Feed aggregator
Để du lịch thực sự trở thành động lực tăng trưởng kinh tế
Ngành du lịch Việt Nam đã xác lập nhiều kỷ lục mới trong năm 2025. Ông nhìn nhận đâu là những yếu tố then chốt giúp ngành du lịch Việt Nam đạt được kết quả ấn tượng này, đặc biệt trong bối cảnh phục hồi và cạnh tranh mạnh mẽ của thị trường quốc tế?
Năm 2025, ngành du lịch Việt Nam đã đạt nhiều kết quả rất đáng khích lệ, lập kỷ lục mới về lượng khách quốc tế đến với khoảng 21,2 triệu lượt, lập kỷ lục mới, tăng 22,1% so với năm 2024. Khách du lịch nội địa đạt khoảng 140 triệu lượt, tăng 64,7% so với năm 2019. Tổng doanh thu từ khách du lịch đạt mốc 1 triệu tỷ đồng.
Tổ chức Du lịch Liên hợp quốc (UN Tourism) đã từng dự báo trong năm 2025 du lịch toàn cầu chỉ phục hồi 90% so với trước đại dịch Covid-19, trong đó lượng khách du lịch quốc tế trên phạm vi toàn cầu được dự báo tăng khoảng 3-5%, khu vực châu Á Thái Bình Dương tăng 8%. Nếu nhìn lại dự báo này, có thể thấy kết quả mà Việt Nam đạt được như trên là một nỗ lực rất lớn cho cả một quá trình không ngừng nghỉ của toàn ngành du lịch.
Theo tôi, có năm động lực chính để du lịch Việt Nam đạt được kết qủa này.
Thứ nhất, ngành du lịch Việt Nam trong thời gian qua đã nhận được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, Quốc hội và sự chỉ đạo hết sức quyết liệt, hiệu quả của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, trong việc ban hành các chính sách, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động du lịch Việt Nam.
Thứ hai, sự phối hợp, đồng hành của các bộ, ngành liên quan để cùng ngành du lịch tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc và đồng thời tạo điều kiện thuận lợi hơn cho ngành du lịch có điều kiện phát triển trong bối cảnh mới.
Thứ ba, vai trò trong việc dẫn dắt, định hướng của cơ quan quản lý nhà nước về du lịch từ Trung ương đến địa phương thực hiện cơ cấu lại thị trường, xây dựng sản phẩm, tổ chức đa dạng công tác xúc tiến, quảng bá trong và ngoài nước, tận dụng hiệu ứng tích cực từ các chính sách mới cho hoạt động du lịch.
Thứ tư, nỗ lực của chính quyền địa phương trong việc chủ động tổ chức các hoạt động văn hoá, lễ hội và các sự kiện nổi bật để thu hút khách du lịch.
Thứ năm, vai trò quan trọng của các doanh nghiệp – những người đã chủ động, tích cực trong kết nối thị trường, xây dựng sản phẩm mới, tổ chức các chương trình xúc tiến, quảng bá. Theo tôi, vai trò của doanh nghiệp là quan trọng nhất, tạo nên các hiệu ứng để cho ngành du lịch Việt Nam đạt được kết quả ấn tượng trong năm qua.
Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch cũng như Cục Du lịch quốc gia Việt Nam đã có đóng góp gì trong việc đạt được những kết quả này, thưa ông?
Với vai trò là cơ quan quản lý nhà nước ở Trung ương, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch cũng như Cục Du lịch quốc gia Việt Nam đã nỗ lực kiến tạo, tham mưu về chính sách, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động doanh nghiệp du lịch cũng như tổ chức triển khai các hoạt động xúc tiến, quảng bá ở nhiều thị trường mục tiêu và tiềm năng ở cả trên thực địa và trên các nền tảng mạng xã hội.
Cục Du lịch quốc gia Việt Nam đã nghiên cứu, tham mưu Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch phối hợp với các bộ, ngành liên quan trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành những cơ chế, chính sách thuận lợi cho du lịch có điều kiện phát triển; định hướng các địa phương, doanh nghiệp xây dựng thêm nhiều sản phẩm mới, độc đáo trên cơ sở tiềm năng của từng địa phương, điểm đến.
Đối với công tác quản lý nhà nước, Cục Du lịch quốc gia Việt Nam đã chủ động triển khai nhiều giải pháp quản lý điểm đến, tổ chức kiểm tra công tác chấp hành quy định pháp luật trong hoạt động du lịch tại nhiều địa phương, phối hợp đảm bảo an ninh an toàn, triển khai hiệu quả công tác chuyển đổi số trong lĩnh vực du lịch.
Bên cạnh đó, Cục Du lịch quốc gia Việt Nam đã phối hợp với các đơn vị liên quan đổi mới về phương thức, hình thức, nội dung và cách thức tổ chức truyền thông, xúc tiến, quảng bá du lịch Việt Nam, tạo hiệu ứng về truyền thông về điểm đến Việt Nam hấp dẫn, an toàn.
Với nền tảng tăng trưởng tích cực của năm 2025, ngành du lịch được kỳ vọng sẽ trở thành một trong những động lực chính góp phần vào mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn tới. Theo ông, những đóng góp cụ thể của ngành trong giai đoạn tới là gì?
Trên cơ sở kết quả của năm 2025, có thể thấy rằng năm 2026 ngành du lịch Việt Nam vẫn tiếp tục là một trong những lĩnh vực có khả năng đóng góp quan trọng trong tăng trưởng kinh tế.
Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp mang tính liên ngành, liên vùng và tính xã hội hóa cao. Vì thế, khi lượng khách du lịch quốc tế và nội địa tăng lên sẽ kéo theo toàn bộ hệ sinh thái, từ các cơ sở lưu trú, dịch vụ vận chuyển, chế biến thực phẩm đến vui chơi giải trí, mua sắm phát triển mạnh mẽ hơn. Thông qua đó sẽ góp phần tăng chỉ tiêu tiêu dùng từ khách du lịch quốc tế và nội địa.
Thông qua khách du lịch sẽ góp phần làm cho các lĩnh vực khác liên quan như: nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng… có thêm cơ hội phát triển, hoàn thiện thêm hệ sinh thái du lịch cũng như cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật, từ đó đóng góp vào tăng trưởng kinh tế.
Một điều quan trọng nữa là khi du lịch phát triển sẽ kéo theo việc tăng cường giao lưu nhân dân, quảng bá hình ảnh Việt Nam là một điểm đến an toàn, hấp dẫn, thân thiện, từ đó sẽ thu hút được các nhà đầu tư đến Việt Nam tìm kiếm cơ hội đầu tư.
Vậy theo ông, để du lịch thực sự trở thành “đầu kéo” cho tăng trưởng kinh tế đất nước, ngành sẽ phải giải quyết những thách thức gì?
Để du lịch trong thời gian tới bứt phá mạnh mẽ, yếu tố đầu tiên là phải đảm bảo và nâng cao chất lượng các sản phẩm dịch vụ, trong đó vai trò nguồn nhân lực là then chốt.
Thứ hai, cần có cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật thuận tiện cho cung cấp các dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ cao cấp, để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của các thị trường khách khác nhau.
Thứ ba, quan tâm đảm bảo gìn giữ môi trường, bảo tồn các giá trị văn hóa, di sản, tài nguyên du lịch để phát triển du lịch một cách bền vững.
Một vấn đề quan trọng nữa mà ngành du lịch cần tiếp tục đẩy mạnh, đó là tăng cường chuyển đổi số, từ công tác quản lý nhà nước đến ứng dụng cụ thể cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Đồng thời, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, nâng cao nhận thức về vai trò của du lịch, tăng cường thu hút đầu tư phát triển hạ tầng, cảng biển, sân bay, đường cao tốc… nhằm tạo ra điều kiện thuận lợi hơn để ngành du lịch tăng tốc phát triển trong thời gian tới.
Vậy, Cục Du lịch quốc gia Việt Nam đã chuẩn bị lộ trình hay ưu tiên chiến lược nào cho chặng đường tới đây, thưa ông?
Cục Du lịch quốc gia Việt Nam sẽ tập trung nghiên cứu, tham mưu ban hành các cơ chế, chính sách đột pháp để du lịch có thể có những điều kiện phát triển tốt hơn, đồng thời giải quyết những thách thức để du lịch được phát triển tương xứng với những tiềm năng vốn có của đất nước ta.
Chúng tôi sẽ cùng với các địa phương, hệ thống doanh nghiệp nghiên cứu, sáng tạo thêm những sản phẩm du lịch độc đáo, hấp dẫn, dựa trên thế mạnh của từng địa phương, của đất nước thu hút khách quốc tế đến với chúng ta.
Tiếp đến là hỗ trợ để tăng cường ứng dụng chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu ngành, giúp cho các địa phương cũng như doanh nghiệp kinh doanh thuận tiện hơn, đáp ứng được nhu cầu của du khách trong tìm kiếm các thông tin, đặt dịch vụ và kiểm soát được chất lượng của các dịch vụ đó.
Cục Du lịch quốc gia Việt Nam sẽ phối hợp các đơn vị liên quan, cơ sở đào tạo du lịch chuẩn hóa chương trình đào tạo, xây dựng tiêu chuẩn nghề trong lĩnh vực du lịch, nhằm nâng cao chất lượng đầu ra nguồn nhân lực du lịch, phấn đấu đủ số lượng và đảm bảo chất lượng dịch vụ. Qua đó góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của du lịch Việt Nam trong thời gian tới.
Chúng tôi kỳ vọng rằng với những quyết sách của Đảng và Nhà nước, Chính phủ, cùng những nỗ lực của toàn ngành, du lịch Việt Nam sẽ tiếp tục khẳng định là một trong những động lực góp phần vào sự tăng trưởng của kinh tế đất nước trong năm 2026 và giai đoạn tiếp theo.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html
-
Quỹ mở một năm bội thu
Không đứng ngoài sự tăng trưởng mạnh mẽ của VN-Index, quỹ đầu tư năm 2025 đặc biệt là quỹ mở cũng có sự tăng trưởng vượt kỳ vọng. Tuy vậy, đằng sau mức tăng ấn tượng ấy là sự phân hóa rõ nét, tạo ra không ít thách thức cho cả nhà đầu tư cá nhân và các nhà quản lý quỹ. Trong bối cảnh chịu nhiều sức ép ngắn hạn, nhiều quỹ mở vẫn giữ được mức sinh lời hai chữ số, với độ biến động và rủi ro thấp hơn đáng kể so với nhóm nhà đầu tư tự giao dịch.
QUỸ MỞ NỔI BẬT GIỮA BỨC TRANH PHÂN HÓADù VN-Index liên tiếp chinh phục các mốc cao mới, động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ một số cổ phiếu vốn hóa lớn trong rổ VN30. Trong khi đó, hơn 46% số mã trên thị trường ghi nhận mức sinh lời âm. Ngay cả nhiều doanh nghiệp có nền tảng cơ bản tốt cũng trải qua những giai đoạn điều chỉnh kéo dài do tác động của lãi suất, bối cảnh vĩ mô và sự luân chuyển của dòng tiền. Nếu loại trừ nhóm cổ phiếu VIC, VN-Index thực tế chỉ tăng khoảng 10,6%, phản ánh việc phần đông nhà đầu tư không được hưởng lợi tương xứng từ mức tăng của chỉ số chung.
Trong bối cảnh thị trường phân hóa, các quỹ mở đã thể hiện rõ ưu thế so với nhà đầu tư cá nhân. Dữ liệu từ Fmarket cho thấy sự luân phiên hiệu suất rõ rệt giữa các phong cách đầu tư. Năm 2025, nhóm quỹ cổ phiếu với chiến lược năng động, nhạy bén trong việc tái cơ cấu danh mục theo dòng tiền đã vươn lên dẫn đầu.
Cụ thể, nhiều quỹ đã ghi nhận mức sinh lời trên 30%, vượt xa mức tăng trưởng thực tế của phần lớn danh mục cá nhân. Tiêu biểu có thể kể đến BVFED (36,77%), DCDS (32,84%) và MAGEF (30,74%). Danh sách các quỹ có hiệu suất ấn tượng còn kéo dài với những cái tên như: UVEEF (24,6%), BMFF (24,51%), VCBF-BCF (22,82%), MBVF (20,84%), TCGF (18,93%) hay EVESG (18,86%).
Tương tự, các quỹ mở Manulife cũng có một năm thắng lợi với tỷ suất sinh lời đáng tự hào, trong đó quỹ đầu tư cổ phiếu Manulife (MAFEQI) tăng trưởng 17,3%.
Các quỹ của UOBAM cũng ghi nhận kết quả tích cực trong năm 2025, với Quỹ Cổ phiếu United ESG Việt Nam đạt hiệu suất 24,62% và Quỹ United thu nhập năng động Việt Nam đạt 9,67%.
Thống kê giai đoạn 5 năm của Fmarket cho thấy, nhóm quỹ có hiệu suất cao nhất đạt mức lợi nhuận bình quân khoảng 15 - 22%/năm. Đáng chú ý, các quỹ dẫn đầu lợi nhuận dài hạn vẫn là những cái tên quen thuộc như: VINACAPITAL-VESAF, DCDS, SSI-SCA, BVFED, MAGEF hay VCBF-BCF. Theo Fmarket, sự lặp lại này không mang tính ngẫu nhiên, mà phản ánh năng lực quản lý danh mục, quy trình đầu tư kỷ luật và khả năng thích ứng bền bỉ của các quỹ này qua nhiều chu kỳ thị trường.
Điều này cũng nhấn mạnh bản chất của đầu tư quỹ mở là một chiến lược phân bổ tài sản trung và dài hạn, đồng thời phát huy hiệu quả rõ rệt khi nhà đầu tư duy trì thời gian nắm giữ đủ dài, hoặc thời gian lý tưởng là xuyên suốt ít nhất một chu kỳ kinh tế.
CƠ HỘI SONG HÀNH CÙNG THÁCH THỨC TRONG NĂM 2026Bước sang năm 2026, tâm điểm chú ý là lộ trình nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam lên nhóm thị trường mới nổi thứ cấp của FTSE Russell. Đây không chỉ là danh hiệu mà là bước ngoặt về cấu trúc dòng vốn.
Theo ông Ngô Thành Huấn, Giám đốc điều hành Công ty cổ phần Tư vấn đầu tư và Quản lý tài sản FIDT, cơ hội lớn nhất không nằm ở con số vốn ngoại vào - ra trong vài quý, mà ở sự thay đổi cấu trúc của thị trường vốn. Nâng hạng buộc thị trường tiến gần hơn tới chuẩn mực quốc tế về minh bạch, quản trị doanh nghiệp, khả năng tiếp cận của nhà đầu tư tổ chức và tính kỷ luật trong định giá. Điều này mở ra không gian cho dòng vốn dài hạn, thụ động và tổ chức, vốn ổn định hơn và ít mang tính đầu cơ.
“Nói cách khác, nâng hạng không làm thị trường tăng nhanh hơn, mà làm thị trường “trưởng thành” hơn. Cơ hội lớn nhất thuộc về những doanh nghiệp và nhà đầu tư sẵn sàng chơi theo luật dài hạn, chấp nhận kỷ luật và chuẩn mực cao hơn, tạo ra nền tảng tốt để thu hút các dòng vốn lớn trong nước như các công ty bảo hiểm hay các cơ chế hưu trí tự nguyện còn dư địa cực kỳ lớn”, ông Huấn nhấn mạnh.
Dưới góc nhìn của quỹ đầu tư, ông Lê Thành Hưng, Giám đốc đầu tư UOB Asset Management Việt Nam (UOBAM), kỳ vọng nâng hạng sẽ là “cú hích” quan trọng, tạo nền tảng mới cho hoạt động của các quỹ và sự phát triển bền vững của thị trường.
Theo ông Hưng, cơ hội lớn nhất không chỉ nằm ở dòng tiền, mà là sự công nhận quốc tế. Việc nâng hạng sẽ thay đổi cách nhìn của nhà đầu tư tổ chức từ “giao dịch ngắn hạn” (tactical allocation) sang “chiến lược dài hạn” (strategic allocation). Đây là động lực để Việt Nam cải cách mạnh mẽ hơn, chuẩn hóa thị trường theo thông lệ quốc tế và nâng cao chất lượng doanh nghiệp niêm yết.
“Cùng với cơ hội mở ra từ việc nâng hạng thị trường, doanh nghiệp Việt Nam cũng đứng trước những yêu cầu khắt khe hơn từ các nhà đầu tư tổ chức quốc tế. Khi tiếp cận các dòng vốn lớn và dài hạn, tiêu chuẩn đánh giá không chỉ dừng ở kết quả kinh doanh mà còn mở rộng sang các yếu tố về minh bạch thông tin, quản trị và trách nhiệm giải trình”, ông Hưng nhấn mạnh.
Theo đó, nhà đầu tư nước ngoài kỳ vọng doanh nghiệp Việt Nam nâng cao mức độ công khai, minh bạch trong công bố thông tin; báo cáo tài chính tiệm cận các chuẩn mực quốc tế; sử dụng tiếng Anh trong báo cáo và truyền thông với nhà đầu tư. Đồng thời, cải thiện chất lượng quản trị doanh nghiệp và hoạt động quan hệ nhà đầu tư theo thông lệ toàn cầu.
Một thách thức không kém phần quan trọng là xây dựng niềm tin dài hạn với các nhà đầu tư tổ chức. Các quỹ lớn thường đặt trọng tâm vào năng lực quản trị rủi ro và mức độ tuân thủ cam kết của doanh nghiệp đối với cổ đông. Việc duy trì uy tín, thực hiện nhất quán các cam kết và minh bạch trong hành xử sẽ là yếu tố quyết định khả năng thu hút và giữ chân các dòng vốn dài hạn trong bối cảnh thị trường bước sang một giai đoạn phát triển mới.
“Để tận dụng tốt cơ hội nâng hạng, Việt Nam cần tiếp tục tháo gỡ các nút thắt mang tính cấu trúc, như mở rộng khả năng tiếp cận thị trường cho nhà đầu tư nước ngoài (room ngoại), hoàn thiện cơ chế thanh toán - bù trừ tập trung (CCP), rút ngắn chu kỳ thanh toán (xuống T+0), áp dụng chuẩn mực kế toán và tài chính quốc tế và tạo nguồn cung các sản phẩm mới có chất lượng ra thị trường để mở rộng cơ hội đầu tư cho các nhầ đầu tư tổ chức nước ngoài, đặc biệt là các quỹ đầu tư quốc tế lớn”, ông Hưng nhấn mạnh.
TĂNG TRƯỞNG ĐI CÙNG KIỂM SOÁT RỦI ROBước vào năm 2026, các quỹ đầu tư nhìn nhận triển vọng kinh tế Việt Nam với tâm thế lạc quan nhưng thận trọng. Mục tiêu tăng trưởng hai con số được xem là tham vọng trong bối cảnh rủi ro toàn cầu còn hiện hữu, song vẫn khả thi nếu chính sách điều hành đủ quyết liệt và các động lực trong nước tiếp tục phát huy vai trò. Quan trọng hơn, tăng trưởng không chỉ cần nhanh mà còn phải đi cùng ổn định vĩ mô và kiểm soát rủi ro để bảo đảm chất lượng trong trung và dài hạn.
Trên thị trường chứng khoán, các yếu tố hỗ trợ trong năm 2025 như chính sách nới lỏng, tiêu dùng phục hồi và du lịch quốc tế khởi sắc được kỳ vọng tiếp tục phát huy tác dụng trong năm 2026...
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html
- Uyên Vân
Mục tiêu tăng trưởng GDP 10% năm 2026: Giải “bài toán” để nội lực bắt kịp ngoại lực
“Các yếu tố then chốt có khả năng thúc đẩy tăng trưởng GDP của Việt Nam trong năm 2026 sẽ xoay quanh hai trụ cột chính: đầu tư hạ tầng và tiêu dùng trong nước.
Về hạ tầng, tốc độ giải ngân vốn đầu tư đã tăng mạnh trong năm 2025 với số vốn giải ngân cho hạ tầng tăng hơn 40%. Tuy nhiên, các hoạt động xây dựng thực tế chỉ tăng chưa đến 10%. Sự chênh lệch này chủ yếu do độ trễ thời gian giữa việc giải ngân vốn và thời điểm các dự án chính thức triển khai thi công. Nói cách khác, phần vốn đã được phân bổ trong năm vừa qua sẽ chuyển hóa thành hoạt động kinh tế thực tế và đóng góp cho tăng trưởng trong năm 2026. Bên cạnh đó, giải ngân vốn đầu tư cho hạ tầng dự kiến sẽ tiếp tục tăng thêm 20-30% trong năm 2026, tạo thêm động lực cho tăng trưởng GDP của Việt Nam.
Một trong những lợi ích dài hạn quan trọng nhất đối với kinh tế Việt Nam được kỳ vọng là việc hoàn thành tuyến cao tốc Bắc - Nam. Khi dự án này hoàn tất, các nhà máy FDI sẽ có thể đặt cơ sở sản xuất tại nhiều địa phương hơn trên khắp cả nước, thay vì chỉ tập trung ở các trung tâm công nghiệp truyền thống. Điều này sẽ cho phép doanh nghiệp tiếp cận nguồn lao động rộng lớn hơn ngoài các vùng lõi hiện nay. Về dài hạn, đây sẽ là một trong những lợi ích lan tỏa lớn nhất mà dự án cao tốc Bắc - Nam mang lại.
Về tiêu dùng nội địa, trong năm 2026, tiêu dùng nội địa sẽ giữ vai trò đặc biệt quan trọng cho kinh tế Việt Nam. Trong năm vừa qua, doanh số bán lẻ thực tế (đã điều chỉnh theo lạm phát) tăng gần 7%. Tuy nhiên, phần lớn mức tăng này đến từ sự bùng nổ lượng khách du lịch. Nếu loại trừ yếu tố du lịch, chi tiêu thực tế của người tiêu dùng trong nước chỉ tăng khoảng 5%.
