Hà Đông… Hạ tầng giao thông kết nối mạnh mẽ với các tỉnh lân cận, đồng thời nâng cao giá trị sử dụng đất tại các khu vực dự án đi qua, đẩy giá đất lên. Vì vậy, nếu tiếp tục áp dụng Bảng giá đất cũ sẽ dẫn đến tình trạng không thống nhất, gây khó khăn trong quản lý nhà nước và thực hiện chính sách tài chính về đất đai.

Còn theo nội dung tờ trình của Sở Nông nghiệp Môi trường TP.Hà Nội, việc xây dựng Bảng giá đất mới tuân thủ theo quy định của Luật Đất đai năm 2024, các Nghị định của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật đảm bảo nguyên tắc thị trường, đáp ứng yêu cầu thực tiễn, giảm bớt sự chênh lệch giữa giá đất quy định tại bảng giá đất và giá đất chuyển nhượng phổ biến trên thị trường. Mức tăng không quá lớn giúp đảm bảo hài hòa, cân đối thu - chi ngân sách, không làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh, phát triển kinh tế của các tổ chức, cá nhân.

Xây dựng Bảng giá đất mới còn là cơ hội để Thành phố hoàn thiện hệ thống dữ liệu số, công khai bảng giá đất trực tuyến, giúp người dân và doanh nghiệp dễ dàng tra cứu. Đây cũng là yêu cầu để chính quyền hai cấp phối hợp trong việc cập nhật, đồng bộ dữ liệu.

GIÁ ĐẤT TP.HCM TĂNG 1-8,1 LẦN

Chiều ngày 26/12/2025, tại kỳ họp thứ 7, Hội đồng Nhân dân TP.Hồ Chí Minh khóa X đã thông qua Nghị quyết Ban hành quy định Bảng giá đất lần đầu áp dụng từ ngày 1/1/2026 trên địa bàn Thành phố. Một trong những cơ sở quan trọng để xây dựng bảng giá đất lần này xuất phát từ yêu cầu thực tiễn trong quản lý đất đai, nhất là trong bối cảnh Thành phố đã hoàn tất việc sáp nhập với tỉnh Bình Dương và tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Theo đó, Bảng giá đất 2026 được chia thành các khu vực theo địa giới hành chính trước sáp nhập nhằm bảo đảm tính kế thừa, phù hợp với đặc điểm phát triển và mặt bằng giá từng địa bàn.

Nhìn tổng thể, giá đất tăng ở hầu hết khu vực nhưng mức tăng không đồng đều: khu vực trung tâm cũ của TP.Hồ Chí Minh tăng nhẹ, trong khi giá đất tại các đô thị đang phát triển của Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu có mức tăng mạnh.

Cụ thể, giá đất trên địa bàn khu vực 1 – trung tâm TP.Hồ Chí Minh có hệ số tăng từ 1 - 1,56 lần, giá cao nhất là 687.200.000 đồng/m2 thuộc vị trí mặt đường Đồng Khởi, Nguyễn Huệ, Lê Lợi. Mức giá này không thay đổi so với Bảng giá đất theo Quyết định 79/2024/QĐ-UBND. Địa bàn khu vực 2 - tỉnh Bình Dương (cũ) có hệ số tăng cao nhất là 8,10 lần so với Quyết định 63/2024/QĐ-UBND. Tuyến đường có giá tăng mạnh là DH. 505 - đoạn từ cầu Lễ Trang đến DH. 507: giá đất ở tăng từ 780.000 đồng lên 6,3 triệu đồng/m2. Mức giá cao nhất sau điều chỉnh tại Bình Dương đạt 89, 6 triệu đồng/m2 - thuộc đường Bác sĩ Yersin và đường Bạch Đằng (giá cũ là 52,16 triệu đồng/m2).

Địa bàn khu vực 3 là tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (cũ) cũng được điều chỉnh tăng 1,7 - 3,78 lần so với Quyết định 26/2024/QĐ-UBND. Theo đó, giá cao nhất 149,8 triệu đồng/m2 áp dụng cho tuyến đường Thùy Vân – trục du lịch dịch vụ trọng điểm của tỉnh.

Tờ trình của Sở Nông nghiệp và Môi trường cho biết mức giá này được xây dựng dựa trên kết quả khảo sát giá giao dịch thực tế tại các khu vực, sau đó, các cơ quan chức năng rà soát và cân đối lại, chỉ tính tương đương 60% giá giao dịch trên thị trường. Theo khảo sát, bảng giá đất cũ quá thấp so với giá giao dịch thực tế, có nơi tại Bình Dương, giá giao dịch thực tế cao hơn 13,6 lần; tại Bà Rịa - Vũng Tàu, cao hơn 45,2 lần giá quy định trong bảng giá đất áp dụng cho năm 2025.

Bởi vậy, việc thiết lập Bảng giá đất mới không chỉ xuất phát từ quy định bắt buộc của Luật Đất đai năm 2024 mà còn phản ánh yêu cầu thực tiễn trong công tác quản lý đất đai và sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế - xã hội của địa phương; khắc phục những hạn chế của các bảng giá đất hiện hành; mở rộng phạm vi áp dụng theo quy định mới nhằm đảm bảo sự công bằng trong việc tính toán nghĩa vụ tài chính về đất đai.

Cuộc họp thẩm tra của Ban Kinh tế - Ngân sách Hội đồng Nhân dân TP.Hồ Chí Minh cũng đã thống nhất rằng bảng giá đất mới không chỉ là một công cụ quản lý mà còn là một bước tiến quan trọng trong việc xây dựng một môi trường đầu tư minh bạch và hiệu quả. Với sự đồng thuận cao từ các cơ quan chức năng và sự chuẩn bị kỹ lưỡng, bảng giá đất mới hứa hẹn sẽ góp phần ổn định thị trường bất động sản và thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững cho Thành phố trong giai đoạn tới.

Mặc dù vậy, việc áp dụng bảng giá đất mới cũng gặp phải nhiều ý kiến trái chiều. Hiệp hội bất động sản Việt Nam nhìn nhận rằng không ít địa phương đưa ra bảng giá tăng “sốc” đang tạo ra những rủi ro cho doanh nghiệp, người dân và cả hoạt động tín dụng ngân hàng.

THÁCH THỨC GIÁ ĐẤT CHO THỊ TRƯỜNG NHÀ Ở

Đối với thị trường bất động sản, khi giá đất tăng cao, với những dự án đang triển khai, doanh nghiệp sẽ rơi vào tình thế khó khăn và lúng túng khi phải cân nhắc việc có nên tiếp tục triển khai hay tạm dừng. Bởi chi phí tiền sử dụng đất tăng mạnh có thể khiến tổng mức đầu tư vượt xa khả năng tài chính của doanh nghiệp.

Ngược lại, với các dự án chưa triển khai, doanh nghiệp sẽ phải cân nhắc đến việc tăng giá bán, đồng thời, phát triển sản phẩm cao cấp để duy trì biên lợi nhuận trong bối cảnh quỹ đất khan hiếm. Giá bán dự kiến tăng theo chi phí đầu vào, khiến sức mua thực giảm.

Một số chuyên gia cho rằng dù giá đất tăng sẽ giúp tăng nguồn thu ngân sách địa phương thông qua thuế, phí và tiền sử dụng đất, nhưng cũng sẽ dẫn đến chi phí giá nhà ở tăng cao, khiến giá bán sản phẩm bất động sản bị đội lên, làm giảm sự hấp dẫn đầu tư, giảm cơ hội tiếp cận nhà ở của người dân, đặc biệt là người mua ở thực, từ đó, gây khó khăn cho việc ổn định an sinh xã hội trên địa bàn...

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8/2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-Dương Huyền Ngân

Categories: The Latest News

Ngành Công thương bứt phá trong kỷ nguyên mới

Tue, 02/17/2026 - 13:06
Bước vào năm 2026, dấu mốc mở ra kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, Thứ trưởng Phan Thị Thắng khẳng định: “Ngành Công Thương không chỉ giữ vai trò là nòng cốt, trụ cột vững chắc của nền kinh tế, mà còn là nhân tố quyết định trong việc bảo đảm an ninh năng lượng và thúc đẩy hội nhập quốc tế sâu rộng, tạo xung lực bứt phá cho giai đoạn phát triển mới”.

Thưa Thứ trưởng, nhìn lại giai đoạn 2021-2025, đâu là những kết quả ấn tượng nhất thể hiện vai trò nòng cốt của ngành Công Thương trong phát triển kinh tế giai đoạn 2021-2025, đặc biệt là năm 2025?

Trong nhiệm kỳ vừa qua, ngành Công Thương đã có những đóng góp rất quan trọng, toàn diện và mang tính nền tảng đối với phát triển kinh tế – xã hội đất nước. Ngành đã chủ động tham mưu xây dựng nhiều cơ chế, chính sách chiến lược nhằm thúc đẩy kinh tế, công nghiệp, thương mại và đầu tư; tháo gỡ các điểm nghẽn lớn để Trung ương, Quốc hội và các cấp có thẩm quyền ban hành nhiều nghị quyết, kết luận có tính chất quan trọng, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội (Nghị quyết 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới; Nghị quyết số 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết về cơ chế, chính sách phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026 – 2030…).

Với vai trò nòng cốt, trụ cột chiến lược, ngành Công Thương tiếp tục là một trong những động lực chủ yếu thúc đẩy tăng trưởng, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển theo hướng tự chủ, hiện đại hóa, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng, hiệu quả.

Sự phục hồi và tăng trưởng của sản xuất công nghiệp là minh chứng rõ nét nhất cho nỗ lực của toàn ngành với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 6,1% mỗi năm. Đáng chú ý, công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò động lực trung tâm của tăng trưởng - đạt mức tăng bình quân 6,9%/năm; quy mô toàn ngành tăng gần 1,5 lần so với đầu nhiệm kỳ. Tỷ lệ nội địa hóa tiếp tục được cải thiện; nhiều ngành công nghiệp mũi nhọn như điện tử, dệt may, da giày, chế biến nông sản đã hội nhập thành công, từng bước khẳng định vị trí của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Trong lĩnh vực năng lượng, hệ thống năng lượng quốc gia phát triển mạnh mẽ, quy mô hệ thống điện vươn lên nhóm 20 nước hàng đầu thế giới và đứng đầu khu vực Đông Nam Á. An ninh năng lượng quốc gia cơ bản được bảo đảm, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và đời sống nhân dân; cơ cấu năng lượng chuyển dịch theo hướng xanh hơn, bền vững hơn, phù hợp với xu thế toàn cầu.

Xuất nhập khẩu tiếp tục là điểm sáng nổi bật của nền kinh tế với tốc độ tăng trưởng bình quân 10,9%/năm. Kim ngạch xuất nhập khẩu liên tục xác lập các kỷ lục mới, riêng năm 2025 đạt trên 930 tỷ USD, gấp đôi so với đầu nhiệm kỳ; nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực duy trì thứ hạng cao trên thị trường thế giới. Thặng dư thương mại được giữ vững ở mức cao, đóng góp tích cực vào cân đối vĩ mô, bổ sung dự trữ ngoại hối và củng cố niềm tin thị trường.

Thị trường trong nước tiếp tục phát triển ổn định, với tốc độ tăng trưởng bình quân 7,7%/năm, thực sự trở thành một trụ cột quan trọng của nền kinh tế. Việc bảo đảm cung ứng đầy đủ nguyên, nhiên liệu và hàng hóa thiết yếu đã giúp thị trường trong nước phát huy vai trò “bệ đỡ”, hỗ trợ nền kinh tế đứng vững và phục hồi nhanh trước các cú sốc bên ngoài, đặc biệt trong giai đoạn đại dịch Covid-19. Cùng với đó, thương mại điện tử tăng trưởng trên 20%/năm, đưa Việt Nam vào nhóm 10 quốc gia có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất thế giới, tạo động lực quan trọng cho kinh tế số và chuyển đổi số doanh nghiệp.

Hội nhập kinh tế quốc tế được triển khai đồng bộ, thực chất và ngày càng hiệu quả. Việc tham gia 17 Hiệp định thương mại tự do đã mở ra không gian thị trường gần 6 tỷ người tiêu dùng, góp phần đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và thúc đẩy tái cơ cấu nền kinh tế theo hướng hiện đại, bền vững.

Trong những kết quả chung đó, vai trò của ngành Công Thương trong bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia được thể hiện như thế nào, thưa Thứ trưởng?

Trong cơ cấu phát triển bền vững, an ninh năng lượng được xác định là nhiệm vụ chính trị trọng yếu và xuyên suốt. Nghị quyết số 70-NQ/TW của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã  xác định mục tiêu phải bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia.

