Thời báo kinh tế Việt Nam

Subscribe to Thời báo kinh tế Việt Nam feed Thời báo kinh tế Việt Nam
VnEconomy - Góc nhìn toàn cảnh về nền kinh tế Việt Nam
Updated: 1 hour 32 min ago

OpenAI khai tử loạt mô hình cũ, trong đó có GPT-4o

Sat, 02/14/2026 - 16:04
Công ty công nghệ OpenAI đã chính thức dừng hoạt động GPT-4o – mô hình từng được đông đảo người dùng ưa chuộng cùng một số phiên bản cũ khác.

Từ khoảng 00 giờ ngày 14/2 (giờ Việt Nam), mô hình GPT-4o đã không còn khả dụng. Cùng với với việc đưa quảng cáo vào các gói miễn phí và Go, quyết định này càng khiến nhiều người dùng bày tỏ không mấy hài lòng đối với nhà phát triển OpenAI. 

Trước đó, vào đầu tháng 2, công ty đã thông báo kế hoạch loại bỏ GPT-5, GPT-4o, GPT-4.1, GPT-4.1 mini và o4-mini. 

Thông thường, việc ngừng hỗ trợ các mô hình AI cũ hiếm khi trở thành chủ đề gây chú ý lớn. Tuy nhiên, GPT-4o lại là trường hợp đặc biệt. 

Trên các diễn đàn như Reddit, không ít người bày tỏ sự tiếc nuối khi “trợ lý quen thuộc” biến mất. Theo phản ánh của Mashable, sự thay đổi này đặc biệt ảnh hưởng tới những người đã hình thành thói quen tương tác thường xuyên với chatbot.

Đây cũng không phải lần đầu OpenAI tính đến việc dừng GPT-4o. Khi OpenAI ra mắt GPT-5 vào năm trước, mô hình này từng bị đưa khỏi danh sách tùy chọn, gây ra làn sóng phản ứng mạnh từ cộng đồng.

Nhiều người dùng khi đó cho rằng phiên bản mới thiếu sự tự nhiên và thân thiện như GPT-4o. Trước áp lực từ người dùng, OpenAI đã khôi phục mô hình này chỉ sau vài ngày.

Một số chuyên gia cũng từng bày tỏ lo ngại về mức độ “thân thiện quá mức” của các mô hình AI, trong đó có GPT-4o. Hiện tượng này được gọi là “tâng bốc AI”, khi chatbot trở nên quá đồng thuận, dễ chiều theo quan điểm người dùng, thậm chí có nguy cơ củng cố những suy nghĩ sai lệch hoặc rủi ro.

Theo một số nhà quan sát, đây có thể là lý do OpenAI đã đăng tải một bài blog dài giải thích lý do loại bỏ các mô hình cũ. “Chúng tôi hiểu rằng việc mất quyền truy cập vào GPT-4o sẽ khiến một số người dùng thất vọng và đây không phải là quyết định dễ dàng. Tuy nhiên, việc ngừng hỗ trợ các mô hình cũ cho phép chúng tôi tập trung nguồn lực vào việc phát triển những mô hình mà phần lớn người dùng đang sử dụng hiện nay”, công ty cho biết. 

Theo OpenAI, chỉ khoảng 0,1% người dùng thường xuyên sử dụng GPT-4o cho các tác vụ chính. Con số này tương đương khoảng 800.000 người, dựa trên thống kê gần nhất về 800 triệu người dùng hoạt động hàng tuần được công bố trong báo cáo doanh nghiệp năm 2025. Sau khi các mô hình cũ bị loại bỏ, người dùng sẽ được chuyển sang các phiên bản mới hơn như GPT-5.1 và GPT-5.2.

Trong bối cảnh AI liên tục thay đổi, việc các mô hình quen thuộc bị thay thế là điều khó tránh. Tuy nhiên, phản ứng mạnh mẽ từ cộng đồng cho thấy mối quan hệ giữa người dùng và các công cụ AI ngày càng chặt chẽ... 

-Bạch Dương

Categories: The Latest News

Bộ Y tế hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh do virus Nipah

Sat, 02/14/2026 - 16:03
Theo Bộ Y tế, bệnh do virus Nipah được xếp vào bệnh truyền nhiễm nhóm A, có tiềm năng gây đại dịch và nằm trong danh sách ưu tiên của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO)...

Bộ Y tế vừa ban hành tài liệu chuyên môn "Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh do virus Nipah", áp dụng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong cả nước.

Hướng dẫn nêu rõ, bệnh do virus Nipah là bệnh truyền nhiễm cấp tính lây truyền từ động vật sang người và có thể lây từ người sang người. Bệnh được xếp vào bệnh truyền nhiễm nhóm A, có tiềm năng gây đại dịch và nằm trong danh sách ưu tiên của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO).

Đường lây truyền của virus Nipah gồm tiếp xúc trực tiếp với động vật nhiễm bệnh hoặc chất tiết của chúng như nước tiểu, nước bọt; tiêu thụ thực phẩm bị nhiễm chất bài tiết của dơi như nhựa cây chà là, trái cây; và lây từ người sang người qua dịch tiết hô hấp, nước tiểu hoặc chất nôn. 

Virus lan truyền qua giọt bắn khi người bệnh ho hoặc hắt hơi. Người bệnh có triệu chứng hô hấp có nguy cơ lây truyền cao hơn so với người chỉ có triệu chứng viêm não. 

Về biểu hiện lâm sàng, hướng dẫn của Bộ Y tế nêu rõ, tthời gian ủ bệnh của bệnh do virus Nipah dao động từ 3-14 ngày, có thể đến 45 ngày (hiếm gặp).

Bệnh khởi phát đột ngột với các triệu chứng như sốt cao, đau đầu nhiều, đau mỏi cơ, đau họng, nôn và tiêu chảy. Giai đoạn toàn phát có thể xuất hiện biểu hiện thần kinh như chóng mặt, lơ mơ, lú lẫn, mất định hướng; giảm ý thức có thể tiến triển nhanh từ lơ mơ sang hôn mê sâu trong vòng 24-48 giờ.

Các triệu chứng khác có thể gặp gồm co giật, yếu chi, liệt mềm, liệt vận nhãn. Bệnh cũng có thể gây biểu hiện hô hấp như ho, khó thở và suy hô hấp tiến triển nhanh.

Ở giai đoạn nặng, người bệnh có thể suy đa tạng, suy thận, suy tim, xuất huyết tiêu hóa và nhiễm trùng huyết. Một số trường hợp sống sót có thể bị viêm não tái phát sau nhiều tháng hoặc nhiều năm. Khoảng 20% người sống sót để lại di chứng thần kinh lâu dài như mệt mỏi dai dẳng, thay đổi tính cách, trầm cảm và dấu hiệu thần kinh khu trú.

Về xét nghiệm chẩn đoán, hướng dẫn của Bộ Y tế yêu cầu tuân thủ quy định lấy mẫu, bảo quản, đóng gói và vận chuyển mẫu theo hướng dẫn giám sát và phòng, chống bệnh do Bộ Y tế ban hành. 

Các xét nghiệm gồm phát hiện RNA của virus bằng Real-time RT-PCR hoặc giải trình tự gen, mẫu bệnh phẩm có thể là dịch tiết đường hô hấp, nước tiểu, máu và dịch não tủy. Xét nghiệm huyết thanh học ELISA được sử dụng để phát hiện kháng thể trong máu hoặc dịch não tủy. 

Ca bệnh nghi ngờ được xác định là người có yếu tố dịch tễ như trở về từ vùng dịch lưu hành hoặc tiếp xúc với dịch tiết của ca bệnh xác định trong vòng 14 ngày và có triệu chứng lâm sàng nghi ngờ; hoặc xét nghiệm huyết thanh học dương tính. 

Ca bệnh xác định là người có bằng chứng xét nghiệm xác nhận nhiễm virus Nipah thông qua phát hiện RNA của virus. Hướng dẫn nhấn mạnh nguyên tắc chung trong điều trị là cách ly và kiểm soát nhiễm khuẩn. Do chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, điều trị hỗ trợ tích cực và điều trị triệu chứng là chính. 

Tất cả ca bệnh nghi ngờ hoặc xác định phải nhập viện và cách ly ngay tại phòng cách ly riêng biệt hoặc khu vực chuyên biệt; không cho phép người nhà hoặc người không có nhiệm vụ vào thăm người bệnh trong khu vực cách ly.

Trong điều trị triệu chứng, hướng dẫn nêu rõ việc sử dụng paracetamol để hạ sốt và chống chỉ định NSAID do nguy cơ biến chứng chảy máu hoặc hội chứng Reye. 

Người bệnh được hỗ trợ điều trị các cơ quan tổn thương, hỗ trợ hô hấp tùy tình trạng; chống co giật bằng các thuốc theo khuyến cáo; kiểm soát tăng áp lực nội sọ; đặt nội khí quản bảo vệ đường thở và thở máy trong trường hợp hôn mê sâu. 

Kháng sinh chỉ sử dụng khi có bằng chứng nhiễm khuẩn thứ phát. Việc cân bằng dịch và điện giải được yêu cầu duy trì thông qua đường uống hoặc truyền tĩnh mạch. Các thuốc kháng virus hiện đang nghiên cứu và chưa có khuyến cáo chuẩn. 

Theo Bộ Y tế, hiện chưa có vaccine phòng bệnh do virus Nipah. Các biện pháp phòng bệnh chủ yếu dựa vào ngăn chặn đường lây truyền theo quy định của Bộ Y tế.

-Nhật Dương

Categories: The Latest News

Bổ sung chính sách hỗ trợ sinh đủ hai con

Sat, 02/14/2026 - 16:02
“Chương trình Bảo đảm mức sinh thay thế trên toàn quốc đến năm 2030” bổ sung các chính sách hỗ trợ, khuyến khích các cặp vợ chồng sinh con, sinh đủ hai con, phụ nữ sinh đủ hai con trước 35 tuổi trên cơ sở phân tích, đánh giá tác động của các chính sách về lao động, việc làm, nhà ở, phúc lợi xã hội, giáo dục, y tế...

Phó Thủ tướng Lê Thành Long đã ký Quyết định số 291/QĐ-TTg phê duyệt “Chương trình Bảo đảm mức sinh thay thế trên toàn quốc đến năm 2030”.

Mục tiêu của chương trình là tăng tỷ lệ sinh để đạt và duy trì mức sinh thay thế trên toàn quốc đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực, góp phần thực hiện thành công Chiến lược Dân số Việt Nam đến năm 2030, bảo đảm phát triển nhanh, bền vững đất nước.

Chương trình phấn đấu đến năm 2030, tăng trung bình 2% tổng tỷ suất sinh trên toàn quốc mỗi năm. Trên 95% các cặp vợ chồng, nam, nữ trong độ tuổi sinh đẻ được cung cấp thông tin về kết hôn, sinh con để đạt và duy trì mức sinh thay thế trên toàn quốc. 100% tỉnh, thành phố thực hiện các chính sách hỗ trợ các cặp vợ chồng, cá nhân sinh con, nuôi con.

Để đạt được các mục tiêu trên, Chương trình đưa ra các giải pháp cụ thể như: Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy, chính quyền; đẩy mạnh tuyên truyền, vận động thay đổi hành vi; điều chỉnh, hoàn thiện các chính sách hỗ trợ, khuyến khích; mở rộng tiếp cận các dịch vụ sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình và các dịch vụ có liên quan...

Chương trình quán triệt sâu sắc hơn nữa việc chuyển hướng trọng tâm chính sách dân số sang dân số và phát triển, điều chỉnh mức sinh sang đạt và duy trì mức sinh thay thế trên toàn quốc. Thống nhất nhận thức trong lãnh đạo và chỉ đạo việc vận động, khuyến khích, hỗ trợ để cặp vợ chồng, cá nhân sinh con, nuôi dạy con tốt, xây dựng gia đình tiến bộ, hạnh phúc.

Cùng với đó, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo gia tăng tỷ lệ sinh, chú trọng ở địa phương có mức sinh dưới mức sinh thay thế để đạt và duy trì mức sinh thay thế trên toàn quốc, điều kiện quan trọng nhất bảo đảm nguồn nhân lực, là tiền đề cơ bản nhất để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, dân tộc trường tồn.

Các hoạt động tuyên truyền, vận động cũng được đẩy mạnh, với hình thức đa dạng, phong phú, sinh động, hấp dẫn và thuyết phục. Nâng cao hiệu quả của truyền thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, chú trọng việc sử dụng các phương tiện truyền thông đa phương tiện, internet và mạng xã hội.

Cùng với đó, Chương trình thực hiện rà soát, đề xuất sửa đổi các quy định không phù hợp với mục tiêu đạt và duy trì vững chắc mức sinh thay thế, đặc biệt là các quy định xử lý vi phạm chính sách dân số hiện hành.

Cụ thể, đề xuất ban hành quy định về việc đề cao tính tiên phong, gương mẫu của mỗi cán bộ, đảng viên trong việc sinh con, nuôi dạy con tốt, xây dựng gia đình tiến bộ, hạnh phúc để đạt và duy trì mức sinh thay thế.

Căn cứ điều kiện kinh tế - xã hội và khả năng cân đối ngân sách nhà nước, các tỉnh, thành phố có chính sách hỗ trợ cặp vợ chồng, cá nhân sinh con, nuôi con nhằm đạt và duy trì mức sinh thay thế bền vững; ưu tiên đối với tỉnh, thành phố có mức sinh dưới mức sinh thay thế, dân tộc thiểu số rất ít người.

Bổ sung các chính sách hỗ trợ, khuyến khích các cặp vợ chồng sinh con, sinh đủ hai con, phụ nữ sinh đủ hai con trước 35 tuổi trên cơ sở phân tích, đánh giá tác động của các chính sách về lao động, việc làm, nhà ở, phúc lợi xã hội, giáo dục, y tế;... đến việc sinh ít con; xây dựng, triển khai các mô hình can thiệp thích hợp.

Việc tiếp cận các dịch vụ sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình và các dịch vụ có liên quan cũng được mở rộng bằng cách: Phổ cập dịch vụ kế hoạch hoá gia đình, chăm sóc sức khỏe sinh sản tới mọi người dân đảm bảo công bằng, bình đẳng trong tiếp cận, sử dụng dịch vụ, không phân biệt giới, người đã kết hôn, người chưa kết hôn để mỗi cá nhân, cặp vợ chồng chủ động, tự nguyện quyết định số con, thời gian sinh con và khoảng cách giữa các lần sinh nhằm nâng cao chất lượng dân số...

Đối với địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo: Tổ chức các loại hình cung cấp dịch vụ phù hợp; tư vấn, kiểm tra sức khỏe, phát hiện sớm, phòng, tránh các yếu tố nguy cơ dẫn đến sinh con dị tật, mắc các bệnh, tật ảnh hưởng đến việc nâng cao chất lượng dân số...

-Phúc Minh

Categories: The Latest News

Người bán hoa Tết như "ngồi trên đống lửa" vì vắng khách

Sat, 02/14/2026 - 16:00
Ngày 14/2 (tức ngày 27 Tết), tại nhiều địa điểm trưng bày, bán hoa Tết của thành phố Hà Nội, không khí mua sắm hoa xuân khá trầm lắng. Không ít người bán lan, đào, mai đã phải treo biển “xả hàng ”, giảm giá, nhưng lượng khách vẫn thưa thớt...

Tại các vườn lan dọc theo sân vận động Mỹ Đình, phường Từ Liêm, Hà Nội, trong các ngày 13,14/2, theo ghi nhận của VnEconomy, lượng khách đến xem, chốt đơn vẫn rất thưa vắng. 

Năm nay, các địa phương cũng như chính quyền địa phương thành phố Hà Nội đã quản lý rất chặt chẽ các điểm bán hoa tự phát, ngăn tình trạng hoa Tết tràn ra vỉa hè, lòng đường nên người dân nếu có nhu cầu mua hoa sẽ buộc phải tới các địa điểm cố định. Tuy nhiên, tại các điểm bán này không khí mua sắm vẫn khá trầm lắng. 

Chiều 26 Tết, dù thời tiết rất đẹp, nắng nhẹ, trời không quá rét nhưng khu vực bán hóa trên đường Lê Quang Đạo, đoạn qua sân vận động Mỹ Đình có rất ít khách hàng.  Những chậu lan khá to, đẹp nhưng do vắng khách nên người bán đã quyết định giảm giá xuống còn 300.000đ/chậu.  Tương tự là hoa mai dù đã "bung lụa" nhưng chưa có nhiều người chọn mua, nên chủ vườn đã quyết định "sale off" 50%.  Với lượng hoa mai, cúc còn khá nhiều như hiện tại, người bán hoa cho biết đang rất sốt ruột, nếu không tiêu thụ hết sẽ rất "gay go" vì cả năm chỉ trông cả vào việc bán hoa mấy này cận Tết.  Chờ khách "mỏi mòn" là tình cảnh của nhiều chủ điểm bán hoa mai. Chủ vườn mai này cho biết, dù đã giảm giá khá sát nhưng nhiều khách vẫn mặc cả đòi giảm thêm nên chị không muốn bán, vì không còn lãi. Cũng trong tình trạng "hóng khách" chủ vườn quất này đã treo biển xả hàng, nhưng vẫn khó kéo người mua tới xem và "chốt đơn".  Người bán hoa tranh thủ lướt facbook, tiktok trong khi chờ khách.  27 Tết, số lượng cây quất cảnh vẫn còn tương đối nhiều khiến người bán hàng này lo lắng.  Hoa nhiều, khách ít là tình cảnh chung khiến không ít những người bán cảm thấy sốt ruột. "May mắn là từ nay đến chiều 29 Tết theo dự báo trời không có mưa, chứ nếu không chợ hoa sẽ càng thêm vắng khách", bà Tuyết, chủ vườn hoa này cho biết.  Những cành đào đã bung nở nhưng vẫn chưa có người mua.  Năm nay không chỉ tại các điểm bán hoa có không khí trầm lắng, tại một số hội chợ Xuân, tình trạng nhân viên đông hơn khách cũng diễn ra khá phổ biến. Tại hội chợ Xuân trong khu vực trường đua F1, Mỹ Đình, chiều 26 Tết gần như không có 1 bóng khách. 

