Feed aggregator
Việt Nam đang hướng tới mô hình tăng trưởng mới “Đổi mới 2”
Năm 2025, các chỉ tiêu kinh tế cơ bản đạt mục tiêu. Nổi bật là tăng trưởng GDP cả năm đạt 8,02%, và là mức tăng trưởng cao nhất trong 15 năm qua nếu trừ giai đoạn tăng trưởng từ nền thấp giai đoạn Covid-19 năm 2022. Trong khi đó, lạm phát cả năm chỉ ở mức 3,31%, thấp hơn so với dự kiến có thể tới 4,5%, và cũng thấp hơn khá nhiều so với trung bình 3,6% trong vòng 5 năm qua.
Các chỉ số phản ánh xu hướng hoạt động kinh tế như bán lẻ hàng hóa (RSI) đạt 9,8% so với cùng kỳ năm trước (yoy), sản xuất công nghiệp IIP đạt 10,1% (yoy), đều là các mức tăng trưởng cải thiện khá tốt sau giai đoạn Covid-19 và quan trọng là đang trên đường trở lại giai đoạn tăng trưởng bình thường. Chỉ số PMI, phản ánh kỳ vọng của giới sản xuất về các hoạt động kinh tế, cũng được cải thiện, liên tục nằm trên vùng mở rộng 50 điểm trong các tháng gần nhất và cuối năm ở mức 53,8%.
Về xu hướng giá cả, mặc dù có tăng, nhưng chỉ số CPI không cho thấy xu hướng tăng lên nhanh hay tăng mạnh sau một năm nới lỏng phục vụ tăng trưởng. Chỉ số CPI tháng 12/2025 tăng 3,48% (yoy) và lạm phát cơ bản tăng 3,27%, đều không phải là mức cao nhất trong vòng 12 tháng qua. Đáng chú ý, xu hướng tăng của lạm phát còn rất xa so với mục tiêu 4,5% của năm 2025 – con số mục tiêu được hiểu là chấp nhận mức cao để đạt mục tiêu tăng trưởng.
Như vậy, Việt Nam đã đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao đặt ra đầu năm 2025 mà không gây ra lạm phát như lo ngại.
Mặc dù kết quả đạt được trong năm 2025 là ấn tượng, và được thể hiện không chỉ ở các chỉ số kinh tế đề cập trong bài viết này, vẫn còn nhiều yếu tố khiến chúng ta suy nghĩ về tính bền vững.
Thứ nhất, về cơ cấu tăng trưởng. Năm 2025, kim ngạch xuất nhập khẩu đạt kỷ lục 930 tỷ USD, tăng 18,2% so với năm 2024, đưa Việt Nam đứng trong nhóm 15 nước có hoạt động thương mại lớn nhất thế giới, nhưng kim ngạch xuất khẩu dựa chủ yếu vào khu vực có vốn đầu tư nước ngoài FDI, chiếm gần 80%.
Kim ngạch xuất khẩu của khu vực FDI tăng trưởng 26% trong khi kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp trong nước giảm 6% so với năm 2024. Điều này cho thấy khu vực kinh tế trong nước, đối tượng mà các chính sách tiền tệ và tài khóa nhắm tới, thực tế không đạt được sự phát triển như kỳ vọng trong lĩnh vực xuất khẩu.
Thứ hai, về đa dạng hóa thị trường. Mặc dù Việt Nam đã ký và có thỏa thuận thương mại đa phương và song phương với 17 tổ chức và quốc gia, là đối tác chiến lược và chiến lược toàn diện với nhiều quốc gia trên thế giới, FDI và đặc biệt là thương mại được tập trung vào một số đối tác và thị trường chính khiến cho rủi ro từ các chính sách bên ngoài có tác động lớn tới hoạt động kinh tế trong nước.
Theo số liệu đến cuối năm 2025, Trung Quốc là đối tác thương mại lớn, chiếm tới gần 30% kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam và Mỹ là thị trường lớn nhất, chiếm khoảng 30% kim ngạch xuất khẩu. Hệ quả là các cú sốc bên ngoài như thuế quan nhập khẩu của Mỹ hay các rào cản thương mại từ các đối tác như Trung Quốc nếu được áp đặt gần như sẽ ngay lập tức ảnh hưởng tới các hoạt động kinh tế trong nước. Điều này đòi hỏi một chiến lược tổng thể nhằm triển khai hiệu quả các hiệp định và các thỏa thuận chiến lược đã ký, vừa nhằm tôn trọng đối tác rằng chúng ta ký thật làm thật, vừa nhằm giảm thiểu rủi ro từ các cú sốc bên ngoài cho chính chúng ta.
Thứ ba, về động lực tăng trưởng. Chính sách tiền tệ và tăng trưởng tín dụng vẫn đóng vai trò chủ đạo. Theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước, năm 2025, tăng trưởng tín dụng lên tới 19,1%, trong khi trung bình các năm trước đây chỉ khoảng 15%. Tỷ trọng tín dụng so với GDP lên tới 146%, là mức cao nhất trong số các nước có thu nhập trung bình tương đồng như Việt Nam. Trong khi đó, tăng trưởng tiền gửi chỉ vào khoảng 14% khiến cho sức ép tăng lãi suất đến sớm.
Tăng trưởng phụ thuộc tín dụng dẫn tới hệ quả không mong muốn: một mặt, giá tài sản tăng tạo rủi ro bong bóng; mặt khác, chi phí đầu vào cũng tăng nhanh hơn do lãi suất tăng trong khi đáng ra nên ở mức thấp càng lâu càng tốt để hỗ trợ nền sản xuất và kinh tế thực. Điều này đòi hỏi một cách tiếp cận mới về mô hình tăng trưởng, trung hạn là đẩy mạnh vai trò của chính sách tài khóa và dài hạn là sự thay đổi tư duy “làm thế nào”, hướng tới nâng cao năng lực chung của nền kinh tế.
Thứ tư, một động lực tăng trưởng khác được kỳ vọng là chính sách tài khóa và đầu tư công chưa thực sự phát huy vai trò. Tính đến cuối năm 2025, tỷ lệ đầu tư công chỉ đạt 70% so với kế hoạch, trong khi trần thâm hụt ngân sách được nới từ 4 lên 4,5% GDP và tỷ trọng chi tiêu công so với GDP cũng lên tới 7,5%, là mức cao nhất từ năm 2012 đến nay. Điều này cho thấy năng lực quản lý và vận hành chi tiêu đầu tư công chưa đáp ứng yêu cầu và cần cải thiện.
Các lý thuyết kinh tế thường đề cập bốn nguồn lực chính của các hoạt động kinh tế, bao gồm: ba nguồn lực truyền thống là vốn, lao động và đất đai, cùng với nguồn lực thứ tư là khả năng sử dụng ba nguồn lực truyền thống đó – có thể gọi là công nghệ hoặc doanh trí. Ba nguồn lực kinh tế truyền thống là khan hiếm và có giới hạn, do vậy công nghệ/doanh trí sẽ quyết định sự thay đổi tiềm năng hay năng lực của các hoạt động kinh tế về dài hạn.
Các chính sách kinh tế cũng thường theo hướng trọng cầu, tức là tác động phía cầu, với ý tưởng có cầu sẽ dẫn dắt cung. Khi các chính sách kinh tế được đưa ra nhằm mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhưng năng lực của nền kinh tế không đáp ứng, tất yếu sẽ dẫn tới sự tăng giá – lạm phát và nguy cơ bong bóng tài sản. Nói một cách bình dân, kích thích kinh tế trong khi năng lực còn yếu có thể dẫn tới tăng trưởng nóng nhưng không bền vững.
Để hiểu tại sao chúng ta cần một mô hình tăng trưởng mới, hãy bắt đầu bằng việc xác định chúng ta đang ở đâu và có nhiệm vụ gì. Năm 2026, Quốc hội đã thông qua mục tiêu tăng trưởng kinh tế hơn 10%, nhưng đảm bảo tăng trưởng bền vững, kiểm soát lạm phát lạm phát không quá 4,5% và giữ ổn định kinh tế vĩ mô. Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước cũng được yêu cầu điều hành chính sách tiền tệ và tài khóa linh hoạt nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng, đồng thời đảm bảo cân đối các biến số vĩ mô lớn như lạm phát và tỷ giá.
Tuy nhiên, Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính tiền tệ Quốc gia đã đưa ra khuyến nghị với Chính phủ về việc không nên mở rộng chính sách tiền tệ, điều hành thận trọng hơn, do những lo ngại rủi ro đối với nền kinh tế. Hội đồng cũng đề nghị phối hợp một cách hợp lý giữa chính sách tiền tệ với chính sách tài khóa; tập trung vào chuyển đổi số, công nghệ cao, công nghệ thông tin, hạ tầng số, đổi mới sáng tạo.
Ngân hàng Nhà nước sau đó cũng đưa ra mục tiêu tăng trưởng tín dụng 15% cho năm 2026, là mức bình thường trong những năm qua, nhưng thấp hơn mục tiêu 16% đặt ra hồi đầu năm 2025. Ngân hàng Nhà nước cũng đưa ra thông điệp sẽ điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, kiểm soát lạm phát và ổn định tỷ giá và theo dõi chặt chẽ tín dụng vào khu vực rủi ro bong bóng cao là bất động sản.
Như vậy, có thể thấy rằng chúng ta mong muốn tăng trưởng trong một bối cảnh các nguồn lực truyền thống đang ở mức giới hạn. Khuyến cáo của Hội đồng Tư vấn là một cảnh báo quan trọng và trực tiếp về rủi ro của mô hình tăng trưởng phụ thuộc quá nhiều vào chính sách tiền tệ lỏng và tăng trưởng tín dụng. Trong ngắn hạn thì mô hình đó có thể phù hợp, nhưng về dài hạn, đó không phải là một mô hình bền vững.
Lựa chọn thay thế hoặc bổ trợ cho chính sách tiền tệ được nhắc tới nhiều nhất là chính sách tài khóa và đầu tư công. Tuy nhiên, nếu chỉ đơn thuần đẩy mạnh chi tiêu và đầu tư công, đó cũng chưa phải là giải pháp cho mô hình tăng trưởng dài hạn nếu năng lực triển khai đầu tư công hạn chế, hoặc ít nhất còn bị chi phối bởi e ngại sự ràng buộc trách nhiệm và cơ chế.
Ngay cả trong năm 2025, là năm mà quyết tâm tăng trưởng rất cao và Chính phủ quyết tâm thực hiện, tỷ lệ chi tiêu công cũng chỉ ở mức gần đạt kế hoạch. Điều này gắn với một quá trình cải cách hành chính và thể chế, tạo ra cơ chế phù hợp nhằm cởi trói tư duy trong việc thực thi đầu tư công.
Chính phủ đang có các bước đi đúng. Về mục đích đầu tư công, Chính phủ đã khởi động một chương trình phát triển hạ tầng đầy tham vọng, dựa trên nguồn vốn công và tư nhân, với việc triển khai 250 dự án quy mô lớn trải rộng trên toàn quốc – từ giao thông và logistics đến nhà ở và năng lượng – không chỉ nhằm thúc đẩy đầu tư công đơn thuần, mà còn nhằm cải thiện khả năng liên kết và kết nối hạ tầng kinh tế, tạo nền tảng nâng cao năng lực của nền kinh tế về dài hạn.
Về mặt thể chế (mô hình quản trị), năm 2025 được đánh dấu khá rõ nét bởi cam kết cải cách thể chế và nâng cao hiệu quả quản trị. Chính phủ đã nhấn mạnh việc tinh gọn tổ chức bộ máy gắn với phân cấp, phân quyền như một phần trong nỗ lực tổng thể nhằm tăng hiệu quả và trách nhiệm ra quyết định trên toàn quốc với việc sáp nhập các tỉnh, thành phố và tập trung hoạt động của bộ máy hành chính ở cấp cao hơn thay vì sự dàn trải và cồng kềnh tới cấp xã như trước đây.
Về tư duy kinh tế, một cải cách quan trọng là việc ban hành Nghị quyết số 79-NQ/TW về kinh tế nhà nước và Nghị quyết 68-NQ/TW về kinh tế tư nhân. Hai nghị quyết này đều tập trung vào các vấn đề thuộc về nâng cao năng lực của nền kinh tế - là một nhân tố nền tảng có thể thay đổi mô hình tăng trưởng truyền thống, với sự nhấn mạnh vào bốn từ: đổi mới, sáng tạo, quản trị và minh bạch. Hai nghị quyết tạo ra một sự bổ trợ cho nhau, với khu vực kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất của tăng trưởng và tạo việc làm, còn khu vực kinh tế nhà nước giữ vai trò định hướng và ổn định tăng trưởng, tập trung vào các lĩnh vực chiến lược bao gồm năng lượng, hạ tầng và tài chính.
Hai nghị quyết này, nếu triển khai và thực thi nghiêm túc, có thể thay đổi căn bản tình trạng hiện tại của khu vực kinh tế tư nhân là năng lực cạnh tranh yếu, khó tiếp cận vốn và công nghệ; của khu vực kinh tế nhà nước là hiệu quả sử dụng vốn thấp, thiếu minh bạch và quản trị lạc hậu. Nghĩa là, nếu những điều này trở thành hiện thực, cùng với hoạt động đầu tư công hướng tới hạ tầng và cải cách thể chế hướng tới hiệu quả nêu trên, nền kinh tế có thể có sự thay đổi căn bản mô hình tăng trưởng truyền thống vốn dựa phần lớn vào tín dụng trong gần 40 năm qua từ khi Đổi mới năm 1986.
Nếu Đổi mới 1986 giúp chuyển đổi cách nghĩ từ nền kinh tế từ tập trung bao cấp và kế hoạch hóa sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thì những gì đang diễn ra trong năm 2025 và 2026 đánh dấu khởi đầu của sự thay đổi quan trọng trong cách làm. Nói cách khác, sau gần 40 năm loay hoay với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta đã bắt đầu định hình rõ nét hơn làm thế nào để đi trên con đường đó. Tôi cho rằng chúng ta nên gọi đó là Đổi mới 2 để đánh dấu một giai đoạn chuyển biến lớn của cách quản trị quốc gia và cách làm kinh tế.
Thị trường chứng khoán phản ánh các kỳ vọng kinh tế. Năm 2025, thị trường chứng khoán Việt Nam đã có những kết quả nổi bật, không chỉ ở việc chỉ số tăng trưởng tốt, mà còn ở việc tổ chức FTSE Russell đã thông báo chính thức nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi thứ cấp.
Sự kiện nâng hạng không chỉ giúp xác nhận các nỗ lực không mệt mỏi của Chính phủ trong việc phát triển thị trường vốn, một thành phần quan trọng của kinh tế thị trường, mà còn giúp Việt Nam có thể thu hút trở lại các nguồn vốn nước ngoài phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế. Sự quyết tâm trong việc phát triển thị trường vốn, thu hút nguồn lực nước ngoài cho tăng trưởng kinh tế, cũng được thể hiện bởi quyết tâm xây dựng Trung tâm Tài chính quốc tế tại Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng.
Với những nỗ lực trong việc xây dựng nền tảng cho một mô hình tăng trưởng mới và hạ tầng thị trường vốn tiệm cận thông lệ quốc tế, chúng ta hoàn toàn có thể tin tưởng vào sự phát triển bền vững của thị trường chứng khoán Việt Nam. Nếu như trước đây thị trường bị chi phối chủ yếu bởi chu kỳ tiền tệ, bởi sự bơm thổi về doanh nghiệp, dẫn tới bong bóng nở và vỡ, tạo ra các cú tăng giảm lớn, thì từ bây giờ, chúng ta có thể kỳ vọng rằng thị trường sẽ vận hành dựa trên các yếu tố cơ bản của nền kinh tế và doanh nghiệp.
Thực tế, các doanh nghiệp tốt và có triển vọng đã và sẽ được nhà đầu tư tìm đến. Những vụ việc làm giá hay bơm thổi cổ phiếu gần như đã không còn phổ biến. Sự đổi mới về cách làm kinh tế đã dẫn tới sự thay đổi về cách “chơi” chứng khoán: “đầu tư” chứng khoán.
Cuối cùng, tôi muốn gửi tới những nhà đầu tư chứng khoán rằng rất có thể từ nay chúng ta sẽ không còn phải tự hỏi tại sao cùng phụ thuộc vào chính sách tiền tệ nhưng sao chứng khoán nước ngoài không có “cây thông” mà Việt Nam lại nhiều thế. Chúc các bạn một năm mới đầu tư thành côn
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html
-
Việt Nam đang hướng tới mô hình tăng trưởng mới “Đổi mới 2”
Năm 2025, các chỉ tiêu kinh tế cơ bản đạt mục tiêu. Nổi bật là tăng trưởng GDP cả năm đạt 8,02%, và là mức tăng trưởng cao nhất trong 15 năm qua nếu trừ giai đoạn tăng trưởng từ nền thấp giai đoạn Covid-19 năm 2022. Trong khi đó, lạm phát cả năm chỉ ở mức 3,31%, thấp hơn so với dự kiến có thể tới 4,5%, và cũng thấp hơn khá nhiều so với trung bình 3,6% trong vòng 5 năm qua.