Trong bối cảnh tiêu dùng chiếm hơn 60% quy mô nền kinh tế, để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP đạt 10%, Việt Nam sẽ cần thêm các biện pháp kích thích tiêu dùng nội địa. Chúng tôi kỳ vọng khi các hộ gia đình từng bước tái tích lũy tiết kiệm sau giai đoạn Covid-19, tiêu dùng trong nước sẽ phục hồi một cách tự nhiên.
Dù Chính phủ Việt Nam đã triển khai một số biện pháp như giảm thuế, nhưng chỉ riêng các giải pháp này có thể chưa đủ để thúc đẩy tăng trưởng tiêu dùng lên mức kỳ vọng. Vì vậy, Việt Nam cần thêm những chính sách bổ sung nhằm tạo động lực mạnh mẽ hơn cho nhu cầu trong nước, từ đó hỗ trợ hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng GDP đạt 10% trong năm 2026.
Ngoài ra, phát triển khoa học và công nghệ cũng sẽ mang lại lợi ích cho nền kinh tế Việt Nam trong dài hạn. Tuy nhiên, để những tiến bộ trong lĩnh vực này tạo ra tác động thực sự, cần có nỗ lực đồng bộ và bền bỉ trong thời gian dài, cùng với việc nâng cấp mạnh mẽ hệ thống đại học. Vì vậy, các khoản đầu tư cho khoa học và công nghệ nên được nhìn nhận như những khoản đầu tư trung và dài hạn, đóng vai trò then chốt trong việc giúp Việt Nam thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình và trở thành nền kinh tế phát triển vào năm 2045.
Bên cạnh các yếu tố trong nước, một động lực bên ngoài quan trọng đối với tăng trưởng GDP của Việt Nam trong năm 2026 là triển vọng của kinh tế Mỹ và quan hệ xuất khẩu giữa hai nước, khi Mỹ vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Chúng tôi kỳ vọng kinh tế Mỹ sẽ duy trì đà tăng trưởng tích cực, thậm chí cao hơn so với nhiều dự báo hiện tại. Diễn biến này sẽ tạo thêm dư địa thuận lợi để xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Mỹ tiếp tục mở rộng.
Tình hình thuế quan được kỳ vọng sẽ chuyển biến theo hướng thuận lợi hơn. Mặc dù gần đây xuất hiện một số thông tin gây nhiễu liên quan đến chính sách thuế, nhưng những nhận định từ các quan sát viên có hiểu biết chuyên sâu cho thấy mức thuế áp lên hàng hóa Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ sẽ giảm dần trong thời gian tới. Vì vậy, chúng tôi kỳ vọng mức thuế quan bình quân sẽ trở về khoảng 10% vào cuối năm nay, qua đó giảm áp lực chi phí và tạo thêm động lực cho hoạt động xuất khẩu của Việt Nam”.
“Việt Nam bước vào năm 2026 từ một vị thế tương đối vững vàng. So với nhiều nền kinh tế định hướng xuất khẩu, Việt Nam đã thể hiện khả năng chống chịu tốt, kỷ luật kinh tế vĩ mô và năng lực thu hút dòng vốn đầu tư ổn định trong bối cảnh toàn cầu nhiều biến động.
Từ góc nhìn của các nhà chiến lược đầu tư, triển vọng tăng trưởng không chỉ được đánh giá qua tốc độ, mà quan trọng hơn là tính bền vững. Các nhà đầu tư ngày càng xem Việt Nam là một thị trường tăng trưởng mang tính cấu trúc dài hạn, thay vì chỉ là cơ hội mang tính chu kỳ, qua đó củng cố niềm tin vào triển vọng trung hạn của nền kinh tế.
Đáng chú ý, triển vọng tăng trưởng năm 2026 của Việt Nam dựa trên sự mở rộng liên tục của lĩnh vực công nghiệp, ổn định kinh tế vĩ mô và sức hút bền bỉ đối với các khoản đầu tư dài hạn. Đồng thời, năm 2026 sẽ ít mang tính “phục hồi” hơn và tập trung nhiều hơn vào năng lực thực thi. Tăng trưởng sẽ phụ thuộc vào việc Việt Nam chuyển hóa hiệu quả các định hướng chính sách thành năng lực vận hành thực tế, đặc biệt trong các lĩnh vực hạ tầng, năng lượng và phát triển nguồn nhân lực. Nếu tốc độ triển khai theo kịp tham vọng đề ra, năm 2026 có thể trở thành một khởi đầu mạnh mẽ cho giai đoạn phát triển mới và tạo nền tảng vững chắc cho phần còn lại của thập kỷ.
Mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên phản ánh tham vọng đẩy nhanh con đường phát triển của Việt Nam và về định hướng là hoàn toàn dễ hiểu. Riêng đối với năm 2026, việc đạt mức tăng trưởng như vậy sẽ là một thách thức, nhưng không phải là bất khả thi nếu hội đủ các điều kiện phù hợp. Vấn đề then chốt không nằm ở việc tăng trưởng đạt con số bao nhiêu, mà ở chỗ liệu tăng trưởng đó có cân bằng và bền vững hay không.
Trong đó, có ba điều kiện mang tính quyết định cho sự tăng trưởng của Việt Nam. Thứ nhất, hạ tầng và cung ứng năng lượng phải theo kịp nhu cầu của nền công nghiệp, bởi tăng trưởng cao đòi hỏi nguồn điện ổn định, logistics hiệu quả và quỹ đất công nghiệp sẵn sàng. Thứ hai, quá trình thực thi hành chính cần duy trì tính minh bạch và nhất quán, với thủ tục phê duyệt nhanh hơn và việc triển khai đồng bộ giữa các địa phương, để dòng vốn đầu tư có thể chuyển hóa thành sản lượng mà không gặp trở ngại. Thứ ba, chất lượng dòng vốn là yếu tố quyết định. Tăng trưởng dựa trên đầu tư hiệu quả và chuyển giao công nghệ sẽ bền vững hơn so với tăng trưởng dựa vào các biện pháp kích thích ngắn hạn.
Trong ngắn hạn, quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế xanh hơn, số hóa hơn và dựa trên đổi mới sáng tạo sẽ đi kèm với những chi phí điều chỉnh. Đầu tư vào năng lượng tái tạo, hạ tầng số và các tiêu chuẩn tuân thủ cao hơn có thể làm gia tăng chi phí đối với một số ngành trong năm 2026. Tuy nhiên, những khoản đầu tư này cũng giúp nâng cao hiệu quả, giảm rủi ro dài hạn và tăng sức hấp dẫn của Việt Nam đối với dòng vốn chất lượng cao.
Từ năm 2026 trở đi, mô hình tăng trưởng sẽ dần chuyển từ mở rộng dựa trên quy mô sang mở rộng dựa trên giá trị. Chuyển đổi số giúp nâng cao năng suất trong sản xuất, logistics và dịch vụ, trong khi quá trình chuyển đổi xanh giúp Việt Nam phù hợp hơn với các yêu cầu tài chính toàn cầu và tiêu chuẩn chuỗi cung ứng quốc tế.
Trong trung hạn, những chuyển đổi này sẽ củng cố căn bản khả năng chống chịu của tăng trưởng kinh tế Việt Nam, thông qua việc thúc đẩy các hoạt động tạo giá trị gia tăng cao và giảm mức độ phụ thuộc vào các cú sốc bên ngoài. Đặc biệt, yếu tố then chốt nằm ở lộ trình triển khai hiệu quả như đảm bảo hạ tầng, năng lượng và phát triển kỹ năng lao động được thúc đẩy song song với phát triển chính sách”.
“Năm 2026 không chỉ đơn thuần là một năm tăng trưởng theo dự báo, mà là một năm bản lề đối với Việt Nam. Việt Nam bước vào giai đoạn 2026 - 2030 với nền tảng kinh tế vĩ mô ổn định, cán cân đối ngoại vững chắc và khuôn khổ thể chế ngày càng hoàn thiện. Mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên là đầy tham vọng và không chỉ mang tính lý thuyết. Mục tiêu này phản ánh sự chuyển dịch chiến lược từ mô hình tăng trưởng “bắt kịp” (dựa nhiều vào FDI) sang mô hình tăng trưởng dựa trên giá trị nội địa và năng lực nội sinh.
Trong bức tranh đó, con số tăng trưởng không quan trọng bằng chất lượng tăng trưởng. Nếu Việt Nam có thể đồng thời mở rộng quy mô, nâng cao năng suất và cải thiện cấu trúc kinh tế, thì năm 2026 hoàn toàn có thể đánh dấu sự khởi động của một động lực tăng trưởng mới. Một giai đoạn phát triển mới hứa hẹn sẽ ít phụ thuộc vào lao động giá rẻ, mà dựa nhiều hơn vào hạ tầng, công nghệ và giá trị gia tăng trong nước. Đây chính là bước chuyển mang tính quyết định, đặt nền móng cho khát vọng đưa Việt Nam trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.
Về bối cảnh quốc tế, Việt Nam sẽ tiếp tục vận hành trong một môi trường toàn cầu nhiều biến động, với căng thẳng địa chính trị gia tăng, thương mại thế giới tăng trưởng chậm lại và chuỗi cung ứng đang được tái sắp xếp có chọn lọc. Tuy vậy, chính những yếu tố này lại làm nổi bật vai trò chiến lược của Việt Nam như một điểm đến sản xuất và đầu tư ổn định, hội nhập sâu trong ASEAN.
Ở trong nước, yếu tố quyết định nằm ở khả năng thực thi. Định hướng chính sách và khung pháp lý cơ bản đã khá rõ ràng, nhờ các cải cách quan trọng được thúc đẩy trong những năm gần đây. Thách thức còn lại là triển khai nhanh và đồng bộ. Việc biến cam kết đầu tư công thành hoạt động kinh tế thực tế, đẩy mạnh cải cách hành chính và khôi phục niềm tin của doanh nghiệp nội địa sẽ là những nhiệm vụ then chốt.
Năm 2026, quốc gia nào hành động nhanh hơn sẽ tăng trưởng tốt hơn. Việt Nam đã nhiều lần chứng minh khả năng thích ứng linh hoạt và cách làm quyết liệt, thực tiễn. Tinh thần này sẽ càng quan trọng trong chặng đường sắp tới.
Ngoài ra, việc đầu tư chiến lược vào hạ tầng là một trong những đòn bẩy mạnh mẽ nhất để tái định hình mô hình tăng trưởng của Việt Nam. Hiện nay, Việt Nam đang chủ động lựa chọn các chiến lược phát triển dựa trên các mô hình thành công của các quốc gia trong khu vực như Singapore, Hàn Quốc và Nhật Bản. Việc phát triển hạ tầng trong nước không chỉ đóng góp trực tiếp vào GDP trong ngắn hạn, mà còn giúp giảm chi phí giao dịch, kết nối các thị trường vùng và tạo ra quy mô kinh tế trong các mạng lưới sản xuất. Đây là những yếu tố cốt lõi của giai đoạn phát triển mới, đồng thời đặt nền móng cho triển vọng thịnh vượng của thế hệ tiếp theo tại Việt Nam.
Từ năm 2026 trở đi, đầu tư vào giao thông, logistics, năng lượng và hạ tầng số sẽ tạo ra hiệu ứng lan tỏa vượt xa lĩnh vực xây dựng. Những khoản đầu tư này mở đường cho các ngành sản xuất giá trị cao, thúc đẩy hình thành các cụm công nghiệp vùng và nâng cao khả năng thu hút cũng như tiếp nhận dòng vốn FDI chất lượng cao của Việt Nam.
Đồng thời, các nỗ lực ở quy mô quốc gia như xây dựng Trung tâm Tài chính quốc tế và cải cách hành chính sâu rộng đang tạo ra sự chuyển dịch rõ nét hướng tới các chuẩn mực toàn cầu. Về dài hạn, những sáng kiến này sẽ đưa chính sách từ vai trò kích thích tăng trưởng ngắn hạn trở thành nền tảng cho năng lực cạnh tranh và năng suất bền vững”.
“Việt Nam đang nổi lên như một điểm đến đầy tham vọng, sẵn sàng dẫn dắt làn sóng tái cơ cấu chuỗi cung ứng. Đặc biệt, điều làm nên sự khác biệt của Việt Nam trong 2026 là nằm ở sự tự tin ngày càng được củng cố của quốc gia, cùng quá trình chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng cởi mở hơn, dựa trên đổi mới sáng tạo. Trong đó, không phải ngẫu nhiên mà thời gian gần đây, Chính phủ Việt Nam đã cắt giảm các điều kiện cấp phép đối với 38 ngành nghề kinh doanh, qua đó giúp nhà đầu tư nước ngoài tiếp cận thị trường Việt Nam thuận lợi và hiệu quả hơn.
Sau cuộc cải cách mạnh mẽ về hành chính và các quy định trong năm 2025, Chính phủ Việt Nam đã xác định năm 2026 là năm bản lề của tăng trưởng, trong đó động lực phát triển đến từ đổi mới sáng tạo, khoa học, công nghệ và chuyển đổi số, thay vì dựa vào lợi thế lao động chi phí thấp.
Đặc biệt, mục tiêu đạt mức tăng trưởng GDP 10% trong năm 2026 là một tham vọng lớn, phản ánh năng lực cải cách và tiềm năng dài hạn của Việt Nam. Trong khi phần lớn các tổ chức quốc tế vẫn giữ những dự báo tăng trưởng thận trọng, Việt Nam bước vào năm 2026 với nền tảng kinh tế vĩ mô vững chắc hơn, như: tiêu dùng đang phục hồi, đầu tư tư nhân gia tăng, giải ngân đầu tư công được đẩy nhanh và điều kiện tài khóa ổn định. Bên cạnh đó, kinh tế số, chuyển đổi xanh và chuyển dịch năng lượng đang nổi lên như những động lực tăng trưởng mới, được củng cố bởi quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng của Việt Nam.
Tuy nhiên, dữ liệu trong năm 2025 cho thấy xuất khẩu tăng 25% so với năm trước nhưng chủ yếu đến từ khu vực doanh nghiệp FDI, trong khi các doanh nghiệp xuất khẩu trong nước lại sụt giảm đơn hàng. Hiện nay, gần 80% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam do các doanh nghiệp FDI dẫn dắt; riêng trong lĩnh vực sản xuất công nghệ cao, con số này lên tới khoảng 95%. Điều này cho thấy một vấn đề mang tính hệ thống cần được các cơ quan quản lý giải quyết, thông qua các chính sách ưu đãi, hỗ trợ công nghệ và tạo cơ hội để doanh nghiệp nội địa nâng cao năng lực chống chịu và tiếp cận thị trường quốc tế.
Việc đạt mức tăng trưởng hai chữ số không những đòi hỏi dòng vốn đầu tư và ổn định vĩ mô, mà còn đòi hỏi khả năng chống chịu mạnh mẽ hơn trước các cú sốc từ bên ngoài. Khi xuất khẩu chiếm khoảng 83% GDP, độ mở cao mang lại nhiều cơ hội nhưng đồng thời cũng làm gia tăng mức độ dễ tổn thương trước biến động toàn cầu. Vì vậy, yếu tố then chốt của Việt Nam trong năm nay chính là khả năng giảm thiểu rủi ro bên ngoài; đồng thời, đẩy nhanh thực thi chính sách, rút ngắn độ trễ cải cách và đảm bảo năng lực thể chế theo kịp tham vọng kinh tế.
Cùng với đó, mô hình tăng trưởng mới của Việt Nam trong năm 2026 không nên chỉ hướng tăng trưởng cao, mà còn cần phải xây dựng một nền kinh tế cạnh tranh và có khả năng chống chịu tốt hơn. Đặc biệt, ưu tiên hàng đầu nằm ở phát triển hạ tầng và năng lượng, nơi các cải cách về Hợp tác công - tư (PPP) và Quy hoạch phát triển điện lực Quốc gia giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 cần được triển khai thực chất để đảm bảo nguồn điện xanh, ổn định và giảm chi phí logistics, đây chính là những yếu tố quyết định việc Việt Nam có thực sự trở thành điểm đến của các ngành công nghệ cao hay không.
Một điều không kém phần quan trọng khác đó chính là biến sự phụ thuộc lớn vào FDI thành động lực thúc đẩy tăng trưởng trong nước, thông qua đào tạo nhân lực, phát triển kỹ năng và chuyển giao công nghệ. Việt Nam cần thu hút các dòng vốn đầu tư mang theo công nghệ, giúp gia tăng chiều sâu chuỗi cung ứng và tạo nền tảng cho các ngành như bán dẫn, sản xuất công nghệ cao và năng lượng tái tạo, thay vì chỉ mở rộng hoạt động lắp ráp.
Cuối cùng, năng lực thể chế sẽ đóng vai trò quyết định. Nghị quyết số 68-NQ/TW và Nghị quyết số 79-NQ/TW là những bước tiến quan trọng trong việc xác định lại vai trò của khu vực tư nhân và khu vực nhà nước, nhưng thành công phụ thuộc vào việc thực thi nhất quán và cơ chế trách nhiệm rõ ràng. Khi nâng cấp chất lượng nguồn nhân lực được lồng ghép trong tất cả các ưu tiên này, Việt Nam có thể chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa vào nguồn lực đầu vào sang mô hình dựa trên năng suất, công nghệ và đổi mới sáng tạo”.
làm sao để nội lực bắt kịp tốc độ của ngoại lực
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8/2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html
-
Mytel ở lại
Chín tháng sau ngày động đất 7,7 độ Richter, đất nước Myanmar đang vào quãng thời gian đẹp nhất năm, từ tháng 11/2025 đến tháng 2/2026, với nhiệt độ ban ngày trung bình từ 25-30 độ C, nắng nhẹ, đêm và rạng sáng nhiệt độ giảm còn 18-20 độ, trời se lạnh. Con đường từ Yangon (thủ đô cũ của Myanmar) đến tỉnh Mandalay dài hơn 600 km rộng thênh thang với mỗi bên 3 làn nhưng vắng xe qua lại, thỉnh thoảng lại nổi lên đoạn nứt toác chưa được khắc phục bởi trận động đất lịch sử để lại.
Thượng tuần tháng 1/2026, Myanmar vẫn đang trong giai đoạn tăng cường các biện pháp đảm bảo an ninh xã hội để phục vụ hoạt động bầu cử. Vì thế, thời gian đến ngôi trường cấp 1 tại làng Oak Kyut Pho (Mandalay) mà Mytel (thương hiệu của Viettel tại Myanmar) mới xây đã chậm hơn hai tiếng so với dự kiến.
Giám đốc kinh doanh Chi nhánh Mytel Mandalay Lý Bình Nguyên kể: lúc đó gần 13h ngày 28/3/2025 (giờ địa phương), khi đang nghỉ trưa trên tầng 3 thì nghe thấy tiếng cốc chén loảng xoảng rơi xuống sàn nhà vỡ toang, căn phòng nghiêng ngả, rung lắc dữ dội. "Tôi biết động đất đã xảy ra nên với vội chiếc áo và quần dài mặc để chạy nhưng không thể nào mặc được, hai chân hầu như không chạm mặt sàn, cách nền nhà cỡ nửa gang tay. Vậy là trên người mỗi chiếc quần xà lỏn lao chạy xuống đường. Ở thời điểm ấy ai cũng thế”, Giám đốc Nguyên kể về giây phút kinh hoàng lần đầu tiên anh từng trải.
Chỉ chục phút sau cơn địa chấn 7,7 độ Richter, hàng loạt cơn dư chấn 4-5 độ, thậm chí tới 6 độ Richter, tương đương với những trận động đất lớn tiếp tục dội xuống đất nước Myanmar, càng khiến người dân hoang mang, sợ hãi. Nguyên cũng như giám đốc chi nhánh và bộ phận quản lý Mytel ở các tỉnh chịu tác động mạnh của tâm chấn như Sagaing, Mandalay, Naypyitaw (Thủ đô mới của Myanmar)… sau gần một tiếng đồng hồ hoảng sợ, lo lắng, đã bình tĩnh trấn an tinh thần, nhanh chóng kiểm tra tình hình nhân viên người Việt, người bản địa xem có ai bị ảnh hưởng gì không, sau đó kiểm tra tình trạng kết nối mạng di động.
Nhà mạng đến từ Việt Nam - Mytel - ngay trong ngày 28/3/2025 đã tổ chức các phương án ứng cứu thông tin, thành lập ban điều hành chỉ đạo công tác phòng chống thiên tai. Cũng trong ngày, Mytel đã thành lập Sở chỉ huy tiền phương điều hành khôi phục mạng lưới tại hai tỉnh bị ảnh hưởng nặng nhất là Mandalay và Naypyitaw. Tổ chức huy động 43 đội kỹ thuật cứu trợ từ các tỉnh khác đến các khu vực ảnh hưởng nặng của động đất để ứng cứu thông tin.
Tập đoàn Viettel ngay hôm sau cũng cử ba đoàn gồm các chuyên gia, kỹ sư thiết kế, truyền dẫn, hạ tầng trạm, truyền thông và công tác hậu cần khác gồm hơn 35 người tới Myanmar để hỗ trợ Mytel đánh giá, khắc phục hạ tầng mạng lưới cũng như công tác cứu trợ nhân đạo.
“Động đất gây thiệt hại rất lớn, trong điều kiện của đất nước Myanmar lại càng lớn hơn vì hạn chế về nguồn lực ứng cứu”, Tổng giám đốc Mytel Ngô Vĩnh Quý chia sẻ. Đồng thời, ông cho biết thêm trong lúc đó Mytel chỉ có tâm niệm “sống là cứu người” chứ không có ý nghĩ gì về kinh doanh nữa. Đây là thảm họa thiên nhiên, 48h vàng để cứu người là vô cùng quan trọng. Đất nước Myanmar lại thiếu điện, bởi vậy một chiếc điện thoại dù là “cục gạch” thì cũng chỉ hoạt động được trong tầm 48 tiếng, chính vì thế Ban lãnh đạo Mytel đã dồn mọi nguồn lực để làm sao đảm bảo kết nối cho chính quyền để điều hành cứu hộ và người dân để báo xem còn sống không, hay đang ở trong đống đổ nát nào.