-Song Hoàng

Categories: The Latest News

Giao dịch tiền điện tử liên quan mạng lưới buôn người tăng mạnh 85%

Sat, 02/14/2026 - 16:00
Dòng tiền điện tử sử dụng trong các dịch vụ liên quan đến mạng lưới buôn người được cho là đã tăng 85% trong năm 2025, với tổng giá trị lên tới hàng trăm triệu USD qua những dịch vụ đã được nhận diện...

Công ty phân tích blockchain Chainalysis cho biết, dù việc sử dụng tiền điện tử trong các mạng lưới buôn người đang gia tăng nhanh chóng, tính minh bạch của công nghệ blockchain vẫn có thể giúp cơ quan chức năng theo dõi dòng tiền và hỗ trợ công tác thực thi pháp luật.

Theo báo cáo mới công bố, dòng tiền điện tử phục vụ các giao dịch bị nghi liên quan đến mạng lưới buôn người trong năm 2025 được cho là đã tăng tới 85% so với cùng kỳ năm trước. Tổng khối lượng giao dịch chuyển đến các tổ chức này, phần lớn hoạt động tại khu vực Đông Nam Á, đã đạt quy mô hàng trăm triệu USD thông qua những giao dịch đã được cơ quan phân tích nhận diện.

Báo cáo cho biết nhiều dịch vụ có mối liên hệ chặt chẽ với các tổ hợp lừa đảo trực tuyến, sòng bạc trên mạng và những mạng lưới rửa tiền sử dụng tiếng Trung. Trong đó, các hoạt động buôn người có sử dụng tiền điện tử mà đơn vị này theo dõi bao gồm các dịch vụ hoạt động trên nền tảng nhắn tin Telegram để môi giới dịch vụ hộ tống quốc tế; các nhóm tuyển dụng lao động trái phép, dụ dỗ và đưa người vào những khu phức hợp lừa đảo; cùng với các mạng lưới mại dâm và các đường dây phát tán tài liệu bóc lột trẻ em.

Các hoạt động này gần như chỉ sử dụng stablecoin để thực hiện giao dịch, cho thấy mức độ thích nghi nhanh chóng của các nhóm tội phạm với những công cụ tài chính mới.

Dù vậy, báo cáo nhấn mạnh rằng blockchain vẫn có thể trở thành công cụ hỗ trợ đắc lực cho lực lượng chức năng. Nhờ khả năng truy vết dòng tiền và nhận diện các mẫu giao dịch bất thường, cơ quan thực thi pháp luật có thể theo dõi hoạt động, đánh giá mức độ tuân thủ, đồng thời nhắm vào những điểm nghẽn chiến lược như các sàn giao dịch hoặc chợ trực tuyến bất hợp pháp.

“Khác với giao dịch tiền mặt thường khó lần dấu vết, tính minh bạch của blockchain cho phép theo dõi các hoạt động này ở mức độ chưa từng có, qua đó mở ra cơ hội phát hiện và ngăn chặn hiệu quả hơn so với các phương thức thanh toán truyền thống”, báo cáo cho biết.

Theo Chainalysis, trong năm qua, cơ quan thực thi pháp luật tại nhiều quốc gia đã đạt được một số kết quả đáng chú ý trong việc triệt phá các đường dây buôn người. Chẳng hạn Đức đã gỡ bỏ một nền tảng bóc lột trẻ em, trong đó phân tích dữ liệu blockchain đóng vai trò quan trọng trong quá trình điều tra và xử lý.

-Hạ Chi

Categories: The Latest News

Nghiên cứu cơ chế tài chính xanh hỗ trợ các đô thị dễ bị tổn thương

Sat, 02/14/2026 - 15:59
Chính phủ yêu cầu Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương nghiên cứu báo cáo cấp có thẩm quyền xây dựng, bổ sung, hoàn thiện các quy định liên quan đến hướng dẫn cơ chế tài chính, phân bổ ngân sách cho các hoạt động thích ứng với biến đổi khí hậu trong đô thị...

Ngày 13/2/2026, Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà ký Chỉ thị số 04/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh triển khai Đề án phát triển các đô thị Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021- 2030.

Thời gian qua, các Bộ, ngành, UBND các tỉnh, thành phố và cơ quan liên quan đã thực hiện nghiêm túc Đề án 438/QĐ-TTg về phát triển đô thị ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021-2030. Nhiều giải pháp thiết thực đã được triển khai, tạo chuyển biến rõ nét và đạt kết quả quan trọng, góp phần thúc đẩy phát triển đô thị xanh, thông minh và phát triển kinh tế - xã hội.

Tuy nhiên, công tác phát triển đô thị ứng phó với biến đổi khí hậu vẫn còn nhiều tồn tại, bất cập: việc xây dựng hệ thống bản đồ cảnh báo rủi ro đô thị (Atlats Đô thị và Khí hậu) còn gặp khó khăn về xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu; các tài liệu hướng dẫn các giải pháp kỹ thuật chủ yếu tập trung vào ứng phó với biến đổi khí hậu, còn thiếu các giải pháp tập trung vào giảm nhẹ phát thải khí nhà kính trong đô thị; nguồn lực để triển khai các nhiệm vụ còn hạn chế…

HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ TĂNG TRƯỞNG XANH

Để tăng cường chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, Thủ tướng Chính phủ chỉ thị Bộ Xây dựng theo quy định tại khoản 1 Điều 10 Nghị quyết số 190/2025/QH15 ngày 19/2/2025 của Quốc hội, giao Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành và địa phương tiếp tục, khẩn trương triển khai thực hiện các nhiệm vụ đã được giao tại Quyết định số 438/QĐ-TTg ngày 25/3/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án "Phát triển các đô thị Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021-2030" đảm bảo hiệu quả, thiết thực, đúng quy định của pháp luật.

Theo dõi, giám sát nội dung phát triển đô thị ứng phó với biến đổi khí hậu trong công tác quy hoạch, quản lý phát triển đô thị, bảo đảm tính minh bạch, thống nhất, loại bỏ các mâu thuẫn, chồng chéo, đáp ứng được yêu cầu phát triển của thực tiễn và hội nhập.

Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, các địa phương tiếp tục triển khai hoàn thiện, đồng bộ các cơ chế chính sách, quy định, quy phạm pháp luật về phát triển đô thị tăng trưởng xanh; phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị xanh, thông minh; xây dựng các quy chuẩn, tiêu chuẩn, định mức kinh tế kỹ thuật trong phát triển vật liệu xanh, công trình xanh, công trình sử dụng năng lượng hiệu quả.

Xây dựng các quy chuẩn, tiêu chuẩn, định mức kinh tế kỹ thuật trong phát triển vật liệu xanh, công trình xanh, công trình sử dụng năng lượng hiệu quả. Ảnh minh họa

Cùng với đó thực hiện có kế hoạch, hiệu quả các nhiệm vụ đã được giao tại các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số: 84/QĐ-TTg ngày 19/1/2018 về kế hoạch phát triển đô thị tăng trưởng xanh Việt Nam đến năm 2030; Quyết định 950/QĐ-TTg ngày 01/8/2018 về phát triển đô thị thông minh bền vững Việt Nam giai đoạn 2018- 2025 và định hướng đến năm 2030.

Tổ chức lập Quy hoạch tổng thể hệ thống đô thị và nông thôn đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2050 và các chương trình, dự án đầu tư nâng cấp đô thị, tăng trưởng xanh, thông minh, ứng phó với biến đổi khí hậu cho giai đoạn 2025- 2030 và các giai đoạn tiếp theo, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt làm cơ sở quản lý hiệu quả các nguồn lực của đô thị, hướng tới phát triển đô thị ổn định, bền vững.

Xây dựng các khung hướng dẫn; sửa đổi, bổ sung hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn cụ thể về đô thị tăng trưởng xanh, công trình xanh, công trình tiết kiệm năng lượng và quy định việc thực hiện bắt buộc đối với các công trình sử dụng vốn đầu tư công; hoàn thành trong năm 2026.

Đồng thời, Bộ Xây dựng tiếp tục chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành và địa phương đẩy mạnh trao đổi kinh nghiệm, kết nối mạng lưới, đối thoại chính sách về phát triển đô thị ứng phó với biến đổi khí hậu, đô thị tăng trưởng xanh, phát triển đô thị thông minh nhằm hướng đến phát triển hệ thống đô thị Việt Nam bền vững và bao trùm;

Theo dõi, đôn đốc và kiểm tra việc rà soát, điều chỉnh quy hoạch đô thị, chương trình phát triển đô thị, hạ tầng kỹ thuật đô thị tính toán giải pháp phát triển đô thị ứng phó với biến đổi khí hậu, đô thị phát thải carbon thấp, tăng trưởng xanh và thông minh.

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương nghiên cứu báo cáo cấp có thẩm quyền xây dựng, bổ sung, hoàn thiện các quy định liên quan đến hướng dẫn cơ chế tài chính, phân bổ ngân sách cho các hoạt động thích ứng với biến đổi khí hậu trong đô thị; nghiên cứu cơ chế tài chính xanh hỗ trợ các đô thị dễ bị tổn thương.

Bộ này cũng được giao chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan và các địa phương tăng cường kiểm tra kế hoạch, chương trình, dự án và các nhiệm vụ quản lý nhà nước về đầu tư công, đảm bảo gắn kết giữa kế hoạch đầu tư công trung hạn và hàng năm với kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội, quy hoạch đô thị, các chương trình, dự án phát triển đô thị được phê duyệt.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường cung cấp thông tin, cập nhật kịch bản biến đổi khí hậu quốc gia, dữ liệu khí tượng thủy văn, bản đồ ngập lụt, nước biển dâng hỗ trợ công tác quản lý và phát triển đô thị; chủ trì, phối hợp các Bộ, ngành tăng cường hướng dẫn các địa phương quản lý sử dụng đất đô thị, đảm bảo phù hợp với quy hoạch, kế hoạch của địa phương đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

Chỉ thị yêu cầu UBND các tỉnh, thành phố khẩn trương rà soát, thống kê, chủ động thực hiện lập và quản lý bản đồ ngập úng đô thị theo kịch bản biến đổi khí hậu, bản đồ dự báo các khu vực có nguy cơ và mức độ, quy mô ngập lụt, sạt lở, lũ quét...; cập nhật thường xuyên các khu vực có nguy cơ cao bị ảnh hưởng thiên tai trong đô thị.

Rà soát và xử lý các tồn tại trong công tác quy hoạch, đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị đảm bảo ứng phó với biến đổi khí hậu để đề ra các giải pháp thực hiện hoặc tổ chức điều chỉnh quy hoạch; rà soát chương trình, xây dựng cơ sở hạ tầng, quản lý vận hành hệ thống thoát nước đô thị, hạn chế tối đa phát sinh điểm ngập mới hoặc tái diễn kéo dài…

Tăng cường nghiên cứu ứng dụng các giải pháp kỹ thuật và công nghệ phù hợp với địa phương trong phát triển đô thị ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng trưởng xanh như: tăng diện tích hồ điều hòa, không gian trữ nước, vùng ngập tạm; phục hồi sông hồ, kênh rạch bị lấn chiếm và các giải pháp phù hợp khác.

Cân đối nguồn lực, xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn và hàng năm đảm bảo bố trí đủ nguồn vốn để đầu tư đồng bộ hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội trong đô thị. Thiết lập hệ thống theo dõi, giám sát quá trình phát triển đô thị theo các bộ chỉ tiêu về xây dựng đô thị tăng trưởng xanh, phát triển đô thị ứng phó với biến đổi khí hậu đảm bảo phù hợp với tình hình kinh tế xã hội.

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các địa phương phải phân công rõ trách nhiệm giữa các cấp chính quyền, chủ đầu tư, đơn vị quản lý vận hành hệ thống hạ tầng kỹ thuật trong việc phòng, chống và khắc phục hậu quả ngập lụt, sạt lở; tăng cường tuyên truyền, phổ biến kiến thức, hướng dẫn cộng đồng nâng cao ý thức, kỹ năng ứng phó với các loại hình thiên tai.

-Tùng Dương

Categories: The Latest News

Ba thế kỷ đỏ nắng phên hương

Sat, 02/14/2026 - 14:00
Những ngày giáp Tết, làng hương Đông Khê (Hoằng Giang, Thanh Hóa) như bừng tỉnh trong sắc đỏ của phên hương phơi nắng, trong làn khói trầm dìu dịu lan khắp ngõ xóm. Hơn ba thế kỷ qua, người làng vẫn lặng lẽ giữ nghề, để mỗi nén hương giữ lại cả hồn quê và hơi thở mùa Xuân xứ Thanh.

Những ngày cuối năm, khi nhịp sống ngoài kia gấp gáp theo từng chuyến xe hàng Tết, Đông Khê cũng tất bật, nhưng theo một cách rất riêng. Không tiếng máy móc ồn ào, không nhà xưởng quy mô lớn, cả làng vận hành bằng đôi tay cần mẫn và kinh nghiệm truyền đời. Từ đầu làng đến cuối ngõ, đâu đâu cũng thấy phên hương đỏ au xếp thẳng hàng, hứng trọn nắng hanh cuối mùa. Màu đỏ ấy vừa báo hiệu Tết đang đến rất gần, vừa là dấu hiệu của một vụ làm ăn quyết định thu nhập cả năm của người dân.

Ở Đông Khê, người ta quen gọi đây là “mùa hương”. Mùa hương không chỉ gắn với thời tiết, mà còn gắn với thị trường, với nhu cầu tăng cao của người tiêu dùng mỗi dịp Tết Nguyên đán. Người Đông Khê làm hương theo thói quen từ nhiều thế hệ: chậm rãi, chắc tay và luôn đặt chất lượng lên trước số lượng. Với họ, một nén hương không chỉ là sản phẩm bán ra thị trường, mà còn gắn với tín ngưỡng, với bàn thờ gia tiên của mỗi gia đình.

Theo các bậc cao niên, nghề làm hương ở Đông Khê đã xuất hiện từ khoảng thế kỷ XVIII. Trải qua bao biến động, nghề vẫn được lưu truyền như một phần không thể tách rời của đời sống làng quê.

Khoảng giữa tháng Mười âm lịch, khi gió heo may bắt đầu se lạnh, cả làng gần như đồng loạt tăng tốc. Sáng sớm, khi mặt trời còn chưa lên cao, tiếng chẻ tăm đã vang đều trong sân. Những bó vầu được cưa, chẻ thành từng que nhỏ, đều tăm tắp. Đến trưa, tranh thủ nắng, người già, phụ nữ, thậm chí trẻ nhỏ phụ giúp những công đoạn nhẹ như lăn hương, xếp phên. Chiều xuống, các phên hương lại được trở tay, tận dụng từng giờ nắng hiếm hoi của mùa đông miền Trung.

“Làm hương vụ Tết là phải chạy đua với nắng”, bà Đoàn Thị Tiên, 65 tuổi, vừa lăn hương vừa nói. Đôi tay bà thoăn thoắt, động tác quen thuộc đến mức không cần nhìn vẫn đều tăm tắp. “Chỉ cần gặp mưa bất chợt là hương không khô, hỏng cả mẻ, coi như mất công mấy ngày”. Với bà Tiên và nhiều người trong làng, vụ hương cuối năm quyết định phần lớn thu nhập của gia đình. Nếu thời tiết thuận lợi, làm được nhiều, Tết sẽ đủ đầy hơn, con cháu có thêm quần áo mới, mâm cỗ ngày đầu năm cũng tươm tất hơn.

Quy trình làm hương Đông Khê vẫn giữ tính thủ công cao. Phần bột hương được trộn từ nhựa cây trám, bột than làm từ thân mía hoặc lá chuối, kết hợp với các loại thảo mộc như rễ trầm, đinh hương theo tỷ lệ riêng của từng nhà. Mỗi gia đình đều có “bí quyết” riêng, tạo nên mùi thơm khác biệt, không lẫn với nơi khác.

Người thợ lăn tăm qua lớp nhựa, phủ bột đều tay để nén hương tròn, chắc, không nứt, không bong. Công việc lặp đi lặp lại hàng trăm, hàng nghìn lần mỗi ngày, đòi hỏi sự kiên nhẫn và cảm nhận tinh tế. Chỉ cần tay non hoặc bột trộn không đều, nén hương sẽ cháy không chuẩn, dễ tắt hoặc khói gắt. Chính sự tỉ mỉ ấy tạo nên chất lượng cho hương Đông Khê: cháy đều, khói nhẹ, không cay mắt, mùi thơm dịu, phù hợp với không gian thờ cúng ngày Tết.

Những ngày nắng đẹp, phên hương được xếp kín từ sân ra ngõ, tạo nên một bức tranh làng nghề đặc trưng. Khách lạ đến làng dịp này thường dừng lại khá lâu, vừa ngắm sắc đỏ trải dài, vừa hít hà mùi trầm thoang thoảng trong gió. Với người Đông Khê, đó là hình ảnh quen thuộc của mỗi mùa Tết về.

Dù máy móc đã hỗ trợ phần nào ở khâu chẻ tăm, nhưng phần lớn các công đoạn quan trọng vẫn được làm bằng tay. “Làm nhanh bằng máy thì được nhiều số lượng, nhưng hương không còn mùi quen. Hương thủ công tuy vất vả hơn, nhưng giữ được khách lâu dài”,  ông Đoàn Văn Mậu, 68 tuổi, người có hơn nửa thế kỷ gắn bó với nghề, chia sẻ. Theo ông Mậu, người mua hương Tết không chỉ nhìn vào giá, mà còn rất coi trọng mùi hương và độ cháy. Một khi đã quen dùng hương Đông Khê, nhiều gia đình năm nào cũng tìm mua cho bằng được.

Chính sự kiên trì giữ chất lượng đã giúp hương Đông Khê có chỗ đứng ổn định trên thị trường. Ngoài tiêu thụ trong tỉnh, hương còn được đưa đi nhiều địa phương khác như Nghệ An, Hà Tĩnh và một số tỉnh phía Nam thông qua các mối quen. Mỗi dịp Tết, lượng đơn hàng tăng mạnh, nhiều hộ phải làm xuyên ngày, thậm chí tranh thủ buổi tối để kịp giao. Những chuyến xe nhỏ nối nhau rời làng, chở theo hàng nghìn bó hương thành phẩm.