Thực hiện tinh thần của Nghị quyết số 70-NQ/TW, ngành Công Thương đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm đa dạng hóa nguồn năng lượng, kết hợp hài hòa giữa năng lượng truyền thống và năng lượng tái tạo, đồng thời thúc đẩy các dạng năng lượng mới, đẩy mạnh sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Cùng với đó, đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện thể chế, chính sách để phát triển thị trường năng lượng cạnh tranh, minh bạch nhằm thu hút mạnh mẽ các nguồn lực xã hội tham gia đầu tư phát triển năng lượng.

Thời gian qua, Bộ Công Thương đã dồn sức hoàn thiện thể chế năng lượng với trọng tâm là Luật Điện lực 2024 và Luật Dầu khí (sửa đổi). Việc tham mưu phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn 2050 (Quy hoạch điện 8 điều chỉnh) và triển khai quyết liệt các dự án lưới điện trọng điểm, đặc biệt là các đường dây 500 kV, 220kV đã giúp hệ thống điện Việt Nam vươn lên quy mô hàng đầu khu vực ASEAN. Đây là nền tảng quan trọng để bảo đảm cung ứng điện trong mọi tình huống, phục vụ đắc lực cho mục tiêu công nghiệp hóa.

Để bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia trong thời gian tới, ngành Công Thương đang tập trung xây dựng lộ trình thị trường điện cạnh tranh, minh bạch và hoàn thiện cơ chế giá điện theo nguyên tắc thị trường có sự điều tiết của Nhà nước. Đồng thời, việc đổi mới cơ chế tài chính để thu hút nguồn vốn xã hội hóa và ứng dụng chuyển đổi số trong vận hành hệ thống điện được xem là những giải pháp căn cơ để bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia bền vững.

Thưa Thứ trưởng, trong kỷ nguyên mới, ngành Công Thương sẽ tập trung triển khai những nhiệm vụ trọng tâm nào để góp phần thực hiện thắng lợi, toàn diện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng?

Đất nước ta đang bước vào một kỷ nguyên phát triển mới - kỷ nguyên của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng. Đây là giai đoạn mở ra nhiều thời cơ, thuận lợi lớn lao, đồng thời cũng đặt ra không ít khó khăn, thách thức đan xen.

Trong bối cảnh đó, để tiếp tục thúc đẩy phát triển công nghiệp và thương mại, góp phần thực hiện thắng lợi, toàn diện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, đóng góp xứng đáng vào sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới, ngành Công Thương quyết tâm tập trung triển khai đồng bộ, hiệu quả một số nhiệm vụ trọng tâm.

Thứ nhất, tiếp tục quán triệt, thể chế hóa đầy đủ, kịp thời các quan điểm, chủ trương, nghị quyết của Đảng về phát triển kinh tế – xã hội và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành các cơ chế, chính sách đồng bộ, khả thi; tập trung hoàn thiện thể chế theo tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW, lấy “chuyển đổi kép” (chuyển đổi xanh và chuyển đổi số) là đột phá của đột phá, tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thông thoáng, tháo gỡ điểm nghẽn, làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống và thúc đẩy các động lực tăng trưởng mới.

Thứ hai, đổi mới tư duy, cơ cấu lại ngành công nghiệp, thương mại theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh; lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển kinh tế tư nhân làm động lực chủ yếu. Tập trung phát triển các ngành công nghiệp nền tảng, chiến lược và từng bước làm chủ công nghệ trong một số ngành mới nổi; xây dựng cơ chế phát triển doanh nghiệp dân tộc, doanh nghiệp quy mô lớn; thu hút đầu tư đồng bộ hạ tầng năng lượng, công nghiệp, thương mại và logistics theo hướng hiện đại, xanh, số hóa, gắn với yêu cầu hội nhập sâu.

Thứ ba, nâng cấp, phát triển toàn diện chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng nhằm tăng tính tự chủ của nền kinh tế và nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu. Có chính sách đủ mạnh hỗ trợ doanh nghiệp trong nước tham gia sâu vào chuỗi của các tập đoàn lớn và doanh nghiệp FDI; tăng tỷ lệ nội địa hóa; thúc đẩy chuyển giao công nghệ, kỹ năng quản trị; phát triển các cụm liên kết ngành và chuỗi sản xuất khép kín.

Thứ tư, đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế gắn với cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng; khai thác hiệu quả các hiệp định thương mại tự do; tăng cường phòng vệ thương mại hợp pháp; đa dạng hóa thị trường, nguồn cung và chuỗi cung ứng, tránh phụ thuộc vào một số ít đối tác; đổi mới xúc tiến thương mại, phát triển thương mại điện tử và kinh tế số.

Thứ năm, thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện trong công nghiệp, thương mại; đẩy mạnh cải cách hành chính, đơn giản hóa thủ tục, điều kiện kinh doanh; mở rộng dịch vụ công trực tuyến, cơ chế một cửa liên thông, giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp và người dân.

Thứ sáu, hiện đại hóa công tác quản lý nhà nước. Việc đẩy mạnh cải cách hành chính, đơn giản hóa thủ tục và chuyển mạnh sang phương thức hậu kiểm gắn với quản lý rủi ro sẽ tạo môi trường kinh doanh minh bạch, thuận lợi cho doanh nghiệp. Ngành Công Thương sẽ kiên định mục tiêu phát triển tự chủ, hiện đại, lấy công nghiệp chế biến, chế tạo và năng lượng làm nền tảng vật chất quan trọng của nền kinh tế độc lập, tự chủ, quyết tâm đóng góp xứng đáng vào sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-

Categories: The Latest News

Bí thư Thành ủy Hà Nội: Khẳng định bản lĩnh, trí tuệ và tầm vóc Thủ đô trong kỷ nguyên mới

Tue, 02/17/2026 - 10:39
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Duy Ngọc đã chia sẻ những dấu ấn lịch sử nổi bật của Thủ đô trong năm 2025, làm rõ vị thế, vai trò và khát vọng vươn mình của Hà Nội trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước.

Thăng Long – Hà Nội, Thủ đô ngàn năm văn hiến và anh hùng, luôn được xem là nơi hội tụ, kết tinh và tỏa sáng những giá trị cao quý của dân tộc Việt Nam. Nhìn lại chiều dài lịch sử và chặng đường phát triển gần đây, Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Duy Ngọc khẳng định Hà Nội không chỉ là trái tim của cả nước mà còn đang ngày càng khẳng định mạnh mẽ bản lĩnh, trí tuệ và tầm vóc trong kỷ nguyên vươn lên giàu mạnh, thịnh vượng, Nhân dân hạnh phúc.

Bề dày lịch sử của mảnh đất ngàn năm văn hiến đã hun đúc tinh thần Thăng Long – Hà Nội với những giá trị bền vững, vừa mang chiều sâu truyền thống, vừa không ngừng vươn mình cùng thời đại. Hà Nội đang từng bước khẳng định vai trò biểu tượng của niềm tin, ý chí và khát vọng phát triển của dân tộc Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.

Bí thư Thành ủy nêu rõ Hà Nội không thể đảm nhận vai trò tiên phong, dẫn dắt nếu chỉ đi theo lối mòn. Với khát vọng phát triển hùng cường, thịnh vượng, Thủ đô phải dám đột phá, dám làm những việc khó, việc mới, việc chưa có tiền lệ và đặc biệt là kiên định làm đến cùng, làm có kết quả.

Từ nhận thức đó, Đại hội Đảng bộ thành phố Hà Nội lần thứ XVIII đã xác định ba đột phá phát triển mang tính chiến lược, gồm: tập trung xây dựng, hoàn thiện thể chế phát triển Thủ đô; phát triển, khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút nhân tài; phát triển hệ thống hạ tầng hiện đại, thông minh và có tính kết nối cao.

KHẲNG ĐỊNH DẤU ẤN NĂM 2025 VỚI NHỮNG THÀNH TỰU NỔI BẬT

Bí thư Thành ủy Hà Nội cho biết năm 2025 là một năm rất đặc biệt đối với Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân Thủ đô. Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường, trong nước còn nhiều khó khăn, thách thức, Hà Nội vẫn kiên định mục tiêu phát triển, phát huy cao độ truyền thống văn hiến, anh hùng, tinh thần đoàn kết, đổi mới và trách nhiệm.

Thủ đô Hà Nội sẽ phát huy vai trò đầu tàu, tạo nền tảng và động lực cho sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới. Ảnh: Nhân Đân.

Với quan điểm luôn gương mẫu, đi đầu, Hà Nội đã đi qua năm 2025 với nhiều dấu ấn lịch sử đặc biệt và đạt được những thành tựu đáng tự hào. Nổi bật là tốc độ tăng trưởng GRDP đạt 8,16%, vượt mục tiêu đề ra là 8% và cao hơn nhiều so với mức 6,52% của năm 2024. Quy mô kinh tế Thủ đô đạt khoảng 63,5 tỷ USD; thu nhập bình quân đầu người đạt 7.200 USD.

Công tác tài chính – ngân sách ghi nhận kết quả nổi bật khi tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 711 nghìn tỷ đồng, bằng 138,4% dự toán, tăng 38,4% so với năm trước, mức cao nhất trong nhiều năm gần đây. Giải ngân vốn đầu tư công đạt gần 90 nghìn tỷ đồng, bằng 106,8% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, qua đó tạo động lực quan trọng cho tăng trưởng và phát triển hạ tầng.

Cùng với phát triển kinh tế, công tác an sinh xã hội tiếp tục được thành phố quan tâm triển khai hiệu quả; việc chủ động ứng phó, phòng chống thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu đã góp phần giảm thiểu thiệt hại, bảo đảm ổn định đời sống Nhân dân.

Một điểm nhấn quan trọng trong năm 2025 là phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Thành ủy Hà Nội có sự chuyển biến rõ nét theo phương châm: “Đã nói là làm – làm nhanh, làm đúng, làm hiệu quả, làm đến cùng”. Kỷ luật, kỷ cương hành chính được tăng cường; trách nhiệm của tập thể và cá nhân trong thực thi nhiệm vụ được xác định rõ theo tinh thần “rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền”.

Thành ủy Hà Nội đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm, không né tránh, nhằm giải quyết những vấn đề bức xúc, các điểm nghẽn kéo dài của Thủ đô như ùn tắc giao thông, ô nhiễm môi trường, ngập úng, trật tự đô thị, vệ sinh an toàn thực phẩm. Công tác giải phóng mặt bằng, tổ chức thực hiện các dự án hạ tầng đô thị được triển khai quyết liệt, hiệu quả; các giải pháp ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai, bảo đảm an sinh xã hội được triển khai chủ động, đồng bộ.

Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Duy Ngọc cùng các đồng chí lãnh đạo thành phố Hà Nội tham quan gian trưng bày sản phẩm tại triển lãm Mạng lưới đổi mới sáng tạo Hà Nội.

Theo Bí thư Thành ủy, những kết quả đạt được cho thấy Hà Nội đang từng bước hình thành phương thức lãnh đạo, điều hành dựa trên kỷ cương, kiểm soát tiến độ, đo lường hiệu quả thực chất và có thể kiểm chứng bằng dữ liệu.

Trong năm 2025, thành phố cũng chủ động đề xuất xây dựng Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm, gắn với hoàn thiện thể chế, tháo gỡ các điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực và xác lập mô hình tăng trưởng mới, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số liên tục trong những năm tới.

Bên cạnh đó, Hà Nội đã tổ chức thành công Đại hội Đảng các cấp và Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ XVIII, nhiệm kỳ 2025 – 2030. Thành phố đi đầu trong sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy hệ thống chính trị với quyết tâm chính trị cao, triển khai bài bản, khoa học. Việc sắp xếp 526 phường, xã, thị trấn thành 126 phường, xã nhận được sự đồng tình, ủng hộ cao của Nhân dân. Từ ngày 1/7/2025, mô hình chính quyền địa phương hai cấp chính thức đi vào hoạt động thông suốt, bảo đảm tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả.

TẠO ĐỘT PHÁ TỪ ĐỔI MỚI LÃNH ĐẠO, HẠ TẦNG VÀ CHUYỂN ĐỔI SỐ

Theo Bí thư Thành ủy Hà Nội, cùng với việc vận hành mô hình chính quyền địa phương mới, thành phố đi đầu trong đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với tinh giản thủ tục hành chính và chuyển đổi số toàn diện. Đến nay, Hà Nội đã hoàn thành việc xây dựng và phê duyệt phương án tái cấu trúc đối với 293 thủ tục hành chính phổ biến, theo hướng quản lý dựa trên dữ liệu, giảm tiền kiểm, tăng hậu kiểm, cung cấp dịch vụ công trực tuyến liền mạch và hiệu quả.

Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Duy Ngọc cùng lãnh đạo của thành phố Hà Nội kiểm tra tiến độ thi công tuyến đường Vành đai 1, đoạn Hoàng Cầu-Voi Phục.

Hà Nội cũng là địa phương tiên phong thí điểm tích hợp thủ tục hành chính của Đảng lên Cổng Dịch vụ công quốc gia; đẩy mạnh chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng và hệ thống chính trị. Kết quả là Hà Nội có ba năm liên tiếp (2023, 2024, 2025) đứng đầu cả nước về chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương.

Trong triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Hà Nội xác định đây là bước đi chiến lược, mang tính đột phá trong mọi lĩnh vực phát triển kinh tế – xã hội. Ban Thường vụ Thành ủy đã kiện toàn Ban Chỉ đạo 57 của Thành ủy, triển khai 230 nhiệm vụ cụ thể nhằm thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong toàn bộ hệ thống chính trị và đời sống kinh tế – xã hội.

Thành phố nhấn mạnh phương châm “AI First”, coi việc nâng cao năng lực số của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức là giải pháp then chốt để giảm thủ công, cắt giảm chi phí, rút ngắn thời gian xử lý công việc và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp.

Song song với đó, Hà Nội tập trung cải cách thủ tục hành chính theo hướng thực chất, tái cấu trúc quy trình trên nền tảng dữ liệu dùng chung, tăng tỷ lệ hồ sơ xử lý toàn trình, giảm mạnh chi phí tuân thủ thủ tục hành chính cho xã hội.

Tại Đại hội Đảng lần thứ XVIII, TP Hà Nội đặt mục tiêu tăng trưởng từ 11% trở lên trong năm 2026 và cả nhiệm kỳ 2026 - 2031.

Trong lĩnh vực đầu tư công, thành phố yêu cầu minh bạch, hiệu quả, ứng dụng công nghệ để giám sát tiến độ, cảnh báo sớm điểm nghẽn, rút ngắn thời gian chuẩn bị dự án và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.

Bí thư Thành ủy cho biết Hà Nội đang từng bước chuyển đổi trạng thái quản trị từ điều hành dựa nhiều vào kinh nghiệm sang quản trị dựa trên dữ liệu, công nghệ và hiệu quả đầu ra. Các quyết định quản lý, điều hành được đưa ra nhanh hơn, chính xác hơn và có thể kiểm chứng bằng dữ liệu.

Việc đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo đã tạo ra những kết quả cụ thể, rõ nét, trong đó có việc tháo gỡ những vấn đề tồn đọng kéo dài nhiều năm. Điển hình là công tác giải phóng mặt bằng dự án đường Vành đai 1 (đoạn Hoàng Cầu – Voi Phục). Chỉ trong hơn 5 tháng, các phường liên quan đã hoàn thành bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho 1.295 hộ dân, vượt xa kết quả của nhiều năm trước đó. Ngày 15/1/2026, dự án chính thức thông xe kỹ thuật, tạo động lực mới cho phát triển đô thị và giao thông Thủ đô.

Cùng thời điểm, nhiều dự án lớn, có ý nghĩa chiến lược đã được khởi công, như Nhà máy chế tạo chip bán dẫn đầu tiên tại Việt Nam tại Khu công nghệ cao Hòa Lạc; Dự án Khu phức hợp y tế – chăm sóc sức khỏe người cao tuổi Đại học Y Hà Nội; các khu đô thị đa mục tiêu, qua đó góp phần mở rộng không gian phát triển và nâng cao chất lượng sống của người dân.

Bước sang năm 2026 – năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XVIII và Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Bí thư Thành ủy Hà Nội cho biết thành phố xác định mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 11% trở lên, đồng thời tập trung triển khai đồng bộ các nhiệm vụ trọng tâm về thể chế, quy hoạch, hạ tầng, khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Với chủ đề hành động năm 2026 là “Kỷ cương, chuyên nghiệp – Đột phá, sáng tạo – Hiệu quả, bền vững”, Hà Nội tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao trách nhiệm người đứng đầu, phát triển kết cấu hạ tầng chiến lược, giải quyết các điểm nghẽn đô thị và bảo đảm an sinh xã hội, quốc phòng – an ninh.

Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Bí thư Thành ủy Hà Nội nhấn mạnh với truyền thống đoàn kết, trí tuệ và bản lĩnh, cùng tinh thần “Hà Nội đã nói là làm – làm nhanh, làm đúng, làm hiệu quả, làm đến cùng”, Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân Thủ đô sẽ tiếp tục viết tiếp những trang sử mới, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp phát triển chung của đất nước trong kỷ nguyên mới.

-Lý Hà

Categories: The Latest News

Đưa doanh nghiệp nhỏ và vừa trở thành động lực tăng trưởng hai con số

Tue, 02/17/2026 - 10:05
Từ năm 2026, Bộ Tài chính thực hiện cải cách mạnh mẽ về thể chế để hiện thực hóa mục tiêu 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030; đồng thời, góp phần đưa doanh nghiệp trở thành động lực tăng trưởng hai con số. Đón Xuân Bính Ngọ, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Đức Tâm, Thứ trưởng Bộ Tài chính, về những định hướng chính sách then chốt trong giai đoạn tới.

Thưa Thứ trưởng, trong giai đoạn vừa qua, đặc biệt là năm 2025, nền kinh tế Việt Nam chịu nhiều tác động khó lường từ bên ngoài. Cảm nhận của ông về khả năng chống chọi của doanh nghiệp, trong đó có cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa, như thế nào?

Năm 2025, khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa phải đối mặt với hàng loạt sức ép từ bên ngoài lẫn nội tại. Cầu tiêu dùng thế giới suy yếu khiến đơn hàng xuất khẩu sụt giảm, trong khi chi phí nguyên liệu đầu vào, logistics và tài chính tăng cao đã làm thu hẹp biên lợi nhuận. Bên cạnh đó, diễn biến phức tạp của thị trường tiền tệ – tài chính quốc tế cùng những biến động về tỷ giá, lãi suất tiếp tục tạo thêm áp lực lên dòng tiền và khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp. Đây là nguyên nhân khiến không ít doanh nghiệp buộc phải cắt giảm sản xuất, thu hẹp quy mô hoặc tạm ngừng hoạt động trong ngắn hạn để thích ứng với bối cảnh mới.

Tuy nhiên, trong bức tranh còn nhiều gam màu thách thức đó, điểm sáng nổi bật là phần lớn doanh nghiệp vẫn kiên trì bám trụ thị trường, nỗ lực duy trì hoạt động sản xuất – kinh doanh và giữ ổn định việc làm cho người lao động.

Song song với đó, xu hướng ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng trong nước cũng như quốc tế được thúc đẩy mạnh mẽ, giúp doanh nghiệp từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng chống chịu trước các cú sốc bên ngoài.

Đặc biệt, việc Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân đã tạo ra hiệu ứng lan tỏa tích cực, góp phần củng cố niềm tin và khơi dậy tinh thần khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo trong khu vực doanh nghiệp. Ngay sau khi nghị quyết được ban hành, làn sóng thành lập doanh nghiệp mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động gia tăng rõ rệt khi bình quân mỗi tháng ghi nhận hơn 18.000 doanh nghiệp được thành lập mới và trên 12.000 doanh nghiệp tái gia nhập thị trường.

Cùng với sự gia tăng về số lượng, quy mô vốn đăng ký của khu vực kinh tế tư nhân cũng có bước cải thiện đáng kể. Tổng vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong năm 2025 ước đạt trên 6 triệu tỷ đồng, tăng 71,6% so với năm 2024, qua đó nâng tổng số doanh nghiệp đang hoạt động lên vượt mốc 1 triệu doanh nghiệp. Những con số này không chỉ phản ánh sự phục hồi rõ nét của khu vực doanh nghiệp mà còn cho thấy sức bền cũng như tinh thần đổi mới của cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh nền kinh tế đang từng bước lấy lại đà phát triển.

Thưa ông, một trong những định hướng lớn của Đảng và Chính phủ vừa qua là phát triển mạnh mẽ quy mô doanh nghiệp, trong đó có việc chuyển đổi hộ kinh doanh lên doanh nghiệp nhưng thực tế cho thấy không ít hộ vẫn còn dè dặt, chưa sẵn sàng chuyển đổi. Theo ông, rào cản lớn nhất là gì và cách giải quyết vấn đề nên như thế nào?

Khu vực kinh tế tư nhân, đặc biệt là lực lượng hộ kinh doanh, đang nổi lên như một trụ cột quan trọng thúc đẩy tăng trưởng của nền kinh tế. Với quy mô lên tới hơn 5 triệu cơ sở, khu vực hộ kinh doanh được xem là “nguồn đầu vào” then chốt để hiện thực hóa mục tiêu đạt 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030. Tuy nhiên, thực tế cho thấy tiến trình chuyển đổi từ hộ kinh doanh sang doanh nghiệp vẫn diễn ra chậm, chủ yếu do tồn tại nhiều rào cản mang tính cấu trúc và tâm lý, cho thấy còn nhiều điểm nghẽn cần được tháo gỡ một cách căn cơ.

Trước hết, tâm lý lo ngại về việc gia tăng nghĩa vụ thuế và chi phí tuân thủ vẫn là rào cản lớn. Dù góp phần nâng cao tính minh bạch và chuyên nghiệp, nhưng những sự thay đổi khi chuyển sang mô hình doanh nghiệp không chỉ làm gia tăng chi phí trực tiếp mà còn kéo theo chi phí gián tiếp như thuê kế toán, phần mềm quản trị, tư vấn pháp lý. Trong bối cảnh biên lợi nhuận của nhiều hộ kinh doanh còn mỏng, nỗi lo “lớn lên là gánh nặng nhiều hơn” khiến không ít cơ sở lựa chọn duy trì mô hình cũ.

Bên cạnh đó, hạn chế về năng lực quản trị và hiểu biết pháp lý cũng là nguyên nhân quan trọng khiến nhiều hộ kinh doanh chần chừ “lên doanh nghiệp”. Phần lớn các hộ hoạt động theo mô hình gia đình, chủ yếu dựa nhiều vào kinh nghiệm. Khi đứng trước yêu cầu phải tuân thủ hệ thống pháp luật doanh nghiệp, kế toán, lao động và các tiêu chuẩn quản trị hiện đại hơn, nhiều chủ hộ cảm thấy “quá sức” và lo ngại rủi ro phát sinh từ việc thiếu hiểu biết pháp lý, dễ dẫn đến sai sót, bị xử phạt hoặc tranh chấp. Tâm lý sợ rủi ro, sợ trách nhiệm pháp lý cao hơn vì thế trở thành lực cản đáng kể đối với quyết định chuyển đổi.

Khả năng tiếp cận tín dụng và thị trường sau khi chuyển đổi chưa thực sự tạo ra lợi ích rõ rệt so với trước đây. Không ít hộ kinh doanh cho rằng dù đã trở thành doanh nghiệp nhưng họ vẫn gặp khó trong việc vay vốn ngân hàng, tiếp cận đất đai hoặc mặt bằng sản xuất.

Đồng thời, việc mở rộng thị trường, tìm kiếm đối tác mới hay tham gia chuỗi giá trị cũng chưa mang lại lợi ích tức thì, khiến nhiều hộ chưa thấy rõ lợi ích ngắn hạn cho quyết định chuyển đổi, từ đó làm suy giảm động lực thay đổi mô hình hoạt động.

Ngoài ra, thủ tục hành chính vẫn được xem là rào cản mang tính tâm lý dai dẳng. Đối với nhiều hộ kinh doanh, việc phải dành thêm thời gian và nguồn lực cho thủ tục hành chính và tuân thủ quy định được xem là chi phí cơ hội không nhỏ, làm giảm sức hấp dẫn của quá trình chuyển đổi.

Những điểm nghẽn này cho thấy, để khai thác hiệu quả “mỏ vàng” 5,2 triệu hộ kinh doanh và biến khu vực này thành động lực quan trọng trong quá trình phát triển doanh nghiệp, cần tiếp tục hoàn thiện chính sách hỗ trợ theo hướng thực chất, dễ tiếp cận và tạo động lực đủ lớn, qua đó thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyển đổi trong giai đoạn tới.

Thưa ông, trong năm 2026, các cơ chế, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ được đặt trọng tâm vào những lĩnh vực, mục tiêu nào để thúc đẩy khả năng phục hồi và nâng cao năng lực cạnh tranh của cộng đồng này?