Các chỉ số phản ánh xu hướng hoạt động kinh tế như bán lẻ hàng hóa (RSI) đạt 9,8% so với cùng kỳ năm trước (yoy), sản xuất công nghiệp IIP đạt 10,1% (yoy), đều là các mức tăng trưởng cải thiện khá tốt sau giai đoạn Covid-19 và quan trọng là đang trên đường trở lại giai đoạn tăng trưởng bình thường. Chỉ số PMI, phản ánh kỳ vọng của giới sản xuất về các hoạt động kinh tế, cũng được cải thiện, liên tục nằm trên vùng mở rộng 50 điểm trong các tháng gần nhất và cuối năm ở mức 53,8%.
Về xu hướng giá cả, mặc dù có tăng, nhưng chỉ số CPI không cho thấy xu hướng tăng lên nhanh hay tăng mạnh sau một năm nới lỏng phục vụ tăng trưởng. Chỉ số CPI tháng 12/2025 tăng 3,48% (yoy) và lạm phát cơ bản tăng 3,27%, đều không phải là mức cao nhất trong vòng 12 tháng qua. Đáng chú ý, xu hướng tăng của lạm phát còn rất xa so với mục tiêu 4,5% của năm 2025 – con số mục tiêu được hiểu là chấp nhận mức cao để đạt mục tiêu tăng trưởng.
Như vậy, Việt Nam đã đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao đặt ra đầu năm 2025 mà không gây ra lạm phát như lo ngại.
Mặc dù kết quả đạt được trong năm 2025 là ấn tượng, và được thể hiện không chỉ ở các chỉ số kinh tế đề cập trong bài viết này, vẫn còn nhiều yếu tố khiến chúng ta suy nghĩ về tính bền vững.
Thứ nhất, về cơ cấu tăng trưởng. Năm 2025, kim ngạch xuất nhập khẩu đạt kỷ lục 930 tỷ USD, tăng 18,2% so với năm 2024, đưa Việt Nam đứng trong nhóm 15 nước có hoạt động thương mại lớn nhất thế giới, nhưng kim ngạch xuất khẩu dựa chủ yếu vào khu vực có vốn đầu tư nước ngoài FDI, chiếm gần 80%.
Kim ngạch xuất khẩu của khu vực FDI tăng trưởng 26% trong khi kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp trong nước giảm 6% so với năm 2024. Điều này cho thấy khu vực kinh tế trong nước, đối tượng mà các chính sách tiền tệ và tài khóa nhắm tới, thực tế không đạt được sự phát triển như kỳ vọng trong lĩnh vực xuất khẩu.
Thứ hai, về đa dạng hóa thị trường. Mặc dù Việt Nam đã ký và có thỏa thuận thương mại đa phương và song phương với 17 tổ chức và quốc gia, là đối tác chiến lược và chiến lược toàn diện với nhiều quốc gia trên thế giới, FDI và đặc biệt là thương mại được tập trung vào một số đối tác và thị trường chính khiến cho rủi ro từ các chính sách bên ngoài có tác động lớn tới hoạt động kinh tế trong nước.
Theo số liệu đến cuối năm 2025, Trung Quốc là đối tác thương mại lớn, chiếm tới gần 30% kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam và Mỹ là thị trường lớn nhất, chiếm khoảng 30% kim ngạch xuất khẩu. Hệ quả là các cú sốc bên ngoài như thuế quan nhập khẩu của Mỹ hay các rào cản thương mại từ các đối tác như Trung Quốc nếu được áp đặt gần như sẽ ngay lập tức ảnh hưởng tới các hoạt động kinh tế trong nước. Điều này đòi hỏi một chiến lược tổng thể nhằm triển khai hiệu quả các hiệp định và các thỏa thuận chiến lược đã ký, vừa nhằm tôn trọng đối tác rằng chúng ta ký thật làm thật, vừa nhằm giảm thiểu rủi ro từ các cú sốc bên ngoài cho chính chúng ta.
Thứ ba, về động lực tăng trưởng. Chính sách tiền tệ và tăng trưởng tín dụng vẫn đóng vai trò chủ đạo. Theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước, năm 2025, tăng trưởng tín dụng lên tới 19,1%, trong khi trung bình các năm trước đây chỉ khoảng 15%. Tỷ trọng tín dụng so với GDP lên tới 146%, là mức cao nhất trong số các nước có thu nhập trung bình tương đồng như Việt Nam. Trong khi đó, tăng trưởng tiền gửi chỉ vào khoảng 14% khiến cho sức ép tăng lãi suất đến sớm.
Tăng trưởng phụ thuộc tín dụng dẫn tới hệ quả không mong muốn: một mặt, giá tài sản tăng tạo rủi ro bong bóng; mặt khác, chi phí đầu vào cũng tăng nhanh hơn do lãi suất tăng trong khi đáng ra nên ở mức thấp càng lâu càng tốt để hỗ trợ nền sản xuất và kinh tế thực. Điều này đòi hỏi một cách tiếp cận mới về mô hình tăng trưởng, trung hạn là đẩy mạnh vai trò của chính sách tài khóa và dài hạn là sự thay đổi tư duy “làm thế nào”, hướng tới nâng cao năng lực chung của nền kinh tế.
Thứ tư, một động lực tăng trưởng khác được kỳ vọng là chính sách tài khóa và đầu tư công chưa thực sự phát huy vai trò. Tính đến cuối năm 2025, tỷ lệ đầu tư công chỉ đạt 70% so với kế hoạch, trong khi trần thâm hụt ngân sách được nới từ 4 lên 4,5% GDP và tỷ trọng chi tiêu công so với GDP cũng lên tới 7,5%, là mức cao nhất từ năm 2012 đến nay. Điều này cho thấy năng lực quản lý và vận hành chi tiêu đầu tư công chưa đáp ứng yêu cầu và cần cải thiện.
Các lý thuyết kinh tế thường đề cập bốn nguồn lực chính của các hoạt động kinh tế, bao gồm: ba nguồn lực truyền thống là vốn, lao động và đất đai, cùng với nguồn lực thứ tư là khả năng sử dụng ba nguồn lực truyền thống đó – có thể gọi là công nghệ hoặc doanh trí. Ba nguồn lực kinh tế truyền thống là khan hiếm và có giới hạn, do vậy công nghệ/doanh trí sẽ quyết định sự thay đổi tiềm năng hay năng lực của các hoạt động kinh tế về dài hạn.
Các chính sách kinh tế cũng thường theo hướng trọng cầu, tức là tác động phía cầu, với ý tưởng có cầu sẽ dẫn dắt cung. Khi các chính sách kinh tế được đưa ra nhằm mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhưng năng lực của nền kinh tế không đáp ứng, tất yếu sẽ dẫn tới sự tăng giá – lạm phát và nguy cơ bong bóng tài sản. Nói một cách bình dân, kích thích kinh tế trong khi năng lực còn yếu có thể dẫn tới tăng trưởng nóng nhưng không bền vững.
Để hiểu tại sao chúng ta cần một mô hình tăng trưởng mới, hãy bắt đầu bằng việc xác định chúng ta đang ở đâu và có nhiệm vụ gì. Năm 2026, Quốc hội đã thông qua mục tiêu tăng trưởng kinh tế hơn 10%, nhưng đảm bảo tăng trưởng bền vững, kiểm soát lạm phát lạm phát không quá 4,5% và giữ ổn định kinh tế vĩ mô. Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước cũng được yêu cầu điều hành chính sách tiền tệ và tài khóa linh hoạt nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng, đồng thời đảm bảo cân đối các biến số vĩ mô lớn như lạm phát và tỷ giá.
Tuy nhiên, Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính tiền tệ Quốc gia đã đưa ra khuyến nghị với Chính phủ về việc không nên mở rộng chính sách tiền tệ, điều hành thận trọng hơn, do những lo ngại rủi ro đối với nền kinh tế. Hội đồng cũng đề nghị phối hợp một cách hợp lý giữa chính sách tiền tệ với chính sách tài khóa; tập trung vào chuyển đổi số, công nghệ cao, công nghệ thông tin, hạ tầng số, đổi mới sáng tạo.
Ngân hàng Nhà nước sau đó cũng đưa ra mục tiêu tăng trưởng tín dụng 15% cho năm 2026, là mức bình thường trong những năm qua, nhưng thấp hơn mục tiêu 16% đặt ra hồi đầu năm 2025. Ngân hàng Nhà nước cũng đưa ra thông điệp sẽ điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, kiểm soát lạm phát và ổn định tỷ giá và theo dõi chặt chẽ tín dụng vào khu vực rủi ro bong bóng cao là bất động sản.
Như vậy, có thể thấy rằng chúng ta mong muốn tăng trưởng trong một bối cảnh các nguồn lực truyền thống đang ở mức giới hạn. Khuyến cáo của Hội đồng Tư vấn là một cảnh báo quan trọng và trực tiếp về rủi ro của mô hình tăng trưởng phụ thuộc quá nhiều vào chính sách tiền tệ lỏng và tăng trưởng tín dụng. Trong ngắn hạn thì mô hình đó có thể phù hợp, nhưng về dài hạn, đó không phải là một mô hình bền vững.
Lựa chọn thay thế hoặc bổ trợ cho chính sách tiền tệ được nhắc tới nhiều nhất là chính sách tài khóa và đầu tư công. Tuy nhiên, nếu chỉ đơn thuần đẩy mạnh chi tiêu và đầu tư công, đó cũng chưa phải là giải pháp cho mô hình tăng trưởng dài hạn nếu năng lực triển khai đầu tư công hạn chế, hoặc ít nhất còn bị chi phối bởi e ngại sự ràng buộc trách nhiệm và cơ chế.
Ngay cả trong năm 2025, là năm mà quyết tâm tăng trưởng rất cao và Chính phủ quyết tâm thực hiện, tỷ lệ chi tiêu công cũng chỉ ở mức gần đạt kế hoạch. Điều này gắn với một quá trình cải cách hành chính và thể chế, tạo ra cơ chế phù hợp nhằm cởi trói tư duy trong việc thực thi đầu tư công.
Chính phủ đang có các bước đi đúng. Về mục đích đầu tư công, Chính phủ đã khởi động một chương trình phát triển hạ tầng đầy tham vọng, dựa trên nguồn vốn công và tư nhân, với việc triển khai 250 dự án quy mô lớn trải rộng trên toàn quốc – từ giao thông và logistics đến nhà ở và năng lượng – không chỉ nhằm thúc đẩy đầu tư công đơn thuần, mà còn nhằm cải thiện khả năng liên kết và kết nối hạ tầng kinh tế, tạo nền tảng nâng cao năng lực của nền kinh tế về dài hạn.
Về mặt thể chế (mô hình quản trị), năm 2025 được đánh dấu khá rõ nét bởi cam kết cải cách thể chế và nâng cao hiệu quả quản trị. Chính phủ đã nhấn mạnh việc tinh gọn tổ chức bộ máy gắn với phân cấp, phân quyền như một phần trong nỗ lực tổng thể nhằm tăng hiệu quả và trách nhiệm ra quyết định trên toàn quốc với việc sáp nhập các tỉnh, thành phố và tập trung hoạt động của bộ máy hành chính ở cấp cao hơn thay vì sự dàn trải và cồng kềnh tới cấp xã như trước đây.
Về tư duy kinh tế, một cải cách quan trọng là việc ban hành Nghị quyết số 79-NQ/TW về kinh tế nhà nước và Nghị quyết 68-NQ/TW về kinh tế tư nhân. Hai nghị quyết này đều tập trung vào các vấn đề thuộc về nâng cao năng lực của nền kinh tế - là một nhân tố nền tảng có thể thay đổi mô hình tăng trưởng truyền thống, với sự nhấn mạnh vào bốn từ: đổi mới, sáng tạo, quản trị và minh bạch. Hai nghị quyết tạo ra một sự bổ trợ cho nhau, với khu vực kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất của tăng trưởng và tạo việc làm, còn khu vực kinh tế nhà nước giữ vai trò định hướng và ổn định tăng trưởng, tập trung vào các lĩnh vực chiến lược bao gồm năng lượng, hạ tầng và tài chính.
Hai nghị quyết này, nếu triển khai và thực thi nghiêm túc, có thể thay đổi căn bản tình trạng hiện tại của khu vực kinh tế tư nhân là năng lực cạnh tranh yếu, khó tiếp cận vốn và công nghệ; của khu vực kinh tế nhà nước là hiệu quả sử dụng vốn thấp, thiếu minh bạch và quản trị lạc hậu. Nghĩa là, nếu những điều này trở thành hiện thực, cùng với hoạt động đầu tư công hướng tới hạ tầng và cải cách thể chế hướng tới hiệu quả nêu trên, nền kinh tế có thể có sự thay đổi căn bản mô hình tăng trưởng truyền thống vốn dựa phần lớn vào tín dụng trong gần 40 năm qua từ khi Đổi mới năm 1986.
Nếu Đổi mới 1986 giúp chuyển đổi cách nghĩ từ nền kinh tế từ tập trung bao cấp và kế hoạch hóa sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thì những gì đang diễn ra trong năm 2025 và 2026 đánh dấu khởi đầu của sự thay đổi quan trọng trong cách làm. Nói cách khác, sau gần 40 năm loay hoay với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta đã bắt đầu định hình rõ nét hơn làm thế nào để đi trên con đường đó. Tôi cho rằng chúng ta nên gọi đó là Đổi mới 2 để đánh dấu một giai đoạn chuyển biến lớn của cách quản trị quốc gia và cách làm kinh tế.
Thị trường chứng khoán phản ánh các kỳ vọng kinh tế. Năm 2025, thị trường chứng khoán Việt Nam đã có những kết quả nổi bật, không chỉ ở việc chỉ số tăng trưởng tốt, mà còn ở việc tổ chức FTSE Russell đã thông báo chính thức nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi thứ cấp.
Sự kiện nâng hạng không chỉ giúp xác nhận các nỗ lực không mệt mỏi của Chính phủ trong việc phát triển thị trường vốn, một thành phần quan trọng của kinh tế thị trường, mà còn giúp Việt Nam có thể thu hút trở lại các nguồn vốn nước ngoài phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế. Sự quyết tâm trong việc phát triển thị trường vốn, thu hút nguồn lực nước ngoài cho tăng trưởng kinh tế, cũng được thể hiện bởi quyết tâm xây dựng Trung tâm Tài chính quốc tế tại Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng.
Với những nỗ lực trong việc xây dựng nền tảng cho một mô hình tăng trưởng mới và hạ tầng thị trường vốn tiệm cận thông lệ quốc tế, chúng ta hoàn toàn có thể tin tưởng vào sự phát triển bền vững của thị trường chứng khoán Việt Nam. Nếu như trước đây thị trường bị chi phối chủ yếu bởi chu kỳ tiền tệ, bởi sự bơm thổi về doanh nghiệp, dẫn tới bong bóng nở và vỡ, tạo ra các cú tăng giảm lớn, thì từ bây giờ, chúng ta có thể kỳ vọng rằng thị trường sẽ vận hành dựa trên các yếu tố cơ bản của nền kinh tế và doanh nghiệp.
Thực tế, các doanh nghiệp tốt và có triển vọng đã và sẽ được nhà đầu tư tìm đến. Những vụ việc làm giá hay bơm thổi cổ phiếu gần như đã không còn phổ biến. Sự đổi mới về cách làm kinh tế đã dẫn tới sự thay đổi về cách “chơi” chứng khoán: “đầu tư” chứng khoán.
Cuối cùng, tôi muốn gửi tới những nhà đầu tư chứng khoán rằng rất có thể từ nay chúng ta sẽ không còn phải tự hỏi tại sao cùng phụ thuộc vào chính sách tiền tệ nhưng sao chứng khoán nước ngoài không có “cây thông” mà Việt Nam lại nhiều thế. Chúc các bạn một năm mới đầu tư thành côn
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html
-
Xuất khẩu năm 2026: Vươn mình trong thách thức
Theo đánh giá từ các bộ, ngành và tổ chức quốc tế, xuất khẩu của Việt Nam năm 2026 được dự báo có nhiều yếu tố thuận lợi để bứt phá về kim ngạch nhờ các lợi thế trong nước và bối cảnh quốc tế. Đó là sự cộng hưởng từ các Hiệp định Thương mại tự do (FTA) thế hệ mới, như Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA), Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Vương quốc Anh và Bắc Ailen (UKVFTA) và Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP); vị thế “mắt xích” trọng yếu của Việt Nam trong chuỗi cung ứng công nghệ cao; năng lực xuất khẩu nông sản “lên ngôi” nhờ chuyển dịch mạnh mẽ từ tư duy “sản xuất” sang “kinh tế nông nghiệp”; hạ tầng logistics và chuyển đổi số quốc gia.
Nhìn lại năm 2025, trong bối cảnh kinh tế và thương mại toàn cầu tiếp tục đối mặt với nhiều biến động phức tạp, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam vẫn bứt phá mạnh mẽ. Theo số liệu từ Cục Thống kê (Bộ Tài chính), tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam năm 2025 đạt mức kỷ lục 475,04 tỷ USD, tăng 17% so với năm trước (năm 2024 đạt 405,53 tỷ USD). Việt Nam tiếp tục khẳng định vị thế là một trong những nền kinh tế có độ mở lớn và sức cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế.
Điểm nhấn đáng chú ý nhất trong cơ cấu xuất khẩu chính là sự đóng góp ổn định và áp đảo của nhóm hàng công nghiệp chế biến, khi chiếm tới 88,7% tổng kim ngạch, tương đương 421,47 tỷ USD. Việc duy trì được tỷ trọng lớn ở nhóm hàng có hàm lượng giá trị gia tăng cao cho thấy sự chuyển dịch đúng đắn trong cơ cấu công nghiệp.