Với nhiều gia đình, nghề hương là nguồn thu chính trong những tháng cuối năm, bù đắp cho sản xuất nông nghiệp vốn phụ thuộc nhiều vào thời tiết. Có hộ chỉ làm vài nghìn bó để bán lẻ, nhưng cũng có nhà làm số lượng lớn, tạo việc làm thời vụ cho người thân, hàng xóm, nhất là phụ nữ và người cao tuổi. Công việc tuy không nhẹ, nhưng phù hợp với điều kiện lao động tại chỗ, giúp nhiều người có thêm thu nhập mà không phải đi làm ăn xa.

“Nghề này không giàu nhanh, nhưng nếu chịu khó thì cũng đủ trang trải. Quan trọng là có việc làm tại chỗ, có thêm tiền lo cho gia đình, nhất là dịp cuối năm”, ông Mậu cho biết. Với người dân Đông Khê, giá trị của nghề không chỉ nằm ở con số thu nhập, mà còn ở sự ổn định và tính bền bỉ qua nhiều thế hệ.

Tuy vậy, nghề làm hương cũng đối mặt không ít khó khăn. Sản xuất phụ thuộc hoàn toàn vào thời tiết, chỉ cần mưa kéo dài là thiệt hại lớn. Nguyên liệu ngày càng khan hiếm, giá tăng, trong khi hương công nghiệp sản xuất hàng loạt, giá rẻ, đang chiếm lĩnh thị trường phổ thông. Sự cạnh tranh này buộc người làm nghề truyền thống phải chấp nhận lợi nhuận không cao, đổi lại là giữ uy tín và khách hàng lâu năm.

Một thách thức khác là bài toán lao động kế cận. Đi sâu vào làng, dễ nhận ra người làm hương chủ yếu đã có tuổi. Thanh niên trẻ ít mặn mà với nghề. “Ngày trước, con cái lớn lên là theo cha mẹ làm hương. Giờ nhiều đứa đi học, đi làm xa, ít ai muốn về làm nghề”, ông Mậu trầm ngâm. Nỗi lo thiếu lớp kế cận vẫn hiện hữu, nhất là khi nghề đòi hỏi sự kiên nhẫn và gắn bó lâu dài.

Dẫu vậy, mỗi dịp Tết đến, làng Đông Khê lại nhộn nhịp theo cách riêng. Sân nhà nào cũng đỏ rực hương thành phẩm, được bó gọn gàng, xếp chờ xe đến lấy. Không khí sản xuất xen lẫn niềm hy vọng về một mùa Tết đủ đầy hơn sau những tháng ngày vất vả. Những bó hương rời làng mang theo mùi thơm quen thuộc, theo chân thương lái đến nhiều vùng miền, hiện diện trên bàn thờ ngày Tết của nhiều gia đình.

Ở đó, hương không chỉ là sản phẩm phục vụ nhu cầu tâm linh, mà còn là kết quả của lao động thủ công, là nguồn thu giúp người dân bám trụ với làng nghề.

Giữa sắc xuân đang lan dần trên từng mái nhà, Đông Khê vẫn giữ cho mình một nhịp điệu riêng: chậm rãi nhưng bền bỉ. Nghề làm hương ở đây không chỉ giữ lại vị Tết truyền thống trong từng nén hương, mà còn góp phần nuôi dưỡng sinh kế, duy trì một mô hình kinh tế làng nghề gắn với văn hóa, để mỗi mùa xuân về, làng lại đỏ rực phên hương và đầy ắp hy vọng.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây: 

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-

Categories: The Latest News

Tết về quê mẹ

Sat, 02/14/2026 - 13:14
Mỗi năm, hàng trăm nghìn người Việt xa xứ chọn quê mẹ vào dịp Tết Nguyên đán, nhưng hành trình về quê ăn Tết của kiều bào không phải lúc nào cũng thuận lợi. Có những người phải trải qua những chuyến bay kéo dài hàng chục giờ, sự khác biệt múi giờ, chi phí đắt đỏ nhưng họ sẵn sàng chấp nhận để có những ngày được thực sự ăn, chơi Tết Việt…

Tháng 12/2025, chị Hồng Hải, hiện sống và làm việc tại Vancouver (Canada), tất bật hoàn thiện những phần việc cuối cùng để xin nghỉ phép dài ngày. Hơn ba năm sang Canada định cư nhưng chị hoàn toàn không quen được "tết Tây" tại nơi mình sống.

"Dù cách xa quê mẹ cả nửa vòng trái đất, nhưng mỗi dịp Tết đến em luôn tưởng tượng thấy mùi của Tết, có nồi nước lá mùi già, không khí chộn rộn chiều cuối năm, mùi khói hương trầm, và cả mùi của bánh chưng, bếp củi và không khí đầm ấm trong gia đình", chị Hải chia sẻ lên trang facebook cá nhân.

Khi còn ở Việt Nam, Hải từng khá thờ ơ với Tết. Có những ngày nghỉ dài, chị chọn ở trong phòng, tránh các cuộc gặp gỡ, đôi khi cảm thấy mệt mỏi trước sự ồn ào, náo nhiệt và những con đường luôn kẹt cứíng. Từ ngày xa quê, cảm nhận về Tết của chị đã thực sự thay đổi. Mong muốn được trở về quê nhà luôn thường trực tuy nhiên chi phí vé máy bay cao và việc xin nghỉ phép dài ngày không phải lúc nào cũng thuận lợi. Năm nay, sau nhiều cân nhắc, chị quyết định về Việt Nam. “Em sẽ gói bánh chưng với mẹ, đi cà phê với bạn bè, ăn thật nhiều đồ Việt. Nhớ không khí Tết quê nhà quá rồi”, chị Hải bộc bạch.

Câu chuyện của Hồng Hải không phải cá biệt. Với nhiều người Việt sinh sống tại các quốc gia có mùa đông kéo dài như Đức, Thụy Sĩ, Phần Lan hay các nước Bắc Âu, Đông Âu, cuối năm, đặc biệt là những ngày cận Tết luôn là khoảng thời gian đặc biệt, có người cho biết phải ẩn bớt những bài viết, ảnh chụp hoặc video clip của bạn bè khoe không khí đón xuân, mừng Tết trên mạng xã hội. Theo anh Phùng Quang Hiển, một người đã cư trú tại thành phố Stuttgart của Đức gần sáu năm, mùa đông luôn là giai đoạn khó thích nghi nhất. Có những tháng anh hoàn toàn không thấy mặt trời, nhịp sinh hoạt lặp đi lặp lại như cái máy, đi làm, về ngủ và đi làm. Trời lạnh, sinh hoạt thu hẹp trong không gian kín, đường phố vắng và ít giao tiếp khiến nhiều lúc Hiển rơi vào cảm giác stress nặng.

Ở Việt Nam đi làm về, kể cả mùa nào thì cũng dễ dàng ra phố, hòa vào dòng người, gặp gỡ bạn bè, đi ăn vặt, café, nhưng tại châu Âu, kết thúc một ngày làm việc, ai về nhà nấy, tới mùa đông thì cảm giác cô đơn, nhớ quê, nhớ Tết càng "dữ dội" hơn. Năm nay, anh Hiển cho biết cũng sẽ chọn cách sắp xếp để trở về Việt Nam đón Tết thay vì ở lại châu Âu trong những tháng mùa đông dài đằng đẵng. "Nếu không vướng vợ con, tôi đã về Việt Nam và ở lại luôn rồi, tôi rất nhớ, rất thèm đồ ăn quê nhà” anh Hiển trải lòng.

Theo các thống kê chính thức, hiện có khoảng 6,5 triệu người Việt Nam sinh sống tại hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó trên 80% ở các nước phát triển. Đây là cộng đồng đa dạng với nhiều hình thức di cư, gồm lao động, du học sinh, đoàn tụ gia đình, doanh nhân, trí thức, chuyên gia… Theo Bộ Ngoại giao, những năm qua, Đảng, Nhà nước và nhân dân cả nước luôn chào đón, tạo điều kiện thuận lợi để người Việt Nam ở nước ngoài về nước thăm thân, du lịch, đầu tư sản xuất, kinh doanh; hết sức cầu thị, lắng nghe tâm tư nguyện vọng, tiếp thu ý kiến đóng góp, hiến kế xây dựng đất nước của bà con.

Nhiều chủ trương, đường lối về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài đã được thể chế hóa thông qua các chính sách pháp luật trong nhiều lĩnh vực như: quốc tịch, xuất cảnh, nhập cảnh, đất đai, nhà ở, đầu tư, kinh doanh, lao động... nhằm hỗ trợ, chăm lo cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, đồng thời phát huy tinh thần yêu nước và nguồn lực của đồng bào ta ở nước ngoài cho sự nghiệp xây dựng quê hương, đất nước.

Với những thuận lợi nêu trên, mỗi năm, hàng trăm nghìn người trong số này lựa chọn trở về Việt Nam, đặc biệt vào các dịp lễ lớn như Tết Nguyên đán. Hành trình về quê ăn Tết của kiều bào không phải lúc nào cũng thuận lợi. Có những người phải trải qua những chuyến bay kéo dài hàng chục giờ, sự khác biệt múi giờ, chi phí đắt đỏ nhưng họ sẵn sàng chấp nhận để có những ngày được thực sự ăn, chơi Tết Việt.

Tính đến cuối năm 2023, tổng chiều dài hệ thống đường bộ của Việt Nam đã gần 595.000 km, trong đó khoảng 25.600 km là đường quốc lộ và đường cao tốc — một phần quan trọng trong việc rút ngắn thời gian di chuyển giữa các tỉnh, thành lớn. Các tuyến cao tốc mới được đưa vào sử dụng trong những năm gần đây đã giúp kết nối các vùng phía Bắc – Nam và các đô thị trung tâm hiệu quả hơn. Dự kiến đến năm 2025, tổng chiều dài đường cao tốc có thể đạt hơn 3.000 km, với mục tiêu mở rộng lên khoảng 5.000 km vào năm 2030.

Ngoài đường bộ, mạng lưới sân bay và đường sắt cũng được chú trọng mở rộng. Hiện Việt Nam có hơn 20 sân bay vận hành, bao gồm nhiều cảng quốc tế tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng, cùng các dự án như Nhà ga T3 Tân Sơn Nhất và Sân bay quốc tế Long Thành đang được xây dựng nhằm tăng công suất phục vụ hành khách.

Các dịch vụ đời sống phát triển mạnh. Từ ăn uống, mua sắm, vui chơi giải trí đến làm đẹp, chăm sóc sức khỏe, Việt Nam hiện có nhiều lựa chọn không thua kém các nước phát triển. Các trung tâm thương mại, khu phố ẩm thực, quán cà phê, nhà hàng và không gian giải trí xuất hiện ngày càng nhiều, đáp fíng cả nhu cầu truyền thống lẫn phong cách sống hiện đại.

Với nhiều kiều bào, trải nghiệm về nước không còn gắn với cảm giác “thiếu thốn” hay “bất tiện” như trước đây. Ngược lại, đó là quãng thời gian dễ chịu, khi họ có thể tận hưởng nhịp sống quen thuộc, dịch vụ tiện lợi và sự kết nối xã hội mà không phải đánh đổi chất lượng sinh hoạt. Chính sự kết hợp giữa đời sống vật chất ngày càng hoàn thiện và giá trị tinh thần của gia đình, Tết truyền thống khiến những ngày trở về quê hương trở thành khoảng thời gian được mong đợi và trọn vẹn hơn.

Cùng với việc tránh mùa đông và đón Tết, nhiều kiều bào tranh thủ thời gian về nước để khám và điều trị y tế. Theo ghi nhận của các cơ sở y tế lớn tại TP. Hồ Chí Minh và Hà Nội, mỗi năm có hàng trăm nghìn lượt kiều bào về Việt Nam sử dụng dịch vụ y tế, tập trung vào các lĩnh vực như khám tổng quát, nha khoa, cơ xương khớp và các điều trị không khẩn cấp.

Một trong những lý do kéo được kiều bào về quê khám bệnh là năng lực y tế trong nước đã phát triển nhanh trong những năm gần đây. Hệ thống bệnh viện tư nhân, bệnh viện quốc tế và các trung tâm chuyên khoa được đầu tư bài bản, đội ngũ bác sĩ có trình độ cao, nhiều người được đào tạo ở nước ngoài. So với tại nước ngoài, chi phí điều trị tại Việt Nam được đánh giá là hợp lý hơn, trong khi thời gian chờ đợi ngắn hơn đáng kể.

Việc kết hợp nhiều mục đích trong một chuyến đi – tránh rét, sum họp gia đình và chăm sóc sức khỏe – đang nổi lên như một lựa chọn mang tính kinh tế rõ nét, đặc biệt đối với nhóm kiều bào trung niên và cao tuổi. Sự trở về của kiều bào dịp Xuân vì thế không chỉ mang ý nghĩa tinh thần, mà còn góp phần kích hoạt sức mua, thúc đẩy tăng trưởng và củng cố mối liên kết kinh tế – xã hội giữa cộng đồng người Việt ở nước ngoài với quê hương.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-

Categories: The Latest News

Sát Tết Bính Ngọ, giá bán vàng miếng SJC tái lập mốc đỉnh hai tuần

Sat, 02/14/2026 - 11:11
Sau nhịp giảm mạnh trong phiên 13/2, sáng nay (14/2), giá vàng miếng SJC bật tăng 2 triệu đồng/lượng mỗi chiều, giá bán trở lại mốc 181 triệu đồng/lượng, cao nhất trong 2 tuần qua…

Trong tuần cận Tết Bính Ngọ (9–14/2), giá vàng miếng SJC biến động mạnh, mỗi nhịp tăng, giảm lên tới cả triệu đồng mỗi lượng. Tuy nhiên, tính theo giá chốt phiên tại các doanh nghiệp thì mặt bằng chung vẫn giữ xu thế đi ngang.

Sau nhịp giảm hơn 2 triệu đồng/lượng trong phiên hôm qua (13/2), giá bán vàng miếng nhanh chóng quay trở lại vùng giá phổ biến trong tuần là 181 triệu đồng/lượng.

Lúc 10 giờ ngày 14/2, Công ty SJC vẫn niêm yết giá mua vàng miếng ở mức 178 triệu đồng/lượng và giá bán ra là 181 triệu đồng/lượng từ khi mở cửa phiên sáng. So với giá chốt phiên 13/2, giá vàng miếng SJC doanh nghiệp này tăng 2 triệu đồng/lượng mỗi chiều.

Theo thông báo của Công ty SJC, các sản phẩm vàng miếng, vàng nhẫn và vàng may mắn giao dịch đến hết ngày 13/2 để phục vụ công tác kiểm kê. Hầu hết cửa hàng SJC tại khu vực phía Bắc sẽ nghỉ Tết từ 15/2, trong khi các cửa hàng tại TP.Hồ Chí Minh đóng cửa từ ngày 16/2 (29 tháng Chạp). Riêng hai điểm bán tại Aeon Bình Tân và Aeon Tân Phú vẫn mở cửa xuyên Tết.

Mức giá giao dịch 178 triệu – 181 triệu đồng/lượng cũng được niêm yết tại PNJ, DOJI, Bảo Tín Minh Châu và Bảo Tín Mạnh Hải. So với giá chốt phiên 13/2, giá vàng miếng SJC các doanh nghiệp này cũng tăng 2 triệu đồng/lượng mỗi chiều.

Tại khu vực phía Nam, mở cửa phiên sáng nay, giá giao dịch vàng miếng SJC tại Mi Hồng cũng tăng trở lại 1,8 triệu đồng/lượng đối với chiều mua và 2 triệu đồng/lượng đối với chiều bán. Thương hiệu này đặt giá mua, bán ở mức 178,3 triệu – 181 triệu đồng/lượng.

Sau khi giảm 1,5 triệu đồng/lượng mỗi chiều trong phiên 13/2, giá mua, bán vàng miếng SJC tại Ngọc Thẩm tăng 1 triệu đồng/lượng trong phiên sáng nay. Cập nhật lúc 10 giờ, thương hiệu này niêm yết giá mua, bán vàng miếng ở mức 177 triệu – 180 triệu đồng/lượng.

Riêng tại DOJI và Phú Quý, giá giao dịch vàng miếng vẫn giữ nguyên so với phiên hôm qua. Giá vàng miếng tại hai doanh nghiệp này hiện đang giao dịch ở mức 176 triệu – 179 triệu đồng/lượng.

Giá giao dịch vàng miếng SJC trong tuần 9-14/2/2026. Nguồn: VnEconomy tổng hợp từ bảng giá doanh nghiệp

Theo sát diễn biến thị trường vàng miếng, giá giao dịch vàng nhẫn các hệ thống lớn cũng ghi nhận mức tăng phổ biến là 2 triệu đồng/lượng trong phiên sáng 14/2.

Ở vùng giá gần 181 triệu đồng/lượng, thị trường vàng miếng đang đứng tại mức cao nhất trong vòng 2 tuần qua. Chênh lệch giá mua – bán hiện ghi nhận ở mức phổ biến là 3 triệu đồng. Biên độ giá mua - bán tại Mi Hồng dù nới rộng lên 2,7 triệu đồng nhưng vẫn ở mức thấp nhất thị trường

Sau khi giảm 1,9 triệu đồng/lượng mỗi chiều trong phiên hôm qua (13/2), giá vàng nhẫn Tròn 9999 Hưng Thịnh Vượng tại DOJI mở cửa phiên sáng tiếp tục duy trì ổn định ở mức 175,6 triệu – 178,6 triệu đồng/lượng (mua – bán). Tính đến 10 giờ ngày 14/2, mức giá giao dịch trên vẫn không đổi.

Tương tự, tại Phú Quý, sau 3 phiên đứng giá, giá mua, bán vàng nhẫn tròn 9999 tại doanh nghiệp này giảm mạnh 1,8 triệu đồng/lượng mỗi chiều trong phiên 13/2. Trong phiên sáng nay (14/2), thương hiệu này giữ nguyên giá giao dịch vàng nhẫn ở mức 175,7 triệu – 178,7 triệu đồng/lượng (mua – bán).

Trong khi đó, Công ty SJC và PNJ cùng niêm yết giá mua vàng nhẫn ở mức 177,5 triệu đồng/lượng và giá bán ở mức 180,5 triệu đồng/lượng trong suốt phiên sáng. So với giá chốt phiên 13/2, giá giao dịch vàng nhẫn tại cả hai doanh nghiệp này tăng lần lượt 2 triệu đồng/lượng và 1,9 triệu đồng/lượng.