Các chính sách hỗ trợ được Nhà nước triển khai trong thời gian qua, từ nới lỏng tài khóa, gia hạn và giảm thuế, phí, cho tới mở rộng tín dụng và cải thiện môi trường đầu tư – kinh doanh đã đóng vai trò như “bệ đỡ” quan trọng giúp doanh nghiệp vượt qua giai đoạn khó khăn. Bộ Tài chính đã chủ động nghiên cứu, tham mưu và trình cấp có thẩm quyền ban hành nhiều gói chính sách miễn, giảm, gia hạn thuế, phí, lệ phí và tiền thuê đất nhằm tháo gỡ áp lực chi phí, cải thiện dòng tiền và hỗ trợ doanh nghiệp, người dân phục hồi hoạt động, với tổng quy mô hỗ trợ khoảng 244,5 nghìn tỷ đồng.

Nhờ những giải pháp kịp thời, áp lực chi phí của doanh nghiệp từng bước được giảm nhẹ, khả năng thanh khoản được cải thiện và niềm tin thị trường dần được củng cố.

Để đồng hành cùng cộng đồng doanh nghiệp trong chặng đường tới và thực hiện nhiệm vụ Chính phủ giao, Bộ Tài chính sẽ tập trung nghiên cứu, rà soát và sửa đổi toàn diện Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong năm 2026. Mục tiêu là thể chế hóa đầy đủ các định hướng lớn của Bộ Chính trị về phát triển khu vực doanh nghiệp, qua đó hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, nâng cao hiệu quả chính sách hỗ trợ và tạo động lực mới cho doanh nghiệp phát triển ổn định, dài hạn trong giai đoạn tới.

Tiếp cận các nguồn lực về vốn vẫn được đánh giá là một trong những rào cản lớn đối với khu vực tư nhân, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng như hộ kinh doanh trong quá trình mở rộng hoạt động và chuyển đổi lên mô hình doanh nghiệp. Bước sang năm 2026, Bộ Tài chính dự kiến triển khai những giải pháp gì để hỗ trợ khu vực này, thưa ông?

Nhận diện rõ những rào cản đang cản trở quá trình “lớn lên” của khu vực hộ kinh doanh, trong năm 2026, Bộ Tài chính sẽ tập trung triển khai đồng bộ nhiều giải pháp mang tính thực chất, nhằm tạo dựng niềm tin và động lực để các cơ sở mạnh dạn chuyển đổi sang mô hình doanh nghiệp.

Thứ nhất, hoàn thiện khung pháp lý về hộ kinh doanh và lộ trình chuyển đổi. Theo đó, Bộ Tài chính sẽ rà soát toàn diện các quy định liên quan đến tổ chức, quản trị, chế độ tài chính – kế toán và nghĩa vụ tuân thủ của hộ kinh doanh, qua đó từng bước thu hẹp khoảng cách giữa hộ kinh doanh và doanh nghiệp.

Thứ hai, triển khai bãi bỏ thuế khoán gắn với hiện đại hóa quản lý thuế và hạ tầng số. Bộ Tài chính sẽ khẩn trương hoàn thiện cơ sở pháp lý, đồng thời đầu tư, nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin để thực hiện bãi bỏ thuế khoán đối với hộ kinh doanh từ ngày 1/1/2026 theo đúng lộ trình.

Thứ ba, trên cơ sở Nghị quyết số 198/2025/QH15 ngày 17/5/2025 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân, Bộ Tài chính sẽ tiếp tục hoàn thiện các cơ chế ưu đãi dành cho hộ kinh doanh khi chuyển đổi thành doanh nghiệp, trong đó miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong những năm đầu sau khi thành lập, bãi bỏ lệ phí môn bài, hỗ trợ tiếp cận tín dụng và giảm chi phí tuân thủ.

Cùng với hoàn thiện thể chế và chính sách, Bộ sẽ phối hợp với các bộ, ngành, địa phương và hiệp hội doanh nghiệp tăng cường công tác truyền thông, tư vấn trực tiếp và đào tạo kỹ năng cho hộ kinh doanh.

Quan điểm xuyên suốt và nhất quán của Bộ Tài chính là việc chuyển đổi hộ kinh doanh lên doanh nghiệp không nhằm “quản chặt hơn” mà để “mở ra không gian phát triển rộng hơn”. Khi trở thành doanh nghiệp, các cơ sở sẽ có điều kiện tiếp cận thuận lợi hơn với vốn, thị trường, công nghệ và các chính sách hỗ trợ của Nhà nước, qua đó nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và khả năng cạnh tranh dài hạn.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8/2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-

Categories: The Latest News

Thông điệp chúc Tết Bính Ngọ 2026 của Chủ tịch nước Lương Cường

Tue, 02/17/2026 - 09:11
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, đúng thời khắc Giao thừa thiêng liêng chuyển giao giữa năm cũ và năm mới, thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chủ tịch nước Lương Cường có thông điệp chúc Tết gửi đến đồng bào, đồng chí và chiến sĩ cả nước, cũng như cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.

VnEconomy trân trọng giới thiệu toàn văn Thông điệp chúc Tết của Chủ tịch nước:

Thưa đồng bào, đồng chí, chiến sĩ cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài,

Xuân Bính Ngọ đã tới, trong thời khắc chuyển giao năm cũ - năm mới, tôi thân ái gửi tới đồng bào, đồng chí, chiến sĩ cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài lời chúc năm mới an lành, mạnh khỏe và hạnh phúc. Tôi trân trọng gửi tới nhân dân, bạn bè quốc tế những lời chúc tốt đẹp nhất, chúc một năm mới hòa bình, hạnh phúc và cùng phát triển.

Năm Ất Tỵ 2025, đất nước ta đã đi qua một chặng đường ghi dấu nhiều sự kiện quan trọng, có ý nghĩa đặc biệt và đạt được nhiều thành tựu rất đáng tự hào; đồng thời, cũng là một năm đất nước ta phải trải qua rất nhiều khó khăn, thử thách, với những biến động nhanh, phức tạp, khó lường của tình hình thế giới và khu vực, cùng những thiên tai khắc nghiệt, gây tổn thất nặng nề, để lại nhiều đau thương, mất mát cho đồng bào ta.

Bằng bản lĩnh kiên cường, ý chí tự lực, tự cường, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã đoàn kết, chung sức đồng lòng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc và sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế, chúng ta đã hoàn thành toàn bộ các mục tiêu chủ yếu đề ra, với nhiều dấu ấn nổi bật: Độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, môi trường hòa bình được giữ vững; tăng trưởng kinh tế thuộc nhóm dẫn đầu thế giới, trở thành nước có thu nhập trung bình cao; an sinh xã hội được quan tâm chăm lo; chính trị, xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được giữ vững và tăng cường; đối ngoại, hội nhập quốc tế được đẩy mạnh, vị thế, uy tín của Việt Nam tiếp tục được nâng cao trên trường quốc tế; tạo nền tảng quan trọng để đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới.

Bước sang năm mới Bính Ngọ 2026 - Năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, với truyền thống yêu nước nồng nàn, tinh thần đoàn kết, ý chí kiên cường và khát vọng vươn lên mạnh mẽ, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta sẽ tiếp tục đoàn kết, chung sức đồng lòng, tận dụng mọi thời cơ, vận hội, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, phát huy mạnh mẽ tinh thần tự tin, tự chủ, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, không ngừng đổi mới sáng tạo, hành động quyết liệt để hiện thực hóa thành công mục tiêu xây dựng đất nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.

Trong niềm vui đón chào mùa Xuân mới, một lần nữa, tôi chúc đồng bào, đồng chí, chiến sĩ cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài năm mới thắng lợi mới, thành công mới; dân tộc và nhân dân ta ngày càng thịnh vượng, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc.

Chào thân ái và quyết thắng!

-

Categories: The Latest News

2025 năm đột phá về thể chế của ngành khoa học và công nghệ

Tue, 02/17/2026 - 09:03
Với 10 bộ luật, 23 nghị định và 71 thông tư đã được ban hành, năm 2025 có lẽ là năm bận rộn nhất của Bộ Khoa học và Công nghệ, song cũng là năm khó quên đối với cộng đồng các doanh nghiệp, viện, trường công nghệ khi hàng loạt quy định đột phá ra đời, mở thêm không gian phát triển mới và tháo gỡ nhiều điểm nghẽn đã tồn tại suốt nhiều năm...

Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Bùi Hoàng Phương đã nhấn mạnh rằng khối lượng công việc này tương đương với 20 năm xây dựng văn bản pháp luật của cả hai bộ Khoa học và Công nghệ và Thông tin và Truyền thông trước đây. Việc thông qua 10 dự án luật trụ cột không chỉ đơn thuần là hoàn thiện quy định mà còn tạo ra một "hệ sinh thái" pháp lý thông thoáng, khơi thông nguồn lực để phát triển ngành.

Năm 2025 cũng là năm mà Bộ Khoa học và Công nghệ đã chủ trì soạn thảo, sửa đổi và trình Quốc hội thông qua 10 bộ luật, trong đó có những quy định về ưu đãi và chấp nhận rủi ro chưa từng có. Điều này đã mở rộng không gian cho các doanh nghiệp, viện, trường công nghệ phát triển. Đặc biệt, Luật Công nghiệp Công nghệ số đã đưa Việt Nam vào nhóm 5 nước đi đầu về luật này, và Luật Chuyển đổi số đã giúp Việt Nam trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới có luật về lĩnh vực này.

Các bộ luật được ban hành không rời rạc mà được thiết kế như một không gian thể chế kiến tạo, cho phép khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được kết nối và phát triển xuyên suốt. Tư duy quản lý đã chuyển dịch rõ rệt từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”, từ quản lý bằng mệnh lệnh hành chính sang quản lý dựa trên rủi ro. Pháp luật không còn chỉ nhằm quản lý những gì đã có, mà bắt đầu mở đường cho những điều chưa từng tồn tại, từ đó mở ra không gian phát triển rộng lớn cho ngành.

Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là văn bản pháp lý rất quan trọng, chính thức pháp điển “đổi mới sáng tạo” như một lĩnh vực độc lập, đồng thời thiết lập cơ chế "thử nghiệm có kiểm soát" cho công nghệ mới như AI, blockchain. Luật cũng tạo hành lang pháp lý để chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu, miễn trách nhiệm hành chính, dân sự, thậm chí là hình sự đối với thiệt hại gây ra cho Nhà nước nếu đã tuân thủ đầy đủ quy trình, quy định.

Nhìn về năm 2026, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng khẳng định phương châm Nhà nước sẽ đóng vai trò kiến tạo, dẫn dắt, thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ thông qua việc hoàn thiện thể chế, chính sách, đầu tư nguồn lực và tạo thị trường ban đầu cho sản phẩm công nghệ.

Thể chế phải đi trước một bước, trở thành lợi thế cạnh tranh quốc gia chứ không phải rào cản. Bộ sẽ tập trung nguồn lực cho một số công nghệ trọng điểm, thay vì dàn trải, với mục tiêu tạo ra kết quả thực chất, có thể đo đếm và lan tỏa, tác động tới tăng trưởng kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống người dân...

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8 Xuân Bính Ngọ phát hành ngày 16/02 - 01/3/2026. Kính mời quý độc giả tìm đọc tại đây:

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-Bạch Dương

Categories: The Latest News

Thị trường bất động sản bước vào chu kỳ tăng trưởng mới

Tue, 02/17/2026 - 09:00
Trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy nhân dịp đầu năm mới 2026, ông Nguyễn Văn Sinh, Thứ trưởng Bộ Xây dựng, nhận định bước sang năm 2026, với quyết tâm chính trị cao, sự hoàn thiện dần của thể chế và nỗ lực đổi mới của cộng đồng doanh nghiệp, thị trường bất động sản Việt Nam sẽ bứt phá và bước vào chu kỳ tăng trưởng mới.

Thưa Thứ trưởng, nhiều ý kiến cho rằng một trong những dấu ấn quan trọng của thị trường bất động sản trong năm 2025 là sự chuyển biến mạnh về pháp lý. Theo Thứ trưởng, những chính sách mới ban hành đã tác động thế nào đến thị trường này?

Trong thời gian qua, Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã quan tâm, chỉ đạo quyết liệt triển khai nhiều giải pháp đồng bộ nhằm tháo gỡ khó khăn, kịp thời thúc đẩy các dự án đầu tư, tăng nguồn cung sản phẩm nhà ở, bất động sản ở các phân khúc, nhất là nhà ở xã hội.