Đặc biệt, năm 2025 ghi nhận sự phát triển vượt bậc của xuất khẩu dịch vụ, tạo ra thế “chân kiềng” vững chắc hỗ trợ cho xuất khẩu hàng hóa. Kim ngạch xuất khẩu dịch vụ năm 2025 ước đạt 30,31 tỷ USD, tăng 18,9% so với năm trước. Trong đó, dịch vụ du lịch đạt 15,22 tỷ USD (chiếm 50,2% tổng kim ngạch dịch vụ, tăng 24,4%) và dịch vụ vận tải đạt 8,8 tỷ USD (chiếm 29%, tăng 23,6%). Sự phục hồi và tăng trưởng của các ngành dịch vụ này không chỉ đóng góp vào tổng kim ngạch, mà còn giúp tối ưu hóa chi phí và nâng cao hiệu quả cho các hoạt động thương mại hàng hóa.
Trong kết quả chung của năm 2025, không thể không nhắc tới vai trò “trụ đỡ” của ngành nông nghiệp, khi xuất khẩu của nhóm hàng nông, lâm, thủy sản đã đạt kỷ lục 70,09 tỷ USD, tăng 12% so với 2024, khẳng định vị thế là “căn bếp của thế giới”. Đây là kết quả của việc định hướng chiến lược phát triển, chuyển từ tư duy sản xuất số lượng sang tạo giá trị gia tăng.
Từ kết quả ấn tượng và nền tảng vững chắc của năm 2025, bước sang năm 2026, xuất khẩu của Việt Nam được dự báo sẽ tiếp tục duy trì đà tăng trưởng nhờ vào sự phục hồi rõ nét của các nền kinh tế lớn là đối tác thương mại hàng đầu như Hoa Kỳ, EU và Trung Quốc. Bên cạnh đó, xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu vẫn đang diễn ra với tốc độ nhanh, trong đó Việt Nam tiếp tục được lựa chọn là điểm đến chiến lược trong chiến dịch “Trung Quốc +1”.
Sự bùng nổ của kinh tế số và thương mại điện tử xuyên biên giới cũng mở ra những ngách thị trường mới cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam. Việc tận dụng các nền tảng số để tiếp cận trực tiếp với người tiêu dùng toàn cầu sẽ giúp giảm bớt các khâu trung gian, từ đó nâng cao biên lợi nhuận và xây dựng thương hiệu hàng hóa Việt Nam bền vững hơn trong năm 2026.
Một trong những động lực quan trọng nhất thúc đẩy xuất khẩu năm 2026 chính là việc khai thác sâu hơn lợi thế từ các FTA thế hệ mới như CPTPP, EVFTA, UKVFTA và đặc biệt là với RCEP. Việc tham gia vào các chuỗi giá trị trong khu vực này sẽ giúp Việt Nam tối ưu hóa nguồn nguyên liệu nhập khẩu từ các nước nội khối để sản xuất hàng xuất khẩu, từ đó giải quyết bài toán quy tắc xuất xứ để hưởng ưu đãi thuế khi xuất khẩu sang các thị trường khó tính như Nhật Bản hay Australia.
Trong năm 2026, việc các dòng thuế tiếp tục được cắt giảm theo lộ trình của các FTA cũng sẽ giúp hàng hóa Việt Nam có lợi thế cạnh tranh về giá so với các đối thủ chưa có thỏa thuận thương mại với các thị trường lớn. Không chỉ dừng lại ở các mặt hàng công nghiệp, các mặt hàng nông, lâm, thủy sản cũng sẽ có cơ hội bứt phá nếu tận dụng tốt các cam kết về kiểm dịch thực vật và tiêu chuẩn chất lượng trong FTA.
Trên cơ sở phân tích, nhận định bối cảnh trong nước và thế giới, Bộ Công Thương đặt ra mục tiêu tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2026 tăng trên 8% (tương đương tăng thêm 38 tỷ USD); cán cân thương mại tiếp tục có xuất siêu ở mức trên 23 tỷ USD, tăng 15% so với năm 2025.
Đánh giá về triển vọng xuất khẩu của Việt Nam, Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) và Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) cùng chung nhận định: sau giai đoạn phục hồi mạnh mẽ của năm 2025, xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2026 dự kiến sẽ duy trì đà tăng trưởng ổn định nhờ khả năng thích ứng tốt với các tiêu chuẩn xanh và sự dịch chuyển mạnh mẽ sang các mặt hàng công nghệ cao như bán dẫn, linh kiện điện tử.
Đặc biệt, việc các dòng vốn FDI chất lượng cao bắt đầu đi vào sản xuất đại trà giúp Việt Nam khẳng định vị thế là “công xưởng công nghệ” mới và một mắt xích không thể thay thế trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Từ góc độ các ngân hàng thương mại quốc tế, HSBC và Standard Chartered cũng nhìn nhận Việt Nam đang bước vào chu kỳ xuất khẩu mới dựa trên sự đa dạng hóa thị trường và tận dụng hiệu quả các FTA thế hệ mới như CPTPP và EVFTA. Đặc biệt, năm 2026 sẽ chứng kiến sự bùng nổ của xuất khẩu nông sản chất lượng cao nhờ việc áp dụng thành công các tiêu chuẩn canh tác bền vững. Sự kết hợp giữa công nghiệp hiện đại và nông nghiệp thông minh, bền vững được xem là “đôi cánh” giúp xuất khẩu Việt Nam bay cao trong năm 2026.
Mặc dù triển vọng rất rộng mở, nhưng hoạt động xuất khẩu của Việt Nam năm 2026 cũng sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức đòi hỏi sự chuẩn bị kỹ lưỡng. Thách thức lớn nhất đến từ việc các thị trường nhập khẩu ngày càng thắt chặt các tiêu chuẩn về môi trường, xã hội và quản trị (ESG). Các quy định như Cơ chế Điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của EU hay những yêu cầu khắt khe về truy xuất nguồn gốc chống phá rừng sẽ không còn là dự báo, mà trở thành những rào cản trực tiếp đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam.
Thêm vào đó, chi phí logistics và vận tải biển vẫn là một ẩn số khó lường do ảnh hưởng từ các xung đột địa chính trị trên thế giới. Việc này có thể làm ảnh hưởng đến lợi thế cạnh tranh về giá và gây gián đoạn chuỗi cung ứng cục bộ.
Một vấn đề nội tại khác cần được quan tâm là sự sụt giảm kim ngạch xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước trong năm 2025 (giảm 6,1%). Nếu không có những chính sách hỗ trợ kịp thời để nâng cao năng lực sản xuất và kết nối doanh nghiệp nội địa với chuỗi cung ứng của các tập đoàn FDI, khoảng cách giữa hai khu vực này sẽ ngày càng nới rộng, khiến nền kinh tế thiếu đi sự tự chủ.
Để hiện thực hóa những cơ hội và vượt qua thách thức trong năm 2026, các chuyên gia trong lĩnh vực xuất khẩu nhấn mạnh: cần một chiến lược tổng thể và đồng bộ. Theo đó, Chính phủ và các cơ quan chức năng cần tiếp tục đẩy mạnh công tác dự báo thị trường, cung cấp thông tin kịp thời về các thay đổi trong chính sách thương mại của các nước để doanh nghiệp có phương án ứng phó phù hợp. Việc hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện chuyển đổi số và chuyển đổi xanh phải được xem là ưu tiên hàng đầu, thông qua các gói tín dụng ưu đãi và tư vấn kỹ thuật.
Đối với các doanh nghiệp, cần tập trung nâng cao hàm lượng công nghệ trong sản phẩm, thay đổi tư duy sản xuất từ “gia công” sang “sáng tạo” và phát triển bền vững. Việc xây dựng thương hiệu riêng cho hàng hóa Việt Nam thay vì chỉ xuất khẩu thô hoặc dưới nhãn mác nước ngoài sẽ là “chìa khóa” để gia tăng giá trị kim ngạch một cách thực chất.
Bên cạnh đó, cần chú trọng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao để đáp ứng các tiêu chuẩn sản xuất hiện đại và yêu cầu khắt khe của thị trường quốc tế.
Với vai trò cơ quan quản lý nhà nước, Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho biết một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong năm 2026 là tiếp tục hoàn thiện việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật liên quan gồm 4 nghị định (Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Quản lý ngoại thương; Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Quản lý ngoại thương về xuất xứ hàng hóa; Nghị định quy định tiêu chí xác định xuất xứ Việt Nam đối với hàng lưu thông trong nước; Nghị định về kinh doanh xuất, nhập khẩu gạo thay thế Nghị định số 107/2018/NĐ-CP; Nghị định số 01/2025/NĐ-CP) và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định việc nhập khẩu, tạm nhập khẩu xe ô tô theo hình thức quà biếu, quà tặng, tài sản di chuyển.
Nhằm thúc đẩy sản xuất và phát triển thị trường, Cục Xuất nhập khẩu sẽ tham mưu các giải pháp tăng trưởng bền vững, chú trọng tháo gỡ rào cản cho ngành thép và dệt may tại các thị trường Mexico, EU và EAEU (Liên minh Kinh tế Á-Âu). Bên cạnh đó, công tác phối hợp liên ngành được đẩy mạnh để mở cửa thị trường nông sản, đặc biệt là thúc đẩy ký kết các Nghị định thư xuất khẩu chính ngạch với Trung Quốc. Đồng thời, tích cực đàm phán các FTA mới, nâng cấp các hiệp định hiện có và thúc đẩy hiệp định thương mại đối ứng công bằng, cân bằng với Hoa Kỳ.
Sự kết hợp chặt chẽ giữa nỗ lực tự thân của doanh nghiệp, sự hỗ trợ từ cơ chế chính sách và việc khai thác hiệu quả các FTA sẽ tạo nên một lực đẩy mạnh mẽ, giúp xuất khẩu Việt Nam không chỉ đạt được những con số kỷ lục mới, mà còn phát triển theo hướng chất lượng, ổn định và bền vững trong năm 2026 và những năm tiếp theo.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html
-
Xuất khẩu năm 2026: Vươn mình trong thách thức
Theo đánh giá từ các bộ, ngành và tổ chức quốc tế, xuất khẩu của Việt Nam năm 2026 được dự báo có nhiều yếu tố thuận lợi để bứt phá về kim ngạch nhờ các lợi thế trong nước và bối cảnh quốc tế. Đó là sự cộng hưởng từ các Hiệp định Thương mại tự do (FTA) thế hệ mới, như Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA), Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Vương quốc Anh và Bắc Ailen (UKVFTA) và Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP); vị thế “mắt xích” trọng yếu của Việt Nam trong chuỗi cung ứng công nghệ cao; năng lực xuất khẩu nông sản “lên ngôi” nhờ chuyển dịch mạnh mẽ từ tư duy “sản xuất” sang “kinh tế nông nghiệp”; hạ tầng logistics và chuyển đổi số quốc gia.
Nhìn lại năm 2025, trong bối cảnh kinh tế và thương mại toàn cầu tiếp tục đối mặt với nhiều biến động phức tạp, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam vẫn bứt phá mạnh mẽ. Theo số liệu từ Cục Thống kê (Bộ Tài chính), tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam năm 2025 đạt mức kỷ lục 475,04 tỷ USD, tăng 17% so với năm trước (năm 2024 đạt 405,53 tỷ USD). Việt Nam tiếp tục khẳng định vị thế là một trong những nền kinh tế có độ mở lớn và sức cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế.
Điểm nhấn đáng chú ý nhất trong cơ cấu xuất khẩu chính là sự đóng góp ổn định và áp đảo của nhóm hàng công nghiệp chế biến, khi chiếm tới 88,7% tổng kim ngạch, tương đương 421,47 tỷ USD. Việc duy trì được tỷ trọng lớn ở nhóm hàng có hàm lượng giá trị gia tăng cao cho thấy sự chuyển dịch đúng đắn trong cơ cấu công nghiệp.
Đặc biệt, năm 2025 ghi nhận sự phát triển vượt bậc của xuất khẩu dịch vụ, tạo ra thế “chân kiềng” vững chắc hỗ trợ cho xuất khẩu hàng hóa. Kim ngạch xuất khẩu dịch vụ năm 2025 ước đạt 30,31 tỷ USD, tăng 18,9% so với năm trước. Trong đó, dịch vụ du lịch đạt 15,22 tỷ USD (chiếm 50,2% tổng kim ngạch dịch vụ, tăng 24,4%) và dịch vụ vận tải đạt 8,8 tỷ USD (chiếm 29%, tăng 23,6%). Sự phục hồi và tăng trưởng của các ngành dịch vụ này không chỉ đóng góp vào tổng kim ngạch, mà còn giúp tối ưu hóa chi phí và nâng cao hiệu quả cho các hoạt động thương mại hàng hóa.
Trong kết quả chung của năm 2025, không thể không nhắc tới vai trò “trụ đỡ” của ngành nông nghiệp, khi xuất khẩu của nhóm hàng nông, lâm, thủy sản đã đạt kỷ lục 70,09 tỷ USD, tăng 12% so với 2024, khẳng định vị thế là “căn bếp của thế giới”. Đây là kết quả của việc định hướng chiến lược phát triển, chuyển từ tư duy sản xuất số lượng sang tạo giá trị gia tăng.
Từ kết quả ấn tượng và nền tảng vững chắc của năm 2025, bước sang năm 2026, xuất khẩu của Việt Nam được dự báo sẽ tiếp tục duy trì đà tăng trưởng nhờ vào sự phục hồi rõ nét của các nền kinh tế lớn là đối tác thương mại hàng đầu như Hoa Kỳ, EU và Trung Quốc. Bên cạnh đó, xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu vẫn đang diễn ra với tốc độ nhanh, trong đó Việt Nam tiếp tục được lựa chọn là điểm đến chiến lược trong chiến dịch “Trung Quốc +1”.
Sự bùng nổ của kinh tế số và thương mại điện tử xuyên biên giới cũng mở ra những ngách thị trường mới cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam. Việc tận dụng các nền tảng số để tiếp cận trực tiếp với người tiêu dùng toàn cầu sẽ giúp giảm bớt các khâu trung gian, từ đó nâng cao biên lợi nhuận và xây dựng thương hiệu hàng hóa Việt Nam bền vững hơn trong năm 2026.
Một trong những động lực quan trọng nhất thúc đẩy xuất khẩu năm 2026 chính là việc khai thác sâu hơn lợi thế từ các FTA thế hệ mới như CPTPP, EVFTA, UKVFTA và đặc biệt là với RCEP. Việc tham gia vào các chuỗi giá trị trong khu vực này sẽ giúp Việt Nam tối ưu hóa nguồn nguyên liệu nhập khẩu từ các nước nội khối để sản xuất hàng xuất khẩu, từ đó giải quyết bài toán quy tắc xuất xứ để hưởng ưu đãi thuế khi xuất khẩu sang các thị trường khó tính như Nhật Bản hay Australia.
Trong năm 2026, việc các dòng thuế tiếp tục được cắt giảm theo lộ trình của các FTA cũng sẽ giúp hàng hóa Việt Nam có lợi thế cạnh tranh về giá so với các đối thủ chưa có thỏa thuận thương mại với các thị trường lớn. Không chỉ dừng lại ở các mặt hàng công nghiệp, các mặt hàng nông, lâm, thủy sản cũng sẽ có cơ hội bứt phá nếu tận dụng tốt các cam kết về kiểm dịch thực vật và tiêu chuẩn chất lượng trong FTA.
Trên cơ sở phân tích, nhận định bối cảnh trong nước và thế giới, Bộ Công Thương đặt ra mục tiêu tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2026 tăng trên 8% (tương đương tăng thêm 38 tỷ USD); cán cân thương mại tiếp tục có xuất siêu ở mức trên 23 tỷ USD, tăng 15% so với năm 2025.
Đánh giá về triển vọng xuất khẩu của Việt Nam, Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) và Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) cùng chung nhận định: sau giai đoạn phục hồi mạnh mẽ của năm 2025, xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2026 dự kiến sẽ duy trì đà tăng trưởng ổn định nhờ khả năng thích ứng tốt với các tiêu chuẩn xanh và sự dịch chuyển mạnh mẽ sang các mặt hàng công nghệ cao như bán dẫn, linh kiện điện tử.
Đặc biệt, việc các dòng vốn FDI chất lượng cao bắt đầu đi vào sản xuất đại trà giúp Việt Nam khẳng định vị thế là “công xưởng công nghệ” mới và một mắt xích không thể thay thế trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Từ góc độ các ngân hàng thương mại quốc tế, HSBC và Standard Chartered cũng nhìn nhận Việt Nam đang bước vào chu kỳ xuất khẩu mới dựa trên sự đa dạng hóa thị trường và tận dụng hiệu quả các FTA thế hệ mới như CPTPP và EVFTA. Đặc biệt, năm 2026 sẽ chứng kiến sự bùng nổ của xuất khẩu nông sản chất lượng cao nhờ việc áp dụng thành công các tiêu chuẩn canh tác bền vững. Sự kết hợp giữa công nghiệp hiện đại và nông nghiệp thông minh, bền vững được xem là “đôi cánh” giúp xuất khẩu Việt Nam bay cao trong năm 2026.
Mặc dù triển vọng rất rộng mở, nhưng hoạt động xuất khẩu của Việt Nam năm 2026 cũng sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức đòi hỏi sự chuẩn bị kỹ lưỡng. Thách thức lớn nhất đến từ việc các thị trường nhập khẩu ngày càng thắt chặt các tiêu chuẩn về môi trường, xã hội và quản trị (ESG). Các quy định như Cơ chế Điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của EU hay những yêu cầu khắt khe về truy xuất nguồn gốc chống phá rừng sẽ không còn là dự báo, mà trở thành những rào cản trực tiếp đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam.