Tại TP.Hồ Chí Minh, sau 2 phiên giảm liên tiếp (12-13/2) với tổng mức giảm lên tới 3 triệu đồng/lượng mỗi chiều, giá giao dịch vàng nhẫn tại Ngọc Thẩm ghi nhận nhịp điều chỉnh tăng mạnh nhất trên thị trường.

Mở cửa phiên sáng, Ngọc Thẩm niêm yết giá mua vào vàng nhẫn “4 số 9” ở mức 169,5 triệu đồng/lượng và giá vàng nhẫn bán ra là 173,5 triệu đồng/lượng, tăng 2,5 triệu đồng/lượng so với giá chốt phiên 13/2. Lúc 10 giờ, thương hiệu này vẫn duy trì ổn định mức giá giao dịch trên.

Chênh lệch giá vàng trong nước và giá vàng thế giới trong phiên 14/2. Nguồn: VnEconomy tổng hợp và tính toán

Dù tăng mạnh hơn hẳn so với mặt bằng chung nhưng giá giao dịch vàng nhẫn tại Ngọc Thẩm vẫn thấp nhất thị trường, chênh khoảng 7-8 triệu đồng/lượng so với các doanh nghiệp tại miền Bắc. Tuy nhiên, mức chênh lệch giá mua – bán vàng nhẫn tại đây lại cao nhất thị trường, ở ngưỡng 4 triệu đồng/lượng.

Trong tuần sát Tết, Bảo Tín Minh Châu và Bảo Tín Mạnh Hải vẫn hai doanh nghiệp niêm yết giá vàng nhẫn “4 số 9” ngang bằng với giá vàng miếng SJC.

Bảo Tín Minh Châu và Bảo Tín Mạnh Hải vẫn giữ giá mua vàng nhẫn “4 số 9” ở mức 178 triệu đồng/lượng và giá vàng nhẫn bán ra là 181 triệu đồng/lượng trong cả phiên sáng. Mức giá giao dịch trên duy trì ổn định đến khi đóng cửa phiên. So với giá chốt phiên 13/2, giá giao dịch vàng nhẫn “4 số 9” tại cả hai thương hiệu này tăng 2 triệu đồng/lượng đối với cả hai chiều mua và bán.

Tại thị trường NewYork, đóng cửa phiên 13/2, hợp đồng giá vàng giao ngay tăng mạnh gần 2,5%, tiến lên mốc 5.043,9 USD/oz

Theo tỷ giá Vietcombank (đã bao gồm thuế và phí...), chênh lệch giữa giá vàng miếng và giá vàng thế giới ở mức 20,3 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, đối với giá vàng nhẫn “4 số 9”, tùy từng thương hiệu, khoảng cách này dao động từ 12,8 – 20,3 triệu đồng/lượng.

-Mai Nhi

Categories: The Latest News

Hải quan khu vực lúng túng xác nhận chứng từ, xử lý tờ khai buộc tái xuất hoặc tiêu huỷ

Sat, 02/14/2026 - 11:03
Việc áp dụng các quy định mới về khai bổ sung hồ sơ và hủy tờ khai đang đặt ra không ít lúng túng cho hải quan khu vực. Những vướng mắc trong cách xác nhận chứng từ, xử lý tờ khai buộc tái xuất, tiêu hủy đòi hỏi phải có hướng dẫn thống nhất để tránh ách tắc nghiệp vụ…

Thông tư 121/2025/TT-BTC của Bộ Tài chính đã sửa đổi, bổ sung nhiều quy định liên quan đến thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu.

Tuy nhiên, trong quá trình triển khai, một số đơn vị hải quan địa phương đã phản ánh những vướng mắc phát sinh, nổi cộm là liên quan đến khai bổ sung hồ sơ hải quan và xử lý tờ khai trong trường hợp hàng hóa buộc tái xuất, tiêu hủy.

Về khai bổ sung hồ sơ hải quan, theo quy định tại điểm a.8 khoản 2 Điều 20 Thông tư 38/2015/TT-BTC (được sửa đổi, bổ sung qua các thông tư liên quan và cập nhật tại Thông tư 121/2025/TT-BTC), đối với tờ khai xuất khẩu, nhập khẩu có phương thức vận chuyển là hàng rời, hàng xá, nếu sau khi hàng đủ điều kiện qua khu vực giám sát nhưng phát sinh chênh lệch về số lượng, trọng lượng so với khai báo thì công chức hải quan phải kiểm tra, xác nhận trên Phiếu cân hàng của cảng hoặc Biên bản nhận hàng có đại diện người bán ký xác nhận hoặc Biên bản ghi nhận tại hiện trường giám định.

Trong khi đó, khoản 1 Điều 1 Thông tư 121/2025/TT-BTC quy định việc xuất trình các chứng từ, trong đó hồ sơ khai bổ sung được thực hiện qua Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan.

Sự kết hợp giữa yêu cầu xác nhận trên chứng từ giấy và quy định nộp hồ sơ qua hệ thống điện tử đã làm nảy sinh cách hiểu khác nhau tại cơ sở. Theo phản ánh từ Chi cục Hải quan khu vực VIII, thực tiễn trên nảy sinh hai vấn đề:

Thứ nhất, việc xác nhận của công chức hải quan sẽ thực hiện hoàn toàn trên chứng từ giấy và lưu hồ sơ hay có thể xác nhận trên hệ thống điện tử (E5) ?

Thứ hai, với các lô hàng mở tờ khai tại hải quan ngoài cửa khẩu, trong trường hợp hải quan cửa khẩu nơi giám sát không thể truy cập đầy đủ hồ sơ trên Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử, việc xác nhận chứng từ được thực hiện theo phương thức nào?

Đặc biệt, tại khu vực cảng biển có hoạt động chuyển tải, sang mạn, neo đậu, nơi điều kiện giám sát trực tiếp còn hạn chế, đơn vị đề xuất Cục Hải quan xem xét áp dụng cơ chế xác nhận trên hệ thống điện tử nhằm giảm hồ sơ giấy và tạo thuận lợi cho hoạt động thông quan.

“Sau khi ký tên, đóng dấu công chức xác nhận lên một trong các chứng nêu trên, cơ quan hải quan lưu một bản chụp, trả lại bản chính cho người khai hải quan để thực hiện khai bổ sung tại hải quan nơi đăng ký tờ khai.

(Cục Hải quan)

Phản hồi nội dung này, Cục Hải quan cho biết khi khai sửa đổi, bổ sung thì người khai hải quan nộp bản Phiếu cân hàng của cảng hoặc Biên bản nhận hàng có đại diện người bán ký xác nhận hoặc Biên bản ghi nhận tại hiện trường giám định về số lượng, trọng lượng có xác nhận của công chức giám sát cho Hải quan nơi đăng ký tờ khai thông qua hệ thống để hoàn tất thủ tục.

Đối với hoạt động chuyển tải, sang mạn tại cảng biển, căn cứ quy định tại Điều 52b Thông tư 38/2015/TT-BTC, việc giám sát được thực hiện trên cơ sở thu thập thông tin, phân tích và đánh giá rủi ro, Cục Hải quan cho biết.

Tùy từng trường hợp, Đội trưởng Hải quan quản lý khu vực có thể phân công công chức giám sát thông qua: hệ thống seal định vị điện tử gắn trên phương tiện vận chuyển nội địa; hệ thống nhận dạng tự động hàng hải (AIS) hoặc giám sát trực tiếp, cơ động kết hợp tuần tra, kiểm soát địa bàn và phối hợp với lực lượng chức năng.

Căn cứ kết quả giám sát và đối chiếu chứng từ do người khai nộp, nếu đủ cơ sở xác định phù hợp thực tế, công chức giám sát sẽ ký xác nhận để làm căn cứ khai bổ sung.

Một nội dung khác cũng gây lúng túng cho các chi cục Hải quan khu vực là quy định tại Điều 22 Thông tư 38/2015/TT-BTC (được sửa đổi, bổ sung qua các thông tư liên quan và cập nhật tại Thông tư 121/2025/TT-BTC) về hủy tờ khai hải quan.

Đối với các tờ khai vi phạm bị buộc tái xuất hoặc tiêu hủy thì có thuộc trường hợp hủy tờ khai hay không? Nếu không hủy, tờ khai sẽ tiếp tục tồn tại trên hệ thống, trong khi trường hợp này cũng không thuộc diện Tờ khai hàng hóa nhập khẩu đã được đăng ký nhưng hàng hóa thực tế không nhập khẩu và chưa đưa qua khu vực giám sát.

(Chi cục Hải quan khu vực IV)

Theo đó, so quy định trước đây, quy định về Tờ khai hải quan đã đăng ký nhưng hàng hóa không đáp ứng các quy định về quản lý, kiểm tra chuyên ngành, sau khi xử lý vi phạm với hình thức phạt bổ sung là buộc phải tái xuất hoặc tiêu hủy đã bị bãi bỏ.

Đơn vị đề xuất vẫn cho phép hủy tờ khai trong trường hợp này, bởi khi tái xuất hàng hóa sẽ thực hiện theo biên bản giám sát mà không mở tờ khai xuất mới, do đó cần hủy tờ khai nhập khẩu ban đầu để bảo đảm đồng bộ dữ liệu.

Về vấn đề này, Cục Hải quan khẳng định các trường hợp hàng hóa bị buộc tái xuất, tiêu hủy hoặc bị tịch thu theo quyết định xử lý hành chính, hình sự không thuộc diện hủy tờ khai.

Cục Hải quan cho biết sau khi hoàn thành hình thức xử phạt bổ sung, công chức hải quan thực hiện cập nhật thông tin vụ việc trên Hệ thống tại mục “Cập nhật ý kiến của công chức xử lý” và chuyển xử lý thủ công bằng nghiệp vụ PAI/PEA với mã lý do MID.

Trong khi đó, trường hợp được hủy tờ khai quy định tại Điều 22 chỉ áp dụng khi hàng hóa đã đăng ký tờ khai nhưng còn trong khu vực giám sát và người khai từ chối nhận hàng theo quy định tại Nghị định 08/2015/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 167/2025/NĐ-CP) hoặc người nhập khẩu không đáp ứng điều kiện là người khai hải quan, Cục Hải quan nhấn mạnh

Đối với trường hợp này, sau khi hoàn tất thủ tục từ chối nhận hàng và giám sát tái xuất, hải quan nơi đăng ký tờ khai mới thực hiện hủy theo quy định.

-Hoàng Sơn

Categories: The Latest News

Năm 2025, thu giữ 376.577 sản phẩm thuốc lá điện tử nhập lậu

Sat, 02/14/2026 - 11:03
Theo cơ quan hải quan, tình hình nhập lậu thuốc lá điện tử sau khi bị cấm diễn biến khá phức tạp. Trong năm 2025, hơn 376.000 sản phẩm bị phát hiện thông qua hợp thức hoá chứng từ, có vụ quy mô hơn 9 tỷ đồng vừa bị khởi tố...

Kể từ sau thời điểm Nghị quyết 173/2024/QH15 có hiệu lực từ ngày 1/1/2025, thuốc lá điện tử và thuốc lá nung nóng chính thức nằm trong danh mục hàng hóa cấm lưu thông

Theo Cục Hải quan, việc thay đổi chính sách này kéo theo yêu cầu siết chặt kiểm soát trên diện rộng, nhất là tại các tuyến vận chuyển và loại hình có nguy cơ cao. Trong đó, hoạt động quá cảnh được xác định là khâu tiềm ẩn nhiều rủi ro khi bị các đối tượng lợi dụng để trung chuyển hàng vi phạm.

Mặc dù chính sách đã siết chặt song các đường dây vẫn tìm cách đưa hàng đi qua lãnh thổ Việt Nam.

Số liệu cho thấy, chỉ trong năm 2025, ghi nhận 376.577 sản phẩm thuốc lá điện tử bị cơ quan chứ năng phát hiện và thu giữ. Tính chung giai đoạn 2023 - 2025, tổng số tang vật bị thu giữ lên tới 614.608 sản phẩm. Những con số này phản ánh áp lực không nhỏ đối với công tác kiểm soát.

Theo đánh giá của cơ quan Hải quan, các vụ việc gần đây không chỉ gia tăng về số lượng mà còn thể hiện mức độ tinh vi trong thủ đoạn.

Tháng 12/2024, tại cửa khẩu Hữu Nghị, thông qua kiểm tra các lô hàng quá cảnh, Cục Điều tra chống buôn lậu đã phát hiện hơn 50.000 thiết bị thuốc lá điện tử các loại cùng hàng nghìn hộp tinh dầu không khai báo cùng nhiều sản phẩm có dấu hiệu xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.

Sang tháng 11/2025, cũng tại địa bàn này, Chi cục Điều tra chống buôn lậu tiếp tục phát hiện vụ việc liên quan đến 174.160 lọ tinh dầu, 5.600 thuốc lá điện tử và 400 thiết bị thuốc lá điện tử chưa có tinh dầu được trà trộn trong các lô hàng quá cảnh.

Tang vật vi phạm bị thu giữ. Nguồn: Cục Hải quan

Điển hình, trong cao điểm đấu tranh giai đoạn 2025–2026, Chi cục Điều tra chống buôn lậu (Cục Hải quan) đã phát hiện và khởi tố một vụ án đặc biệt nghiêm trọng để hợp thức hóa vận chuyển hàng tiềm ẩn nguy cơ lớn đối với sức khỏe cộng đồng và trật tự thị trường với tổng trị giá hàng hóa vi phạm trên 9 tỷ đồng. 

Tang vật vi phạm bị thu giữ gồm 65.357 thiết bị thuốc lá điện tử; 3.389 lọ tinh dầu dùng cho thuốc lá điện tử; 120 ba lô thể thao nhãn hiệu Nike; 120 ba lô thể thao nhãn hiệu Adidas và 120 đôi giày thể thao nhãn hiệu Nike với tổng trị giá hàng hóa vi phạm trên 9 tỷ đồng.

(Báo cáo từ Cục Hải quan)

Trước đó, vào ngày 26/10/2025 và 28/10/2025, khi kiểm tra hai tờ khai vận chuyển độc lập của Công ty TNHH Hợp Mạnh đăng ký quá cảnh từ cửa khẩu quốc tế Móng Cái (Quảng Ninh) về cửa khẩu quốc tế Cha Lo (Quảng Trị), lực lượng Hải quan phát hiện nhiều điểm bất nhất giữa hồ sơ và hàng hóa thực tế.

Theo Cục Hải quan, kết quả xác minh ban đầu cho thấy doanh nghiệp đã nhiều thủ đoạn để hợp thức hóa việc vận chuyển hàng hóa vi phạm pháp luật như: khai báo thiếu số lượng, lập bảng kê sai thực tế, tự phát hành hóa đơn, chỉnh sửa chứng từ có gắn con dấu và chữ ký của phía đối tác Trung Quốc, đồng thời khai sai tên hàng và trị giá nhằm qua mặt cơ quan chức năng.

“Đáng chú ý, bản chất giao dịch không dựa trên hợp đồng thương mại chính thức mà chủ yếu mua gom qua các nhóm WeChat, sau đó trung chuyển qua Việt Nam để đưa sang Lào tiêu thụ”, Cục Hải quan nhấn mạnh

Cục Hải quan cho biết, vụ án trên vừa được khởi tố theo Quyết định số 03/QĐ-ĐTCBL ngày 10/02/2026 và toàn bộ hồ sơ hiện đã chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra-Công an tỉnh Quảng Trị để tiếp tục xử lý theo thẩm quyền..

Thời gian tới, ngành Hải quan sẽ tiếp tục rà soát, đánh giá rủi ro đối với loại hình quá cảnh và thương mại điện tử xuyên biên giới; đồng thời tăng cường phối hợp với Công an, Bộ đội Biên phòng và lực lượng Quản lý thị trường nhằm ngăn chặn sớm các đường dây buôn lậu quy mô lớn, góp phần bảo đảm trật tự thị trường và an toàn cho người tiêu dùng.

-Hoàng Sơn

Categories: The Latest News

Tăng sở hữu cổ phần cho người lao động khi tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước

Sat, 02/14/2026 - 10:06
Trong tiến trình cơ cấu lại vốn nhà nước, Nghị định 57/2026/NĐ-CP đặt trọng tâm vào việc mở rộng quyền sở hữu cổ phần cho người lao động, đi kèm các ràng buộc về thời gian nắm giữ và trách nhiệm cam kết làm việc nhằm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động…

Một nội dung đáng chú ý tại Nghị định số 57/2026/NĐ-CP của Chính phủ về cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp là chính sách đối với người lao động khi cổ phần hóa doanh nghiệp.

Liên quan đến chính sách bán cổ phần cho người lao động, Nghị định nêu rõ ba nhóm đối tượng được tham gia mua cổ phần với giá ưu đãi bao gồm: (i) người lao động làm việc theo hợp đồng lao động và người quản lý doanh nghiệp tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp; (ii) người lao động được cử làm đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp khác nhưng chưa từng hưởng chính sách ưu đãi và (iii) người lao động và người quản lý của doanh nghiệp cấp II chưa được hưởng quyền lợi này khi doanh nghiệp cấp I thực hiện cổ phần hóa.

Theo quy định, người lao động được mua tối đa 100 cổ phần cho mỗi năm thực tế làm việc trong khu vực nhà nước với mức giá bằng 60% mệnh giá, tương đương 6.000 đồng/cổ phần theo mệnh giá là 10.000 đồng/cổ.

(Nghị định 57/2026/NĐ-CP)

Đối với người lao động đại diện cho hộ gia đình nhận khoán, nếu tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa có hợp đồng nhận khoán ổn định lâu dài với công ty nông, lâm nghiệp thì khi chuyển sang công ty cổ phần được mua tối đa 100 cổ phần cho mỗi năm thực tế đã nhận khoán với giá bán bằng 60% mệnh giá.

Theo đó, phần chênh lệch giữa giá bán cho người lao động so với mệnh giá cổ phần được trừ vào giá trị phần vốn nhà nước khi quyết toán tại thời điểm doanh nghiệp chính thức chuyển thành công ty cổ phần.

Nghị định nhấn mạnh, số cổ phần ưu đãi người lao động phải nắm giữ tối thiểu ba năm kể từ thời điểm nộp tiền mua và không được chuyển nhượng trong thời gian này. Đồng thời, tổng giá trị cổ phần bán ưu đãi tính theo mệnh giá không được vượt quá giá trị phần vốn chủ sở hữu theo sổ sách kế toán tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp.