Cùng việc khôi phục mạng lưới, kết nối, hàng trăm điểm phát SIM miễn phí, điểm trạm sạc điện thoại đã nhanh chóng được Mytel dựng lên. Cụ thể Mytel đã phát miễn phí hơn 30.000 SIM cho người dân Mandalay và Naypyitaw; phát sóng 100 điểm wifi miễn phí tại các điểm tập trung người bị nạn; hỗ trợ miễn phí viễn thông cho hơn 4,5 triệu khách hàng bị ảnh hưởng bởi trận động đất; hơn 500 điểm trạm sạc điện thoại dã chiến được lắp đặt để người dân sạc điện thoại.
Bên cạnh đó, nhà mạng cũng tổ chức các điểm phát cho người dân hơn 5 tấn lương thực như: gạo, mì tôm, bánh mì, nước sạch, hơn 10 nghìn suất ăn... cho hơn chục nghìn người; cung cấp hàng nghìn ô, lều để người dân nghỉ ngơi tại các điểm tập trung.
Giữa lúc khó khăn, thảm họa lớn nhất, Mytel không những ở lại mà còn là doanh nghiệp đầu tiên và nhanh nhất triển khai các hoạt động cứu trợ người dân ngay sau thảm họa trong vòng 3 giờ từ lúc thảm họa…
Tất cả các hành động này được đất nước, nhân dân Myanmar ghi nhận và đánh giá cao. Tại một trong những tỉnh bị thiệt hại nặng là Mandalay, ông U Kyaw San, Thị trưởng thành phố Mandalay, cho biết ngay sau trận động đất chỉ có duy nhất nhà mạng Mytel có mặt, không chỉ khôi phục sóng mà còn mang đến lều bạt, lương thực, nước uống. “Tôi thực sự cảm động, không phải doanh nghiệp nào cũng làm được như vậy. Tôi và người dân ở đây rất biết ơn Mytel”, vị Thị trưởng bày tỏ.
Theo Tổng giám đốc Mytel Ngô Vĩnh Quý, khi động đất hay lũ lụt xảy ra, tất cả anh em ở các chi nhánh của Mytel đều hành động tự giác, không đợi chỉ đạo từ cấp trên, cứ thế xúm lại cứu trợ, giúp sức người dân, hỗ trợ một cách tối đa. “Hành động đó không chỉ của Mytel và Viettel đâu, nó như là tinh thần là nguồn cội của người Việt Nam – lúc người dân gặp khó khăn, hoạn nạn thì tự động phản ứng, mỗi người một tay bảo nhau hỗ trợ được tốt hơn. Các thị trường khác của Viettel cũng thế”, ông Quý nói, rồi kể, có bạn người Myanmar thán phục rằng: Khổng hiểu tại sao người Việt Nam lại có tình đoàn kết như vậy.
Trận động đất lịch sử trăm năm 7,7 độ Richter như càng muốn chứng minh và khẳng định về sự hiện diện của Mytel để gắn với cuộc sống của người dân nơi đây, để góp phần làm cho cuộc sống và kinh tế của người dân Myanmar trở nên tốt đẹp hơn.
Myanmar là thị trường mà Viettel mất thời gian đeo đuổi lâu nhất để có được. Sau gần 15 năm đầu tư, mở văn phòng đại diện và chờ đón cơ hội, đến năm 2016 Viettel mới có được giấy phép, chính thức ghi tên Myanmar trên bản đồ kinh doanh viễn thông của mình. Để có được điều đó, Viettel phải đối mặt với hai lần thất bại khi bị các đối thủ quốc tế với tiềm lực tài chính hùng mạnh đã bỏ thầu lớn gấp nhiều lần số tiền mà khả năng Viettel có ở thời điểm đó.
Nhanh chóng chớp thời cơ, Viettel Myanmar xây dựng mạng lưới và phát triển thần tốc, trở thành nhà mạng đầu tiên và duy nhất tại Myanmar phủ sóng 4G toàn quốc - công nghệ hiện đại nhất lúc đó (bỏ qua 3G). Mytel đạt 1 triệu thuê bao sau 10 ngày khai trương. Đây là tốc độ phát triển khách hàng nhanh nhất trong số tất cả các thị trường (cả Việt Nam và quốc tế) mà Tập đoàn Viettel từng đầu tư. Đến năm 2019, sau 18 tháng chính thức hoạt động, nhà mạng này cán mốc 5 triệu thuê bao và chỉ 3 năm, Mytel vươn lên chiếm số 1 về thị phần với 38,6%.
Tuy nhiên, đà tăng trưởng hừng hực của Mytel bất ngờ bị “gẫy gập” khi đất nước Chùa Vàng xảy ra chính biến vào tháng 2/2021.
“Có những khoảng thời gian hệ thống mạng lưới bị cắt phá. Các nhà mạng khác cũng thế. Cứ mỗi ngày đi qua, Mytel lại mất cả nghìn thuê bao, con số thuê bao ngừng hoạt động ngày một nhiều lên, tới hàng trăm nghìn thuê bao. Chúng tôi như ngồi trên đống lửa. Ngày nào Ban lãnh đạo Tập đoàn Viettel, Tổng công ty Cổ phần Đầu tư quốc tế Viettel (Viettel Global) và Mytel cũng họp, cập nhật liên tục về tình hình an toàn của cán bộ công nhân viên, tình trạng hệ thống mạng lưới và đặc biệt là số thuê bao bị mất”, một cán bộ Viettel Global chia sẻ về những ngày tháng khó khăn nhất của Mytel trong thời điểm chính biến.
Cùng chính biến, khó khăn thêm chồng chất với sự tác động của dịch bệnh Covid-19, lũ lụt nghiêm trọng kinh hoàng hơn cả cơn bão Yagi diễn ra liên tục tại Myanmar, nhưng Mytel vẫn vượt qua, ở lại và đứng vững.
Ban lãnh đạo Mytel nhận xét 2025 là một năm đặc biệt khó khăn đối với nhà mạng và có thể xem là khó khăn nhất trong hơn 7 năm Mytel hoạt động tại Myanmar, khi nhiều rủi ro lớn xảy ra đồng thời, chồng lấn và kéo dài, tạo áp lực chưa từng có đối với hoạt động sản xuất kinh doanh và công tác bảo đảm an toàn.
Ngoài khó khăn về thảm họa động đất (khiến hơn 2.000 trạm BTS bị mất tín hiệu, nhiều tuyến truyền dẫn quốc tế bị gián đoạn) là hàng loạt thách thức khác mà Mytel phải đối mặt như tình trạng mất điện kéo dài, trung bình hơn 12 giờ mỗi ngày, chi phí nhiên liệu tăng cao, tạo áp lực rất lớn về chi phí vận hành; khó khăn về tỷ giá (khan hiếm USD và tỷ giá trên thị trường tự do có thời điểm cao gấp hơn hai lần tỷ giá niêm yết của Ngân hàng Trung ương, tạo ra độ lệch rất lớn giữa chi phí thực tế và kế hoạch tài chính ban đầu); khó khăn về nhập khẩu thiết bị…
Đứng trước những khó khăn trên, nhà mạng này đã thực hiện hàng loạt giải pháp, như chiến dịch triển khai 400 trạm BTS mới và khôi phục 542 trạm BTS down tồn lâu; chiến dịch triển khai 2.533 trạm Solar để giảm Cell giờ, tiết kiệm chi phí; chiến dịch nâng cấp 7018 acquy, 341máy nổ cho hơn 1.000 trạm; thực hiện tối ưu 1.500 trạm BTS, nâng cấp 300G băng thông quốc tế, tối ưu 120 tuyến truyền dẫn… Nhờ tổng thể những giải pháp này mà nhà mạng của Việt Nam đã giảm khoảng 50% sự cố gián đoạn thông tin trên toàn mạng; giảm hơn 50% số lít dầu, từ 1,8 triệu lít/tháng xuống dưới 900.000 lít/tháng; tiết kiệm hơn 20 triệu USD chi phí vận hành (OPEX), khôi phục và tăng trưởng 780 nghìn thuê bao, tăng lưu lượng sử dụng data lên 30% tại các trạm nâng cấp.
Bên cạnh đó là các giải pháp về kinh doanh như bỏ lớp trung gian vùng, thành lập trung tâm kinh doanh, điều hành tập trung và thẳng xuống tuyến tỉnh, huyện; điều hành kinh doanh phát triển thuê bao và quản lý lãi, lỗ đến từng trạm BTS; đẩy mạnh kinh doanh tại trạm 400 BTS mới, hơn 540 trạm BTS khôi phục và 1200 trạm BTS ít thuê bao; đẩy mạnh hệ sinh thái số…
Kết thúc năm 2025, Mytel đã hoàn thành xuất sắc 8/8 chỉ tiêu Tập đoàn Viettel giao, doanh thu dịch vụ năm 2025 tăng trưởng 30%, đạt 916 triệu USD; lợi nhuận đạt 104 triệu USD – mức cao nhất từ trước tới nay.
Triết lý kinh doanh gắn liền với trách nhiệm xã hội, phụng sự đất nước, làm cho cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn được Tập đoàn Viettel kiên trì từ những ngày đầu tiên, không chỉ tại Việt Nam mà ở tất cả các thị trường mà Viettel đặt chân tới. Tuy nhiên, tại Myanmar, vốn với những đặc trưng riêng về kinh tế xã hội, văn hóa, con người nên các chương trình trách nhiệm xã hội (CSR) cũng khá khác biệt và chi tiết tới tận từng bản, làng.
Làng Nay Pu, huyện Tadaoo, cách thủ phủ Mandalay khoảng 45 km, với 100 hộ dân nhưng 60% người có mức sống rất thấp, thu nhập chỉ chưa đầy 700 nghìn đồng, không có tiền để mua điện từ Chính phủ, thu nhập chủ yếu là làm giỏ từ cây cọ. Con đường vào làng tối om như mực. Khi đi khảo sát thị trường, nhân viên chi nhánh đã phát hiện và đề xuất lắp đặt đèn điện sử dụng năng lượng mặt trời cho ngôi làng. Trưởng làng này cho biết do làng ở xa trung tâm nên rất khó khăn và rất ít nhận được những hỗ trợ xã hội từ các doanh nghiệp và tổ chức. Từ ngày có điện do Mytel lắp đặt, ngõ vào làng không còn tối mịt như trước nữa.
Một tu viện tại Yangon đang nuôi dậy hơn 900 em học sinh được miễn học phí, tuy nhiên vì Myanmar triền miên mất điện nên các em học sinh thường xuyên phải học trong tình trạng thiếu ánh sáng. Mytel đã thực hiện lắp đặt tấm solar (tấm năng lượng mặt trời) để có điện chiếu sáng cho lớp học tu viện, cùng với việc tặng bàn ghế, sách vở, đồ dùng học tập cho các em học sinh và hỗ trợ tu viện đồ ăn, lương thực, thực phẩm thiết yếu.
Cách làm CSR của Mytel cũng khá linh hoạt, nhanh nhạy trong những tình huống khẩn cấp hay mang tính bền vững lâu dài. Ngay sau trận động đất kinh hoàng, nhà cửa bị sụp đổ, hàng trăm gia đình ở vùng ven tỉnh Mandalay đã không có nhà để ở, nhà mạng này liền cải tạo, tu sửa các trạm, điểm bán hàng mini store thành các nhà tạm cho người dân ở. Hơn 30 nhà tạm mini store với gần 100 con người đang trú ngụ trong suốt hơn 9 tháng qua.
Trường cấp 1 tại làng Oak Kyut Pho, sau khi bị trận động đất đánh sập, gần 300 em học sinh cấp 1 đã phải chuyển sang tu viện gần đó học tạm. Rất nhanh chóng, chi nhánh Mytel Mandalay đã đề xuất ban lãnh đạo Mytel quyên góp, hỗ trợ xây dựng một ngôi trường mới khang trang. Có những làng không có nước sạch để sinh hoạt thì Mytel xây dựng hệ thống giếng nước sạch cho người dân, như 5 ngôi làng tại huyện Kyauk Tan, Yangon.
Theo ông Nguyễn Thành Chung, Phó Tổng giám đốc Mytel, CSR là hoạt động chiến lược cốt lõi của Mytel. Năm 2025, Mytel đã triển khai hơn 150 chương trình CSR trên khắp Myanmar. Như vậy, trung bình cứ hai ngày làm việc Mytel lại có một chương trình CSR.
“Có lẽ khó có doanh nghiệp nào lại làm CSR trong một năm nhiều như vậy. Mytel không làm CSR theo phong trào mà coi CSR là một phần trong chiến lược phát triển của doanh nghiệp, thông qua các chương trình hỗ trợ thiên tai, kết nối viễn thông vùng sâu vùng xa, cung cấp điện mặt trời, các chiến dịch vì phụ nữ, trẻ em và giáo dục, qua đó từng bước xây dựng hình ảnh doanh nghiệp Việt Nam vì cộng đồng, vì sự phát triển của Myanmar và vì Myanmar hạnh phúc hơn”, ông Chung khẳng định.
Gieo nhân lành gặt quả ngọt. Sau động đất, Mytel tăng thêm 500 nghìn thuê bao – toàn bộ là thuê bao được Mytel phát miễn phí cho người dân để kết nối liên lạc sau trận động đất lịch sử xảy ra và tập khách hàng chuyển sang từ nhà mạng khác. Hiện, hơn một nửa thuê bao này ở lại với nhà mạng, góp phần đưa số thuê bao thực tăng trưởng trong năm 2025 của nhà mạng lên tới 1,05 triệu, lũy kế đạt 14,2 triệu thuê bao và giữ vững thị phần số 1 với 39,0%.
Cũng nhờ chiến lược cốt lõi CSR “theo cách riêng” như vậy mà Mytel đã giành Giải vàng CSR của Stevie Award năm 2025 - một giải thưởng uy tín và rất khó đạt được (Stevie Award là giải thưởng hàng đầu thế giới về kinh doanh, được tạp chí New Your Post ví như giải Oscar cho doanh nghiệp và doanh nhân. Giải thưởng được khai sinh năm 2002 để tôn vinh và ghi nhận những thành tựu và đóng góp tích cực của các tổ chức và cá nhân trên toàn thế giới).
Đồng thời, nhà mạng cũng giành được giải thưởng “Nhà mạng tốt nhất dành cho thế hệ trẻ” (The Best Operator for the Young Generation) do Stevie Awards bình chọn năm 2025.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8/2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-6-2026.html
-
Giá trị cà phê Việt chuyển từ “lượng” sang “chất”
Năm 2025 đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong ngành cà phê Việt Nam khi kim ngạch xuất khẩu đạt mức kỷ lục, vượt qua con số 8,57 tỷ USD. Đây không chỉ là thành quả của sự gia tăng về lượng mà còn là sự chuyển dịch mạnh mẽ từ "lượng" sang "chất" trong chiến lược phát triển của ngành. Trong bối cảnh nhiều mặt hàng xuất khẩu khác chịu tác động tiêu cực từ chính sách thuế quan đối ứng của Hoa Kỳ, cà phê Việt Nam lại nổi lên như một ngoại lệ hiếm hoi, không chỉ ít bị ảnh hưởng mà còn hưởng lợi từ những thay đổi này.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, năm 2025, Việt Nam đã xuất khẩu hơn 1,5 triệu tấn cà phê, tăng 16,9% về lượng và 60,7% về giá trị so với năm 2024. Động lực chính đến từ việc giá xuất khẩu duy trì ở mức cao kỷ lục, có thời điểm tiệm cận 5.850 USD/tấn. Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Hoàng Trung nhận định rằng đây là một "dấu mốc lịch sử" cho ngành cà phê Việt Nam, với sự đóng góp quan trọng từ các thị trường chủ lực như EU và Hoa Kỳ, cùng với sự tăng trưởng đột biến từ các thị trường mới nổi như Algeria và Mexico.
Sự thành công này không chỉ đến từ yếu tố giá cả mà còn từ những nỗ lực nâng cao chất lượng cà phê Việt. Các doanh nghiệp đã đầu tư mạnh mẽ vào chế biến sâu và truy xuất nguồn gốc, giúp nâng cao giá trị sản phẩm. Cà phê Robusta vẫn giữ vai trò chủ lực, nhưng cà phê Arabica và cà phê chế biến cũng ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng, cho thấy chiến lược đi sâu vào chuỗi giá trị đang phát huy hiệu quả.
Một điểm đáng chú ý là trong khi cà phê Brazil bị áp thuế tới 40% tại Hoa Kỳ, cà phê Việt Nam chỉ chịu mức thuế 20%, tạo lợi thế cạnh tranh rõ rệt. Điều này đã góp phần thúc đẩy kim ngạch xuất khẩu cà phê Việt Nam lập kỷ lục mới. Ngoài ra, việc gia tăng tỷ trọng cà phê chế biến sâu đã giúp nâng cao giá trị xuất khẩu và giảm dần sự phụ thuộc vào xuất khẩu thô, mang lại lợi nhuận cao hơn cho người trồng cà phê.
Năm 2025 cũng chứng kiến sự thành công của nhiều nông dân tại các vùng cà phê trọng điểm như Đắk Lắk, Gia Lai, khi giá cà phê tăng cao đã giúp họ có một vụ mùa "trúng đậm". Với năng suất bình quân 3-3,5 tấn/ha và mức giá có thời điểm lên tới 120–130 triệu đồng/tấn, mỗi ha cà phê mang lại doanh thu 350-450 triệu đồng, lợi nhuận 250-300 triệu đồng. Điều này không chỉ cải thiện đời sống của người nông dân mà còn tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của ngành cà phê Việt Nam.
Bước sang năm 2026, ngành cà phê Việt Nam đứng trước những cơ hội và thách thức mới. Việc Hoa Kỳ giảm thuế đối với hàng hóa Brazil có thể làm giảm lợi thế thuế quan của cà phê Việt. Tuy nhiên, với việc sớm đáp ứng tiêu chuẩn EUDR của EU, cà phê Việt Nam vẫn có thể mở rộng thị phần tại châu Âu. Ngành cà phê sẽ tiếp tục phát triển theo hướng bền vững, mở rộng áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế, tăng cường truy xuất nguồn gốc và đẩy mạnh chế biến sâu.
Trong dài hạn, ngành cà phê Việt Nam định hướng phát triển theo mô hình nông nghiệp sinh thái, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn. Việc xây dựng thương hiệu "Cà phê Việt Nam" và thúc đẩy canh tác giảm phát thải sẽ là những yếu tố then chốt giúp nâng tầm thương hiệu cà phê Việt trên thị trường quốc tế. Với những bước đi chiến lược và sự nỗ lực không ngừng, ngành cà phê Việt Nam đang trên đà bứt phá mạnh mẽ, hứa hẹn một tương lai tươi sáng và bền vững.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8/2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html
-Chu Minh Khôi
Chính phủ “hành động” và bước ngoặt ngành công nghệ lõi
Năm 2025 ghi nhận làn sóng đầu tư mạnh mẽ nhất từ trước đến nay của các tập đoàn đa quốc gia vào các ngành công nghệ cao như bán dẫn, AI, hạ tầng dữ liệu… tại Việt Nam. Theo Cục Thống kê, tính đến ngày 31/12/2025, tổng vốn đầu tư nước ngoài (FDI) bao gồm cả đăng ký mới và điều chỉnh vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo là 18,59 tỷ USD, chiếm 59,2% tổng số vốn.
Trong đó, riêng 10 tháng năm 2025, ngành bán dẫn đã thu hút khoảng 11,6 tỷ USD vốn FDI. Điều này cho thấy dòng vốn FDI đổ về Việt Nam đã chất lượng hơn với sự xuất hiện của các dự án tỷ USD từ những tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới gia tăng trước làn sóng chuyển dịch chuỗi cung ứng công nghệ cao.
DÒNG VỐN CHẢY MẠNH VÀO CÁC NGÀNH CÔNG NGHỆ CAOMột trong những dự án công nghệ cao điển hình là nhà máy sản xuất, lắp ráp và thử nghiệm vật liệu, thiết bị bán dẫn Công ty TNHH Amkor Technology Việt Nam tại Bắc Ninh. Vận hành từ tháng 10/2023 với số vốn đầu tư 520 triệu USD, chỉ sau 10 tháng hoạt động, Amkor Technology đã đưa nhà máy tại Bắc Ninh trở thành cứ điểm đóng gói chip lớn nhất thế giới của mình sau khi rót thêm 1,07 tỷ USD vào tháng 7/2024, nâng tổng vốn đầu tư vào Việt Nam lên mức 1,6 tỷ USD (tăng quy mô vốn sớm hơn dự kiến tới 11 năm). Tính đến hết quý 1/2025, tổng vốn FDI mà tập đoàn này giải ngân là hơn 850 triệu USD.
“Gã khồng lồ” công nghệ khác là Hana Micron cũng không đứng ngoài “cuộc đua” bán dẫn. Từ số vốn đầu tư ban đầu 600 triệu USD, tập đoàn có kế hoạch nâng tổng vốn đầu tư tại Bắc Giang lên hơn 1 tỷ USD vào năm 2027 để khép kín chuỗi sản xuất bảng mạch cho các thiết bị di động thế hệ mới.
Đặc biệt, “cơn sốt” AI toàn cầu đã đưa những tên tuổi lớn như Nvidia, Marvell… đến gần Việt Nam hơn. Sự cam kết của Nvidia trong việc xây dựng một hệ sinh thái AI toàn diện, từ hạ tầng siêu máy tính đến đào tạo nhân lực, đã chứng minh rằng Việt Nam không còn là “điểm đến dự phòng” mà đã trở thành “ngôi nhà thứ hai” của Nvidia trong chiến lược đầu tư. Điểm nhấn là ngày 7/8/2025, Công ty TNHH Nvidia Việt Nam đã hoàn tất việc tăng vốn điều lệ lên mức 1,1 triệu USD để chuẩn bị cho các hoạt động mở rộng tại Việt Nam trong thời gian tới. Trước đó, vào tháng 12/2024, tập đoàn công nghệ Mỹ đã gây chú ý khi thâu tóm toàn bộ Công ty TNHH Vinbrain từ Tập đoàn Vingroup, với giá trị chuyển nhượng vốn hơn 627 tỷ đồng.
Ngoài ra, các trung tâm RD của Marvell và Synopsys tại Đà Nẵng và TP. Hồ Chí Minh với quy mô vốn lên tới hàng tỷ USD cũng bắt đầu tham gia vào thiết kế các dòng chip thế hệ mới cho thị trường thế giới.
