Feed aggregator

Đưa doanh nghiệp nhỏ và vừa trở thành động lực tăng trưởng hai con số

Thời báo kinh tế Việt Nam - Tue, 02/17/2026 - 10:05
Từ năm 2026, Bộ Tài chính thực hiện cải cách mạnh mẽ về thể chế để hiện thực hóa mục tiêu 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030; đồng thời, góp phần đưa doanh nghiệp trở thành động lực tăng trưởng hai con số. Đón Xuân Bính Ngọ, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Đức Tâm, Thứ trưởng Bộ Tài chính, về những định hướng chính sách then chốt trong giai đoạn tới.

Thưa Thứ trưởng, trong giai đoạn vừa qua, đặc biệt là năm 2025, nền kinh tế Việt Nam chịu nhiều tác động khó lường từ bên ngoài. Cảm nhận của ông về khả năng chống chọi của doanh nghiệp, trong đó có cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa, như thế nào?

Năm 2025, khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa phải đối mặt với hàng loạt sức ép từ bên ngoài lẫn nội tại. Cầu tiêu dùng thế giới suy yếu khiến đơn hàng xuất khẩu sụt giảm, trong khi chi phí nguyên liệu đầu vào, logistics và tài chính tăng cao đã làm thu hẹp biên lợi nhuận. Bên cạnh đó, diễn biến phức tạp của thị trường tiền tệ – tài chính quốc tế cùng những biến động về tỷ giá, lãi suất tiếp tục tạo thêm áp lực lên dòng tiền và khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp. Đây là nguyên nhân khiến không ít doanh nghiệp buộc phải cắt giảm sản xuất, thu hẹp quy mô hoặc tạm ngừng hoạt động trong ngắn hạn để thích ứng với bối cảnh mới.

Tuy nhiên, trong bức tranh còn nhiều gam màu thách thức đó, điểm sáng nổi bật là phần lớn doanh nghiệp vẫn kiên trì bám trụ thị trường, nỗ lực duy trì hoạt động sản xuất – kinh doanh và giữ ổn định việc làm cho người lao động.

Song song với đó, xu hướng ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng trong nước cũng như quốc tế được thúc đẩy mạnh mẽ, giúp doanh nghiệp từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng chống chịu trước các cú sốc bên ngoài.

Đặc biệt, việc Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân đã tạo ra hiệu ứng lan tỏa tích cực, góp phần củng cố niềm tin và khơi dậy tinh thần khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo trong khu vực doanh nghiệp. Ngay sau khi nghị quyết được ban hành, làn sóng thành lập doanh nghiệp mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động gia tăng rõ rệt khi bình quân mỗi tháng ghi nhận hơn 18.000 doanh nghiệp được thành lập mới và trên 12.000 doanh nghiệp tái gia nhập thị trường.

Cùng với sự gia tăng về số lượng, quy mô vốn đăng ký của khu vực kinh tế tư nhân cũng có bước cải thiện đáng kể. Tổng vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong năm 2025 ước đạt trên 6 triệu tỷ đồng, tăng 71,6% so với năm 2024, qua đó nâng tổng số doanh nghiệp đang hoạt động lên vượt mốc 1 triệu doanh nghiệp. Những con số này không chỉ phản ánh sự phục hồi rõ nét của khu vực doanh nghiệp mà còn cho thấy sức bền cũng như tinh thần đổi mới của cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh nền kinh tế đang từng bước lấy lại đà phát triển.

Thưa ông, một trong những định hướng lớn của Đảng và Chính phủ vừa qua là phát triển mạnh mẽ quy mô doanh nghiệp, trong đó có việc chuyển đổi hộ kinh doanh lên doanh nghiệp nhưng thực tế cho thấy không ít hộ vẫn còn dè dặt, chưa sẵn sàng chuyển đổi. Theo ông, rào cản lớn nhất là gì và cách giải quyết vấn đề nên như thế nào?

Khu vực kinh tế tư nhân, đặc biệt là lực lượng hộ kinh doanh, đang nổi lên như một trụ cột quan trọng thúc đẩy tăng trưởng của nền kinh tế. Với quy mô lên tới hơn 5 triệu cơ sở, khu vực hộ kinh doanh được xem là “nguồn đầu vào” then chốt để hiện thực hóa mục tiêu đạt 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030. Tuy nhiên, thực tế cho thấy tiến trình chuyển đổi từ hộ kinh doanh sang doanh nghiệp vẫn diễn ra chậm, chủ yếu do tồn tại nhiều rào cản mang tính cấu trúc và tâm lý, cho thấy còn nhiều điểm nghẽn cần được tháo gỡ một cách căn cơ.

Trước hết, tâm lý lo ngại về việc gia tăng nghĩa vụ thuế và chi phí tuân thủ vẫn là rào cản lớn. Dù góp phần nâng cao tính minh bạch và chuyên nghiệp, nhưng những sự thay đổi khi chuyển sang mô hình doanh nghiệp không chỉ làm gia tăng chi phí trực tiếp mà còn kéo theo chi phí gián tiếp như thuê kế toán, phần mềm quản trị, tư vấn pháp lý. Trong bối cảnh biên lợi nhuận của nhiều hộ kinh doanh còn mỏng, nỗi lo “lớn lên là gánh nặng nhiều hơn” khiến không ít cơ sở lựa chọn duy trì mô hình cũ.

Bên cạnh đó, hạn chế về năng lực quản trị và hiểu biết pháp lý cũng là nguyên nhân quan trọng khiến nhiều hộ kinh doanh chần chừ “lên doanh nghiệp”. Phần lớn các hộ hoạt động theo mô hình gia đình, chủ yếu dựa nhiều vào kinh nghiệm. Khi đứng trước yêu cầu phải tuân thủ hệ thống pháp luật doanh nghiệp, kế toán, lao động và các tiêu chuẩn quản trị hiện đại hơn, nhiều chủ hộ cảm thấy “quá sức” và lo ngại rủi ro phát sinh từ việc thiếu hiểu biết pháp lý, dễ dẫn đến sai sót, bị xử phạt hoặc tranh chấp. Tâm lý sợ rủi ro, sợ trách nhiệm pháp lý cao hơn vì thế trở thành lực cản đáng kể đối với quyết định chuyển đổi.

Khả năng tiếp cận tín dụng và thị trường sau khi chuyển đổi chưa thực sự tạo ra lợi ích rõ rệt so với trước đây. Không ít hộ kinh doanh cho rằng dù đã trở thành doanh nghiệp nhưng họ vẫn gặp khó trong việc vay vốn ngân hàng, tiếp cận đất đai hoặc mặt bằng sản xuất.

Đồng thời, việc mở rộng thị trường, tìm kiếm đối tác mới hay tham gia chuỗi giá trị cũng chưa mang lại lợi ích tức thì, khiến nhiều hộ chưa thấy rõ lợi ích ngắn hạn cho quyết định chuyển đổi, từ đó làm suy giảm động lực thay đổi mô hình hoạt động.

Ngoài ra, thủ tục hành chính vẫn được xem là rào cản mang tính tâm lý dai dẳng. Đối với nhiều hộ kinh doanh, việc phải dành thêm thời gian và nguồn lực cho thủ tục hành chính và tuân thủ quy định được xem là chi phí cơ hội không nhỏ, làm giảm sức hấp dẫn của quá trình chuyển đổi.

Những điểm nghẽn này cho thấy, để khai thác hiệu quả “mỏ vàng” 5,2 triệu hộ kinh doanh và biến khu vực này thành động lực quan trọng trong quá trình phát triển doanh nghiệp, cần tiếp tục hoàn thiện chính sách hỗ trợ theo hướng thực chất, dễ tiếp cận và tạo động lực đủ lớn, qua đó thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyển đổi trong giai đoạn tới.

Thưa ông, trong năm 2026, các cơ chế, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ được đặt trọng tâm vào những lĩnh vực, mục tiêu nào để thúc đẩy khả năng phục hồi và nâng cao năng lực cạnh tranh của cộng đồng này?

Các chính sách hỗ trợ được Nhà nước triển khai trong thời gian qua, từ nới lỏng tài khóa, gia hạn và giảm thuế, phí, cho tới mở rộng tín dụng và cải thiện môi trường đầu tư – kinh doanh đã đóng vai trò như “bệ đỡ” quan trọng giúp doanh nghiệp vượt qua giai đoạn khó khăn. Bộ Tài chính đã chủ động nghiên cứu, tham mưu và trình cấp có thẩm quyền ban hành nhiều gói chính sách miễn, giảm, gia hạn thuế, phí, lệ phí và tiền thuê đất nhằm tháo gỡ áp lực chi phí, cải thiện dòng tiền và hỗ trợ doanh nghiệp, người dân phục hồi hoạt động, với tổng quy mô hỗ trợ khoảng 244,5 nghìn tỷ đồng.

Nhờ những giải pháp kịp thời, áp lực chi phí của doanh nghiệp từng bước được giảm nhẹ, khả năng thanh khoản được cải thiện và niềm tin thị trường dần được củng cố.

Để đồng hành cùng cộng đồng doanh nghiệp trong chặng đường tới và thực hiện nhiệm vụ Chính phủ giao, Bộ Tài chính sẽ tập trung nghiên cứu, rà soát và sửa đổi toàn diện Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong năm 2026. Mục tiêu là thể chế hóa đầy đủ các định hướng lớn của Bộ Chính trị về phát triển khu vực doanh nghiệp, qua đó hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, nâng cao hiệu quả chính sách hỗ trợ và tạo động lực mới cho doanh nghiệp phát triển ổn định, dài hạn trong giai đoạn tới.

Tiếp cận các nguồn lực về vốn vẫn được đánh giá là một trong những rào cản lớn đối với khu vực tư nhân, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng như hộ kinh doanh trong quá trình mở rộng hoạt động và chuyển đổi lên mô hình doanh nghiệp. Bước sang năm 2026, Bộ Tài chính dự kiến triển khai những giải pháp gì để hỗ trợ khu vực này, thưa ông?

Nhận diện rõ những rào cản đang cản trở quá trình “lớn lên” của khu vực hộ kinh doanh, trong năm 2026, Bộ Tài chính sẽ tập trung triển khai đồng bộ nhiều giải pháp mang tính thực chất, nhằm tạo dựng niềm tin và động lực để các cơ sở mạnh dạn chuyển đổi sang mô hình doanh nghiệp.

Thứ nhất, hoàn thiện khung pháp lý về hộ kinh doanh và lộ trình chuyển đổi. Theo đó, Bộ Tài chính sẽ rà soát toàn diện các quy định liên quan đến tổ chức, quản trị, chế độ tài chính – kế toán và nghĩa vụ tuân thủ của hộ kinh doanh, qua đó từng bước thu hẹp khoảng cách giữa hộ kinh doanh và doanh nghiệp.

Thứ hai, triển khai bãi bỏ thuế khoán gắn với hiện đại hóa quản lý thuế và hạ tầng số. Bộ Tài chính sẽ khẩn trương hoàn thiện cơ sở pháp lý, đồng thời đầu tư, nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin để thực hiện bãi bỏ thuế khoán đối với hộ kinh doanh từ ngày 1/1/2026 theo đúng lộ trình.

Thứ ba, trên cơ sở Nghị quyết số 198/2025/QH15 ngày 17/5/2025 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân, Bộ Tài chính sẽ tiếp tục hoàn thiện các cơ chế ưu đãi dành cho hộ kinh doanh khi chuyển đổi thành doanh nghiệp, trong đó miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong những năm đầu sau khi thành lập, bãi bỏ lệ phí môn bài, hỗ trợ tiếp cận tín dụng và giảm chi phí tuân thủ.

Cùng với hoàn thiện thể chế và chính sách, Bộ sẽ phối hợp với các bộ, ngành, địa phương và hiệp hội doanh nghiệp tăng cường công tác truyền thông, tư vấn trực tiếp và đào tạo kỹ năng cho hộ kinh doanh.

Quan điểm xuyên suốt và nhất quán của Bộ Tài chính là việc chuyển đổi hộ kinh doanh lên doanh nghiệp không nhằm “quản chặt hơn” mà để “mở ra không gian phát triển rộng hơn”. Khi trở thành doanh nghiệp, các cơ sở sẽ có điều kiện tiếp cận thuận lợi hơn với vốn, thị trường, công nghệ và các chính sách hỗ trợ của Nhà nước, qua đó nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và khả năng cạnh tranh dài hạn.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8/2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-

Categories: The Latest News

Thông điệp chúc Tết Bính Ngọ 2026 của Chủ tịch nước Lương Cường

Thời Báo Kinh Tế - Tue, 02/17/2026 - 09:11
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, đúng thời khắc Giao thừa thiêng liêng chuyển giao giữa năm cũ và năm mới, thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chủ tịch nước Lương Cường có thông điệp chúc Tết gửi đến đồng bào, đồng chí và chiến sĩ cả nước, cũng như cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.

VnEconomy trân trọng giới thiệu toàn văn Thông điệp chúc Tết của Chủ tịch nước:

Thưa đồng bào, đồng chí, chiến sĩ cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài,

Xuân Bính Ngọ đã tới, trong thời khắc chuyển giao năm cũ - năm mới, tôi thân ái gửi tới đồng bào, đồng chí, chiến sĩ cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài lời chúc năm mới an lành, mạnh khỏe và hạnh phúc. Tôi trân trọng gửi tới nhân dân, bạn bè quốc tế những lời chúc tốt đẹp nhất, chúc một năm mới hòa bình, hạnh phúc và cùng phát triển.

Năm Ất Tỵ 2025, đất nước ta đã đi qua một chặng đường ghi dấu nhiều sự kiện quan trọng, có ý nghĩa đặc biệt và đạt được nhiều thành tựu rất đáng tự hào; đồng thời, cũng là một năm đất nước ta phải trải qua rất nhiều khó khăn, thử thách, với những biến động nhanh, phức tạp, khó lường của tình hình thế giới và khu vực, cùng những thiên tai khắc nghiệt, gây tổn thất nặng nề, để lại nhiều đau thương, mất mát cho đồng bào ta.

Bằng bản lĩnh kiên cường, ý chí tự lực, tự cường, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã đoàn kết, chung sức đồng lòng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc và sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế, chúng ta đã hoàn thành toàn bộ các mục tiêu chủ yếu đề ra, với nhiều dấu ấn nổi bật: Độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, môi trường hòa bình được giữ vững; tăng trưởng kinh tế thuộc nhóm dẫn đầu thế giới, trở thành nước có thu nhập trung bình cao; an sinh xã hội được quan tâm chăm lo; chính trị, xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được giữ vững và tăng cường; đối ngoại, hội nhập quốc tế được đẩy mạnh, vị thế, uy tín của Việt Nam tiếp tục được nâng cao trên trường quốc tế; tạo nền tảng quan trọng để đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới.

Bước sang năm mới Bính Ngọ 2026 - Năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, với truyền thống yêu nước nồng nàn, tinh thần đoàn kết, ý chí kiên cường và khát vọng vươn lên mạnh mẽ, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta sẽ tiếp tục đoàn kết, chung sức đồng lòng, tận dụng mọi thời cơ, vận hội, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, phát huy mạnh mẽ tinh thần tự tin, tự chủ, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, không ngừng đổi mới sáng tạo, hành động quyết liệt để hiện thực hóa thành công mục tiêu xây dựng đất nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.

Trong niềm vui đón chào mùa Xuân mới, một lần nữa, tôi chúc đồng bào, đồng chí, chiến sĩ cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài năm mới thắng lợi mới, thành công mới; dân tộc và nhân dân ta ngày càng thịnh vượng, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc.

Chào thân ái và quyết thắng!

-

Categories: The Latest News

Thông điệp chúc Tết Bính Ngọ 2026 của Chủ tịch nước Lương Cường

Thời báo kinh tế Việt Nam - Tue, 02/17/2026 - 09:11
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, đúng thời khắc Giao thừa thiêng liêng chuyển giao giữa năm cũ và năm mới, thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chủ tịch nước Lương Cường có thông điệp chúc Tết gửi đến đồng bào, đồng chí và chiến sĩ cả nước, cũng như cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.

VnEconomy trân trọng giới thiệu toàn văn Thông điệp chúc Tết của Chủ tịch nước:

Thưa đồng bào, đồng chí, chiến sĩ cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài,

Xuân Bính Ngọ đã tới, trong thời khắc chuyển giao năm cũ - năm mới, tôi thân ái gửi tới đồng bào, đồng chí, chiến sĩ cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài lời chúc năm mới an lành, mạnh khỏe và hạnh phúc. Tôi trân trọng gửi tới nhân dân, bạn bè quốc tế những lời chúc tốt đẹp nhất, chúc một năm mới hòa bình, hạnh phúc và cùng phát triển.

Năm Ất Tỵ 2025, đất nước ta đã đi qua một chặng đường ghi dấu nhiều sự kiện quan trọng, có ý nghĩa đặc biệt và đạt được nhiều thành tựu rất đáng tự hào; đồng thời, cũng là một năm đất nước ta phải trải qua rất nhiều khó khăn, thử thách, với những biến động nhanh, phức tạp, khó lường của tình hình thế giới và khu vực, cùng những thiên tai khắc nghiệt, gây tổn thất nặng nề, để lại nhiều đau thương, mất mát cho đồng bào ta.

Bằng bản lĩnh kiên cường, ý chí tự lực, tự cường, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã đoàn kết, chung sức đồng lòng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc và sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế, chúng ta đã hoàn thành toàn bộ các mục tiêu chủ yếu đề ra, với nhiều dấu ấn nổi bật: Độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, môi trường hòa bình được giữ vững; tăng trưởng kinh tế thuộc nhóm dẫn đầu thế giới, trở thành nước có thu nhập trung bình cao; an sinh xã hội được quan tâm chăm lo; chính trị, xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được giữ vững và tăng cường; đối ngoại, hội nhập quốc tế được đẩy mạnh, vị thế, uy tín của Việt Nam tiếp tục được nâng cao trên trường quốc tế; tạo nền tảng quan trọng để đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới.

Bước sang năm mới Bính Ngọ 2026 - Năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, với truyền thống yêu nước nồng nàn, tinh thần đoàn kết, ý chí kiên cường và khát vọng vươn lên mạnh mẽ, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta sẽ tiếp tục đoàn kết, chung sức đồng lòng, tận dụng mọi thời cơ, vận hội, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, phát huy mạnh mẽ tinh thần tự tin, tự chủ, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, không ngừng đổi mới sáng tạo, hành động quyết liệt để hiện thực hóa thành công mục tiêu xây dựng đất nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.

Trong niềm vui đón chào mùa Xuân mới, một lần nữa, tôi chúc đồng bào, đồng chí, chiến sĩ cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài năm mới thắng lợi mới, thành công mới; dân tộc và nhân dân ta ngày càng thịnh vượng, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc.

Chào thân ái và quyết thắng!

-

Categories: The Latest News

2025 năm đột phá về thể chế của ngành khoa học và công nghệ

Thời báo kinh tế Việt Nam - Tue, 02/17/2026 - 09:03
Với 10 bộ luật, 23 nghị định và 71 thông tư đã được ban hành, năm 2025 có lẽ là năm bận rộn nhất của Bộ Khoa học và Công nghệ, song cũng là năm khó quên đối với cộng đồng các doanh nghiệp, viện, trường công nghệ khi hàng loạt quy định đột phá ra đời, mở thêm không gian phát triển mới và tháo gỡ nhiều điểm nghẽn đã tồn tại suốt nhiều năm...

Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Bùi Hoàng Phương đã nhấn mạnh rằng khối lượng công việc này tương đương với 20 năm xây dựng văn bản pháp luật của cả hai bộ Khoa học và Công nghệ và Thông tin và Truyền thông trước đây. Việc thông qua 10 dự án luật trụ cột không chỉ đơn thuần là hoàn thiện quy định mà còn tạo ra một "hệ sinh thái" pháp lý thông thoáng, khơi thông nguồn lực để phát triển ngành.

Năm 2025 cũng là năm mà Bộ Khoa học và Công nghệ đã chủ trì soạn thảo, sửa đổi và trình Quốc hội thông qua 10 bộ luật, trong đó có những quy định về ưu đãi và chấp nhận rủi ro chưa từng có. Điều này đã mở rộng không gian cho các doanh nghiệp, viện, trường công nghệ phát triển. Đặc biệt, Luật Công nghiệp Công nghệ số đã đưa Việt Nam vào nhóm 5 nước đi đầu về luật này, và Luật Chuyển đổi số đã giúp Việt Nam trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới có luật về lĩnh vực này.

Các bộ luật được ban hành không rời rạc mà được thiết kế như một không gian thể chế kiến tạo, cho phép khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được kết nối và phát triển xuyên suốt. Tư duy quản lý đã chuyển dịch rõ rệt từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”, từ quản lý bằng mệnh lệnh hành chính sang quản lý dựa trên rủi ro. Pháp luật không còn chỉ nhằm quản lý những gì đã có, mà bắt đầu mở đường cho những điều chưa từng tồn tại, từ đó mở ra không gian phát triển rộng lớn cho ngành.

Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là văn bản pháp lý rất quan trọng, chính thức pháp điển “đổi mới sáng tạo” như một lĩnh vực độc lập, đồng thời thiết lập cơ chế "thử nghiệm có kiểm soát" cho công nghệ mới như AI, blockchain. Luật cũng tạo hành lang pháp lý để chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu, miễn trách nhiệm hành chính, dân sự, thậm chí là hình sự đối với thiệt hại gây ra cho Nhà nước nếu đã tuân thủ đầy đủ quy trình, quy định.

Nhìn về năm 2026, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng khẳng định phương châm Nhà nước sẽ đóng vai trò kiến tạo, dẫn dắt, thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ thông qua việc hoàn thiện thể chế, chính sách, đầu tư nguồn lực và tạo thị trường ban đầu cho sản phẩm công nghệ.

Thể chế phải đi trước một bước, trở thành lợi thế cạnh tranh quốc gia chứ không phải rào cản. Bộ sẽ tập trung nguồn lực cho một số công nghệ trọng điểm, thay vì dàn trải, với mục tiêu tạo ra kết quả thực chất, có thể đo đếm và lan tỏa, tác động tới tăng trưởng kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống người dân...

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8 Xuân Bính Ngọ phát hành ngày 16/02 - 01/3/2026. Kính mời quý độc giả tìm đọc tại đây:

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-Bạch Dương

Categories: The Latest News

Thị trường bất động sản bước vào chu kỳ tăng trưởng mới

Thời báo kinh tế Việt Nam - Tue, 02/17/2026 - 09:00
Trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy nhân dịp đầu năm mới 2026, ông Nguyễn Văn Sinh, Thứ trưởng Bộ Xây dựng, nhận định bước sang năm 2026, với quyết tâm chính trị cao, sự hoàn thiện dần của thể chế và nỗ lực đổi mới của cộng đồng doanh nghiệp, thị trường bất động sản Việt Nam sẽ bứt phá và bước vào chu kỳ tăng trưởng mới.

Thưa Thứ trưởng, nhiều ý kiến cho rằng một trong những dấu ấn quan trọng của thị trường bất động sản trong năm 2025 là sự chuyển biến mạnh về pháp lý. Theo Thứ trưởng, những chính sách mới ban hành đã tác động thế nào đến thị trường này?

Trong thời gian qua, Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã quan tâm, chỉ đạo quyết liệt triển khai nhiều giải pháp đồng bộ nhằm tháo gỡ khó khăn, kịp thời thúc đẩy các dự án đầu tư, tăng nguồn cung sản phẩm nhà ở, bất động sản ở các phân khúc, nhất là nhà ở xã hội.

Tính từ năm 2021 đến nay, Bộ Xây dựng đã chủ trì, trình cơ quan có thẩm quyền ban hành 2 luật, 1 nghị quyết của Quốc hội, 14 nghị định của Chính phủ, 8 quyết định (bao gồm cả quyết định chỉ đạo, điều hành) và ban hành 8 thông tư. Riêng trong năm 2025, Bộ Xây dựng đã chủ trì, trình cơ quan có thẩm quyền ban hành 1 nghị quyết của Quốc hội, 7 nghị quyết của Chính phủ, 1 quyết định của Thủ tướng Chính phủ về giao chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội, 3 công điện và 1 chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ. Đặc biệt, thời gian vừa qua Bộ Xây dựng đã tham mưu Chính phủ, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 201/2025/QH15 và các văn bản hướng dẫn về việc thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển nhà ở xã hội, với mục tiêu tạo cơ chế ưu đãi hơn nữa để thu hút các doanh nghiệp tham gia đầu tư xây dựng nhà ở xã hội.

Quốc hội, Chính phủ đã ban hành các cơ chế, chính sách về pháp luật đất đai nhằm hỗ trợ cho các dự án bất động sản, như: Nghị quyết số 170/2024/QH15 của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đối với các dự án, đất đai trong kết luận thanh tra, kiểm tra, bản án tại TP. Hồ Chí Minh, TP.Đà Nẵng và tỉnh Khánh Hòa; Nghị quyết số 171/2024/QH15 của Quốc hội về thí điểm thực hiện dự án nhà ở thương mại thông qua thỏa thuận về nhận quyền sử dụng đất hoặc đang có quyền sử dụng đất; Nghị quyết số 254/2025/QH15 của Quốc hội quy định một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai, cụ thể là: mở rộng trường hợp thu hồi đất, quy định rõ hơn về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, cơ chế giao đất, cho thuê đất không qua đấu giá/thầu, quy định về giá đất, bảng giá đất và các quy định về đăng ký đất đai, tách thửa, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất…

Các chính sách pháp luật về đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và đầu tư xây dựng được ban hành, sửa đổi đã từng bước bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất và liên thông giữa các luật, khắc phục tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn trong quá trình tổ chức thực hiện.

Nhiều cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án bất động sản, đặc biệt là các dự án nhà ở, nhà ở xã hội, cải tạo chung cư cũ, phát triển đô thị đã được triển khai quyết liệt, qua đó, khơi thông dòng vốn, thúc đẩy triển khai dự án, từng bước gia tăng nguồn cung, tạo nền tảng quan trọng cho thị trường bất động sản phát triển ổn định, lành mạnh và bền vững trong thời gian tới.

Mặc dù vậy, diễn biến thực tế trên thị trường bất động sản cũng cho thấy còn nhiều bất cập. Thứ trưởng đánh giá thế nào về thực trạng này?

Thực tế còn một số tồn tại, hạn chế cần được khắc phục nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững và hiệu quả trong tương lai.

Một là, dư thừa nguồn cung sản phẩm bất động sản, nhà ở phân khúc cao cấp và phân khúc trung cấp, thiếu sản phẩm bất động sản là nhà ở giá phù hợp với khả năng chi trả của đa số người dân.

Hai là, việc cập nhập thông tin lên hệ thống thông tin về nhà ở và thị trường bất động sản của các địa phương, doanh nghiệp còn chậm, khiến việc tiếp cận thông tin đầy đủ, chính xác của người dân, nhà đầu tư và cơ quan quản lý gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng trực tiếp đến tính minh bạch của thị trường.

Ba là, một số dự án vẫn gặp vướng mắc về mặt pháp lý, bị đình trệ, trong khi nguồn lực đã đầu tư là rất lớn, gây lãng phí về đất đai và nguồn vốn, làm gia tăng khó khăn và chi phí, từ đó làm tăng giá bán sản phẩm.

Bốn là, nhiều địa phương chưa bám sát chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở đã được phê duyệt, thiếu chủ động trong quản lý cơ cấu sản phẩm và quỹ đất phát triển nhà ở, chưa quan tâm thỏa đáng đến việc phát triển nhà ở xã hội, nhà ở thương mại có giá phù hợp.

Vậy, Bộ Xây dựng định hướng thế nào để khắc phục những hạn chế nêu trên, thưa Thứ trưởng?

Trong năm 2026, để tạo ra môi trường pháp lý thuận lợi, ổn định và bền vững cho sự phát triển của thị trường bất động sản, Bộ Xây dựng sẽ thực hiện nhiều giải pháp, bao gồm:

Tiếp tục rà soát, hoàn thiện thể chế, chính sách liên quan đến lĩnh vực nhà ở, bất động sản đảm bảo đồng bộ, thống nhất, khả thi và hiệu quả, theo hướng thực hiện cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, tăng cường phân cấp, phân quyền, ứng dụng chuyển đổi số để khắc phục những tồn tại, hạn chế, bất cập, chưa phù hợp với thực tiễn. Nghiên cứu cơ chế, chính sách để thúc đẩy phát triển nhà ở thương mại có giá phù hợp.

Tập trung thúc đẩy phát triển nhà ở theo quy hoạch, chương trình, kế hoạch phù hợp nhu cầu của thực tế trong giai đoạn mới, tránh việc đầu tư tràn lan gây lãng phí nguồn lực đầu tư; gắn với phát triển, cải tạo, chỉnh trang đô thị; đảm bảo đồng bộ hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội.