Thêm vào đó, chi phí logistics và vận tải biển vẫn là một ẩn số khó lường do ảnh hưởng từ các xung đột địa chính trị trên thế giới. Việc này có thể làm ảnh hưởng đến lợi thế cạnh tranh về giá và gây gián đoạn chuỗi cung ứng cục bộ.
Một vấn đề nội tại khác cần được quan tâm là sự sụt giảm kim ngạch xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước trong năm 2025 (giảm 6,1%). Nếu không có những chính sách hỗ trợ kịp thời để nâng cao năng lực sản xuất và kết nối doanh nghiệp nội địa với chuỗi cung ứng của các tập đoàn FDI, khoảng cách giữa hai khu vực này sẽ ngày càng nới rộng, khiến nền kinh tế thiếu đi sự tự chủ.
Để hiện thực hóa những cơ hội và vượt qua thách thức trong năm 2026, các chuyên gia trong lĩnh vực xuất khẩu nhấn mạnh: cần một chiến lược tổng thể và đồng bộ. Theo đó, Chính phủ và các cơ quan chức năng cần tiếp tục đẩy mạnh công tác dự báo thị trường, cung cấp thông tin kịp thời về các thay đổi trong chính sách thương mại của các nước để doanh nghiệp có phương án ứng phó phù hợp. Việc hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện chuyển đổi số và chuyển đổi xanh phải được xem là ưu tiên hàng đầu, thông qua các gói tín dụng ưu đãi và tư vấn kỹ thuật.
Đối với các doanh nghiệp, cần tập trung nâng cao hàm lượng công nghệ trong sản phẩm, thay đổi tư duy sản xuất từ “gia công” sang “sáng tạo” và phát triển bền vững. Việc xây dựng thương hiệu riêng cho hàng hóa Việt Nam thay vì chỉ xuất khẩu thô hoặc dưới nhãn mác nước ngoài sẽ là “chìa khóa” để gia tăng giá trị kim ngạch một cách thực chất.
Bên cạnh đó, cần chú trọng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao để đáp ứng các tiêu chuẩn sản xuất hiện đại và yêu cầu khắt khe của thị trường quốc tế.
Với vai trò cơ quan quản lý nhà nước, Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho biết một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong năm 2026 là tiếp tục hoàn thiện việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật liên quan gồm 4 nghị định (Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Quản lý ngoại thương; Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Quản lý ngoại thương về xuất xứ hàng hóa; Nghị định quy định tiêu chí xác định xuất xứ Việt Nam đối với hàng lưu thông trong nước; Nghị định về kinh doanh xuất, nhập khẩu gạo thay thế Nghị định số 107/2018/NĐ-CP; Nghị định số 01/2025/NĐ-CP) và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định việc nhập khẩu, tạm nhập khẩu xe ô tô theo hình thức quà biếu, quà tặng, tài sản di chuyển.
Nhằm thúc đẩy sản xuất và phát triển thị trường, Cục Xuất nhập khẩu sẽ tham mưu các giải pháp tăng trưởng bền vững, chú trọng tháo gỡ rào cản cho ngành thép và dệt may tại các thị trường Mexico, EU và EAEU (Liên minh Kinh tế Á-Âu). Bên cạnh đó, công tác phối hợp liên ngành được đẩy mạnh để mở cửa thị trường nông sản, đặc biệt là thúc đẩy ký kết các Nghị định thư xuất khẩu chính ngạch với Trung Quốc. Đồng thời, tích cực đàm phán các FTA mới, nâng cấp các hiệp định hiện có và thúc đẩy hiệp định thương mại đối ứng công bằng, cân bằng với Hoa Kỳ.
Sự kết hợp chặt chẽ giữa nỗ lực tự thân của doanh nghiệp, sự hỗ trợ từ cơ chế chính sách và việc khai thác hiệu quả các FTA sẽ tạo nên một lực đẩy mạnh mẽ, giúp xuất khẩu Việt Nam không chỉ đạt được những con số kỷ lục mới, mà còn phát triển theo hướng chất lượng, ổn định và bền vững trong năm 2026 và những năm tiếp theo.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html
-
2026: Năm thực thi các chính sách công nghệ và đổi mới sáng tạo
BK Holdings (ĐH Bách Khoa Hà Nội) là mô hình hệ thống doanh nghiệp sáng tạo và vườn ươm khởi nghiệp trong đại học đầu tiên tại Việt Nam. Ông có thể chia sẻ rõ hơn về mô hình này?
Đúng thế, BK Holdings là mô hình doanh nghiệp trong giáo dục, hoạt động như một công ty holding (công ty mẹ) chuyên đầu tư, thương mại hóa công nghệ từ nghiên cứu khoa học, kết nối nhà trường với doanh nghiệp và xã hội, tạo ra giá trị kinh tế từ tri thức. BK Holdings thành lập từ năm 2008, thời điểm đó, lãnh đạo Trường Đại học Bách khoa đã đi tham quan và học hỏi kinh nghiệm từ nhiều nước tiên tiến. Trên thế giới, mô hình doanh nghiệp trong trường đại học không mới lạ, mà rất phổ biến và vận hành theo những nguyên lý đã được kiểm chứng. Tuy nhiên, tại Việt Nam lúc bấy giờ thì đây là chuyện chưa từng có tiền lệ.
Như vậy, đến nay BK Holdings đã trải qua hơn 15 năm hoạt động, ươm tạo và đặc biệt là thực hiện khát vọng “Lab to Market”, đưa sáng chế ra thị trường. Những bài học và kinh nghiệm nào đã được đúc rút, thưa ông?
Sau quá trình thí điểm dài hơi, chúng tôi rút ra bài học quan trọng nhất là muốn thúc đẩy đổi mới sáng tạo thực chất, bắt buộc phải hình thành các mô hình hỗ trợ trung gian một cách chuyên nghiệp. Doanh nghiệp trực thuộc Trường như BK Holdings chỉ là một trong những hình thức của tổ chức trung gian này thôi.
Để mô hình trung gian vận hành thành công như kỳ vọng, cần đáp ứng một số điều kiện tiên quyết. Trước hết, mô hình này bắt buộc phải nằm trong một chiến lược dài hơi và xuyên suốt, gắn liền với chiến lược dài hạn của nhà trường cũng như cộng hưởng cùng hoạt động đào tạo và nghiên cứu. Đổi mới sáng tạo là một câu chuyện đường dài, đòi hỏi kiên trì, tính nhất quán cao độ trong chỉ đạo và thực hiện. Bên cạnh đó, cần phải có sự đầu tư thỏa đáng cùng với những cách thức đo đếm, đánh giá hiệu quả hoàn toàn khác biệt so với các hoạt động truyền thống.
Nói một cách cụ thể hơn, tôi thường nhắc đến nguyên tắc "4 chữ P". Chữ P thứ nhất là Policy (Chính sách), tức là phải xem định hướng và mong muốn của nhà trường là gì. Nếu một trường chỉ xác định mục tiêu đơn thuần là đào tạo, sinh viên tốt nghiệp ra trường và thu học phí là xong, thì chẳng cần quan tâm đến đổi mới sáng tạo hay vườn ươm làm gì. Vì vậy, chính sách và mong muốn của lãnh đạo trường là yếu tố đầu tiên.
Chữ P thứ hai là People (Con người). Chúng ta phải tự hỏi liệu mình có đội ngũ chuyên gia chuyên nghiệp chuyên trách về lĩnh vực này không. Thực tế cho thấy không phải cứ đưa một giáo sư rất giỏi về chuyên môn nghiên cứu sang làm đổi mới sáng tạo hay thương mại hóa là sẽ thành công. Bởi họ có thể thiếu hiểu biết về thị trường, không rành về kinh doanh hoặc tư duy chưa đủ cởi mở, dẫn đến việc triển khai gặp rất nhiều khó khăn.
Chữ P thứ ba là IP Portfolio (Danh mục tài sản trí tuệ), nghĩa là phải xem xét đặc thù các kết quả nghiên cứu của trường thuộc loại gì. Chẳng hạn, cách đi của trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn sẽ khác với Đại học Bách khoa, khác với Đại học Quốc gia hay trường Kiến trúc. Việc lựa chọn mô hình phải phụ thuộc chặt chẽ vào bản chất của danh mục kết quả nghiên cứu mà trường đang sở hữu.
Chữ P thứ tư là Proof of Concept Fund (Quỹ chứng minh ý tưởng). Đây là loại quỹ tập trung hỗ trợ giai đoạn chuyển tiếp từ nghiên cứu sang đổi mới sáng tạo. Trên thực tế, các nguồn kinh phí chủ yếu phục vụ nghiên cứu cơ bản hoặc nghiên cứu ứng dụng ở giai đoạn sớm, chưa giải quyết được “khoảng trống” để ý tưởng khoa học trở thành công nghệ hay sản phẩm có khả năng thương mại hóa.
Ông nói rằng không phải cứ giáo sư giỏi nghiên cứu là có thể làm tốt đổi mới sáng tạo hay thương mại hóa. Vậy, ông có thể chia sẻ rõ hơn về chữ P thứ hai (People)?
Trên thế giới, người ta đã nghiên cứu và chỉ ra rằng để làm được Innovation thì cần một nhóm nhân sự đặc thù gọi là "Procademic", tức là kết hợp giữa Professional (Chuyên nghiệp) và Academic (Học thuật).
Lý do cần đội ngũ Procademic là vì nếu trường đại học thuê một doanh nhân thuần túy bên ngoài vào làm hệ thống đổi mới sáng tạo, họ sẽ không hiểu được văn hóa và môi trường học thuật. Ngược lại, nếu dùng một giáo sư thuần túy hàn lâm thì lại thiếu tư duy kinh doanh. Do đó, người làm công việc này phải là người vừa hiểu luật chơi của các nhà nghiên cứu, bản thân cũng là tiến sĩ, nhưng đồng thời phải có tư duy kinh doanh, từng làm doanh nghiệp và biết cách quản trị.
Nói về “nhóm nghiên cứu” và “nhóm thương mại”, tôi xin chia sẻ thêm rằng thực tế thường tồn tại luồng ý kiến trái chiều giữa hai nhóm này. Điều này không chỉ xảy ra ở Việt Nam mà là tình trạng chung trên thế giới. Khi tôi trao đổi với các đồng nghiệp làm nhiệm vụ tương tự tại các đại học danh tiếng như Đại học Lund (Thụy Điển) hay Đại học Quốc gia Singapore (NUS), họ cũng gặp phải tình cảnh y hệt.
Nghĩa là, những người làm cầu nối thương mại hóa thường có tư duy khác biệt so với khối học thuật thuần túy. Các giáo sư hàn lâm thường nhìn chúng tôi với ánh mắt khó hiểu, thậm chí coi thường, họ cho rằng tại sao không tập trung nghiên cứu viết bài báo khoa học để lên hàm giáo sư mà lại đi làm những việc "thương mại" như mở doanh nghiệp spin-off hay chuyển giao công nghệ, những việc mà họ cho là "chợ búa" và kém sang.
Trước kia, các trường đại học chỉ tập trung cho hai sứ mệnh đầu tiên là đào tạo và nghiên cứu. Chỉ những năm gần đây, khi Nhà nước bắt đầu đưa ra các chính sách nhấn mạnh vào những từ khóa như "startup" hay "đổi mới sáng tạo", công việc của chúng tôi được đề cập đến như “sứ mệnh thứ 3” của đại học mới thực sự được nhìn nhận đúng mức.
Xin ông chia sẻ rõ hơn về chính sách của Singapore?
Về chính sách và kinh nghiệm của Singapore, tôi muốn đề cập đến một khái niệm mà gần đây ở Việt Nam mọi người bắt đầu nhắc đến nhiều, đó là mô hình "Triple Helix" hay còn gọi là sự kết nối “ba nhà”: Nhà nước, Nhà trường và Doanh nghiệp. Singapore chính là ví dụ tiêu biểu nhất cho mô hình này.
Một minh chứng cụ thể và kinh điển cho sự thành công của chính sách này tại Singapore là Block 71 (hay còn gọi là BLOCK71 Singapore). Để hình thành nên khu vực này, Singapore đã áp dụng triệt để sự kết nối ba nhà. Đầu tiên là vai trò của Nhà nước, họ hỗ trợ về mặt chính sách và bất động sản. Cụ thể, họ tận dụng một khu tòa nhà chung cư cũ nát, vốn dĩ định đập bỏ đi. Thay vì phá hủy, Singapore quyết định giữ lại, quy hoạch thành một khu chuyên biệt dành cho đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp.
Tiếp theo là vai trò của Nhà trường, đại diện là Đại học Quốc gia Singapore (NUS). Họ đóng góp tri thức, đội ngũ nghiên cứu, sinh viên, giảng viên và các kết quả nghiên cứu khoa học.
Cuối cùng là vai trò của Doanh nghiệp, với sự tham gia của SingTel – một nhà cung cấp dịch vụ viễn thông lớn, đơn vị có tiềm lực tài chính mạnh mẽ và dữ liệu lớn để đầu tư. Sự kết hợp của “ba nhà”, mỗi bên đóng góp thế mạnh nhất của mình, đã biến Block 71 thành cái nôi ươm tạo tới 65% các startup thành công nhất tại Singapore.
Điểm thứ hai rất đáng học hỏi là cơ chế đầu tư tài chính, cụ thể là hình thức "Matching Fund" hay còn gọi là vốn đối ứng. Cách làm của Singapore rất hay và thực tế, họ để khối tư nhân dẫn dắt. Cơ chế của họ là nếu tư nhân bỏ ra một đồng để đầu tư, thì Nhà nước sẽ đi theo và bỏ ra một đồng tương ứng. Logic ở đây là khi tư nhân đã bỏ tiền túi của chính họ ra, họ buộc phải là người có trách nhiệm cao nhất, phải cân đo đong đếm kỹ lưỡng rủi ro và hiệu quả, nên Nhà nước không cần phải lập hội đồng thẩm định phức tạp giám sát. Chính sách của họ thể hiện sự tin tưởng rất lớn vào khối tư nhân.
Liên quan đến mô hình Triple Helix, ông đánh giá như thế nào về “hệ sinh thái ba nhà” của Việt Nam?
Câu chuyện ba nhà của Việt Nam đang được nhắc đến rất nhiều, nhưng phần lớn mới dừng lại ở lý thuyết. Vấn đề cốt lõi là cách thức triển khai cụ thể, thời điểm nào thì cần sự tham gia của nhà nào, liều lượng bao nhiêu là đủ và cách thức phối hợp ra sao. Chúng ta không thể cứ hô hào một cách đơn giản là “ba bên” hãy hợp tác với nhau, mà bắt buộc phải nắm vững nguyên lý vận hành, biết rõ thời điểm và tỷ lệ tham gia của từng bên mới là điều quan trọng nhất.
Ví dụ các trung tâm đổi mới sáng tạo ở cấp độ thành phố tại các nước châu Âu, họ áp dụng mô hình “ba nhà” với lộ trình và liều lượng rất rõ ràng. Ở giai đoạn khởi tạo ban đầu, Nhà nước bao giờ cũng chiếm phần lớn vai trò để thúc đẩy, hỗ trợ nguồn lực và "tưới tắm" cho mô hình bén rễ. Theo thời gian, khi bộ máy đã bắt đầu vận hành, cổ phần và sự can thiệp của Nhà nước sẽ dần được pha loãng. Thay vào đó, vai trò vận hành sẽ được chuyển giao dần cho khối tư nhân.
Theo tôi, bản chất của việc kết hợp ba nhà là ở giai đoạn đầu, Nhà nước đóng vai trò bà đỡ, hỗ trợ nuôi dưỡng; nhưng về sau bắt buộc phải tận dụng sự nhanh nhạy của tư nhân để họ trực tiếp vận hành. Khi mô hình đã lớn mạnh, Nhà nước sẽ rút bớt vai trò, chỉ giữ nhiệm vụ đặt ra các chỉ số KPI và mục tiêu cụ thể.
Vậy, trong bức tranh tổng thể và cơ chế vận hành ba nhà đó, vai trò của Nhà trường là thế nào, thưa ông?
Vai trò của nhà trường vô cùng quan trọng vì đây chính là nơi cung cấp nguồn "hạt giống". Hạt giống chính là các kết quả nghiên cứu khoa học, là đội ngũ nhân sự, chuyên gia và các nhà nghiên cứu. Nếu chúng ta cứ mải mê nói về chuyện xây dựng vườn ươm, về các cơ chế hỗ trợ, "tưới tắm", "bón phân" mà trong tay lại không có những hạt giống tốt thì mọi nỗ lực cũng trở nên vô vọng. Để có được hạt giống tốt, trách nhiệm thuộc về các trường đại học và viện nghiên cứu. Còn doanh nghiệp, nhà nước hay các chính sách đầu tư đóng vai trò là vườn ươm và nguồn dinh dưỡng để nuôi lớn hạt giống ấy.
Theo ông, “điểm gãy” của quá trình đưa sản phẩm từ phòng thí nghiệm đến thị trường đang nằm ở đâu? Từ kinh nghiệm thực tế, yếu tố quyết định để các sáng chế không nằm trong ngăn kéo mà có thể thương mại hóa?