Sự hiện diện của các doanh nghiệp FDI này tạo ra một “hệ sinh thái vệ tinh”. Hàng trăm doanh nghiệp phụ trợ từ Đài Loan, Hàn Quốc và Hoa Kỳ… đã kéo theo, tạo thành một cụm ngành công nghiệp bán dẫn thực thụ tại các khu vực trọng điểm như: Bắc Ninh, Thái Nguyên, Đà Nẵng và TP. Hồ Chí Minh. Đây chính là minh chứng rõ nhất cho thấy niềm tin của các tập đoàn đa quốc gia vào sự ổn định và tiềm năng của Việt Nam.
DOANH NGHIỆP NỘI KHẲNG ĐỊNH TINH THẦN “MANKE IN VIETNAM”Trước dòng chảy “sôi động” của các tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới, các tập đoàn công nghệ nội địa cũng đã có sự chuyển mình rõ nét. Năm 2025 đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của tinh thần “Make in Vietnam” của các doanh nghiệp công nghệ Việt Nam. Thay vì tập trung gia công, lắp ráp, các công ty đang từng bước nỗ lực vươn lên để làm chủ công nghệ lõi.
Tập đoàn Viettel tiếp tục khẳng định vị thế dẫn đầu khi sản xuất thành công chip 5G DEF SoC đầu tiên của Việt Nam. Đây thực sự là một kỳ tích bởi thiết kế chip viễn thông đòi hỏi trình độ kỹ thuật rất cao. Không dừng lại ở đó, Viettel đã hoàn thành triển khai và đưa vào sử dụng hơn 23.500 trạm BTS trong giai đoạn từ tháng 2 -12/2025. Đáng chú ý, hơn 2.000 trạm trong số này là sản phẩm “Make in Vietnam” do Viettel tự nghiên cứu và phát triển. Nhờ đó, đưa Việt Nam vào nhóm ít quốc gia trên thế giới tự chủ được hạ tầng viễn thông thế hệ mới.
Mới đây nhất, vào tháng 1/2026, tập đoàn này cũng chính thức khởi công nhà máy chế tạo chip công nghệ cao đầu tiên tại Khu công nghệ cao Hòa Lạc. Dự án này là mắt xích then chốt giúp Việt Nam khép kín chuỗi sản xuất từ thiết kế đến chế tạo, dự kiến hoàn thiện vào năm 2027.
Trong khi đó, FPT đã chứng minh sự nhạy bén khi chuyển dịch mạnh mẽ sang mảng bán dẫn và AI. Công ty FPT Semiconductor trong năm 2025 đã nhận đơn đặt hàng lên tới hàng trăm triệu USD từ đối tác từ Nhật Bản, Đài Loan và Hàn Quốc. Đồng thời, việc hợp tác với Nvidia để vận hành các nhà máy AI (AI Factory) trước đó cũng đã giúp FPT cung cấp hạ tầng tính toán siêu mạnh cho các doanh nghiệp trong nước, giải quyết bài toán chủ quyền dữ liệu và tối ưu hóa chi phí cho các doanh nghiệp nội địa khi muốn ứng dụng AI vào kinh doanh...
CHÍNH PHỦ “HÀNH ĐỘNG”Có thể nói, những kết quả rực rỡ trong năm 2025 là thành quả của một sự chuyển dịch tư duy quản lý mang tính bước ngoặt, từ “cam kết” sang “hành động”, từ “văn bản” sang “thực chiến”.
Trong đó, một trong những điểm nhấn quan trọng là Quỹ Hỗ trợ đầu tư. Trong bối cảnh Thuế tối thiểu toàn cầu (GMT) được áp dụng, các biện pháp miễn giảm thuế truyền thống đã không còn là lợi thế cạnh tranh. Việt Nam đã nhanh chóng thay đổi “chiến thuật” thu hút FDI, thay vì giảm thuế, các chính sách đã hỗ trợ trực tiếp cho các hoạt động RD, đào tạo nhân lực và hạ tầng công nghệ cao cho các tập đoàn công nghệ. Đây là một bước đi “thực chiến” đúng nghĩa, giúp Việt Nam giữ chân các nhà đầu tư lớn và thu hút thêm các dự án tỷ USD.
Về mặt pháp lý, việc thông qua Luật Công nghệ cao (sửa đổi) và Luật Trí tuệ nhân tạo trong năm 2025 đã tạo ra một hành lang an toàn và minh bạch. Chính phủ đã cho phép thí điểm cơ chế sandbox (khung quản lý thử nghiệm) tại Đà Nẵng và TP. Hồ Chí Minh, cho phép các doanh nghiệp thử nghiệm những công nghệ chưa có tiền lệ như xe tự hành, drone vận tải hay các mô hình tài chính số dựa trên Blockchain. Sự linh hoạt này đã tháo gỡ những nút thắt của các thủ tục hành chính cũ, giúp doanh nghiệp rút ngắn thời gian từ phòng thí nghiệm ra thị trường.
Bên cạnh đó, chiến lược đào tạo 50.000 kỹ sư bán dẫn không còn là một con số khẩu hiệu. Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng Bộ Kế hoạch và Đầu tư (nay là Bộ Tài chính) đã phối hợp chặt chẽ để triển khai các chương trình đào tạo chuyển đổi ngắn hạn, đưa sinh viên các ngành kỹ thuật sang học chuyên sâu về chip với sự tài trợ trực tiếp từ ngân sách và các tập đoàn FDI. Việc thành lập các trung tâm đào tạo bán dẫn dùng chung (shared facilities) tại Hà Nội, Đà Nẵng và TP. Hồ Chí Minh là minh chứng cho việc Chính phủ sẵn sàng đầu tư hạ tầng đắt đỏ để doanh nghiệp và nhà trường cùng khai thác.
Nút thắt về hạ tầng năng lượng - một vấn đề sống còn của ngành bán dẫn - cũng đã được Chính phủ xử lý quyết liệt bằng cách ưu tiên nguồn điện xanh và điện ổn định cho các khu công nghệ cao. Các dự án truyền tải điện trực tiếp đã được khơi thông, cho phép các nhà máy công nghệ cao được mua điện trực tiếp từ các nguồn tái tạo, đáp ứng tiêu chuẩn ESG (môi trường - xã hội - quản trị) khắt khe của quốc tế.
Vì vậy, bước sang năm 2026, Việt Nam được kỳ vọng sẽ tiếp tục tăng tốc trong phát triển các ngành công nghệ cao, công nghệ lõi như bán dẫn, AI… để từng bước đưa kinh tế số chiếm trên 25% GDP trong giai đoạn tới.
“Với sự đồng lòng của khu vực FDI, doanh nghiệp trong nước và Chính phủ “hành động”, ngành công nghệ lõi của Việt Nam đang đứng trước cơ hội ngàn năm có một để thực hiện giấc mơ trở thành cường quốc công nghệ trong tương lai”, Phó Thủ tướng Nguyễn Chí Dũng nhấn mạnh tại buổi làm việc với Mạng lưới Đổi mới sáng tạo Việt Nam và chuyên gia các ngành công nghệ chiến lược tại Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia (NIC) cuối tháng 11/2025.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8/2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html
-Ngân Hà
Việt Nam đang ở bước ngoặt để “vươn mình” sang chu kỳ phát triển mới
Thưa Giáo sư, năm 2025 là năm cuối của giai đoạn phát triển 2021-2025. Ông sẽ lựa chọn từ khóa nào để mô tả bức tranh kinh tế của năm nay?
Nếu phải dùng từ khóa để định hình, theo tôi, có ba từ khóa quan trọng.
Từ khóa đầu tiên là “phục hồi kinh tế sau đại dịch”. Giai đoạn 2021-2025 là giai đoạn chúng ta xử lý những tác động sâu sắc lên cấu trúc và mô hình kinh tế toàn cầu sau những ảnh hưởng nặng nề từ đại dịch Covid-19. Năm 2025 ghi nhận những nỗ lực phục hồi đi vào chiều sâu, thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo để tạo ra một nền tảng mới cho nền kinh tế.
Từ khóa thứ hai là “kiên cường”. Đây là “phẩm chất” mà nền kinh tế Việt Nam đã tôi luyện và xây dựng được trong suốt những năm khó khăn vừa qua. Khả năng chống chịu trước các cú sốc bên ngoài, từ đứt gãy chuỗi cung ứng đến lạm phát toàn cầu, đã trở thành một lợi thế cạnh tranh của chúng ta.
Từ khóa quan trọng nhất chính là “vươn mình trong biến động”. Chúng ta đang chuyển dịch mạnh mẽ từ một nền kinh tế thâm dụng lao động, tài nguyên và giá trị gia tăng thấp sang một giai đoạn mới mà ở đó, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đóng vai trò nền tảng cốt lõi cho mọi hoạt động kinh doanh và tăng trưởng chất lượng.
Năm 2025 là năm kết thúc của một giai đoạn phát triển 5 năm và mở đầu cho một chu kỳ mới. Ông đánh giá thế nào về vị thế của Việt Nam trong bức tranh kinh tế toàn cầu đầy biến động hiện nay?
Việt Nam đã có được một vị thế quốc tế tốt, tiếp tục là điểm sáng trong phát triển kinh tế, ngoại giao và có thế chủ động chiến lược trong các hợp tác đối tác. Ví dụ, khi thế giới gặp thách thức từ chính sách thuế quan mới của Mỹ xuất hiện, Việt Nam đã chủ động đàm phán với Mỹ, đồng thời đẩy mạnh chiến lược đa dạng hóa thị trường, biến áp lực từ chính sách thuế quan thành “cú hích vươn mình” để mở rộng sự hiện diện trên bản đồ thương mại quốc tế.
Quá trình đa dạng hóa đã giúp chúng ta khai phá những dư địa giàu tiềm năng từ nhiều thị trường, trong đó đáng chú ý là thị trường EU với kim ngạch xuất khẩu ước đạt 51,16 tỷ USD trong 11 tháng đầu năm 2025, tăng 7,9% so với cùng kỳ năm 2024. Tuy nằm trong “hành lang hẹp” giữa hai cường quốc – một bên là nguồn nhập khẩu nguyên liệu chính (Trung Quốc), một bên là thị trường xuất khẩu lớn nhất (Mỹ) – Việt Nam đã biến thách thức thành cơ hội, khi tổng kim ngạch xuất nhập khẩu lần đầu tiên cán mốc 930 tỷ USD. Đây là một con số không tưởng nếu nhìn lại những lo ngại hồi đầu năm về chính sách thuế quan bất lợi từ Mỹ.
Thành công này xuất phát từ hai yếu tố cốt lõi: thứ nhất, khả năng thích ứng linh hoạt của nền kinh tế; thứ hai, nền tảng vĩ mô ổn định được duy trì ở mức cao. Chính phủ đã triển khai đồng bộ các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, kiểm soát tốt lạm phát và khuyến khích hoạt động RD để đổi mới mô hình kinh doanh. Các cải cách về thể chế theo hướng thông thoáng đã tạo điều kiện cho khối doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là các các “sếu đầu đàn”, thực hiện những chuyển dịch chiến lược mạnh mẽ.
Bên cạnh thương mại, câu chuyện đầu tư công và hạ tầng cũng đang được nhắc đến như một luồng sinh khí mới cho tăng trưởng năm 2025. Ông nhìn nhận như thế nào về việc hàng loạt công trình trọng điểm được khởi công đồng loạt?
Trước hết, đây là một quyết sách thể hiện ý chí và quyết tâm chính trị rất lớn của nước ta. Để Việt Nam có thể thực sự “vươn mình” trong những thập kỷ tới, chúng ta cần một nền tảng hạ tầng vừa bền vững, vừa có khả năng kiến tạo những “dòng chảy” nguồn lực. Đó không chỉ là dòng chảy hàng hóa mà còn là sự dịch chuyển tối ưu các nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực con người. Việc kết nối thông suốt giữa các vùng, miền và giữa Việt Nam với thế giới chính là tiền đề then chốt để hội nhập sâu rộng, đồng thời giải quyết bài toán chi phí logistics – một trong những điểm nghẽn lớn của nền kinh tế hiện nay.
Với hạ tầng kết nối tốt, các nhà đầu tư quốc tế sẽ không còn nhìn nhận các “hub” (trung tâm) kinh tế của Việt Nam chỉ bó hẹp tại các đầu tàu truyền thống như Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh, Hải Phòng hay Đà Nẵng. Thay vào đó, dòng vốn và cơ hội sẽ lan tỏa đến mọi vùng miền trên cả nước, hình thành nên những mắt xích mới trong chuỗi giá trị nhờ sự kết nối hạ tầng.
Việc tối ưu hóa khả năng dịch chuyển nguồn lực không chỉ thu hút vốn ngoại mà còn mở ra cơ hội tăng trưởng cho những địa phương vốn bị hạn chế về năng lực tài chính và khả năng tiếp cận. Những siêu dự án như Sân bay Long Thành, Đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam, hay các tuyến đường sắt kết nối với những trung tâm kinh tế của Trung Quốc sẽ tạo nên bước ngoặt, nâng cao vai trò, vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.
Vậy, ông nhìn nhận như thế nào về những động lực tăng trưởng trong thời gian tới khi mục tiêu đặt ra là tăng trưởng hai con số?
Ở thời điểm hiện nay, tăng trưởng 7-8% đã thuộc nhóm những nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao nhất thế giới. Để đạt được mức tăng trưởng cao hơn, chúng ta chắc chắn cần phát huy những động lực mới. Trước hết đó là kỷ nguyên số, AI và tự động hóa. Không chỉ ở cấp quốc gia, mà nhiều doanh nghiệp đã chủ động dấn thân vào các lĩnh vực mới này.
Theo Cục thống kê, khu vực kinh tế số tăng trưởng 14,6% năm 2025, đạt trên 72 tỷ USD, và đóng góp hơn 14% vào GDP. Việt Nam đã có bước nhảy vọt trong việc đầu tư và ứng dụng kinh tế số. Khi được hỗ trợ bởi dữ liệu, hệ sinh thái kinh tế số sẽ có kỳ vọng phát triển hơn nữa. Quy hoạch lại không gian phát triển mới với những kết nối hạ tầng chiến lược và tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế, môi trường kinh doanh là hai động lực khác rất quan trọng để tạo sức đột phá cho nền kinh tế.
Điều cần chú ý là khoa học, công nghệ phải đóng vai trò trụ cột giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh bền vững, tạo đà để vừa phát huy các động lực truyền thống như xuất khẩu, đầu tư công, vừa khai phá những động lực mới.
Trong bối cảnh hiện nay, bên cạnh mục tiêu tăng trưởng hai con số để hướng tới tầm nhìn 2045 thì chúng ta phải quan tâm đến những vấn đề lớn gì khác, thưa ông?
Tôi tin rằng mục tiêu cao nhất của Việt Nam không chỉ là trở thành nước thu nhập cao, mà là kiến tạo hạnh phúc và thịnh vượng cho nhân dân. Trong quá trình chuyển từ thu nhập trung bình cao lên thu nhập cao, tăng trưởng phải đi kèm tính bao trùm, bảo đảm mọi người dân đều có cơ hội đóng góp và thụ hưởng thành quả phát triển. Các chỉ số tăng trưởng chỉ là công cụ; điều quan trọng là xây dựng một mô hình kinh tế cân bằng giữa chất lượng tăng trưởng và tiến bộ xã hội.
Khát vọng thịnh vượng đòi hỏi sự chuyển mình đồng bộ của cả hệ thống. Tăng trưởng bền vững không thể dựa vào một khu vực riêng lẻ; sự kết hợp giữa “bàn tay Nhà nước” và “động lực tư nhân” chỉ hiệu quả khi điểm nghẽn thể chế được tháo gỡ. Yêu cầu là tiếp tục tạo ra những cơ chế vận hành thông thoáng, kỷ luật cao, bảo đảm quyền lợi của các chủ thể kinh tế, đồng thời thúc đẩy sáng tạo và cạnh tranh bình đẳng. Thể chế cũng phải có tính “mở”, cho phép thử nghiệm, sáng tạo và cập nhật liên tục, nhất là trong những vấn đề mới.
Chìa khóa cũng nằm ở sự thúc đẩy liên kết giữa các ngành, các lĩnh vực để tăng tính toàn hoàn cho kinh tế, tiết kiệm nguồn lực và đẩy mạnh hàm lượng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo trong mô hình kinh doanh.
Theo ông, trong bối cảnh nguồn lực còn hạn chế, làm thế nào để Việt Nam tạo ra đột phá dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo?
Tôi cho rằng nguồn lực là rất quan trọng, nhưng chính những ràng buộc về nguồn lực mới là động lực mạnh mẽ nhất cho sự thay đổi đột phá. Lịch sử đã chứng minh, sức sáng tạo của chúng ta thường đạt đỉnh khi bị đặt vào những giới hạn. Từ tinh thần “vừa đánh vừa học hỏi kinh nghiệm” của quân đội ta trong những ngày đầu thành lập hay bài học của Trung Quốc từ “công xưởng thô sơ” vươn lên dẫn đầu về AI, viễn thông và vũ trụ đều cho thấy: khi không có nguồn lực vô hạn, chúng ta buộc phải tìm con đường riêng, thông minh hơn và hiệu quả hơn.
Việt Nam không nên đi theo lối mòn của thế giới, vốn đòi hỏi vốn đầu tư khổng lồ. Thay vào đó, trong giai đoạn nguồn lực chưa dồi dào, chúng ta cần tập trung đầu tư công vào các công nghệ chiến lược, đồng thời tìm cách kích hoạt tối đa năng lực sáng tạo nội sinh. Ý thức về giới hạn và khát vọng mục tiêu lớn là nền tảng tạo nên những đột phá đưa Việt Nam tăng trưởng bứt phá.
Để hiện thực hóa tầm nhìn đó, khu vực tư nhân cần những cơ chế gì để vươn tầm quốc tế (Go Global) và đóng góp sâu hơn vào chuỗi giá trị?
Bên cạnh các ưu đãi về thuế, RD và hỗ trợ mở rộng thị trường, nhất là đối với các doanh nghiệp trong những lĩnh vực ưu tiên, thì mấu chốt nằm ở mô hình hợp tác “Ba nhà” (Nhà nước - nhà trường - nhà doanh nghiệp). Nhà nước giữ vai trò kiến tạo với một thể chế mở và cơ chế Sandbox linh hoạt; nhà trường trở thành trung tâm tri thức và chuyển giao công nghệ; doanh nghiệp đóng vai trò ứng dụng và đổi mới để nâng cao năng suất và giá trị gia tăng, từ đó thu hẹp khoảng cách phát triển với thế giới.
Xây dựng một hệ sinh thái doanh nghiệp hoàn chỉnh la rất cần thiết. Trong đó, những doanh nghiệp dẫn dắt tạo điều kiện và không gian hợp tác với các doanh nghiệp vừa và nhỏ nội địa để cùng phát triển chuỗi giá trị. Khi đó chúng ta sẽ có một “bộ đỡ” kinh tế tư nhân thuần Việt vững mạnh, có khả năng tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu, giúp nền kinh tế đứng vững trước các cú sốc bên ngoài và duy trì đà tăng trưởng bền vững.
Trong bối cảnh kinh tế thế giới đầy biến động, làm thế nào để Việt Nam vừa hiện thực hóa tham vọng tăng trưởng hai con số, vừa đảm bảo được các mục tiêu định tính về sự ổn định trong năm 2026?
Việt Nam cần tiếp tục phát huy những nền tảng đã tạo dựng được để duy trì ổn định và tăng trưởng. Đầu tiên là dư địa tài khóa ở ngưỡng an toàn với nợ công ở mức thấp, cho phép Chính phủ linh hoạt hỗ trợ doanh nghiệp và người dân trước các cú sốc bất lợi. Tiếp đến là kiểm soát lạm phát hiệu quả giúp bảo vệ sức mua của người lao động, qua đó duy trì năng suất và chất lượng tăng trưởng. Việt Nam cũng giữ được sự tự chủ trong điều hành kinh tế vĩ mô, không bị cuốn theo các biến động chính sách của những nền kinh tế lớn, tạo ra môi trường ổn định hơn so với nhiều khu vực khác.
Bên cạnh đó, vị thế địa chính trị chiến lược giúp Việt Nam trở thành mắt xích quan trọng trong ổn định khu vực, đồng thời tận dụng lợi thế này để mở rộng hợp tác đa phương hài hoà cùng có lợi và củng cố vai trò trên trường quốc tế.
Chính những nền tảng trên đã tạo nên một “sức hút chiến lược”. Khi các tập đoàn đa quốc gia mở rộng ra thế giới, Việt Nam càng có nhiều cơ hội trở thành lựa chọn đầu tư hàng đầu trong khu vực. Điển hình là lĩnh vực chip và bán dẫn: việc các cường quốc và tập đoàn công nghệ chọn Việt Nam làm mắt xích an toàn của chuỗi cung ứng toàn cầu sẽ kéo theo sự dịch chuyển của nhiều doanh nghiệp vệ tinh.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html
-
Việt Nam đang ở bước ngoặt để “vươn mình” sang chu kỳ phát triển mới
Thưa Giáo sư, năm 2025 là năm cuối của giai đoạn phát triển 2021-2025. Ông sẽ lựa chọn từ khóa nào để mô tả bức tranh kinh tế của năm nay?
Nếu phải dùng từ khóa để định hình, theo tôi, có ba từ khóa quan trọng.
Từ khóa đầu tiên là “phục hồi kinh tế sau đại dịch”. Giai đoạn 2021-2025 là giai đoạn chúng ta xử lý những tác động sâu sắc lên cấu trúc và mô hình kinh tế toàn cầu sau những ảnh hưởng nặng nề từ đại dịch Covid-19. Năm 2025 ghi nhận những nỗ lực phục hồi đi vào chiều sâu, thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo để tạo ra một nền tảng mới cho nền kinh tế.
Từ khóa thứ hai là “kiên cường”. Đây là “phẩm chất” mà nền kinh tế Việt Nam đã tôi luyện và xây dựng được trong suốt những năm khó khăn vừa qua. Khả năng chống chịu trước các cú sốc bên ngoài, từ đứt gãy chuỗi cung ứng đến lạm phát toàn cầu, đã trở thành một lợi thế cạnh tranh của chúng ta.