Thúc đẩy phát triển nhà ở xã hội theo Nghị quyết của Chính phủ về chỉ tiêu đột phá phát triển nhà ở xã hội giai đoạn từ năm 2026 đến năm 2030 để hoàn thành mục tiêu Đề án "Đầu tư xây dựng ít nhất 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội cho đối tượng thu nhập thấp, công nhân khu công nghiệp giai đoạn 2021 - 2030". Khẩn trương thành lập Quỹ nhà ở quốc gia để tiếp nhận nguồn vốn, đầu tư, tạo lập, quản lý vận hành, cho thuê nhà ở.

Kiểm tra, đôn đốc, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án bất động sản và nhà ở trên cả nước, đặc biệt là các dự án nhà ở xã hội; hướng dẫn các địa phương xác định số lượng nhà ở xã hội hoàn thành theo đúng quy định của pháp luật.

Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện xây dựng mô hình “Trung tâm giao dịch bất động sản và quyền sử dụng đất do Nhà nước quản lý” nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và tăng cường tính công khai, minh bạch của giao dịch bất động sản trên thị trường.

Tiếp tục đôn đốc các bộ ngành, địa phương cập nhật, chuẩn hóa thông tin dữ liệu lên hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về nhà ở và thị trường bất động sản. Đồng thời, xây dựng hệ thống phần mềm quản lý, vận hành, khai thác hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về nhà ở và thị trường bất động sản theo Nghị định số 357/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 của Chính phủ, bảo đảm dữ liệu đầy đủ, chính xác, đồng bộ và kết nối liên thông từ Trung ương đến địa phương với các cơ sở dữ liệu đất đai, xây dựng, quy hoạch, thuế và tài chính.

Thực hiện kiểm tra, thanh tra để kịp thời chấn chỉnh, ngăn chặn và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm trong hoạt động kinh doanh bất động sản, dịch vụ sàn giao dịch bất động sản, dịch vụ môi giới bất động sản; giám sát, kiểm soát hoạt động cấp tín dụng, phát hành trái phiếu doanh nghiệp trong lĩnh vực bất động sản…

Với những giải pháp đó, Thứ trưởng nhận định thế nào về diễn biến của thị trường bất động sản trong năm 2026?

Năm 2025 là giai đoạn bản lề quan trọng, tạo nền tảng để thị trường bất động sản bước sang năm 2026 với trạng thái ổn định và bền vững hơn. Những thay đổi lớn về thể chế, đặc biệt là việc các luật liên quan đến đất đai, nhà ở và kinh doanh bất động sản chính thức đi vào cuộc sống, đã từng bước tháo gỡ các điểm nghẽn pháp lý kéo dài, khơi thông nguồn cung và củng cố niềm tin thị trường.

Bước sang năm 2026, thị trường được dự báo sẽ “sôi động trong sự thận trọng”, phân khúc căn hộ và nhà ở phục vụ nhu cầu thực tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt. Sự phân hóa sẽ ngày càng rõ nét, khi người mua và nhà đầu tư ưu tiên các dự án có pháp lý minh bạch, hạ tầng đồng bộ, giá trị sử dụng thực và uy tín chủ đầu tư. Đây là nền tảng để thị trường phát triển lành mạnh, giảm đầu cơ và hướng tới tăng trưởng bền vững trong giai đoạn mới.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8/2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-

Categories: The Latest News

Nga tăng kỷ lục xuất khẩu dầu sang Trung Quốc

Thời báo kinh tế Việt Nam - Tue, 02/17/2026 - 08:17
Nga ghi nhận mức xuất khẩu dầu kỷ lục sang Trung Quốc trong tháng 1, phản ánh sự gắn kết ngày càng sâu sắc trong hợp tác năng lượng song phương. Trong khi đó, dòng chảy dầu toàn cầu đang tái phân bổ, với Trung Quốc giảm mua từ Trung Đông và tăng nhập từ Nga.

Theo báo Pravda, trong tháng 1, Nga đã tăng mạnh lượng dầu xuất khẩu sang Trung Quốc bằng đường biển. Khối lượng xuất khẩu tăng thêm 290.000 thùng/ngày và đạt mức kỷ lục 1,7 triệu thùng/ngày.

Dữ liệu này được nêu trong báo cáo tháng 2 của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA). Đây là mức cao nhất trong toàn bộ giai đoạn theo dõi đối với tuyến vận chuyển đường biển, cho thấy tính bền vững của hợp tác năng lượng Nga-Trung và tầm quan trọng chiến lược của quan hệ này đối với cả hai nước.

Cùng thời điểm đó, lượng nhập khẩu dầu Nga của Ấn Độ giảm 100.000 thùng/ngày, xuống còn 1,1 triệu thùng/ngày - mức thấp nhất kể từ tháng 11/2022.

Tuy nhiên, nguồn cung nguyên liệu cho nhà máy lọc dầu tại Vadinar, thuộc công ty Nayara Energy, lại tăng thêm 310.000 thùng/ngày. Do đó, việc giảm nhập khẩu tổng thể không có nghĩa là Nga mất vị thế, mà phản ánh sự tái phân bổ dòng chảy và định hướng chính xác hơn vào các cơ sở chế biến có biên lợi nhuận cao.

Theo IEA, các nhà máy lọc dầu Trung Quốc đã bắt đầu mua nhiều hơn loại dầu chủ lực Urals của Nga. Xuất khẩu Urals sang Trung Quốc tăng 250.000 thùng/ngày và đạt mức kỷ lục lịch sử 500.000 thùng/ngày.

Trước đây, các nhà máy lọc dầu Trung Quốc chủ yếu tập trung vào loại dầu cao cấp ESPO, có độ nhẹ cao và hàm lượng lưu huỳnh thấp. Tuy nhiên, sự gia tăng quan tâm đối với Urals cho thấy tính linh hoạt của ngành lọc dầu Trung Quốc và khả năng xử lý hiệu quả các loại dầu có đặc tính khác nhau.

Việc tăng mua Urals gắn liền với chính sách giá cạnh tranh và logistics ổn định. Các công ty Nga đã xây dựng được các tuyến vận tải biển đáng tin cậy và thích ứng cơ chế thương mại với các điều kiện bên ngoài mới.

Điều này củng cố niềm tin từ phía đối tác Trung Quốc và cho phép Nga mở rộng hiện diện tại một trong những thị trường dầu lớn nhất thế giới. Kết quả là Nga đang củng cố vị thế đối tác năng lượng chủ chốt của Trung Quốc.

Các nhà phân tích của IEA nhận định rằng để hấp thụ thêm lượng dầu Nga vượt mức nhu cầu tiêu thụ thông thường, Trung Quốc sẽ phải giảm nhập khẩu từ các nguồn khác hoặc đưa một phần dầu vào kho dự trữ chiến lược và thương mại.

Theo tờ Nefti Kapital, quá trình này có thể đã bắt đầu. Trong tháng 1, lượng mua từ các nhà cung cấp Trung Đông giảm 630.000 thùng/ngày xuống còn 5 triệu thùng/ngày. Điều này cho thấy dòng chảy đang được tái phân bổ theo hướng có lợi cho dầu Nga và phản ánh sức cạnh tranh gia tăng của nguồn cung này.

Xu hướng này phản ánh những biến động rộng hơn trên thị trường năng lượng toàn cầu. Trung Quốc đang tích cực đa dạng hóa nguồn nhập khẩu và tìm cách đảm bảo ổn định nguồn cung trong bối cảnh giá cả biến động và các yếu tố địa chính trị. Trong cấu hình này, dầu Nga đóng vai trò quan trọng nhờ sự kết hợp giữa khối lượng lớn, khả năng tiếp cận logistics và các điều kiện thanh toán linh hoạt.

Một yếu tố bổ sung là sự phát triển hạ tầng tại Viễn Đông Nga, bao gồm năng lực cảng biển và hệ thống đường ống, giúp tăng tốc độ giao hàng và giảm chi phí vận chuyển.

Theo dữ liệu của Hải quan Trung Quốc, các nhà cung cấp dầu chính cho nước này vẫn là Nga, Saudi Arabia, Malaysia, Iraq và Brazil. Trong đó, Nga vẫn giữ vị trí dẫn đầu, nhấn mạnh tính dài hạn của hợp tác song phương và hiệu quả kinh tế của quan hệ này.

Sự gia tăng xuất khẩu dầu sang Trung Quốc không chỉ mang ý nghĩa thương mại mà còn phản ánh sự định hình lại các liên kết năng lượng toàn cầu. Khi các tuyến cung ứng truyền thống bị phân mảnh bởi địa chính trị, trục Nga-Trung có thể trở thành một trong những nhân tố định hình cán cân năng lượng thế kỷ XXI.

Pravda-Trọng Hoàng

Categories: The Latest News

Khi trung tâm dữ liệu trở thành “người khổng lồ ngốn điện”: Ai sẽ trả hóa đơn cho kỷ nguyên AI?

Thời báo kinh tế Việt Nam - Tue, 02/17/2026 - 08:14
Sự bùng nổ trung tâm dữ liệu trong kỷ nguyên AI đang làm gia tăng mạnh nhu cầu điện và đặt ra câu hỏi ai sẽ phải trả hóa đơn năng lượng ngày càng đắt đỏ. Cuộc tranh luận về trách nhiệm tài chính của Big Tech đang trở thành một chủ đề chính sách nóng tại Mỹ.

Khi các trung tâm dữ liệu mọc lên khắp nước Mỹ để phục vụ chatbot, điện toán đám mây và các mô hình AI tạo sinh, chi phí điện năng khổng lồ của chúng đã trở thành vấn đề chính trị, kinh tế và xã hội. Cuộc tranh luận không chỉ xoay quanh giá điện mà còn phản ánh lo ngại về quyền lực của Big Tech, chính sách năng lượng và tương lai của hạ tầng điện lực.

CHI PHÍ ĐIỆN NĂNG VÀ NỖI LO CHI PHÍ SINH HOẠT Sự gia tăng mạnh mẽ của các trung tâm dữ liệu đang làm thay đổi cấu trúc tiêu thụ điện tại Mỹ. Những cơ sở này, vốn trông giống như các nhà kho khổng lồ, có thể tiêu thụ lượng điện tương đương một thành phố nhỏ, vượt xa bất kỳ khách hàng đơn lẻ nào mà các công ty điện lực từng phục vụ trước đây.

Điều này tạo ra hiệu ứng lan tỏa lên toàn hệ thống điện. Khi các công ty điện lực phải xây dựng thêm nhà máy điện, nâng cấp lưới truyền tải và đầu tư cơ sở hạ tầng mới để phục vụ trung tâm dữ liệu, chi phí đầu tư có thể được phân bổ cho toàn bộ người sử dụng điện. Kết quả là người dân và doanh nghiệp nhỏ có nguy cơ phải trả hóa đơn điện cao hơn để bù đắp nhu cầu của Big Tech.

Trong bối cảnh giá năng lượng tăng và lạm phát chi phí sinh hoạt trở thành mối quan tâm hàng đầu của cử tri Mỹ, vấn đề này đã nhanh chóng trở thành chủ đề chính trị nhạy cảm. Các chính trị gia từ Tổng thống Donald Trump đến các nhà lập pháp địa phương hiếm hoi đạt được đồng thuận lưỡng đảng rằng các tập đoàn công nghệ phải tự chi trả phần lớn chi phí điện cho hoạt động của mình, thay vì chuyển gánh nặng sang người tiêu dùng.

Tuy nhiên, sự đồng thuận này dường như chỉ dừng lại ở tuyên bố chính trị. Khái niệm “phần công bằng” (fair share) mà các tập đoàn công nghệ cam kết trả vẫn chưa được định nghĩa rõ ràng, dẫn đến tranh cãi về mức độ và cách thức phân bổ chi phí.

Sự thay đổi thái độ của các bang và cộng đồng địa phương cũng rất rõ rệt. Chỉ một năm trước, nhiều bang cạnh tranh để thu hút các dự án trung tâm dữ liệu lớn bằng ưu đãi thuế và chính sách năng lượng linh hoạt. Hiện nay, nhiều thị trấn và thành phố đã phản đối các dự án mới do lo ngại về tác động môi trường, áp lực lên hạ tầng và hóa đơn điện tăng cao.

ÁP LỰC CHÍNH TRỊ VÀ CUỘC TRANH LUẬN CHÍNH SÁCH

Cuộc tranh luận về chi phí điện cho trung tâm dữ liệu đã có tác động chính trị rõ rệt. Tại bang Georgia, cử tri đã loại bỏ hai thành viên đảng Cộng hòa khỏi ủy ban điều tiết điện lực trong cuộc bầu cử gần đây, phản ánh sự bất mãn của người dân với cách quản lý chi phí năng lượng.

Các chuyên gia thăm dò dư luận cho rằng cử tri ngày càng liên hệ trực tiếp trải nghiệm cá nhân về hóa đơn điện với sự phát triển của các trung tâm dữ liệu. Điều này đặt ra câu hỏi lớn về cách chính phủ sẽ cân bằng giữa thúc đẩy công nghệ và bảo vệ người tiêu dùng.

Trong khi đó, chính quyền liên bang vẫn coi trí tuệ nhân tạo là ưu tiên chiến lược về kinh tế và an ninh quốc gia. Tổng thống Donald Trump từng kêu gọi chính phủ hỗ trợ các trung tâm dữ liệu tiếp cận nguồn điện cần thiết để thúc đẩy đổi mới. Tuy nhiên, trước phản ứng của dư luận, ông cũng thừa nhận rằng các trung tâm dữ liệu phải “tự trả chi phí của mình”.

Tranh cãi càng trở nên gay gắt khi Bộ trưởng Năng lượng Mỹ Chris Wright cho rằng các trung tâm dữ liệu không làm tăng giá điện, trái ngược với quan điểm của các nhóm bảo vệ người tiêu dùng và các nhà phân tích độc lập. Sự khác biệt trong đánh giá này phản ánh cuộc tranh luận rộng hơn về chính sách năng lượng, đặc biệt là vai trò của năng lượng tái tạo và nhiên liệu hóa thạch.

Một số bang và công ty điện lực đã bắt đầu đưa ra các cơ chế buộc các tập đoàn công nghệ phải trả chi phí trực tiếp cho hạ tầng điện. Các biện pháp bao gồm hợp đồng mua điện dài hạn, yêu cầu doanh nghiệp công nghệ tài trợ xây dựng nhà máy điện và nâng cấp lưới điện, hoặc đặt cọc tài chính lớn để phòng trường hợp dự án bị hủy bỏ hoặc giảm nhu cầu điện.

Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng các biện pháp này khó giải quyết vấn đề ngắn hạn. Nhu cầu điện đang tăng nhanh hơn tốc độ xây dựng nhà máy điện, khiến thị trường điện đối mặt với nguy cơ thiếu hụt nguồn cung và biến động giá.

Theo ông Abe Silverman, cựu luật sư điều tiết điện lực và nhà nghiên cứu năng lượng tại Đại học Johns Hopkins, thách thức lớn nhất là việc Big Tech có thể trả giá cao hơn để giành điện năng trong ngắn hạn, khiến người tiêu dùng thông thường bị cạnh tranh trực tiếp trên thị trường điện.

TƯƠNG LAI HẠ TẦNG ĐIỆN VÀ CÂU HỎI TRÁCH NHIỆM CỦA BIG TECH

Cuộc tranh luận về trung tâm dữ liệu không chỉ liên quan đến giá điện mà còn phản ánh những câu hỏi lớn hơn về quyền lực kinh tế và trách nhiệm xã hội của các tập đoàn công nghệ. Một số nhóm bảo vệ người tiêu dùng cho rằng “phần công bằng” phải bao gồm chi phí nâng cấp lưới điện, tăng giá khí đốt tự nhiên và các khoản đầu tư hạ tầng khác do nhu cầu của trung tâm dữ liệu thúc đẩy.

Tại bang Oregon, luật mới được ban hành nhằm bảo vệ người sử dụng điện nhỏ khỏi chi phí trung tâm dữ liệu, nhưng việc thực thi vẫn gặp tranh cãi giữa nhóm vận động người tiêu dùng và công ty điện lực lớn nhất bang. Các nhóm vận động ở Indiana, Georgia và Missouri cũng cảnh báo rằng chi phí mở rộng hạ tầng có thể bị chuyển sang người dân nếu không có quy định chặt chẽ.

Ở khu vực lưới điện trung Đại Tây Dương, các nhà phân tích dự báo hàng tỷ USD chi phí tăng giá điện có thể xuất hiện trên hóa đơn của người dân do nhu cầu trung tâm dữ liệu. Điều này đặt ra thách thức lớn đối với các nhà hoạch định chính sách trong việc cân bằng giữa phát triển công nghệ và công bằng xã hội.

Trước áp lực này, nhiều dự luật đã được trình lên Quốc hội Mỹ và nghị viện các bang nhằm điều chỉnh hoạt động trung tâm dữ liệu. Các đề xuất bao gồm áp đặt moratorium (tạm dừng) dự án mới, thay đổi ưu đãi thuế, hạn chế lợi nhuận của công ty điện lực và tăng bảo vệ người tiêu dùng.

Dự báo cho năm 2026 cho thấy chi phí năng lượng sẽ tiếp tục tăng, làm gia tăng áp lực chính trị. Đảng Cộng hòa chỉ trích chính sách năng lượng thiên về năng lượng tái tạo của các bang tự do, cho rằng điều này làm tăng chi phí truyền tải và hạn chế nguồn cung nhiên liệu hóa thạch. Ngược lại, đảng Dân chủ nhấn mạnh vai trò của năng lượng sạch và kêu gọi kiểm soát lợi nhuận của công ty điện lực để bảo vệ người tiêu dùng.

Chủ tịch FERC Laura Swett cho rằng các nhà vận hành trung tâm dữ liệu sẵn sàng chi trả chi phí và hiểu tầm quan trọng của sự ủng hộ cộng đồng. Tuy nhiên, một số nghị sĩ phản bác rằng các dự án trong khu vực của họ vẫn được ưu đãi thuế, bỏ qua phản đối của cộng đồng và làm tăng chi phí cho người dân.

Sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo và trung tâm dữ liệu đang đặt ra một trong những bài toán chính sách lớn nhất của kỷ nguyên số: ai sẽ trả chi phí cho hạ tầng số? Trong khi các tập đoàn công nghệ hưởng lợi lớn từ AI và dịch vụ đám mây, người tiêu dùng và doanh nghiệp nhỏ đang lo ngại họ sẽ phải gánh phần chi phí ẩn.

Cuộc tranh luận tại Mỹ cho thấy sự giao thoa giữa công nghệ, chính sách năng lượng và chính trị, phản ánh xu hướng toàn cầu khi các quốc gia thúc đẩy chuyển đổi số. Bài học từ Mỹ có thể mang lại giá trị tham khảo cho các nền kinh tế khác, trong đó có Việt Nam, khi đối mặt với làn sóng đầu tư trung tâm dữ liệu và AI trong thập kỷ tới.

Japan Today-Trọng Hoàng

Categories: The Latest News

Giới quản lý quỹ bi quan về triển vọng đồng USD

Thời báo kinh tế Việt Nam - Tue, 02/17/2026 - 08:13
Các nhà quản lý quỹ đang có lập trường bi quan nhất về tỷ giá đồng USD trong hơn một thập kỷ trở lại đây, do đồng tiền này chịu ảnh hưởng nặng nề từ những chính sách khó lường của Mỹ - tờ báo Financial Times cho hay...

Chỉ số Dollar Index đo sức mạnh đồng USD so với một rổ tiền tệ bao gồm euro và bảng Anh đã giảm 1,3% trong năm nay, sau khi đã giảm hơn 9% trong năm 2025. Hiện tại, chỉ số đang ở gần mức thấp nhất trong 4 năm qua.

Kết quả một cuộc khảo sát của ngân hàng Mỹ Bank of America công bố cách đây ít ngày cho thấy mức độ tiếp xúc của các nhà quản lý quỹ với đồng USD đã giảm xuống dưới mức đáy gần nhất thiết lập vào tháng 4 năm ngoái - thời điểm Tổng thống Donald Trump công bố kế hoạch thuế quan đối ứng gây chấn động.

Khảo sát này phát hiện thấy vị thế USD của các nhà quản lý đang ở mức thấp nhất kể từ ít nhất năm 2012 - năm đầu tiên mà Bank of America bắt đầu ghi lại dữ liệu này. Sự thay đổi này diễn ra khi các hành động địa chính trị quyết liệt của ông Trump và việc ông gây sức ép lên Cục Dự trữ Liên bang (Fed) về vấn để lãi suất làm gia tăng mối lo ngại về sức hấp dẫn của các tài sản Mỹ với tư cách một nơi trú ẩn cho các dòng vốn toàn cầu.

Theo dữ liệu quyền chọn từ công ty quản lý sàn giao dịch CME Group, tính từ đầu năm 2026 đến nay, vị thế đặt cược vào sự mất giá của USD đã trở nên lớn hơn đặt cược vào sự tăng giá của đồng USD. Tương quan này đảo so với những gì đã diễn ra trong quý 4/2025.

Các nhà quản lý tài sản lớn cho biết sự trượt giá của đồng USD phản ánh việc các nhà đầu tư tiền thật - chẳng hạn các quỹ hưu trí - ngày càng muốn phòng ngừa rủi ro đồng USD suy yếu thêm hoặc giảm bớt sự tiếp xúc với tài sản bằng đồng USD. Đặt cược vào sự giảm giá thêm của đồng USD so với euro đã đạt tới mức mà trong thập kỷ qua, chỉ từng thấy trong đại dịch Covid-19 và sau các tuyên bố thuế quan của ông Trump vào tháng 4 năm ngoái.

“Một số biến động trong năm qua đã khiến các nhà đầu tư đặt câu hỏi về việc họ có mức độ phòng ngừa rủi ro tỷ giá đồng USD thấp lịch sử đối với các tài sản của Mỹ”, ông Roger Hallam - trưởng bộ phận lãi suất toàn cầu tại tập đoàn quản lý tài sản Vanguard - nhận định với Financial Times. Ông cho rằng việc đánh giá lại hoạt động phòng ngừa rủi ro tỷ giá USD và điều chỉnh lại mức phân bổ vốn vào các tài sản Mỹ là một "động lực chính" đằng sau sự sụt giảm gần đây của đồng USD.

“Chúng tôi vẫn thấy một môi trường mà đồng USD có thể tiếp tục suy yếu từ đây” - ông Iain Stealey, giám đốc đầu tư trái phiếu quốc tế, tiền tệ và hàng hóa tại công ty quản lý tài sản JPMorgan Asset Management, cho biết. Trong những tuần gần đây, công ty này đã xây dựng vị thế đặt cược vào sự mất giá sâu hơn của đồng USD.

Lãi suất của Mỹ hiện vẫn cao hơn so với các nền kinh tế lớn khác như eurozone và Nhật Bản, song các nhà giao dịch dự báo rằng khoảng cách này sẽ thu hẹp vì Fed có thể sẽ cắt giảm lãi suất hai lần trong năm nay.

Đề cập đến giao dịch chênh lệch lãi suất (carry trade) - một yếu tố đã giữ vai trò hỗ trợ đồng USD khi Mỹ có lãi suất cao hơn so với nền kinh tế lớn khác - ông Stealey nhận xét USD “không còn bị định giá quá cao nhưng chúng tôi cho rằng Fed sẽ tiếp tục cắt giảm lãi suất, và lợi thế chênh lệch lãi suất của USD sẽ dần dần biến mất theo thời gian”.

Việc ông Trump đề cử ông Kevin Warsh làm chủ tịch Fed đã giúp giảm bớt mối lo ngại về sự độc lập của ngân hàng trung ương này. Nhưng ông Trump hiện đã gây áp lực lên ông Warsh, nói trong một cuộc trả lời phỏng vấn kênh NBC News gần đây rằng ông Warsh "sẽ không có được công việc" chủ tịch Fed nếu ủng hộ việc tăng lãi suất.

Các nhà phân tích của Bank of America lưu ý rằng việc đề cử ông Warsh cho ghế chủ tịch Fed "không dẫn tới nhu cầu lớn hơn đối với đồng USD cũng như không tạo ra sự lạc quan mới đối với tài sản của Mỹ".

Diễn biến chỉ số Dollar Index trong 1 năm qua - Nguồn: Trading Economics.

Hồi tháng 1, mối lo ngại rằng một số nhà đầu tư toàn cầu có thể rút khỏi tài sản của Mỹ đã bị đẩy cao bởi cuộc khủng hoảng Greenland, khi ông Trump đe dọa có hành động quân sự và các biện pháp thuế quan bổ sung đối với các đồng minh trong Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO).

Sau đó, Bộ trưởng Tài chính Mỹ Scott Bessent đã chỉ trích "ý tưởng rằng người châu Âu sẽ bán tài sản của Mỹ", nhưng trên thực tế, một số nhà quản lý cho biết đã có dòng vốn chảy khỏi tài sản Mỹ. "Chúng tôi đang chứng kiến sự gia tăng dòng vốn hồi hương khi các chủ sở hữu đồng USD ở nước ngoài chuyển vốn trở lại đồng tiền nội tệ của họ” - bà Caroline Houdril, một nhà quản lý quỹ tại ngân hàng đầu tư Schroders, cho biết.

Động thái của Washington vào năm ngoái nhằm hỗ trợ tỷ giá đồng peso Argentina và việc nhà chức trách Mỹ trong tháng 1 vừa qua kiểm tra tỷ giá đồng yên cũng đã làm dấy lên mối lo ngại rằng Mỹ đang có một kế hoạch làm suy yếu đồng USD. Sự bất định gia tăng khi ông Trump hồi tháng 1 vừa qua có bình luận rằng xu hướng mất giá của USD là "tuyệt vời".

Sau đó, ông Bessent đã lên tiếng trấn an rằng Mỹ vẫn đang theo đuổi chính sách "đồng USD mạnh" truyền thống và không có kế hoạch can thiệp vào thị trường ngoại hối.

"Có rất nhiều người trong chính quyền ông Trump nghĩ rằng một đồng USD yếu hơn sẽ có lợi cho xuất khẩu của Mỹ và thúc đẩy tái công nghiệp hóa rộng hơn”, ông Xavier Meyer, Giám đốc đầu tư tại công ty Aberdeen Group, phát biểu. Ông nói thêm rằng điều này đã là một yếu tố khiến thị trường coi khả năng Mỹ và Nhật Bản can thiệp thị trường ngoại hối để ngăn USD tăng giá thêm so với đồng yên là "rất nghiêm túc".

-An Huy

Categories: The Latest News

Nâng hạng thị trường: Cơ hội lịch sử và bài toán chuẩn mực cho chứng khoán Việt

Thời báo kinh tế Việt Nam - Tue, 02/17/2026 - 08:06
Việc thị trường chứng khoán Việt Nam được FTSE Russell đưa vào lộ trình nâng hạng lên nhóm thị trường mới nổi thứ cấp mở ra cơ hội tiếp cận các dòng vốn quốc tế quy mô lớn, dài hạn. Tuy nhiên, cơ hội này chỉ thực sự thành hiện thực nếu thị trường và doanh nghiệp Việt Nam đáp ứng được các chuẩn mực cao hơn về minh bạch, quản trị và hạ tầng vận hành theo thông lệ quốc tế.

Việc thị trường chứng khoán Việt Nam được FTSE Russell đưa vào lộ trình nâng hạng lên nhóm thị trường mới nổi thứ cấp không chỉ mang ý nghĩa về mặt xếp hạng, mà còn đánh dấu một bước chuyển quan trọng trong tiến trình phát triển của thị trường vốn. Cánh cửa tiếp cận các dòng vốn quốc tế quy mô lớn, dài hạn đang dần mở ra, song đi kèm với đó là những yêu cầu khắt khe hơn về chuẩn mực vận hành, minh bạch và quản trị doanh nghiệp.

Trước thềm năm mới 2026, trong bối cảnh thị trường đang đứng trước cả cơ hội lẫn thách thức mang tính bước ngoặt, Tạp chí Kinh tế Việt Nam / VnEconomy đã có cuộc trao đổi với ông Dominic Scriven, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần Quản lý quỹ Dragon Capital Việt Nam, nhằm làm rõ những cơ hội lớn nhất mà tiến trình nâng hạng mang lại, cũng như những điều kiện then chốt để doanh nghiệp và thị trường Việt Nam có thể thực sự hấp thụ các dòng vốn dài hạn trong giai đoạn tới.

Việc thị trường chứng khoán Việt Nam được FTSE Russell nâng hạng lên nhóm thị trường mới nổi thứ cấp mở ra một giai đoạn mới cho thị trường vốn. Dưới góc nhìn của Quỹ đầu tư có thâm niên 30 năm tại Việt Nam, ông nhìn thấy cơ hội lớn nhất cho Việt Nam từ sự kiện nâng hạng này là gì?

Trong tiến trình nâng hạng thị trường, những nỗ lực cải cách của Chính phủ, Bộ Tài chính và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước trong việc hoàn thiện khung pháp lý, hạ tầng thị trường và chuẩn mực vận hành là rất đáng ghi nhận, tạo nền tảng quan trọng cho bước chuyển tiếp tiếp theo.