Tính từ năm 2021 đến nay, Bộ Xây dựng đã chủ trì, trình cơ quan có thẩm quyền ban hành 2 luật, 1 nghị quyết của Quốc hội, 14 nghị định của Chính phủ, 8 quyết định (bao gồm cả quyết định chỉ đạo, điều hành) và ban hành 8 thông tư. Riêng trong năm 2025, Bộ Xây dựng đã chủ trì, trình cơ quan có thẩm quyền ban hành 1 nghị quyết của Quốc hội, 7 nghị quyết của Chính phủ, 1 quyết định của Thủ tướng Chính phủ về giao chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội, 3 công điện và 1 chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ. Đặc biệt, thời gian vừa qua Bộ Xây dựng đã tham mưu Chính phủ, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 201/2025/QH15 và các văn bản hướng dẫn về việc thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển nhà ở xã hội, với mục tiêu tạo cơ chế ưu đãi hơn nữa để thu hút các doanh nghiệp tham gia đầu tư xây dựng nhà ở xã hội.

Quốc hội, Chính phủ đã ban hành các cơ chế, chính sách về pháp luật đất đai nhằm hỗ trợ cho các dự án bất động sản, như: Nghị quyết số 170/2024/QH15 của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đối với các dự án, đất đai trong kết luận thanh tra, kiểm tra, bản án tại TP. Hồ Chí Minh, TP.Đà Nẵng và tỉnh Khánh Hòa; Nghị quyết số 171/2024/QH15 của Quốc hội về thí điểm thực hiện dự án nhà ở thương mại thông qua thỏa thuận về nhận quyền sử dụng đất hoặc đang có quyền sử dụng đất; Nghị quyết số 254/2025/QH15 của Quốc hội quy định một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai, cụ thể là: mở rộng trường hợp thu hồi đất, quy định rõ hơn về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, cơ chế giao đất, cho thuê đất không qua đấu giá/thầu, quy định về giá đất, bảng giá đất và các quy định về đăng ký đất đai, tách thửa, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất…

Các chính sách pháp luật về đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và đầu tư xây dựng được ban hành, sửa đổi đã từng bước bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất và liên thông giữa các luật, khắc phục tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn trong quá trình tổ chức thực hiện.

Nhiều cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án bất động sản, đặc biệt là các dự án nhà ở, nhà ở xã hội, cải tạo chung cư cũ, phát triển đô thị đã được triển khai quyết liệt, qua đó, khơi thông dòng vốn, thúc đẩy triển khai dự án, từng bước gia tăng nguồn cung, tạo nền tảng quan trọng cho thị trường bất động sản phát triển ổn định, lành mạnh và bền vững trong thời gian tới.

Mặc dù vậy, diễn biến thực tế trên thị trường bất động sản cũng cho thấy còn nhiều bất cập. Thứ trưởng đánh giá thế nào về thực trạng này?

Thực tế còn một số tồn tại, hạn chế cần được khắc phục nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững và hiệu quả trong tương lai.

Một là, dư thừa nguồn cung sản phẩm bất động sản, nhà ở phân khúc cao cấp và phân khúc trung cấp, thiếu sản phẩm bất động sản là nhà ở giá phù hợp với khả năng chi trả của đa số người dân.

Hai là, việc cập nhập thông tin lên hệ thống thông tin về nhà ở và thị trường bất động sản của các địa phương, doanh nghiệp còn chậm, khiến việc tiếp cận thông tin đầy đủ, chính xác của người dân, nhà đầu tư và cơ quan quản lý gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng trực tiếp đến tính minh bạch của thị trường.

Ba là, một số dự án vẫn gặp vướng mắc về mặt pháp lý, bị đình trệ, trong khi nguồn lực đã đầu tư là rất lớn, gây lãng phí về đất đai và nguồn vốn, làm gia tăng khó khăn và chi phí, từ đó làm tăng giá bán sản phẩm.

Bốn là, nhiều địa phương chưa bám sát chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở đã được phê duyệt, thiếu chủ động trong quản lý cơ cấu sản phẩm và quỹ đất phát triển nhà ở, chưa quan tâm thỏa đáng đến việc phát triển nhà ở xã hội, nhà ở thương mại có giá phù hợp.

Vậy, Bộ Xây dựng định hướng thế nào để khắc phục những hạn chế nêu trên, thưa Thứ trưởng?

Trong năm 2026, để tạo ra môi trường pháp lý thuận lợi, ổn định và bền vững cho sự phát triển của thị trường bất động sản, Bộ Xây dựng sẽ thực hiện nhiều giải pháp, bao gồm:

Tiếp tục rà soát, hoàn thiện thể chế, chính sách liên quan đến lĩnh vực nhà ở, bất động sản đảm bảo đồng bộ, thống nhất, khả thi và hiệu quả, theo hướng thực hiện cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, tăng cường phân cấp, phân quyền, ứng dụng chuyển đổi số để khắc phục những tồn tại, hạn chế, bất cập, chưa phù hợp với thực tiễn. Nghiên cứu cơ chế, chính sách để thúc đẩy phát triển nhà ở thương mại có giá phù hợp.

Tập trung thúc đẩy phát triển nhà ở theo quy hoạch, chương trình, kế hoạch phù hợp nhu cầu của thực tế trong giai đoạn mới, tránh việc đầu tư tràn lan gây lãng phí nguồn lực đầu tư; gắn với phát triển, cải tạo, chỉnh trang đô thị; đảm bảo đồng bộ hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội.

Thúc đẩy phát triển nhà ở xã hội theo Nghị quyết của Chính phủ về chỉ tiêu đột phá phát triển nhà ở xã hội giai đoạn từ năm 2026 đến năm 2030 để hoàn thành mục tiêu Đề án "Đầu tư xây dựng ít nhất 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội cho đối tượng thu nhập thấp, công nhân khu công nghiệp giai đoạn 2021 - 2030". Khẩn trương thành lập Quỹ nhà ở quốc gia để tiếp nhận nguồn vốn, đầu tư, tạo lập, quản lý vận hành, cho thuê nhà ở.

Kiểm tra, đôn đốc, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án bất động sản và nhà ở trên cả nước, đặc biệt là các dự án nhà ở xã hội; hướng dẫn các địa phương xác định số lượng nhà ở xã hội hoàn thành theo đúng quy định của pháp luật.

Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện xây dựng mô hình “Trung tâm giao dịch bất động sản và quyền sử dụng đất do Nhà nước quản lý” nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và tăng cường tính công khai, minh bạch của giao dịch bất động sản trên thị trường.

Tiếp tục đôn đốc các bộ ngành, địa phương cập nhật, chuẩn hóa thông tin dữ liệu lên hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về nhà ở và thị trường bất động sản. Đồng thời, xây dựng hệ thống phần mềm quản lý, vận hành, khai thác hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về nhà ở và thị trường bất động sản theo Nghị định số 357/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 của Chính phủ, bảo đảm dữ liệu đầy đủ, chính xác, đồng bộ và kết nối liên thông từ Trung ương đến địa phương với các cơ sở dữ liệu đất đai, xây dựng, quy hoạch, thuế và tài chính.

Thực hiện kiểm tra, thanh tra để kịp thời chấn chỉnh, ngăn chặn và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm trong hoạt động kinh doanh bất động sản, dịch vụ sàn giao dịch bất động sản, dịch vụ môi giới bất động sản; giám sát, kiểm soát hoạt động cấp tín dụng, phát hành trái phiếu doanh nghiệp trong lĩnh vực bất động sản…

Với những giải pháp đó, Thứ trưởng nhận định thế nào về diễn biến của thị trường bất động sản trong năm 2026?

Năm 2025 là giai đoạn bản lề quan trọng, tạo nền tảng để thị trường bất động sản bước sang năm 2026 với trạng thái ổn định và bền vững hơn. Những thay đổi lớn về thể chế, đặc biệt là việc các luật liên quan đến đất đai, nhà ở và kinh doanh bất động sản chính thức đi vào cuộc sống, đã từng bước tháo gỡ các điểm nghẽn pháp lý kéo dài, khơi thông nguồn cung và củng cố niềm tin thị trường.

Bước sang năm 2026, thị trường được dự báo sẽ “sôi động trong sự thận trọng”, phân khúc căn hộ và nhà ở phục vụ nhu cầu thực tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt. Sự phân hóa sẽ ngày càng rõ nét, khi người mua và nhà đầu tư ưu tiên các dự án có pháp lý minh bạch, hạ tầng đồng bộ, giá trị sử dụng thực và uy tín chủ đầu tư. Đây là nền tảng để thị trường phát triển lành mạnh, giảm đầu cơ và hướng tới tăng trưởng bền vững trong giai đoạn mới.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8/2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-

Categories: The Latest News

Nga tăng kỷ lục xuất khẩu dầu sang Trung Quốc

Tue, 02/17/2026 - 08:17
Nga ghi nhận mức xuất khẩu dầu kỷ lục sang Trung Quốc trong tháng 1, phản ánh sự gắn kết ngày càng sâu sắc trong hợp tác năng lượng song phương. Trong khi đó, dòng chảy dầu toàn cầu đang tái phân bổ, với Trung Quốc giảm mua từ Trung Đông và tăng nhập từ Nga.

Theo báo Pravda, trong tháng 1, Nga đã tăng mạnh lượng dầu xuất khẩu sang Trung Quốc bằng đường biển. Khối lượng xuất khẩu tăng thêm 290.000 thùng/ngày và đạt mức kỷ lục 1,7 triệu thùng/ngày.

Dữ liệu này được nêu trong báo cáo tháng 2 của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA). Đây là mức cao nhất trong toàn bộ giai đoạn theo dõi đối với tuyến vận chuyển đường biển, cho thấy tính bền vững của hợp tác năng lượng Nga-Trung và tầm quan trọng chiến lược của quan hệ này đối với cả hai nước.

Cùng thời điểm đó, lượng nhập khẩu dầu Nga của Ấn Độ giảm 100.000 thùng/ngày, xuống còn 1,1 triệu thùng/ngày - mức thấp nhất kể từ tháng 11/2022.

Tuy nhiên, nguồn cung nguyên liệu cho nhà máy lọc dầu tại Vadinar, thuộc công ty Nayara Energy, lại tăng thêm 310.000 thùng/ngày. Do đó, việc giảm nhập khẩu tổng thể không có nghĩa là Nga mất vị thế, mà phản ánh sự tái phân bổ dòng chảy và định hướng chính xác hơn vào các cơ sở chế biến có biên lợi nhuận cao.

Theo IEA, các nhà máy lọc dầu Trung Quốc đã bắt đầu mua nhiều hơn loại dầu chủ lực Urals của Nga. Xuất khẩu Urals sang Trung Quốc tăng 250.000 thùng/ngày và đạt mức kỷ lục lịch sử 500.000 thùng/ngày.

Trước đây, các nhà máy lọc dầu Trung Quốc chủ yếu tập trung vào loại dầu cao cấp ESPO, có độ nhẹ cao và hàm lượng lưu huỳnh thấp. Tuy nhiên, sự gia tăng quan tâm đối với Urals cho thấy tính linh hoạt của ngành lọc dầu Trung Quốc và khả năng xử lý hiệu quả các loại dầu có đặc tính khác nhau.

Việc tăng mua Urals gắn liền với chính sách giá cạnh tranh và logistics ổn định. Các công ty Nga đã xây dựng được các tuyến vận tải biển đáng tin cậy và thích ứng cơ chế thương mại với các điều kiện bên ngoài mới.

Điều này củng cố niềm tin từ phía đối tác Trung Quốc và cho phép Nga mở rộng hiện diện tại một trong những thị trường dầu lớn nhất thế giới. Kết quả là Nga đang củng cố vị thế đối tác năng lượng chủ chốt của Trung Quốc.

Các nhà phân tích của IEA nhận định rằng để hấp thụ thêm lượng dầu Nga vượt mức nhu cầu tiêu thụ thông thường, Trung Quốc sẽ phải giảm nhập khẩu từ các nguồn khác hoặc đưa một phần dầu vào kho dự trữ chiến lược và thương mại.

Theo tờ Nefti Kapital, quá trình này có thể đã bắt đầu. Trong tháng 1, lượng mua từ các nhà cung cấp Trung Đông giảm 630.000 thùng/ngày xuống còn 5 triệu thùng/ngày. Điều này cho thấy dòng chảy đang được tái phân bổ theo hướng có lợi cho dầu Nga và phản ánh sức cạnh tranh gia tăng của nguồn cung này.