Từ khóa quan trọng nhất chính là “vươn mình trong biến động”. Chúng ta đang chuyển dịch mạnh mẽ từ một nền kinh tế thâm dụng lao động, tài nguyên và giá trị gia tăng thấp sang một giai đoạn mới mà ở đó, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đóng vai trò nền tảng cốt lõi cho mọi hoạt động kinh doanh và tăng trưởng chất lượng.
Năm 2025 là năm kết thúc của một giai đoạn phát triển 5 năm và mở đầu cho một chu kỳ mới. Ông đánh giá thế nào về vị thế của Việt Nam trong bức tranh kinh tế toàn cầu đầy biến động hiện nay?
Việt Nam đã có được một vị thế quốc tế tốt, tiếp tục là điểm sáng trong phát triển kinh tế, ngoại giao và có thế chủ động chiến lược trong các hợp tác đối tác. Ví dụ, khi thế giới gặp thách thức từ chính sách thuế quan mới của Mỹ xuất hiện, Việt Nam đã chủ động đàm phán với Mỹ, đồng thời đẩy mạnh chiến lược đa dạng hóa thị trường, biến áp lực từ chính sách thuế quan thành “cú hích vươn mình” để mở rộng sự hiện diện trên bản đồ thương mại quốc tế.
Quá trình đa dạng hóa đã giúp chúng ta khai phá những dư địa giàu tiềm năng từ nhiều thị trường, trong đó đáng chú ý là thị trường EU với kim ngạch xuất khẩu ước đạt 51,16 tỷ USD trong 11 tháng đầu năm 2025, tăng 7,9% so với cùng kỳ năm 2024. Tuy nằm trong “hành lang hẹp” giữa hai cường quốc – một bên là nguồn nhập khẩu nguyên liệu chính (Trung Quốc), một bên là thị trường xuất khẩu lớn nhất (Mỹ) – Việt Nam đã biến thách thức thành cơ hội, khi tổng kim ngạch xuất nhập khẩu lần đầu tiên cán mốc 930 tỷ USD. Đây là một con số không tưởng nếu nhìn lại những lo ngại hồi đầu năm về chính sách thuế quan bất lợi từ Mỹ.
Thành công này xuất phát từ hai yếu tố cốt lõi: thứ nhất, khả năng thích ứng linh hoạt của nền kinh tế; thứ hai, nền tảng vĩ mô ổn định được duy trì ở mức cao. Chính phủ đã triển khai đồng bộ các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, kiểm soát tốt lạm phát và khuyến khích hoạt động RD để đổi mới mô hình kinh doanh. Các cải cách về thể chế theo hướng thông thoáng đã tạo điều kiện cho khối doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là các các “sếu đầu đàn”, thực hiện những chuyển dịch chiến lược mạnh mẽ.
Bên cạnh thương mại, câu chuyện đầu tư công và hạ tầng cũng đang được nhắc đến như một luồng sinh khí mới cho tăng trưởng năm 2025. Ông nhìn nhận như thế nào về việc hàng loạt công trình trọng điểm được khởi công đồng loạt?
Trước hết, đây là một quyết sách thể hiện ý chí và quyết tâm chính trị rất lớn của nước ta. Để Việt Nam có thể thực sự “vươn mình” trong những thập kỷ tới, chúng ta cần một nền tảng hạ tầng vừa bền vững, vừa có khả năng kiến tạo những “dòng chảy” nguồn lực. Đó không chỉ là dòng chảy hàng hóa mà còn là sự dịch chuyển tối ưu các nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực con người. Việc kết nối thông suốt giữa các vùng, miền và giữa Việt Nam với thế giới chính là tiền đề then chốt để hội nhập sâu rộng, đồng thời giải quyết bài toán chi phí logistics – một trong những điểm nghẽn lớn của nền kinh tế hiện nay.
Với hạ tầng kết nối tốt, các nhà đầu tư quốc tế sẽ không còn nhìn nhận các “hub” (trung tâm) kinh tế của Việt Nam chỉ bó hẹp tại các đầu tàu truyền thống như Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh, Hải Phòng hay Đà Nẵng. Thay vào đó, dòng vốn và cơ hội sẽ lan tỏa đến mọi vùng miền trên cả nước, hình thành nên những mắt xích mới trong chuỗi giá trị nhờ sự kết nối hạ tầng.
Việc tối ưu hóa khả năng dịch chuyển nguồn lực không chỉ thu hút vốn ngoại mà còn mở ra cơ hội tăng trưởng cho những địa phương vốn bị hạn chế về năng lực tài chính và khả năng tiếp cận. Những siêu dự án như Sân bay Long Thành, Đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam, hay các tuyến đường sắt kết nối với những trung tâm kinh tế của Trung Quốc sẽ tạo nên bước ngoặt, nâng cao vai trò, vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.
Vậy, ông nhìn nhận như thế nào về những động lực tăng trưởng trong thời gian tới khi mục tiêu đặt ra là tăng trưởng hai con số?
Ở thời điểm hiện nay, tăng trưởng 7-8% đã thuộc nhóm những nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao nhất thế giới. Để đạt được mức tăng trưởng cao hơn, chúng ta chắc chắn cần phát huy những động lực mới. Trước hết đó là kỷ nguyên số, AI và tự động hóa. Không chỉ ở cấp quốc gia, mà nhiều doanh nghiệp đã chủ động dấn thân vào các lĩnh vực mới này.
Theo Cục thống kê, khu vực kinh tế số tăng trưởng 14,6% năm 2025, đạt trên 72 tỷ USD, và đóng góp hơn 14% vào GDP. Việt Nam đã có bước nhảy vọt trong việc đầu tư và ứng dụng kinh tế số. Khi được hỗ trợ bởi dữ liệu, hệ sinh thái kinh tế số sẽ có kỳ vọng phát triển hơn nữa. Quy hoạch lại không gian phát triển mới với những kết nối hạ tầng chiến lược và tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế, môi trường kinh doanh là hai động lực khác rất quan trọng để tạo sức đột phá cho nền kinh tế.
Điều cần chú ý là khoa học, công nghệ phải đóng vai trò trụ cột giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh bền vững, tạo đà để vừa phát huy các động lực truyền thống như xuất khẩu, đầu tư công, vừa khai phá những động lực mới.
Trong bối cảnh hiện nay, bên cạnh mục tiêu tăng trưởng hai con số để hướng tới tầm nhìn 2045 thì chúng ta phải quan tâm đến những vấn đề lớn gì khác, thưa ông?
Tôi tin rằng mục tiêu cao nhất của Việt Nam không chỉ là trở thành nước thu nhập cao, mà là kiến tạo hạnh phúc và thịnh vượng cho nhân dân. Trong quá trình chuyển từ thu nhập trung bình cao lên thu nhập cao, tăng trưởng phải đi kèm tính bao trùm, bảo đảm mọi người dân đều có cơ hội đóng góp và thụ hưởng thành quả phát triển. Các chỉ số tăng trưởng chỉ là công cụ; điều quan trọng là xây dựng một mô hình kinh tế cân bằng giữa chất lượng tăng trưởng và tiến bộ xã hội.
Khát vọng thịnh vượng đòi hỏi sự chuyển mình đồng bộ của cả hệ thống. Tăng trưởng bền vững không thể dựa vào một khu vực riêng lẻ; sự kết hợp giữa “bàn tay Nhà nước” và “động lực tư nhân” chỉ hiệu quả khi điểm nghẽn thể chế được tháo gỡ. Yêu cầu là tiếp tục tạo ra những cơ chế vận hành thông thoáng, kỷ luật cao, bảo đảm quyền lợi của các chủ thể kinh tế, đồng thời thúc đẩy sáng tạo và cạnh tranh bình đẳng. Thể chế cũng phải có tính “mở”, cho phép thử nghiệm, sáng tạo và cập nhật liên tục, nhất là trong những vấn đề mới.
Chìa khóa cũng nằm ở sự thúc đẩy liên kết giữa các ngành, các lĩnh vực để tăng tính toàn hoàn cho kinh tế, tiết kiệm nguồn lực và đẩy mạnh hàm lượng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo trong mô hình kinh doanh.
Theo ông, trong bối cảnh nguồn lực còn hạn chế, làm thế nào để Việt Nam tạo ra đột phá dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo?
Tôi cho rằng nguồn lực là rất quan trọng, nhưng chính những ràng buộc về nguồn lực mới là động lực mạnh mẽ nhất cho sự thay đổi đột phá. Lịch sử đã chứng minh, sức sáng tạo của chúng ta thường đạt đỉnh khi bị đặt vào những giới hạn. Từ tinh thần “vừa đánh vừa học hỏi kinh nghiệm” của quân đội ta trong những ngày đầu thành lập hay bài học của Trung Quốc từ “công xưởng thô sơ” vươn lên dẫn đầu về AI, viễn thông và vũ trụ đều cho thấy: khi không có nguồn lực vô hạn, chúng ta buộc phải tìm con đường riêng, thông minh hơn và hiệu quả hơn.
Việt Nam không nên đi theo lối mòn của thế giới, vốn đòi hỏi vốn đầu tư khổng lồ. Thay vào đó, trong giai đoạn nguồn lực chưa dồi dào, chúng ta cần tập trung đầu tư công vào các công nghệ chiến lược, đồng thời tìm cách kích hoạt tối đa năng lực sáng tạo nội sinh. Ý thức về giới hạn và khát vọng mục tiêu lớn là nền tảng tạo nên những đột phá đưa Việt Nam tăng trưởng bứt phá.
Để hiện thực hóa tầm nhìn đó, khu vực tư nhân cần những cơ chế gì để vươn tầm quốc tế (Go Global) và đóng góp sâu hơn vào chuỗi giá trị?
Bên cạnh các ưu đãi về thuế, RD và hỗ trợ mở rộng thị trường, nhất là đối với các doanh nghiệp trong những lĩnh vực ưu tiên, thì mấu chốt nằm ở mô hình hợp tác “Ba nhà” (Nhà nước - nhà trường - nhà doanh nghiệp). Nhà nước giữ vai trò kiến tạo với một thể chế mở và cơ chế Sandbox linh hoạt; nhà trường trở thành trung tâm tri thức và chuyển giao công nghệ; doanh nghiệp đóng vai trò ứng dụng và đổi mới để nâng cao năng suất và giá trị gia tăng, từ đó thu hẹp khoảng cách phát triển với thế giới.
Xây dựng một hệ sinh thái doanh nghiệp hoàn chỉnh la rất cần thiết. Trong đó, những doanh nghiệp dẫn dắt tạo điều kiện và không gian hợp tác với các doanh nghiệp vừa và nhỏ nội địa để cùng phát triển chuỗi giá trị. Khi đó chúng ta sẽ có một “bộ đỡ” kinh tế tư nhân thuần Việt vững mạnh, có khả năng tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu, giúp nền kinh tế đứng vững trước các cú sốc bên ngoài và duy trì đà tăng trưởng bền vững.
Trong bối cảnh kinh tế thế giới đầy biến động, làm thế nào để Việt Nam vừa hiện thực hóa tham vọng tăng trưởng hai con số, vừa đảm bảo được các mục tiêu định tính về sự ổn định trong năm 2026?
Việt Nam cần tiếp tục phát huy những nền tảng đã tạo dựng được để duy trì ổn định và tăng trưởng. Đầu tiên là dư địa tài khóa ở ngưỡng an toàn với nợ công ở mức thấp, cho phép Chính phủ linh hoạt hỗ trợ doanh nghiệp và người dân trước các cú sốc bất lợi. Tiếp đến là kiểm soát lạm phát hiệu quả giúp bảo vệ sức mua của người lao động, qua đó duy trì năng suất và chất lượng tăng trưởng. Việt Nam cũng giữ được sự tự chủ trong điều hành kinh tế vĩ mô, không bị cuốn theo các biến động chính sách của những nền kinh tế lớn, tạo ra môi trường ổn định hơn so với nhiều khu vực khác.
Bên cạnh đó, vị thế địa chính trị chiến lược giúp Việt Nam trở thành mắt xích quan trọng trong ổn định khu vực, đồng thời tận dụng lợi thế này để mở rộng hợp tác đa phương hài hoà cùng có lợi và củng cố vai trò trên trường quốc tế.
Chính những nền tảng trên đã tạo nên một “sức hút chiến lược”. Khi các tập đoàn đa quốc gia mở rộng ra thế giới, Việt Nam càng có nhiều cơ hội trở thành lựa chọn đầu tư hàng đầu trong khu vực. Điển hình là lĩnh vực chip và bán dẫn: việc các cường quốc và tập đoàn công nghệ chọn Việt Nam làm mắt xích an toàn của chuỗi cung ứng toàn cầu sẽ kéo theo sự dịch chuyển của nhiều doanh nghiệp vệ tinh.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html
-
Quảng Ninh đón 5 du thuyền quốc tế dịp Tết Bính Ngọ 2026
Sáng 17/2 (mùng 1 Tết Bính Ngọ), Cảng tàu khách quốc tế Hạ Long (Quảng Ninh) đã đón 2 du thuyền hạng sang chở theo gần 2.400 du khách quốc tế tham quan mở đầu cho chuỗi hoạt động đón 5 du thuyền quốc tế tham quan vùng di sản trong những ngày đầu xuân mới Bính Ngọ 2026.
2 du thuyền quốc tế cập Cảng tàu khách quốc tế Hạ Long.Du thuyền Seabourn Encore chở theo 571 du khách châu Âu và du thuyền Piano Land chở khoảng 1793 du khách chủ yếu đến từ Hồng Kông (Trung Quốc) đã cập cảng tàu khách quốc tế Hạ Long trong không khí hân hoan ngày đầu năm mới.
Đại diện lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh, Sở Văn hoá – Thể thao và Du lịch, Cảng tàu khách quốc tế Hạ Long và cơ quan chức năng đã chào đón du khách quốc tế xông đất đầu năm với các nghi lễ truyền thống của Việt Nam như trống hội, múa lân, tặng hoa, lì xì cho du khách.
Du khách quốc tế rời tàu bắt đầu chuyến tham quan di sản vịnh Hạ Long.Bà Maria Thompson, du khách người Anh, đến từ du thuyền Seabourn Encore, cho biết bà rất bất ngờ trước sự đón tiếp nồng hậu từ địa phương. “Tôi rất ấn tượng với nghi thức tết cổ truyền của Việt Nam. Đây chính khởi đầu tuyệt vời trên hành trình khám phá vịnh di sản”, bà Maria Thompson nói.
Ông Lý Kiến Hoa, du khách Trung Quốc đến từ tàu Piano Land, đánh giá cao sự chuyên nghiệp, hiếu khách của Việt Nam. “Chất lượng dịch vụ du lịch Việt Nam ngày càng tiệm cận chuẩn mực quốc tế, tạo ấn tượng tốt đẹp đối với chúng tôi”, ông Lý Kiến Hoa nói.
Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh Bùi Văn Khắng lì xì du khách quốc tế.Sau lễ đón, du khách sẽ có lịch trình tham quan Di sản Thiên nhiên Thế giới Vịnh Hạ Long với chương trình city tour khám phá văn hóa, ẩm thực, nhịp sống địa phương. Công tác nhập cảnh, an ninh và điều phối tour được triển khai đồng bộ, nhanh chóng, bảo đảm an toàn, thuận tiện.
Du khách quốc tế nhận quà lưu niệm tại Cảng tàu khách quốc tế Hạ Long.Sau 2 du thuyền Seabourn Encore và Piano Land, tới đây, trong các ngày 19/2 (mùng 3 Tết), 20/2 (mùng 4 Tết) và 24/2 (mùng 8 Tết), Cảng tàu khách quốc tế Hạ Long sẽ tiếp tục đón các du thuyền Le Jacques Cartier (quốc tịch Pháp), Adora Mediterranea (quốc tịch Bahamas) và Silver Nova (quốc tịch Bahamas).
Du khách quốc tế chụp ảnh lưu niệm tại Cảng tàu khách quốc tế Hạ Long. Du khách rời cảng đi tham quan di sản vịnh Hạ Long.Sự kiện Cảng tàu khách quốc tế Hạ Long liên tiếp đón 5 siêu du thuyền trong dịp tết Nguyên đán cho thấy Quảng Ninh đang trở thành điểm đến ưa thích trên hải trình của nhiều hãng tàu quốc tế.
Dự kiến trong năm 2026, Cảng tàu khách quốc tế Hạ Long sẽ đón khoảng 88 chuyến tàu biển với khoảng 150.000 lượt khách đến từ các thị trường trọng điểm như Mỹ, Đức, Anh, Canada, Trung Quốc và nhiều quốc gia châu Âu.
-Mai Hoàng
Nhà mạng nào đang dẫn đầu tốc độ mạng di động 5G?
Ghi nhận từ nền tảng đo tốc độ i-Speed của Trung tâm Internet Việt Nam (VNNIC, Bộ Khoa học và Công nghệ), trong tháng 1/2026, chất lượng mạng 5G trên phạm vi toàn quốc tiếp tục cải thiện rõ rệt.
Cụ thể, tốc độ tải xuống (download) trung bình của 5G toàn quốc đạt 594,81 Mbps, nhanh hơn 52% so tốc độ tải xuống 391,05 Mbps của tháng 12/2025. Đáng chú ý, tốc độ tải lên (upload) đạt 123,71 Mbps, nhanh hơn 29,5% so với tốc độ 95,47 Mbps được ghi nhận trong tháng trước.
Xét theo từng nhà mạng, Viettel tiếp tục dẫn đầu về tốc độ mạng di động 5G trong tháng 1/2026. Tốc độ tải xuống trong tháng vừa qua của nhà mạng này là 616,99 Mbps, cải thiện 53,2% so với tốc độ 402,61 Mbps của tháng 12/2025. Tốc độ tải lên mạng di động 5G của Viettel cũng tăng từ 98,4 Mbps lên 127,09 Mbps, củng cố vị trí dẫn đầu của nhà mạng này.
Đứng thứ hai là VNPT với tốc độ tải xuống đạt 311,11 Mbps và tải lên 52,7 Mbps. Đây cũng là nhà mạng duy trì chất lượng 5G ổn định nhất, ít biến động trong khoảng 8 tháng qua.
MobiFone đứng thứ ba với tốc độ tải xuống 5G đạt 187,57 Mbps và tải lên 35,33 Mbps. So với mức đỉnh ghi nhận vào tháng 11/2025, tốc độ hiện tại đã giảm khoảng 57%.
Ở cấp độ địa phương, trong nhóm các đô thị lớn gồm Hà Nội, Hải Phòng, TP. Hồ Chí Minh, Cần Thơ và Đà Nẵng, Đà Nẵng tiếp tục giữ vị trí dẫn đầu về tốc độ 5G với mức tải xuống đạt 677,23 Mbps. Xếp sau là TP. Hồ Chí Minh và Cần Thơ – hai địa phương ghi nhận mức tăng trưởng bứt phá trong tháng. Cụ thể, TP. Hồ Chí Minh đạt 632,02 Mbps, tăng 86% so với tháng trước; trong khi Cần Thơ đạt 595,88 Mbps, tăng 83,9%.
Tính chung mạng di động (bao gồm cả 4G và 5G), chất lượng toàn quốc trong tháng 1/2026 duy trì ổn định. Tốc độ tải xuống trung bình đạt 90,05 Mbps, trong khi tốc độ tải lên đạt 29,77 Mbps.
Thứ hạng giữa các nhà mạng gần như không thay đổi. Viettel tiếp tục dẫn đầu với tốc độ tải xuống trung bình 111,18 Mbps và tải lên 31,66 Mbps. VNPT đứng thứ hai với 73,33 Mbps (tải xuống) và 28,82 Mbps (tải lên). MobiFone xếp thứ ba với 55,42 Mbps và 23,64 Mbps. Vietnamobile tiếp tục đứng cuối bảng, với tốc độ tải xuống 11,09 Mbps và tải lên 4,74 Mbps.
Ở góc độ địa phương, chất lượng mạng di động tại Hải Phòng giảm mạnh, khi tốc độ tải xuống từ 221,19 Mbps trong tháng 12/2025 xuống còn 105,36 Mbps trong tháng 1/2026. Cần Thơ và Đà Nẵng cũng ghi nhận mức sụt giảm. Ngược lại, TP. Hồ Chí Minh và Hà Nội lại cải thiện tốc độ so với tháng trước đó.
Đối với mạng băng rộng cố định, chất lượng dịch vụ trên toàn quốc trong tháng 1/2026 duy trì ổn định. Tốc độ tải xuống trung bình đạt 256,86 Mbps, còn tải lên đạt 170,28 Mbps.
Tại các đô thị lớn gồm Hà Nội, Hải Phòng, TP. Hồ Chí Minh, Cần Thơ và Đà Nẵng, chất lượng mạng cố định nhìn chung được duy trì đồng đều. Hà Nội tiếp tục là địa phương dẫn đầu về tốc độ mạng cố định kể từ tháng 6/2025, với tốc độ tải xuống đạt 337,31 Mbps.
Về xếp hạng nhà cung cấp dịch vụ băng rộng cố định, Viettel giữ vị trí số một với tốc độ tải xuống 300,96 Mbps và tải lên 229,53 Mbps.
Nhờ tốc độ mạng tăng trưởng mạnh trong tháng qua, CMC Telecom đã vươn lên vị trí thứ hai về chất lượng mạng băng rộng cố định. Cụ thể, tốc độ tải xuống tăng từ 229,31 Mbps lên 268,61 Mbps, tương đương mức tăng khoảng 17,1%. Đáng chú ý hơn, tốc độ tải lên tăng từ 80,85 Mbps lên 109,41 Mbps, tức tăng khoảng 35,3%.
VNPT xếp thứ ba với tốc độ tải xuống 250,6 Mbps và tải lên 167,42 Mbps. Theo sau là FPT Telecom với 172,6 Mbps (tải xuống) và 104,53 Mbps (tải lên). Ở các vị trí tiếp theo, SCTV đạt 95,11 Mbps và 32,92 Mbps, trong khi NETNAM ghi nhận 68,22 Mbps (tải xuống) và 70,54 Mbps (tải lên).