Đồng thời, Bộ Tài chính và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cũng triển khai nhiều biện pháp then chốt nhằm nâng hạng thị trường, đồng thời mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng của các tổ chức đầu tư trong nước.

Chúng ta có thể thấy rõ những sự thay đổi mang tính bước ngoặt trong cách giới đầu tư nước ngoài nhìn nhận thị trường Việt Nam. Trong giai đoạn Việt Nam vẫn được xếp vào nhóm thị trường cận biên, quy mô dòng vốn quốc tế còn hạn chế, chủ yếu là các quỹ nhỏ, mang tính thử nghiệm. Khi đó, việc đầu tư vào Việt Nam thường đòi hỏi phải xin các cơ chế ngoại lệ, cả về quy mô, thời gian lẫn quy trình nội bộ của từng quỹ.

Tuy nhiên, khi thị trường được nâng hạng, bản chất câu chuyện sẽ hoàn toàn đảo chiều. Khi đó, quy mô vốn có thể đổ vào Việt Nam không chỉ tăng lên gấp nhiều lần, mà còn mở rộng mạnh về cơ cấu nhà đầu tư, từ các quỹ chủ động sang các quỹ thụ động, quỹ hưu trí, quỹ bảo hiểm và các định chế tài chính dài hạn. Dư địa tiếp cận thị trường Việt Nam vì thế có thể lớn hơn hàng trăm lần so với hiện nay.

Đáng chú ý, khi Việt Nam chính thức được đưa vào rổ đầu tư của các chỉ số lớn, việc không tham gia thị trường Việt Nam mới trở thành một “ngoại lệ ngược”. Với nhiều nhà quản lý quỹ quốc tế, việc bỏ qua Việt Nam có thể đồng nghĩa với rủi ro nghề nghiệp, khi họ không theo sát các xu hướng phân bổ vốn toàn cầu.

Cùng với cơ hội, nâng hạng cũng đặt ra những yêu cầu cao hơn từ các nhà đầu tư tổ chức quốc tế đối với doanh nghiệp Việt Nam. Theo ông, đâu là những thách thức lớn nhất mà doanh nghiệp Việt Nam đang đối mặt khi tiếp cận các dòng vốn lớn, dài hạn này?

Một trong những thách thức lớn hiện nay lại đến từ sự khác biệt sâu sắc về chuẩn mực vận hành thị trường. Trong tiếng Việt, các khái niệm như “thông cảm”, “bỏ qua thiếu sót”, “linh hoạt trong xử lý” được sử dụng khá phổ biến. Thực tế, nếu doanh nghiệp phát hành mắc những sai sót nhỏ trong hoạt động hoặc công bố thông tin, thị trường trong nước thường có xu hướng chấp nhận và cho phép điều chỉnh, với mức độ “thông cảm” tương đối cao.

Tuy nhiên, chính yếu tố này lại trở thành rào cản lớn đối với nhà đầu tư quốc tế. Trong môi trường đầu tư toàn cầu, các khái niệm trên gần như không tồn tại. Nhà đầu tư quốc tế vận hành dựa trên chuẩn mực rõ ràng, quy trình chặt chẽ và trách nhiệm giải trình cao. Sai sót, dù nhỏ, nếu lặp lại hoặc không được giải thích thuyết phục, đều có thể làm xói mòn niềm tin.

Do đó, để thực sự tận dụng cơ hội từ việc nâng hạng, doanh nghiệp Việt Nam buộc phải nâng cao năng lực nội tại, từ trình độ chuyên môn, hệ thống quản trị, đến khả năng giải trình và thuyết phục nhà đầu tư. Minh bạch không còn là lựa chọn, mà là điều kiện tiên quyết. Cùng với đó là năng lực dự báo và quản trị rủi ro trong hoạt động điều hành.

Nếu nâng hạng thị trường được xem là điều kiện cần ở cấp độ vĩ mô, thì minh bạch, chuẩn mực quản trị và sức thuyết phục chính là điều kiện đủ và là điều kiện bắt buộc ở cấp độ doanh nghiệp. Mỗi doanh nghiệp có thể có năng lực dự báo khác nhau, nhưng chỉ cần một lần gây thất vọng nghiêm trọng, nhà đầu tư quốc tế có thể sẽ rút lui và không quay trở lại trong thời gian dài.

Trong bối cảnh đó, mô hình quản trị doanh nghiệp cần được đặt vào vị trí trung tâm. Quản trị không chỉ là tuân thủ quy định, mà phải trở thành một phần cốt lõi trong chiến lược phát triển. Các nội dung về quản trị doanh nghiệp, kiểm soát nội bộ, quản trị rủi ro, phân quyền - trách nhiệm cần được trình bày đầy đủ, rõ ràng trong báo cáo thường niên.

Một báo cáo thường niên chất lượng không chỉ nhằm “đáp ứng yêu cầu”, mà phải giúp nhà đầu tư quốc tế có đủ thông tin để đánh giá khách quan về năng lực vận hành, mức độ minh bạch và độ tin cậy của doanh nghiệp. Đây chính là cơ sở để xây dựng niềm tin dài hạn, thay vì chỉ thu hút dòng vốn ngắn hạn mang tính cơ hội.

Việt Nam đang thực hiện các giải pháp toàn diện để hiện đại hóa thị trường chứng khoán theo các thông lệ quốc tế. Theo ông, Việt Nam cần thêm yếu tố gì để thị trường chứng khoán thực sự hấp dẫn dòng vốn quốc tế trong thời gian tới?

Từ góc độ cá nhân, có thể nhận diện ba thách thức lớn mà thị trường Việt Nam cần sớm giải quyết nếu muốn tiến gần hơn đến chuẩn mực thị trường mới nổi.

Thứ nhất, rào cản về thông tin và ngôn ngữ. Hiện nay, theo quy định tại Thông tư 68/2024/TT-BTC, phần lớn thông tin công bố trên thị trường đã bao gồm cả tiếng Anh bên cạnh tiếng Việt, tuy nhiên các thông tin công bố trước năm 2025 phần nhiều vẫn chỉ bằng Tiếng Việt. Dù đây là vấn đề có thể cải thiện theo thời gian, nhưng việc này có thể ảnh hưởng đến khả năng đánh giá toàn diện danh mục của nhà đầu tư quốc tế, dẫn tới việc giải ngân vốn đầu tư có thể chưa được nhanh như kỳ vọng.

Thứ hai, hạ tầng giao dịch và cơ chế ký quỹ. Hiện nay, tuy nhà đầu tư nước ngoài đã có thể giao dịch không cần ký quỹ trước (non pre-funding), đây vẫn là một giải pháp kỹ thuật tạm thời và được áp dụng đối với giao dịch tại một số công ty chứng khoán hàng đầu. Chúng ta cần thúc đẩy việc triển khai mô hình Đối tác bù trừ trung tâm (CCP), được xem là cơ chế then chốt giúp tối ưu hóa hiệu quả sử dụng vốn, xóa bỏ hẳn quy định ký quỹ trước giao dịch, đồng thời giảm thiểu rủi ro hệ thống thông qua vai trò bảo lãnh trung gian.

Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi này đang vấp phải mâu thuẫn giữa nhu cầu linh hoạt, tốc độ của thị trường và tư duy quản lý rủi ro thận trọng của cơ quan quản lý nhà nước. Sự giằng co giữa mục tiêu hiệu quả và yêu cầu an toàn chính là nguyên nhân khiến tiến độ triển khai còn chậm trễ. Do đó, để đưa CCP vào vận hành thực tế, thị trường cần một quyết tâm chính sách mạnh mẽ cùng lộ trình pháp lý rõ ràng, dứt khoát vượt qua các rào cản để tiệm cận với thông lệ quốc tế.

Thứ ba, vấn đề tỷ lệ sở hữu. Trong khi Nhà nước cần duy trì quyền chi phối ở các ngành then chốt, nhà đầu tư quốc tế lại mong muốn tiếp cận các lĩnh vực này. Việc “room” ngoại bị giới hạn đang làm giảm sức hấp dẫn của nhiều cổ phiếu lớn.  Một số quốc gia như Thái Lan và Malaysia đã giải quyết bài toán này thông qua việc phát hành các công cụ đầu tư tương đương “chứng chỉ không có quyền biểu quyết” qua đó mở rộng dư địa cho nhà đầu tư nước ngoài mà vẫn bảo toàn quyền kiểm soát.

Nâng hạng thị trường là xu hướng hiển nhiên và thực tế chúng ta đã được FTSE công nhận là thị trường mới nổi thứ cấp vào tháng 10/2025. Để được bổ sung vào các rổ chỉ số FTSE theo đúng lộ trình vào tháng 9/2026 cũng như để hoàn thành mục tiêu xa hơn là được MSCI công nhận là thị trường mới nổi, chúng ta cần có sự chuẩn bị kỹ lưỡng và các hành động cụ thể trong thời gian tới. Điều quan trọng không nằm ở tuyên bố, mà ở việc ban hành quy định rõ ràng, lộ trình phù hợp và các hành động thực chất.

Trong bối cảnh nền kinh tế vừa đối mặt với nhiều thách thức, vừa xuất hiện những cơ hội mới đan xen, theo ông, mục tiêu đạt mức tăng trưởng hai con số, cụ thể là khoảng 10% trong năm 2026 mà Chính phủ đặt ra có khả thi hay không?

Mức độ, tốc độ cũng như quy mô tăng trưởng kinh tế phụ thuộc rất lớn vào hiệu quả của các chính sách điều hành và khung pháp lý của Chính phủ. Nhà nước giữ vai trò trung tâm trong việc mở ra không gian phát triển mới thông qua đầu tư hạ tầng, hoàn thiện cơ sở vật chất và cải thiện môi trường đầu tư, từ đó tạo thêm niềm tin để khu vực kinh tế tư nhân mạnh dạn khởi động và mở rộng các dự án.

Bên cạnh đó, việc tiếp tục cải cách chính sách thuế và thể chế, nhằm từng bước đưa các hoạt động kinh tế phi chính thức vào khu vực chính thức, được kỳ vọng có thể đóng góp thêm khoảng 2% vào tăng trưởng GDP mỗi năm. Đây sẽ là yếu tố quan trọng giúp mở rộng dư địa tăng trưởng và củng cố nền tảng phát triển bền vững cho nền kinh tế trong trung và dài hạn.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-

Categories: The Latest News

Giá vàng lại tuột mốc chủ chốt 5.000 USD/oz

Thời báo kinh tế Việt Nam - Tue, 02/17/2026 - 07:50
Giá vàng đang chịu sự chi phối lớn hơn từ triển vọng lãi suất Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed)...

Giá vàng thế giới giảm trong phiên giao dịch ngày thứ Hai (16/2), trượt khỏi mốc chủ chốt 5.000 USD/oz, khi đồng USD tăng giá nhẹ và thanh khoản giảm xuống mức thấp do thị trường Mỹ và một số nước châu Á nghỉ lễ.

Lúc đóng cửa tại Mỹ, giá vàng giao ngay giảm 49,3 USD/oz so với mức chốt của phiên trước, tương đương giảm 0,98%, còn 4.993,9 USD/oz - theo dữ liệu từ sàn giao dịch Kitco.

Quy đổi theo tỷ giá USD bán ra tại ngân hàng Vietcombank, mức giá này của vàng giao ngay tương đương khoảng 157,4 triệu đồng/lượng.

Giá bạc giao ngay giảm 0,84 USD/oz, tương đương giảm 1,08%, chốt ở mức 76,73 USD/oz.

Đồng USD được xem là nguyên nhân chính khiến giá vàng giảm trong phiên này. Chỉ số Dollar Index tăng hơn 0,2%, đạt hơn 97 điểm, từ mức dưới 97 điểm khi đóng cửa tuần vừa rồi.

Thị trường tài chính Mỹ đóng cửa nghỉ Lễ Tổng thống vào ngày thứ Hai, trong khi Việt Nam, Trung Quốc và một số nước châu Á khác đang trong kỳ nghỉ Tết Nguyên đán. Việc một số thị trường chủ chốt nghỉ lễ khiến khối lượng giao dịch trên thị trường kim loại quý quốc tế giảm xuống mức thấp. Với mức thanh khoản thấp, mức độ biến động của giá có thể gia tăng.

“Giá vàng đang giằng co quanh ngưỡng 5.000 USD/oz trong một tuần mà mức thanh khoản giảm xuống thấp do nghỉ lễ”, nhà phân tích Giovanni Staunovo của ngân hàng Thụy Sỹ UBS nhận xét.

Thời gian gần đây, căng thẳng địa chính trị ở những điểm nóng như Iran, Greenland và Nga - Ukraine tạm thời chưa có bước leo thang mới. Sức nóng địa chính trị dịu đi có thể khiến nhu cầu nắm giữ vàng để phòng ngừa rủi ro giảm bớt trong ngắn hạn. Trong bối cảnh đó, giá vàng đang chịu sự chi phối lớn hơn từ triển vọng lãi suất Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed).

Các số liệu kinh tế Mỹ công bố trong tuần vừa rồi mang tới một bức tranh thiếu đồng nhất. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 1 tăng yếu hơn dự báo, làm gia tăng khả năng Fed hạ lãi suất, nhưng tăng trưởng việc làm bất ngờ tăng tốc trong tháng 1, làm gia tăng khả năng Fed giữ nguyên lãi suất lâu hơn.

Thị trường hiện đang dự báo Fed sẽ có hai lần giảm lãi suất trong năm nay, và đợt giảm đầu tiên sẽ không diễn ra trước tháng 6. Cuộc họp chính sách tiền tệ tiếp theo của Fed sẽ diễn ra vào ngày 18/3, với dự báo áp đảo là lãi suất quỹ liên bang sẽ được giữ nguyên ở mức 3,5-3,75%.

Phát biểu hôm thứ Sáu, Chủ tịch Fed chi nhánh Chicago, ông Austan Goolsbee nói lãi suất có thể giảm, nhưng lưu ý rằng lạm phát dịch vụ còn cao dai dẳng.

Về tình hình địa chính trị, một nhà ngoại giao Iran vào ngày Chủ nhật cho biết nước này mong muốn đạt được một thỏa thuận hạt nhân với Mỹ mang lại lợi ích kinh tế cho cả hai bên.

Diễn biến giá vàng thế giới 10 năm qua. Đơn vị: USD/oz - Nguồn: Trading Economics.

“Tôi tạm thời hạ mục tiêu giá vàng trong trung hạn từ 5.500 USD/oz về vùng 5.100-5.200 USD/oz, song mọi thứ vẫn đang rất khó đoán định”, nhà phân tích Zain Vawda của trang tin thị trường MarketPulse by OANDA cho biết.

Cũng theo ông Vawda, so với vàng, bạc là một kim loại quý có mức độ nhạy cảm cao hơn với chu kỳ kinh tế nên “bất kỳ dấu hiệu nào về một nền kinh tế mạnh cũng làm suy yếu nhu cầu hầm trú ẩn của bạc. Số liệu việc làm tốt hơn dự báo của Mỹ đã làm suy giảm nhu cầu tài sản an toàn trong ngắn hạn”.

Khi mới mở cửa phiên châu Á sáng nay (17/2), giá vàng tăng nhẹ trong khi giá bạc tiếp tục giảm.

Lúc hơn 6h theo giờ Việt Nam, giá vàng giao ngay tăng 2 USD/oz so với giá chốt phiên Mỹ, giao dịch ở mức 4.996,2 USD/oz. Giá bạc giảm 0,29 USD/oz, còn 76,5 USD/oz.

Cùng thời điểm trên, website của Vietcombank báo giá USD ở mức 25.750 đồng (mua vào) và 26.160 đồng (bán ra).

-Điệp Vũ

Categories: The Latest News

Cuộc tái cấu trúc lớn đưa nông nghiệp bước vào “kỷ nguyên xanh”

Thời Báo Kinh Tế - Tue, 02/17/2026 - 07:06
Trước thềm năm mới Bính Ngọ 2026, Bộ trưởng Trần Đức Thắng đã dành cho Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy một cuộc phỏng vấn để nhìn lại một năm 2025 nhiều dấu ấn tích cực và chuẩn bị cho một giai đoạn phát triển mới...

Thưa Bộ trưởng, năm 2025, ngành Nông nghiệp và Môi trường đã khép lại với nhiều dấu ấn quan trọng, đáng chú ý. Bộ trưởng có thể khái quát những kết quả nổi bật nhất mà ngành đã đạt được trong năm vừa qua?

Năm 2025 là một năm đặc biệt khó khăn đối với ngành Nông nghiệp và Môi trường. Bối cảnh kinh tế thế giới bất ổn, xung đột địa chính trị kéo dài, rào cản thương mại gia tăng, chính sách thuế đối ứng của Hoa Kỳ, cùng với thiên tai và biến đổi khí hậu diễn biến ngày càng khắc nghiệt, bất thường, với hiện tượng “bão chồng bão, lũ chồng lũ”. Trong điều kiện đó, toàn ngành vẫn giữ vững vai trò là trụ đỡ quan trọng của nền kinh tế, góp phần ổn định đời sống xã hội và sinh kế của hàng triệu người dân.

Với phương châm hành động “Kỷ cương trách nhiệm, chủ động kịp thời, tinh gọn hiệu quả, tăng tốc bứt phá”, tốc độ tăng trưởng toàn ngành ước đạt khoảng 3,9- 3,92%. Tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt khoảng 70,09 tỷ USD, vượt xa mục tiêu 65 tỷ USD; trong đó nông sản đạt 37,25 tỷ USD, lâm sản 18,5 tỷ USD, thủy sản 11,32 tỷ USD. Xuất siêu toàn ngành đạt khoảng 20,7 tỷ USD, tăng gần 17% so với năm trước, đóng góp quan trọng vào cân đối thương mại quốc gia.

Song song với phát triển kinh tế, các lĩnh vực xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và an sinh xã hội tiếp tục được triển khai đồng bộ, hiệu quả. Công tác quản lý tài nguyên đất, nước, khoáng sản có chuyển biến thực chất; bảo vệ môi trường nước, không khí, xử lý chất thải rắn sinh hoạt được tăng cường; nhiều “điểm nóng” ô nhiễm từng bước được kiểm soát. Các hoạt động chuyển đổi xanh, giảm phát thải và thích ứng với biến đổi khí hậu được đẩy mạnh hơn cả về quy mô và chiều sâu.

Năm 2025 cũng đánh dấu bước chuyển quan trọng về tổ chức và thể chế sau khi hợp nhất hai Bộ. Bộ máy được tinh gọn, chức năng, nhiệm vụ được phân định rõ ràng; phân cấp, phân quyền và cải cách thủ tục hành chính được đẩy mạnh, giúp chính sách đi vào cuộc sống nhanh hơn, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp và địa phương.

Một điểm nhấn nổi bật là chuyển dịch mạnh sang nông nghiệp xanh và kinh tế tuần hoàn. Các yêu cầu về phát triển sinh thái, giảm phát thải đã được tích hợp đồng bộ vào chiến lược, quy hoạch và hệ thống tiêu chuẩn ngành.

Cùng với đó, khoa học, công nghệ và chuyển đổi số được ứng dụng ngày càng sâu rộng, từ dữ liệu lớn, viễn thám, truy xuất nguồn gốc đến canh tác thông minh, giúp tối ưu đầu vào - đầu ra, đo lường phát thải và từng bước khép kín vòng đời sản phẩm.

Nhìn tổng thể, năm 2025 không chỉ ghi dấu bằng những con số tăng trưởng tích cực, mà quan trọng hơn là sự chuyển dịch rõ nét về chất lượng phát triển, tạo nền tảng để ngành Nông nghiệp và Môi trường từng bước chuyển từ phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu, bền vững và hiệu quả hơn trong giai đoạn tới.

Thưa Bộ trưởng, việc thành lập Bộ Nông nghiệp và Môi trường được xem là một bước ngoặt về tư duy và mô hình quản lý. Bộ trưởng có thể chia sẻ rõ hơn ý nghĩa chiến lược của bước chuyển này và những thay đổi căn bản mà ngành đang hướng tới?

Ngày 1/3/2025 là một dấu mốc đặc biệt quan trọng, khi Bộ Nông nghiệp và Môi trường chính thức đi vào hoạt động. Đây không đơn thuần là sự hợp nhất về mặt tổ chức hành chính giữa Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn với Bộ Tài nguyên và Môi trường, mà là một quyết định chiến lược, phản ánh tư duy phát triển mới của Đảng và Nhà nước. Tư duy đó nhấn mạnh yêu cầu phát triển kinh tế phải đi đôi với bảo vệ môi trường; nông nghiệp không thể tách rời quá trình xanh hóa, tuần hoàn và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Sự ra đời của Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã đặt nền móng cho mô hình quản lý tích hợp, trong đó nông nghiệp, tài nguyên, môi trường và phát triển bền vững được nhìn nhận như một chỉnh thể thống nhất. Điều này đồng thời nâng vai trò và trách nhiệm của ngành lên một tầm cao mới: không chỉ quản lý sản xuất, mà còn tham gia trực tiếp kiến tạo mô hình phát triển quốc gia, bảo đảm an ninh lương thực, an ninh sinh thái, an ninh môi trường và đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng xanh, dài hạn của đất nước.

Trong bối cảnh thế giới biến động sâu sắc và yêu cầu tái cấu trúc mô hình tăng trưởng trong nước ngày càng cấp thiết, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh đây là thời điểm chuyển mình có ý nghĩa lịch sử. Đối với ngành Nông nghiệp và Môi trường, yêu cầu đó càng rõ nét hơn, bởi ngành trực tiếp gánh vác những nền tảng căn bản của quốc gia, từ sinh kế của hàng chục triệu người dân, an ninh lương thực đến sự bền vững của các hệ sinh thái. Điều này đòi hỏi ngành phải chuyển từ tư duy thích ứng sang tư duy chủ động dẫn dắt; từ cách làm phân tán sang tiếp cận tích hợp, đồng bộ và dài hạn.

Ngay sau khi Chính phủ ban hành Nghị định số 35/2025/NĐ-CP, Bộ đã khẩn trương ổn định tổ chức bộ máy, bảo đảm hoạt động thông suốt, không gây gián đoạn cho người dân và doanh nghiệp. Việc rà soát, điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ được triển khai đồng bộ nhằm khắc phục chồng chéo, trùng lặp; đồng thời tiếp nhận thêm nhiệm vụ quản lý nhà nước về giảm nghèo, thể hiện cách tiếp cận toàn diện hơn đối với phát triển bền vững.

Kết quả sắp xếp tổ chức cho thấy mức độ tinh gọn rõ rệt: giảm 25/55 đầu mối cấp tổng cục, cục, vụ (45,45%); giảm 19/78 đơn vị sự nghiệp trực thuộc (24,36%); giảm 63/301 đầu mối cấp phòng (20,9%).

Cùng với tổ chức bộ máy, công tác hoàn thiện thể chế được đẩy mạnh với khối lượng công việc rất lớn. Tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV, Bộ đã tham mưu trình thông qua hai Luật và một Nghị quyết sửa đổi, bổ sung 17 Luật thuộc lĩnh vực quản lý của ngành, kịp thời tháo gỡ những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn.

Đặc biệt, vấn đề phân cấp, phân quyền được thực hiện mạnh mẽ và thực chất. Bộ đã rà soát hàng loạt văn bản để phân cấp, phân quyền theo mô hình chính quyền hai cấp; đồng thời, đề xuất cắt giảm, đơn giản hóa 265 điều kiện kinh doanh và 468 thủ tục hành chính. Những cải cách này góp phần tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế, giảm chi phí tuân thủ và tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp.

Từ nền tảng tổ chức tinh gọn hơn, thể chế đồng bộ hơn và tư duy phát triển mới, ngành Nông nghiệp và Môi trường đang bước vào một giai đoạn phát triển với trách nhiệm lớn hơn, khát vọng lớn hơn và hành động mạnh mẽ hơn, nhằm đóng góp xứng đáng vào mục tiêu phát triển nhanh nhưng bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới.

Một điểm nhấn nổi bật là chuyển dịch mạnh sang nông nghiệp xanh và kinh tế tuần hoàn. Bộ trưởng cho biết những chuyển biến cụ thể và thực chất nhất của nông nghiệp xanh, kinh tế tuần hoàn thời gian qua?

Thời gian qua, việc triển khai nông nghiệp xanh và kinh tế tuần hoàn đã có những chuyển biến rõ nét, có thể khái quát trên ba phương diện lớn, từ tư duy, mô hình sản xuất đến cách thức quản lý.

Thứ nhất, sự chuyển mạnh về tư duy và thể chế phát triển xanh. Các yêu cầu về nông nghiệp sinh thái, kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải đã được tích hợp ngày càng đồng bộ vào chiến lược, quy hoạch, chương trình và hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn của ngành. Điều quan trọng là chúng ta không còn tiếp cận môi trường theo cách xử lý bị động sau khi phát sinh ô nhiễm, mà chủ động định hướng sản xuất xanh ngay từ khâu quy hoạch và tổ chức thực hiện.

Thứ hai, chuyển dịch mô hình sản xuất theo hướng xanh, tuần hoàn ở các ngành hàng chủ lực. Trong trồng trọt, lâm nghiệp, thủy sản và xây dựng nông thôn mới, nhiều mô hình tiết kiệm tài nguyên, giảm sử dụng hóa chất đầu vào, tái sử dụng phụ phẩm, gắn sản xuất với chế biến và thị trường đã được triển khai và nhân rộng. Các mô hình này không chỉ góp phần bảo vệ hệ sinh thái, giảm phát thải mà còn giúp nâng cao giá trị gia tăng, cải thiện thu nhập và sinh kế cho người nông dân.

Thứ ba, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số. Công nghệ số, dữ liệu lớn, viễn thám, truy xuất nguồn gốc và các giải pháp canh tác thông minh ngày càng được áp dụng rộng rãi trong quản lý sản xuất, tài nguyên và môi trường. Đây là những công cụ then chốt giúp tối ưu đầu vào - đầu ra, đo lường và kiểm soát phát thải, từng bước khép kín vòng đời sản phẩm, hiện thực hóa kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp.

Một dấu mốc quan trọng đó là việc Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản Việt Nam chính thức khởi động từ cuối năm 2025. Đây không chỉ là một giải pháp công nghệ, mà còn là công cụ quản lý hiện đại, góp phần nâng cao tính minh bạch, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, phòng chống gian lận thương mại và nâng cao uy tín nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, truy xuất nguồn gốc đã trở thành yêu cầu bắt buộc khi tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu, bởi giá trị nông sản ngày nay không chỉ nằm ở sản lượng, mà còn ở chất lượng, tính minh bạch và trách nhiệm với môi trường, xã hội.

Có thể khẳng định nông nghiệp xanh và kinh tế tuần hoàn đã chuyển từ định hướng sang hành động thực chất. Thời gian tới, Bộ sẽ tiếp tục hoàn thiện thể chế, phát triển thị trường carbon và tín dụng xanh, khuyến khích doanh nghiệp và nông dân mở rộng các mô hình sản xuất xanh, qua đó nâng cao sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam và từng bước hiện thực hóa cam kết phát thải ròng bằng “0”.

Quản lý tài nguyên đang ngày càng giữ vai trò chiến lược đối với phát triển bền vững. Trong năm qua, lĩnh vực này đã ghi dấu những thành tựu nổi bật nào, thưa Bộ trưởng?

Năm 2025 là một năm rất đặc biệt đối với công tác quản lý tài nguyên, nhất là trong xây dựng và hoàn thiện các cơ sở dữ liệu quốc gia, mà trọng tâm là cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai. Đây là lĩnh vực khó, phức tạp, liên quan trực tiếp đến quyền lợi của người dân, doanh nghiệp và hiệu quả quản lý của Nhà nước.

Trong điều kiện thời gian gấp, khối lượng công việc rất lớn, chịu tác động bất lợi của thiên tai tại nhiều địa phương, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã tập trung cao độ để hoàn thành xây dựng hệ thống dữ liệu và triển khai thành công Chiến dịch 90 ngày làm giàu, làm sạch dữ liệu đất đai trên phạm vi toàn quốc. Đây không chỉ là một chiến dịch kỹ thuật, mà còn là một cuộc “tổng rà soát” nhằm đưa dữ liệu đất đai về đúng thực chất, phản ánh trung thực tình trạng quản lý và sử dụng đất.

Sau 90 ngày triển khai, hơn 61 triệu thửa đất trên cả nước đã được rà soát, cập nhật và chỉnh lý; trong đó trên 24 triệu thửa đạt tiêu chí “đúng - đủ - sạch - sống”, đủ điều kiện vận hành theo thời gian thực, sẵn sàng kết nối, chia sẻ và khai thác dùng chung. So với giai đoạn trước, chất lượng dữ liệu đã có bước tiến rõ rệt, tạo nền tảng vững chắc cho quản lý hiện đại và minh bạch hơn.