Riêng về khía cạnh thị trường và việc làm thế nào để áp dụng đúng mô hình "Lab - to - Market", tôi cho rằng mấu chốt nằm ở việc định hướng nghiên cứu phải chuẩn xác ngay từ những bước đầu tiên.
Giống như khi chúng ta bắt đầu một hành trình, nếu ngay từ khâu thiết lập ban đầu mà không xác định đích đến là thị trường, thì sẽ chẳng bao giờ đi đến cái đích đó cả. Nếu nhà khoa học chỉ xác định nghiên cứu để ra bài báo khoa học (paper) rồi chấm hết, họ sẽ chỉ theo những cách làm khoa học. Ngược lại, nếu xác định nghiên cứu để ra sản phẩm thương mại hóa, thì tư duy và cách tiếp cận ngay từ bước đầu tiên đã phải hoàn toàn khác biệt.
Tôi cho rằng việc điều chỉnh chính sách để thay đổi định hướng không hề khó. Chẳng hạn, các quỹ đầu tư nghiên cứu, thay vì đặt yêu cầu đầu ra là các bài báo khoa học, chúng ta hãy thay đổi "đề bài" thành yêu cầu bắt buộc phải có bằng sáng chế (patent) hoặc sản phẩm thương mại hóa thì mới được nghiệm thu.
Tựu trung, câu trả lời nằm ở hai yếu tố cốt lõi: chính sách và nguồn lực. Tôi cho rằng chính sách phải thực sự đúng đắn và nguồn lực phải đủ mạnh thì bộ máy mới vận hành được.
Hiện nay, về chính sách, định hướng vĩ mô, chúng tôi rất mừng là Tổng Bí thư Tô Lâm với vai trò đứng đầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã trực tiếp ký ban hành Nghị quyết 57-NQ/TW về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Tổng Bí thư đóng vai trò như “nhạc trưởng”, nhận diện vấn đề chuẩn xác và đưa ra những chính sách giúp "cởi trói". Như vậy có thể thấy, tầm nhìn và chính sách ở cấp cao nhất đã rất chuẩn, rất sát thực tế. Tuy nhiên, vấn đề nan giải hiện nay còn nằm ở khâu thực thi.
Bởi vì, dù vĩ mô đã mở đường, nhưng xuống đến thực thi vẫn tắc nghẽn vì thiếu hướng dẫn cụ thể và đội ngũ chuyên gia chuyên nghiệp. Bên cạnh đó, chính sách cần thời gian để lan tỏa và đi vào cuộc sống.
Việt Nam hiện rất chú trọng đến đổi mới sáng tạo, ủng hộ tư nhân, hỗ trợ startup. Vậy, theo ông dự đoán, năm 2026 sẽ là một năm như thế nào với hệ sinh thái khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo và mục tiêu “Lab to Market” của Việt Nam?
Năm 2026 sẽ là “năm của hành động”. Hiện nay, khung pháp lý mới đã hình thành, nguồn lực tài chính cũng đã sẵn sàng. Khi cơ chế và ngân sách đều đã có mà kết quả vẫn không đạt được, thì nguyên nhân không còn nằm ở điều kiện khách quan, mà thuộc về năng lực con người và trình độ quản lý. Vì vậy, năm 2026 đòi hỏi phải có hành động quyết liệt để hiện thực hóa những chỉ tiêu KPI đầy tham vọng.
Trong bối cảnh khung pháp lý và nguồn lực đã sẵn sàng, cộng thêm đó là các chính sách thúc đẩy đổi mới sáng tạo và mô hình “ba nhà”, theo ông, Việt Nam có cơ hội tạo ra những sản phẩm “Lab to Market” hay một startup AI đột phá, vươn tầm toàn cầu như OpenAI hay không?
Đối với các ngành kỹ thuật khác như công nghệ sinh học, cơ khí chính xác hay công nghệ vật liệu, cơ hội để startup Việt Nam “làm nên kỳ tích” là khá mong manh, thậm chí có thể nói là hơi vô vọng. Những lĩnh vực này đòi hỏi sự đầu tư khổng lồ về cơ sở vật chất, hệ thống phòng thí nghiệm hiện đại và một quy trình nghiên cứu bài bản, phức tạp kéo dài từ nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng cho đến nghiên cứu phát triển. Đó là cả một hệ thống đồ sộ mà chúng ta khó lòng đáp ứng ngay được. Tuy nhiên, riêng với lĩnh vực công nghệ thông tin và đặc biệt là AI, tôi có niềm tin mãnh liệt rằng người Việt Nam hoàn toàn có thể làm được nếu có sự đầu tư và chính sách chuẩn xác.
Khi trí tuệ Việt Nam được đặt trong một hệ sinh thái chuẩn mực, có chính sách khả thi, đầu tư bài bản và cơ chế trọng dụng nhân tài, người Việt sẽ phát huy rất tốt. Yếu tố quan trọng nhất và mang tính quyết định chính là chính sách - khả thi và khả dụng. Nếu chính sách ban hành mà doanh nghiệp và nhà khoa học không thể áp dụng được vào thực tế thì sẽ trở nên vô nghĩa.
Với đà chuyển biến tích cực như hiện nay, chúng ta không cần chờ đợi quá lâu. Khoảng năm 2026 hoặc 2027 là có thể nhìn thấy rõ kết quả của những chính sách vĩ mô tuyệt vời vừa được ban hành, điển hình như Nghị quyết 57-NQ/TW – văn bản được ví như "Khoán 10" trong lĩnh vực khoa học và công nghệ.
Để đạt được điều đó, tinh thần triển khai bắt buộc phải thật sự linh hoạt, đánh giá tình hình thực tế và điều chỉnh phù hợp. Tôi cảm nhận được tinh thần lạc quan, phấn khởi với những cơ chế "cởi trói" mới. Nếu dòng tiền được khơi thông đúng hướng, chúng ta hoàn toàn có quyền hy vọng vào một sự bứt phá trong tương lai gần.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html
-
Cận giao thừa, không xuất hiện tình trạng “sốt” giá
Theo báo cáo nhanh của Bộ Tài chính trên cơ sở tổng hợp từ các Sở Tài chính địa phương và dữ liệu giám sát của Cục Quản lý giá (Bộ Tài chính), trong ngày 16/02/2026 (tức 29 tháng Chạp), thị trường hàng hóa thiết yếu trên cả nước vận hành tương đối thông suốt.
“Các doanh nghiệp chủ động gia tăng dự trữ và đẩy mạnh đưa hàng ra thị trường trong những tuần trước Tết đã giúp nguồn cung được bảo đảm. Nhờ đó, dù nhu cầu mua sắm tăng cao trước thời điểm giao thừa, thị trường không ghi nhận hiện tượng khan hiếm diện rộng hay đứt gãy nguồn hàng”, Bộ Tài chính cho biết.
Song song với bảo đảm cung ứng, công tác quản lý thị trường tiếp tục được tăng cường. Các lực lượng chức năng đẩy mạnh kiểm tra việc niêm yết và bán theo giá niêm yết, kiểm soát chất lượng và xuất xứ hàng hóa, qua đó hạn chế nguy cơ đầu cơ, lợi dụng cao điểm cuối năm để tăng giá bất hợp lý.
"Mặt bằng giá cả trong ngày 29 Tết nhìn chung vẫn giữ ổn định mặc dù một số nhóm hàng điều chỉnh tăng nhẹ theo chu kỳ tiêu dùng thường niên cuối năm nhưng không gây biến động lớn lên thị trường".
(Bộ Tài chính)
Theo ghi nhận, nhu cầu mua sắm của người tiêu dùng tăng mạnh vào buổi sáng, đặc biệt với thực phẩm tươi sống, sau đó hạ nhiệt dần về trưa. Sức mua tập trung vào lương thực, thực phẩm tươi sống, thực phẩm chế biến, đồ uống, trái cây, hoa tươi và các mặt hàng phục vụ sinh hoạt gia đình.
Tại nhiều địa phương, giá gạo hầu như không thay đổi nhờ nguồn cung trong nước dồi dào và kế hoạch phân phối được triển khai sớm. Nhóm thịt lợn, gia cầm và thủy sản tăng nhẹ ở một số chợ truyền thống trong khi hệ thống siêu thị duy trì giá bán ổn định thông qua các chương trình bình ổn và khuyến mại.
Bên cạnh đó, rau củ và trái cây tăng trong phạm vi hẹp do chịu tác động từ thời tiết và chi phí vận chuyển. Các mặt hàng bánh kẹo, đồ uống và hàng tiêu dùng nhanh được cung ứng đầy đủ, không xuất hiện tình tạng tăng đột biến về giá.
Điển hình tại TP. Hồ Chí Minh, lượng hàng nhập về các chợ đầu mối giảm do một bộ phận tiểu thương nghỉ Tết và sức mua hạ nhiệt. Ở chợ đầu mối Thủ Đức, sản lượng rau và trái cây đạt khoảng 1.813 tấn/ngày, giảm 55% so với ngày trước nhưng giá bán buôn nhìn chung ổn định
Theo ghi nhận, một số mặt hàng như dưa leo, khổ qua giảm 3.000–5.000 đồng/kg do tiêu thụ chậm, trong khi mãng cầu tròn, quýt đường và xoài cát giảm khoảng 10.000 đồng/kg khi nguồn cung vượt cầu.
Tương tự, tại chợ đầu mối Hóc Môn, lượng rau củ quả đạt 560 tấn/ngày, giảm 49%; nhiều mặt hàng giảm 2.000–10.000 đồng/kg. Bên cạnh đó, lượng thịt heo về chợ đạt 271 tấn/ngày, giảm 58%, song giá heo hơi vẫn giữ ổn định trong khoảng 71.500–74.000 đồng/kg tùy loại.
Nguồn: Bộ Tài chínhĐối với nhóm hoa tươi và cây cảnh, mặt bằng giá có xu hướng nhích lên theo quy luật thường thấy vào những ngày giáp Tết. Tuy vậy, thị trường không ghi nhận hiện tượng tăng nóng hay “sốt” giá trên diện rộng.
Đáng chú ý, tại một số tỉnh, thành khu vực phía Bắc, giá hoa đào, quất giảm khoảng 20–30% trong ngày cuối năm khi tiểu thương chủ động hạ giá để đẩy nhanh tiêu thụ, hạn chế hàng tồn.
Riêng đối với vận tải hành khách, mức phụ thu Tết được áp dụng phổ biến từ 20% đến 60% tùy tuyến. Sau điều chỉnh, giá vé tuyến Huế – TP. Hồ Chí Minh dao động 750.000 – 850.000 đồng/vé (tăng 40 – 60%); tuyến Huế – Nha Trang khoảng 585.000 đồng/vé và tuyến Huế – Quảng Trị khoảng 150.000 đồng/vé (tăng 50%); tuyến Huế – Đồng Hới 182.000 đồng/vé (tăng 40%).
Bộ Tài chính dự báo sang ngày Mùng 1 Tết 2026, nhu cầu mua sắm sẽ giảm mạnh sau cao điểm trước giao thừa, đồng thời, nguồn cung đã được chuẩn bị kỹ từ trước Tết, trong khi một số hệ thống bán lẻ vẫn duy trì mở cửa phục vụ người dân giúp mặt bằng giá duy trì ổn định.
Một số dịch vụ như trông giữ xe hoặc ăn uống tại khu vui chơi, điểm du xuân có thể tăng nhẹ cục bộ, song không tạo áp lực lên mặt bằng giá chung của thị trường, Bộ Tài chính nhấn mạnh.
-Lan Anh
Kinh tế Nhật Bản thoát suy thoái kỹ thuật nhưng đà phục hồi vẫn mong manh
Kết quả này là phép thử sớm đối với chính phủ của Thủ tướng Nhật Bản Sanae Takaichi, ngay sau chiến thắng bầu cử của Đảng Dân chủ Tự do (LDP), trong bối cảnh áp lực chi phí sinh hoạt vẫn làm suy yếu niềm tin và nhu cầu trong nước.
Theo số liệu công bố ngày thứ Hai (16/2) từ Văn phòng Nội các Nhật Bản, tổng sản phẩm trong nước (GDP) của Nhật Bản trong quý 4/2025 tăng 0,1% so với quý trước, qua đó giúp nền kinh tế tránh suy thoái kỹ thuật.
Kết quả này đảo chiều so với mức giảm 0,7% của quý 3/2025, nhưng vẫn thấp hơn mức dự báo tăng 0,4% của các nhà phân tích trong khảo sát của hãng tin Reuters. Suy thoái kỹ thuật được định nghĩa là GDP giảm trong 2 quý liên tiếp.
So với cùng kỳ năm 2024, GDP quý 4/2025 của Nhật tăng 0,1%, giảm tốc từ mức 0,6% của quý 3/2025. Theo Văn phòng Nội các Nhật Bản, tiêu dùng tư nhân là động lực chính cho tăng trưởng trong 3 tháng cuối năm ngoái, giúp bù đắp một phần sự suy yếu của xuất khẩu và chi tiêu công.
Sau khi số liệu được công bố, chỉ số Nikkei 225 mở cửa phiên thứ Hai tăng 0,12% nhưng chốt phiên giảm 0,24%. Cùng lúc, đồng yên giảm 0,25% xuống 153,06 yên đổi 1 USD.
Tháng trước, Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) nâng dự báo tăng trưởng cho năm tài khóa 2025, kết thúc vào tháng 3/2026, lên 0,9% từ mức 0,7% đưa ra trước đó, đồng thời nâng dự báo cho năm tài khóa 2026 lên 1% từ 0,7%.
BOJ cho rằng đà tăng trưởng sẽ duy trì ở mức vừa phải khi các nền kinh tế khác trên thế giới phục hồi. Cơ quan này cũng nhận định một vòng xoáy đi lên giữa giá cả và tiền lương đang dần hình thành nhờ các biện pháp hỗ trợ kinh tế của Chính phủ Nhật Bản và điều kiện tín dụng vẫn thuận lợi.
Số liệu GDP được công bố trong lúc Nhật Bản tiếp tục thảo luận với Mỹ, đối tác thương mại lớn thứ hai của nước này, về cam kết đầu tư 550 tỷ USD theo thỏa thuận thương mại với Washington. Theo đài NHK đưa tin hôm thứ Sáu (13/2), Tokyo và Washington vẫn chưa chốt được các dự án đầu tiên gắn với cam kết này.
Bộ trưởng Kinh tế Nhật Bản Ryosei Akazawa cho biết ông kỳ vọng Tokyo và Washington chốt các dự án đầu tiên trước cuộc gặp dự kiến giữa Thủ tướng Takaichi và Tổng thống Mỹ Donald Trump tại Nhà Trắng vào tháng sau.
Ông Trump công bố cuộc gặp dự kiến này ngay trước cuộc bầu cử Hạ viện Nhật Bản ngày 8/2, khi Đảng (LDP cầm quyền do bà Takaichi dẫn đầu giành chiến thắng áp đảo.
Sau cuộc bầu cử, bà Takaichi cho biết sẽ thúc đẩy tăng trưởng bằng cách tăng đầu tư công thông qua chính sách tài khóa chủ động, dù chưa nêu chi tiết. Trước đó, bà cam kết tạm dừng áp thuế đối với thực phẩm trong 2 năm và nâng chi tiêu quốc phòng lên mức tương đương 2% ngân sách.
Trước ngày bỏ phiếu, bà Takaichi công bố kế hoạch ngân sách kỷ lục 122 nghìn tỷ yên cho năm tài khóa bắt đầu từ 1/4/2026, đánh dấu năm thứ hai liên tiếp chi tiêu kỷ lục, đồng thời cam kết hỗ trợ các hộ gia đình trước áp lực chi phí sinh hoạt.
Lạm phát của Nhật Bản giảm mạnh xuống 2,1% trong tháng 1/2026, mức thấp nhất kể từ tháng 3/2022. Tuy nhiên, lạm phát vẫn cao hơn mục tiêu 2% của BOJ suốt 45 tháng liên tiếp.
Số liệu kinh tế mới nhất cho thấy thách thức của các nhà hoạch định chính sách Nhật Bản ngày càng rõ nét. Trong khi đó, BOJ khẳng định sẽ tiếp tục nâng lãi suất và bình thường hóa chính sách tiền tệ sau nhiều năm chi phí vay siêu thấp, giữa bối cảnh lạm phát dai dẳng và đồng yên suy yếu.
“Cách Thủ tướng Takaichi thúc đẩy phục hồi kinh tế bằng chính sách tài khóa nới lỏng hơn có vẻ là hướng đi hợp lý”, ông Marcel Thieliant, nhà kinh tế phụ trách khu vực châu Á - Thái Bình Dương tại công ty nghiên cứu Capital Economics, nhận xét.
Theo ông Kazutaka Maeda, nhà kinh tế tại Viện Nghiên cứu Meiji Yasuda Research Institute, kết quả tăng trưởng 3 tháng cuối năm 2025 cho thấy đà phục hồi của nền kinh tế Nhật không quá mạnh.
“Tiêu dùng, đầu tư tư nhân và xuất khẩu - những lĩnh vực được kỳ vọng sẽ dẫn dắt tăng trưởng - đều không mạnh như dự đoán”, ông Maeda chỉ ra.
Các nhà kinh tế cho rằng số liệu GDP mới nhất khó làm BOJ thay đổi đường hướng chính sách. Tuy nhiên, chiến thắng bầu cử lịch sử của bà Takaichi khiến thị trường theo dõi sát sao liệu bà có tiếp tục kêu gọi duy trì lãi suất ở mức thấp hay không.
