Feed aggregator

Mâm cơm ngày Tết của người Thái ở xứ Thanh

Thời báo kinh tế Việt Nam - Mon, 02/16/2026 - 13:39
Giữa núi rừng phía tây Thanh Hóa, mỗi dịp Tết đến, mâm cơm của đồng bào Thái không chỉ là sự kết hợp của sản vật rừng suối mà còn là nơi kết nối gia đình, gìn giữ nếp nhà và trao truyền bản sắc qua nhiều thế hệ.HƯƠNG VỊ NÚI RỪNG TRONG TỪNG MÓN TẾT

Giữa đại ngàn xứ Thanh, trong những nếp nhà sàn nép mình bên sườn núi, bếp lửa đỏ hồng luôn được xem là “trái tim” của mỗi gia đình người Thái. Khi Tết về, gian nhà sàn trở nên ấm áp hơn bao giờ hết. Con cháu quây quần bên cha mẹ, ông bà, cùng chuẩn bị mâm cơm đầu năm, đây mâm cơm chất chứa cả hương vị núi rừng và tình thân sâu nặng.

Người Thái quen ăn cơm nếp. Nếp nương được lựa kỹ, vo sạch, đồ trong chõ gỗ, hạt cơm chín dẻo, thơm ngậy. Bên cạnh đĩa xôi trắng là cá suối nướng vàng ruộm, thịt gà đồi chắc thịt, măng rừng, rau rừng chấm chẻo cay nồng. Tất cả bày trên mẹt tre giản dị nhưng đủ đầy, thể hiện quan niệm sống hài hòa với thiên nhiên của đồng bào vùng cao.

Từ bao đời nay, nguồn thực phẩm của người Thái chủ yếu đến từ rừng và sông suối. Cá, tôm, cua, ốc, măng, nấm, rau rừng… là những sản vật quen thuộc. Dọc các con sông Luồng, sông Lò, sông Âm, tục bắt cá tập thể vẫn được duy trì như một sinh hoạt cộng đồng giàu bản sắc. Người dân cùng nhau chắn dòng, quây chài, thậm chí sử dụng các loại lá rừng khiến cá “say” rồi bắt.

Sau mỗi lần đánh bắt, cá được chia đều theo quy ước của bản mường. Sự phân chia công bằng ấy không chỉ bảo đảm sinh kế mà còn củng cố tinh thần đoàn kết. Với săn bắt thú rừng cũng vậy, thịt sau khi săn được mang về mổ bên khe nước, một phần nướng cúng thần linh, phần còn lại chia cho các hộ. Tập tục ấy thể hiện rõ quan niệm tôn trọng tự nhiên và đề cao tính cộng đồng.

Phụ nữ Thái ở Thanh Hoá chuẩn bị các món ăn truyền thống tiếp đãi khách ngày Tết

Từ những nguyên liệu sẵn có, qua bàn tay khéo léo của người phụ nữ, nhiều món ăn đặc sắc đã ra đời. Ẩm thực Thái thiên về nướng, luộc, đồ – những cách chế biến giữ trọn vị nguyên sơ. Cá suối kẹp tre nướng trên than hồng, thịt lợn bản quay, cơm lam ống nứa, nộm hoa chuối rừng… đều mang hương vị đậm đà, mộc mạc.

Trong kho tàng ấy, các món canh chiếm vị trí quan trọng. Canh pịa, canh cay, canh măng chua hay cá chua đều đậm vị và cay nồng. Đặc biệt, canh uôi – món canh nấu tổng hợp từ cá, thịt, rau, bột gạo và gia vị thường xuất hiện trong mâm cơm Tết. Canh uôi nấu với trứng kiến đen béo bùi, tạo nên hương vị rất riêng của núi rừng, gợi cảm giác ấm áp trong những ngày đầu xuân.

Gia vị cũng là yếu tố làm nên bản sắc. Chẻo – món chấm truyền thống gần như không thể thiếu. Chẻo được làm từ cá nướng giã nhỏ, trộn muối, ớt và “tời”, loại gia vị lên men từ đỗ và lá rừng, treo gác bếp cho dậy mùi. Vị thơm nồng đặc trưng ấy khiến các món luộc, món nướng trở nên đậm đà, khó quên.

Mâm cỗ lá của người Thái Thanh Hoá trong ngày lễ, tết.

Bên mâm cơm ngày Tết, ché rượu cần luôn được đặt ở vị trí trang trọng. Rượu được ủ từ gạo nếp, nếp cẩm và men lá tự chế, mang hương thơm dịu, vị cay nhẹ và ngọt hậu. Mỗi bản có bí quyết riêng trong việc chọn lá men và cách ủ. Rượu cần không chỉ là thức uống mà còn là biểu tượng của sự hiếu khách, là cầu nối để mọi người xích lại gần nhau trong tiếng cười đầu năm.

GIỮ HỒN ẨM THỰC TRONG NHỊP SỐNG HIỆN ĐẠI

Trải qua nhiều biến động và sự phát triển của xã hội, đời sống đồng bào Thái ở Thanh Hóa đã có nhiều đổi thay. Giao thông thuận lợi hơn, nguồn lương thực phong phú hơn, nhà sàn truyền thống dần được thay thế một phần bằng nhà xây kiên cố. Thói quen ăn cơm nếp cũng có sự chuyển dịch.

Tuy nhiên, điều đáng quý là các món ăn truyền thống vẫn được gìn giữ khá trọn vẹn, đặc biệt trong dịp lễ, Tết. Ở Xuân Thái, nơi được ví như “thiên đường ẩn giấu” của xứ Thanh, ẩm thực Thái trở thành điểm nhấn trong phát triển du lịch cộng đồng. Du khách đến đây không chỉ thưởng thức gà nướng, thịt trâu nướng, cá sông, măng rừng, cơm lam mà còn được trải nghiệm câu cá, bắt gà, hái rau rừng, cùng ngồi bên bếp lửa và nâng chén rượu cần.

Cảnh quây quần bên mâm cơm, tiếng cười rộn rã trong nhà sàn

Cũng tại bản Ngàm, xã Sơn Điện, mâm cơm cúng tổ tiên ngày Tết luôn có cơm lam và cá nướng những món ăn giản dị nhưng mang ý nghĩa thiêng liêng. Cá suối giữ trọn vị ngọt tự nhiên, xôi nếp nương dẻo thơm, gà thả đồi chắc thịt. Mỗi món ăn là một câu chuyện về đất và người, về sự gắn bó bền chặt với thiên nhiên được trao truyền qua nhiều thế hệ.

Trong dòng chảy hiện đại, khi nhiều giá trị truyền thống đứng trước nguy cơ mai một, việc bảo tồn và phát huy ẩm thực dân tộc Thái không chỉ là trách nhiệm của cộng đồng bản địa mà còn là hướng đi bền vững trong phát triển văn hóa và du lịch. 

-Nguyễn Thuấn

Categories: The Latest News

Giữ lửa nghề bánh tét, bánh chưng Dương Nỗ bên dòng Phổ Lợi

Thời báo kinh tế Việt Nam - Mon, 02/16/2026 - 13:37
Giữa nhịp sống ngày càng sôi động của thành phố Huế, những nồi bánh đỏ lửa ở phường Dương Nỗ vẫn âm thầm tỏa hương. Từ hạt nếp thơm bồi đắp bởi phù sa sông Phổ Lợi, nghề làm bánh tét, bánh chưng nơi đây không chỉ nuôi sống nhiều gia đình mà còn giữ gìn một phần hồn cốt của đất cố đô.PHÙ SA BỒI ĐẮP HƯƠNG NẾP QUÊ

Men theo dòng Phổ Lợi, về phường Dương Nỗ, thành phố Huế, dễ bắt gặp những thửa ruộng nằm thoai thoải bên sông. Phù sa hiền hòa qua bao mùa lũ đã bồi đắp cho vùng đất này lớp đất thịt màu mỡ, thích hợp để trồng giống nếp thơm trứ danh.

Từ xa xưa, Phú Dương – nay là phường Dương Nỗ – đã nổi tiếng với nghề trồng nếp chuyên canh phục vụ gói bánh. Có thời điểm, gần chục mẫu ruộng trong làng được quy hoạch chỉ để cấy nếp. Mỗi vụ mùa đến, cánh đồng thay màu áo mới, hương lúa quyện trong gió, báo hiệu một mùa bánh tét, bánh chưng lại chuẩn bị rộn ràng.

Những hạt nếp tròn, đều được lựa chọn kỹ trước khi đem vo, trộn muối. Ảnh: Quảng An

Theo các bậc cao niên trong làng, nghề làm bánh ở Dương Nỗ đã hình thành hàng trăm năm trước. Ban đầu, bánh được gói để phục vụ trong gia đình, họ tộc vào dịp lễ, Tết. Dần dần, tiếng thơm lan xa, bánh được mang ra chợ, rồi theo chân người buôn bán đến nhiều nơi khác. Từ chỗ làm để dùng, người dân bắt đầu làm để bán, nghề theo đó mà lớn dần.

Thời gian và quá trình đô thị hóa khiến diện tích trồng nếp thơm không còn rộng như trước. Nhưng lượng nếp còn lại vẫn đủ để duy trì nghề. Quan trọng hơn, đó là nguồn nguyên liệu “tự thân”, do chính người dân gieo cấy, chăm bón và thu hoạch. Mỗi hạt nếp vì thế không chỉ là nguyên liệu, mà còn là kết tinh của mồ hôi, công sức và niềm tự hào của người làm nghề.

Hiện nay, trên địa bàn phường Dương Nỗ có 18 hộ thường xuyên gói bánh tét, bánh chưng, thu hút hơn 100 lao động tham gia ổn định. Ngoài ra, còn hơn 50 hộ sản xuất, kinh doanh không thường xuyên, chủ yếu phục vụ thị trường trong thành phố Huế và các tỉnh, thành phía Nam. Vào dịp lễ, Tết, số lao động tham gia có thể lên đến hơn 700 người mỗi ngày. Những ngày giáp Tết, cả khu dân cư như thức cùng nồi bánh, từ sáng sớm đến khuya, tiếng nói cười xen lẫn tiếng lửa reo.

Bánh tét, bánh chưng Dương Nỗ trở thành món quà quê mang đậm hương vị Huế.

Ghi nhận giá trị của nghề, ngày 10/8/2022, Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế đã ban hành Quyết định số 1916/QĐ-UBND, công nhận Nghề bánh tét, bánh chưng Phú Dương là nghề truyền thống của tỉnh. Sự kiện này không chỉ là niềm tự hào của người dân Dương Nỗ mà còn mở ra cơ hội để nghề được bảo tồn, phát triển bài bản hơn trong bối cảnh mới.

NHỮNG “BÍ QUYẾT” GIỮ HỒN BÁNH

Để làm nên thương hiệu bánh tét, bánh chưng Dương Nỗ, người thợ phải trải qua nhiều công đoạn tỉ mỉ, đòi hỏi kinh nghiệm và sự kiên nhẫn.

Nếp dùng để gói bánh là loại nếp thơm, hạt tròn, đều. Sau khi vo sạch, nếp được trộn một lượng muối vừa phải. Muối không chỉ tạo vị đậm đà mà còn giúp bánh giữ được lâu hơn. Lá chuối sứ – loại lá gắn bó với nghề qua nhiều thế hệ – được lựa chọn kỹ, rửa nhiều lần đến khi nước trong, rồi tráng qua nước ấm để loại bỏ tạp chất.

Tùy thời tiết mà người gói điều chỉnh số lớp lá. Ngày nắng hanh, có thể gói ít lớp hơn; ngày mưa lạnh, phải tăng thêm lớp để bánh giữ nhiệt và bảo quản tốt. Những kinh nghiệm tưởng chừng nhỏ ấy được truyền từ đời này sang đời khác, trở thành “bí quyết gia truyền” của từng gia đình.

Bánh chưng thành phẩm. Ảnh: Quảng An

Một nét riêng của bánh Dương Nỗ là việc sử dụng nước lá bồ ngót khi gói. Nước lá giúp nếp nhanh chín, dẻo hơn và tạo màu xanh đọt chuối tự nhiên, bắt mắt. Khi buộc lạt, người thợ phải canh độ chặt vừa đủ. Lạt lỏng, nước dễ thấm vào làm bánh nhanh hỏng; lạt quá chặt, bánh sẽ cứng, mất đi độ mềm dẻo đặc trưng.

Công đoạn nấu bánh là thử thách lớn nhất. Củi dùng phải là loại cây lớn, đặc, giữ lửa đều trong nhiều giờ liền. Nồi bánh luôn phải được châm nước để nước sấp mặt bánh. Chỉ cần lửa không đều hoặc nước cạn, nếp sẽ sượng, cả mẻ bánh coi như không đạt.

Người dân còn tận dụng lá chuối sứ dư lót dưới đáy và xung quanh nồi. Lớp lá này giúp bánh chín đều, không bị cháy, đồng thời tăng thêm hương thơm tự nhiên. Đêm cận Tết, bên nồi bánh nghi ngút khói, người lớn chuyện trò, trẻ nhỏ quây quần, không khí ấm áp lan tỏa trong từng mái nhà.

Bánh tét, bánh chưng Dương Nỗ vì thế không chỉ là món ăn. Đó là câu chuyện về đất và người, về sự bền bỉ của những bàn tay quanh năm gắn bó ruộng đồng. Từ hạt nếp, lá chuối, dây lạt đến nhân đậu xanh, thịt heo – tất cả đều là sản vật quen thuộc của làng quê, phản ánh lối sống gần gũi với thiên nhiên.

Những đòn bánh tét thành phẩm. Ảnh: Quảng An

Ngày nay, bánh Dương Nỗ đã có mặt ở nhiều địa phương trong và ngoài thành phố, trở thành món quà mang đậm hương vị Huế. Nghề làm bánh góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân, nhất là trong những lúc nông nhàn.

Quan trọng hơn, đó là sợi dây kết nối các thế hệ. Ông bà truyền nghề cho con cháu, người trẻ tiếp nối và làm mới cách quảng bá, mở rộng thị trường. Trong nhịp sống hiện đại, giữa những thay đổi của đô thị hóa, những nồi bánh đỏ lửa bên dòng Phổ Lợi vẫn âm thầm giữ nhịp cho một làng nghề.

-Nguyễn Thuấn

Categories: The Latest News

Bốn xu hướng lớn định hình thị trường lao động Việt Nam

Thời báo kinh tế Việt Nam - Mon, 02/16/2026 - 13:25
Bước vào năm 2026, năm khởi đầu thực hiện mục tiêu giai đoạn 2026 - 2030 với các cơ hội, thách thức đan xen nhau, thị trường lao động Việt Nam được dự báo sẽ bước vào giai đoạn khởi sắc rõ rệt, với nhiều tín hiệu tích cực…

Nhân dịp đầu Xuân Bính Ngọ 2026, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy phỏng vấn bà Nguyễn Thu Trang, Giám đốc thương hiệu Manpower, Manpower Việt Nam, một công ty cung ứng giải pháp nhân sự, xung quanh câu chuyện này.

Bà đánh giá như thế nào về bức tranh thị trường lao động Việt Nam hiện nay, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế toàn cầu và khu vực có nhiều biến động?

Thị trường lao động Việt Nam năm 2026 được dự báo sẽ bước vào giai đoạn khởi sắc rõ rệt, với nhiều tín hiệu tích cực. Nhu cầu tuyển dụng dự kiến sẽ tiếp tục tăng khi nền kinh tế duy trì đà tăng trưởng ấn tượng (GDP năm 2025 ước đạt 514 tỷ USD, tăng 5 bậc lên vị trí 32 thế giới). Thu nhập bình quân đầu người cải thiện và dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tiếp tục mở rộng.

Bên cạnh sự ổn định về chính trị và sự cải thiện rõ rệt về năng lực chuỗi cung ứng, các chương trình thúc đẩy phát triển kỹ năng nhằm nâng cao chất lượng lao động, và nâng cấp hạ tầng từ Chính phủ cũng khiến thị trường lao động trở nên đặc biệt hấp dẫn cho các kế hoạch mở rộng trong ngắn và trung hạn của doanh nghiệp, đặc biệt là tập đoàn đa quốc gia lớn.

Một điểm nữa là nhiều bộ luật và quy định mới được ban hành trong thời gian gần đây, nhằm tăng cường tính minh bạch của thị trường và bảo đảm quyền lợi cho người lao động. Dù quá trình triển khai có thể phát sinh một số vướng mắc ban đầu, những thay đổi này được kỳ vọng sẽ thúc đẩy môi trường cạnh tranh lành mạnh và bền vững hơn, mang lại lợi ích dài hạn cho doanh nghiệp, người lao động và toàn thị trường.

Theo SIA (Staffing Industry Analysts - một công ty nghiên cứu thị trường toàn cầu chuyên về các giải pháp nhân sự và lao động), Việt Nam đứng thứ 4 trong bảng xếp hạng Những thị trường tuyển dụng và cung ứng nhân sự hấp dẫn nhất tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương (Most Attractive Staffing Markets in APAC). Trong đó, riêng về chỉ số mức độ tăng trưởng, thị trường nhân sự Việt Nam được dự báo sẽ tăng trưởng trung bình 14,5% trong giai đoạn 2025 - 2026, mức cao nhất trong khu vực APAC.