Song song với việc làm giàu dữ liệu, công tác đồng bộ hóa cũng được triển khai quyết liệt nhằm bảo đảm dữ liệu thực sự “sống - sạch - thống nhất - dùng chung”. Đến nay, 100% tỉnh, thành phố đã thực hiện đồng bộ dữ liệu đất đai về Trung ương, với trên 61 triệu thửa đất, tương đương khoảng 98% tổng số thửa đất trong hệ thống dữ liệu địa phương; trong đó hơn 24 triệu thửa đã hoàn chỉnh đầy đủ các khối thông tin, sẵn sàng khai thác và chia sẻ.

Những kết quả này phản ánh quyết tâm chính trị rất cao của người đứng đầu, sự vào cuộc đồng bộ của các bộ, ngành, địa phương và tinh thần phối hợp chặt chẽ trong toàn hệ thống. Quan trọng hơn, đây là nền tảng dữ liệu cốt lõi phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, quản lý tài nguyên hiệu quả hơn, minh bạch hơn, đồng thời thúc đẩy mạnh mẽ tiến trình chuyển đổi số quốc gia.

Sau một năm đầy thiên tai cực đoan, theo Bộ trưởng, đâu là những bài học lớn nhất và những ưu tiên chính sách cấp bách nhất để giúp nông nghiệp chủ động thích ứng trong thời gian tới?

Năm 2025 có thể xem là một trong những năm thiên tai khốc liệt và bất thường nhất trong nhiều thập kỷ, cả về tần suất, cường độ lẫn phạm vi tác động. Trên Biển Đông xuất hiện nhiều cơn bão và áp thấp nhiệt đới; mưa lớn gây lũ vượt mức lịch sử tại nhiều lưu vực; ngập lụt, sạt lở xảy ra trên diện rộng, gây thiệt hại nặng nề về người, tài sản và sinh kế. Đây thực sự là một phép thử lớn đối với năng lực phòng, chống thiên tai và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu của chúng ta.

Trong bối cảnh đó, năng lực chỉ đạo, điều hành và ứng phó đã được nâng lên rõ rệt. Các kịch bản được xây dựng sớm, phương châm “4 tại chỗ” được triển khai thực chất, với tinh thần đặt an toàn tính mạng người dân lên trên hết.

Hệ thống trực ban duy trì 24/24 giờ, bám sát diễn biến để chỉ đạo kịp thời. Hệ thống đê điều, hồ đập và các công trình phòng, chống thiên tai cơ bản vận hành an toàn; nhiều trọng điểm xung yếu được phát hiện, xử lý sớm, góp phần ngăn chặn nguy cơ thảm họa lớn. Công tác dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn tiếp tục giữ vai trò then chốt, giúp địa phương chủ động sơ tán dân, bảo vệ sản xuất và giảm thiểu thiệt hại. Truyền thông cộng đồng được tăng cường, tạo sự tham gia đồng bộ của cả hệ thống chính trị và người dân.

Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy thiên tai đang vượt nhanh khỏi các “ngưỡng thiết kế” truyền thống, diễn biến ngày càng khó lường. Bài học lớn nhất rút ra là chúng ta không thể chỉ dừng ở ứng phó bị động, mà phải chuyển mạnh sang quản trị rủi ro chủ động, phòng ngừa từ sớm, từ xa, dựa trên khoa học, dữ liệu và sự tham gia của cộng đồng.

Từ những bài học đó, thời gian tới, ngành Nông nghiệp và Môi trường xác định một số ưu tiên chính sách cấp bách. Trước hết là hiện đại hóa hệ thống dự báo, cảnh báo, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo để nâng cao độ chính xác và khả năng dự báo sớm.

Cùng với đó là đầu tư hạ tầng thích ứng với biến đổi khí hậu, ưu tiên các vùng tuyến đầu thường xuyên chịu tác động của thiên tai. Ngành cũng tập trung nâng cao năng lực phòng, chống thiên tai ở cơ sở, gắn chặt với bảo vệ sinh kế và tái thiết sau thiên tai, đồng thời coi người dân là chủ thể trong phòng ngừa, ứng phó và phục hồi.

Quan điểm xuyên suốt là chủ động thích ứng, lấy phòng ngừa làm chính, giảm thiểu tối đa thiệt hại và tạo dựng nền tảng an toàn, bền vững cho phát triển nông nghiệp và nông thôn trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt.

Bộ trưởng cho biết những nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm của ngành trong năm 2026 và giai đoạn mới?

Giá trị lớn nhất năm 2025 đó là sự thống nhất ngày càng cao về nhận thức và hành động trong toàn ngành. Từ Trung ương đến địa phương, từ cơ quan quản lý đến các đơn vị thực thi, tinh thần đổi mới tư duy và phương thức phát triển đã từng bước lan tỏa. Ngành Nông nghiệp và Môi trường không còn tiếp cận nhiệm vụ theo từng lĩnh vực riêng lẻ, mà đặt mọi hoạt động trong tổng thể chiến lược phát triển quốc gia, gắn với mục tiêu tăng trưởng xanh, bền vững và bao trùm.

Bên cạnh những kết quả đạt được, chúng tôi cũng thẳng thắn nhìn nhận còn không ít hạn chế: công tác dự báo và phản ứng chính sách trước những vấn đề mới, cấp bách có lúc chưa kịp thời; thể chế và thủ tục hành chính trên một số lĩnh vực còn chồng chéo; kỷ luật, kỷ cương hành chính ở một số nơi chưa thật nghiêm; ô nhiễm môi trường không khí, tác động của thiên tai và biến đổi khí hậu tiếp tục diễn biến phức tạp; hạ tầng phục vụ nông nghiệp, nông thôn và bảo vệ môi trường còn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.

Bước sang năm 2026 và giai đoạn tiếp theo, ngành Nông nghiệp và Môi trường xác định rõ khát vọng không chỉ là tăng trưởng về quy mô, mà là kiến tạo một nền nông nghiệp hiện đại, sinh thái, có sức cạnh tranh toàn cầu; đồng thời, xây dựng hệ thống quản lý tài nguyên và môi trường minh bạch, hiệu quả, bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế và bảo vệ không gian sống của đất nước.

Trọng tâm trong điều hành là đổi mới căn bản phương pháp làm việc, chuyển từ tư duy hành chính sang tư duy kiến tạo phát triển; lấy hiệu quả thực chất, đo đếm được bằng kết quả cụ thể làm thước đo chủ yếu. Kỷ luật, kỷ cương hành chính sẽ tiếp tục được siết chặt, gắn rõ với trách nhiệm cá nhân, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu. Bộ tập trung xử lý những việc khó, việc mới, những tồn tại kéo dài, với tinh thần tiếp cận trực diện, xác định rõ nguyên nhân, thẩm quyền và lộ trình giải quyết.

Công tác phân công, phân nhiệm được thực hiện theo nguyên tắc “rõ người, rõ việc, rõ tiến độ, rõ sản phẩm”, hạn chế tối đa chồng chéo, né tránh và đùn đẩy trách nhiệm. Kiểm tra, giám sát được tăng cường để bảo đảm chỉ đạo đi vào thực chất, không bị “nghẽn” trong khâu thực thi. Đồng thời, Bộ coi trọng đối thoại, lắng nghe ý kiến từ địa phương, doanh nghiệp và người dân như một kênh quan trọng để hoàn thiện chính sách và nâng cao chất lượng điều hành.

Trong giai đoạn 2026–2030, ngành tập trung tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, nâng cao năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu và phát huy hiệu quả các nguồn lực cho phát triển nông nghiệp bền vững. Trọng tâm là hoàn thiện thể chế; nâng cao năng lực quản lý, giám sát; tăng cường phối hợp liên ngành; huy động hiệu quả nguồn lực xã hội, khoa học, công nghệ và hợp tác quốc tế.

Theo đó, một số nhiệm vụ then chốt gồm: tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy theo hướng hiệu lực, hiệu quả; kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc từ thực tiễn, nhất là ở cấp địa phương; hoàn thiện chính sách thúc đẩy tăng trưởng ngành và xuất khẩu nông, lâm, thủy sản; đầu tư hạ tầng cho nông nghiệp, nông thôn và quản lý tài nguyên; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, năng lực thực thi công vụ; đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ.

Với định hướng đó, ngành Nông nghiệp và Môi trường xác định rõ vai trò kiến tạo, dẫn dắt và đồng hành cùng người dân, doanh nghiệp và địa phương, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh, xanh và bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16 -23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-

Categories: The Latest News

Cuộc tái cấu trúc lớn đưa nông nghiệp bước vào “kỷ nguyên xanh”

Thời báo kinh tế Việt Nam - Tue, 02/17/2026 - 07:06
Trước thềm năm mới Bính Ngọ 2026, Bộ trưởng Trần Đức Thắng đã dành cho Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy một cuộc phỏng vấn để nhìn lại một năm 2025 nhiều dấu ấn tích cực và chuẩn bị cho một giai đoạn phát triển mới...

Thưa Bộ trưởng, năm 2025, ngành Nông nghiệp và Môi trường đã khép lại với nhiều dấu ấn quan trọng, đáng chú ý. Bộ trưởng có thể khái quát những kết quả nổi bật nhất mà ngành đã đạt được trong năm vừa qua?

Năm 2025 là một năm đặc biệt khó khăn đối với ngành Nông nghiệp và Môi trường. Bối cảnh kinh tế thế giới bất ổn, xung đột địa chính trị kéo dài, rào cản thương mại gia tăng, chính sách thuế đối ứng của Hoa Kỳ, cùng với thiên tai và biến đổi khí hậu diễn biến ngày càng khắc nghiệt, bất thường, với hiện tượng “bão chồng bão, lũ chồng lũ”. Trong điều kiện đó, toàn ngành vẫn giữ vững vai trò là trụ đỡ quan trọng của nền kinh tế, góp phần ổn định đời sống xã hội và sinh kế của hàng triệu người dân.

Với phương châm hành động “Kỷ cương trách nhiệm, chủ động kịp thời, tinh gọn hiệu quả, tăng tốc bứt phá”, tốc độ tăng trưởng toàn ngành ước đạt khoảng 3,9- 3,92%. Tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt khoảng 70,09 tỷ USD, vượt xa mục tiêu 65 tỷ USD; trong đó nông sản đạt 37,25 tỷ USD, lâm sản 18,5 tỷ USD, thủy sản 11,32 tỷ USD. Xuất siêu toàn ngành đạt khoảng 20,7 tỷ USD, tăng gần 17% so với năm trước, đóng góp quan trọng vào cân đối thương mại quốc gia.

Song song với phát triển kinh tế, các lĩnh vực xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và an sinh xã hội tiếp tục được triển khai đồng bộ, hiệu quả. Công tác quản lý tài nguyên đất, nước, khoáng sản có chuyển biến thực chất; bảo vệ môi trường nước, không khí, xử lý chất thải rắn sinh hoạt được tăng cường; nhiều “điểm nóng” ô nhiễm từng bước được kiểm soát. Các hoạt động chuyển đổi xanh, giảm phát thải và thích ứng với biến đổi khí hậu được đẩy mạnh hơn cả về quy mô và chiều sâu.

Năm 2025 cũng đánh dấu bước chuyển quan trọng về tổ chức và thể chế sau khi hợp nhất hai Bộ. Bộ máy được tinh gọn, chức năng, nhiệm vụ được phân định rõ ràng; phân cấp, phân quyền và cải cách thủ tục hành chính được đẩy mạnh, giúp chính sách đi vào cuộc sống nhanh hơn, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp và địa phương.

Một điểm nhấn nổi bật là chuyển dịch mạnh sang nông nghiệp xanh và kinh tế tuần hoàn. Các yêu cầu về phát triển sinh thái, giảm phát thải đã được tích hợp đồng bộ vào chiến lược, quy hoạch và hệ thống tiêu chuẩn ngành.

Cùng với đó, khoa học, công nghệ và chuyển đổi số được ứng dụng ngày càng sâu rộng, từ dữ liệu lớn, viễn thám, truy xuất nguồn gốc đến canh tác thông minh, giúp tối ưu đầu vào - đầu ra, đo lường phát thải và từng bước khép kín vòng đời sản phẩm.

Nhìn tổng thể, năm 2025 không chỉ ghi dấu bằng những con số tăng trưởng tích cực, mà quan trọng hơn là sự chuyển dịch rõ nét về chất lượng phát triển, tạo nền tảng để ngành Nông nghiệp và Môi trường từng bước chuyển từ phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu, bền vững và hiệu quả hơn trong giai đoạn tới.

Thưa Bộ trưởng, việc thành lập Bộ Nông nghiệp và Môi trường được xem là một bước ngoặt về tư duy và mô hình quản lý. Bộ trưởng có thể chia sẻ rõ hơn ý nghĩa chiến lược của bước chuyển này và những thay đổi căn bản mà ngành đang hướng tới?

Ngày 1/3/2025 là một dấu mốc đặc biệt quan trọng, khi Bộ Nông nghiệp và Môi trường chính thức đi vào hoạt động. Đây không đơn thuần là sự hợp nhất về mặt tổ chức hành chính giữa Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn với Bộ Tài nguyên và Môi trường, mà là một quyết định chiến lược, phản ánh tư duy phát triển mới của Đảng và Nhà nước. Tư duy đó nhấn mạnh yêu cầu phát triển kinh tế phải đi đôi với bảo vệ môi trường; nông nghiệp không thể tách rời quá trình xanh hóa, tuần hoàn và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Sự ra đời của Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã đặt nền móng cho mô hình quản lý tích hợp, trong đó nông nghiệp, tài nguyên, môi trường và phát triển bền vững được nhìn nhận như một chỉnh thể thống nhất. Điều này đồng thời nâng vai trò và trách nhiệm của ngành lên một tầm cao mới: không chỉ quản lý sản xuất, mà còn tham gia trực tiếp kiến tạo mô hình phát triển quốc gia, bảo đảm an ninh lương thực, an ninh sinh thái, an ninh môi trường và đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng xanh, dài hạn của đất nước.

Trong bối cảnh thế giới biến động sâu sắc và yêu cầu tái cấu trúc mô hình tăng trưởng trong nước ngày càng cấp thiết, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh đây là thời điểm chuyển mình có ý nghĩa lịch sử. Đối với ngành Nông nghiệp và Môi trường, yêu cầu đó càng rõ nét hơn, bởi ngành trực tiếp gánh vác những nền tảng căn bản của quốc gia, từ sinh kế của hàng chục triệu người dân, an ninh lương thực đến sự bền vững của các hệ sinh thái. Điều này đòi hỏi ngành phải chuyển từ tư duy thích ứng sang tư duy chủ động dẫn dắt; từ cách làm phân tán sang tiếp cận tích hợp, đồng bộ và dài hạn.

Ngay sau khi Chính phủ ban hành Nghị định số 35/2025/NĐ-CP, Bộ đã khẩn trương ổn định tổ chức bộ máy, bảo đảm hoạt động thông suốt, không gây gián đoạn cho người dân và doanh nghiệp. Việc rà soát, điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ được triển khai đồng bộ nhằm khắc phục chồng chéo, trùng lặp; đồng thời tiếp nhận thêm nhiệm vụ quản lý nhà nước về giảm nghèo, thể hiện cách tiếp cận toàn diện hơn đối với phát triển bền vững.

Kết quả sắp xếp tổ chức cho thấy mức độ tinh gọn rõ rệt: giảm 25/55 đầu mối cấp tổng cục, cục, vụ (45,45%); giảm 19/78 đơn vị sự nghiệp trực thuộc (24,36%); giảm 63/301 đầu mối cấp phòng (20,9%).

Cùng với tổ chức bộ máy, công tác hoàn thiện thể chế được đẩy mạnh với khối lượng công việc rất lớn. Tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV, Bộ đã tham mưu trình thông qua hai Luật và một Nghị quyết sửa đổi, bổ sung 17 Luật thuộc lĩnh vực quản lý của ngành, kịp thời tháo gỡ những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn.

Đặc biệt, vấn đề phân cấp, phân quyền được thực hiện mạnh mẽ và thực chất. Bộ đã rà soát hàng loạt văn bản để phân cấp, phân quyền theo mô hình chính quyền hai cấp; đồng thời, đề xuất cắt giảm, đơn giản hóa 265 điều kiện kinh doanh và 468 thủ tục hành chính. Những cải cách này góp phần tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế, giảm chi phí tuân thủ và tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp.

Từ nền tảng tổ chức tinh gọn hơn, thể chế đồng bộ hơn và tư duy phát triển mới, ngành Nông nghiệp và Môi trường đang bước vào một giai đoạn phát triển với trách nhiệm lớn hơn, khát vọng lớn hơn và hành động mạnh mẽ hơn, nhằm đóng góp xứng đáng vào mục tiêu phát triển nhanh nhưng bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới.

Một điểm nhấn nổi bật là chuyển dịch mạnh sang nông nghiệp xanh và kinh tế tuần hoàn. Bộ trưởng cho biết những chuyển biến cụ thể và thực chất nhất của nông nghiệp xanh, kinh tế tuần hoàn thời gian qua?

Thời gian qua, việc triển khai nông nghiệp xanh và kinh tế tuần hoàn đã có những chuyển biến rõ nét, có thể khái quát trên ba phương diện lớn, từ tư duy, mô hình sản xuất đến cách thức quản lý.

Thứ nhất, sự chuyển mạnh về tư duy và thể chế phát triển xanh. Các yêu cầu về nông nghiệp sinh thái, kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải đã được tích hợp ngày càng đồng bộ vào chiến lược, quy hoạch, chương trình và hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn của ngành. Điều quan trọng là chúng ta không còn tiếp cận môi trường theo cách xử lý bị động sau khi phát sinh ô nhiễm, mà chủ động định hướng sản xuất xanh ngay từ khâu quy hoạch và tổ chức thực hiện.

Thứ hai, chuyển dịch mô hình sản xuất theo hướng xanh, tuần hoàn ở các ngành hàng chủ lực. Trong trồng trọt, lâm nghiệp, thủy sản và xây dựng nông thôn mới, nhiều mô hình tiết kiệm tài nguyên, giảm sử dụng hóa chất đầu vào, tái sử dụng phụ phẩm, gắn sản xuất với chế biến và thị trường đã được triển khai và nhân rộng. Các mô hình này không chỉ góp phần bảo vệ hệ sinh thái, giảm phát thải mà còn giúp nâng cao giá trị gia tăng, cải thiện thu nhập và sinh kế cho người nông dân.

Thứ ba, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số. Công nghệ số, dữ liệu lớn, viễn thám, truy xuất nguồn gốc và các giải pháp canh tác thông minh ngày càng được áp dụng rộng rãi trong quản lý sản xuất, tài nguyên và môi trường. Đây là những công cụ then chốt giúp tối ưu đầu vào - đầu ra, đo lường và kiểm soát phát thải, từng bước khép kín vòng đời sản phẩm, hiện thực hóa kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp.

Một dấu mốc quan trọng đó là việc Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản Việt Nam chính thức khởi động từ cuối năm 2025. Đây không chỉ là một giải pháp công nghệ, mà còn là công cụ quản lý hiện đại, góp phần nâng cao tính minh bạch, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, phòng chống gian lận thương mại và nâng cao uy tín nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, truy xuất nguồn gốc đã trở thành yêu cầu bắt buộc khi tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu, bởi giá trị nông sản ngày nay không chỉ nằm ở sản lượng, mà còn ở chất lượng, tính minh bạch và trách nhiệm với môi trường, xã hội.

Có thể khẳng định nông nghiệp xanh và kinh tế tuần hoàn đã chuyển từ định hướng sang hành động thực chất. Thời gian tới, Bộ sẽ tiếp tục hoàn thiện thể chế, phát triển thị trường carbon và tín dụng xanh, khuyến khích doanh nghiệp và nông dân mở rộng các mô hình sản xuất xanh, qua đó nâng cao sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam và từng bước hiện thực hóa cam kết phát thải ròng bằng “0”.

Quản lý tài nguyên đang ngày càng giữ vai trò chiến lược đối với phát triển bền vững. Trong năm qua, lĩnh vực này đã ghi dấu những thành tựu nổi bật nào, thưa Bộ trưởng?

Năm 2025 là một năm rất đặc biệt đối với công tác quản lý tài nguyên, nhất là trong xây dựng và hoàn thiện các cơ sở dữ liệu quốc gia, mà trọng tâm là cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai. Đây là lĩnh vực khó, phức tạp, liên quan trực tiếp đến quyền lợi của người dân, doanh nghiệp và hiệu quả quản lý của Nhà nước.

Trong điều kiện thời gian gấp, khối lượng công việc rất lớn, chịu tác động bất lợi của thiên tai tại nhiều địa phương, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã tập trung cao độ để hoàn thành xây dựng hệ thống dữ liệu và triển khai thành công Chiến dịch 90 ngày làm giàu, làm sạch dữ liệu đất đai trên phạm vi toàn quốc. Đây không chỉ là một chiến dịch kỹ thuật, mà còn là một cuộc “tổng rà soát” nhằm đưa dữ liệu đất đai về đúng thực chất, phản ánh trung thực tình trạng quản lý và sử dụng đất.

Sau 90 ngày triển khai, hơn 61 triệu thửa đất trên cả nước đã được rà soát, cập nhật và chỉnh lý; trong đó trên 24 triệu thửa đạt tiêu chí “đúng - đủ - sạch - sống”, đủ điều kiện vận hành theo thời gian thực, sẵn sàng kết nối, chia sẻ và khai thác dùng chung. So với giai đoạn trước, chất lượng dữ liệu đã có bước tiến rõ rệt, tạo nền tảng vững chắc cho quản lý hiện đại và minh bạch hơn.

Song song với việc làm giàu dữ liệu, công tác đồng bộ hóa cũng được triển khai quyết liệt nhằm bảo đảm dữ liệu thực sự “sống - sạch - thống nhất - dùng chung”. Đến nay, 100% tỉnh, thành phố đã thực hiện đồng bộ dữ liệu đất đai về Trung ương, với trên 61 triệu thửa đất, tương đương khoảng 98% tổng số thửa đất trong hệ thống dữ liệu địa phương; trong đó hơn 24 triệu thửa đã hoàn chỉnh đầy đủ các khối thông tin, sẵn sàng khai thác và chia sẻ.

Những kết quả này phản ánh quyết tâm chính trị rất cao của người đứng đầu, sự vào cuộc đồng bộ của các bộ, ngành, địa phương và tinh thần phối hợp chặt chẽ trong toàn hệ thống. Quan trọng hơn, đây là nền tảng dữ liệu cốt lõi phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, quản lý tài nguyên hiệu quả hơn, minh bạch hơn, đồng thời thúc đẩy mạnh mẽ tiến trình chuyển đổi số quốc gia.

Sau một năm đầy thiên tai cực đoan, theo Bộ trưởng, đâu là những bài học lớn nhất và những ưu tiên chính sách cấp bách nhất để giúp nông nghiệp chủ động thích ứng trong thời gian tới?

Năm 2025 có thể xem là một trong những năm thiên tai khốc liệt và bất thường nhất trong nhiều thập kỷ, cả về tần suất, cường độ lẫn phạm vi tác động. Trên Biển Đông xuất hiện nhiều cơn bão và áp thấp nhiệt đới; mưa lớn gây lũ vượt mức lịch sử tại nhiều lưu vực; ngập lụt, sạt lở xảy ra trên diện rộng, gây thiệt hại nặng nề về người, tài sản và sinh kế. Đây thực sự là một phép thử lớn đối với năng lực phòng, chống thiên tai và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu của chúng ta.

Trong bối cảnh đó, năng lực chỉ đạo, điều hành và ứng phó đã được nâng lên rõ rệt. Các kịch bản được xây dựng sớm, phương châm “4 tại chỗ” được triển khai thực chất, với tinh thần đặt an toàn tính mạng người dân lên trên hết.

Hệ thống trực ban duy trì 24/24 giờ, bám sát diễn biến để chỉ đạo kịp thời. Hệ thống đê điều, hồ đập và các công trình phòng, chống thiên tai cơ bản vận hành an toàn; nhiều trọng điểm xung yếu được phát hiện, xử lý sớm, góp phần ngăn chặn nguy cơ thảm họa lớn. Công tác dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn tiếp tục giữ vai trò then chốt, giúp địa phương chủ động sơ tán dân, bảo vệ sản xuất và giảm thiểu thiệt hại. Truyền thông cộng đồng được tăng cường, tạo sự tham gia đồng bộ của cả hệ thống chính trị và người dân.

Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy thiên tai đang vượt nhanh khỏi các “ngưỡng thiết kế” truyền thống, diễn biến ngày càng khó lường. Bài học lớn nhất rút ra là chúng ta không thể chỉ dừng ở ứng phó bị động, mà phải chuyển mạnh sang quản trị rủi ro chủ động, phòng ngừa từ sớm, từ xa, dựa trên khoa học, dữ liệu và sự tham gia của cộng đồng.

Từ những bài học đó, thời gian tới, ngành Nông nghiệp và Môi trường xác định một số ưu tiên chính sách cấp bách. Trước hết là hiện đại hóa hệ thống dự báo, cảnh báo, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo để nâng cao độ chính xác và khả năng dự báo sớm.

Cùng với đó là đầu tư hạ tầng thích ứng với biến đổi khí hậu, ưu tiên các vùng tuyến đầu thường xuyên chịu tác động của thiên tai. Ngành cũng tập trung nâng cao năng lực phòng, chống thiên tai ở cơ sở, gắn chặt với bảo vệ sinh kế và tái thiết sau thiên tai, đồng thời coi người dân là chủ thể trong phòng ngừa, ứng phó và phục hồi.

Quan điểm xuyên suốt là chủ động thích ứng, lấy phòng ngừa làm chính, giảm thiểu tối đa thiệt hại và tạo dựng nền tảng an toàn, bền vững cho phát triển nông nghiệp và nông thôn trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt.

Bộ trưởng cho biết những nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm của ngành trong năm 2026 và giai đoạn mới?

Giá trị lớn nhất năm 2025 đó là sự thống nhất ngày càng cao về nhận thức và hành động trong toàn ngành. Từ Trung ương đến địa phương, từ cơ quan quản lý đến các đơn vị thực thi, tinh thần đổi mới tư duy và phương thức phát triển đã từng bước lan tỏa. Ngành Nông nghiệp và Môi trường không còn tiếp cận nhiệm vụ theo từng lĩnh vực riêng lẻ, mà đặt mọi hoạt động trong tổng thể chiến lược phát triển quốc gia, gắn với mục tiêu tăng trưởng xanh, bền vững và bao trùm.

Bên cạnh những kết quả đạt được, chúng tôi cũng thẳng thắn nhìn nhận còn không ít hạn chế: công tác dự báo và phản ứng chính sách trước những vấn đề mới, cấp bách có lúc chưa kịp thời; thể chế và thủ tục hành chính trên một số lĩnh vực còn chồng chéo; kỷ luật, kỷ cương hành chính ở một số nơi chưa thật nghiêm; ô nhiễm môi trường không khí, tác động của thiên tai và biến đổi khí hậu tiếp tục diễn biến phức tạp; hạ tầng phục vụ nông nghiệp, nông thôn và bảo vệ môi trường còn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.

Bước sang năm 2026 và giai đoạn tiếp theo, ngành Nông nghiệp và Môi trường xác định rõ khát vọng không chỉ là tăng trưởng về quy mô, mà là kiến tạo một nền nông nghiệp hiện đại, sinh thái, có sức cạnh tranh toàn cầu; đồng thời, xây dựng hệ thống quản lý tài nguyên và môi trường minh bạch, hiệu quả, bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế và bảo vệ không gian sống của đất nước.

Trọng tâm trong điều hành là đổi mới căn bản phương pháp làm việc, chuyển từ tư duy hành chính sang tư duy kiến tạo phát triển; lấy hiệu quả thực chất, đo đếm được bằng kết quả cụ thể làm thước đo chủ yếu. Kỷ luật, kỷ cương hành chính sẽ tiếp tục được siết chặt, gắn rõ với trách nhiệm cá nhân, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu. Bộ tập trung xử lý những việc khó, việc mới, những tồn tại kéo dài, với tinh thần tiếp cận trực diện, xác định rõ nguyên nhân, thẩm quyền và lộ trình giải quyết.

Công tác phân công, phân nhiệm được thực hiện theo nguyên tắc “rõ người, rõ việc, rõ tiến độ, rõ sản phẩm”, hạn chế tối đa chồng chéo, né tránh và đùn đẩy trách nhiệm. Kiểm tra, giám sát được tăng cường để bảo đảm chỉ đạo đi vào thực chất, không bị “nghẽn” trong khâu thực thi. Đồng thời, Bộ coi trọng đối thoại, lắng nghe ý kiến từ địa phương, doanh nghiệp và người dân như một kênh quan trọng để hoàn thiện chính sách và nâng cao chất lượng điều hành.

Trong giai đoạn 2026–2030, ngành tập trung tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, nâng cao năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu và phát huy hiệu quả các nguồn lực cho phát triển nông nghiệp bền vững. Trọng tâm là hoàn thiện thể chế; nâng cao năng lực quản lý, giám sát; tăng cường phối hợp liên ngành; huy động hiệu quả nguồn lực xã hội, khoa học, công nghệ và hợp tác quốc tế.