“Dù GDP vẫn tăng, đà phục hồi còn yếu. Do cần thêm thời gian đánh giá tác động của đợt nâng lãi suất tháng 12 năm ngoái, BOJ nhiều khả năng sẽ chưa tăng thêm lãi suất trong ngắn hạn”, ông Takeshi Minami, nhà kinh tế trưởng tại Norinchukin Research Institute, nhận định.
-Ngọc Trang
Ấn Độ khai mạc AI Impact Summit, hội nghị toàn cầu về tác động của trí tuệ nhân tạo
Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi dự kiến sẽ khai mạc hội nghị vào chiều thứ Hai, với sự tham dự của nhiều nhà lãnh đạo thế giới và lãnh đạo các tập đoàn công nghệ lớn.
Hội nghị thường niên này là lần thứ tư được tổ chức, sau các kỳ họp trước đó tại Pháp, Hàn Quốc và Anh. Đây là lần đầu tiên một quốc gia đang phát triển đăng cai sự kiện toàn cầu này.
Ấn Độ đã nhanh chóng vươn lên trong bảng xếp hạng năng lực cạnh tranh AI do các nhà nghiên cứu Đại học Stanford xây dựng, đứng thứ ba vào năm ngoái, chỉ sau Mỹ và Trung Quốc.
Hơn một chục lãnh đạo quốc gia dự kiến tham dự hội nghị. Ảnh: Arun Sankar/AFPHội nghị AI Impact Summit 2026 dự kiến thu hút hơn 250.000 khách tham dự, với khoảng 20 lãnh đạo quốc gia, trong đó có Tổng thống Pháp Emmanuel Macron và Tổng thống Brazil Luiz Inacio Lula da Silva, cùng 45 đoàn cấp bộ trưởng. Danh sách khách mời cũng bao gồm các lãnh đạo công nghệ hàng đầu như Sam Altman của OpenAI và Sundar Pichai của Google.
Bộ Công nghệ Thông tin Ấn Độ cho biết hội nghị sẽ “định hình một tầm nhìn chung về AI thực sự phục vụ số đông, chứ không chỉ một nhóm thiểu số”.
Trước thềm sự kiện, Thủ tướng Modi viết trên mạng xã hội X rằng hội nghị sẽ làm phong phú các thảo luận toàn cầu về đổi mới, hợp tác, sử dụng AI có trách nhiệm và nhiều vấn đề khác.
Ông cũng nhấn mạnh rằng những bước tiến của Ấn Độ trong lĩnh vực AI, từ hạ tầng công cộng số, hệ sinh thái khởi nghiệp năng động đến nghiên cứu tiên phong, phản ánh cả tham vọng và trách nhiệm của nước này.
Hội nghị tại New Delhi diễn ra trong bối cảnh ngày càng gia tăng lo ngại về thông tin sai lệch, tin giả và deepfake do AI tạo ra. Tháng trước, công cụ AI Grok của Elon Musk đã vấp phải làn sóng chỉ trích toàn cầu vì tạo ra các hình ảnh khiêu dâm hóa người thật chỉ bằng câu lệnh văn bản, trong đó phần lớn là phụ nữ và có cả trẻ em.
Tháng 11 năm ngoái, Ấn Độ đã ban hành Bộ hướng dẫn quản trị AI với các nguyên tắc cốt lõi gồm “niềm tin”, “an toàn”, “công bằng” và “đổi mới thay vì hạn chế”. Tuy nhiên, đến tháng 1 năm nay, chính phủ nước này đã siết chặt quy định đối với các nền tảng mạng xã hội, yêu cầu phải gắn nhãn rõ ràng đối với những nội dung mà chính phủ gọi là “thông tin được tạo ra bằng phương pháp tổng hợp”.
Hội nghị tuần này được tổ chức với khẩu hiệu “Con người, tiến bộ, hành tinh”, nhưng một số nhà phê bình tỏ ra hoài nghi về những gì có thể đạt được.
Theo bà Amba Kak, đồng Giám đốc điều hành Viện AI Now, các cam kết của ngành công nghiệp tại các sự kiện trước đây phần lớn chỉ là các khuôn khổ “tự điều tiết” hẹp, cho phép các công ty AI tiếp tục tự đánh giá chính mình. Bà cũng nghi ngờ liệu các nhà lãnh đạo tham dự hội nghị lần này có đưa ra những bước đi đủ mạnh để buộc các tập đoàn công nghệ lớn chịu trách nhiệm hay không.
Dù vậy, việc Ấn Độ đăng cai AI Impact Summit cũng phản ánh tham vọng trở thành một trung tâm AI toàn cầu của quốc gia này, trong bối cảnh cuộc cạnh tranh công nghệ giữa các cường quốc ngày càng gay gắt.Hội nghị được kỳ vọng không chỉ tạo diễn đàn đối thoại giữa chính phủ và doanh nghiệp công nghệ, mà còn góp phần định hình các nguyên tắc quản trị AI toàn cầu trong giai đoạn công nghệ này đang bước vào chu kỳ phát triển và ứng dụng quy mô lớn, với những tác động sâu rộng đến kinh tế, xã hội và an ninh
DW, AFP, Reuters-Trọng Hoàng
Đón hàng vạn lượt khách trong 10 ngày: Cần Giờ lọt top điểm đến “hot” nhất Tết 2026
Trong 10 ngày đầu (7-16/2), Green Paradise Tet Fest tại Cần Giờ ghi nhận lượng khách kỷ lục, vượt xa quy mô của một lễ hội xuân thông thường. Ngày cao điểm, lễ hội đón cả chục nghìn lượt khách, không khí liên tục sôi động từ sáng tới tối.
Dòng khách không chỉ đến từ TP.HCM và các tỉnh, thành lân cận mà còn từ nhiều địa phương trên cả nước. Đáng chú ý, lễ hội còn thu hút đông đảo Việt kiều và khách quốc tế từ Úc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đức, Canada, Mỹ… Nhiều người đến để khám phá thiên nhiên nguyên bản của Cần Giờ, trải nghiệm Tết Việt, đồng thời tìm hiểu tiềm năng của một siêu đô thị mới đang hình thành.
Sức hút của Green Paradise Tet Fest nằm ở cách “gom trọn” nhiều tầng trải nghiệm trong cùng một điểm đến. 600 cây đào thắm miền Bắc và mai vàng miền Nam cùng hội tụ, tạo nên cung đường hoa Tết đẹp nhất miền Nam. Chuỗi trò chơi dân gian như gánh lúa qua cầu, phi lao ống tre, xin chữ ông đồ, các workshop thủ công gợi lại ký ức Tết xưa. Song song, không gian ẩm thực ba miền được tái hiện trọn vẹn, mang đến hành trình “du xuân xuyên Việt” chỉ trong một ngày.
Cung đường hoa mai - đào đã nở rộ, trở thành “studio khổng lồ” cho du khách check-in. Ảnh: Vinhomes Green Paradise.Điểm nhấn hiện đại của lễ hội là khinh khí cầu và dù lượn - những hoạt động mang màu sắc lễ hội quốc tế, lần đầu xuất hiện tại Cần Giờ dịp Tết. Sự giao thoa giữa truyền thống và trải nghiệm mới khiến du khách từ mọi nơi, đa thế hệ, nhiều lứa tuổi cùng tìm thấy lý do để ghé thăm.
Lễ hội khinh khí cầu và dù lượn lần đầu xuất hiện trong khuôn khổ lễ hội xuân. Ảnh: Vinhomes Green Paradise.Đặc biệt, “rừng” đào - mai 600 gốc cùng “kỳ quan” cụ mai 150 tuổi đồng loạt nở rộ ngay trước ngày chuyển giao năm mới, mang lại may mắn cho du khách tới thưởng ngoạn mùa xuân rực rỡ đầu tiên của “thiên đường xanh”.
Cao trào của lễ hội chính là màn pháo hoa tầm cao lần đầu xuất hiện tại Cần Giờ. Trong đêm giao thừa, giữa không gian biển - rừng khoáng đạt, hàng nghìn du khách cùng đón khoảnh khắc đầu tiên của năm mới, với cảm nhận rõ rệt về sự chuyển mình của một vùng đất, đánh dấu một sự khởi đầu thuận lợi, may mắn.
“HIỆN TƯỢNG LẠ” KÍCH HOẠT SÓNG MỚI TRÊN THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢNKhông dừng ở sức hút du lịch, hiệu ứng lễ hội nhanh chóng lan sang thị trường bất động sản. Không khí nhộn nhịp được chuyển hóa thành lượng tư vấn và giao dịch thực tế.
Tại văn phòng bán hàng của Vinhomes Green Paradise, đội ngũ tư vấn viên “trực chiến” xuyên Tết, đáp ứng dòng khách đến du xuân kết hợp “xem đất đầu năm”.
Dòng xe mang biển số miền Đông, miền Tây nối đuôi nhau về tham quan. Nhà đầu tư miền Bắc và rất đông Việt kiều cũng tranh thủ dịp này để “test” tiềm năng của dự án. Theo ghi nhận, riêng khu vực sa bàn đã có hàng nghìn lượt đăng ký tư vấn chỉ trong chưa đầy 10 ngày đầu tiên.
Đặc biệt, nhu cầu tìm hiểu của khách hàng lớn tới mức các sàn giao dịch phải liên tục livestream xuyên kỳ nghỉ lễ để giới thiệu sản phẩm, giải đáp chính sách, tạo nên một “hiện tượng lạ” chưa từng có trên thị trường.
“Nhiều khách hàng miền Bắc cảm nhận được sức nóng của dự án nên không muốn bỏ lỡ cơ hội, muốn chốt giao dịch ngay trước Tết”, anh Minh Tân, một tư vấn tại Hà Nội, cho biết.
Trong dòng khách Việt kiều về quê ăn Tết năm nay, anh Trần Vĩnh, hiện sinh sống tại Canada, cho biết rất bất ngờ trước sự “lột xác” ngoạn mục của Cần Giờ.
“Ở nước ngoài, tôi cũng đã nghe cộng đồng nói về kỳ quan đô thị Vinhomes Green Paradise rồi, nhưng đi thực tế thì sôi động và quy mô đẳng cấp hơn cả tưởng tượng”, anh Vĩnh cho biết.
Với không ít nhà đầu tư, việc trực tiếp chứng kiến dòng người thực tế đổ về là yếu tố củng cố niềm tin. “Trăm nghe không bằng một thấy”, nhiều khách đã quyết định xuống tiền ngay trong kỳ nghỉ.
Trong các dòng sản phẩm, nhà phố Boulevard Prime thu hút sự quan tâm lớn. Sản phẩm tọa lạc trên trục đường Tương Lai rộng 50m - huyết mạch thương mại đầu tiên của siêu đô thị, sẽ đi vào vận hành sớm nhất. Từ vị trí này, cư dân và nhà đầu tư có thể kết nối trực tiếp cầu vượt biển Cần Giờ - Vũng Tàu, ga depot tuyến đường sắt cao tốc, trung tâm thương mại Vincom, công viên VinWonders, bộ đôi sân golf, bệnh viện Vinmec 5 sao, nhà hát Sóng Xanh lớn nhất Đông Nam Á… Nhờ đó, Boulevard Prime đón trọn dòng khách khổng lồ từ hệ tiện ích xung quanh, kỳ vọng lên tới 40 triệu lượt người/năm.
Thiết kế đa công năng - vừa ở vừa kinh doanh - cùng diện tích lớn, suất đầu tư hợp lý, tạo dư địa khai thác sớm cho Boulevard Prime. Đáng chú ý, chính sách tài chính hiện hành gồm hỗ trợ lãi suất 0% tới 36 tháng và cam kết lãi lãi suất tối đa chỉ 9%/năm trong 24 tháng tiếp theo, giúp nhà đầu tư an tâm đứng ngoài mọi biến động thị trường.
“Khi hạ tầng Cần Giờ đều đang tăng tốc, dự kiến về đích đồng loạt trong 2-3 năm nữa, những sản phẩm có khả năng tạo dòng tiền sớm, gắn với hệ sinh thái tiện ích hoàn chỉnh và dòng khách thực tế như Boulevard Prime sẽ chiếm ưu thế”, anh Tân phân tích.
Tiềm năng khai thác thương mại của Boulevard Prime đã được thực chứng với dòng người thực đổ về lễ hội xuân. Ảnh: Vinhomes Green Paradise.Có thể thấy, Green Paradise Tet Fest không đơn thuần là một sự kiện văn hóa - du lịch, mà còn được xem là “bước chạy đà” cho mô hình điểm đến quốc tế vận hành quanh năm. Và từ mùa xuân đầu tiên đầy rực rỡ này, Cần Giờ đang dần chuyển mình thành một cực tăng trưởng của TP.HCM, một miền đất lành cả cho nhu cầu an cư và đầu tư.
Green Paradise Tet Fest sẽ diễn ra từ nay tới hết ngày 28/2 (12 tháng Giêng), tiếp tục tạo lực hút dòng du khách tham quan, dòng tiền và sự quan tâm của giới đầu tư.
-Khánh Huyền
Vikki Bank trao giải 1 ký vàng và 10 giải thưởng giá trị, đồng thời khởi động mùa mới
Tại buổi lễ, giải thưởng đặc biệt 1 ký vàng SJC (10 lượng) đã được trao tận tay cô Đỗ Thị T. (Quận 10, TP.HCM) cùng với 10 giải thưởng tiếp theo là các phần vàng giá trị dành cho những khách hàng may mắn trong chương trình. Buổi lễ diễn ra trong không khí trang trọng, ấm áp, với sự tham dự của đại diện ngân hàng, khách hàng trúng thưởng và đông đảo cán bộ nhân viên.
Giải thưởng lớn nhất – 10 lượng vàng SJC – đã được trao tận tay cô Đỗ Thị T. Ảnh: Vikki Bank.Chương trình “Tiết kiệm Vikki – Trúng vàng ký” được triển khai trên toàn quốc, mang đến cơ hội vừa sinh lời từ lãi suất hấp dẫn, vừa có cơ hội trúng vàng mỗi ngày, mỗi tuần và giải đặc biệt cuối kỳ. Với cơ chế quay số minh bạch, phát sóng trực tiếp, chương trình đã thu hút đông đảo khách hàng tham gia và trở thành một trong những sản phẩm tiết kiệm nổi bật trên thị trường.
Ông Lê Văn Thành phó Tổng giám đốc Vikki Bank chia sẻ tại buổi lễ:“Chúng tôi tin rằng ngân hàng không chỉ là nơi giữ tiền, mà còn là nơi giúp khách hàng tích lũy, sinh lời và chạm tới những cơ hội tốt đẹp trong cuộc sống. Chương trình Tiết kiệm Vikki – Trúng vàng ký là lời cam kết về lợi ích thiết thực, minh bạch và bền vững mà VikkiBank mang đến cho khách hàng.”
Ngay tại lễ trao thưởng, Vikki Bank cũng chính thức khởi động mùa mới – “Tiết kiệm Vikki – Trúng Ngựa Vàng Ký”, với quy mô giải thưởng hấp dẫn hơn, cơ cấu quà tặng đa dạng và cơ hội trúng vàng giá trị lớn dành cho khách hàng gửi tiết kiệm trên toàn quốc.
Vikki Bank chính thức khởi động mùa 3 - “Tiết kiệm Vikki – Trúng Ngựa Vàng Ký”. Ảnh: Vikki Bank.Chương trình mùa mới tiếp tục phát huy tinh thần “Ngân hàng số của bạn, của mọi nhà”, mang đến trải nghiệm tiết kiệm đơn giản, linh hoạt trên ứng dụng số, tại các điểm hẹn Vikki và hệ sinh thái đối tác.
Với các sản phẩm tiết kiệm sáng tạo, cơ hội trúng thưởng hấp dẫn cùng nền tảng ngân hàng số hiện đại, Vikki Bank đang từng bước trở thành điểm đến tài chính tin cậy cho hàng triệu khách hàng, đồng hành trong hành trình tích lũy và kiến tạo tương lai.
-Khánh Huyền
Phiên chợ cuối năm
Trời vừa hửng sáng, con đường dẫn vào chợ Song đã rộn tiếng xe. Người đến sớm tay xách làn, người chở theo cả bao tải hàng. Không khí se lạnh của những ngày cuối đông nhanh chóng bị xua đi bởi sự tất bật, bởi những lời chào mời, mặc cả vang lên khắp khu chợ.
Không khí nhộn nhịp tại chợ Song sáng 29 tháng chạpPhiên chợ cuối của năm bao giờ cũng là phiên đông nhất. Ai cũng muốn mua cho đủ, cho kịp trước khi chợ nghỉ Tết. Khu bán thực phẩm tươi sống chật kín người. Thịt lợn, thịt bò, gà vịt, cá tươi được bày la liệt. Người bán tay không ngơi nghỉ, người mua chọn lựa kỹ càng hơn ngày thường.
Các tiểu thương bán thịt tất bật phục vụ khách ngày cận TếtBà Lọc, người đã ngoài 60 tuổi, len qua từng sạp hàng. Chiếc làn nhựa trên tay bà còn trống quá nửa. Bà dừng lại trước quầy thịt, hỏi giá, nhìn kỹ từng thớ thịt rồi mới gật đầu mua một cân ba chỉ. “Tết phải có nồi thịt kho, có đĩa giò. Con cháu đi làm xa, cả năm mới về đông đủ một lần,” bà nói.