Bên cạnh đó, Việt Nam sở hữu tiềm năng tăng trưởng lớn nhất về nguồn lao động trong khu vực APAC. Tỷ lệ thâm nhập của lao động thời vụ do các công ty dịch vụ nhân sự cung ứng (tỷ lệ lao động thời vụ được cung ứng thông qua các công ty dịch vụ nhân sự so với tổng số lao động thời vụ đang làm việc trên thị trường) hiện chỉ ở mức 1,1% - thấp hơn mức trung bình. Thị trường lao động Việt Nam, đặc biệt là lao động thời vụ/ngắn hạn chưa được khai thác hết, khi có tới 13,4% người lao động đang làm việc theo hợp đồng thời vụ, nhưng không thông qua các công ty cung ứng nhân sự.

Đáng chú ý, tại Việt Nam, AI đang trở thành động lực thay đổi cuộc chơi, tái định hình cấu trúc thị trường và tác động đến mọi chủ thể (doanh nghiệp, người lao động và nhà hoạch định chính sách), AI vốn không phải là khái niệm mới, nhưng tiềm năng tạo giá trị cho doanh nghiệp được dự báo sẽ bùng nổ mạnh mẽ hơn trong năm 2026.

Trong bối cảnh đó, những xu hướng lớn nào đang và sẽ định hình thị trường lao động Việt Nam trong những năm tới? Thách thức lớn nhất đối với người lao động và doanh nghiệp Việt Nam là gì, thưa bà?

Dưới góc nhìn của Manpower Việt Nam từ báo cáo Xu hướng Việc làm toàn cầu 2026 và Hướng dẫn lương 2026, thị trường lao động Việt Nam trong những năm tới sẽ được định hình bởi bốn xu hướng lớn, phản ánh tác động đồng thời của tự động hóa, chuyển đổi số và kinh tế xanh. Đồng thời đặt ra những thách thức đáng kể cho cả người lao động và doanh nghiệp.

Xu hướng 1 - Đội ngũ nhân sự linh hoạt: Kinh tế việc làm tự do mở rộng. Theo ManpowerGroup, gần 50% lực lượng lao động tại các nền kinh tế phát triển tham gia vào các hình thức làm việc linh hoạt, bao gồm lao động dự án, cộng tác viên, freelancer và làm việc bán thời gian, thay vì chỉ dựa vào mô hình toàn thời gian truyền thống. Tại Việt Nam, Hướng dẫn lương 2026 ghi nhận sự gia tăng rõ rệt của lao động theo dự án và lao động tự do trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, tiếp thị số, sáng tạo nội dung, thương mại điện tử và logistics.

Xu hướng này giúp doanh nghiệp tăng tính linh hoạt và tiếp cận kỹ năng chuyên biệt, nhưng đồng thời đặt ra thách thức cho người lao động về tính ổn định thu nhập, phúc lợi và lộ trình phát triển nghề nghiệp dài hạn, khi hệ thống an sinh vẫn chủ yếu được thiết kế xoay quanh việc làm fulltime.

Xu hướng 2 - Học lại nhanh và liên tục: Năng lực sử dụng trí tuệ nhân tạo. Tại Việt Nam, nhu cầu tuyển dụng các vị trí liên quan đến trí tuệ nhân tạo, phân tích dữ liệu, tự động hóa và an ninh mạng tăng nhanh, trong khi nguồn cung nhân lực phù hợp còn rất hạn chế.

Thách thức không chỉ nằm ở kỹ năng kỹ thuật, mà ở khả năng hiểu, sử dụng và đánh giá AI một cách có trách nhiệm, bao gồm tư duy phản biện và nhận thức về rủi ro đạo đức. Nếu không đầu tư bài bản vào năng lực sử dụng AI, khoảng cách giữa nhóm lao động có khả năng thích ứng và nhóm bị bỏ lại phía sau sẽ ngày càng lớn.

Xu hướng 3 - Chuẩn mực lao động thay đổi: khoảng cách công bằng và kỳ vọng của lao động tuyến đầu. Việt Nam cũng ghi nhận áp lực lớn trong việc tuyển dụng và giữ chân lao động tuyến đầu và lao động phổ thông tại các ngành sản xuất, logistics, bán lẻ và dịch vụ. Người lao động không chỉ kỳ vọng mức lương đủ sống, mà còn mong muốn phúc lợi ổn định, môi trường làm việc an toàn, cơ hội học hỏi và nâng cấp kỹ năng, thay vì bị “kẹt” trong các công việc lặp lại, dễ bị thay thế bởi tự động hóa.

Bên cạnh đó, các chính sách và luật mới được thi hành trong năm 2026 sẽ giúp thị trường lao động minh bạch và công bằng hơn. Việc này tạo ra thách thức cho các doanh nghiệp phải có những thay đổi cụ thể trong việc ký kết hợp đồng với người lao động để đảm bảo tuân thủ Bộ luật lao động.

Xu hướng 4 - Khan hiếm nhân tài leo thang. Dù vẫn đang trong giai đoạn “dân số vàng”, chúng tôi quan sát thấy tình trạng thiếu hụt nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực như công nghệ thông tin, sản xuất tiên tiến, năng lượng, chuyển đổi xanh và ESG (môi trường, xã hội và quản trị).

Thách thức không chỉ nằm ở số lượng mà ở chất lượng kỹ năng, trình độ ngoại ngữ và mức độ sẵn sàng làm việc trong môi trường toàn cầu, khiến nhiều doanh nghiệp gặp khó trong việc mở rộng và nâng cấp chuỗi giá trị.

Tổng thể, thách thức lớn nhất đối với cả người lao động và doanh nghiệp Việt Nam hiện nay là về thu hẹp khoảng cách giữa tốc độ chuyển đổi của công nghệ, mô hình việc làm và yêu cầu phát triển bền vững với năng lực thực tế của lực lượng lao động. Vì vậy, nếu không có chiến lược đầu tư dài hạn cho kỹ năng, tư duy và hệ sinh thái hỗ trợ, tự động hóa, chuyển đổi số và tăng trưởng xanh có thể trở thành áp lực, thay vì động lực tạo ra việc làm bền vững và chất lượng cao...

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-Thu Hằng

Categories: The Latest News

Việt Nam strengthens appeal to long-term investors

Buisness News │ VietnamNews - Mon, 02/16/2026 - 12:51
Việt Nam is emerging as an increasingly attractive destination for long-term investors in the Asia–Pacific region, supported by macroeconomic stability, expanding domestic demand, and sustained inflows of foreign investment, according to Savills’ Asia Pacific Outlook 2026 report.

Trình thẩm định hồ sơ đề xuất chủ trương đầu tư cầu Tân Hiền trong tháng 3/2026

Thời báo kinh tế Việt Nam - Mon, 02/16/2026 - 11:54
UBND tỉnh Đồng Nai đang khẩn trương triển khai các thủ tục chuẩn bị đầu tư dự án cầu Tân Hiền kết nối với TP. Hồ Chí Minh, hướng tới hoàn thiện hồ sơ đề xuất chủ trương đầu tư trong tháng 3/2026...

UBND tỉnh Đồng Nai vừa đã ban hành văn bản gửi lãnh đạo các Sở Xây dựng, Tài chính, Nông nghiệp và Môi trường; Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng tỉnh cùng UBND phường Tân Triều về việc triển khai các bước thực hiện dự án   đầu tư xây dựng cầu Tân Hiền (cầu Tân Hiền - Thường Tân) theo quy định.

Theo đó, Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng tỉnh được giao chủ trì triển khai các thủ tục chuẩn bị đầu tư đối với dự án xây dựng cầu Tân Hiền, công trình kết nối giao thông giữa tỉnh Đồng Nai và TP. Hồ Chí Minh.

Đơn vị này có trách nhiệm tổ chức lập hồ sơ đề xuất chủ trương đầu tư, bao gồm báo cáo nghiên cứu tiền khả thi hoặc báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư, trình cơ quan có thẩm quyền thẩm định theo quy định hiện hành. Thời hạn hoàn thành nhiệm vụ được yêu cầu trong tháng 3/2026.

UBND tỉnh cũng giao Sở Xây dựng giữ vai trò chủ trì, hướng dẫn các địa phương liên quan thực hiện việc rà soát, điều chỉnh và cập nhật quy hoạch xây dựng có liên quan đến dự án cầu Tân Hiền nhằm bảo đảm tính đồng bộ trong quá trình triển khai.

Đồng thời, Sở Nông nghiệp và Môi trường được giao hướng dẫn các địa phương nơi dự án đi qua thực hiện các thủ tục về điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất, đồng thời triển khai các bước thu hồi đất phục vụ công tác đầu tư xây dựng.

Đối với nguồn lực tài chính, Sở Tài chính được giao nhiệm vụ rà soát, cân đối và tham mưu UBND tỉnh báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét bố trí vốn thực hiện dự án khi các điều kiện về hồ sơ pháp lý và khả năng cân đối nguồn vốn được đáp ứng đầy đủ.

Trước đó, ngày 5/2/2026, Văn phòng Chính phủ đã có văn bản thông báo ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà liên quan đến việc xác định cơ quan chủ quản thực hiện dự án. Theo nội dung này, Phó Thủ tướng thống nhất với đề xuất của các địa phương, giao UBND tỉnh Đồng Nai làm cơ quan chủ quản triển khai dự án xây dựng cầu Tân Hiền.

Theo quy hoạch, cầu Tân Hiền sẽ bắc qua sông Đồng Nai, kết nối khu vực xã Thường Tân (TP. Hồ Chí Minh) với phường Tân Triều (Đồng Nai). Công trình được định hướng đầu tư với quy mô 4 làn xe cơ giới và 2 làn xe thô sơ, góp phần tăng cường kết nối hạ tầng giao thông liên vùng giữa hai địa phương.

-Thanh Thủy

Categories: The Latest News

Credit quota reform and tighter capital rules may widen gap among banks

Buisness News │ VietnamNews - Mon, 02/16/2026 - 10:23
Việt Nam is planning to ease credit growth limits while tightening capital rules, a move that could change how banks lend and manage risk.

Doanh thu bán dầu của Venezuela đạt 1 tỷ USD

Thời báo kinh tế Việt Nam - Mon, 02/16/2026 - 10:12
Doanh thu từ việc bán dầu lửa của Venezuela dưới sự quản lý của Mỹ đã đạt mốc 1 tỷ USD, và chính quyền của Tổng thống Donald Trump dự kiến hoạt động bán dầu này sẽ mang về thêm 5 tỷ USD trong vài tháng tới...

Theo hãng tin CNBC, thông tin trên được Bộ trưởng Năng lượng Mỹ Chris Wright đưa ra cách đây ít ngày. Ông cũng cho biết doanh thu này không còn được gửi vào một tài khoản đặt tại Qatar mà đã chuyển sang một tài khoản đặt tại Bộ Tài chính Mỹ.

Chính phủ Mỹ đã nắm quyền kiểm soát việc bán dầu của Venezuela kể từ sau chiến dịch bắt giữ cựu Tổng thống Nicolas Maduro vào đầu tháng 1 vừa qua.

“Ban đầu, một tài khoản đã được lập ở Qatar, do Chính phủ Mỹ kiểm soát, để chuyển số tiền bán dầu Venezuela tới đó. Sau đó, số tiền sẽ được chuyển trở lại Venezuela”, CNBC dẫn lời ông Wright hôm 12/1.

“Bây giờ, chúng tôi đã có một tài khoản tại Bộ Tài chính Mỹ. Tiền bán dầu Venezuela sẽ không được chuyển vào tài khoản ở Qatar nữa”, vị Bộ trưởng Mỹ nói.

Tuần vừa rồi, ông Wright đã có chuyến thăm Caracas, gặp Tổng thống lâm thời của Venezuela là bà Delcy Rodriguez. Với chuyến thăm này, ông Wright là quan chức cấp cao nhất của Mỹ thăm Venezuela trong nhiều thập kỷ trở lại đây.

Theo ông Wright, việc chuyển tiền bán dầu của Venezuela vào tài khoản tại Qatar là nhằm đảm bảo rằng số tiền thu được từ việc bán dầu sẽ được chuyển về Venezuela một cách an toàn, tránh sự can thiệp từ các chủ nợ của quốc gia này. Venezuela hiện đang đối mặt với hàng chục tỷ USD nợ chưa thanh toán, chủ yếu do việc vỡ nợ trái phiếu chính phủ và quốc hữu hóa tài sản của các công ty dầu khí lớn như Exxon Mobil và ConocoPhillips.

Quyết định chuyển tiền về Mỹ cũng đã gây ra nhiều tranh cãi trong nội bộ chính trị Mỹ. Một số thành viên Đảng Dân chủ, bao gồm Thượng nghị sĩ Chuck Schumer và Adam Schiff, đã yêu cầu một cuộc kiểm toán độc lập đối với tài khoản tại Qatar để đảm bảo tính minh bạch và hợp pháp của các giao dịch này. Bộ trưởng Wright giải thích rằng việc gửi tiền vào Qatar ban đầu là để tránh rủi ro các chủ nợ của Venezuela có thể đóng băng số tiền nếu tiền được gửi vào một tài khoản ngân hàng tại Mỹ.

“Do Venezuela có quá nhiều chủ nợ và nước này nợ một số tiền lớn, chúng tôi sẽ đối mặt với rủi ro nếu chuyển số tiền bán dầu đó vào một tài khoản ngân hàng Mỹ được thiết lập vội vã, bởi các chủ nợ có thể đóng băng số tiền đó. Chúng tôi muốn các chủ nợ cuối cùng sẽ lấy lại được tiền, nhưng số tiền bán dầu bây giờ cần được chuyển về cho Venezuela”, ông Wright phát biểu.

Một thách thức khác mà Mỹ phải đối mặt là vấn đề công nhận chính phủ hợp pháp của Venezuela. Hiện tại, Mỹ không công nhận chính phủ do bà Delcy Rodriguez lãnh đạo mà thay vào đó công nhận Quốc hội do phe đối lập lãnh đạo từ năm 2015. Điều này đặt ra câu hỏi về việc ai sẽ là người kiểm soát số tiền có được từ việc dầu lửa khi số tiền được gửi vào tài khoản tại Mỹ. Theo chuyên gia luật quốc tế Scott Anderson, về lý thuyết, số tiền này nên thuộc quyền kiểm soát của Quốc hội đối lập được chính quyền ông Trump công nhận.

Việc Mỹ quản lý doanh thu dầu lửa của Venezuela có những tác động kinh tế đáng kể. Hiện tại, Mỹ đã ký các thỏa thuận ngắn hạn để bán thêm 5 tỷ USD dầu thô của Venezuela trong vài tháng tới, với các lô hàng đã được chuyển đến các nhà máy lọc dầu ở Mỹ và châu Âu. Hoạt động bán dầu này không chỉ giúp tăng cường nguồn cung dầu cho thị trường mà còn tạo ra nguồn thu cần thiết cho Venezuela trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế kéo dài.

Tuy nhiên, việc Mỹ can thiệp sâu vào ngành dầu khí của Venezuela cũng đặt ra nhiều câu hỏi về tương lai chính trị của quốc gia này. Bộ trưởng Wright cho biết có khả năng sẽ có một cuộc bầu cử và chuyển giao quyền lực tại Venezuela trong nhiệm kỳ của Tổng thống Trump. Ông cũng nhấn mạnh rằng sự giám sát của chính phủ Mỹ đối với các vấn đề nội bộ của Venezuela sẽ kết thúc khi quá trình chuyển giao quyền lực hoàn tất.

-Bình Minh

Categories: The Latest News

Bài học từ Thái Lan và lời nhắc cho Việt Nam

Thời Báo Kinh Tế - Mon, 02/16/2026 - 09:56
Đã đến lúc gạt bỏ những niềm tự hào về số lượng để bồi đắp nội lực thực chất. Nếu không, chúng ta sẽ vẫn là quốc gia năng động bậc nhất Đông Nam Á nhưng khả năng tích lũy vẫn xếp sau rất xa các nước láng giềng.

Những con số tăng trưởng GDP ấn tượng và vị thế "điểm đến hấp dẫn" của Việt Nam trong những năm qua đã tạo ra một luồng sinh khí lạc quan. Tuy nhiên, khi đặt lên bàn cân so sánh một cách kỹ lưỡng với các quốc gia trong khu vực, đặc biệt là Thái Lan, chúng ta lại thấy một bức tranh nhiều nghịch lý: một nền kinh tế năng động, bận rộn bậc nhất khu vực Đông Nam Á như Việt Nam nhưng khả năng tích lũy nội lực còn thấp so với nhu cầu phát triển của kỷ nguyên mới...

TỪ CON SỐ GDP ĐẾN MỨC SỐNG

Năm 2025, GDP đầu người của Việt Nam đạt khoảng 5.026 USD, tăng gấp 1,4 lần so với năm 2020 và tăng tới 3,1 lần so với năm 2010. Còn GDP đầu người của Thái Lan năm 2025 khoảng 7.500 USD, gấp 1,5 lần GDP đầu người của Việt Nam.