Theo đó, một số nhiệm vụ then chốt gồm: tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy theo hướng hiệu lực, hiệu quả; kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc từ thực tiễn, nhất là ở cấp địa phương; hoàn thiện chính sách thúc đẩy tăng trưởng ngành và xuất khẩu nông, lâm, thủy sản; đầu tư hạ tầng cho nông nghiệp, nông thôn và quản lý tài nguyên; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, năng lực thực thi công vụ; đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ.

Với định hướng đó, ngành Nông nghiệp và Môi trường xác định rõ vai trò kiến tạo, dẫn dắt và đồng hành cùng người dân, doanh nghiệp và địa phương, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh, xanh và bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16 -23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-

Categories: The Latest News

Chính sách tiền tệ: ưu tiên mục tiêu dài hạn, tạo tiền đề cho chu kỳ tăng trưởng mới

Thời Báo Kinh Tế - Tue, 02/17/2026 - 06:08
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Thanh Hà đã có cuộc trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy về định hướng điều hành chính sách tiền tệ năm 2026, trong đó đặc biệt nhấn mạnh vai trò của việc phối hợp hiệu quả giữa chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa, phát triển thị trường vốn bền vững.

Thưa ông, năm 2025 kinh tế thế giới tiếp tục trải qua nhiều cú sốc và khó dự báo nhưng kinh tế Việt Nam vẫn duy trì được sức chống chịu, các chỉ tiêu lớn đạt mục tiêu của Quốc hội và Chính phủ đề ra. Những thách thức trong năm qua đã được Ngân hàng Nhà nước ứng phó và xử lý ra sao trong quá trình điều hành chính sách tiền tệ nhằm giữ ổn định kinh tế vĩ mô và thúc đẩy tăng trưởng?

Năm 2025 là một năm đầy khó khăn, thách thức đối với điều hành kinh tế vĩ mô nói chung và công tác điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước nói riêng.

Trong bối cảnh đó, bám sát chủ trương của Đảng, các Nghị quyết của Quốc hội, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước luôn kiên định, chủ động, linh hoạt trong điều hành chính sách tiền tệ để cân bằng nhiều mục tiêu quan trọng: kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối, duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý, hỗ trợ doanh nghiệp và người dân tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng với chi phí phù hợp.

Đồng thời, chính sách tiền tệ được điều hành với sự phối hợp chặt chẽ cùng chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác, phản ứng nhanh nhạy, theo sát với diễn biến kinh tế thế giới và trong nước. Song song với đó, các giải pháp điều hành tín dụng được thực hiện hiệu quả, hướng dòng vốn tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng kinh tế theo chỉ đạo của Chính phủ, kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro.

Với việc triển khai đồng bộ các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ, mặt bằng lãi suất cho vay tiếp tục có xu hướng giảm (đến ngày 30/11/2025, lãi suất cho vay bình quân của các giao dịch phát sinh mới ở mức 6,96%/năm, tương đương so với cuối năm 2024),  doanh nghiệp và người dân đang tiếp cận vốn vay với lãi suất thấp hơn trước đây. Thị trường ngoại tệ hoạt động thông suốt, các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp của nền kinh tế được đáp ứng đầy đủ, kịp thời; tỷ giá USD/VND diễn biến linh hoạt, phù hợp với điều kiện thị trường.

Đến ngày 31/12/2025, dư nợ tín dụng nền kinh tế đạt trên 18,58 triệu tỷ đồng, tăng 19,01% so với cuối năm 2024; cơ cấu tín dụng phù hợp với cơ cấu nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu tín dụng của người dân, doanh nghiệp. Hoạt động thanh toán và chuyên đổi số diễn ra mạnh mẽ, gia tăng nhiều tiện ích và nâng cao trải nghiệm cho khách hàng trong sử dụng dịch vụ ngân hàng trên nền tảng số.

Với những thành quả nêu trên, có thể khẳng định rằng công tác điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước trong năm 2025 đã phát huy tốt vai trò “trụ cột” trong  việc giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, từ đó tạo cơ sở, nền tảng quan trọng hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững.

Thưa ông, sau một giai đoạn chính sách tiền tệ được nới lỏng để hỗ trợ tăng trưởng, các tổ chức quốc tế đánh giá dư địa điều hành của Ngân hàng Nhà nước hiện nay rất hạn hẹp, thể hiện qua tỷ lệ tín dụng trên GDP đang ở mức cao, trên dưới 145%. Trong bối cảnh đó, ông đánh giá như thế nào về vai trò điều phối giữa chính sách tiền tệ, tài khóa và thị trường vốn để giảm áp lực cho hệ thống ngân hàng?

Thực tế tại Việt Nam cũng như kinh nghiệm quốc tế cho thấy chính sách tiền tệ cần ưu tiên mục tiêu dài hạn là kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Còn chính sách tài khóa với công cụ chi tiêu tài khóa, đầu tư công và điều chỉnh các sắc thuế tác động trực tiếp vào tiêu dùng, đầu tư, thu hút FDI, xuất khẩu của quốc gia, cùng với đó là tổng cầu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bên cạnh đó, một vai trò quan trọng nữa của chi tiêu ngân sách đối với tăng trưởng là thông qua “hiệu ứng vốn mồi”: triển khai các dự án đầu tư công sẽ kéo theo đầu tư tư nhân, tạo công ăn việc làm và kích thích tiêu dùng. Có thể nói, chính sách tài khóa có vai trò rất lớn trong thúc đẩy tổng cầu của nền kinh tế.

Song song với chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa, các chính sách thúc đẩy phát triển thị trường vốn (thị trường cổ phiếu, trái phiếu) cũng đóng vai trò là “xương sống” của nền kinh tế, giúp huy động vốn trung, dài hạn hiệu quả cho doanh nghiệp, Chính phủ để đầu tư sản xuất, cơ sở hạ tầng, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giảm sự phụ thuộc vào nguồn vốn tín dụng ngân hàng. Qua đó, góp phần phân bổ nguồn lực hiệu quả và tạo điều kiện cho đổi mới sáng tạo, hướng tới một hệ thống tài chính đa dạng, minh bạch, an toàn và bền vững.

Ngân hàng Nhà nước thường xuyên phối hợp chặt chẽ với Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan để triển khai hiệu quả các giải pháp tài khóa, tiền tệ; chủ động, tích cực phối hợp trao đổi các thông tin về thị trường tiền tệ, thị trường trái phiếu chính phủ, việc điều hành ngân quỹ nhà nước, tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước tại các ngân hàng thương mại… để tăng cường sự phối hợp giữa công tác điều hành chính sách tiền tệ  và chính sách tài khóa nhằm thực hiện các mục tiêu về kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Thưa Phó Thống đốc, trong năm 2026, mức độ liều lượng và sự ưu tiên giữa chính sách tiền tệ và tài khóa nên theo hướng nào để nâng cao hiệu quả điều hành cũng như tạo dư địa cho tăng trưởng bền vững?

Bước sang năm 2026 và giai đoạn 2026-2030, để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội mà Quốc hội, Chính phủ đề ra, cần tiếp tục có sự phối hợp chặt chẽ, hỗ trợ tích cực lẫn nhau giữa chính sách tiền tệ, tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác để phát huy hiệu quả và thực hiện mục tiêu giữ vững ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế.

Trong đó, trọng tâm là nâng cao chất lượng phối hợp giữa các chính sách trên cơ sở bám sát diễn biến thực tiễn, chia sẻ thông tin kịp thời; đồng thời, phát huy đúng vai trò của từng chính sách để hướng tới phát triển bền vững. Trong bối cảnh dư địa của chính sách tiền tệ được đánh giá là rất hạn hẹp như hiện nay, cần tập trung ưu tiên mở rộng chính sách tài khóa có trọng tâm, trọng điểm, là trụ cột để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ hiệu quả cho chính sách tiền tệ. Đồng thời, cần tiếp tục đẩy mạnh các giải pháp thúc đẩy thị trường vốn phát triển an toàn, bền vững, trở thành kênh cung ứng vốn trung, dài hạn chủ yếu cho nền kinh tế, qua đó đảm bảo đáp ứng tốt nhu cầu vốn cho tăng trưởng cao thời gian tới.

Với những dự báo về tình hình kinh tế thế giới và khu vực, những mục tiêu, định hướng trong điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước năm 2026 là gì, thưa ông?

Năm 2026, kinh tế thế giới và khu vực được dự báo tiếp tục đối mặt với nhiều rủi ro. Điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục kiên định ưu tiên mục tiêu kiểm soát lạm phát, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững; đồng thời, phát huy bài học kinh nghiệm từ giai đoạn 2021-2025 để có quyết định điều hành đồng bộ các công cụ và giải pháp với thời điểm và liều lượng hợp lý, phù hợp với bối cảnh thực tiễn.

Chính sách tiền tệ tiếp tục tăng cường phối hợp với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác để giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, củng cố các cân đối lớn của nền kinh tế, đặc biệt trong giai đoạn đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ.

Ngân hàng Nhà nước tiếp tục chỉ đạo các tổ chức tín dụng tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng kinh tế theo chỉ đạo của Chính phủ; kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro; tăng cường rà soát, đơn giản hóa thủ tục cấp tín dụng, áp dụng chuyển đổi số vào quy trình cấp tín dụng, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng, đảm bảo chặt chẽ, an toàn.

Thể chế pháp luật ngân hàng tiếp tục được hoàn thiện để đảm bảo cơ sở pháp lý đồng bộ, thuận lợi cho điều hành chính sách tiền tệ, thúc đẩy phát triển thị trường tiền tệ và hội nhập quốc tế.

Ngân hàng Nhà nước cũng chú trọng thực hiện các giải pháp như nâng cao năng lực thanh tra, giám sát, kiểm tra các lĩnh vực rủi ro, nợ xấu, đảm bảo an toàn và lành mạnh hệ thống tổ chức tín dụng, thúc đẩy chuyển đổi số, tăng cường năng lực quản trị và bảo đảm an ninh, an toàn hệ thống thanh toán.

Những giải pháp này sẽ tạo nền tảng ổn định, hỗ trợ điều hành chính sách tiền tệ hiệu quả, duy trì thanh khoản, ổn định tỷ giá, đồng thời đảm bảo niềm tin của người dân, doanh nghiệp và nhà đầu tư.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-

Categories: The Latest News

Chính sách tiền tệ: ưu tiên mục tiêu dài hạn, tạo tiền đề cho chu kỳ tăng trưởng mới

Thời báo kinh tế Việt Nam - Tue, 02/17/2026 - 06:08
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Thanh Hà đã có cuộc trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy về định hướng điều hành chính sách tiền tệ năm 2026, trong đó đặc biệt nhấn mạnh vai trò của việc phối hợp hiệu quả giữa chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa, phát triển thị trường vốn bền vững.

Thưa ông, năm 2025 kinh tế thế giới tiếp tục trải qua nhiều cú sốc và khó dự báo nhưng kinh tế Việt Nam vẫn duy trì được sức chống chịu, các chỉ tiêu lớn đạt mục tiêu của Quốc hội và Chính phủ đề ra. Những thách thức trong năm qua đã được Ngân hàng Nhà nước ứng phó và xử lý ra sao trong quá trình điều hành chính sách tiền tệ nhằm giữ ổn định kinh tế vĩ mô và thúc đẩy tăng trưởng?

Năm 2025 là một năm đầy khó khăn, thách thức đối với điều hành kinh tế vĩ mô nói chung và công tác điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước nói riêng.

Trong bối cảnh đó, bám sát chủ trương của Đảng, các Nghị quyết của Quốc hội, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước luôn kiên định, chủ động, linh hoạt trong điều hành chính sách tiền tệ để cân bằng nhiều mục tiêu quan trọng: kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối, duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý, hỗ trợ doanh nghiệp và người dân tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng với chi phí phù hợp.

Đồng thời, chính sách tiền tệ được điều hành với sự phối hợp chặt chẽ cùng chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác, phản ứng nhanh nhạy, theo sát với diễn biến kinh tế thế giới và trong nước. Song song với đó, các giải pháp điều hành tín dụng được thực hiện hiệu quả, hướng dòng vốn tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng kinh tế theo chỉ đạo của Chính phủ, kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro.

Với việc triển khai đồng bộ các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ, mặt bằng lãi suất cho vay tiếp tục có xu hướng giảm (đến ngày 30/11/2025, lãi suất cho vay bình quân của các giao dịch phát sinh mới ở mức 6,96%/năm, tương đương so với cuối năm 2024),  doanh nghiệp và người dân đang tiếp cận vốn vay với lãi suất thấp hơn trước đây. Thị trường ngoại tệ hoạt động thông suốt, các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp của nền kinh tế được đáp ứng đầy đủ, kịp thời; tỷ giá USD/VND diễn biến linh hoạt, phù hợp với điều kiện thị trường.

Đến ngày 31/12/2025, dư nợ tín dụng nền kinh tế đạt trên 18,58 triệu tỷ đồng, tăng 19,01% so với cuối năm 2024; cơ cấu tín dụng phù hợp với cơ cấu nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu tín dụng của người dân, doanh nghiệp. Hoạt động thanh toán và chuyên đổi số diễn ra mạnh mẽ, gia tăng nhiều tiện ích và nâng cao trải nghiệm cho khách hàng trong sử dụng dịch vụ ngân hàng trên nền tảng số.

Với những thành quả nêu trên, có thể khẳng định rằng công tác điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước trong năm 2025 đã phát huy tốt vai trò “trụ cột” trong  việc giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, từ đó tạo cơ sở, nền tảng quan trọng hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững.

Thưa ông, sau một giai đoạn chính sách tiền tệ được nới lỏng để hỗ trợ tăng trưởng, các tổ chức quốc tế đánh giá dư địa điều hành của Ngân hàng Nhà nước hiện nay rất hạn hẹp, thể hiện qua tỷ lệ tín dụng trên GDP đang ở mức cao, trên dưới 145%. Trong bối cảnh đó, ông đánh giá như thế nào về vai trò điều phối giữa chính sách tiền tệ, tài khóa và thị trường vốn để giảm áp lực cho hệ thống ngân hàng?

Thực tế tại Việt Nam cũng như kinh nghiệm quốc tế cho thấy chính sách tiền tệ cần ưu tiên mục tiêu dài hạn là kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Còn chính sách tài khóa với công cụ chi tiêu tài khóa, đầu tư công và điều chỉnh các sắc thuế tác động trực tiếp vào tiêu dùng, đầu tư, thu hút FDI, xuất khẩu của quốc gia, cùng với đó là tổng cầu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bên cạnh đó, một vai trò quan trọng nữa của chi tiêu ngân sách đối với tăng trưởng là thông qua “hiệu ứng vốn mồi”: triển khai các dự án đầu tư công sẽ kéo theo đầu tư tư nhân, tạo công ăn việc làm và kích thích tiêu dùng. Có thể nói, chính sách tài khóa có vai trò rất lớn trong thúc đẩy tổng cầu của nền kinh tế.

Song song với chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa, các chính sách thúc đẩy phát triển thị trường vốn (thị trường cổ phiếu, trái phiếu) cũng đóng vai trò là “xương sống” của nền kinh tế, giúp huy động vốn trung, dài hạn hiệu quả cho doanh nghiệp, Chính phủ để đầu tư sản xuất, cơ sở hạ tầng, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giảm sự phụ thuộc vào nguồn vốn tín dụng ngân hàng. Qua đó, góp phần phân bổ nguồn lực hiệu quả và tạo điều kiện cho đổi mới sáng tạo, hướng tới một hệ thống tài chính đa dạng, minh bạch, an toàn và bền vững.

Ngân hàng Nhà nước thường xuyên phối hợp chặt chẽ với Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan để triển khai hiệu quả các giải pháp tài khóa, tiền tệ; chủ động, tích cực phối hợp trao đổi các thông tin về thị trường tiền tệ, thị trường trái phiếu chính phủ, việc điều hành ngân quỹ nhà nước, tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước tại các ngân hàng thương mại… để tăng cường sự phối hợp giữa công tác điều hành chính sách tiền tệ  và chính sách tài khóa nhằm thực hiện các mục tiêu về kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Thưa Phó Thống đốc, trong năm 2026, mức độ liều lượng và sự ưu tiên giữa chính sách tiền tệ và tài khóa nên theo hướng nào để nâng cao hiệu quả điều hành cũng như tạo dư địa cho tăng trưởng bền vững?

Bước sang năm 2026 và giai đoạn 2026-2030, để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội mà Quốc hội, Chính phủ đề ra, cần tiếp tục có sự phối hợp chặt chẽ, hỗ trợ tích cực lẫn nhau giữa chính sách tiền tệ, tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác để phát huy hiệu quả và thực hiện mục tiêu giữ vững ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế.

Trong đó, trọng tâm là nâng cao chất lượng phối hợp giữa các chính sách trên cơ sở bám sát diễn biến thực tiễn, chia sẻ thông tin kịp thời; đồng thời, phát huy đúng vai trò của từng chính sách để hướng tới phát triển bền vững. Trong bối cảnh dư địa của chính sách tiền tệ được đánh giá là rất hạn hẹp như hiện nay, cần tập trung ưu tiên mở rộng chính sách tài khóa có trọng tâm, trọng điểm, là trụ cột để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ hiệu quả cho chính sách tiền tệ. Đồng thời, cần tiếp tục đẩy mạnh các giải pháp thúc đẩy thị trường vốn phát triển an toàn, bền vững, trở thành kênh cung ứng vốn trung, dài hạn chủ yếu cho nền kinh tế, qua đó đảm bảo đáp ứng tốt nhu cầu vốn cho tăng trưởng cao thời gian tới.

Với những dự báo về tình hình kinh tế thế giới và khu vực, những mục tiêu, định hướng trong điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước năm 2026 là gì, thưa ông?

Năm 2026, kinh tế thế giới và khu vực được dự báo tiếp tục đối mặt với nhiều rủi ro. Điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục kiên định ưu tiên mục tiêu kiểm soát lạm phát, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững; đồng thời, phát huy bài học kinh nghiệm từ giai đoạn 2021-2025 để có quyết định điều hành đồng bộ các công cụ và giải pháp với thời điểm và liều lượng hợp lý, phù hợp với bối cảnh thực tiễn.

Chính sách tiền tệ tiếp tục tăng cường phối hợp với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác để giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, củng cố các cân đối lớn của nền kinh tế, đặc biệt trong giai đoạn đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ.

Ngân hàng Nhà nước tiếp tục chỉ đạo các tổ chức tín dụng tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng kinh tế theo chỉ đạo của Chính phủ; kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro; tăng cường rà soát, đơn giản hóa thủ tục cấp tín dụng, áp dụng chuyển đổi số vào quy trình cấp tín dụng, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng, đảm bảo chặt chẽ, an toàn.

Thể chế pháp luật ngân hàng tiếp tục được hoàn thiện để đảm bảo cơ sở pháp lý đồng bộ, thuận lợi cho điều hành chính sách tiền tệ, thúc đẩy phát triển thị trường tiền tệ và hội nhập quốc tế.

Ngân hàng Nhà nước cũng chú trọng thực hiện các giải pháp như nâng cao năng lực thanh tra, giám sát, kiểm tra các lĩnh vực rủi ro, nợ xấu, đảm bảo an toàn và lành mạnh hệ thống tổ chức tín dụng, thúc đẩy chuyển đổi số, tăng cường năng lực quản trị và bảo đảm an ninh, an toàn hệ thống thanh toán.

Những giải pháp này sẽ tạo nền tảng ổn định, hỗ trợ điều hành chính sách tiền tệ hiệu quả, duy trì thanh khoản, ổn định tỷ giá, đồng thời đảm bảo niềm tin của người dân, doanh nghiệp và nhà đầu tư.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-

Categories: The Latest News

Xây dựng nền kinh tế dữ liệu Việt Nam phát triển nhanh, an toàn, mở nhưng có kiểm soát

Thời Báo Kinh Tế - Tue, 02/17/2026 - 06:08
Trong bài phỏng vấn dành riêng cho Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy trước thềm năm mới 2026, Đại tướng Lương Tam Quang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an, Chủ tịch Hiệp hội Dữ liệu quốc gia, khẳng định dữ liệu được xác định là tài sản chiến lược gắn liền với chủ quyền quốc gia, do vậy, việc bảo đảm an ninh mạng, an ninh dữ liệu, an toàn thông tin của tổ chức và cá nhân có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với ổn định chính trị, phát triển bền vững và tự chủ chiến lược của đất nước.

Thưa Bộ trưởng, trong bối cảnh kinh tế số phát triển nhanh, đất nước bước vào giai đoạn bình minh của kỷ nguyên số, dữ liệu đã trở thành “nguồn tài nguyên mới”, Bộ trưởng đánh giá như thế nào về vai trò then chốt của dữ liệu trong sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc?

Vai trò của dữ liệu đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam trong kỷ nguyên mới được Đảng, Nhà nước, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước nhiều lần nhấn mạnh. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị đã xác định rõ quan điểm “làm giàu, khai thác tối đa tiềm năng của dữ liệu, đưa dữ liệu thành tư liệu sản xuất chính, thúc đẩy phát triển nhanh cơ sở dữ liệu lớn, công nghiệp dữ liệu, kinh tế dữ liệu”. Đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm tại buổi làm việc với Trung tâm Dữ liệu quốc gia ngày 29/12/2025 đã khẳng định: “Dữ liệu đã trở thành một nguồn lực chiến lược, một loại tài nguyên mới, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với năng lực quản trị quốc gia, sức cạnh tranh của nền kinh tế và chất lượng đời sống của nhân dân”.

Trên thế giới, nhiều quốc gia đã khai thác hiệu quả sức mạnh của dữ liệu trong tiến trình chuyển đổi quốc gia. Theo Ngân hàng Thế giới, dữ liệu và công nghệ số có thể đóng góp từ 20-30% tăng trưởng GDP tại các nền kinh tế đang phát triển trong giai đoạn tới. Việt Nam có nhiều lợi thế với hơn 70% dân số sử dụng Internet; kinh tế số hiện đóng góp gián tiếp khoảng 12-18% GDP, tạo nền tảng quan trọng để phát triển kinh tế dữ liệu. Điều này cho thấy tăng trưởng kinh tế trong thời gian tới sẽ ngày càng phụ thuộc vào năng lực tạo lập, kết nối và khai thác dữ liệu trong các ngành, lĩnh vực.

Cùng với đó, dữ liệu là nền tảng cốt lõi của quản trị quốc gia hiện đại. Việc hình thành các cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, đất đai, doanh nghiệp, tài chính, bảo hiểm... và mới đây là đưa Trung tâm Dữ liệu quốc gia đi vào hoạt động đã tạo điều kiện để Nhà nước chuyển mạnh từ mô hình quản lý thủ công sang quản trị dựa trên dữ liệu và bằng chứng; đã góp phần cắt giảm hàng trăm thủ tục hành chính, tiết kiệm mỗi năm hàng nghìn tỷ đồng chi phí xã hội, đồng thời nâng cao tính minh bạch, hiệu lực và hiệu quả trong điều hành của bộ máy nhà nước.

Dữ liệu hiện nay vừa là tài sản, vừa là nguồn lực sản xuất. Vậy, xin Bộ trưởng chia sẻ quan điểm về an ninh và chủ quyền dữ liệu quốc gia trong kỷ nguyên số hóa?

Nghị quyết số 57/NQ-TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị xác định quan điểm chỉ đạo “Bảo đảm chủ quyền quốc gia trên không gian mạng; bảo đảm an ninh mạng, an ninh dữ liệu, an toàn thông tin của tổ chức và cá nhân là yêu cầu xuyên suốt, không thể tách rời trong quá trình phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”. Thực tiễn cho thấy đây là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với ổn định chính trị, phát triển bền vững và tự chủ chiến lược của đất nước.

Song song với quá trình chuyển đổi số quốc gia, Việt Nam đã có cách tiếp cận chủ động trong bảo đảm chủ quyền và an ninh dữ liệu. Trong đó: (i) Dữ liệu được xác định là tài sản chiến lược gắn liền với chủ quyền quốc gia; việc thu thập, lưu trữ, xử lý, khai thác và chia sẻ dữ liệu quốc gia phải được Nhà nước quản lý thống nhất và bảo đảm bằng pháp luật.

(ii) An ninh dữ liệu là điều kiện tiên quyết của chuyển đổi số và phát triển kinh tế số; an ninh dữ liệu phải được bảo đảm xuyên suốt toàn bộ vòng đời dữ liệu, gắn chặt với bảo vệ quyền riêng tư và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và công dân.

(iii) Chủ quyền dữ liệu phải gắn với làm chủ hạ tầng và nền tảng số quốc gia; theo đó, ưu tiên xây dựng hạ tầng dữ liệu, trung tâm dữ liệu và các nền tảng số trọng yếu do Việt Nam làm chủ, đồng thời quản lý chặt chẽ việc chuyển dữ liệu ra nước ngoài, thúc đẩy phát triển các công nghệ dữ liệu cốt lõi.

(iv) Bảo đảm an ninh và chủ quyền dữ liệu là trách nhiệm chung của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, trong đó Nhà nước giữ vai trò chủ đạo về thể chế và tổ chức thực thi; các chủ thể tham gia tạo lập, khai thác dữ liệu phải tuân thủ nghiêm các quy định về an ninh, an toàn dữ liệu. Việc bảo vệ chủ quyền dữ liệu không đồng nghĩa với hạn chế chia sẻ dữ liệu, mà hướng tới khai thác hiệu quả dữ liệu phục vụ phát triển kinh tế  - xã hội trên cơ sở pháp luật và yêu cầu đảm bảo chủ quyền, an ninh quốc gia.

Thưa Bộ trưởng, kinh tế dữ liệu đang mở ra cơ hội mới cho doanh nghiệp khởi nghiệp và doanh nghiệp công nghệ, Bộ Công an có những biện pháp gì để bảo đảm an toàn, an ninh khi doanh nghiệp thu thập, lưu trữ và xử lý dữ liệu số quy mô lớn?

Với chức năng quản lý nhà nước về an ninh, trật tự, Bộ Công an cam kết sẽ là người đồng hành với doanh nghiệp để cùng xây dựng nền kinh tế dữ liệu an toàn, minh bạch, bền vững.

Một số giải pháp trọng tâm đã, đang và sẽ được triển khai, đó là:

Thứ nhất, tiếp tục tham mưu hoàn thiện thể chế, pháp luật về dữ liệu, trước mắt là Luật An ninh dữ liệu, nhằm thiết lập khung pháp lý thống nhất điều chỉnh toàn bộ vòng đời dữ liệu, làm rõ trách nhiệm của các chủ thể liên quan, phân loại và bảo vệ dữ liệu quan trọng, dữ liệu nhạy cảm và dữ liệu cốt lõi quốc gia, đồng thời tăng cường cơ chế đánh giá tác động, kiểm tra, giám sát và chế tài bảo đảm tuân thủ.

Thứ hai, xây dựng và phát triển hạ tầng dữ liệu, hạ tầng số an toàn, độc lập và có khả năng kiểm soát ở tầm quốc gia; ưu tiên đầu tư trung tâm dữ liệu, nền tảng điện toán đám mây trong nước đạt tiêu chuẩn an toàn cao, kiểm soát chặt chẽ việc lưu trữ, xử lý dữ liệu quan trọng và dữ liệu cá nhân quy mô lớn, đặc biệt là dữ liệu xuyên biên giới, gắn với hệ thống giám sát, cảnh báo sớm và phối hợp ứng phó sự cố.

Thứ ba, góp phần nâng cao năng lực của doanh nghiệp và chất lượng nguồn nhân lực về bảo vệ và quản trị dữ liệu thông qua việc ban hành, bảo đảm việc thực hiện tiêu chuẩn, hướng dẫn kỹ thuật bảo vệ an ninh dữ liệu và đẩy mạnh đào tạo chuyên sâu.

Thứ tư, tăng cường hợp tác quốc tế về an ninh dữ liệu trên cơ sở bảo đảm tự chủ, chủ quyền dữ liệu, tiếp thu kinh nghiệm quốc tế đồng thời kiên định nguyên tắc Nhà nước giữ quyền quyết định đối với dữ liệu quan trọng và dữ liệu cốt lõi quốc gia, tránh phụ thuộc về công nghệ và hạ tầng.

Thưa Bộ trưởng, kinh tế dữ liệu không chỉ là thu thập, mà còn là phân tích, khai thác giá trị. Trong chiến lược an ninh mạng quốc gia, Bộ Công an sẽ hỗ trợ như thế nào để Việt Nam có thể xây dựng năng lực khai thác dữ liệu thông minh (AI - machine learning) một cách an toàn?