Với bà Lọc, đi chợ 29 tháng chạp không chỉ để mua sắm, mà còn như một cách khép lại năm cũ. Bà kể, năm nay làm ăn không khá hơn mấy, nhưng Tết vẫn phải tươm tất. “Có thể ít đi một chút, nhưng không thể thiếu,” bà nói giản dị.
Gian hàng thực phẩm đông kín khách từ sớmỞ một dãy giữa chợ, gian hàng gia dụng của chị Hương cũng đông khách không kém. Nồi nhôm, chảo chống dính, rổ rá, chậu nhựa, thùng đựng nước được bày kín cả tấm bạt. Những món đồ quen thuộc trong mỗi căn bếp bỗng trở nên đắt hàng hơn vào những ngày cuối năm.
Gian hàng gia dụng thu hút đông người mua sắm cuối nămChị Hương cho biết, phiên chợ cuối hàng năm đều bán chạy. “Cuối năm người ta hay thay cái nồi cũ, mua thêm cái chảo mới, sắm cái thùng đựng gạo cho sạch sẽ. Đầu năm mới ai cũng muốn trong nhà gọn gàng, tươm tất hơn,” chị nói.
Nhiều người đứng lựa kỹ từng chiếc nồi, gõ nhẹ xem độ dày, hỏi cặn kẽ giá cả. Có người mua thêm bộ bát đĩa mới để bày mâm cỗ, có người tranh thủ sắm chiếc ấm siêu tốc thay cho cái đã dùng nhiều năm.
Người dân tranh thủ mua sắm trước khi chợ nghỉ TếtNhững món đồ gia dụng giản dị ấy theo chân người dân trở về từng mái nhà, như một cách làm mới không gian sống trước khi bước sang năm mới. Giữa tiếng mặc cả rộn ràng, gian hàng gia dụng góp thêm một sắc thái khác cho phiên chợ cuối năm: không chỉ lo đủ ăn, đủ mặc, mà còn là sự chăm chút cho từng góc nhỏ trong ngôi nhà của mình.
Nướng bánh đa tại các chợ quê là hình ảnh đặc trưng, dân dã với những chiếc bánh đa vừng được quạt trên bếp than củi hồng. Niềm vui hiện rõ trên gương mặt em nhỏ khi được mua đồ mới.Phiên chợ cuối năm vì thế phản chiếu rõ nhịp sống của vùng quê. Có sự tính toán, có cân nhắc, nhưng trên hết vẫn là sự vun vén để giữ trọn nếp Tết.
NHỮNG BƯỚC CHÂN ĐI CHỢ CHỈ ĐỂ THẤY TẾTNếu khu thực phẩm mang dáng vẻ lo toan, thì khu quần áo lại rộn ràng tiếng cười. Gian hàng của chị Vân đông kín phụ huynh và trẻ nhỏ. Những bộ đồ đủ sắc màu được treo kín khung sắt.
Gian hàng quần áoChị Vân cho biết, ngày 29 là ngày bán chạy nhất trong năm. “Nhiều nhà chờ sát Tết mới mua, để con mặc đúng dịp,” chị nói.
Trước sạp hàng, những đứa trẻ đứng ngắm nghía, mắt không rời khỏi những chiếc áo mới. Em Ngọc Lan, học lớp ba trong xã, được mẹ dẫn đi chọn đồ. Khi chiếc áo khoác màu vàng được thử vừa vặn, gương mặt em sáng bừng. Em ôm túi đồ mới, thi thoảng lại mở ra nhìn, như sợ đó chỉ là điều gì thoáng qua.
Niềm vui của trẻ nhỏ ngày Tết giản dị vậy thôi. Không cần món quà lớn, chỉ một bộ quần áo mới cũng đủ khiến các em háo hức chờ đợi khoảnh khắc giao thừa. Giữa dòng người mua bán tấp nập, vẫn có những người đến chợ không hẳn để mua gì. Cụ Nhân, mái tóc bạc trắng, chậm rãi đi dọc các dãy hàng. Tay cụ không cầm làn, chỉ chắp sau lưng, vừa đi vừa nhìn.
“Tôi ra đây để gặp người quen, để nghe tiếng cười nói. Ở nhà yên ắng quá, ra chợ mới thấy Tết,” cụ chia sẻ.
Người mua, kẻ bán trò chuyện rôm rả trong buổi sáng cuối nămVới cụ và nhiều người cao tuổi khác, phiên chợ 29 tháng chạp là dịp gặp gỡ. Những câu chuyện về mùa màng, con cháu, về một năm đã qua được nhắc lại giữa tiếng rao hàng. Người bán gửi thêm lời chúc năm mới; người mua không quên hỏi thăm gia đình nhau.
Đến gần trưa, nắng cuối năm trải nhẹ xuống sân chợ. Những chiếc xe máy chở đầy thực phẩm, bánh kẹo, quần áo nối nhau ra về. Gương mặt ai cũng lấm tấm mồ hôi nhưng ánh mắt thì rạng rỡ hơn.
Trẻ em háo hức đi chợ Tết cùng bố mẹ. Người dân lựa từng bó rau chuẩn bị cho bữa cơm cuối năm Từ chợ Song, không khí Tết theo chân người dân trở về từng nếp nhàTrong dòng chảy của đời sống hiện đại, nhiều thói quen đã đổi thay. Nhưng phiên chợ cuối năm ở Thọ Ngọc vẫn giữ được nhịp riêng. Ở đó, Tết không chỉ nằm trong những túi hàng đầy ắp, mà còn hiện hữu trong cảm giác háo hức của trẻ nhỏ, trong sự tảo tần của người mẹ, trong bước chân thong thả của cụ già chỉ đi chợ để “thấy Tết”.
Khi phiên chợ dần thưa người, những sạp hàng bắt đầu thu dọn, năm cũ cũng lặng lẽ khép lại. Từ khu chợ quê nhỏ bé này, mùa xuân đã theo chân mỗi người trở về nhà, len vào từng mái bếp, từng nếp nhà, mang theo niềm hy vọng cho một năm mới bình yên hơn.
Video: Không khí nhộn nhịp tại chợ Song sáng 29 tháng chạp-Nguyễn Thuấn
Phát triển kinh tế xanh tạo lợi thế cạnh tranh trong kỷ nguyên mới
Sau gần 4 năm triển khai Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, công tác bảo vệ môi trường đã có chuyển biến rõ nét trên cả ba phương diện: thể chế, nhận thức và tổ chức thực hiện. Nhiều cơ chế, chính sách mới đã được áp dụng và bước đầu phát huy hiệu quả như: thay đổi phương thức quản lý chất thải với quan điểm coi chất thải là tài nguyên, là nguồn đầu vào quan trọng cho nền kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh, kinh tế carbon thấp...
Theo thống kê, tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị tăng từ 94,71% năm 2020 lên 97,28% năm 2024; tỷ lệ khu công nghiệp, khu chế xuất đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung tăng từ 89,47% năm 2020 lên 95,37% năm 2025; tỷ lệ cụm công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải tập trung tăng từ 17,2% năm 2020 lên 31,5% năm 2024…
Những kết quả này góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên bản đồ phát triển bền vững toàn cầu (54/166 quốc gia và vùng lãnh thổ, tăng 34 bậc so với năm 2016 và đứng thứ hai trong ASEAN).
MÔI TRƯỜNG LÀ NỀN TẢNG THU HÚT ĐẦU TƯ CHẤT LƯỢNG CAOSố liệu trên cho thấy Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã đi vào cuộc sống, khẳng định tính đúng đắn và tầm nhìn chiến lược của Đảng, của Nhà nước. Việt Nam đang đi đúng hướng trên con đường xây dựng nền kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, hướng tới Net Zero.
Theo Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đánh dấu một bước tiến quan trọng trong tư duy và phương thức phát triển bền vững của Việt Nam. Đây không chỉ là một khung khổ pháp lý về kỹ thuật quản lý môi trường, mà còn khẳng định tinh thần đổi mới, trách nhiệm và hành động vì tương lai xanh của đất nước.
Môi trường quyết định tính bền vững, chứ không phải tốc độ tăng trưởngBên cạnh những kết quả đạt được, công tác bảo vệ môi trường vẫn còn tồn tại. Đại biểu Thạch Phước Bình, đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Vĩnh Long, cho rằng môi trường nước ta đang ở ngưỡng giới hạn chịu đựng, nếu không chuyển đổi mạnh mẽ, chi phí khắc phục sẽ lớn hơn nhiều so với chi phí phòng ngừa.
Theo Ủy viên là đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Nguyễn Ngọc Sơn, môi trường là yếu tố nền tảng, không thể thay thế. “Môi trường quyết định tính bền vững, chứ không phải tốc độ tăng trưởng”. Theo ông, một quốc gia có thể tăng GDP nhanh trong 5- 10 năm nhưng nếu đi kèm suy giảm chất lượng không khí, ô nhiễm sông hồ, mất rừng, chi phí y tế, thiên tai ngày càng tăng, giá phải trả sẽ triệt tiêu thành quả tăng trưởng.
Ngoài ra, môi trường là nền tảng thu hút đầu tư chất lượng cao, không gây hủy hoại dài hạn. Các tập đoàn công nghệ cao, chuỗi cung ứng quốc tế đều yêu cầu tiêu chuẩn ESG, môi trường, khí hậu, phát thải. Một nền kinh tế xanh, có môi trường sống tốt sẽ là lợi thế cạnh tranh cho một kỷ nguyên mới.
Thực tế đang chứng minh, đầu tư FDI chất lượng cao chỉ đến với những nơi có tiêu chuẩn môi trường rõ ràng. Môi trường minh bạch là “hạ tầng thể chế” hấp dẫn đầu tư, chứ không phải chi phí cản trở.
Tại phiên thảo luận báo cáo của Đoàn giám sát và dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về kết quả giám sát chuyên đề việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường kể từ khi Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 có hiệu lực, phát biểu kết luận, Phó Chủ tịch Quốc hội Lê Minh Hoan nhấn mạnh: Đảng, Nhà nước luôn chủ trương bảo vệ môi trường là trụ cột quan trọng của phát triển bền vững, đã ban hành nhiều Nghị quyết, Chỉ thị nhằm tăng cường công tác bảo vệ môi trường.
Cùng với đó, hệ thống chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường được thể hiện nhất quán, xuyên suốt, thường xuyên được tổng kết, rà soát, bổ sung và hoàn thiện cho phù hợp với thực tiễn đất nước, xu thế phát triển.
CHI CHO MÔI TRƯỜNG LÀ ĐẦU TƯ CHO PHÁT TRIỂNNhằm khắc phục hạn chế, thích ứng kịp thời với bối cảnh giai đoạn mới, Quốc hội vừa thông qua Nghị quyết 247/2025/QH15 về tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường, trong đó nhấn mạnh tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường là trung tâm xuyên suốt trong tư duy, tầm nhìn và định hướng phát triển bền vững đất nước.
Tiếp tục hoàn thiện nhóm chỉ tiêu về môi trường, trong đó chú trọng cơ chế giao chỉ tiêu thực hiện cụ thể cho các địa phương gắn với cơ chế đánh giá trách nhiệm hoàn thành của người đứng đầu; bổ sung chỉ tiêu về tăng trưởng carbon thấp vào hệ thống chỉ tiêu phát triển quốc gia và trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm, hàng năm phù hợp với yêu cầu phát triển.
Thống nhất trong nhận thức và hành động coi chi cho môi trường là đầu tư cho phát triển, bảo đảm an ninh môi trường; loại bỏ quan điểm “Bảo vệ môi trường sẽ làm cản trở tăng trưởng kinh tế”.Thể chế hóa kịp thời các quan điểm, chủ trương của Đảng và tổng kết, đánh giá, đề xuất hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường phù hợp với yêu cầu thực tế.
Thúc đẩy mô hình kinh tế tuần hoàn, coi chất thải là tài nguyên và được quản lý trên môi trường số; thực hiện chuyển đổi xanh thông qua các cơ chế, chính sách khuyến khích nghiên cứu, phát triển công nghệ thân thiện với môi trường, công nghiệp môi trường, dịch vụ môi trường, mua sắm xanh, năng lượng tái tạo...
Về nguồn lực, chú trọng đầu tư phát triển các công trình bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu. Ưu tiên nguồn lực từ ngân sách và nguồn lực xã hội hóa cho bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu. Hỗ trợ hoạt động chuyển đổi xanh, giảm phát thải khí nhà kính, vận hành thị trường carbon; phát triển các nguồn năng lượng tái tạo, công nghệ mới không phát thải…
Thống nhất trong nhận thức và hành động coi chi cho môi trường là đầu tư cho phát triển, bảo đảm an ninh môi trường. Ảnh minh họaBố trí đúng, đủ, quản lý có hiệu quả và tăng dần chi ngân sách cho bảo vệ môi trường tương ứng với tốc độ tăng trưởng kinh tế, bảo đảm từ năm 2027 tỷ trọng ngân sách chi cho bảo vệ môi trường trong tổng chi ngân sách nhà nước tăng hơn so với năm 2025.
Hoàn thiện và triển khai hiệu quả các công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường; phát huy vai trò của các quỹ bảo vệ môi trường, huy động nguồn lực tư nhân thông qua các công cụ tài chính xanh như trái phiếu xanh, tín dụng xanh... để triển khai các dự án đầu tư xanh, dự án bảo vệ môi trường, giảm phát thải khí nhà kính…
KHÔNG ĐÁNH ĐỔI MÔI TRƯỜNG LẤY PHÁT TRIỂN KINH TẾ ĐƠN THUẦNĐến cuối năm 2026, Nghị quyết nêu rõ việc tổng kết, đánh giá việc thực hiện và đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, trình Quốc hội xem xét, thông qua đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI.
Tổ chức rà soát, đánh giá và cập nhật, điều chỉnh trong trường hợp cần thiết các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch có liên quan đến bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu để đáp ứng yêu cầu “mở rộng và kiến tạo không gian phát triển mới”…
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
-Tùng Dương
Nâng hạng thị trường là “phép thử” để đón dòng vốn lớn
Việc chính thức được FTSE Russell đưa vào nhóm thị trường mới nổi thứ cấp được xem là cơ hội cho Việt Nam để thu hút dòng vốn quốc tế. Theo bà, “cú hích” lớn nhất mà việc nâng hạng mang lại là gì?
Dòng vốn đầu tư gián tiếp (FII) vào Việt Nam gần như chắc chắn sẽ có cú hích lớn khi câu chuyện nâng hạng thị trường chứng khoán từ cận biên lên mới nổi đã gần như được hoàn tất. Đây là bước ngoặt mang tính lịch sử, bởi khi chính thức được nâng hạng, Việt Nam sẽ ngay lập tức lọt vào rổ theo dõi của các quỹ đầu tư toàn cầu với quy mô hàng trăm tỷ USD. Điều này đồng nghĩa với việc dòng vốn ngoại có thể chảy mạnh vào thị trường, tạo hiệu ứng lan tỏa về thanh khoản, định giá và niềm tin của nhà đầu tư.
Với việc được nâng hạng, trước mắt là bởi FTSE Russell và mục tiêu trong vài năm tới là MSCI, thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ tiếp tục được cải cách về các quy định pháp lý, cơ chế giao dịch, các sản phẩm mới cho nhà đầu tư. Với những thay đổi đã và đang diễn ra, thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ được hưởng lợi không chỉ từ dòng vốn mới mà còn từ sự nâng cao vị thế, khi trở thành điểm đến quen thuộc trong chiến lược phân bổ vốn của các quỹ toàn cầu.
VinaCapital đánh giá như thế nào về triển vọng và rủi ro của thị trường chứng khoán Việt Nam trong năm 2026? Liệu thị trường có thể tiếp tục duy trì mức tăng trưởng hai con số như năm 2025 và những cơ sở chính cho dự báo đó là gì?
Có nhiều động lực tích cực cho thị trường chứng khoán Việt Nam. Ngoài câu chuyện nâng hạng, thị trường chứng khoán trong năm 2026 sẽ còn được dẫn dắt bởi nhiều yếu tố nền tảng khác. Trước hết là tăng trưởng kinh tế vĩ mô, khi GDP được dự báo duy trì ở mức cao, tạo nền tảng cho lợi nhuận doanh nghiệp.
Chúng tôi kỳ vọng các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán có thể đạt mức tăng trưởng lợi nhuận trung bình khoảng 18% trong năm 2026.
Bên cạnh đó, việc triển khai nhanh các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng sẽ kéo theo nhu cầu vật liệu, xây dựng và dịch vụ liên quan, giảm chi phí logistics và thúc đẩy các hoạt động kinh tế, tạo động lực cho nhiều nhóm ngành. Yếu tố ổn định vĩ mô về tỷ giá, lãi suất và lạm phát cũng sẽ củng cố niềm tin của nhà đầu tư, đặc biệt trong bối cảnh dòng vốn ngoại chuẩn bị giải ngân mạnh mẽ sau nâng hạng. Do đó, chúng tôi kỳ vọng thị trường chứng khoán sẽ tăng trưởng tích cực trong năm 2026, và tăng trưởng của thị trường sẽ đến từ nhiều ngành và cổ phiếu, dựa trên nền tảng cơ bản, thay vì chỉ tập trung vào một số nhóm cổ phiếu đơn lẻ như năm 2025.
Về rủi ro, các yếu tố khó dự đoán nhất vẫn đến từ những biến động về kinh tế và chính sách toàn cầu, đặc biệt là từ các nước lớn. Tiến độ giải ngân đầu tư các dự án cơ sở hạ tầng và khả năng thực thi những cải cách về phát triển kinh tế cũng là những thách thức lớn, vì chưa bao giờ cả nền kinh tế, cả cơ quan quản lý lẫn doanh nghiệp, phải triển khai khối lượng công việc nhiều như hiện nay.