Xu hướng này phản ánh những biến động rộng hơn trên thị trường năng lượng toàn cầu. Trung Quốc đang tích cực đa dạng hóa nguồn nhập khẩu và tìm cách đảm bảo ổn định nguồn cung trong bối cảnh giá cả biến động và các yếu tố địa chính trị. Trong cấu hình này, dầu Nga đóng vai trò quan trọng nhờ sự kết hợp giữa khối lượng lớn, khả năng tiếp cận logistics và các điều kiện thanh toán linh hoạt.

Một yếu tố bổ sung là sự phát triển hạ tầng tại Viễn Đông Nga, bao gồm năng lực cảng biển và hệ thống đường ống, giúp tăng tốc độ giao hàng và giảm chi phí vận chuyển.

Theo dữ liệu của Hải quan Trung Quốc, các nhà cung cấp dầu chính cho nước này vẫn là Nga, Saudi Arabia, Malaysia, Iraq và Brazil. Trong đó, Nga vẫn giữ vị trí dẫn đầu, nhấn mạnh tính dài hạn của hợp tác song phương và hiệu quả kinh tế của quan hệ này.

Sự gia tăng xuất khẩu dầu sang Trung Quốc không chỉ mang ý nghĩa thương mại mà còn phản ánh sự định hình lại các liên kết năng lượng toàn cầu. Khi các tuyến cung ứng truyền thống bị phân mảnh bởi địa chính trị, trục Nga-Trung có thể trở thành một trong những nhân tố định hình cán cân năng lượng thế kỷ XXI.

Pravda-Trọng Hoàng

Categories: The Latest News

Khi trung tâm dữ liệu trở thành “người khổng lồ ngốn điện”: Ai sẽ trả hóa đơn cho kỷ nguyên AI?

Tue, 02/17/2026 - 08:14
Sự bùng nổ trung tâm dữ liệu trong kỷ nguyên AI đang làm gia tăng mạnh nhu cầu điện và đặt ra câu hỏi ai sẽ phải trả hóa đơn năng lượng ngày càng đắt đỏ. Cuộc tranh luận về trách nhiệm tài chính của Big Tech đang trở thành một chủ đề chính sách nóng tại Mỹ.

Khi các trung tâm dữ liệu mọc lên khắp nước Mỹ để phục vụ chatbot, điện toán đám mây và các mô hình AI tạo sinh, chi phí điện năng khổng lồ của chúng đã trở thành vấn đề chính trị, kinh tế và xã hội. Cuộc tranh luận không chỉ xoay quanh giá điện mà còn phản ánh lo ngại về quyền lực của Big Tech, chính sách năng lượng và tương lai của hạ tầng điện lực.

CHI PHÍ ĐIỆN NĂNG VÀ NỖI LO CHI PHÍ SINH HOẠT Sự gia tăng mạnh mẽ của các trung tâm dữ liệu đang làm thay đổi cấu trúc tiêu thụ điện tại Mỹ. Những cơ sở này, vốn trông giống như các nhà kho khổng lồ, có thể tiêu thụ lượng điện tương đương một thành phố nhỏ, vượt xa bất kỳ khách hàng đơn lẻ nào mà các công ty điện lực từng phục vụ trước đây.

Điều này tạo ra hiệu ứng lan tỏa lên toàn hệ thống điện. Khi các công ty điện lực phải xây dựng thêm nhà máy điện, nâng cấp lưới truyền tải và đầu tư cơ sở hạ tầng mới để phục vụ trung tâm dữ liệu, chi phí đầu tư có thể được phân bổ cho toàn bộ người sử dụng điện. Kết quả là người dân và doanh nghiệp nhỏ có nguy cơ phải trả hóa đơn điện cao hơn để bù đắp nhu cầu của Big Tech.

Trong bối cảnh giá năng lượng tăng và lạm phát chi phí sinh hoạt trở thành mối quan tâm hàng đầu của cử tri Mỹ, vấn đề này đã nhanh chóng trở thành chủ đề chính trị nhạy cảm. Các chính trị gia từ Tổng thống Donald Trump đến các nhà lập pháp địa phương hiếm hoi đạt được đồng thuận lưỡng đảng rằng các tập đoàn công nghệ phải tự chi trả phần lớn chi phí điện cho hoạt động của mình, thay vì chuyển gánh nặng sang người tiêu dùng.

Tuy nhiên, sự đồng thuận này dường như chỉ dừng lại ở tuyên bố chính trị. Khái niệm “phần công bằng” (fair share) mà các tập đoàn công nghệ cam kết trả vẫn chưa được định nghĩa rõ ràng, dẫn đến tranh cãi về mức độ và cách thức phân bổ chi phí.

Sự thay đổi thái độ của các bang và cộng đồng địa phương cũng rất rõ rệt. Chỉ một năm trước, nhiều bang cạnh tranh để thu hút các dự án trung tâm dữ liệu lớn bằng ưu đãi thuế và chính sách năng lượng linh hoạt. Hiện nay, nhiều thị trấn và thành phố đã phản đối các dự án mới do lo ngại về tác động môi trường, áp lực lên hạ tầng và hóa đơn điện tăng cao.

ÁP LỰC CHÍNH TRỊ VÀ CUỘC TRANH LUẬN CHÍNH SÁCH

Cuộc tranh luận về chi phí điện cho trung tâm dữ liệu đã có tác động chính trị rõ rệt. Tại bang Georgia, cử tri đã loại bỏ hai thành viên đảng Cộng hòa khỏi ủy ban điều tiết điện lực trong cuộc bầu cử gần đây, phản ánh sự bất mãn của người dân với cách quản lý chi phí năng lượng.

Các chuyên gia thăm dò dư luận cho rằng cử tri ngày càng liên hệ trực tiếp trải nghiệm cá nhân về hóa đơn điện với sự phát triển của các trung tâm dữ liệu. Điều này đặt ra câu hỏi lớn về cách chính phủ sẽ cân bằng giữa thúc đẩy công nghệ và bảo vệ người tiêu dùng.

Trong khi đó, chính quyền liên bang vẫn coi trí tuệ nhân tạo là ưu tiên chiến lược về kinh tế và an ninh quốc gia. Tổng thống Donald Trump từng kêu gọi chính phủ hỗ trợ các trung tâm dữ liệu tiếp cận nguồn điện cần thiết để thúc đẩy đổi mới. Tuy nhiên, trước phản ứng của dư luận, ông cũng thừa nhận rằng các trung tâm dữ liệu phải “tự trả chi phí của mình”.

Tranh cãi càng trở nên gay gắt khi Bộ trưởng Năng lượng Mỹ Chris Wright cho rằng các trung tâm dữ liệu không làm tăng giá điện, trái ngược với quan điểm của các nhóm bảo vệ người tiêu dùng và các nhà phân tích độc lập. Sự khác biệt trong đánh giá này phản ánh cuộc tranh luận rộng hơn về chính sách năng lượng, đặc biệt là vai trò của năng lượng tái tạo và nhiên liệu hóa thạch.

Một số bang và công ty điện lực đã bắt đầu đưa ra các cơ chế buộc các tập đoàn công nghệ phải trả chi phí trực tiếp cho hạ tầng điện. Các biện pháp bao gồm hợp đồng mua điện dài hạn, yêu cầu doanh nghiệp công nghệ tài trợ xây dựng nhà máy điện và nâng cấp lưới điện, hoặc đặt cọc tài chính lớn để phòng trường hợp dự án bị hủy bỏ hoặc giảm nhu cầu điện.

Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng các biện pháp này khó giải quyết vấn đề ngắn hạn. Nhu cầu điện đang tăng nhanh hơn tốc độ xây dựng nhà máy điện, khiến thị trường điện đối mặt với nguy cơ thiếu hụt nguồn cung và biến động giá.

Theo ông Abe Silverman, cựu luật sư điều tiết điện lực và nhà nghiên cứu năng lượng tại Đại học Johns Hopkins, thách thức lớn nhất là việc Big Tech có thể trả giá cao hơn để giành điện năng trong ngắn hạn, khiến người tiêu dùng thông thường bị cạnh tranh trực tiếp trên thị trường điện.

TƯƠNG LAI HẠ TẦNG ĐIỆN VÀ CÂU HỎI TRÁCH NHIỆM CỦA BIG TECH

Cuộc tranh luận về trung tâm dữ liệu không chỉ liên quan đến giá điện mà còn phản ánh những câu hỏi lớn hơn về quyền lực kinh tế và trách nhiệm xã hội của các tập đoàn công nghệ. Một số nhóm bảo vệ người tiêu dùng cho rằng “phần công bằng” phải bao gồm chi phí nâng cấp lưới điện, tăng giá khí đốt tự nhiên và các khoản đầu tư hạ tầng khác do nhu cầu của trung tâm dữ liệu thúc đẩy.

Tại bang Oregon, luật mới được ban hành nhằm bảo vệ người sử dụng điện nhỏ khỏi chi phí trung tâm dữ liệu, nhưng việc thực thi vẫn gặp tranh cãi giữa nhóm vận động người tiêu dùng và công ty điện lực lớn nhất bang. Các nhóm vận động ở Indiana, Georgia và Missouri cũng cảnh báo rằng chi phí mở rộng hạ tầng có thể bị chuyển sang người dân nếu không có quy định chặt chẽ.

Ở khu vực lưới điện trung Đại Tây Dương, các nhà phân tích dự báo hàng tỷ USD chi phí tăng giá điện có thể xuất hiện trên hóa đơn của người dân do nhu cầu trung tâm dữ liệu. Điều này đặt ra thách thức lớn đối với các nhà hoạch định chính sách trong việc cân bằng giữa phát triển công nghệ và công bằng xã hội.

Trước áp lực này, nhiều dự luật đã được trình lên Quốc hội Mỹ và nghị viện các bang nhằm điều chỉnh hoạt động trung tâm dữ liệu. Các đề xuất bao gồm áp đặt moratorium (tạm dừng) dự án mới, thay đổi ưu đãi thuế, hạn chế lợi nhuận của công ty điện lực và tăng bảo vệ người tiêu dùng.

Dự báo cho năm 2026 cho thấy chi phí năng lượng sẽ tiếp tục tăng, làm gia tăng áp lực chính trị. Đảng Cộng hòa chỉ trích chính sách năng lượng thiên về năng lượng tái tạo của các bang tự do, cho rằng điều này làm tăng chi phí truyền tải và hạn chế nguồn cung nhiên liệu hóa thạch. Ngược lại, đảng Dân chủ nhấn mạnh vai trò của năng lượng sạch và kêu gọi kiểm soát lợi nhuận của công ty điện lực để bảo vệ người tiêu dùng.

Chủ tịch FERC Laura Swett cho rằng các nhà vận hành trung tâm dữ liệu sẵn sàng chi trả chi phí và hiểu tầm quan trọng của sự ủng hộ cộng đồng. Tuy nhiên, một số nghị sĩ phản bác rằng các dự án trong khu vực của họ vẫn được ưu đãi thuế, bỏ qua phản đối của cộng đồng và làm tăng chi phí cho người dân.

Sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo và trung tâm dữ liệu đang đặt ra một trong những bài toán chính sách lớn nhất của kỷ nguyên số: ai sẽ trả chi phí cho hạ tầng số? Trong khi các tập đoàn công nghệ hưởng lợi lớn từ AI và dịch vụ đám mây, người tiêu dùng và doanh nghiệp nhỏ đang lo ngại họ sẽ phải gánh phần chi phí ẩn.

Cuộc tranh luận tại Mỹ cho thấy sự giao thoa giữa công nghệ, chính sách năng lượng và chính trị, phản ánh xu hướng toàn cầu khi các quốc gia thúc đẩy chuyển đổi số. Bài học từ Mỹ có thể mang lại giá trị tham khảo cho các nền kinh tế khác, trong đó có Việt Nam, khi đối mặt với làn sóng đầu tư trung tâm dữ liệu và AI trong thập kỷ tới.

Japan Today-Trọng Hoàng

Categories: The Latest News

Giới quản lý quỹ bi quan về triển vọng đồng USD

Tue, 02/17/2026 - 08:13
Các nhà quản lý quỹ đang có lập trường bi quan nhất về tỷ giá đồng USD trong hơn một thập kỷ trở lại đây, do đồng tiền này chịu ảnh hưởng nặng nề từ những chính sách khó lường của Mỹ - tờ báo Financial Times cho hay...

Chỉ số Dollar Index đo sức mạnh đồng USD so với một rổ tiền tệ bao gồm euro và bảng Anh đã giảm 1,3% trong năm nay, sau khi đã giảm hơn 9% trong năm 2025. Hiện tại, chỉ số đang ở gần mức thấp nhất trong 4 năm qua.