Trong triển khai Nghị quyết của Bộ Chính trị về Chiến lược an ninh mạng quốc gia, Bộ Công an tập trung xây dựng môi trường an toàn nhằm thúc đẩy Việt Nam khai thác dữ liệu thông minh thông qua trí tuệ nhân tạo (AI, machine learning) một cách bền vững, có kiểm soát, gắn chặt với bảo đảm an ninh quốc gia, dựa trên các định hướng trọng tâm sau:

Một là, hoàn thiện thể chế và hành lang pháp lý để xác lập “ranh giới an toàn” cho AI và khai thác dữ liệu; tham gia xây dựng khung pháp lý về an ninh mạng, an ninh dữ liệu và bảo vệ dữ liệu cá nhân, làm rõ khái niệm dữ liệu nhạy cảm, dữ liệu cốt lõi quốc gia và trách nhiệm pháp lý của các tổ chức, doanh nghiệp trong vòng đời AI, qua đó kiểm soát rủi ro và ngăn ngừa lạm dụng.

Hai là, tăng cường bảo đảm an ninh dữ liệu - nền tảng cốt lõi của AI an toàn; nâng cao năng lực bảo vệ dữ liệu quốc gia, giám sát và ứng phó với các rủi ro mới phát sinh từ ứng dụng AI như thao túng dữ liệu, giả mạo thông tin, xâm phạm quyền riêng tư, tạo điều kiện để AI được triển khai an toàn trong các lĩnh vực nhạy cảm.

Ba là, phối hợp xây dựng hạ tầng và môi trường khai thác dữ liệu an toàn, phát triển trung tâm dữ liệu và nền tảng số đáp ứng yêu cầu xử lý dữ liệu lớn, huấn luyện AI; đồng thời kiểm soát chặt chẽ việc lưu trữ, xử lý dữ liệu quan trọng, dữ liệu cá nhân quy mô lớn, kể cả dữ liệu xuyên biên giới.

Bốn là, thúc đẩy phát triển AI an toàn, có trách nhiệm, gắn với bảo vệ quyền con người và dữ liệu cá nhân, an ninh con người, qua đó củng cố niềm tin xã hội - điều kiện tiên quyết để mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng dữ liệu phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc gia.

Thưa Bộ trưởng, trong thực tiễn, dữ liệu cá nhân và dữ liệu nhạy cảm có nguy cơ bị xâm phạm nếu hệ thống bảo mật yếu. Xin Bộ trưởng cho biết Bộ Công an định hướng như thế nào để vừa thúc đẩy lưu thông dữ liệu, vừa bảo vệ quyền riêng tư của người dân?

Những năm qua, tình trạng xâm phạm dữ liệu cá nhân tại Việt Nam ngày càng diễn biến phức tạp, có những vụ việc gây thiệt hại lớn cho cá nhân và tổ chức; đã phát hiện nhiều cuộc tấn công mạng quy mô lớn tập trung vào đánh cắp dữ liệu, đặc biệt là dữ liệu cá nhân nhạy cảm. Trước tình hình đó, năm 2025, Bộ Công an đã tham mưu Chính phủ trình Quốc hội ban hành Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân số 91/2025/QH15 và Nghị định số 356/2025/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật, có hiệu lực từ ngày 1/1/2026. Đây là khung pháp lý quan trọng nhằm nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật, bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế dữ liệu và bảo vệ quyền riêng tư của người dân.

Theo quy định của pháp luật, việc lưu thông và khai thác dữ liệu cần tuân thủ một số nguyên tắc chủ yếu. (i) Xác lập nguyên tắc “lưu thông có kiểm soát” thay cho lưu thông tự do dữ liệu; làm rõ quyền của người dân đối với dữ liệu cá nhân và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp trong quá trình xử lý dữ liệu, coi quyền riêng tư là ranh giới pháp lý của mọi hoạt động khai thác. (ii) Thực hiện phân loại dữ liệu theo quy định pháp luật để áp dụng cơ chế lưu thông phù hợp, trong đó dữ liệu phục vụ quản lý, phát triển kinh tế - xã hội được khuyến khích chia sẻ, còn dữ liệu liên quan trực tiếp đến đời sống riêng tư và an ninh, trật tự xã hội phải được bảo vệ ở mức cao hơn.

(iii) Thúc đẩy lưu thông dữ liệu gắn với các biện pháp bảo vệ kỹ thuật và tăng cường giám sát, xử lý nghiêm vi phạm; bảo vệ quyền riêng tư cần được thiết kế ngay từ hệ thống thông qua các giải pháp như mã hóa, kiểm soát truy cập, ẩn danh hóa và giám sát việc sử dụng dữ liệu. (iv) Đề cao vai trò của sự đồng thuận và niềm tin của người dân, bảo đảm người dân được biết, được quyết định và thực hiện đầy đủ các quyền đối với dữ liệu cá nhân theo quy định pháp luật, coi đây là điều kiện tiên quyết để hình thành lưu thông dữ liệu bền vững phục vụ chuyển đổi số.

Việc xây dựng cơ chế chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan Nhà nước, doanh nghiệp và tổ chức quốc tế là vô cùng quan trọng. Xin Bộ trưởng chia sẻ về những sáng kiến phối hợp liên ngành để thúc đẩy chia sẻ dữ liệu minh bạch và hiệu quả?

Việc chia sẻ dữ liệu là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, mang tính đột phá mà Bộ Công an đang triển khai quyết liệt. Đây không chỉ là vấn đề kỹ thuật, mà còn là vấn đề tư duy, là vấn đề thể chế, văn hóa trong bộ máy nhà nước. Thời gian qua, Bộ Công an đã phối hợp với các bộ, ngành tham mưu Đảng, Nhà nước ban hành nhiều chủ trương, chính sách quan trọng nhằm thúc đẩy kết nối, chia sẻ dữ liệu trong hệ thống chính trị, như các kế hoạch, nghị quyết và nghị định về chuyển đổi số liên thông, kết nối dữ liệu bắt buộc và tạo lập dữ liệu phục vụ chuyển đổi số toàn diện. Tuy nhiên, kết quả đến nay vẫn chưa đạt kỳ vọng.

Thời gian tới, Bộ Công an sẽ tập trung thực hiện một số nhiệm vụ sau:

Một, tiếp tục tham mưu Chính phủ chỉ đạo người đứng đầu các bộ, ngành nâng cao trách nhiệm, quyết liệt lãnh đạo, điều hành công tác xây dựng cơ sở dữ liệu; khẩn trương hoàn thành tạo lập, cập nhật, số hóa dữ liệu đáp ứng yêu cầu “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”, đồng thời đẩy mạnh liên thông, kết nối giữa các cơ sở dữ liệu để tối đa hóa việc thay thế thành phần hồ sơ, cắt giảm thủ tục hành chính.

Hai, tập trung xây dựng nền tảng kỹ thuật và chuẩn hóa, phát triển các nền tảng số quốc gia và hệ thống API chuẩn hóa cho phép các cơ quan nhà nước kết nối, trao đổi dữ liệu an toàn, hiệu quả theo thời gian thực, gắn với mã hóa, ghi nhật ký và tuân thủ các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật thống nhất về định dạng, giao thức và bảo mật, tạo điều kiện để các hệ thống thông tin “kết nối”, chia sẻ dữ liệu.

Ba, phát huy vai trò của Hiệp hội Dữ liệu quốc gia trong thiết lập cơ chế hợp tác công - tư, huy động nguồn lực từ doanh nghiệp để làm giàu kho dữ liệu quốc gia.

Các mối đe dọa từ dữ liệu giả mạo, lừa đảo qua dữ liệu ngày càng tinh vi, Bộ Công an có những giải pháp kỹ thuật và chiến lược nào để đối phó với các mối đe dọa này, thưa Bộ trưởng?

Bộ Công an đã có chiến lược và nhiều giải pháp chủ động ứng phó các mối đe dọa từ dữ liệu giả mạo, lừa đảo qua dữ liệu, trong đó:

Thứ nhất, tham mưu Đảng, Nhà nước ban hành Chiến lược An ninh mạng quốc gia, Luật An ninh mạng từ năm 2018, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân và tổ chức triển khai có hiệu quả trong thực tiễn.

Thứ hai, nâng cao năng lực giám sát, phát hiện và cảnh báo sớm ở quy mô quốc gia thông qua các hệ thống theo dõi, phân tích, nhận diện hành vi bất thường trên không gian mạng, kịp thời phát hiện và ngăn chặn các chiến dịch lừa đảo, giả mạo danh tính và phát tán dữ liệu sai lệch ngay từ sớm.

Thứ ba, tăng cường điều tra, xử lý nghiêm các loại tội phạm sử dụng công nghệ cao, tập trung triệt phá các đường dây lừa đảo trực tuyến và mua bán dữ liệu cá nhân trái phép, qua đó tạo răn đe, lập lại kỷ cương trong môi trường số và củng cố niềm tin xã hội.

Thứ tư, chú trọng bảo vệ dữ liệu gốc, dữ liệu chuẩn như “tuyến phòng thủ đầu tiên” trước dữ liệu giả mạo thông qua các cơ chế xác thực, đối soát, kiểm soát và truy vết việc truy cập, sử dụng dữ liệu, góp phần nâng cao độ tin cậy của thông tin và thu hẹp không gian tồn tại của hành vi lừa đảo dựa trên dữ liệu sai lệch.

Thứ năm, đẩy mạnh công tác phòng ngừa xã hội, nâng cao nhận thức của người dân bằng việc thường xuyên công khai phương thức, thủ đoạn mới của tội phạm công nghệ cao, hướng dẫn kỹ năng nhận diện lừa đảo và bảo vệ dữ liệu cá nhân, coi đây là giải pháp bền vững từ gốc.

Thứ sáu, tăng cường phối hợp liên ngành và hợp tác quốc tế trong phòng, chống các mối đe dọa mạng và tội phạm dữ liệu xuyên biên giới, thông qua chia sẻ thông tin, phối hợp điều tra và tiếp thu kinh nghiệm quốc tế, đáp ứng yêu cầu bảo vệ an ninh trong không gian mạng không có biên giới.

Đối với các doanh nghiệp nước ngoài muốn đầu tư vào lĩnh vực dữ liệu tại Việt Nam, Bộ trưởng khuyến nghị gì về chính sách, quy định pháp luật và trách nhiệm xã hội mà họ cần tuân thủ?

Bộ Công an nhất quán quan điểm khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp nước ngoài đầu tư, kinh doanh hợp pháp trên cơ sở tuân thủ pháp luật Việt Nam, đặc biệt là quy định pháp luật về an ninh mạng, an ninh dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân. Đây không chỉ là nghĩa vụ pháp lý, mà còn là nền tảng để bảo đảm môi trường đầu tư ổn định, bền vững và bình đẳng cho mọi chủ thể tham gia thị trường.

Mọi hoạt động thu thập, lưu trữ, xử lý và chia sẻ dữ liệu tại Việt Nam phải có mục đích hợp pháp, rõ ràng, minh bạch và nằm trong phạm vi cho phép, không xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và cá nhân. Các doanh nghiệp nước ngoài phải bảo đảm an ninh, an toàn dữ liệu; dữ liệu liên quan đến người dân Việt Nam, dữ liệu quan trọng và dữ liệu nhạy cảm phải được bảo vệ ở mức độ cao, bảo đảm không bị khai thác trái phép, không trở thành nguồn phát sinh rủi ro cho an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội.

Doanh nghiệp phải thực hiện các quy định về lưu trữ, xử lý và chuyển dữ liệu xuyên biên giới; không lợi dụng công nghệ, dữ liệu và nền tảng xuyên biên giới để thực hiện hoặc tiếp tay cho các hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam.

Cuối cùng, xin Bộ trưởng chia sẻ về định hướng ưu tiên trong năm 2026 - năm đầu tiên của kỷ nguyên mới, để xây dựng một nền kinh tế dữ liệu an toàn, minh bạch và bền vững cho Việt Nam?

Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị tổng kết công tác năm 2025 và nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm năm 2026 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không còn là sự lựa chọn, mà là yêu cầu bắt buộc để phát triển nhanh và bền vững đất nước trong giai đoạn tới; phương châm của năm 2026 là “Hành động đột phá, lan tỏa kết quả”.

Quán triệt chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Bộ Công an và Hiệp hội Dữ liệu quốc gia thống nhất tầm nhìn xuyên suốt: đồng hành cùng cả nước xây dựng nền kinh tế dữ liệu an toàn, minh bạch và bền vững, lấy con người làm trung tâm. Dữ liệu được khai thác hiệu quả phục vụ phát triển, đặt dưới sự quản lý chặt chẽ của pháp luật, gắn với bảo vệ chủ quyền quốc gia và quyền, lợi ích chính đáng của tổ chức, cá nhân; mọi chính sách và mô hình khai thác dữ liệu đều hướng tới bảo vệ quyền riêng tư, củng cố niềm tin xã hội và hình thành văn hóa sử dụng dữ liệu an toàn, có trách nhiệm, góp phần bảo đảm phát triển thịnh vượng, tự chủ trong kỷ nguyên số.

Ưu tiên chiến lược hàng đầu của Bộ Công an trong năm 2026 là bảo đảm an ninh dữ liệu, an ninh mạng như bộ phận không thể tách rời của an ninh quốc gia. Bộ Công an tiếp tục giữ vai trò nòng cốt trong phòng ngừa, phát hiện, xử lý các mối đe dọa đối với dữ liệu quốc gia, dữ liệu của tổ chức và cá nhân; hoàn thiện các công cụ giám sát, cảnh báo sớm và bảo vệ dữ liệu gốc, dữ liệu quan trọng, tạo dựng “vành đai an toàn” cho nền kinh tế dữ liệu.

Đồng thời, Bộ Công an định hướng thúc đẩy lưu thông dữ liệu có kiểm soát, coi đây là điều kiện quan trọng để phát triển các mô hình kinh tế dữ liệu, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo, với trọng tâm là phối hợp liên ngành trong xây dựng chuẩn dữ liệu, cơ chế chia sẻ, xác thực và truy vết, vừa tháo gỡ điểm nghẽn, vừa bảo đảm tuân thủ pháp luật và quyền riêng tư.

Về phía Hiệp hội Dữ liệu quốc gia, trọng tâm năm 2026 là phát huy vai trò cầu nối giữa Nhà nước, doanh nghiệp và xã hội; thúc đẩy hình thành hệ sinh thái dữ liệu minh bạch, có trách nhiệm; hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực quản trị dữ liệu, tuân thủ pháp luật về bảo vệ dữ liệu và an ninh mạng, triển khai các mô hình khai thác dữ liệu sáng tạo, bền vững; đồng thời, thực hiện tốt vai trò phản biện chính sách, đề xuất giải pháp từ thực tiễn, góp phần xây dựng hành lang pháp lý đồng bộ, khả thi, tiệm cận thông lệ quốc tế và phù hợp điều kiện Việt Nam.

Mục tiêu cao nhất đó là xây dựng nền kinh tế dữ liệu Việt Nam phát triển nhanh nhưng an toàn, mở nhưng có kiểm soát, hiện đại nhưng gắn chặt với chủ quyền, an ninh và lợi ích quốc gia. Trên nền tảng đó, dữ liệu sẽ trở thành nguồn lực quan trọng đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16 - 23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-

Categories: The Latest News

Xây dựng nền kinh tế dữ liệu Việt Nam phát triển nhanh, an toàn, mở nhưng có kiểm soát

Thời báo kinh tế Việt Nam - Tue, 02/17/2026 - 06:08
Trong bài phỏng vấn dành riêng cho Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy trước thềm năm mới 2026, Đại tướng Lương Tam Quang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an, Chủ tịch Hiệp hội Dữ liệu quốc gia, khẳng định dữ liệu được xác định là tài sản chiến lược gắn liền với chủ quyền quốc gia, do vậy, việc bảo đảm an ninh mạng, an ninh dữ liệu, an toàn thông tin của tổ chức và cá nhân có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với ổn định chính trị, phát triển bền vững và tự chủ chiến lược của đất nước.

Thưa Bộ trưởng, trong bối cảnh kinh tế số phát triển nhanh, đất nước bước vào giai đoạn bình minh của kỷ nguyên số, dữ liệu đã trở thành “nguồn tài nguyên mới”, Bộ trưởng đánh giá như thế nào về vai trò then chốt của dữ liệu trong sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc?

Vai trò của dữ liệu đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam trong kỷ nguyên mới được Đảng, Nhà nước, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước nhiều lần nhấn mạnh. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị đã xác định rõ quan điểm “làm giàu, khai thác tối đa tiềm năng của dữ liệu, đưa dữ liệu thành tư liệu sản xuất chính, thúc đẩy phát triển nhanh cơ sở dữ liệu lớn, công nghiệp dữ liệu, kinh tế dữ liệu”. Đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm tại buổi làm việc với Trung tâm Dữ liệu quốc gia ngày 29/12/2025 đã khẳng định: “Dữ liệu đã trở thành một nguồn lực chiến lược, một loại tài nguyên mới, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với năng lực quản trị quốc gia, sức cạnh tranh của nền kinh tế và chất lượng đời sống của nhân dân”.

Trên thế giới, nhiều quốc gia đã khai thác hiệu quả sức mạnh của dữ liệu trong tiến trình chuyển đổi quốc gia. Theo Ngân hàng Thế giới, dữ liệu và công nghệ số có thể đóng góp từ 20-30% tăng trưởng GDP tại các nền kinh tế đang phát triển trong giai đoạn tới. Việt Nam có nhiều lợi thế với hơn 70% dân số sử dụng Internet; kinh tế số hiện đóng góp gián tiếp khoảng 12-18% GDP, tạo nền tảng quan trọng để phát triển kinh tế dữ liệu. Điều này cho thấy tăng trưởng kinh tế trong thời gian tới sẽ ngày càng phụ thuộc vào năng lực tạo lập, kết nối và khai thác dữ liệu trong các ngành, lĩnh vực.

Cùng với đó, dữ liệu là nền tảng cốt lõi của quản trị quốc gia hiện đại. Việc hình thành các cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, đất đai, doanh nghiệp, tài chính, bảo hiểm... và mới đây là đưa Trung tâm Dữ liệu quốc gia đi vào hoạt động đã tạo điều kiện để Nhà nước chuyển mạnh từ mô hình quản lý thủ công sang quản trị dựa trên dữ liệu và bằng chứng; đã góp phần cắt giảm hàng trăm thủ tục hành chính, tiết kiệm mỗi năm hàng nghìn tỷ đồng chi phí xã hội, đồng thời nâng cao tính minh bạch, hiệu lực và hiệu quả trong điều hành của bộ máy nhà nước.

Dữ liệu hiện nay vừa là tài sản, vừa là nguồn lực sản xuất. Vậy, xin Bộ trưởng chia sẻ quan điểm về an ninh và chủ quyền dữ liệu quốc gia trong kỷ nguyên số hóa?

Nghị quyết số 57/NQ-TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị xác định quan điểm chỉ đạo “Bảo đảm chủ quyền quốc gia trên không gian mạng; bảo đảm an ninh mạng, an ninh dữ liệu, an toàn thông tin của tổ chức và cá nhân là yêu cầu xuyên suốt, không thể tách rời trong quá trình phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”. Thực tiễn cho thấy đây là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với ổn định chính trị, phát triển bền vững và tự chủ chiến lược của đất nước.

Song song với quá trình chuyển đổi số quốc gia, Việt Nam đã có cách tiếp cận chủ động trong bảo đảm chủ quyền và an ninh dữ liệu. Trong đó: (i) Dữ liệu được xác định là tài sản chiến lược gắn liền với chủ quyền quốc gia; việc thu thập, lưu trữ, xử lý, khai thác và chia sẻ dữ liệu quốc gia phải được Nhà nước quản lý thống nhất và bảo đảm bằng pháp luật.

(ii) An ninh dữ liệu là điều kiện tiên quyết của chuyển đổi số và phát triển kinh tế số; an ninh dữ liệu phải được bảo đảm xuyên suốt toàn bộ vòng đời dữ liệu, gắn chặt với bảo vệ quyền riêng tư và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và công dân.

(iii) Chủ quyền dữ liệu phải gắn với làm chủ hạ tầng và nền tảng số quốc gia; theo đó, ưu tiên xây dựng hạ tầng dữ liệu, trung tâm dữ liệu và các nền tảng số trọng yếu do Việt Nam làm chủ, đồng thời quản lý chặt chẽ việc chuyển dữ liệu ra nước ngoài, thúc đẩy phát triển các công nghệ dữ liệu cốt lõi.

(iv) Bảo đảm an ninh và chủ quyền dữ liệu là trách nhiệm chung của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, trong đó Nhà nước giữ vai trò chủ đạo về thể chế và tổ chức thực thi; các chủ thể tham gia tạo lập, khai thác dữ liệu phải tuân thủ nghiêm các quy định về an ninh, an toàn dữ liệu. Việc bảo vệ chủ quyền dữ liệu không đồng nghĩa với hạn chế chia sẻ dữ liệu, mà hướng tới khai thác hiệu quả dữ liệu phục vụ phát triển kinh tế  - xã hội trên cơ sở pháp luật và yêu cầu đảm bảo chủ quyền, an ninh quốc gia.

Thưa Bộ trưởng, kinh tế dữ liệu đang mở ra cơ hội mới cho doanh nghiệp khởi nghiệp và doanh nghiệp công nghệ, Bộ Công an có những biện pháp gì để bảo đảm an toàn, an ninh khi doanh nghiệp thu thập, lưu trữ và xử lý dữ liệu số quy mô lớn?

Với chức năng quản lý nhà nước về an ninh, trật tự, Bộ Công an cam kết sẽ là người đồng hành với doanh nghiệp để cùng xây dựng nền kinh tế dữ liệu an toàn, minh bạch, bền vững.

Một số giải pháp trọng tâm đã, đang và sẽ được triển khai, đó là:

Thứ nhất, tiếp tục tham mưu hoàn thiện thể chế, pháp luật về dữ liệu, trước mắt là Luật An ninh dữ liệu, nhằm thiết lập khung pháp lý thống nhất điều chỉnh toàn bộ vòng đời dữ liệu, làm rõ trách nhiệm của các chủ thể liên quan, phân loại và bảo vệ dữ liệu quan trọng, dữ liệu nhạy cảm và dữ liệu cốt lõi quốc gia, đồng thời tăng cường cơ chế đánh giá tác động, kiểm tra, giám sát và chế tài bảo đảm tuân thủ.

Thứ hai, xây dựng và phát triển hạ tầng dữ liệu, hạ tầng số an toàn, độc lập và có khả năng kiểm soát ở tầm quốc gia; ưu tiên đầu tư trung tâm dữ liệu, nền tảng điện toán đám mây trong nước đạt tiêu chuẩn an toàn cao, kiểm soát chặt chẽ việc lưu trữ, xử lý dữ liệu quan trọng và dữ liệu cá nhân quy mô lớn, đặc biệt là dữ liệu xuyên biên giới, gắn với hệ thống giám sát, cảnh báo sớm và phối hợp ứng phó sự cố.

Thứ ba, góp phần nâng cao năng lực của doanh nghiệp và chất lượng nguồn nhân lực về bảo vệ và quản trị dữ liệu thông qua việc ban hành, bảo đảm việc thực hiện tiêu chuẩn, hướng dẫn kỹ thuật bảo vệ an ninh dữ liệu và đẩy mạnh đào tạo chuyên sâu.

Thứ tư, tăng cường hợp tác quốc tế về an ninh dữ liệu trên cơ sở bảo đảm tự chủ, chủ quyền dữ liệu, tiếp thu kinh nghiệm quốc tế đồng thời kiên định nguyên tắc Nhà nước giữ quyền quyết định đối với dữ liệu quan trọng và dữ liệu cốt lõi quốc gia, tránh phụ thuộc về công nghệ và hạ tầng.

Thưa Bộ trưởng, kinh tế dữ liệu không chỉ là thu thập, mà còn là phân tích, khai thác giá trị. Trong chiến lược an ninh mạng quốc gia, Bộ Công an sẽ hỗ trợ như thế nào để Việt Nam có thể xây dựng năng lực khai thác dữ liệu thông minh (AI - machine learning) một cách an toàn?

Trong triển khai Nghị quyết của Bộ Chính trị về Chiến lược an ninh mạng quốc gia, Bộ Công an tập trung xây dựng môi trường an toàn nhằm thúc đẩy Việt Nam khai thác dữ liệu thông minh thông qua trí tuệ nhân tạo (AI, machine learning) một cách bền vững, có kiểm soát, gắn chặt với bảo đảm an ninh quốc gia, dựa trên các định hướng trọng tâm sau:

Một là, hoàn thiện thể chế và hành lang pháp lý để xác lập “ranh giới an toàn” cho AI và khai thác dữ liệu; tham gia xây dựng khung pháp lý về an ninh mạng, an ninh dữ liệu và bảo vệ dữ liệu cá nhân, làm rõ khái niệm dữ liệu nhạy cảm, dữ liệu cốt lõi quốc gia và trách nhiệm pháp lý của các tổ chức, doanh nghiệp trong vòng đời AI, qua đó kiểm soát rủi ro và ngăn ngừa lạm dụng.

Hai là, tăng cường bảo đảm an ninh dữ liệu - nền tảng cốt lõi của AI an toàn; nâng cao năng lực bảo vệ dữ liệu quốc gia, giám sát và ứng phó với các rủi ro mới phát sinh từ ứng dụng AI như thao túng dữ liệu, giả mạo thông tin, xâm phạm quyền riêng tư, tạo điều kiện để AI được triển khai an toàn trong các lĩnh vực nhạy cảm.

Ba là, phối hợp xây dựng hạ tầng và môi trường khai thác dữ liệu an toàn, phát triển trung tâm dữ liệu và nền tảng số đáp ứng yêu cầu xử lý dữ liệu lớn, huấn luyện AI; đồng thời kiểm soát chặt chẽ việc lưu trữ, xử lý dữ liệu quan trọng, dữ liệu cá nhân quy mô lớn, kể cả dữ liệu xuyên biên giới.

Bốn là, thúc đẩy phát triển AI an toàn, có trách nhiệm, gắn với bảo vệ quyền con người và dữ liệu cá nhân, an ninh con người, qua đó củng cố niềm tin xã hội - điều kiện tiên quyết để mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng dữ liệu phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc gia.

Thưa Bộ trưởng, trong thực tiễn, dữ liệu cá nhân và dữ liệu nhạy cảm có nguy cơ bị xâm phạm nếu hệ thống bảo mật yếu. Xin Bộ trưởng cho biết Bộ Công an định hướng như thế nào để vừa thúc đẩy lưu thông dữ liệu, vừa bảo vệ quyền riêng tư của người dân?

Những năm qua, tình trạng xâm phạm dữ liệu cá nhân tại Việt Nam ngày càng diễn biến phức tạp, có những vụ việc gây thiệt hại lớn cho cá nhân và tổ chức; đã phát hiện nhiều cuộc tấn công mạng quy mô lớn tập trung vào đánh cắp dữ liệu, đặc biệt là dữ liệu cá nhân nhạy cảm. Trước tình hình đó, năm 2025, Bộ Công an đã tham mưu Chính phủ trình Quốc hội ban hành Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân số 91/2025/QH15 và Nghị định số 356/2025/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật, có hiệu lực từ ngày 1/1/2026. Đây là khung pháp lý quan trọng nhằm nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật, bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế dữ liệu và bảo vệ quyền riêng tư của người dân.

Theo quy định của pháp luật, việc lưu thông và khai thác dữ liệu cần tuân thủ một số nguyên tắc chủ yếu. (i) Xác lập nguyên tắc “lưu thông có kiểm soát” thay cho lưu thông tự do dữ liệu; làm rõ quyền của người dân đối với dữ liệu cá nhân và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp trong quá trình xử lý dữ liệu, coi quyền riêng tư là ranh giới pháp lý của mọi hoạt động khai thác. (ii) Thực hiện phân loại dữ liệu theo quy định pháp luật để áp dụng cơ chế lưu thông phù hợp, trong đó dữ liệu phục vụ quản lý, phát triển kinh tế - xã hội được khuyến khích chia sẻ, còn dữ liệu liên quan trực tiếp đến đời sống riêng tư và an ninh, trật tự xã hội phải được bảo vệ ở mức cao hơn.

(iii) Thúc đẩy lưu thông dữ liệu gắn với các biện pháp bảo vệ kỹ thuật và tăng cường giám sát, xử lý nghiêm vi phạm; bảo vệ quyền riêng tư cần được thiết kế ngay từ hệ thống thông qua các giải pháp như mã hóa, kiểm soát truy cập, ẩn danh hóa và giám sát việc sử dụng dữ liệu. (iv) Đề cao vai trò của sự đồng thuận và niềm tin của người dân, bảo đảm người dân được biết, được quyết định và thực hiện đầy đủ các quyền đối với dữ liệu cá nhân theo quy định pháp luật, coi đây là điều kiện tiên quyết để hình thành lưu thông dữ liệu bền vững phục vụ chuyển đổi số.