Ngoài ra, việc nâng hạng thị trường chứng khoán, thu hút vốn đầu tư nước ngoài đòi hỏi những yêu cầu ngày càng cao về minh bạch và quản trị doanh nghiệp, sẽ đặt ra bài toán cho các công ty niêm yết trong việc duy trì sức hấp dẫn đối với nhà đầu tư.
Theo bà, trong năm 2026, dòng tiền trên thị trường nhiều khả năng sẽ ưu tiên tìm đến những nhóm ngành và loại hình doanh nghiệp nào?
Chúng tôi cho rằng những lĩnh vực gắn với câu chuyện tăng trưởng dài hạn của nền kinh tế sẽ tiếp tục là điểm sáng. Đó là các ngành hưởng lợi từ tiêu dùng nội địa và sự gia tăng của tầng lớp trung lưu; các lĩnh vực liên quan đến hạ tầng, logistics và khu công nghiệp khi Việt Nam ngày càng hội nhập sâu hơn vào chuỗi giá trị khu vực; cùng với đó là những doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh tốt trong các ngành công nghệ, dịch vụ tài chính và chuyển đổi xanh.
Lợi thế về thu hút nhà đầu tư sẽ thuộc về những doanh nghiệp có khả năng đổi mới về mặt công nghệ, áp dụng chuyển đổi số trong quy trình quản lý, sản xuất và kinh doanh. Với việc thị trường chứng khoán Việt Nam được nâng hạng, các nhà đầu tư tổ chức sẽ chú trọng đến chất lượng quản trị, nền tảng tài chính vững chắc, chiến lược phát triển bền vững và khả năng thích ứng với xu hướng ESG.
Để thị trường chứng khoán Việt Nam phát triển bền vững trong dài hạn, theo bà, nên lưu ý đến những định hướng lớn nào?
Về vấn đề phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam trong dài hạn, theo tôi, cần có một chiến lược tổng thể với những trọng tâm:
Thứ nhất, nâng cao tính minh bạch và chuẩn mực quản trị doanh nghiệp là yếu tố then chốt. Các doanh nghiệp niêm yết cần nâng cao chất lượng của hoạt động quan hệ nhà đầu tư, báo cáo và công bố thông tin, sao cho đầy đủ, kịp thời và minh bạch, đồng thời xây dựng mô hình quản trị doanh nghiệp hiệu quả, đảm bảo sự công bằng giữa các cổ đông. Đối với báo cáo tài chính, các cơ quan quản lý cần đưa ra lộ trình để các doanh nghiệp Việt Nam lập báo cáo tài chính theo chuẩn mực quốc tế như IFRS. Đây là nền tảng để gia tăng niềm tin của nhà đầu tư, đặc biệt là các quỹ quốc tế.
Thứ hai, mở rộng quy mô và độ sâu của thị trường. Cần khuyến khích việc IPO và niêm yết các doanh nghiệp lớn, đồng thời giảm tỷ lệ sở hữu Nhà nước ở các doanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắm giữ cổ phần chi phối. Việt Nam cần phát triển thêm các sản phẩm tài chính mới như chứng quyền, phái sinh đa dạng, quỹ ETF chuyên biệt, trái phiếu doanh nghiệp được xếp hạng tín nhiệm, để tạo thêm lựa chọn cho nhà đầu tư và tăng tính hấp dẫn. Song song đó, cần tạo điều kiện thuận lợi hơn trong giao dịch cho các nhà đầu tư quốc tế như thiết lập cơ chế thanh toán bù trừ trung tâm, hay nới lỏng hạn chế về tỷ lệ sở hữu đối với nhà đầu tư nước ngoài.
Thứ ba, tăng cường vai trò của nhà đầu tư tổ chức. Việc khuyến khích sự tham gia của các quỹ hưu trí, bảo hiểm và quỹ đầu tư dài hạn sẽ giúp thị trường ổn định hơn, giảm sự phụ thuộc vào dòng vốn ngắn hạn từ nhà đầu tư cá nhân.
Thứ tư, đẩy mạnh chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ trong quản lý, giám sát và giao dịch. Một hệ thống hạ tầng công nghệ hiện đại sẽ giúp thị trường vận hành minh bạch, hiệu quả và giảm thiểu rủi ro.
Thứ năm, gắn phát triển thị trường với chiến lược kinh tế xanh và bền vững. Việc thúc đẩy các sản phẩm tài chính gắn với ESG, khuyến khích doanh nghiệp niêm yết theo chuẩn mực phát triển bền vững sẽ giúp thị trường chứng khoán Việt Nam hòa nhập với xu hướng toàn cầu và thu hút dòng vốn dài hạn.
Từ kinh nghiệm đầu tư lâu năm tại Việt Nam, bà có khuyến nghị gì dành cho nhà đầu tư cá nhân trong năm 2026?
Đối với nhà đầu tư cá nhân, quản trị rủi ro là yếu tố then chốt quyết định việc thành bại của đầu tư nhưng lại ít được các nhà đầu tư cá nhân chú ý đến. Rủi ro thường đến từ những việc như mua phải cổ phiếu bị định giá đắt, chạy theo những cổ phiếu đang tăng nóng, sử dụng tỷ lệ đòn bẩy cao, mua theo tin đồn hay sự dẫn dắt của một số đội nhóm. Do đó, nhà đầu tư cá nhân cần thận trọng khi mua cổ phiếu của những doanh nghiệp mà mình không hiểu rõ, không nắm được triển vọng kinh doanh hay không biết cổ phiếu đắt rẻ thế nào. Những cái bẫy rủi ro lớn nhất thường nằm ở những cổ phiếu đang tăng nóng và làm cho người ta nghĩ là “mua càng nhiều càng tốt, cứ mua là sẽ thắng”.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html
-
Thời hạn hoàn thành xếp lương theo vị trí việc làm với viên chức
Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà ký Quyết định số 304/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Viên chức.
Mục đích của Kế hoạch nhằm xác định cụ thể nội dung công việc, thời hạn hoàn thành, phân công và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan trong việc tổ chức thi hành Luật Viên chức bảo đảm kịp thời, thống nhất, đồng bộ, hiệu lực, hiệu quả.
Bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong việc thực hiện các hoạt động triển khai thi hành Luật trên phạm vi cả nước.
Đồng thời, tạo cơ sở pháp lý để tiếp tục thực hiện quản lý viên chức theo hướng năng động, minh bạch, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu xây dựng đội ngũ viên chức chuyên nghiệp, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu của người dân, doanh nghiệp.
Cùng với đó, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành trong việc triển khai, thi hành Luật Viên chức và các văn bản quy định chi tiết một số điều của Luật.
Theo Kế hoạch, cơ quan chủ trì soạn thảo, trình ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các văn bản pháp luật được phân công tại Danh mục kèm theo Kế hoạch này. Bộ Tư pháp, các bộ, ngành có liên quan chịu trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với cơ quan chủ trì soạn thảo, bảo đảm chất lượng, tiến độ.
Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm rà soát, xây dựng, ban hành theo thẩm quyền hoặc trình Hội đồng nhân dân cùng cấp ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết các nội dung được giao trong Luật Viên chức.
Hằng năm, Bộ Nội vụ phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, cơ quan, tổ chức khác có liên quan triển khai các nhiệm vụ, giải pháp phát triển cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức.
Đồng thời, cung cấp, khai thác sử dụng hiệu quả thông tin, dữ liệu trên cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức; bảo đảm dữ liệu công chức, viên chức; bảo đảm dữ liệu thường xuyên được cập nhật, khai thác sử dụng hiệu quả.
Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với các Bộ quản lý ngành, lĩnh vực tổng hợp, rà soát danh mục chức danh nghề nghiệp viên chức trong cơ quan, tổ chức hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập do Chính phủ quản lý.
Trên cơ sở đó, căn cứ quy định tại Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định của chính phủ quy định về vị trí việc làm viên chức, chậm nhất đến ngày 1/7/2027, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập phải hoàn thành việc bố trí vào vị trí việc làm và xếp lương tương ứng với vị trí việc làm đối với viên chức thuộc phạm vi quản lý.
Năm 2026 và các năm tiếp theo, Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, cơ quan, tổ chức khác có liên quan tổ chức kiểm tra việc thi hành Luật và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành.
Bộ Nội vụ cũng có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc các bộ, ngành, địa phương và các cơ quan liên quan trong việc triển khai và báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện Kế hoạch này.
-Phúc Minh
Thời hạn hoàn thành xếp lương theo vị trí việc làm với viên chức
Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà ký Quyết định số 304/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Viên chức.
Mục đích của Kế hoạch nhằm xác định cụ thể nội dung công việc, thời hạn hoàn thành, phân công và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan trong việc tổ chức thi hành Luật Viên chức bảo đảm kịp thời, thống nhất, đồng bộ, hiệu lực, hiệu quả.
Bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong việc thực hiện các hoạt động triển khai thi hành Luật trên phạm vi cả nước.
Đồng thời, tạo cơ sở pháp lý để tiếp tục thực hiện quản lý viên chức theo hướng năng động, minh bạch, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu xây dựng đội ngũ viên chức chuyên nghiệp, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu của người dân, doanh nghiệp.
Cùng với đó, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành trong việc triển khai, thi hành Luật Viên chức và các văn bản quy định chi tiết một số điều của Luật.
Theo Kế hoạch, cơ quan chủ trì soạn thảo, trình ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các văn bản pháp luật được phân công tại Danh mục kèm theo Kế hoạch này. Bộ Tư pháp, các bộ, ngành có liên quan chịu trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với cơ quan chủ trì soạn thảo, bảo đảm chất lượng, tiến độ.
Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm rà soát, xây dựng, ban hành theo thẩm quyền hoặc trình Hội đồng nhân dân cùng cấp ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết các nội dung được giao trong Luật Viên chức.
Hằng năm, Bộ Nội vụ phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, cơ quan, tổ chức khác có liên quan triển khai các nhiệm vụ, giải pháp phát triển cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức.
Đồng thời, cung cấp, khai thác sử dụng hiệu quả thông tin, dữ liệu trên cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức; bảo đảm dữ liệu công chức, viên chức; bảo đảm dữ liệu thường xuyên được cập nhật, khai thác sử dụng hiệu quả.
Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với các Bộ quản lý ngành, lĩnh vực tổng hợp, rà soát danh mục chức danh nghề nghiệp viên chức trong cơ quan, tổ chức hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập do Chính phủ quản lý.
Trên cơ sở đó, căn cứ quy định tại Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định của chính phủ quy định về vị trí việc làm viên chức, chậm nhất đến ngày 1/7/2027, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập phải hoàn thành việc bố trí vào vị trí việc làm và xếp lương tương ứng với vị trí việc làm đối với viên chức thuộc phạm vi quản lý.
Năm 2026 và các năm tiếp theo, Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, cơ quan, tổ chức khác có liên quan tổ chức kiểm tra việc thi hành Luật và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành.
Bộ Nội vụ cũng có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc các bộ, ngành, địa phương và các cơ quan liên quan trong việc triển khai và báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện Kế hoạch này.
-Phúc Minh
Mâm cơm ngày Tết của người Thái ở xứ Thanh
Giữa đại ngàn xứ Thanh, trong những nếp nhà sàn nép mình bên sườn núi, bếp lửa đỏ hồng luôn được xem là “trái tim” của mỗi gia đình người Thái. Khi Tết về, gian nhà sàn trở nên ấm áp hơn bao giờ hết. Con cháu quây quần bên cha mẹ, ông bà, cùng chuẩn bị mâm cơm đầu năm, đây mâm cơm chất chứa cả hương vị núi rừng và tình thân sâu nặng.
Người Thái quen ăn cơm nếp. Nếp nương được lựa kỹ, vo sạch, đồ trong chõ gỗ, hạt cơm chín dẻo, thơm ngậy. Bên cạnh đĩa xôi trắng là cá suối nướng vàng ruộm, thịt gà đồi chắc thịt, măng rừng, rau rừng chấm chẻo cay nồng. Tất cả bày trên mẹt tre giản dị nhưng đủ đầy, thể hiện quan niệm sống hài hòa với thiên nhiên của đồng bào vùng cao.
Từ bao đời nay, nguồn thực phẩm của người Thái chủ yếu đến từ rừng và sông suối. Cá, tôm, cua, ốc, măng, nấm, rau rừng… là những sản vật quen thuộc. Dọc các con sông Luồng, sông Lò, sông Âm, tục bắt cá tập thể vẫn được duy trì như một sinh hoạt cộng đồng giàu bản sắc. Người dân cùng nhau chắn dòng, quây chài, thậm chí sử dụng các loại lá rừng khiến cá “say” rồi bắt.
Sau mỗi lần đánh bắt, cá được chia đều theo quy ước của bản mường. Sự phân chia công bằng ấy không chỉ bảo đảm sinh kế mà còn củng cố tinh thần đoàn kết. Với săn bắt thú rừng cũng vậy, thịt sau khi săn được mang về mổ bên khe nước, một phần nướng cúng thần linh, phần còn lại chia cho các hộ. Tập tục ấy thể hiện rõ quan niệm tôn trọng tự nhiên và đề cao tính cộng đồng.
Phụ nữ Thái ở Thanh Hoá chuẩn bị các món ăn truyền thống tiếp đãi khách ngày TếtTừ những nguyên liệu sẵn có, qua bàn tay khéo léo của người phụ nữ, nhiều món ăn đặc sắc đã ra đời. Ẩm thực Thái thiên về nướng, luộc, đồ – những cách chế biến giữ trọn vị nguyên sơ. Cá suối kẹp tre nướng trên than hồng, thịt lợn bản quay, cơm lam ống nứa, nộm hoa chuối rừng… đều mang hương vị đậm đà, mộc mạc.
Trong kho tàng ấy, các món canh chiếm vị trí quan trọng. Canh pịa, canh cay, canh măng chua hay cá chua đều đậm vị và cay nồng. Đặc biệt, canh uôi – món canh nấu tổng hợp từ cá, thịt, rau, bột gạo và gia vị thường xuất hiện trong mâm cơm Tết. Canh uôi nấu với trứng kiến đen béo bùi, tạo nên hương vị rất riêng của núi rừng, gợi cảm giác ấm áp trong những ngày đầu xuân.
Gia vị cũng là yếu tố làm nên bản sắc. Chẻo – món chấm truyền thống gần như không thể thiếu. Chẻo được làm từ cá nướng giã nhỏ, trộn muối, ớt và “tời”, loại gia vị lên men từ đỗ và lá rừng, treo gác bếp cho dậy mùi. Vị thơm nồng đặc trưng ấy khiến các món luộc, món nướng trở nên đậm đà, khó quên.
Mâm cỗ lá của người Thái Thanh Hoá trong ngày lễ, tết.Bên mâm cơm ngày Tết, ché rượu cần luôn được đặt ở vị trí trang trọng. Rượu được ủ từ gạo nếp, nếp cẩm và men lá tự chế, mang hương thơm dịu, vị cay nhẹ và ngọt hậu. Mỗi bản có bí quyết riêng trong việc chọn lá men và cách ủ. Rượu cần không chỉ là thức uống mà còn là biểu tượng của sự hiếu khách, là cầu nối để mọi người xích lại gần nhau trong tiếng cười đầu năm.
GIỮ HỒN ẨM THỰC TRONG NHỊP SỐNG HIỆN ĐẠITrải qua nhiều biến động và sự phát triển của xã hội, đời sống đồng bào Thái ở Thanh Hóa đã có nhiều đổi thay. Giao thông thuận lợi hơn, nguồn lương thực phong phú hơn, nhà sàn truyền thống dần được thay thế một phần bằng nhà xây kiên cố. Thói quen ăn cơm nếp cũng có sự chuyển dịch.
Tuy nhiên, điều đáng quý là các món ăn truyền thống vẫn được gìn giữ khá trọn vẹn, đặc biệt trong dịp lễ, Tết. Ở Xuân Thái, nơi được ví như “thiên đường ẩn giấu” của xứ Thanh, ẩm thực Thái trở thành điểm nhấn trong phát triển du lịch cộng đồng. Du khách đến đây không chỉ thưởng thức gà nướng, thịt trâu nướng, cá sông, măng rừng, cơm lam mà còn được trải nghiệm câu cá, bắt gà, hái rau rừng, cùng ngồi bên bếp lửa và nâng chén rượu cần.
Cảnh quây quần bên mâm cơm, tiếng cười rộn rã trong nhà sànCũng tại bản Ngàm, xã Sơn Điện, mâm cơm cúng tổ tiên ngày Tết luôn có cơm lam và cá nướng những món ăn giản dị nhưng mang ý nghĩa thiêng liêng. Cá suối giữ trọn vị ngọt tự nhiên, xôi nếp nương dẻo thơm, gà thả đồi chắc thịt. Mỗi món ăn là một câu chuyện về đất và người, về sự gắn bó bền chặt với thiên nhiên được trao truyền qua nhiều thế hệ.
Trong dòng chảy hiện đại, khi nhiều giá trị truyền thống đứng trước nguy cơ mai một, việc bảo tồn và phát huy ẩm thực dân tộc Thái không chỉ là trách nhiệm của cộng đồng bản địa mà còn là hướng đi bền vững trong phát triển văn hóa và du lịch.
-Nguyễn Thuấn