Bên cạnh cơ chế ưu đãi, Nghị định 57/2026/NĐ-CP còn thiết kế chính sách mua thêm cổ phần dành cho những người lao động thuộc diện doanh nghiệp cần tiếp tục sử dụng và có cam kết làm việc tối thiểu ba năm kể từ khi doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu.

Giá bán đối với số cổ phần mua thêm là giá khởi điểm do cơ quan đại diện chủ sở hữu phê duyệt trong phương án cổ phần hóa. Số cổ phần mua thêm được tính theo thời gian cam kết tiếp tục làm việc tối đa đến khi đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định của pháp luật 

(Nghị định 57/2026/NĐ-CP)

Theo đó, người lao động được mua thêm 200 cổ phần cho mỗi năm cam kết làm việc, tối đa không quá 2.000 cổ phần. Riêng các chuyên gia giỏi, có trình độ chuyên môn cao, mức mua thêm có thể lên tới 500 cổ phần mỗi năm cam kết và tối đa 5.000 cổ phần.

Doanh nghiệp cổ phần hóa có trách nhiệm xây dựng tiêu chí xác định chuyên gia giỏi, phù hợp với đặc thù ngành nghề và phải được Hội nghị người lao động thông qua trước khi thực hiện.

“Mỗi người lao động chỉ được hưởng một trong hai mức mua thêm nêu trên. Số cổ phần mua thêm sẽ được chuyển đổi thành cổ phần phổ thông sau khi người lao động hoàn thành thời gian cam kết”, Nghị định 57/2026/NĐ-CP nêu rõ.

Trường hợp công ty cổ phần thay đổi cơ cấu, công nghệ, di dời hoặc thu hẹp địa điểm sản xuất, kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền dẫn đến người lao động phải chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn cam kết thì số cổ phần đã mua thêm vẫn được chuyển đổi thành cổ phần phổ thông.

Các doanh nghiệp tái cơ cấu thông qua Công ty Mua bán nợ Việt Nam, người lao động cũng được áp dụng các chính sách về giá ưu đãi và mua thêm tương tự, căn cứ vào điều kiện cụ thể và phương án tái cơ cấu được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Nghị định 57/2026/NĐ-CP quy định nếu người lao động có nhu cầu bán lại cho doanh nghiệp, công ty cổ phần có trách nhiệm mua lại với giá sát với giá giao dịch trên thị trường.

Ngược lại, nếu người lao động chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn cam kết thì phải bán lại cho công ty cổ phần toàn bộ số cổ phần đã được mua thêm với giá sát giá giao dịch trên thị trường nhưng không vượt quá giá đã mua tại thời điểm cổ phần hóa.

Ngoài số cổ phần mua theo diện ưu đãi và cam kết, nếu có nhu cầu mua thêm, người lao động phải tham gia đấu giá công khai như các nhà đầu tư khác, bảo đảm nguyên tắc minh bạch và bình đẳng, Nghị định nhấn mạnh.

Song song với chính sách nắm giữ cổ phần, Nghị định 57/2026/NĐ-CP cũng quy định rõ cơ chế xử lý đối với lao động dôi dư.

Theo đó, người lao động làm việc theo hợp đồng lao động và người lao động của doanh nghiệp cổ phần hóa tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa đã được cử xuống làm đại diện phần vốn tại các doanh nghiệp khác mà không bố trí được việc làm tại công ty cổ phần theo phương án sử dụng lao động sẽ được hưởng chính sách đối với người lao động dôi dư theo quy định của pháp luật.

Đối với người quản lý doanh nghiệp, cơ quan đại diện chủ sở hữu có trách nhiệm xem xét, quyết định bố trí công việc. Trường hợp đã áp dụng mọi biện pháp nhưng không thể sắp xếp, người quản lý sẽ được hưởng chính sách tương tự tinh giản biên chế theo quy định.

Với người quản lý tại doanh nghiệp cấp II, thẩm quyền bố trí thuộc về Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch doanh nghiệp nhà nước; nếu không bố trí được việc làm thì thực hiện giải quyết theo pháp luật lao động.

Ba hình thức cổ phần hóa doanh nghiệp tại Nghị định 57/2026/NĐ-CP bao gồm:

1. Giữ nguyên vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp, phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn điều lệ.

2. Bán một phần vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp hoặc kết hợp vừa bán bớt một phần vốn nhà nước vừa phát hành thêm cổ phiếu đế tăng vốn điều lệ.

3. Bán toàn bộ vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp hoặc kết hợp vừa bán toàn bộ vốn nhà nước vừa phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn điều lệ.

(Nghị định 57/2026/NĐ-CP)

-Hoàng Sơn

Categories: The Latest News

CaraWorld và mô hình “Thủ phủ vịnh biển giải trí toàn cầu” trong chiến lược du lịch biển Việt Nam

Sat, 02/14/2026 - 09:35
CaraWorld được chủ đầu tư KN Cam Ranh định vị là “Thủ phủ vịnh biển giải trí toàn cầu”, nơi năng lượng bất tận của các tổ hợp giải trí kết hợp cùng cửa ngõ giao thương quốc tế để đón dòng du khách khắp thế giới. Dự án hướng tới trở thành một điểm đến có định danh riêng, đủ sức cạnh tranh trực tiếp với các thiên đường giải trí lớn nhất trên bản đồ du lịch.VỊ TRÍ CHIẾN LƯỢC BÊN VỊNH BIỂN CAM RANH

Với quy mô 800ha cùng 5km đường bờ biển Bãi Dài, CaraWorld nắm giữ lợi thế cạnh tranh khác biệt để hiện thực hóa mô hình siêu đô thị biển tích hợp (Integrated Resort). Việc sở hữu quỹ đất lớn và liền mạch đặc biệt tại các vịnh biển nước sâu là điều kiện tiên quyết để phát triển một hệ sinh thái nghỉ dưỡng - giải trí đồng bộ từ quy hoạch đến vận hành.

Chiến lược “cửa ngõ kép” liền kề sân bay và cảng biển quốc tế sẽ đưa hàng triệu du khách đến với CaraWorld mỗi năm.

Vị thế của CaraWorld được xác lập tại tọa độ chiến lược: liền kề Sân bay Quốc tế Cam Ranh và cảng biển nước sâu. Tính đến hiện tại, đây là dự án đầu tiên tại Việt Nam nắm giữ kỷ lục tiếp giáp cùng lúc hai đầu mối giao thông quốc tế quan trọng này.

Với dữ liệu vận tải hàng không ghi nhận 5,5 triệu lượt khách năm 2025 và mục tiêu du lịch toàn tỉnh đến năm 2030 thu hút thu hút 33 triệu lượt khách/năm, trong đó khách quốc tế chiếm 40–45%, tổng thu từ khách du lịch dự kiến đạt 9 tỉ USD.

Tận dụng tối đa lợi thế địa lý của vịnh nước sâu, CaraWorld đã quy hoạch bến du thuyền quốc tế ngay trong lòng dự án với quy mô 148 ha, có khả năng tiếp nhận tàu khách du lịch trọng tải lên tới 225.000 GT - tiêu chuẩn cao nhất trong ngành công nghiệp tàu biển hiện nay. Dự kiến động thổ vào 25/04/2026, hạng mục này góp phần hoàn thiện hệ sinh thái tiện ích đẳng cấp, đón dòng khách thượng lưu trên khắp thế giới và tối ưu hóa hành trình trải nghiệm của du khách.

HỆ SINH THÁI “ALL IN ONE” CỦA KINH ĐÔ GIẢI TRÍ KHÔNG NGỦ

Để hiện thực hóa tầm nhìn kiến tạo CaraWorld trở thành điểm đến quốc tế, Chủ đầu tư phát triển hệ sinh thái tiện ích quy mô lớn, vận hành theo mô hình "All-in-one".

Tại đây, 38 đại tiện ích và hàng nghìn hạng mục thành phần đáp ứng trọn vẹn mọi nhu cầu từ nghỉ dưỡng, thể thao, giải trí, mua sắm đến hội nghị (MICE). Mục tiêu của quy hoạch này là hình thành chuỗi cung ứng dịch vụ trọn vẹn ngay tại điểm đến, từ đó gia tăng biên độ lợi nhuận thông qua việc kéo dài thời gian lưu trú và đa dạng hóa nguồn thu từ du khách.

Sân KN Golf Links tại CaraWorld theo phong cách sân golf ven biển gồm 18 hố sân links và 9 hố sân Oasis đã đi vào vận hành.

Đóng vai trò “mỏ neo” thu hút dòng khách thượng lưu là sân KN Golf Links 27 hố đã đi vào vận hành, liên tiếp xếp hạng một trong các sân golf tốt nhất thế giới. Bên cạnh đó, quy hoạch casino và tổ hợp giải trí – sự kiện, cùng công viên nước, phố thương mại, không gian chăm sóc và trị liệu sức khỏe… được định hướng hoạt động với tần suất cao nhằm duy trì nhịp sống sôi động suốt ngày đêm của một “thành phố không ngủ” bên vịnh biển.

Việc tích hợp chuỗi tiện ích đa tầng giúp CaraWorld duy trì sức hút mạnh mẽ và năng động suốt các mùa trong năm. Khi các hợp phần đi vào hoạt động đồng bộ, dự án tạo ra dòng tiền khai thác thương mại ổn định quanh năm nhờ khả năng thu hút du khách quay trở lại nhiều lần với mức chi tiêu cao, đồng thời gia tăng giá trị và tính thanh khoản cho bất động sản trong dài hạn.

Tổ hợp siêu thị - nhà hàng – cà phê CaraMart đã đưa vào vận hành tại dự án CaraWorld.

Tổng hòa những lợi thế từ vị trí “cửa ngõ kép” hiếm có đến hệ sinh thái dịch vụ – nghỉ dưỡng đa dạng, CaraWorld không chỉ kiến tạo những công trình ven biển, mà đang từng bước hình thành một điểm đến mới bên Bãi Dài – nơi du khách có thể trải nghiệm trọn vẹn nhịp sống biển, không gian văn hóa và các tiện ích giải trí – nghỉ dưỡng đẳng cấp.

Tại Cam Ranh, CaraWorld góp phần mở ra một mô hình phát triển du lịch tích hợp, nơi giá trị của vùng đất được đánh thức bằng năng lực vận hành thực tế, sự đầu tư bài bản và tầm nhìn dài hạn cho một trung tâm du lịch biển năng động của khu vực.

-Tuấn Sơn

Categories: The Latest News

VIATT 2026: Hơn 450 doanh nghiệp bứt phá cùng công nghệ và dệt may xanh

Sat, 02/14/2026 - 09:32
VIATT 2026 sẽ có sự tham gia của hàng trăm doanh nghiệp, thương hiệu hàng đầu trong lĩnh vực dệt may, nguyên phụ liệu, máy móc và công nghệ tiên tiến, mang đến bức tranh toàn diện về chuỗi giá trị ngành dệt may toàn cầu...

Từ ngày 26 – 28/2/2026, tại Trung tâm Triển lãm và Hội nghị Sài Gòn (SECC) sẽ diễn ra Triển lãm Quốc tế ngành Dệt may và Công nghệ Dệt Việt Nam (VIATT 2026). Sự kiện do Bộ Công Thương chủ trì giao Cục Xúc tiến thương mại phối hợp với Tập đoàn Messe Frankfurt (Đức) tổ chức.

Tiếp nối thành công của kỳ triển lãm năm 2025 với số lượng nhà trưng bày tăng hơn 13% so với năm 2024, VIATT 2026 sẽ mở rộng quy mô tăng 20% so với năm 2025, từ 15.000 m2 lên 18.000 m2, quy tụ gần 1.000 gian hàng của hơn 450 doanh nghiệp trong nước và quốc tế đến từ 21 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới thuộc các ngành hàng: may mặc; dệt gia dụng; dệt may kỹ thuật và vải không dệt; công nghệ gia công dệt và in... trong đó có sự góp mặt của nhiều thương hiệu lớn: Thomas Mason by Albini 1876; Murata Machinery Ltd; Yagi Co Ltd; Tamurakoma Co Ltd; IDOLE Trading; Alumo AG; Thomas Clifford Ltd, CoolisT Life Technology Co Ltd…

Theo ông Vũ Bá Phú, Cục trưởng Cục xúc tiến Thương mại, Bộ Công Thương, VIATT 2026 hướng tới thúc đẩy phát triển ngành dệt may trong nước, nâng cao công nghệ sản xuất, tăng cường tính bền vững và mở rộng lĩnh vực dệt may kỹ thuật. Đây là cơ hội để các doanh nghiệp quốc tế khai thác tiềm năng tăng trưởng của thị trường Việt Nam và ASEAN, đồng thời giúp doanh nghiệp trong nước kết nối hiệu quả với các nhà mua hàng toàn cầu.

Triển lãm VIATT 2025 đã thu hút hơn 19.000 lượt khách tham quan.

Đặc biệt, nắm bắt mục tiêu phát triển nền kinh tế tuần hoàn và chuyển dịch sang năng lượng xanh, VIATT 2026 sẽ tiếp tục mang đến nền tảng kết nối giá trị cho các doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững thông qua khu trưng bày dành riêng cho vật liệu thân thiện với môi trường, quy trình sản xuất bền vững và các tiêu chuẩn chứng nhận quốc tế - Econogy Hub. Nền tảng này hoàn toàn phù hợp với mục tiêu của Việt Nam trong việc xây dựng một nền kinh tế dệt may tuần hoàn vào năm 2050, với sự tập trung vào các đổi mới như sợi hữu cơ, sợi tái chế, và công nghệ nhuộm thân thiện với môi trường.

Hướng đến việc mở rộng phạm vi ứng dụng công nghệ, VIATT 2026 sẽ ra mắt khu trưng bày chuyên biệt dành cho hóa chất và thuốc nhuộm dệt may. Khu vực này sẽ giới thiệu các chất phụ gia phục vụ tái chế hóa học, sản xuất sợi, xử lý hoàn thiện, phủ bề mặt, hóa chất xử lý sơ bộ và chuẩn bị cho dệt thoi, dệt kim cùng với các loại thuốc nhuộm và màu nhuộm.

Song song với các sáng kiến về phát triển bền vững, triển lãm sẽ tiếp tục mở rộng Khu giải pháp đổi mới và kỹ thuật số – nơi quy tụ những công nghệ tiên tiến hỗ trợ tối ưu hóa trong thiết kế, sản xuất và quản lý chuỗi cung ứng, từ mô phỏng mẫu bằng trí tuệ nhân tạo (AI) đến các hệ thống tự động hóa hiện đại. Những giải pháp này sẽ góp phần nâng cao năng lực vận hành của ngành dệt may Việt Nam, đồng thời mở ra nhiều cơ hội tiếp cận thị trường mới và chuyển đổi theo hướng công nghệ cao.

Sau thành công tại kỳ triển lãm năm 2025, Phòng thí nghiệm Trí tuệ nhân tạo trong thiết kế (AiDLab) sẽ tiếp tục trở lại VIATT 2026 với công nghệ kiểm tra vải WiseEye tiên tiến. Giải pháp này cho phép tự động phát hiện, phân loại và đánh giá lỗi trên vật liệu dệt.

Việt Nam là một trong những quốc gia dẫn đầu xuất khẩu hàng dệt may. Hiện các nhà sản xuất hàng may mặc đang tập trung phát triển các loại sợi bền vững, chất liệu vải đổi mới và sản phẩm thiết kế hoàn chỉnh mang tính thời trang và sáng tạo.

Để đáp ứng xu hướng đổi mới này, VIATT 2026 sẽ mở rộng phạm vi trưng bày sang các sản phẩm may mặc hoàn chỉnh, giúp các nhà thiết kế thời trang và nhà sản xuất có thêm nhiều lựa chọn.

Triển lãm sẽ giới thiệu thêm khu vực thương hiệu thời trang, nơi quy tụ các thương hiệu thời trang quy mô nhỏ, cùng với khu vực phụ kiện thời trang trưng bày túi xách, giày dép, trang sức và nhiều mặt hàng khác.

Đây là những khu vực được dự đoán sẽ thu hút sự chú ý của các thương hiệu lớn như Tory Burch và Zara, các nhà mua hàng quan trọng tại kỳ triển lãm trước.

Trong khuôn khổ Triển lãm sẽ diễn ra các diễn đàn, hội nghị chuyên ngành lớn: Diễn đàn giao lưu ngành dệt may với chủ đề “Bất ổn thương mại trong năm 2026”; Hội nghị thượng đỉnh về Chiến lược phát triển ngành dệt may và may mặc Việt Nam.

Bộ Công Thương-Song Hà

Categories: The Latest News

Thanh tra Chính phủ kết luận nhiều vi phạm trong phát hành trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ

Sat, 02/14/2026 - 09:30
Thanh tra Chính phủ vừa ban hành kết luận thanh tra hoạt động phát hành trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ tại 26 doanh nghiệp với các vi phạm được xác định trong các khâu phát hành, công bố thông tin...

Thanh tra Chính phủ vừa ban hành Thông báo số 392/TB-TTCP về kết luận thanh tra việc chấp hành chính sách, pháp luật trong hoạt động phát hành trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ và sử dụng nguồn tiền thu được từ phát hành trái phiếu.

Thanh tra Chính phủ đánh giá thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) riêng lẻ những năm gần đây phát triển mạnh, trở thành kênh huy động vốn quan trọng, giúp doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn dài hạn với chi phí thấp hơn vay ngân hàng và không làm thay đổi quyền sở hữu như phát hành cổ phiếu, phù hợp cho nhu cầu tài trợ dự án lớn hoặc tái cơ cấu nợ.

Việc phát hành TPDN góp phần tăng cường năng lực tài chính cho doanh nghiệp, tạo nền tảng cho tăng trưởng kinh tế, đồng thời trở thành kênh dẫn vốn quan trọng hỗ trợ phát triển bền vững, giảm áp lực cho hệ thống ngân hàng trong cân đối vốn trung, dài hạn và đáp ứng nhu cầu tài chính của doanh nghiệp, đặc biệt trong các lĩnh vực bất động sản, xây dựng và sản xuất.

Về thể chế, khung pháp lý về phát hành trái phiếu doanh nghiệp ngày càng được hoàn thiện từ Luật, Nghị định của Chính phủ, các Thông tư của Bộ Tài chính nhằm tăng cường tính công khai, minh bạch trên thị trường TPDN, giảm thiểu các rủi ro của thị trường.