Việc xây dựng cơ chế chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan Nhà nước, doanh nghiệp và tổ chức quốc tế là vô cùng quan trọng. Xin Bộ trưởng chia sẻ về những sáng kiến phối hợp liên ngành để thúc đẩy chia sẻ dữ liệu minh bạch và hiệu quả?

Việc chia sẻ dữ liệu là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, mang tính đột phá mà Bộ Công an đang triển khai quyết liệt. Đây không chỉ là vấn đề kỹ thuật, mà còn là vấn đề tư duy, là vấn đề thể chế, văn hóa trong bộ máy nhà nước. Thời gian qua, Bộ Công an đã phối hợp với các bộ, ngành tham mưu Đảng, Nhà nước ban hành nhiều chủ trương, chính sách quan trọng nhằm thúc đẩy kết nối, chia sẻ dữ liệu trong hệ thống chính trị, như các kế hoạch, nghị quyết và nghị định về chuyển đổi số liên thông, kết nối dữ liệu bắt buộc và tạo lập dữ liệu phục vụ chuyển đổi số toàn diện. Tuy nhiên, kết quả đến nay vẫn chưa đạt kỳ vọng.

Thời gian tới, Bộ Công an sẽ tập trung thực hiện một số nhiệm vụ sau:

Một, tiếp tục tham mưu Chính phủ chỉ đạo người đứng đầu các bộ, ngành nâng cao trách nhiệm, quyết liệt lãnh đạo, điều hành công tác xây dựng cơ sở dữ liệu; khẩn trương hoàn thành tạo lập, cập nhật, số hóa dữ liệu đáp ứng yêu cầu “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”, đồng thời đẩy mạnh liên thông, kết nối giữa các cơ sở dữ liệu để tối đa hóa việc thay thế thành phần hồ sơ, cắt giảm thủ tục hành chính.

Hai, tập trung xây dựng nền tảng kỹ thuật và chuẩn hóa, phát triển các nền tảng số quốc gia và hệ thống API chuẩn hóa cho phép các cơ quan nhà nước kết nối, trao đổi dữ liệu an toàn, hiệu quả theo thời gian thực, gắn với mã hóa, ghi nhật ký và tuân thủ các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật thống nhất về định dạng, giao thức và bảo mật, tạo điều kiện để các hệ thống thông tin “kết nối”, chia sẻ dữ liệu.

Ba, phát huy vai trò của Hiệp hội Dữ liệu quốc gia trong thiết lập cơ chế hợp tác công - tư, huy động nguồn lực từ doanh nghiệp để làm giàu kho dữ liệu quốc gia.

Các mối đe dọa từ dữ liệu giả mạo, lừa đảo qua dữ liệu ngày càng tinh vi, Bộ Công an có những giải pháp kỹ thuật và chiến lược nào để đối phó với các mối đe dọa này, thưa Bộ trưởng?

Bộ Công an đã có chiến lược và nhiều giải pháp chủ động ứng phó các mối đe dọa từ dữ liệu giả mạo, lừa đảo qua dữ liệu, trong đó:

Thứ nhất, tham mưu Đảng, Nhà nước ban hành Chiến lược An ninh mạng quốc gia, Luật An ninh mạng từ năm 2018, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân và tổ chức triển khai có hiệu quả trong thực tiễn.

Thứ hai, nâng cao năng lực giám sát, phát hiện và cảnh báo sớm ở quy mô quốc gia thông qua các hệ thống theo dõi, phân tích, nhận diện hành vi bất thường trên không gian mạng, kịp thời phát hiện và ngăn chặn các chiến dịch lừa đảo, giả mạo danh tính và phát tán dữ liệu sai lệch ngay từ sớm.

Thứ ba, tăng cường điều tra, xử lý nghiêm các loại tội phạm sử dụng công nghệ cao, tập trung triệt phá các đường dây lừa đảo trực tuyến và mua bán dữ liệu cá nhân trái phép, qua đó tạo răn đe, lập lại kỷ cương trong môi trường số và củng cố niềm tin xã hội.

Thứ tư, chú trọng bảo vệ dữ liệu gốc, dữ liệu chuẩn như “tuyến phòng thủ đầu tiên” trước dữ liệu giả mạo thông qua các cơ chế xác thực, đối soát, kiểm soát và truy vết việc truy cập, sử dụng dữ liệu, góp phần nâng cao độ tin cậy của thông tin và thu hẹp không gian tồn tại của hành vi lừa đảo dựa trên dữ liệu sai lệch.

Thứ năm, đẩy mạnh công tác phòng ngừa xã hội, nâng cao nhận thức của người dân bằng việc thường xuyên công khai phương thức, thủ đoạn mới của tội phạm công nghệ cao, hướng dẫn kỹ năng nhận diện lừa đảo và bảo vệ dữ liệu cá nhân, coi đây là giải pháp bền vững từ gốc.

Thứ sáu, tăng cường phối hợp liên ngành và hợp tác quốc tế trong phòng, chống các mối đe dọa mạng và tội phạm dữ liệu xuyên biên giới, thông qua chia sẻ thông tin, phối hợp điều tra và tiếp thu kinh nghiệm quốc tế, đáp ứng yêu cầu bảo vệ an ninh trong không gian mạng không có biên giới.

Đối với các doanh nghiệp nước ngoài muốn đầu tư vào lĩnh vực dữ liệu tại Việt Nam, Bộ trưởng khuyến nghị gì về chính sách, quy định pháp luật và trách nhiệm xã hội mà họ cần tuân thủ?

Bộ Công an nhất quán quan điểm khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp nước ngoài đầu tư, kinh doanh hợp pháp trên cơ sở tuân thủ pháp luật Việt Nam, đặc biệt là quy định pháp luật về an ninh mạng, an ninh dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân. Đây không chỉ là nghĩa vụ pháp lý, mà còn là nền tảng để bảo đảm môi trường đầu tư ổn định, bền vững và bình đẳng cho mọi chủ thể tham gia thị trường.

Mọi hoạt động thu thập, lưu trữ, xử lý và chia sẻ dữ liệu tại Việt Nam phải có mục đích hợp pháp, rõ ràng, minh bạch và nằm trong phạm vi cho phép, không xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và cá nhân. Các doanh nghiệp nước ngoài phải bảo đảm an ninh, an toàn dữ liệu; dữ liệu liên quan đến người dân Việt Nam, dữ liệu quan trọng và dữ liệu nhạy cảm phải được bảo vệ ở mức độ cao, bảo đảm không bị khai thác trái phép, không trở thành nguồn phát sinh rủi ro cho an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội.

Doanh nghiệp phải thực hiện các quy định về lưu trữ, xử lý và chuyển dữ liệu xuyên biên giới; không lợi dụng công nghệ, dữ liệu và nền tảng xuyên biên giới để thực hiện hoặc tiếp tay cho các hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam.

Cuối cùng, xin Bộ trưởng chia sẻ về định hướng ưu tiên trong năm 2026 - năm đầu tiên của kỷ nguyên mới, để xây dựng một nền kinh tế dữ liệu an toàn, minh bạch và bền vững cho Việt Nam?

Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị tổng kết công tác năm 2025 và nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm năm 2026 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không còn là sự lựa chọn, mà là yêu cầu bắt buộc để phát triển nhanh và bền vững đất nước trong giai đoạn tới; phương châm của năm 2026 là “Hành động đột phá, lan tỏa kết quả”.

Quán triệt chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Bộ Công an và Hiệp hội Dữ liệu quốc gia thống nhất tầm nhìn xuyên suốt: đồng hành cùng cả nước xây dựng nền kinh tế dữ liệu an toàn, minh bạch và bền vững, lấy con người làm trung tâm. Dữ liệu được khai thác hiệu quả phục vụ phát triển, đặt dưới sự quản lý chặt chẽ của pháp luật, gắn với bảo vệ chủ quyền quốc gia và quyền, lợi ích chính đáng của tổ chức, cá nhân; mọi chính sách và mô hình khai thác dữ liệu đều hướng tới bảo vệ quyền riêng tư, củng cố niềm tin xã hội và hình thành văn hóa sử dụng dữ liệu an toàn, có trách nhiệm, góp phần bảo đảm phát triển thịnh vượng, tự chủ trong kỷ nguyên số.

Ưu tiên chiến lược hàng đầu của Bộ Công an trong năm 2026 là bảo đảm an ninh dữ liệu, an ninh mạng như bộ phận không thể tách rời của an ninh quốc gia. Bộ Công an tiếp tục giữ vai trò nòng cốt trong phòng ngừa, phát hiện, xử lý các mối đe dọa đối với dữ liệu quốc gia, dữ liệu của tổ chức và cá nhân; hoàn thiện các công cụ giám sát, cảnh báo sớm và bảo vệ dữ liệu gốc, dữ liệu quan trọng, tạo dựng “vành đai an toàn” cho nền kinh tế dữ liệu.

Đồng thời, Bộ Công an định hướng thúc đẩy lưu thông dữ liệu có kiểm soát, coi đây là điều kiện quan trọng để phát triển các mô hình kinh tế dữ liệu, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo, với trọng tâm là phối hợp liên ngành trong xây dựng chuẩn dữ liệu, cơ chế chia sẻ, xác thực và truy vết, vừa tháo gỡ điểm nghẽn, vừa bảo đảm tuân thủ pháp luật và quyền riêng tư.

Về phía Hiệp hội Dữ liệu quốc gia, trọng tâm năm 2026 là phát huy vai trò cầu nối giữa Nhà nước, doanh nghiệp và xã hội; thúc đẩy hình thành hệ sinh thái dữ liệu minh bạch, có trách nhiệm; hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực quản trị dữ liệu, tuân thủ pháp luật về bảo vệ dữ liệu và an ninh mạng, triển khai các mô hình khai thác dữ liệu sáng tạo, bền vững; đồng thời, thực hiện tốt vai trò phản biện chính sách, đề xuất giải pháp từ thực tiễn, góp phần xây dựng hành lang pháp lý đồng bộ, khả thi, tiệm cận thông lệ quốc tế và phù hợp điều kiện Việt Nam.

Mục tiêu cao nhất đó là xây dựng nền kinh tế dữ liệu Việt Nam phát triển nhanh nhưng an toàn, mở nhưng có kiểm soát, hiện đại nhưng gắn chặt với chủ quyền, an ninh và lợi ích quốc gia. Trên nền tảng đó, dữ liệu sẽ trở thành nguồn lực quan trọng đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16 - 23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-

Categories: The Latest News

Triển vọng kinh tế năm 2026: Nhìn vào các động lực truyền thống, động lực mới và yêu cầu bứt phá

Thời báo kinh tế Việt Nam - Tue, 02/17/2026 - 06:08
Kinh tế Việt Nam 2026 mở ra trong bối cảnh đứng trước ngã rẽ quan trọng với các động lực tăng trưởng truyền thống từng là điểm tựa vững chắc nay đang bước vào giai đoạn suy giảm hiệu lực; trong khi các động lực tăng trưởng mới: kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế tri thức bắt đầu hình thành, hứa hẹn mở ra một chu kỳ phát triển khác biệt so với ba thập kỷ qua.

Kinh tế Việt Nam bước vào năm 2026 với chính sách tài khóa mở rộng mạnh mẽ, phản ánh quyết tâm kiểm soát điểm rơi tăng trưởng trong bối cảnh chi tiêu hộ gia đình phục hồi chậm và cán cân thương mại suy giảm. Đó là bức tranh pha trộn giữa áp lực và kỳ vọng, giữa lo ngại và hy vọng, đòi hỏi phân tích khách quan, đa chiều và tỉnh táo để nhận diện đúng những điều kiện sẽ kiến tạo triển vọng của nền kinh tế năm 2026.

Năm 2026, nền kinh tế phải đối mặt nhiều thách thức bất định đến từ môi trường kinh tế thế giới. Tăng trưởng và thương mại toàn cầu dự báo suy giảm so với năm 2025, kéo theo rủi ro thu hẹp nhu cầu hàng xuất khẩu - lực đẩy tăng trưởng quan trọng của Việt Nam trong gần ba thập kỷ. Tỷ giá, lãi suất toàn cầu và chi phí tài chính quốc tế tiếp tục biến động phức tạp, đặt kinh tế Việt Nam vào trạng thái vừa phải phòng thủ vừa phải tìm kiếm cơ hội thích ứng.

Kinh tế nước ta có độ mở thuộc nhóm cao nhất thế giới, không thể đứng ngoài vòng tác động của chu kỳ giảm tốc thương mại toàn cầu. Trên thực tế, xuất khẩu hàng hóa đang chậm lại, trong khi nhập khẩu nguyên vật liệu và máy móc thiết bị tăng theo nhu cầu sản xuất.

Trong bối cảnh đó, Nghị quyết số 244/2025/QH15, ngày 13 tháng 11 năm 2025 của Quốc hội đã quyết định tăng mạnh chi ngân sách, với chi thường xuyên ở mức 1.808,9 nghìn tỷ đồng, tăng 16,3% và tổng vốn đầu tư công ở mức 1.120,2 nghìn tỷ đồng, tăng 24,47% so với dự toán ngân sách năm 2025, phản ánh thông điệp chiến lược của Nhà nước sử dụng tài khóa như tấm đệm hấp thụ rủi ro vĩ mô để giữ ổn định tăng trưởng. Mặt khác, điều này cũng cho thấy Việt Nam đã bước vào giai đoạn khó khăn hơn khi động lực thị trường đang suy yếu, buộc tài khóa phải gánh vác vai trò cao hơn mức thông thường.

Dù vậy, bức tranh tăng trưởng năm 2026 không chỉ nằm ở những con số tuyệt đối về ngân sách nhà nước. Việc mở rộng chi tiêu công sẽ phát huy hiệu quả đến đâu còn phụ thuộc vào cấu trúc của tổng cầu và trạng thái thực tiễn của tiêu dùng hộ gia đình - nhân tố đang tạo ra quỹ đạo tăng trưởng hoàn toàn khác so với các giai đoạn trước.

Tiêu dùng hộ gia đình là một trong những động lực tăng trưởng chủ lực, đóng góp hơn 60% vào GDP. Đây cũng chính là nguồn lực khiến Việt Nam trở thành một trong những thị trường tiêu dùng hấp dẫn nhất châu Á.

Giai đoạn hậu đại dịch, tiêu dùng trong nước phục hồi chậm hơn kỳ vọng, với ba nguyên nhân chính:

Một, thu nhập khả dụng chưa tăng tương xứng với chi phí sinh hoạt; đặc biệt tại khu vực đô thị, giá bất động sản, giá thuê nhà, giáo dục, y tế và tiêu dùng hàng hoá thiết yếu tăng, bào mòn sức mua của hộ gia đình.

Hai, tín dụng tiêu dùng gặp khó do chi phí vay vốn cao hơn, tiêu chuẩn tín dụng chặt chẽ hơn và gia tăng áp lực nợ của hộ gia đình.

Ba, tâm lý thận trọng trong tiêu dùng xuất hiện rõ rệt, đặc biệt ở nhóm thu nhập trung lưu - nhóm đóng vai trò lớn nhất trong cấu trúc tổng cầu tiêu dùng trong nước.

Nếu tiêu dùng tiếp tục phục hồi chậm trong năm 2026, tăng trưởng dựa trên tổng cầu nội địa sẽ bị giới hạn, trừ khi đầu tư tư nhân và xuất khẩu có đột phá.

Tuy nhiên, tiêu dùng hộ gia đình phục hồi chậm chỉ là một mặt của vấn đề. Phần còn lại nằm ở cầu tiêu dùng của thế giới - nơi thương mại hàng hóa và xuất khẩu truyền thống, động lực tăng trưởng quan trọng của Việt Nam đang cho thấy dấu hiệu hụt hơi kéo dài, đặt ra bài toán mới cho năm 2026 và cả giai đoạn 2026-2030.

Xuất khẩu là trụ cột tăng trưởng mang tính chiến lược của nền kinh tế. Tuy nhiên, sau nhiều năm tăng trưởng mạnh, xuất khẩu đang đối diện ba áp lực lớn: (i) cầu thế giới giảm tốc, đặc biệt tại Mỹ và EU - hai thị trường chiếm 42,2% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2023 và chiếm 44,16% năm 2025; (ii) cạnh tranh gia tăng từ Ấn Độ, Bangladesh và Mexico - các quốc gia đang trở thành điểm đến FDI mới trong xu hướng "Trung Quốc +1"; (iii) chi phí sản xuất và logistics trong nước vẫn cao hơn các nền kinh tế trong khu vực, khiến biên lợi nhuận giảm.

Rủi ro lớn hơn nằm ở cấu trúc xuất khẩu chưa chuyển dịch đáng kể sang các ngành có giá trị gia tăng cao. Điện tử, dệt may, da giày, đồ gỗ... vẫn phụ thuộc vào chuỗi cung ứng toàn cầu, trong khi chuỗi cung ứng này đang tái cấu trúc theo hướng bất lợi cho Việt Nam nếu không kịp thời điều chỉnh chính sách.

Hệ quả là tỷ lệ xuất siêu so với tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu giảm dần qua từng năm, từ mức 4,12% năm 2023, xuống 3,17% năm 2024 và 2,3% năm 2025. Đây không chỉ là tín hiệu về thương mại, mà còn cảnh báo về biên độ lợi thế cạnh tranh xuất khẩu đóng góp vào tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn tới đang giảm dần. Bởi vì mức độ đóng góp của thương mại hàng hóa quốc tế vào tăng trưởng kinh tế thể hiện qua quy mô xuất siêu của cán cân thương mại.

Xuất siêu liên tục thu hẹp phần nào là hệ quả của các áp lực nêu trên. Xu thế này nếu kéo dài sẽ tác động tiêu cực đến cán cân thanh toán quốc tế, tỷ giá, ổn định vĩ mô.

Trong bối cảnh đó, vai trò của chính sách tài khóa tăng cường, với chi thường xuyên, đặc biệt là đầu tư công quy mô lớn trở nên then chốt; nhưng chính ở đây xuất hiện điểm nghẽn lớn nhất, đó là hiệu quả đầu tư công vẫn thấp, tác động lan tỏa sang khu vực tư nhân chưa thật sự rõ nét.

Năm 2026, Quốc hội thông qua vốn đầu tư công tăng 24,47% so với năm 2025. Về lý thuyết, đầu tư công sẽ tạo nên tác động dây chuyền và lan tỏa thúc đẩy cầu nội địa, mở rộng năng lực sản xuất, tạo việc làm, nâng cao cơ sở hạ tầng và kích hoạt đầu tư tư nhân.

Tuy vậy, trong những năm vừa qua, có một nghịch lý tuy đầu tư công lớn, nhưng hiệu quả lan tỏa chưa tương xứng. Nguyên nhân chính là nút thắt giải ngân.

Tỷ lệ giải ngân hàng năm vẫn chưa đạt kỳ vọng, đặc biệt ở nhóm dự án hạ tầng chiến lược. Giải ngân chậm, tác động tăng trưởng bị kéo dãn theo thời gian, giảm hiệu quả của chính sách tài khóa trong bối cảnh tăng trưởng cần được hỗ trợ ngay lập tức.

Bên cạnh đó, không phải mọi dự án đầu tư công đều nâng cao năng lực và tạo ra năng suất mới. Nếu nguồn vốn không đi vào hạ tầng công nghiệp, logistics, năng lượng và công nghệ, mà rơi vào những dự án phân tán, cục bộ, thiếu hiệu quả thì tác động đến GDP chỉ mang tính mở rộng quy mô, không tạo ra sức bật thực sự.

Tăng trưởng dựa trên tăng chi thường xuyên và đầu tư công giúp đảm bảo quỹ đạo kinh tế không rơi xuống mức thấp, nhưng không có vai trò chiến lược dài hạn. Muốn bứt phá trong môi trường thương mại toàn cầu suy giảm, Việt Nam phải định vị tương lai không dựa vào mở rộng dòng tiền ngân sách mà dựa vào năng suất, đây chính là nơi các động lực tăng trưởng mới bước vào vai trò trung tâm.

Cùng với động lực truyền thống, Việt Nam đang có cơ hội chuyển dịch sang ba động lực tăng trưởng mới có tính chiến lược, đóng vai trò trụ cột, phù hợp với thay đổi của kinh tế thế giới.

Kinh tế xanh: không còn là xu hướng lựa chọn mà là yêu cầu bắt buộc. Các hiệp định thương mại thế hệ mới đều đưa yếu tố môi trường trở thành điều kiện thị trường. Nếu không sớm chuyển đổi, Việt Nam sẽ mất cơ hội xuất khẩu, đặc biệt vào các thị trường có tiêu chuẩn khí thải khắt khe như EU và Mỹ.

Tăng trưởng xanh cũng tạo không gian cho chuyển dịch năng lượng, đầu tư hạ tầng xanh, công nghiệp carbon thấp, tất cả đều mang tính đột phá nâng cao năng suất dài hạn.

Kinh tế số: là lĩnh vực có tốc độ tăng nhanh nhất hiện nay, dự báo đóng góp 30% GDP của khu vực ASEAN vào năm 2030. Việt Nam có lợi thế lớn bao gồm lực lượng lao động trẻ, tỷ lệ sử dụng internet cao, hệ sinh thái công nghệ phát triển nhanh. Nếu tận dụng tốt, kinh tế số sẽ không chỉ tạo ra giá trị mới, mà còn nâng cấp tất cả các ngành kinh tế truyền thống, từ nông nghiệp, công nghiệp đến logistics và dịch vụ tài chính.

Kinh tế tri thức: là nền tảng quan trọng nhất của tăng trưởng kinh tế hiện đại. Tỷ trọng lao động kỹ năng cao, đầu tư nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và giáo dục đại học sẽ quyết định sức cạnh tranh dài hạn của nền kinh tế.

Từ năm 2026 trở đi, nếu Việt Nam chuyển hướng mạnh vào đào tạo nhân lực, thu hút chất xám, xây dựng hệ sinh thái khoa học và công nghệ, kinh tế tri thức sẽ trở thành trụ cột vững nhất của tăng trưởng.

Sự kết hợp của ba trụ cột kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế tri thức không chỉ tạo ra triển vọng tăng trưởng mới của năm 2026, mà còn mở ra hướng đi chiến lược cho giai đoạn 2026-2030.

Kinh tế xanh giúp Việt Nam giảm rủi ro thương mại quốc tế, đáp ứng yêu cầu về phát thải và tăng trưởng bền vững. Kinh tế số là động lực mới nâng cao năng suất lao động, tạo ra chuỗi giá trị mới và cải thiện hiệu quả quản trị. Kinh tế tri thức giúp nâng cao trình độ công nghệ, đổi mới sáng tạo và giá trị gia tăng sản phẩm.

Ba động lực xanh - số - tri thức không chỉ tạo ra giá trị kinh tế mới, mà còn thay đổi cấu trúc phát triển. Năm 2026 sẽ mở đầu cho quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng quan trọng nhất kể từ sau đổi mới. Khi kết hợp đồng bộ ba trụ cột này với cải cách thể chế, đầu tư công chất lượng cao và thị trường trong nước vững mạnh sẽ là bệ phóng cho nền kinh tế bứt phá trong kỷ nguyên mới.

Tuy nhiên, các động lực mới chỉ có ý nghĩa nếu được đặt trong tổng thể mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030, với khả năng hiện thực hóa thông qua thể chế, doanh nghiệp, nguồn nhân lực và thị trường. Đây chính là bước kết nối tất yếu giữa kỳ vọng tương lai và con đường hiện thực.

Kinh tế Việt Nam năm 2026 được dự báo tăng trưởng ở mức khá, dựa vào cấu trúc tổng cầu tương đối vững, tài khóa ổn định và động lực chuyển đổi mô hình kinh tế. Yếu tố quyết định tăng trưởng trung hạn nằm ở khả năng hiện thực hóa ba trụ cột mới.

Trong bối cảnh hiện tại của nền kinh tế, để biến kỳ vọng thành hiện thực, đưa nền kinh tế vượt qua giới hạn tăng trưởng truyền thống, củng cố ổn định vĩ mô và mở ra một chu kỳ phát triển mới, Việt Nam cần bước vào giai đoạn bứt phá trong hành động với tầm nhìn chiến lược dài hạn. Những lựa chọn chính sách trong năm 2026 sẽ không chỉ quyết định chất lượng phục hồi mà còn định hình nền tảng phát triển cho cả chặng đường 5 năm tới. Từ đó, 5 hàm ý chiến lược dưới đây đặt ra hướng đi then chốt nhằm bảo đảm sức bật kinh tế, nâng cao nội lực và củng cố khả năng chống chịu của nền kinh tế trong thế giới nhiều biến động.

Thứ nhất, coi cải cách thể chế là trung tâm phát triển. Nếu không cải cách mạnh, mọi mục tiêu tăng trưởng cao chỉ dừng lại ở tuyên bố. Mức tăng trưởng năm 2026 nằm ở khả năng chuyển hóa chính sách thành hành động. Nếu Chính phủ tập trung hiệu quả vào đổi mới thể chế và chuyển đổi năng suất, tốc độ tăng trưởng có thể đạt kỳ vọng. Triển vọng tăng trưởng năm 2026 khả quan trong ổn định, để tăng trưởng cao phụ thuộc rất lớn vào bứt phá trong cải cách, chuyển đổi mô hình và chất lượng điều hành.

Thứ hai, coi trọng tăng trưởng bền vững. Chất lượng tăng trưởng phải trở thành thước đo mới của nền kinh tế.

Thứ ba, nuôi dưỡng, thúc đẩy động lực tư nhân. Đầu tư tư nhân mới là sức mạnh thật sự của nền kinh tế.

Thứ tư, kiến tạo môi trường thuận lợi cho kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế tri thức. Ba động lực này sẽ quyết định vị thế kinh tế Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Thứ năm, không chỉ mở rộng quy mô, phải nâng cao năng suất. Tăng trưởng dựa trên vốn và lao động đã đạt giới hạn.

Nếu Việt Nam không tận dụng năm 2026 để tăng tốc cải cách thể chế, nâng cao năng suất lao động, củng cố niềm tin doanh nghiệp và đẩy nhanh chuyển đổi xanh - số - tri thức, thì nền kinh tế có nguy cơ rơi vào bẫy tăng trưởng trung bình, trong khi ngân sách và tài khóa phải gánh nhiều hơn mức cần thiết.

Ngược lại, nếu tận dụng tốt năm 2026 để tạo đột phá, Việt Nam sẽ bước vào giai đoạn 2026-2030 với năng lực cạnh tranh mới, chất lượng tăng trưởng mới, vị thế thị trường mới, đủ sức đón đầu các chu kỳ kinh tế tiếp theo của thế giới.

Điều quan trọng nhất của năm 2026 không chỉ là một năm để tăng trưởng, mà còn là năm để kiến tạo nền tảng tăng trưởng mới.

Triển vọng kinh tế Việt Nam năm 2026 mang nhiều tín hiệu tích cực, đặc biệt nhờ sự mở rộng mạnh mẽ của chi ngân sách nhà nước, sự ổn định vĩ mô và tiềm năng lâu dài của ba động lực tăng trưởng mới. Tuy nhiên, bức tranh tăng trưởng cũng đặt ra những giới hạn và rủi ro đáng lưu tâm, đặc biệt khi tiêu dùng trong nước phục hồi chậm, hiệu quả xuất khẩu đóng góp cho tăng trưởng suy giảm và năng suất chưa có bước đột phá đáng kể.

Nếu coi năm 2026 là điểm xuất phát của chu kỳ đổi mới mô hình tăng trưởng, gắn với cải cách thể chế, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và phát triển kinh tế tri thức, thì giai đoạn 2026-2030 có thể trở thành thời kỳ đột phá mạnh mẽ. Ngược lại, năm 2026 chỉ duy trì tăng trưởng bằng mở rộng chi tiêu công, nền kinh tế sẽ bước vào giai đoạn 2027-2030 với áp lực lớn hơn, rủi ro cao hơn, động lực yếu hơn.

Tương lai nằm ở lựa chọn hôm nay, lựa chọn ấy thuộc về quyết tâm cải cách, đổi mới và dấn bước của toàn bộ hệ thống kinh tế - chính trị - xã hội.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-

Categories: The Latest News

Triết lý nhân sinh trong tranh “Mã đáo thành công”

Thời báo kinh tế Việt Nam - Tue, 02/17/2026 - 06:08
Trong kho tàng biểu tượng văn hóa Phương Đông, hiếm có hình ảnh nào vừa quen thuộc, vừa mang nhiều tầng ý nghĩa như bức tranh ngựa phi mang tên “Mã đáo thành công”. Trải qua nhiều thế kỷ, hình tượng đàn ngựa băng mình trên thảo nguyên, vó tung bụi đỏ, bờm bay trong gió vẫn hiện diện trong đời sống tinh thần của người Á Đông nói chung, người Việt nói riêng, đặc biệt vào mỗi dịp đầu năm.

Không chỉ là một tác phẩm trang trí, “Mã đáo thành công” được xem như lời chúc cát tường, gửi gắm khát vọng hanh thông, tròn đầy. Ẩn sau bức tranh tưởng như đơn giản ấy là cả một hệ thống truyền thuyết, điển tích, quan niệm nhân sinh và triết lý Phương Đông được tích lũy qua chiều thời gian, từ trước Công nguyên cho đến tận hôm nay.