Mặc dù ngay cả Viện Nghiên cứu Phát triển Thái Lan (TDRI) mới đây đã cảnh báo mục tiêu Thái Lan trở thành nước có thu nhập cao vào năm 2036 "gần như không thể đạt được" và có thể bị các nước ASEAN vượt qua, khoảng cách giữa Thái Lan với Việt Nam vẫn là một quãng đường dài đặc đặc biệt là khoảng cách về chất lượng.

Tại Thái Lan, hệ thống hạ tầng và giá cả dịch vụ cơ bản được điều tiết bởi các tập đoàn nội địa khổng lồ, giúp giảm chi phí sinh hoạt ví dụ như giá thực phẩm tại Thái Lan rẻ hơn Việt Nam từ 15-20% nhờ tối ưu hệ thống nông nghiệp và chuỗi bán lẻ phân phối (CP, Central Group).

Tại Việt Nam, do phụ thuộc vào hệ thống phân phối nhỏ lẻ và chi phí logistics chiếm tới 16-20% GDP (so với 11-13% của Thái Lan), giá hàng hóa đến tay người tiêu dùng bị đẩy lên cao, trực tiếp bào mòn thu nhập thực tế.

Người Thái còn được hưởng lợi chi phí sinh hoạt do có một hệ thống phúc lợi y tế gần như miễn phí và sở hữu hệ thống Skytrain/MRT kết nối xuyên suốt và giá rẻ giúp người dân vùng ven có thể di chuyển vào trung tâm làm việc với chi phí thấp và thời gian chính xác.

DU LỊCH: "SỐ LƯỢNG" SO VỚI "CHẤT LƯỢNG"

Một trong những thống kê ấn tượng gần đây là việc Việt Nam đang trên đà chiếm ngôi vị số 1 về du lịch của Thái Lan tại khu vực ASEAN. Tuy nhiên, nhìn sâu vào cơ cấu doanh thu, chúng ta chưa thể đuổi kịp về giá trị ròng.

Thái Lan sở hữu nền văn hóa vừa lâu đời vừa độc đáo

Năm 2025, du lịch Thái Lan đón khoảng 33 triệu lượt khách quốc tế, mang về nguồn thu ngoại tệ khoảng 1.530 nghìn tỷ Baht (tương đương 49,4 tỷ USD). Chi tiêu bình quân của khách quốc tế tại Thái Lan ở mức cao (khoảng 1.500 - 1.600 USD/khách) nhờ hệ thống dịch vụ giá trị gia tăng và mua sắm khép kín.

Cung điện Hoàng gia Thái Lan thu hút lượng lớn khách du lịch ghé thăm mỗi năm

Trong khi đó, năm 2025, Việt Nam đạt mốc 21,5 triệu lượt khách du lịch quốc tế nhưng tổng thu ngoại tệ chỉ khoảng 18 - 20 tỷ USD (bình quân 900 – 1000 USD/khách, bằng 66% con số này tại Thái Lan).

Một phần nguồn thu này lại chảy ra khỏi Việt Nam dưới dạng phí hoa hồng, phí thanh toán quốc tế trả cho các tập đoàn đa quốc gia khi khách đặt qua app (Klook, Agoda, Trip.com).

Nếu tính cả chi phí nhập khẩu thực phẩm, năng lượng của các địa điểm lưu trú, số ngoại tệ thực sự ở lại trong nước bị hao đi đáng kể. Tóm lại, chúng ta phải phục vụ lượng khách quốc tế khổng lồ, gây áp lực rất lớn lên hạ tầng, môi trường và các di sản nhưng giá trị tích lũy ròng thấp hơn Thái Lan rất nhiều.

CÔNG NGHIỆP Ô TÔ: DOANH SỐ XUẤT KHẨU VÀ NGUỒN THU NGOẠI TỆ

Theo báo cáo của QMe năm 2025, doanh số ô tô nội địa của Việt Nam đạt khoảng 604 nghìn xe, thu hẹp khoảng cách với Thái Lan (khoảng 632 nghìn xe) xuống còn chưa tới 30 nghìn xe mặc dù khoảng cách này từng là 370 nghìn xe trong năm 2023.

Đúng là doanh số xe bán ra tại Việt Nam đã tiệm cận Thái Lan nhưng nếu xét đến doanh số xuất khẩu và nguồn thu ngoại tệ từ xuất khẩu ô tô lại cho ta thấy hai thế giới khác biệt.

Với các kế hoạch tập trung vào tính bền vững bao gồm tái chế pin EV vào năm 2025, Thái Lan đang đặt mục tiêu tăng cường khả năng cạnh tranh toàn cầu với ngành xe điện nói riêng và ngành công nghiệp ô tô nói chung.

Thái Lan thực sự là “Detroit của Đông Nam Á”. Năm 2025, theo số liệu từ Bangkok Post, ngành ô tô nước này xuất khẩu 936 nghìn chiếc, mang về doanh thu ngoại tệ khoảng 20 tỷ USD (chưa tính linh kiện). Với tỷ lệ nội địa hóa trung bình đạt 80 - 90% giúp Thái Lan có thể giữ lại khoảng 40% giá trị thặng dư.

Trong khi đó, ngành ô tô Việt Nam vẫn loay hoay với tỷ lệ nội địa hóa thấp, phụ thuộc vào linh kiện nhập khẩu và hầu như không có sản phẩm xuất khẩu mang về ngoại tệ cho đất nước.

Ngược lại, chúng ta dùng ngoại tệ để nhập khẩu linh kiện và hình thức bán xe trả góp chiếm tới 40 - 50% lượng khách hàng, phần lớn là giới trung lưu đang vật lộn với chi phí sinh hoạt gia tăng, nợ thẻ tín dụng và vay mua nhà.

Trong xu thế tỷ giá biến động và lãi suất tăng, những điểm yếu này đang bào mòn nguồn dự trữ ngoại tệ của đất nước, suy giảm biên lợi nhuận của nhà sản xuất xe và có thể khiến những chiếc xe trả góp trở thành “nợ xấu” của ngân hàng.

HỆ THỐNG PHÂN PHỐI: "CÁNH TAY NỐI DÀI" CỦA CÁC ÔNG CHỦ THÁI

Nhờ sở hữu nguồn ngoại tệ dồi dào và kinh nghiệm vận hành hệ thống phong phú, các tập đoàn bán lẻ của Thái Lan không chỉ bảo vệ "sân nhà" mà còn dùng ngoại tệ tích lũy thâu tóm các siêu thị, chuỗi bán lẻ, hãng thực phẩm tại các quốc gia Đông Nam Á, đặc biệt là Việt Nam.

Những thương vụ tỷ USD như Central Group mua lại BigC (nay là GO!) với giá 1,14 tỷ USD, TCC Group mua lại Metro Cash Carry Việt Nam với giá gần 800 triệu USD, ThaiBev mua Sabeco với giá xấp xỉ 5 tỷ USD, FN Dairy Investments sở hữu gần 25% cổ phần Vinamilk đã biến người Thái thành một "ông chủ" lớn trong mạng lưới phân phối của Việt Nam.

Dòng tiền tiêu dùng của người Việt hàng ngày đang âm thầm chảy về túi các ông chủ người Thái, biến chúng ta thành những người làm giàu cho nước bạn trên chính đất nước mình.

DỰ TRỮ NGOẠI HỐI VÀ CHIẾN THẮNG SÂN CỎ

Từ ký ức “đau đớn” về cuộc khủng hoảng năm 1997, Thái Lan đã kiên trì xây dựng "pháo đài" ngoại hối lên tới 300 tỷ USD (tương đương 10 tháng nhập khẩu) trong khi chúng ta vẫn dao động quanh ngưỡng tối thiểu theo chuẩn IMF.

Nền tảng giúp Thái Lan duy trì dự trữ ngoại hối lớn chính là khả năng tối ưu hóa dòng ngoại tệ thực ròng: nhờ tỷ lệ nội địa hóa cao, họ giữ lại được phần lớn giá trị thặng dư trong chuỗi xuất khẩu thay vì để dòng ngoại tệ chảy ra nước ngoài qua nhập khẩu linh kiện hoặc trở thành lợi nhuận của các tập đoàn đa quốc gia.

Nghịch lý nằm ở chỗ, chúng ta dễ dàng bùng nổ hân hoan sau một trận bóng đá thắng Thái Lan nhưng lại hoàn toàn thờ ơ trước việc đang bị dẫn rất sâu trên mặt trận tích lũy.

Thắng lợi sân cỏ hay thứ hạng FIFA là liều “doping tinh thần” ngắn hạn nhưng không giúp ổn định tỷ giá, cũng không thể tạo nên “tấm khiên” chống đỡ cho quốc gia trước những biến động khó lường về tiền tệ cũng như cung cấp nguồn lực ngoại tệ đầu tư vào các lĩnh vực trọng yếu và công nghệ.

Từ sự so sánh trên một số lĩnh vực với Thái Lan một cách kỹ càng, Việt Nam cần nhìn lại để thay đổi tư duy và cách làm từ tập trung vào "số lượng" sang "hiệu suất và chất lượng", từ gia công sang nội địa hóa và tham gia sâu vào chuỗi cung ứng.

Đã đến lúc gạt bỏ những niềm tự hào về số lượng để bồi đắp nội lực thực chất. Nếu không, chúng ta sẽ vẫn là quốc gia năng động bậc nhất Đông Nam Á nhưng khả năng tích lũy vẫn xếp sau rất xa các nước láng giềng.

(*)Hồng Hà- chuyên gia độc lập.

- Hồng Hà*

Categories: The Latest News

Bài học từ Thái Lan và lời nhắc cho Việt Nam

Thời báo kinh tế Việt Nam - Mon, 02/16/2026 - 09:56
Đã đến lúc gạt bỏ những niềm tự hào về số lượng để bồi đắp nội lực thực chất. Nếu không, chúng ta sẽ vẫn là quốc gia năng động bậc nhất Đông Nam Á nhưng khả năng tích lũy vẫn xếp sau rất xa các nước láng giềng.

Những con số tăng trưởng GDP ấn tượng và vị thế "điểm đến hấp dẫn" của Việt Nam trong những năm qua đã tạo ra một luồng sinh khí lạc quan. Tuy nhiên, khi đặt lên bàn cân so sánh một cách kỹ lưỡng với các quốc gia trong khu vực, đặc biệt là Thái Lan, chúng ta lại thấy một bức tranh nhiều nghịch lý: một nền kinh tế năng động, bận rộn bậc nhất khu vực Đông Nam Á như Việt Nam nhưng khả năng tích lũy nội lực còn thấp so với nhu cầu phát triển của kỷ nguyên mới...

TỪ CON SỐ GDP ĐẾN MỨC SỐNG

Năm 2025, GDP đầu người của Việt Nam đạt khoảng 5.026 USD, tăng gấp 1,4 lần so với năm 2020 và tăng tới 3,1 lần so với năm 2010. Còn GDP đầu người của Thái Lan năm 2025 khoảng 7.500 USD, gấp 1,5 lần GDP đầu người của Việt Nam.

Mặc dù ngay cả Viện Nghiên cứu Phát triển Thái Lan (TDRI) mới đây đã cảnh báo mục tiêu Thái Lan trở thành nước có thu nhập cao vào năm 2036 "gần như không thể đạt được" và có thể bị các nước ASEAN vượt qua, khoảng cách giữa Thái Lan với Việt Nam vẫn là một quãng đường dài đặc đặc biệt là khoảng cách về chất lượng.

Tại Thái Lan, hệ thống hạ tầng và giá cả dịch vụ cơ bản được điều tiết bởi các tập đoàn nội địa khổng lồ, giúp giảm chi phí sinh hoạt ví dụ như giá thực phẩm tại Thái Lan rẻ hơn Việt Nam từ 15-20% nhờ tối ưu hệ thống nông nghiệp và chuỗi bán lẻ phân phối (CP, Central Group).

Tại Việt Nam, do phụ thuộc vào hệ thống phân phối nhỏ lẻ và chi phí logistics chiếm tới 16-20% GDP (so với 11-13% của Thái Lan), giá hàng hóa đến tay người tiêu dùng bị đẩy lên cao, trực tiếp bào mòn thu nhập thực tế.

Người Thái còn được hưởng lợi chi phí sinh hoạt do có một hệ thống phúc lợi y tế gần như miễn phí và sở hữu hệ thống Skytrain/MRT kết nối xuyên suốt và giá rẻ giúp người dân vùng ven có thể di chuyển vào trung tâm làm việc với chi phí thấp và thời gian chính xác.

DU LỊCH: "SỐ LƯỢNG" SO VỚI "CHẤT LƯỢNG"

Một trong những thống kê ấn tượng gần đây là việc Việt Nam đang trên đà chiếm ngôi vị số 1 về du lịch của Thái Lan tại khu vực ASEAN. Tuy nhiên, nhìn sâu vào cơ cấu doanh thu, chúng ta chưa thể đuổi kịp về giá trị ròng.

Thái Lan sở hữu nền văn hóa vừa lâu đời vừa độc đáo

Năm 2025, du lịch Thái Lan đón khoảng 33 triệu lượt khách quốc tế, mang về nguồn thu ngoại tệ khoảng 1.530 nghìn tỷ Baht (tương đương 49,4 tỷ USD). Chi tiêu bình quân của khách quốc tế tại Thái Lan ở mức cao (khoảng 1.500 - 1.600 USD/khách) nhờ hệ thống dịch vụ giá trị gia tăng và mua sắm khép kín.

Cung điện Hoàng gia Thái Lan thu hút lượng lớn khách du lịch ghé thăm mỗi năm

Trong khi đó, năm 2025, Việt Nam đạt mốc 21,5 triệu lượt khách du lịch quốc tế nhưng tổng thu ngoại tệ chỉ khoảng 18 - 20 tỷ USD (bình quân 900 – 1000 USD/khách, bằng 66% con số này tại Thái Lan).

Một phần nguồn thu này lại chảy ra khỏi Việt Nam dưới dạng phí hoa hồng, phí thanh toán quốc tế trả cho các tập đoàn đa quốc gia khi khách đặt qua app (Klook, Agoda, Trip.com).

Nếu tính cả chi phí nhập khẩu thực phẩm, năng lượng của các địa điểm lưu trú, số ngoại tệ thực sự ở lại trong nước bị hao đi đáng kể. Tóm lại, chúng ta phải phục vụ lượng khách quốc tế khổng lồ, gây áp lực rất lớn lên hạ tầng, môi trường và các di sản nhưng giá trị tích lũy ròng thấp hơn Thái Lan rất nhiều.

CÔNG NGHIỆP Ô TÔ: DOANH SỐ XUẤT KHẨU VÀ NGUỒN THU NGOẠI TỆ

Theo báo cáo của QMe năm 2025, doanh số ô tô nội địa của Việt Nam đạt khoảng 604 nghìn xe, thu hẹp khoảng cách với Thái Lan (khoảng 632 nghìn xe) xuống còn chưa tới 30 nghìn xe mặc dù khoảng cách này từng là 370 nghìn xe trong năm 2023.

Đúng là doanh số xe bán ra tại Việt Nam đã tiệm cận Thái Lan nhưng nếu xét đến doanh số xuất khẩu và nguồn thu ngoại tệ từ xuất khẩu ô tô lại cho ta thấy hai thế giới khác biệt.

Với các kế hoạch tập trung vào tính bền vững bao gồm tái chế pin EV vào năm 2025, Thái Lan đang đặt mục tiêu tăng cường khả năng cạnh tranh toàn cầu với ngành xe điện nói riêng và ngành công nghiệp ô tô nói chung.

Thái Lan thực sự là “Detroit của Đông Nam Á”. Năm 2025, theo số liệu từ Bangkok Post, ngành ô tô nước này xuất khẩu 936 nghìn chiếc, mang về doanh thu ngoại tệ khoảng 20 tỷ USD (chưa tính linh kiện). Với tỷ lệ nội địa hóa trung bình đạt 80 - 90% giúp Thái Lan có thể giữ lại khoảng 40% giá trị thặng dư.

Trong khi đó, ngành ô tô Việt Nam vẫn loay hoay với tỷ lệ nội địa hóa thấp, phụ thuộc vào linh kiện nhập khẩu và hầu như không có sản phẩm xuất khẩu mang về ngoại tệ cho đất nước.

Ngược lại, chúng ta dùng ngoại tệ để nhập khẩu linh kiện và hình thức bán xe trả góp chiếm tới 40 - 50% lượng khách hàng, phần lớn là giới trung lưu đang vật lộn với chi phí sinh hoạt gia tăng, nợ thẻ tín dụng và vay mua nhà.

Trong xu thế tỷ giá biến động và lãi suất tăng, những điểm yếu này đang bào mòn nguồn dự trữ ngoại tệ của đất nước, suy giảm biên lợi nhuận của nhà sản xuất xe và có thể khiến những chiếc xe trả góp trở thành “nợ xấu” của ngân hàng.