-Ngô Huyền
Tết Trung Quốc trong kỷ nguyên công nghệ: khi lễ hội trở thành ngành công nghiệp sáng tạo
Theo Nhật Báo Trung Quốc (China Daily), tại Thuần An, một huyện cổ ở tỉnh Chiết Giang, những vũ công dân gian vẫn mang theo khung tre mô phỏng hình ngựa, nhảy múa theo nhịp trống truyền thống.
Trong khi đó, cách hàng nghìn km về phía nam, bầu trời Thâm Quyến được “vẽ” bởi hàng nghìn máy bay không người lái tạo hình đàn ngựa phi nước đại với độ chính xác tính bằng milimet.
Hai lát cắt này cho thấy một Trung Quốc đang tìm cách kết nối quá khứ nông nghiệp với tương lai số hóa thông qua lễ hội quan trọng nhất trong năm.
DI SẢN VĂN HÓA TRONG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN MỚI
Múa ngựa tre ở huyện Thuần An là một ví dụ điển hình của nghệ thuật dân gian có lịch sử nhiều thế kỷ. Hình ảnh con ngựa gắn liền với các cộng đồng nông nghiệp, nơi ngựa từng là phương tiện vận chuyển và biểu tượng của sức lao động. Trong hệ thống biểu tượng văn hóa Á Đông, ngựa đại diện cho sự bền bỉ, năng động và tinh thần tiên phong - những phẩm chất thường được nhấn mạnh trong các thông điệp phát triển quốc gia.
Điều đáng chú ý là cách Trung Quốc tiếp cận bảo tồn di sản. Thay vì giữ nguyên hình thức biểu diễn mang tính “bảo tàng sống”, các hoạt động dân gian được mở rộng quy mô, kết hợp vũ đạo hiện đại và huy động cộng đồng tham gia rộng rãi. Đây là mô hình “bảo tồn động”, trong đó di sản trở thành sản phẩm văn hóa phục vụ du lịch và giáo dục cộng đồng.
Việc công nhận múa ngựa tre là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia không chỉ mang ý nghĩa bảo tồn mà còn tạo cơ sở pháp lý để đầu tư công, phát triển sản phẩm du lịch và thúc đẩy kinh tế địa phương. Với hàng trăm buổi biểu diễn trong mùa lễ hội, các địa phương có thể thu hút dòng khách du lịch nội địa vốn đang tăng mạnh trong kỳ nghỉ Tết.
CÔNG NGHỆ TÁI ĐỊNH NGHĨA TRẢI NGHIỆM LỄ HỘI
Nếu di sản dân gian đại diện cho “truyền thống hữu hình”, thì trình diễn drone tại Thâm Quyến thể hiện rõ nét chiến lược chuyển dịch sang công nghệ xanh và công nghiệp sáng tạo. Thay vì pháo hoa gây ô nhiễm và tiếng ồn, hàng nghìn drone được điều khiển bằng thuật toán đã biến bầu trời thành một không gian trình diễn kỹ thuật số.
Từ góc độ công nghệ, các màn trình diễn này là bài toán phức tạp về điều khiển đồng bộ, định vị chính xác và xử lý dữ liệu thời gian thực. Các doanh nghiệp Trung Quốc đang sử dụng lễ hội như một “sân khấu” để trình diễn năng lực công nghệ, đồng thời quảng bá các giải pháp điều khiển bay, phần mềm dựng hình 3D và hệ thống điều phối không người lái.
Đối với khán giả, trải nghiệm lễ hội đã chuyển từ thụ động sang tương tác. Các nội dung trình diễn được thiết kế để dễ dàng ghi lại bằng smartphone và lan truyền trên mạng xã hội, biến người xem thành một phần của hệ sinh thái truyền thông. Điều này phù hợp với chiến lược “nền kinh tế chú ý”, nơi giá trị được tạo ra từ lượt xem, chia sẻ và dữ liệu người dùng.
Bên cạnh drone, trí tuệ nhân tạo và robot đang dần tham gia vào các hoạt động Tết. Từ robot xuất hiện trên sân khấu gala truyền hình, đến cánh tay robot phục vụ đồ uống tại hội chợ đền chùa, công nghệ đang tái định nghĩa cách con người trải nghiệm lễ hội và tạo ra nhu cầu mới cho phần cứng robot, phần mềm AI và nội dung số.LỄ HỘI, QUYỀN LỰC MỀM VÀ KINH TẾ SÁNG TẠO
Không chỉ phục vụ thị trường nội địa, các doanh nghiệp Trung Quốc đang đưa mô hình trình diễn công nghệ ra thế giới, trở thành một dạng “xuất khẩu dịch vụ sáng tạo”. Đây là lĩnh vực nằm trong chuỗi giá trị mới, kết hợp phần cứng, phần mềm, nội dung sáng tạo và dịch vụ tổ chức sự kiện.
Ở góc độ chính sách, Trung Quốc đang coi văn hóa và công nghệ là hai trụ cột của nền kinh tế dịch vụ. Các sự kiện lễ hội công nghệ cao vừa phục vụ tiêu dùng trong nước, vừa tạo hình ảnh về một quốc gia đổi mới và thân thiện môi trường.
Tết Nguyên đán cũng trở thành công cụ quyền lực mềm trong kỷ nguyên số. Các hình ảnh lễ hội công nghệ cao được lan truyền toàn cầu, góp phần xây dựng câu chuyện quốc gia về đổi mới sáng tạo.
Đồng thời, lễ hội ánh sáng, trình diễn drone và sự kiện văn hóa về đêm đang được tích hợp vào chiến lược phát triển kinh tế ban đêm và đô thị thông minh, thúc đẩy du lịch, bán lẻ và dịch vụ.
Tuy nhiên, việc công nghệ hóa lễ hội cũng đặt ra thách thức về bảo tồn bản sắc khi các hoạt động dân gian có nguy cơ bị “làm nền”. Các nhà nghiên cứu văn hóa cho rằng chìa khóa nằm ở sự cân bằng: công nghệ là công cụ, còn bản sắc văn hóa phải là lõi nội dung.
Tết Nguyên đán 2026 cho thấy Trung Quốc đang biến lễ hội thành một nền tảng đa chức năng: bảo tồn văn hóa, thử nghiệm công nghệ, thúc đẩy tiêu dùng và quảng bá quốc gia. Sự kết hợp giữa múa dân gian hàng thế kỷ và trình diễn công nghệ cao phản ánh chiến lược phát triển dựa trên sáng tạo và công nghệ.
Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu chuyển dịch sang dịch vụ và nội dung số, lễ hội không còn chỉ là truyền thống mà đang trở thành một phần của nền kinh tế sáng tạo. Với biểu tượng con ngựa của tốc độ và tiến lên, Trung Quốc đang sử dụng chính Tết Nguyên đán như một động cơ văn hóa - công nghệ để bước vào kỷ nguyên AI.
China Daily-Trọng Hoàng
Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản lập kỷ lục tạo đà bứt phá năm 2026
Năm 2025 đã chứng kiến một bước ngoặt quan trọng trong lĩnh vực xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam khi kim ngạch đạt mức kỷ lục hơn 70 tỷ USD. Đây không chỉ là một con số ấn tượng mà còn là minh chứng cho sự phát triển mạnh mẽ và bền vững của ngành nông nghiệp nước ta.
Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đang dần phục hồi sau đại dịch, thành tựu này không chỉ khẳng định vị thế của nông sản Việt trên thị trường quốc tế mà còn mở ra những triển vọng mới cho năm 2026.
Theo số liệu từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản năm 2025 đạt 70,09 tỷ USD, tăng 12% so với năm 2024 và vượt xa mục tiêu 65 tỷ USD đã đề ra.
Đáng chú ý, xuất siêu toàn ngành đạt khoảng 20,7 tỷ USD, tăng 16,8% so với năm trước. Trong cơ cấu xuất khẩu, nhóm nông sản tiếp tục giữ vai trò chủ lực với 37,25 tỷ USD, tăng gần 14%. Lâm sản và thủy sản cũng ghi nhận những con số ấn tượng với kim ngạch lần lượt đạt 18,5 tỷ USD và 11,32 tỷ USD.
Đặc biệt, sản phẩm chăn nuôi và đầu vào sản xuất cũng có sự tăng trưởng đáng kể, cho thấy sự đa dạng và phong phú của ngành nông nghiệp Việt Nam.
Một trong những điểm sáng nổi bật trong bức tranh xuất khẩu nông sản năm qua chính là sự bứt phá của rau quả và cà phê. Lần đầu tiên, hai mặt hàng này vượt ngưỡng 8 tỷ USD, cho thấy sự chuyển dịch sang giá trị cao và khả năng thích ứng linh hoạt trước biến động toàn cầu.
Cụ thể, xuất khẩu cà phê đạt 8,57 tỷ USD, tăng 52% về trị giá so với năm 2024, nhờ giá cà phê xuất khẩu duy trì ở mức cao kỷ lục. Tương tự, xuất khẩu rau quả cũng đạt kỷ lục 8,6 tỷ USD, tăng gần 20%, với động lực chính đến từ các loại trái cây chủ lực như sầu riêng, chuối, xoài, mít, dừa và bưởi.
Thị trường xuất khẩu nông sản của Việt Nam cũng có sự mở rộng đáng kể. Châu Á vẫn là khu vực tiêu thụ lớn nhất với 45,2% thị phần, tiếp theo là châu Mỹ và châu Âu. Đặc biệt, xuất khẩu sang châu Âu tăng mạnh nhất với 34,2%, cho thấy tiềm năng lớn của thị trường này.
Trung Quốc tiếp tục là thị trường lớn nhất của rau quả Việt Nam, chiếm khoảng 64% tổng kim ngạch xuất khẩu. Mặc dù đầu năm 2025, xuất khẩu sang thị trường này gặp khó khăn do vấn đề kiểm soát dư lượng, nhưng nhờ các nghị định thư mới được ký kết, xuất khẩu đã phục hồi nhanh chóng.
Bên cạnh những thành công, ngành nông nghiệp Việt Nam cũng đối mặt với một số thách thức. Xuất khẩu gạo và cao su đều giảm, cho thấy sự cần thiết phải đa dạng hóa sản phẩm và thị trường.
Tuy nhiên, với nền tảng tích cực của năm 2025, ngành nông nghiệp Việt Nam được kỳ vọng sẽ tiếp tục phát triển bền vững và đóng góp lớn hơn cho tăng trưởng kinh tế quốc gia.
Nhìn về tương lai, năm 2026 hứa hẹn sẽ là một năm đầy triển vọng cho xuất khẩu nông, lâm, thủy sản Việt Nam. Với đà phục hồi mạnh mẽ, kim ngạch xuất khẩu rau quả dự báo có thể đạt 10 tỷ USD, tiếp tục khẳng định vị thế của nông sản Việt trên thị trường quốc tế.
Ngành lâm nghiệp cũng đặt mục tiêu xuất khẩu khoảng 18,5 tỷ USD, đồng thời đẩy mạnh phát triển rừng gỗ lớn và ứng dụng khoa học – công nghệ. Trong khi đó, ngành thủy sản, dù đối mặt với nhiều thách thức, vẫn ghi nhận kết quả tích cực và được kỳ vọng sẽ duy trì đà tăng trưởng trong năm tới.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên ấn phẩm đặc biệt Tạp chí Kinh tế Việt Nam mừng xuân Bính Ngọ phát hành ngày 16/2 - 1/3/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
https://vneconomy.vn/don-doc-an-pham-dac-biet-cua-tap-chi-kinh-te-viet-nam-mung-xuan-binh-ngo-2026.htm
-Chu Minh Khôi
Hình tượng ngựa trong dòng chảy lịch sử
Hình tượng ngựa trong văn hóa Việt Nam không chỉ là một biểu tượng quen thuộc trong đời sống thường nhật mà còn mang nhiều tầng ý nghĩa tâm linh sâu sắc. Ngựa xuất hiện trong truyền thuyết, tín ngưỡng, lễ nghi và cả trong thành ngữ, ca dao, gắn liền với lịch sử mở đất, giữ nước của dân tộc. Trong tín ngưỡng dân gian, ngựa được xem là linh vật trung gian giữa con người và thế giới thần thiêng, biểu tượng cho sự trung thành, bền bỉ và khát vọng vươn xa. Hình ảnh ngựa sắt phun lửa của Thánh Gióng là minh chứng rõ nét cho sức mạnh siêu nhiên và tinh thần quật khởi của cộng đồng.
Ngựa không chỉ hiện diện trong đời sống tâm linh mà còn gắn bó mật thiết với nhịp sống nông nghiệp và xã hội tiền hiện đại. Khi giao thông đường bộ còn khó khăn, ngựa là phương tiện quan trọng để vận chuyển hàng hóa, đi lại, truyền tin. Từ vai trò thực tiễn ấy, ngựa dần được “thiêng hóa”, bước vào thế giới biểu tượng, thể hiện qua các câu thành ngữ, tục ngữ như “mã đáo thành công”, “ngựa quen đường cũ”. Những câu này không chỉ phản ánh kinh nghiệm sống mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh, khát vọng chinh phục và khả năng làm chủ chính mình.
Trong bối cảnh hiện đại, dù ngựa không còn giữ vai trò thiết yếu trong đời sống thường nhật, hình ảnh ngựa vẫn hiện diện trong các lễ hội truyền thống, tranh Tết, tượng ngựa trang trí, như một ký ức văn hóa sống động, nhắc nhớ về sức mạnh tinh thần bền bỉ, trung thành và khát vọng vươn xa của con người.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html
-Anh Khuê
Bảng giá đất mới: Mừng mà cũng lo
Thông thường, giá đất chiếm 15-30% chi phí đầu vào của một dự án bất động sản. Bởi vậy, khi các địa phương đồng loạt áp dụng bảng giá đất mới (từ 1/1/2026) với mức tăng cao so với giá cũ, dự kiến giá nhà ở tại nhiều nơi, nhất là Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh sẽ có những biến động mạnh.
Cuối tháng 11/2025, Hội đồng Nhân dân TP.Hà Nội đã thông qua Nghị quyết 52/2025/ NQ-HĐND quy định bảng giá đất lần đầu để công bố và áp dụng từ ngày 1/1/2026 trên địa bàn. Theo đó, giá đất tại Hà Nội được chia thành 17 khu vực dựa trên nhóm các đơn vị hành chính có điều kiện phát triển tương đối giống nhau về vị trí địa lý, mức độ đô thị hóa, hạ tầng kỹ thuật - xã hội, mật độ dân cư và hoạt động sản xuất, kinh doanh.
GIÁ ĐẤT HÀ NỘI TĂNG 2-26%Tại khu vực 1 gồm các phường trong vành đai 1: Tây Hồ, Ngọc Hà, Ba Đình, Giảng Võ, Ô Chợ Dừa, Hoàn Kiếm, Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Cửa Nam, Hai Bà Trưng, giá đất ở bình quân là 255,331 triệu đồng/m2, tăng 2% so với mức giá cũ và cao nhất là 702,257 triệu đồng/m2. Trong khi đó, nhiều xã thuộc khu vực ngoại thành, giá đất tăng tới 25-26%.
Đề cập đến mức tăng trên, báo cáo thuyết minh của Công ty Cổ phần Thẩm định giá và Thương mại VIC (đơn vị tư vấn, tổ chức thực hiện định giá đất) lý giải: “Quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng ở nhiều xã thuộc các huyện ngoại thành cũ như xã Đông Anh, Phúc Thịnh, Gia Lâm, Bát Tràng, Thanh Trì, Ngọc Hồi, Hoài Đức, Sơn Đồng, Ô Diên... Sự gia tăng dân số cơ học từ dòng người nhập cư, lao động ngoại tỉnh và nhu cầu học tập, làm việc tại Thủ đô đã tạo áp lực rất lớn cho quỹ đất đô thị, khiến giá đất tăng mạnh ở một số khu vực”.
Bên cạnh đó, trong hai năm 2024-2025, Hà Nội tập trung đầu tư hàng loạt công trình hạ tầng trọng điểm: đường Vành đai 4, các tuyến metro số 2A, số 3, mở rộng các tuyến đường trục Tây Thăng Long, Nguyễn Trãi, Trần Phú – Hà Đông… Hạ tầng giao thông kết nối mạnh mẽ với các tỉnh lân cận, đồng thời nâng cao giá trị sử dụng đất tại các khu vực dự án đi qua, đẩy giá đất lên. Vì vậy, nếu tiếp tục áp dụng Bảng giá đất cũ sẽ dẫn đến tình trạng không thống nhất, gây khó khăn trong quản lý nhà nước và thực hiện chính sách tài chính về đất đai.
Còn theo nội dung tờ trình của Sở Nông nghiệp Môi trường TP.Hà Nội, việc xây dựng Bảng giá đất mới tuân thủ theo quy định của Luật Đất đai năm 2024, các Nghị định của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật đảm bảo nguyên tắc thị trường, đáp ứng yêu cầu thực tiễn, giảm bớt sự chênh lệch giữa giá đất quy định tại bảng giá đất và giá đất chuyển nhượng phổ biến trên thị trường. Mức tăng không quá lớn giúp đảm bảo hài hòa, cân đối thu - chi ngân sách, không làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh, phát triển kinh tế của các tổ chức, cá nhân.
Xây dựng Bảng giá đất mới còn là cơ hội để Thành phố hoàn thiện hệ thống dữ liệu số, công khai bảng giá đất trực tuyến, giúp người dân và doanh nghiệp dễ dàng tra cứu. Đây cũng là yêu cầu để chính quyền hai cấp phối hợp trong việc cập nhật, đồng bộ dữ liệu.
GIÁ ĐẤT TP.HCM TĂNG 1-8,1 LẦNChiều ngày 26/12/2025, tại kỳ họp thứ 7, Hội đồng Nhân dân TP.Hồ Chí Minh khóa X đã thông qua Nghị quyết Ban hành quy định Bảng giá đất lần đầu áp dụng từ ngày 1/1/2026 trên địa bàn Thành phố. Một trong những cơ sở quan trọng để xây dựng bảng giá đất lần này xuất phát từ yêu cầu thực tiễn trong quản lý đất đai, nhất là trong bối cảnh Thành phố đã hoàn tất việc sáp nhập với tỉnh Bình Dương và tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Theo đó, Bảng giá đất 2026 được chia thành các khu vực theo địa giới hành chính trước sáp nhập nhằm bảo đảm tính kế thừa, phù hợp với đặc điểm phát triển và mặt bằng giá từng địa bàn.
Nhìn tổng thể, giá đất tăng ở hầu hết khu vực nhưng mức tăng không đồng đều: khu vực trung tâm cũ của TP.Hồ Chí Minh tăng nhẹ, trong khi giá đất tại các đô thị đang phát triển của Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu có mức tăng mạnh.
Cụ thể, giá đất trên địa bàn khu vực 1 – trung tâm TP.Hồ Chí Minh có hệ số tăng từ 1 - 1,56 lần, giá cao nhất là 687.200.000 đồng/m2 thuộc vị trí mặt đường Đồng Khởi, Nguyễn Huệ, Lê Lợi. Mức giá này không thay đổi so với Bảng giá đất theo Quyết định 79/2024/QĐ-UBND. Địa bàn khu vực 2 - tỉnh Bình Dương (cũ) có hệ số tăng cao nhất là 8,10 lần so với Quyết định 63/2024/QĐ-UBND. Tuyến đường có giá tăng mạnh là DH. 505 - đoạn từ cầu Lễ Trang đến DH. 507: giá đất ở tăng từ 780.000 đồng lên 6,3 triệu đồng/m2. Mức giá cao nhất sau điều chỉnh tại Bình Dương đạt 89, 6 triệu đồng/m2 - thuộc đường Bác sĩ Yersin và đường Bạch Đằng (giá cũ là 52,16 triệu đồng/m2).
Địa bàn khu vực 3 là tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (cũ) cũng được điều chỉnh tăng 1,7 - 3,78 lần so với Quyết định 26/2024/QĐ-UBND. Theo đó, giá cao nhất 149,8 triệu đồng/m2 áp dụng cho tuyến đường Thùy Vân – trục du lịch dịch vụ trọng điểm của tỉnh.
Tờ trình của Sở Nông nghiệp và Môi trường cho biết mức giá này được xây dựng dựa trên kết quả khảo sát giá giao dịch thực tế tại các khu vực, sau đó, các cơ quan chức năng rà soát và cân đối lại, chỉ tính tương đương 60% giá giao dịch trên thị trường. Theo khảo sát, bảng giá đất cũ quá thấp so với giá giao dịch thực tế, có nơi tại Bình Dương, giá giao dịch thực tế cao hơn 13,6 lần; tại Bà Rịa - Vũng Tàu, cao hơn 45,2 lần giá quy định trong bảng giá đất áp dụng cho năm 2025.
Bởi vậy, việc thiết lập Bảng giá đất mới không chỉ xuất phát từ quy định bắt buộc của Luật Đất đai năm 2024 mà còn phản ánh yêu cầu thực tiễn trong công tác quản lý đất đai và sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế - xã hội của địa phương; khắc phục những hạn chế của các bảng giá đất hiện hành; mở rộng phạm vi áp dụng theo quy định mới nhằm đảm bảo sự công bằng trong việc tính toán nghĩa vụ tài chính về đất đai.
Cuộc họp thẩm tra của Ban Kinh tế - Ngân sách Hội đồng Nhân dân TP.Hồ Chí Minh cũng đã thống nhất rằng bảng giá đất mới không chỉ là một công cụ quản lý mà còn là một bước tiến quan trọng trong việc xây dựng một môi trường đầu tư minh bạch và hiệu quả. Với sự đồng thuận cao từ các cơ quan chức năng và sự chuẩn bị kỹ lưỡng, bảng giá đất mới hứa hẹn sẽ góp phần ổn định thị trường bất động sản và thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững cho Thành phố trong giai đoạn tới.
Mặc dù vậy, việc áp dụng bảng giá đất mới cũng gặp phải nhiều ý kiến trái chiều. Hiệp hội bất động sản Việt Nam nhìn nhận rằng không ít địa phương đưa ra bảng giá tăng “sốc” đang tạo ra những rủi ro cho doanh nghiệp, người dân và cả hoạt động tín dụng ngân hàng.