Chính những lớp nghĩa chồng xếp ấy đã giúp “Mã đáo thành công” vượt khỏi phạm vi hội họa, trở thành biểu tượng văn hóa bền bỉ trong tâm thức cộng đồng.

Thành ngữ “Mã đáo thành công” vốn có nguồn gốc từ đời sống quân sự và giao thương cổ đại. Trong xã hội Á Đông xưa, ngựa là phương tiện chủ yếu cho chiến trận, sứ bộ và thương lộ đường dài. Người ra đi thường cưỡi ngựa và sự trở về an toàn của ngựa đồng nghĩa với việc chủ nhân đã hoàn thành nhiệm vụ. Vì vậy, “mã đáo” không chỉ là “ngựa quay về”, mà là dấu hiệu của thắng lợi, của thành tựu đã đạt được sau một hành trình gian nan.

Có nhiều truyền thuyết, điển tích nói về “Mã đáo thành công”, từ thời nhà Chu bên Trung Quốc (thế kỷ XI TCN - 256 TCN), thời nhà Tần (221 - 206 TCN) đến thời nhà Nguyên (1279 - 1368); trong đó, truyền thuyết về “Mã đáo thành công” thời nhà Tây Chu là Chu Mục Vương (1027 TCN - 922 TCN) có ấn tượng khá mạnh với nhiều người.

Ở đây, người xưa lấy hình tượng tám con ngựa mà tương truyền đây là tám con ngựa đánh xa mã đưa Chu Mục Vương đi tuần thú khắp nơi. Tám con ngựa, từ sắc lông được đặt tên lần lượt là Xích Ký, Ðạo Ly, Bạch Nghĩa, Du Luân, Sơn Tử, Cừ Hoàng, Hoa Lưu và Lục Nhĩ. Chu Mục được coi là minh quân, sử dụng hiền tài làm cho nhà Chu trở nên hưng thịnh, nên tám con ngựa của nhà vua cũng trở thành một điển tích nổi tiếng.

Người xưa thường nói và chúc nhau “Kỳ Khai Đắc Thắng Mã Đáo Thành Công” (diễn nghĩa: Cờ phất làm hiệu chiến thắng, ngựa quay về báo tin thành công).

Theo nhiều giai thoại dân gian, câu chúc này thường được dùng để tiễn người lên đường ra trận hoặc đi xa làm ăn. Khi ngựa trở về, mang theo chủ nhân, cũng là lúc thành công được xác nhận. Khác với cách hiểu hiện đại thường nhấn mạnh kết quả tức thì, tư duy cổ coi trọng trọn vẹn vòng “đi - về”. Thành công chỉ thực sự có ý nghĩa khi người đi xa còn đủ đầy để trở lại.

Từ thành ngữ, hình tượng ngựa dần bước vào hội họa. Tranh “Mã đáo thành công” xuất hiện phổ biến trong không gian văn nhân Trung Hoa; sau được Việt hóa và dân gian hóa. Ban đầu, tranh thường được vẽ theo lối thủy mạc (sơn nước vẽ trên vải), chú trọng thần thái hơn chi tiết. Về sau, khi đi vào đời sống dân gian, tranh được vẽ nhiều màu sắc, bố cục rõ ràng, phù hợp treo trong nhà vào dịp Tết.

Một trong những đặc điểm gây ấn tượng mạnh của tranh “Mã đáo thành công” là cảm giác chuyển động mãnh liệt. Đàn ngựa thường được vẽ đang phi nước đại, vó ngựa tung bụi, thân hình dồn về phía trước. Vậy nhưng, tổng thể bức tranh lại không tạo cảm giác hỗn loạn, mà ngược lại mang sự hài hòa, cân đối.

Theo các nhà nghiên cứu mỹ học Phương Đông, đây là biểu hiện của triết lý “động trong tĩnh”. Chuyển động mạnh mẽ của ngựa được đặt trong bố cục có chủ ý, nơi các đường nét, khoảng trống và hướng nhìn được cân nhắc kỹ lưỡng. Ngựa dù phi nhanh nhưng không rời khỏi trật tự, phản ánh quan niệm rằng mọi thành công đều cần kỷ cương, tiết chế và sự dẫn dắt.

Triết lý này cũng phản ánh quan niệm nhân sinh Á Đông: Hành động phải gắn với kiểm soát, tốc độ phải đi cùng định hướng. Thành công không đến từ sự bốc đồng, mà từ nỗ lực bền bỉ có mục tiêu rõ ràng.

Giai thoại về con ngựa quay đầu. Một chi tiết thường gây tò mò cho người xem là trong nhiều bức tranh “Mã đáo thành công” luôn có một con ngựa quay đầu ngược lại. Có người cho rằng đó là lỗi bố cục, người khác lại coi là dụng ý phong thủy. Thực tế, chi tiết này xuất phát từ nhiều lớp lý giải khác nhau.

Theo quan niệm phong thủy, đàn ngựa nếu phi thẳng ra khỏi tranh sẽ mang ý nghĩa “đi mất”, khó giữ tài lộc. Con ngựa quay đầu đóng vai trò “hồi mã”, giữ lại sinh khí và vận may. Nó tạo thành vòng tuần hoàn khép kín, đúng với tinh thần “mã đáo” - đi rồi phải về.

Về triết lý nhân sinh, con ngựa quay đầu là biểu tượng của sự tỉnh thức. Trong hành trình tiến lên, con người cần biết ngoái lại để tự soi chiếu, điều chỉnh. Thành công không chỉ là tiến về phía trước, mà còn là khả năng nhìn lại con đường đã đi qua.

Một số học giả hội họa còn cho rằng con ngựa quay đầu giúp phá thế đơn điệu, tạo điểm nhấn thị giác, đồng thời làm mềm chuyển động quá mạnh của cả đàn. Nhờ đó, bức tranh đạt được sự cân bằng giữa động và tĩnh, giữa tiến và thoái.

Tranh “Mã đáo thành công” thường vẽ tám con ngựa, con số được coi là cát tường trong văn hóa Phương Đông. Số tám gắn với âm đọc “phát” (chẳng hạn “68” là “lộc phát”, bởi từ gốc “lục bát”), biểu tượng cho phát đạt, thịnh vượng.

Trong quan niệm dân gian, tám con ngựa tượng trưng cho tám hướng, bốn phương (thành ngữ “Bốn phương tám hướng”, “Chín phương Trời, mười phương Phật”) hàm ý mở ra nhiều cơ hội.

Tuy nhiên, không phải lúc nào tranh cũng vẽ đủ tám con. Có bức vẽ sáu, thậm chí là chín hay mười con ngựa, tùy theo dụng ý của người vẽ và nhu cầu của người treo. Dù số lượng khác nhau, điểm chung vẫn là tinh thần đoàn kết, cùng hướng về mục tiêu chung. Ngựa trong tranh hiếm khi đứng lẻ loi, chúng luôn xuất hiện thành đàn, phản ánh quan niệm đề cao cộng đồng và sự đồng hành.

Tại Việt Nam, tranh “Mã đáo thành công” đặc biệt được ưa chuộng vào dịp Tết Nguyên đán. Treo tranh đầu năm không chỉ để trang trí, mà còn là một nghi thức mang một giá trị tinh thần. Bức tranh như lời nhắc nhở cho gia chủ về khát vọng vươn lên, về tinh thần khởi đầu mạnh mẽ cho chu kỳ mới.

Trong ký ức của nhiều thế hệ, việc mua tranh ngựa và trang trí trong nhà vào dịp Tết gắn liền với không khí rộn ràng của chợ Xuân. Tranh được treo ở phòng khách, phòng làm việc, nơi dễ nhìn thấy nhất, như một cách “đặt niềm tin” vào năm mới. Không ít người tin rằng nhìn thấy hình ảnh ngựa phi mỗi ngày sẽ tiếp thêm động lực, nhắc nhở bản thân phải nỗ lực không ngừng.

Điều đáng chú ý là dù xã hội hiện đại đã thay đổi sâu sắc, tranh “Mã đáo thành công” vẫn không mất đi vị trí; ngược lại, nó được tái tạo dưới nhiều hình thức mới như tranh sơn dầu, tranh khắc gỗ, tranh kim loại, thậm chí tranh kỹ thuật số. Hình thức thay đổi, nhưng tinh thần cốt lõi vẫn được giữ nguyên.

Lịch sử, cho thấy hình tượng ngựa luôn gắn với những bước chuyển lớn của xã hội. Ngựa từng là sức mạnh quân sự, là phương tiện mở mang bờ cõi, là cầu nối giao thương. Khi vai trò thực tiễn của ngựa dần nhạt đi, hình ảnh của nó được chuyển hóa thành biểu tượng tinh thần.

Trong bối cảnh hiện đại, “Mã đáo thành công” không còn đơn thuần là lời chúc làm ăn phát đạt. Nó còn là lời nhắc về hành trình dài hạn, về sự bền bỉ và khả năng “trở về” (mã đáo) sau mỗi chuyến đi xa. Giữa nhịp sống gấp gáp, hình ảnh đàn ngựa phi lại gợi ra một nhịp điệu khác: Mạnh mẽ nhưng không vội vã, quyết liệt nhưng có điểm dừng.

Có lẽ vì vậy, bức tranh cổ xưa này vẫn giữ được sức sống lâu bền. Nó không bị đóng khung trong quá khứ, mà tiếp tục đối thoại với hiện tại, phản ánh những trăn trở và khát vọng của con người hôm nay.

“Mã đáo thành công”, xét đến cùng, không chỉ nói về thành quả, mà nói về hành trình. Đó là câu chuyện của đi và về, của dấn thân và hồi cố, của khát vọng vươn xa nhưng không quên điểm tựa. Trong mỗi dịp Tết, khi con người hướng về những khởi đầu mới, bức tranh ngựa phi “Mã đáo thành công” lại âm thầm nhắc nhớ rằng “Thành công không đến từ may mắn nhất thời, mà từ sự kiên định, bền bỉ và một tinh thần không ngừng tiến bước”.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-

Categories: The Latest News

Triển vọng kinh tế năm 2026: Nhìn từ dự báo của các định chế tài chính quốc tế

Thời Báo Kinh Tế - Tue, 02/17/2026 - 06:08
Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu còn nhiều biến động do bất ổn địa chính trị và biến động thương mại, Việt Nam vẫn là điểm sáng trên “bản đồ” kinh tế thế giới với dự báo tăng trưởng tích cực từ hầu hết các tổ chức quốc tế. Tuy nhiên, khoảng cách giữa kỳ vọng đột phá với mục tiêu tăng trưởng hai con số và các dự báo đang đặt ra những bài toán lớn về cải cách cơ cấu và năng lực thực thi trong năm 2026 cũng như giai đoạn 5 năm 2026-2030...

Nền kinh tế Việt Nam bước vào năm 2026, năm đầu của kế hoạch 5 năm giai đoạn 2026-2030, với những chỉ số vĩ mô tích cực đạt được sau giai đoạn phục hồi 2024-2025. Đây được xem là tiền đề quan trọng cho một chu kỳ tăng trưởng mới với mức tăng trưởng đột phá “hai con số” (trên 10%) để vượt qua bẫy thu nhập trung bình và trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045.

Các báo cáo đánh giá triển vọng tăng trưởng mới nhất từ các định chế tài chính quốc tế như Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) và Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) cùng hàng loạt các ngân hàng thương mại quốc tế đều dự báo triển vọng tăng trưởng của Việt Nam trong năm 2026 là khá tích cực.

SỨC BẬT TỪ NỀN TẢNG VĨ MÔ 

Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu đang chịu sức ép từ sự phân mảnh địa chính trị và sự đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu, các dự báo đều nhận định Việt Nam tiếp tục là “ngôi sao sáng” của khu vực ASEAN. Tuy vậy, mức độ lạc quan có sự phân hóa rõ rệt.

Nhóm lạc quan nhất, dẫn đầu là UOB và Standard Chartered, đặt niềm tin vào sự phục hồi của chu kỳ thương mại toàn cầu và vai trò mắt xích quan trọng của Việt Nam. Trong báo cáo Tăng trưởng kinh tế quý 1/2026, UOB giữ nguyên dự báo tăng trưởng GDP cả năm 2026 của Việt Nam ở mức 7,5%. Cơ sở cho con số này là nền tăng trưởng tốt của năm 2025 và sự bùng nổ của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thực hiện, đặc biệt trong lĩnh vực bán dẫn và năng lượng tái tạo.

UOB nhận định rằng, giai đoạn chuẩn bị hạ tầng và pháp lý, năm 2026 là thời điểm các “đại bàng” công nghệ bắt đầu đưa các dây chuyền sản xuất trị giá hàng tỷ USD vào vận hành thương mại, tạo ra cú hích lớn cho sản lượng công nghiệp.

Đồng quan điểm, Standard Chartered dự báo mức tăng trưởng 7,2%, nhấn mạnh vào sự phục hồi của sức mua nội địa và sự quay trở lại của khách du lịch quốc tế, dự kiến vượt mức đỉnh trước đại dịch. Ngân hàng này cho rằng, các chính sách tài khóa mở rộng và việc duy trì lãi suất thấp của Ngân hàng Nhà nước trong suốt năm 2025 đã thẩm thấu vào nền kinh tế, giúp doanh nghiệp trong nước dần hồi phục sức khỏe tài chính.

Ở chiều thận trọng hơn, các định chế đa phương như ADB, WB và OECD đưa ra các dự báo tăng trưởng năm 2026 của Việt Nam dao động trong khoảng 6,0% đến 6,5%. IMF thậm chí còn dè dặt hơn với mức dự báo 5,6%. Các định chế tài chính quốc tế tài chính này cho rằng những rủi ro từ sự bất ổn kinh tế thế giới sẽ tác động tới kinh tế Việt Nam.

Báo cáo của WB cảnh báo rằng, dù nội lực Việt Nam tốt, nhưng độ mở quá lớn của nền kinh tế (với tỷ lệ thương mại trên GDP tới 200%) khiến Việt Nam không thể “miễn nhiễm” trước sự giảm tốc của các đối tác thương mại lớn như Mỹ và EU. Hơn nữa, những rào cản thương mại mới liên quan đến môi trường (như Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon - CBAM của châu Âu) bắt đầu có hiệu lực đầy đủ vào năm 2026 sẽ tạo áp lực chi phí lớn lên hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam.

Dù có sự chênh lệch trong các con số dự báo, nhưng điểm chung trong các dự báo là Việt Nam vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng cao gấp đôi mức trung bình thế giới (2,9-3,1% trong các báo cáo của các định chế tài chính quốc tế). Điều này cho thấy sức kháng cự của nền kinh tế trước những “cú sốc” từ bên ngoài đã được nâng cao và nội lực của nền kinh tế ngày càng được củng cố.

Tuy nhiên, con số 6-7% được các dự báo đưa ra vẫn còn khoảng cách lớn so với mục tiêu tăng trưởng hai con số mà Việt Nam đã đặt ra.

TIẾN TỚI MỤC TIÊU TĂNG TRƯỞNG “HAI CON SỐ”

Tại các diễn đàn kinh tế đầu năm 2026, thông điệp từ Chính phủ đưa ra rất rõ ràng. Để đạt được mục tiêu trở thành nước thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và thu nhập cao vào năm 2045, Việt Nam phải có những năm tăng trưởng đột phá, đạt mức hai con số (trên 10%) để bù đắp cho những giai đoạn chậm lại trước đó. Nhìn vào thực tế năm 2026, khoảng cách từ dự báo 7% (kịch bản tốt) đến mục tiêu 10% là một khoảng trống rất lớn về năng lực sản xuất và hiệu quả nền kinh tế.

Trong nhiều năm qua, dù thu hút FDI đạt mức kỷ lục, kim ngạch xuất khẩu cao và ổn định chính trị, Việt Nam vẫn chưa đạt mức tăng trưởng “hai con số” thần kỳ như Trung Quốc hay Hàn Quốc từng làm được trong giai đoạn cất cánh. Theo các tổ chức quốc tế, có ba yếu tố đang ảnh hưởng tới tiến trình này.

Thứ nhất, giới hạn của mô hình tăng trưởng dựa trên thâm dụng vốn và lao động. Báo cáo của IMF và HSBC chỉ ra rằng động lực tăng trưởng của Việt Nam vẫn phụ thuộc quá nhiều vào việc mở rộng quy mô vốn (đầu tư công, FDI) và lao động giá rẻ, trong khi tăng trưởng năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) – thước đo của hiệu quả và công nghệ – lại cải thiện chậm. Để đạt mức tăng trưởng 10%, một nền kinh tế cần sự bùng nổ về năng suất.

Hiện tại, khu vực kinh tế trong nước, đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân với quy mô nhỏ và vừa, vẫn đang chật vật với khả năng hấp thụ công nghệ và liên kết yếu ớt với khối FDI. Vì vậy, dù có những nhà máy lắp ráp chip hiện đại nhất thế giới, nhưng giá trị gia tăng nội địa vẫn dừng lại ở mức khiêm tốn.

Thứ hai, nút thắt hạ tầng “cứng” và “mềm” chưa được tháo gỡ đồng bộ. Dù cao tốc Bắc - Nam đã thông tuyến, nhưng hệ thống logistics kết nối (cảng biển, đường sắt, kho bãi) vẫn chưa tối ưu, khiến chi phí logistics của Việt Nam vẫn cao hơn mức trung bình khu vực (theo báo cáo của WB). Đáng lưu ý hơn, ADB cho rằng tốc độ phát triển nguồn điện hiện nay của Việt Nam không theo kịp tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, đặc biệt là nhu cầu điện của các ngành công nghệ cao. Vì vậy, với tốc độ tăng trưởng 10%, Việt Nam cần tập trung đầu tư vào những hạ tầng năng lượng cấp thiết.

Thứ ba là sự ách tắc của dòng vốn trong nước. Trong khi dòng vốn FDI chảy mạnh, thì “mạch máu” vốn nội địa lại chưa thực sự thông suốt và chưa chảy mạnh vào sản xuất. Thị trường trái phiếu doanh nghiệp dù đã qua giai đoạn khó khăn nhưng vẫn đang trong giai đoạn phục hồi. Vốn tín dụng vẫn chảy mạnh vào khu vực bất động sản. Điều này khá nghịch lý với việc thúc đẩy tăng trưởng hai con số dựa trên sự bùng nổ đầu tư từ khu vực tư nhân trong nước, thay vì đầu tư công hay vốn ngoại như nhiều quốc gia đã từng làm.

CỞI TRÓI THỂ CHẾ 

Để hướng tới con số tăng trưởng 10% trong những năm tiếp theo, năm 2026 phải là năm của những cải cách về thể chế bên cạnh nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và triển khai các mô hình kinh tế mới.

Theo OECD, dư địa tăng trưởng từ vốn và lao động của Việt Nam đã cạn, dư địa lớn nhất hiện nay nằm ở cải cách thể chế. Quan điểm này cũng khá tương đồng với TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia kinh tế trưởng của BIDV, Thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ Quốc gia, ông cho rằng Việt Nam cần mạnh dạn thí điểm các cơ chế vượt trội (sandbox) cho các mô hình kinh tế mới. Ví dụ, trong lĩnh vực bán dẫn và AI, cần có cơ chế ưu đãi đặc biệt không chỉ về thuế mà còn về thủ tục hành chính, visa cho chuyên gia và cơ chế mua sắm công để kích cầu sản phẩm công nghệ nội địa...

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-Anh Nhi

Categories: The Latest News

Triển vọng kinh tế năm 2026: Nhìn từ dự báo của các định chế tài chính quốc tế

Thời báo kinh tế Việt Nam - Tue, 02/17/2026 - 06:08
Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu còn nhiều biến động do bất ổn địa chính trị và biến động thương mại, Việt Nam vẫn là điểm sáng trên “bản đồ” kinh tế thế giới với dự báo tăng trưởng tích cực từ hầu hết các tổ chức quốc tế. Tuy nhiên, khoảng cách giữa kỳ vọng đột phá với mục tiêu tăng trưởng hai con số và các dự báo đang đặt ra những bài toán lớn về cải cách cơ cấu và năng lực thực thi trong năm 2026 cũng như giai đoạn 5 năm 2026-2030...

Nền kinh tế Việt Nam bước vào năm 2026, năm đầu của kế hoạch 5 năm giai đoạn 2026-2030, với những chỉ số vĩ mô tích cực đạt được sau giai đoạn phục hồi 2024-2025. Đây được xem là tiền đề quan trọng cho một chu kỳ tăng trưởng mới với mức tăng trưởng đột phá “hai con số” (trên 10%) để vượt qua bẫy thu nhập trung bình và trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045.

Các báo cáo đánh giá triển vọng tăng trưởng mới nhất từ các định chế tài chính quốc tế như Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) và Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) cùng hàng loạt các ngân hàng thương mại quốc tế đều dự báo triển vọng tăng trưởng của Việt Nam trong năm 2026 là khá tích cực.

SỨC BẬT TỪ NỀN TẢNG VĨ MÔ 

Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu đang chịu sức ép từ sự phân mảnh địa chính trị và sự đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu, các dự báo đều nhận định Việt Nam tiếp tục là “ngôi sao sáng” của khu vực ASEAN. Tuy vậy, mức độ lạc quan có sự phân hóa rõ rệt.

Nhóm lạc quan nhất, dẫn đầu là UOB và Standard Chartered, đặt niềm tin vào sự phục hồi của chu kỳ thương mại toàn cầu và vai trò mắt xích quan trọng của Việt Nam. Trong báo cáo Tăng trưởng kinh tế quý 1/2026, UOB giữ nguyên dự báo tăng trưởng GDP cả năm 2026 của Việt Nam ở mức 7,5%. Cơ sở cho con số này là nền tăng trưởng tốt của năm 2025 và sự bùng nổ của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thực hiện, đặc biệt trong lĩnh vực bán dẫn và năng lượng tái tạo.

UOB nhận định rằng, giai đoạn chuẩn bị hạ tầng và pháp lý, năm 2026 là thời điểm các “đại bàng” công nghệ bắt đầu đưa các dây chuyền sản xuất trị giá hàng tỷ USD vào vận hành thương mại, tạo ra cú hích lớn cho sản lượng công nghiệp.

Đồng quan điểm, Standard Chartered dự báo mức tăng trưởng 7,2%, nhấn mạnh vào sự phục hồi của sức mua nội địa và sự quay trở lại của khách du lịch quốc tế, dự kiến vượt mức đỉnh trước đại dịch. Ngân hàng này cho rằng, các chính sách tài khóa mở rộng và việc duy trì lãi suất thấp của Ngân hàng Nhà nước trong suốt năm 2025 đã thẩm thấu vào nền kinh tế, giúp doanh nghiệp trong nước dần hồi phục sức khỏe tài chính.

Ở chiều thận trọng hơn, các định chế đa phương như ADB, WB và OECD đưa ra các dự báo tăng trưởng năm 2026 của Việt Nam dao động trong khoảng 6,0% đến 6,5%. IMF thậm chí còn dè dặt hơn với mức dự báo 5,6%. Các định chế tài chính quốc tế tài chính này cho rằng những rủi ro từ sự bất ổn kinh tế thế giới sẽ tác động tới kinh tế Việt Nam.

Báo cáo của WB cảnh báo rằng, dù nội lực Việt Nam tốt, nhưng độ mở quá lớn của nền kinh tế (với tỷ lệ thương mại trên GDP tới 200%) khiến Việt Nam không thể “miễn nhiễm” trước sự giảm tốc của các đối tác thương mại lớn như Mỹ và EU. Hơn nữa, những rào cản thương mại mới liên quan đến môi trường (như Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon - CBAM của châu Âu) bắt đầu có hiệu lực đầy đủ vào năm 2026 sẽ tạo áp lực chi phí lớn lên hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam.

Dù có sự chênh lệch trong các con số dự báo, nhưng điểm chung trong các dự báo là Việt Nam vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng cao gấp đôi mức trung bình thế giới (2,9-3,1% trong các báo cáo của các định chế tài chính quốc tế). Điều này cho thấy sức kháng cự của nền kinh tế trước những “cú sốc” từ bên ngoài đã được nâng cao và nội lực của nền kinh tế ngày càng được củng cố.

Tuy nhiên, con số 6-7% được các dự báo đưa ra vẫn còn khoảng cách lớn so với mục tiêu tăng trưởng hai con số mà Việt Nam đã đặt ra.

TIẾN TỚI MỤC TIÊU TĂNG TRƯỞNG “HAI CON SỐ”

Tại các diễn đàn kinh tế đầu năm 2026, thông điệp từ Chính phủ đưa ra rất rõ ràng. Để đạt được mục tiêu trở thành nước thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và thu nhập cao vào năm 2045, Việt Nam phải có những năm tăng trưởng đột phá, đạt mức hai con số (trên 10%) để bù đắp cho những giai đoạn chậm lại trước đó. Nhìn vào thực tế năm 2026, khoảng cách từ dự báo 7% (kịch bản tốt) đến mục tiêu 10% là một khoảng trống rất lớn về năng lực sản xuất và hiệu quả nền kinh tế.

Trong nhiều năm qua, dù thu hút FDI đạt mức kỷ lục, kim ngạch xuất khẩu cao và ổn định chính trị, Việt Nam vẫn chưa đạt mức tăng trưởng “hai con số” thần kỳ như Trung Quốc hay Hàn Quốc từng làm được trong giai đoạn cất cánh. Theo các tổ chức quốc tế, có ba yếu tố đang ảnh hưởng tới tiến trình này.

Thứ nhất, giới hạn của mô hình tăng trưởng dựa trên thâm dụng vốn và lao động. Báo cáo của IMF và HSBC chỉ ra rằng động lực tăng trưởng của Việt Nam vẫn phụ thuộc quá nhiều vào việc mở rộng quy mô vốn (đầu tư công, FDI) và lao động giá rẻ, trong khi tăng trưởng năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) – thước đo của hiệu quả và công nghệ – lại cải thiện chậm. Để đạt mức tăng trưởng 10%, một nền kinh tế cần sự bùng nổ về năng suất.

Hiện tại, khu vực kinh tế trong nước, đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân với quy mô nhỏ và vừa, vẫn đang chật vật với khả năng hấp thụ công nghệ và liên kết yếu ớt với khối FDI. Vì vậy, dù có những nhà máy lắp ráp chip hiện đại nhất thế giới, nhưng giá trị gia tăng nội địa vẫn dừng lại ở mức khiêm tốn.

Thứ hai, nút thắt hạ tầng “cứng” và “mềm” chưa được tháo gỡ đồng bộ. Dù cao tốc Bắc - Nam đã thông tuyến, nhưng hệ thống logistics kết nối (cảng biển, đường sắt, kho bãi) vẫn chưa tối ưu, khiến chi phí logistics của Việt Nam vẫn cao hơn mức trung bình khu vực (theo báo cáo của WB). Đáng lưu ý hơn, ADB cho rằng tốc độ phát triển nguồn điện hiện nay của Việt Nam không theo kịp tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, đặc biệt là nhu cầu điện của các ngành công nghệ cao. Vì vậy, với tốc độ tăng trưởng 10%, Việt Nam cần tập trung đầu tư vào những hạ tầng năng lượng cấp thiết.

Thứ ba là sự ách tắc của dòng vốn trong nước. Trong khi dòng vốn FDI chảy mạnh, thì “mạch máu” vốn nội địa lại chưa thực sự thông suốt và chưa chảy mạnh vào sản xuất. Thị trường trái phiếu doanh nghiệp dù đã qua giai đoạn khó khăn nhưng vẫn đang trong giai đoạn phục hồi. Vốn tín dụng vẫn chảy mạnh vào khu vực bất động sản. Điều này khá nghịch lý với việc thúc đẩy tăng trưởng hai con số dựa trên sự bùng nổ đầu tư từ khu vực tư nhân trong nước, thay vì đầu tư công hay vốn ngoại như nhiều quốc gia đã từng làm.

CỞI TRÓI THỂ CHẾ 

Để hướng tới con số tăng trưởng 10% trong những năm tiếp theo, năm 2026 phải là năm của những cải cách về thể chế bên cạnh nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và triển khai các mô hình kinh tế mới.

Theo OECD, dư địa tăng trưởng từ vốn và lao động của Việt Nam đã cạn, dư địa lớn nhất hiện nay nằm ở cải cách thể chế. Quan điểm này cũng khá tương đồng với TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia kinh tế trưởng của BIDV, Thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ Quốc gia, ông cho rằng Việt Nam cần mạnh dạn thí điểm các cơ chế vượt trội (sandbox) cho các mô hình kinh tế mới. Ví dụ, trong lĩnh vực bán dẫn và AI, cần có cơ chế ưu đãi đặc biệt không chỉ về thuế mà còn về thủ tục hành chính, visa cho chuyên gia và cơ chế mua sắm công để kích cầu sản phẩm công nghệ nội địa...

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-Anh Nhi

Categories: The Latest News

Pages