HỆ THỐNG PHÂN PHỐI: "CÁNH TAY NỐI DÀI" CỦA CÁC ÔNG CHỦ THÁI

Nhờ sở hữu nguồn ngoại tệ dồi dào và kinh nghiệm vận hành hệ thống phong phú, các tập đoàn bán lẻ của Thái Lan không chỉ bảo vệ "sân nhà" mà còn dùng ngoại tệ tích lũy thâu tóm các siêu thị, chuỗi bán lẻ, hãng thực phẩm tại các quốc gia Đông Nam Á, đặc biệt là Việt Nam.

Những thương vụ tỷ USD như Central Group mua lại BigC (nay là GO!) với giá 1,14 tỷ USD, TCC Group mua lại Metro Cash Carry Việt Nam với giá gần 800 triệu USD, ThaiBev mua Sabeco với giá xấp xỉ 5 tỷ USD, FN Dairy Investments sở hữu gần 25% cổ phần Vinamilk đã biến người Thái thành một "ông chủ" lớn trong mạng lưới phân phối của Việt Nam.

Dòng tiền tiêu dùng của người Việt hàng ngày đang âm thầm chảy về túi các ông chủ người Thái, biến chúng ta thành những người làm giàu cho nước bạn trên chính đất nước mình.

DỰ TRỮ NGOẠI HỐI VÀ CHIẾN THẮNG SÂN CỎ

Từ ký ức “đau đớn” về cuộc khủng hoảng năm 1997, Thái Lan đã kiên trì xây dựng "pháo đài" ngoại hối lên tới 300 tỷ USD (tương đương 10 tháng nhập khẩu) trong khi chúng ta vẫn dao động quanh ngưỡng tối thiểu theo chuẩn IMF.

Nền tảng giúp Thái Lan duy trì dự trữ ngoại hối lớn chính là khả năng tối ưu hóa dòng ngoại tệ thực ròng: nhờ tỷ lệ nội địa hóa cao, họ giữ lại được phần lớn giá trị thặng dư trong chuỗi xuất khẩu thay vì để dòng ngoại tệ chảy ra nước ngoài qua nhập khẩu linh kiện hoặc trở thành lợi nhuận của các tập đoàn đa quốc gia.

Nghịch lý nằm ở chỗ, chúng ta dễ dàng bùng nổ hân hoan sau một trận bóng đá thắng Thái Lan nhưng lại hoàn toàn thờ ơ trước việc đang bị dẫn rất sâu trên mặt trận tích lũy.

Thắng lợi sân cỏ hay thứ hạng FIFA là liều “doping tinh thần” ngắn hạn nhưng không giúp ổn định tỷ giá, cũng không thể tạo nên “tấm khiên” chống đỡ cho quốc gia trước những biến động khó lường về tiền tệ cũng như cung cấp nguồn lực ngoại tệ đầu tư vào các lĩnh vực trọng yếu và công nghệ.

Từ sự so sánh trên một số lĩnh vực với Thái Lan một cách kỹ càng, Việt Nam cần nhìn lại để thay đổi tư duy và cách làm từ tập trung vào "số lượng" sang "hiệu suất và chất lượng", từ gia công sang nội địa hóa và tham gia sâu vào chuỗi cung ứng.

Đã đến lúc gạt bỏ những niềm tự hào về số lượng để bồi đắp nội lực thực chất. Nếu không, chúng ta sẽ vẫn là quốc gia năng động bậc nhất Đông Nam Á nhưng khả năng tích lũy vẫn xếp sau rất xa các nước láng giềng.

(*)Hồng Hà- chuyên gia độc lập.

- Hồng Hà*

Categories: The Latest News

Bảo đảm nguồn cung xăng dầu trên cao tốc dịp Tết

Thời báo kinh tế Việt Nam - Mon, 02/16/2026 - 09:41
Trước nguy cơ gián đoạn nguồn cung nhiên liệu trên cao tốc TP. Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây dịp Tết Nguyên đán 2026, tỉnh Đồng Nai đề nghị TP. Hồ Chí Minh và Lâm Đồng phối hợp điều tiết nguồn hàng, tổ chức các điểm cung ứng bổ sung...

Trước nguy cơ thiếu hụt nguồn cung nhiên liệu trên tuyến cao tốc TP. Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây trong giai đoạn cao điểm Tết Nguyên đán 2026, Sở Công Thương tỉnh Đồng Nai vừa có văn bản đề nghị Sở Công Thương TP. Hồ Chí Minh và Sở Công Thương tỉnh Lâm Đồng phối hợp triển khai các giải pháp hỗ trợ cung ứng bổ sung xăng dầu cho khu vực này.

Động thái trên được thực hiện trên cơ sở các văn bản chỉ đạo của Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương), gồm công văn số 886 ngày 9/2/2026 và công văn số 313 ngày 4/2/2026, liên quan đến việc triển khai các giải pháp bảo đảm nguồn cung nhiên liệu tại hai trạm dừng nghỉ trên tuyến cao tốc TP. Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây.

Theo Sở Công Thương tỉnh Đồng Nai, hiện hai cửa hàng xăng dầu tại Trạm dừng nghỉ Km41+100 trên địa bàn tỉnh đang tạm ngừng hoạt động do phát sinh tranh chấp dân sự giữa các bên liên quan đến chủ thể kinh doanh.

Việc gián đoạn hoạt động của các cửa hàng này làm gia tăng nguy cơ thiếu nguồn tiếp nhiên liệu cho phương tiện lưu thông trên tuyến, nhất là trong bối cảnh nhu cầu đi lại dự báo tăng mạnh vào dịp Tết Nguyên đán.

Trước tình hình trên, nhằm bảo đảm nguồn cung xăng dầu thông suốt, phục vụ nhu cầu đi lại của người dân, hoạt động vận tải hàng hóa cũng như bảo đảm an toàn giao thông, Sở Công Thương tỉnh Đồng Nai đề nghị các địa phương liên quan phối hợp triển khai đồng bộ nhiều giải pháp điều tiết nguồn hàng.

Cụ thể, Sở Công Thương TP. Hồ Chí Minh và tỉnh Lâm Đồng được đề nghị chỉ đạo các thương nhân đầu mối và thương nhân phân phối xăng dầu chủ động cân đối nguồn cung, điều chỉnh sản lượng hợp lý để hỗ trợ cho các cửa hàng bán lẻ tại khu vực giáp ranh và các tuyến đường lân cận cao tốc.

Đồng thời, các đơn vị cần tạo điều kiện thuận lợi trong công tác vận chuyển, giao nhận nhằm kịp thời bổ sung sản lượng xăng dầu khi phát sinh nhu cầu hỗ trợ đột xuất.

Song song với việc bảo đảm nguồn hàng, các địa phương cũng được đề nghị phối hợp tổ chức các điểm cung ứng thay thế nhằm giảm áp lực cho tuyến cao tốc.

Hệ thống cửa hàng xăng dầu dọc các tuyến kết nối lên xuống cao tốc cần tăng cường thông tin hướng dẫn, giúp phương tiện chủ động tiếp nhiên liệu tại các điểm lân cận trước khi di chuyển vào tuyến chính.

Đồng thời, Sở Công Thương tỉnh Đồng Nai cũng đề nghị đẩy mạnh công tác truyền thông trên các phương tiện thông tin đại chúng về tình hình cung ứng xăng dầu tại khu vực cao tốc TP. Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây. Qua đó, khuyến nghị doanh nghiệp vận tải và người dân chủ động xây dựng kế hoạch tiếp nhiên liệu phù hợp trước khi lưu thông nhằm hạn chế rủi ro phát sinh.

Trong văn bản gửi các địa phương, Sở Công Thương tỉnh Đồng Nai nhấn mạnh việc hai cửa hàng xăng dầu tại Trạm dừng nghỉ Km41+100 tạm ngưng hoạt động có thể khiến các phương tiện rơi vào thế bị động nếu không có phương án điều tiết kịp thời.

Vì vậy, sự phối hợp chặt chẽ giữa các địa phương được xem là yếu tố then chốt nhằm bảo đảm nguồn cung xăng dầu ổn định, đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân và hoạt động vận tải trên tuyến cao tốc trọng điểm phía Nam trong cao điểm Tết Nguyên đán 2026.

-Minh Huy

Categories: The Latest News

USD, yên Nhật và franc Thụy Sỹ có còn là “vịnh tránh bão”?

Thời báo kinh tế Việt Nam - Mon, 02/16/2026 - 09:40
Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đầy biến động, vị thế “hầm trú ẩn” truyền thống của ba đồng tiền gồm USD, yên Nhật và franc Thụy Sỹ đang có sự thay đổi đáng kể...

Trước kia, nhà đầu tư thường tìm đến những đồng tiền này để bảo vệ giá trị tài sản trong thời kỳ bất ổn địa chính trị hoặc kinh tế. Nhưng trong thời gian gần đây, chính các đồng tiền này cũng đã trải qua những biến động không nhỏ.

ĐỊA VỊ CỦA USD BỊ NGHI NGỜ

Đồng USD - đồng tiền dự trữ của thế giới - đã mất giá mạnh trong năm 2025 và xu hướng đi xuống này tiếp tục từ đầu năm 2026 tới nay. Nguyên nhân chính khiến USD trượt dốc là chính sách thương mại không ổn định của Tổng thống Mỹ Donald Trump, đặc biệt là việc ông thường xuyên có những động thái áp rồi rút bỏ thuế quan một cách đột ngột.

Sự bất định về thuế quan đã dẫn đến một làn sóng bán tháo tài sản Mỹ, bao gồm cả đồng USD. Tuy nhiên, ngân hàng phục vụ tư nhân Thụy Sỹ Julius Baer đã chỉ ra rằng các chính sách thương mại thất thường chỉ là một trong những nguyên nhân gây ra khó khăn cho bạc xanh.

Một nguyên nhân khác phải kể đến là đạo luật giảm thuế và chi tiêu khổng lồ “lớn lao, đẹp đẽ” (OBBBA) của ông Trump. Đạo luật này đã đặt Mỹ vào một quỹ đạo nợ công không bền vững.

Ngoài ra, áp lực của ông Trump đối với Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang (Fed) Jerome Powell cũng làm suy yếu niềm tin của các nhà đầu tư vào đồng USD.

Chỉ số Dollar Index theo dõi giá trị của USD so với một rổ các đồng tiền chủ chốt khác, đã sụt 1,3% vào ngày 29/1 sau khi ông Trump tuyên bố đồng USD đang "làm rất tốt" khi ông được hỏi về sự mất giá của đồng tiền này.

Đó là mức giảm mạnh nhất trong một ngày của chỉ số này kể từ khi ông Trump lần đầu tiên công bố kế hoạch thuế quan đối ứng vào đầu tháng 4/2025.

Diễn biến chỉ số Dollar Index trong 1 năm trở lại đây - Nguồn: CNBC.

Trước đó, Dollar Index đã giảm 9,37% trong năm 2025. Tính từ đầu năm 2026 tới nay, chỉ số đã giảm thêm 1,4%, về dưới mức 97 điểm.

Trong một báo cáo vào tuần vừa rồi, ông George Saravelos - trưởng bộ phận nghiên cứu ngoại hối tại ngân hàng Deutsche Bank - đã gọi vị thế trú ẩn an toàn của đồng USD là "chuyện hoang đường”, phản bác quan niệm rằng đồng USD luôn tăng giá trong thời kỳ rủi ro. Ông chỉ ra rằng mối quan hệ trái chiều giữa đồng USD và chỉ số chứng khoán Mỹ SP 500 đã không còn chặt chẽ như trước đây.

ÁP LỰC MẤT GIÁ ĐỒNG YÊN TỪ CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA

Đồng yên Nhật cũng đã trải qua những biến động mạnh mẽ trong năm 2025, khi những đồn đoán về sự can thiệp của Chính phủ Nhật Bản vào thị trường ngoại hối nhằm bảo vệ đồng nội tệ thường xuyên rộ lên.

Đầu năm ngoái, tỷ giá yên ở mức khoảng 156 yên đổi 1 USD. Sau đó, đồng tiền này mạnh lên khi Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) phát tín hiệu có thể tiếp tục tăng lãi suất. Tuy nhiên, trong quý 2 và quý 3/2025, đồng yên vẫn chỉ dao động quanh vùng 150 yên đổi 1 USD.

Đồng yên lại suy yếu nhanh từ tháng 10/2025, sau khi Thủ tướng Sanae Takaichi nhậm chức với chính sách tài khóa mở rộng - chất xúc tác dẫn đến việc bán tháo đồng tiền này. Kể từ khi bà Takaichi nhậm chức cho tới ngày 23/1, đồng yên đã mất giá 5,9% so với đồng USD.

Sau đó, đồng yên tăng giá mạnh khi có tin Fed chi nhánh New York đã tiến hành kiểm tra tỷ giá USD/yên - một động thái mà thị trường cho rằng có thể dẫn tới việc nhà chức trách Mỹ và Nhật Bản phối hợp can thiệp vào thị trường ngoại hối để vực dậy đồng yên. Đợt phục hồi này đưa yên lên mức khoảng 152 yên đổi 1 USD.

Diễn biến tỷ giá USD/yên trong 1 năm trở lại đây. Đơn vị: yên/USD -  Nguồn: CNBC.

Từ mức này, đồng yên lại quay đầu giảm giá, rớt về gần ngưỡng 157 yên đổi 1 USD trước cuộc bầu cử Hạ viện Nhật Bản hôm 8/2. Nhưng sau cuộc bầu cử này, với kết quả là chiến thắng áp đảo thuộc về Đảng Dân chủ Tự do (LDP) cầm quyền, đồng yên đã bật tăng trở lại. Sáng nay (16/2), đồng yên giao dịch ở mức hơn 153 yên đổi 1 USD.

Các nhà phân tích của ngân hàng Citi nói rằng khó có chuyện yên mất giá quá mức 160 yên đổi 1 USD, vì một mức tỷ giá như vậy có thể dẫn tới việc nhà chức trách Nhật Bản hoặc Mỹ can thiệp vào thị trường.

FRANC THỤY SỸ GIỮ VỮNG VỊ THẾ HẦM TRÚ ẨN

Trái ngược với đồng USD và yên Nhật, đồng franc Thụy Sỹ đã giữ vững giá trị, thậm chí còn tăng mạnh trong năm ngoái và năm nay. Nền kinh tế của Thụy Sỹ không lớn, nhưng sự ổn định chính trị, mức nợ thấp và sự đa dạng của nền kinh tế nước này đã đưa franc tới vị thế một “hầm trú ẩn”. Xu hướng tìm đến các tài sản an toàn của nhà đầu tư trên toàn cầu từ năm ngoái tới nay đã thúc đẩy franc tăng giá mạnh.

Trong năm 2025, đồng franc đã tăng gần 13% so với đồng USD. Xu hướng tăng này tiếp tục từ đầu năm 2026 tới nay, đưa franc đạt mức cao nhất trong 11 năm so với USD. Ngoài ra, franc cũng đạt mức cao nhất so với đồng euro trong tháng 2 này.

Tuy nhiên, sự mạnh lên của đồng franc cũng gây ra những thách thức cho Thụy Sỹ, một quốc gia có lạm phát thấp và nền kinh tế phụ thuộc vào xuất khẩu. Xu hướng mạnh lên của đồng franc có thể gây áp lực giảm phát thêm cho nền kinh tế dựa vào xuất khẩu của Thụy Sỹ.

Lạm phát của Thụy Sỹ chỉ ở mức 0,1%, và Ngân hàng Trung ương Thụy Sỹ (SNB) đang cố gắng tránh việc tái áp dụng chính sách lãi suất âm - một chính sách không được ưa chuộng mà cơ quan này đã phải áp dụng trong thời gian từ năm 2015 đến 2022 để hãm đà tăng của đồng nội tệ và kích thích lạm phát.

Trước đây, giới chức Thụy Sỹ đã từng có những đợt can thiệp vào thị trường ngoại hối bằng cách bán đồng franc và mua các đồng tiền ngoại tệ để làm suy yếu đồng nội tệ. Tuy nhiên, phương án này có nhiều rủi ro ở thời điểm hiện tại, đặc biệt khi chính quyền Tổng thống Trump đã từng phản đối các hành động can thiệp của SNB.

Diễn biến tỷ giá USD/franc trong 1 năm trở lại đây. Đơn vị: franc/USD - Nguồn: CNBC.

Chủ tịch SNB Martin Schlegel đã tuyên bố rằng cơ quan này sẵn sàng can thiệp vào thị trường ngoại hối nếu cần thiết. Các nhà kinh tế tại ngân hàng Thụy Sỹ UBS dự báo đồng franc sẽ mất giá thêm khoảng 2% so với đồng USD trong thời gian từ nay cuối năm, nhưng cũng cho rằng khả năng SNB phản ứng mạnh với sự mất giá đó của đồng nội tệ chỉ ở mức hạn chế.

“Các đơn can thiệp rời rạc có thể được tiến hành, nhưng hành động trên diện rộng có khả năng chỉ ở mức thấp. Theo quan điểm của chúng tôi, đó là bởi rủi ro lạm phát của Thụy Sỹ chỉ ở mức thấp, triển vọng tăng trưởng kinh tế toàn cầu hiện tại là lạc quan, và đồng franc chỉ được định giá cao hơn một chút so với giá trị thực”, một báo cáo của UBS nhận định.