Kết quả một cuộc khảo sát của ngân hàng Mỹ Bank of America công bố cách đây ít ngày cho thấy mức độ tiếp xúc của các nhà quản lý quỹ với đồng USD đã giảm xuống dưới mức đáy gần nhất thiết lập vào tháng 4 năm ngoái - thời điểm Tổng thống Donald Trump công bố kế hoạch thuế quan đối ứng gây chấn động.

Khảo sát này phát hiện thấy vị thế USD của các nhà quản lý đang ở mức thấp nhất kể từ ít nhất năm 2012 - năm đầu tiên mà Bank of America bắt đầu ghi lại dữ liệu này. Sự thay đổi này diễn ra khi các hành động địa chính trị quyết liệt của ông Trump và việc ông gây sức ép lên Cục Dự trữ Liên bang (Fed) về vấn để lãi suất làm gia tăng mối lo ngại về sức hấp dẫn của các tài sản Mỹ với tư cách một nơi trú ẩn cho các dòng vốn toàn cầu.

Theo dữ liệu quyền chọn từ công ty quản lý sàn giao dịch CME Group, tính từ đầu năm 2026 đến nay, vị thế đặt cược vào sự mất giá của USD đã trở nên lớn hơn đặt cược vào sự tăng giá của đồng USD. Tương quan này đảo so với những gì đã diễn ra trong quý 4/2025.

Các nhà quản lý tài sản lớn cho biết sự trượt giá của đồng USD phản ánh việc các nhà đầu tư tiền thật - chẳng hạn các quỹ hưu trí - ngày càng muốn phòng ngừa rủi ro đồng USD suy yếu thêm hoặc giảm bớt sự tiếp xúc với tài sản bằng đồng USD. Đặt cược vào sự giảm giá thêm của đồng USD so với euro đã đạt tới mức mà trong thập kỷ qua, chỉ từng thấy trong đại dịch Covid-19 và sau các tuyên bố thuế quan của ông Trump vào tháng 4 năm ngoái.

“Một số biến động trong năm qua đã khiến các nhà đầu tư đặt câu hỏi về việc họ có mức độ phòng ngừa rủi ro tỷ giá đồng USD thấp lịch sử đối với các tài sản của Mỹ”, ông Roger Hallam - trưởng bộ phận lãi suất toàn cầu tại tập đoàn quản lý tài sản Vanguard - nhận định với Financial Times. Ông cho rằng việc đánh giá lại hoạt động phòng ngừa rủi ro tỷ giá USD và điều chỉnh lại mức phân bổ vốn vào các tài sản Mỹ là một "động lực chính" đằng sau sự sụt giảm gần đây của đồng USD.

“Chúng tôi vẫn thấy một môi trường mà đồng USD có thể tiếp tục suy yếu từ đây” - ông Iain Stealey, giám đốc đầu tư trái phiếu quốc tế, tiền tệ và hàng hóa tại công ty quản lý tài sản JPMorgan Asset Management, cho biết. Trong những tuần gần đây, công ty này đã xây dựng vị thế đặt cược vào sự mất giá sâu hơn của đồng USD.

Lãi suất của Mỹ hiện vẫn cao hơn so với các nền kinh tế lớn khác như eurozone và Nhật Bản, song các nhà giao dịch dự báo rằng khoảng cách này sẽ thu hẹp vì Fed có thể sẽ cắt giảm lãi suất hai lần trong năm nay.

Đề cập đến giao dịch chênh lệch lãi suất (carry trade) - một yếu tố đã giữ vai trò hỗ trợ đồng USD khi Mỹ có lãi suất cao hơn so với nền kinh tế lớn khác - ông Stealey nhận xét USD “không còn bị định giá quá cao nhưng chúng tôi cho rằng Fed sẽ tiếp tục cắt giảm lãi suất, và lợi thế chênh lệch lãi suất của USD sẽ dần dần biến mất theo thời gian”.

Việc ông Trump đề cử ông Kevin Warsh làm chủ tịch Fed đã giúp giảm bớt mối lo ngại về sự độc lập của ngân hàng trung ương này. Nhưng ông Trump hiện đã gây áp lực lên ông Warsh, nói trong một cuộc trả lời phỏng vấn kênh NBC News gần đây rằng ông Warsh "sẽ không có được công việc" chủ tịch Fed nếu ủng hộ việc tăng lãi suất.

Các nhà phân tích của Bank of America lưu ý rằng việc đề cử ông Warsh cho ghế chủ tịch Fed "không dẫn tới nhu cầu lớn hơn đối với đồng USD cũng như không tạo ra sự lạc quan mới đối với tài sản của Mỹ".

Diễn biến chỉ số Dollar Index trong 1 năm qua - Nguồn: Trading Economics.

Hồi tháng 1, mối lo ngại rằng một số nhà đầu tư toàn cầu có thể rút khỏi tài sản của Mỹ đã bị đẩy cao bởi cuộc khủng hoảng Greenland, khi ông Trump đe dọa có hành động quân sự và các biện pháp thuế quan bổ sung đối với các đồng minh trong Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO).

Sau đó, Bộ trưởng Tài chính Mỹ Scott Bessent đã chỉ trích "ý tưởng rằng người châu Âu sẽ bán tài sản của Mỹ", nhưng trên thực tế, một số nhà quản lý cho biết đã có dòng vốn chảy khỏi tài sản Mỹ. "Chúng tôi đang chứng kiến sự gia tăng dòng vốn hồi hương khi các chủ sở hữu đồng USD ở nước ngoài chuyển vốn trở lại đồng tiền nội tệ của họ” - bà Caroline Houdril, một nhà quản lý quỹ tại ngân hàng đầu tư Schroders, cho biết.

Động thái của Washington vào năm ngoái nhằm hỗ trợ tỷ giá đồng peso Argentina và việc nhà chức trách Mỹ trong tháng 1 vừa qua kiểm tra tỷ giá đồng yên cũng đã làm dấy lên mối lo ngại rằng Mỹ đang có một kế hoạch làm suy yếu đồng USD. Sự bất định gia tăng khi ông Trump hồi tháng 1 vừa qua có bình luận rằng xu hướng mất giá của USD là "tuyệt vời".

Sau đó, ông Bessent đã lên tiếng trấn an rằng Mỹ vẫn đang theo đuổi chính sách "đồng USD mạnh" truyền thống và không có kế hoạch can thiệp vào thị trường ngoại hối.

"Có rất nhiều người trong chính quyền ông Trump nghĩ rằng một đồng USD yếu hơn sẽ có lợi cho xuất khẩu của Mỹ và thúc đẩy tái công nghiệp hóa rộng hơn”, ông Xavier Meyer, Giám đốc đầu tư tại công ty Aberdeen Group, phát biểu. Ông nói thêm rằng điều này đã là một yếu tố khiến thị trường coi khả năng Mỹ và Nhật Bản can thiệp thị trường ngoại hối để ngăn USD tăng giá thêm so với đồng yên là "rất nghiêm túc".

-An Huy

Categories: The Latest News

Nâng hạng thị trường: Cơ hội lịch sử và bài toán chuẩn mực cho chứng khoán Việt

Tue, 02/17/2026 - 08:06
Việc thị trường chứng khoán Việt Nam được FTSE Russell đưa vào lộ trình nâng hạng lên nhóm thị trường mới nổi thứ cấp mở ra cơ hội tiếp cận các dòng vốn quốc tế quy mô lớn, dài hạn. Tuy nhiên, cơ hội này chỉ thực sự thành hiện thực nếu thị trường và doanh nghiệp Việt Nam đáp ứng được các chuẩn mực cao hơn về minh bạch, quản trị và hạ tầng vận hành theo thông lệ quốc tế.

Việc thị trường chứng khoán Việt Nam được FTSE Russell đưa vào lộ trình nâng hạng lên nhóm thị trường mới nổi thứ cấp không chỉ mang ý nghĩa về mặt xếp hạng, mà còn đánh dấu một bước chuyển quan trọng trong tiến trình phát triển của thị trường vốn. Cánh cửa tiếp cận các dòng vốn quốc tế quy mô lớn, dài hạn đang dần mở ra, song đi kèm với đó là những yêu cầu khắt khe hơn về chuẩn mực vận hành, minh bạch và quản trị doanh nghiệp.

Trước thềm năm mới 2026, trong bối cảnh thị trường đang đứng trước cả cơ hội lẫn thách thức mang tính bước ngoặt, Tạp chí Kinh tế Việt Nam / VnEconomy đã có cuộc trao đổi với ông Dominic Scriven, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần Quản lý quỹ Dragon Capital Việt Nam, nhằm làm rõ những cơ hội lớn nhất mà tiến trình nâng hạng mang lại, cũng như những điều kiện then chốt để doanh nghiệp và thị trường Việt Nam có thể thực sự hấp thụ các dòng vốn dài hạn trong giai đoạn tới.

Việc thị trường chứng khoán Việt Nam được FTSE Russell nâng hạng lên nhóm thị trường mới nổi thứ cấp mở ra một giai đoạn mới cho thị trường vốn. Dưới góc nhìn của Quỹ đầu tư có thâm niên 30 năm tại Việt Nam, ông nhìn thấy cơ hội lớn nhất cho Việt Nam từ sự kiện nâng hạng này là gì?

Trong tiến trình nâng hạng thị trường, những nỗ lực cải cách của Chính phủ, Bộ Tài chính và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước trong việc hoàn thiện khung pháp lý, hạ tầng thị trường và chuẩn mực vận hành là rất đáng ghi nhận, tạo nền tảng quan trọng cho bước chuyển tiếp tiếp theo.

Đồng thời, Bộ Tài chính và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cũng triển khai nhiều biện pháp then chốt nhằm nâng hạng thị trường, đồng thời mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng của các tổ chức đầu tư trong nước.

Chúng ta có thể thấy rõ những sự thay đổi mang tính bước ngoặt trong cách giới đầu tư nước ngoài nhìn nhận thị trường Việt Nam. Trong giai đoạn Việt Nam vẫn được xếp vào nhóm thị trường cận biên, quy mô dòng vốn quốc tế còn hạn chế, chủ yếu là các quỹ nhỏ, mang tính thử nghiệm. Khi đó, việc đầu tư vào Việt Nam thường đòi hỏi phải xin các cơ chế ngoại lệ, cả về quy mô, thời gian lẫn quy trình nội bộ của từng quỹ.

Tuy nhiên, khi thị trường được nâng hạng, bản chất câu chuyện sẽ hoàn toàn đảo chiều. Khi đó, quy mô vốn có thể đổ vào Việt Nam không chỉ tăng lên gấp nhiều lần, mà còn mở rộng mạnh về cơ cấu nhà đầu tư, từ các quỹ chủ động sang các quỹ thụ động, quỹ hưu trí, quỹ bảo hiểm và các định chế tài chính dài hạn. Dư địa tiếp cận thị trường Việt Nam vì thế có thể lớn hơn hàng trăm lần so với hiện nay.

Đáng chú ý, khi Việt Nam chính thức được đưa vào rổ đầu tư của các chỉ số lớn, việc không tham gia thị trường Việt Nam mới trở thành một “ngoại lệ ngược”. Với nhiều nhà quản lý quỹ quốc tế, việc bỏ qua Việt Nam có thể đồng nghĩa với rủi ro nghề nghiệp, khi họ không theo sát các xu hướng phân bổ vốn toàn cầu.

Cùng với cơ hội, nâng hạng cũng đặt ra những yêu cầu cao hơn từ các nhà đầu tư tổ chức quốc tế đối với doanh nghiệp Việt Nam. Theo ông, đâu là những thách thức lớn nhất mà doanh nghiệp Việt Nam đang đối mặt khi tiếp cận các dòng vốn lớn, dài hạn này?

Một trong những thách thức lớn hiện nay lại đến từ sự khác biệt sâu sắc về chuẩn mực vận hành thị trường. Trong tiếng Việt, các khái niệm như “thông cảm”, “bỏ qua thiếu sót”, “linh hoạt trong xử lý” được sử dụng khá phổ biến. Thực tế, nếu doanh nghiệp phát hành mắc những sai sót nhỏ trong hoạt động hoặc công bố thông tin, thị trường trong nước thường có xu hướng chấp nhận và cho phép điều chỉnh, với mức độ “thông cảm” tương đối cao.

Tuy nhiên, chính yếu tố này lại trở thành rào cản lớn đối với nhà đầu tư quốc tế. Trong môi trường đầu tư toàn cầu, các khái niệm trên gần như không tồn tại. Nhà đầu tư quốc tế vận hành dựa trên chuẩn mực rõ ràng, quy trình chặt chẽ và trách nhiệm giải trình cao. Sai sót, dù nhỏ, nếu lặp lại hoặc không được giải thích thuyết phục, đều có thể làm xói mòn niềm tin.