Tuy nhiên, qua thanh tra đối với 26 tổ chức phát hành (TCPH) hoạt động trong nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau; căn cứ tài liệu, báo cáo của các TCPH các cơ quan, đơn vị liên quan cho thấy vẫn còn một số tồn tại, hạn chế, khuyết điểm, vi phạm.

Cụ thể, 17 TCPH công bố thông tin chưa đầy đủ nội dung theo quy định, như: thông tin cụ thể về mục đích phát hành, chưa nêu thời điểm giải ngân nguồn vốn từ phát hành trái phiếu, ngày dự kiến phát hành, thông tin về tài sản đảm bảo không đầy đủ như: CTCP Đầu tư và Quản lý khách sạn TNH, CTCP Cá Tầm Việt Nam, Tập đoàn Đầu tư I.P.A, CTCP Đầu tư Thành Thành Công, Thành Thành Công - Biên Hòa, CTCP Năng lượng Bắc Phương, Chứng khoán Tiên Phong (ORS), CTCP Tập đoàn RH, CTCP Ngoại thương và Phát triển Đầu tư Địa ốc Châu Lục, CTCP Hội An Invest, Chứng khoán Rồng Việt…

4 TCPH mua lại trái phiếu trước hạn khi chưa có phương án mua lại được cấp có thẩm quyền phê duyệt, chấp thuận theo quy định: CTCP HT Investment, CTCP Cá Tầm Việt Nam, CTCP Ngoại thương và Phát triển Đầu tư Địa ốc Châu Lục, Chứng khoán Rồng Việt.

10 TCPH không công bố thông tin định kỳ 6 tháng, hàng năm về Báo cáo tài chính, tình hình sử dụng tiền thu được từ phát hành trái phiếu, tình hình thanh toán gốc lãi trái phiếu, tình hình thực hiện các cam kết của doanh nghiệp phát hành đối với người sở hữu trái phiếu như: CTCP Xuất nhập khẩu Vật tư Nông nghiệp III, CTCP Tổng hợp Thế giới Xanh, CTCP Ngoại thương và Phát triển Đầu tư Địa ốc Châu Lục, CTCP Đầu tư và Quản lý khách sạn TNH, Cá Tầm Việt Nam, Cơ Điện lạnh (HOSE: REE), Năng lượng VCP, CTCP Đầu tư Thành Thành Công, Tập đoàn RH…

7 TCPH không công bố thông tin bất thường về việc chậm thanh toán gốc lãi trái phiếu, việc thay đổi tài sản bảo đảm hoặc tài sản bảo đảm cho trái phiếu không như cam kết về đảm bảo đã công bố,...

8 TCPH không công bố thông tin về việc mua lại trái phiếu trước hạn; 3 TCPH công bố thông tin chưa đầy đủ nội dung; 3 TCPH chậm công bố thông tin về việc mua lại trái phiếu trước hạn; 3 TCPH chậm công bố thông tin bất thường về tình hình chậm thanh toán gốc, lãi trái phiếu, việc sửa đổi kỳ hạn, thay đổi các điều khoản và điều kiện của trái phiếu; 2 TCPH công bố thông tin có nội dung chưa chính xác về thời gian mua lại trước hạn, về tình hình sử dụng nguồn vốn từ phát hành trái phiếu đã được kiểm toán.

19 TCPH chậm công bố thông tin định kỳ 6 tháng, hàng năm về Báo cáo tài chính, tình hình sử dụng tiền thu được từ phát hành trái phiếu, tình hình thanh toán gốc lãi trái phiếu, tình hình thực hiện các cam kết của doanh nghiệp phát hành đối với người sở hữu trái phiếu như: CTCP Xuất nhập khẩu Vật tư Nông nghiệp III (VT3C), CTCP Tổng hợp Thế giới Xanh (TGXC), CTCP Ngoại thương và Phát triển Đầu tư Địa ốc Châu Lục (FDLC), CTCP Đầu tư và Quản lý khách sạn TNH (TNHC), Công ty TNHH Nam Rạch Chiếc (NRCC), CTCP Năng lượng Bắc Phương (BPEC), CTCP Năng lượng VCP (UPCoM: VCP), Công ty TNHH DCT Partners Việt Nam (DCTC), Tổng CTCP Đầu tư Phát triển Xây dựng (DIC Corp, HOSE: DIG), CTCP Tập đoàn PC1 (HOSE: PC1), Tập đoàn Đầu tư I.P.A (HNX: IPA), CTCP Cá Tầm Việt Nam (CTVC), Tập đoàn RH, Hội An Invest (HAJC), Đầu tư Thương mại Bình Tân (BTIC)…

2 TCPH mặc dù đã thanh toán đủ gốc, lãi cho nhà đầu tư nhưng còn có một số kỳ chậm trả lãi TPDN cho nhà đầu tư; 3 TCPH đã không thanh toán đầy đủ gốc, lãi trái phiếu; quá hạn thanh toán gốc, lãi trái phiếu từ năm 2023.

14 TCPH đã sử dụng số tiền thu được của một số mã trái phiếu không đúng với phương án đã được phê duyệt, công bố thông tin hoặc không đúng quy định pháp luật, chưa thực hiện đúng theo quy định như: PC1 90 tỷ đồng, KDH hơn 100 tỷ, Nam Rạch Chiếc hơn 10 tỷ, Đầu tư Thành Thành Công (TTCC) 600 tỷ đồng, Tập đoàn Đầu tư I.P.A 3.573,9 tỷ đồng…

8 TCPH sử dụng tiền thu từ phát hành TPDN để chuyển cho đối tác theo các hợp đồng hợp tác đầu tư hoặc bổ sung vốn cho công ty con nhưng không cung cấp được căn cứ, tài liệu chứng minh việc quản lý, giám sát được mục đích sử dụng vốn TPDN; và/hoặc sử dụng tiền thu được từ phát hành để hợp tác đầu tư, một số dự án chưa đủ điều kiện huy động vốn, chưa thực hiện đúng theo quy định như: Xuất nhập khẩu Vật tư Nông nghiệp III 1.730 tỷ đồng; Tổng hợp Thế giới Xanh 1.350 tỷ đồng; DCT Partners Việt Nam 1.875 tỷ đồng; Cá Tầm Việt Nam gần 298 tỷ đồng, INVESTCO 1.000 tỷ đồng…

Thanh tra Chính phủ cũng kiến nghị giao Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan nghiên cứu, tham mưu sửa đổi, bổ sung Nghị định của Chính phủ về phát hành trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ và ban hành các Thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính để khắc phục những tồn tại, hạn chế, vướng mắc, bất cập đã được chỉ ra tại Kết luận thanh tra.

-Minh Huy

Categories: The Latest News

Bổ sung dự án Luật Thủ đô (sửa đổi) vào Chương trình lập pháp năm 2026

Sat, 02/14/2026 - 09:08
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đã ký ban hành Nghị quyết số 119/2026/UBTVQH15 Điều chỉnh Chương trình lập pháp năm 2026.

Theo đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết nghị bổ sung dự án Luật Thủ đô (sửa đổi) vào Chương trình lập pháp năm 2026 trình Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI theo trình tự thủ tục, rút gọn.

Điều chỉnh thời gian trình Quốc hội dự án Nghị quyết về cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù nâng cao hiệu quả phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế từ xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ 2 sang Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI và theo trình tự thủ tục, rút gọn.

Tách dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh, Luật Quản lý ngoại thương, Luật Điện lực, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thành 2 dự án: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh, Luật Quản lý ngoại thương, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực và trình Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng quyết nghị điều chỉnh dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doạnh bất động sản thành dự án Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi) và điều chỉnh thời gian trình Quốc hội xem xét, thông qua từ Kỳ họp thứ nhất sang Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI.

Cùng với đó, điều chỉnh dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Nhà ở thành dự án Luật Nhà ở (sửa đổi) và điều chỉnh thời gian trình Quốc hội xem xét, thông qua từ Kỳ họp thứ nhất sang Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI.

Bổ sung dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) và dự án Luật Giao dịch hàng hóa phái sinh vào Chương trình lập pháp năm 2026 trình Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI. Đồng thời, đưa ra khỏi Chương trình lập pháp năm 2026 dự án Luật Thủ tục ban hành quyết định hành chính.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội phân công cơ quan trình, cơ quan chủ trì thẩm tra, tham gia thẩm tra và tiến độ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến đối với các dự án được điều chỉnh trong Chương trình lập pháp năm 2026.

Cụ thể, các dự án Luật Thủ đô (sửa đổi), Nghị quyết về cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù nâng cao hiệu quả phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế sẽ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội tại phiên họp tháng 3/2026.

Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh, Luật Quản lý ngoại thương, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội tại phiên họp tháng 8/2026.

Các dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực; Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi); Luật Nhà ở (sửa đổi); Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi); Luật Giao dịch hàng hóa phái sinh sẽ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội tại phiên họp tháng 9/2026.

-Như Nguyệt

Categories: The Latest News

Nghiên cứu của Fed: Doanh nghiệp và người tiêu dùng Mỹ phải trả 90% tiền thuế quan

Sat, 02/14/2026 - 09:06
Một nghiên cứu mới từ Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) chi nhánh New York cho thấy khoảng 90% chi phí của chính sách thuế quan mà Tổng thống Donald Trump áp lên hàng hóa nhập khẩu đã được đẩy về phía các doanh nghiệp và người tiêu dùng Mỹ...

Phát hiện này trái ngược với tuyên bố của ông Trump rằng các công ty nước ngoài sẽ chịu phần lớn gánh nặng thuế quan đối với hàng hóa nhập khẩu vào Mỹ.

Nghiên cứu của Fed New York chỉ ra rằng trong 11 tháng đầu năm 2025, phần lớn chi phí thuế quan đã được chuyển sang cho người Mỹ, mặc dù các nhà xuất khẩu nước ngoài đã bắt đầu chịu một phần chi phí lớn hơn theo thời gian. Các tác giả của nghiên cứu nhấn mạnh rằng "phần lớn gánh nặng kinh tế của các mức thuế quan cao áp dụng trong năm 2025 vẫn tiếp tục đè nặng lên các công ty và người tiêu dùng Mỹ”.

Báo cáo này được công bố trong bối cảnh chính sách thuế quan của Tổng thống Trump tiếp tục gây tranh cãi. Theo dự kiến, Tòa án Tối cao Mỹ sẽ sớm đưa ra phán quyết trong một vụ kiện nhằm vào vấn đề thẩm quyền pháp lý của ông Trump trong việc áp thuế quan trên diện rộng đối với hàng hóa nhập khẩu. Trong tuần này, một số nghị sĩ Cộng hòa đã đứng về phe Dân chủ để bỏ phiếu chống lại thuế quan mà ông Trump áp lên hàng hóa nhập khẩu vào Mỹ từ Canada, một trong những đối tác thương mại quan trọng nhất của Mỹ.

Chính quyền ông Trump đã khẳng định rằng các kế hoạch thuế quan trong nhiệm kỳ thứ hai của ông sẽ do các công ty muốn xuất khẩu hàng hóa vào Mỹ chi trả. Tuy nhiên, một số quan chức trong chính quyền, bao gồm Bộ trưởng Tài chính Mỹ Scott Bessent, đã thừa nhận rằng các nhà bán lẻ Mỹ, như Walmart, đã bị ảnh hưởng bởi quyết định tăng thuế quan lên mức cao nhất kể từ những thập kỷ đầu của thế kỷ 20.

Nghiên cứu của Fed New York cho thấy trong 8 tháng đầu năm, 94% chi phí quan đã được đẩy về phía doanh nghiệp và người tiêu dùng Mỹ. Tỷ lệ này giảm nhẹ xuống còn 92% trong giai đoạn tháng 9 đến tháng 10 và 86% vào tháng 11. "Việc chuyển chi phí thuế quan vào giá nhập khẩu hàng hóa đã giảm bớt trong những tháng cuối năm. Tức là, một phần lớn hơn trước trong gánh nặng thuế quan đã chuyển về phía các nhà xuất khẩu nước ngoài vào cuối năm”, các tác giả của báo cáo viết.

Dù vậy, tác động của thuế quan đối với lạm phát ở Mỹ đã ít hơn so với lo ngại ban đầu của nhiều nhà kinh tế.

Báo cáo của Bộ Lao động Mỹ công bố ngày 13/2 cho thấy nếu so với cùng kỳ năm trước, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng đầu năm của nước này tăng 2,4%, thấp hơn con số dự báo là 2,5%, giảm 0,3 điểm phần trăm so với mức tăng của tháng 12, đồng thời là mức tăng ít nhất kể từ tháng 5/2025. CPI lõi tăng 2,5%, bằng với dự báo và là mức tăng thấp nhất kể từ tháng 4/2021.

Số liệu GDP của quý 1/2025 cũng cho thấy sự gia tăng nhập khẩu, phản ánh rằng các công ty Mỹ đã tích trữ hàng hóa trước khi thuế quan tăng. Một số quan chức Fed tin rằng tác động tác động của thuế quan đối với giá cả tiêu dùng ở Mỹ sẽ tiếp tục được thể hiện trong suốt năm 2026 khi hàng tồn kho giảm và các công ty buộc phải tăng giá. Tuy nhiên, hầu hết các nhà hoạch định chính sách hiện tại tin rằng tác động của thuế quan lên lạm phát sẽ chỉ là một cú sốc ngắn hạn, ít gây áp lực tăng giá cả hàng hóa trong dài hạn.

Các nghiên cứu khác gần đây cũng đưa ra những phát hiện tương tự về tác động của thuế quan lên giá cả ở Mỹ Mỹ.

Một báo cáo từ Viện Kiel của Đức vào tháng trước phát hiện thấy tỷ lệ chuyển chi phí thuế quan về doanh nghiệp và người tiêu dùng Mỹ là 96%. Một nghiên cứu tháng 1 của Cục Nghiên cứu Kinh tế Quốc gia Mỹ (NABE) đưa ra con số 94%. Một bài báo tuần trước từ tổ chức tư vấn phi đảng phái Tax Foundation cho thấy các kế hoạch thuế quan trong nhiệm kỳ thứ hai của ông Trump tương đương với mức tăng thuế trung bình trên mỗi hộ gia đình Mỹ là 1.000 USD trong năm 2025 và 1.300 USD trong năm 2026.

Trong suốt năm 2025, mức thuế quan trung bình trên hàng nhập khẩu của Mỹ đã tăng từ 2,6% lên 13% - theo nghiên cứu của Fed New York. Việc tăng thuế quan này đã giúp mang lại nguồn thu đáng kể cho Chính phủ liên bang.

Riêng trong tháng 1 vừa qua, thu ngân sách từ thuế quan của Mỹ là 30 tỷ USD. Nếu tính trong 4 tháng đầu tiên của tài khóa này, mức thu đã đạt 124 tỷ USD, tăng hơn 300% so với cùng kỳ năm 2025.

-Bình Minh

Categories: The Latest News

Chứng khoán Mỹ lình xình dù nhà đầu tư lạc quan về lạm phát, giá dầu tăng nhẹ

Sat, 02/14/2026 - 09:06
Nhà đầu tư lạc quan khi báo cáo chỉ số giá tiêu dùng (CPI) mang tới những con số yếu hơn kỳ vọng, nhưng mối lo liên quan tới trí tuệ nhân tạo (AI) vẫn phủ bóng...

Thị trường chứng khoán Mỹ kết thúc phiên giao dịch ngày thứ Sáu (13/2) trong trạng thái không đồng nhất của các chỉ số, với SP 500 và Dow Jones tăng nhẹ trong khi Nasdaq giảm điểm. Nhà đầu tư lạc quan khi báo cáo chỉ số giá tiêu dùng (CPI) mang tới những con số yếu hơn kỳ vọng, nhưng mối lo liên quan tới trí tuệ nhân tạo (AI) vẫn phủ bóng.

Giá dầu thô nhích nhẹ trong lúc nhà đầu tư đánh giá những yếu tố có thể tác động tới nguồn cung và nhu cầu tiêu thụ dầu.

Lúc đóng cửa, SP 500 tăng 0,05%, đạt 6.836,17 điểm. Dow Jones tăng 48,95 điểm, tương đương tăng 0,1%, chốt ở mức 49.500,93 điểm. Nasdaq giảm 0,22%, chốt ở mức 22.546,67 điểm.

Theo báo cáo từ Bộ Lao động Mỹ, trong tháng 1, CPI của nước này tăng 0,2% so với tháng trước, thấp hơn dự báo tăng 0,3% mà giới phân tích đưa ra trước đó, và thấp hơn mức tăng 0,3% của tháng 12.

Nếu so với cùng kỳ năm trước, CPI tháng đầu năm tăng 2,4%, thấp hơn con số dự báo là 2,5%, giảm 0,3 điểm phần trăm so với mức tăng của tháng 12, đồng thời là mức tăng ít nhất kể từ tháng 5/2025. CPI lõi tăng 2,5%, bằng với dự báo và là mức tăng thấp nhất kể từ tháng 4/2021.

Các dữ liệu này ngay lập tức đã củng cố khả năng Fed hạ lãi suất trong năm nay, hỗ trợ cho giá vàng hồi phục. Theo dữ liệu từ công ty dữ liệu thị trường tài chính LSEG, thị trường đang đặt cược bình quân Fed giảm lãi suất 0,63 điểm phần trăm trong năm nay, tương đương ít nhất 2 lần giảm mỗi lần 0,25 điểm phần trăm. Trong đó, đợt giảm đầu tiên được kỳ vọng sẽ diễn ra vào tháng 7.

“Đây là một tin vui đối với thị trường, cũng như đối với ông Kevin Warsh, người được đề cử làm chủ tịch tiếp theo của Fed. Đây mới là dữ liệu của 1 tháng, nhưng nếu tiếp tục, xu hướng lạm phát xuống thang này sẽ mở đường cho việc hạ lãi suất”, chiến lược gia trưởng Phil Blancato của công ty Osaic nhận định với hãng tin CNBC.

Còn theo nhà quản lý quỹ Keith Buchanan của công ty Globalt Investments, nhà đầu tư vẫn đang cố gắng xác định xem AI và việc ứng dụng công nghệ này trong nền kinh tế sẽ có ý nghĩa thực sự như thế nào. Ông Buchanan nói rằng AI có thể tạo ra áp lực tăng tỷ lệ thất nghiệp và áp lực giảm lạm phát.