THÁCH THỨC GIÁ ĐẤT CHO THỊ TRƯỜNG NHÀ ỞĐối với thị trường bất động sản, khi giá đất tăng cao, với những dự án đang triển khai, doanh nghiệp sẽ rơi vào tình thế khó khăn và lúng túng khi phải cân nhắc việc có nên tiếp tục triển khai hay tạm dừng. Bởi chi phí tiền sử dụng đất tăng mạnh có thể khiến tổng mức đầu tư vượt xa khả năng tài chính của doanh nghiệp.
Ngược lại, với các dự án chưa triển khai, doanh nghiệp sẽ phải cân nhắc đến việc tăng giá bán, đồng thời, phát triển sản phẩm cao cấp để duy trì biên lợi nhuận trong bối cảnh quỹ đất khan hiếm. Giá bán dự kiến tăng theo chi phí đầu vào, khiến sức mua thực giảm.
Một số chuyên gia cho rằng dù giá đất tăng sẽ giúp tăng nguồn thu ngân sách địa phương thông qua thuế, phí và tiền sử dụng đất, nhưng cũng sẽ dẫn đến chi phí giá nhà ở tăng cao, khiến giá bán sản phẩm bất động sản bị đội lên, làm giảm sự hấp dẫn đầu tư, giảm cơ hội tiếp cận nhà ở của người dân, đặc biệt là người mua ở thực, từ đó, gây khó khăn cho việc ổn định an sinh xã hội trên địa bàn...
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8/2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html
-Dương Huyền Ngân
Ngành Công thương bứt phá trong kỷ nguyên mới
Thưa Thứ trưởng, nhìn lại giai đoạn 2021-2025, đâu là những kết quả ấn tượng nhất thể hiện vai trò nòng cốt của ngành Công Thương trong phát triển kinh tế giai đoạn 2021-2025, đặc biệt là năm 2025?
Trong nhiệm kỳ vừa qua, ngành Công Thương đã có những đóng góp rất quan trọng, toàn diện và mang tính nền tảng đối với phát triển kinh tế – xã hội đất nước. Ngành đã chủ động tham mưu xây dựng nhiều cơ chế, chính sách chiến lược nhằm thúc đẩy kinh tế, công nghiệp, thương mại và đầu tư; tháo gỡ các điểm nghẽn lớn để Trung ương, Quốc hội và các cấp có thẩm quyền ban hành nhiều nghị quyết, kết luận có tính chất quan trọng, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội (Nghị quyết 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới; Nghị quyết số 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết về cơ chế, chính sách phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026 – 2030…).
Với vai trò nòng cốt, trụ cột chiến lược, ngành Công Thương tiếp tục là một trong những động lực chủ yếu thúc đẩy tăng trưởng, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển theo hướng tự chủ, hiện đại hóa, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng, hiệu quả.
Sự phục hồi và tăng trưởng của sản xuất công nghiệp là minh chứng rõ nét nhất cho nỗ lực của toàn ngành với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 6,1% mỗi năm. Đáng chú ý, công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò động lực trung tâm của tăng trưởng - đạt mức tăng bình quân 6,9%/năm; quy mô toàn ngành tăng gần 1,5 lần so với đầu nhiệm kỳ. Tỷ lệ nội địa hóa tiếp tục được cải thiện; nhiều ngành công nghiệp mũi nhọn như điện tử, dệt may, da giày, chế biến nông sản đã hội nhập thành công, từng bước khẳng định vị trí của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Trong lĩnh vực năng lượng, hệ thống năng lượng quốc gia phát triển mạnh mẽ, quy mô hệ thống điện vươn lên nhóm 20 nước hàng đầu thế giới và đứng đầu khu vực Đông Nam Á. An ninh năng lượng quốc gia cơ bản được bảo đảm, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và đời sống nhân dân; cơ cấu năng lượng chuyển dịch theo hướng xanh hơn, bền vững hơn, phù hợp với xu thế toàn cầu.
Xuất nhập khẩu tiếp tục là điểm sáng nổi bật của nền kinh tế với tốc độ tăng trưởng bình quân 10,9%/năm. Kim ngạch xuất nhập khẩu liên tục xác lập các kỷ lục mới, riêng năm 2025 đạt trên 930 tỷ USD, gấp đôi so với đầu nhiệm kỳ; nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực duy trì thứ hạng cao trên thị trường thế giới. Thặng dư thương mại được giữ vững ở mức cao, đóng góp tích cực vào cân đối vĩ mô, bổ sung dự trữ ngoại hối và củng cố niềm tin thị trường.
Thị trường trong nước tiếp tục phát triển ổn định, với tốc độ tăng trưởng bình quân 7,7%/năm, thực sự trở thành một trụ cột quan trọng của nền kinh tế. Việc bảo đảm cung ứng đầy đủ nguyên, nhiên liệu và hàng hóa thiết yếu đã giúp thị trường trong nước phát huy vai trò “bệ đỡ”, hỗ trợ nền kinh tế đứng vững và phục hồi nhanh trước các cú sốc bên ngoài, đặc biệt trong giai đoạn đại dịch Covid-19. Cùng với đó, thương mại điện tử tăng trưởng trên 20%/năm, đưa Việt Nam vào nhóm 10 quốc gia có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất thế giới, tạo động lực quan trọng cho kinh tế số và chuyển đổi số doanh nghiệp.
Hội nhập kinh tế quốc tế được triển khai đồng bộ, thực chất và ngày càng hiệu quả. Việc tham gia 17 Hiệp định thương mại tự do đã mở ra không gian thị trường gần 6 tỷ người tiêu dùng, góp phần đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và thúc đẩy tái cơ cấu nền kinh tế theo hướng hiện đại, bền vững.
Trong những kết quả chung đó, vai trò của ngành Công Thương trong bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia được thể hiện như thế nào, thưa Thứ trưởng?
Trong cơ cấu phát triển bền vững, an ninh năng lượng được xác định là nhiệm vụ chính trị trọng yếu và xuyên suốt. Nghị quyết số 70-NQ/TW của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã xác định mục tiêu phải bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia.
Thực hiện tinh thần của Nghị quyết số 70-NQ/TW, ngành Công Thương đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm đa dạng hóa nguồn năng lượng, kết hợp hài hòa giữa năng lượng truyền thống và năng lượng tái tạo, đồng thời thúc đẩy các dạng năng lượng mới, đẩy mạnh sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Cùng với đó, đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện thể chế, chính sách để phát triển thị trường năng lượng cạnh tranh, minh bạch nhằm thu hút mạnh mẽ các nguồn lực xã hội tham gia đầu tư phát triển năng lượng.
Thời gian qua, Bộ Công Thương đã dồn sức hoàn thiện thể chế năng lượng với trọng tâm là Luật Điện lực 2024 và Luật Dầu khí (sửa đổi). Việc tham mưu phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn 2050 (Quy hoạch điện 8 điều chỉnh) và triển khai quyết liệt các dự án lưới điện trọng điểm, đặc biệt là các đường dây 500 kV, 220kV đã giúp hệ thống điện Việt Nam vươn lên quy mô hàng đầu khu vực ASEAN. Đây là nền tảng quan trọng để bảo đảm cung ứng điện trong mọi tình huống, phục vụ đắc lực cho mục tiêu công nghiệp hóa.
Để bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia trong thời gian tới, ngành Công Thương đang tập trung xây dựng lộ trình thị trường điện cạnh tranh, minh bạch và hoàn thiện cơ chế giá điện theo nguyên tắc thị trường có sự điều tiết của Nhà nước. Đồng thời, việc đổi mới cơ chế tài chính để thu hút nguồn vốn xã hội hóa và ứng dụng chuyển đổi số trong vận hành hệ thống điện được xem là những giải pháp căn cơ để bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia bền vững.
Thưa Thứ trưởng, trong kỷ nguyên mới, ngành Công Thương sẽ tập trung triển khai những nhiệm vụ trọng tâm nào để góp phần thực hiện thắng lợi, toàn diện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng?
Đất nước ta đang bước vào một kỷ nguyên phát triển mới - kỷ nguyên của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng. Đây là giai đoạn mở ra nhiều thời cơ, thuận lợi lớn lao, đồng thời cũng đặt ra không ít khó khăn, thách thức đan xen.
Trong bối cảnh đó, để tiếp tục thúc đẩy phát triển công nghiệp và thương mại, góp phần thực hiện thắng lợi, toàn diện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, đóng góp xứng đáng vào sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới, ngành Công Thương quyết tâm tập trung triển khai đồng bộ, hiệu quả một số nhiệm vụ trọng tâm.
Thứ nhất, tiếp tục quán triệt, thể chế hóa đầy đủ, kịp thời các quan điểm, chủ trương, nghị quyết của Đảng về phát triển kinh tế – xã hội và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành các cơ chế, chính sách đồng bộ, khả thi; tập trung hoàn thiện thể chế theo tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW, lấy “chuyển đổi kép” (chuyển đổi xanh và chuyển đổi số) là đột phá của đột phá, tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thông thoáng, tháo gỡ điểm nghẽn, làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống và thúc đẩy các động lực tăng trưởng mới.
Thứ hai, đổi mới tư duy, cơ cấu lại ngành công nghiệp, thương mại theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh; lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển kinh tế tư nhân làm động lực chủ yếu. Tập trung phát triển các ngành công nghiệp nền tảng, chiến lược và từng bước làm chủ công nghệ trong một số ngành mới nổi; xây dựng cơ chế phát triển doanh nghiệp dân tộc, doanh nghiệp quy mô lớn; thu hút đầu tư đồng bộ hạ tầng năng lượng, công nghiệp, thương mại và logistics theo hướng hiện đại, xanh, số hóa, gắn với yêu cầu hội nhập sâu.
Thứ ba, nâng cấp, phát triển toàn diện chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng nhằm tăng tính tự chủ của nền kinh tế và nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu. Có chính sách đủ mạnh hỗ trợ doanh nghiệp trong nước tham gia sâu vào chuỗi của các tập đoàn lớn và doanh nghiệp FDI; tăng tỷ lệ nội địa hóa; thúc đẩy chuyển giao công nghệ, kỹ năng quản trị; phát triển các cụm liên kết ngành và chuỗi sản xuất khép kín.
Thứ tư, đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế gắn với cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng; khai thác hiệu quả các hiệp định thương mại tự do; tăng cường phòng vệ thương mại hợp pháp; đa dạng hóa thị trường, nguồn cung và chuỗi cung ứng, tránh phụ thuộc vào một số ít đối tác; đổi mới xúc tiến thương mại, phát triển thương mại điện tử và kinh tế số.
Thứ năm, thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện trong công nghiệp, thương mại; đẩy mạnh cải cách hành chính, đơn giản hóa thủ tục, điều kiện kinh doanh; mở rộng dịch vụ công trực tuyến, cơ chế một cửa liên thông, giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp và người dân.
Thứ sáu, hiện đại hóa công tác quản lý nhà nước. Việc đẩy mạnh cải cách hành chính, đơn giản hóa thủ tục và chuyển mạnh sang phương thức hậu kiểm gắn với quản lý rủi ro sẽ tạo môi trường kinh doanh minh bạch, thuận lợi cho doanh nghiệp. Ngành Công Thương sẽ kiên định mục tiêu phát triển tự chủ, hiện đại, lấy công nghiệp chế biến, chế tạo và năng lượng làm nền tảng vật chất quan trọng của nền kinh tế độc lập, tự chủ, quyết tâm đóng góp xứng đáng vào sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html
-
Ngành Công thương bứt phá trong kỷ nguyên mới
Thưa Thứ trưởng, nhìn lại giai đoạn 2021-2025, đâu là những kết quả ấn tượng nhất thể hiện vai trò nòng cốt của ngành Công Thương trong phát triển kinh tế giai đoạn 2021-2025, đặc biệt là năm 2025?
Trong nhiệm kỳ vừa qua, ngành Công Thương đã có những đóng góp rất quan trọng, toàn diện và mang tính nền tảng đối với phát triển kinh tế – xã hội đất nước. Ngành đã chủ động tham mưu xây dựng nhiều cơ chế, chính sách chiến lược nhằm thúc đẩy kinh tế, công nghiệp, thương mại và đầu tư; tháo gỡ các điểm nghẽn lớn để Trung ương, Quốc hội và các cấp có thẩm quyền ban hành nhiều nghị quyết, kết luận có tính chất quan trọng, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội (Nghị quyết 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới; Nghị quyết số 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết về cơ chế, chính sách phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026 – 2030…).
Với vai trò nòng cốt, trụ cột chiến lược, ngành Công Thương tiếp tục là một trong những động lực chủ yếu thúc đẩy tăng trưởng, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển theo hướng tự chủ, hiện đại hóa, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng, hiệu quả.
Sự phục hồi và tăng trưởng của sản xuất công nghiệp là minh chứng rõ nét nhất cho nỗ lực của toàn ngành với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 6,1% mỗi năm. Đáng chú ý, công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò động lực trung tâm của tăng trưởng - đạt mức tăng bình quân 6,9%/năm; quy mô toàn ngành tăng gần 1,5 lần so với đầu nhiệm kỳ. Tỷ lệ nội địa hóa tiếp tục được cải thiện; nhiều ngành công nghiệp mũi nhọn như điện tử, dệt may, da giày, chế biến nông sản đã hội nhập thành công, từng bước khẳng định vị trí của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Trong lĩnh vực năng lượng, hệ thống năng lượng quốc gia phát triển mạnh mẽ, quy mô hệ thống điện vươn lên nhóm 20 nước hàng đầu thế giới và đứng đầu khu vực Đông Nam Á. An ninh năng lượng quốc gia cơ bản được bảo đảm, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và đời sống nhân dân; cơ cấu năng lượng chuyển dịch theo hướng xanh hơn, bền vững hơn, phù hợp với xu thế toàn cầu.
Xuất nhập khẩu tiếp tục là điểm sáng nổi bật của nền kinh tế với tốc độ tăng trưởng bình quân 10,9%/năm. Kim ngạch xuất nhập khẩu liên tục xác lập các kỷ lục mới, riêng năm 2025 đạt trên 930 tỷ USD, gấp đôi so với đầu nhiệm kỳ; nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực duy trì thứ hạng cao trên thị trường thế giới. Thặng dư thương mại được giữ vững ở mức cao, đóng góp tích cực vào cân đối vĩ mô, bổ sung dự trữ ngoại hối và củng cố niềm tin thị trường.
Thị trường trong nước tiếp tục phát triển ổn định, với tốc độ tăng trưởng bình quân 7,7%/năm, thực sự trở thành một trụ cột quan trọng của nền kinh tế. Việc bảo đảm cung ứng đầy đủ nguyên, nhiên liệu và hàng hóa thiết yếu đã giúp thị trường trong nước phát huy vai trò “bệ đỡ”, hỗ trợ nền kinh tế đứng vững và phục hồi nhanh trước các cú sốc bên ngoài, đặc biệt trong giai đoạn đại dịch Covid-19. Cùng với đó, thương mại điện tử tăng trưởng trên 20%/năm, đưa Việt Nam vào nhóm 10 quốc gia có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất thế giới, tạo động lực quan trọng cho kinh tế số và chuyển đổi số doanh nghiệp.
Hội nhập kinh tế quốc tế được triển khai đồng bộ, thực chất và ngày càng hiệu quả. Việc tham gia 17 Hiệp định thương mại tự do đã mở ra không gian thị trường gần 6 tỷ người tiêu dùng, góp phần đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và thúc đẩy tái cơ cấu nền kinh tế theo hướng hiện đại, bền vững.
Trong những kết quả chung đó, vai trò của ngành Công Thương trong bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia được thể hiện như thế nào, thưa Thứ trưởng?
Trong cơ cấu phát triển bền vững, an ninh năng lượng được xác định là nhiệm vụ chính trị trọng yếu và xuyên suốt. Nghị quyết số 70-NQ/TW của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã xác định mục tiêu phải bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia.
Thực hiện tinh thần của Nghị quyết số 70-NQ/TW, ngành Công Thương đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm đa dạng hóa nguồn năng lượng, kết hợp hài hòa giữa năng lượng truyền thống và năng lượng tái tạo, đồng thời thúc đẩy các dạng năng lượng mới, đẩy mạnh sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Cùng với đó, đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện thể chế, chính sách để phát triển thị trường năng lượng cạnh tranh, minh bạch nhằm thu hút mạnh mẽ các nguồn lực xã hội tham gia đầu tư phát triển năng lượng.
Thời gian qua, Bộ Công Thương đã dồn sức hoàn thiện thể chế năng lượng với trọng tâm là Luật Điện lực 2024 và Luật Dầu khí (sửa đổi). Việc tham mưu phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn 2050 (Quy hoạch điện 8 điều chỉnh) và triển khai quyết liệt các dự án lưới điện trọng điểm, đặc biệt là các đường dây 500 kV, 220kV đã giúp hệ thống điện Việt Nam vươn lên quy mô hàng đầu khu vực ASEAN. Đây là nền tảng quan trọng để bảo đảm cung ứng điện trong mọi tình huống, phục vụ đắc lực cho mục tiêu công nghiệp hóa.
Để bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia trong thời gian tới, ngành Công Thương đang tập trung xây dựng lộ trình thị trường điện cạnh tranh, minh bạch và hoàn thiện cơ chế giá điện theo nguyên tắc thị trường có sự điều tiết của Nhà nước. Đồng thời, việc đổi mới cơ chế tài chính để thu hút nguồn vốn xã hội hóa và ứng dụng chuyển đổi số trong vận hành hệ thống điện được xem là những giải pháp căn cơ để bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia bền vững.
Thưa Thứ trưởng, trong kỷ nguyên mới, ngành Công Thương sẽ tập trung triển khai những nhiệm vụ trọng tâm nào để góp phần thực hiện thắng lợi, toàn diện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng?
Đất nước ta đang bước vào một kỷ nguyên phát triển mới - kỷ nguyên của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng. Đây là giai đoạn mở ra nhiều thời cơ, thuận lợi lớn lao, đồng thời cũng đặt ra không ít khó khăn, thách thức đan xen.
Trong bối cảnh đó, để tiếp tục thúc đẩy phát triển công nghiệp và thương mại, góp phần thực hiện thắng lợi, toàn diện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, đóng góp xứng đáng vào sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới, ngành Công Thương quyết tâm tập trung triển khai đồng bộ, hiệu quả một số nhiệm vụ trọng tâm.
Thứ nhất, tiếp tục quán triệt, thể chế hóa đầy đủ, kịp thời các quan điểm, chủ trương, nghị quyết của Đảng về phát triển kinh tế – xã hội và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành các cơ chế, chính sách đồng bộ, khả thi; tập trung hoàn thiện thể chế theo tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW, lấy “chuyển đổi kép” (chuyển đổi xanh và chuyển đổi số) là đột phá của đột phá, tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thông thoáng, tháo gỡ điểm nghẽn, làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống và thúc đẩy các động lực tăng trưởng mới.
Thứ hai, đổi mới tư duy, cơ cấu lại ngành công nghiệp, thương mại theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh; lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển kinh tế tư nhân làm động lực chủ yếu. Tập trung phát triển các ngành công nghiệp nền tảng, chiến lược và từng bước làm chủ công nghệ trong một số ngành mới nổi; xây dựng cơ chế phát triển doanh nghiệp dân tộc, doanh nghiệp quy mô lớn; thu hút đầu tư đồng bộ hạ tầng năng lượng, công nghiệp, thương mại và logistics theo hướng hiện đại, xanh, số hóa, gắn với yêu cầu hội nhập sâu.
Thứ ba, nâng cấp, phát triển toàn diện chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng nhằm tăng tính tự chủ của nền kinh tế và nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu. Có chính sách đủ mạnh hỗ trợ doanh nghiệp trong nước tham gia sâu vào chuỗi của các tập đoàn lớn và doanh nghiệp FDI; tăng tỷ lệ nội địa hóa; thúc đẩy chuyển giao công nghệ, kỹ năng quản trị; phát triển các cụm liên kết ngành và chuỗi sản xuất khép kín.
Thứ tư, đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế gắn với cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng; khai thác hiệu quả các hiệp định thương mại tự do; tăng cường phòng vệ thương mại hợp pháp; đa dạng hóa thị trường, nguồn cung và chuỗi cung ứng, tránh phụ thuộc vào một số ít đối tác; đổi mới xúc tiến thương mại, phát triển thương mại điện tử và kinh tế số.
Thứ năm, thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện trong công nghiệp, thương mại; đẩy mạnh cải cách hành chính, đơn giản hóa thủ tục, điều kiện kinh doanh; mở rộng dịch vụ công trực tuyến, cơ chế một cửa liên thông, giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp và người dân.
Thứ sáu, hiện đại hóa công tác quản lý nhà nước. Việc đẩy mạnh cải cách hành chính, đơn giản hóa thủ tục và chuyển mạnh sang phương thức hậu kiểm gắn với quản lý rủi ro sẽ tạo môi trường kinh doanh minh bạch, thuận lợi cho doanh nghiệp. Ngành Công Thương sẽ kiên định mục tiêu phát triển tự chủ, hiện đại, lấy công nghiệp chế biến, chế tạo và năng lượng làm nền tảng vật chất quan trọng của nền kinh tế độc lập, tự chủ, quyết tâm đóng góp xứng đáng vào sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html
-
Bí thư Thành ủy Hà Nội: Khẳng định bản lĩnh, trí tuệ và tầm vóc Thủ đô trong kỷ nguyên mới
Thăng Long – Hà Nội, Thủ đô ngàn năm văn hiến và anh hùng, luôn được xem là nơi hội tụ, kết tinh và tỏa sáng những giá trị cao quý của dân tộc Việt Nam. Nhìn lại chiều dài lịch sử và chặng đường phát triển gần đây, Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Duy Ngọc khẳng định Hà Nội không chỉ là trái tim của cả nước mà còn đang ngày càng khẳng định mạnh mẽ bản lĩnh, trí tuệ và tầm vóc trong kỷ nguyên vươn lên giàu mạnh, thịnh vượng, Nhân dân hạnh phúc.