Theo hãng tin CNBC, giới phân tích cho rằng trong bối cảnh hiện tại, đồng franc Thụy Sỹ đã củng cố vị thế đồng tiền trú ẩn an toàn hàng đầu, trong khi đồng USD và yên Nhật đã mất đi phần nào sức hấp dẫn do tác động từ các chính sách kinh tế của Mỹ và Nhật Bản.

Các nhà phân tích như Matthew Ryan từ Ebury và Lee Hardman từ ngân hàng Nhật Bản MUFG đều đồng ý rằng sức hấp dẫn của đồng yên và USD đều đã suy giảm, trong khi đồng franc Thụy Sỹ đã chứng tỏ là nơi lưu giữ giá trị tốt nhất trong số các đồng tiền G10.

-An Huy

Categories: The Latest News

Các hãng ô tô Nhật Bản thiệt hại hơn 13 tỷ USD vì thuế quan của Mỹ

Thời báo kinh tế Việt Nam - Mon, 02/16/2026 - 09:39
7 hãng xe Nhật Bản ghi nhận thiệt hại lợi nhuận lớn do thuế quan của Mỹ...

Theo báo cáo kết quả kinh doanh mới nhất của 7 hãng xe lớn Nhật Bản gồm Toyota Motor, Honda Motor, Nissan Motor, Subaru, Mazda Motor, Suzuki Motor và Mitsubishi Motors, trong 9 tháng cuối năm 2025, thuế quan của chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump đã làm giảm lợi nhuận của nhóm này khoảng 2,1 nghìn tỷ yên, tương đương 13,7 tỷ USD.

Khi công bố kết quả kinh doanh quý gần đây, cả 7 hãng xe đều cho biết thuế quan gây thiệt hại lợi nhuận mạnh hơn dự kiến. Chủ tịch Mitsubishi Motors Takao Kato nhận xét thuế quan của Mỹ là “những cơn gió ngược cực mạnh” đối với hãng.

Từ tháng 5/2025, Mỹ nâng thuế quan với ô tô nhập khẩu từ Nhật Bản lên 27,5%. Đến tháng 9, mức thuế được hạ xuống 15% nhưng vẫn cao gấp 6 lần mức 2,5% ban đầu.

Trong giai đoạn tháng 4-12 năm ngoái, 7 hãng xe lớn Nhật Bản ghi nhận tổng lợi nhuận hoạt động 4,3 nghìn tỷ yên, giảm 28% so với cùng kỳ năm trước. Từng hãng đều chứng kiến lợi nhuận suy yếu, riêng Mazda và Nissan thậm chí chuyển sang trạng thái thua lỗ. Mazda chịu tác động nặng từ thuế quan, trong khi Nissan đang phải “thắt lưng buộc bụng” để phục vụ quá trình tái cơ cấu.

Thông thường, các hãng xe nộp thuế quan khi xuất khẩu xe sang các công ty con phụ trách phân phối tại Mỹ. Khi không thể chuyển phần chi phí này vào giá bán, phần lợi nhuận sẽ bị bào mòn.

Với Mazda, thị trường Mỹ đóng góp khoảng 30% doanh số toàn cầu. Trong 8 tháng cuối năm, thuế quan làm phát sinh chi phí ròng 119,2 tỷ yên, góp phần khiến hãng chịu lỗ 23,1 tỷ yên. Mazda vẫn ghi nhận lãi hoạt động 3 tháng cuối năm nhờ cắt giảm chi phí và một số biện pháp khác, nhưng theo giám đốc tài chính Jeffrey Guyton, sự cải thiện này chưa đủ để bù cho phần suy giảm trong giai đoạn tháng 4-9.

Với Subaru, thị trường Mỹ chiếm khoảng 70% doanh số toàn cầu. Do xe nhập từ Nhật Bản chiếm khoảng một nửa doanh số tại Mỹ, Subaru ước tính thuế quan làm giảm lợi nhuận 216,6 tỷ yên trong 9 tháng cuối năm ngoái. Theo đó, lợi nhuận hoạt động của hãng sụt 82%, còn 66,2 tỷ yên.

Với Toyota, doanh số xe lai tại Mỹ tăng mạnh giúp hạn chế phần nào tác động tiêu cực, nhưng lợi nhuận hoạt động trong 9 tháng vẫn giảm 13% xuống 3,19 nghìn tỷ yên. Toyota cho biết thuế quan làm giảm lợi nhuận khoảng 1,2 nghìn tỷ yên.

Đồng yên mạnh lên cũng gây sức ép với 7 hãng xe, gồm cả Honda và Suzuki. Trong giai đoạn tháng 4-12/2025, tỷ giá bình quân ở mức 149 yên đổi 1 USD, mạnh hơn khoảng 4 yên so với một năm trước.

Theo các hãng xe, đồng yên mạnh đã làm giảm hơn 530 tỷ yên lợi nhuận hoạt động của nhóm 7 hãng xe. Sự kết hợp giữa thuế quan Mỹ và tỷ giá bất lợi khiến lợi nhuận ròng của nhóm giảm 36% xuống 3,6 nghìn tỷ yên, đánh dấu năm thứ hai liên tiếp đi xuống.

Trong năm tài chính hiện tại, kết thúc ngày 31/3/2026, 7 hãng xe dự báo thuế quan sẽ làm giảm lợi nhuận gần 2,5 nghìn tỷ yên. Con số này nhìn chung không đổi so với ước tính công bố hồi tháng 11, nhưng dự báo mới nhất có sự điều chỉnh giữa các hãng.

Trước áp lực chi phí tăng, các nhà sản xuất ô tô này đang chạy đua bảo vệ biên lợi nhuận bằng cách cắt giảm chi phí và xem xét lại chính sách giá.

Tổng doanh số toàn cầu của nhóm được dự báo đạt 23,38 triệu xe trong năm tài khóa hiện tại, giảm 1% so với năm trước. Một phần nguyên nhân đến từ việc cắt giảm sản lượng do thiếu con chip bán dẫn, cùng nhu cầu suy yếu tại Đông Nam Á, đặc biệt là Thái Lan.

Toyota và Suzuki là hai trường hợp đi ngược xu hướng. Toyota hưởng lợi nhờ xe lai bán chạy tại Mỹ, còn doanh số của Suzuki được hỗ trợ bởi thuế quan của Ấn Độ giảm.

Một số rủi ro mới cũng xuất hiện, như lo ngại giá con chip bán dẫn tăng do nhu cầu lớn từ trí tuệ nhân tạo (AI).

“Chúng tôi đang đánh giá tình hình và triển khai các biện pháp ứng phó”, ông Shinsuke Toda, giám đốc tài chính của Subaru, chia sẻ với tờ báo Nikkei Asia.

Tuy nhiên, tỷ giá có thể mang lại phần nào hỗ trợ trong quý cuối của năm tài chính. Đồng yên đã tiến sát mốc 160 yên đổi 1 USD vào đầu năm nay, qua đó có thể giúp các hãng xe cải thiện phần nào lợi nhuận, dù áp lực vẫn còn lớn.

-Đức Anh

Categories: The Latest News

Tổng thống Trump có thể nới lỏng thuế quan với nhôm và thép

Thời báo kinh tế Việt Nam - Mon, 02/16/2026 - 09:38
Theo nguồn tin của tờ báo Financial Times, Tổng thống Mỹ Donald Trump dự kiến giảm bớt một phần thuế quan với các sản phẩm thép và nhôm, trong bối cảnh khủng hoảng chi phí sinh hoạt làm tỷ lệ ủng hộ đối với ông đi xuống trước thềm bầu cử Quốc hội giữa nhiệm kỳ vào tháng 11...

Mùa hè năm ngoái, ông Trump áp thuế quan lên tới 50% với thép và nhôm nhập khẩu vào Mỹ. Sau đó, Nhà Trắng mở rộng phạm vi áp dụng thuế quan này sang nhiều mặt hàng làm từ nhôm và thép như máy giặt và lò nướng.

Theo ba nguồn tin thân cận của Financial Times, chính quyền ông Trump đang rà soát danh mục sản phẩm chịu thuế quan liên quan tới nhôm và thép, dự kiến miễn trừ một số mặt hàng và dừng kế hoạch mở rộng danh sách.

Thay vào đó, Nhà Trắng muốn tiến hành các cuộc điều tra với lý do an ninh quốc gia theo hướng có trọng tâm hơn, tập trung vào từng nhóm hàng cụ thể.

Các nguồn tin cho biết một số quan chức tại Bộ Thương mại Mỹ và Văn phòng Đại diện Thương mại Mỹ cho rằng thuế quan đang gây thiệt hại cho người tiêu dùng vì đẩy giá tăng lên đối với nhiều sản phẩm.

Loạt chính sách áp thuế quan mới của ông Trump đã đẩy mức thuế của Mỹ lên cao nhất kể từ trước Chiến tranh thế giới thứ hai. Dù vậy, trước làn sóng bức xúc của cử tri về chi phí sinh hoạt, ông đã nhiều lần thu hẹp hoặc nới lỏng một số loại thuế quan.

Theo khảo sát của Pew Research Center công bố đầu tháng này, hơn 70% người trưởng thành ở Mỹ đánh giá điều kiện kinh tế hiện ở mức “tạm ổn” hoặc “tệ”. Khoảng 52% người Mỹ cho rằng các chính sách kinh tế của ông Trump khiến tình hình xấu đi.

Chính quyền ông Trump trước đó đã đưa ra một số ngoại lệ thuế quan với các mặt hàng thực phẩm phổ biến nhằm kiềm chế lạm phát giá thực phẩm. Washington cũng tạm xuống thang căng thẳng với Trung Quốc sau khi Bắc Kinh trả đũa bằng một loạt biện pháp thuế quan.

Thuế quan với thép và nhôm là một trong những biện pháp được triển khai sớm nhất trong nhiệm kỳ tổng thống thứ hai của ông Trump. Việc nới lỏng thuế quan diễn ra khi nhiều nhà kinh tế cho rằng người tiêu dùng Mỹ mới là bên gánh phần lớn chi phí tăng thêm do thuế quan, trái với lập luận của ông Trump rằng doanh nghiệp nước ngoài sẽ chịu phần lớn gánh nặng.

Cuộc chiến thương mại của ông Trump cũng vấp phản ứng chính trị, ngay cả từ một số nghị sĩ Đảng Cộng hòa. Thứ Tư tuần trước, một số nghị sĩ Đảng Cộng hòa đã cùng phe Đảng Dân chủ bỏ phiếu tại Hạ viện Mỹ để đảo ngược thuế quan của ông Trump với Canada.

Điều này cho thấy ngay cả trong nội bộ Đảng Cộng hòa cũng có ý kiến phản đối chính sách thương mại nhằm vào đối tác thương mại lớn thứ hai của Mỹ.

Dù vậy, ông Trump được dự báo sẽ phủ quyết nghị quyết này, đồng nghĩa thuế quan với Canada sẽ vẫn được giữ nguyên.

Một số nghị sĩ Đảng Cộng hòa đang đối mặt nhiều khó khăn trong cuộc đua trước thềm bầu cử giữa nhiệm kỳ khi cử tri ngày càng lo ngại về việc thuế quan tác động tiêu cực doanh nghiệp nhỏ và người tiêu dùng.

Theo các nhà phân tích, động thái mới nhất liên quan thuế quan với nhôm và thép có thể giúp gỡ nút thắt cho quy trình vận động hành lang tại Washington, vốn ngày càng phức tạp kể từ khi ông Trump áp các mức thuế này.

Lâu nay, chính phủ Mỹ cho phép doanh nghiệp Mỹ đề nghị bổ sung thêm các sản phẩm làm từ nhôm và thép do đối thủ nước ngoài sản xuất vào danh mục chịu thuế quan, thông qua “quy trình bổ sung danh mục”.

Quy trình này do Bộ Thương mại Mỹ phụ trách và thường chấp thuận các đề nghị từ doanh nghiệp trong nước, khi họ viện dẫn rủi ro an ninh quốc gia liên quan tới nhiều mặt hàng, trong đó có phụ tùng xe đạp.

Hệ quả là danh mục hàng gia dụng chịu thuế quan nhôm và thép ngày càng phình to, với mức thuế lên tới 50% tính theo phần hàm lượng kim loại trong sản phẩm. Một nguồn tin cho biết một số quan chức đánh giá cơ chế hiện tại “quá phức tạp để thực thi” và cần được đơn giản hóa.

Các nước như Anh, Mexico và Canada, cùng các quốc gia thành viên Liên minh châu Âu (EU), có thể được hưởng lợi nếu Mỹ nới lỏng thuế quan với các mặt hàng làm từ thép và nhôm.

Chia sẻ với Financial Times, một lãnh đạo doanh nghiệp châu Âu cho biết có doanh nghiệp đã xuất khẩu 4 container máy móc giống hệt nhau sang Mỹ nhưng lại bị áp 4 mức thuế khác nhau.

Lần gần nhất Bộ Thương mại Mỹ mở vòng đề xuất để doanh nghiệp Mỹ kiến nghị đưa một số nhà cung cấp nước ngoài vào diện chịu thuế quan là vào tháng 10/2025. Tuy nhiên, bộ này đã không kịp phê duyệt các đề xuất này trong thời hạn 60 ngày do chính mình đặt ra.

Trong vòng đề xuất này, một số nhà sản xuất Mỹ trong các lĩnh vực như nệm, khuôn làm bánh và xe đạp đã vận động hành lang để áp thêm thuế quan đối với doanh nghiệp nước ngoài.

“Thép không chỉ là một mặt hàng cơ bản, mà còn là một tài sản an ninh quốc gia. Vì vậy, chính phủ Mỹ cần phải duy trì thuế quan thép theo Mục 232 của Đạo luật Mở rộng Thương mại năm 1962 vì lý do an ninh quốc gia” ông Kevin Dempsey, Chủ tịch kiêm Giám đốc điều hành của Hiệp hội Sắt và Thép Mỹ (AISI), phát biểu.

Theo ông Dempsey, điều này là cần thiết để ngăn chặn tình trạng dư thừa công suất kích hoạt các làn sóng nhập khẩu hàng giá rẻ mới vào thị trường Mỹ, từ đó đe dọa nghiêm trọng an ninh quốc gia Mỹ và làm suy yếu ngành thép Mỹ.

-Ngọc Trang

Categories: The Latest News

Những “chiến binh hậu trường” của Interpol trong cuộc chiến với tội phạm mạng vũ khí hóa AI

Thời báo kinh tế Việt Nam - Mon, 02/16/2026 - 09:36
Từ email lừa đảo được viết hoàn hảo đến video deepfake giả mạo quan chức chính phủ, trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi căn bản cuộc chiến chống tội phạm mạng. Trong bối cảnh các tổ chức tội phạm vận hành như những tập đoàn đa quốc gia, Interpol cảnh báo thế giới đang bước vào một cuộc chạy đua công nghệ mang tính sống còn đối với an ninh kinh tế và an ninh quốc gia toàn cầu.

Tại các phòng chỉ huy công nghệ cao ở Singapore, các chuyên gia của Interpol đang âm thầm phân tích những khối dữ liệu khổng lồ nhằm ngăn chặn các cuộc tấn công ransomware, lừa đảo mạo danh và các chiến dịch tội phạm mạng quy mô lớn. Tuy nhiên, với sự trỗi dậy nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo, cuộc chiến này đang trở nên phức tạp và khó kiểm soát hơn bao giờ hết.

TRÍ TUỆ NHÂN TẠO (AI) THAY ĐỔI LUẬT CHƠI CỦA TỘI PHẠM MẠNG

Theo ông Neal Jetton, Giám đốc phụ trách tội phạm mạng của Interpol, việc tội phạm mạng “vũ khí hóa” trí tuệ nhân tạo là mối đe dọa lớn nhất mà cơ quan này đang chứng kiến hiện nay.

Các băng nhóm tội phạm đang tận dụng AI để tự động hóa quy trình tấn công, nâng cao độ thuyết phục của các chiến dịch lừa đảo và tăng quy mô hoạt động.

Công nghệ AI cho phép tội phạm tạo ra những email phishing gần như không có lỗi ngữ pháp, mô phỏng giọng nói và hình ảnh của các nhân vật nổi tiếng hoặc quan chức cấp cao để quảng bá các khoản đầu tư lừa đảo, đồng thời tạo ra các nội dung giả mạo với độ chân thực ngày càng cao.

Jetton cảnh báo rằng ngay cả những đối tượng có kỹ năng công nghệ thấp cũng có thể mua các công cụ hack và lừa đảo đóng gói sẵn trên dark web. Điều này làm giảm đáng kể rào cản gia nhập tội phạm mạng và mở rộng quy mô rủi ro cho người dùng toàn cầu, trong đó bất kỳ ai sở hữu smartphone đều có thể trở thành mục tiêu.

Ông cũng nhấn mạnh rằng điều khiến Interpol lo ngại nhất là “khối lượng khổng lồ” các cuộc tấn công mạng, vốn dự kiến sẽ tiếp tục gia tăng trong những năm tới.