Thời gian gần đây, giới đầu tư ở Phố Wall lo ngại AI có thể đảo lộn mô hình kinh doanh của nhiều doanh nghiệp, như các công ty phần mềm, logistics, dịch vụ tài chính, bất động sản... Ngoài ra, việc các công ty công nghệ lớn đầu tư mạnh vào AI cũng gây lo ngại về triển vọng lợi nhuận của các khoản đầu tư đó. Những mối lo này đã gây sức ép giảm lên cổ phiếu công nghệ trong thời gian gần đây.

Tuần này, hai cổ phiếu tài chính Charles Schwab và Morgan Stanley giảm tương ứng 10,8% và 4,9%. Cổ phiếu công ty phần mềm Workday giảm 11% trong cả tuần, còn cổ phiếu công ty bất động sản CBRE sụt 16%.

“Nhà đầu tư không nhân từ với bất kỳ cổ phiếu nào bị cho là sẽ chịu thiệt hại do AI gây ra. Danh sách này đang dài thêm mỗi ngày”, nhà phân tích Emmanuel Cau của ngân hàng Barclays nhận định.

SP 500 ghi nhận mức giảm 1,4% cả tuần, đánh dấu tuần giảm thứ hai liên tiếp. Dow Jones giảm 1,2% và Nasdaq giảm 2,1%.

Trên thị trường năng lượng, giá dầu thô Brent giao sau tại London tăng 0,23 USD/thùng, tương đương tăng 0,34%, chốt ở mức 67,75 USD/thùng. Giá dầu WTI giao sau tại New York tăng 0,05 USD/thùng, tương đương tăng 0,08%, chốt ở mức 62,89 USD/thùng.

Cả tuần này, giá dầu Brent giảm 0,6% và giá dầu WTI giảm 1,2%. Hôm thứ Năm, giá cả hai loại dầu cùng giảm hơn 3% do căng thẳng Mỹ - Iran dịu đi và Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) hạ dự báo tăng trưởng nhu cầu tiêu thụ dầu toàn cầu 2026.

Phiên ngày thứ Sáu, giá dầu được hỗ trợ bởi kỳ vọng rằng Fed sẽ hạ lãi suất và việc đó sẽ có lợi cho nhu cầu tiêu thụ dầu. Nhưng mặt khác, giá dầu cũng đương đầu áp lực giảm vì dự báo cho rằng Tổ chức Các nước xuất khẩu dầu lửa (OPEC) và đồng minh, tức nhóm OPEC+, sẽ tiếp tục tăng sản lượng khai thác dầu. Hãng tin Reuters dẫn nguồn thạo tin nói rằng OPEC+ có thể nối lại việc tăng sản lượng dầu từ tháng 4, sau 3 tháng tạm dừng việc nâng sản lượng.

Về tình hình địa chính trị, Tổng thống Donald Trump vào hôm thứ Năm tuyên bố Mỹ và Iran có thể đạt thỏa thuận hạt nhân vào tháng tới. Ngày thứ Sáu, Nga tuyên bố vòng đàm phán tiếp theo với Ukraine sẽ diễn ra vào tuần tới.

Theo Phó chủ tịch Dennis Kissler của công ty BOK Financial, các cuộc đàm phán giữa Mỹ với Iran và Nga sẽ chi phối giá dầu trong ngắn hạn, trong khi nguồn cung dầu toàn cầu vẫn đang dồi dào. Ông nhận định giá dầu có thể đã phản ánh hết phần bù rủi ro địa chính trị khoảng 5-7 USD mỗi thùng.

Ngày thứ Sáu, Mỹ nới lệnh trừng phạt đối với ngành năng lượng của Venezuela, cấp 2 giấy phép chung cho phép các công ty năng lượng toàn cầu vận hành các dự án khai thác dầu khí ở nước này, cũng như các công ty khác có thể đàm phán hợp đồng để đầu tư thêm vào ngành dầu khí Venezuela.

Trong một cuộc trả lời phỏng vấn kênh NBC News, Bộ trưởng Bộ Năng lượng Mỹ Chris Wright cho biết doanh thu bán dầu của Venezuela do Mỹ kiểm soát đã đạt mốc 1 tỷ USD, và sẽ đạt thêm 5 tỷ USD nữa trong vài tháng tới.

-Bình Minh

Categories: The Latest News

Mùa Xuân vào rừng thưởng điểu

Sat, 02/14/2026 - 08:22
Tính từ năm 2005, với dấu mốc công ty lữ hành đầu tiên khai thác tour thưởng điểu là Wildtour, cho tới năm 2025, Việt Nam đã có chừng 10 công ty chuyên lĩnh vực này. Mất 20 năm để một lối làm du lịch mới được mở ra, nhưng những trái ngọt đầu mùa đủ mang lại nhiều hy vọng.

Tháng 10/2025 vừa qua, ông đã tham dự “Đại hội thế giới lần thứ nhất về Du lịch khám phá đời sống chim hoang dã” tại Venezuela. Du lịch sinh thái nói chung và birdwatching tour nói riêng có phải là xu hướng?

Đúng vậy, khi tham dự Đại hội tại Venezuela, tôi thấy rất rõ một xu hướng chung của du lịch quốc tế: du khách đang chuyển từ “đi nhiều, xem nhiều” sang “đi ít hơn nhưng sâu hơn”, ưu tiên trải nghiệm có trách nhiệm và có chiều sâu tri thức. Birdwatching giờ đây không còn là thú chơi “ngách” mà đang dần trở thành một mảng quan trọng của du lịch sinh thái cao cấp. Nhóm khách này đề cao sự tĩnh lặng, riêng tư, cá nhân hóa và muốn được dẫn dắt bởi những người có chuyên môn thực địa.

Ở các thị trường cao cấp, du khách mua birdwatching tour giờ đây không chỉ quan tâm “tick loài”, mà quan tâm cả câu chuyện bảo tồn, tính bền vững của điểm đến và tác động tích cực đến cộng đồng địa phương. Nhu cầu “wildlife photo tour” (tour chụp ảnh động vật hoang dã) và “wildlife watching tour” (tour quan sát động vật hoang dã) kết hợp nghỉ dưỡng cũng tăng nhanh. Du khách vừa muốn săn khoảnh khắc hiếm, vừa muốn dịch vụ lưu trú, ẩm thực, di chuyển tiêu chuẩn cao.

Trong khu vực, Việt Nam đứng thứ ba về số lượng loài chim nhưng du lịch “thưởng điểu” lại phát triển chậm hơn các nước như Thái Lan và Malaysia. Ông lý giải điều này như thế nào?

Việt Nam có đa dạng loài rất cao, nhưng để birdwatching phát triển, cần thêm ba “lớp” khác: hạ tầng - nhân lực - cơ chế. Thái Lan và Malaysia đi trước vì họ xây được mạng lưới điểm ngắm chim có tổ chức, hạ tầng quan sát phù hợp (đài quan sát, tuyến tham quan), hệ thống hướng dẫn viên chuyên nghiệp và có văn hóa du lịch thiên nhiên lâu năm.

Tại Việt Nam, tôi nhận thấy nhiều nơi có tài nguyên tốt nhưng thiếu hạ tầng quan sát chuẩn, thiếu sản phẩm theo mùa đủ “mượt” và thiếu đội ngũ hướng dẫn viên đạt chuẩn ngoại ngữ - sinh học - kỹ năng dẫn tour. Một thách thức khác là áp lực lên sinh cảnh (phát triển nóng, bẫy bắt…), khiến chất lượng trải nghiệm không ổn định. Tôi cho rằng Việt Nam nên đi từ vài điểm đến mẫu thực hiện thật tốt, tạo uy tín quốc tế, sau đó nhân rộng theo chuẩn chung.

Việt Nam sở hữu hơn 300 loài chim được giới chuyên môn đánh giá là "ăn tiền". Đây liệu có thể trở thành sản phẩm “hốt bạc” của du lịch Việt?

Birdwatching tour có giá cao hơn các tour đại trà vì được cá nhân hóa, thiết kế riêng theo nhu cầu từng nhóm khách. Mỗi nhóm có 6 -12 người. Du khách thường lưu trú dài ngày, trung bình 3 - 4 tuần trong một hành trình. Tại mỗi điểm, khách phải lưu trú khoảng ba đêm mới ngắm được chim. Điều này giúp tăng thời gian ăn ở, chi tiêu của khách tại địa phương.

Dù vậy, birdwatching không phải cuộc chơi “hốt bạc nhanh”, mà là cuộc chơi của giá trị bền vững. Sản phẩm du lịch này đòi hỏi đầu tư dài hạn cho điểm đến, nhân lực và bảo tồn.

Vậy, điều gì sẽ giúp tour thưởng điểu trở thành một thị trường thực sự để thu hút nhóm du khách cao cấp?

Tôi tin 5 đến 10 năm tới, du lịch sinh thái hoàn toàn có thể hình thành một thị trường thực sự tại Việt Nam, nhưng sẽ phát triển theo hướng “giá trị cao - quy mô vừa”, chứ khó đi theo đại trà. Điểm tích cực là cộng đồng quan sát chim và nhiếp ảnh thiên nhiên đang lớn dần, thế hệ trẻ quan tâm hơn đến thiên nhiên và nhiều địa phương bắt đầu xem du lịch sinh thái như một hướng đi “xanh” để nâng chất lượng tăng trưởng.

Với du khách Việt, rào cản thường nằm ở việc chưa quen trả tiền cho trải nghiệm “đi chậm nhưng quan sát kỹ”, nhiều người vẫn nghĩ du lịch phải đông vui, phải “check-in” nhanh. Dù vậy, khi câu chuyện được kể đúng, thiên nhiên gắn với sức khỏe tinh thần, khách Việt sẽ hào hứng hơn. Điều doanh nghiệp cần là tạo “cửa vào” dễ hơn: tour ngắn cuối tuần, hoạt động cho gia đình và sản phẩm gần gũi.

Tuy nhiên, để thành “thị trường”, chúng ta cần chuẩn hóa sản phẩm và tiêu chuẩn dịch vụ: quy tắc ứng xử với động vật hoang dã, sản phẩm theo mùa, hệ thống điểm đến mẫu và đặc biệt là bảo vệ sinh cảnh. Mất sinh cảnh là mất sản phẩm, đây là điều cốt lõi. Với các tour thưởng điểu, cách làm đúng sẽ là không xua đuổi, không tàn phá sinh cảnh; ưu tiên quan sát tự nhiên... Nếu không giữ được sinh cảnh, mọi quảng bá đều chỉ là “đốt” tài nguyên.

Từ một nhà điểu học, vì sao ông quyết định thành lập Wildtour?

Tôi đến với các loài chim từ khoa học, nhưng ở lại vì cảm xúc. Khi làm nghiên cứu và đi thực địa nhiều năm, tôi nhận ra nếu thiên nhiên chỉ nằm trong báo cáo thì rất khó tạo ra nguồn lực xã hội để bảo vệ nó. Tôi lập Wildtour vì muốn tạo một “cây cầu”: đưa du khách đến gần thiên nhiên một cách đúng đắn để họ yêu, hiểu và sẵn sàng góp sức bảo vệ.

Sau nhiều năm làm nghề, từng có quãng thời gian trực tiếp làm hướng dẫn viên, tôi vẫn nhớ khoảnh khắc nhóm du khách lần đầu nhìn thấy loài chim mơ ước, mắt họ sáng lên như trẻ con. Sau chuyến đi, họ nói: “Tôi sẽ sống khác”! Ngược lại, nỗi buồn lớn nhất là khi quay lại một điểm đến cũ, nhận ra sinh cảnh đã mất, chim đã thưa. Chính những nỗi buồn đó lại nhắc nhở tôi phải làm nghề nghiêm túc hơn và làm bền bỉ hơn.

Du lịch thưởng điểu đã mang lại cho ông những gì?

Về cá nhân, kinh doanh lữ hành cho tôi cơ hội đi lại nhiều nơi để nghiên cứu khoa học, nhờ đó đóng góp vào các công bố, xuất bản quốc tế trên các tạp chí uy tín ISI, Scopus. Nhìn rộng hơn, ngay từ đầu, tôi xác định Wildtour không chỉ bán tour, mà phải tham gia vào hệ sinh thái bảo tồn. Chúng tôi đóng góp theo hướng rất thực tế: tạo sinh kế gắn với thiên nhiên cho cộng đồng địa phương để giảm áp lực khai thác. Đồng hành truyền thông, giáo dục, để người dân “thấy được giá trị của thiên nhiên”…

Chúng tôi cũng phối hợp ghi nhận dữ liệu thực địa và chia sẻ thông tin khi cần; xây dựng sản phẩm du lịch theo chuẩn tác động thấp để du khách đến mà thiên nhiên không bị tổn thương... Tôi tin mục tiêu “đất lành chim đậu” không phải khẩu hiệu, mà là bài toán quản trị dài hạn, cần làm từng chút, với một niềm tin bền bỉ. Khi những đàn chim trở lại, tự khắc những vùng đất sẽ ngập tràn sắc xuân.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-

Categories: The Latest News

Doanh nghiệp trước “luật chơi mới” về tiêu chuẩn xanh

Sat, 02/14/2026 - 08:11
Từ 01/01/2026, quy định của EU cho phép đánh thuế bổ sung với một số loại hàng hóa thâm dụng carbon tạo sức ép trực diện lên các chuỗi cung ứng toàn cầu, trong đó có Việt Nam. Vì vậy, các doanh nghiệp Việt Nam muốn tham gia hoặc duy trì hoạt động xuất khẩu tại các thị trường này phải tăng cường năng lực để đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường, khí hậu và minh bạch phát thải.

“Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) không đơn thuần là một biện pháp thuế quan, mà là cơ chế buộc hàng hóa nhập khẩu phải phản ánh đầy đủ chi phí carbon phát sinh trong quá trình sản xuất. Qua đó, EU hướng tới việc đảm bảo “sân chơi bình đẳng” giữa doanh nghiệp trong và ngoài khối, đồng thời thúc đẩy quá trình khử carbon trên phạm vi toàn cầu.

Với doanh nghiệp Việt Nam, CBAM đặt ra ba yêu cầu cốt lõi: thiết lập hệ thống kiểm kê và báo cáo phát thải khí nhà kính theo chuẩn quốc tế; xây dựng lộ trình và triển khai các giải pháp giảm phát thải thực chất; và chuẩn bị năng lực tham gia các cơ chế định giá carbon (bao gồm cả thị trường carbon trong nước và quốc tế). Việc chậm thích ứng sẽ làm gia tăng chi phí tuân thủ, suy giảm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong trung và dài hạn.

Xu hướng “xanh hóa” không chỉ giới hạn ở EU mà đang lan rộng ra nhiều thị trường lớn khác. Trong bối cảnh đó, thích ứng với các tiêu chuẩn xanh cần được doanh nghiệp nhìn nhận như một chiến lược nâng cao năng lực cạnh tranh dài hạn, thay vì là phản ứng ngắn hạn để vượt qua rào cản thương mại.

Quá trình này đòi hỏi doanh nghiệp từng bước đầu tư vào năng lực nội tại: từ hệ thống dữ liệu phát thải, cải tiến công nghệ sản xuất, tối ưu hóa sử dụng năng lượng và tài nguyên, đến việc tích hợp các yêu cầu và thực hành về ESG (môi trường, xã hội và quản trị) vào chiến lược kinh doanh. Đây là một lộ trình mang tính dài hạn, nhưng việc khởi động sớm sẽ giúp doanh nghiệp tận dụng được lợi thế “đi trước”, giảm chi phí chuyển đổi và củng cố vị thế trên các thị trường chất lượng cao. Về nguyên tắc, thích ứng với tiêu chuẩn mới luôn là lựa chọn hiệu quả hơn so với việc đứng ngoài cuộc chơi.

Trong bối cảnh các yêu cầu giảm phát thải khí nhà kính ngày càng chặt chẽ, đặc biệt với các lĩnh vực phát thải lớn, nhiều doanh nghiệp sẽ đối mặt với thực tế rằng không phải mọi giải pháp giảm phát thải đều có thể triển khai ngay lập tức do hạn chế về vốn, công nghệ và thời gian. Chính trong bối cảnh đó, việc từng bước hình thành và vận hành thị trường carbon trong nước có ý nghĩa chiến lược, không chỉ về mặt tuân thủ, mà còn nâng cao năng lực cạnh tranh dài hạn cho doanh nghiệp.

Thị trường carbon tạo ra một cơ chế linh hoạt, cho phép doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ giảm phát thải khí nhà kính theo lộ trình phù hợp hơn, đồng thời khuyến khích các quyết định đầu tư hiệu quả về chi phí. Quan trọng hơn, đây là công cụ giúp doanh nghiệp làm quen với các cơ chế định giá carbon, minh bạch phát thải và quản trị rủi ro carbon, những yêu cầu đang dần trở thành chuẩn mực chung trên các thị trường quốc tế.

Nếu được thiết kế và triển khai hiệu quả, thị trường carbon không chỉ giúp giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp mà còn mở ra khả năng huy động các nguồn lực tài chính cho chuyển dịch xanh. Theo kết quả nghiên cứu mới đây do GreenCIC thực hiện trong khuôn khổ Hỗ trợ kỹ thuật của Chương trình Đối tác chuyển đổi năng lượng (ETP), ước tính việc vận hành thị trường carbon trong nước có thể giúp các doanh nghiệp giảm chi phí tuân thủ từ 400-800 triệu USD để đầu tư vào các công nghệ giảm phát thải khí nhà kính. Nếu tham gia vào thị trường carbon quốc tế, Việt Nam có thể có tiềm năng thu hút được đầu tư từ 500 triệu USD đến 2 tỷ USD từ các nguồn hỗ trợ tài chính quốc tế về khí hậu và chuyển đổi xanh.

Ngay cả trong trường hợp chưa có thị trường carbon, doanh nghiệp vẫn phải thực hiện các nghĩa vụ giảm phát thải theo quy định pháp luật trong nước và các tiêu chuẩn của thị trường xuất khẩu. Tuy nhiên, tham gia thị trường carbon sẽ giúp doanh nghiệp thực hiện quá trình này một cách chủ động, linh hoạt và bền vững hơn, thay vì chỉ bị động ứng phó với các yêu cầu ngày càng gia tăng từ bên ngoài.