Bề dày lịch sử của mảnh đất ngàn năm văn hiến đã hun đúc tinh thần Thăng Long – Hà Nội với những giá trị bền vững, vừa mang chiều sâu truyền thống, vừa không ngừng vươn mình cùng thời đại. Hà Nội đang từng bước khẳng định vai trò biểu tượng của niềm tin, ý chí và khát vọng phát triển của dân tộc Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.
Bí thư Thành ủy nêu rõ Hà Nội không thể đảm nhận vai trò tiên phong, dẫn dắt nếu chỉ đi theo lối mòn. Với khát vọng phát triển hùng cường, thịnh vượng, Thủ đô phải dám đột phá, dám làm những việc khó, việc mới, việc chưa có tiền lệ và đặc biệt là kiên định làm đến cùng, làm có kết quả.
Từ nhận thức đó, Đại hội Đảng bộ thành phố Hà Nội lần thứ XVIII đã xác định ba đột phá phát triển mang tính chiến lược, gồm: tập trung xây dựng, hoàn thiện thể chế phát triển Thủ đô; phát triển, khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút nhân tài; phát triển hệ thống hạ tầng hiện đại, thông minh và có tính kết nối cao.
KHẲNG ĐỊNH DẤU ẤN NĂM 2025 VỚI NHỮNG THÀNH TỰU NỔI BẬT
Bí thư Thành ủy Hà Nội cho biết năm 2025 là một năm rất đặc biệt đối với Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân Thủ đô. Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường, trong nước còn nhiều khó khăn, thách thức, Hà Nội vẫn kiên định mục tiêu phát triển, phát huy cao độ truyền thống văn hiến, anh hùng, tinh thần đoàn kết, đổi mới và trách nhiệm.
Thủ đô Hà Nội sẽ phát huy vai trò đầu tàu, tạo nền tảng và động lực cho sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới. Ảnh: Nhân Đân.Với quan điểm luôn gương mẫu, đi đầu, Hà Nội đã đi qua năm 2025 với nhiều dấu ấn lịch sử đặc biệt và đạt được những thành tựu đáng tự hào. Nổi bật là tốc độ tăng trưởng GRDP đạt 8,16%, vượt mục tiêu đề ra là 8% và cao hơn nhiều so với mức 6,52% của năm 2024. Quy mô kinh tế Thủ đô đạt khoảng 63,5 tỷ USD; thu nhập bình quân đầu người đạt 7.200 USD.
Công tác tài chính – ngân sách ghi nhận kết quả nổi bật khi tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 711 nghìn tỷ đồng, bằng 138,4% dự toán, tăng 38,4% so với năm trước, mức cao nhất trong nhiều năm gần đây. Giải ngân vốn đầu tư công đạt gần 90 nghìn tỷ đồng, bằng 106,8% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, qua đó tạo động lực quan trọng cho tăng trưởng và phát triển hạ tầng.
Cùng với phát triển kinh tế, công tác an sinh xã hội tiếp tục được thành phố quan tâm triển khai hiệu quả; việc chủ động ứng phó, phòng chống thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu đã góp phần giảm thiểu thiệt hại, bảo đảm ổn định đời sống Nhân dân.
Một điểm nhấn quan trọng trong năm 2025 là phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Thành ủy Hà Nội có sự chuyển biến rõ nét theo phương châm: “Đã nói là làm – làm nhanh, làm đúng, làm hiệu quả, làm đến cùng”. Kỷ luật, kỷ cương hành chính được tăng cường; trách nhiệm của tập thể và cá nhân trong thực thi nhiệm vụ được xác định rõ theo tinh thần “rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền”.
Thành ủy Hà Nội đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm, không né tránh, nhằm giải quyết những vấn đề bức xúc, các điểm nghẽn kéo dài của Thủ đô như ùn tắc giao thông, ô nhiễm môi trường, ngập úng, trật tự đô thị, vệ sinh an toàn thực phẩm. Công tác giải phóng mặt bằng, tổ chức thực hiện các dự án hạ tầng đô thị được triển khai quyết liệt, hiệu quả; các giải pháp ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai, bảo đảm an sinh xã hội được triển khai chủ động, đồng bộ.
Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Duy Ngọc cùng các đồng chí lãnh đạo thành phố Hà Nội tham quan gian trưng bày sản phẩm tại triển lãm Mạng lưới đổi mới sáng tạo Hà Nội.Theo Bí thư Thành ủy, những kết quả đạt được cho thấy Hà Nội đang từng bước hình thành phương thức lãnh đạo, điều hành dựa trên kỷ cương, kiểm soát tiến độ, đo lường hiệu quả thực chất và có thể kiểm chứng bằng dữ liệu.
Trong năm 2025, thành phố cũng chủ động đề xuất xây dựng Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm, gắn với hoàn thiện thể chế, tháo gỡ các điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực và xác lập mô hình tăng trưởng mới, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số liên tục trong những năm tới.
Bên cạnh đó, Hà Nội đã tổ chức thành công Đại hội Đảng các cấp và Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ XVIII, nhiệm kỳ 2025 – 2030. Thành phố đi đầu trong sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy hệ thống chính trị với quyết tâm chính trị cao, triển khai bài bản, khoa học. Việc sắp xếp 526 phường, xã, thị trấn thành 126 phường, xã nhận được sự đồng tình, ủng hộ cao của Nhân dân. Từ ngày 1/7/2025, mô hình chính quyền địa phương hai cấp chính thức đi vào hoạt động thông suốt, bảo đảm tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả.
TẠO ĐỘT PHÁ TỪ ĐỔI MỚI LÃNH ĐẠO, HẠ TẦNG VÀ CHUYỂN ĐỔI SỐ
Theo Bí thư Thành ủy Hà Nội, cùng với việc vận hành mô hình chính quyền địa phương mới, thành phố đi đầu trong đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với tinh giản thủ tục hành chính và chuyển đổi số toàn diện. Đến nay, Hà Nội đã hoàn thành việc xây dựng và phê duyệt phương án tái cấu trúc đối với 293 thủ tục hành chính phổ biến, theo hướng quản lý dựa trên dữ liệu, giảm tiền kiểm, tăng hậu kiểm, cung cấp dịch vụ công trực tuyến liền mạch và hiệu quả.
Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Duy Ngọc cùng lãnh đạo của thành phố Hà Nội kiểm tra tiến độ thi công tuyến đường Vành đai 1, đoạn Hoàng Cầu-Voi Phục.Hà Nội cũng là địa phương tiên phong thí điểm tích hợp thủ tục hành chính của Đảng lên Cổng Dịch vụ công quốc gia; đẩy mạnh chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng và hệ thống chính trị. Kết quả là Hà Nội có ba năm liên tiếp (2023, 2024, 2025) đứng đầu cả nước về chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương.
Trong triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Hà Nội xác định đây là bước đi chiến lược, mang tính đột phá trong mọi lĩnh vực phát triển kinh tế – xã hội. Ban Thường vụ Thành ủy đã kiện toàn Ban Chỉ đạo 57 của Thành ủy, triển khai 230 nhiệm vụ cụ thể nhằm thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong toàn bộ hệ thống chính trị và đời sống kinh tế – xã hội.
Thành phố nhấn mạnh phương châm “AI First”, coi việc nâng cao năng lực số của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức là giải pháp then chốt để giảm thủ công, cắt giảm chi phí, rút ngắn thời gian xử lý công việc và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp.
Song song với đó, Hà Nội tập trung cải cách thủ tục hành chính theo hướng thực chất, tái cấu trúc quy trình trên nền tảng dữ liệu dùng chung, tăng tỷ lệ hồ sơ xử lý toàn trình, giảm mạnh chi phí tuân thủ thủ tục hành chính cho xã hội.
Tại Đại hội Đảng lần thứ XVIII, TP Hà Nội đặt mục tiêu tăng trưởng từ 11% trở lên trong năm 2026 và cả nhiệm kỳ 2026 - 2031.Trong lĩnh vực đầu tư công, thành phố yêu cầu minh bạch, hiệu quả, ứng dụng công nghệ để giám sát tiến độ, cảnh báo sớm điểm nghẽn, rút ngắn thời gian chuẩn bị dự án và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Bí thư Thành ủy cho biết Hà Nội đang từng bước chuyển đổi trạng thái quản trị từ điều hành dựa nhiều vào kinh nghiệm sang quản trị dựa trên dữ liệu, công nghệ và hiệu quả đầu ra. Các quyết định quản lý, điều hành được đưa ra nhanh hơn, chính xác hơn và có thể kiểm chứng bằng dữ liệu.
Việc đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo đã tạo ra những kết quả cụ thể, rõ nét, trong đó có việc tháo gỡ những vấn đề tồn đọng kéo dài nhiều năm. Điển hình là công tác giải phóng mặt bằng dự án đường Vành đai 1 (đoạn Hoàng Cầu – Voi Phục). Chỉ trong hơn 5 tháng, các phường liên quan đã hoàn thành bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho 1.295 hộ dân, vượt xa kết quả của nhiều năm trước đó. Ngày 15/1/2026, dự án chính thức thông xe kỹ thuật, tạo động lực mới cho phát triển đô thị và giao thông Thủ đô.
Cùng thời điểm, nhiều dự án lớn, có ý nghĩa chiến lược đã được khởi công, như Nhà máy chế tạo chip bán dẫn đầu tiên tại Việt Nam tại Khu công nghệ cao Hòa Lạc; Dự án Khu phức hợp y tế – chăm sóc sức khỏe người cao tuổi Đại học Y Hà Nội; các khu đô thị đa mục tiêu, qua đó góp phần mở rộng không gian phát triển và nâng cao chất lượng sống của người dân.
Bước sang năm 2026 – năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XVIII và Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Bí thư Thành ủy Hà Nội cho biết thành phố xác định mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 11% trở lên, đồng thời tập trung triển khai đồng bộ các nhiệm vụ trọng tâm về thể chế, quy hoạch, hạ tầng, khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Với chủ đề hành động năm 2026 là “Kỷ cương, chuyên nghiệp – Đột phá, sáng tạo – Hiệu quả, bền vững”, Hà Nội tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao trách nhiệm người đứng đầu, phát triển kết cấu hạ tầng chiến lược, giải quyết các điểm nghẽn đô thị và bảo đảm an sinh xã hội, quốc phòng – an ninh.
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Bí thư Thành ủy Hà Nội nhấn mạnh với truyền thống đoàn kết, trí tuệ và bản lĩnh, cùng tinh thần “Hà Nội đã nói là làm – làm nhanh, làm đúng, làm hiệu quả, làm đến cùng”, Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân Thủ đô sẽ tiếp tục viết tiếp những trang sử mới, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp phát triển chung của đất nước trong kỷ nguyên mới.
-Lý Hà
Bí thư Thành ủy Hà Nội: Khẳng định bản lĩnh, trí tuệ và tầm vóc Thủ đô trong kỷ nguyên mới
Thăng Long – Hà Nội, Thủ đô ngàn năm văn hiến và anh hùng, luôn được xem là nơi hội tụ, kết tinh và tỏa sáng những giá trị cao quý của dân tộc Việt Nam. Nhìn lại chiều dài lịch sử và chặng đường phát triển gần đây, Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Duy Ngọc khẳng định Hà Nội không chỉ là trái tim của cả nước mà còn đang ngày càng khẳng định mạnh mẽ bản lĩnh, trí tuệ và tầm vóc trong kỷ nguyên vươn lên giàu mạnh, thịnh vượng, Nhân dân hạnh phúc.
Bề dày lịch sử của mảnh đất ngàn năm văn hiến đã hun đúc tinh thần Thăng Long – Hà Nội với những giá trị bền vững, vừa mang chiều sâu truyền thống, vừa không ngừng vươn mình cùng thời đại. Hà Nội đang từng bước khẳng định vai trò biểu tượng của niềm tin, ý chí và khát vọng phát triển của dân tộc Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.
Bí thư Thành ủy nêu rõ Hà Nội không thể đảm nhận vai trò tiên phong, dẫn dắt nếu chỉ đi theo lối mòn. Với khát vọng phát triển hùng cường, thịnh vượng, Thủ đô phải dám đột phá, dám làm những việc khó, việc mới, việc chưa có tiền lệ và đặc biệt là kiên định làm đến cùng, làm có kết quả.
Từ nhận thức đó, Đại hội Đảng bộ thành phố Hà Nội lần thứ XVIII đã xác định ba đột phá phát triển mang tính chiến lược, gồm: tập trung xây dựng, hoàn thiện thể chế phát triển Thủ đô; phát triển, khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút nhân tài; phát triển hệ thống hạ tầng hiện đại, thông minh và có tính kết nối cao.
KHẲNG ĐỊNH DẤU ẤN NĂM 2025 VỚI NHỮNG THÀNH TỰU NỔI BẬT
Bí thư Thành ủy Hà Nội cho biết năm 2025 là một năm rất đặc biệt đối với Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân Thủ đô. Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường, trong nước còn nhiều khó khăn, thách thức, Hà Nội vẫn kiên định mục tiêu phát triển, phát huy cao độ truyền thống văn hiến, anh hùng, tinh thần đoàn kết, đổi mới và trách nhiệm.
Thủ đô Hà Nội sẽ phát huy vai trò đầu tàu, tạo nền tảng và động lực cho sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới. Ảnh: Nhân Đân.Với quan điểm luôn gương mẫu, đi đầu, Hà Nội đã đi qua năm 2025 với nhiều dấu ấn lịch sử đặc biệt và đạt được những thành tựu đáng tự hào. Nổi bật là tốc độ tăng trưởng GRDP đạt 8,16%, vượt mục tiêu đề ra là 8% và cao hơn nhiều so với mức 6,52% của năm 2024. Quy mô kinh tế Thủ đô đạt khoảng 63,5 tỷ USD; thu nhập bình quân đầu người đạt 7.200 USD.
Công tác tài chính – ngân sách ghi nhận kết quả nổi bật khi tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 711 nghìn tỷ đồng, bằng 138,4% dự toán, tăng 38,4% so với năm trước, mức cao nhất trong nhiều năm gần đây. Giải ngân vốn đầu tư công đạt gần 90 nghìn tỷ đồng, bằng 106,8% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, qua đó tạo động lực quan trọng cho tăng trưởng và phát triển hạ tầng.
Cùng với phát triển kinh tế, công tác an sinh xã hội tiếp tục được thành phố quan tâm triển khai hiệu quả; việc chủ động ứng phó, phòng chống thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu đã góp phần giảm thiểu thiệt hại, bảo đảm ổn định đời sống Nhân dân.
Một điểm nhấn quan trọng trong năm 2025 là phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Thành ủy Hà Nội có sự chuyển biến rõ nét theo phương châm: “Đã nói là làm – làm nhanh, làm đúng, làm hiệu quả, làm đến cùng”. Kỷ luật, kỷ cương hành chính được tăng cường; trách nhiệm của tập thể và cá nhân trong thực thi nhiệm vụ được xác định rõ theo tinh thần “rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền”.
Thành ủy Hà Nội đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm, không né tránh, nhằm giải quyết những vấn đề bức xúc, các điểm nghẽn kéo dài của Thủ đô như ùn tắc giao thông, ô nhiễm môi trường, ngập úng, trật tự đô thị, vệ sinh an toàn thực phẩm. Công tác giải phóng mặt bằng, tổ chức thực hiện các dự án hạ tầng đô thị được triển khai quyết liệt, hiệu quả; các giải pháp ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai, bảo đảm an sinh xã hội được triển khai chủ động, đồng bộ.
Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Duy Ngọc cùng các đồng chí lãnh đạo thành phố Hà Nội tham quan gian trưng bày sản phẩm tại triển lãm Mạng lưới đổi mới sáng tạo Hà Nội.Theo Bí thư Thành ủy, những kết quả đạt được cho thấy Hà Nội đang từng bước hình thành phương thức lãnh đạo, điều hành dựa trên kỷ cương, kiểm soát tiến độ, đo lường hiệu quả thực chất và có thể kiểm chứng bằng dữ liệu.
Trong năm 2025, thành phố cũng chủ động đề xuất xây dựng Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm, gắn với hoàn thiện thể chế, tháo gỡ các điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực và xác lập mô hình tăng trưởng mới, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số liên tục trong những năm tới.
Bên cạnh đó, Hà Nội đã tổ chức thành công Đại hội Đảng các cấp và Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ XVIII, nhiệm kỳ 2025 – 2030. Thành phố đi đầu trong sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy hệ thống chính trị với quyết tâm chính trị cao, triển khai bài bản, khoa học. Việc sắp xếp 526 phường, xã, thị trấn thành 126 phường, xã nhận được sự đồng tình, ủng hộ cao của Nhân dân. Từ ngày 1/7/2025, mô hình chính quyền địa phương hai cấp chính thức đi vào hoạt động thông suốt, bảo đảm tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả.
TẠO ĐỘT PHÁ TỪ ĐỔI MỚI LÃNH ĐẠO, HẠ TẦNG VÀ CHUYỂN ĐỔI SỐ
Theo Bí thư Thành ủy Hà Nội, cùng với việc vận hành mô hình chính quyền địa phương mới, thành phố đi đầu trong đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với tinh giản thủ tục hành chính và chuyển đổi số toàn diện. Đến nay, Hà Nội đã hoàn thành việc xây dựng và phê duyệt phương án tái cấu trúc đối với 293 thủ tục hành chính phổ biến, theo hướng quản lý dựa trên dữ liệu, giảm tiền kiểm, tăng hậu kiểm, cung cấp dịch vụ công trực tuyến liền mạch và hiệu quả.
Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Duy Ngọc cùng lãnh đạo của thành phố Hà Nội kiểm tra tiến độ thi công tuyến đường Vành đai 1, đoạn Hoàng Cầu-Voi Phục.Hà Nội cũng là địa phương tiên phong thí điểm tích hợp thủ tục hành chính của Đảng lên Cổng Dịch vụ công quốc gia; đẩy mạnh chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng và hệ thống chính trị. Kết quả là Hà Nội có ba năm liên tiếp (2023, 2024, 2025) đứng đầu cả nước về chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương.
Trong triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Hà Nội xác định đây là bước đi chiến lược, mang tính đột phá trong mọi lĩnh vực phát triển kinh tế – xã hội. Ban Thường vụ Thành ủy đã kiện toàn Ban Chỉ đạo 57 của Thành ủy, triển khai 230 nhiệm vụ cụ thể nhằm thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong toàn bộ hệ thống chính trị và đời sống kinh tế – xã hội.
Thành phố nhấn mạnh phương châm “AI First”, coi việc nâng cao năng lực số của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức là giải pháp then chốt để giảm thủ công, cắt giảm chi phí, rút ngắn thời gian xử lý công việc và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp.
Song song với đó, Hà Nội tập trung cải cách thủ tục hành chính theo hướng thực chất, tái cấu trúc quy trình trên nền tảng dữ liệu dùng chung, tăng tỷ lệ hồ sơ xử lý toàn trình, giảm mạnh chi phí tuân thủ thủ tục hành chính cho xã hội.
Tại Đại hội Đảng lần thứ XVIII, TP Hà Nội đặt mục tiêu tăng trưởng từ 11% trở lên trong năm 2026 và cả nhiệm kỳ 2026 - 2031.Trong lĩnh vực đầu tư công, thành phố yêu cầu minh bạch, hiệu quả, ứng dụng công nghệ để giám sát tiến độ, cảnh báo sớm điểm nghẽn, rút ngắn thời gian chuẩn bị dự án và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Bí thư Thành ủy cho biết Hà Nội đang từng bước chuyển đổi trạng thái quản trị từ điều hành dựa nhiều vào kinh nghiệm sang quản trị dựa trên dữ liệu, công nghệ và hiệu quả đầu ra. Các quyết định quản lý, điều hành được đưa ra nhanh hơn, chính xác hơn và có thể kiểm chứng bằng dữ liệu.
Việc đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo đã tạo ra những kết quả cụ thể, rõ nét, trong đó có việc tháo gỡ những vấn đề tồn đọng kéo dài nhiều năm. Điển hình là công tác giải phóng mặt bằng dự án đường Vành đai 1 (đoạn Hoàng Cầu – Voi Phục). Chỉ trong hơn 5 tháng, các phường liên quan đã hoàn thành bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho 1.295 hộ dân, vượt xa kết quả của nhiều năm trước đó. Ngày 15/1/2026, dự án chính thức thông xe kỹ thuật, tạo động lực mới cho phát triển đô thị và giao thông Thủ đô.
Cùng thời điểm, nhiều dự án lớn, có ý nghĩa chiến lược đã được khởi công, như Nhà máy chế tạo chip bán dẫn đầu tiên tại Việt Nam tại Khu công nghệ cao Hòa Lạc; Dự án Khu phức hợp y tế – chăm sóc sức khỏe người cao tuổi Đại học Y Hà Nội; các khu đô thị đa mục tiêu, qua đó góp phần mở rộng không gian phát triển và nâng cao chất lượng sống của người dân.
Bước sang năm 2026 – năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XVIII và Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Bí thư Thành ủy Hà Nội cho biết thành phố xác định mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 11% trở lên, đồng thời tập trung triển khai đồng bộ các nhiệm vụ trọng tâm về thể chế, quy hoạch, hạ tầng, khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Với chủ đề hành động năm 2026 là “Kỷ cương, chuyên nghiệp – Đột phá, sáng tạo – Hiệu quả, bền vững”, Hà Nội tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao trách nhiệm người đứng đầu, phát triển kết cấu hạ tầng chiến lược, giải quyết các điểm nghẽn đô thị và bảo đảm an sinh xã hội, quốc phòng – an ninh.
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Bí thư Thành ủy Hà Nội nhấn mạnh với truyền thống đoàn kết, trí tuệ và bản lĩnh, cùng tinh thần “Hà Nội đã nói là làm – làm nhanh, làm đúng, làm hiệu quả, làm đến cùng”, Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân Thủ đô sẽ tiếp tục viết tiếp những trang sử mới, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp phát triển chung của đất nước trong kỷ nguyên mới.
-Lý Hà