Theo ông, điều quan trọng là nâng cao nhận thức của công chúng để họ hiểu rằng việc bị nhắm mục tiêu sẽ trở thành trạng thái bình thường trong kỷ nguyên số.

AFP được phép tham quan cơ sở chống tội phạm mạng đa chức năng của tổ chức, nơi các chuyên gia phân tích khối lượng dữ liệu khổng lồ. Ảnh: AFP

HỆ SINH THÁI TỘI PHẠM KIỂU TẬP ĐOÀN ĐA QUỐC GIA

Interpol nhận định các tổ chức tội phạm mạng ngày càng vận hành giống như các tập đoàn đa quốc gia, với cấu trúc phân cấp, chuyên môn hóa và chuỗi giá trị hoàn chỉnh. Trong hệ sinh thái này, các vai trò được phân tách rõ ràng từ phát triển phần mềm độc hại, thu thập dữ liệu, lừa đảo xã hội đến rửa tiền bằng tiền mã hóa.

Ông Christian Heggen, điều phối viên Đơn vị Tình báo An ninh mạng của Interpol, cho biết họ đang đối mặt với một “hệ sinh thái tội phạm mạng lớn” với nhiều phương thức tấn công khác nhau. Theo ông, đây là một thị trường chợ đen toàn cầu, nơi dữ liệu bị đánh cắp, phần mềm độc hại và dịch vụ gián điệp được mua bán như hàng hóa.

Để đối phó với thách thức này, Interpol đã tăng cường hợp tác với các doanh nghiệp tư nhân trong lĩnh vực tài chính, an ninh mạng và phân tích tiền mã hóa nhằm theo dõi dòng tiền và nhận diện các mô hình tấn công mới.

Các nhà phân tích tình báo tại Singapore rà soát hàng triệu điểm dữ liệu từ địa chỉ web, biến thể mã độc đến bí danh hacker nhằm tìm kiếm manh mối phục vụ điều tra.

Cơ sở của Interpol tại Singapore là một phần của Tổ hợp Đổi mới Toàn cầu, trụ sở thứ hai của tổ chức sau Lyon (Pháp), và là nơi đặt Trung tâm Hợp nhất An ninh mạng - đầu não chia sẻ tình báo về các mối đe dọa trực tuyến giữa 196 quốc gia thành viên.

Tại đây còn có các đơn vị nghiên cứu mối đe dọa mới nổi, phòng thí nghiệm pháp y số và trung tâm chỉ huy - điều phối theo thời gian thực trong khung giờ châu Á.

Trong năm qua, Interpol đã điều phối Chiến dịch Secure tại châu Á, huy động 26 quốc gia để vô hiệu hóa hơn 20.000 địa chỉ IP và tên miền độc hại liên quan đến các băng nhóm đánh cắp dữ liệu.

Tại châu Phi, Chiến dịch Serengeti 2.0 dẫn tới việc bắt giữ 1.209 tội phạm mạng nhắm vào gần 88.000 nạn nhân, thu hồi hơn 97 triệu USD và tháo dỡ hơn 11.000 hạ tầng độc hại.

Interpol cũng hỗ trợ các quốc gia Đông Nam Á trong chiến dịch trấn áp các trung tâm lừa đảo trực tuyến thông qua chia sẻ tình báo và phát triển nguồn lực.

DEEPFAKE, TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ VÀ CUỘC CHIẾN CÔNG NGHỆ MỚI

Theo ông Toshinobu Yasuhira, Giám đốc Trung tâm Đổi mới của Interpol, công nghệ deepfake đang trở thành một trong những thách thức an ninh lớn nhất hiện nay. Tuy nhiên, mối lo lớn hơn nằm ở tương lai, khi trí tuệ nhân tạo có thể hành động vượt ngoài sự kiểm soát của con người.

Câu hỏi về trách nhiệm pháp lý đang đặt ra cho các nhà hoạch định chính sách toàn cầu: nên truy cứu trách nhiệm người lập trình, người sử dụng hay chính hệ thống AI? Đây là vấn đề chưa có tiền lệ và đang đặt ra thách thức lớn cho khung quản trị công nghệ quốc tế.

Tại phòng thí nghiệm pháp y số, các chuyên gia đang phát triển và thử nghiệm việc sử dụng thực tế ảo, thực tế tăng cường và công nghệ lượng tử nhằm nâng cao khả năng phân tích dữ liệu và mô phỏng các kịch bản tấn công mạng.

Theo ông Paulo Noronha, chuyên gia pháp y số của Cảnh sát Liên bang Brazil, mục tiêu là luôn đi trước tội phạm một bước trong cuộc chạy đua công nghệ liên tục tăng tốc.

Đối với các chuyên gia Interpol, cuộc chiến chống tội phạm mạng hiếm khi xuất hiện trước công chúng nhưng lại đóng vai trò then chốt đối với an ninh kinh tế và an ninh quốc gia toàn cầu.

Trong bối cảnh nền kinh tế số ngày càng phụ thuộc vào dữ liệu và hạ tầng kỹ thuật số, tội phạm mạng không chỉ gây thiệt hại tài chính mà còn đe dọa niềm tin thị trường, hệ thống tài chính và ổn định xã hội.

Cuộc chiến giữa cơ quan thực thi pháp luật và tội phạm mạng được ví như trò chơi “mèo vờn chuột” không hồi kết. Tuy nhiên, với sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, cuộc chơi này đang bước sang một cấp độ hoàn toàn mới, nơi công nghệ vừa là lá chắn bảo vệ, vừa là vũ khí tấn công.

AFP, Japan Today-Trọng Hoàng

Categories: The Latest News

Steel industry faces challenges amid domestic focus shift

Buisness News │ VietnamNews - Mon, 02/16/2026 - 08:19
The strategic shift, prompted by difficult export conditions and increasing trade defence measures, aims to capitalise on previously overlooked growth segments within the domestic market.

Hành trình 30 năm tâm huyết của “Vua nút áo” Việt

Thời báo kinh tế Việt Nam - Mon, 02/16/2026 - 08:15
Ngành thời trang thay đổi “gu” chừng 10% mỗi năm, xu hướng mùa mốt là một trò chơi đủ làm cho cả thế giới đảo điên. Riêng phụ kiện nút áo, tính dịch chuyển về “thẩm mỹ” tuy không nhiều nhưng luôn thử thách cả đôi tay lẫn khối óc người sản xuất.

Tốt nghiệp khoa Công trình thủy Trường Đại học Bách khoa TP.Hồ Chí Minh, ông ra trường và được nhận làm tại Sở Thủy lợi Sông Bé (trước đây). Vậy cơ duyên nào đưa ông tới với những chiếc nút áo?

Thập niên 1980, đời sống kinh tế của đất nước mình còn nhiều khó khăn. Sau khi lập gia đình, đặc biệt là lúc có hai con gái sinh đôi, áp lực kinh tế buộc tôi phải đưa ra một quyết định lớn: rời công việc ổn định để về Sài Gòn tìm hướng đi mới, gần nhà hơn và có cơ hội phát triển hơn.

Thời gian đầu, tôi học thêm tiếng Anh, sau đó thi đậu vào lớp Nhật ngữ có học bổng. Sau đó, tôi vào làm việc cho một công ty Nhật Bản chuyên sản xuất nút áo từ vỏ ốc, đảm nhận vai trò phiên dịch tiếng Nhật, rồi phó giám đốc công ty. Ba năm làm việc tại đây giúp tôi học hỏi được rất nhiều – từ kỹ thuật, quản lý đến tư duy sản xuất của người Nhật, đó chính là nền tảng cho con đường khởi nghiệp của tôi sau này.

Thuở ban đầu ấy, thị trường trong nước đón nhận sản phẩm nút áo vỏ ốc của ông như thế nào?

Khi làm việc trong công ty Nhật, tôi mới hiểu rõ giá trị của nút áo làm từ vỏ ốc – một sản phẩm cao cấp, thân thiện môi trường nhưng lúc đó ở Việt Nam gần như không ai biết, kể cả các doanh nghiệp may xuất khẩu. Khi khởi nghiệp, tôi nghĩ rất đơn giản: sản phẩm tốt thì doanh nghiệp sẽ dùng. Tôi trực tiếp mang mẫu đi chào hàng từ doanh nghiệp lớn đến nhỏ tại TP.Hồ Chí Minh. Nhưng hầu như tất cả đều còn xa lạ, nhiều nơi từ chối thẳng vì “không hiểu sản phẩm”.

Không thể trông chờ vào thị trường trong nước, tôi quay lại tìm những khách hàng nước ngoài quen biết trước đây. May mắn, có hai khách hàng đồng ý đặt hàng thử. Họ góp ý rất chi tiết, thậm chí bay sang tận nơi để chỉ vẽ từng công đoạn hoàn thiện sản phẩm. Có những hợp đồng ban đầu giá trị còn không bằng tiền điện thoại quốc tế họ gọi cho tôi trong quá trình làm việc, nhưng đó là những bài học vô giá mà tôi không bao giờ quên.

Mới nghe qua có vẻ giống đồ thủ công mỹ nghệ, nhưng những chiếc nút áo này thật ra là một sản phẩm công nghiệp, phải không thưa ông?

Nút áo làm từ vỏ ốc là sản phẩm từ nguyên liệu thiên nhiên, nhưng lại được sử dụng trong ngành may mặc cao cấp – nơi đòi hỏi độ chính xác của một sản phẩm công nghiệp: màu sắc, độ bóng, độ dày, hình dáng, đường kính lỗ… tất cả đều phải đồng nhất và tinh xảo. Chính vì vậy, để hoàn thiện một chiếc nút đạt chuẩn, phải trải qua trên dưới 20 công đoạn khác nhau, mỗi công đoạn đều đòi hỏi sự tỉ mỉ và kiểm soát nghiêm ngặt.

Tôi vốn xuất thân là dân kỹ thuật nên nhìn vào máy móc sản xuất cúc áo, tôi thấy không quá phức tạp. Trong khi nhìn những vỏ sò trắng ngà, mỗi vỏ trai ánh xà cừ tôi đều thấy rung động, như thể chúng đều ẩn chứa cuộc mưu sinh nhọc nhằn của người dân biển. Tôi nhập một số thiết bị từ Ý, sau đó tự điều chỉnh lại cho phù hợp, từ mũi kim, tốc độ chạy cho đến từng chi tiết vận hành. Làm thành công đơn hàng đầu, tôi được đối tác giới thiệu cho những doanh nghiệp khác. Tiếng lành cứ thế lan xa, sản phẩm Việt Nam bước ra thị trường thế giới.

Về giá thành, chúng ta không thể vượt qua các nhà sản xuất tại “công xưởng của thế giới” như Trung Quốc. Làm thế nào để những chiếc nút áo Tôn Văn được các đối tác lớn của ngành thời trang thế giới chấp nhận?

Ưu thế của Trung Quốc là năng suất và giá thành. Khi họ cạnh tranh bằng số lượng, chúng tôi chọn con đường cạnh tranh bằng chất lượng. Chúng tôi có phong cách quản lý nghiêm khắc và tinh thần chăm chút từng chi tiết, kể cả những phần khách hàng không nhìn thấy. Đội ngũ kỹ thuật được rèn luyện thói quen làm việc nghiêm túc đến mức có yêu cầu với chất lượng thấp hơn cũng không quen làm (cười).

Nhờ vậy, suốt 30 năm qua, khách hàng của Tôn Văn luôn gắn bó và tin tưởng. Có khách nói vui rằng: “Tôn Văn đã nhận làm thì có thể kê cao gối ngủ”. Đó thật sự là một niềm vui lớn của người sản xuất. Đối tác yêu cầu rất nhiều điều khắt khe, từ môi trường nuôi trồng, thiết bị máy móc, quy định sử dụng người lao động, không gian làm việc, chất nhuộm màu, tất cả đều cần giấy tờ hợp pháp đầy đủ. Tôi luôn nghĩ: Thế giới làm được, tại sao mình không?

Trong thế giới thời trang cao cấp, chiếc nút được thiết kế riêng với số lượng có hạn đôi khi trở thành “chữ ký” riêng biệt cho từng khách hàng…?

Đúng vậy, nhiều thương hiệu dùng nút áo như một cách nhận diện hoặc chống hàng giả. Lacoste luôn dùng nút vỏ ốc. Hugo Boss dùng nút bốn lỗ hình vuông. Van Laack dùng nút ba lỗ hình tam giác… Có một lần, tôi nhận được đơn đặt hàng từ đối tác Tây Ban Nha. Họ yêu cầu sản xuất cúc áo với lỗ xâu chỉ hình vuông, bốn lỗ. Nghe thì tưởng chừng đơn giản, nhưng thực tế lại là một “bài toán hóc búa”. Nguyên tắc khoan lỗ luôn cần mũi khoan tròn, nhọn mới có thể xuyên thủng nguyên liệu. Với hình vuông, mọi quy luật cơ khí thông thường gần như trở nên vô nghĩa.

Tôi phải tự mày mò, thử nghiệm đủ kiểu. Tốn kém nhiều, áp lực lớn. Cuối cùng, khi những chiếc cúc áo với lỗ vuông tinh xảo được khách hàng gật đầu, tôi cảm thấy đó là một chiến thắng. Không chỉ là thành công của một đơn hàng, mà còn là niềm kiêu hãnh của người thợ Việt.

Nhìn lại hành trình 30 năm qua với nhiều đổi mới của ngành phụ kiện sản xuất may mặc, ông nghĩ sao về tiềm năng sản xuất “chuẩn haute couture” ngay tại Việt Nam?

Tôi thấy có nhiều nước giàu lên nhờ sản xuất, đặc biệt là các doanh nghiệp gia đình tồn tại hàng trăm năm như ở Nhật Bản, Ý, Pháp. Ở Việt Nam, lĩnh vực sản xuất chưa nhận được sự quan tâm đúng mức, trong khi tay nghề thủ công bậc cao phát triển mạnh ở các làng nghề khắp đất nước. Tôi cho rằng sau này, khi đời sống tốt hơn, giáo dục và hạ tầng được cải thiện, Việt Nam hoàn toàn có thể thoát khỏi vai trò “điểm gia công” để trở thành một mắt xích giá trị cao trong chuỗi toàn cầu.

Với hàng hóa cao cấp, dù mỗi năm đều có cải tiến, ứng dụng công nghệ mới để nâng cao năng suất và chất lượng, nhưng bàn tay con người vẫn không thể thay thế. Người công nhân Việt Nam rất khéo tay. Dù không trực tiếp tham gia thiết kế, họ có thể “đọc vị” được ngôn ngữ của nhà thiết kế để tạo ra những sản phẩm đạt hoặc vượt mong đợi. Đó là sự đóng góp thầm lặng nhưng vô cùng quan trọng.

Ông có thích thú với tên gọi "vua cúc áo" Việt Nam mà mọi người hay gọi mình không?

Nhờ ứng dụng công nghệ, số lao động hiện có tại Tôn Văn đã giảm so với trước đây, nhưng điều kiện làm việc tốt hơn, công việc nhẹ nhàng hơn. Sản lượng vẫn duy trì khoảng 200.000 nút áo mỗi ngày. Điều đó làm tôi vui. Còn danh xưng “vua cúc áo” hay “trùm sò” chỉ là những cách gọi thân thương của bạn bè, đồng nghiệp. Việc đáng vui hơn nữa là các con tôi – Tôn Nữ Xuân Quyên và Tôn Thế Văn – chịu theo nghề cha. Thực tế là có nhiều doanh nghiệp lớn không chuyển giao được cho thế hệ sau, nên với tôi, đó là một may mắn.

Tôi thường căn dặn các con phải giữ trọn chữ tín, đặc biệt khi làm việc với đối tác nước ngoài. Ở họ, không có khái niệm “lý do”, chỉ có “giải pháp”. Tôi cũng hay nói với các con rằng quan điểm làm ăn của tôi chưa bao giờ thay đổi: Chỉ cần cố gắng làm tốt nhất, lợi nhuận sẽ tự tìm đến sau. Con đường này có thể khó hơn, chậm rãi hơn, nhưng tôi tin đó là cách duy nhất để giữ được trái tim mình bình yên trong từng thương vụ.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-

Categories: The Latest News

Chip mô phỏng não người, giúp mắt robot bắt chuyển động nhanh gấp 4 lần con người

Thời báo kinh tế Việt Nam - Mon, 02/16/2026 - 06:21
Trong các thử nghiệm mô phỏng lái xe và điều khiển cánh tay robot thực hiện nhiệm vụ, con chip mới giúp giảm khoảng 75% độ trễ xử lý. Đồng thời, độ chính xác theo dõi chuyển động trong các tình huống phức tạp cũng tăng gấp đôi so với phương pháp truyền thống...

Các nhà khoa học Trung Quốc vừa phát triển con chip mô phỏng thần kinh, lấy cảm hứng từ nhân gối bên (LGN) trong não bộ.