Từ góc độ chiến lược, thị trường carbon không chỉ là một công cụ chính sách, mà còn là bệ đỡ quan trọng để doanh nghiệp Việt Nam từng bước thích ứng với “luật chơi” xanh mới của thương mại toàn cầu, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh và đóng góp vào mục tiêu phát triển bền vững.

Tại Việt Nam khung chính sách về tăng trưởng xanh và phát triển bền vững đang từng bước được hoàn thiện. Việc ban hành Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg về tiêu chí môi trường và xác nhận dự án đầu tư thuộc danh mục phân loại xanh đã tạo cơ sở quan trọng để huy động và phân bổ các dòng vốn tài chính xanh.

Song song với đó, hệ thống ngân hàng và các tổ chức tài chính đang ngày càng mở rộng các sản phẩm tín dụng xanh, trái phiếu xanh và các công cụ tài chính ưu đãi cho các dự án giảm phát thải khí nhà kính và chuyển đổi công nghệ. Tuy nhiên, các nguồn lực này chỉ phát huy hiệu quả khi doanh nghiệp có định hướng chuyển đổi rõ ràng và kế hoạch hành động cụ thể.

Theo tôi, chuyển đổi xanh cần được nhìn nhận như một quá trình đồng bộ giữa chính sách, tài chính và năng lực nội tại của doanh nghiệp, từ đó thúc đẩy Việt Nam chuyển dịch theo hướng phát triển bền vững”.

“Nếu chỉ tiếp cận Thỏa thuận xanh châu Âu, CBAM hay ESG như một rào cản kỹ thuật, doanh nghiệp sẽ luôn ở thế bị động. Trong bức tranh rộng hơn, các yêu cầu này phản ánh sự dịch chuyển căn bản của chuỗi cung ứng toàn cầu, nơi tiêu chí lựa chọn nhà cung cấp không còn chỉ dựa trên giá thành hay năng lực sản xuất, mà ngày càng gắn chặt với mức độ minh bạch, khả năng quản trị rủi ro môi trường và chất lượng dữ liệu. Điều này mở ra cơ hội để doanh nghiệp tái định vị vai trò trong chuỗi giá trị, từng bước chuyển từ lợi thế chi phí sang lợi thế quản trị và độ tin cậy.

Thị trường carbon đang được xem như “cửa ngõ” để thu hút dòng vốn xanh. Việc vận hành thị trường carbon trong nước còn giúp doanh nghiệp có thêm công cụ kinh tế để tối ưu chi phí giảm phát thải, thay vì buộc phải đầu tư dàn trải từ đầu.

Điểm then chốt là dòng vốn xanh không chảy vào những tuyên bố mang tính hình thức, mà hướng tới những doanh nghiệp có dữ liệu rõ ràng, kế hoạch cụ thể và khả năng kiểm chứng đáng tin cậy. Điều này đang tạo động lực mạnh mẽ cho chuyển đổi số trong quản trị môi trường, năng lượng và chuỗi cung ứng.

Ở cấp địa phương, xu hướng ứng dụng công nghệ, AI để giảm chi phí kiểm kê phát thải và tối ưu năng lượng đang ngày càng rõ nét. Những chuyển động này cho thấy áp lực xanh, nếu được tiếp cận đúng cách, có thể trở thành động lực đổi mới mô hình tăng trưởng của doanh nghiệp.

Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, điều quan trọng nhất là không “ôm đồm” ngay từ đầu. Trong bối cảnh nguồn lực hạn chế, nếu triển khai đồng loạt các yêu cầu về ESG, chuyển đổi xanh và giảm phát thải, doanh nghiệp rất dễ rơi vào tình trạng dàn trải, tốn kém nhưng không tạo ra giá trị thực chất.

Do đó, các doanh nghiệp phải xác định đúng điểm bắt đầu và đi theo lộ trình phù hợp với năng lực. Doanh nghiệp nên bắt đầu từ việc xây dựng dữ liệu phát thải tối thiểu nhưng đủ tin cậy, bởi đây là cơ sở để làm việc với khách hàng, ngân hàng và các tổ chức tài chính xanh. Khi dữ liệu đã được chuẩn hóa, doanh nghiệp sẽ nhìn rõ hơn khâu phát thải lớn nhất, đâu là điểm nghẽn về chi phí, từ đó lựa chọn các dự án giảm phát thải có hiệu quả rõ ràng.

Thị trường carbon cũng mang lại cách tiếp cận linh hoạt, cho phép doanh nghiệp cân đối giữa tự đầu tư giảm phát thải và sử dụng tín chỉ carbon như một công cụ kinh tế.

Từ kinh nghiệm tư vấn và triển khai với các doanh nghiệp trong đa lĩnh vực, tôi cho rằng chuyển đổi xanh chỉ thực sự hiệu quả khi được tích hợp như một phần của chiến lược kinh doanh cốt lõi, chứ không phải một “bài tập tuân thủ” mang tính đối phó.

Trước hết, doanh nghiệp nên xuất phát từ yêu cầu cụ thể của thị trường và khách hàng, đặc biệt là các nghĩa vụ liên quan đến CBAM từ ngày 1/1/2026, để xác định đúng phạm vi và mức độ cần đầu tư. Việc làm đúng và đủ theo yêu cầu thị trường sẽ giúp doanh nghiệp tránh lãng phí nguồn lực và giảm rủi ro bị loại khỏi chuỗi cung ứng.

Thứ hai, dữ liệu phát thải cần được coi là tài sản cốt lõi, vì không có dữ liệu đáng tin cậy thì rất khó tiếp cận thị trường xuất khẩu, nguồn vốn xanh hay các cơ hội từ thị trường carbon.

Thứ ba, doanh nghiệp nên ưu tiên các dự án giảm phát thải có hiệu quả kinh tế rõ ràng, để quá trình chuyển đổi tự tạo ra nguồn lực cho chính nó.

Giai đoạn thí điểm thị trường carbon đến năm 2028 là khoảng thời gian quan trọng để doanh nghiệp làm quen với hệ thống đo lường, báo cáo và xác minh (MRV) và “luật chơi” mới. Doanh nghiệp chuẩn bị sớm, làm chắc dữ liệu và chọn đúng điểm đầu tư sẽ tạo lợi thế cạnh tranh, tăng trưởng bền vững trong kỷ nguyên mới”.

“Qua theo dõi diễn biến ở phạm vi toàn cầu, một làn sóng các chính sách tương tự CBAM của EU đang lan rộng. EU có thể là bên tiên phong nhưng các thị trường khác như Anh, Mỹ, Canada, Australia và Đài Loan cũng đang ráo riết nghiên cứu các chính sách tương đương.

Cụ thể, Vương quốc Anh đã lên kế hoạch áp dụng cơ chế tương tự vào tháng 1/2027. Đây không chỉ là sắc thuế mới, mà là sự xác lập một tư tưởng kinh tế mang tính hệ thống: hàng hóa muốn lưu thông tại một số thị trường tiêu dùng phải đi kèm với “trách nhiệm carbon” để đảm bảo sự công bằng trong cạnh tranh về giá trị cũng như trách nhiệm ứng phó với biến đổi khí hậu.

Trước sức ép của những rào cản thương mại này, đặc biệt cột mốc 1/1/2026 khi quy định của EU cho phép đánh thuế bổ sung với một số loại hàng hóa thâm dụng carbon, Chính phủ Việt Nam đã và đang chủ động nhập cuộc với một chiến lược bài bản qua ba cách thức nhằm ứng phó với cơ chế CBAM. Cụ thể, chủ động theo dõi, nắm bắt thông tin; tham vấn các bộ, ngành liên quan và báo cáo các cấp có thẩm quyền về các vấn đề quan trọng; đối thoại chính sách với các đối tác quốc tế tại các diễn đàn, khuôn khổ song phương và đa phương.

Đây là những bước đi thiết thực giúp doanh nghiệp không bị bỡ ngỡ trước các yêu cầu khắt khe về dữ liệu cường độ phát thải của sản phẩm. Sự đồng hành từ Chính phủ không chỉ giúp tháo gỡ các nút thắt hành chính mà còn là điểm tựa để doanh nghiệp tự tin hơn trên lộ trình chuyển đổi xanh.

Nhìn tổng thể, CBAM đang tạo ra sự xáo trộn mang tính hệ thống với các doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam trong chuỗi cung ứng hàng hoá thâm dụng carbon như sắt thép, nhôm, phân bón, xi măng… Trong ngắn hạn, việc tìm cách chuyển hướng mở rộng thị trường xuất khẩu sang các quốc gia chưa áp thuế carbon có lẽ là bước đi thực dụng.

Tuy nhiên, các thị trường mới này sớm muộn cũng sẽ dần có cơ chế tự bảo vệ hàng hóa nội địa hoặc có biện pháp bảo hộ quyền lợi doanh nghiệp sản xuất của họ. Việc các quốc gia này sẽ áp dụng cơ chế tương tự CBAM chỉ là vấn đề thời gian.

Về trung hạn, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ buộc phải bước vào cuộc cạnh tranh thay đổi công nghệ sản xuất và thu thập dữ liệu phát thải nếu không muốn bị loại khỏi cuộc chơi. Về dài hạn, hệ thống thương mại toàn cầu sẽ đi vào ổn định khi sự minh bạch về dữ liệu phát thải được thiết lập rộng rãi.

Từ thực tiễn đánh giá tác động của EU CBAM, để ứng phó, với ngành sắt thép, xi măng, phân bón, nhôm, các hiệp hội nghề nghiệp cần sớm xây dựng các báo cáo phân tích tác động CBAM theo mã sản phẩm ở mức độ chi tiết hơn. Phạm vi áp dụng, cường độ phát thải và nghĩa vụ tuân thủ CBAM sẽ khác nhau đáng kể giữa các nhóm sản phẩm ngay cả trong cùng ngành.

CBAM có thể là một rào cản nhưng nhìn ở góc độ tích cực, nó chính là “xúc tác” để ngành công nghiệp sản xuất thâm dụng nhiều carbon của Việt Nam “lột xác”. Những doanh nghiệp sở hữu hồ sơ carbon minh bạch cầm chắc tấm vé thông hành quyền lực nhất để tiến sâu vào chuỗi giá trị thương mại toàn cầu”.

“Sẽ có khoảng 11 nhóm ngành hàng hoặc tiểu ngành hàng bị tác động bởi CBAM, trong đó chủ yếu là các ngành hàng liên quan đến tiêu thụ năng lượng, phát thải. Những ngành hàng như nhôm, xi măng, sắt thép, hóa chất sẽ bị tác động trực tiếp, còn những ngành hàng bị liên quan gián tiếp sẽ là điện tử, chế biến thực phẩm, giấy, nhựa, may mặc…

CBAM không chỉ là một chính sách riêng lẻ mà đại diện cho xu hướng tất yếu trong chuyển dịch xanh kinh tế thế giới, nhằm ngăn chặn “carbon leakage”- hiện tượng doanh nghiệp di dời sản xuất sang các nước có tiêu chuẩn môi trường thấp hơn để tránh chi phí.

EU đang lên kế hoạch cho “CBAM 2.0”- phiên bản mở rộng, nhằm bao quát thêm khoảng 180 sản phẩm hạ lưu có nguy cơ rò rỉ carbon cao, như máy móc, thiết bị phần cứng sử dụng thép hoặc nhôm (ôtô, máy giặt). Đề xuất này, được Ủy ban châu Âu công bố cuối năm 2025, tập trung vào ngăn chặn chuyển dịch sản xuất sang các nước có chính sách khí hậu yếu, đồng thời đơn giản hóa quy định nhập khẩu điện bằng cách sử dụng giá trị phát thải trung bình của lưới điện.

CBAM 2.0 cũng nhấn mạnh hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ với các biện pháp như trì hoãn yêu cầu mua chứng chỉ hoặc đơn giản hóa thanh toán, giúp giảm gánh nặng tuân thủ.

Các doanh nghiệp cần xem đây là cuộc chơi buộc phải tham gia, càng chuẩn bị sớm càng có lợi thế dài hạn. Nếu làm đúng và đủ, giảm phát thải giúp doanh nghiệp tối ưu hóa chi phí năng lượng, nâng cao hiệu quả vận hành, tăng giá trị thương hiệu và khả năng tiếp cận nguồn vốn xanh. Quan trọng hơn, doanh nghiệp có thể tạo ra tín chỉ carbon và tham gia thị trường carbon, biến chi phí tuân thủ thành cơ hội và giá trị kinh tế.

Từ năm 2026, kiểm kê khí nhà kính theo chuẩn quốc tế không chỉ tuân thủ pháp lý mà còn duy trì hợp đồng, giảm rủi ro loại khỏi chuỗi cung ứng và củng cố uy tín. Đây là công cụ quản lý dữ liệu, tối ưu vận hành và nắm bắt chuyển đổi xanh.

EU thúc đẩy minh bạch chuỗi cung ứng qua kiểm kê 3 scope, ảnh hưởng toàn cầu. CSRD/CSDDD (từ năm 2027) yêu cầu báo cáo carbon, lộ trình giảm thải và minh bạch nhà cung ứng. CBAM tập trung 6 ngành chính, yêu cầu phát thải theo đơn vị sản phẩm.

Theo tôi, doanh nghiệp cần ưu tiên 3 hành động. Thứ nhất, thực hiện kiểm kê cả 3 scope với kiểm toán độc lập. Việc thực hiện kiểm kê và kiểm toán vừa giúp đảm bảo độ tin cậy dữ liệu, tránh thuế cao từ giá trị mặc định CBAM.

Thứ hai, tính toán với scope 3, doanh nghiệp xuất khẩu cần ưu tiên sử dụng dữ liệu cụ thể từ nhà cung cấp thay vì ước tính hoặc trung bình ngành, do cơ chế của CBAM áp dụng mức trung bình ngành để tính thuế nếu doanh nghiệp không báo cáo được dữ liệu tin cậy. Các doanh nghiệp có hành động bảo vệ môi trường tốt và có dữ liệu tính toán minh bạch sẽ được nhận các mức thuế tốt hơn.

Thứ ba, doanh nghiệp đánh giá rủi ro - cơ hội từ thị trường carbon và xây dựng các kịch bản giảm phát thải. Doanh nghiệp cần tuyển dụng nhân sự có chuyên môn trong lĩnh vực khí hậu và môi trường để thực hiện xây dựng các kịch bản giảm phát thải. Tuy nhiên, để giảm phát thải thành công, doanh nghiệp cần huy động toàn thể các phòng ban vào cuộc; phân bổ trách nhiệm đến từng phòng ban…”.

“Từ đầu năm 2026, cơ chế CBAM bước vào giai đoạn 2, áp dụng thu phí đối với hàng hóa nhập khẩu vào thị trường EU có hàm lượng phát thải carbon vượt ngưỡng quy định.

Điều này sẽ tác động tới các ngành hàng xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường EU như xi măng, sắt thép, phân bón… Các doanh nghiệp trong lĩnh vực này sẽ bị gia tăng chi phí sản xuất bởi phải gánh thêm khoản phí phải chia sẻ với các nhà nhập khẩu ở thị trường châu Âu, đồng nghĩa với việc hàng hóa của Việt Nam có mức phát thải cao sẽ bị suy giảm lợi thế cạnh tranh trên thị trường.

Tôi cho rằng doanh nghiệp trong các ngành nêu trên đang xuất khẩu sang EU, hoặc những ngành hàng có tiềm năng được bổ sung vào danh mục CBAM như nhựa, bao bì, giấy, nên chủ động kiểm kê khí nhà kính theo phương pháp luận của CBAM để báo cáo dữ liệu cho đối tác, đồng thời đặt nền móng cho giảm phát thải.

Qua quá trình tiếp xúc với các khách hàng chịu sự tác động của CBAM, tôi nhận thấy sự chuẩn bị của các doanh nghiệp còn chưa cao. Những doanh nghiệp chủ động tìm hiểu chỉ khoảng 40-50%, còn lại vẫn đang bị động, chỉ khi các đối tác thương mại châu Âu đưa ra yêu cầu mới bắt đầu tìm kiếm đơn vị hỗ trợ triển khai.

Theo tôi, những doanh nghiệp trong nhóm ngành chịu tác động cần chủ động hơn trong chuẩn bị, sớm kiểm kê và có kế hoạch giảm phát thải.

Nếu doanh nghiệp không chủ động giảm phát thải, cường độ phát thải trên mỗi đơn vị sản phẩm vượt định mức EU sẽ khiến hàng hóa mất lợi thế cạnh tranh và đối mặt nguy cơ bị nhà nhập khẩu từ chối. Mặc dù doanh nghiệp Việt Nam không trực tiếp chi trả chi phí CBAM, các đối tác châu Âu nhiều khả năng sẽ yêu cầu chia sẻ chi phí này, tương tự như cơ chế thuế đối ứng.

Ngược lại, nếu doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu giảm phát thải, chi phí sản xuất và chi phí chia sẻ với đối tác EU sẽ giảm, qua đó nâng cao lợi thế cạnh tranh. Quan trọng hơn, các nhà nhập khẩu châu Âu sẽ ưu tiên các sản phẩm có mức phát thải thấp thay vì tiếp tục gánh chi phí mua chứng chỉ CBAM.

Hiện nay, thách thức lớn nhất với các doanh nghiệp Việt Nam đó là việc có dữ liệu để tính toán lượng phát thải khí nhà kính của đơn vị mình. Từ trước tới nay, các doanh nghiệp chỉ chú trọng sản xuất, tối ưu hóa chi phí sản xuất, còn việc tổng hợp, thống kê dữ liệu về tiêu thụ năng lượng, đặc biệt là các dữ liệu phục vụ kiểm kê khí nhà kính trong chuỗi cung ứng chưa được quan tâm.

Việc kiểm kê khí nhà kính được ví như là “khám bệnh tổng quát”, vừa xác định hiện trạng, vừa hoạch định kế hoạch giảm phát thải trong dài hạn. Chỉ khi có dữ liệu hiện trạng khí nhà kính, các doanh nghiệp mới có thể tính đến việc làm thế nào để giảm phát thải. Do đó, các doanh nghiệp cần chú trọng hơn khâu thống kê, tổng hợp và có hệ thống theo dõi dữ liệu để quản lý khí nhà kính trong sản xuất”.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-

Categories: The Latest News

Pages