Do đó, để thực sự tận dụng cơ hội từ việc nâng hạng, doanh nghiệp Việt Nam buộc phải nâng cao năng lực nội tại, từ trình độ chuyên môn, hệ thống quản trị, đến khả năng giải trình và thuyết phục nhà đầu tư. Minh bạch không còn là lựa chọn, mà là điều kiện tiên quyết. Cùng với đó là năng lực dự báo và quản trị rủi ro trong hoạt động điều hành.

Nếu nâng hạng thị trường được xem là điều kiện cần ở cấp độ vĩ mô, thì minh bạch, chuẩn mực quản trị và sức thuyết phục chính là điều kiện đủ và là điều kiện bắt buộc ở cấp độ doanh nghiệp. Mỗi doanh nghiệp có thể có năng lực dự báo khác nhau, nhưng chỉ cần một lần gây thất vọng nghiêm trọng, nhà đầu tư quốc tế có thể sẽ rút lui và không quay trở lại trong thời gian dài.

Trong bối cảnh đó, mô hình quản trị doanh nghiệp cần được đặt vào vị trí trung tâm. Quản trị không chỉ là tuân thủ quy định, mà phải trở thành một phần cốt lõi trong chiến lược phát triển. Các nội dung về quản trị doanh nghiệp, kiểm soát nội bộ, quản trị rủi ro, phân quyền - trách nhiệm cần được trình bày đầy đủ, rõ ràng trong báo cáo thường niên.

Một báo cáo thường niên chất lượng không chỉ nhằm “đáp ứng yêu cầu”, mà phải giúp nhà đầu tư quốc tế có đủ thông tin để đánh giá khách quan về năng lực vận hành, mức độ minh bạch và độ tin cậy của doanh nghiệp. Đây chính là cơ sở để xây dựng niềm tin dài hạn, thay vì chỉ thu hút dòng vốn ngắn hạn mang tính cơ hội.

Việt Nam đang thực hiện các giải pháp toàn diện để hiện đại hóa thị trường chứng khoán theo các thông lệ quốc tế. Theo ông, Việt Nam cần thêm yếu tố gì để thị trường chứng khoán thực sự hấp dẫn dòng vốn quốc tế trong thời gian tới?

Từ góc độ cá nhân, có thể nhận diện ba thách thức lớn mà thị trường Việt Nam cần sớm giải quyết nếu muốn tiến gần hơn đến chuẩn mực thị trường mới nổi.

Thứ nhất, rào cản về thông tin và ngôn ngữ. Hiện nay, theo quy định tại Thông tư 68/2024/TT-BTC, phần lớn thông tin công bố trên thị trường đã bao gồm cả tiếng Anh bên cạnh tiếng Việt, tuy nhiên các thông tin công bố trước năm 2025 phần nhiều vẫn chỉ bằng Tiếng Việt. Dù đây là vấn đề có thể cải thiện theo thời gian, nhưng việc này có thể ảnh hưởng đến khả năng đánh giá toàn diện danh mục của nhà đầu tư quốc tế, dẫn tới việc giải ngân vốn đầu tư có thể chưa được nhanh như kỳ vọng.

Thứ hai, hạ tầng giao dịch và cơ chế ký quỹ. Hiện nay, tuy nhà đầu tư nước ngoài đã có thể giao dịch không cần ký quỹ trước (non pre-funding), đây vẫn là một giải pháp kỹ thuật tạm thời và được áp dụng đối với giao dịch tại một số công ty chứng khoán hàng đầu. Chúng ta cần thúc đẩy việc triển khai mô hình Đối tác bù trừ trung tâm (CCP), được xem là cơ chế then chốt giúp tối ưu hóa hiệu quả sử dụng vốn, xóa bỏ hẳn quy định ký quỹ trước giao dịch, đồng thời giảm thiểu rủi ro hệ thống thông qua vai trò bảo lãnh trung gian.

Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi này đang vấp phải mâu thuẫn giữa nhu cầu linh hoạt, tốc độ của thị trường và tư duy quản lý rủi ro thận trọng của cơ quan quản lý nhà nước. Sự giằng co giữa mục tiêu hiệu quả và yêu cầu an toàn chính là nguyên nhân khiến tiến độ triển khai còn chậm trễ. Do đó, để đưa CCP vào vận hành thực tế, thị trường cần một quyết tâm chính sách mạnh mẽ cùng lộ trình pháp lý rõ ràng, dứt khoát vượt qua các rào cản để tiệm cận với thông lệ quốc tế.

Thứ ba, vấn đề tỷ lệ sở hữu. Trong khi Nhà nước cần duy trì quyền chi phối ở các ngành then chốt, nhà đầu tư quốc tế lại mong muốn tiếp cận các lĩnh vực này. Việc “room” ngoại bị giới hạn đang làm giảm sức hấp dẫn của nhiều cổ phiếu lớn.  Một số quốc gia như Thái Lan và Malaysia đã giải quyết bài toán này thông qua việc phát hành các công cụ đầu tư tương đương “chứng chỉ không có quyền biểu quyết” qua đó mở rộng dư địa cho nhà đầu tư nước ngoài mà vẫn bảo toàn quyền kiểm soát.

Nâng hạng thị trường là xu hướng hiển nhiên và thực tế chúng ta đã được FTSE công nhận là thị trường mới nổi thứ cấp vào tháng 10/2025. Để được bổ sung vào các rổ chỉ số FTSE theo đúng lộ trình vào tháng 9/2026 cũng như để hoàn thành mục tiêu xa hơn là được MSCI công nhận là thị trường mới nổi, chúng ta cần có sự chuẩn bị kỹ lưỡng và các hành động cụ thể trong thời gian tới. Điều quan trọng không nằm ở tuyên bố, mà ở việc ban hành quy định rõ ràng, lộ trình phù hợp và các hành động thực chất.

Trong bối cảnh nền kinh tế vừa đối mặt với nhiều thách thức, vừa xuất hiện những cơ hội mới đan xen, theo ông, mục tiêu đạt mức tăng trưởng hai con số, cụ thể là khoảng 10% trong năm 2026 mà Chính phủ đặt ra có khả thi hay không?

Mức độ, tốc độ cũng như quy mô tăng trưởng kinh tế phụ thuộc rất lớn vào hiệu quả của các chính sách điều hành và khung pháp lý của Chính phủ. Nhà nước giữ vai trò trung tâm trong việc mở ra không gian phát triển mới thông qua đầu tư hạ tầng, hoàn thiện cơ sở vật chất và cải thiện môi trường đầu tư, từ đó tạo thêm niềm tin để khu vực kinh tế tư nhân mạnh dạn khởi động và mở rộng các dự án.

Bên cạnh đó, việc tiếp tục cải cách chính sách thuế và thể chế, nhằm từng bước đưa các hoạt động kinh tế phi chính thức vào khu vực chính thức, được kỳ vọng có thể đóng góp thêm khoảng 2% vào tăng trưởng GDP mỗi năm. Đây sẽ là yếu tố quan trọng giúp mở rộng dư địa tăng trưởng và củng cố nền tảng phát triển bền vững cho nền kinh tế trong trung và dài hạn.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-

Categories: The Latest News

Giá vàng lại tuột mốc chủ chốt 5.000 USD/oz

Tue, 02/17/2026 - 07:50
Giá vàng đang chịu sự chi phối lớn hơn từ triển vọng lãi suất Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed)...

Giá vàng thế giới giảm trong phiên giao dịch ngày thứ Hai (16/2), trượt khỏi mốc chủ chốt 5.000 USD/oz, khi đồng USD tăng giá nhẹ và thanh khoản giảm xuống mức thấp do thị trường Mỹ và một số nước châu Á nghỉ lễ.

Lúc đóng cửa tại Mỹ, giá vàng giao ngay giảm 49,3 USD/oz so với mức chốt của phiên trước, tương đương giảm 0,98%, còn 4.993,9 USD/oz - theo dữ liệu từ sàn giao dịch Kitco.

Quy đổi theo tỷ giá USD bán ra tại ngân hàng Vietcombank, mức giá này của vàng giao ngay tương đương khoảng 157,4 triệu đồng/lượng.

Giá bạc giao ngay giảm 0,84 USD/oz, tương đương giảm 1,08%, chốt ở mức 76,73 USD/oz.

Đồng USD được xem là nguyên nhân chính khiến giá vàng giảm trong phiên này. Chỉ số Dollar Index tăng hơn 0,2%, đạt hơn 97 điểm, từ mức dưới 97 điểm khi đóng cửa tuần vừa rồi.

Thị trường tài chính Mỹ đóng cửa nghỉ Lễ Tổng thống vào ngày thứ Hai, trong khi Việt Nam, Trung Quốc và một số nước châu Á khác đang trong kỳ nghỉ Tết Nguyên đán. Việc một số thị trường chủ chốt nghỉ lễ khiến khối lượng giao dịch trên thị trường kim loại quý quốc tế giảm xuống mức thấp. Với mức thanh khoản thấp, mức độ biến động của giá có thể gia tăng.

“Giá vàng đang giằng co quanh ngưỡng 5.000 USD/oz trong một tuần mà mức thanh khoản giảm xuống thấp do nghỉ lễ”, nhà phân tích Giovanni Staunovo của ngân hàng Thụy Sỹ UBS nhận xét.

Thời gian gần đây, căng thẳng địa chính trị ở những điểm nóng như Iran, Greenland và Nga - Ukraine tạm thời chưa có bước leo thang mới. Sức nóng địa chính trị dịu đi có thể khiến nhu cầu nắm giữ vàng để phòng ngừa rủi ro giảm bớt trong ngắn hạn. Trong bối cảnh đó, giá vàng đang chịu sự chi phối lớn hơn từ triển vọng lãi suất Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed).

Các số liệu kinh tế Mỹ công bố trong tuần vừa rồi mang tới một bức tranh thiếu đồng nhất. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 1 tăng yếu hơn dự báo, làm gia tăng khả năng Fed hạ lãi suất, nhưng tăng trưởng việc làm bất ngờ tăng tốc trong tháng 1, làm gia tăng khả năng Fed giữ nguyên lãi suất lâu hơn.

Thị trường hiện đang dự báo Fed sẽ có hai lần giảm lãi suất trong năm nay, và đợt giảm đầu tiên sẽ không diễn ra trước tháng 6. Cuộc họp chính sách tiền tệ tiếp theo của Fed sẽ diễn ra vào ngày 18/3, với dự báo áp đảo là lãi suất quỹ liên bang sẽ được giữ nguyên ở mức 3,5-3,75%.

Phát biểu hôm thứ Sáu, Chủ tịch Fed chi nhánh Chicago, ông Austan Goolsbee nói lãi suất có thể giảm, nhưng lưu ý rằng lạm phát dịch vụ còn cao dai dẳng.

Về tình hình địa chính trị, một nhà ngoại giao Iran vào ngày Chủ nhật cho biết nước này mong muốn đạt được một thỏa thuận hạt nhân với Mỹ mang lại lợi ích kinh tế cho cả hai bên.

Diễn biến giá vàng thế giới 10 năm qua. Đơn vị: USD/oz - Nguồn: Trading Economics.

“Tôi tạm thời hạ mục tiêu giá vàng trong trung hạn từ 5.500 USD/oz về vùng 5.100-5.200 USD/oz, song mọi thứ vẫn đang rất khó đoán định”, nhà phân tích Zain Vawda của trang tin thị trường MarketPulse by OANDA cho biết.

Cũng theo ông Vawda, so với vàng, bạc là một kim loại quý có mức độ nhạy cảm cao hơn với chu kỳ kinh tế nên “bất kỳ dấu hiệu nào về một nền kinh tế mạnh cũng làm suy yếu nhu cầu hầm trú ẩn của bạc. Số liệu việc làm tốt hơn dự báo của Mỹ đã làm suy giảm nhu cầu tài sản an toàn trong ngắn hạn”.

Khi mới mở cửa phiên châu Á sáng nay (17/2), giá vàng tăng nhẹ trong khi giá bạc tiếp tục giảm.

Lúc hơn 6h theo giờ Việt Nam, giá vàng giao ngay tăng 2 USD/oz so với giá chốt phiên Mỹ, giao dịch ở mức 4.996,2 USD/oz. Giá bạc giảm 0,29 USD/oz, còn 76,5 USD/oz.

Cùng thời điểm trên, website của Vietcombank báo giá USD ở mức 25.750 đồng (mua vào) và 26.160 đồng (bán ra).

-Điệp Vũ

Categories: The Latest News

Pages