Con chip do nhóm nghiên cứu thuộc Đại học Beihang và Viện Công nghệ Bắc Kinh phát triển có khả năng phát hiện chuyển động nhanh gấp bốn lần mắt người. Đây được xem là bước tiến đáng chú ý trong lĩnh vực thị giác máy và robot tự hành.

LGN nằm giữa võng mạc và vỏ não thị giác, đóng vai trò như trạm trung chuyển đồng thời là bộ lọc thông tin. Nhờ đó, thị giác của con người có thể dồn năng lực xử lý vào những vật thể đang di chuyển nhanh hoặc thay đổi đột ngột.

Trong khi đó, phần lớn hệ thống thị giác robot hiện nay vẫn hoạt động theo cách truyền thống: camera ghi lại từng khung hình tĩnh, sau đó thuật toán phân tích sự thay đổi độ sáng giữa các khung hình để xác định chuyển động. Cách làm này ổn định nhưng chậm, bởi mỗi khung hình thường mất hơn nửa giây để xử lý.

Với các ứng dụng đòi hỏi phản ứng tức thì như xe tự lái chạy tốc độ cao, độ trễ chỉ tính bằng phần nhỏ của giây cũng có thể tạo ra rủi ro nghiêm trọng.

Để khắc phục hạn chế, nhóm nghiên cứu đã thiết kế một mô-đun thần kinh nhân tạo có khả năng phát hiện sự thay đổi ánh sáng theo thời gian thực, thay vì chờ xử lý từng khung hình. Nhờ vậy, hệ thống có thể tập trung năng lực tính toán vào những khu vực đang có chuyển động, giúp robot phản ứng nhanh và chính xác hơn.

Trong các thử nghiệm mô phỏng lái xe và điều khiển cánh tay robot thực hiện nhiệm vụ, con chip mới giúp giảm khoảng 75% độ trễ xử lý. Đồng thời, độ chính xác theo dõi chuyển động trong các tình huống phức tạp cũng tăng gấp đôi so với phương pháp truyền thống.

Nhóm nghiên cứu cho biết bằng cách đưa nguyên lý xử lý hình ảnh của não bộ vào thiết kế chip, họ đã đẩy tốc độ phân tích video vượt xa khả năng của con người.

Công nghệ này không chỉ có thể ứng dụng trong hệ thống tránh va chạm của xe tự hành hay theo dõi mục tiêu theo thời gian thực trên máy bay không người lái, mà còn mở ra khả năng để robot nhận biết và phản hồi ngay lập tức các cử chỉ của con người.

Tuy vậy, con chip vẫn phải dựa vào các thuật toán luồng quang học để tái tạo và diễn giải hình ảnh cuối cùng. Vì thế, hệ thống hiện vẫn gặp trở ngại trong môi trường có quá nhiều chuyển động diễn ra cùng lúc.

-Bạch Dương

Categories: The Latest News

Giữ hồn tranh làng Sình giữa nhịp sống hiện đại

Thời báo kinh tế Việt Nam - Mon, 02/16/2026 - 06:07
Không rực rỡ sắc màu, không cầu kỳ hình thức, mà âm thầm hiện diện như một phần quen thuộc của nếp sinh hoạt tâm linh. Từ những bãi bồi ven Sông Hương, một dòng tranh mộc mạc đã nuôi dưỡng đời sống tinh thần của cả một vùng đất...

Từ trung tâm thành phố Huế, xuôi theo dòng Sông Hương chừng 90km, con đường dẫn về phường Dương Nỗ dần rời xa phố xá. Ở khúc sông hiền hòa ấy, làng Sình – tên chữ là Lại Ân – nằm nép mình bên bãi bồi ven sông. Gió sông thổi qua những hàng tre, mang theo mùi phù sa và cả cảm giác bình yên rất riêng của một làng quê xứ Huế.

Người xưa gọi nơi này là Sình, có lẽ bởi vùng đất từng là sình lầy. Còn cái tên Lại Ân lại gợi nên một tầng nghĩa khác: “cậy nhờ ơn”, thể hiện lòng biết ơn của con người với tổ tiên, thần linh – những đấng được tin là che chở cho làng xóm, mùa màng, cuộc sống. Chỉ riêng cách đặt tên đã phần nào cho thấy đây là một ngôi làng sống nặng nghĩa với tín ngưỡng và đạo lý truyền đời.

Làng Sình là một trong những làng được hình thành khá sớm ở Đàng Trong. Nằm ven Sông Hương, đối diện là Thanh Hà – Bao Vinh, từng là cảng sông sầm uất dưới thời các chúa Nguyễn, làng vừa gần đế đô, vừa thuận lợi giao thương. Không chỉ vậy, nơi đây còn từng là trung tâm văn hóa của vùng Hóa Châu xưa, với chùa Sùng Hóa – một trong những ngôi chùa lớn của cả vùng. Trong không gian ấy, nghề làm tranh dân gian tín ngưỡng đã bén rễ, tồn tại bền bỉ cho đến hôm nay.

NHỮNG BỨC TRANH GỬI GẮM NIỀM TIN DÂN DÃ

Khác với tranh Đông Hồ hay Hàng Trống thường dùng để trang trí, tranh làng Sình ra đời để phục vụ đời sống tín ngưỡng. Người làng vẫn gọi nghề này bằng nhiều cái tên: nghề giấy, nghề bồi, nghề hồ điệp, nghề Sình. Dù gọi thế nào, thì cốt lõi vẫn là nghề làm tranh giấy để cúng tế, để gửi gắm niềm tin của con người trước những điều khó lường trong cuộc sống.

Làng Sình vốn là làng nông nghiệp ven sông. Dân làng chủ yếu làm ruộng, xen kẽ buôn bán, làm nghề thủ công, học hành. Gần khu phố chợ, cảng sông, nơi đây sớm trở thành một “vệ tinh” của hệ thống thương cảng Thanh Hà – Bao Vinh. Bên cạnh những người buôn bán là đội ngũ thợ đan lát, làm nón, làm giấy, làm hương, làm hạt bỏng để cúng. Chính môi trường sinh hoạt ấy đã tạo nền cho nghề in tranh mộc bản phát triển theo một hướng rất riêng: không cầu kỳ mỹ thuật, không dành cho thú chơi tao nhã, mà phục vụ trực tiếp cho nhu cầu tâm linh của cộng đồng.

Nghệ nhân Kỳ Hữu Phước phơi tranh dân gian làng Sình.

Tranh Sình hiện diện trong các lễ cầu an, giải hạn, cúng gia tiên, cúng cô hồn, lễ sóc vọng. Có bức được dán quanh năm trên bàn thờ, có bức chỉ dùng một lần rồi hóa đi sau lễ. Tranh không nhằm lưu giữ lâu dài, nhưng ý nghĩa tinh thần thì bền bỉ qua nhiều thế hệ.

Tranh làng Sình được làm từ giấy dó, in từng tờ bằng mộc bản để lấy đường nét, sau đó tô màu thủ công. Màu sắc không cầu kỳ, chủ yếu được pha chế từ nguyên liệu tự nhiên: bột hồ điệp, tro, gạch, lá cây… lấy từ đầm phá, đồi núi, vườn nhà. Mộc bản thường làm từ gỗ kiền, gỗ thị hoặc gỗ mít – những loại gỗ bền, chịu được thời gian.

Đề tài tranh phản ánh trực tiếp đời sống tín ngưỡng của người dân. Tranh nhân vật là nhóm phổ biến nhất, gồm tượng Bà với các mẫu tượng Đế, tượng Chùa, tượng Ngang được dán quanh năm. Có loại “con ảnh” vẽ hình đàn ông, đàn bà, trẻ nam, nữ – còn gọi là ảnh Xiêm, ảnh Phền. Những tranh như ông Điệu, ông Đốc, Tờ bếp lại được đốt sau khi cúng, như một cách gửi lễ vật về cõi âm.

Bên cạnh đó là tranh đồ vật: áo ông, áo bà, áo binh, tiền, cung tên, dụng cụ gia đình… vẽ đơn giản, kích thước nhỏ, dùng để hóa cho người đã khuất. Tranh súc vật như trâu, bò, lợn, gà, thậm chí voi, cọp hay bộ tranh mười hai con giáp cũng xuất hiện trong các nghi lễ cúng chuồng, cúng âm phần.

Tất cả đều phản ánh một tín ngưỡng cổ sơ, nơi con người hình dung thiên nhiên, tai ương thành các lực lượng siêu nhiên cần được cầu xin, nương nhờ. Cúng tranh để mong người yên, vật thịnh, mùa màng tốt tươi, trẻ con chóng lớn, người ốm chóng khỏi – những ước vọng rất đời, rất người.

Tranh làm ra không chỉ phục vụ người dân địa phương mà còn theo chân du khách, nhà sưu tầm, những người muốn tìm về một lát cắt văn hóa Huế xưa.

Giữa dòng tranh tín ngưỡng ấy, vẫn có những bức mang giá trị thẩm mỹ rõ nét. Tiêu biểu là bộ Bát Âm – thực chất là hai bộ bốn bức, mỗi bức vẽ một cô gái biểu diễn nhạc cụ khác nhau. Các cô mặc áo “mã tiên” đặc trưng của Huế, phục trang nền nã, dáng đứng mềm mại.

Áo mã tiên – với áo trắng dài mặc trong, áo cánh màu mặc ngoài – từng xuất hiện trong những đám cưới lớn ở Huế, khi các em bé mặc áo này, cầm đèn lồng đi thành hai hàng. Hình ảnh ấy đi vào tranh Sình một cách tự nhiên, giản dị. Không phô trương, không trau chuốt, nhưng đủ để người xem cảm nhận được nét duyên kín đáo của con người xứ Huế.

Về kỹ thuật, tranh Sình có nhiều điểm tương đồng với tranh Đông Hồ, Hàng Trống. Điều này khiến nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, trong quá trình di cư vào Đàng Trong, các nghệ nhân từ Thanh Hóa đã mang theo nghề của tổ tiên để mưu sinh, rồi dần thích nghi với môi trường văn hóa Huế, tạo nên một dòng tranh riêng.

GIỮ NGHỀ GIỮ LÀNG GIỮ HỒN VĂN HÓA

Trải qua những biến động của lịch sử, nghề tranh làng Sình có lúc tưởng chừng mai một. Hiện nay, chỉ còn khoảng 6 - 10gia đình với hơn 30 nhân công sản xuất tranh chuyên nghiệp. Những cái tên như ông Kỳ Hữu Phước, bà Phan Thị Ký, bà Lê Thị Nhơn, ông Trần Viện… là những gia đình còn giữ được nguyên vẹn hệ thống mộc bản truyền thống.

Vào các tháng 10, 11, 12 Âm lịch – mùa cao điểm của lễ cúng – số hộ tham gia làm tranh tăng lên 15 - 17gia đình, với gần 100 lao động bán chuyên. Tranh làm ra không chỉ phục vụ người dân địa phương mà còn theo chân du khách, nhà sưu tầm, những người muốn tìm về một lát cắt văn hóa Huế xưa.

Năm 2016, làng nghề tranh dân gian làng Sình được công nhận là làng nghề truyền thống. Đến năm 2019, điểm du lịch làng nghề truyền thống hoa giấy Thanh Tiên – tranh dân gian làng Sình tiếp tục được ghi danh. Những quyết định ấy không chỉ mang ý nghĩa pháp lý, mà còn là sự ghi nhận cho nỗ lực gìn giữ một giá trị văn hóa bản địa.

Nghệ nhân Kỳ Hữu Phước với hơn 50 gắn bó với tranh Sình.

Nổi bật trong hành trình giữ nghề là nghệ nhân Kỳ Hữu Phước. Hơn 50 năm gắn bó với tranh Sình, ông không chỉ gìn giữ mộc bản cũ mà còn sáng tạo thêm nhiều bản khắc mới, lấy đề tài sinh hoạt làng quê. Xưởng tranh của ông trở thành điểm trải nghiệm, nơi du khách được tự tay in tranh, tô màu, để rồi mang về một bức tranh Sình do chính mình hoàn thành.

Ngoài nghề tranh, làng Sình còn nổi tiếng với hội vật diễn ra vào ngày mồng 10 tháng Giêng Âm lịch. Hội vật là dịp để người dân gửi gắm mong ước thần linh, tổ tiên phù hộ cho dân khỏe, làng yên, mùa màng bội thu. Đồng thời, đây cũng là sinh hoạt thể thao truyền thống, khích lệ trai tráng rèn luyện sức khỏe, giữ gìn tinh thần thượng võ.

Sới vật xưa dựng trong sân đình, nay được đưa ra khu vực ngã ba đường làng, không gian rộng rãi hơn, đủ để đón người xem từ khắp nơi. Trong tiếng hò reo, trống thúc, hình ảnh những đô vật quấn khố, chân trần trên sới đất gợi lên một không khí Tết rất Huế, rất làng quê, nơi truyền thống vẫn còn sống động giữa đời sống hiện đại.

Ở làng Sình, tranh dân gian không chỉ là sản phẩm thủ công. Đó là ký ức, là niềm tin, là cách người Huế đối thoại với quá khứ và gửi gắm ước vọng cho hiện tại. Giữa nhịp sống đổi thay, những bức tranh giấy mộc mạc ấy vẫn âm thầm giữ cho làng một mạch thở riêng, chậm rãi nhưng bền bỉ, như dòng Sông Hương vẫn lặng lẽ chảy qua bao mùa nước.

-Nguyễn Thuấn

Categories: The Latest News

Vùng phát thải thấp không phải là “cây đũa thần”

Thời báo kinh tế Việt Nam - Mon, 02/16/2026 - 06:00
Mục tiêu triển khai Vùng phát thải thấp (LEZ) là rất quan trọng nhằm kiểm soát nguồn thải, giảm thiểu ô nhiễm không khí, bảo vệ sức khỏe cộng đồng, hướng tới giao thông xanh và phát triển đô thị bền vững. Tuy nhiên, theo chuyên gia, vùng phát thải thấp không phải là một “cây đũa thần”.

Không khí Hà Nội những ngày đầu tháng 12/2025 liên tục cảnh báo ô nhiễm ở mức xấu, rất xấu, thậm chí có thời điểm ở ngưỡng nhất thế giới. Là người gắn bó với lĩnh vực này lâu năm, qua theo dõi, ông nhận thấy điều gì về thực trạng và diễn biến ô nhiễm không khí ở Hà Nội nói chung và các đô thị lớn nói riêng?

Ô nhiễm không khí là vấn đề đã được cảnh báo từ nhiều năm trước, hiện nay tình trạng này được quan tâm nhiều hơn, với mức độ báo động ngày càng gia tăng.

Ô nhiễm không khí tại Hà Nội diễn biến rất nghiêm trọng, đặc biệt trong các tháng mùa Đông. Liên tiếp trong những năm 2023, 2024, mức độ ô nhiễm trên địa bàn Hà Nội liên tục đạt đỉnh, với các vi chất, hợp chất độc hại như: CO, CO2, SO2, NOx, hợp chất hữu cơ, bụi mịn PM2.5…

Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng ô nhiễm không khí xuất phát từ phát thải giao thông, hoạt động xây dựng, sản xuất công nghiệp, đốt rác tự phát, đốt rơm rạ... Những nguồn thải này cộng với hiện tượng thời tiết như nghịch nhiệt, lặng gió, nhiệt độ thấp... khiến mức độ ô nhiễm không khí tăng thêm.

Các nghiên cứu của nhiều tổ chức, chuyên gia, nhà khoa học trong và ngoài nước đã chỉ rõ nguyên nhân ô nhiễm không khí của Hà Nội, trong đó hoạt động của các phương tiện giao thông (chiếm khoảng 60%), sản xuất công nghiệp, xây dựng (hơn 20%), đốt phụ phẩm nông nghiệp, rác thải (15%) và từ các hoạt động khác… Điều này cho thấy chúng ta chưa kiểm soát tốt các nguồn thải. Cá nhân tôi lo ngại bởi mức độ ô nhiễm ngày càng tăng.

Chúng ta đã nhìn rõ thực trạng và có những chính sách, biện pháp hành động, theo ông, đâu là yếu tố cốt lõi để kiểm soát ô nhiễm không khí?

Theo tôi, chúng ta phải hiểu đúng về các nguyên nhân gây ra tình trạng ô nhiễm không khí để có giải pháp phù hợp, hiệu quả. Để xử lý ô nhiễm không khí không chỉ một giải pháp mà cần đồng bộ. Vùng phát thải thấp là một xu thế tất yếu đang được nhiều đô thị trên thế giới triển khai áp dụng như một giải pháp cần thiết để giảm thiểu ô nhiễm không khí.

Việc triển khai vùng phát thải thấp, chuyển từ xe xăng sang xe điện, chất lượng không khí sẽ được cải thiện tốt lên. Nhưng nếu chỉ tập trung vào vùng phát thải thấp mà không chú ý tới các biện pháp khác thì kết quả đạt được có thể sẽ không được như kỳ vọng.

Cùng với đó cần phải có số liệu, dữ liệu cụ thể về nguồn phát thải gây ô nhiễm để từ đó có biện pháp quản trị, hành động khoa học, có lộ trình cụ thể, tập trung nguồn lực vào các nguồn gây ô nhiễm chính để xử lý, tránh dàn trải, không hiệu quả.

Việc triển khai vùng phát thải thấp thí điểm hiện đang thu hút sự quan tâm của người dân. Theo ông, để triển khai thành công, mang lại hiệu quả thiết thực ở các đô thị lớn như Hà Nội cần lưu ý điều gì?

Khái niệm vùng phát thải thấp được nhấn mạnh nhiều trong 1-2 năm gần đây khi được đưa vào quy định trong Luật Thủ đô. Triển khai vùng phát thải thấp là một trong những biện pháp rất cần thiết để kiểm soát ô nhiễm không khí ở Hà Nội. Có thể thấy những yếu tố nêu trên khiến bài toán triển khai vùng phát thải thấp ở Hà Nội rất phức tạp. Tôi cho rằng để kiểm soát ô nhiễm không khí, triển khai vùng phát thải thấp cần đặt trong bài toán tổng thể.

Ở Việt Nam, Hà Nội xác định triển khai áp dụng vùng phát thải thấp trong vành đai 1 và định hướng mở rộng sang vành đai 2, trong đó, yếu tố phát thải chính gây ô nhiễm là xe máy. Tuy nhiên, chúng ta không thể chỉ tập trung chuyển đổi phương tiện giao thông xe máy xăng sang xe điện mà còn cần chú trọng hạ tầng giao thông. Khi hệ thống giao thông công cộng chưa phát triển đồng bộ sẽ làm giảm ý nghĩa và hiệu quả, mục tiêu đặt ra của việc triển khai vùng phát thải thấp. Ngoài ra, chúng ta không chỉ tập trung giảm phát thải trong vùng phát thải thấp mà cả các vùng khác, kiểm soát tốt hơn khí thải từ các phương tiện ô tô, đặc biệt là xe tải động cơ diesel phát thải PM2.5 rất lớn, áp dụng các tiêu chuẩn khí thải. Tuy vậy, thành phố cần có chính sách hỗ trợ người dân chuyển đổi phương tiện và tăng năng lực giao thông công cộng để bảo đảm tính khả thi và công bằng của các biện pháp.

Tôi nhấn mạnh lại rằng phát thải từ giao thông chỉ là một trong những nguồn gây ra tình trạng ô nhiễm không khí. Nếu tình trạng bụi trong lĩnh vực xây dựng như hiện nay chưa kiểm soát, xử lý được thì việc triển khai vùng phát thải thấp sẽ dễ bị che lấp, không thấy hiệu quả rõ rệt.

Như ông vừa chia sẻ, vùng phát thải thấp là rất quan trọng nhưng không phải là yếu tố duy nhất để khắc phục tình trạng ô nhiễm không khí. Điều này đòi hỏi áp dụng tổng thể, đồng bộ các giải pháp mang tính liên ngành, liên vùng, lĩnh vực?

Vùng phát thải thấp là rất quan trọng nhưng không nên coi đó như một “cây đũa thần”. Giải quyết vấn đề ô nhiễm không khí cần giải pháp kết hợp liên ngành, liên vùng, cả nội thành và ngoại thành, liên tỉnh, liên cấp. Ở cấp xã phường - nơi có các cơ sở sản xuất phải có trách nhiệm giám sát vấn đề phát thải. Trước thực trạng ô nhiễm không khí, trong thời gian qua, trong các kế hoạch hành động của quốc gia đều đặt vấn đề cơ chế phối hợp liên vùng, liên ngành.

Để phát huy hiệu quả sự phối hợp này cần có số liệu và phải được chia sẻ dữ liệu phát thải về các ngành, các cơ sở sản xuất. Trên cơ sở đó sẽ tính toán được mức độ phát thải ở từng vùng trọng điểm, những nơi có lượng phát thải lớn để có cơ chế phối hợp, tập trung xử lý.

Đối với nguồn thải từ các cơ sở sản xuất, cần phải kiểm soát được nguồn phát thải từ các cơ sở sản xuất, làng nghề… ngoài Hà Nội, đặc biệt phải xây dựng được bản đồ các cơ sở sản xuất, quản lý ở từng lĩnh vực sản xuất, sản phẩm, loại nhiên liệu năng lượng sử dụng, lượng phát thải…Có như vậy mới quản trị được lượng phát thải của từng đơn vị, nhất là các cơ sở phát thải lớn. Theo tôi, Việt Nam cần có hệ thống kiểm kê phát thải quốc gia mà trước hết là xây dựng bản đồ các cơ sở gây ô nhiễm. Song song với đó, chúng ta cần kiểm soát tình trạng đốt rác thải, đốt phụ phẩm nông nghiệp…

Theo ông, đâu là thách thức lớn nhất đặt ra trong quá trình triển khai vùng phát thải thấp mà các đô thị như Hà Nội sẽ phải đối diện trong thực tế?

Thực tế chúng ta đã và đang nhận thức rõ ràng, đầy đủ về vùng phát thải thấp, từ đó đưa ra lộ trình phù hợp. Chúng ta cũng đã nhận ra các thách thức phải đối diện trong thực tế triển khai vùng phát thải thấp để có giải pháp giảm thiểu tác động đến các đối tượng. Ngoài ra, cần đo lường được tác động của chính sách vùng phát thải tới việc giảm ô nhiễm như bụi PM2.5. Theo tôi, mục tiêu quan trọng nhất của việc triển khai vùng phát thải thấp là giảm thiểu ô nhiễm không khí.

Việc áp dụng vùng phát thải thấp, chuyển đổi xe máy xăng sang xe điện sẽ tác động tới một số đối tượng như shipper. Để giải quyết vấn đề này, cần hình thành các hub, điểm trung chuyển, giảm số lượng xe xăng, tăng xe điện. Điều này có thể ảnh hưởng tới chất lượng dịch vụ nhưng theo kinh ngiệm của một số nước, họ đã áp dụng cơ chế tăng phí vận chuyển.

Để giải quyết, kiểm soát ô nhiễm không khí, một số quốc gia như Anh, Mỹ đã có đạo luật về không khí sạch. Theo ông, Việt Nam có nên xây dựng một đạo luật riêng về không khí không?

Hiện nay, trong lĩnh vực môi trường, Việt Nam có Luật Bảo vệ môi trường bao phủ toàn bộ các vấn đề. Từ thực tế kinh nghiệm của nhiều nước đã có luật riêng về không khí, tôi cho rằng Việt Nam cần xây dựng thêm các luật quy định cụ thể các lĩnh vực trong đó có luật về không khí sạch.

Việt Nam rất cần một luật riêng về không khí sạch, từ đó có hướng dẫn cụ thể, chi tiết để nâng cao hiệu quả quản lý, quản trị. Bởi với đặc thù không khí, vấn đề ô nhiễm, cách quản trị, giải quyết luôn biến động cần phải liên tục cập nhật. Tôi cho rằng đây là thời điểm thúc bách Việt Nam cần có những quy định cụ thể, rõ ràng hơn với việc hình thành một luật riêng về không khí.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-

Categories: The Latest News

Cà phê Ê Đê - Tình yêu với những giọt hương

Thời báo kinh tế Việt Nam - Mon, 02/16/2026 - 06:00
Từ tình yêu cà phê và khát vọng giúp buôn làng thoát nghèo, anh Y Pốt Niê, nhà sáng lập Ê Đê Café, đã chọn con đường khởi nghiệp gắn với nông sản bản địa. Không chỉ làm cà phê như một sản phẩm thương mại, anh đã theo đuổi mục tiêu xây dựng giá trị bền vững dựa trên văn hóa, chất lượng và sinh kế của đồng bào vùng đất nơi anh đang sống.

Lớn lên giữa hương thơm từ những mẻ cà phê rang xay thủ công của gia đình, anh Y Pốt Niê sớm nhận ra giá trị của cà phê không chỉ nằm ở một sản phẩm tiêu dùng, mà còn là sinh kế và văn hóa của cộng đồng. 

Ê Đê Café ra đời với mục tiêu không chỉ phát triển kinh tế cho doanh nghiệp, mà còn xây dựng một mô hình đồng hành bền vững cùng bà con buôn làng. Quyết định này từng đối mặt với không ít hoài nghi, nhưng theo anh Y Pốt Niê, chính tinh thần “dám làm, dám chịu trách nhiệm” đã tạo nên bước ngoặt. Trò chuyện với Tạp chí Kinh tế Việt Nam, anh Y Pốt Niê đã chia sẻ về hành trình khởi nghiệp từ buôn làng, cách xây dựng niềm tin với cộng đồng và định hướng đưa cà phê Ê Đê vươn ra thị trường rộng lớn hơn.

CHƯA BAO GIỜ NGHĨ ĐẾN CHUYỆN CHÙN BƯỚC

Sau hơn 10 năm học tập và làm việc trong ngành y, điều gì đã thôi thúc anh rẽ hướng sang con đường khởi nghiệp với cà phê?

Động lực lớn nhất của tôi xuất phát từ chính gia đình và cộng đồng buôn làng nơi tôi sinh ra và lớn lên là huyện Krông Ana - vùng còn nhiều khó khăn của Đắk Lắk. Bà con nơi đây được thiên nhiên ưu đãi rất nhiều: đất đai màu mỡ, khí hậu và địa hình đặc biệt phù hợp để trồng cà phê. Tuy nhiên, do hạn chế về điều kiện học tập và tiếp cận thông tin, nhiều người chưa biết cách khai thác, phát triển những lợi thế đó thành sinh kế bền vững.

Thực tế, bà con chủ yếu sản xuất theo thói quen, thiếu kiến thức về kinh doanh, thị trường và giá trị gia tăng. Điều này khiến họ dễ bị phụ thuộc, thậm chí bị lợi dụng trong quá trình thu mua, phân phối. Chính những trăn trở đó đã khiến tôi suy nghĩ rất nhiều về vai trò và trách nhiệm của bản thân đối với cộng đồng mình.

Tôi là một trong số ít người trong buôn làng có cơ hội được học tập lên cao, được tiếp cận với môi trường giáo dục hiện đại và theo đuổi ngành y – một ngành mà tôi thực sự yêu thích. Trong quá trình học tập và làm việc, tôi được va chạm, trải nghiệm và nhận ra rằng kiến thức, tư duy và kỹ năng mình có được hoàn toàn có thể ứng dụng vào một lĩnh vực khác, nơi mà giá trị tác động đến cộng đồng có thể rõ ràng và trực tiếp hơn.

Những khó khăn và bài học của anh trong hành trình khởi nghiệp là gì?

Hai năm đầu khởi nghiệp là quãng thời gian vô cùng khó khăn. Tôi loay hoay, vấp phải rất nhiều thất bại, nhưng chưa bao giờ nghĩ đến chuyện chùn bước. Tôi xác định ngay từ đầu rằng mình phải giữ một tư duy mở, không ngừng học hỏi, đồng thời từng bước nâng cao nhận thức về thoát nghèo bền vững cho bà con trong buôn làng.

Thực tế, việc thay đổi thói quen và tư duy của bà con không hề dễ. Người dân trong buôn làng vốn rất dè dặt với cái mới; để họ chấp nhận và làm theo có khi phải mất 4-5 năm, thậm chí lâu hơn. 

Với tôi, sự kiên trì là yếu tố sống còn. Nếu không có đủ kiên trì và tinh thần trách nhiệm, chắc chắn tôi đã không thể đi tiếp. Tôi luôn cảm thấy mình có trách nhiệm phải làm đến cùng, làm cho tử tế, cho đúng hướng và đúng giá trị.

Thực tế, việc thay đổi thói quen và tư duy của bà con không hề dễ. Người dân trong buôn làng vốn rất dè dặt với cái mới; để họ chấp nhận và làm theo có khi phải mất 4-5 năm, thậm chí lâu hơn. Thời điểm đó, nhiều người trẻ đã đi làm ăn xa, trong buôn làng chủ yếu là người lớn tuổi, việc tiếp cận cái mới càng chậm. 

Rào cản ngôn ngữ, tập quán sinh hoạt, cách làm cũ,… tất cả đều khiến quá trình triển khai gặp không ít trở ngại, nhưng chính những khó khăn đó lại cho tôi rất nhiều bài học quý giá. Tôi dần hiểu bà con đang cần gì, thiếu gì, mong muốn điều gì và đâu là những vấn đề cần được khắc phục trước tiên. Từ đó, tôi có thể đồng hành, tư vấn và cùng bà con tìm ra hướng đi phù hợp, thay vì áp đặt hay làm thay.

Bằng sự kiên trì và nhất quán trong cách làm, tôi từng bước thuyết phục được bà con, truyền được “lửa” cho một số bạn trẻ trong buôn làng. Đến hôm nay, họ đã trở thành những người đồng hành cùng tôi, tiếp tục lan tỏa tinh thần làm ăn tử tế, trách nhiệm và bền vững. Chính sự tin tưởng ấy đã tạo nên uy tín không chỉ cho cá nhân tôi, mà còn cho cả hành trình phát triển cà phê của buôn làng.

CÀ PHÊ LÀ TINH THẦN, LÀ ĐỘNG LỰC SỐNG

Không xuất thân từ lĩnh vực kinh doanh, khi bước vào thị trường này, anh có lo ngại mình sẽ chậm chân so với các doanh nghiệp khác? 

Thực ra, tôi sinh ra và lớn lên ngay trên vùng đất cà phê, nên ở một góc độ nào đó, tôi không hoàn toàn là “người ngoại đạo”. Từ nhỏ, tôi đã gắn bó với cây cà phê qua những câu chuyện rất đời thường: theo mẹ ra rẫy, uống cà phê cùng gia đình.

Với người Ê Đê, cà phê là văn hóa, là tinh thần, là động lực sống, là mồ hôi và nước mắt của bao thế hệ trong buôn làng – trong đó có chính gia đình tôi. Vì vậy, việc tôi đến với cà phê không phải để chạy đua xem ai đi nhanh hơn, mà để kể một câu chuyện khác, câu chuyện sinh ra từ buôn làng, từ chính người đồng bào. 

Với người Ê Đê, cà phê là văn hóa, là tinh thần, là động lực sống, là mồ hôi và nước mắt của bao thế hệ trong buôn làng.

Bước sang năm 2026, trong bối cảnh nhiều thay đổi về thể chế, chính sách và các nghị quyết mới nhằm thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân, anh định hướng phát triển Ê Đê Café như thế nào trong thời gian tới?

Đến năm 2026, Ê Đê Café đã bước vào năm kinh doanh thứ sáu, thứ bảy. Ở giai đoạn này, điều tôi quan tâm hàng đầu không còn chỉ là tốc độ, mà là con người. Vì vậy, mục tiêu lớn của tôi trong năm 2026 là tìm và kết nối thêm những con người có cùng tinh thần, cùng lý tưởng. Thậm chí, tôi mong muốn họ có thể làm tốt hơn, đi xa hơn tôi. Khi có con người phù hợp, doanh nghiệp mới có thể bước sang một giai đoạn phát triển khác. Song song với đó, Ê Đê Café sẽ tiếp tục mở rộng vùng nguyên liệu. 

Hiện nay, chúng tôi đã bao tiêu và hỗ trợ khoảng 1.000 ha cà phê cho bà con địa phương canh tác. Mục tiêu trong thời gian tới là nâng lên khoảng 5.000 ha, không chỉ tại vùng của tôi mà còn mở rộng ra các khu vực lân cận và nhiều địa phương khác. Việc mở rộng vùng nguyên liệu và quy mô hoạt động cũng đặt ra bài toán lớn về tài chính. Ở một hướng khác, chúng tôi sẽ tiếp tục đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu, củng cố các thị trường đã có và từng bước tiếp cận thêm những thị trường mới. 

Ê Đê Café liên tiếp nhận được các chứng nhận và bằng khen của Nhà nước, như một sự ghi nhận cho hướng đi và những nỗ lực trong thời gian qua.

Những tháng đầu tiên của năm 2026 đã trôi qua, có vẻ như anh đã nhận được nhiều tín hiệu vui?

Đúng vậy, mới chỉ bước sang tháng đầu tiên của năm 2026, chúng tôi đã ghi nhận những tín hiệu rất tích cực. Ê Đê Café liên tiếp nhận được các chứng nhận và bằng khen của Nhà nước, như một sự ghi nhận cho hướng đi và những nỗ lực trong thời gian qua. Đặc biệt, sức mua trong dịp Tết năm nay rất tốt, mang lại kết quả vượt kỳ vọng.

Cụ thể, cuối tháng 1/2026 chúng tôi xuất khẩu sang thị trường Mỹ khoảng 19 tấn cà phê. Bên cạnh đó, chương trình OCOP Tiền Giang  đặt 1.200 phần quà Tết từ Ê Đê Café. Riêng tại Đắk Lắk – thủ phủ cà phê của cả nước – sản lượng đơn hàng quà Tết cũng tăng thêm khoảng 100 kg. Có thể nói, mùa Tết năm nay là một mùa tương đối thành công, không chỉ về mặt doanh thu mà quan trọng hơn là giúp bà con có một cái Tết ấm no, đủ đầy hơn...

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html

-Minh Anh

Categories: The Latest News

Pages